Các câu đối ở lăng mộ Phùng Hưng

Lăng mộ Phùng Hưng hiện tại nằm ở Kim Mã Hà Nội, được trùng tu năm 2010. Trong khu lăng mộ có khá nhiều câu đối ca ngợi công đức, uy nghiệp của Phùng Hưng. Ngoài ra khu Kim Mã cũng là nơi thờ Linh Lang đại vương người đã lập ra 13 trại phía Tây thành Thăng Long đời Lý nên một số vế đối cũng nói tới việc này.

Câu đối ở chính đường:
Khứ bộc phong công nhất thống sơn hà quang Việt sử
Trừ hung thịnh đức vạn dân phụ mẫu hiển Cam Lâm
Dịch:
Ngăn giặc lũ, công cao dày thống nhất non sông sáng sử Việt
Trừ hung bạo, nêu nhân đức cha mẹ vạn dân từ Cam Lâm
Cam Lâm là tên làng Đường Lâm ở Sơn Tây.

Thiên dư niên đức trạch uông hàm ngưỡng như phụ mẫu
Thập tam trại nhân yên phồn tăng trường thử giang sơn
Dịch:
Nghìn năm lẻ công đức cao dầy như cha mẹ
Mười ba trại dân mãi bình yên với nước non.
13 trại đây nói tới khu phía Tây Thăng Long (trong đó có Kim Mã) do Linh Lang đại vương lập nên. Câu đối này cũng gặp ở đình Kim Mã.

Vạn cổ anh linh chiêu nhật nguyệt
Nhất thiên chính khí tráng sơn hà
Dịch:
Vạn năm anh linh tỏa trời đất
Một trời chính khí vững non sông.

Uy đức anh hùng oanh vũ trụ
Thanh linh hào kiệt lẫm thiên thu
Dịch:
Uy đức anh hùng vang vũ trụ
Thanh linh hào kiệt vọng nghìn năm.

Bác hổ uy dương trừ Bắc khấu
Thùy long nhân nghiễm hộ Nam thiên
Dịch:
Đánh hổ ra uy trừ giặc Bắc
Nhốt rồng trải đức giúp trời Nam.
Câu này nói tới tích Phùng Hưng là người có sức khỏe, từng tay không đánh chết hổ. Còn “nhốt rồng” là nói tới cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng chống nhà Đường đã thắng lợi.

Hữu gia đức trạch lưu hương ấp
Bất mẫn tinh thần tại mộ lăng
Dịch:
Ân đức nêu cao lưu quê quán
Tinh thần vững vàng ở mộ lăng.

Hãn hoạn trừ tai triêm thánh đức
An dân hộ quốc hiển thần công
Dịch:
Ngăn hoạn nạn, trừ tai ương, dầy thánh đức
Yên dân tình, giúp nước nhà, tỏ thần công

Một số câu đối khác đã giới thiệu ở bài Khởi nghĩa Phùng Hưng qua các di tích ở Hà Nội.

Cuối cùng là cấu đối hay nhất, khó đọc nhất và không dễ hiểu là đôi vế đối được khắc chìm trên đá cạnh mộ Phùng Hưng.

Đường nhân kỳ hữu tàm/ hoa ngạc liên huy/ thân hậu thiên vô Huyền Vũ giáp

Hán tặc hà túc sỉ/ thảo mao(?) xướng nghĩa/ sinh tiền bất sổ Lục Lâm binh.

Câu đối này để hiểu cần chú ý chỗ ngắt đoạn. Đối với những câu đối dài vế đối kết thúc bởi vần bằng thì âm ở các chỗ ngắt đoạn phải là vần trắc. Và ngược lại nếu vế đối kết thúc bởi vần trắc thì ở các chỗ ngắt đoạn phải là vần bằng.
Tạm dịch:
Người Đường có biết xấu, đài hoa liền sáng, hậu thế không nấp giáp Huyền Vũ
Giặc Hán bao hổ thẹn, thảo mãng dấy nghĩa, tiền nhân sá gì lũ Lục Lâm.
Tiền nhân” ở đây chính là Phàn Sùng, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Xích My chống lại lũ giặc cỏ núi Lục Lâm hay “Hán tặc“. Phàn Sùng phiên thiết cho họ… Phùng, chính là tiền nhân của Phùng Hưng. “Hậu thế” ở đây là chỉ Phùng Hưng, người đã không theo chế độ, khuôn khổ của nhà Đường (“giáp Huyền Vũ” – cửa Huyền Vũ là nơi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi), lập nên quốc gia riêng, tỏa sáng trong lịch sử.
Giải nghĩa cặn kẽ câu đối này xin xem bài Đường nhân – Hán tặc của anh Văn nhân.

