Những vị thần Lỗi Lạc: Thiên Y A Na, Cao Các, Man Nương, Bạch Mã

Trong tín ngưỡng dân gian ở khu vực miền Trung, như trong các miếu hội đồng hay trong văn sớ cúng thường nhắc tới một số tên các vị thần, không rõ lai lịch, nhưng lại được tôn thờ từ lâu. Như trong văn khế của thầy pháp đọc khi làm lễ tạ thổ ở Phú Yên có đoạn:
Cung thỉnh:
Cao Các thành hoàng đại vương chi thần thỉnh đáo lai lâm thỉnh đồng hiệp ta.
Thái giám Bạch Mã chi thần đồng lai hiệp tạ.
Thiên Y An Na Diễn Phi chúa ngọc hồng nương, phổ chi đức thượng đẳng thần đồng lai hiệp tạ.
Bổn thổ quản cai ngũ phương chủ Ngung Man nương phu thê nhị vị vãng thần…
Cao Các, Bạch Mã, Thiên Y An Na, Man Nương là ai? Đây là vị thần người Việt hay người Chăm? Tại sao những vị thần quen thuộc của người Việt là được thờ ở khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ?
Thực ra những vị thần được tôn thờ như vậy vốn đều là những con người thực sự có công, có ảnh hưởng lớn đến đời sống của khu vực Trung Bộ trong quá khứ xa xưa. Càng đi vào thời xa xưa lại càng thấy sự tương đồng giữ các nhân thần ở miền Trung với các vị thần của miền Bắc.
Vị thần thờ phổ biến nhất ở khu vực miền Trung là Thiên Y A Na thánh mẫu. Bá chúa Trầm đã được xác định là nhân vật Mai An Tiêm trong truyền thuyết Việt và cũng là hình ảnh chim Tinh Vệ lấp biển trong truyền thuyết Trung Hoa. Bà là người đã có công khai phá vùng đất ven biển miền Trung, quai đê lấp biển, phát triển nông nghiệp, hy sinh ngoài biển vì nhân dân. Do đó bà đã trở thành vị nữ thần tối cao trong tín ngưỡng ở miền Trung. Thiên Y A Na hoàn toàn không phải vị thần có nguồn gốc Ấn Độ và cũng không phải vị thần riêng của người Chăm, bởi ở cái thời khai thiên lập địa ấy người Chăm là một nhánh phương Nam trong cộng đồng người Việt của các vua Hùng.

IMG_5323Miếu thờ Thiên Y A Na ở Phú Lâm, Tuy Hòa, Phú Yên.

Vị thần khác cũng hay được nhắc đến trong sớ cúng và có nhiều miếu thờ, đình thờ thành hoàng ở miền Trung là Cao Các quảng độ đại vương. Cao Sơn Cao Các ở vùng Thanh Hóa Nghệ An đã từng được xác định chính là Tiết độ sứ Cao Biền dưới thời Đường. Do việc đánh dẹp Nam Chiếu, mà ngọn nguồn Nam Chiếu là khu vực miền Trung Việt, nên vị Cao Vương này được thờ suốt dải miền Trung, tới tận Phú Yên, Khánh Hòa như một người có công mở đất phương Nam. Cao Sơn Cao Các cũng là vị thần trấn Nam của kinh thành Thăng Long vì người đầu tiên xây thành Đại La chính là Cao Biền.
Một đoạn bản văn sớ ở Thừa Thiên Huế:
Thừa Thiên hiệu pháp, Khai hoàng Hậu thổ Nguyên quân, Thổ hoàng Địa kỳ Tử Anh phu nhân, Thái giám Bạch Mã tôn thần, Kim niên hành khiển đại vương, Thái tuế chí đức tôn thần, Đương cảnh thành hoàng đại vương, Bổn xứ thổ địa lý vực chánh thần, Khôn ly thổ hỏa nhị vị tiên nương, Ngũ hành liệt vị tiên nương, Lịch đợi tiên sư tôn thần, Đông trù tư mệnh táo quân, Ngũ phương thổ công tôn thần, Ngũ phương long thần thổ địa trú trạch thần quan, Ngọc tuyền kim tỉnh long vương, Tiên khai canh hậu khai khẩn chi thần, Thập bát long trạch liệt vị tướng quân, Thổ địa phước đức tài thần, Gia đường hương hỏa liệt vị oai linh, Ngũ phương chúa Ngung cổ tích chi thần, Môn thừa hộ úy cấm kỵ liệt vị đẳng thần, Phổ cập Man Nương thần nữ, Chúa Lỗi chúa Lạc châm chợ mọi rợ Man Di, Mê linh khô cốt phục thi cố khí, Thổ mộc tà tinh lỵ mị vong lương nội ngoại gia viên cư nhất thiết yếm trệ nam nữ vô tự âm linh u hồn liệt vị đồng lai hiến hưởng cộng bảo bình an…

So mien TrungVăn sớ này có nói đến tên: “Phổ cập Man Nương thần nữ, chúa Lỗi chúa Lạc”. Như trong văn khế ở Phú Yên còn gọi là “Chủ Ngung Man Nương”. Cái tên Man Nương thần nữ nhắc tới bà Man Nương trong sự tích Tứ pháp thời Sĩ Nhiếp ở thành Luy Lâu (Bắc Ninh). Đây là dẫn chứng cho thấy mối liên quan giữa sự tích Tứ pháp với khu vực miền Trung Lâm Ấp lúc này. Bà Man Nương trong truyện là hình ảnh đại diện cho khu vực miền Trung (Nam Man) khi đạo Bà Là Môn của Khâu Đà La truyền vào Giao Châu.
Chúa Lỗi chúa Lạc” là cụm từ khá hay. Lỗi  hay Lồi là từ thường dùng để chỉ người Chăm như thành Lồi ở Huế. Còn Lạc thì đã biết, chính là Lạc Việt, chỉ người Kinh. Cụm từ “lỗi lạc” nghĩa là chỉ người Chăm người Kinh hay Nam – Bắc. Tên hiệu trên nói rằng bà Man Nương là chúa (chủ) của cả người Chăm và người Kinh.

IMG_5262_1

Tháp Nhạn ở thành phố Tuy Hòa, Phú Yên.

Suốt dải miền Nam Trung Bộ từ Bình Trị Thiên tới Phú Yên Khánh Hòa có tục thờ thần Bạch Mã thái giám. Miếu, đình thờ vị này gặp ở nhiều nơi. Ngay như ở Hội An theo thống kê có đến 73% làng xã có thờ, có sắc phong cho thần Bạch Mã. Ở Phú Yên, đình Ngọc Lãng tại xã Bình Ngọc, TP Tuy Hòa và miếu Thái Giám dưới chân núi Ngọc (chân Tháp Nhạn) cùng nhiều nơi khác còn giữ tục thờ và các sắc phong cho thần Bạch Mã.
Vậy thần Bạch Mã là ai mà được tôn thờ đến vậy?
Tên thần “Bạch Mã” nhắc nhớ tới vị thần trấn Đông của kinh thành Thăng Long. Vị thần này có mỹ tự là “Long đỗ Quảng lợi Bạch mã đại vương”.  Còn thần Bạch Mã ở Hội An cũng thường có tên “Lợi vật Bạch Mã chi thần”.
Thần Bạch Mã ở miền Trung cũng là thần Bạch Mã của Thăng Long, điều này sẽ không khó hiểu nếu biết rằng thần Long Đỗ Bạch Mã của Thăng Long chính là Sĩ Nhiếp họ Phạm. Sĩ Nhiếp là vị vương đã cai quản toàn bộ khu vực Giao Châu 7 quận dưới thời Tam quốc. Miền Trung Việt lúc đó do con cháu của Sĩ Nhiếp họ Phạm quản lý (Phạm Hùng), sau này tách ra thành nước Lâm Ấp tồn tại gần 600 năm. Do đó người miền Trung lấy Sĩ Nhiếp – Bạch mã làm một vị thần tối cao là hoàn toàn hợp lý.
Sĩ Nhiếp cũng là vị Đô Hồ Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm ngày nay. Bản thân tên “Đô Hồ” của Phạm Tu cũng chỉ ra rằng ông là thủ lĩnh của người Hồ, tức là người Lâm Ấp lúc này (vùng nước Hồ Tôn thời Hùng Vương).
Chữ “thái giám” trong tên của thần Bạch Mã ở miền Trung không phải chỉ “hoạn quan” như nhầm tưởng. “Giám” là soi xét, coi sóc, như trong từ “giám đốc”. Thái giám phải hiểu là vị quan đứng đầu cai quản khu vực. Hiểu nôm na theo ngôn ngữ ngày nay là “Tổng giám đốc”. Chức danh này rất phù hợp với vị trí của Sĩ Nhiếp, là người cai quản toàn bộ phương Nam (Lâm Ấp) một cách độc lập tự trị trong thời loạn Tam quốc.
Dấu ấn của thời kỳ này trên khu vực miền Trung như vậy thể hiện qua hình tượng thần Bạch Mã cũng như Man Nương thần nữ. Vì Sĩ Nhiếp và Tứ pháp theo đạo Bà La Môn (Đế Thiên Đế Thích) nên khả năng hình ảnh Bạch Mã phải tìm trong đạo giáo này, chứ không phải trong đạo Phật.
Các vị thần được tôn thờ ở miền Trung, Nam Trung Bộ lại là những vị chủ quản của vùng miền Bắc (Cao Biền, Sĩ Nhiếp). Mối quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Việt đã có từ xa xưa, sâu sắc “như cành chung gốc lớn lên”, “như anh em của mẹ hiền” Việt Nam.

Cao Biền và Ả Lã

Làng Vạn Phúc (Hà Đông, Hà Nội) thờ vị thành hoàng là Ả Lã Nàng Đê như vị tổ nghề dệt lụa. Tuy nhiên thần tích của vị này lại được gắn với tướng Cao Biền thời Đường. Điều này khá kỳ lạ vì Ả Lã Nàng Đê được biết là một vị nữ tướng thời Trưng Vương, được thờ ở nhiều nơi, tại sao lại là vợ của Cao Biền thời Đường được? Tất cả các làng lân cận với Vạn Phúc như Ngọc Trục, Đại Mỗ, Tây Mỗ đều thờ Ả Lã Nàng Đê, nhưng là nữ tướng của Trưng Vương. Khu vực Hà Đông cũng không có vết tích gì của Cao Biền cả. Ở đây hẳn đã có sự nhầm lẫn hoặc chắp nối không ăn khớp giữa các nhân vật.

