Trước Bà Trưng, sau Bà Triệu, cùng một bậc người

Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn có lẽ đã là người lập “Hội phụ nữ” đầu tiên của nước Nam. Dưới cờ Nhị Trưng Vương có rất nhiều tướng lĩnh là nữ, cùng chung chí hướng, “đền nợ nước, trả thù nhà”. Nhưng người phụ nữ đầu tiên nắm quyền lãnh đạo đất nước có lẽ phải kể đến tiền nhân của Hai Bà Trưng là… Lữ Hậu.

Lữ Hậu, tên cúng cơm là Trĩ, người Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình). Tại đây bà được gọi là Hoàng hậu Trình Thị (thiết Trĩ). Lữ Trĩ là người vợ từ thủa hàn vi của Lưu Bang, được truyền thuyết Việt chép là Lý Bôn. Lưu Bang khởi nghĩa tại đất Bái, được chép là đất Thái Bình, cũng là Triệu Vũ Đế quê ở Chân Định (tên cũ của huyện Kiến Xương). Lưu Bang là người Tuấn kiệt, đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần thắng lợi, lên ngôi Hiếu Cao Tổ, Lữ Trĩ trở thành Lữ Hậu.

ly-bon

Lý Nam Đế và hoàng hậu Đỗ Thị Khương, tranh thờ ở Thái Bình.

Lưu Bang mất, Lữ Hậu nắm toàn quyền, phân phong cho họ Lữ những chức vụ quan trọng nhất, nắm binh quyền. Đáng chú ý là có tước Lữ Vương, là người cai quản vùng đất quê họ Lữ, tức là vùng đất Bái – Thái Bình xưa.

Lữ Hậu mất, họ Lữ định làm cuộc đảo chính nhưng không thành. Anh em Lữ Lộc, Lữ Sản bị các cận thần của Lưu Bang giết chết. Tuy nhiên, họ Lữ không tuyệt đường ở đây. Vị Lữ Vương ở phương Nam đã tôn một người cháu của Lưu Bang lên làm vua, lập nước Nam Việt, gọi là Triệu Đà, còn bản thân mình làm thừa tướng Lữ Gia. Họ Lữ ở Nam Việt “con giai lấy con gái vua, con gái lấy con giai, anh em, tôn thất của vua“, nắm quyền hành lớn.

Năm 111 TCN Hiếu Vũ Đế cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt. Phiên Ngung thất thủ, Lữ Gia cùng vua Triệu Vệ Dương Vương và gia quyến lên thuyền đi về phía Tây. Tới cửa Đại Ác (cửa sông Đáy đổ ra biển ở Nam Định) cả vua Triệu và Lữ Gia bị bắt, giết.

Nhưng họ Lữ vẫn còn người. Hai hoàng phi nhà Triệu là Trưng Trắc, Trưng Nhị, truyền tích gọi là Ả Lã, con gái của Lữ Gia, đã chạy thoát về Phong Châu. Từ đây Nhị Trưng lập đàn thề ở cửa sông Hát, tưởng nhớ tới chồng là Triệu Vệ Dương Vương tử nạn ở cuối sông, phất cờ Quang Phục, đánh Tô Định, chiếm Luy Lâu, xưng là Tây Vu Vương hay gọi là Lang Tề (Nàng Đê).

Với thân phận là hoàng phi nhà Triệu nên khởi nghĩa Trưng Vương đã được sự tham gia đông đảo của con cháu các quan lại nhà Triệu trước đó, nhiều người là nữ, có hoàn cảnh cha hay chồng bị giết trong cuộc bình định Nam Việt của nhà Hiếu. Truyền thống nữ trung hào kiệt từ Lữ Hậu cùng với nợ nước thù nhà đã làm nên một “Hội thề” Hát Môn hùng tráng, lập nên quốc gia Hoàng Đinh độc lập.