Khảo cổ thời Nam Việt và nguồn gốc Việt của các triều đại Trung Hoa

Bài này trình bày một số suy nghĩ khi đọc các tư liệu do Dr. Nguyễn Việt, một chuyên gia khảo cổ hàng đầu về thời sơ sử Việt Nam, cung cấp trên trang: http://www.drnguyenviet.com/

Trong bài Thạp đồng Đông Sơn của huyện lệnh Long Xoang (Xuyên) Triệu Đà:
“Chiếc thạp tôi muốn nói tới mang ký hiệu BMM-2505-29, cao 42cm, nặng 11,500 kg (không kể phần nắp đã mất), thuộc loại thạp có vành gờ miệng đạy nắp đồng. Chính giữa thân thạp là băng gồm 4 hình thuyền chiến với kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống thạp Hợp Minh (Yên Bái) và mộ Việt Vương (Văn Đế Triệu Muội) ở Quảng Châu…
Giá trị nhất của chiếc thạp còn là một dòng gồm 22 chữ Hán chạy song song ở phần trống gần sát gờ miệng… Tôi đã từng công bố và dịch những dòng chữ này, tuy nhiên chữ thứ hai trong số 22 chữ này vẫn còn để trống. Gần đây, trong khi tiếp tục theo đuổi giải nghĩa chữ này, tôi đã nhận thấy tự dạng chữ này khá gần với chữ „Xoang“, và hai chữ đầu chỉ địa danh của 22 chữ trên miệng thạp có thể đọc là „Long Xoang“.

龍 xoang / 重 六 (衡) / 名 曰 果 / 第 未 五 十 二 / 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升
…rất có thể đây là một biến âm của chữ Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi lập nước Nam Việt.

… có dòng chữ :“Danh Viết Quả“ ( 名 曰 果 ). – Tên (thạp) gọi là Quả nhằm ghi tiếng địa phương dùng để gọi chiếc thạp.
… Chủ nhân chiếc thạp BMM 2505-29 phải là người rất giàu có. Chiếc thạp này có dòng ghi số hiệu :“Đệ vị ngũ thập nhị“(第 未 五 十 二 ), tức là đồ vật đứng thứ 52. Cách ghi này tương tự cách thống kê đồ vật tuỳ táng trong mộ một huyện lệnh người Hán khác đương thời ở Quý Huyện – La Bạc Loan và mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội.
… Theo bà Phạm Lan Hương, chiếc thạp được bà sưu tầm có nguồn gốc Thanh Hoá. Ở Thanh Hoá hiện mới có một chiếc thạp cùng cỡ và cũng có hoa văn thuyền người phát hiện được ở Xuân Lập… Khu vực phát hiện những chiếc thạp lớn có trang trí đẹp cùng thời hai chiếc thạp kể trên là vùng trung lưu Hồng Hà, từ Việt Trì đến Lào Cai (Vạn Thắng, Đào Thịnh, Hợp Minh, Lào Cai).”
Theo tư liệu trên có thể nhận định một số vấn đề:
– Văn hóa Nam Việt mang đậm nét văn hóa… Việt Nam (Đông Sơn). Từ ngữ cũng dùng phát âm địa phương.
– Hai chữ đầu chỉ địa điểm trên thạp (Long Xoang – Long Xuyên hay Long Khoang) nhiều khả năng không phải là tên huyện mà là tên quận. Một huyện lệnh thì quá nhỏ để có tiềm năng đúc riêng những đồ đồng cho mình.
– Địa danh này theo vị trí tìm thấy thạp (Thanh Hóa) và những thạp đồng khác cùng kiểu phải nằm ở Giao Chỉ, chứ không phải Nam Hải.
Nếu vậy thì chiếc thạp này có thể là một bằng chứng cho thấy Giao Chỉ là Long Xuyên thời Tần. Long Xuyên tương ứng với Tam Xuyên, tên quận mà Tần Thủy Hoàng đã gọi vùng đất của nhà Đông Chu khi thống nhất lục quốc.
Sử Tàu những đoạn liên quan đến Việt Nam có khá nhiều “huyện lệnh” rất khó hiểu. Triệu Đà là huyện lệnh mà lập quốc, xưng đế ngang với nhà Hán. Khu Liên, con công tào ở huyện Tượng Lâm, khởi nghĩa mà thành vương quốc
Lâm Ấp – Chiêm Thành. Đây là sự gán ghép vô lý những địa danh lớn (cấp quận) thành huyện nhỏ để vùi dập sự thật lịch sử.