IMG_2334

Danh hiệu của Ả Lã Nàng Đê ở làng Vạn Phúc được chép là Quốc vương thiên tử Nga Hoàng đại vương. Đây rõ là danh hiệu của Trưng nữ Vương, như được nêu trong thần tích của làng Nại Tử (Đan Phượng, Hà Nội). Phải là Trưng Vương thì mới xưng “Quốc vương thiên tử”. Còn Nga Hoàng là tên con gái của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Khi Đế Thuấn đi tuần và mất, bà Nga Hoàng đã tự vẫn trên dòng sông Tương theo chồng. Trưng Vương khởi nghĩa trả thù chồng nên cũng thường được ví với các vị thần sông Tương này như trong câu đối tại đền Hát Môn:
Tây Giang tỷ muội thần Tương nữ
Đông Hán tung hoành bá Việt vương.
Dịch:
Giang Tây em chị thần Tương nữ
Đông Hán dọc ngang bá Việt vương.
Ở miếu thờ Ả Lã tại Vạn Phúc còn cho biết bà là hậu duệ của vua Hùng. Như thế không thể nào Ả Lã ở Vạn Phúc lại sống ngang thời Đường thế kỷ thứ 9 với Cao Biền được.
Ả Lã Nàng Đê được thờ ở khu vực sông Nhuệ, sông Đáy là Trưng Vương vì đây là nơi tử tiết của nữ chủ như từng đề cập tới trong các bài viết trước. Còn mối liên quan đến Cao Biền thì chắc chắn do một sự khớp nối khác giữa các nhân vật lịch sử trong thần tích.

Cao Bien A La

Vị trí 2 khu vực và các địa danh nói đến trong bài.

Lần xem các di tích về Cao Vương Biền trên khu vực miền Bắc thì chợt nhận thấy, Vạn Phúc vốn cũng là tên một tổng của huyện Thanh Trì nằm bên bờ hữu sông Hồng. Trên bản đồ thời Hồng Đức (1470 – 1497) đoạn sông chỗ này có ghi chú gồm phía Bắc là làng Tiểu Lan Châu, giữa là Đại Lan châu và Nam là Cao Biền Nhuệ.
Cao Biền Nhuệ tức là mũi Cao Biền vì dòng sông Hồng ở khúc này uốn lượn gấp khúc thành mũi, bên bồi bên lở thành các bãi sông rộng (các châu). Đây cũng là khu vực có sự tích về Cao Biền đã đóng quân ở đây như ở làng Mỹ Ả (Đông Mỹ, Thanh Trì) và làng Kim Lan (Gia Lâm) nằm 2 bên bờ sông đều thờ Cao Biền. Đặc biệt ở Kim Lan người ta đã phát hiện ra di chỉ bãi Hàm Rồng với rất nhiều đồ gốm, tiền cổ (tiền Khai Nguyên thông bảo, Đại Hưng bình bảo và Thiên Phúc trấn bảo). Trong các di vật còn tìm thấy cả gạch Giang Tây quân, là loại gạch xây thành Đại La dưới thời Cao Biền. Khu vực này như vậy là nơi Cao Biền đóng quân, làm gạch ngói cho xây thành Đại La.
Khu vực sông Hồng uốn gấp khúc này là một vùng đất địa linh nhân kiệt quan trọng của Thăng Long Hà Nội. Từ thời Triệu Vũ Đế đi ngang qua đây đã thấy rồng vàng hiện lên. Nay còn di tích của Triệu Vũ Đế là điện Long Hưng ở xã Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Xuân Quan và Kim Lan trước đây là cùng một xã, gọi là Xuân Lan. Rất có thể chữ Lan đây là ghi âm Lang – Long. Kim Lan hay Kim Long nghĩa là rồng vàng như xuất hiện trong sự tích về Triệu Vũ Đế ở trên.
Khu vực này cũng có tục thờ bà tổ nghề dâu tằm vì đây là bãi sông bồi lấp, rất thích hợp cho trồng dâu nuôi tằm. Ví dụ, văn tế tiên tằm vào tháng giêng (Xuân nguyên tế tiên tàm văn) của làng Kim Lan xướng:
Hoàng đế Hữu Hùng thị thánh đế vị tiền
Nguyên phi Tây Lăng thị Hoàng hậu vị tiền…
Còn trong văn tế khai hạ tháng giêng của làng Đại Lan nêu:
Tiên tàm thánh đế Nguyên phi Tây Lăng thị Loa tổ vị tiền…
“Tây Lăng thị” đây là Tây Thiên Lăng Thị Tiêu, vị quốc mẫu ở núi Tam Đảo, người cùng với Hoàng đế Hữu Hùng (Đế Minh) khai quốc họ Hùng.

Kim LanNghi môn đình Kim Lan (Gia Lâm, Hà Nội).

Như vậy do những sự trùng hợp về tên gọi sau mà sự tích của Cao Biền thời Đường bên bãi sông Hồng đã bị gắn với sự tích của Ả Lã Trưng Vương ở vùng Hà Đông:

  • Vạn Phúc vừa là tên đất Vạn Bảo ở Hà Đông, vừa là tổng Vạn Phúc ở Thanh Trì.
  • Mũi Cao Biền ở sông Hồng gọi là Cao Biền Nhuệ, bị nhầm với sông Nhuệ, nhánh sông chảy qua Hà Đông.
  • Bà tổ nghề dâu tằm bên sông Hồng của vùng Mỹ Ả bị nhầm với Ả Lã của làng lụa Vạn Phúc.
  • Ả Lã Trưng Vương khởi nghĩa vùng Phong Châu hay vùng phía Tây của biển Đông (Tây Giang trong câu đối trên ở đền Hát Môn) bị lẫn với vùng đất Tĩnh Hải quân của Tiết độ sứ Cao Biền (cũng gọi là Giang Tây như trên các viên gạch xây thành thời này).
  • Ở Hà Đông cũng có miếu Hàm Rồng nơi thờ Ả Lã Nàng Đê, tương truyền là một long mạch mà Cao Biền đã phát hiện. Còn ở bên sông Hồng là di chỉ Hàm Rồng ở làng Kim Lan, tương truyền (theo Thiên Nam ngữ lục) là nơi Cao Biền để dành táng mả…

IMG_3718

Đình Vạn Phúc, Hà Đông, Hà Nội.

Xem thêm thần tích của làng Vạn Phúc (Hà Đông) và của làng Kim Lan (Gia Lâm). Thần tích xã Vạn Phúc (Hà Đông) viết:
Xưa cõi trời Nam bắt đầu mở mang, phân chia cương giới theo hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ triều Hùng vương mở vận, thánh tổ xây dựng cơ đồ, tương truyền trải qua 18 đời với hơn hai nghìn năm thịnh trị, đời đời cha truyền con nối, tất thảy đều xưng Hùng. Ngọc bạch xa thư, núi sông thống nhất, đó là tổ tông của Bách Việt vậy.
Truyền đến Hùng Duệ Vương sinh được 2 con gái, không có người nối dõi bèn nhường ngôi cho họ Thục. Thục An Dương Vương ở ngôi vừa được 50 năm thì có người ở Chân Định họ Triệu tên Đà dấy binh đến xâm lấn. Nhà Thục mất. Triệu Đà chiếm được nước, cha truyền con nối 5 đời làm vua, được 105 năm thì đổi qua triều Tiền Lý, Hậu Lý, Ngô Vương lập quốc, Nam Bắc phân tranh. Từ đó nước ta thuộc Tây Hán. Thời Hán Vũ Đế tướng Lữ Gia của nước Việt ta không quy phục triều đình nhà Hán, giết sứ giả Hán là An Quốc Thiếu Quý. Nhà Hán bèn ra lệnh cho Lộ Bác Đức đem quân đánh, bắt sống được Dương Hầu và Lữ Gia, thôn tính đất nước. Ra lệnh đặt thú lệnh cai quản ở đó…
Thần tích làng Kim Lan kể tương tự:
Kể từ trời Nam mở nước, cương vực phân chia, thánh tổ họ Hồng Bàng trải xem non nước, thấy đất Hoan Châu rộng lớn bèn kiến lập kinh đô, tu tạo cung điện, cha truyền con nối hưởng phúc dài lâu, hơn 2000 năm đều lấy tôn hiệu là Hùng Vương. Thục An Dương Vương lên ngôi mới được 5 năm thì Triệu Vũ đến đánh, lấy được nước này, năm đời làm vương được 149 năm, rồi lại trải qua các đời Tiền Lý, Hậu Lý, Ngô Vương lập nước, Nam Bắc phân tranh…
Thần tích 2 làng này đưa ra một thứ tự rất lạ. Sau khi nhà Triệu truyền ngôi 5 đời thì tới thời “Tiền Lý, Hậu Lý, Ngô Vương”. Như thế các vị vua Lý Bôn, Lý Phật Tử và Ngô Quyền là ở vào quãng thời gian ngay trước và sau Công nguyên. Điều này chỉ có thể hiểu được theo Sử thuyết Hùng Việt, khi xác định Lý Bôn là Lưu Bang nhà Hiếu (Tây Hán), Lý Phật Tử là Lưu Bị nhà Tây Thục, còn Ngô Quyền là Tôn Quyền nước Đông Ngô.
Thần tích làng Vạn Phúc (Hà Đông) tiếp tục bằng sự tích khá dài về Nam Chiếu, nội dung tương tự như trong Truyện Nam Chiếu của Lĩnh Nam chích quái:
Về sau con cháu họ Triệu tán loạn tứ phương, họp nhau ở cửa biển Thần Phù, nơi cô quạnh không bóng người. làm thuyền ra biển, đột nhập vào bờ giết quan thú lệnh nhà Hán. Dân sợ quá bèn quy phục theo, tôn là Nam Triệu vương. Đến khi Ngô Vương Tôn Quyền sai Lữ Đại làm thú mục cai trị bọn họ. Thời đó bọn Nam Chiếu ở khắp các nơi núi cao biển sâu, sóng gió hiểm ác, từ núi Thiên Cầm cho đến bờ biển Hà Hoa, Cao Vọng, Ô Tôn, Trường Sa, Hoàng Sa. Chúng thường thường ẩn hiện đánh giết thú lệnh, chưa từng ai cứu được. Cuối đời Tấn, thiên hạ đại loạn, anh em họ Triệu có người tên là Triệu Ông dũng lược hơn người, được mọi người suy tôn quy phục, kết thông với bọn Nam Chiếu nước Bà Dịch, chia đầu nguồn bờ biển thành 2 lộ: Từ Quỳ Châu đến Diễn Châu là lộ Nhứ La; Từ Sắt Châu đấn Mãn Châu là lộ Lâm An, phía Nam giáp biển đến Hoành Sơn và đến phía Đông nước Bà Dịch. Tấn ra lệnh đem quân Tào Cam đánh họ nhưng không thắng. Bọn Nam Chiếu thường xâm lược các nơi nước An Nam, thú lệnh không thể chế ngự được.
Đối chiếu theo Sử thuyết Hùng Việt thì Nam Triệu Vương nổi dậy thời Tây Hán à khởi nghĩa của Trưng Vương cùng con cháu nhà Triệu vì Trưng Vương Ả Lã là con gái Lữ Gia và là hoàng phi của Triệu Vệ Dương Vương. Còn Triệu Ông thời Tấn là Mạnh Hoạch, hoạt động ở vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Việt lúc này. Mạnh Hoạch do đó cũng là con cháu họ Triệu nước Nam Việt và là thủ lĩnh của Nam Chiếu từ thời Hán – Tấn.
Thêm một ý là khởi nghĩa của Khu Liên (Khu Đạt) vào cuối thời Đông Hán nổ ra ở Tượng Lâm, lập nước Lâm Ấp, được nhận định cũng là khởi nghĩa của Triệu Quốc Đạt. Rất có thể Khu Liên cũng là dòng dõi nhà Triệu và cơ sở ban đầu của khởi nghĩa là vùng đất của Nam Triệu – Nam Chiếu (Tây Bắc và Bắc Trung Bộ). Khu Liên mất (hy sinh?), phần đất này chuyển cho Mạnh Hoạch (Triệu Ông Lý) cai quản. Phần Đông Bắc bộ do Sỹ Nhiếp họ Phạm, là cháu bên ngoại của Khu Liên tiếp quản.