Khởi nghĩa của các hoàng phi nhà Triệu dưới thời Hiếu – Tây Hán giành thắng lợi. Trưng Trắc lên ngôi vua của nước Tây (Đinh), là Tây Vu Vương. Nhưng chỉ ít lâu sau nhà Hiếu cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức, người từng đại phá Nam Việt, dẫn quân xuống đánh dẹp. Những trận đánh ác liệt giữa hai bên nổ ra ở Lãng Bạc – Bạch Đằng, rồi Cấm Khê, kết thúc bằng cái chết của Nhị Trưng Vương. Thiên hạ Trung Hoa lại thống nhất về một mối.

Nhà Hiếu truyền đời mấy trăm năm thì bị đại thần Vương Mãng soán ngôi. Vương Mãng mang hoài bão phục cổ, xây dựng một thế giới lý tưởng, đã thực hiện hàng loạt cải cách ảnh hưởng toàn diện đến xã hội. Nhân lúc Trung Hoa suy yếu người Hán tụ tập thành lũ giặc cỏ ở núi Lục Lâm, rồi diệt nhà Tân của Vương Mãng, biến Trung Hoa của người Hoa Việt thành Hán quốc (Đông Hán).

Trên đất Giao Châu các châu mục, thái thú lúc này là Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục cai quản, vừa lo chống giặc Hán bên ngoài, vừa dung nạp các hiền sĩ chạy loạn về phương Nam nương nhờ, mở trường dạy học, nêu cao văn hiến. Đặng Nhượng là Đặng cư sĩ thờ ở làng Lệ Chi, Gia Lâm. Đỗ Mục có thể là vị cư sĩ được thờ ở khu vực Thanh Oai – Chương Mỹ ngày nay (Đỗ Lang). Các vị này đã kiên cường chống lại sự bành trướng của Hán tộc xuống phương Nam và bỏ mình vì nước, như thần tích các nơi thờ cho biết.

Ang Phao

Đình Áng Phao, Cao Dương, Thanh Oai, Hà Nội, nơi thờ một vị Cư sĩ chống giặc thời Hán.

Giao Châu bị Mã Viện của Đông Hán chiếm, bắt hàng trăm các “cừ súy” Việt về Bắc. “Cừ súy” thiết “quý”, chỉ các quý tộc, tầng lớp lãnh đạo của người Việt. Truyền tích Việt trong các nơi thờ cúng chép thành “cư sĩ“. “Cư sĩ” cũng thiết “quý”. Đây là bằng chứng cho thấy cuộc tấn công của Mã Viện chiếm Giao Châu bắt các cừ súy Việt xảy ra vào thời đầu Đông Hán, đánh các “cư sĩ” là các châu mục, thái thú của nhà Tân.

Chiếm được Giao Châu Mã Viện xóa bỏ luật Việt, áp đặt luật Hán, thiết lập chế độ cai trị hà khắc ở Giao Châu. Sử ta đã lầm lẫn giữa cuộc hành quân của Lộ Bác Đức đánh Trưng Vương thời nhà Hiếu với cuộc tấn công xâm lược Giao Châu của Mã Viện thời Đông Hán.

Nước Nam mất, nhưng Hán tộc không được lúc nào yên ở phương Nam. Sử ghi trong hàng chục năm của thế kỷ thứ 2 người Nhật Nam, Cửu Chân liên tục nổi dậy. Đặc biệt khởi nghĩa của Khu Liên ở đất Tượng Lâm đã thành công, lập nên nước Lâm Ấp ở phương Nam. Khu Liên hay Khu Đạt, cũng là Triệu Quốc Đạt, cũng là Chu Đạt, người đã cầm đầu người Di khởi nghĩa ở Nhật Nam – Cửu Chân, buộc nhà Đông Hán phải cắm cột đồng phân giới Bắc Nam ở Man Thành Quảng Tây.