Trong bài Triệu Đà:
“…Bản thân ông lấy vợ người Việt, đền thờ một trong số phu nhân người Việt của ông hiện ở Đồng (Đường) Xâm (Kiến Xương, Thái Bình)… Những nghiên cứu về đồ tuỳ táng chôn trong các khu mộ táng Nam Việt cũng như xương cốt và ADN cổ phản ánh rõ ràng ưu thế Việt tộc trong quốc gia Nam Việt của Triệu Đà. Trong mộ vua Nam Việt cũng như mộ các quan thứ sử, huyện lệnh Nam Việt đều chôn theo những bảo vật của người Việt thuộc nhóm văn hoá Đông Sơn, như trống đồng, thạp đồng, rìu chiến và nỏ…”
Không chỉ văn hóa mà phân tích di truyền cho thấy rõ rằng nước Nam Việt là nước của người Việt 100%.

Trong bài Âu Lạc và Giao Chỉ – một số vấn đề ngữ âm học lịch sử:
Khi kiểm định kỹ lại Sử Ký của Tư Mã Thiên, thời Hán Cao Tổ đã từng có (tước Hầu của vùng đất Giao ) chức Giao hầu do Lữ Sản em trai của Lữ Hậu đảm trách. Lữ Sản sau này được Lữ Hậu phong làm Lữ vương (tước Vương của vùng đất Lữ – nơi phát tích của tổ tiên Lữ Hậu). Trước khi chết, Lữ Hậu chia quân đội nhà Hán làm hai khối lớn, chính Lữ Sản được kiêm quản quân phương Nam. Điều này khiến ta có thể phỏng đoán đất Giao mà Lữ sản từng được phong hầu ở phương Nam, gắn với Giao Chỉ, Giao Châu chăng?
Thật kỳ lạ khi được biết em của Lữ Hậu là Giao Hầu và làm vương phương Nam, cũng là nơi phát tích của Lữ Hậu. Như vậy Lữ Hậu là người Giao Chỉ, và tất nhiên Lưu Bang lấy vợ từ thủa hàn vi cũng là người Giao Chỉ nốt.
Lạ hơn nữa Giao Chỉ dưới thời Lữ Hậu như sử chép là đất của Triệu Đà. Hoặc chí ít thì Triệu Đà cũng lập nước Nam Việt ngay sau khi Lữ Hậu mất. Như vậy Triệu Đà phải có liên hệ trực tiếp với Lữ Sản, là Giao hầu của phương Nam khi đó. Việc trong triều Nam Việt có thừa tướng là Lữ Gia cũng cho thấy vai trò của họ Lữ đối với nhà Triệu.
Lữ Gia thì được biết rõ là người Việt, chống Lộ Bác Đức trên đất Việt và có nhiều đền thờ ở đây. Tất cả khẳng định Giao Chỉ chính là nơi phát tích họ Lữ của Lữ Hậu và nhà Tây Hán.

Trong bài Hội nghị quốc tế về Văn hóa Hán và vấn đề thời thuộc Hán ở Việt Nam:
Hội nghị có ba báo cáo … văn hóa Hán ở Lĩnh Nam chỉ là những ảnh hưởng thượng tầng đan xen với văn hóa Yue (Việt) truyền thống và tạo ra một bản sắc địa phương riêng tác động trở lại văn hóa Trung Nguyên. Chính vì vậy, kết thúc vương triều Hán ở cuối thế kỷ 2 là sự trở lại của hai nhà nước phương nam vốn có nguồn gốc phi Hoa Hạ (Ngô và Thục) trong số ba nước tranh dành bá chủ thiên hạ. Nghiên cứu AND xương người chết chôn trong các hầm mộ thời Hán ở Lĩnh Nam do nhóm các nhà khoa học Đại học Hạ Môn (Trung Quốc) tiến hành cho thấy chủ nhân mộ đa phần là người Yue (Việt)”.
Như vậy chính các học giả trung quốc cũng xác định nhà Ngô và Thục thời Tam quốc là hai nhà nước của người Việt.

