Nhự Nương Trình Thị, vị Đế Hậu của Cao Tổ Lưu Bang

Thôn Nhự Nương xã Phương Định, Trực Ninh, Nam Định thờ một vị nữ thần đặc biệt là Hoàng Thái hậu, vợ của vua Triệu Vũ Đế. Đặc biệt vì ở đây bà được tôn sùng hết mức, được gọi là Đế Hậu, với đầy đủ các đức tính của một nữ trung: Cung túc Từ liêm Cẩn tiết Đôn thiện Mục thận Anh linh Bảo quốc An dân Chiêu đức Đoan trang bà Hoàng Thái hậu Tôn thần Thượng đẳng tối linh. Theo thần tích, bà là sao Thái Âm giáng thế vào gia đình họ Tình, lưu lạc đến khu Nhị Nương mà sinh ra ở đó.
Câu đối ở đình Nhự Nương:
瑞應太陰星明明在上
恩流湯沐浥濯濯厥靈
Thụy khí Thái âm tinh, minh minh tại thượng
Ân lưu Thang mộc ấp, trạc trạc quyết linh.

Dinh Nhu Nuong
Đình Nhự Nương.

Đặc biệt hơn nữa, truyện kể về vị Hoàng Thái hậu này đặc biệt giống y chuyện của vị Hoàng Thái hậu cùng thời là Lữ Hậu, vợ của vua Cao Tổ Lưu Bang. Thần tích Nhự Nương chép:
Một ngày Trang Nương theo mẫu thân đi thăm với dì ruột ở đất quận Cửu Chân. Khi đó vua Triệu Úy Đà đang khởi binh đánh Thục. Lúc ấy người địa phương thấy Trang Nương có tài sắc lạ thường đã báo với vua Triệu. Vua bèn mời Thái bà cùng với Trang Nương vào trong phủ gặp mặt. Vua thấy dung mạo nhan sắc tưởng như tiên nữ Bồng Doanh, Lãnh Uyển, lòng đầy thích thú. Lập tức cho vào điện làm lễ cưới. Ban thưởng cho cha mẹ các đồ sính lễ. Lập làm chính cung.
Triệu Đà khởi nghĩa ở quận Cửu Chân. Thông tin tưởng như sai mà lại rất đúng. Cửu Chân, chỗ khác trong thần tích gọi là Tây Chân rõ ràng tương đương với đất Chân Định, nơi chính thức được ghi là quê của Triệu Đà. So sánh từ ngữ ta thấy:
– Cửu là số 9, chỉ hướng Tây trong Hà thư.
– Định là tính chất tĩnh lặng của phương Tây.
Như thế 3 từ Chân Định – Cửu Chân – Tây Chân cùng một nghĩa.
Đoạn chép về việc Trang Nương lấy Triệu Đà ở trên tương tự như việc Lưu Bang gặp và lấy Lữ Hậu.  Sử ký Tư Mã Thiên, Cao Tổ bản kỷ chép:
Lữ Công người Đan Phụ, quen thân với quan lệnh huyện Bái, đến ở làm khách ở Bái để tránh người thù nhân đó làm nhà ở luôn tại Bái. Những người háo mục và quan lại ở Bái nghe nói quan huyện có người khách quý đều đến mừng. Tiêu Hà làm chủ lại,nhận đồ mừng của khách ra lệnh cho các tân khách…
Rượu uống gần tàn, Lữ Công nhân lấy mắt ra hiệu cố giữ Cao Tổ lại. Sau khi Cao Tổ uống rượu xong, Lữ Công nói:
– Tôi từ nhỏ thích xem tướng người ta, đã xem tướng rất nhiều, nhưng chẳng người nào bằng ông Quý cả. Xin ông Quý lo gìn giữ thân mình. Tôi có cháu gái muốn gả làm kẻ nâng khăn sửa túi cho ông Quý.
Tiệc rượu tan, bà Lữ giận Lữ Công nói:
– Ông vẫn thường muốn con mình có số khác thường, muốn gả cho người sang, ông huyện lệnh đất Bái là chỗ thân tình hỏi ông không gả, sao lại hứa gả bừa cho Lưu Quý.
Lữ Công nói:
– Cái đó không phải là cái đàn bà con trẻ biết được.
Rốt cục gả con gái cho Lưu Quý. Con gái Lữ Công chính là Lữ Hậu, sinh Hiếu Huệ và công chúa Lữ Nguyên.
Tiếp theo, thần tích Nhự Nương kể:
Khi đó Triệu Vương và Thục Vương đanh giao tranh, chinh Đông dẹp Tây, chinh chiến bất thường. Nên đã cho dẫn Chính cung về ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, truyền cho nhân dân trong ấp xây dựng cung phủ để Chính cung ở đó. Tự Chính cung về khu Nhị Nương tiếp quản dinh phủ, tích trữ quân lương, chiêu dụ anh hùng bốn biển đến tụ hội.
Chuyện Triệu Đà chinh Đông dẹp Tây phải để vợ về quê cũng giống như chuyện Lưu Bang tranh hùng cùng Hạng Võ, Lữ Hậu bỏ gia sản ra giúp chồng chiêu binh mãi mã ở quê nhà. Những vị quan tướng trung thành và tài ba nhất của Lưu Bang như Tiêu Hà, Trương Lương đều có một công Lữ Hậu chiêu dụ.
Thế rồi, Thục Vương nghe tin Triệu Vương có Chính cung đã xây dựng phủ ở khu Nhị Nương, tích trữ quân lương, chiêu dụ các tướng tài, liền sai quân đến vây bắt. Chính cung thấy quân Thục tiến tới, liền xuất quân cùng chiến đấu, phá vỡ vòng vây của quân Thục. Cung phi mới về thẳng quận Nam Hải cùng với Triệu Vương.
Đọc đoạn này không khỏi giật mình vì cũng Lữ Hậu khi ở quê đã bị Hạng Vũ vây bắt làm con tin, mãi sau này tới hiệp ước Hồng Câu mới được thả về lại với Lưu Bang.
Thần tích không hề nhắc tới Trọng Thủy là con của Hoàng Thái hậu Trang Nương nên cuộc chiến Triệu Vương – Thục Vương ở đây không phải việc Trong Thủy gửi rể mà gạt Mỵ Châu. Trái lại, Trang Nương đã ra trận như một nữ tướng, phá vây về hội quân với Triệu Vương. Không có chuyện sau đó lại có Trọng Thủy đi cầu hòa.

IMG_4230Bia đề: Đế Hậu chính vị.

Tấm bia lưu ở văn chỉ của thôn Nhự Nương gọi bà Trang Nương là “Đế hậu”. Còn câu đối ở trong đình Nhự Nương ghi:
淑慎閨儀七郡山河資內治
清高廟貌千秋香火顯英靈
Thục thận khuê nghi, thất quận sơn hà tư nội trị
Thanh cao miếu mạo, thiên thu hương hỏa hiển anh linh.
Dịch nghĩa:
Vẻ ngọc thục hiền, non sông bảy quận riêng nội trị
Miếu mạo cao sáng, hương lửa nghìn thu tỏ anh linh.
Hoàng Thái hậu Trang Nương đã là Đế hậu, nội trị non sông nước Việt. Điều này cũng giống như Lữ Hậu đã từng lâm triều xưng đế, được Tư Mã Thiên dành hẳn một phần “Bản kỷ” tương đương với các bậc đế vương.
Nếu chuyện của Triệu Vũ Đế kháng Tần đã rất giống chuyện của Lưu Bang chém rắn khởi nghĩa thì nay lại có chuyện bà Trang Nương giúp chồng binh lực, cùng ra trận không khác chuyện của Lữ Hậu. Chính xác hơn nữa, xét tên của bà Trang Nương:
– Ở khu vực Nam Định – Thái Bình bà được gọi với tên là Trình Thị. Thần tích thời Lê thì đề là họ Tình, nhưng sắc phong lại là Trình Thái hậu. Trình Thị đọc thiết âm là Trĩ.
– Thôn Nhự Nương (thần tích thời Lê chép là Nhị Nương) trong bản khai của thôn thời Bảo Đại lại dùng là Nhự Lang 茹郎. Nhự Nương do đó đọc thiết âm là Lữ, chính là họ của Lữ Hậu.
Nhự Nương Trình Thị chỉ đích danh Lữ Trĩ, là tên cúng cơm của Lữ Hậu.

Trieu Hoang Thai HauTriệu Hoàng Thái hậu Trình Thị thần vị

Câu đối ở cột trước đình:
始帝炎邦湞淑二南起化
生神故地樓臺一簇重新
Thủy đế Viêm Bang, trinh thục Nhị Nam khởi hóa
Sinh thần cố địa, lâu đài nhất thốc trùng tân.
Câu đối này gọi bà Trang Nương là Đế khởi thủy Viêm Bang. Địa danh thôn ở đây ghi là Nhị Nam, nếu đọc phiên thiết thì cũng như chữ Nhự Nương sẽ cho ra họ Lữ.

IMG_6980Hoành phi: Thiên Hạ Mẫu.

Đình Nhự Nương vốn là “sinh từ” (đền thờ lập lúc thần còn sống) thờ Lữ Hậu, hoàn toàn ăn khớp với các tư liệu lịch sử. Vùng đất Tây Chân – Cửu Chân – Chân Định chính là Bái huyện, nơi khởi sự của Lưu Bang. Di tích, thần tích vẫn còn. Lữ Hậu, vị nữ Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên của thời kỳ phong kiến tập quyền, thiên hạ thống nhất, hoàn toàn xứng đáng để lập sinh từ, tôn là bậc Thái Âm giáng thế, đời đời phụng sự.

 

Ngọc phả cổ chép về Nam Việt Vương Hoàng Thái hậu

Thần tích thôn Nhự Nương, làng Phương Để, tổng Phương Để, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Dịch theo bản khai năm 1938 lưu tại Thư viện Khoa học xã hội.