Em của Triệu Quốc Đạt là Triệu Thị Trinh, hay Bà Triệu, trong cuộc chiến này đã nổi danh là một nữ tướng xinh đẹp, dũng mãnh. Bà Triệu đi guốc vàng, mặc áo vàng, đầu voi phất ngọn cờ vàng, nối tiếp truyền thống nước Hoàng Đinh của Trưng Vương, chống giặc. Mã Viện lúc này đã buộc phải xây lũy đắp đê ở Cửu Chân, ngăn cản sự nổi dậy của cơn sóng khởi nghĩa phương Nam của Lệ Hải Bà vương.

Khu Liên – Triệu Quốc Đạt mang họ Lý của Lý Bôn – Lưu Bang, cũng được truyền thuyết Việt gọi là Lý Nam Đế vì đã lập nên nước Nam – Lâm Ấp. Hai Bà Trưng mang họ Lữ của Lữ Hậu, còn Bà Triệu mang họ Lý của Lưu Bang. Cái cội nguồn truyền thống, mối liên thông lịch sử giữa các triều đại của thời kỳ này cho giải thích về khí phách và chiến công của các vị nữ vương, nữ tướng người Việt.

Câu đối ở đình Luật Ngoại tại xã Quang Lịch, Kiến Xương, Thái Bình:
Trăng thu trải cuộc bể dâu, Nam nước Việt, Bắc giặc Lương, ghi ngàn đời sử.
Sông Bài nổi gương tiết nghĩa, trước Bà Trưng, sau Bà Triệu, cùng một bậc người.

Nhân ngày phụ nữ Việt Nam, xin ôn xưa kể cũ để biết phụ nữ Việt truyền thống anh hùng bất khuất thế nào. Chúc mừng các bà, các mẹ, các chị em người Việt Nam, con cháu Bà Trưng, bà Triệu, nhân ngày này.

