Truyền thuyết Chín chúa tranh vua với các nước Chu, Tần

Truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày ở vùng Đông Bắc Việt và Quảng Tây kể tóm tắt như sau (theo wikipedia):
Cha của Thục Phán là Thục Chế làm vua nước Nam Cương được 60 năm thì qua đời, khiến cho gia đình họ Thục rơi vào cảnh chia rẽ tranh giành quyền lực. Khi ấy Thục Phán mới tròn 10 tuổi, cháu của Thục Chế là Thục Mô lợi dụng và đưa Thục Phán lên ngôi. Thục Mô nhiếp chính lộng quyền, muốn nhiều lần muốn giết Phán đoạt ngôi vua, khiến chư hầu bất mãn. Nhưng Thục Phán thì vẫn luôn nhẫn nại mong hàn gắn lại gia tộc họ Thục vốn đã bị chia rẽ từ khi cha mình mất. Chín chúa mường (bao gồm 3 Nùng chủ, 2 Dao chủ, 1 Mán chủ, 1 Sán chủ, 1 Tày chủ, 1 Miêu Chủ) không phục kéo quân về bắt Thục Phán đòi chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi “vua”. Thục Phán tuy ít tuổi, nhưng từ bé đã thể hiện phẩm chất thông minh hơn người, bày kế cho Thục Mô lừa 9 chúa mường đua sức, đấu đá lẫn nhau.. còn họ Thục thì giải quyết tranh chấp nội bộ và củng cố lực lượng ở kinh đô Thành Bản Phủ, đến khi các phe cánh đấu đá đến sức cùng lực kiệt, Thục Phán mới thâu tóm toàn cục khiến 9 chúa mường quy phục ông. Từ đó, nước Nam Cương dưới tay Thục Phán trở nên cường thịnh… Thục Phán đem quân thôn tính nhiều lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt trên phương Bắc và cả Văn Lang ở phương Nam…
Sau khi tạm yên mặt Bắc, ông ra lệnh cho 2 vị chúa mường đứng đầu 2 bộ tộc là Miêu Chủ và Dao Chủ đem quân của tiến về biên giới các bộ tộc Nam Chiếu cổ (phía Tây Hà Giang), còn mình đem quân đánh thẳng xuống Phong Châu. Khi ấy Văn Lang đã suy tàn, Hùng Vương đời 18 tính háo sắc, thường gian dâm với vợ các tù trưởng dưới trướng mình, tính tình lại độc ác bạo ngược khiến quân dân bất mãn tột độ. Quân đội tinh nhuệ của Thành Bản Phủ chẳng tốn nhiều hơi sức đã hạ được Văn Lang. Chỉ trong vòng 1 tuần, Thục Phán đã giết được Nguyễn Tuấn (phò mã của Văn Lang), vây hãm Phong Châu khiến Hùng Vương phải sợ hãi tự tử. Cùng lúc, các tù trưởng Nam Chiếu ở phía Tây nghe tin Tày Chủ Thục Phán bỏ kinh đô xuống Nam, cùng hợp lực đông tiến thì bị phục binh của Miêu Chủ và Dao Chủ phục sẵn ở Xín Mần đánh cho thua liểng xiểng phải rút chạy về tận địa phận Lào Cai bây giờ.
Dựa vào câu chuyện này mà các nhà sử học hiện nay cho rằng Thục Phán là người Tày ở đâu đó khu vực Đông Bắc Bộ và biên giới Quảng Tây. Người ta gán câu chuyện của người Tày này với Truyện Rùa vàng của người Việt theo Lĩnh Nam chích quái dẫn đến đoạn tiếp theo về Thục An Dương Vương rời đô đến Cổ Loa, xây thành,…
Tuy nhiên xét kỹ truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày kể trên ta thấy nó không liên quan gì đến việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa hay Mỵ Châu – Trọng Thủy cả. Rõ ràng đây là một vị An Dương Vương khác, ở một giai đoạn bối cảnh khác.
Trong truyền thuyết người Tày kể Thục Phán đã thâu tóm được 9 Mường do 9 thủ lĩnh Nùng chủ, Tày chủ, Sán chủ, Mán chủ, Miêu chủ, Dao chủ. Sau đó nước Nam Cương của Thục lại còn đụng độ với các tù trưởng Nam Chiếu cổ và cuộc tấn công diệt nước Văn Lang ở phương Nam. Với từng đó dân tộc và đất nước, ta thấy ngay phạm vi của câu chuyện Chín chúa tranh vua không thể chỉ quanh quẩn ở vùng biên giới Bắc Bộ và Quảng Tây như vẫn nghĩ. Câu chuyện này kể về một cuộc đại thống nhất thời trước Công nguyên với quy mô và phạm vi lớn hơn nhiều.
Khi xác định quy mô của câu chuyện này ta sẽ nhận ra đây chính là cách kể ngắn gọn của cuộc chiến giữa các nước thời Chiến Quốc, được thống nhất bởi nước Tần. Mỗi nước thời Chiến Quốc là một tộc người trong Bách Việt. Điển hình Miêu Dao là thành phần chính của nước Sở, nước có diện tích rộng nhất thời này. Người Tày Nùng là thành phần của nước Tống, ở quãng Quảng Đông ngày nay.
9 chúa mường như thế thực chất là 9 nước. Khái niệm “mường” ở đây tương đương với “quốc gia”, tương tự người Lào gọi là Mường Lào, Mường Việt vậy. Họ Thục trong truyện đã thống nhất các mường, hay các quốc gia thời Chiến Quốc, do đó phải là nước Tần. Đất đai nhà Tần nằm ở phía Tây của thiên hạ Trung Hoa nên còn được gọi là Thục, tức là phía mặt trời lặn (thụt).

Chu sang TanVị trí các nước cuối thời Chiến Quốc.

Đoạn sau của truyền thuyết Chín chúa tranh vua kể Thục Phán đánh nước Văn Lang của Hùng Vương. Nếu Thục ở đây là nhà Tần thì rõ ràng đoạn này kể về cuộc chinh phạt của Tần đánh vua Đông Chu ở đất Phong Châu. Vùng Bắc Việt vốn là đất định đô ban đầu của Chu Văn Vương, được gọi là nước Văn Lang. Khi Chu Vũ Vương diệt Trụ, đã dời đô về Kiểu kinh ở phía Tây, bắt đầu thời kỳ Tây Chu. Tới thời Đông Chu kinh đô nhà Chu lại quay trở về vùng đất Văn Lang – Phong Châu cũ, nơi có thành Cổ Loa – Đông Đô.
Vị trí “Nam Chiếu cổ”, tức là vùng Vân Nam là đất Kiểu kinh của Tây Chu. Cuối thời Chiến Quốc vùng đất này do một vị tướng của nhà Chu nắm giữ, được biết dưới tên Trang Kiểu. Trang = T’lang = Lang chỉ thủ lĩnh. Kiểu là tên của kinh đô Tây Chu. Trang Kiểu nghĩa là thủ lĩnh vùng Kiểu kinh.
Miền Bắc Việt lúc đó là đất Lạc (Lạc Dương – Đông Chu). Còn Vân Nam là đất Tây Âu của phần Âu trong nước Âu – Lạc. Phần Đông Âu là khu vực Quý Châu hay đất Kiềm. Quý Châu lúc này là điểm nằm giữa Tần (từ đất Thục – Tứ Xuyên), Sở (Hồ Nam), Đông Chu (Bắc Việt) và Tây Chu (Điền – Vân Nam).
Sách Hoài Nam tử cho biết nhà Tần khi dẫn đại quân đánh Việt đã giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Dịch Hu Tống đọc khác đi là Dịch Hậu Tông, tức là con cháu của vua Dịch học. Tướng Trang Kiểu là vốn là dòng dõi nhà Chu từ Chu Văn Vương. Văn Vương là người được tôn làm vua Dịch học vì đã viết Kinh Dịch (Chu Dịch). Do đó Trang Kiểu cũng chính là Dịch Hu Tống đã đụng độ với quân Tần lúc này.
Truyện Chín chúa tranh vua kể các tù trưởng Nam Chiếu cổ đã bị Miêu chủ và Dao chủ  phục đánh. Miêu và Dao là 2 sắc tộc chính của nước Sở thời này. Đoạn truyện này có nghĩa là quân Tây Chu ở Vân Nam đã đụng độ với cánh quân người Sở của Tần.
Cái tên Nam Cương trong truyện có thể hiểu là vùng đất ở phía Nam xưa, tức là phía Bắc nay (phương Nam Bắc nay đã đảo ngược). Nhà Tần lấy mệnh Thủy, dùng màu đen của Ngũ hành, định vị ở phương Bắc nay, cho nên tên gọi của Tần mới là Nam Cương.
Về đất Điền ở Vân Nam tác giả Nguyễn Quang Nhật đã có nhận xét rất xác đáng khi phân tích phiên thiết Di Yên = Điền. Người Điền là người của xứ nóng (yên = ơn là số 2 chỉ phương Xích đạo) di cư tới trong cuộc chia tách Đông Tây của Hùng và Thục, Lạc Long và Âu Cơ hay Hoa và Di.

IMG_0512Trống đồng trong bảo tàng Hà Giang.

Khu vực Vân Nam có dân tộc Di, hay là người Lô Lô, một dân tộc tới nay vẫn còn dùng trống đồng trong đời sống văn hóa. Có thể thấy tên Lô Lô hay La La, Lu là từ chữ Lửa mà ra, chỉ tộc người phương nóng (Bắc xưa), dòng dõi Thần Nông Viêm Đế. Chữ Lô này do đó đồng nghĩa với chữ Yên. Người Lô Lô – Di = Di Yên thiết Điền.
Người Lô Lô theo truyến thuyết có nguồn gốc từ người Khương cổ. Người Khương này không phải ở Tây Tạng như các chú dẫn hay gặp vì rõ ràng Tây Tạng chẳng có bộ tộc nào dùng trống đồng cả. Khương là họ của Viêm Đế Thần Nông, cho thấy người Lô Lô là dòng Thần Nông. Viêm Đế khởi phát từ vùng sông Khương hay Khung Giang, tức là sông Mê Kong ngày nay.
Liên hệ khác, Thục An Dương Vương được các tư liệu truyền thuyết chép là đến từ Ai Lao – Vân Nam. Người Ai Lao Di = La Di, tức là người Lô Lô. Người Di Lô Lô như thế là dân tộc đã theo ông tổ của nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ di cư lên núi do cuộc tranh giành quyền lực với Hạ Khải. Truyền thuyết Việt kể là cuộc chia tách Âu Cơ với Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi. Đất Vân Nam Quý Châu là vùng đất khởi nghiệp của nhà Chu, gọi là đất Âu. Ai Lao thiết Âu.
Theo wikipedia: người Lô Lô vốn có chữ viết riêng. Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay không dùng nữa. Khoảng thế kỷ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
Như thế chữ viết của người Lô Lô là dạng chữ tượng hình như chữ Nho cổ, chứ không phải bộ chữ hoàn toàn khác. Vì người Lô Lô là hậu duệ nhà Chu nên hiển nhiên chữ viết đó cũng là chữ dùng thời Chu. Có thể đó là chữ Đại triện thời Chu hay chữ Khoa đẩu mà người Việt thường nói tới.