Thật cám ơn các nhà khảo cổ đã có những dẫn liệu xác đáng cho thấy từ Triệu Đà, Lữ Hậu đến Tôn Quyền, Lưu Bị đều là người Việt tộc. Vấn đề còn lại là lịch sử thực sự của những triều đại này là thế nào? Đã là người Việt thì sử của những triều đại này cũng phải là sử Việt, chứ không phải sử Hán.

Những câu đối kỳ lạ

Đọc sách Hoành phi câu đối Hán Nôm tinh tuyển của Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam, Phạm Đức Duật ta thấy có những câu đối khá lý thú.

Trang 96:
Sơn tú thủy giai như họa cao thanh Tản Nhĩ
Địa linh nhân kiệt kiêm ưu thao lược Tôn Ngô

Dịch:
Tản Nhĩ cao trong, nước biếc non xanh như vẽ
Tôn Ngô thao lược, người kiệt đất linh gồm tài.

Tiếc là sách không dẫn nguồn của câu đối trên. Lịch sử Việt Nam không có ai có tên họ là Tôn cả. Tôn Ngô rõ ràng chỉ Ngô Quyền, nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.

Trang 104:
Nhất trận hắc vân trừ Hán khấu
Thiên thu hương hỏa ứng Châu khu

Dịch
Một trận mây đen trừ giặc Hán
Ngàn năm hương hỏa ứng trời Nam.

Không hiểu sao các tác giả lại dịch Châu khu là trời Nam? Liệu Châu khu có phải là đất nhà Chu không, đối lại với giặc Hán?

Trang 154:
Hưng vương vỹ lược lưu thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân

Dịch:
Hưng vương, mưu lược lưu thiên cổ
Cứu thế, công lao chép Vạn Xuân.

(Đền Lý Nam Đế – Phủ Giầy)
Câu này cũng nói tới Lý Nam Đế nhưng đáng chú ý ở đâu là gọi Lý Nam Đế là Hưng vương. Hưng chuyển thành Hán, Vạn Thọ thành Trường An và Lý Bôn thành Lưu Bang…

Trang 156
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.

Dịch:
Tùng bách Chiêu lăng đâu chốn cũ
Nước Thục non sông vẫn cung xưa.

(Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa)
Thục quốc trong sử Việt là nước An Dương Vương. Nhưng sao lại gọi là Chiêu lăng? Có phải Chiêu là Chu, Chiêu lăng là mộ vua Chu không?

Trang 165:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

(Am Trang Vương – Hương Sơn)
Trang Vương của nước Sở, rồi Trần tử nước Trần là ở chỗ nào mà có am thờ ở Việt Nam?

Trang 264:
Dực Chẩn sơn hà cao chính khí
Lạc Hồng vũ trụ lẫm linh thanh.

Dịch:
Dực Chẩn non sông cao chính khí
Lạc Hồng trời đất dấy linh thanh.

Câu này cho biết nước Lạc Hồng định biên giới giữa sao Dực, sao Chẩn. Liên hệ với câu trong Đằng vương các tự của Vương Bột: Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hoành Lư. Như vậy vùng đất tinh phân Dực Chẩn chẳng phải Việt Nam hay sao?

Tài liệu Hán Nôm Việt Nam càng đọc càng thấy lạ…

Thảo luận
Về thao lược Tôn Ngô có thể nói đến Tôn Vũ và Ngô Khởi thời chiến quốc.

Văn nhân:
Bạn Bách Việt trùng cửu thân.
Tôi nghĩ: Tản nhĩ là 1 vùng đất thì Tôn Ngô không thể là 2 nhân vật Tôn Vũ và Ngô Khởi được vì họ sống cách nhau cả trăm năm, sinh ở 2 nơi khác nhau và nhất là đã thành danh ở 2 nơi khác nhau.
Chìa khóa để giải vấn đề là tìm ra đất Tản Nhĩ nằm ở đâu?