Phạm Tô – Sĩ Nhiếp

Vấn đề Lý Phục Man và Phạm Tu là 1 hay 2 người nay đã có lời giải rõ ràng. Thánh Giá Lý Phục Man ở Lã Xá – Yên Sở không ai khác là thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu Nam Việt, đã tử tiết ở núi Gôi đất Vụ Bản – Nam Định, được con cháu là Nhị Trưng Vương (Trương Hống, Trương Hát) đưa về an táng tại khu vực núi Sài sông Hát. Còn để nhận rõ về Thượng thủy tổ họ Phạm là Phạm Tu, quê ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, thì câu chuyện cần bắt đầu bằng những dấu tích về … Mã Viện và Bà Triệu.
Sơ học kí – Châu quận bộ (thời Đường do Từ Kiên soạn) có truyện Đê đá guốc vàng:
Nam Việt chí chép: “Mã Viện mở thông núi Cửu Chân, lại chất đá làm đê để ngăn sóng biển, do đó không còn bị (hại) bởi biển dâng nữa.” Lại chép: “Có người con gái huyện Quân An tên là Triệu Ẩu thường ở trong núi tụ họp bè đảng đánh cướp quận huyện, mặc áo giáp vàng đi guốc răng vàng, thường cưỡi đầu voi mà chiến đấu”.
Đoạn truyện này nói tới sự kiện Mã Viện sau khi đánh thắng quân của Hai Bà Trưng, tiếp tục tấn công Đô Dương ở Cửu Chân và cho … đắp đê đá để ngăn sóng biển dâng… Mã Viện đánh Cửu Chân chỉ vẹn vẹn có 1 năm (năm 44) sau đó đã bị triệu hồi về nước. Thế mà trong thời gian đó lại kịp đắp đê biển ngăn mặn, giúp người Cửu Chân làm nông nghiệp?! Sự thật chắc chắn không phải vậy.
Nguyên văn phiên âm đoạn Mã Viện làm đê đá là: Mã Viện tạc thông Cửu Chân sơn. Hựu tích thạch vi để, dĩ át hải ba, do thị bất phục quá trướng hải.
“Tướng danh” của Mã Viện là Phục Ba tướng quân, ý nói là tướng đã áp phục cơn sóng khởi nghĩa của nhân dân ở Giao Chỉ, Cửu Chân. Đoạn phiên âm trên vừa có “Hải Ba” vừa có “Phục”, chính là thông tin giải nghĩa danh hiệu Phục Ba của Mã Viện. Như vậy Mã Viện làm đê đá không phải để ngăn sóng biển, mà là đắp lũy để ngăn cơn “Hải Ba” của hậu quân Hai Bà Trưng tại Cửu Chân. Cửu Chân là nơi Mã Viện đã phải dừng bước, cắm mốc phân giới (cột đồng) sau khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Lũy đá ở đây là một dạng mốc biên giới như cột đồng Mã Viện, được dựng lên để ngăn sự tấn công của của hậu quân Trưng Vương.
Mã Viện đã phải cắm mốc cột đồng và đắp lũy phòng thủ chống lại ai ở Cửu Chân? Phần dưới của đoạn trích trên trong truyện Đê đá guốc vàng cho biết, đó chính là với Triệu Ẩu, tức là Mã Viện đã phải cắm mốc phân biên với Bà Triệu. Bà Triệu còn có tên là Lệ Hải bà vương, là cơn “Hải Ba” được nói đến trong truyện. Bà Triệu chính là hậu quận của Hai Bà Trưng đã chặn Mã Viện ở Cửu Chân.
Theo nhà nghiên cứu Văn Nhân thì Đô Dương – người chặn Mã Viện ở Cửu Chân là Khu Đạt hay Khu Liên, người đã khởi lập nước Lâm Ấp. Khu Đạt cũng là Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu. Còn tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì cho biết người xưng vương xứ Lâm Ấp là Lý Khu Kiên. Lâm Ấp tức là nước Nam. Lý Khu Kiên – Khu Đạt là vua Lâm Ấp, tức là Lý Nam Đế trong chuyện này là Triệu Quốc Đạt.
Trong cuộc chiến chống quân Đông Hán anh em Triệu Quốc Đạt, Triệu Thị Trinh đã hy sinh nhưng Mã Viện và Hán quân đã bị cầm chân, buộc phải cắm trụ đồng và đắp lũy đá phân ranh đất Hán và Giao Chỉ ở Khâm Châu – Quảng Tây. Lúc này phía Đông Giao Chỉ độc lập, do một kẻ sĩ nắm giữ quyền hành, không xưng vương, nên sử gọi là Sĩ Nhiếp.
Như trên, vì Lý Nam Đế là Triệu Quốc Đạt – Khu Liên nên Sĩ Nhiếp là một đại tướng của Lý Nam Đế, đã chống Hán quân giữ yên Giao Châu. Năm Canh Dần (210) Sĩ Nhiếp theo về với Ngô Vương Quyền, được Ngô Vương phong làm Tả tướng quân. Sau đó Sĩ Nhiếp lại chiêu dụ thổ hào ở Ích Châu về phụ thuộc nước Ngô nên Tôn Quyền càng khen, thăng làm Vệ tướng quân, tước Long Biên hầu.
Câu đối ở đình Dục Tú (Đông Anh, Hà Nội)
骨氣不埋呉鼎國
文風初啟越儒邦
Cốt khí bất mai Ngô đỉnh quốc
Văn phong sơ khải Việt nho bang.
Dịch:
Cốt cách không phai đỉnh nước Ngô
Văn phong khởi lập Nho đất Việt.