Ngọc phả cổ chép về Nam Việt Vương Hoàng Thái hậu 

Nước Việt xưa trời Nam mở vận, thánh tổ trị đồ hơn 2000 năm, lập tên Hùng Vương là tổ của Bách Việt. Cho tới khi triều Hùng suy mạt, thế nước kết thúc, thời tới vua thứ 18 là Duệ Vương không có con trai, sau nhường ngôi vị cho Thục An Dương Vương, được thêm 60 năm, có đế Triệu tên Úy Đà ở quận Hải Nam khởi binh hùng, lập đô thành ở quận Hải Nam, tự xưng là Triệu Vũ Đế, đến đánh Thục Vương để chiếm nước.
Khi đó nước ta tương truyền có khu Nhị Nương, trang Phương Để, huyện Thượng Nguyên, phủ Thiên Trường, quận Hải Nam. Lúc ấy ở trang Hoa Xá, huyện Lương Giang, phủ Thiệu Thiên, châu Ái có một vị tiên sinh họ Tình tên là Quang, vợ là Võ Thị Mỹ. Ông Tình vốn là gia đình có truyền thống thi thư, năm đời làm quan trong triều. Đến đời tiên sinh thì tinh thông Nho Y, hay tạo phúc, làm việc nhân nghĩa.
Khi Ông có tuổi đã năm mươi, Thái bà tuổi gần bốn mươi thì có nằm mộng thấy một ông lão xưng là thần núi Bán Nguyệt My, cho biết một hốc huyệt ở núi My để chuyển mộ của gia tiên táng tại đó. Sau được trăm ngày Thái bà nằm mộng thấy có một ngôi sao Thái âm rơi vào miệng. Thái bà bỗng nhiên có thai.Vì cảnh nghèo nàn bức bách nên mới dắt díu vợ con đến ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, huyện Tây Chân, phủ Thiên Trường, quận Nam Hải.
Một tối nhân dân các họ ở trong khu cùng nằm mơ thấy có một vị quan áo mũ chỉnh tề, thân cưỡi ngựa hồng, theo sau hơn chục người, tiếp thẳng vào trong khi báo với các họ tộc rằng:
– Ta là chúa tể của Long Châu, cai quản ngôi chùa của dân chúng, đến báo cho nhân dân được hay. Nay có cha mẹ của Hoàng hậu họ Tình đang ở ngoài chùa. Hoàng hậu là chính theo mệnh Thiên đình, là phúc thần của dân chúng ở đây. Rạng ngày các ngươi mau ra nghênh đón về phụng dưỡng. Sau này dân chúng sẽ có được phúc dày. Nếu bỏ qua thì Hoàng Thiên sẽ trách, dân chúng không được yên.
Nhân dân các họ bỗng nhiên tỉnh giấc mộng kỳ lạ đó. Đến sáng ngày mọi người dân ra ngoài quán sở, cùng nói về giấc mộng giống nhau. Lập tức cùng vào trong chùa, thấy ông Quang và vợ con đang nằm đó. Mọi người các họ tộc mới hỏi:
– Ông từ đâu đến đây? Vì sao mà lại dẫn dắt vợ con ở đó?
Ông đáp rằng:
– Tôi vốn họ Tình tên Quang, vợ Võ Thị, vì cảnh nghèo bức bách nên phải đi tìm đất lành để nương tựa tấm thân.
Mọi người nghe vậy thấy ứng nghiệm với giấc mộng. Lại nhìn mà không thấy Hoàng hậu đâu cả. Khi nhìn kỹ hơn thấy Thái bà họ Võ đang có mang, ngầm nhận ra tất nhiên Hoàng hậu đang ở trong bụng đó. Các họ tộc nghênh đón vợ chồng họ Tình về ở trong ấp dân mà nuôi nấng.
Tới năm Quý sửu ngày 10 tháng 3 Thái bà đi ra chỗ bãi ngoài cửa ngã ba sông để tắm gội. Tắm gội xong Thái bà vừa mới đi lên bờ thì bỗng nhiên thấy trời đất mờ mịt, gió gào rung động như sấm, xung quanh mùi hương thơm ngát, khí lành sáng rạng. Đến ngày 12 tháng đó Thái bà sinh được một con gái, mặt như gương ngọc không chút bụi, tựa như bình bạc khinh trăng, mắt phượng mày ngài, mặt phấn môi hồng, nhan sắc tuyệt trần. Mọi người đến xem, lấy làm kinh sợ, nhớ tới điềm mộng quả nhiên đã ứng nghiệm. Được trăm ngày, cha mẹ mới đặt tên là Trang Nương.
Từ đó xuân qua hè đến, năm tháng như con thoi, tuổi đã 28, nhà khuê khóa ngọc, trong lưu chính nhụy, dung nhan chim sa cá lặn, trăng nhường hoa thẹn, tài văn bảy bước thành thơ, nghệ võ chính là dùng cùng tên, các việc nữ công không gì là không biết, trí tuệ thì nam giới cũng khó bằng.
Khi đó nhân dân bỗng nhiên mắc bệnh tật, người vật không yên. Cầu đảo nhiều lần mà không thấy khỏi. Nhân dân lại làm lễ chay ở trong chùa của ấp. Đêm đó mọi người nằm mơ thấy Long thần đến báo ứng:
– Các người đã được Hoàng Thiên giáng hạ cho thần nữ, sinh ta ở chỗ cửa sông đầu rồng. Dân chúng thấy chỗ đất giáng sinh mà vẫn cứ điềm nhiên, không chịu sửa lập. Vì thế mà Trời mới trách phạt. Nay các người mau mau tu dựng một đền thờ sống thì dân chúng sẽ tự được yên.
Nhân dân các họ bỗng nhiên tỉnh giấc, cùng nói thấy mơ giống nhau nên lập tức dựng một đền thờ sống tại nơi đó. Từ đó tật bệnh trong nhân dân tự nhiên khỏi.
Một ngày Trang Nương theo mẫu thân đi thăm với dì ruột ở đất quận Cửu Chân. Khi đó vua Triệu Úy Đà đang khởi binh đánh Thục. Lúc ấy người địa phương thấy Trang Nương có tài sắc lạ thường đã báo với vua Triệu. Vua bèn mời Thái bà cùng với Trang Nương vào trong phủ gặp mặt. Vua thấy dung mạo nhan sắc tưởng như tiên nữ Bồng Doanh, Lãnh Uyển, lòng đầy thích thú. Lập tức cho vào điện làm lễ cưới. Ban thưởng cho cha mẹ các đồ sính lễ. Lập làm chính cung.
Khi đó Triệu Vương và Thục Vương đanh giao tranh, chinh Đông dẹp Tây, chinh chiến bất thường. Nên đã cho dẫn Chính cung về ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, truyền cho nhân dân trong ấp xây dựng cung phủ để Chính cung ở đó. Tự Chính cung về khu Nhị Nương tiếp quản dinh phủ, tích trữ quân lương, chiêu dụ anh hùng bốn biển đến tụ hội.
Thế rồi, Thục Vương nghe tin Triệu Vương có Chính cung đã xây dựng phủ ở khu Nhị Nương, tích trữ quân lương, chiêu dụ các tướng tài, liền sai quân đến vây bắt. Chính cung thấy quân Thục tiến tới, liền xuất quân cùng chiến đấu, phá vỡ vòng vây của quân Thục. Cung phi mới về thẳng quận Nam Hải cùng với Triệu Vương.
Sau đó Triệu Vương diệt Thục, lên ngôi Hoàng đế, lập Trang nương làm Hoàng hậu quản chính. Đồng ý cho khu Nhị Nương trang Phương Để làm con dân phụng thờ đền khi sống của Hoàng hậu, cấp thưởng cho 3000 quan tiền, lại miễn việc quân lương.
Đến khi Hoàng hậu tuổi ngoài bảy mươi, một ngày khi không có bệnh mà tắm gội, bỗng thấy trời đất mờ mịt, ban ngày giống như đêm. Khi đó Hoàng hậu tự nhiên mà hóa (ngày 6 tháng 11). Trăm quan trong triều làm lễ an táng ở đất trang Cao Bạt, quận Hải Nam.
Khi việc đã xong liền sai quan về đến khu Nhị Nương, trang Phương Để nơi sinh để sửa chữa đền thờ, nơi cung dinh tế lễ, lập việc thờ phụng. Vua lại phong các mỹ tự, vạn cổ hưởng hương lửa lễ lạt không cùng, cùng với quốc gia trường tồn, mãi mãi là phép tắc không đổi.
Từ Đinh, Lê, Lý, các triều đại đế vương đều có phong Cung túc Từ liêm Cẩn tiết Đôn thiện Mục thận Anh linh Bảo quốc An dân Chiêu đức Đoan trang bà Hoàng Thái hậu Tôn thần Thượng đẳng tối linh. Cùng với việc phong các chữ này là việc làm lễ tế quốc gia.
Năm Hồng Phúc thứ nhất, ngày 10 tháng 1. Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính phụng soạn.
Hoàng triều hiệu Vĩnh Hựu năm thứ ba, ngày tốt đầu tháng 2, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần là Nguyễn Hiền, tuân theo đúng như triều trước mà sao chép.
Phụng kê, các sắc văn cho Thần đương cảnh Trình Thái hậu gồm 12 đạo như sau:
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 16 tháng 5, một đạo sắc cho Thần đương cảnh Trình Thái hậu là Cảm ứng Thánh huệ Ngọc bảo Phương diễm Từ hoà Linh nghi Trinh thục Thuần ý Nhu gia Trang tĩnh Trung hiến Ôn lương Hoàng quân.
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 26 tháng 7, một đạo gia phong là Phong tư Chính trực Ôn lương Yểu điệu Huy khiết Dung hành Khuê chương Văn vọng Anh dục Tú chung Thông minh Mẫu nghi Khôn thuận Quế cách Hoàng quân.
– Cảnh Hưng năm 44, ngày 26 tháng 7, lại một đạo gia phong Mậu công Thuần đức Tuý phạm Hoàng quân.
Ba đạo sắc trên được ban nhân khi Quốc vương trị vì khi đó khi tiến phong ngôi vua.
– Gia Long năm thứ 9, ngày 21 tháng 8, một đạo sắc chỉ qua các triều đại đã gia tôn mỹ tự nên đồng ý theo cũ phụng thờ.
– Minh Mệnh năm thứ 2, ngày 15 tháng 7, một đạo.
– Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 7 tháng 8, một đạo.
– Thiệu Trị năm thứ 2, ngày 9 tháng 9, một đạo.
– Tự Đức năm thứ 3, ngày 3 tháng 7, một đạo.
– Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 11, một đạo.
– Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7, một đạo.
– Duy Tân năm thứ 3, ngày 11 tháng 8, một đạo.
– Khải Định năm thứ 9, ngày 15 tháng 7, một đạo đồng ý riêng cho theo cũ phụng thờ (nhân ngày quốc khánh lần thứ 40 của vua khi đó).

Thừa sao theo bản chính bởi phó lý trưởng là Võ Thích đã ký.
Lý Trưởng đồng ý đóng dấu.

Văn ca trù ở đền Đồng Sâm thờ Triệu Vũ Đế và Hoàng hậu Trình Thị

Hiện ở đền Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình), nơi thờ Vũ Đế Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị còn lưu được 8 bài ca trù dùng trong tiết lễ thu hát chầu thần. Các bài này đều có phần đầu là 2 cặp câu biền ngẫu (câu đối), ca ngợi công đức của Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng hậu. Còn phần sau là phần cầu tụng cho dân sinh. Xin giới thiệu đoạn đầu của 8 bài ca trù này.

