Những điều mới biết về Ma Cô Tiên ở Châu Sơn

Ma Cô Tiên trong thần thoại Trung Hoa là một nữ thần trường thọ cùng với Tây Vương Mẫu. Thế nhưng ở Việt Nam lại có di tích và tục thờ Ma Cô Tiên từ lâu đời, gắn liền với một giai đoạn giao thời đặc biệt giữa huyền thoại và lịch sử.
Đại Nam nhất thống chí chép: Núi Trâu Sơn còn gọi là núi Vũ Ninh ở phía Đông huyện Quế Dương 12 dặm, núi non liên tiếp kéo dài, trên núi có Việt Tỉnh (Giếng Việt). Tục truyền đời Hùng Vương, vua nhà Ân sang xâm lăng, đóng binh ở dưới núi. Đổng Thần Vương đánh phá, Ân Vương chết tại núi này, người nơi ấy lập đền thờ, lâu năm đền bỏ hoang. Đến đời Tần có Thôi Lượng sửa sang lại. Ân Vương cảm ơn ấy sai Tiên Ma Cô trao thuốc tiên cho con của Lượng, chữa được bệnh bướu cổ. Ở bên núi có đền Ma Cô Tiên, lại có hai đền thờ, thờ Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương.

IMG_3798
Một tấm bia
? Cô Tiên tự với chữ bị xóa.

Ở Trâu Sơn nay tại làng Châu Cầu (xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh) có ngôi cổ tự mang tên chùa Cô Tiên. Khi xem các bia đá cổ tại chùa thì phát hiện thấy tất cả những chỗ có tên chùa đều bị đục mất 1 chữ trước chữ Cô Tiên. Theo ông Nguyễn Quang Khải, là một nhà nghiên cứu tôn giáo có thâm niên ở Bắc Ninh, thì cách đây hơn 30 năm ông đã từng đọc bia tại chùa này. Khi đó chữ bị đục vẫn còn nhận ra là chữ Ma và như thế chính tên ngôi chùa này là chùa Ma Cô Tiên 麻姑仙.
Sự tích về Ma Cô Tiên được ghi trong Truyện Giếng Việt của Lĩnh Nam chích quái: Tiết Thượng nguyên tháng Giêng, phương dân đi lễ đền, có người cúng một cặp bình pha lê. Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, bỗng bình rơi xuống đất, vỡ sứt một mảnh; người ta bắt Ma Cô lại đòi bồi thường. Ma Cô mặc áo rách, không ai biết là người tiên; họ mới lấy roi đánh. Thôi Vỹ thấy thế thương hại, cởi áo đền hộ nàng; Ma Cô được khỏi đánh.
Chuyện Ma Cô Tiên đánh vỡ bình ở đền được Thôi Vỹ (con của Thôi Lượng) cứu giúp rất giống truyện Từ Thức gặp tiên làm gãy cành hoa mẫu đơn ở huyện Tiên Du, cũng trong Bắc Ninh. Từ Thức sau vào hang động gặp được Giáng Tiên, còn Thôi Vỹ rơi xuống giếng rồi gặp Ma Cô Tiên, được Ma Cô Tiên tìm người con gái gả cho Thôi Vỹ. Từ Thức ra về bằng một cỗ xe đi rất nhanh còn Thôi Vỹ được kể là do Dương quan đưa về. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trên núi, nay con dê ấy còn ở sau đền Việt Vương trên núi Trâu.
“Con dê đá” ấy nay đúng là vẫn còn ở Trâu Sơn, nhưng nó không phải là Dê. Nay ở làng Cựu Tự của xã Ngọc Xá còn một tượng đá lớn cao gần bằng người, có hình một con vật kỳ lạ, có chân móng guốc, có sừng cong như sừng dê. Nhưng con vật này trên thân có vảy và có cánh ngắn ở cổ vai. Quan sát kỹ còn nhận ra con vật này có mỏ nhọn như mỏ chim.

IMG_2719Tượng linh vật đá ở làng Cựu Tự.

So sánh với các hình tượng linh vật cổ chợt nhận ra, đây là con Phi Liêm, một dạng kết hợp giữa Rồng và Phượng. Phi Liêm là linh vật phổ biến vào thời Tần Hán ở Trung Quốc. Phi Liêm tượng trưng cho thần gió (Phong Sư) và là tiền thân của các hình tượng Thiên Lộc, Tỳ Hưu, Kỳ Lân sau này.
Truyện Giếng Việt cho biết: Đến đời Nhâm Ngao, Triệu Đà Nam xâm lại đóng quân ở núi này, lại trùng tu miếu mạo, cúng tế hậu hĩnh.
Như thế đền thờ Ân Vương ở Trâu Sơn đã được Triệu Đà cho xây sửa cúng tế hậu hĩnh. Đền Ân Vương cũng là nơi mà Ma Cô Tiên đã gặp Thôi Vỹ. Có thể nhận định rằng hình con Phi Liêm đá ở làng Cựu Tự chính là vết tích còn lại của ngôi đền Ân Vương được truyền thuyết nói tới.
Một sự tích khác được kể là giặc Ân khi tới núi Vũ Ninh (tức Trâu Sơn) đã bắt nhân dân ta phải cho ngựa đá ăn… Đây cũng là liên hệ giữa con “Ngựa đá” ở Trâu Sơn với nơi thờ Ân Vương. Tượng Phi Liêm bằng đá nay còn lại ở làng Cựu Tự là linh vật của đền thờ Ân Vương. Bản thân tên làng Cựu Tự nghĩa là nơi thờ cũ, cũng chỉ ra điều này.
Vậy còn đền thờ Triệu Vũ Đế được nói tới ở Trâu Sơn là ở đâu?

IMG_2533Khu đất trước đây là đình làng Hữu Bằng, với những tấm bia của đình bị vứt bỏ.

Sắc phong năm Minh Mệnh thứ 1 còn sao lưu được của làng Hữu Bằng xã Ngọc Xá cho thông tin: Sắc chỉ Bắc Ninh tỉnh Võ Giang huyện Bằng Xá Thất Gian nhị xã nhĩ nhị xã tòng tiền phụng sự Triệu Vũ Hoàng đế miếu tiết mông ban cấp.
Làng Hữu Bằng cũng là nơi còn lưu được bức tượng Triệu Vũ Đế bằng gỗ lớn bằng người thật cùng với nhiều bia công đức của đình làng. Thông tin từ sắc phong trên cho biết 2 xã Bằng Xá và Thất Gian được ban cấp phụng thờ miếu Triệu Vũ Hoàng Đế. Như thế bức tượng gỗ này và đình làng Hữu Bằng thực chất vốn là của miếu Triệu Vũ Đế được truyền thuyết và sách vở nói tới ở Trâu Sơn.

Tuong Trieu Vu De 2
Tượng Triệu Vũ Đế còn lại ở chùa Hữu Bằng.

Một chứng thực khác cho tục thờ Ma Cô Tiên ở Châu Sơn được bất ngờ tìm thấy tại chùa Đại Bi, xã Thái Bảo, Gia Bình, Bắc Ninh. Chùa Đại Bi là nơi vị Tam tổ Trúc Lâm Huyền Quang lập nên để tưởng nhớ tới cha mẹ mình và nay còn đền thờ Huyền Quang. Trong sân chùa có mộ của vị Đại Sĩ này với tấm bia Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng khắc năm Tự Đức thứ 18. Tấm bia cho biết Huyền Quang vốn họ Lý, tên Đạo Tái. Bà mẹ họ Lê một lần đi lấy thuốc trên núi Châu Sơn, nghỉ tại chùa Cô Ma Tiên, mơ thấy một con khỉ đội mũ triều thiên mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà. Bà về có thai 12 tháng mới sinh ra con trai…
Tấm bia chùa Đại Bi là bằng chứng trực tiếp về sự tồn tại của ngôi chùa Ma Cô Tiên ở núi Châu Sơn. Câu chuyện con khỉ hầu mặc áo hoàng bào đội mũ triều thiên ở núi Châu Sơn mang đầy ẩn ý. Châu Sơn nơi chùa Ma Cô Tiên như đã biết là khu vực thờ Triệu Vũ Đế, xưa còn là hành cung của vua Triệu khi khởi nghĩa (khi lập đền thờ Ân Vương ở núi Vũ Ninh). Hình tượng khỉ mặc triều phục rõ ràng là chỉ Triệu Vũ Đế. Câu chuyện này muốn nói Tam tổ Huyền Quang là hậu duệ của họ Triệu (thực ra là họ Lý). Thông tin của người dân địa phương ở Châu Sơn cho biết nơi đây cũng là nơi ẩn trú của tôn thất nhà Lý khi nhà Trần lên thay.

IMG_3115
Bia Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng ở chùa Đại Bi.

Vị trí của ngôi chùa/đền Ma Cô Tiên ở núi Trâu/Châu Sơn như thế đã được xác định là chùa Cô Tiên tại làng Châu Cầu. Tuy nhiên, Ma Cô Tiên là ai mà lại có sự tích từ xa xưa và được thờ tự như vậy?
Truyện Giếng Việt kể Ma Cô Tiên dắt một người con gái đem cho Vỹ, bảo đem về làm vợ chồng, lại cho hòn ngọc Long Tụy. Cái tên Châu Cầu 珠球 có nghĩa là viên ngọc, là mối liên hệ với câu chuyện này.
Trong số các tấm bia còn lại ở chùa Cô Tiên có tấm bia Thánh Tổ Cô Tiên Tự Bi mà trên đó còn có thể đọc được một phần bài minh kể về sự tích của vị Thánh Tổ này. Bài minh này bắt đầu bằng việc ca ngợi chùa “? Cô Tiên” là một nơi “cổ tích danh lam” trên vùng đất “long sơn hổ thủy”, đã từng một thời rất thịnh đạt (nhất thời phát đạt). Nơi đây đã từng có một vị đế vương được các nơi xa phải ngưỡng chầu (viễn xứ triều ngưỡng) vì công nghiệp đã dẹp yên nạn binh đao, lưu danh vạn thế. Trong bài minh cũng đề cập đến một nhân vật nữ đã lấy chồng ở phương xa (nữ công viễn giá) và cuối cùng cho biết nơi đây từng là nơi tụ hội của các bậc anh kiệt (nam quán quần anh).
Thông tin từ bài minh trên tấm bia Thánh Tổ Cô Tiên Tự cho thấy Cô Tiên hay Ma Cô Tiên là một nhân vật có thật, liên quan đến một vương triều huy hoàng trong lịch sử và đã được tôn thờ như một vị “Thánh tổ”.