Kim Lan 2Đình Kim Lan (Gia Lâm, Hà Nội).

Cuối cùng, một điểm đáng lưu ý trong các sắc phong cho Cao Biền ở Kim Lan thì vị này được gọi là Cao Minh. Minh và Hiển cùng một nghĩa là sáng, rõ. Có thể vì thế mà Cao Biền còn được gọi là Cao, người Bắc quốc trong các di tích thờ Cao Sơn đại vương, vị thần trấn Nam của Thăng Long và Hoa Lư.
Những ghi chép, truyền khẩu của người Việt về các nhân vật lịch sử được thờ phụng qua hàng ngàn năm chắc chắn có những lầm lẫn. Ả Lã Trưng Vương, vị vua bà Nam Triệu vương, tổ của nước Nam Chiếu thời Hán – Tấn lại được ghép thành vợ của Cao Vương Biền, người đã đánh dẹp Nam Chiếu trên đất Tĩnh Hải. Gạt đi lớp bụi mờ của thời gian, thì những thần tích, những câu chuyện đó vẫn mang cốt lõi lịch sử chân thực.
Tài liệu tham khảo:
Trần Văn Mỹ. Làng Đại Lan những nét văn hóa xưa. NXB Văn hóa thông tin, 2010.
Trần Văn Mỹ. Làng Kim Lan xưa và nay. NXB Văn hóa thông tin, 2010.
Tuyển tập thần tích. Tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội. NXB Hà Nội, 2010.

Hưng Đạo đại vương và Tam tứ phủ

Nghi monĐền Trần Thương thờ Trần Hưng Đạo ở Lý Nhân, Hà Nam.

Trong tín ngưỡng thờ Trần triều thì người được thờ chính là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn, vị tướng tài từng hai lần đánh thắng quân Nguyên Mông. Nhưng điều khá lạ là ở các nơi thờ Hưng Đạo đại vương, hai ban thờ hai bên thường lại thờ các thần Nam Tào và Bắc Đẩu. Thậm chí như ở khu vực Vạn Kiếp của Hải Dương, đền thờ Nam Tào và Bắc Đẩu còn được xây dựng riêng hai bên đền thờ Trần Hưng Đạo ở giữa.

Nam TaoBan thờ Nam Tào ở đền Trần Thương.

Nam Tào Bắc Đẩu là những vị thần quan nắm sổ sinh sổ tử ở dưới Địa ngục. Vị vua ở giữa mà 2 vị này theo hầu như thế phải là người cai quản Địa phủ, tức Diêm vương. Cách thực đặt Nam Tào và Bắc Đẩu ở hai bên Hưng Đạo đại vương cho thấy tín ngưỡng xưa cho rằng chính Hưng Đạo đại vương là người cai quản Địa phủ hay là Vua cha của Địa phủ.
Thông tin về Trần triều còn cho rằng: “Khi hóa Đức thánh đã về thiên đình nhận chỉ của Ngọc Hoàng phong là Cửu Thiên Vũ Đế, với sứ mệnh diệt trừ yêu ma ở cả 3 cõi thiên đình, trần gian, âm phủ”. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận định ở trên, rằng Hưng Đạo đại vương là vị vua của Địa phủ. Cửu thiên không phải là 9 tầng trời như Cửu trùng. Cửu là số 9 chỉ hướng Tây, hướng của sự quy về, của cõi người đã khuất. Cửu Thiên tức là trời Tây hay Địa phủ.
Thậm chí có chỗ còn cho rằng: “Hưng Đạo đại vương được tôn là Ngọc Hoàng thượng đế, vị giáo chủ Đạo Giáo Việt Nam“. Rõ ràng Trần Hưng Đạo là một Đạo sĩ, thì mới có thể làm giáo chủ Đạo Giáo. Trần Quốc Tuấn được tôn thờ không phải chỉ do tài đánh giặc. Hưng Đạo nghĩa là chấn hưng Đạo Giáo. Trần Quốc Tuấn vốn là một đạo sĩ, có thể từ trước khi quản lý quân đội.
Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương là tác giả của tác phẩm Vạn Kiếp tông bí truyền thư (萬劫宗秘傳書), còn gọi là Vạn Kiếp binh thư. Về cuốn này còn lưu được bài tựa của Trần Khánh Dư như sau:
“Phàm người khéo cầm quân thì không cần bày trận, khéo bày trận thì không cần giao chiến, khéo giao chiến thì không thể thất bại, khéo thất bại thì không thương vong. Xưa kia, Cao Dao làm chức sĩ sư mà mọi người không dám trái mệnh, Văn Vương và Vũ Vương nhà Chu là bậc thầy về văn và về võ, ngấm ngầm sửa đức để khuynh loát quyền bính của nhà Thương mà lấy nghiệp vương. Đó đều có thể gọi là những người giỏi cầm quân, không cần bày trận vậy. Vua Thuấn múa lá mộc và lông trĩ mà họ Hữu Miêu tự mình tìm đến, Tôn Vũ nước Ngô đem mỹ nhân trong cung thử tập trận mà phía tây phá nước Sở hùng cường, phía Bắc ra uy với nước Tần nước Tấn, nổi tiếng khắp chư hầu. Đó đều có thể gọi là những người giỏi bày trận, không cần giao chiến vậy. Cho đến Mã Ngập nước Tấn dựa vào bát trận đồ chuyển đánh nghìn dặm, phá được Thụ Cơ Năng mà lấy lại Lương Châu. Thế gọi là người giỏi giao chiến không bao giờ thất bại vậy.
Cho nên, trận nghĩa là bày ra, là khéo léo. Ngày xưa, vua Hiên Viên lập ra phép “tỉnh điền” để đặt binh chế, Gia Cát Lượng xếp đá bên sông để làm bát trận, Vệ công sửa lại làm trận Lục Hoa, Hoàn Ôn định ra trận Xà Thế, trước sau đều có trận đồ nổi tiếng, trình bày tuần tự, thành phép tắc rõ ràng. Nhưng người đương thời ít ai thông hiểu, muôn vàn đầu mối nhìn vào dường như rối loạn, chưa từng nắm được lẽ biến dịch bên trong. Ví như những phép tắc và suy luận của Lý Thuyên, người sau không ai hiểu nghĩa là gì.
Vì thế, Quốc công ta bèn so sánh, kê cứu trận đồ và binh pháp của các nhà, tổng hợp lại thành một bộ sách. Tuy chép cả những điều chi tiết, nhưng người sử dụng thì nên bỏ bớt những chỗ rườm, tóm lấy thực chất. Rồi lấy năm hành ứng với nhau, chín cung câu với nhau, phối hợp cương và nhu, xoay vần chẵn và lẽ, không làm hỗn loạn âm dương và thần sát, phương lợi và sao tốt, hung thần và ác tướng, ba cát và năm hung, việc nào việc ấy thực phân minh rõ rệt. Quốc công lại còn thêm bớt với chiến thuật của thời Tam đại, nhờ đó trăm trận trăm thắng. Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh. Rồi ông đem sách này dạy bảo con em làm gia truyền, không tiết lộ cho người ngoài biết. Lại có lời dặn rằng: “Sau này con cháu và bề tôi phò tá của ta có học được bí thuật này thì nên lấy đầu óc sáng suốt, linh hoạt mà thực hành và sắp đặt nó, chứ không nên lấy đầu óc cứng nhắc, tối tăm mà cất giữ và lưu truyền. Nếu trái đều đó thì sẽ mang vạ vào thân, lại hại lây đến cả con cháu. Đó gọi là tiết lậu cơ trời vậy
.”
Bài tựa của Trần Khánh Dư cho Vạn Kiếp tông bí truyền thư toàn nói tới các vua Trung Hoa từ thời cổ đại: Cao Dao, Chu Văn, Vũ, Thuấn, Hiên Viên… Vậy là “truyền thư này” được xây dựng trên nền tảng tri thức của Trung Hoa cổ đại và quan niệm thời Trần cho thấy Trung Hoa cổ đại là lịch sử cổ của người Việt.
Kỳ lạ nhất là câu: “Cho nên đương thời phía bắc làm cho Hung Nô phải sợ, phía tây làm cho Lâm Ấp phải kinh“. Nhà Trần Đại Việt sao lại Bắc giáp Hung Nô, Tây giáp Lâm Ấp? Hung Nô ở phía Bắc Đại Việt là nước nào? Lâm Ấp ở phía Tây Đại Việt là chỗ nào?
Trong bối cảnh của nước Đại Việt thời Trần thì rõ ràng Bắc Hung Nô ở đây là chỉ quân Mông Thát. Quân Nguyên được gọi là giặc Hung Nô. Còn Tây Lâm Ấp hẳn là chỉ khu vực đất Lào và Tây Bắc Việt. Đây vốn là đất thuộc Nam Chiếu. Vậy là Lâm Ấp không chỉ là miền Trung Việt, nơi mà thời Trần đã là nước Chiêm Thành. Lâm Ấp mãi tới thời Lý Trần vẫn dùng chỉ khu vực Tây Bắc và Lào.
Từ bài tựa của Trần Khánh Dư ta thấy Trần Hưng Đạo là người rất thông hiểu Dịch lý và đã vận dụng nó vào thực tế chiến tranh (binh thư) một cách thành công. Điều này minh chứng thêm khả năng ông là một Đạo sĩ, nghiên cứu Dịch học từ trước khi nắm giữ quân đội.
Trong quan niệm xưa, Ngọc Hoàng thượng đế là người đã qua vạn kiếp tu hành. Như thế tên “Vạn Kiếp” ở đây có thể nghĩa là chỉ Ngọc Hoàng. Mà như trên đã dẫn, dân gian coi Hưng Đạo đại vương là Ngọc Hoàng, có quan Nam Tào Bắc Đẩu theo hầu. Vạn Kiếp tông bí truyền thư như thế có thể hiểu là cuốn sách bí truyền của dòng họ Trần (Trần Hưng Đạo = Ngọc Hoàng = Vạn Kiếp).
Đôi câu đối chính điện đền Trần Thương ở Lý Nhân, Hà Nam:
陳迹補豐碑鴻貉江山鳴厘劎
蒼煙懷萃廟龍珠水月駐行旌
Trần tích bổ phong bi, Hồng Lạc giang sơn minh lý kiếm
Thương yên hoài tụy miếu, long châu thủy nguyệt trú hành tinh.
Dịch:
Vết Trần cộng bia hoa, Hồng Lạc núi sông vang kiếm lệnh
Khói Thương nhớ miếu rộng, giếng rồng trăng nước dựng cờ hành.