Bách Việt trùng cửu
Có lẽ Tản là núi Tản Viên, Nhĩ là sông Nhị Hà. Núi cao, sông xanh. Tản Nhĩ là vùng đất nào đó quanh chân núi Tản Viên. Câu đối này có thể là ở làng Đường Lâm ở Hà Tây. Nếu đúng câu này ghi ở khu vực này hay trên lăng mộ Ngô Quyền thì ý nghĩa chữ Tôn Ngô chắc không phải bàn cãi. Tôi cũng nghĩ là thật vô lý khi một câu đối đang ở vùng đất Tản Nhĩ của Việt Nam, nói đến Địa linh nhân kiệt mà lại phải đi lấy điển tích Tôn Vũ, Ngô Khởi ở đâu đâu.

Văn nhân:
Tôn trong Tôn Quyền không phải là họ mà nghĩa là đấng cao cả hay bậc trưởng thượng, chữ Tôn được dùng trong miếu hiệu của các vua Trung Hoa từ đời nhà Đường, Việt Nam từ thời nhà Lý … như Cao tôn, Nhân tôn, Minh tôn v.v.
Tôn Ngô cấu trúc Việt ngữ nghĩa là bậc trưởng thượng của nước Ngô, theo tôi là chỉ Ngô Quyền, cũng chính là Tôn Quyền – vua Đông Ngô trong Hoa sử.

Nhannamphi
“nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.”
Cá nhân Tôi là tán đồng quãng điểm nầy. Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán là trận Xích Bích, tôi có đọc qua tài liệu ghi chép bằng chữ Vuông: quân lính của Ngô / Tôn Quyền là người Việt; Và xa xưa hơn nữa thì thành Cổ Loa là ở tỉnh Phước Kiến. Chữ “Kiến” – ngày xưa là “kén”, thành cái” Kén” hay thành Cổ Loa trở nên tên là Phước Kiến thành, ngày nay, người dân tỉnh Phước Kiến vẫn còn đọc chữ “kiến” là “kén”.

Bách Việt trùng cửu
Quân của Tôn Quyền thì rõ là người Việt vì ở Nam Dương Tử. Họ Tôn Ngô xuất phát từ Trường Sa (Tôn Kiên là thái thú Trường Sa). Nếu theo anh Văn nhân thì quận Trường Sa xưa là Nhật (Nhất) Nam hay Hồ Nam ngày nay. Nhất Nam cùng nghĩa với Đường Lâm (Nhất thành Đường, Nam thành Lâm) quê Ngô Quyền.

Văn nhân:
Thưa các bạn ,theo suy nghĩ của tôi thì câu:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

Trang vương ở đây là Chu Trang vương – Cơ Đà (696-682 trước 0) vì vua khá nổi tiếng ở Việt Nam khi nhiều nhà nghiên cứu sử căn cứ vào đoạn sách cổ: “…thời Trang vương nhà Chu … có người dùng ‘ảo thuật’ áp phục các bộ lạc chung quanh xưng là HÙNG vương …”, lấy đó làm mốc cho niên đại lập quốc của người Việt.
Trang vương là vì vua thứ 2 nhà Đông Chu lên ngôi ở Lạc ấp.
Trần tử ở đây chỉ Quân Trần vị toàn quyền kế nghiệp Chu công thống quản kinh đô phía đông của nhà Chu tức Lạc ấp hay đại ấp Lạc.
Việc thờ kính Trang vương và Trần tử trên đất Việt đã bổ chứng cho Sử thuyết họ Hùng khi cho rằng Lạc ấp hay đại ấp Lạc chính là đất trung tâm của dòng Lạc Việt tiền nhân của người Việt Nam ngày nay.

Bách Việt trùng cửu
Am Trang Vương có câu đối trên nằm cạnh chùa Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh – Hà Tĩnh. Nơi đây tương truyền là nơi tu hành và nơi hoá của công chúa con Sở (?) Trang Vương. Am Trang Vương được dựng trên nền nhà nơi nghỉ của Trang Vương khi đến thăm con gái.
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) thăm chùa có đề bài thơ Du Hương Tích Tự:
Hương Tích Trần triều tự
Hồng Sơn đệ nhất phong
Di am không bạch thạch
Cố chỉ đản thanh tùng.

Dịch:
Chùa Trần tên Hương Tích
Cao nhất dãy núi Hồng
Am xưa phơi đá trắng
Nền cũ rợp ngàn thông.