P1100140Chiếc chuông đồng có chữ thời Đông Sơn tìm thấy ở Lào Cai.

Những phò mã của An Dương Vương chống Tần kháng Triệu

Sách Việt sử những chuyện hay tích lạ của Lê Thái Dũng có dẫn truyện về một vị tướng thời Thục An Dương Vương như sau:
Theo một tài liệu dã sử “Tình sử Mỵ Châu” thì người con gái cả của An Dương Vương là công chúa Quỳnh Anh. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tần xâm lược, rất nhiều vị tướng đã lập công lớn, trong đó có tổng binh Võ Quốc.
Bấy giờ thấy con gái đã trưởng thành, “xuân xanh tới tuổi, đến tuần cập kê”, An Dương Vương liền tổ chức cuộc thi võ để kén chồng cho công chúa, rất nhiều anh tài võ tướng trẻ tuổi hứng khởi tham gia đua tranh thi đấu quyền cước, đao kiếm, cưỡi ngựa bắn cung. Cuối cùng, người giành chiến thắng trong đám quần kiệt ấy chính là Võ Quốc.
Sách “Tây Hồ chí” cũng có phần nhắc đến sự tích của tướng Võ Quốc, theo đó ông người ở bến Lâm Ấp, trang Long Đỗ, võ nghệ siêu quần lại có tài dụng binh. Nhờ có công dẹp phản loạn ở động Nghê Trà, bộ Dương Tuyền), lại có công đánh giặc Tần nên được vua gả công chúa Quỳnh Anh cho làm vợ.
… Khi Trọng Thủy được ở rể, mua chuộc chia rẽ các Lạc hầu, Lạc tướng và đã nắm hết nội tình triều chính Cổ Loa, phá bỏ được vũ khí thần diệu của nước Âu Lạc là nỏ Liên châu (Linh quang kim trảo thần nỏ) rồi lấy cớ trở về nước thăm cha thì lập tức, Triệu Đà đem quân tấn công Âu Lạc; vì chủ quan, An Dương Vương thua trận. Nghe tin cấp báo, phò mã tổng binh Võ Quốc cùng công chúa Quỳnh Anh dẫn quân về cứu thành Loa nhưng không kịp.
Trong trận chiến ác liệt dưới chân thành, Võ Quốc cùng người em kết nghĩa là dũng tướng Võ Trung tử trận, công chúa Quỳnh Anh được các tùy tướng hộ vệ phá vây chạy về làng Cháy ở đất Đông Ngàn (nay là làng Phù Chẩn, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh).
Giặc kéo đến vây kín, chống không nổi các tướng chỉ huy là ông Đống, ông Vực, bà chúa Quả Cảm… đã tuẫn tiết; công chúa Quỳnh Anh bị giặc bắt nhưng nàng đã dùng cây kim thoa bằng đồng tự sát để giữ lòng trung trinh, tiết hạnh.
Chuyện về vị tướng Võ Quốc (hay Võ Trung) thời An Dương Vương cũng được cuốn Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ của cụ Đăng Xuân Khanh (soạn năm 1956) nhắc tới:
Võ Trung người động Lâm Ấp đất Long Đỗ. Ông võ nghệ cao cường làm quan dưới triều Thục Vương đến chức Chưởng lĩnh tiền quân nguyên soái. Dẹp loạn Phí Công Nguyên được vua gia tặng chức Đô Thống thái bảo, lại gả cho công chúa Quỳnh Anh. Đến năm thứ 41 Triệu Đà sang xâm lược, ông phụng mệnh ra trận…
Địa danh Lâm Ấp như thế có từ thời An Dương Vương.
Trong các chuyện trên có một điểm lạ. Tướng quân Võ Quốc (hoặc Võ Trung) có công đánh quân Tần và lấy con gái An Dương Vương là công chúa Quỳnh Anh. Nhưng sau đó An Dương Vương mắc kế của Triệu Đà khi gả công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy, dẫn đến mất nước.
Các nhà sử học Việt Nam hiện nay đang nghiêng về giả thuyết cho rằng Triệu Đà nổi lên ở Nam Hải (Quảng Đông), rồi tới sau khi Cao Hậu nhà Tây Hán mất (năm 180 TCN) mới đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương. Nhưng nếu vậy tính từ lúc quân Tần đánh Việt, muộn lắm là năm 218 TCN, tới năm Cao Hậu mất có tới gần 40 năm. Hai công chúa Quỳnh Anh và Mỵ Châu hẳn có độ tuổi xấp xỉ nhau, mà công chúa Quỳnh Anh lấy chồng vào thời Tần (phò mã Võ Quốc chống Tần) cho tới thời Hán sau đó 40 năm thì công chúa Mỵ Châu tuổi đã ngoài 50, còn lấy chồng làm sao? Rõ ràng câu chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu phải xảy ra vào thời Tần, cùng thời với tướng Võ Quốc – công chúa Quỳnh Anh.
Một vị phò mã khác của An Dương Vương là Cao Tứ. Thần tích về Cao Tứ vẫn còn lưu giữ ở làng Hương Nghĩa (nay là khu vực đầu phố Đào Duy Từ, Hà Nội) được kể như sau:
Thời An Dương Vương ở châu Vũ Ninh có một dòng họ lớn là Cao Giai lấy bà Mãn người trong huyện… sinh ra Cao Tứ… Thời đó An Dương Vương mở khoa thi, Cao Tứ ứng tuyển, ứng đối lưu loát được sắc chỉ cho làm tham mưu. Ba năm sau làm thập đạo thống lĩnh trông coi thành Đại La. Thấy Kiên Nghĩa và Hương Bài có khí thiêng tốt đẹp ông lấy làm đồn binh hành cung. Năm đó ông 38 tuổi mà vẫn chưa đẹp duyên cùng ai. Vua bèn gả công chúa Phương Minh cho ông (công chúa Phương Minh là em gái công chúa Mỵ Châu), phong tước Tứ dương hầu. Được sau bảy năm quốc gia vô sự.
Sau Triệu Đà sai hiệu úy Đồ Thư đánh Lĩnh Nam. Vua sai phò mã thống lĩnh thủy đạo lãnh 5 vạn quân… chống cự với Triệu bảy tám năm, Quân Triệu thua trận chết vô số. Lần đó Triệu Đà đem đại quân đến Bắc Giang. Ông vâng mệnh vua đến thẳng Bắc Giang đánh một trận lớn. Quân Triệu đại bại chạy về núi Vũ Ninh. Chúng lập mưu gian, giảng hòa xin cho Trọng Thủy làm rể vua. Y dụ dỗ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần ngầm làm hỏng lẫy nỏ rồi lấy cớ trở về nước, bàn mưu với Triệu Đà đem quân đến đánh…

IMG_4635Đền Hương Nghĩa.

Đền thờ Cao Tứ nay vẫn còn, là đền Hương Nghĩa (2 làng Kiên Nghĩa và Hương Bài xưa sát nhập thành làng Hương Nghĩa) ở số 13B Đào Duy Từ, gần Ô Quan Chưởng. Tư liệu khác của đền Hương Nghĩa kể:
Cao Tứ là em Cao Lỗ – người sáng chế ra nỏ thần giúp vua Thục An Dương Vương. Cao Tứ sinh ngày 10 tháng giêng năm Đinh Hợi thời vua Hùng Vương thứ 18. Ông là người tinh tú, sức khoẻ hơn người. Khi vua An Dương Vương mở khoa thi tại Cổ Loa ông đã ứng thí. Văn võ toàn tài được vua phong: “Trấn thủ Đại La thành” sau đổi thành Thăng Long.Cao Tứ giỏi võ nghệ, làm tướng dưới thời vua Thục, đóng quân ở khu Hương Bài, Hương Nghĩa trên bờ sông Tô Lịch và được vua gả con gái là Phượng Minh công chúa. Cao Tứ lập hành cung ở Hương Nghĩa, ông chỉ huy quân thuỷ chống lại quân Tần và đã chiến thắng vẻ vang. Khi Triệu Đà xâm lược nước ta, Cao Tứ đã được phong làm Thuỷ đạo tướng quân lập 5 đồn trên sông Tô Lịch chống lại quân Triệu Đà trong suốt 7, 8 năm trời, quân Triệu Đà đã bị thua. Khi ấy, Trọng Thuỷ lợi dụng việc hoà hiếu gửi rể An Dương Vương rồi đánh cắp nỏ thần đem về nước, sau đó lại đem quân sang cướp nước ta. Cao Tứ được lệnh dàn quân trên sông Tô Lịch, chống lại quyết liệt và tử trận. Công chúa Phượng Minh sau khi biết tin chồng mình hy sinh, tự trẫm mình ở sông Bắc Giang để giữ trọn khí tiết, chung thuỷ với chồng.
Trong đền Hương Nghĩa còn câu đối nói về công nghiệp của Cao Tứ như sau:
閲我南前通鑑遺編水化孤忠標節義
建螺城三名祠峙立地靈勝蹟對馨香
Duyệt ngã Nam tiền thông giám di biên, thuỷ hoá cô trung tiêu tiết nghĩa
Kiến La Thành tam danh từ trĩ lập, địa linh thánh tích đối hinh hương
Dịch:
Xem nước Nam gương sáng xưa còn ghi, sông hóa lòng trung nêu tiết nghĩa
Dựng La Thành ba đền cao sừng sững, đất thiêng vết thánh đượm hương thơm

IMG_4659
Bốn chữ Tứ Dương linh ứng 賜陽靈應 trên mái đền Hương Nghĩa.