IMG_9726 (2)Đình Dục Tú ở Đông Anh, Hà Nội

Nhờ có sự thần phục của Sĩ Nhiếp Ngô Vương đã có được một khu vực đất đai rộng lớn mà Mã Viện đã không thể chiếm được trước đó, gồm toàn bộ Giao Châu, lại thêm cả Ích Châu. Do vậy Sĩ Nhiếp được coi là một đại tướng quân trụ cột của Đông Ngô. Long Biên hầu tức là vị hầu tước của vùng Long Biên. Long Biên ở đây là Long Xuyên hay quận Tam Xuyên dưới thời Tần, gồm phần lớn vùng Giao Chỉ và Quảng Tây.
Những danh hiệu, chức vụ và hành động của Sĩ Nhiếp hoàn toàn trùng với lão tướng Phạm Tu. Phạm Tu nhờ có công đánh dẹp Lâm Ấp và tham gia khởi nghĩa nên được Lý Nam Đế giao trọng trách làm Tả Tướng, đứng đầu Ban Võ. Theo thần tích đình Ngoại ở Thanh Liệt thì sau khi mất Phạm Tu được phong là Long Biên hầu. Đặc biệt Phạm Tu còn được sắc phong là Cảm ứng cư sĩ. Câu đối ở đình Lý Nhân tại Thanh Liệt, nơi thờ Phạm Tu:
廟宇香燈神感應
亭村奉祀德靈長
Miếu vũ hương đăng thần cảm ứng
Đình thôn phụng tự đức linh trường.
Dịch:
Hiên miếu hương đèn thần cảm ứng
Thôn đình cúng tế đức thiêng dài.

P1110017Đình Lý ở Lý Nhân, Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.

Còn Sĩ Nhiếp được nhà Trần sắc phong là Gia ứng Thiện cảm Linh vũ Đại vương. Có thể thấy Tả tướng quân Long Biên hầu Cảm ứng cư sĩ Phạm Tu là vị Sĩ Nhiếp, người đã giữ yên và cai quản Giao Châu sau khi Lý Nam Đế – Triệu Quốc Đạt hy sinh.
Sau khi Sĩ Nhiếp mất con là Sĩ Huy đã chống cự lại nhà Ngô. Còn theo tư liệu của họ Phạm thì Phạm Tu có con là Phạm Tĩnh theo giúp Hậu Lý Nam Đế. Con Phạm Tĩnh là Phạm Hiển, sau khi Lý Phật Tử bị quân nhà Tuỳ bắt về Bắc đã chiêu binh chống Tùy trong 3 năm và bị thất bại. Phạm Hiển như vậy là Sĩ Huy.
Sĩ Nhiếp – Phạm Tu còn được người Việt thành kính tôn thờ dưới tên một vị thần nữa. Tên Phạm Tu đúng ra phải là Phạm Tô, là vị thần của dòng sông Tô Lịch. Phạm Tu sinh ra ở làng Thanh Liệt bên sông Tô. Theo truyền thuyết thì ông chống giặc giữ cửa sông Tô Lịch và hy sinh tại đó.
Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái kể Cao Biền đã gặp một cụ già ở giữa dòng sông, cho biết họ Tô tên Lịch. Biền biết là thần nhân nên đặt tên sông là sông Tô Lịch.
Một buổi sớm khác, Biền ra đứng nhìn ở bờ sông Lô Giang, phía đông nam thành La, thấy giữa sông có gió lớn nổi lên, sóng nước cuồn cuộn, mây trời mù mịt, có một dị nhân đứng trên mặt nước, cao hơn hai trượng, mình mặc áo vàng, đầu đội mũ tím, tay cầm hốt vàng, rực rỡ một khoảng trời, chập chờn lên xuống trên không… Đêm đến Biền nằm mộng thấy thần nhân tới nói rằng: “Chớ yểm ta, ta là thần Long Đỗ, đứng đầu các vị thần đất. Nhà ngươi đến xây thành ở đây, ta chưa được gặp, cho nên tới xem đó thôi, ta có sợ gì bùa phép?”…
Bản dịch tấm bia cổ ở lăng Sĩ Nhiếp (Thuận Thành – Bắc Ninh) khắc vào năm đầu Vĩnh Trị (1676) có đoạn viết: “… bổ làm huyện lệnh Vu Dương, chuyển tới làm thái thú Giao Châu, được phong Long Độ Đình Hầu”. Sĩ Nhiếp có tước phong là Long Độ đình hầu. Long Độ = Long Đỗ. Thần Long Đỗ, vị thành hoàng của thành Đại La – Thăng Long thì ra chính là Sĩ Nhiếp – Phạm Tô (Tu).
Sĩ Nhiếp được biết thọ tới 90 tuổi mới mất. Còn Phạm Tu là lão tướng 66 tuổi mới tham gia khởi nghĩa cùng Lý Nam Đế. Vị thần sông Tô Lịch hiện linh trước Cao Biền cũng dưới hình dạng một cụ già.
Còn một liên hệ nữa về lão tướng Phạm Tu. Sử sách cho biết người đã nối nghiệp ở Lâm Ấp sau khi Khu Liên mất là họ Phạm, họ bên ngoại của Khu Liên. Như vậy Phạm Tu là họ bên ngoại của Triệu Quốc Đạt.
Tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi thì viết: Cuối đời Hùng Duệ Vương (258 TCN) con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà…
Đằng Châu Phạm Duy Minh do vậy có thể cũng là Phạm Tu. Thần Long Đỗ, Long Biên hầu và Vua Mây họ Phạm là một người vì vua của Mây tức là rồng (Long). Sĩ Nhiếp – Phạm Tu như vậy là một trong Tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng của tín ngưỡng Việt.