IMG_3810.JPG
Bia Thánh Tổ Cô Tiên Tự Bi Ký ở chùa Châu Cầu.

Làng Châu Cầu trước đây cũng thờ Triệu Vũ Đế làm thành hoàng làng. Hiện Bảo tàng Bắc Ninh còn lưu được bản sao sự tích về Triệu Vũ Đế và hoàng hậu Trình Thị nhưng là bản sao lục thần tích của xã Đường Sâm ở Kiến Xương phủ, Chân Định huyện (tỉnh Thái Bình ngày nay). Đặc biệt là tất cả các sắc phong hiện còn cho thành hoàng làng Châu Cầu lại không phải sắc phong cho Triệu Vũ Đế.
Hiện làng Châu Cầu còn sao lưu được 9 đạo sắc phong, đạo sớm nhất là năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) ghi tên Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa. Đạo sắc cuối cùng là năm Duy Tân năm thứ 3 ghi tên thần sau 9 lần gia tặng là Thông huyền Diệu hóa Thanh hư Nhàn uyển Dực bảo Trung hưng Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa chi Thần.

dsc03934.jpg
Bản sao sắc phong Đồng Khánh nhị niên.

Vị thần được thờ ở Châu Cầu có tên là Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa/Phu nhân. Có thể thấy đây cũng chính là vị Ma Cô Tiên thánh tổ, đã xuất giá lấy chồng xa như trong bia chùa Châu Cầu nói đến.
Danh phong Đệ nhất Cửu trùng chỉ một vị trí rất cao của vị thần này vì Cửu trùng là từ dùng chỉ Vua (Vua Bà). Đệ nhất Cửu trùng Phu nhân trong bối cảnh của Châu Cầu thì chỉ có thể chỉ vị Hoàng hậu của Triệu Vũ Đế, tức bà Trình Thị.
Có thể nhận ra: Ma = má = mẫu. Thiên tiên Thánh mẫu do đó tương đương với tên Ma Cô Tiên. Trong đó chữ Cô chỉ người phụ nữ tu hành, cùng hàm ý trong các tên Thiên tiên, Thánh tổ, Thông huyền, Diệu hóa. Hoàng hậu Trình Thị không chỉ có quyền quản Cửu trùng mà còn là một đạo sĩ, thánh tổ của một đạo giáo. Thật bất ngờ khi biết rằng hoàng hậu của Triệu Vũ Đế là người đã từng có thực quyền nhiếp chính, được tôn xưng là Mẫu nghi thiên hạ và hóa thần trong văn hóa Việt Nam và Trung Hoa như một vị tiên đầy quyền năng.

Thần tiên Địa phủ ở Châu Sơn

Đây là một bài khó viết vì nó động đến một lịch sử linh thiêng lâu đời của người Việt và vì nó rất thật, thật như có thể giơ tay là chạm được vào quá khứ…

Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái (dịch giả Lê Hữu Mục):
Việt Tỉnh ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh; đời Hùng Vương thứ ba, Ân Vương cử binh Nam xâm, đóng quân ở núi Trâu Sơn; Hùng Vương cầu Long quân giúp, Long quân bao tìm khắp thiên hạ, nếu được người kỳ tài thì dẹp được giặc; đến kỳ cầu được Đổng Thiên Vương cỡi ngựa sắt đi đánh, tướng sĩ nhà Ân đều tan vỡ. Ân Vương chết ở dưới núi, làm Địa Phủ Quân; dân lập đền thờ, bốn mùa cúng tế nhưng lâu năm suy dần bỏ thành chùa hoang.
Núi Trâu Sơn được nói tới, nơi có Giếng Việt, nay ở huyện Quế Võ, Bắc Ninh. Đoạn đầu truyện cho biết Ân Vương sau khi chết đã được làm vua Địa phủ, có đền thờ ở núi Trâu Sơn. Đây là thông tin quan trọng đối với tín ngưỡng Tứ phủ nước ta, vì hiện trong Tứ phủ chưa rõ vị vua cha của Địa phủ là ai.
Trâu Sơn chính xác phải là núi Châu hay Chu. Vết tích ngôn ngữ còn lưu trong tên làng Châu Cầu và xã Châu Phong. Châu hay Chu ở đây chỉ nhà Chu, là triều đại mà nhờ Sóc thiên vương Thánh Dóng đã diệt được nhà Ân.

IMG_0008
Chùa Hữu Bằng ở xã Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Truyện kể tiếp: Người bản quốc tên là Thôi Lạng làm quan nhà Tần đến chức Ngự Sử Đại Phu thường đi ngang qua đấy, thương cảnh điêu tàn mới trùng tu miếu vũ lại, nhân đó có đề một bài thơ…
Sau đến đời Nhâm Ngao, Triệu Đà Nam xâm lại đóng quân ở núi này, lại trùng tu miếu mạo, cúng tế hậu hĩnh; Ân vương cảm đức, muốn đền công cho Thôi Lạng mới sai Ma Cô Tiên đi tìm khắp nơi. Lúc bấy giờ Thôi Lạng đã chết, chỉ còn con là Thôi Vỹ.
Sau khi kể qua thời Chu, đến thời Tần thì ta thấy xuất hiện nhân vật Ma Cô Tiên. Ma Cô Tiên tức là tiên nữ tên Ma Cô, là người của Địa phủ Ân Vương.
Tiết Thượng nguyên tháng Giêng, phương dân đi lễ đền, có người cúng một cặp bình pha lê. Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, bỗng bình rơi xuống đất, vỡ sứt một mảnh; người ta bắt Ma Cô lại đòi bồi thường; Ma Cô mặc áo rách, không ai biết là người tiên; họ mới lấy roi đánh. Thôi Vỹ thấy thế thương hại, cổi áo đền hộ nàng; Ma Cô được khỏi đánh, nhân đó hỏi đến chỗ ở của Thôi Vỹ; Thôi Vỹ nói đến tên cha thì nàng mới hay là con Thôi Lạng. Nàng mừng bảo rằng:
– Ta bây giờ không có lấy gì để đền ơn, sau này chàng sẽ được hậu báo.
Bèn đưa cho Thôi Vỹ một tấm lá ngài và dặn rằng:
– Hãy giữ lấy vật này cho cẩn thận, lúc nào cũng để trong mình, gặp bệnh nhục ảnh (thịt thừa) mà đem cứu tất khỏi, rồi thế nào cũng được giàu sang phú quý.
Tiên Ma Cô tìm gặp được Thôi Vỹ và bày cho anh ta phép thuật để được giàu sang phú quý. Phép thuật của Ma Cô Tiên giao cho Thôi Vỹ ở đây là phép chữa bệnh u bướu.
Ứng Huyền đem Thôi Vỹ sang nhà Nhâm Ngao; Thôi Vỹ lấy ngải ra cứu, cái nhọt lập tức lành ngay. Nhâm Ngao rất mừng, nuôi Vỹ làm con, mở trường để dạy Vỹ; tính Vỹ thông minh, ưa thích đàn cầm, thấy con gái Nhâm Ngao là Phương Dung mới đem lòng yêu dấu, nhân cùng nàng tư thông, tình ý quyến luyến; con Ngao là Nhâm Phu biết được, muốn làm cho Vỹ chết.
Nhờ có phép thuật của Ma Cô Tiên Thôi Vỹ đã được Nhâm Ngao nuôi dạy và còn tư thông với con gái của Nhâm Ngao.
Đoạn tiếp theo truyện kể việc Thôi Vỹ rơi xuống hang, gặp Ân Hậu rồi quay trở về.
… Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”. Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trên núi, nay con dê ấy còn ở sau đền Việt Vương trên núi Trâu.
Sau Vỹ về đến nhà Ứng Huyền thuật chuyện cho Ứng Huyền nghe. Đến ngày mồng một tháng Tám, Vỹ cùng với Huyền đi chơi thì gặp Ma Cô Tiên dắt một người con gái đem cho Vỹ, bảo đem về làm vợ chồng, lại cho hòn ngọc Long Toại, nói đó là ngọc châu, từ thuở trời đất mới khai tịch đã có một cặp trống mái từ đời Hoàng Đế trải đến đời Ân truyền làm thế bảo
Đây là lần thứ hai Ma Cô Tiên đã dắt gái đem cho Thôi Vỹ. Có lẽ chính từ sự tích này mà trong dân gian đã hình thành tên “ma cô” chỉ những người làm nghề mối lái, dắt gái.
Câu chuyện trên đầy màu sắc thần bí, tưởng như là hoang đường nhưng ở chính miền Trâu Sơn ấy nay vẫn còn những di tích lưu lại được, cho dù các vết tích đã bị tàn phá, hủy hoại rất nhiều.

Trieu Vu De o Huu Bang 2
Tượng Triệu Vũ Đế ở chùa Hữu Bằng.

Trước hết là ở chùa Hữu Bằng ở xã Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh hiện còn lưu giữ được một pho tượng gỗ Triệu Vũ Đế. Theo các sắc phong hiện còn lại ở bảo tàng Bắc Ninh thì toàn bộ khu vực xung quanh núi Trâu Sơn đều tôn Triệu Vũ Đế làm thành hoàng. Đây là bằng chứng hiện hữu về tục thờ Triệu Vũ Đế ở vùng núi Trâu Sơn, xác nhận chi tiết trong Truyện Giếng Việt về việc Triệu Đà và Nhâm Ngao đóng quân ở Trâu Sơn. Tượng Triệu Vũ Đế (và hoàng hậu) ở đây có thể chính là di vật còn lại từ ngôi đền thờ Triệu Việt Vương ở Trâu Sơn mà Truyện Giếng Việt nhắc đến.

IMG_9592Đình Châu Cầu.

