Vì sao nước Tần lại trở nên hùng mạnh và thâu tóm được thiên hạ Trung Hoa?

Nhà Chu kể từ lúc dời đô về phía Đông thì đã suy. Thậm chí, quyền lực của Thiên tử Chu từ lúc này đã bị coi là đã mất. Các chư hầu lần lượt xưng Bá vào thời Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc thì danh xưng Vương đã không còn là độc quyền của Thiên tử Chu mà hàng loạt nước mạnh đã lần lượt xưng Vương như Sở, Tề, Ngụy…

Nước Tần vốn là vùng đất xa xôi hẻo lánh, đầy rẫy Nhung Địch, khác xa với các cường quốc Sơn Đông. Vây tại sao nước Tần lại có thể nhanh chóng trở nên hùng mạnh, thôn tính cả nhà Chu rồi lần lượt diệt lục quốc, mà xưng Đế thiên hạ?Vào thời Chiến Quốc, phong trào Bách gia chư tử nở rộ, nhân tài như long vân tụ hội, quyết cùng nhau tranh giành… công chúa Mỵ Nương trong cuộc đua tài bên lầu kén rể ở bến Việt Trì. Các nước đồng loạt thực hiện những chính sách cai trị mới, với đặc điểm chung là dần dà bỏ những quy định về Lễ đã đặt ra từ thời Chu Công. Thế nhưng, nước thực hiện biến pháp thành công nhất lại là nước Tần? Vì sao vậy?

Chế độ phong kiến – phong tước kiến địa, thế tập cha truyền con nối được xác lập vào thời Hùng Quốc Vương, người con cả trong Bách Việt, đã phân cho trăm anh em ở các nơi đầu núi góc biển làm phiên thần, thổ tù, quan lang, phụ đạo, hình thành nên trăm nước chư hầu của nhà Chu. Các chư hầu được phong phần lớn đều là tông thất nhà Chu và những công thần lập quốc, tham gia phạt Trụ diệt Ân cùng Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương. Chế độ phong kiến phân quyền của nhà Chu đã tạo thành nếp gấp sâu đậm trong xã hội của thiên hạ Trung Hoa. Lễ nhạc do Chu Công đặt ra trở thành tiêu chuẩn mẫu mực cho trăm nước noi theo.

Nước Tần lại không giống các chư hầu khác của nhà Chu, nó được hình thành muộn hơn nhiều. Thời Chu Mục Vương, Tạo Phụ là người đánh xe cho Mục Vương có công được phong đất ở Triệu Thành, lấy đó làm họ. Đến đời Chu Hiếu Vương, có Thân hầu, có tổ tiên là ông Bá Ế thời Đại Vũ giỏi việc chăn nuôi, nên Chu Vương đã cho Thân hầu lập đất Tần, lấy họ Doanh của Bá Ế để… chăn ngựa với người Khuyển Khưu. Mãi đến thời Chu Bình Vương, họ Doanh có công phò vua Chu đánh Khuyển Nhung mới được phong ở đất Kỳ Phong, bắt đầu hình thành nước Tần.

Như vậy nước Tần được thành lập rất muộn, mãi tới thời Đông Chu mới chính thức được ban phong. Đất Tần lại vốn là nơi người Khuyển Nhung chăn ngựa, nên dân Tần thực ra chủ yếu là người Nhung Địch. Mãi sau này cả đến khi Tần xưng Vương thì một nước của người Rợ là Nghĩa Cừ vẫn thường xuyên quấy phá và là mối họa của nước Tần.

Chính vì xuất xứ của nước Tần không từ việc phân phong công thần của thời Chu Vũ Vương diệt Trụ, người Tần lại không phải công hầu quý tộc thân vương của nhà Chu, dân Rợ, Nhung chiếm phần nhiều, đã tạo ra một xã hội “kém phát triển” nhất về chế độ quý tộc thế tập so với các nước chư hầu lớn khác. Đây lại là điều kiện tuyệt vời cho việc thực hành Pháp trị, bởi theo tư tưởng của Pháp gia: “Chúng sinh bình đẳng“. Ai có công được thưởng, có tội phải xử, không phân biệt tầng lớp, thân thế. 

Lệnh bài Tần Vương với dòng chữ: Giáp Ngọ trung hưng, Hành tẩu biến địa, Chúng sinh bình đẳng

Chế độ Pháp trị do Thương Ưởng thực hành ở Tần là nơi dễ thành công nhất, do tầng lớp quý tộc của Tần vốn ít và yếu, chế độ Tông pháp của nhà Chu hầu như chưa thực hành ở Tần được bao nhiêu. Trong khi đó, Pháp gia ở các nước chư hầu đều không được hoan nghênh, hay thực hiện không thành công như trường hợp Thân Bất Hại ở nước Hàn. Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ Tông pháp thế tộc đã ăn sâu ở các nước này.

Biến Pháp của Thương Quân tiếp tục được duy trì tại Tần quốc ngay cả khi Thương Ưởng bị Tần Huệ Văn Vương xử ngũ mã phanh thây. Với sức mạnh của biến pháp Huệ Văn Vương đã chính thức xưng Vương ngang hàng với các chư hầu lớn, đánh chiếm Ba Thục, đất gốc tổ của nhà Chu.

Sang thời Tần Võ Vương, rồi Tần Chiêu Tương Vương với Tuyên Thái hậu nhiếp chính, Pháp trị tiếp tục được duy trì, là nền tảng để tạo nên sức mạnh của nước Tần mà thâu tóm toàn thiên hạ. Tần Chiêu Tương Vương nhanh chóng diệt Tây Chu, rồi Đông Chu, chính thức trở thành Thiên tử thay thế cho nhà Chu. Để rồi đời sau, Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc, thống nhất thiên hạ, xưng Đế, xóa bỏ chế độ thế tập phân phong của nhà Chu, lập nên chế độ trung ương tập quyền, quản lý theo quan chế quận huyện.Xã hội Trung Hoa vào thời Tần đã tiến thêm một bước, từ chế độ phong kiến phân quyền 1 nhà 100 nước, trở thành một nước thống nhất từ trên xuống dưới.

Mặt trống đồng với vòng chữ Đại triện và hình ảnh đạo quân Tần hùng mạnh

Sách sử Trung Quốc ngày nay một mặt thì chê bai nước Tần hung bạo, hoang dại, man di, mặt khác lại đề cao công nghiệp thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Ngay cái tên China ngày nay cũng là từ tên gọi nước Tần mà ra.Còn người Việt, một mặt không thể bác bỏ những chứng cứ hiển nhiên trên các hiện vật khảo cổ về sự có mặt của nhà Tần tại Bắc Việt, cũng như những ghi chép lịch sử về sự chiếm đóng, lập quận huyện của Tần tại Lĩnh Nam, nhưng mặt khác lại luôn khăng khăng là Thục An Dương Vương đã đánh bại 50 vạn quân Tần của Đồ Thư. Đúng là một sự gán ghép vô căn cứ về mọi mặt, hiện vật khảo cổ cũng như sử sách.

Sự có mặt của Tần Thủy Hoàng trên đất Việt ít nhất được biết đến trong 3 di sản còn lại đến ngày nay:

1. Lý Thân, là Tư lệ hiệu úy của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh công chúa, rồi sai làm đại tướng trấn thủ người Hồ ở Lâm Thao.

2. Ngự sử đại phu của Tần là Thôi Lượng, người đã cho sửa sang miếu thờ Ân Vương trên núi Châu Sơn (Quế Võ, Bắc Ninh) trong Truyện Giếng Việt.

3. Đạo sĩ Yên Kỳ Sinh, người đã gặp Tần Thủy Hoàng trong các cuộc Đông du ven bờ biển Nam Hải, dưới chân ngọn núi Yên Tử ở Quảng Ninh ngày nay.

Tượng Lý Ông Trọng và Bạch Tĩnh Công chúa ở đình Chèm

Còn có nhiều tướng lĩnh thời Tần, hay chống Tần khác được thờ phụng trên đất Việt, trong các di tích đền miếu trải khắp ở Bắc Bộ. Chưa kể đến khả năng vị Nam Hải Đại vương được thờ ven biển Thái Bình, Nam Định chính là Tần An Dương Vương trong các cuộc Đông du Nam Hải vậy.

Chế độ Tông pháp có thể là chiếc “móng rùa” mà thần Cao Lỗ (Chu Công) đã dùng để chế ra chiếc nỏ thần của Thục Vương. Triệu Trọng Thủy là tôn thất nước Tần, đã phá bỏ chế độ Tông pháp, xác lập một “nỏ thần” khác là chế độ Pháp trị. Chính vì thế mà Thục Vương mất nước, nhà Tần lên làm thiên tử, lấy đất hai nhà Chu chia thành các quận Tượng, Tam Xuyên, Quế Lâm.

Tiếp theo thời Tần, thiên hạ Trung Hoa được thống nhất bởi một “đình trưởng” vô danh tiểu tốt là Lưu Bang, chứ không phải bởi một đại tướng quân dòng dõi nước Sở như Hạng Vũ. Thời thế đã rất rõ. Chế độ thế tập đã cáo chung. Nhường chỗ cho sự công bình giữa người với người. Tiêu chuẩn của xã hội lúc này là Pháp luật, chứ không phải là Thân tộc. Chính nhờ đó mà Trung Hoa mới trở nên thống nhất và mạnh mẽ dưới thời Triệu Vũ Đế Lưu Bang.

Tần An Dương Vương và trống đồng Thục

Sử Việt kể Thục An Dương vương đến từ Ba Thục chiếm nước của Hùng Vương lập nên nhà nước Âu Lạc thống nhất vào năm 257 TCN. Về khảo cổ, đã có những so sánh cho thấy vào quãng thế kỷ 3-4 TCN văn hóa trống đồng Đông Sơn ở Việt Nam có nhiều hiện vật và họa tiết biểu tượng tương đồng với các hiện vật cùng thời ở vùng đất Quý Châu Ba Thục. Điều này đưa đến suy nghĩ của một số nhà nghiên cứu cho rằng Thục Phán đúng là đến từ nước Thục, đã thay thế Hùng Vương trong cuộc chiến chống lại quân Tần.

Tác giả Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc và sự phát triển của trống đồng Đông Sơn cho rằng An Dương Vương là dòng dõi vua Khai Minh của nước Thục, sau khi bị Tần diệt quốc đã chạy sang nước Dạ Lang (Quý Châu), rồi nước Điền (Vân Nam) liên tục chống lại Tần. Cuối cùng thì An Dương Vương chạy đến đất Âu Lạc, được người Việt tôn lên làm thủ lĩnh, chỉ huy cuộc kháng chiến chống lại Đồ Thư và giành thắng lợi…

Cách lý giải về An Dương Vương như trên tuy có vẻ hợp lý đối với các hiện vật khảo cổ ở các vùng đất này, nhưng nó lại quá vô lý về mặt thực tế, cũng như không có truyền thuyết hay ghi chép lịch sử nào kể việc Thục An Dương Vương vừa chạy, vừa giành nước của người khác, vừa chống Tần kỳ khôi như vậy. Vị Thục Vương này liệu thọ bao nhiêu tuổi mà sống từ lúc Tần đánh Ba Thục (năm 316 TCN) tới khi Tần Thủy Hoàng mất (năm 210 TCN)? Sự thực chắn chắn đã khác.