IMG_5124 (2)Đền Tam phủ ở thành phố Bắc Ninh.

Bàn thêm về vấn đề hình thành Tam và Tứ phủ. Tam phủ được biết là có trước Tứ phủ, nhưng hiện không rõ Tam phủ ban đầu gồm những phủ nào và gồm những vị thần nào. Khi xuất hiện Tứ phủ thì quá trình thay đổi hệ thống thần điện diễn ra như thế nào?
Hiện tại ở tỉnh Bắc Ninh còn lưu được một số di tích đền Tam phủ như đền ở thành phố Bắc Ninh và ở bến Bình Than (xã Cao Đức, huyện Gia Bình, Bắc Ninh). Những đền này thờ 3 vị vua chí tôn là (theo thông tin của đền ở thành phố Bắc Ninh):

  • Thiên phủ Đại thiên Thiên đế
  • Địa phủ Diêm la Thập điện Minh vương
  • Thủy phủ Đại thiên Long chúa Bát hải Long vương.

IMG_5130 (2)Điện thờ quan Tam phủ.

Như vậy, Tam phủ ban đầu gồm Thiên phủ, Địa phủ và Thoải phủ. Đặc biệt hơn là các phủ này đứng đầu là các vị đế vương chứ chưa có các nữ thần mẫu trong các phủ.
So với hệ thống Tứ phủ hiện nay ta thấy từ Tam phủ sang Tứ phủ đã bổ sung thêm:

  • Mỗi phủ thêm 1 vị mẫu chủ cùng với vua cha của phủ đó.
  • Thêm Nhạc phủ với Mẫu thượng ngàn đứng đầu. Vua cha Nhạc phủ vốn không có mặt trong Tam phủ, trong tứ phủ cũng không hiện hữu một cách rõ ràng.

Có thể thấy Tứ phủ xuất hiện cùng với sự ra đời của thánh mẫu Liễu Hạnh và các phủ đều được bổ sung vai trò thần chủ của các mẫu, song song và thay cho các vị vua cha Tam phủ trước đó. Như thế có thể nói Tứ phủ được gọi là đạo Mẫu vì nó đề cao vai trò của các nữ thần. Trong khi  trước đó Tam phủ chỉ dừng lại ở quan niệm 3 cõi Thiên Địa Thủy do các nam thần đế vương cai quản.
Câu đối ở cổng đền Tam phủ tại thành phố Bắc Ninh:
耿耿鸞輿來法會
森森鶴駕降香筵
Cảnh cảnh loan dữ lai pháp hội
Sâm sâm hạc giá giáng hương diên.
Dịch:
Lấp lánh xe loan đến hội pháp
Trầm trầm giá hạc xuống chiếu hương.

Quan hệ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa: nhận định của Sử thuyết Hùng Việt

Trong bài trích từ sách của tác giả Lâm Thị Mỹ Dung đã dẫn một số ý kiến của các học giả, chủ yếu là các nhà khảo cổ học, bàn về mối liên hệ giữa nền văn hóa Sa Huỳnh với quốc gia Lâm Ấp và Chămpa. Sau đây là một số nhận xét theo Sử thuyết Hùng Việt giúp giải tỏa những vướng mắc trong mối quan hệ phức tạp của giai đoạn hơn 1000 năm lịch sử phương Nam này.
Trước hết là các học giả đều nhất trí, với sức sản xuất của nền văn hóa Sa Huỳnh, không kém gì văn hóa Đông Sơn, thì khu vực này chắc chắn đã phải xuất hiện “Nhà nước”. Nhưng tại sao sử sách không hề ghi chép gì về một nhà nước nào đã tồn tại ở miền Trung Việt Nam vào thời kỳ trước Công nguyên (niên đại của văn hóa Sa Huỳnh)?

Chien Quoc

Vị trí các nước thời Chiến Quốc theo Sử thuyết Hùng Việt.

Sử thuyết Hùng Việt giải đáp rõ ràng câu hỏi này. Khu vực miền Trung Việt cũng như miền Bắc Việt vào thời kỳ Đông Sơn – Sa Huỳnh đã hình thành các nhà nước quân chủ với trình độ phát triển cao. Đây là thời kỳ mà Hoa sử gọi là thời Xuân Thu Chiến Quốc. Các nhà nước lúc này chính là các nước chư hầu của Trung Hoa, bao phủ trên toàn cõi Đông Nam Á. Cụ thể:
– Bắc Việt lúc đó là đất của nhà Đông Chu, nơi có thành Lạc Dương ở Cổ Loa của thiên tử Chu.
– Bắc Trung Bộ (Thanh Nghệ) và Tây Bắc – Lào là đất của nước Lỗ. Nước này vốn là đất phong của Chu Công Đán, quê hương của Khổng Tử, Lỗ Ban.
– Khu vực quãng từ Quảng Bình đến Nha Trang là đất của nước Yên, hoặc còn có tên khác là nước Cam. Cam = Chàm = Chiêm. Hoặc Cam Yên thiết Chiêm. Dấu vết của nước này là địa danh Cam Ranh – ranh giới phía Nam nước Cam. Hoặc trong cái tên An Chiêm mà Trần Nhân Tông từng gọi khi ông đi thăm khu vực Khánh Hòa. Nước này vốn là đất phong của Thiệu Công Thích, vị đại thần lập quốc của nhà Chu.
– Phía Nam của Cam Ranh là nước Phan với các địa danh Phan Rang (Phan Ranh), Phan Thiết… Sử cũ gọi là Phù Nam vì Phù Nam thiết Phan. Đây là nước không thấy nhắc đến trong thời Chiến Quốc, nhưng là đất phong của Tất Công họ Phan, vị quân chủ thứ 3 của Đông Đô nhà Chu. Sử Việt gọi là Phan Tây Nhạc.
Khoảng giữa thời kỳ Sa Huỳnh và Lâm Ấp các nhà khảo cổ biết rõ là có sự xen lẫn thời kỳ các hiện vật “Hán” phương Bắc. Tuy nhiên, sự xen lẫn này không phải bắt đầu vào thời Hán (dù là Tây Hán) mà trước đó 1 triều đại. Nhà Tần đã tấn công diệt Đông Chu từ năm 256 TCN dưới thời Tần Chiêu Tương Vương. Sau đó Tần Thủy Hoàng tiếp tục diệt các nước Lỗ và Yên ở phía Nam. Biên giới phía Nam nhà Tần khi thống nhất lục quốc đã tới miền “Bắc Hộ”, miền nhà cửa quay về hướng Bắc, tức là vùng Nam Trung Bộ Việt. Có thể Tần chưa chiếm tới vùng đất Phan ở xa hơn nữa về phía Nam.

Cac quan thoi TanCác quận cực Nam của nhà Tần.

Trên khu vực này Tần đặt ra các quận gồm:
– Lấy đất Đông Chu đặt thành quận Tam Xuyên hay Long Xuyên, là vùng Bắc Bộ Việt và một phần Quảng Tây.
– Nước Lỗ và một phần phía Bắc nước Yên xưa thành quận Lang Gia (Lang Gia thiết La = Lỗ).
– Hậu duệ nhà Chu được ân sủng đặc biệt của Tần đế, ban cho một vùng đất để sinh sống gọi là Đông Chu quân. Vùng đất này có thể chính là thành Châu Sa (Sa là thủ lĩnh, Châu = Chu) ở Quảng Ngãi.
Cũng vì khu vực Trung Bộ đã thuộc nhà Tần nên sang thời nhà Triệu vùng đất này thuộc luôn về đất của Nam Việt. Ta không hề thấy các vua Triệu cần phải đánh đấm gì ở phía Nam cả mà vẫn có vùng “Nhật Nam” sau đó ở Trung Bộ Việt. Các hiện vật khảo cổ khẳng định giai đoạn “thuộc Hán” hiện diện trên khu vực văn hóa Sa Huỳnh ở Trung Bộ.
Sang đến giai đoạn Lâm Ấp, có điểm quan trọng phải làm rõ. Các sử gia hiện tại đang hết sức sai lầm khi cho rằng Khu Liên khởi nghĩa và lập nước Lâm Ấp chỉ là khu vực Nam Trung Bộ. Chỉ cần điểm qua vài thông tin về khởi nghĩa Khu Liên cũng thấy sự thật không phải thế. Nơi Khu Liên khởi nghĩa được Thiên Nam ngữ lục chép là Tượng Quận. Các tài liệu khác gọi là vùng Tượng Lâm. Khởi nghĩa của Khu Liên đã giết cả thứ sử Giao Châu là Chu Phù. Như vậy Khu Liên không thể khởi nghĩa ở tận Nam Trung Bộ vì ở đó làm gì có Tượng Quận và làm gì có thứ sử Giao Châu nào ở tít trong đó. Khởi nghĩa Khu Liên thực chất nổ ra ở giữa vùng Tượng Quận – Quế Lâm, tức là từ đó đổ về Nam là đất của Lâm Ấp, bao gồm cả Giao Châu, Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ.
Chỉ khi nhận ra điểm kết nối này thì mới giải thích được tính liên tục của văn hóa Sa Huỳnh sang Lâm Ấp. Toàn bộ khu vực phương Nam từ vùng Tượng – Lâm ở Quảng Tây kéo dài xuống tới miền Bắc Hộ xưa của nhà Tần là nước Lâm Ấp của Khu Liên. Khu Liên mất, lịch sử Lâm Ấp lúc này mới tách dòng. Ở phía Bắc (Giao Châu) người kế tục Khu Liên là Sĩ Nhiếp, được nhà Hán buộc phải công nhận là thứ sử Giao Châu 7 quận gồm cả vùng Quảng Đông, Quảng Tây. Phần Tây Bắc và có thể cả Bắc Trung Bộ thuộc một thủ lĩnh khác trong cùng liên minh Lâm Ấp là Mạnh Hoạch.

Lam Ap

3 phần của Lâm Ấp thời hậu Khu Liên.