Theo tư liệu của Bảo tàng Bắc Ninh, ở làng Châu Cầu của xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh hiện còn 12 trang thần tích về Triệu Đà và và nội dung 09 đạo sắc phong cho Thiên tiên Thánh mẫu đệ nhất cửu trùng công chúa. Trong làng Châu Cầu có một di tích cổ là chùa Cô Tiên. Ngôi chùa tuy mang cái tên rất “Nôm” na, nhưng đây lại từng là một ngôi chùa lớn có 99 gian, là một danh lam cổ tích, hiện còn lưu được những tấm bia từ thế kỷ 17-18.
Đặc biệt, theo tư liệu của Viện Hán Nôm thì chùa này có tên đầy đủ là Ma Cô Tiên 麻姑仙. Tên Ma Cô Tiên của chùa này xác nhận đây chính là di tích liên quan tới Truyện Giếng Việt về tiên nữ Ma Cô đã giúp Thôi Vỹ được vinh hoa phú quý thời Triệu Vũ Đế. Chùa này vốn là nơi thờ tiên Ma Cô, có từ rất lâu. Rất có thể Thiên tiên thánh mẫu ở làng Châu Cầu là vị Ma Cô Tiên này, vì rất hiếm khi gặp Mẫu Cửu trùng là thành hoàng một làng như ở đây và sự tích của làng không liên quan gì tới Mẫu Cửu trùng.

IMG_9634
Bia cổ ở chùa Cô Tiên.

Ma Cô là nhân vật trong thần thoại của Đạo giáo, sự tích về bà sớm xuất hiện trong tác phẩm Thần tiên kỷ của Cát Hồng. Điển tích về tiên nữ Ma Cô kể thời Hán Hoàn đế thần tiên Vương Viễn tự Phương Bình có hẹn cùng tiên nữ Ma Cô xuống nhà Thái Kinh dưới hạ giới để uống rượu. Trong bữa tiệc, Ma Cô tự mình nói với Phương Bình rằng: “Từ lần gặp gỡ trước đến nay, đã thấy Đông Hải ba lần biến thành đồng dâu, hướng đến đảo Bồng Lai thì lại thấy nước cạn đi so với trước, xem thời gian thì ước đoán đã cạn đi một nửa, lẽ nào lại sắp biến thành gò đống, lục địa ư?”. Phương Bình cười nói: “Thánh nhân đều nói, Đông Hải sắp sửa nổi lên thành cồn đất rồi đó!”.
Vì Ma Cô “đã thấy Đông Hải ba lần biến thành đồng dâu” cho nên người ta thường lấy Ma Cô ví với sự trường thọ.
Thành ngữ “bãi bể nương dâu” là từ câu nói trên của Ma Cô. So với sự tích về Ma Cô trong Truyện Giếng Việt thì ý nghĩa của thành ngữ này nay có thể hiểu khác. Đông Hải thời cổ của Trung Hoa chắc chắn chỉ biển Đông – vịnh Bắc Bộ ở Việt Nam. Còn hướng ra Bồng Lai tức là hướng ra vịnh Hạ Long, chốn tiên cảnh Bồng Lai của hạ giới. Đông Hải tương đương với Hải Dương, chỉ khu vực ven biển xưa của đồng bằng Bắc Bộ. Núi Trâu Sơn nằm giáp ngay với Chí Linh của tỉnh Hải Dương là chỗ này.
Tiên Ma Cô có từ thời Ân và xuất hiện lại vào thời nhà Hán. 3 lần “bãi bể thành nương dâu” như thế thực ra là chỉ 3 lần thay đổi triều đại trong lịch sử Trung Hoa: Ân Thương sang Chu, Chu sang Tần và Tần sang Hán (Triệu), như được nhắc tới đầy đủ trong Truyện Giếng Việt. Còn câu nói của Phật Phương Bình thời Hán Hoàn Đế: “Đông Hải sắp sửa nổi lên thành cồn đất rồi đó” ý chỉ triều đại lại sắp thay đổi một lần nữa.

IMG_9616
? Cô Tiên tự hậu phật bi ký.

Tiên Ma Cô không chỉ là biểu tượng của trường thọ mà còn là của sự phú quý, hạnh phúc mang đến những thứ quý giá như ngọc Long Tụy và hôn nhân hỷ sự. Tiên Ma Cô cũng là nhân chứng cho sự thay đổi, tiến hóa của lịch sử Việt – Trung Hoa trên miền đất ven biển Đông.

 

 

Dấu vết của Nam Việt Triệu Vũ Đế trong tên làng xã ở Thái Bình

Ở làng Đồng Xâm, xã Hồng Thái, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình có một ngôi đền cổ đặc biệt là nơi thờ Triệu Vũ Đế, người xưng Nam Việt Đế, lập nên nước Nam Việt huy hoàng trong sử Việt. Tương truyền nơi đây là nơi Triệu Vũ Đế lấy vợ là bà Trình Thị người địa phương tại đây.
Theo sách Kiến Xương xưa và nayLàng Đồng Xâm (sâm) xưa còn gọi là Đường Thâm, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương. Theo một số nhà nghiên cứu thì đất làng Đường Thâm đã có hơn 2000 năm lịch sử; xã Đường Thâm xưa là một hòn đảo nổi lên trên mặt biển (đảo nhỏ có tên là đảo Vông; nay vẫn còn dấu tích tên chợ Vông, sông Vông),…
Trong mối tương quan với cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà trên đất Thái Bình, những địa danh ở đây có thể được giải thích như sau.
– Kiến Xương: chữ Nho có nghĩa là kiến lập nền tảng. Nghĩa này tương đương với từ “khai cơ”, mà Triệu Vũ Đế ở đền Đồng Xâm được gọi là Đức Khai Cơ. Ý nói tới công nghiệp của Triệu Vũ Đế đã gây dựng một nền tảng quốc gia vững chắc nối đời cho nước Nam Việt.
– Chân Định: là tên quê của Triệu Đà theo như chính sử vẫn chép. Triệu Đà là người Việt rõ ràng, chứ Chân Định thời Tần không thể nằm ở tận đất Hà Bắc của Trung Quốc nay như các sách vẫn chú giải vì lúc đó ở vùng Hà Bắc bên Tàu chưa hề có tên huyện Chân Định.
– Thái Bình: là chữ ghi phiên thiết của âm Bái. Đất Thái Bình cũng là nơi Nam Đế Lý Bôn khởi nghĩa, tới nay còn rất nhiều di tích liên quan đến Lý Bôn ở Thái Bình. Lý Bôn dựng cờ khởi nghĩa ở đất Bái – Thái Bình chính là Bái Công Lưu Bang, người đã lãnh đạo nhân dân đất Bái khởi đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi trong lịch sử Trung Hoa.
– Trình Thị: đọc phiên thiết là Trĩ. Đây là tên cúng cơm của Lữ Hậu, vợ của Lưu Bang (Lý Bôn) là Lữ Trĩ, được sử sách lưu chép. Vị hoàng hậu của Lý Bôn tại Thái Bình được gọi tên là Đỗ Thị Khương, chính là Lữ Trĩ hay Cao Hậu của nhà Hiếu.

Den Trinh ThiĐền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở Đồng Xâm.

– Vông: đảo Vông, sông Vông được cho là từ tên gọi nơi có nhiều cây Vông, chữ Nho ghi là Đồng 桐, trong tên làng Đồng Xâm. Vào thời kỳ trước, ở vùng cửa sông Trà Lý này có một doi đất nhô lên như cái đảo, được đặt tên là Vông. Chữ Vông này chính xác hơn phải là “vồng” hay “giồng”, chỉ giồng đất nổi ở nơi cửa sông.
– Đồng Xâm: hay Đồng Sâm 桐琛 theo mặt chữ Nho có nghĩa là “cây vông quý”. Tuy nhiên thực sự dịch nghĩa của tên địa danh này như vậy rất tối ý. Đồng Sâm thực ra là tên ghi phiên thiết của từ nôm là Đầm. Vùng đất này thời xưa từng là cửa sông, có lẽ là một khu vực đầm phá rộng, có hòn đảo nhô lên ở giữa.
– Đường Thâm: tên gọi trước đây của khu vực này là Đường Thâm, đọc phiên thiết cũng cho chữ Đầm. Điều này xác nhận thêm khả năng tên gọi Nôm của vùng này thời kỳ trước là xứ Đầm.
Một câu đối rất dài được lưu trong đền Đồng Xâm về công nghiệp của Triệu Vũ Đế:
炎郊創始與圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國
戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京
Viêm Giao sáng thủy dư đồ, bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn, đồng đại Hán thời song đế quốc
Thích lý ngật thành cung khuyết, tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú, diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh.
Dịch:
Khởi sáng cơ đồ chốn Viêm Giao, cha Rồng mẹ Tiên che chở cháu con, ngang thời nhà Hán hai đế quốc
Lập nên cung quán nơi quê ngoại, sông Vông biển Trà tụ họp linh tú, cùng ngoài Phiên Ngung một kinh thành.

IMG_4245Hoành phi KHAI QUỐC ĐẠI ĐẾ của đền Đồng Xâm.

Phát hiện nơi khởi nghĩa của Triệu Đà – Lý Bôn – Lưu Bang là đất Bái (Thái Bình), ở vùng Đầm nước cửa sông còn có liên hệ tới truyền thuyết Việt, kể về cuộc kháng chiến của Triệu Việt Vương dựa vào chốn đầm lầy mà chống giặc. Đoạn kể về khởi nghĩa của vua Triệu ở vùng đầm lầy chính là nói tới khởi nghĩa của Triệu Vũ Đế ở Đồng Sâm – Đường Thâm.
Ngay tại Kiến Xương, không xa đền Đồng Xâm có di tích liên quan đến vua Triệu (Quang Phục) là đình đền Luật Ngoại và Luật Nội tại xã Quang Lịch. Nơi đây thờ một vị phu nhân của Hùng Tuệ Công, làm huyện doãn dưới thời nhà Triệu (Triệu Đà) và con trai là Thạch Công. Thế nhưng thần tích lại kể bà Phương Dung và con trai là Thạch Công sau đã theo Triệu Quang Phục chống giặc và hy sinh ở vùng này.
Sự tích kỳ lạ ở Luật Ngoại – Luật Nội cho thấy, trong truyền thuyết Việt đã có sự lẫn lộn giữa 2 thời đại Triệu Đà và Triệu Quang Phục. Cùng một nhân vật, một thời đại đã bị chép thành ra cách nhau tới hơn 600 năm.

P1170659Đền Luật Nội ở xã Quang Lịch, Kiến Xương, Thái Bình.