Bài ca trù thứ nhất

聰明睿知
淑慎徽柔
月斧橫而七郡基開漢雄並世
桃夢叶而六宮儀表周后同符

Thông minh duệ trí
Thục thận huy nhu
Nguyệt phủ hoành nhi thất quận, khai Hán hùng tịnh thế
Đào mộng hiệp nhi lục cung, nghi biểu Chu hậu đồng phù.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Hiền dịu nhẹ nhàng
R
ìu trăng ngang khắp bảy quận, mở nền hùng Hán sánh thời
Mộng đào hòa sáu cung,
phép tắc Chu hậu cùng hợp.

Giải nghĩa:

Nguyệt phủ (rìu trăng): tương truyền là chiếc búa hình mặt trăng, là búa khai quốc của Triệu Vũ Hoàng đế. Đôi búa ngọc này vốn từng lưu ở đền Đồng Sâm.

Thất quận: Nhà Triệu Nam Việt được lập ra trên các quận phía Nam thời Tần. Sau này thời Hán Vũ Đế đã chia đất nhà Triệu thành 7 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Hợp Phố, Quảng Tín, Thương Ngô, Nhật Nam.

Mộng đào: theo thần tích, trước đây ở Đồng Sâm có một người họ Trình tên là Liên, lấy bà Đinh Thị Ngoạn người bản trang, tuổi đã ngoài 40, nằm mơ nhặt được chiếc gương ngọc, rồi bống nhiên có mang, ngày tháng dần đủ, đêm rằm tháng 7 sinh được một người con gái, mặt như gương ngọc, sắc tựa hoa mai. Năm 18 tuổi công dung ngôn hạnh, tứ đức vẹn toàn. Cha mẹ đặt tên là nàng Lan. Nàng Lan là bà Trình Thị, là Hoàng hậu của Triệu Vũ Đế.

Chu hậu: bà Thái Tự là Chính phi của Chu Văn Vương, mẹ của Chu Vũ Vương, người sáng lập nhà Chu. Bà được gọi với những tên khác trong các bài ca trù này là Cơ Tự, Chu Cơ.

Lục cung: Hệ thống hậu cung cho các phi tần trong chế độ phong kiến Trung Hoa.

Bài ca trù thứ hai 

文武聖神
貞淑慈懿
基開七郡規摸空視項秦
表正六宮儀範遠同姬姒

Văn vũ thánh thần
Trinh thục từ ý

khai thất quận, quy không thị Hạng Tần
Biểu chính lục cung, nghi phạm viễn đồng Cơ Tự

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Bảy quận mở nền, quy mô không thua Tần Hạng
Sáu cung chính tỏ, khuôn phép sâu như Tự Cơ
.

Giải nghĩa:

Hạng Tần: Hạng Vũ là người nước Sở, đã khởi nghĩa đánh Tần, xưng là Sở Bá Vương.

Bài ca trù thứ ba

聰明出類
聖德超凡
南海建昌基雄爭漢北
番禺真定鼎帝始炎南

Thông minh xuất loại
Thánh đức siêu phàm
Nam Hải Kiến Xương , hùng tranh Hán Bắc
Phiên Ngu Chân Định đỉnh, đế thuỷ Viêm Nam.

Dịch nghĩa:

Thông minh ngoài hạng
Đức thánh siêu phàm
Nam Hải
nền Kiến Xương, tranh hùng Hán Bắc
Phiên Ngu đỉnh Chân Định, mở đế Viêm Nam.

Giải nghĩa:

Kiến Xương: vừa có nghĩa là xây dựng nền móng, vừa là tên của vùng đất Thái Bình, nơi có đền Đồng Sâm.

Chân Định: vừa có nghĩa là lập định đất nước một cách thực sự, vừa là tên cũ của vùng đất Thái Bình. Chân Định theo sử sách được chép là quê của Triệu Đà.    

Bài ca trù thứ tư

文武聖神
貞淑慈懿
揮月斧而圖成七郡漢世並雄
叶夢桃而儀表六宮桐鄉誌瑞

Văn võ thánh thần
Trinh thận từ ý
Huy nguyệt phủ nhi đồ thành thất quận, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi nghi biểu lục cung, Đồng hương chí thụy.

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Vung búa nguyệt mà dựng thành bảy quận, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà phép tỏ sáu cung, làng Đồng bày tốt.

Bài ca trù thứ năm

河海鍾靈
山川毓秀
開七郡而炎邦帝始漢世並雄
叶夢桃而表宮天下母儀周姬

Hà hải chung linh
Sơn xuyên dục tú
Khai thất quận nhi Viêm Bang đế thủy, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi biểu cung thiên hạ, mẫu nghi Chu Cơ.

Dịch nghĩa:

Sông biển đúc thiêng
Nước non nuôi đẹp
Mở bảy quận là đế đầu Viêm Bang, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà thiên hạ tỏ cung, phép mẫu Chu Cơ. 

Giải nghĩa:

Viêm Bang: Chỉ đất nước ở xứ nóng (viêm). Đáng chú ý là triều đại của Cao Tổ Lưu Bang lập nên nhà Hán được gọi là Viêm Lưu.

Bài ca trù thứ sáu

乾始坤生
海𣶬春育
圖開七郡並漢世之雄風
儀表六宮接周姬之芳躅

Càn thủy khôn sinh
Hải hàm xuân dục
Đồ khai thất quận, tịnh Hán thế chi hùng phong
Nghi biểu lục cung, tiếp Chu Cơ chi phương trục.

Dịch nghĩa:

Tạo Càn sinh Khôn
Dưỡng xuân bao biển
Mở đồ bảy quận, cùng
thời Hán đây ngọn gió hùng
Tạo lễ sáu cung, tiếp Chu Cơ đó lưu
thơm dấu.

Bài ca trù thứ bảy

聰明睿知
漙博淵泉
九真揚玉斧之威雄開漢地
七郡奠金甌之勢帝始南天

Thông minh duệ trí
Đoàn bác uyên nguyên
Cửu Chân dương ngọc phủ chi uy, hùng khai Hán địa
Thất quận điện kim âu chi thế, đế thủy Nam thiên.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Bao quát thâm sâu
Cửu Chân
búa ngọc dương oai, hùng mở đất Hán
Bảy quận
âu vàng vững thế, đế tạo trời Nam.

Giải nghĩa:

Cửu Chân: một trong 7 quận thuộc nhà Triệu. Chi tiết Triệu Vũ Đế khởi nghĩa ở quận Cửu Chân là một thông tin mới, khác với chính sử.

Bài ca trù thứ tám

功同湯武
德比虞周
與北國爭雄低視六縱之計
為南邦帝始宏開七郡之圖

Công đồng Thang Võ
Đức tỉ Ngu Chu
Dữ Bắc quốc tranh hùng, đê thị lục tung chi kế
Vi Nam bang đế thủy, hoành khai thất quận chi đồ.

Dịch nghĩa:

Công ngang Thang Võ
Đức sánh Ngu Chu
Cùng
tranh hùng đất Bắc, theo kế sáu nước hợp tung
Là đế tạo bang Nam,
cơ đồ bảy quận mở rộng.

Giải nghĩa:

Thang Võ: Thành Thang và Võ Vương. Thành Thang là vị vua diệt Hạ Kiệt lập ra nhà Thương. Võ Vương diệt Ân Trụ Vương, lập ra nhà Chu.

Ngu Chu: Ngu Thuấn vầ Chu Văn Vương. Ngu Thuấn là vị vua nổi tiếng hiếu thảo. Chu Văn Vương cũng là người có tiếng nhân đức.

Lục tung: Kế sách hợp tung 6 nước để chống Tần thời Chiến Quốc.

Triệu Vũ Đế, vạn cổ vĩ nhân

Cuối thời Chu mạt, cường Tần xua quân tấn công vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Văn Lang. Tần Thủy Hoàng lên ngôi xưng đế, phân chia thiên hạ trăm nước của nhà Chu thành các quận huyện trực thuộc. Vùng đất Văn Lang được chia thành các quận Quế Lâm, Long Xuyên (Tam Xuyên) và Tượng. Một đại tướng Tần là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng, được cử trấn giữ vùng Tây Nam nhà Tần lúc này.
Truyện Giếng Việt cho biết Thôi Vĩ, con của vị ngự sử đại phu nhà Tần đã chữa bệnh cho Nhâm Ngao, rồi sau đó đi lạc ở núi Châu Sơn. Như thế ngay sau thời Tần là cuộc khởi nghĩa của Nhâm Ngao, Triệu Đà ở vùng núi Vũ Ninh. Hoàn toàn không hề nói tới An Dương Vương nào vào cuối thời Tần lúc này nữa.
Ngọc phả Hùng Vương cho biết, Nhâm Ngao và Triệu Đà dẫn quân đánh An Dương Vương ở vùng Tiên Du, sau đó Triệu Đà lui về núi Vũ Ninh đóng quân. Nũi Vũ Ninh là tên khác của Châu Sơn trong Truyện Giếng Việt.
So sánh 2 truyện thì thấy rõ, người được gọi là An Dương Vương ở đây thực ra là Tần đế. Triệu Đà mới là người đã diệt Tần, mở nước Nam Việt, đúng như Sử ký Tư Mã Thiên chép:
Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.”
Triệu Đà chứ không phải ai khác mới là người đã giành lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt. Người tuấn kiệt lãnh đạo nhân dân Việt giành thắng lợi trước quân Tần, lập quốc năm 206 TCN là Vũ Đế Triệu Đà. Còn An Dương Vương lúc này là tên gọi khác của vua Tần, vốn xuất phát đến từ vùng đất Thục Tứ Xuyên mà chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương.

Tuong Huu Bang 2Tượng Triệu Vũ Đế ở Hữu Bằng, Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Khu vực núi Vũ Ninh từng có tới 8 làng đã lập Triệu Vũ Đế làm thành hoàng. Một vị đế vương oanh liệt, khai cơ mở nền cho một quốc gia thống nhất, một triều đại kéo dài hàng trăm năm, nhưng nay lại bị lãng quên. Nhìn bức tượng Triệu Vũ Đế duy nhất còn lại của vùng Vũ Ninh không khỏi rơi nước mắt. Người Việt ngày nay sao lại bạc bẽo đến vậy với tiền nhân?
Con “ngựa đá” Phi Liêm rồng phượng kết giao, biểu tượng của thiên hạ một nhà, nay vẫn đang phải ngậm ngùi trên đỉnh núi Vũ Ninh. “Cháu con còn nhớ tới mồ ông“?

IMG_2714

Thời đại Hùng Vương kết thúc khi nào?

Bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện do Nguyễn Cố soạn thời Lê Hồng Đức (1470) là bản Ngọc phả Hùng Vương được lưu ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương và hiện được dùng làm bản Ngọc phả chính của di tích Đền Hùng ở Phú thọ. Bản ngọc phả này so ra thì tương ứng với phần Nam Việt Hùng Thị sử ký do Nguyễn Đình Chấn soạn năm Hùng Vương 32 (thời Minh Mạng), nhưng ở phần kết thúc còn có thêm một đoạn. Trong Nam Việt Hùng Thị Sử ký của Nguyễn Đình Chấn thời đại Hùng Vương kết thúc bằng sự kiện Thục An Dương Vươn lập cột đá thề ở Nghĩa Lĩnh và cho thờ cúng các thế hệ Hùng Vương. Còn trong cuốn Ngọc phả của Nguyễn Cố có thêm phần sau (dịch theo Ngô Đức Thọ):
Thục An vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú Nam Hải, Triệu Đà làm quan lệnh huyện Long Xuyên. Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ. Biền đề ở miếu: Khai vật tế nhân. Câu đối ở miếu như sau:
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biết Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An Vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết.
Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”.
Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thủa.
Ô hô! Thịnh thay!

IMG_5952
Đền Cổ Loa.

Như vậy, theo quan niệm của thời Nguyễn (bản Nam Việt Hùng Thị sử ký) thì thời đại Hùng Vương kết thúc vào khi An Dương Vương lên thế Hùng Vương. Nhưng theo quan niệm của thời Lê (bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện), thời đại Hùng Vương lại kết thúc vào thời Triệu Đà.
Ngọc phả ghi: An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất. Tức là cơ đồ họ Hùng kết thúc vào sau khi An Dương Vương mất ngôi. An Dương Vương được coi ở đây cũng là một triều Hùng.
Thậm chí câu đối ở đình Phân Thủy tại Hưng Yên nơi thờ Triệu Đà (có lẽ nay là đình Xuân Quan ở Văn Giang) còn ca ngợi thời Hùng Vương:
想越城輸粟誰使一泓碧水便挽運以啟洪圖
念義嶺開疆竟尔數里青山流膏澤而成都會
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Dịch:
Nhớ thủa Việt Thành chở lúa, ai khiến một dòng nước biếc, thuận vận sau để tạo hồng đồ
Nghĩ khi Nghĩa Lĩnh mở nền, người qua bao dặm núi xanh, thấm ơn dày mà nên đô hội.

IMG_2269Nghi môn Long Hưng điện ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Lịch sử Việt phát triển trải qua các nấc thang. Đầu tiên là thời lập quốc của Đế Minh – Kinh Dương Vương, đi khai mở Nam Giao, dựng điện thành ở Nghĩa Lĩnh. Rồi qua thời kỳ phụ đạo cha truyền con nối của Lạc Long Quân. Nổi lên một xã hội phát triển rực rỡ của Hùng Quốc Vương nước Văn Lang với hàng trăm chư hầu phiên thuộc. Thời đại Hùng Vương được coi là kết thúc khi các nước chư hầu được thống nhất, hình thành chế độ quản lý bởi nhà nước trung ương (thời kỳ phong kiến tập quyền). Thời kỳ này như trên được lấy vào thời An Dương Vương hoặc Triệu Đà.
Thực chất, sự kiện năm 256 TCN nhà Tần diệt thiên tử Chu, xưng đế thống nhất thiên hạ, được sử Việt kể là chuyện An Dương Vương nhận ngôi từ Hùng Vương. An Dương Vương lập cột đá thề là chuyện Tần Thủy Hoàng lên núi Thái Sơn phong thiện (tế trời đất) lập bia ghi công đức của nhà Tần. Do đó mốc An Dương Vương kết thúc Hùng Vương cũng là lúc chế độ quận huyện, nhà nước tập quyền ra đời trên toàn lãnh thổ Trung Hoa.

IMG_2270
Tượng Triệu Vũ Đế ở Xuân Quan.

Còn sự kiện Triệu Đà diệt An Dương Vương là chuyện Lưu Bang từ vùng Bắc Việt khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi năm 206 TCN. Cũng vì thế mà Triệu Vũ Đế được coi là tiếp nối quốc thống từ Hùng Vương và có những câu đối ca ngợi về Nghĩa Lĩnh, Việt Thành cùng công đức Hùng Vương như trên ở đình Phân Thủy. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang là người đã dẹp loạn thời hậu Tần, thống nhất cục diện phân tranh Hán – Sở, đặt nền móng lâu dài cho chế độ phong kiến tập quyền, Trung Hoa nhất thống, nối tiếp bước phát triển của dòng họ Hùng từ Tam Hoàng Ngũ Đế…

Tóm lược tích thiêng Nam Việt đại vương

Thần tích xã Tri Hối. Tóm lược tích thiêng Nam Việt đại vương

Đại vương họ Triệu tên Đà, là người Chân Định. Thời Tần mạt làm quan úy Nam Việt Hải. Sau phát binh đánh Thục Vương, Thục Vương binh bại. Vương mới lên ngôi đế, lập nước tên Đại Việt, đô đóng ở Phiên Ngu.
Thời đó thiên hạ thái bình, Đế đi chu du bốn biển, xem ngắm núi sông. Khi đi qua các địa phương đều lập hành cung nghỉ ngơi. Một hôm Đế đi tới xã Thần Thiệu, động Hoa Lư, phủ Trường An, châu Ái, thấy nước sông chảy dài, núi đá dựng đứng, bèn truyền lập cung tại đó. Sau Đế du hành về trong phủ, tới khu Sào Long xã Tri Hối. Nhân dân làm lễ bái hạ. Đế nhân đó truyền lập cung ở đó, thường thường đến dạy dân canh tác, khuyến khích nông tang.
Tới khi Đế phát binh đánh Trường Sa của nhà Hán, được nhiều ngựa. Quay về xuống chiếu cho dân các xã, nếu trước đây đã có thiết lập cung ở địa phương thì đều cho làm con dân thờ cúng, thiết lập sinh từ để ngày sau hưởng là nơi thờ phụng. Do đó, dân Sào Long tuân theo chiếu lập đền ở chỗ du cung ngày trước. Đế lại ban tặng cho tiền đồng ba trăm quan để làm tiền trông đền, lại miễn giảm tất cả tô thuế. Từ đó nhân dân Sào Long giàu đủ do nhờ thấm ơn tốt lành đó.
Đế thọ 120 tuổi, ở ngôi 71 năm thì băng. Cháu đích tôn Văn Vương nối ngôi, xuống chiếu cho thiên hạ, hễ dân chỗ nào mà vua cha ngày trước đã lập cung thì đều có thể về kinh đô nghênh đón thần hiệu về lập miếu thờ làm thần. Khu Sào Long cũng về kinh thành nghênh thần hiệu về lập miếu thờ. Văn Vương còn ban cho tiền đồng 50 quan để làm tiền hương khói. Lai truy tôn mỹ tự là Dũng nghị Uy hùng Thần võ các chữ, sắc lệnh cho dân phụng thờ. Các tiết lễ cầu đảo đều có linh ứng. 

Tri Hối xã thần tích. Nam Việt đại vương linh tích lược chí

Đại vương tính Triệu huý Đà, nghi Chân Định nhân. Tần mạt vi Nam Việt Hải uý. Hậu phát binh công Thục Vương binh bại. Vương nãi tức đế vị kiến quốc hiệu Đại Việt, đô Phiên Ngu. Thần thiên hạ thái bình, đế chu du tứ hải, lịch quan sơn xuyên. Phàm kinh quá sở tại địa phương giai thiết hành cung an tiết. Nhất nhật hành chí Ái châu Trường Yên phủ Hoa Lư động Thần Thiệu xã, kiến giang thuỷ hoành lưu, thạch sơn ngật lập. Toại truyền lập cung vu thử. Tái du hành phủ nội chí Tri Hối xã Sào Long khu, nhân dân hành lễ bái hạ. Đế diệc nhân truyền lập cung vu thử, thường thường vãng lai, giáo dân canh tác, khuyến khoá nông tang.
Cập phát binh công Hán Trường Sa, đắc sổ mã nhi quy chiếu các xã dân, phàm tiền nhật hữu thiết lập cung sở vu địa phương giả, giai hứa vi thần tử chi dân, thiết lập sinh từ dĩ vi hậu nhật hưởng thần chi sở. Ư thị Sào Long dân phụng chiếu lập từ vu tiền nhật du cung xứ. Đế nãi ban tứ thanh tiền tam bách quan dĩ vi bảo thủ từ sở chi nhu. Phàm tô dong nhất giai quyên miễn. Tự thử Sào Long nhân dân phú túc hàm đắc mông kỳ phúc chỉ yên.
Đế thọ nhất bách nhị thập tuế, tại vị thất thập nhất niên băng. Đích tôn Văn Vương tức vị, chiếu truyền thiên hạ, hà dân tiền nhật vương phụ hữu lập cung giả, tất nghệ đô thành phụng nghinh thần hiệu hồi dân lập miếu phụng chi thần. Sào Long khu giai tựu kinh thành phụng thần hiệu hồi dân lập miếu phụng chi. Văn Vương ban tứ thanh tiền ngũ thập quán dĩ vi hương hoả yên. Nhưng truy tôn mỹ tự viết Dũng nghị Uy hùng Thần võ đẳng tự, sắc chỉ ban hồi dân phụng tự. Phàm tiết thứ kỳ đảo giai hữu linh ứng .

知誨社神蹟
南越大王靈跡略誌
大王姓趙諱陀儀真定人秦末為南越海尉後發兵攻蜀王兵敗王乃即帝位建國號大粵都番禺辰天下太平帝週遊肆海歷觀山川凡經過所在地方皆設行宮安歇壹日行至愛州長安府華閭峒神紹社見江水横流石山屹立遂傳立宮于此再遊行府內至知誨社巢龍區人民行禮拜賀帝亦因傳立宮于此常常往来教民耕作勸課農桑
及發兵功漢長沙得数馬而歸詔各社民凡前日有設立宮所于地方者皆許為神子之民設立生祠以為後日享神之所於是巢龍民奉詔立祠于前日遊宮處帝乃頒賜青錢参百貫以為保守祠所之需凡租庸壹皆蠲免自此巢龍人民富足咸得蒙其福祉焉
帝壽壹百貳拾歲在位柒拾壹年崩嫡孫文王即位詔傳天下何民前日王父有立宮者悉詣都城奉迎神號回民立廟奉之辰巢龍區皆就京城奉神號回民立廟奉之文王頒賜青錢五拾貫以為香火焉仍追尊美字曰勇毅威雄神武等字敕旨頒回民奉祀凡節次祈禱皆有靈應.