Ở phần cực Nam của Lâm Ấp, Sĩ Nhiếp giao cho con của mình là Phạm Hùng cai quản. Tộc phả họ Phạm ở Quảng Ngãi chép là Đại lang Phạm Duy Hinh, con Phạm Duy Minh ở Đằng Châu (Giao Châu), làm vua cai quản tại thành Châu Sa – Quảng Ngãi.
Các nhà khoa học đã nhận định rất chính xác rằng Lâm Ấp ban đầu vốn là một quốc gia nói tiếng Nam Á, thuộc dòng Âu Lạc (xem bài đã dẫn của Lâm Thị Mỹ Dung). Bởi vì Lâm Ấp do Phạm Hùng cai quản hiển nhiên là dùng tiếng như ở Giao Châu (Phạm Hùng là con của Sĩ Nhiếp – Phạm Tu).
Một phát hiện gần đây cho biết Sĩ Nhiếp là một tu sĩ theo đạo Bà La Môn, thờ Tứ pháp, là đặc tính của thần Đế Thích – Indra trong Bà La Môn giáo. Khu vực mà Phạm Hùng cai quản do vậy cũng theo đạo này. Rất có thể cái tên Indrapura (chỉ phần đất/tộc người phía Bắc Chiêm Thành) là bắt nguồn từ tên thần Indra của Bà La Môn.
Sau khi Sĩ Nhiếp mất, Giao Châu thuộc về nhà Đông Ngô của Tôn Quyền. Hậu duệ của Sĩ Nhiếp bị Tôn Quyền phế bỏ. Với sự phát triển của dòng Thiền Phật giáo như Khương Tăng Hội ở Luy Lâu thì Giao Châu chuyển sang tín Phật. Trong khi đó khu vực còn lại của Lâm Ấp xưa ở Nam Trung Bộ do họ Phạm nắm giữ,  không thuộc Đông Ngô, vẫn tiếp tục truyền thống cũ của đạo Bà La Môn. Chỉ từ lúc này khái niệm Lâm Ấp mới dùng để chỉ riêng vùng Nam Trung Bộ Việt.
Họ Phạm ở Nam Trung Bộ sau đó nhiều lần tiến đánh đòi lại đất đai cha ông ở miền Bắc, cũng như mở rộng thêm các diện tích xa hơn về phía Nam. Lâm Ấp họ Phạm tồn tại mãi tới khi tướng Tùy là Lưu Phương dẫn quân tiến đánh năm 605 mới tạm chấm dứt. Cho tới lúc đó rõ ràng ngôn ngữ chính của Lâm Ấp là tiếng Việt – Nam Á.
Cần nói thêm rằng Nam Trung Bộ Việt là nơi hội tụ các ngôn ngữ của cả 2 dòng Nam Á và Nam Đảo rất sâu rộng. Ở đây (như trên Tây Nguyên) có thể bắt gặp các tộc người sống ngay cạnh nhau nhưng thuộc 2 nhóm ngôn ngữ khác nhau này. Đồng thời, tuy gọi là khác nhau nhưng mức độ hòa lẫn, giao thoa của các ngôn ngữ địa phương này lại rất lớn. Ngay tiếng Chăm ngày nay cũng có rất nhiều yếu tố Nam Á. Phải nói rằng Nam Trung Bộ là nơi xuất phát gốc của cả 2 dòng ngôn ngữ Nam Á và Nam Đảo. Vì thế, ở đây không thể hoàn toàn dùng ngôn ngữ để xác định lịch sử hay dân tộc được, khi không thể phân biệt đâu là Nam Á, đâu là Nam Đảo trong ngôn ngữ, ai là ngọn, ai là gốc.
Dù như thế nào thì từ góc nhìn của Sử thuyết Hùng Việt văn hóa Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa là sự tiếp nối và phát triển liên tục. Chính sự phát triển theo tiến trình của lịch sử mới dẫn đến những phân hóa về dân tộc và ngôn ngữ như ngày nay. Nhưng tất cả tộc Chăm và Việt vốn đều cùng một nguồn gốc ban đầu. Vùng Trung Bộ Việt vốn là đất phong Lỗ, Yên, Tề, Phan của những đại công thần lập quốc của nhà Chu. Tức là tất cả cùng một bà mẹ Âu Cơ sinh Bách Việt dưới thời thiên tử Chu của thiên hạ Trung Hoa.

Quan hệ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa

Trích sách SA HUỲNH – LÂM ẤP CHĂMPA của Lâm Thị Mỹ Dung (2017).
LTMD1.2. Quan hệ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa: Kết quả nghiên cứu và vấn đề.
… Bàn về những mối quan hệ Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa sớm đã có trên mười ý kiến và cũng khoảng chừng nấy đánh giá về chuỗi văn hóa – lịch sử Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Chămpa, tựu trung lại chúng có thể được nhóm vào hai dạng nhận định chính, dạng thứ nhất cho rằng Lâm Ấp – Chămpa có nguồn gốc từ Sa Huỳnh và dạng thứ hai thì ngược lại.
Dạng thứ nhất: Đây là những ý kiến thiên về sự chuyển tiếp rõ ràng từ thời Sa Huỳnh sang thời Lâm Ấp – Chămpa. Đại bộ phận các nhà khoa học đại diện cho ý kiến này chủ yếu dựa vào quan điểm duy vật lịch sử, duy vật biện chứng, lôgic sử học… nhưng chưa đưa ra được nhiều những tài liệu khảo cổ học cụ thể do tình trạng thiếu vắng nghiên cứu khảo cổ học cư trú Chămpa những năm trước đây.

Hà Văn Tấn là người đại diện tiêu biểu cho ý kiến về dòng chảy văn hóa nối tiếp và liên tục giữa Sa Huỳnh và Chămpa khi ông cho rằng chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh nói tiếng Nam Đảo hay Mayo-Polynesien và văn hóa Sa Huỳnh kéo dài đến giáp Công nguyên. Nước Lâm Ấp của Khu Liên thành lập vào cuối thế kỷ 2 theo thư tịch cổ Trung Hoa theo ông chắc chắn là Chămpa, quốc gia của người Chăm, những chứng cứ khác là tấm bia Võ Cạnh đề cập đến quốc gia với người sáng lập là Sri Mara. Hà Văn Tấn cho rằng không thể đồng ý với quan điểm cho rằng người Chăm đã đuổi cư dân Sa Huỳnh đi để lập ngay các quốc gia của mình, theo ông, cách giải thích hợp lý nhất là cho rằng chủ nhân văn hóa Sa Huỳnh là tổ tiên trực tiếp của những cư dân đã xây dựng các quốc gia Chămpa. Vào khoảng gần Công nguyên, cư dân Sa Huỳnh nói một thứ ngôn ngữ Nam Đảo không khác nhiều lắm thứ tiếng Chăm trên bia Đông Yên Châu thế kỷ thứ 4, nhưng trong khu vực văn hóa Sa Huỳnh, còn có những nhóm Nam Á cổ mà sự tiếp xúc lâu dài với các ngôn ngữ này đã làm cho tiếng Chàm có nhiều yếu tố Nam Á.
Đáng lưu ý là ý kiến sau đây của ông…: “Sức sản xuất của cư dân Sa Huỳnh không kém gì Đông Sơn. Phải chăng từ trong lòng văn hóa Sa Huỳnh, Nhà nước đã xuất hiện? Và quốc gia Chăm mà Khu Liên đã lập nên, phải chăng chỉ là sự tái sinh, sau một thời kỳ bị người Hán xâm chiếm? và phải chăng quốc goa Chàm ở phía Nam đèo Cù Mông, nơi quá xa sự khống chế của người Hán, là bộ phận vẫn tiếp nối nhà nước thời Sa Huỳnh?”…

Những ý kiến nhận định dạng thứ hai:
Diệp Đình Hoa trong nhiều bài nghiên cứu của mình luôn kiên trì quan điểm Trung và Nam Trung bộ thời sơ sử thuộc không gian văn hóa Việt cổ và chủ nhân của Lâm Ấp là một bộ phận người Âu Lạc, Chămpa sau đó thay thế Lâm Ấp. Theo ông:
i. Đất Việt Thường thị thời Hùng Vương là vùng Nghĩa Bình – Phú Khánh (…).
ii. Gốc nguồn của cư dân Lâm Ấp – Hoàn Vương liên quan đến những người Lạc Việt. Sau khi Âu Lạc bị diệt thì chỉ còn một bộ phận nhỏ của cư dân quận Nhật Nam giữ được vị trí độc lập của mình qua sự thành lập nước Lâm Ấp. Trước sự bành trướng xâm lược của phong kiến phương Bắc, chỉ có cư dân Văn Lang ở huyện cuối cùng của quận Nhật Nam là giữ được độc lập của mình qua sự thành lập nước Lâm Ấp;
iii. Nhà nước Chămpa thay thế nhà nước Lâm Ấp và sự phát sinh, hưng thịnh của vương quốc Chămpa đã làm cho lớp cư dân này (tức cư dân Lạc Việt, chủ nhân của Lâm Ấp) lên vùng Tây nguyên hoặc đi ra vùng biển cả mênh mông. Tuy vậy, theo ông vẫn có mối liên hệ giữa Lâm Ấp với Chămpa vì những thành tựu mà người Lâm Ấp, cư dân cũ của quận Nhật Nam thời Hùng Vương, tiếp thu từ Ấn Độ, sau này đã được vương quốc cổ Chiêm Thành phát huy một cách sáng tạo…
Không ít người thường có nhận định văn hóa Sa Huỳnh là nguồn gốc trực tiếp của văn hóa Chămpa, nhưng thực tế khảo cổ học với sự kết thúc của văn hóa Sa Huỳnh còn có một khoảng cách vài thế kỷ mới đến sự hình thành vương quốc Chămpa. Đây chỉ là thời kỳ liên minh, liên hợp của nhiều tiểu quốc có nhiều nét tương đồng về văn hóa. Những cư dân của các tiểu quốc này có thể là người tiền Chămpa, hoặc những người thuộc ngữ hệ Nam Á, có những nhóm chịu tác động của Trung Quốc, có những nhóm chịu ảnh hưởng của Ấn Độ” (Diệp Đình Hoa)…

Ý kiến của Nguyễn Duy Hình:… địa bàn của Lâm Ấp chủ yếu phân bố từ Hoành Sơn đến đèo Cả. Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận không thuộc nước Lâm Ấp mà chỉ là bộ phận của nước Chiêm Thành tức Chămpa, cộng đồng Bắc – Lâm Ấp chịu ảnh hưởng của văn hóa Lạc Việt, văn hóa Trung Hoa sâu đậm, cộng đồng này cũng đã chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ sâu đậm hơn các quận Cửu Chân, Giao Chỉ phương Bắc.
… người Sa Huỳnh không phải là người Tiền Chămpa mà thị tộc Dừa và thị tộc Cau mới là người Tiền Chămpa…

Ý kiến của M. Vickery: trong công trình… Champa Revised…:
i. Lâm Ấp về mặt ngôn ngữ là Mon-Khmer do nhóm tộc người chính của Lâm Ấp là Mon-Khmer, có thể là nhánh Katuic, hay thậm chí nhánh của Vietic hay Việt – Mường.
ii. Lịch sử Lâm Ấp cần được tách ra khỏi Chămpa sớm.
iii. Chămpa chưa bao giờ thống nhất và những ghi chép chỉ đề cập tới một phần của Chămpa và không thể dùng tài liệu của từng phần ngoại suy cho phần còn lại.
iv. Từ ý trước, Chămpa cần được xem xét như thực thể tồn tại trong thời gian của ít nhất là ba vùng quan trọng ngang nhau. Đó là: 1. Bắc – gồm thung lũng sông Thu Bồn (Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Đồng Dương / Indrapura và mở rộng ở một khoảng thời gian nào đó đến Quảng Trị và Quảng Bình; 2. Nha Trang và 3. Phan Rang / Panduranga…