Chữ Trần ở đây trong sách hiện tại được giải thích là chùa xây từ thời nhà Trần trong sử Việt. Nhưng như vậy đúng là quá khó hiểu vì trong cả câu đối lẫn bài thơ trên đều gọi đích danh là Trần tử am và Chùa Trần. Chẳng nhẽ nhà Trần vừa dựng am, chùa thờ người xưa (cách cả ngàn năm) lại vừa làm câu đối về chính mình?
Nhiều người cho rằng sử Việt bắt đầu từ khoảng ngang với đầu đời Đông Chu (Hùng Tạo hay Chu Trang Vương) có lẽ ngoài mấy dòng trong sách cổ về người làm “ảo thuật” thời Chu Trang Vương, còn do vào thời điểm này nhà Chu chuyển đô về Lạc Ấp – Bắc Việt, tạo ra một số thay đổi có thể nhận thấy đuợc trong khảo cổ ở vùng châu thổ sông Hồng.

Nhannamphi
– Chữ 宗 Tôn nầy đọc là Tôn 宗 hay là Tông 宗 . Tôn nầy là Tôn miếu 宗廟 hay Tông miếu 宗廟, còn dùng gọi vua là Thái Tông, Cao Tông hoàng đế v v…, còn dùng trong tông 宗 tộc 族/ cùng tông 宗 cùng tộc 族.
– Chữ Tôn 孫 nầy là Tử tôn/ 子孫/ con cháu; Tôn Quyền họ Tôn là chử Tôn 孫 Nầy.
– Gia phả của dòng vua họ Tôn/ Tôn Quyền 孫權 còn giữ và truyền cho đến ngày nay. Con cháu – truyền nhân rất là đông thành cả 1 ngôi làng.
– Gia phả của “Tây Thi” 西施 là họ Thi 施 cũng được giữ và truyền cho cho đến ngày. Xem Thi Bội Quân 施佩君 … vai cháu của Tây Thi ở đời thứ 55 ngày nay: http://www.youtube.com/watch?v=FxVd43KnZTo
– Gia phả của Khổng Minh và Châu Du đều truyền và giữ bỡi truyền nhân sau nầy: http://tintuconline.vietnamnet.vn/vn/xfile/431541/index.html
Tôn 宗 / tông 宗 và Tôn 孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau.

Văn nhân:
Bạn Nhan nam Phi và các bạn thân :
Tôn宗 / tông宗 và Tôn孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau. Tôi cũng biết điều này …nhưng nếu chỉ thế thôi thì đâu có đặt thành vấn đề cần xem sét .
Tạo ra chữ là con người , dùng chữ cũng là con người , tráo đổi chữ để thực hiện mục đích nào đó cũng là con người…., vấn đề đặt ra chính là vì chữ ‘tráo’ này ….

Nhannamphi
– Tất cả lập luận đúng hay sai khi nghiên cứu ngôn ngữ theo tinh thần khoa học đều đáng trân quí trong qúa trình nghiên cứu, vì nó sẽ tạo ra con đường dẫn đến điểm sáng tỏ vấn đề. Anh Văn Nhân nhấn mạnh “Tạo ra chữ là con người, dùng chữ cũng là con người.. .”. Nói cách khác thì trong họ và tên, thì tạo ra họ tên là con người và dùng họ và tên cũng là con người…
– Triều đình nhà Nguyễn tạo ra họ ” Tôn-thất ” và ” Tôn-Nữ “.
– Họ La hay họ Lai ngày nay đều là họ Lạc của Vua Việt ngày xưa, chỉ là “biến âm” và con người tạo ra chữ và dùng chữ.
-Họ Phạm và họ Đỗ là cùng 1 họ, những chuyện như vậy cần phổ biến để những thế hệ mai sau khi kết hôn thì có thể tránh được tình trạng “cận Huyết thống”.
– Họ Khổng và họ Tôn ngày xưa … đều là Con ông cháu cha của vua chúa mới được gọi là ông con và ông cháu và trở thành Họ rất là “tôn nghiêm” và “quí phái”! Thử tưởng tượng 1 cách khoa học là ngày xưa ở thời nguyên thủy thì nhân loại ở trong hang động… làm gì có “Hoàng đế “??? mà chỉ có ông bố và bà mẹ, và có người rất có uy tính được xem là cha chung … được gọi là “Ông Tía” hay là “ông địa” / biến âm… lâu dần thì biến thành từ ngữ “Hoàng đế”. “Hoàng đế ” ngày nay tiếng Bắc Kinh đọc là “Hoãng Tía”, tiếng Quảng Đông đọc là “Qoàn tây”, và tiếng Triều Châu đọc là “Oan tịa ” – Rất giống như và còn giống như là Ông Địa hay ông Tía !!!