Thần tích Hương Bài về Tứ dương hầu Cao Tứ đặc biệt có câu: “Triệu Đà sai hiệu úy Đồ Thư đánh Lĩnh Nam”. Các nhà nghiên cứu (Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh) khi dịch thần tích này đã chú thích rằng chi tiết này không đúng với chính sử. Không đúng với chính sử không có nghĩa là sai. Chi tiết này, trái lại, là một chỉ định lịch sử rất chính xác. Triệu Đà trong cuộc chiến với An Dương Vương là người đã sai Đồ Thư đánh Lĩnh Nam. Nói cách khác, Triệu Đà chính là vua Tần vì Đồ Thư là tướng Tần.
2 vị tướng, 2 phò mã của An Dương Vương là Võ Quốc và Cao Tứ đều chống quân Tần rồi sau “vụ án” Mỵ Châu – Trọng Thủy đã hy sinh khi kháng quân Triệu. Không thể nói khác, chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy phải xảy ra vào thời Tần và Triệu Đà – bố của Trọng Thủy chính là vua Tần. Chính sử Việt ngày nay đã nhầm lẫn khi lấy Triệu Đà trong truyền thuyết Việt ghép với Triệu Đà nổi lên vào thời Tây Hán của Sử ký Tư Mã Thiên. Sự chắp nối râu ông nọ cắm cằm bà kia này đã dẫn đến những sự lộn xộn, vô lý về tuổi tác, thời gian của các nhân vật, như tính ra công chúa Mỵ Châu ngoài 50 tuổi mới lấy chồng hay Triệu Đà có tuổi thọ đến 121 tuổi!?
Bản chất của việc Trọng Thủy ở rể là âm mưu chiếm nước Âu Lạc của nước Tần. Nhìn nhận lại thời điểm của mối nhân duyên Tần – Việt Mỵ Châu – Trọng Thủy cho phép sắp xếp lại chính xác chân thực hơn những sự kiện và nhân vật của giai đoạn bản lề khá ngắn ngủi này khi chuyển tiếp giữa các triều đại: Hùng – Thục – Tần – Hán – Triệu và cho đầu mối rõ hơn về bí mật đã mất của chiếc nỏ thần Âu Lạc.

Nước Tây Âu và tướng Trang Kiểu

Sử ký Tư Mã Thiên, Tây Nam Di liệt truyện kể:
Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Kiểu đem quân dọc theo thượng nguồn sông, đánh lấy các vùng từ Ba, Kiềm Trung sang phía Tây. Trang Kiểu vốn là dòng dõi của Sở Trang Vương. Kiểu đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba, Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu.
Sử ký Tư Mã Thiên, Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện kể:
Bạch Khởi là người Mi, làm tướng cho Tần Chiêu Vương,… Bạch Khởi đánh Sở, phá Yên, được 5 thành. Cùng năm, đánh Sở, phá Dĩnh, đốt Di Lăng, tiến suốt đến Cánh Lăng. Sở Vương bỏ Dĩnh, chạy về phía Đông đến Trần. Tần lấy Dĩnh đặt làm Nam Quận. Bạch Khởi được phong là Vũ An Quân. Vũ An Quân lấy đất Sở định quận Vu, Kiềm Trung.
Dấu vết địa danh Kiềm Trung và Điền vẫn còn lại cho tới nay. Kiềm hay Kiềm Trung là Quý Châu, không có gì phải nghi ngờ vì tới nay Quý Châu còn gọi tắt là Kiềm và đây là địa danh Kiềm Trung đạo thời nhà Đường. Đất Điền cũng được xác định rõ ràng là vùng Vân Nam, nơi có văn hóa Điền và chiếc Điền vương chi ấn.
Tuy nhiên khi định vị 2 vùng đất này rõ như vậy thì thông tin trong Sử ký Tư Mã Thiên liên quan tới 2 vùng đất Kiềm và Điền trở nên vô cùng khó hiểu. Nước Sở vốn được định vị ban đầu ở Hồ Bắc và Hồ Nam. Vậy làm sao Sở lại có thể cử một tướng quân đánh xuống vùng Quý Châu, rồi sang tận Vân Nam? Còn nước Tần theo định vị ngày nay ở khu vực Thiểm Tây, sao lại có chuyện tướng Tần là Bạch Khởi đi đánh nước Sở lại vòng xuống chiếm vùng Kiềm Châu (Quý Châu) ở tận phương Nam? Hình như có “bàn tay vô hình” nào đó đã “lái” các tướng Tần và Sở xuống vùng phía Nam này… Sự thật chắc chắn không phải vậy. Chỉ có thể… các sử gia Tàu đã cố ý xác định sai vị trí của Tần và Sở nên mới ra nông nỗi vậy.
trang-kieuThứ nhất có thể thấy rõ, nước Tần có địa phận chính nằm ở vùng Tứ Xuyên chứ không phải Thiểm Tây. Có vậy thì tướng Bạch Khởi mới sang tiến chiếm vùng Quý Châu (Kiềm Trung). Vị trí Tứ Xuyên của Tần còn cho phép giải thích nhiều tư liệu khác liên quan sau này như chuyện Tần chiếm Việt, Tần Thủy Hoàng Đông du hay chuyện Triệu Đà – Lưu Bang khởi nghĩa kháng Tần…
Thứ hai, Trang Kiểu không phải tướng của nước Sở ở đất châu Kinh tại Hồ Nam Hồ Bắc mà phải là một nước khác, cũng gọi là Sở. Nước này là Lạc vì Lạc = Nác = Nước, còn Sở = Sủy = Thủy. Vì 2 từ này đồng nghĩa nên trong tư liệu cổ thư dễ nhầm lẫn. Lạc Sở mới là nước Sở được nói tới trong các câu “mênh mông bể Sở” hay “bể Sở sông Ngô”, vì nước Kinh Sở ở Hồ Nam Hồ Bắc vốn không hề có “bể”. Lạc là đất Lạc Việt, tức vùng Bắc Việt và Quảng Tây ngày nay. Nơi này trực tiếp có vùng bờ biển là vịnh Bắc Bộ hay biển Đông.
Thời Chiến Quốc đất Lạc là nơi nhà Chu đóng đô hay Lạc Ấp (Lạc Dương), tức Đông Đô của nhà Đông Chu. Trang Kiểu là “miêu duệ của Sở Trang Vương” thực ra nghĩa là dòng dõi của Chu Trang Vương. Chu Trang Vương là Cơ Đà, vị vua thứ ba của nhà Đông Chu, đóng đô ở đất Lạc.
Ở Việt Nam ngày nay còn di tích và di chỉ xác thực về vị Trang Vương này. Đó là chùa Hương ở trên dãy núi Hồng Lĩnh tại Hà Tĩnh. Ở đó có nền Trang Vương, tương truyền là nơi Trang Vương đến thăm con gái là Diệu Thiện tu tại Hương Tích… Câu thơ của Tồn trai Bùi Dương Lịch viết về chùa Hương:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ.
Dịch
Xe mây đâu chốn Trang Vương cũ…
Tác giả Văn nhân trong bài viết Điền quốc – Trang Kiểu đã chỉ ra rằng: Trang = Tlang = Lang, chỉ thủ lĩnh; Kiểu = Cảo = Cửu, là số 9 chỉ phía Tây. Trang Kiểu nghĩa là Lang Cửu hay thủ lĩnh phía Tây. Phía Tây hay Cảo – Kiểu là vùng đất của nhà Tây Chu, đóng đô ở đất Cảo.
Kiềm có nghĩa là màu đen, tương đương với từ Ô hay Âu. Kiềm như vậy là Âu. Quý Châu chính là đất Âu. Còn Vân Nam ở phía Tây Kiềm Trung nên gọi là đất Tây Âu.
Vùng đất Âu ở Vân Nam Quý Châu là vùng đất cũ của nhà Tây Chu. Đông Chu nằm trên đất Lạc, Tây Chu nằm trên đất Âu, hợp lại chính là nước Âu Lạc do An Dương Vương lập nên được kể đến trong truyền thuyết Việt. Triều đại An Dương Vương là vương triều Chu kéo dài bao gồm cả Tây và Đông Chu.
Trang Kiểu là tướng của nhà Đông Chu vào cuối thời Chiến Quốc, được cử đi trấn thủ chống Tần ở vùng Vân Nam và Quý Châu. Sau đó vùng Quý Châu (Kiềm Trung) bị tướng Tần là Bạch Khởi tấn công chiếm mất. Trang Kiểu chỉ còn lại vùng Vân Nam, lập nên quốc gia riêng là Điền quốc.
Như thế cuộc chiến Chu – Tần bắt đầu ngay từ lúc này, dưới thời Tần Chiêu Tương Vương. Truyền thuyết Việt chép là Triệu Đà khởi binh đánh An Dương Vương đến vùng Vũ Ninh thì bị chặn lại. Vũ Ninh tức là vùng đất của Ninh Vương Cơ Phát hay Chu Vũ Vương, người khởi đầu nhà Tây Chu. Vũ Ninh là đất Tây Chu, là vùng Vân Quý như đã nói ở trên.
Diễn biến tiếp theo thì như đã biết, Tần Chiêu Tương Vương cử hoàng thái tôn của mình là Doanh Tử Sở, truyền thuyết Việt gọi là Trọng Thủy, giả cầu hôn con gái vua Chu (= Châu) là Mỵ Châu. Sau đó Doanh Tử Sở đã dẫn quân Tần đánh Lạc Dương (Cổ Loa), đuổi vị vua cuối cùng là Chu Noãn Vương chạy xuống phía Nam đi ra biển mà mất. Nước Âu Lạc của nhà Chu (An Dương Vương) bị diệt vào năm 256 TCN dưới thời Tần Chiêu Tương Vương.
Vào lúc này Tần đã chiếm được đất Kiềm Trung (Quý Châu) và Lạc Việt (Bắc Việt và Quảng Tây). Vùng nước Âu Lạc cũ chỉ còn lại đất Điền hay Tây Âu do Trang Kiểu làm chủ là chưa bị Tần chiếm. Có thể sau đó tướng Đồ Thư của Tần đã tấn công đất Tây Âu vì sách Hoài Nam tử chép Tần phát binh “giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống”. Dịch Hu Tống hay Dịch Hậu Tông, tức là dòng dõi của Dịch Vương, tức Chu Văn Vương (người đã viết Chu Dịch). Trang Kiểu là miêu duệ của Chu Trang Vương nên cũng chính là dòng dõi sau này của Chu Văn Vương.
Không rõ diễn biến tiếp theo ra sao đối với vùng đất Điền nhưng qua thời Hán, khi Lữ Hậu mất, lại xuất hiện nước Tây Âu. Đây là nước mà Triệu Đà đã “dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót… để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Nam Việt Úy Đà liệt truyện).
Lịch sử nước Văn Lang – Âu Lạc của người Việt như thế đang từng bước sáng tỏ tới từng chi tiết trong sử thuyết Hùng Việt.