Sĩ Nhiếp, tục thờ Tứ pháp và đạo Bà La Môn

Truyện Man Nương trong Lĩnh Nam chích quái kể (lược trích):
Thời Hiến Đế nhà Hán, quan thái thú là Sĩ Nhiếp đóng đô thành ở bờ phía Nm sông Bình Giang (nay là Thiên Đức Giang). Phía Nam thành đó có chùa thờ Phật, có vị sư từ phương Tây tới, hiệu là Già La Đồ Lê trụ trì ở đấy, có phép đứng một chân, mọi người đều kính phục gọi là tôn sư, kéo nhau tới học đạo.
Hồi ấy có người con gái tên là Man Nương… theo học đạo Phật… Một đêm…  Man Nương ngủ ở giữa cửa, sư Già La bước qua mình Man Nương. Man Nương tự nhiên động thai… Đầy tháng sinh ra một đứa con gái, tìm sư Già La mà trả. Đêm đến, sư Già La bế đứa con gái tới ngã ba đường thấy một cây phù dung cành lá xum xuê, có một cái hốc sâu mà sạch sẽ, sư đặt đứa trẻ vào mà nói: “Ta gửi con Phật, mi giữ lấy sẽ thành Phật đạo”.
Già La, Man Nương từ giã ra về, Già La cho Man Nương một cây trượng mà bảo: “Ta cho nàng vật này, nàng về nhà nếu gặp năm đại hạn thì lấy trượng cắm xuống đất, lấy nước cứu sinh dân”. Man Nương cung kính bái lĩnh mà về ở trong chùa. Gặp năm đại hạn, nàng lấy trượng cắm xuống đất, tự nhiên nước cuồn cuộn chảy ra, dân được nhờ ơn.
Khi Man Nương ngoài chín mươi tuổi là lúc cây phù dung bị đổ, trôi ra ở bến sông trước cửa chùa, quanh quẩn ở đấy mà không trôi đi. Dân thấy thế, định bổ làm củi nhưng rìu nào cũng đều bị gãy, bèn đưa hơn ba trăm người trong làng ra kéo cây gỗ lên mà không chuyển. 
… Dân mời Man Nương bái lễ, thuê dân chài lặn xuống nước vớt lên, rước vào tự điện, đặt vào bên trong tượng Phật, tượng Phật tự nhiên trông như mạ vàng. Sư Già La đặt Phật hiệu là: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Long, tứ phương cầu đảo không điều gì không ứng.

Khau Da LaTượng Khâu Đà La ở chùa Dâu.

Ngôi chùa được nói đến ở đây là chùa Dâu tại Thuận Thành, Bắc Ninh, cạnh trung tâm Luy Lâu, trị sở Giao Châu thời Sĩ Nhiếp. Cổ Châu Phật bản hạnh của chùa Dâu kể cụ thể hơn truyền thuyết về Tứ pháp ở đoạn cuối:
Đêm ấy, Thái thú Sĩ Nhiếp ở thành Liên Lâu nằm mộng thấy chư tiên bảo phải lấy cây phù dung đó tạc bốn pho tượng để thờ, gọi là “Tứ Pháp”. Thái thú cho mời những người thợ thuộc dòng họ Đào đến cưa cây phù dung để tạc bốn pho tượng.
Tạc xong tượng đầu tiên thì thấy mây ngũ sắc vần vũ, nên gọi là “Pháp Vân”, tượng thứ hai làm xong thì mưa xuống, nên gọi là “Pháp Vũ”, tượng thứ ba làm xong thì sấm nổ, nên gọi là “Pháp Lôi”, tượng thứ tư làm xong thì thấy có chớp nhoáng trên trời, nên gọi là “Pháp Điện”.
Các chùa thờ Tứ pháp hiện còn ở khu vực Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội với các lễ hội hàng năm khá lớn là di tích của truyền thuyết này. Nhiều tài liệu Phật giáo cho rằng đây là một chuyện đánh dấu sự du nhập của đạo Phật nước ta ở thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên và Tứ pháp là sự dung hòa giữa tín ngưỡng dân gian của nền văn minh nông nghiệp với đạo Phật.

Phap Van

Ban thờ và tượng Pháp Vân ở chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh).

Tuy nhiên, ở các nơi thờ và trong lễ hội Tứ pháp, vai trò của đạo Phật rất mờ nhạt. Để hiểu đúng hơn về tín ngưỡng này, GS Đinh Gia Khánh trong cuốn Văn hóa dân gian Việt Nam trong bối cảnh văn hóa Đông Nam Á đã có một khám phá quan trọng về tục thờ Tứ pháp. GS nhận định rằng mây mưa sấm chớp vốn là các thuộc tính của thần Indra, một vị thần quan trọng nhất của đạo Bà La Môn (vua của các thần). Sau này Bà La Môn giáo chuyển hóa thành Phật giáo thì vai trò của thần Indra mờ đi.
Vị thần dông tố Indra của Bà La Môn giáo ở Việt Nam được chuyển thành Đế Thích, thường gặp trong các chùa thờ Phật bên cạnh tượng Cửu Long. Đế Thích cũng có đền thờ riêng như chùa Vua ở Hà Nội và một số đền thờ khác ở Hưng Yên, gắn với câu chuyện nổi tiếng hồn Trương Ba, da hàng thịt. Tứ pháp và tục thờ Đế Thích chính là dấu vết của Bà La Môn giáo du nhập vào nước ta dưới thời kỳ Sĩ Nhiếp.
Với khám phá này ta thấy nhà sư Khâu Đà La thực ra là một tăng lữ Bà La Môn, chứ không phải đạo Phật. Phép đứng một chân (tu theo kiểu Yoga?) cũng là cách tu của Bà La Môn giáo, không phải Phật giáo.
Quan trọng hơn, theo như Cổ Châu phật bản hạnh thì chính Sĩ Nhiếp là người đã cho tạc tượng và lập các đền thờ Tứ pháp. Nói cách khác thì Sĩ Nhiếp có thể là người theo Bà La Môn giáo.

Lang Si Nhiep

Lăng Sĩ Nhiếp.

Trong lá thư của Viên Huy, vốn là quan nhà Hán bấy giờ đang ở Giao Châu, gửi cho Thượng thư lệnh nhà Hán năm Đinh Hợi, Hán Kiến An năm thứ 12 (207) có viết về Sĩ Nhiếp:
“Khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người; vợ cả, vợ lẽ đi xe che kín, bọn con em cưỡi ngựa dẫn quân theo hầu, người đương thời ai cũng quý trọng, các man di đều sợ phục, dẫu Úy Đà cũng không hơn được.”
Người Hồ đi sát bánh xe Sĩ Nhiếp để đốt hương tới hàng chục người. Người Hồ ở đây là người Ấn Độ. Rõ ràng đây không phải các nhà sư của đạo Phật vì đạo Phật không hành lễ kiểu đốt hương đi theo xe như vậy. Đây là các tăng lữ Bà La Môn đến từ Ấn Độ mà Khâu Đà La (Gia La Đồ Lê) của Truyện Man Nương có thể là một trong số đó.

Con cuu

Cừu đá ở chân tháp Hòa Phong trong chùa Dâu.

Một biểu hiện khác khá lý thú là hiện ở chùa Dâu và tại lăng mộ Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh) có tượng đá con cừu ở mỗi nơi. Truyền sử kể rằng: vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của cả nước ta, có vị sư người Tây Thiên sang nước ta tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến Lăng Sĩ Nhiếp, dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ.
Vị sư từ Tây Thiên (Ân Độ) liên quan đến chùa Dâu và Sĩ Nhiếp này rõ ràng là Khâu Đà La. Hình tượng con cừu là biểu trưng của Bà La Môn giáo, gắn với khát vọng cầu mưa ở những nơi thảo nguyên khô cằn. Giáo học Bà La Môn của Khâu Đà La được truyền cho 2 người: Man Nương và Sĩ Nhiếp. Đó là lý do tại sao có tượng 2 con cừu ở đây.

Con Cuu lang Si NhiepCừu đá bên lăng mộ Sĩ Nhiếp.

Trong lá thư của Viên Huy nói về Sĩ Nhiếp ở trên có nêu: “các Man Di đều sợ phục”. Man Di ở đây là ở chỗ nào? Man Di thời Sĩ Nhiếp đối với Giao Châu thì chỉ có thể là khu vực Tây Bắc và Trung Bộ nước ta, hay là địa bàn của nước Lâm Ấp. Vế đối trên đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á còn ghi nhận việc này:
豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp.
Dịch: Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Khu vực Lâm Ấp ở Trung bộ nước ta thì rõ ràng chịu ảnh hưởng của Ấn Độ giáo (Bà La Môn) từ rất sớm, chính cũng vào khoảng thời gian trị vì của Sĩ Nhiếp. Phải chăng hình ảnh Man Nương trong truyện là chỉ Man Di – Lâm Ấp, nơi đã tiếp nhận Bà La Môn giáo của thời kỳ này?
Câu đối ở chùa Dâu:
勝地古來傳莫狀
崇祠屹立自王仙
Thắng địa cổ lai truyền Mạc trạng
Sùng từ ngật lập tự Vương tiên.
Dịch:
Đất đẹp cổ xưa truyền trạng Mạc
Đền nghiêm sừng sững từ tiên Vương.
Vế đối đầu nói tới Mạc Đĩnh Chi đã góp phần dựng lại chùa Dâu. Vế đối sau gọi Sĩ Nhiếp (Vương) là bậc “tiên”.
Cần nói thêm những hiểu biết mới về nhân vật Sĩ Nhiếp. Sĩ Nhiếp thực ra mang họ Phạm, được truyền thuyết Việt thờ dưới tên danh tướng Phạm Tu và là vị Vua Mây họ Phạm ở Đằng Châu (Hưng Yên). Nay ta hiểu tại sao lại gọi là Vua Mây – liên quan đến tục thờ Tứ pháp và thần dông tố Indra – Đế Thích.
Phạm Tu hay Phạm Tô còn là vị thần sông Tô Lịch, thành hoàng của thành Thăng Long. Sĩ Nhiếp từng được phong là Long Biên hầu, rồi Long Độ đình hầu. Dưới thời Trần, do kiêng tên của Trần Thủ Độ nên Long Độ được đọc thành Long Đỗ. Thần Long Đỗ hay Tô Lịch chính là Phạm Tu – Sĩ Nhiếp.
Cái tên Phạm Tu liệu có phải muốn nói rằng Sĩ Nhiếp là một tu sĩ họ Phạm, hoặc là người tu theo “Phạm giáo”. Phạm Thiên là tên của Đế Thiên, vị thần tối cao trong Bà La Môn giáo. Phạm Thiên và Đế Thích là 2 vị thần tối cổ của tôn giáo này.
Họ Phạm này của Sĩ Nhiếp cũng là họ Phạm của các vua Lâm Ấp. Sau thời Khu Liên lập nước Lâm Ấp, Phạm Hùng, cháu bên ngoại của Khu Liên lên ngôi cai quản Lâm Ấp. Phạm Hùng ở Quảng Ngãi được gọi là Đại lang Phạm Duy Hinh, nay còn đền thờ ở Bình Sơn. Phạm Đại lang là con của Đằng Châu họ Phạm, tức là cùng gia đình với Sĩ Vương. Lâm Ấp (Trung Bộ) lúc này thực chất là một tiểu quốc trực thuộc cai quản của Sĩ Nhiếp. Do vậy câu đối ở đền Tam Á mới nói: “khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp”.
Có nhiều ý kiến cho rằng họ Phạm của các vua Lâm Ấp là lấy theo Ấn Độ giáo (tức là theo Phạm Thiên – vua). Điều này trở nên hợp lý khi nay nhận ra rằng Ấn Độ giáo (Bà La Môn) đã du nhập vào Lâm Ấp và Giao Châu dưới thời Sĩ Nhiếp, vào khoảng cuối thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên. Truyền thuyết về Tứ pháp với mối quan hệ Sĩ Nhiếp (Giao Châu) – Man Nương (Lâm Ấp) – Khâu Đà La (Bà La Môn giáo) là “di ảnh” của sự kiện này.