Câu đối ở đình Luật Ngoại:
秋月幾滄桑南越北梁千古事
排江餘素節前徵後趙一流人
Thu nguyệt kỷ thương tang Nam Việt Bắc Lương thiên cổ sự
Bài giang dư tố tiết tiền Trưng hậu Triệu nhất lưu nhân.
Vũ Đình Ngạn dịch:
Trăng thu trải cuộc bể dâu, Nam nước Việt Bắc giặc Lương, ghi ngàn đời sử
Sông Bài nổi gương tiết nghĩa, trước Bà Trưng sau Bà Triệu, cùng một bậc người.
Tên con sông chảy qua vùng đất này là sông Bài, hẳn liên quan tới cái tên Bái của Bái Công Lưu Bang, người đất Thái Bình.
Những địa danh và di tích lưu lại trên đất Thái Bình đã cho thấy, Triệu Đà là một người Việt chính cống, lấy vợ ở đất Thái Bình, dựng cờ khởi nghĩa từ vùng đầm nước Đường Thâm – Đồng Xâm, khai cơ kiến quốc Nam Việt.

Đất Thái Bình đã có lịch sử 3000 – 2000 năm

Bài viết trích trong sách Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân của hai tác giả Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan (2008).
Năm 1990 – 1991 trong lúc một số tác giả viết bài cho rằng thế kỷ thứ VI chưa có Thái Bình vì vậy Thái Bình không thể là quê hương, là đất dấy nghĩa của Lý Bí… thì giáo sư Vũ Tự Lập và những cộng sự của ông đã đi điền dã khắp vùng châu thổ sông Hồng, đặc biệt là Thái Bình. Sau những chuyến đi thực tế một hội thảo khoa học đã được tổ chức và cuối cùng Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ra mắt bạn đọc sách “Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Hồng“. Sách đưa ra bản đồ lịch sử phát triển châu thổ sông Hồng, theo đó thì “Đất đai thuộc huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ và phầ lớn đất đai thộc huyện Tiên Hưng, Thư Trì, Thụy Anh có lịch sử từ 3000 – 2000 năm. Hầu hết phần đất các huyện Vũ Tiên, Đông Quan, Thụy Anh có lịch sử 2000 -1000 năm. Vùng Nam Kiến Xương, Tiền hải và một phần Thái Ninh cũ có lịch sử từ 1000 năm trở lại đây theo xu hướng muộn dần.
Không chỉ ngày nay các nhà nghiên cứu mới đưa ra tuổi của đất Thái Bình – Long Hưng mà từ xa xưa một số sách của người Hán cũng đã viết về vùng đất này…
(Lược bỏ một đoạn dẫn các thư tịch về đất Thái Bình từ xưa)
Ngoài nguồn tư liệu thư tịch đã nêu Thái Bình còn lưu nhiều truyền thuyết về thời Hùng Vương, thời An Dương Vương. Đặc biệt có truyền thuyết về Triệu Đà, về Đường Thâm (nay là Đồng Sâm) lấy vợ, đền Đồng Sâm và nhiều nơi trong vùng đã lập đền thờ Triệu Đà và Trình Hoàng hậu.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chương (Cục Bảo tồn bảo tàng, nay là Cục Di sản văn hóa) trong bài “Về tình hình phân bổ các di tích lịch sử thời các vua Hùng” Thái Bình có 244 di tích thờ các vị thần thời Hùng Vương đến thời Triệu Đà. Trong khi đó ở hai tỉnh Vĩnh Phúc , Phú Thọ (nội Văn Lang) chỉ còn được 432 di tích. Cả tỉnh Hà Tây chỉ có 164 di tích. Thái Bình là tỉnh có mật độ thờ các công thần thời Hùng Vương cao nhất cả nước”.
Việc thờ các thần thời Hùng Vương, có người cho rằng dân từ các miền đất nước đến Thái Bình hội cư đã đem theo cả các vị thần từ quê gốc về Thái Bình? Qua dẫn chứng đã nêu và qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy những nơi thờ các công thần thời Hùng đều là những miền đất cổ của Thái Bình, những làng có tên Nôm và hầu hết ở các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Đông Hưng, Kiến Xương. Một phần đất Kiến Xương cắt về Tiền Hải, một phần đất của Đông Quan xưa cắt về Thái Thụy. Ở những vùng dân cư khai phá thời Trần, Lê không có các công thần thời Hùng vương. Thời Hùng Vương nước ta có 15 bộ, đất Thái Bình thời ấy thuộc bộ Lục Hải.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào các năm 40-43 diễn ra ở Thái Bình rất sôi động. Nhân dân Thái Bình đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa với tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
Câu nói bất tử của nữ tướng Cẩm Hoa ở làng Lộ Xá (nay là thôn An Liêm xã Thăng Long huyện Đông Hưng) còn vang vọng đến ngày nay: “Ta sinh ra vì việc nước, chết vì việc nước, chết cũng như sống vậy” với ý chí ấy nhân dân vùng Hương Đường – Vũ Thư đã “đốt tre tươi mài thành mũi giáo, đập mảnh vại làm gươm” để giết giặc. Cả nhà họ Triệu đã hy sinh vì nước. Tấm gương trung liệt ấy đến kẻ thù phải thán phục. Hơn một trăm năm sau Sĩ Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu đến thăm đền phải ghi tặng “Nhất gia trung liệt hiển Giao Châu” (Một nhà hy sinh oanh liệt nổi tiếng ở Giao Châu). Nhân dân vùng sông nước ven sông cũng vót cọc làm giáo, vác bê chèo làm gươm để đánh giặc. Các tướng súy đã đánh giặc là phải thắng, không thắng giặc thì cùng chết với giặc. Bà Lê Thị Cố ở làng Hoàng Quan, Rồi Công (xã Đông Phương, An Tràng) nói: “Bất Cam sinh mệnh tướng quần đầu” và đánh giặc đến lúc trên người không còn mảnh vải che thân (vì vậy tục lệ của làng là không rước thánh ra khỏi đền thờ trong ngày hội).
Tổng kết cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Thái Bình ngày nay có gần 30 tướng súy tham gia. Trong đó nhiều người đã đưa nghĩa sĩ về Phong Châu cùng Bà Trưng tiến về giải phóng Luy Lâu. Mã Viện trở lại xâm lược, họ lại sát cánh cùng Bà Trưng chống giặc. Bà Trưng hy sinh, nhiều người trở lại quê hương, lấy sông nước để thủ hiểm, tiếp tục chống giặc. Những nơi thờ tướng lĩnh của Hai Bà Trưng ngày nay phần lớn ở bên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, ven các sông nội đồng. Không có dân cư từ thời Hùng Vương, không được sống trên mảnh đất đầy sóng gió này làm sao tôi luyện được ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm như vậy? Đất đai Thái Bình và truyền thống của người Thái Bình được tôi luyện trong cuộc sống hàng ngày, trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm từ thời Hùng Vương là những yếu tố thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa của Lý Bí trên đất Thái Bình ở thế kỷ thứ VI. IMG_6632 (2)

Nếu còn hồ nghi, trăn trở với sử liệu thần phả, ta có thể theo dấu vết di tích khảo cổ để giám định niên đại tuổi của đất. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở thôn Ô Cách, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ đã sưu tầm được gần 100 mũi tên đồng, lục lạc, giáo đồng. Tháng 5 năm 2000 tại làng Công xã Minh Tân nhân dân đã tìm thấy 2 trống đồng đều có cùng niên đại với trống đồng Đông Sơn, cách ngày nay 2500 năm. Hiện vật đồng Đông Sơn còn tìm thấy ở làng Mẽ, làng Buộm thị trấn Hưng Nhân (Hưng Hà), cửa sông Diêm Hộ (Thái Thụy).
Ngoài các hiện vật đồng, những ngôi mộ cổ đầu Công nguyên cũng là chứng tích lịch sử. Ngay tại làng lưu Đồn xã Thụy Hồng huyện Thái Thụy, một xã vùng ven biển, năm 1974 trong khi đào mưng máng nhân dân đã tình cờ đào được một số ngôi mộ cổ hình thuyền độc mộc có kích thước 2,2×1,4×0,4m. Những ngôi mộ cổ này có cùng niên đại với mộ cổ Thủy Nguyên cách ngày nay ngót 2000 năm.
Ngoài các ngôi mộ cổ của người Việt, dấu vết quý tộc Hán từ trước thềm Công nguyên còn thấy ở vùng Hưng Hà, Quỳnh Phụ, bắc Vũ Thư… Tại các vùng đất trên đã phát hiện gần 100 khu địa táng, xây cuốn vòm, mộ cao tới 3-4 mét. Vùng hạ lưu, ít nhất đã tìm thấy được khu mộ Hán trước thế kỷ III tại Phú Xuân (thành phố Thái Bình), Vân Động (xã Vũ Lạc huyện Kiến Xương). Lui xuống là Động Trung, trong khi làm đất ngoài đồng, nhân dân đã đào được tiểu đồng có đề chữ “Mã Viện chi thiếp” (vợ bé của Mã Viện). Con cháu họ Mã (gia đình Mã Soang) nhận là họ nhà mình xin được trông nom. Ngôi mộ ấy còn mãi đến năm hợp tác xã san ghềnh lấp trũng mới bị mất (1960).
– Mộ cổ ở làng Mẽ (Mỹ Xá) thị trấn Hưng Nhân huyện Hưng Hà: cửa mộ dày 40cm rộng 3m, cao 1,65m. Phần chính của mộ dài 4m, rộng 3m, cao 1m65m kích thước (40x20x5cm) (theo cụ Nguyễn Văn bàn năm nay đã 90 tuổi (2007) thì sau ngày Cách mạng tháng 8-1945 khi ấy cụ làm cán bộ thông tin ở xã đã từng đi xuống hầm mộ), tại đây người ta đã tìm thấy môt con rồng bằng đất nung, được chắp nối từng khúc dài 1,2m, có hai con thú bằng kim loại, có cán gươm tượng người bằng đồng.
– Mộ cổ ở làng Phú Lạc xã Phú Xuân (cách thành phố Thái Bình 2km) dân gian thường gọi là mả Ngô. Mộ đã bị đào bới từ lâu, hiện vật còn thu được 5 bình gốm các loại, 1 bát gốm, 1 dao găm đồng… Những hiện vật cổ ở đây cho phép các nhà khảo cổ kết luận: mộ cổ Phú Xuân có niên đại vào thế kỷ III sau Công nguyên.
Từ những phát hiện trên, năm 1999 Bảo tàng Thái Bình đã xuất bản sách “Di tích khảo cổ học ở Thái Bình“. Tác giả Nguyễn Ngọc Phát và Vũ Đức Thơm viết: “Loại mộ này thường là các gò đống lớn, khối lượng ấp trúc lên tới hàng ngàn m3. Hầu hết các mộ này có kết cấu song táng hoặc đơn táng. Huyệt mộ dài 5-6m, rộng từ 1,5-3m. Móng thân vòm mộ được sử dụng loại gạch lưỡi búa, còn gọi là gạch múi bưởi, dài 40cm, rộng 20-25cm… Gạch lát mộ có loại nặng 70kg, có kích thước 53x53x10cm. Toàn bộ gạch được ấp trúc bằng đất sét hoặc đất thịt pha sét. Trên mộ người sau thường dựng miếu, trồng cây đa, cây si… Những ngôi miếu, những cây đa, cây si này có vài trăm năm tuổi”…