“Ai oán” Việt Tần

Theo quan niệm hiện nay thì cuộc đụng đầu lịch sử đầu tiên của người Việt với phương Bắc là khi tướng Tần Đồ Thư đem đại quân tiến đánh phương Nam năm 216 TCN. Cho dù không có thư tịch Trung Hoa nào nhắc tới tên Thục An Dương Vương nhưng các sử gia ngày nay “bịa” ra giả thuyết Tần đã diệt nước Tây Âu của Thục Vương là bố của Thục Phán, rồi Thục Phán liên kết với nước Lạc Việt của vua Hùng để làm cuộc kháng chiến trường kỳ chống Tần, kết thúc bằng thắng lợi oanh liệt, giết Đồ Thư, mang lại độc lập…
Nhưng một khi đã nhận ra những “nỗi oan” vô lý của Triệu Đà trong chuyện xâm chiếm nước Âu Lạc thì những “nỗi ai oán” của An Dương Vương và Tần Vương cũng không kém phần bức xúc…

AI LÃNH ĐẠO NGƯỜI VIỆT CHỐNG TẦN THẮNG LỢI?
Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
Người Tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của dân Tây Âu là ai? Các sử gia đời nay cho rằng đó là Thục Phán. Nhưng năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã đánh chiếm vùng đất Việt, lập quận huyện đầy đủ, còn đâu nước nào nữa mà có Thục An Dương Vương?
Theo sử Việt An Dương Vương đánh Hùng Vương lập nước Âu Lạc năm 256 TCN, nếu 50 năm sau (năm 207 TCN) vẫn còn sống thì đã ngoài 70-80 tuổi, làm sao mà còn lãnh đạo người Việt đánh Tần? Chưa kể chuyện Triệu Đà đánh nước Âu Lạc của An Dương Vương nay bị dời tới năm 179 TCN, tức là vào lúc An Dương Vương đã ngoài trăm tuổi, vậy mà vẫn còn có con gái Mỵ Châu đang ở tuổi cập kê mười tám đôi mươi?!
Trong khi đó, Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN] (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.
Triệu Đà chứ không phải ai khác vào năm 207 TCN đã chiếm lại 3 quận Quế Lâm (hoặc Lâm Ấp), Tượng Quận và Nam Hải mà Tần lập ra trên đất Việt. Vì vậy Triệu Đà mới là “người Tuấn kiệt” đã lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng Tần thắng lợi được nhắc đến trong sách Hoài Nam tử.
Sử sách ghi rõ ràng thời gian và nhân vật trong cuộc chiến với quân Tần như thế mà các sử gia Việt Nam vẫn không muốn công nhận. Bởi vì họ thích An Dương Vương, một người Việt, chiến thắng quân Tần hơn là Triệu Đà. Có điều họ không nhận ra, Triệu Đà cũng là người Việt, vua Việt chẳng khác gì An Dương Vương. Triệu Đà khởi nghiệp từ đất Thái Bình, lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần thắng lợi, giành lại đầy đủ các quận mà Tần lập ra trên đất Việt ngay sau khi Tần Thủy Hoàng mất.

TẦN CHIẾM VIỆT NHƯ THẾ NÀO?
Nếu Triệu Đà không phải người đã xâm lược nước Âu Lạc thì người đã đánh diệt An Dương Vương chỉ có thể là nhà Tần. Truyền thuyết Việt cũng như người Choang ở Quảng Tây (truyện Thần cung bảo kiếm) chép chi tiết sự kiện Tần đánh Việt qua câu chuyện thương tâm Trọng Thủy – Mỵ Châu. Trọng Thủy là người Tần như trong bài thơ sau, hiện còn lưu ở am Mỵ Châu tại thành Cổ Loa:
Hoàng thành đoạn kính thảo ly ly
Vãng sự thương tâm bất khả ti
Tần Việt nhân duyên thành oán ngẫu
Sơn hà kiếp vận đáo nga mi…
Dịch (theo Đỗ Văn Hỷ):
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai?
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài…
Để chuẩn bị cho cuộc tấn công Âu Lạc, Tần Vương đã cử vương tôn của mình là Trọng Thủy sang kết hôn với con gái của An Dương Vương là Mỵ Châu, nhằm dò xét quân tình. Trọng là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý. Thủy là hành thủy chỉ phương Bắc, như trong tên hiệu của Tần Thủy Hoàng. Trọng Thủy là vị vương tử thứ ba của nhà Tần.
Khi Trọng Thủy đã nắm được mọi đường ngang lối dọc ở Âu Lạc, kiếm cách trốn về nước, rồi dẫn đạo quân của Đồ Thư tổng tấn công nước Âu Lạc. Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống bị Tần diệt như sách Hoài Nam Tử kể là An Dương Vương, vua của nước Âu Lạc, đã phải “cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển”.
Sự thực thì việc Trọng Thủy ở rể trên đất Việt là chuyện Dị Nhân Doanh Tử Sở, cháu của Tần Chiêu Tương Vương, làm con tin tại nước Triệu. Doanh Tử Sở lấy người thiếp của Lã Bất Vi là Triệu Cơ hay Châu Cơ, được truyền thuyết Việt chép là nàng Mỵ Châu. Doanh Tử Sở lên ngôi có hiệu là Tần Trang Tương Vương. Còn Châu Cơ – Mỵ Châu là người sinh ra đại đế Tần Thủy Hoàng. Câu chuyện Lã Bất Vi “buôn vua” chỉ là sự sao chép lệch lạc của mối nhân duyên Tần Việt ở thành Cổ Loa.
Như vậy Tần đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương không phải vào thời Tần Thủy Hoàng mà là vào năm 257 TCN, thời điểm sử Việt chép An Dương Vương đánh Hùng Vương. Tần Thủy Hoàng khi thống nhất Trung Hoa đã tiến hành chính sách “hòa tập Bách Việt”, “đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn” tới đất Lục Lương, phân chia quận huyện trên đất Việt. Sử Việt đã chép lẫn cuộc tấn công của Đồ Thư đánh Dịch Hu Tống – An Dương Vương năm 257 TCN với việc di dân quy mô lớn của Tần Thủy Hoàng năm 216 TCN.

NHỮNG DANH NHÂN ĐẤT VIỆT THỜI TẦN
Tần Thủy Hoàng là đứa con của 2 dòng máu Tần Việt (Trọng Thủy – Mỵ Châu) nên dưới thời Tần các danh nhân ở đất Việt rất được trọng dụng. Truyền thuyết Việt còn ghi chuyện Lý Thân, người làng Thụy Hương, Từ Liêm, được Tần Thủy Hoàng gả con gái và giao chức Tư lệ hiệu úy, trấn thủ đất Hoa Di. Khi Lý Thân mất, Tần Thủy Hoàng vô cùng thương tiếc, cho đúc tượng đồng to bằng người thật đặt ở Hàm Dương, đủ thấy sự quý mến của Tần Thủy Hoàng với Lý Ông Trọng như thế nào.
Câu đối ở đình Chèm thờ Lý Ông Trọng:
Tần quan lỵ chỉ Trung Hoa tướng
Việt điện nguy nhiên thượng đẳng thần.
Dịch:
Ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa
Điện Việt còn đây thần thượng đẳng.
Một chuyện khác về thời Tần được chép trong Lĩnh Nam chích quáiTruyện Giếng Việt. Truyện mở đầu như sau:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn… Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang lại đền miếu…
Thôi Lượng làm quan tới chức ngự sử đại phu dưới thời Tần. Ngự sử đại phu tức là chức quan phó của thừa tướng, rất cao trong hàng quan chức thời Tần Hán. Rõ ràng đã có một triều Tần trên đất Việt, với những người Việt làm phò mã, ngự sử đại phu. Điều này chỉ có thể hiểu được khi biết rằng một nửa dòng máu của Tần Thủy Hoàng là dòng máu Việt từ nàng Mỵ Châu mà ra.

CON ĐƯỜNG ĐÔNG DU CỦA TẦN THỦY HOÀNG
Sự có mặt của triều Tần trên đất Việt sẽ không hề vô lý khi biết rằng Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất Lục quốc đã cho dời đô về phía Nam, gần biển hơn. Tần Thủy Hoàng bản kỷ (Sử ký Tư Mã Thiên) chép:
Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Thủy Hoàng cho rằng ở Hàm Dương người thì đông mà cung đình các vua trước thì nhỏ nói:
– Ta nghe vua Văn Vương nhà Chu đóng đô ở đất Phong và Vũ Vương đóng đô ở Cảo, miền giữa Phong và Cảo là đô của đế vương.
Bèn sai xây cung để tiếp các triều thần ở phía Nam sông Vị….
Con đường Tần Thủy Hoàng cho làm để đi thông ra biển qua đất Vân Dương cũng là nơi Thủy Hoàng sau đó đi tuần du phương Đông năm thứ 37 (211 TCN), lên Cối Kê tế vua Vũ, nhìn ra biển Nam Hải dựng đá khắc công đức nhà Tần. Chỗ có thể lên núi để nhìn ra biển Nam Hải thì chắc chắn phải là ở vùng ven biển Đông ngày nay.
Trong những lần Đông du đó Tần Thủy Hoàng đã gặp vị đạo sĩ bác sĩ Yên Kỳ Sinh. Chuyện Yên Kỳ Sinh được sách Trung Quốc chép như sau:
Yên Kỳ Sinh người Phụ Hương, thuộc Lang Gia. Ông bán thuốc ở ven biển Đông Hải. Người đời gọi là Thiên Tuế Ông. Tương truyền khi Tần Thủy Hoàng đông du đã gặp ông, ban cho ông hàng vạn vàng ngọc. Ông bèn để tất cả lại nơi Phụ Hương đình rồi bỏ đi. Ông để thư lại cho Tần Thủy Hoàng đến tìm ông dưới núi Bồng Lai. Tần Thủy Hoàng mấy lần sai người ra biển tìm ông nhưng đều bị bão phải quay về. Bèn lập đền thờ ở Phụ Hương đình và hơn 10 nơi ven biển.
Yên Kỳ Sinh chẳng xa lạ gì với người Việt vì đỉnh núi Yên Tử ở Đông Triều, Quảng Ninh chính là một trong những lưu tích của Yên Kỳ Sinh. Tần Thủy Hoàng gặp Yên Kỳ Sinh khi đi tuần du như vậy là ở ven biển Đông. Con đường Thủy Hoàng mới mở do đó cũng là con đường chạy ra biển Đông, đi qua đất Việt.

Cac quan cuc Nam thoi Tan

Vị trí các quận cực Nam của nhà Tần.