Phạm Tu có thụy hiệu là Đô Hồ đại vương. Đô Hồ nghĩa là thủ lĩnh của người Hồ. Người Hồ hay Hời là người Lâm Ấp – Chiêm Thành sau này. Vì Phạm Tu là người kế tục sự nghiệp của Khu Liên và con cháu họ Phạm nối tiếp cai quản Lâm Ấp nên Phạm Tu được gọi là Đô Hồ. Thông tin này cũng tương tự như câu đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh):

豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.

Truyền tích về Sĩ Nhiếp và Tứ pháp ở chùa Dâu (Truyện Man Nương) cho thấy Sĩ Nhiếp được dân gian gắn với các thần mây mưa sấm chớp. Còn Phạm Tu ở đình Ngoại Thanh Liệt vốn được coi là Thủy thần phán quan, hay ở đình Ngọc Than (Quốc Oai, Hà Nội) là Đông Hải đại vương.
Vị thủy thần sông Tô, vua Mây ở Đằng Châu, Long Biền hầu Sĩ Nhiếp và Tả tướng Phạm Tu cùng là một, là vị anh hùng có công chặn quân Đông Hán, gìn giữ Giao Châu trong 40 năm, đức độ và dòng dõi để lại tiếp tục phù trợ cho họ Phạm ở Lâm Ấp tồn tại hàng trăm năm tiếp theo.

Bà Triệu

Sau khởi nghĩa của Trưng Vương: “Quý Mão, [Trưng Vương, năm thứ 4], Mùa xuân, tháng giêng, Trưng Nữ Vương cùng em gái là Nhị chống cự lại với quân nhà Hán, thế cô, đều thua chết. Mã Viện đuổi theo đánh quân còn sót là bọn Đô Dương. Đến huyện Cư Phong thì [bọn Đô Dương] đầu hàng, [Viện] bèn dựng cột đồng làm giới hạn cuối cùng của nhà Hán.”

Chỉ một thời gian ngắn sau cũng tại Cư Phong – Cửu Chân nổ ra khởi nghĩa của Chu Đạt chống lại chính quyền Đông Hán. Chu Đạt chiêu mộ dân binh vây giết chết huyện lệnh, giải phóng toàn bộ quận Cửu Chân rồi tấn công quận trị Tư Phố giết chết thái thú Nghê Thức nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa tập hợp lực lượng có tới 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm.