Góp phần nhận thức minh văn thời Lưu Tống phát hiện tại nghè thôn Thanh Hoài (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Tư liệu từ nguồn của Pham Lê Huy:
Tham luận Hội nghị Thông báo Hán Nôm 2014
 
Phạm Lê Huy
Khoa Đông phương học, Trường ĐHKHXH&NV
Mở đầu
          Tháng 10 năm 2013, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các cán bộ của Bảo tàng Bắc Ninh đã phát hiện một tấm bia cổ tại Nghè thôn Thanh Hoài (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Tấm bia bao gồm 2 bài minh khác nhau. Bài minh ở mặt trước, theo khảo sát của ThS. Bằng có niên đại năm Kiến Hưng thứ 2, nhiều khả năng là năm 314. Tuy nhiên, nhiều chữ trong bài minh mặt trước này đã bị mờ nên không có nhiều thông tin. Bài minh ở mặt sau có ghi niên đại năm Nguyên Gia thứ 27 (450) thời Lưu Tống (Tống Nam Triều).
          Liên quan đến tấm bia này, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và một số học giả khác đã có những khảo cứu hết sức quan trọng về niên đại và nội dung[1]. Trong bài viết này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đó, chúng tôi xin được bổ sung một số ý kiến góp phần nhận thức sâu hơn về minh văn ở mặt sau tấm bia.
1. Nhận thức về cách ghi niên đại trong minh văn
          Trong phần minh văn ở mặt sau bia, chúng ta có thể đọc được hai niên đại. Niên đại thứ nhất là “Nguyên Gia chấp thất niên thập nguyệt thập nhất nhật” 元嘉廿七年十月十一日. Niên đại thứ hai là “Tống Nguyên Gia chấp thất niên, thái tuế Canh Dần thập nhị nguyệt Bính Thìn sóc chấp ngũ nhật Canh Thìn” 宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰.
a. Về niên đại ngày 25 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27
          Xung quanh niên đại thứ hai, một số học giả đề xuất cách dịch như sau:
Nguyên Gia năm thứ 27, sao Thái Tuế đóng tại Canh Dần, trước ngày 25 (ngày Canh Thìn) tháng 12 (tháng Bính Thìn)
          Trong cách dịch này, chữ “sóc” được dịch là “trước”, can chi “Bính Thìn” được ghép với tháng 12.
          Tuy nhiên, chữ “sóc” trong trường hợp này phải hiểu là ngày mùng một. Can chi “Bính Thìn” cần được ghép với chữ “sóc”. “Bính Thìn sóc” tức là “ngày mùng một của tháng 12 là ngày Bính Thìn”.
          Đây là cách ghi ngày tháng khá phổ biến trong các tư liệu Trung Quốc, đặc biệt là tư liệu chính sử. Cách ghi này thường có cấu trúc “X niên, Y nguyệt, [Can chi A] sóc, [Can chi B] nhật”. Việc ghi thêm can chi của ngày sóc (Can chi A) nhằm giúp người đọc có thể tính toán ngày Can chi B là ngày thứ bao nhiêu trong tháng.
          Có thể kiểm chứng cách đọc trên qua Bảng tính can chi (Bảng 1) và lịch thời bấy giờ. Theo Bảng 1, chúng ta thấy ngày Bính Thìn ở ô số 53. Nếu lấy đó là ngày mùng 1 thì 24 ngày sau, tức ngày 25 đúng là ngày Canh Thìn (ô số 17) – hoàn toàn trùng hợp với ghi chép trong văn bia. Ngoài ra, theo cơ sở dữ liệu lịch của Học viện Phật giáo Pháp Cổ (Đài Loan)[2], trong lịch Nguyên Gia thời Lưu Tống, ngày mùng 1 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27 đúng là ngày Bính Thìn.
          Như vậy, đoạn ghi chép ngày tháng này cần được dịch chính xác thành:
Năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, …
Bảng 1: Bảng tính Can Chi
1 (Giáp Tý)
甲子
2 (Ất Sửu)
乙丑
3 (Bính Dần)
丙寅
4 (Đinh Mão)
丁卯
5 (Mậu Thìn)
戊辰
6 (Kỷ Tị)
己巳
7 (Canh Ngọ)
庚午
8 (Tân Mùi)
辛未
9 (Nhâm Thân)
壬申
10 (Quí Dậu)
癸酉
11 (Giáp Tuất)
甲戌
12 (Ất Hợi)
乙亥
13 (Bính Tý)
丙子
14 (Đinh Sửu)
丁丑
15 (Mậu Dần)
戊寅
16 (Kỷ Mão)
己卯
17 (Canh Thìn)
庚辰
18 (Tân Tị)
辛巳
19 (Nhâm Ngọ)
壬午
20 (Quí Mùi)
癸未
21 (Giáp Thân)
甲申
22 (Ất Dậu)
乙酉
23 (Bính Tuất)
丙戌
24 (Đinh Hợi)
丁亥
25 (Mậu Tý)
戊子
26 (Kỷ Sửu)
己丑
27 (Canh Dần)
庚寅
28 (Tân Mão)
辛卯
29 (Nhâm Thìn)
壬辰
30 (Quí Tị)
癸巳
31 (Giáp Ngọ)
甲午
32 (Ất Mùi)
乙未
33 (Bính Thân)
丙申
34 (Đinh Dậu)
丁酉
35 (Mậu Tuất)
戊戌
36 (Kỷ Hợi)
己亥
37 (Canh Tý)
庚子
38 (Tân Sửu)
辛丑
39 (Nhâm Dần)
壬寅
40 (Quí Mão)
癸卯
41 (Giáp Thìn)
甲辰
42 (Ất Tị)
乙巳
43 (Bính Ngọ)
丙午
44 (Đinh Mùi)
丁未
45 (Mậu Thân)
戊申
46 (Kỷ Dậu)
己酉
47 (Canh Tuất)
庚戌
48 (Tân Hợi)
辛亥
49 (Nhâm Tý)
壬子
50 (Quí Sửu)
癸丑
51 (Giáp Dần)
甲寅
52 (Ất Mão)
乙卯
53 (Bính Thìn)
丙辰
54 (Đinh Tị)
丁巳
55 (Mậu Ngọ)
戊午
56 (Kỷ Mùi)
己未
57 (Canh Thân)
庚申
58 (Tân Dậu)
辛酉
59 (Nhâm Tuất)
壬戌
60 (Kỷ Hợi)
癸亥
 b. Về niên đại ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia 27
          Liên quan đến dòng niên đại thứ nhất, một số học giả đưa ra cách dịch như sau:
元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
Vào ngày 11 tháng 10 niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 27), sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia (?)
          Tuy nhiên, đoạn “tỉnh sự vương pháp linh tuyên” dịch là “sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia” dường như có phần hơi khiên cưỡng. Bản thân các tác giả cũng đặt dấu chấm hỏi cho đoạn này.
          Quan sát văn bia, chúng ta thấy rằng: đoạn văn trên không được viết nối với dòng trước mà được viết thành một dòng riêng, căn vào lề dưới của bia. Điều này đặt ra nghi vấn, phải chăng đây là một dòng niên đại chú thích cho đoạn văn phía trước?
          Đoạn văn phía trước là phần đầu của minh văn, mở đầu bằng chữ “giáo”. Chữ “giáo” này chắc chắn là chữ mở đầu của bài minh, phân lập với nội dung “cố Tướng quân Giao Châu mục liệt hầu Đào Hoàng” sau đó.
          Chúng tôi muốn lưu ý rằng từ thời Hán đến thời Tấn, “giáo” là một hình thức mệnh lệnh, tương tự như “sắc” 敕 hay “phù” 符, của tầng lớp vương hầu. Sách Văn tâm điêu long được biên soạn vào cuối thế kỷ V cho biết “giáo tức là hiệu. Nói ra mà dân theo. Ban bố ngũ giáo. Vì vậy, vương hầu xưng giáo”[3]. Sách Tư trị thông giám (Q.53) phần Hán kỷ cũng chú thích “mệnh lệnh của quận thú đưa ra gọi là giáo”[4]. Trong các sách Tấn thư hay Bắc sử cũng ghi lại rất nhiều trường hợp Thứ sử các châu ban bố mệnh lệnh, gọi là “hạ giáo (viết)” 下教曰.
          Như vậy, có thể suy đoán phần đầu bài minh có kết cấu như bên dưới, trong đó chữ “giáo” mở đầu cho mệnh lệnh, chữ “tuyên” là tuyên đọc văn bản mệnh lệnh đó:
教 ………………………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
                                                                     元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
            “Tỉnh sự” (trong trường hợp này cần đọc là “Sảnh sự”) vốn là tên một chức quan thuộc cấp của Thứ sử. Tấn thư cho biết vào thời Tấn, dưới Thứ sử có đặt các chức “Công tào”, Sảnh sự”[5]. Nếu hiểu “Sảnh sự” là một chức quan, cần xem “Vương Pháp Linh” là một tên riêng.
          Trên cơ sở những suy luận nói trên, chúng tôi đề xuất cách dịch đoạn văn bản này như sau:
Lệnh (giáo) rằng ….
(trích dẫn nội dung mệnh lệnh – giáo)
Ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 27, Sảnh sự là Vương Pháp Linh tuyên đọc.
          Vấn đề tiếp theo là Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh của ai? Nói cách khác, ai là người ban “giáo” (mệnh lệnh)? Điều này sẽ được giải đáp khi chúng ta tìm hiểu nửa sau của bài minh.
2. Lan Lăng Tiêu sứ quân – Tiêu Cảnh Hiến và Tây tào thư tá Đào Chân Chi
a. Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân là ai?
          Các nghiên cứu trước đây chưa chú thích “Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân” là ai. Chúng tôi cho rằng nhân vật này chính là Tiêu Cảnh Hiến 蕭景憲 – người giữ chức Thứ sử Giao Châu vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27.
          Trong các sách Đại Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thư hay An Nam chí lược không thấy nhắc đến Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Tuy nhiên, Tống thư (truyện Lâm Ấp quốc, truyện Tông Xác) cho biết năm Nguyên Gia thứ 22 (443), khi Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Tiêu Cảnh Hiến khi đó là “Phủ Tư mã” được Đàn Hòa Chi phong làm phó tướng của Tông Xác. Tiêu Cảnh Hiến lãnh ấn tiên phong, tiến đánh thành Khu Túc. Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại 范陽邁 sai đại soái Phạm Phù Long 范扶龍 giữ thành Khu Túc, ngoài ra còn cử quân tiếp viện theo hai đường thủy bộ đến tiếp ứng. Tiêu Cảnh Hiến đã phá “ngoại cứu” – tức quân cứu viện, tập trung quân tinh nhuệ đánh thành. Đến tháng 5, Tiêu Cảnh Hiến phá được thành, chém được Phạm Phù Long. Nhờ đó, quân Tống phá được Lâm Ấp, khiến vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại phải bỏ trốn, cướp được rất nhiều vàng bạc, châu báu[6].
          Nhờ chiến công này, Tiêu Cảnh Hiến đã được vua Tống ban chiếu phong làm “Trí tiết, đốc Giao Châu, Quảng Châu chi Uất Lâm – Ninh Phố nhị quận chư quân sự, Kiến Uy Tướng quân, Giao Châu Thứ sử”[7]. Theo Tống thư phần Bản kỷ, Tiêu Cảnh Hiến được phong làm Giao Châu Thứ sử vào tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 23 (434)[8]. Việc phong chức này cũng nhằm rút Đàn Hòa Chi về nước để dẹp loạn ở Dự Chương. Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử đến tháng 5 năm Hiếu Kiến 2 (455) thì được thay bằng Hoàn Hành[9]. Tuy nhiên, đến tháng 12 cùng năm, Tiêu Cảnh Hiến được phong lại làm Giao Châu Thứ sử và tiếp tục giữ chức này đến tháng 8 năm Hiếu Kiến 3 (456)[10].
          Như vậy, thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27 nằm trong khoảng thời gian Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử lần thứ nhất (434-455). Tước “Kiến Uy Tướng quân” trên văn bia cũng trùng khớp với tước “Kiến Uy Tướng quân” của Tiêu Cảnh Hiến chép trong Tống thư.
          Chữ “Lan Lăng Tiêu” trong văn bia cũng phù hợp với Tiêu Cảnh Hiến. Lan Lăng Tiêu là tên gọi dòng họ Tiêu ở Lan Lăng (Giang Tô). Dòng họ Tiêu di cư đến đất Lan Lăng vào loạn Vĩnh Gia (đầu thế kỷ IV), sau đó phát triển thành một sĩ tộc có thế lực suốt từ thời Nam Bắc triều đến thời Đường. Vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 22, Tiêu Tư Thoại 蕭思話 – một danh tướng thuộc dòng họ Lan Lăng Tiêu đang rất được trọng dụng trong triều. Năm Nguyên Gia 30, Tiêu Tư Thoại thậm chí đã leo lên chức Thượng thư Tả bộ xạ trong triều. Do đó, việc Tiêu Cảnh Hiến được cất nhắc làm Giao Châu Thứ sử, ngoài chiến công ở Lâm Ấp, có thể một phần cũng nhờ sự nâng đỡ của Tiêu Tư Thoại. Thời điểm Tiêu Tư Thoại chết – năm Hiếu Kiến thứ 2[11], cũng chính là thời điểm Tiêu Cảnh Hiến bị rút chức Giao Châu Thứ sử để thay bằng Hoàn Hoành.
          Trên cơ sở xác định được nhân vật “Lan Lăng Tiêu sứ quân” là Tiêu Cảnh Hiến, chúng ta cũng hiểu sâu hơn về bài minh. Đoạn này có cấu trúc như sau:
惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
教如上
          Về mạch văn, mặc dù “minh giáo như thượng” là một câu, nhưng đến chữ “minh” lại được ngắt dòng, chữ “giáo” được chuyển sang đầu dòng sau. Tiêu Cảnh Hiến vào thời điểm này là Giao Châu Thứ sử, có đủ tư cách để đưa ra mệnh lệnh – “giáo”. Việc ngắt dòng trước chữ “giáo” là để thể hiện ý kính trọng đối với Tiêu Cảnh Hiến. “Minh giáo như thượng” do đó phải dịch là “mệnh lệnh như trên”, “như trên” ở đây chính là chỉ mệnh lệnh – giáo mà Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc ở phần đầu của minh văn.
b. Về nhân vật Đào Chân Chi:
          Trong các khảo sát trước đây, một số học giả đọc tên Tây tào thư tá là “Đào Chân”. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nhiều khả năng tên của viên quan này là “Đào Chân Chi”.
          Hiện nay, chưa xác định được một tư liệu nào khác liên quan đến nhân vật “Đào Chân” hay “Đào Chân Chi”. Tuy nhiên, nội dung minh văn cũng cung cấp cho chúng ta một số thông tin hữu ích.
          Thứ nhất, chức vụ của Đào Chân Chi là “Tây tào thư tá”. Vào thời Lưu Tống, “Tây tào thư tá” là một chức quan cấp dưới của Thứ sử, vốn bắt nguồn từ chức quan “Công tào thư tá” vốn có từ thời Hán. Như vậy, có thể suy đoán Đào Chân Chi là Tây tào thư tá – thuộc cấp của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến.
          Một điểm cần đáng lưu ý nữa là Đào Chân Chi cũng có họ Đào như Đào Hoàng. Mối liên hệ giữa Đào Chân Chi và Đào Hoàng cũng được đề cập trong minh văn. Trong bài minh có câu “Chân Chi bản chi mạt diệp”. Trong Thi thư (Đại nhã, Văn Vương) hay Tả thị (Trang) có cụm từ “bản chi bách thế”, trong đó “bản chi” (本枝 hoặc 本支) chỉ một dòng họ (bao gồm cả chi chính và chi phụ)[12]. Như vậy, câu “Chân Chi bản chi mạt diệp” có thể hiểu là “(Đào) Chân Chi là con cháu đời cuối (mạt diệp) của dòng họ (Đào)”. Đây là lý do Đào Chân Chi tham gia vào việc tu sửa miếu Đào Hoàng.
3. Minh văn và Ý nghĩa:
          Dựa trên kết quả nghiên cứu của ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các học giả đi trước, kết hợp với việc quan sát văn bia và thác bản, chúng tôi xin được bổ sung, đính chính một số chữ (in đậm) và tái lập nội dung minh văn như sau:
Nguyên văn chữ Hán
1        教故将軍交州牧烈侯陶璜□□□粹稟德淵□□□□□□
2        愛在民每覽其銘記意實嘉焉□□廟堂彫毀示有基陛既□
3        祀所建寧可頓□宜加修繕務存褒□使准先舊式時就營緝
4                        元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
5        惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
6        將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
7        教如上西曹書佐陶珎之監履修復庶神□有憑珎之本枝末
8     葉□戶□搆誠感聿修斯記垂遠矣
          Trên cơ sở kết quả khảo sát ở phần trên, chúng tôi xin được đưa ra bản dịch như sau:
(Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến) dạy (giáo) rằng: Cố Tướng quân Giao Châu mục, liệt hầu Đào Hoàng… thuần nhất, nguồn đức… , (để) ơn trong dân. Mỗi lần xem bia, ý thực tốt đẹp… Miếu đường hủy hoại, chỉ thấy nền bậc. Đã dựng cúng tế, thà rằng… Phải cho tu sửa, việc để… Lệnh theo phép cũ, thời nên dựng lại.
            Năm Nguyên Gia thứ 27, tháng 10, ngày 11. Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc.
Ấy là năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế ở Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân (Tiêu Cảnh Hiến) biết đức đã lâu, muốn khuyên mầm đức, dạy rõ như trên. Tây tào thư tá Đào Chân Chi giám sát tu sửa. Các thần chứng giám. Chân Chi là đời cuối trong họ,…, lòng thành tu sửa, bài ký để lại.
          Có thể tóm lược ý nghĩa của văn bia như sau:
          Ngày 10 tháng 11 năm Nguyên Gia thứ 27 (450), quan Sảnh sự của Giao Châu là Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh (giáo) của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Theo đó, Tiêu Cảnh Hiến ca ngợi công lao của cố Tướng quân Giao Châu Thứ sử Đào Hoàng. Mỗi lần đọc bài minh ký (ở mặt trước bia), Tiêu Cảnh Hiến đều lấy làm cảm kích. Tuy nhiên, miếu đường của Đào Hoàng đã bị hư hại, chỉ còn nền bậc. Tiêu Cảnh Hiến lệnh cho dựng lại theo phép cũ, để tuyên dương công trạng của Đào Hoàng.
          Đến ngày 25 (Canh Thìn) tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27, Tây tào thư tá Đào Chân Chi – thuộc cấp của Tiêu Cảnh Hiến trên cơ sở mệnh lệnh của họ Tiêu giám sát việc tu sửa. Trước sự chứng giám của các thần, Tào Chân Chi vốn là người trong họ Đào Hoàng, cho làm bài ký để lưu lại cho đời sau.