Chứng tích về vị trí con đường của Tần Thủy Hoàng mở còn được thấy trong chuyện về Triệu Đà. Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Nhâm Ngao, ốm sắp chết, mời huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói:
– Tôi nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nào yên. Những người hào kiệt phản Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đứt con đường mới để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi.
Chặn đứt con đường mới” là chặn con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở đi ra Vân Dương. Dương là hướng mặt trời lên, hay hướng Đông. Vân Dương nghĩa là phía Đông của đất Vân Nam, tức là vùng Bắc Việt – Quảng Tây. Câu nói của Nhâm Ngao chỉ rõ con đường Tần Thủy Hoàng mới mở là đi qua đất Nam Việt nơi Nhâm Ngao và Triệu Đà đang quản lý. Đó cũng là nơi có các di tích của đạo sĩ Yên Kỳ Sinh thời Tần Thủy Hoàng.
Tại con đường Đông du đó, Lưu Bang thời trẻ đã từng đứng quan sát Tần Thủy Hoàng đi qua mà ngậm ngùi mộng đế vương (Cao Tổ bản kỷ). Lưu Bang không phải ai khác chính là Triệu Đà ở đất Thái Bình. Do vậy, Lưu Bang – Triệu Đà mới có thể thấy Tần Thủy Hoàng đi du ngoạm ở khu vực đất Quảng Ninh ngày nay…
An Dương Vương hiển nhiên là người Việt. Tần Thủy Hoàng ít nhất có nửa dòng máu mẹ là người Việt. Triệu Đà cùng Lưu Bang cũng là người Việt từ đất Thái Bình. Dòng sử Việt từ thời các vua Hùng dựng nước tới nhà Hiếu của Lưu Bang chưa hề bị đứt mạch. Đã đến lúc người Việt phải trả lại sự thực cho những “nỗi oan ức” của tiền nhân…

Những “nỗi oan” của Triệu Đà

Trong sử Việt có lẽ không có vị đế vương nào lại phải chịu tiếng oan ức như Triệu Vũ Đế. Oan không phải vì những gì Triệu Vũ Đế đã làm, mà vì các sử gia Việt mắt mờ, bị sử Tàu đánh tráo khái niệm, đánh tráo thời gian, biến một vị đế vương oai hùng đầu tiên của nước Nam người Việt thành một người Tàu xâm lược, thâm độc…

NỖI OAN THỨ NHẤT: TRIỆU ĐÀ LÀ NGƯỜI PHƯƠNG BẮC
Sử ký Tư Mã Thiên chép: Vua Nam Việt họ Triệu tên là Đà người huyện Chân Định, trước làm quan úy. Thông tin thư tịch chỉ có vậy, thế mà không biết căn cứ vào đâu sách vở lại chú thích huyện Chân Định đời Tần “nay là” huyện Chính Định, Hà Bắc, Trung Quốc??? Triệu Đà bị biến thành người nước Triệu thời Chiến Quốc, quê gốc Hà Bắc.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải, cho những người bị đày đến đấy canh giữ. Ở phía Tây Bắc đánh đuổi Hung Nô từ Du Trung dọc theo sông Hoàng Hà đi về đông đến Âm Sơn tất cả 34 huyện, xây thành trên sông Hoàng Hà để làm giới hạn. Lại sai Mông Điềm vượt sông Hoàng Hà lấy đất Cao Khuyết, Đào Sơn, Bắc Giã xây đình và thành lũy ở đấy để đuổi người Nhung và đưa người bị đày đến đấy để ở và lần đầu những nơi này trở thành huyện.
Cùng năm Tần đánh Việt thì Mông Điềm mới vượt sông Hoàng Hà đánh Hung Nô và người Nhung, lập các huyện mới. Vậy đất Hà Bắc, tức là Bắc sông Hoàng Hà, tới lúc này mới lọt vào tay Tần, lấy đâu ra ông Triệu Đà người Hà Bắc lại cùng năm đó làm tướng Tần đánh Việt được?
Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Bấy giờ nhà Tần đã chiếm cả thiên hạ, cướp lấy đất Dương Việt, đặt ra các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận. Như vậy thời kỳ này đất Giao Chỉ đã nằm trong đất nhà Tần. Huyện Chân Định hoàn toàn có thể nằm ở chính Giao Chỉ chứ không đâu xa. Sự thật thì huyện Chân Định thời Tần là ở đất Thái Bình ngày nay. Chân Định là tên cũ của huyện Kiến Xương, mãi tới thời Thành Thái (1889) mới đổi là huyện Trực Định phủ Kiến Xương tỉnh Thái Bình.
Huyện Kiến Xương nay còn di tích là đền Đồng Xâm tại xã Hồng Thái thờ Triệu Vũ Đế, là bằng chứng rõ ràng rằng Chân Định của Triệu Đà là ở đất Thái Bình chứ không hề ở Hà Bắc, Trung Quốc. Tại Đồng Xâm Triệu Vũ Đế lấy vợ là Hoàng hậu Trình Thị. Như vậy Triệu Đà là người Việt chính gốc, chứ chẳng phải Tần hay Triệu nào ở tận Bắc Hoàng Hà.

Dong Xam

Đền thờ Triệu Vũ Đế ở Đồng Xâm, Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình.

NỖI OAN THỨ HAI: TRIỆU ĐÀ DẪN QUÂN TẦN XÂM LƯỢC VIỆT
Nỗi oan giời thấu thứ hai là Triệu Đà bị coi là kẻ xâm lược, đã cầm đầu quân Tần đánh Việt. Gọi là oan vì lần tìm hết các thư tịch cũ đều không hề có sách nào cho biết Triệu Đà đã cầm đầu quân Tần. Chỉ có trong Hoài Nam Tử có đoạn: [Nhà Tần] sai Úy Đà Đồ Thư đem lâu thuyền xuống Nam đánh Bách Việt. Cụm từ “Úy Đà” ở đây bị hiểu thành Triệu Đà. Hóa thành Triệu Đà cùng Đồ Thư đã dẫn quân xuống phương Nam.
Úy Đà là chức vụ của tướng Đồ Thư, với nghĩa như Đô Úy, tức là tướng thống lĩnh quân đội. Úy Đà biến thành tên riêng Triệu Đà dẫn đến nỗi oan chữ nghĩa khó giải của Triệu Vũ Đế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện chỉ chép: Thời Tần, Đà được làm lệnh ở huyện Long Xuyên, thuộc quận Nam Hải. Nếu Triệu Đà là tướng cùng Đồ Thư dẫn mấy chục vạn quân đánh Việt thì sao lại chỉ được làm một huyện lệnh nhỏ nhoi ở Nam Hải?
Huyện Long Xuyên nay là Long Biên, nơi còn đình đền thờ Triệu Vũ Đế tại xã Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Theo sự tích ở đình Xuân Quan thì Triệu Vũ Đế khi đi qua bến sông này đã thấy rồng bay lên nên sau nhân đó đặt tên là … Thăng Long. Đình Xuân Quan được xây trên hành cung cũ của Triệu Vũ Đế, có tên là điện Long Hưng.
Thiên Nam ngữ lục thì chép về Triệu Đà:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Triệu Vũ Đế lấy vợ ở đất Chân Định (Kiến Xương – Thái Bình), khởi nghĩa kháng Tần từ đất Long Biên (Thăng Long), hoàn toàn không phải kẻ xâm lược, dẫn quân Tần đánh Việt.

NỖI OAN THỨ BA: TRIỆU ĐÀ LỪA LẤY LẪY NỎ THẦN VÀ DIỆT AN DƯƠNG VƯƠNG
Triệu Đà bị coi là kẻ thâm độc, xâm lược nước ta vì truyền thuyết Việt kể Triệu Đà sau khi đánh An Dương Vương không được, phải giả vờ xin hòa, cho con là Trọng Thủy xin cưới công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương và xin ở rể. Trọng Thủy nhân cơ hội đánh tráo lẫy nỏ thần của nước Âu Lạc, rồi tìm cách về nước, dẫn quân sang, đuổi An Dương Vương cùng đường mà phải chém Mỵ Châu và đi vào biển…
Một lần nữa các sử gia Việt đã lấy truyền thuyết ghép nối vào lịch sử, nhưng ghép theo kiểu râu ông nọ cắm cằm bà kia. Thư tịch Trung Hoa không hề có chỗ nào ghi Triệu Đà đánh An Dương Vương cả. Nam Việt Úy Đà liệt truyện chỉ ghi: Cao Hậu mất,… Đà nhân đó dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc mình.
Nếu Triệu Đà là người cầm quân Tần đánh Việt từ năm Tần Thủy Hoàng thứ 33 (214 TCN), lập ra quận huyện đầy đủ rồi, thì làm gì còn An Dương Vương và nước Âu Lạc nào sau đó nữa để mà Triệu Đà phải dụng tâm, khổ kể như vậy?
Các sử gia cho rằng Triệu Đà đã dùng phương sách “Hòa tập Bách Việt”, lấy vợ Việt, cho con trai mình lấy con gái vua Việt để dễ bề cai trị người Việt. Nhưng tất cả chỉ là chuyện kể trong truyền thuyết mà không có sử liệu nào cho biết rằng Triệu Đà đã đánh diệt An Dương Vương. Thậm chí truyền thuyết của người Choang ở Quảng Tây lại kể Trọng Thủy là hoàng tử của nước Tây Âu, cầm gươm “Hòa tập Bách Việt” sang nước Lạc Việt… Trọng Thủy ở đây không phải con của Triệu Đà.
Chuyện Trọng Thủy của nước Tây Âu đánh Lạc Việt đúng ra là chuyện Tần đánh Việt năm 257 TCN. Tây Âu ở đây là Tần. Trọng Thủy là con vua Tần. Nhà Tần còn mang họ Triệu như Tần Thủy Hoàng có tên Triệu Chính, lấy theo họ mẹ là Triệu Cơ. Sự trùng hợp này đã dẫn đến sự hiểu nhầm oan ức rằng Triệu Đà đã phái con sang do thám nước Việt và diệt An Dương Vương.
Bài thơ Khối tình con của Tản Đà nói đến chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy:

Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân ái nửa phần oán thương.

Mỵ Châu là Việt thì Trọng Thủy là Tần, chứ không phải Triệu. Không phải Triệu Đà đã đánh An Dương Vương, mà là Tần Triệu đã thực hiện chính sách “hòa tập Bách Việt”, lập quận huyện ở trên đất Việt, di dời hàng vạn hộ dân xuống nơi đây.