Tư liệu khảo cổ Nam Việt

Tư liệu trích từ bài báo Quá trình hình thành và sụp đổ của nước Nam Việt trước sự thôn tính của nhà Hán qua tư liệu khảo cổ và lịch sử của PGS. TS. Hoàng Xuân Chinh trong Tạp chí Khảo cổ học số 6-2017.
… (lược bỏ phần mở đầu)
Tộc Nam Việt, nhà nước sơ khai Nam Việt
Nam Việt vừa là tộc danh tộc Nam Việt vừa là tên nước – nước Nam Việt. Nước Nam Việt do Triệu Đà lập nên vào thời Hán, còn tộc Nam Việt xuất hiện sớm hơn nhiều. Qua tư liệu khảo cổ phát hiện trong những năm gần đây trên đất Quảng Đông thì có thể nhà nước sơ khai Nam Việt đã ra đời trong thời đại đồng thau thời Xuân Thu – Chiến Quốc.
Địa bàn cư trú của tộc Nam Việt, theo “Hán thư Lưỡng Việt truyện” thì Nam Việt “phía Tây có Tây Âu, phía Đông có Mân Việt”. Qua đó, giới hạn cụ thể khu vực cư trú của người Nam Việt chưa thể định luận. Nhưng dựa vào cương vực Tây Âu là ở vào khoảng Bắc – Tây Bắc Quảng Tây và Mân Việt là vào khoảng Phúc KIến và Nam Triết Giang cùng Đài Loan ngày nay. Có thể ước chừng Nam Việt ở vào khoảng Quảng Đông và Đông Bắc Quảng Tây ngày nay, mà trung tâm là tam giác châu Châu Giang, sau này trở thành kinh đô Phiên Ngung của nước Nam Việt.
Tộc Nam Việt trong quá trình hình thành và phát triển thành nhà nước sơ khai không những có mối quan hệ với các tộc, các nhà nước lân cận, mà còn có quan hệ với người Hoa Hạ trong nội địa Trung nguyên. Tình hình này được phản ánh khá rõ trên tư liệu khảo cổ.
Các di tích thời đại Đá mới từ sơ kỳ đến hậu kỳ trên đất Quảng Đông phân bố rộng khắp và liên tục, không bị biến dị và cắt đoạn với đặc trưng nổi bật là đồ gốm văn in kỷ hà hệ Lĩnh Nam theo phân loại của Lý Bá Khiêm trong hội thảo về gốm văn in kỷ hà tổ chức ở Lư Sơn năm 1978 (Lý Gia Khiêm 1979). Chính trên cơ sở văn hóa Đá mới với đặc trưng gốm văn in kỷ hà hệ Lĩnh Nam, tộc Nam Việt đã phát triển văn hóa thời đại Đồng thau rộng khắp từ lưu vực Bắc Giang, Tây Giang, Đông Giang đến Châu Giang, Trạm Gianng. Theo thống kê chưa thật đầy đủ, cho đến năm 1995, trên đất Quảng Đông đã phát hiện được khoảng 500-600 địa điểm có tầng văn hóa thời đại Đồng thau, trên 10 di tích có dấu tích lò đúc đồng, khoảng 300 ngôi mộ thời Xuân Thu – Chiến Quốc, thu được khoảng trên 1.200 hiện vật đồng thau, khoảng trên 20 khuôn đúc đồng bằng đá (Dương Thức Đỉnh 1998).
Chẳng hạn như năm 1962 – 1963. tại Mã Đầu Cương thuộc huyện Thanh Viễn phát hiện 2 ngôi mộ thời Đông Chu, đồ tùy táng chủ yếu là đồ đồng thau và gốm cứng văn in kỷ hà. Đồ đồng thu tổng cộng có 64 hiện vật như lôi, đỉnh, phẫu, chuông dẹt, vật hình trụ có tượng đầu người cùng công cụ và binh khí.
Năm 1986 trở đi, tại vùng Long Tử Sơn huyện Hòa Bình phát hiện trên 10 mộ thời Đông Chu, trong đó mộ số 1 thu được 5 hiện vật đồng thau như đỉnh kiểu Việt, việt, dao nạo, qua cùng vò gốm cứng văn chiếu, cốc gốm tráng men, ấm có vòi rót tay cầm và một dãy 11 viên đá ngọc trang sức to nhỏ khác nhau.
Năm 1987 – 1988, tại núi đối diện với Đại Cũng Bình huyện Lạc Xương phát hiện hơn 20 ngôi mộ thời Đông Chu có đỉnh đồng kiểu chân đế hình thú và chân đế dẹt, kiếm dài, kiếm ngắn, giáo, qua, việt, móc đai, trong đó có một lưỡi qua trang trí văn quỳ phượng, văn mây móc liền nhau là loại rất hiếm thấy. Đồ gốm có phễu, vò trang trí quỳ văn, vân lôi văn và văn chữ mễ.
Năm 1983 tại Bối Phu Sơn khu La Bình huyện La Định phát hiện mộ Chiến Quốc sớm, đáy mộ có hố lưng hình tròn. Đồ tùy táng có 98 hiện vật đồng thau như đỉnh, gương, thích, vật hình trụ trên có tượng đầu người, kiếm, qua, giáo, việt, rìu cùng cốc gốm mịn màu đen tay cầm cao nông lòng, chén sứ nguyên thủy và 18 viên đá ngọc trang sức. Đáng chú ý 4 vật trụ trên có tượng đầu người được cắm ở đáy quan tài gỗ 2 trước 2 sau.
Năm 1989 tại khu mộ Lại Dương Đôn thuộc Khai Phong Nam khai quật 30 mộ huyệt đất thuộc các giai đoạn sớm, giữa và muộn thời Chiến Quốc. Đa số đáy mộ có hố lưng hình tròn hoặc vuông, phát hiện được một sưu tập đồ đồng thau cùng gốm cứng văn in kỷ hà và sứ nguyên thủy (Dương Thức Đỉnh 1995).
Năm 1971 trở đi, tại Yết Dương Trung Hạ Diện Đầu Lĩnh khai quật 15 ngôi mộ thời Chiến Quốc, trong đó mộ phong phú đồ tùy táng nhất có 29 hiện vật, gồm 19 đồ đồng thai, 10 đồ gốm và sứ nguyên thủy. Trong đó có 1 qua đồng viện bằng hồ hẹp và 1 lưỡi giáo khắc chữ “vương”. Ngoài ra, còn có kiếm dài và di bằng sứ nguyên thủy tương tự đồng loại phát hiện ở Thượng Hải, Kim Sơn Thích Gia Đôn, Hoài Dương Cao Trang (Khâu Lập Thành 1920).
Phong phú hơn cả là phát hiện ở huyện Quảng Ninh. Năm 1977, tại Đồng Cổ Cương phát hiện 22 ngôi mộ thời Chiến Quốc, thu được 295 đồ đồng thau trong tổng số 357 hiện vật tùy tàng. Năm 1995, tại Long Trở Cương khai quật 15 ngôi mộ thời Chiến Quốc. Mộ phong phú đồ thùy táng nhất có trên 30 hiện vật, trong đó đồ đồng thau có trên 20 hiện vật. Tổng cộng có 15 mộ, thu được trên 100 hiện vật đồng thau.
Ngoài ra, lẻ tẻ cũng thu được một số sưu tầm đồ gốm, đồ đồng khá đẹp. Chẳng hạn như tại Xiêm Cương ngoại ô thành phố Quảng Châu thu được một sưu tập đồ đồng thau gồm qua, kiếm ngắn trang trí văn hình mặt người, dao trang trí văn lôi văn thời Xuân Thu và đồ gốm quỳ văn (Mạnh Anh Hòa 1997).
Phần lớn các nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng tới giữa thời Xuân Thu đến giữa thời Chiến Quốc văn hóa thời đại Đồng thau trên đất Quảng Đông cực kỳ phát triển – tuy không bằng văn hóa Điền và văn hóa Lạc Việt. Cho đến lúc này, công cụ bằng đá hầu như không còn. Đồ gốm tiêu biểu cho thời kỳ này là gốm cứng văn in quỳ văn cùng gốm men và sứ nguyên thủy. Đồ đồng thời kỳ này rất đặc biệt, bên cạnh số lượng khá lớn đồ đồng mang phong cách đồ đồng thời Xuân Thu – Chiến Quốc của khu vực Trung nguyên như lôi, đỉnh, phẫu, dao nạo, kiếm dài, qua, giáo, móc đai, v.v… đã xuất hiện khá nhiều đồ đồng thau mang sắc thái địa phương như đỉnh nông lòng kiểu Việt, việt, vật hình trụ trên có tượng đầu người. Về đồ đồng mang phong cách Trung nguyên, một số là được truyền trực tiếp từ Trung nguyên xuống, một số đúc chế tại địa phương theo phong cách đồ đồng Trung nguyên. Nam Việt tuy xa Trung nguyên, nhưng có bờ biển dài cùng nhiều sông lớn, và Nam Việt có mối quan hệ khá sớm với Câu Ngô và Vu Việt là hai nước có trình độ phát triển cao hơn Nam Việt lại gần Trung nguyên hơn nên rất có thể đồ đồng Trung nguyên đã qua Câu Ngô và Vu Việt mà truyền vào Nam Việt trước khi Nam Việt thuộc Hán. Thời kỳ này trên đất Quảng Đông chưa xuất hiện đồ sắt.
Một số học giả Trung Quốc cho rằng đây là thời kỳ hình thành nhà nước sơ khai của tộc Nam Việt, và văn hóa Hán cũng đã góp phần vào quá trình hình thành nhà nước sơ khai này. Về tính chất của nhà nước sơ khai này phải chăng đồng nghĩa với khái niệm phương quốc, giai đoạn giữa trong mô thức 3 giai đoạn của giáo sư Tô Bình Kỳ.
Quận Nam Hải của nhà Tần và nước Nam Việt của nhà Triệu
… (lược bỏ đoạn bàn luận thư tịch, không liên quan đến khảo cổ)
Thời kỳ nước Nam Việt mở rộng bao gồm cả nước Âu Lạc là thời kỳ hùng mạnh nhất của nước này. Bộ mặt văn hóa lúc bấy giờ có những đổi mới khác hẳn về chất so với thời nhà nước sơ khai Nam Việt.
Thể hiện rõ nhất là đã phát hiện được những ngôi mộ to lớn có cấu trúc độc đáo, đồ tùy táng cực kỳ phong phú. Đó là mộ Nam Việt Vương ở Quảng Châu, khu mộ La Bạc Loan ở huyện Quý và khu mộ Ngân Sơn Lĩnh là 2 vùng thuộc đất Tây Âu xưa được xem là thuộc đất nước Nam Việt thời nhà Triệu.
Như mộ Nam Việt Vương có trên 500 hiện vật đồng thau và nhiều đồ sơn, đồ vàng bạc chạm khắc tinh mỹ, đồ ngà voi, đồ pha lê. Đồ tùy táng không những nhiều mà còn mang phong cách khác nhau. Chẳng hạn đỉnh đồng có tới 37 chiếc thuộc 3 phong cách khác nhau là đỉnh phong cách Hán Trung nguyên, đỉnh phong cách Sở và đỉnh phong cách bản địa Nam Việt. Hay chuông, vừa có chuông nữu vừa có chuông dũng và chuông câu. Đáng chú ý là có tới 9 thạp đồng và 2 thạp gốm về kiểu dáng và hoa văn trang trí rất giống với thạp đồng văn hóa Đông Sơn. Sự có mặt của hiện vật văn hóa Đông Sơn trong mộ Nam Việt Vương là phản ánh đúng tình hình chính trị lúc bấy giờ, vì lúc này Âu Lạc là một thành viên của nước Nam Việt.
Mộ La Bạc Loan số 1 có trên 200 hiện vật đồng thau với nhiều phong cách khác nhau. Trong đó đáng chú ý là 2 chiếc trống đồng mà các học giả Trung Quốc cho là thuộc loại hình Thạch Trại Sơn và 4 thạp đồng mà kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí hoàn toàn giống với thạp đồng văn hóa Đông Sơn.
Khu mộ Ngân Sơn Lĩnh có một số công cụ và vũ khí kiểu Việt như rìu đồng xòe rộng hai đầu vểnh lên mà học giả Trung Quốc gọi là việt hình chữ phượng, hay loại kiếm ngắn không có chắn tay, cán dẹt ngắn, lưỡi rộng dẹt, giữa có sống dọc nổi rõ, v.v…
Qua đó có thể nói nước Nam Việt của Triệu Đà lúc phát triển nhất, bên cạnh đồ đồng kiểu Việt ngày một nhiều, còn có đồ đồng kiểu Tây Âu, Lạc Việt và đồ đồng phong cách Hán Trung nguyên và bộ mặt văn hóa Nam Việt lúc này cũng đã hình thành nên những khu vực có tính chất địa phương như khu vực kinh đô Phiên Ngung, khu vực Bình Lạc Quế Lâm, khu vực Quý huyện, khu vực Lạc Việt Âu Lạc.
Nhà Hán thôn tính Nam Việt
… (lược bỏ đoạn bàn luận thư tịch, không liên quan đến khảo cổ)
Tình hình này được phản ánh khá rõ trên tư liệu khảo cổ. Trong khu vực rộng lớn này bên cạnh đồ gốm đồ đồng bản địa, xuất hiện ngày càng nhiều đồ gốm, đồ đồng phong cách Hán. Đồ sắt trước đây đã có nhưng đến lúc này đồ sắt Trung nguyên truyền xuống ngày càng nhiều.
Tại kinh đô Phiên Ngung cũng như xung quanh các thành phố đô thị lớn nhỏ trong khu vực đều phát hiện được nhiều mộ đất và nhất là mộ gạch vòm cuốn rất đặc trưng cho mộ Hán thời Hán. Đồ tùy táng, bên cạnh một số ít đồ gốm và đồ đồng bản địa là số lượng lớn đồ gốm và đồ đồng phong cách Hán. Đồ gốm thường có các loại vò in ô vuông, văn ô vuông có thêm dấu triện tròn hoặc vuông, vò ấm 3 chân có vòi rót có tay cầm, nhĩ bôi, hồ, đỉnh và đặc biệt là mô hình nhà, bếp lò, giếng, nhà kho, chuồng lợn, v.v… Đồ đồng có hồ, liễm, hộp, gương đồng, tiền bán lạng, tiền ngũ thù, v.v… Đồ sắt thường có nồi, kiếm sắt.
… (lược bỏ phần kết)