Sự thật rõ ràng hơn là nước Tần tới Huệ Văn Vương đã chính thức xưng Vương và bắt đầu cuộc chinh phạt khắp nơi trong thiên hạ. Tần tướng Trương Nghi cho quân đánh chiếm Ba Thục. Năm 316 TCN nước Thục của vua Khai Minh diệt vong. Tại nước Thục, Trương Nghi cho xây Thành Đô, với truyền thuyết gọi là thành Rùa do khi xây thành có Rùa thần giúp đỡ. Như vậy người xây thành ở đất Thục là Tần, chứ không phải vua Thục họ Khai Minh.

Tiếp sau đó việc Tần tấn công các vùng Quý Châu (Dạ Lang), Vân Nam (Điền) rồi dẫn hàng vạn quân đánh chiếm Lĩnh Nam ở Quảng Tây và Bắc Việt của nước Âu Lạc thì đã được sử sách ghi chép khá rõ ràng.

Như vậy, sự tương đồng giữa 2 nền văn hóa khảo cổ Đông Sơn với Ba Thục lúc này rõ ràng nhất chính là ảnh hưởng của cuộc “Nam tiến” của nước Tần. Từ đó cho thấy, người đến từ đất Thục, đã thay thế “Hùng Vương” lập ra nước Âu Lạc thống nhất phải là Tần Vương. Hay nói cách khác Tần Vương chính là Thục An Dương Vương được kể đến trong các truyền thuyết Việt.

Mối quan hệ giữa nước Tần – Thục An Dương Vương và trống đồng được thấy trong một số tư liệu cổ. Trúc thư kỷ niên cho biết, Chu Tương Vương đã ban cho Tần Mục Công những chiếc trống đồng khi Tần đánh bại và thu phục được các tiểu quốc Tây Nhung. Đây là tư liệu sớm nhất nhắc đến trống đồng trong lịch sử.

Trong truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày ở Cao Bằng kể, trong cuộc so tài với các chúa mường khác, chúa mường Nam Cương là Thục Phán đi lấy trống đồng về đến gò Đống Lân, mệt ngủ say, chuột cắn dây trống, trống lăn xuống đồi kêu vang cả một vùng. Các chúa khác tưởng chúa đi lấy trống đã thắng nên bỏ dở cuộc thi. Tổng Lằn là trống lăn, gọi chệch là Đống Lân. Thục Phán là chúa mường thứ 9, đã giành thắng lợi trước các chúa mường khác và lên làm vua.

Truyền thuyết này cho thấy rõ ý nghĩa của trống đồng trong việc hiệu lệnh chư hầu trước các nước lân bang. Chỉ một tiếng trống vang lên cũng đã làm các chúa mường phải thuần phục. Thục An Dương Vương trong chuyện Chín chúa tranh vua, đã làm chủ 9 tộc người (3 Nùng chủ, 2 Dao chủ, 1 Mán chủ, 1 Sán chủ, 1 Tày chủ, 1 Miêu Chủ), rất giống việc Tần Vương đã đánh bại Lục quốc và thống nhất Trung Hoa.

Trống đồng, hiện vật đặc trưng của văn hóa Đông Sơn được biết gặp nhiều nhất tại Bắc Việt, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu. Đây cũng đúng là phân bố của dòng Thục ở phía Tây Trung Hoa và trùng với con đường mà Tần quốc đã đánh chiếm phương Nam.

Một chiếc trống đồng đặc biệt, có thể có nguồn gốc từ đất Tứ Xuyên hoặc Quý Châu, thể hiện rất rõ ý nghĩa Tần Vương thống nhất thiên hạ Bách Việt họ Hùng. Bài viết đặt tên cho chiếc trống này là trống Thục và xem xét nó ở từng chi tiết dưới đây.

Trống đồng Thục

Trống đồng – chữ Đại triện

Chiếc trống đồng Thục có dạng Heger II, dạng đặc trưng của văn hóa trống đồng. Trống cao 24cm, đường kính mặt trống 35 cm, đường kính đáy 29 cm. Ở vành ngoài trên mặt trống có 57 ký tự ở dạng Đại triện. Loại chữ Đại triện này rất lạ, về kết cấu thì nhiều chữ giống như Kim văn, nhưng hình thể theo kiểu tiểu triện, với nét chữ tròn, kéo dài theo chiều dọc. Phần lớn đều là chữ đơn thể, không phải chữ ghép bộ. Nhiều chữ không tra thấy trong các từ điển chữ Kim văn hiện nay.

Nhận định về loại chữ trên trống đồng này thì đây là loại chữ có niên gian giữa thời kỳ Kim văn thuộc Tây Chu với chữ Tiểu triện sau này. Đây không phải lối chữ Kim văn của Lục quốc được gặp trên các tiền đồng cổ vì nét tròn, Triện hóa rất rõ. Có thể gọi là lối chữ Đại triện của nước Tần, nước mà sau này hình thành ra chữ Tiểu triện. Niên đại của lối chữ này ước đoán vào khoảng thời Chiến Quốc, trước khi Tần thống nhất chữ viết toàn Trung Hoa thành chữ Tiểu triện.

Sự kết hợp giữa trống đồng và chữ Triện là minh chứng đầu tiên và rõ ràng nhất rằng văn hóa trống đồng thuộc chung nền văn hóa chữ tượng hình phương Đông, tức là nằm trong cùng một thiên hạ Trung Hoa thời nhà Chu.

Mặt trời – Ngũ hành

Ở giữa chiếc trống đồng là hình mặt trời có 16 tia, nhưng hết sức độc đáo là bên trong mặt trời lại có hình tròn với 5 vòng xoắn. Dạng hình tròn này gặp khá nhiều trên các hiện vật đồ đồng thuộc dòng đồ Thương Chu, mà một ví dụ là chiếc Lôi cùng thời được thấy ở Việt Nam, mang những hình vòng tròn 5 xoáy này với hình đôi quỳ long chầu 2 bên.

Hình tròn 5 xoáy vừa là biểu tượng cho mặt trời, cũng là biểu tượng của Ngũ hành, xưa có tên là Nhật nguyệt tinh thần, gồm 4 tượng của các vì tinh tú và 1 hình tròn ở trung tâm. Đây là biểu tượng của nguyên thần, của những gì căn cơ nhất trong trời đất, tương tự như khái niệm Thái cực đồ âm dương sau này. Biểu tượng lưỡng long chầu mặt nguyệt như vậy đã có từ thời Chiến Quốc trên các đồ đồng Thương Chu, tồn tại mãi cho tới nay như biểu tượng của tín ngưỡng.

Lôi đồng có hình Lưỡng long chầu Nhật và chữ Đại triện

Năm 2013 ở Bắc Cường, Lào Cai đã phát hiện ra một “kho đồng” gồm một chiếc Lôi và 4 chiếc trống đồng. Đây cũng là dẫn chứng cho thấy sự hòa trộn 2 nên văn hóa đồ đồng đỉnh vạc (lôi) với đồ đồng Đông Sơn (trống đồng) ngay tại đất Việt.

Chim – Rắn

Ở vòng tròn bên trong gần mặt trời là hình 16 con chim cổ dài như cổ cò, đứng thành từng 8 cặp quay vào nhau. Mỗi con chim đứng trên một con rắn dài nhỏ. Hình Chim – Rắn này khá giống cảnh đôi Hạc đứng trên lưng Rùa để chầu. Chim – Rắn cũng như Hạc – Rùa là thể hiện không gian, trên trời có chim, dưới đất có rắn rùa. Tương tự trên trống đồng Ngọc Lũ là chim bay trên trời, hươu chạy dưới đất.

Rắn cũng có thể coi là tượng hình của Rồng, nên biểu tượng Chim-Rắn là dẫn chứng nữa về sự hòa hợp biểu tượng của 2 dòng Tiên – Rồng trên mặt trống đồng.

Mặt trời và Chim – Rắn trên trống đồng Thục

Người chim và người đi săn

Vòng ngoài trên mặt trống gồm 4 đoạn giống nhau, phân tách bởi 4 tượng cóc. Mỗi đoạn gồm 3 cụm hoạt cảnh. Mỗi hoạt cảnh thể hiện hình một người có tóc búi đuôi sam dài, đang dương cung bắn vào một con thú, hình như con cáo. Đối diện là một hình người chim, có phần đầu như đầu chim, mỏ lớn, có 2 cánh. Tổng cộng có 12 hoạt cảnh giống nhau lặp lại ở vòng ngoài của mặt trống.

Tóc đuôi sam, hình người chim đều là những biểu tượng đặc trưng có trong văn hóa Thục. Người chim được thể hiện trên cây vũ trụ tìm thấy ở Tam Tinh Đôi trên đất Thục cổ. Sử dụng nỏ thành thạo là sự liên hệ đến câu chuyện nỏ thần của An Dương Vương trong truyền thuyết Việt.

Cảnh người chim – người đi săn và đoạn chữ Vương tứ Bá

Cóc sinh sôi

Trên mặt trống có 4 tượng cóc mẹ cõng cóc con. Khác với hình cóc thường gặp trên trống đồng Đông Sơn, mỗi tượng cóc ở đây được thể hiện thành khối dày chắc chắn, ngẩng đầu, có các xoáy âm dương ở hai bên thân.

4 tượng cóc nằm ở 4 góc, thể hiện tính vuông của Đất. Trong khi mặt trống hình Tròn, chỉ tính chất của Trời. 4 góc là nơi Trời tròn – Đất vuông giao hòa mà sinh ra vạn vật. Cho nên mới có cóc mẹ cõng cóc con, sinh sôi nảy nở không ngừng.

Tượng cóc mẹ cõng cóc con

Minh văn

Dòng chữ ngoài cùng được đúc sâu, khá rõ nét. Tuy nhiên do lối viết Đại triện đặc biệt như đã nói, hiện không thể đọc hết được số chữ này. Những gì đọc được như sau. Có 56 chữ và 1 hình đánh dấu như hình chữ Ngũ.

五字方九厥忘父子?賜?帀內山作師月分八川虫作賜師忘?合公乃帀之惟月長惟舟考作父句方王賜伯古巠虫用木止子子足作公齊?考

Ngũ tự phương cửu quyết vong Phụ tử ? tứ ? tạp nội sơn tác Sư nguyệt phân bát xuyên trùng tác tứ Sư vong ? hợp công nãi tạp chi duy nguyệt trường duy chu khảo tác phụ cú phương Vương tứ Bá cổ kinh trùng dụng mộc chỉ tử tử túc tác Công tề ? khảo

(Những chữ in nghiêng là những chữ đọc được chắc chắn)

Để hiểu ý nghĩa công dụng của trống đồng cần xem Quẻ Dự trong Kinh Dịch. Lời tượng của Quẻ Dự nói: Lôi địa Dự: Lợi kiến hầu, hành sư.