Lữ Nam Đế và Quốc Oai

Ngày mồng 6 tháng 3 năm Quý Mão được truyền là ngày Hai Bà Trưng tuẫn tiết trên sông Hát. Cũng những ngày này là ngày lễ hội ở chùa Thầy, nơi có đền Tam Xã thờ vị tướng của vùng Quốc Oai là Đỗ Động tướng quân Đỗ Cảnh Thạc. Tam xã Sài Sơn gồm các làng Thụy Khê, Sài Khê và Đa Phúc. Liệu cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và tướng quân Đỗ Cảnh Thạc có quan hệ gì với nhau?
Mối quan hệ giữa 2 ngày lễ của 2 sự kiện lịch sử này lại được tìm thấy qua nhân vật thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu nước Nam Việt. Câu chuyện về Lữ Gia, tể tướng ba đời nhà Triệu được ghi chép khá kỹ trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện bởi Tư Mã Thiên, nhưng ở nước ta, chuyện về Lữ Gia được lưu truyền trong thần tích về vị tướng này. Một trong những bản thần tích như thế là ngọc phả của làng Đa Phúc ở Sài Sơn, mang tên Lữ Nam Đế sự tích. Bản ngọc phả giống như vậy cũng được chép ở làng Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai. Sự tích Lữ Nam Đế có một số chi tiết cụ thể hơn so với Sử ký của Tư Mã Thiên. Xin xem và xét những chi tiết mới này theo dòng lịch sử.
Sự tích Lữ Nam Đế mở đầu: Thần họ Lữ húy Gia, người xã Thiên Phúc (nay đổi là Đa Phúc) huyện Ninh Sơn (đời Lê Trang Tôn đổi là Yên Sơn), làm quan triều Triệu Văn Vương, đến khi Minh Vương lên ngôi, ông được ban chức Thái phó.
Thần tích này cho biết Lữ Gia là người quê ở vùng Quốc Oai (xã Thiên Phúc, huyện Ninh Sơn). Lữ Gia làm quan bắt đầu từ Triệu Văn Vương. Tới thời Triệu Minh Vương thì được ban chức Thái phó.
Lúc đầu, khi Minh Vương còn là Thái tử, vào làm con tin bên nhà Hán sống ở Trường An, lấy bà Cù Thị ở Hàm Đan, sinh được một người con trai tên là Hưng. Đến khi Minh Vương lên ngôi, nhân giấu ấn của Tiên đế, đã dâng thư cho nhà Hán xin lập bà họ Cù làm hoàng hậu, con trai Hưng làm Thái tử.
Chi tiết Triệu Anh Tề đã giấu ấn khi lên ngôi cũng được Sử ký Tư Mã Thiên kể:
Thái tử Anh Tề xin về nước. Hồ mất, thụy là Văn Vương. Anh Tề lên ngôi thay, lập tức giấu ngay ấn Vũ Đế của Triệu Đà.
Chi tiết này thật khó hiểu vì nó có vẻ không ăn nhập gì với những chuyện xảy ra. Anh Tề ở Hán về thì đã lấy ấn Vũ Đế ở đâu để giấu đi? Tại sao lại phải giấu? Việc giấu ấn Vũ Đế liên quan thế nào đến việc Anh Tề lên ngôi? Tại sao nhờ giấu ấn này mà Anh Tề xin được nhà Hán cho lập Cù Thị làm hoàng hậu? Đằng sau chiếc ấn Vũ Đế này là một bí ẩn của lịch sử giữa 2 triều Hán và Triệu.

Van De hanh ti
Ấn Văn Đế hành tỉ từ mộ Triệu Mạt ở Quảng Châu (ảnh wikipedia).

Rất có thể khi Anh Tề ở Trường An nhà Hán đã lấy được ấn Vũ Đế, rồi mang về nước Nam Việt mà xưng vua, lập hoàng hậu, thái tử. Cũng có thể ấn Vũ Đế đã có ở Nam Việt từ Triệu Văn Vương. Nhưng chiếc ấn này có ý nghĩa đặc biệt không chỉ với nhà Triệu mà còn với nhà Hán, vì đó mà Anh Tề có thể dùng để đòi quyền với nhà Hán (đòi người – Cù Thị và thái tử Hưng). Điều này cho thấy, ấn Vũ Đế thực chất là bảo tỉ khai quốc của Triệu Đà – Lưu Bang, ông tổ của cả 2 nước Hán (Hiếu) và Triệu. Người giữ ấn có quyền khẳng định ngôi vị chính truyền của mình từ vị Cao Tổ – Vũ Đế này.
Sau đó, khi Cù Hậu và Triệu Ai Vương (tên Hưng) định nội phụ vào chầu nhà Hán, nhà Hán ban cho Hưng và Lữ Gia “ấn bạc”. Điều này cho thấy, ấn Vũ Đế ban đầu là ấn vàng, tức là ấn của Hoàng đế, với nghĩa sánh ngang với nhà Hán.
Câu chuyện Triệu Anh Tề làm con tin ở Hán, lấy Cù Thị, rồi lúc về giấu ấn Vũ Đế để xưng vương là cốt của câu chuyện Nhã Lang lấy Cảo Nương rồi đánh tráo móng rồng trong truyền thuyết về Triệu Quang Phục. Cù và Cảo là cận âm. Nhã Lang là Anh Tề cận nghĩa.

Uoc LeMảng chạm đầu hồi đình Ước Lễ, Thanh Oai.

Thần tích Lữ Nam Đế kể tiếp đoạn Cù Hậu âm mưu hại Lữ Gia trong tiệc rượu:
Sứ giả ngồi phía Đông, Cù Hậu ngồi ở phía Nam, Hưng và các tướng đều ngồi ở phía Tây. Em trai Lữ Gia là Lữ Cường làm tướng, đem binh sĩ đến ở ngoài cung. Khi rót rượu, Cù Hậu nói với Lữ Gia rằng: “Nam Việt nội phục nhà Hán là có lợi, tướng quân không muốn là cớ làm sao?”. Nói vậy là có ý khích sứ giả nhà Hán, nhưng sứ giả hồ nghi không dám chống cự.
Lữ Gia thấy xung quanh không có tai mắt của mình liền bỏ ra ngoài. Cù Hậu tức giận muốn cầm mâu đâm Lữ Gia, nhưng Hưng cản lại. Lữ Gia đi ra, sai em trai mang quân đến phủ đệ riêng ở Trúc Viên Sài Sơn, cáo bệnh không gặp sứ giả.

Đoạn kể này cung cấp thông tin đặc biệt quan trọng mà Sử ký Tư Mã Thiên không đề cập tới. Em trai của thừa tướng Lữ Gia tên là Lữ Cường. Lữ Cường làm tướng võ, cầm đầu quân đội. Sau khi nội bộ nhà Triệu mâu thuẫn về việc nội phụ nhà Hán thì họ Lữ chia nhau ra. Lữ Gia ở lại Phiên Ngung. Lữ Cường dẫn quân về đóng ở quê họ Lữ ở Sài Sơn.
Thông tin này cho phép hiểu hơn diễn biến sau đó và việc thờ Lữ Gia ở vùng Quốc Oai. Lữ Gia sau khi giết Cù Hậu và Triệu Ai Vương, đã lập con trưởng của Minh Vương là Kiến Đức lên làm vua, tên hiệu là Triệu Vệ Dương Vương. Khi Lộ Bác Đức nhà Hán dẫn quân chiếm Phiên Ngung, Lữ Gia cùng hàng trăm gia quyến lên thuyền đi về phía Tây, trở về quê hương ở vùng Bắc Việt. Lộ Bác Đức đuổi theo và bắt giết được Lữ Gia ở vùng Nam Định (núi Gôi, Vụ Bản). Đây cũng là vùng cửa sông Hát (sông Đáy) đổ ra biển, xưa gọi là cửa Đại Ác.
Lữ Gia hy sinh ở vùng cuối sông Hát. Ông được tôn làm Lữ Nam Đế cho dù ông chưa hề làm vua bao giờ. Rất có thể cái tên Lữ Nam Đế này là tên kép chỉ Lữ Gia và Triệu Vệ Dương Vương, 2 người đã cùng lập vị và cùng vong ở cửa Đại Ác.
Vậy còn Lữ Gia nào tiếp tục chống quân Hán ở vùng đầu sông Hát – Quốc Oai? Hang Cắc Cớ trong núi Sài tương truyền là nơi nghĩa quân Lữ Gia tử tiết. Miếu thờ Lữ Gia ở làng Thụy Khê dưới chân núi Sài nay vẫn còn.

IMG_3842Điện thờ ở đền Lữ Gia tại làng Thụy Khê, Sài Sơn.

Thông tin từ thần tích cho thấy, vị họ Lữ chống quân Hán ở vùng Sài Sơn không phải là thừa tướng Lữ Gia mà là Lữ Cường, tướng chỉ huy quân đội đã dẫn quân về Sài Sơn trước khi nổ ra cuộc chiến giữa Nam Việt và nhà Hán. Vị “Lữ gia” được thờ ở vùng Thanh Oai – Quốc Oai như thế thực ra là Lữ Cường.
Vùng Thanh Oai – Quốc Oai xưa được gọi là Đỗ Động. Nơi đây có thành Quèn với các hiện vật khảo cổ của thời Tây Hán như các mảnh sành sứ, hay rõ ràng hơn nữa là các đồng tiền Ngũ Thù của thời Tây Hán đã được tìm thấy ở đây. Rất có thể thành Quèn chính là địa danh “Trúc Viên” được nói tới trong thần tích. Phép phiên thiết cho ta kết quả:
Trúc Viên thiết Triên – Chiên – Quyên – Quèn.
Tên gọi khác của thành Quèn là Cổ Hiền, cũng là tên phiên thiết, cho chữ Quyền – Quèn. Tên thành có thể thực sự là Quyền, chỉ trị sở trung tâm nắm quyền cai quản của khu vực “Quốc Oai” – oai nước, lúc này.
Sự kiện Lữ Cường dẫn quân Nam Việt lui về Quốc Oai, xây thành phòng thủ chống Hán được truyền thuyết Việt kể tiếp bằng sự tích về Đỗ Động tướng quân Đỗ Cảnh Thạc, đóng ở thành Quèn, hy sinh ở Tam Xã Sài Sơn. Chỉ có điều, sự kiện này đã bị chép gán vào thời kỳ 12 sứ quân, là thời kỳ vốn không hề xảy ra ở Việt Nam sau này.

IMG_3724
Hũ tiền Ngũ thù được tìm thấy ở thành Quèn.