Nam Triệu Trưng Vương

Khởi nghĩa Trưng Vương là một cuộc khởi nghĩa độc đáo, có tầm vóc to lớn trong lịch sử nước ta. Lễ hội đền Hát Môn, nơi nổ ra cuộc khởi nghĩa, đã được xếp hạng là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Các bài viết, khảo cứu về Trưng Vương đã có nhiều, lại một lần nữa được tập hợp trong cuốn sách Đền Hát Môn di tích lịch sử quốc gia đặc biệt vừa xuất bản 2017.
Tuy nhiên, những câu hỏi tồn nghi về khởi nghĩa Hai Bà Trưng trong các tài liệu này vẫn chưa được làm rõ một cách thỏa đáng. Ngoài việc cho rằng ông Thi Sách tên là Thi chứ không phải Sách thì có lẽ không có thông tin khám phá gì nhiều trong những tài liệu này.

IMG_3360Tế lễ hội đền Hát Môn.

Dưới đây, xin nêu một số điều đáng chú ý rút ra từ các tư liệu dân gian về khởi nghĩa Trưng Vương ở khu vực Hát Môn.
Thần tích về tướng Hoàng Thông thời Hai Bà Trưng ở đình Yên Dục, xã Hiệp Thuận, Quốc Oai, Hà Nội kể:
Xưa vua Hùng Vương truyền mười tám đời, phương Nam mở nước, non sông ứng vận sao Dực sao Chẩn, đất Bắc mới phong, phân thuộc về sao Đẩu sao Ngưu. Sau vua Thục An Dương Vương làm vua được năm mươi năm thì họ Triệu lấy mất. Đến thời thuộc về nhà Hán ở trang Kiều Lộc, có một nhà họ Hoàng tên là Sáng, vợ là Phùng Thị Tam.
Ông bà lành hiền nhân đức, sớm nào cũng thắp hương thờ trời, trước làm sao sau làm vậy. Năm Nguyên Phong nhà Hán thứ năm nhằm hôm mười hai tháng mười bà Phùng thị nằm mộng thấy đỏ rực trong nhà…
Được hơn một năm,… Ngài sinh ra hình dáng mặt mũi như hoa, da như mỡ. Đến khi lớn tài kiêm văn võ, tài giỏi hơn cả người mới đặt tên là Thông. Bấy giờ có tên Tô Định, người nhà Hán sang làm quan Thái thú, giết oan ông Thi Sách, thuế dịch nặng nề, dân không chịu được, kẻ hào kiệt khắp nước nổi lên.
Bấy giờ bà Trưng Trắc giận tên Tô Định giết chồng, bà ấy chiêu tập quân lính thu dụng hào kiệt để đuổi đánh tên Tô Định. Ngài ở trang Kiều Lộc cùng khởi quân hiệp cùng các xứ đi theo bà Trưng Trắc lấy lại các phủ huyện. Tên Tô Định chay thoát. Ngài đuổi đến trang Trảo Oa thì giết được.
Tướng Hoàng Thông ở Hiệp Thuận (gần Hát Môn) như vậy sinh vào năm Nguyên Phong thứ sáu. Nguyên Phong là niên hiệu của Hiếu Vũ Đế nhà Tây Hán. Năm Nguyên Phong thứ sáu là năm 105 TCN. Vậy mà Hoàng Thông lại theo Hai Bà Trưng, đánh đuổi, thậm chí còn là người đã giết được Tô Định. Nếu theo sử sách ngày nay, khởi nghĩa Hai Bà Trưng nổ ra ở Hát Môn năm 40 sau Công nguyên. Tính từ năm Nguyên Phong thứ sáu tới lúc này thì Hoàng Thông đã là 145 tuổi. Thần tích nhầm hay… sử gia nhầm?
Câu đối ở đình Yên Dục (dẫn theo sách Đền Hát Môn di tích lịch sử quốc gia đặc biệt):
Mộng Hiệp nhất đóa vân, Sài Lĩnh chung anh đĩnh sinh hiển hách
Uy soái tam thôn sĩ, Lộc Thành ứng nghĩa thu phục sơn hà.
Dịch nghĩa:
Một đám mây lành đất Mộng Hiệp, núi Sài linh thiêng sinh ra bậc hiển hách
Uy linh thống soái ba thôn, quân sĩ thành Lộc ứng nghĩa thu phục non sông.
Thông tin về năm sinh của vị tướng đã giết Tô Định ở vùng sông Hát núi Sài vào năm Nguyên Phong nhà Tây Hán cho thấy khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tại Hát Môn không phải xảy ra vào thời Đông Hán. Hai Bà Trưng khởi nghĩa thực chất nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt ở Phiên Ngung bị diệt vào thời Tây Hán.
Thần tích đền Hát Môn thì chép:
Trưng Vương thu được hơn 60 thành, giành lại đất Nam, dẹp yên giặc Tô Định. Nước Nam thống nhất, bách quan nghênh giá đón Trưng Vương vào thành Chu Diên, lên ngôi tự xưng là Trưng Vương, phong cho Nhị Nương là Phó vương, được tự do ra vào cung cấm, tham dự triều chính. Vua họ Trưng đóng đô ở Mê Linh, đặt quốc hiệu là Triệu.
Thần tích đền Hát Môn như thế cho biết quốc hiệu nước của Trưng Vương là Triệu. Đối chiếu với Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái:
“Người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế”. Khi Lộ Bác Đức tấn công Nam Việt thì “Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
So sánh 2 thông tin này thì thấy rõ nước Triệu (Nam Triệu) của Trưng Vương chính là xuất phát từ nước Nam Việt của Triệu Vũ Đế. Điều này một lần nữa xác định thêm nhận định rằng khởi nghĩa của Trưng Vương phải nổ ra vào thời Tây Hán. Trưng Vương là hậu quân của nhà Triệu Nam Việt đã rút về Phong Châu chống lại nhà Tây Hán.