Lôi Địa là tượng của quẻ Dự, là sấm nổ trên mặt đất, tức là cảnh đánh trống đồng bằng cách úp trống xuống mặt đất mà đánh. Quẻ Dự như vậy có hình tượng là trống đồng. Theo lời tượng, trống đồng được sử dụng để “kiến hầu”, tức là dùng để phong tước phong hầu, và “hành sư”, nghĩa là dùng để điều khiển quân đội.

Trong bài minh văn của chiếc trống Thục trên có cả việc phong tước và hành sư. Đó là đoạn “Vương tứ bá” – Vua ban thưởng cho Bá. Và đoạn “nội sơn tác sư” – trong núi tạo ra quân đội. Đây là một chiếc trống được ban cho một vị (Công) tướng tước Bá để dùng làm hiệu lệnh, xây dựng quân đội (tác sư).

Đoạn chữ Nội sơn tác sư

Người cầm đầu quân đội nhà Tần ở đất Thục lúc đó là tướng Tư Mã Thác. Rất có thể đây là chiếc trống đồng được Tần Vương ban cho Tư Mã Thác dùng để thống lĩnh quân đội nhà Tần trên đất Thục.

Đội quân hùng mạnh

Công dụng về việc hiệu lệnh quân đội còn thể hiện ở phần thân trống. Thân trống chia làm 3 phần. Phần tang trống có 16 hoạt cảnh người đi săn – người chim như trên mặt trống. Còn 2 phần lưng và chân trống là vòng tròn các chiến binh, gồm cụm 3 người một. Một người chống tay cầm kiếm, một người đang dương cung và một ngươi vung 2 tay như đang dùng dùi đục. Mỗi vòng có 36 chiến binh. Thân trống như thế là 2 đội quân binh 72 chiến binh được trang bị vũ khí đầy đủ.

Tổng cộng cả phần mặt trống và thân trống có tất cả 156 hình người. Đội quân hùng mạnh này nhắc nhớ tới đội quân đất nung trong lăng mộ của Tần Thủy Hoàng. Sức mạnh của quân đội Tần thể hiện ngay trên chiếc trống đồng. Đây là trống quân dùng trong quân ngũ, chứ không phải trống dùng trong tế lễ như các trống Đông Sơn (có các hoạt cảnh nghi thức tế lễ).

Hoa văn trên thân trống dạng hoa thị, chấm tròn và vạch lớn, chạy xung quanh thân dưới các hàng chiến binh. Ý nghĩa có thể là thể hiện tiền tài, vật lực dồi dào cho đội quân Tần ở trên.

Thân trống Thục

Quai rồng

Trống Thục có 4 chiếc quai, khá đặc biệt. Không giống kiểu quang hình văn thừng như các trống đồng Đông Sơn, quai trống Thục có hình đầu rồng có tai lớn, ngậm quai. Hình này có thể gọi là hình Tiêu đồ, đặc trưng của các đồ đồng dòng đỉnh vạc thời Thương Chu. Sự kết hợp các chi tiết biểu tượng của 2 dòng đồ đồng Trung Hoa trên cùng một hiện vật, đánh dấu sự thống nhất 2 dòng văn hóa của thiên hạ. Dòng đồ đồng mang biểu tượng Rồng là dòng theo cha Lạc Long Quân, thể hiện trên các đồ vật có chân như đỉnh, vạc Thương Chu. Dòng đồ đồng mang biểu tượng Chim là dòng theo mẹ Âu Cơ, thể hiện trên các trống đồng, thạp đồng Đông Sơn.

Quai trống hình Tiêu đồ

Chiếc trống đồng có chữ Đại triện là minh chứng cho mối liên hệ trực tiếp giữa vùng Bắc Việt và đất Thục ở Tứ Xuyên, Quý Châu thời kỳ nhà Tần. Những cặp đôi: Mặt trời – Ngũ hành, Chim – Rắn/Rồng, Trống đồng – Chữ đại triện cho thấy thực chất cả 2 dòng Tiên – Rồng, Âu – Lạc của truyền thuyết Việt đều thuộc văn minh Trung Hoa dưới thời Xuân Thu, Chiến Quốc và sau đó thiên hạ đã hợp nhất vào thời Tần.

Lịch sử thời Tần An Dương Vương có thể tóm tắt như sau:

  • Tần Mục Công, một trong Xuân Thu ngũ bá là người đã thu phục Tây Nhung, được Chu Tương Vương ban cho trống đồng làm hiệu lệnh.
  • Tần Hiếu Công áp dụng biến pháp của Thương Ưởng, trung hưng nước Tần.
  • Tần Huệ Văn Vương năm Giáp Ngọ (325 TCN) xưng Vương. Tướng Tần Tư Mã Thác chiếm vùng đất Ba (Quý Châu), Trương Nghi xây Thành Đô (Thành Rùa) ở đất Thục. Từ lúc này quân Tần còn được gọi là Thục.
  • Tần Chiêu Tương Vương năm 256 TCN diệt Chu Noãn Vương, chiếm đất Tây Chu, tức là đất Tây Âu ở Vân Nam, chấm dứt sự tồn tại gần 800 năm của triều đại nhà Chu. Tần Vương trở thành thiên tử của thiên hạ Trung Hoa. Sử Việt chép là năm 257 TCN Thục An Dương Vương kế nối Hùng Vương.
  • Năm 255 TCN Tần Chiêu Tương Vương chiếm nốt đất Đông Chu, tức là đất Lạc ở Bắc Việt – Quảng Tây. Tần xuất phát từ vùng phía Tây (Thục) diệt Đông Chu ở phía Đông mà có được thiên hạ. Do đó Tần có tên gọi là An Dương Vương, trong đó Dương là hướng mặt trời lên, tức là hướng Đông. An Dương Vương là là vị Vương đã bình định phương Đông.
  • Năm 221 TCN Tần Thủy Hoàng xưng Đế, thống nhất thiên hạ Trung Hoa, cho dời kinh đô về vùng đất giữa 2 nhà Chu (ở Quý Châu?). Cổ Loa vốn là thành Lạc Dương thời Đông Chu, có thể đã được xây dựng thêm dưới thời Tần Thủy Hoàng.
Trống và Lôi đồng

Thần tích Triệu Thị Khoan Hòa Phu nhân và 5 Tướng quân ở Thanh Lãng

 (Bản thần tích được dịch từ bản chép tay lưu ở đền Thánh mẫu tại Thanh Lãng, Bình Xuyên, Vĩnh Phúc)

Xem xưa Vệ Dương Vương bị thua tướng Hán là Lộ Bác Đức. Về sau con cháu lạc trong nhân dân. Phu nhân là chắt của Vệ Vương. Phu nhân lấy chồng người huyện Chu Diên (không rõ tính danh), sinh được 5 con trai. Chồng mất sớm, Phu nhân dắt các con đến lánh ở chùa Quảng Hữu xã Thanh Lãng. Được vài năm thì Phu nhân qua đời, chôn ở khu đất tại thôn Minh Lương.

Khi ấy năm người con trai đã lớn, lại có nhiều tài sức, đã hội cùng Trưng Vương khởi binh. Năm chàng trai là người bản huyện cầm đầu quân kỳ. Trưng Vương đều sai đem quân chia thành các đạo cùng đánh tướng Hán là Mã Viện, Lưu Long. Mỗi trận đều thắng. Quân của Trưng Vương lại bị nhiều thương tật. Chàng Cả lấy lòng vàng trứng ngỗng điều chế thành thuốc chữa. Quân binh lại được mạnh khỏe. Nhân đó phong Chàng Cả (húy 2 chữ) làm Hoàng Dược Nghĩa Dũng Tướng quân.

Đồng thời phong Chàng Hai (húy 2 chữ) làm Nhung Vụ Tướng quân, Chàng Ba (húy 2 chữ) làm Đốc Vận Hướng Mễ Tướng quân, Chàng Bốn (húy 2 chữ) làm Tướng quân, Chàng Năm (húy 2 chữ) làm Tướng quân. Tặng cho mẹ là Triệu Thị Khoan Hoà Phu nhân.

Đến khi Mã Viện đem quân đến, cuộc chiến của Trưng Vương bất lợi, tự thấy thế cùng, không chịu khuất nhục. Năm tướng quân trong đêm chôn cất Trưng Vương ở núi Hy Sơn, rồi dẫn quân vừa đánh

Vừa lui, quay về đến thôn Minh Lương chỗ mộ của Phu nhân, đều cùng bái khóc khấn rằng:

–          Nếu mẹ có linh xin dẫn các con tìm gặp Trưng Vương ở dưới đất. Lại xin lấy cái chết để không phụ chí chống giặc phương Bắc.

Dứt lời cùng rút kiếm tự vẫn, hiển linh ở đó. Xã thôn lập đền thờ phụng, có cầu tất ứng.

Trần Nhân Tông khi thân chinh dẫn đại quân thảo phạt tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, đêm ấy Nhân Tông nằm mộng thấy thần nhân

một mẹ năm con, xưng là cháu vua. Con xưng là tướng của Trưng Vương, hiện ở ba xã của Yên lãng, xin được giúp nước dẹp giặc phương Bắc để rửa hận trước đây. Đến khi tới sông Bạch Đằng, đại phá quân Nguyên, bắt sống Ô Mã Nhi, Phần Ấp. Khải hoàn trở về hỏi lại, dân xã tấu thấy sự việc hợp đúng như mộng. Bèn đều gia phong là Thượng đẳng thần.

Trải qua các triều đại tặng mĩ tự Triệu Thị Khoan Hòa Phu nhân, Yên Lãng và Minh Lương thờ phụng (Vị này chỉ có dân thôn phụng thờ nên trước khai là Khoan Hòa thần, ba xã Yên Lãng, Xuân Lãng, Hợp Lễ cùng thờ, có nhiều sai lệch, nay xin theo như thực mà cải chính).

Hoàng Dược Nghĩa Dũng Tướng quân (trước khai là Thành hoàng Hộ quốc chi thần, nay theo thực mà cải chính), Yên Lãng thờ phụng.

Đốc Vận Hướng Mễ Tướng quân (trước khai là Thành hoàng Hùng lược chi thần, nay theo thực mà cải chính), Xuân Lãng phụng tự

Tướng quân (nguyên khai thần húy 2 chữ, nay theo thực mà cải chính), Hợp Lễ phụng thờ.

Nhung Vụ Tướng quân (nguyên khai thần húy 2 chữ, nay theo thực mà cải chính), ba xã cùng thôn Minh Lương phụng thờ.

Tướng quân (nguyên khai thần húy 2 chữ, nay theo thực mà cải chính), Yên Lãng phụng thờ./.

Bình luận:

Bản thần tích này có chỗ ghi là do xã Hợp Lễ chép, có một số điểm khác với thần tích của xã Thanh Lãng. Đặc biệt là đoạn đầu nói về nguồn gốc của Thánh mẫu. Trong ngọc phả Thanh Lãng nói Thánh mẫu là  “dòng vua Thục An Dương Vương lấy cháu sáu đời vua Triệu Vũ Đế là vua Vệ Dương Vương“. Sau đó khi ẩn náu ở chùa Quảng Hữu, cảm với Áp thần bản thổ mà sinh ra năm con.