Bách Việt trùng cửu
Tôi một chữ Hán bẻ đôi không biết nên lại có cơ may hiểu được ý của anh Văn nhân. Trong chuyện này không thể xét bằng mặt chữ được mà chỉ xét về thanh ngôn và ý nghĩa. Lịch sử Hoa Việt và lịch sử ngôn ngữ Hán Nôm quá dài, quá phức tạp, mặt chữ ghi âm chắc gì là đúng. Ghi âm tiếng Hán là ghi theo cái hiểu của người viết, hoặc theo chủ ý của người viết, không chắc đã đúng với ý nghĩa gốc. Ví dụ mấy chữ Châu, Chiêu, Chu , chẳng cần biết tiếng Hán cũng biết sẽ là những chữ khác nhau. Đến tiếng quốc ngữ ngày nay cũng còn ghi khác nữa là… Những điều đó không ảnh hưởng đến nghĩa của Châu=Chiêu=Chu .

Lào và Xiêm trong thơ Hồ Chủ Tịch

Bài thơ Lịch Sử nước ta của Hồ Chủ Tịch (xin trích đoạn liên quan đến Căm pu chia và Lào):


Lê Đại Hành nối lên ngôi
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành

Lý Thường Kiệt là hiền thần
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn…


NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG
… 1917 Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
… Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Như vậy đầu thế kỷ 19 Chiêm Thành vẫn gọi là Xiêm Thành, còn Thái Lan là Xiêm.
Và Sầm Nưa, một tỉnh ở Hạ Lào còn được xếp vào sử Việt Nam.

Bắc thần tôn

Di sản Hán Nôm ở đền Hùng là vô giá vì đó thật sự là những “mật mã” cha ông để lại, giúp con cháu tìm lại sự thực lịch sử xưa. Vì thế đọc mỗi hoành phi, câu đối ở đền Hùng cần có suy nghĩ thấu đáo những nhắn nhủ của tiền nhân ở trong đó. Đặc biệt là đối với đền Thượng, đền Hạ và lăng Hùng Vương vì đây là những di tích cổ nhất của khu vực này, với độ tuổi có nơi khoảng 4000 năm.

Thực ra với người Việt hiểu chữ Hán Việt (đã phiên âm) không hề khó. Nhưng hiểu cả câu nhiều khi rất khó vì chữ Hán Nôm xưa viết không có chữ Hoa và không có dấu câu. Danh từ không rõ là chung hay riêng (viết hoa hay không), ngắt từ ở chỗ nào…

Câu đối ở đền Thượng
Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn
.

Dịch nghĩa (Vũ Kim Biên)
Đất này, núi này, bờ cõi nước Nam
Vua ta, tổ ta, phương Bắc nể vì
.

Chỗ trúc trắc ở đây là đoạn Bắc thần tôn. Có tài liệu khác dịch câu sau là: Vua ta, tổ ta như sao Bắc Đẩu trên cao. Dịch vậy quá ép ý, làm gì có chữ sao (tinh) nào đâu và không đối hợp với câu trên “Nam quốc kỷ“. Nhưng dịch là “phương Bắc nể vì” thì có phần giảm nhẹ ý. “Bắc thần tôn” cho thấy rõ phương Bắc xưng với “Vua ta” là “thần” (chư hầu) và phải tôn kính. Dịch sát nghĩa là “Vua ta, tổ ta, chư hầu phương Bắc tôn kính“.
Vậy lịch sử của ta có lúc nào mà phương Bắc phải xưng thần, tôn kính?
Một suy nghĩ khác về hai câu đối trên là trò chơi chữ:

– Chữ “thử” có nghĩa là “này“, nhưng đồng âm với nghĩa “nắng“. Nắng cũng là phương Nam.
– Chữ ‘ngô” có nghĩa là “ta“, nhưng trong dịch lý xưa còn có nghĩa là phương lạnh (phương Bắc ngày nay). Phương lạnh xưa theo quan niệm âm dưỡng lưỡng hợp được tượng trưng bởi đường thẳng (cặp thẳng – cong). Từ đó ta có các từ chỉ phương lạnh là:
+ Đường: đời vua Nghiêu có đất Đào Đường, tức là có 2 vùng Nam và Bắc. Đào là màu của phương nóng.
+ Ngay hay Ngô (có từ ngây ngô): là chữ Ngô trong câu đối trên và của một số triều đại xưa như Ngô Tôn Quyền, giặc Ngô (giặc Minh).
+ Ngu – biến âm từ Ngô ra: trong tên của Thuấn đế (Ngu Thuấn) và tên nước Đại Ngu đời Hồ Quí Ly.