IMG_3516Lễ rước của các làng trong hội đền Hát Môn.

Câu đối khác của đình Yên Dục:
Hiển thánh tích trưng Sài lĩnh mộng
Phù vương tâm bạch Hát giang ba.
Dịch nghĩa:
Di tích thờ bậc hiển thánh rạng rỡ núi Sài
Lòng sáng phò vua trào dâng nơi sông Hát.
Các câu đối ở đình Yên Dục đều nói tới mối liên quan giữa tướng Hoàng Thông với núi Sài và sông Hát. Sông Hát là nơi Trưng Vương khởi nghĩa, liên hệ với tướng Hoàng Thông thì dễ hiểu. Nhưng còn Sài Sơn ở Quốc Oai thì liên quan gì đến vị tướng này và tới khởi nghĩa Hai Bà Trưng?
Để lý giải điều này thì cần biết Sài Sơn là di tích gắn với thừa tướng nhà Triệu là Lữ Gia. Tương truyền là nghĩa quân Lữ Gia đã tử tiết ở núi Sài. Như vậy hậu quân của nhà Triệu Nam Việt chính là nghĩa quân của Lữ Gia đã rút từ Phiên Ngung về Phong Châu.
Theo thần tích của thôn Nại Xá, nơi từng có đền thờ Thi Sách, thì Trưng Vương có tên thời con gái là Ả Lã. Ả Lã nghĩa là con gái họ Lã. Trưng Vương là con gái của thừa tướng Lữ Gia. Ông Thi Sách, chồng của Trưng Vương, như thế không ai khác chính là vị vua Triệu cuối cùng của nước Nam Việt là Triệu Kiến Đức, người đã bị quân Tây Hán truy sát ở cuối sông Hát.
Mối thù không đội trời chung giữa họ Lữ – nhà Triệu với Tây Hán đã làm nên cuộc khởi nghĩa Trưng Vương và sự chống đối bền bỉ sau này của Nam Triệu – Nam Chiếu ở vùng Phong Châu – Tây Bắc Việt. Mối thâm thù này được ghi lại qua các câu đôi ở các di tích như câu đối do Cao Bá Quát đề ở cột trụ cổng đền Hát Môn:
縱不金刀天再造
未應銅柱地分疆
Túng bất kim đao thiên tái tạo
Vị ưng đồng trụ địa phân cương.
Câu đối này thường bị hiểu sai do Cao Bá Quát đã dùng phép chiết tự ở đây. Trong vế đối thứ nhất cụm từ “kim đao” 金刀 là chỉ chữ Lưu 劉, họ của các vua Hán. Câu đối này có thể được dịch như sau:
Mặc không Lưu Hán trời riêng tạo
Chẳng nhận cột đồng đất rạch biên.

img_8025-2.jpg
Ngoại đình đền Hát Môn.

Tương tự, câu đối tại đền Đồng Xâm (Thái Bình) nơi khởi nghiệp Triệu Vũ Đế:
靈跡億年遺鉄斧
帝图四百少金刀
Linh tích ức niên di thiết phủ
Đế đồ tứ bách thiểu kim đao.
Dịch:
Tích thiêng vạn năm lưu búa sắt
Đất vua bốn hướng chẳng họ Lưu.
“Thiết phủ” là chiếc búa sắt lưu ở đền Đồng Xâm, là một linh vật của đất Thái Bình, tương truyền là cây búa Triệu Vũ Đế được ban cho khi khởi nghiệp. Kim 金 đao刂là chiết tự của chữ Lưu 劉 như nói ở trên.
Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại chân núi Gôi (Vụ Bản, Nam Định):
趙氏有天存社稷
漢人無地出楼船
Triệu thị hữu thiên tồn xã tắc
Hán nhân vô địa xuất lâu thuyền.
Dịch:
Còn trời họ Triệu còn xã tắc
Không Hán, lên thuyền đất chẳng chung.
Họ Lữ đã cùng vua Triệu Vệ Dương Vương kiên quyết lên thuyền đi về Giao Châu chống lại Tây Hán.
Mối tương quan Triệu Vũ Đế – Lữ Gia – Trưng Vương thể hiện rất rõ. Nước Nam Việt từ Triệu Vũ Đế khởi lập không mất, mà nó được truyền thừa sang phía Tây qua cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương, lập nên nước Nam Triệu, rồi còn hùng bá một phương tới mãi sau này với tên Nam Chiếu.

Triệu Vũ Đế và núi Trâu Sơn

Cuốn sách Nhà Triệu mấy vấn đề lịch sử do Trung tâm nghiên cứu văn hóa minh triết vừa mới xuất bản tập hợp một số bài nghiên cứu của các tác giả có tiếng hiện nay bàn về vai trò của Triệu Đà trong sử Việt với ý muốn công nhận nhà Triệu là một triều đại chính thống trong sử Việt. Các bài viết này dẫn luận khá nhiều thông tin và tư liệu thành văn, khảo cổ, tín ngưỡng dân gian. Trong số đó đặc biệt đáng chú ý là thông tin của Bảo tàng Bắc Ninh về tục thờ Triệu Đà ở tỉnh này.
Theo thống kê của các tác giả Nguyễn Văn An và Lưu Ngọc Thành trong sách này tại tỉnh Bắc Ninh hiện còn lưu giữ được các sắc phong thờ Triệu Vũ Đế ở 2 khu vực. Một là ở 2 làng Song Tháp và Đa Vạn ở thị xã Từ Sơn. Hai là ở 6 làng thuộc huyện Quế Võ là Hữu Bằng, Cựu Tự, Kim Sơn, Long Khê (xã Ngọc Xá), Châu Cầu, Thất Gian (xã Châu Phong). Các ngôi đình của 6 làng này trước đây thờ Triệu Vũ Đế và phu nhân Trình Thị làm thành hoàng làng, nay đều đã không còn. Duy nhất ở chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ) còn giữ được một bức tượng gỗ Triệu Vũ Đế, tuy đã bị hư hỏng khá nặng.

Huu BangChùa Hữu Bằng ở Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Thông tin về di tích thờ Triệu Đà ở Bắc Ninh như trên thoạt xem tưởng không có gì quan trọng so với các khu vực khác thờ Triệu Đà là Thái Bình (đền Đồng Xâm) hay Hưng Yên (đình Xuân Quan), nhưng đây lại thực là thông tin quý giá và mới mẻ về công nghiệp của Triệu Vũ Đế ở nước ta. Ở Thái Bình có nhiều di tích thờ Triệu Đà vì đó là nơi ông lấy vợ là hoàng hậu Trình Thị. Ở vùng Văn Giang – Hưng Yên có đền thờ Triệu Vũ Đế là vì đó là nơi ông từng đóng quân khi khởi nghĩa và thấy rồng bay lên (Long Hưng) trên sông Nhị Hà. Còn tại sao khu vực huyện Quế Võ lại từng có đậm đặc tục thờ Triệu Vũ Đế như vậy? Nơi này gắn với công nghiệp của vị đế vương đầu tiên của nước Nam Việt như thế nào?
Trước hết cần nhận ra rằng khu vực huyện Quế Võ (Bắc Ninh) chính là địa danh Vũ Ninh với núi Trâu Sơn, là địa danh hay được nhắc tới trong truyền thuyết Việt. Trâu Sơn nay gọi thành Châu (Châu Phong, Châu Cầu), nằm gần khu vực Lục đầu giang, trên tuyến đường quốc lộ 18 ngày nay. Đây là địa bàn rất thuận tiện cho việc giao thông cả thủy lẫn bộ, lại có núi đồi và sông nước, khá hiểm trở dễ cho việc ẩn náu, phòng thủ, tiến lui.
Về núi Trâu Sơn Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu…
Sau các tướng Nhâm Ngao, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này.
Truyện kể Thôi Vỹ là con Thôi Lượng sau khi chữa bệnh cho Nhâm Ngao, ngã xuống hang tại núi Trâu Sơn, lạc vào Ân Vương thành, được Ân hậu tiếp đãi tiệc rượu…
Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”.
Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu Sơn.
Đoạn trích này là dữ liệu cho biết khu vực núi Trâu Sơn từng có chùa thờ Triệu Việt Vương, tức là thờ Triệu Đà, hoàn toàn khớp với thông tin mà bảo tàng Bắc Ninh cho biết về tục thờ Triệu Vũ Đế ở vùng Quế Võ. Chùa Hữu Bằng (xã Ngọc Xá) nay còn tượng Triệu Vũ Đế có thể coi là ngôi “chùa Việt Vương” mà Truyện Giếng Việt đã nói tới.

Bia daHàng bia đá ở chùa Hữu Bằng.