Trong khi đó thần tích của Hợp Lễ lại chép: Xem xưa Vệ Dương Vương bị thua tướng Hán là Lộ Bác Đức. Về sau con cháu lạc trong nhân dân. Phu nhân là chắt của Vệ Vương. Phu nhân lấy chồng người huyện Chu Diên (không rõ tính danh), sinh được 5 con trai. Chồng mất sớm, Phu nhân dắt các con đến lánh ở chùa Quảng Hữu xã Thanh Lãng.   

Thần tích của Hợp Lễ có lẽ đã muốn “cải chính” chỗ “vô lý” trong sự tích về Thánh mẫu Triệu Thị Khoan Hòa, vì nếu Thánh mẫu là vợ của vua Triệu Vệ Dương Vương thì:

1. Hóa ra khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra ngay sau khi nhà Triệu mất nước, tức là dưới thời Tây Hán, chứ không phải Đông Hán như sử sách đang chép.

2. Thánh mẫu họ Triệu, tại sao lại còn lấy vua Triệu?

Thực ra ngọc phả của Thanh Lãng mới là gốc và hoàn toàn đúng. Khởi nghĩa của Trưng Vương thực sự đã nổ ra ngay sau khi nhà Triệu mất nước, và bởi chính các hoàng phi nước Nam Việt lãnh đạo. Còn điểm thứ hai, Thánh mẫu mang họ Triệu bởi vì… Thục An Dương Vương mang họ Triệu. Kết hợp 2 thần tích trên thì thấy rõ, Triệu Thị Khoan Hòa là chắt của… An Dương Vương đời cuối, lưu lạc trong dân gian, rồi lấy vua Vệ Dương Vương. Vệ Dương Vương vốn không phải là họ Triệu, mà chỉ có tên triều đại là Triệu mà thôi.

An Dương Vương đời cuối mang họ Triệu thì không gì khác chính là nhà Tần. Tổ của nhà Tần là Tạo Phụ, đánh xe cho Chu Mục Vương rồi được phong ở Triệu thành, nhân đó lấy Triệu làm họ. Khi Tần Thủy Hoàng mất, Triệu Cao cùng với công tử Hồ Hợi giả truyền thánh chỉ, đoạt ngôi Hoàng đế, rồi cho giết tất cả các hoàng tử và công chúa của Tần Thủy Hoàng. Tuy nhiên, có thể trong số con cái của Thủy Hoàng vẫn còn người sống, nhất là vị Bạch Tĩnh công chúa, người đã được gả cho Lý Thân ở vùng Bắc Việt ngày nay.

Ngoài ra, dòng họ Triệu của nhà Tần còn chưa tận khi đó, vì sau Tần Nhị Thế còn có Tử Anh là một dòng dõi của nhà Ngoài ra, dòng họ Triệu của nhà Tần còn chưa tận khi đó, vì sau Tần Nhị Thế còn có Tử Anh là một con cháu của Tần lên ngôi. Khi Lưu Bang chiếm được Quan Trung, Hạng Vũ vào cung Tần diệt hết con cháu của nhà Tần, nhưng chắc chắn sẽ vẫn còn dòng dõi của Tần lưu lạc trong dân gian, nhất là ở khu vực phương Nam, vốn nằm ngoài sự kiểm soát của Hạng Vũ…

Trọng Thủy và Mỵ Châu thời nhà Triệu

Bản “Ký sự đền linh họ Triệu” của khu vực thờ Trọng Thủy và Triệu Vũ Đế ở Từ Sơn (Bắc Ninh) nêu ra những thông tin rất khác lạ so với truyền thuyết vẫn được kể về mối nhân duyên bi thương Mị Châu – Trọng Thủy. Lạ nhất là 2 chi tiết sau: Khi Trọng Thủy lần theo dấu vết Thục Vương và Mỵ Châu thì dẫn theo cả 2 tướng là Trương Hống, Trương Hát. Thứ hai là ở đoạn kết cho biết nhà Triệu từ Triệu Văn Đế đến Triệu Thuật Dương Vương được 4 đời rồi kết thúc bởi chuyện “móng rồng”.

Chuyện “móng rồng” là chuyện của Triệu Quang Phục được thần nhân trao cho móng rồng ở đầm Dạ Trạch mà lên ngôi vua, sau bị con của Hậu Lý Nam Đế là Nhã Lang đánh tráo, nhà Triệu diệt vong. Còn Trương Hống và Trương Hát cũng là 2 vị tướng trung thành của Triệu Quang Phục, đã bất khuất chống lại Lý Phật Tử rồi gieo mình xuống sông tự vẫn. Như vậy sự tích đền linh họ Triệu ở Từ Sơn có ý nói rằng Trọng Thủy thuộc về thời kỳ nhà Triệu của Triệu Quang Phục, có các tướng là Trương Hống, Trương Hát và kết thúc bởi việc tráo móng rồng. Theo những gì đang được diễn giải hiện nay thì Trọng Thủy ở thời kỳ quãng năm 207 trước Công nguyên, còn Triệu Quang Phục ở thế kỷ 6 sau Công nguyên. Vậy phải hiểu mối liên hệ này như thế nào?

Đình làng Đình Vỹ, nơi thờ Trọng Thủy ở vùng Từ Sơn

Thời kỳ của Triệu Quang Phục đã từng được xác định là thời kỳ nước Nam Việt của nhà Triệu, bắt đầu từ Triệu Vũ Vương đến Triệu Vệ Dương Vương. Như vậy, Trọng Thủy ở đây là tiền tổ của Triệu Quang Phục vì Trọng Thủy là con của Triệu Đà, vị Cao tổ của nhà Triệu.

Đã từng có tác giả dựa trên ghi chép của Cổ Lôi ngọc phả cho rằng Lý Ông Trọng ở Chèm chính là Triệu Đà, từng sang Tần làm con nuôi của Triệu Cao, rồi về lập quốc Nam Việt. Lý Ông Trọng lấy vợ là Bạch Tĩnh công chúa, con gái của Tần Thủy Hoàng. Khi kết hợp thông tin này với Ký sự đền linh họ Triệu ở trên sẽ đi đến nhận định, Lý Ông Trọng chính là Trọng Thủy được nói đến. Còn Mị Châu, con gái Thục Vương là Bạch Tĩnh công chúa của nhà Tần.

Đây là một giả thuyết hết sức lạ, nhưng lại tỏ ra rất hợp lý để có thể lý giải những khúc mắc của các dòng tư liệu lịch sử thời kỳ này. Có thể tường thuật tóm tắt các sự kiện như sau. Tần Thủy Hoàng lên ngôi thống nhất thiên hạ, có gả một người con gái là Bạch Tĩnh công chúa cho Tư lệ hiệu úy Lý Thân, rồi cử Lý Thân trấn giữ cai quản vùng đất Lâm Thao (Lâm Ấp?), tức miền Tây Nam của nhà Tần. Khi Lưu Bang (Nam Đế Lý Bôn) khởi nghĩa kháng Tần từ Chân Định (thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ), chắc chắn có sự đụng độ với đại tướng Lý Thân của Tần ở vùng Phong Châu. Có thể Lý Thân đã có mối quan hệ dòng dõi nào đó với Lưu Bang, mà theo Cổ Lôi ngọc phả thì Cao Tổ nhận Lý Thân làm con nuôi. Đây là giải thích cho việc Trọng Thủy – Lý Thân là con của Triệu Đà – Lý Bôn trong truyền thuyết.

Tượng thờ đình Chèm: Bạch Hạc Quan Trung Đại vương Lý Đương Thì, Tả Nương Ba Ca Công chúa, Hoàng Đồng Cối Cái Đại vương (từ trái qua phải)

Sau cuộc Hán Sở tranh hùng, Lưu Bang lên ngôi thiên tử, phong vương cho các công thần. Lý Thân lúc này đã mất, nhưng con của ông ta với Bạch Tĩnh công chúa có thể đã được phong Vương, phụ trách vùng đất Tây Nam Trung Hoa mà Lý Thân trấn giữ trước đó. Tục thờ ở đền Chèm cho biết con của Lý Thân là Bạch Hạc Quan Trung Đại vương Lý Đương Thì. Còn thần tích ở vùng Từ Sơn gọi là Triệu Lạc Linh.

Lữ Hậu mất, phía Bắc Trung Hoa thuộc về nhà Hiếu của chính dòng Lưu Bang. Nhưng ở miền Nam lại nổi lên nước Nam Việt của nhà Triệu. Có thể Lý Đương Thì, vị Quan Trung Đại vương, chính là Triệu Vũ Vương đã lập quốc Nam Việt vào lúc này. Triệu Vũ Vương không lấy họ Lý, là họ cha nuôi của Lý Thân, mà lấy họ Triệu theo họ mẹ, tức họ của nhà Tần. Nhà Tần vốn mang họ Triệu từ tổ là Tạo Phụ thời Chu Mục Vương được phong đất ở Triệu thành. Việc lấy họ Triệu của nhà Tần làm quốc tính ý muốn nói đến tính chính thống đế vương từ Tần Thủy Hoàng, đối lập với nhà Hiếu của họ Lý. 

Phần tiếp theo thì như đã biết, thừa tướng Lữ Gia (dòng dõi Lữ Hậu hoặc thừa tướng Lã Bất Vi của Tần) đã phò tá nước Nam Việt cho tới thời Triệu Vệ Dương Vương thì bị Hiếu Võ Đế tấn công, chiếm kinh đô Phiên Ngung. Hậu quân nhà Triệu chạy về Phong Châu, đất gốc tổ của Lý Ông Trọng và làm nên cuộc khởi nghĩa của Tây Vu Vương Lý Thị, hay khởi nghĩa của Trưng Vương Ả Lã.

Các ngọc giản Tần Vương tìm thấy ở Sóc Sơn, tương tự các hốt ngọc trên tượng thờ ở đình Chèm

Như vậy có 2 lần câu chuyện Trọng Thủy – Mị Châu xảy ra trên đất Việt. Lần đầu là chuyện của Dị Nhân Tử Sở vào làm con tin, lấy công chúa của nhà Chu Thục, rồi Tần diệt Chu đoạt thiên hạ. Con của Tử Sở và Châu Cơ (Triệu Cơ) thống nhất Trung Hoa, xưng Tần Thủy Hoàng Đế. Lần thứ hai là Lý Ông Trọng, con nuôi của Lý Bôn, lấy Bạch Tĩnh công chúa của Tần Thủy Hoàng, sinh ra Triệu Lạc Linh. Triệu Lạc Linh được Cao Tổ Lưu Bang phong Vương ở vùng “Bạch Hạc Quan Trung”, sau khi Lữ Hậu mất thì tự lập quốc Nam Việt, xưng là Triệu Vũ Vương (Triệu Vũ Đế).

Do đó, trong truyền thuyết Việt có tới 3 vị cùng được kể dưới tên Triệu Đà. Triệu Đà 1 là Tần Chiêu Tương Vương, người đã diệt nhà Chu Thục năm 257 TCN. Triệu Đà 2 là Hiếu Cao Lưu Bang, người đã diệt nhà Tần năm 207 TCN. Triệu Đà 3 là con của Lý Ông Trọng, Triệu Lạc Linh, người đã quang phục nước Nam Việt nhà Triệu sau năm 180 TCN.