NỖI OAN THỨ TƯ: TRIỆU ĐÀ TRỊ VÌ 70 NĂM, THỌ 121 TUỔI
Chính vì “Hội nhà sử” ngày nay quá tin vào những chú dẫn “đểu” của sử Tàu mà không suy xét nên Triệu Đà mới thọ đến 121 tuổi, làm vua 70 năm (từ năm 207 TCN đến năm 137 TCN). Chỉ với tuổi thọ này cũng đủ thấy “nỗi oan” của Triệu Đà to như cái đình mà vẫn được các “học giả” tin sái cổ.
Khi đọc kỹ Sử ký Tư Mã Thiên sẽ thấy có 2 lần Triệu Đà xưng vương. Lần thứ nhất là vào năm Tần Nhị Thế thứ hai (207 TCN) Triệu Đà chiếm lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt trước đó (Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải) và tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Lần thứ hai là sau khi Cao Hậu (Lữ Hậu) mất năm 180 TCN Đà uy hiếp Mân Việt và Tây Âu, tự tôn là Nam Việt Vũ Đế.
Theo vậy hóa ra Tây Âu Lạc thì không nằm trong 3 quận mà Tần đã chiếm (Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải)? Điều này vô lý vì sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống đã bị Giám Lộc, Đồ Thư giết thì sao mãi tới thời Tây Hán vẫn còn Tây Âu?
Tuổi thọ “xưa nay”… không có của Triệu Đà cùng với 2 lần xưng vương và sự vô lý về vị trí nước Tây Âu cho thấy, từ năm 207 TCN đến 137 TCN ít nhất phải có 2 nhân vật, cùng được gọi là Triệu Đà. Triệu Đà thứ nhất là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, giành lại đất đai của người Việt mà Tần lập quận huyện trước đó vào năm Tần Nhị Thế thứ ba (207 TCN). Còn Triệu Đà thứ hai nổi lên sau sự kiện Lữ Hậu mất (180 TCN), “mua chuộc” Mân Việt và Tây Âu theo mình. Nói cách khác một Triệu Đà chống Tần, còn một Triệu Đà chống Hán.

Luong lap

Cột nghi môn điện Long Hưng ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Câu đối ở điện Long Hưng, Xuân Quan nơi thờ Triệu Vũ Đế:
一指已無秦萬里開先閩貉絶
两立何難漢億年倡始帝王基
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.
Dịch:
Một vùng vắng bóng Tần, vạn dặm mở ra vời xa Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, ngàn năm gây nền vững vàng đế vương.
Triệu Đà thứ hai là cháu Triệu Đà thứ nhất và có “mồ mả cha mẹ” ở phương Bắc đúng như Sử ký đã chép. Triệu Đà thứ hai có tên… Triệu Hồ, bởi vì Triệu Hồ không phải Triệu Văn Đế như sử vẫn chép. Chứng cứ rõ ràng là ngôi mộ vua Triệu mới phát hiện ở Quảng Đông vào những năm 1980. Trong mộ có ghi tên Triệu Mạt (hay Muội) và ấn vàng Văn đế hành tỉ (文帝行璽 ), nhưng lại còn có ấn vàng Thái tử (泰子). Như vậy người được chôn ở trong mộ là Văn Đế nước Nam Việt nhưng không phải Triệu Hồ vì Triệu Hồ là hàng cháu của Triệu Đà, không thể có chức Thái tử.

An Trieu Muoi

Ấn “Thái tử”, Ấn “Văn đế hành tỷ” ở mộ Triệu Muội tại Quảng Châu (ảnh theo Nguyễn Lương).

Với bằng chứng khảo cổ và minh văn phát hiện trong mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Đông thế thứ nhà Triệu Nam Việt trở nên rành mạch:
– 207 TCN đến 180 TCN: Vũ Vương Triệu Đà
– 180 TCN đến 137 TCN: Vũ Đế Triệu Hồ
– 137 TCN đến 124 TCN: Văn Đế Triệu Muội
– 124 TCN đến 113 TCN: Minh Vương Triệu Anh Tề
– 113 TCN đến 112 TCN: Ai Vương Triệu Hưng
– 112 TCN đến 111 TCN: Vệ Dương Vương Triệu Kiến Đức.
“Nỗi oan” 121 tuổi, 70 năm trị vì của Triệu Đà nay coi như được giải với 2 đời vua Triệu Vũ Hoàng kế tiếp nhau. Nhưng còn những nỗi oan vì sự vô lý của các sử gia đối với sử Việt thì chắc phải chờ thời gian soi xét…

Triệu Vũ Đế Lưu Bang

QUAN TRUNG CỦA NHÀ TẦN
Tần Thủy Hoàng bản kỷ (Sử ký Tư Mã Thiên) chép:
Năm thứ 35 (205 TCN), sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Thủy Hoàng cho rằng ở Hàm Dương người thì đông mà cung đình các vua trước thì nhỏ nói:
– Ta nghe vua Văn Vương nhà Chu đóng đô ở đất Phong và Vũ Vương đóng đô ở Cảo, miền giữa Phong và Cảo là đô của đế vương.
Bèn sai xây cung để tiếp các triều thần ở phía Nam sông Vị…
Ở Quan Trung, số cung đến 300 cái, ở ngoài Quan Trung hơn 400 cái. Thủy Hoàng bèn sai dựng đá ở bờ biển Đông Hải thuộc đất Cù để làm cửa phía Đông của nhà Tần, nhân đấy dời 3 vạn nhà đến Ly Ấp, 5 vạn nhà đến Vân Dương, những nhà này đều được tha việc công dịch mười năm.
Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất thiên hạ đã cho dời kinh đô – trung tâm hành chính (nơi “tiếp các triều thần”) về phía Đông (gần biển hơn) Nam (Nam sông Vị). Trung tâm mới của nhà Tần này nằm ở quãng giữa hai kinh đô của nhà Chu là Phong và Cảo. Đất Phong là Phong Châu ở Bắc Việt ngày nay, Cảo là Vân Nam nên nơi Tần Thủy Hoàng dời đô về là ở trên đất Quảng Tây.
Ngô Thì Sĩ có cho một thông tin: Xét sách Việt chí, cách phía Tây huyện Hưng Yên thuộc tỉnh Quảng Tây 40 dặm có một cái thành tương truyền do Tần Thủy Hoàng đắp ra để ngăn cách nước Việt. Chân móng xây bằng đá, nền cũ hãy còn. Về phía Tây Nam cũng có thành của nước Việt ta, phía Bắc cách thành của nhà Tần 20 dặm.
Rất có thể thành nhà Tần ở Hưng Yên – Quảng Tây là một trong những cung điện mà Tần Thủy Hoàng đã xây khi dời đô về phía Đông Nam. Quan Trung nhà Tần do vậy lúc này nằm ở đất Quảng Tây – Quý Châu.
Con đường “thông từ huyện Cửu Nguyên đến Vân Dương” mà Tần Thủy Hoàng xây dựng là từ Quý Châu (= Cửu Nguyên vì Cửu = Quý là số 9) tới Quảng Tây (Vân Dương nghĩa là phía Đông của Vân Nam). Cửa biển phía Đông của nhà Tần lúc này là cửa Cù, nay là Cửa Ông ở Móng Cái. Đây cũng là con đường mà Thủy Hoàng đã vài lần đi tuần du phía Đông tiếp sau đó. Chứng tích là chuyện Thủy Hoàng gặp đạo sĩ thầy thuốc Yên Kỳ Sinh với các di tích ở khu vực ven biển Đông còn tới nay (như núi Yên Tử ở Quảng Ninh).

page01Vị trí một số địa danh và các quận cực Nam của nhà Tần
(Khu vực khoanh tròn chỉ vị trí Quan Trung của nhà Tần sau khi Tần Thủy Hoàng dời đô về phía Đông Nam)

Như vậy đất Quan Trung của nhà Tần nằm trên khu vực nơi mà năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Thực ra khu vực các quận Quế Lâm, Tượng Quận và Nam Hải cùng với quận Tam Xuyên là đất của nhà Đông Chu đã bị nhà Tần chiếm từ khi Tần Chiêu Tương Vương diệt Chu Noãn Vương năm 256 TCN. Tần Thủy Hoàng năm thứ 33 tiến hành cuộc dời đô và di dân quy mô lớn trong khu vực này chứ không phải tiến chiếm lần nữa.
Tiếp theo, Nam Việt Úy Đà liệt truyện (Sử ký Tư Mã thiên) chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Còn Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN], (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.
Như vậy Triệu Đà chứ không phải ai khác là người đã chiếm lại các quận mà Tần Thủy Hoàng lập ra trên đất Việt vào thời điểm năm Tần Nhị thế thứ 3 (207 TCN). Triệu Đà xưng là Nam Việt Vũ Vương.
Cùng năm này là lúc Lưu Bang chiếm được Quan Trung của nhà Tần. Lưu Bang tiếp ngay đó đã xưng vương (Hán Vương theo phong vương của Hạng Vũ). Triều đại của Lưu Bang được bắt đầu tính từ năm 206 TCN (Cao Tổ năm thứ nhất). Thiên Nam ngữ lục nói về thời điểm này:

Lần kể đã được ba đông
Thay Tần, Hán đã cửu trùng làm vua
Xa thư một mối góp thu
Ai đương Giáng, Quán, ai đua Hàn, Bành.

Sự trùng khớp về không gian và thời gian diệt Tần xưng vương của Lưu Bang và Triệu Đà là các lý do đầu tiên để xác định Triệu Vũ Đế chính là Lưu Bang.

TRẢM XÀ KHỞI NGHĨA VÀ THĂNG LONG
Theo Sử ký Tư Mã Thiên, Cao Tổ bản kỷ Lưu Bang vốn là một đình trưởng ở đất Bái, khi làm nhiệm vụ dẫn dân phu đi Lịch Sơn, nửa đường thấy số người bỏ trốn quá nhiều, sợ rằng theo pháp luật nhà Tần, không hoàn thành việc áp giải dân phu sẽ bị tội, nên Lưu Bang đã thả tất cả dân phu rồi cùng nhau lên núi chống lại Tần theo kiểu “anh hùng Lương Sơn Bạc”.
Còn Triệu Vũ Đế thì được Trần Hưng Đạo kể là: Nước ta thuở xưa, Triệu Vũ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Vũ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời…
Cách dùng đoản binh, đánh “du kích” này và chuyện Lưu Bang khởi nghĩa bắt đầu với vài trăm người ở núi Mường Đăng là một.
Cũng Sử ký Tư Mã Thiên kể Lưu Bang khi khởi nghĩa ở Mường Đăng Lưu Bang đã chém con rắn trắng (Bạch Đế) cản đường và Lưu Bang được xem là Xích Đế. Bạch là màu trắng, chỉ phương Tây. Bạch Đế ở đây chỉ Tần Thủy Hoàng vì nhà Tần ở phía Tây Bắc của Trung Hoa. Câu chuyện Xích Đế cho thấy Lưu Bang là người của phương Nam (phương Xích đạo). Triều đại của Lưu Bang còn được gọi là Viêm Lưu cũng với nghĩa như vậy.
Triệu Vũ Đế khi khởi nghĩa ở đất Long Biên đã thấy rồng bay lên nên gọi là Long Hưng. Điện Long Hưng nay là đình Xuân Quan ở Văn Giang, Hưng Yên bên bờ sông Hồng còn ghi rõ truyền tích này. Thiên Nam ngữ lục cũng xác nhận, chính Triệu Vũ Đế là người đã thấy rồng lên trên sông Nhị Hà và lấy đó đặt tên cho đất Thăng Long:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà
Chầu vua bay thẳng yên hà
Lấy có cớ ấy hiệu là Thăng Long.