Cũng Truyện Giếng Việt như trên cho biết Trâu Sơn là nơi mà hai tướng Nhâm Ngao và Triệu Đà đã đóng quân vào thời Tần. Nhiều thần tích khác cũng kể về việc Triệu Đà khi đánh nước Âu Lạc đã từng đóng quân ở Vũ Ninh. Như vậy nguyên do của tục thờ Triệu Đà ở đây là vì nơi đây từng là một nơi đồn quân quan trọng của Triệu Vũ Đế.
Tuy nhiên, vấn đề khó lý giải ở chỗ là chiếu theo chính sử thì Triệu Đà chưa từng sang miền Bắc nước ta bao giờ. Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (ở Quảng Tây?), thay Nhâm Ngao ở Nam Hải (Quảng Đông?), rồi chiếm Quế Lâm, Tượng Quận lập nên nước Nam Việt. Mãi tới sau khi Cao Hậu nhà Hán mất, Triệu Đà mới “nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Sử ký Tư Mã Thiên). Vậy tại sao lại có nhiều di tích của Triệu Đà ở Bắc Việt như vậy? Triệu Đà lấy vợ ở Thái Bình khi nào? Đóng quân ở Bắc Ninh khi nào? Thấy rồng bay lên ở Long Biên khi nào?
Di tích và tư liệu dân gian rõ ràng nói những điều khác so với cách giải thích của chính sử ngày nay về Triệu Đà. Những địa danh và những câu chuyện về thời khởi nghĩa của Triệu Đà đều nằm ở Bắc Việt. Nói cách khác, Triệu Đà vốn khởi nghĩa ở miền đồng bằng sông Hồng, chống lại nhà Tần. Đây là cuộc khởi nghĩa của người Việt kháng Tần như sách Hoài Nam tử đã chép:
Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
“Người Tuấn kiệt” được nói tới là Triệu Đà, chứ không phải An Dương Vương như sự “tưởng tượng” của các sử gia ngày nay. “Quân trưởng Tây Âu” đã bị giết rồi, làm gì còn An Dương Vương nào lúc này nữa.

Trau Son 2Núi Trâu Sơn nhìn từ quốc lộ 18.

Chuyện người Việt bỏ vào rừng, “đánh du kích” chống quân Tần là lời giải cho tục thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn. Trâu Sơn là điểm đóng quân phòng thủ rất thuận lợi như đã nói ở trên, là nơi mà Triệu Đà đã cầm đầu người Việt dựa vào thế sông núi vùng Lục đầu giang mà chống Tần.
Một liên hệ khác, Truyện Đầm Dạ Trạch cũng có thông tin liên quan tới Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn:
… Đến đời tiền Lý Nam Đế, bọn nhà Lương đem quân sang xâm lược, vua Lý Nam Đế sai Triệu Quang Phục làm tướng cự địch. Quang Phục đem quân ẩn nấp trong đầm. Đầm sâu rộng lớn, bùn lầy, rất khó ra vào, Quang Phục dùng thuyền độc mộc, dễ bề đi lại, quân giặc khó biết tung tích ở đâu. Đêm đến dùng thuyền độc mộc lẻn ra đột kích, đánh cướp lương thực, cầm cự lâu ngày làm cho quân giặc mệt mỏi, trong ba bốn năm không hề đối diện chiến đấu…
… Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn lên ngôi lấy hiệu là Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn, huyện Vũ Ninh.
Triệu Quang Phục lên ngôi thay Lý Nam Đế thì phải đóng đô ở chốn phồn hoa đô hội, chứ sao lại vào núi Trâu Sơn làm gì? Ở đây phải hiểu là thành Trâu Sơn của Triệu Việt Vương vốn là căn cứ chống giặc từ khi khởi nghĩa chưa thành công. Mạnh dạn hơn, những chuyện Triệu Quang Phục ẩn nấp trong đầm, dùng thuyền lẻn ra đột kích, chính là chuyện Triệu Đà trú quân ở núi Trâu Sơn chống Tần.
Các tài liệu tới nay rất hay nhầm lẫn Triệu Quang Phục với Triệu Đà vì cả hai đều là Triệu Việt Vương. Ví dụ, cũng trong cuốn sách mới xuất bản đã dẫn ở đầu bài có đăng ảnh đình Phù Sa (ở Yên Mô, Ninh Bình) và ghi chú là đình thờ Triệu Đà. Thực tế là đình Phù Sa thờ Triệu Quang Phục, nằm trong hệ thống các di tích thờ vua Triệu này ở vùng cửa sông Đáy (cửa Đại Ác, nơi Triệu Quang Phục theo truyền thuyết đã tử tiết).
Câu đối ở đình Phù Sa:
兜鍪聖武興南李
獨木神兵走北梁
Đâu mâu thánh vũ hưng Nam Lý
Độc mộc thần binh tẩu Bắc Lương.
Dịch:
Đâu mâu võ thánh dấy Nam Lý
Độc mộc binh thần đuổi Bắc Lương.

Phu SaĐình Phù Sa ở Yên Lâm, Yên Mô, Ninh Bình.

Sự nhầm lẫn này không phải ngẫu nhiên, mà thực ra chuyện Triệu Quang Phục chính là chuyện của nhà Triệu Nam Việt. Khởi nghĩa của Triệu Quang Phục vùng đầm Dạ Trạch là nói tới thủa ban đầu của Triệu Vũ Đế ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh. Sau đó, như đã biết, Triệu Vũ Đế chuyển quân về đóng ở Long Biên, nơi có di tích điện Long Hưng (Xuân Quan) ngày nay. Từ đó, đế nghiệp của họ Triệu bắt đầu hưng thịnh, với việc thấy rồng vàng bay lên trên sông Hồng.
Về đoạn sử này, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép là Triệu Vũ Đế lúc nhỏ có tên là Nguyễn Thận, cùng với Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên mà sống. Sau đó Nguyễn Thận gặp và đi theo Nhâm Ngao về Bắc. Chị ruột Nhâm Ngao lấy quan thái giám Triệu Cao, không có con, nên nhận Nguyễn Thận về nuôi, đổi tên thành Triệu Đà…
Đây là cách kể khác của phần đầu khởi nghĩa Triệu Đà – Triệu Việt Vương tại “đầm Dạ Trạch” (cùng nơi với Chử Đồng Tử) và liên quan đến Nhâm Ngao. Đầm Dạ Trạch của Triệu Việt Vương như thế không phải ở bãi Tự Nhiên (Long Biên) mà là ở Trâu Sơn – Vũ Ninh, nơi ngày nay còn ngôi “chùa Việt Vương” với tục thờ Triệu Vũ Đế tại huyện Quế Võ.

2017-08-24 (1)Vị trí các khu vực được nói tới liên quan đến Triệu Vũ Đế.

Tóm tắt lại phần khởi nghiệp của Triệu Đà ở đồng bằng sông Hồng: Triệu Vũ Đế người Chân Định (có thể là Chân Đăng, đời Trần là vùng Việt Trì – Phú Thọ như được tiến sĩ Phạm Sư Mạnh nói tới trong bài Tuần thị châu Chân Đăng), lấy vợ là bà Trình Thị ở Kiến Xương (Thái Bình). Sau đó tụ tập nhân dân Việt chống Tần ở vùng núi Trâu Sơn (Bắc Ninh). Khi Nhâm Ngao mất (bị thần Xương Cuồng vật chết) Triệu Đà tiếp vị trí của Nhâm Ngao ở Long Biên và bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi.
Đây cũng chính là đoạn đầu khởi nghĩa của Lưu Bang trong Hoa sử. Lưu Bang người đất Phong (Phong Châu – Vĩnh Phú), lấy bà Lữ Trĩ (Trình Thị thiết Trĩ) ở đất Bái (Thái Bình phản thiết Bái). Một lần áp giải dân phu đi làm ở Lịch Sơn (Lịch Sơn là dãy núi giữa Tuyên Quang và Vĩnh Phúc ngày nay vẫn mang tên này), giữa đường dân phu bỏ trốn nhiều. Lưu Bang biết theo luật pháp nhà Tần quan áp giải để dân phụ trốn như thế sẽ phải chịu tội chết, nên đã thả hết dân phu và cùng nhau lên núi ẩn náu (núi Trâu Sơn – Vũ Ninh). Mười năm lẩn tránh trong núi, lấy cướp làm nghề (truyền thuyết gọi là đánh du kích ở đầm Dạ Trạch), chống đối lại nhà Tần.
Núi Trâu Sơn là địa danh Mang Đường nơi Lưu Bang tụ tập bè đảng ban đầu trong Sử ký Tư Mã Thiên. Nơi mà Lữ Hậu (Trình Thị) đã theo “khí mây” mà tìm đến với Lưu Bang.
Tới khi Tần Thủy Hoàng mất, viên huyện lệnh (Nhâm Ngao) đất Bái (lúc này là huyện Long Xuyên ở khu vực Long Biên – Từ Sơn) vì lo lắng loạn lạc nên theo lời Tiêu Hà cho mời Lưu Bang về trợ giúp. Sau đó viên huyện lệnh này lại đổi ý, dẫn tới việc nhân dân trong thành nổi dậy, giết Nhâm Ngao (Truyện Giếng Việt kể là bị thần Xương Cuồng vật chết), rồi tôn Lưu Bang làm thủ lĩnh (Bái Công). Lưu Bang chém con rắn trắng (truyền thuyết Việt chép là thấy rồng vàng bay lên ở Long Hưng), bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần.
Rồng bay lên là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, chỉ việc thành nghiệp của bậc đế vương. Rõ ràng ý nghĩa của hình ảnh “Long hưng” sâu sắc hơn chuyện chém rắn như cách kể của Hoa sử.

Rong Phu SaRồng ở đình Phù Sa.

Chi tiết trong Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép Triệu Đà lấy họ theo Triệu Cao phải hiểu đây là Triệu Cao… Tổ, tức là Cao đế Lưu Bang. Lưu Bang trong sử Việt được chép là Lý Bôn. Triệu Quang Phục nối nghiệp của Nam Đế Lý Bôn, “hưng Nam Lý”. Triệu Quang Phục tức chính là các vị vua Triệu nước Nam Việt đã tiếp ngôi của Cao đế Lưu Bang ở miền Nam
Vấn đề Triệu Đà trong sử Việt nay nhìn nhận lại, không chỉ ở việc công nhận sự chính thống của triều đại này, mà cần làm sáng tỏ thân thế và sự nghiệp vị “Hưng đế” đầu tiên của nước Nam người Việt. Triệu Đà – Lý Bôn – Lưu Bang là một nhân vật sinh ra gặp cảnh loạn lạc, thời thế tạo anh hùng, đã buộc phải nắm lấy ngọn cờ khởi nghĩa, lật đổ nhà Tần, lập nên triều Hiếu huy hoàng của người Việt.