Thừa tướng Lữ Gia cùng vua Triệu Vệ Dương Vương hy sinh ở cửa Đại Ác nhưng cuộc chiến chống Hán nước Nam Việt chưa dừng lại đó. Em trai của Lữ Gia là Lữ Cường trước đó đã chia quân về quê hương bản quán, xây dựng tuyến phòng thủ Đỗ Động Sài Sơn (Đỗ  có nghĩa là chặn, dừng). Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tiếp tục đánh vào Bắc Việt. Thành Quèn thất thủ, Đỗ Động tướng quân hy sinh ở chân núi Sài…
Nhưng mối nợ nước thù nhà đó chưa hết. Mấy năm sau, cũng ở vùng đất nơi đầu sông Hát đã nổ ra cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ của Ả Lã Trưng Vương. Ả Lã tức là con gái nhà họ Lã, là một trong các hoàng phi của vua Triệu đã chạy về vùng Mê Linh. Vua Triệu Vệ Dương Vương – ông Thi Sách hy sinh ở cửa Đại Ác. Ả Lã vì thù cha (Lữ Gia) thù chồng (Nam Đế) đã tập hợp lại người dân nước Nam Việt cũ làm nên cuộc khởi nghĩa tiếp theo…
Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại Sài Sơn:
一點精忠存趙社
千秋正氣峻柴岩
Nhất điểm tinh trung tồn Triệu xã
Thiên thu chính khí tuấn Sài nham.
Dịch:
Lòng trung một điểm gìn nhà Triệu
Chính khí ngàn thu hiểm núi Sài.

P1200460Đình Ngô Sài ở Quốc Oai, nơi thờ Đỗ Cảnh Thạc và Ả Lã Nàng Đê.

 

Lữ Nam Đế sự tích

Thần tích lưu ở làng Ước Lễ (xã Tân Ước, huyện Thanh Oai) và Đa Phúc (Sài Sơn, Quốc Oai).
Sơn Tây tỉnh, Quốc Oai phủ, Lật Sài tổng, Đa Phúc xã ngọc phả cổ lục.

Bản dịch:

SỰ TÍCH LỮ NAM ĐẾ
Thần họ Lữ húy Gia, người xã Thiên Phúc (nay đổi là Đa Phúc) huyện Ninh Sơn (đời Lê Trang Tôn đổi là Yên Sơn), làm quan triều Triệu Văn Vương, đến khi Minh Vương lên ngôi, ông được ban chức Thái phó.
Lúc đầu, khi Minh Vương còn là Thái tử, vào làm con tin bên nhà Hán sống ở Trường An, lấy bà Cù Thị ở Hàm Đan, sinh được một người con trai tên là Hưng. Đến khi Minh Vương lên ngôi, nhân giấu ấn của Tiên đế, đã dâng thư cho nhà Hán xin lập bà họ Cù làm hoàng hậu, con trai Hưng làm Thái tử. Nhà Hán nhiều lần sai sứ giả dụ Minh Vương vào triều. Minh Vương đã cáo bệnh không chịu nghe theo. Đến khi con trai Hưng đã lập tôn bà họ Cù làm hoàng hậu.
Nguyên khi bà họ Cù chưa lấy Minh Vương, bà thường đi lại với Thiếu Quý An Quốc người Bá Lăng. Năm Nguyên Đỉnh thứ 4 đời Vũ Đế nhà Hán đã sai Thiếu Quý đến dụ Hưng và hoàng hậu Cù Thị vào triều. Đến khi sang nước Việt, Thiếu Quý lại tư thông với bà. Người trong nước biết chuyện đó, nhiều người không ủng hộ. Cù Hậu tức giận, muốn dựa vào thế nhà Hán, nhiều lần khuyên Hưng và các quần thần quy phục. Thế rồi nhân sứ giả nhà Hán đến, liền dâng thư xin được theo qui chế đối với các nước chư hầu ba năm một lần triều cống, vua nhà Hán chấp thuận, liền ban ấn bạc cho Hưng và Thừa tướng Lữ Gia. Năm sau, Hưng và và Cù Hậu đã sắm sửa hành trang của cải châu báu đầy đủ để nhập triều.
Lúc đó, Thừa tướng Lữ Gia tuổi đã cao, làm Thừa tướng trải qua ba triều, tôn tộc đều làm trưởng lại đại thần, tất cả hơn 70 người. Con trai thì lấy công chúa, con gái đều gả cho con em các nhà vương gia. Ngày ấy, họ Lữ giữ quyền rất lớn, người trong nước tin theo, còn lớn hơn cả người theo vua Triệu. Lữ Gia đã nhiều lần can ngăn Hưng không nên qui phục nhà Hán, nhưng Hưng không nghe, nên đã nhiều lần cáo bệnh không muốn gặp sứ giả.
Sứ giả nhà Hán đều để ý đến Lữ Gia. Cù Hậu bèn bầy tiệc rượu mời sứ giả nhà Hán đến, âm mưu trừ khử Lữ Gia. Sứ giả đến uống rượu, các đại thần đều đến uống rượu. Sứ giả ngồi phía đông, Cù Hậu ngồi ở phía Nam, Hưng và các tướng đều ngồi ở phía Tây. Em trai Lữ Gia là Lữ Cường làm tướng, đem binh sĩ đến ở ngoài cung.
Khi rót rượu, Cù Hậu nói với Lữ Gia rằng: “Nam Việt nội phục nhà Hán là có lợi, tướng quân không muốn là cớ làm sao?”. Nói vậy là có ý khích sứ giả nhà Hán, nhưng sứ giả hồ nghi nhìn nhau không dám chống cự.
Lữ Gia thấy xung quanh không có tai mắt của mình liền bỏ ra ngoài. Cù Hậu tức giận muốn cầm mâu đâm Lữ Gia, nhưng Hưng cản lại. Lữ Gia đi ra, sai em trai mang quân đến phủ đệ riêng ở Trúc Viên Sài Sơn, cáo bệnh không gặp sứ giả.
Cù Hậu muốn giết Lữ Gia nhưng không giết nổi. Hán Vũ Đế cho rằng: “Hưng và Cù Hậu đã quy phục, chỉ còn Lữ Gia là không chịu nghe theo, nên không muốn mang quân sang đánh, muốn sai tướng là Trang Sâm mang 2000 quân đi sứ.
Trang Sâm nói: “Nếu có ý tốt thì mang vài người là đủ, còn nếu dùng vũ lực mà đem 2000 người thì chẳng làm gì được”. Tướng ở Tế Bắc là Hàn Thiên Thu hăng hái nói rằng: “Chỉ có nước Nam Việt bé tí tẹo thế, lại có thêm Hưng và Cù Hậu làm nội ứng rồi, thì thần chỉ xin đem theo 300 dũng sĩ sang sẽ bắt được Lữ Gia đem về đền ơn vua”. Thế là nhà Hán liền cử Hàn Thiên Thu và em trai Cù Hậu là Cù Lạc đem 2000 quân sang đất Việt.
Thừa tướng Lữ Gia liền ban lệnh cho dân cả nước rằng: “Vua Triệu nhỏ tuổi, Cù Hậu vốn là người Hán, đã từng dâm loạn với sứ nhà Hán, chỉ muốn nội phụ nhà Hán, lại mang tất cả bảo khí của Tiên Đế để sang cống vua Hán để lấy lòng, lại sai tôi tớ đem vàng bạc đến Trường An bán kiếm lời. Họ chỉ giữ mối lợi nhất thời, chẳng đoái hoài đến giang sơn xã tắc nhà Triệu”. Thế rồi sai tướng đến đánh, giết chết cả Hưng, Cù Hậu và sứ giả nhà Hán. Lại cho người đến nói với Tần Vương ở Thương Ngô, xin cho lập con cả của Triệu Minh Vương là Kiến Đức làm vua Nam Việt.
Kiến Đức lên ngôi thì Hàn Thiên Thu đem quân đến xâm phạm bờ cõi, phá tan mấy làng ấp. Lữ Gia liền mở đường, cấp lương cho binh sĩ, đặt đồn lũy đến tận Phiên Ngung dài 40 dặm, đem quân đánh giết chết Hàn Thiên Thu, treo cờ tiết nhà Hán lên trên ải. Sau đó lại chất đá làm cửa, chống lại quân Hán. Nhà Hán sai Lâu Thuyền tướng quân đến chặn giữ các nơi hiểm yếu, lại sai bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc đem mấy vạn quân đến công phá cửa đá, đánh bại quân Việt. Kiến Đức và Lữ Gia đem mấy trăm quân đi thuyền chạy ra biển. Thế là nhà Triệu đã bị bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc dẹp yên.
Tương truyền, Lữ Gia đánh nhau với quân Hán, bị thua lại bị quân Hán chém cụt đầu. Ngài vẫn ngồi trên lưng ngựa, chạy mãi đến địa giới xã Đăng Khôi huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản), gặp đám phụ nữ đi qua, họ đều nói: “Xưa nay người không có đầu lại có thể sống được chẳng?”. Thế là Người liền ngã ngựa mà hóa. Ngài rất linh thiêng, các đời vua đều phong tặng, trong đó có ý tán thán rằng: “Lữ Nam Đế đã tỏ rõ tài năng dám chống lại nhà Hán”.
Người đời sau từng ca ngợi: “Riêng một mình chẳng coi được ấn tín nhà Hán làm vinh hạnh, nên rõ ràng không thuận tiện cho kẻ quy phụ, thế thì há bảo là không trí được chăng? Chém Thiếu Quý diệt Thiên Thu bỏ cờ tiết nhà Hán, chiếm cứ nơi hiểm yếu, như thế há bảo rằng không dũng mãnh hay sao? Phế một vua lập một vua, chỉ biết thờ con cháu Vũ Đế, giữ gìn xã tắc nhà Triệu, sống chết vì đất nước, như thế há bảo rằng không có nghĩa được hay sao?”.
Từ xưa đến nay nhân dân các nơi thờ phụng rất là tôn kính, hễ có cầu khấn điều gì đều rất linh nghiệm.