[1] Nguyễn Phạm Bằng, Văn bia cổ nhất Việt Nam mới phát hiện và vấn đề niên đại của nó, Thông báo Hán Nôm học 2013. Đồng tác giả,Phát hiện văn bia cổ nhất Việt Nam, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, số 7/2014.
[2] http://authority.ddbc.edu.tw/
[3] 「教者效也、言出而民效也、契敷五教、故王侯稱教」(『文心雕龍』卷四)。
[4] 「郡守所出命曰教」(『資治通鑑』卷五十三、漢紀).
[5]「案漢武初置十三州、刺史各一人(中略)歷漢東京及魏晉、其官不替、屬官有功曹、都官從事、諸曹從事、部郡從事、主簿、錄事、門下書佐、省事 、記室書佐、諸曹書佐守從事、武猛從事等員」(『晉書』卷二十四、職官志)。
[6]「景憲等乃進軍向 區粟城、陽邁遣大帥范扶龍大戍區粟、又遣水步軍徑至、景憲破其外救、盡銳攻城,五月、剋之、斬扶龍大首、獲金銀雜物不可勝計」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[7]「上嘉將帥之功、詔曰、「(前略)龍驤司馬蕭景憲協贊軍首、勤捷顯著、總勒前驅、剋殄巢穴、必能威服荒夷、撫懷民庶、可持節、督交州廣州之鬱林寧浦二郡諸軍事、建威將軍、交州刺史」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[8] 「十二月丁酉、以龍驤司馬蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷五、元嘉二十三年十二月丁酉条)。
[9]「五月戊戌、以湘州刺史劉遵考為尚書右僕射、前軍司馬垣閎為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年五月戊戌条)。
[10]「十二月癸亥、以前交州刺史蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年十二月癸亥)。「八月戊戌、以北中郎諮議參軍費淹為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建三年、八月戊戌条)。
[11] 「戊戌,鎮西將軍蕭思話卒」(『宋書』卷六、孝建二年七月条).
[12] Tham khảo Đại Hán Hòa từ điển, Q.6, tr.29.