Giản đồ thời Chu – Tần – Hiếu – Triệu

Những thẻ ngọc quân lệnh của Trọng Thủy (phần 2)

Trong bài trước đã trình bày về phát hiện các thẻ ngọc thời Tần ở vùng Sóc Sơn – Mê Linh mang các chữ tiểu triện cổ. Bài trước cũng đã điểm qua quan hệ của nước Tần với vua Chu ở miền đất Bắc Việt và đưa ra nhận định, những chiếc thẻ ngọc này thuộc về đời Tần Trang Tương Vương, là vị Tần Vương đã chiếm Bắc Việt và chấm dứt triều đại nước Văn Lang của thiên tử Chu tại đây. Bài này tiếp tục đi sâu phân tích ý nghĩa của những dòng chữ khắc trên những lệnh bài thời Tần này.

Tấm thẻ lệnh mang dòng chữ Đồ báo nhi thuyết, nhắc tới chuyện đời Tần Mục Công được các binh sĩ dốc lòng ra sức chiến đấu bảo vệ Mục Công để đền ơn ban rượu và thịt ngựa. Tần Mục Công là vị thủ lĩnh nước Tần nổi lên trong số Xuân Thu Ngũ bá với sự phò trợ của tướng quốc Bách Lý Hề. Đồ báo nhi thuyết trên lênh bài có thể hiểu là khẩu hiện cho các chiến sĩ nước Tần chiến đấu để đền báo ơn vua.

Đồ báo nhi thuyết

Tấm thẻ lệnh có chữ Tín lễ Tần Vương chi chủ và mặt sau có 3 dòng chữ:

Giáp Ngọ trung hưng

Hành tẩu biến địa

Chúng sinh bình đẳng,

Đây là nói đến mốc nước Tần xưng Vương, ngang với Thiên tử Chu, xảy ra vào đời Tần Huệ Văn Vương năm Giáp Ngọ 325 TCN. Đây cũng là lúc mà Tần trở thành một trong những nước mạnh nhất của thời Chiến Quốc Thất hùng. Với sự phò trợ của tướng quốc là Trương Nghi, nước Tần lúc này bắt đầu các cuộc Đông chinh, Tây phạt đúng với phương châm “Hành tẩu biến địa” trên ngọc giản.

Điều đặc biệt nữa là ngọc giản này nêu câu khẩu hiệu “Chúng sinh bình đẳng“, một tư tưởng rất tiến bộ ở thời phong kiến. Tư tưởng này bắt nguồn từ quan niệm của phái Pháp gia: Trước pháp luật mọi người đều bình đẳng. Người có tội sẽ bị xử phạt. Người có công sẽ được ban thưởng. Không phân biệt là công tộc hay thứ dân, nô lệ. 

Tư tưởng của Pháp gia được Thương Ưởng bắt đầu thực hành tại nước Tần dưới thời Tần Hiếu Công và nó trở thành động lực rất lớn cho nước Tần và quân Tần hùng mạnh. Phương châm “Chúng sinh bình đẳng” ở trên lệnh bài hàm nghĩa các quân sĩ chiến đấu hy sinh vì nước Tần, vì Tần Vương thì sẽ được báo đáp đầy đủ và công bằng.

Tấm thẻ ngọc thứ ba bằng chất liệu đá thạch anh, được sơn màu đen. Khác với những thẻ ngọc cẩm thạch và ngọc bính, thẻ ngọc thạch anh lại có đục lỗ ở phía dưới của các chữ. Trên đó một mặt có 2 dòng chữ:

Xuất kỳ bất dụng

Bảo vệ binh hoang.

Như đã bàn ở bài trước, những tấm thẻ ngọc này thuộc về đời Tần Trang Tương Vương, tức cũng là Trọng Thủy trong truyền thuyết Việt. Nhà Tần lúc này đã diệt Chu thiên tử, lấy màu Đen, phương Bắc (nay), hành Thủy làm biểu tượng. Có thể vì vậy mà tấm thẻ đã được sơn màu đen.

Trong câu “khẩu quyết” Xuất kỳ bất dụng thì chữ “dụng” ở đây dùng với nghĩa cổ là dụng ý, ý định, nên câu đó tương đương trong ngôn ngữ ngày nay là Xuất kỳ bất ý, nghĩa là xuất binh bất ngờ. Khi liên hệ với câu chuyện của Trọng Thủy thì chợt nhận ra đây là chỉ sự việc Trọng Thủy đã đánh lừa An Dương Vương (cưới Mỵ Châu và đánh tráo lẫy nỏ thần) trong truyền thuyết Việt. Sau khi đã lừa được An Dương Vương (Chu Noãn Vương), Trọng Thủy (Tần Trang Tương Vương) cùng với tiên tổ là Tần Chiêu Tương Vương (Triệu Đà) đã xuất quân bất ngờ tấn công nhà Đông Chu, chấm dứt hơn 800 tồn tại của triều đại nhà Chu. Mưu mô này giúp Tần đạt được mục đích với sự tiêu hao binh lực thấp nhất (Bảo vệ binh hoang) cho việc thay đổi triều đại từ Chu sang Tần.

Mặt sau của tấm thẻ đen còn có 4 chữ, được đọc là Song thương? thọ phúc 雙 商 壽 福. Mặt này của ngọc giản được trang trí khá cầu kỳ bởi một hình rồng và một hình chim phượng lớn. Các chữ viết ở dạng cách điệu như cầu chúc. 

Tần Trang Tương Vương cầu thọ phúc cho 2 bên nào? Rất có thể nghĩa ở đây là đảm bảo sự lâu bền cho cả 2 bên Tần và Chu. Sau khi diệt Chu, Tần Vương không bạc đãi hay tận diệt con cháu vua Chu, mà vẫn ban cho Đông Chu Quân một vùng đất để thờ cúng. Lý do chính cho hành động này là 2 họ nước Chu và Tần vốn có quan hệ sâu xa.

Sử ký Tư Mã Thiên, Tần bản kỷ chép: Thái sử công bàn rằng: Tổ tiên của nhà Tần mang họ Doanh, về sau được phân phong, lấy nước làm họ… Song Tần vì tổ tiên là Tạo Phụ được phong ở Triệu thành nên mang họ Triệu.

Như vậy nhà Tần còn vốn mang họ Triệu. Tần Trang Tương Vương diệt Chu dưới thời thừa tướng Lã Bất Vi, với câu chuyện “buôn vua” nổi tiếng ở nước Triệu. Thực ra chuyện Tử Sở ở rể là ở đất Đông Chu, trong truyền thuyết về Trọng Thủy ở Việt Nam.Chính vì mối lương duyên sâu sắc của 2 bên Triệu Trọng Thủy và Thục Mỵ Châu mà Tần Trang Tương Vương khi xuất binh dù là đánh úp, nhưng vẫn muốn bảo vệ thọ phúc cho nhà Chu.

Còn một liên hệ nữa, là chuyện của Thánh mẫu Triệu Thị Khoan Hòa ở Thanh Lãng (Bình Xuyên, Phú Thọ). Bà Khoan Hòa là vợ của vua Vệ Dương Vương nước Nam Việt nhưng được ngọc phả ghi là “dòng dõi của Thục An Dương Vương”. Dòng dõi Thục Vương lại là họ Triệu (Triệu Thị) thì phải là dòng dõi nhà Tần. 

Bà Triệu Thị Khoan Hòa sau đó có 5 người con tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương Ả Lã. Rất có thể họ Lã của Trưng Vương vốn cũng bắt đầu từ Tần tướng Lã Bất Vi thời Trọng Thủy, truyền qua thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt. Bản thân danh xưng nhà Triệu đối lập với nhà Hiếu (Tây Hán) cũng có ý muốn nhấn mạnh rằng nước Nam Việt là nối tiếp dòng đế vương của nhà Tần?Chiếc “móng rồng” của họ Tần Triệuliệu có phải đã được truyền cho nước Nam Việt của Triệu Quang Phục?

Ban thờ ngũ vị đại vương ở đền Thánh mẫu Thanh Lãng

Câu đối ở ban thờ 5 vị tướng ở Thanh Lãng, là các “đế tử” họ Triệu, con của bà Khoan Hòa:
徵氏多忠臣母之教也
蜀王有後裔神其盛乎
Trưng thị đa trung thần, mẫu chi giáo dã
Thục vương hữu hậu duệ, thần kỳ thịnh hồ.

Dịch nghĩa:
Họ Trưng nhiều trung thần, do mẫu dạy dỗ
Vua Thục có hậu duệ, thịnh thay ý thần.

Theo Phụ quốc Đại thần Đỗ Tế Công phu phụ Ngọc phả ở làng Mỹ Giang, nay là xã Tam Hiệp, Phúc Thọ, Hà Nội thì cha của Trưng Vương là Lạc tướng Phong Châu dòng dõi Hùng Định Vương. Hùng Định Vương đã được xác định chính là triều đại nhà Tần trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, nên nhận định rằng Trưng Vương (hay một số tướng lĩnh thân cận của bà) là dòng dõi của nhà Tần lại càng trở nên khả tín.

Những tấm thẻ ngọc của Tần Vương trên đất Việt mang những thông điệp của đội quân Tần hùng mạnh hơn 2000 năm trước, từ việc Đền báo ơn vua, Trung hưng vương đạo, Mở rộng lãnh thổ, Thưởng phạt bình đẳng, Dùng mưu bất ngờ, Bảo vệ binh lực, Giữ gìn thọ phúc, là bằng chứng hiển hiện cho câu chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu, cũng như mối tương quan của nhà Triệu Nam Việt và khởi nghĩa của Trưng Vương với dòng dõi nhà Tần.

Những thẻ ngọc quân lệnh của Trọng Thủy

Theo quan niệm hiện nay, vào khoảng năm 217 TCN Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất lục quốc mới phát 50 vạn quân đánh chiếm Lĩnh Nam, đặt ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận. Chữ viết theo lối tượng hình của văn hóa Trung Hoa từ đó mới được truyền vào đất Việt… Tuy nhiên, những khám phá khảo cổ gần đây lại cho những thông tin hoàn toàn khác về thời điểm có mặt của nhà Tần, cũng như sự xuất hiện của chữ viết sớm ở miền đất Bắc Việt ngày nay.

Chuông đồng Cốc Lếu

Một loạt các hiện vật đồ đồng Đông Sơn được tìm thấy ở vùng Bắc Việt có những dòng chữ tượng hình như trống đồng Cổ Loa, bình đồng Nghi Vệ, chuông đồng Cốc Lếu… Những chữ triện này cổ hơn loại chữ Tiểu triện mà Tần Thủy Hoàng đã cho dùng thống nhất văn tự trên toàn đế quốc. Các nhà khảo cổ học buộc phải thừa nhận rằng người Việt thời Đông Sơn đã có chữ viết và gọi đó là chữ “Nam Việt”, cho dù các hiện vật này có trước thời Nam Việt của nhà Triệu rất nhiều.