Điều lạ là cuộc khởi nghĩa Chu Đạt chỉ được sử Trung Quốc ghi lại mà sử Việt không hề nói tới. Ở Cửu Chân, sử Việt chỉ nói tới khởi nghĩa của … Triệu Quốc Đạt, anh của Bà Triệu.
– Chu hay Châu = Chúa
– Triệu = Chúa.
Chu Đạt chỉ là tên khác của Triệu Quốc Đạt. Đạt hay Đoạt là quẻ Đoài chỉ hướng Tây. Cư Phong là Cả Phong, cũng là vua hướng Tây.

Vua Đông Hán cử đô úy Ngụy Lãng đem quân đàn áp, buộc Chu Đạt phải lui vào Nhật Nam. Tại đây thanh thế nghĩa quân mạnh lên, lực lượng lên tới hàng vạn người.
Như vậy Chu Đạt hay Chúa Đạt cũng chính là Đạt Vương của người Choang ở Quảng Tây (Nhật Nam).

Việc xác định Chu Đạt là Triệu Quốc Đạt cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu chống lại giặc Ngô là giặc phương Bắc – Đông Hán chứ không phải nước Đông Ngô của Tôn Quyền. Với sự rút lui của Đô Dương về Cư Phong – Cửu Chân thì có thể thấy khởi nghĩa Chu Đạt – Triệu Quốc Đạt là phần nối tiếp khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Bà Triệu cưỡi voi trắng ra trận là nối tiếp ngai vàng của nước Tượng – Đinh – Tây của Trưng Vương chống lại giặc Ngô – Hán.

DenBaTrieu

Đền thờ Bà Triệu ở Phú Điền, Hậu Lộc, Thanh Hóa

Theo truyền thuyết Việt thì Bà Triệu hy sinh ở núi Tùng (Tượng), Phú Điền – Hậu Lộc – Thanh Hóa. Tại đây có lăng và đền thờ Bà Triệu. Thần tích còn chép Lý Nam Đế khi hành quân qua đây đi dẹp giặc Lâm Ấp được Bà Triệu hiển linh phù trợ. Điều này khá kỳ lạ vì theo sử Việt Lý Nam Đế không hề thân chinh xuống phương Nam mà sai Lý Phục Man / Phạm Tu đi dẹp giặc. Vậy mối liên hệ giữa Bà Triệu là Lý Nam Đế là gì?

Câu đối ở đền thờ Bà Triệu ở Thanh Hóa:
Phấn tích đương niên, chính khí phôi thai Tiền Lý Đế
Triệu nhân tư thổ, thần cao đối trĩ Nhị Trưng Vương.

Dịch:
Hùng tích năm nào, chính khí dẫn sinh triều Lý Đế
Kính chúa đất nọ, linh thần tương sánh vị Trưng Vương.

Theo sử hiện tại thì khởi nghĩa của Lý Bí nổ ra sau khởi nghĩa Bà Triệu hơn 300 năm, ở Giao Chỉ. Vậy mà khởi nghĩa Bà Triệu ở Cửu Chân lại là “phôi thai Tiền Lý Đế”. Câu đối này cho thấy khởi nghĩa của Bà Triệu đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Lý Bí – Lý Phật Tử.

Ở đền Bà Triệu tại Thanh Hóa còn nhắc đến “ba anh em họ Lý” người Bồ Điền, quê ngoại của Bà Triệu (mẹ Bà Triệu họ Lý). Ba anh em Lý Hoằng (Lý Hoàng?), Lý Mỹ, Lý Thành là những người đã tham gia khởi nghĩa với Bà Triệu từ ngày đầu, giúp Bà Triệu lập bảy đồn lũy ở Bồ Điền, chiến đấu cho tới phút cuối cùng. Ba anh em họ Lý được thờ cùng Bà Triệu tại đền ở Hậu Lộc.