Nguyên văn:

山西省國威府栗柴總多福社玉譜古籙

呂南帝事跡

神姓呂諱嘉寧山(黎莊尊時改為安山縣)天福人(今改多福)仕趙文王朝至明王即位拜太傅初明王為太子時入質於漢居長安娶邯郸樛氏女生子興及明王即位因藏先帝璽上書於漢請立樛氏為皇后興為世子漢数遣使者誘明王入朝王稱病不朝從子興立尊樛氏為皇后原樛氏未嫁明王時常與伯陵人安國少季通漢武帝元鼎四年使少季来誘興及樛后入朝少季至後與後私通國人知之多不附樛后后怒欲倚漢威数勸興群臣求內附即因使者上言請此內諸侯三歲一朝漢帝許之錫興與丞相呂嘉銀印次年興及樛后知飭治行装重宝為入朝
其时丞相呂嘉年老歷相三朝尊族仕官為長史者七十餘人男皆尚公主女皆嫁王之子弟及槍梧秦王有連親壻也其㞐國中甚重國人信之多為耳目者得眾心愈於王嘉数諌興勿內附弗咱因称病不見漢使者使者皆注意嘉樛后乃置酒介漢使隂謀欲誅嘉使者飲大臣皆視坐飲使者東鄉樛南鄉興與将相皆西鄉嘉弟呂強為将将卒居宮外行酒后謂嘉曰
南越內附國之利也而相君不更者何也以意激漢使使者弧疑相顧遂莫敢抗嘉見耳目非是即出后怒欲縦嘉以矛興止之嘉遂出分其弟兵仍就柴山竹園私第称病不見使者后欲誅嘉而力不能
漢武帝以為興及樛氏已內附獨嘉不咱命不足興兵欲使将莊参以弍千兵往使莊参曰以好往数人足矣以武往二千人無以為也濟北将韓千秋奮曰以一區區之越又有興及樛后內為應願得勇士三百人必蒦嘉以报於是漢使韓千秋興樛后弟樛樂以弍千人往入境丞相嘉遂不令國中趙王年少樛后本漢人又與漢使乱專欲內附尽持先帝器入献于漢以自媚多縱人行至長安慮賣以為重僕自守一時之利無願趙氏社稷為萬世計慮之意乃與其弟将卒攻興遂殺興及樛后尽殺漢使者遣人先說槍梧秦王及諸郡邑立明王長子衛陽侯建德為王建德即立而韓千秋引兵入境破数小邑嘉乃開道給良未至番禺四十里出兵撃韓千秋等滅之使亟封漢使節置塞上人積石為門以抗漢楼船發兵守要害處漢使博德楊僕等将𢼂萬進兵破石門敗之建德及嘉興𢼂百人夜奔入海以船西去而趙已為博德楊僕等所平矣
世傳以為嘉與戰漢不利䘮其首猶騎馬奔至天本縣(今務本縣)登灰社諸村婦女皆言古今豈有無首而生者遂墜馬為死稔著靈異歷代封曰呂南帝盖表其能與北敵抗也後人称之曰獨不漢印為荣確然求內附為不便不可謂非智誅少季滅千秋亟封漢印㨿守要害攄先王之忄憤於九泉不可謂非勇癈一君立一君惟知事武帝子孫趙氏社稷死生以之遑悔其他不可謂非義從来北方之民歲時奉祀祈禳無不靈驗焉

Những kinh đô đất Việt thời Tần Hán

Dấu vết khảo cổ học ở miền Bắc Việt cho biết một cách chắc chắn là ít nhất thời kỳ đầu của sử Việt đã đóng đô với những thành quách ở những nơi sau:
– Việt Trì ở Phong Châu, Phú Thọ. Tương truyền là kinh đô nước Văn Lang thời Hùng Vương.
– Cổ Loa ở Đông Anh, Hà Nội: kinh đô nước Âu Lạc thời An Dương Vương.
– Luy Lâu ở Thuận Thành, Bắc Ninh: trị sở thời Tây Hán, cho tới thời Đường mới chuyển về thành Đại La.
Vấn đề khúc mắc đặt ra là tại sao An Dương Vương lại không đóng đô ở Việt Trì, nơi Hùng Vương trước đó định đô đã hàng trăm năm? Và nhất là, tại sao chỉ sau một thời gian rất ngắn (triều đại của An Dương Vương tương truyền được có 50 năm), trị sở của khu vực đã lại chuyển sang Luy Lâu, bên kia bờ sông Đuống? Nguyên nhân lịch sử gì dẫn đến việc thay đổi trị sở/kinh đô qua các thời đại như vậy?

Co Loa A3
Các giai đoạn đắp thành ở Cổ Loa (Ảnh: Lại Văn Tới).

Khảo cổ học ở Cổ Loa đã phát hiện tới 4 lớp đắp thành. Trong đó ở lớp thứ 2 niên đại đã xác định là giữa thế kỷ II và III TCN. Như thế lớp thành đất sớm ở bên dưới có niên đại còn sớm hơn thời gian này nhiều. Từ thông tin này có thể đi đến 2 nhận định:
–  Thành do An Dương Vương xây ở Cổ Loa vốn dựa trên vị trí một tòa thành từng tồn tại trước đó khá lâu. Đây có thể là cơ sở để Ngọc phả Hùng Vương cho biết, người đầu tiên xây thành Cổ Loa là Hùng Tuyền Vương, chứ không phải An Dương Vương. Nhận định này giải thích tại sao An Dương Vương sau khi thế ngôi Hùng Vương lại đóng đô ở Cổ Loa, vì  nơi đây vốn đã là một trị sở trung tâm của khu vực từ cuối thời Hùng Vương rồi.
– Các lớp thành do An Dương Vương xây dựng chủ yếu là vào thời điểm giữa thế kỷ thứ III TCN. Như thế, thời điểm An Dương Vương thay thế Hùng Vương vào quãng năm 257 TCN theo như Đại Việt sử ký toàn thư là phù hợp. Điều này cũng đồng nghĩa là An Dương Vương không phải mới xuất hiện trong cuộc chiến với quân Tần dưới thời Tần Thủy Hoàng (quãng 218 TCN).
Như những bài trước đã chỉ ra, thực chất triều Thục An Dương Vương trong truyền thuyết Việt chính là nhà Tần. Năm 257 TCN là năm Tần diệt vị vua cuối cùng của vương triều Chu là Chu Noãn Vương, chính thức bắt đầu một triều đại mới của thiên hạ Trung Hoa. Sau khi lên ngôi thiên tử thống nhất thiên hạ nhà Tần đã cho tiến hành những cuộc xây dựng quy mô lớn như phía Bắc xây Vạn lý trường thành, phía Nam đưa hàng chục vạn người đến đóng thú. Công trình xây dựng của nhà Tần còn lại ngày nay ở Việt Nam chính là thành Cổ Loa. Truyền thuyết Việt chép là An Dương Vương xây thành trên đất Việt Thường.
Câu đối ở đền Thượng Cổ Loa:
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà thượng cố cung.
Dịch:
Tùng bách lăng Chiêu giờ đâu nhỉ
Non sông nước Thục vẫn cung xưa.

Co LoaNghi môn đền Thượng Cổ Loa.

Nút thắt thứ hai cần giải thích là tại sao ngay khi nhà Tần sụp đổ, kinh đô/trị sở của vùng Bắc Việt lại chuyển sang đất Luy Lâu? Tư liệu lịch sử cần đối chiếu cho sự kiện “dời đô” này chính là chuyện của Triệu Đà, vì diệt Tần trên đất Việt không phải An Dương Vương mà là Triệu Đà. Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép rất rõ về việc này:
Rồi dần dần ông [Triệu Đà] dùng hình pháp giết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra, dùng những người đồng đảng để thay thế. Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua [An Dương Vương]. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy. Bấy giờ Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang (tức là [con sông] ở phủ Đô hộ, sau lầm là Đông Hồ, tức là bến Đông Hồ ngày nay), vì phạm thổ thần nên bị bệnh, phải rút về. Nhâm Ngao bảo Đà rằng: “Nhà Tần sắp mất, dùng mưu kế đánh Phán thì có thể dựng nước được”. Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông Ngàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phía Nam thuộc quyền cai trị của vua.
Đoạn kể của truyền thuyết Việt trên cung cấp những thông tin quan trọng để xác định vị trí khởi điểm của Nhâm Ngao và Triệu Đà. Nhâm Ngao thực chất là một viên quan đóng trị sở ở vùng sông Tiểu Giang, tức là ở quãng bến Đông Hồ, hay Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay. Khu vực này được biết dưới tên “huyện Long Xuyên”, là nơi sau đó Triệu Đà tiếp vị của Nhâm Ngao.
Nhâm Ngao đã bị bệnh và chết ở vùng Bắc Ninh ngày nay, mà sự việc này còn được kể trong Truyện Giếng Việt, khi Thôi Vĩ chữa bệnh cho Nhâm Ngao rồi ngã xuống hang ở núi Châu Sơn. Núi Vũ Ninh hay núi Châu Sơn nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh, cũng là nơi Triệu Đà đóng quân khi đánh Tần (đánh An Dương Vương).
Đoạn trích của Đại Việt sử ký toàn thư đã dẫn ở trên cho biết, Triệu Đà và An Dương Vương đã lấy sông Thiên Đức, tức là sông Đuống, làm ranh giới phân chia khu vực quản lý. Triệu Đà giữ vùng bên này sông, tức là chiếm vùng phía Đông. An Dương Vương đóng ở thành Cổ Loa là phía Tây.
Như vậy, vùng Bắc Ninh là căn cứ ban đầu của cuộc khởi nghĩa Triệu Đà chống là nhà Tần (Thục) nên đây chính là lý do vì sao khi khởi nghĩa thành công, lập nước thì trị sở vùng Bắc Việt lại chuyển sang bên này sông Thiên Đức. Để rồi tồn tại ở đó với thành Luy Lâu kéo dài hơn 800 năm.
Dấu vết thờ Triệu Đà ở khu vực này tới nay còn khá dày đặc, với các di tích ở vùng Từ Sơn (Bắc Ninh), Xuân Quan (Hưng Yên) hay ở đầu sông Đuống là làng Văn Tinh (Xuân Canh, Đông Anh).

Van Tinh.jpg
Gian tiền tế đình làng Văn Tinh, Xuân Canh, Đông Anh (Ảnh: Nguyễn Huân).

Lý giải lịch sử cho việc dời trị sở này còn có thể đối chiếu với… Cao Tổ bản kỷ trong Sử ký Tư Mã Thiên. Cao Tổ Lưu Bang vốn là sinh ra ở vùng đất Phong, lớn lên làm đình trưởng rồi khởi nghĩa chống Tần ở đất Bái. Tuy nhiên, tướng được cử giữ đất Phong lúc đó là Ung Xỉ lại làm phản, không theo Lưu Bang, nên đã làm cho cuộc khởi nghĩa ban đầu trở nên rất gian nan. Lưu Bang đến khi thắng được Hạng Vũ rồi lên ngôi thiên tử, chỉ trở về thăm đất Bái và vẫn ghi nhớ mối thù với đất Phong, định không cho vùng đó được miễn thuế dù là nơi quê hương của ông.
Đất Phong hay Phong Châu, là vùng đất tổ từ thời Hùng Vương. Bản thân vùng Đông Ngàn Cổ Loa thời Hán gọi là Phong Khê. Còn đất Bái là vùng phía Đông, nơi Lưu Bang – Triệu Vũ Đế trảm xà khởi nghĩa. Cũng vì món nợ của đất Phong đó mà Lưu Bang đã không lấy Phong Khê – Cổ Loa làm trị sở cho vùng đất quê hương khởi nghiệp khai cơ của mình. Việc này dẫn đến xuất hiện trung tâm Luy Lâu phía bên này sông Thiên Đức thay thế cho vai trò của thành Cổ Loa thời Tần (An Dương Vương).
Câu đối ở đền Cổ Loa:
螺形險固天若或主之幾朝代幾桑滄甌貉神京終不改
龜爪靈光今無復見矣此人民此城郭封溪王烈恍然存
Loa hình hiểm cố thiên nhược vực chủ chi, kỷ triều đại kỷ tang thương, Âu Lạc thần kinh chung bất cải
Quy trảo linh quang kim vô phục kiến hỹ, thử nhân dân thử thành quách, Phong Khê vương liệt hoảng nhiên tồn.