Cách đây vài năm, ở khu vực Sóc Sơn, Mê Linh khi đào móng nhà người dân địa phương đã phát hiện được hàng chục thanh đá ngọc màu nâu cam (cẩm thạch), màu xanh lục (ngọc bích) hay màu đen. Những tấm ngọc này có kích thước 28,5 x 8,5 cm. Bên trên những thanh ngọc có chạm hoa văn rồng, phượng, hổ phù và ghi những chữ tượng hình. Trên các thanh đều có đục 1 lỗ. Đây là dạng lệnh bài cổ vì ngay trên đó đã khắc chữ Lệnh 令 ở thể chữ tiểu triện. 

Bộ ngọc giản Tần Vương (Hiện vật Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

Cụ thể hơn nữa, có thanh ngọc giản màu đen (chất liệu bằng đá thạch anh) chạm nổi chữ Lệnh 令 và 2 dòng chữ tiểu triện là:

Xuất kỳ bất dụng 出 其 不 用

Bảo vệ binh hoang 保 衛 兵 荒

Dịch là: Xuất kỳ bất ý, bảo vệ binh lực.

Những dòng chữ này cho thấy rõ ràng đây là lệnh bài dùng trong quân đội.

Về niên đại của những thanh ngọc giản này rõ nhất là loại ở một mặt có dòng chữ: Lễ tín Tần Vương chi chủ 禮 信 秦 王 之 主, cũng được khắc bằng thể chữ Tiểu triện của thời Tần. Tức là những thanh ngọc giản này có niên đại tương đương với những tượng đất nung được phát hiện trong các lăng mộ của thời Tần bên Trung Quốc ngày nay.

Mặt sau của thanh ngọc giản được trang trí bằng một hình tròn biểu tượng của Ngũ hành và một mặt hổ phù. Bên dưới có 3 dòng chữ tiểu triện là:

Giáp Ngọ trung hưng 甲 午 中 興

Hành tẩu biến địa 行 走 徧 地

Chúng sinh bình đẳng 眾 生 平 等 

Ngọc giản có chữ: Giáp Ngọ trung hưng…

Đến đây cần giải thích ý nghĩa của những dòng chữ trên thanh ngọc giản này. Trước hết là về danh xưng “Tần Vương”. Danh xưng Vương bắt đầu được Chu Vũ Vương sử dụng khi thắng Trụ diệt Ân, lên ngôi thiên tử. Ý nghĩa của chữ Vương 王 là người làm chủ Tam tài: Trời Đất và Người. Chỉ có Thiên tử Chu mới được gọi là Vương. Còn những tên gọi Công, Hầu, Bá, Tử, Nam được dùng để phong cho các chư hầu của nhà Chu.

Tổ tiên nước Tần thời Tây Chu có thể kể từ Tạo Phụ, là người đánh xe cho Chu Mục Vương rong ruổi khắp nơi, sau nhờ giúp Chu Mục Vương lúc loạn mà được phong ở đất Triệu. Tới thời Chu Tuyên Vương lấy Tần Trọng làm đại phu để đánh dẹp Khuyển Nhung thì con cháu Tần bắt đầu được phong là tước Công. Tần Tương Công hộ tống Chu Bình Vương dời đô về Lạc Ấp, khởi đầu thời Đông Chu. Con cháu của Tần được phong các vùng đất phía Tây Kỳ Sơn và những nơi dẹp được Khuyển Nhung. Dưới thời Đông Chu, Tần Mục Công nổi lên là một trong số Xuân Thu Ngũ bá.

Tuy nhiên, suốt thời Tây Chu sang Xuân Thu, chưa hề có danh xưng “Tần Vương”. Sang thời Chiến Quốc, nhờ có biến pháp của Thương Ưởng mà nước Tần trở nên hùng mạnh. Vị vua Tần đầu tiên xưng Vương là Tần Huệ Văn Vương vào năm 325 TCN. Năm 325 TCN gọi theo can chi là năm Giáp Ngọ. Như vậy, câu Giáp Ngọ trung hưng trên chiếc ngọc giản Lễ tín Tần Vương là chỉ sự kiện Tần Huệ Văn xưng Vương, khởi đầu một thời đại mới mà Tần là chủ.

Tiếp sau đó Tần Huệ Văn Vương và Tần Võ Vương đã “hành tẩu biến địa”, tức là tung hoành quân đội đánh chiếm khắp nơi, từ giao chiến với Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, chiếm Thục, Nghĩa Cừ… Sang tới thời Tần Chiêu Tương Vương thì Tần trở thành nước mạnh nhất trong số thất hùng của thời Chiến Quốc. Sau khi tướng Tần là Bạch Khởi thắng nước Triệu ở trận Trường Bình thì thiên hạ đã sớm định về tay Tần Vương. Năm 256 TCN Tần Chiêu Tương Vương chiếm Tây Chu, thu cửu đỉnh mang về Tần. Còn Đông Chu sau đó bị diệt dưới thời Tần Trang Tương Vương bởi tướng quốc Lã Bất Vi.

Phả đồ Chu – Tần

Điểm qua lịch sử nước Tần ta thấy danh xưng Tần Vương chỉ có thể có từ năm 325 TCN đến năm 221 TCN là năm Tần Thủy Hoàng xưng đế. Đây cũng là niên đại cho những thanh Tần giản phát hiện được ở miền Bắc Việt Nam. Điều ngạc nhiên là những thanh ngọc giản Lễ tín Tần Vương chi chủ đã cho thấy rằng sự hiện diện trên đất Việt của nước Tần có trước khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi xưng đế. Nhà Tần đánh chiếm Việt rõ ràng không phải vào năm 217 TCN mà trước đó một quãng thời gian vài chục năm, vào thời Tần Chiêu Tương Vương hoặc Tần Trang Tương Vương. Chuyện này phải giải thích thế nào?

Trên một loại ngọc giản khác tìm thấy cùng với thanh Tần giản trên, có cùng kích thước, có đề 4 chữ tiểu triện: Đồ báo nhi thuyết 圖 報 而 說.  Dịch nghĩa là “Có ơn tất báo”. Một lần nữa, đây cũng là chuyện của nhà Tần. Đó là chuyện dưới thời Tần Mục Công, được chép trong Sử ký Tư Mã Thiên như sau:

Quân Tấn đánh Mục Công, Mục Công bị thương. Lúc đó ba trăm người từng ăn thịt ngựa tốt dưới núi Kỳ Sơn ruổi ngựa xông vào quân Tấn. Quân Tấn bỏ vây, nên khiến Mục Công thoát hiểm, lại còn bắt sống vua Tấn. Ban đầu, Mục Công để mất con ngựa tốt, hơn ba trăm thổ dân dưới chân núi Kỳ Sơn cùng bắt được, giết ăn. Quan quân đuổi bắt, định xử theo luật. Mục Công nói: “Người quân tử không vì súc vật mà hại người. Ta nghe nói ăn thịt ngựa tốt mà không uống rượu sẽ tổn thương người”. Đoan ban rượu mà tha cho. Ba tră người nghe tin Tần đánh Tấn, đều xin theo. Họ đi theo, thấy Mục Công bị vây khốn, ai nấy đều xung phong cảm tử, để đền ơn tha tội ăn thịt ngựa vậy.

Ngọc giản có chữ:
Đồ báo nhi thuyết

Những tấm ngọc quân lệnh của Tần Vương tìm được ở miền Bắc Việt Nam đã hé lộ về một sự thật khác cho cuộc chiến Tần Việt trong thế kỷ 3 trước Công nguyên. Người đánh chiếm vùng đất Lạc ở miền Bắc Việt không phải là Tần Thủy Hoàng, mà là Tần Vương. Sử Việt gọi người này là Thục Vương, người đã chấm dứt nước Văn Lang của Hùng Vương năm 257 TCN. Đối chiếu với các sự kiện của nước Tần thì đây chính là thời điểm Tần Chiêu Tương Vương diệt nhà Chu, với vị vua cuối cùng là Chu Noãn Vương.

Sự kiện Tần (Thục) đánh Văn Lang được kể trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả vào đời Hùng Nghị Vương như sau:

Vua nước Thục từ xa nghe tin Trung Quốc không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ nước Nam có phép thần nên còn do dự chưa quyết. Bấy giờ chúa Phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái họ Hùng. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa Phụ đạo. Chúa Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Vua thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Nghị Vương, nói: 

– Quân Thục từ phía Tây đến chỉ muốn bắt bộ chủ để truyền cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà vua.

Hùng Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục vương bắt được bộ chủ phụ đạo đem về Thục, gả công chúa cho, rồi nhường ngôi cho. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi triều Nam là anh, triều Tây là em, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó triều Tây ngừng việc binh. 

Trang ngọc phả về Hùng Nghị Vương

Đây là chuyện Tần Chiêu Tương Vương chiếm đất Tây Chu, là vùng đất Âu (Ai Lao thiết Âu), uy hiếp Chu Noãn Vương, đoạt lấy đồ tế tự của thiên tử Chu (cửu đỉnh) mang về Tần năm 256 TCN. Còn sách Hoài Nam Tử ghi là chuyện Tần đánh Việt, giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Phần đất Đông Chu (đất Lạc) ở miền Bắc Việt sau đó cũng bị Tần chiếm nốt dưới thời Tần Trang Tương Vương năm 249 TCN. Như vậy bộ ngọc Tần giản là quân lệnh bài của nhà Tần từ quãng năm 249 TCN đến 221 TCN khi Tần Thủy Hoàng xưng đế.

Khảo cổ ở Bắc Việt đã cho thấy “Thục Vương” thực sự là từ vùng đất Tứ Xuyên mà đánh chiếm Hùng Vương ở Bắc Việt, do sự tương đồng các hiện vật (chủ yếu là kiếm trận) của 2 khu vực này. Thục Vương ở đây không phải là con cháu của nước Thục ở Tứ Xuyên, nước đã bị Tần diệt từ hàng chục năm trước (316 TCN). Thục Vương trong truyền thuyết Việt ở giai đoạn này là chỉ vua Tần.

Xem kỹ về cội nguồn thì nhà Tần vốn là con cháu của Bá Ích dưới thời Hạ Vũ, tức là cùng gốc với các vua Chu. Thậm chí tới thời Chu Hiển Vương khi nước Tần trở nên hùng mạnh, vua Chu còn trao cả việc tế tự Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương cho Tần Huệ Văn Công. Điều này chứng tỏ vua Chu và Tần có cùng nguồn gốc tổ tiên. Còn truyền thuyết Việt thì gọi Thục Vương, bộ chủ Ai Lao là dòng dõi hoàng đế đời trước của vua Hùng.

Rồng trên lệnh bài thời Tần

Vào thời Chu Mục Vương, tổ nhà Tần là Tạo Phụ được phân phong ở Triệu thành nên Tần có họ Triệu. Đây là một dữ kiện mới giúp giải mã vấn đề “Triệu Đà”, bố của Trọng Thủy trong truyền thuyết Việt. Nàng Mỵ Châu theo tên gọi là con gái vua Châu – Chu thì đã rõ. Còn Trọng Thủy mang họ Triệu, họ từ vị tổ nước Tần là Tạo Phụ. “Triệu Đà”, bố của Trọng Thủy, không phải là nhà Triệu nước Nam Việt lập ra sau khi nhà Tần sụp đổ. Trọng Thủy là Doanh Tử Sở – Tần Trang Tương Vương, nên những chiếc thẻ ngọc này chính là thẻ ngọc Trọng Thủy.