Triệu Vũ Đế là Nam Việt Vũ Vương nên hiển nhiên là một triều đại của phương Nam hay phương Xích. Câu đối ở đền Đồng Xâm (Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình):
五羊旺氣宜黄屋
百越華風樹赤旗
Ngũ Dương vượng khí nghi hoàng ốc
Bách Việt hoa phong thụ xích kỳ.
Dịch:
Ngũ Dương khí vượng vàng xe mái
Bách Việt gió hoa đỏ ngọn cờ.
Ngũ Dương là tên của thành Quảng Châu xưa, nơi Triệu Đà xưng đế, đi xe mui vàng, cắm cở tả đạo là lễ nghi của bậc đế. Ngọn “xích kỳ” là biểu tượng của Bách Việt ở phương Nam.
“Long Hưng”, “xích kỳ” của Triệu Vũ Đế như vậy hoàn toàn khớp với chuyện “Xích Đế”, “Viêm Lưu” của Lưu Bang.

NHÂM NGAO VÀ VIÊN HUYỆN LỆNH ĐẤT BÁI
(Xin xem thêm trong bài viết Khởi nghĩa của Triệu Đà)
Theo Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì Triệu Đà ban đầu là quan lệnh huyện Long Xuyên. Khi Tần Thủy Hoàng mất, loạn lạc nổ ra khắp nơi, quan úy ở Nam Hải là Nhâm Ngao đã trao lại quyền cho Triệu Đà. Triệu Đà lấy quyền đó “dần dần dùng hình pháp giết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra, dùng những người đồng đảng thay thế. Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương”.
Long Xuyên là cách gọi khác của Tam Xuyên, vốn là quận mà Tần đã lập ra trên đất nhà Đông Chu. Tam và Long đều là các dịch tương chỉ phương Đông. Long Xuyên cũng là Long Biên, nơi Triệu Vũ Đế khởi nghĩa, thấy rồng bay lên trên sông Nhị Hà ở trên.
Câu đối ở đền Đồng Xâm về Triệu Vũ Đế:
中原逐鹿人何在
南島垂黃帝有眞
Trung nguyên trục lộc nhân hà tại
Nam đảo thùy hoàng đế hữu chân.
Dịch:
Trung nguyên người mải đuổi hươu chạy
Nam đảo đế chân rủ áo bào.
Câu đầu nói đến tích nhà Tần để xổng mất con hươu, thiên hạ cùng nhau đuổi bắt. Tức là Tần Thủy Hoàng mất, thiên hạ nổi dậy khắp nơi tranh giành ngôi vị đế vương của Trung Hoa. Trong lúc đó thì Triệu Vũ Đế là vị “chính vương chân đế” bình thản rủ áo mà cai trị phương Nam.
Chuyện Nhâm Ngao – Triệu Đà hoàn toàn giống chuyện của Lưu Bang lúc mới khởi nghĩa từ diễn biến tới thời gian. Sử ký Tư Mã Thiên, Cao Tổ bản kỷ chép về cuộc khởi nghĩa của Lưu Bang như sau:
Năm thứ nhất đời Tần Nhị Thế (209 TCN) mùa thu, bọn Trần Thắng nổi lên ở đất Kỳ, khi đến đất Trần thì xưng vương là Trương Sở. Nhiều quận và huyện giết bọn quan lại cầm đầu hưởng ứng theo Trần Thiệp. Viên huyện lệnh ở Bái sợ, muốn đem quân Bái theo Trần Thiệp. Người chủ lại Tiêu Hà và quan coi ngục Tào Tham nói với viên lệnh:
– Ông làm quan nhà Tần, mà lại muốn phản lại và đem con em đất Bái theo thì sợ họ không nghe. Xin ông triệu tập những người tránh ở ngoài, có thể được vài trăm người, để gây uy thế làm áp lực với họ. Như thế, người ta nhất định phải nghe theo.
Viên lệnh sai Phàn Khoái mời Lưu Quý đến. Bè đảng của Lưu Quý lúc bấy giờ đã có ngót trăm người. Phàn Khoái bèn theo Lưu Quý đến.
Lưu Quý là tên của Lưu Bang. Viên huyện lệnh của đất Bái vì sợ chư hầu nổi dậy nên đã mời Lưu Bang đến để thêm vây cánh. Lưu Bang lúc này là một thủ lĩnh của vài trăm người đóng ở vùng rừng núi Mường Đăng gần đó, chống lại Tần đã cả chục năm, tính từ lúc thả dân phu khi đi Lịch Sơn. Có thể thấy viên huyện lệnh đất Bái này và Nhâm Ngao trong chuyện Triệu Đà là một.
Tiếp theo nhân dân đất Bái đã nổi dậy, giết chết viên huyện lệnh rồi tôn Lưu Bang lên làm thủ lĩnh, lập làm Bái Công, bắt đầu khởi nghĩa kháng Tần. Đất Bái như đã biết là chữ phiên thiết của Thái Bình. Thái Bình là nơi Triệu Vũ Đế lấy hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm, Kiến Xương (Chân Định).
Câu đối ở đền Đồng Xâm:
靈跡億年遺鉄斧
帝图四百少金刀
Linh tích ức niên di thiết phủ
Đế đồ tứ bách thiểu kim đao.
Dịch:
Tích thiêng vạn năm lưu búa sắt
Đất vua bốn hướng không dao vàng.
“Thiết phủ” là chiếc búa sắt lưu ở đền Đồng Xâm, là một linh vật của đất Thái Bình, tương truyền là cây búa Triệu Vũ Đế được ban cho khi khởi nghiệp. Kim 金 đao刂là chiết tự của chữ Lưu 劉, chỉ triều đại của Lưu Bang.
Triệu Vũ Đế Lưu Bang dùng đoản binh ở Mường Đăng, dựng xích kỳ khởi nghĩa ở đất Bái – Thái Bình, trảm bạch xà ở Long Biên, chiếm Quan Trung nhà Tần năm Tần Nhị thế thứ 3, xưng vương ngay sau đó, mở đầu một triều đại mới của người Bách Việt…

Ba câu chuyện của nước Âu Lạc

Thời kỳ An Dương Vương trong lịch sử nước ta hiện nay đang được xem là “nửa thật, nửa hư”. “Thật” vì An Dương Vương đánh Hùng Vương, lập ra nước Âu Lạc, chấm dứt các “huyền thoại thời Hùng”. Lại còn có cả chứng tích là thành Cổ Loa do An Dương Vương xây dựng vẫn còn. “Hư” vì Thục An Dương Vương không hề được thư tịch cổ nào ghi chép ngoài các truyền thuyết Việt. Và hơn nữa, những câu chuyện về An Dương Vương có nhiều chi tiết thật khó hiểu khi so với chính sử hiện tại.

Thời kỳ An Dương Vương và nước Âu Lạc có 3 câu chuyện hay được kể đến. Thứ nhất là chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa sau khi thắng Hùng Vương. Thứ hai là mối tình ngang trái của Mỵ Châu – Trọng Thủy. Cuối cùng là chuyện Lý Ông Trọng được cử làm tướng Tần chống Hung Nô. Xem xét thời kỳ nước Âu Lạc của An Dương Vương không thể không đi tìm sự thật lịch sử của 3 câu chuyện này.

XÂY THÀNH CỔ LOA

Ai đã giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa? Có lẽ đến đứa trẻ học cấp 1 cũng biết đó là thần Kim Quy. Có ý kiến còn cho rằng thành Cổ Loa là thành Rùa, theo mô hình của Quy Thành xây bên nước Thục… Do đó Thục An Dương Vương là con cháu dòng Thục Khai Minh “thiên di” tới nước Văn Lang… Nhưng không hẳn vậy…

Điểm tất cả các di tích tín ngưỡng còn lại trong dân gian thì thần Kim Quy không được thờ ở đâu cả. Thay vào đó, người được thờ trong chuyện này là Huyền Thiên Trấn Vũ. Vị thần này không xa lạ gì vì đây là một trong Thăng Long tứ trấn mà Trấn Vũ quán là Quán Thánh ở đầu đường Thụy Khuê cạnh Hồ Tây bây giờ.

Nơi thờ gốc của Huyền Thiên là ở đền Sái tại làng Thụy Lôi, Đông Anh, gần thành Cổ Loa. Núi Sái tương truyền là có lối thông với núi Thất Diệu, nơi quỷ tinh Gà Trắng quấy nhiễu việc xây thành đã bị chém chết. Thậm chí cách đó không xa ở Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh còn có cả đền thờ Bạch Kê. Huyền Thiên đại thánh mới là người đã giúp An Dương Vương xây thành bằng cách cử thần Kim Quy đến giúp trừ yêu diệt quỷ.

Từ núi Thất Diệu đi thêm một đoạn, qua đò ngang dòng sông Cầu là tới làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang). Người được thờ làm thành hoàng ở Thổ Hà là Thái Thượng Lão Quân, tức Lão Tử. Tương truyền Lão Tử đã tu hành, đắc đạo và “hóa” ở trang Thổ Hà. Nhưng kỳ lạ hơn thần tích Thổ Hà cho biết Lão Tử mới là người đã điều thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa.

Câu đối ở đình Thổ Hà:

Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.

Dịch:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

Như vậy Lão Tử là Huyền Thiên đại thánh, người đã giúp An Dương Vương xây thành ở núi Sái. Vào thời Đường, Lão Tử được tôn phong là Thái Thượng Lão Quân Huyền Nguyên hoàng đế. Do vậy Lão Tử được gọi là Huyền Nguyên hay Huyền Thiên ở các đạo quán.

Lão Tử, vị giáo chủ Đạo giáo của Trung Hoa sao lại có mặt ở nước Nam, lại còn giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa nữa. Chuyện này phải hiểu như thế nào?

Sách Lão Tử minh cho biết: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng ba sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.

Vùng ba sông – Tam Xuyên là đất của nhà Chu vì khi Tần diệt Chu đã lấy đất nhà Chu lập quận Tam Xuyên. U Vương là vị vua cuối cùng của nhà Tây Chu. Sau đó tới Chu Bình Vương, nhà Chu chuyển về Lạc Dương, bắt đầu thời kỳ Đông Chu.

Cơn địa chấn lúc giao thời Tây và Đông Chu trên chính là cái nền thật của chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa ở Việt Nam. Nhà Chu khi dời đô từ Tây sang Đông đã gặp một trận động đất lớn, Đông Đô Lạc Dương bị rung chuyển. Lão Tử nhân cơ hội đó bày đàn thờ ở núi Sái giả chuyện trừ yêu diệt quỷ của đời trước để răn dạy vua Chu. Câu đối ở đình Thổ Hà:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Dịch:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng nắm chốn thanh hư, mở đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo thần tiên.