Như vậy trong câu đối trên ngoài việc lặp từ còn có thể lặp ý giữa cặp Thử – Nam Ngô – Bắc.

 

Nhờ xưa đương thủa triều Hùng

Bài ca dao lịch sử (lời ca hát Ải Lao ở hội Gióng):
Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lửa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.
Ai cũng hiểu đây là bài ca dao nói về Phù Đổng Thiên Vương. Nhưng ít ai suy nghĩ kỹ những dữ liệu lịch sử nằm trong bài ca dao này:
– Bài ca dao chỉ rõ triều Hùng là vua của cả khối “Bách Việt sơn hà“. Thánh Gióng đánh giặc… Ân, mà giặc Ân ở tận Hoàng Hà. Vậy đất của Bách Việt triều Hùng này không thể chỉ là Bắc Việt ngày nay. Đại Việt sử ký chép nước Văn Lang của vua Hùng “bắc giáp Động Đình Hồ, Nam giáp Hồ Tôn, đông giáp Nam Hải, tây giáp Xuyên Thục“. Thế mà nhiều nhà nghiên cứu lại cho rằng như vậy là quá rộng, đây phải là đất của cả khối Bách Việt, còn dòng Lạc Việt chỉ có mảnh đất nhỏ hơn… Không phải người Việt chúng ta có đất nhỏ mà thực sự là chúng ta có … đầu óc quá nhỏ và tự ti về quá khứ.

Nói ca dao là văn tự truyền miệng, không xác thực, vậy hãy xem câu đối chữ Hán đề ở đền Thượng (đền Hùng) còn tới nay:
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ.
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn
.

Dịch nghĩa:
Định phận sách trời, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt nay có tổ
Linh thiêng núi tỏa, cung cũ lập thành miếu, ba sông một dải hướng về nguồn.

Câu đối trên còn nhiều bí ẩn, ví dụ “Tam Giang” là gì mà đối lại được với “Bách Việt”. Rồi “Minh đô” là tên gọi đô thành nào? Nhưng rõ ràng ở đây cho biết đền Hùng thờ vua Hùng là tổ chung của Bách Việt.

– “Vũ Ninh nổi đám…“, nhiều người cho rằng Vũ Ninh là quê Thánh Gióng ở đâu đó quanh Bắc Ninh ngày nay. Nhưng đây đang nói cả một “triều Hùng” “Bách Việt” gặp nạn, sao lại chỉ là đất quê Thánh Gióng? Có cách hiểu khác: Vũ Ninh là đất của Ninh Vương Cơ Phát, người đã diệt Trụ (Ân) lập nên nhà Chu, xưng Chu Vũ Vương. Sử Việt chép là Hùng Ninh Vương (trong Hùng triều ngọc phả). Ngọc phả đền Hùng cũng chép “Hùng Vương sau khi dẹp xong giặc Ân lập cửu trùng thiên điện ở núi Nghĩa Lĩnh để tế trời đất…“. Như vậy đền Hùng là do Chu Vũ Vương sau khi được Thánh Gióng giúp đánh đổ vua Trụ lập nên…

– “… bụi hồng nẻo xa“, chữ Hồng được đặt đúng vần của câu ca dao cũng gây nhiều suy nghĩ. Hồng là “quốc màu” xưa của tộc Việt. Thời Hùng Vương chúng ta có nước Hồng Bàng (hay Hồng Bang), nước Xích quỉ hay Quẻ đỏ, cũng là màu hồng. Chuyện sự tích trầu cau, trầu cau vôi nhai chung cho “nước đỏ”. Chuyện Mai An Tiêm, dưa hấu “xanh vỏ đỏ lòng”, nói tới tộc người ở ngoài biển (xanh vỏ) nhưng vẫn là người Việt (đỏ lòng). Dưa hấu ngày nay vẫn là một “đặc sản” được trồng nhiều ở vùng Việt Trì – Phú Thọ…