Những tấm ngọc giản của Tần Vương phát hiện trên vùng đất Việt đã đem lại một cách nhìn mới về giai đoạn bản lề trong sử Việt, đó là sự thực về nhà nước Văn Lang của vua Chu, nhà Thục họ Triệu của vua Tần Trọng Thủy.

Chữ viết của người Việt thời Hùng Vương

Tiến sĩ Nguyễn Việt (Trung tâm tiền sử Đông Nam Á) từng khảo sát các chữ viết trên các trống đồng, thạp đồng, bình đồng thời Đông Sơn và có đưa ra nhận định như sau:

Logic thông thường thì chữ Hán được coi như đã theo chân đoàn quân xâm lược Tần xuống vùng đất phía bắc Giao Châu từ khoảng cuối thế kỷ 3 trước Công nguyên. Với sự ra đời và tồn tại hơn một thế kỷ của nhà nước Nam Việt, chữ Hán đã chính thức trở thành văn tự chính thống của vùng này, mặc dầu trong một phạm vi rất hạn hẹp của triều đình Nam Việt mà thôi.

Bằng chứng khảo cổ cho thấy ba loại văn tự chữ Hán cùng tồn tại trong phạm vi nước Nam Việt:

1- Minh văn phương hình chuẩn thường thấy ở những đồ lễ khí chính thức của nhà nước Nam Việt hoặc trên những đồ được dâng tặng có nguồn gốc phía bắc,

2- Văn tự thẻ tre mang phong cách văn tự Hán Sở,

3- Minh văn Nam Việt thường thấy trên đồ đồng Đông Sơn bản địa với lối khắc dài, phương hình không chuẩn và sai hoặc thiếu nét.”

Chữ trên trống đồng Trạch Bái (ảnh theo TS Nguyễn Việt)

Chữ viết trên trống đồng thì hiển nhiên người dùng là người Việt bản địa, cho nên đầu tiên phải khẳng định rằng thời Tần người Việt đã có chữ viết.

TS Nguyễn Việt còn phát biểu rằng, theo nghiên cứu khảo cổ thì người Việt khi đó “chưa có nhu cầu dùng chữ viết”. Ở phía Bắc như vùng Lưỡng Quảng thì có thể “đã có nhu cầu” này (???)

Không rõ dựa vào khảo cổ nào mà lại nghĩ ra như vậy? Trong khi ngay sau đó TS. Nguyễn Việt cho biết, Giao Chỉ và Cửu Chân là nơi đông đúc dân cư nhất thời đó với dân số vượt xa ở các quận khác trên đất Lưỡng Quảng sau này. Nơi mật độ dân số lớn thì “không cần chữ viết”, còn nơi vắng người hơn thì lại có? Đây gọi là kết luận của “khảo cổ học thật” hay sao?

Điều lạ là loại chữ này được TS. Nguyễn Việt gọi là chữ “Nam Việt” với hình thức thô sơ hơn thể chữ Triện thời Tần Hán. Thậm chí trong số các chữ đó còn có những chữ ghi theo “lối cổ”:

– “chữ “lục” (sáu) vẫn giữ lối viết cổ”

– “chữ Cửu Chân trên trống Trạch Bái cho thấy một kiểu chữ cổ hơn”. 

Tới đây nảy sinh ra vấn đề. Nếu theo quan niệm của TS Nguyễn Việt, loại chữ này mới theo chân quân Tần mà xâm nhập vào đất Việt, thì tại sao lại có những chữ cổ như trên? Cần nhớ rằng Tần Thủy Hoàng đã cho thống nhất văn tự trên toàn quốc, lấy chữ Tiểu triện do Lý Tư tu chỉnh làm “quốc tự”. “Thư đồng văn” được thực hiện trên toàn cõi Trung Hoa. Vậy nếu đội quân Tần đến dạy chữ cho người Nam Việt thì họ phải dạy chữ Tiểu triện, chứ sao lại dùng những chữ cổ hơn của Đại triện Kim văn?

Điều này cho thấy thứ chữ mà TS Nguyễn Việt gọi là chữ Nam Việt ấy thực ra đã tồn tại ở đất Nam Việt từ trước khi Tần xâm lược rất lâu. Người Nam Việt đã dùng thứ chữ này một cách thành thạo và phổ biến trên các đồ vật của họ như trống đồng, thạp đồng. Còn chữ mới mang vào là chữ Tiểu triện như dùng để khắc trên các văn bản bằng thẻ tre và trên ấn tín.

Chữ viết của người Việt thực không cần tìm đâu xa. Nó vốn được ghi rất rõ trên các hiện vật. Chẳng qua chúng ta không chịu nhìn nhận nó là chữ mà người Việt đã dùng trước thời Tần mà thôi. Trước thời Tần trên đất Nam Việt là thời Hùng Vương. Nói cách khác loại chữ Nam Việt ấy là chữ mà các vua Hùng nước Văn Lang đã dùng.

TÓM LƯỢC VỀ CÁC TRIỀU ĐẠI HÙNG VƯƠNG

SƠN TRIỀU: Hùng Vương Thánh tổ

Nhật nguyệt tinh thần

1.      Đế Minh (Hùng Vũ Vương)

Triều đại: Hoàng Đế mở muôn nước. Tổ phụ bộ tộc Trung tâm Giao Chỉ

Vua khai sáng và tên húy: Đế Minh, Hiền Đức Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Vũ Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Hiên Viên Hoàng Đế

Tên thờ và trong truyền thuyết: Vua cha Thiên phủ, Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương, Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ

Tên dân dã: Ngọc Hoàng

Niên đại: khoảng – 4.000 đến – 2879 DL

Quốc hiệu: nước Họ Hùng, Hữu Hùng quốc, Viêm Giao, Viêm Việt

Kinh đô: Hồng Lĩnh

Truyền thuyết: Tây Thiên quốc mẫu, Vua Hùng chọn đô

Di tích: Đền Hùng và các nơi thờ trên vùng đất tổ. Đền Đình Chu.

2.      Đế Nghi (Hùng Hy Vương)

Triều đại: Đường Nghiêu

Vua khai sáng và tên húy: Đế Nghi, Viên Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Hy Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đế Nghiêu

Tên thờ và trong truyền thuyết: Viễn Sơn Thánh vương

Tên dân dã: Bắc Đẩu

Quốc hiệu: Hồng Bàng

Niên đại: khoảng –2879 đến –2500 DL

Kinh đô: Hồng Lĩnh và Ngũ Lĩnh

Truyền thuyết: Vua Hùng kén rể, Vua Hùng chọn đô

Di tích: Đền Hùng và các nơi thờ trên vùng đất tổ

3.      Lộc Tục (Hùng Hi Vương)

Triều đại: Ngu Thuấn.

Vua khai sáng và tên húy: Lân Lang, Lộc Tục

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Hi Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đế Thuấn

Tên thờ và trong truyền thuyết: Ất Sơn Thánh vương, Nam triều thánh tổ Ngọc hoàng thượng đế, Sơn Tinh

Tên dân dã: Nam Tào

Quốc hiệu: Nam Bang, Xích Quỷ

Niên đại: khoảng -2500 đến -2200 DL

Kinh đô: Ngũ Lĩnh

Truyền thuyết: Đi cày Lịch Sơn, Vua Hùng kén rể

Di tích: núi Lịch, các nơi thờ Hùng Vương trên đất tổ.

KINH TRIỀU: Phụ đạo

Rồng bay biển Bát

4.      Kinh Dương Vương (Hùng Việt Vương)

Triều đại: Tổ nhà Hạ

Vua khai sáng và tên húy: Kinh Dương Vương, Tuấn Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Việt Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đại Vũ, Hạ Vũ.

Tên thờ và trong truyền thuyết: Tản Viên Sơn Thánh quốc chúa đại vương, Vua cha Nhạc phủ

Tên dân dã: Hương Lang

Quốc hiệu: Nam Bang, Xích Quỷ

Niên đại: khoảng –2200 đến –2000 DL

Kinh đô: Sơn Tây

Truyền thuyết: Tản Lĩnh Ngọc ký, Thần Long Động Đình, Sơn Tinh – Thủy Tinh

Di tích: Ba Vì, Lăng Sương, Thác Bờ

5.      Lạc Long Quân (Hùng Diệp Vương)

Triều đại: Nhà Hạ

Vua khai sáng và tên húy: Lạc Long Quân, Pháp Hải Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Diệp Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đế Khải, Hạ Khải.

Tên thờ và trong truyền thuyết: Uy Linh Lang, Bát Hải Động Đình, Vua cha Thoải phủ

Tên dân dã: Linh Lang

Quốc hiệu: Hồng Bàng, Đào Động.

Niên đại: khoảng –2000 đến – 1900 DL.

Kinh đô: An Hoa (ở giữa hồ Dâm Đàm và sông Nhị)

Truyền thuyết: Truyện Hồ Tinh, thần tích Yên Phụ, La Phù, Đồng Bằng, Thủ Lệ, Ngũ vị tôn quan

Di tích: Yên Trì, La Phù, Đồng Bằng và các đền thờ ven sông Hồng

6.      Hùng Uy Vương

Triều đại: Nhà Hạ Trung Hưng

Vua khai sáng và tên húy: Hoằng Hải Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Uy Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Hạ Thiếu Khang

Quốc hiệu: Hồng Bang

Niên đại: khoảng -1900 đến -1700 DL

Kinh đô: Dương thành

Truyền thuyết: Chử Đồng Tử, Hậu Nghệ – Hằng Nga

Di tích: Đầm Nhất Dạ và những nơi thờ Chử Đồng Tử

7.      Hùng Huy Vương

Triều đại: Nhà Thương

Vua khai sáng và tên húy: Long Tiên Lang.

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Huy Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Thành Thang.

Tên thờ và trong truyền thuyết: Bàn Hồ

Tên dân dã: Lang thang

Quốc hiệu: Việt Thường

Niên đại: khoảng –1700 đến –1400 DL

Kinh đô: Tân Cán (Ngô thành)

Truyền thuyết: Các họ của người Dao

8.      Hùng Duệ Vương

Triều đại: Nhà Ân.

Vua khai sáng và tên húy: Huệ Đức Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Duệ Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Bàn Canh, Trụ Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Vua cha Địa phủ

Tên dân dã: Diêm vương

Quốc hiệu: Việt Thường

Niên đại: khoảng –1400 đến –1100 DL

Kinh đô: Bàn Long thành, An Huy

Truyền thuyết: Tam vị Tản Viên Sơn thánh, Giếng Việt, Truyện vu nữ

Di tích: Các di tích thờ Cao Sơn, Quý Minh; núi Vũ Ninh

THỤC TRIỀU: Trị bình kiến phu

Phượng gáy non Kỳ

9.      Âu Cơ (Hùng Chiêu Vương)

Triều đại: Tổ nhà Chu

Vua khai sáng và tên húy: Âu Cơ

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Chiêu Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Cơ Xương, Chu Văn Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Thục Vương tử, Hiền Vương

Tên dân dã: Lang Liêu

Quốc hiệu: Văn Lang – Âu Lạc

Niên đại: khoảng –1100 đến -1000 DL

Kinh đô: Phong Châu

Truyền thuyết: Phù Đổng Thiên vương, Truyện họ Hồng Bàng, Lão tiên ở bến Việt Trì, Cột đá thề

Di tích: Hiền Lương, Phù Đổng, Sóc Sơn, chùa Hoa Long, núi Hùng

10. Hùng Quốc Vương

Triều đại: Nhà Tây Chu.