Thời là thời Đông Chu, còn đất là đất Nam Việt. An Dương Vương xây thành ở Đông Đô (tên cũ của Hà Nội) chính là thiên tử Chu của Trung Hoa. Đạo Giáo của Trung Hoa khởi đầu bởi Lão Tử – Huyền Thiên ở núi Vũ Đương (Võ Đang), là tên của núi Sái ở Thụy Lôi, Đông Anh. Sự thần kỳ của Đạo Giáo chính là bắt đầu từ chuyện trừ quỷ tinh để xây thành cho Đông Đô.

MỴ CHÂU – TRỌNG THỦY

Một câu chuyện cười: Thầy giáo hỏi học sinh: “Ai đã đánh cắp nỏ thần của An Dương Vương”. Học sinh sợ hãi đáp: “Dạ, không phải em ạ!”…

Lẫy nỏ thần, vũ khí lợi hại mà thần  Kim Quy trao cho Thục An Dương Vương đã bị Trọng Thủy đánh cắp. Tuy nhiên, nếu hỏi Trọng Thủy là ai thì có lẽ cả các giáo sư ngày nay cũng phải lúng túng chứ nói gì đến các em học sinh.

Truyền thuyết kể Trọng Thủy là con trai của Triệu Đà đã cầu hôn con gái An Dương Vương là Mỵ Châu và xin ở rể. Họ Triệu đây là Triệu nào?

Ở thành Cổ Loa trong am thờ Mỵ Châu nay có bài thơ đề trên bảng gỗ:

Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai?
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài
Quyên kêu nước cũ trời sương muộn
Trai nở dòng băng biển biếc hay
Mờ mịt nỏ thần đâu biệt mất
Rùa vàng lầm lỡ tới ai đây.

Cụm từ “Nhân duyên Tần Việt” cho thấy Mỵ Châu là Việt, còn Trọng Thủy là Tần. Nhà Tần có họ Triệu, như Tần Thủy Hoàng tên Triệu Chính. Chuyện nhà Tần cho con trai đi ở rể trên đất Việt này là thế nào?

Đại Việt sử ký toàn thư có đoạn lời bình của Ngô Sĩ Liên khi nói tới chuyện Nhã Lang – Cảo Nương thời Triệu Quang Phục: Đàn bà gọi việc lấy chồng là “quy” thì nhà chồng tức là nhà mình. Con gái vua đã gả cho Nhã Lang thì sao không cho về nhà chồng mà lại theo tục ở gửi rể của nhà Doanh Tần để đến nỗi bại vong?

Trong lịch sử nhà Tần thì chỉ có một chuyện “gửi rể” duy nhất là việc công tử Dị Nhân làm con tin ở đất Triệu, lấy nàng Triệu Cơ, thiếp của Lã Bất Vi… Câu chuyện Lã Bất Vi “buôn vua” nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa này chỉ là sự bịa đặt bóp méo sự thực về nhân duyên Tần Việt của chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy ở Việt Nam.

Nàng Triệu Cơ trong ngôn ngữ xưa được gọi là Châu Cơ. Như Đại Nam quốc sử diễn ca kể:

Bấy giờ gặp hội cường Tần
Tằm ăn lá Bắc, toan lần cành Nam
Châu Cơ muốn nặng túi tham
Đồ Thư, Sử Lộc sai làm hai chi.

Châu Cơ chính là nàng Mỵ Châu họ Cơ. Họ Cơ là họ của các vua Chu. Mỵ Châu là con gái vua Châu (Chu), rất rõ ràng.

Trọng Thủy là công tử Dị Nhân – Doanh Tử Sở, cháu của Tần Chiêu Tương Vương, đi ở rể ở nước Chu, bị tráo đổi thành ở nước Triệu. Tần Chiêu Tương Vương, người đã diệt nhà Chu năm 256 TCN, mới là Triệu Đà trong Truyện Rùa Vàng. Năm này cũng là thời điểm được xem là Thục An Dương Vương đánh Hùng Vương. Sử Việt đã chép gộp hai sự kiện: việc Thục Phán – Cơ Phát phát động chư hầu diệt Ân Trụ Vương và việc Tần Chiêu Tương Vương đánh Chu Noãn Vương, vị vua cuối cùng của nhà Chu. Sự kiện đầu mở màn cho cơ nghiệp thiên tử của nhà Chu. Sự kiện sau kết thúc vương triều này của Trung Hoa, kéo dài gần 1000 năm.

LÝ ÔNG TRỌNG

Dựa vào chuyện Lý Ông Trọng là tướng của An Dương Vương nhưng lại giúp Tần Thủy Hoàng trấn giữ Hung Nô mà các sử gia ngày nay cho rằng đã có một sự “hòa hoãn” giữa Thục Phán và Tần, để sau đó Thục Phán lãnh đạo nhân dân Việt trường kỳ kháng chiến, đã dành lại được nước Âu Lạc sau khi Thủy Hoàng mất…

Về cuộc tấn công của nhà Tần vào đất Việt sách Hoài Nam tử chép: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.

Quân trưởng Tây Âu Dịch Hu Tống là ai? Có người đoán đó là bố của Thục Phán (Thục Vương), để Thục Phán thành người Tuấn kiệt làm thủ lĩnh kháng Tần những năm này…

An Dương Vương hay Âm Dương Vương, chỉ vị vua đã làm nên Dịch học (Âm dương). Người tác dịch của Trung Hoa là Chu Văn Vương. Truyền thuyết Việt kể là Lang Liêu nghĩ ra bánh chưng bánh dày. “Bánh chưng báy dày” hay “bánh trăng bánh giời” là hình ảnh của trời tròn đất vuông, âm dương mà thôi.

Các vị vua Chu do vậy được gọi là An Dương Vương (Âm Dương Vương), là những người đã nắm bắt được Kinh Dịch (do thần Kinh Quy – Kim Quy trao tặng) mà cai quản cả thiên hạ Trung Hoa. Khi xác định vậy thì cái tên Dịch Hu Tống có thể được giải nghĩa như sau:

–          Hu = Hậu
–          Tống = Tông.

Dịch Hu Tống = Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi cuối cùng của Dịch Vương. Quân Tần đã đánh diệt hậu duệ của Dịch Vương, tức là đánh Chu Noãn Vương, vị vua Chu cuối cùng ở thành Cổ Loa, “quân trưởng” của nước Âu Lạc.

Trở lại chuyện Lý Ông Trọng. Như đã trình bày ở trên, nhà Tần xuất phát từ hướng Tây (Thục) đánh nhà Chu ở hướng Đông (Đông Chu) nên sự kiện Tần diệt Chu còn được chép là An Dương Vương đánh Hùng Vương của nước Văn Lang (Lang Văn Cơ Xương). An Dương còn có nghĩa là “dẹp yên phương Đông” nên An Dương Vương ở đây chỉ nhà Tần. Lý Ông Trọng làm tướng của An Dương Vương, không phải là làm tướng cho nhà Thục (Chu) mà là cho nhà Tần, đúng như truyền thuyết đã kể. Ông Trọng đỗ Hiếu Liêm, được Tần Thủy Hoàng phong làm chức Tư lệ hiệu úy và gả con gái cho.

Sách Từ Nguyên viết: Nguyễn Ông Trọng đời Tần, người Nam Hải, thân dài một trượng ba thước, khí chất đoan dũng, khác với người thường. Vua Thủy Hoàng sai cầm quân giữ đất Lâm Thao, thanh thế chấn động Hung Nô. Ông Trọng chết. Vua sai đúc tượng đồng để ở của Tư Mã, coi giữ cung Hàm Dương.

Sách này không hề đả động gì tới Thục Phán hay Hùng Vương mà nói rõ Ông Trọng người Nam Hải làm tướng Tần ở đất Lâm Thao.

Đại Nam quốc sử diễn ca kể về Lý Ông Trọng:

Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân
Làm quan hiệu úy đem quân ngữ Hồ
Uy danh đã khiếp Hung Nô
Người về Nam quốc hình đồ Bắc phương.

Hung Nô trong khổ thơ này là từ tương đương với quân Hồ. Thực vậy, bởi vì khi dùng phép thiết thì Hung Nô thiết Hồ. Lý Ông Trọng trấn giữ quần Hồ, Hồ là người ở phía Nam nước Văn Lang (nước Hồ Tôn), tức là người Chiêm Thành sau này.

Ông Trọng sinh ra ở Từ Liêm. Từ Liêm thiết Tiêm hay Chiêm, đọc sai thành Chèm. Đức thánh Chèm (Lý Ông Trọng) như vậy là đức thánh Chiêm, chỉ rõ thành tích trấn giữ Chiêm – Hồ của Ông Trọng. Lâm Thao là Lâm Ấp, tức là miền Tây Bắc và Nam Trung Bộ Việt Nam ngày nay, chứ không phải ở tận Cam Túc.

Nơi đặt tượng Lý Ông Trọng là Hàm Dương. Hàm Dương thiết Hương. Làng Thụy Hương là quê của Lý Ông Trọng. Tượng của Lý Ông Trọng không đặt ở kinh đô của Tần mà ở làng Hương, tức là ở Chèm – Từ Liêm, bên bờ sông Hồng ngày nay. Phải đặt tượng ở đó thì uy danh mới khiếp quần Hồ – người Chiêm được.

Ba câu chuyện cổ của nước Âu Lạc đã ghi lại những sự kiện chính của thời kỳ Chu – Tần với những địa danh trên đất Việt. Có 2 An Dương Vương. Một là Thục An Dương Vương, hay Âm Dương Vương là vua Dịch học, tức là vua Chu. Vua Dịch học đầu tiên là Chu Văn Vương hay Lang Văn (Văn Lang). Chu U Vương – Chu Bình Vương xây thành Cổ Loa ở Đông Đô được sự trợ giúp của Lão Tử, bắt đầu thời kỳ Đông Chu. Dòng dõi Dịch vương cuối cùng bị Tần diệt là Dịch Hu Tống hay Dịch Hậu Tông là Chu Noãn Vương.

An Dương Vương thứ hai với nghĩa là vị vua đã dẹp yên phương Đông, chỉ nhà Tần. Trọng Thủy là con của vua Tần lấy nàng Châu Cơ – Mỵ Châu và ở rể trên đất của nhà Chu. Tần Chiêu Tương Vương diệt Chu, tới Tần Thủy Hoàng dời kinh đô về quãng giữa hai nhà Chu, ở gần biển hơn. Đó cũng là nơi giáp với người Chiêm Hồ (Hung Nô), nơi mà đại tướng nhà Tần là Lý Ông Trọng trấn giữ.