Câu đối:
Nhất thốc sùng từ, Na Lĩnh căn cơ kim Tượng Lĩnh
Thiên thu thắng tích, Phú Điền phong cảnh cổ Bồ Điền.
Dịch:
Một nóc đền cao, nền Na Lĩnh nay là Tượng Lĩnh
Nghìn thu dấu tích, cảnh Phú Điền xưa chính Bồ Điền.
Ba anh em họ Lý như vậy là những tướng lĩnh quan trọng trong cuộc khởi nghĩa của Bà Triệu. Có thế đây chính là anh em Lý Thiên Bảo – Lý Phật Tử, những người làm nên nhà Thục sau này.

Vào thời gian cuối nhà Đông Hán, sử Việt còn nói đến một cuộc khởi nghĩa khá lớn của Lương Long (178-181). Lương Long “lãnh đạo nhân dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố chống lại chính quyền đô hộ Đông Hán. Lực lượng nghĩa quân lên tới hàng vạn người, liên kết với người Ô Hử (tổ tiên người Tày) ở biên giới Việt-Trung, người Choang ở Quảng Tây, thái thú quận Nam Hải là Khổng Chi nên thanh thế rất mạnh, nổi dậy đánh chiếm được các quận huyện và nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam. Thứ sử Giao Châu là Chu Ngung phải đóng cổng thành cố thủ và xin viện binh. Mùa hè năm 181 Đông Hán vương cử huyện lệnh Lan Lăng là Chu Tuấn mang 5000 quân sang đánh dẹp, cuộc khởi nghĩa bị dập tắt.”

Lương Long có lẽ là Lang Lương, tức là vua của người Tày – Nùng (Ô Hử – Choang) ở phía Đông.

Khởi nghĩa Lương Long nổ ra trên một địa bàn rất rộng từ Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố, Quảng Tây, Nam Hải, không kém gì khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Khởi nghĩa làm chủ đất nước cũng 4 năm. Khởi nghĩa lớn như vậy mà nhà Hán chỉ cử “huyện lệnh Lan Lăng” Chu Tuấn mang có 5000 nghìn quân thì đánh dẹp làm sao được? Phải chăng Chu Tuấn đây chính “Hữu trung lang tướng Chu Tuấn”, người được cử đi đánh dẹp khởi nghĩa Khăn Vàng? Khởi nghĩa Lương Long là một phần của khởi nghĩa Khăn Vàng?

Phải chăng Lương Long là Dương Đình Nghệ trong sử Việt, người theo sử chép có hàng nghìn con nuôi. Một trong số con nuôi đó là Ngô Quyền. Dương là chỉ phương Đông. Đình Nghệ hay Diên Nghệ có lẽ là một danh hiệu tôn xưng. Dương Diên Nghệ và Lương Long rất cận nghĩa.

Nếu khởi nghĩa của Chu Đạt – Bà Triệu mở đầu cho nhà Thục của Lưu Bị – Lý Phật Tử ở phía Tây thì khởi nghĩa Lương Long ở phía Đông có thể là nguồn gốc nhà Đông Ngô của Tôn Quyền.

Văn nhân góp ý:

Cuộc khởi nghĩa Khăn vàng do bà Trưng bà Triệu lãnh đạo không hề chết yểu mà ngược lại phải nói là Thành công rực rỡ. Sử Tàu có bẻ cong bẻ quẹo cắt đoạn thế nào chăng nữa  người ngày nay vẫn thấy … chí ít thì dòng Bách Việt cũng làm chủ được phương nam (ngày nay) với 2 quốc gia Tây Thục và Đông Ngô. Cái gọi là Thời Tam quốc thực ra chỉ là tập 2 … của cuộc khởi nghĩa Trưng vương mà thôi . Than ôi ! oanh liệt 1 thời nhưng tiếc thay … cơ trời vận nước nên … anh hùng đành ôm hận nghìn thu mà thác xuống tuyền đài. Mãi đến 300 năm sau thì Vũ văn Giác vua nhà Bắc Châu mới lai … học theo Hán – Trung hoa (?Nguyên văn của sách sử Tàu) mà chế triều nghi ???