Vua khai sáng và tên húy: Thừa Văn Lang.

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả:  Hùng Ninh Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Thục Phán, Vũ Ninh

Danh hiệu trong sử Hoa: Cơ Phát, Ninh Vương, Chu Vũ Vương.

Tên dân dã: Ninh lang (Linh Lang).

Quốc hiệu: Văn Lang – Âu Lạc.

Niên đại: khoảng -1000 đến -770 DL

Kinh đô: Côn Minh (Vân Nam)

Truyền thuyết: Chim bạch trĩ, Bà Nghi Địch, Đồng Cổ Sơn thần, Lang Liêu cầu Tiên, Phan Tây Nhạc, Hùng Linh Công

Di tích: Làng Vân, Đan Nê, Hiền Lương, Tây Thiên, Y Sơn, Thị Cấm

11. Hùng Tạo Vương

Triều đại: Nhà Đông Chu.

Vua khai sáng và tên húy: Đức Quân Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Tạo Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Chu Bình Vương.

Tên thờ và trong truyền thuyết: An Dương Vương

Quốc hiệu: Văn Lang – Âu Lạc

Niên đại: –770 đến –314 DL

Kinh đô: Cổ Loa

Truyền thuyết: Huyền Thiên Trấn Vũ, Giếng Việt, Lang Liêu gặp Phật

Di tích: Thổ Hà, núi Sái, Thất Diệu, chùa Thiên Quang

12. Hùng Nghị Vương

Triều đại: Cuối thời Đông Chu.

Vua khởi đầu: Bảo Quang Lang.

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Nghị Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: An Dương Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Chu Noãn Vương

Quốc hiệu: Âu Lạc

Niên đại: –314 đến –256 DL

Kinh đô: Cổ Loa

Truyền thuyết: Mỵ Châu – Trọng Thủy

Di tích: Cổ Loa, đền Cuông

TRUNG HOA: Đại đế quốc

Tiên Rồng hợp hình

13. Tần (Hùng Định Vương)

Triều đại: nhà Tần

Vua khai sáng và tên húy: Chân Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Định Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Đinh Tiên Hoàng

Danh hiệu trong sử Hoa: Tần Thủy Hoàng

Tên dân dã: Lang sói – Sài lang

Quốc hiệu: Đại Cồ Việt

Niên đại: –257 đến –206 DL

Kinh đô: Tam Xuyên

Truyền thuyết: Lý Ông Trọng, Yên Kỳ Sinh, Giếng Việt

Di tích: Chèm, Yên Tử, núi Vũ Ninh

14. Hiếu (Hùng Trinh Vương)

Triều đại: Nhà Hiếu (Tây Hán)

Vua khai sáng và tên húy: Hưng Đức Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Trinh Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Lý Bôn, Triệu Vũ Đế

Danh hiệu trong sử Hoa: Lưu Bang – Hán (Hiếu) Cao Tổ

Tên dân dã: Lang bang

Quốc hiệu: Vạn Xuân

Niên đại: -206 tới –9 DL

Kinh đô: Trường An

Truyền thuyết: thần tích Đồng Xâm, Nhữ Nương (Trình Thị)

Di tích: Đồng Xâm, Nhữ Nương, Xuân Quan, Cựu Tự, Bát Tràng

15. Triệu (Hùng Triêu Vương)

Triều đại: nhà Triệu

Vua khai sáng và tên húy: Cảnh Triêu Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Triêu Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Triệu Việt Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Triệu Đà

Tên dân dã: Triệu Quang Phục

Quốc hiệu: Nam Việt

Niên đại: -179 đến –111 DL

Kinh đô: Phiên Ngung

Truyền thuyết: Triệu Quang Phục

Di tích: các nơi thờ Triệu Việt Vương ở cửa biển Đại An và ven các cửa sông

Tần chúa tranh vua

Chuyện Chín chúa tranh vua của người Tày ở Cao Bằng kể, trong cuộc so tài với các chúa mường khác, chúa mường Nam Cương là Thục Phán đi lấy trống đồng về đến gò Đống Lân, mệt ngủ say, chuột cắn dây trống, trống lăn xuống đồi kêu vang cả một vùng. Các chúa khác tưởng chúa đi lấy trống đã thắng nên bỏ dở cuộc thi. Tổng Lằn là trống lăn, gọi chệch là Đống Lân. Thục Phán là chúa mường thứ 9, đã giành thắng lợi trước các chúa mường khác và lên làm vua.

IMG_1934
Chùa Đống Lân ở TP. Cao Bằng.

Theo sự tích trên, ta thấy “trống đồng” khi đó có vai trò là hiệu lệnh của Thiên tử. Tiếng trống vang lên ở gò Đống Lân (trống lăn) đã khuất phục được các chúa mường.

Dựa vào câu chuyện này mà các nhà sử học ngày nay cho rằng Thục An Dương Vương có xuất xứ từ Cao Bằng, đã đánh Hùng Vương để lập nước Âu Lạc và xây thành Cổ Loa. Cho dù truyền thuyết người Tày không hề nói gì đến chuyện Hùng Vương và thành Cổ Loa cả.

Nay đọc lại câu chuyện này chợt nhận ra những thông tin khá bất ngờ, giúp phát lộ chân tướng nguồn gốc của Thục An Dương Vương:

Thứ nhất là về hình thức tổ chức xã hội thời kỳ đó, bao gồm các “mường” khác nhau, mỗi mường có một “chúa”. Tuy nhiên, cao hơn Chúa còn có Vua, là chúa một xứ mường mạnh nhất, tài giỏi nhất, được các mường khác thuần phục.
Đây thực chất là hình thức Thiên tử (Vua) – Chư hầu (Chúa) của chế độ phong kiến phân quyền. Thiên hạ có nhiều nước, được gọi trong ngôn ngữ Tày Thái là các mường. Đứng đầu các nước này là các vị công hầu, mà truyện gọi là các chúa mường. Còn theo ngọc phả Hùng Vương thì đây là các phiên thần, thổ tù, phụ đạo bộ chủ. Danh xưng “bộ chủ” rõ ràng tương đương về ngữ nghĩa với tên gọi “chúa mường”.
Ngọc phả Hùng Vương ghi Thục An Dương Vương là bộ chủ Ai Lao… Ai Lao tới nay còn là tên của dải núi Ai Lao sơn nằm giữa tỉnh Vân Nam, chính là đất Thục xưa.

Thứ hai, Thục Phán được kể là Chúa mường thứ chín. Con số 9 này không phải vô cớ. Thục cũng có nghĩa là Chín (trong từ thành thục). Đặc biệt, số 9 còn là phát âm tiếng Trung của… TẦN, mà ngày nay còn thấy trong cái tên tiếng Anh: China.
Thục Phán là chúa mường thứ 9 tức là chủ nước Tần.

Thứ ba, cái tên Nam Cương có thể phân tích dựa trên Dịch lý:
– Nam vốn là phương mà cây kim Nam châm chỉ tới, tức là hướng về Bắc cực ngày nay.
– Cương là cứng rắn, là tính chất đặc trưng của phương Tây.
Nam Cương nghĩa là nước ở phía Tây Nam xưa (Tây Bắc nay), đúng vị trí của nước Tần trong Thiên hạ Trung Hoa.

Xét thông tin “Chín chúa tranh vua” như trên thì rõ ràng đây là chuyện Tần chúa đánh dẹp các chư hầu, giành ngôi Thiên tử. Thục An Dương Vương không phải ai khác chính là Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, lên ngôi xưng Đế, sắp xếp lại Thiên hạ trăm nước theo chế độ quận huyện. Chấm dứt thời kỳ phong hầu kiến ấp, để bắt đầu chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Sử Việt gọi là An Dương Vương lập nước Âu Lạc, kết thúc thời đại Hùng Vương, bắt đầu một trang lịch sử mới của người Hoa Việt.

Triệu Vũ Đế, vạn cổ vĩ nhân

Cuối thời Chu mạt, cường Tần xua quân tấn công vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Văn Lang. Tần Thủy Hoàng lên ngôi xưng đế, phân chia thiên hạ trăm nước của nhà Chu thành các quận huyện trực thuộc. Vùng đất Văn Lang được chia thành các quận Quế Lâm, Long Xuyên (Tam Xuyên) và Tượng. Một đại tướng Tần là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng, được cử trấn giữ vùng Tây Nam nhà Tần lúc này.
Truyện Giếng Việt cho biết Thôi Vĩ, con của vị ngự sử đại phu nhà Tần đã chữa bệnh cho Nhâm Ngao, rồi sau đó đi lạc ở núi Châu Sơn. Như thế ngay sau thời Tần là cuộc khởi nghĩa của Nhâm Ngao, Triệu Đà ở vùng núi Vũ Ninh. Hoàn toàn không hề nói tới An Dương Vương nào vào cuối thời Tần lúc này nữa.
Ngọc phả Hùng Vương cho biết, Nhâm Ngao và Triệu Đà dẫn quân đánh An Dương Vương ở vùng Tiên Du, sau đó Triệu Đà lui về núi Vũ Ninh đóng quân. Nũi Vũ Ninh là tên khác của Châu Sơn trong Truyện Giếng Việt.
So sánh 2 truyện thì thấy rõ, người được gọi là An Dương Vương ở đây thực ra là Tần đế. Triệu Đà mới là người đã diệt Tần, mở nước Nam Việt, đúng như Sử ký Tư Mã Thiên chép:
Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.”
Triệu Đà chứ không phải ai khác mới là người đã giành lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt. Người tuấn kiệt lãnh đạo nhân dân Việt giành thắng lợi trước quân Tần, lập quốc năm 206 TCN là Vũ Đế Triệu Đà. Còn An Dương Vương lúc này là tên gọi khác của vua Tần, vốn xuất phát đến từ vùng đất Thục Tứ Xuyên mà chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương.

Tuong Huu Bang 2Tượng Triệu Vũ Đế ở Hữu Bằng, Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Khu vực núi Vũ Ninh từng có tới 8 làng đã lập Triệu Vũ Đế làm thành hoàng. Một vị đế vương oanh liệt, khai cơ mở nền cho một quốc gia thống nhất, một triều đại kéo dài hàng trăm năm, nhưng nay lại bị lãng quên. Nhìn bức tượng Triệu Vũ Đế duy nhất còn lại của vùng Vũ Ninh không khỏi rơi nước mắt. Người Việt ngày nay sao lại bạc bẽo đến vậy với tiền nhân?
Con “ngựa đá” Phi Liêm rồng phượng kết giao, biểu tượng của thiên hạ một nhà, nay vẫn đang phải ngậm ngùi trên đỉnh núi Vũ Ninh. “Cháu con còn nhớ tới mồ ông“?

IMG_2714