Những điều mới biết về Triệu Đà

Những tranh cãi về Triệu Đà vị vua đầu tiên của nước Nam Việt từ bao thế kỷ này chưa bao giờ dứt.  Người thì tôn là vị đế vương oai hùng khởi đầu sử Việt. Kẻ lại bảo là tội đồ làm người Việt chịu cảnh Bắc thuộc ngàn năm. Tranh cãi bởi vì chân tướng sự thực về Triệu Đà chưa được nhận ra. Một khi bản chất công trạng sự nghiệp lịch sử của vị vua này được hiểu đúng thì không cần phải tranh cãi nữa, vì lịch sử là sự thực, không cần biện luận đúng hay sai, tốt hay xấu.
Những sự thực mới biết về Triệu Đà có thể nhìn nhận ra được bằng cách so sánh giữa 2 nguồn tư liệu. Một là của chính người Việt tức là các truyền thuyết Việt lưu truyền về Triệu Đà ở các nơi thờ phụng trên đất Việt. Một là những ghi chép của người Trung Hoa về thời kỳ lịch sử này trong các thư tịch cổ, mà điển hình là Sử ký Tư Mã Thiên. So sánh 2 hướng nhìn, 2 cách ghi chép cho cùng một thời kỳ đem lại những thông tin thật bất ngờ về vị vua vĩ đại nhưng lại nhiều nỗi oan khuất mang tên Triệu Đà.

Thủa đầu trên quê hương
Thần tích làng Đồng Xâm, nơi có đền thờ Triệu Vũ Đế ở xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình kể:
Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi).
Tiếp đó thần tích kể Triệu Đà đi đến trang Đường Sâm, lấy nàng Lan con gái họ Trình, sinh ra Trọng Thủy. Triệu Đà cho lập hành cung tại Đường Sâm, sau này là nơi thờ tự Triệu Đà và hoàng hậu Trình Thị.

IMG_4212.JPGĐền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở gần Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình).

Nguyên văn chữ Nho của đoạn kể trên về Triệu Đà: “Đế vi Long Xuyên lệnh (tức Nam Hải huyện), lĩnh trích đồ thú Ngũ Lĩnh“.
Đoạn thông tin này bị hiểu là Triệu Đà dẫn đám dân đi lính thú của nhà Tần tấn công nước Việt. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Hiểu chính xác phải là Triệu Đà được cử làm huyện lệnh Long Xuyên, cũng là huyện Nam Hải. Triệu Đà nhận lĩnh việc đưa những người phu dịch (“đồ“) đến vùng Ngũ Lĩnh.
Làm gì có chuyện những người có tội bị biếm trích lại là quân lính để tấn công phương Nam. Đây là việc nhà Tần tăng cường nhân công cho việc xây dựng ở nước Nam, tương tự việc phu dịch xây Vạn lý trường thành ở phía Bắc. Triệu Đà là một lệnh trưởng chịu trách nhiệm dẫn dân phu đến vùng núi Ngũ Lĩnh.
Đoạn trích trên cũng cho biết, Triệu Đà đi đến vùng đất Thái Bình (Đồng Xâm), rồi lấy vợ, sinh con, còn lập cả hành cung (dựng nhà để ở) tại đó. Vậy là Thái Bình hay vùng Bắc Việt lúc này rõ ràng đã nằm trong lãnh thổ của nhà Tần thì Triệu Đà mới có thể ngụ cư, làm huyện lệnh và dẫn dân phu đi đến đó.
Đoạn kể về Triệu Đà này so với ghi chép trong Sử ký Tư Mã Thiên thì giống y hệt chuyện của Lưu Bang. Cao Tổ bản kỷ chép: “Cao Tổ dĩ đình trưởng vi huyện tống đồ Lịch Sơn“. Dịch: Cao Tổ làm đình trưởng trong huyện dẫn lính đồ thú đi Lịch Sơn.
Cần biết rằng “Ngũ Lĩnh” trong các thần tích Việt là chỉ dãy Hoàng Liên Sơn, nơi mà Kinh Dương Vương được phong cai quản vùng đất “Ngũ Lĩnh Vân Nam” ở phương Nam (theo Ngọc phả Hùng Vương). Còn “Lịch Sơn” chẳng ở đâu xa, là ngọn núi Lịch của Viễn Sơn, vị vua Hùng thứ 3, nay vẫn còn nguyên tên gọi, nằm giữa 2 tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ bây giờ.
Thần tích Đồng Xâm kể tiếp: Năm thứ 48 thời Thục An Dương Vương (năm thứ 37 Tần Thủy Hoàng, năm ấy Thủy Hoàng băng hà). Nhân đấy Nhâm Hiêu bàn mưu cùng Đế xâm chiếm Thục, thế rồi liền dẫn quân tiến đánh. Đế đóng quân ở vùng núi Tiên Du Bắc Giang, đại chiến với An Dương Vương. An Dương Vương lấy nỏ thần ra bắn, Đế thua chạy. Khi ấy, Nhâm Hiêu đem thuyền quân đóng ở Tiểu Giang (nay là bến Đông Hồ), xâm phạm phải thổ thần, nên bị nhiễm bệnh phải quay về.
Vùng gần thành Cổ Loa có sự tích Triệu Đà theo sông Hồng dẫn quân đến đánh Thục như ở các làng Văn Tinh, Lực Canh ở xã Xuân Canh, Đông Anh, Hà Nội. Di tích về Triệu Vũ Đế còn có là điện Long Hưng ở xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên với sự tích Triệu Vũ Đế đi dọc sông Hồng và thấy rồng bay lên, đặt tên vùng này là Thăng Long.
Câu đối ở điện Long Hưng:
一指已無秦萬里開先閩貉絶
两立何難漢億年倡始帝王基
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.
Dịch:
Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.
Thần tích Đồng Xâm kể tiếp: Nhâm Hiêu nói với Đế rằng: Nhà Tần mất rồi. Hãy dùng kế mà tấn công Phán (tên của An Dương Vương) thì có thể lập nước được. Đế biết An Dương Vương có nỏ thần, không thể địch nổi, nên lui về phòng thủ ở núi Vũ Ninh. Sau đó sai sứ giảng hòa, chia đất. Bình Giang trở lên phía Bắc Đế cai trị. Bình Giang trở về Nam An Dương Vương cai trị.
Triệu Đà khi đánh Thục đã lui về phòng thủ ở núi Vũ Ninh. Vũ Ninh là núi Châu Sơn ở Quế Võ, Bắc Ninh, nay còn tục thờ Triệu Đà tại 8 làng của vùng này. Đây cũng hoàn toàn giống chuyện Lưu Bang sau khi dẫn dân phu đi Lịch Sơn, dân phu trốn nhiều quá buộc Lưu Bang sợ trách nhiệm phải cùng bỏ vào vùng núi Mang Đường, từ đó chống lại nhà Tần.
Cao Tổ bản kỷ chép: Tần Thủy Hoàng Đế thường nói: 
– Phía Đông Nam có khí thiên tử. 
Bèn đi chơi về phía đông để trấn áp. 
Cao Tổ nghi rằng đó là vì mình, bèn trốn tránh giữa miền đầm và núi giữa hai huyện Mang Đường.

Ban do Trieu Da
Các địa danh liên quan đến Triệu Đà.

Khởi nghĩa trên đất Việt
Thần tích Đồng Xâm kể: Năm thứ 50 đời An Dương Vương (Tần Nhị Thế năm thứ 2), Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch nói với Đế rằng: “Nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, lòng dân chưa biết theo ai. Đất này là nơi hẻo lánh, ta sợ bọn giặc xâm phạm đến đây nên muốn cắt đường mà tự phòng bị (là nơi Tần mở đường qua Việt), đợi xem các nước chư hầu biến động ra sao”.
Như thế nhà Tần đã mở một con đường độc đạo để đi sang Việt. Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng thường “Đông du”, đến vùng đất có Lưu Bang như kể trên.
Thần tích Đồng Xâm kể tiếp: Đến khi bệnh nguy cấp Nhâm Hiêu nói: “Đất Phiên Ngung dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài mấy nghìn dặm, lại có người Tần giúp đỡ, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Các vị trưởng sử trong quận không ai có thể bàn được, chi nên phải triệu ông đến bảo”. Nhân đó cho Đế thay mình.
Nhâm Hiêu mất, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: “Quân giặc đã đến. Các quân binh cắt đường tự thủ”. Hịch truyền đến các châu huyện đều hưởng ứng theo. Thế rồi giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, thay bằng những người bạn bè thân thích của mình cai quản. Rồi phát binh đánh Thục Vương.
Đoạn thần tích này nói Triệu Đà đã tiếp ý của Nhâm Hiêu, loại bỏ các quan của Tần ở trong quận, nhưng lại “phát binh đánh Thục Vương“. Đã giết các trưởng sử của Tần thì phải phát binh đánh Tần mới đúng. Tất cả sự trùng hợp về không gian, sự kiện nêu trên cho thấy Thục Vương chính là nhà Tần trong chuyện Triệu Đà. Người đã khởi nghĩa kháng Tần trên đất Việt không phải ai khác chính là Lưu Bang. Triệu Đà là một tên gọi từ góc nhìn của truyền thuyết Việt cho Lưu Bang, vị vua khởi lập nhà Hiếu (Hán) sau khi lật đổ nhà Tần.

IMG_2270Tượng Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng, Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Trọng Thủy – Lý Thân
Có một chi tiết cần làm rõ trong chuyện Triệu Đà, đó là nhân vật Trọng Thủy. Thần tích Đồng Xâm kể:
Đế sai con trai là Trọng Thủy vào làm thị vệ và cầu hôn với con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Vua Thục chấp nhận. Trọng Thủy cùng công chúa ở nước Thục được ba năm, liền dỗ Mỵ Châu cho xem trộm nỏ thần, rồi ngấm ngầm phá lẫy, đánh đổi đi…
Một khi đã xác định Thục chính là Tần, thì Trọng Thủy là phò mã của nhà Tần. Truyền thuyết Việt có một người là phò mã của Tần Thủy Hoàng, đó là Lý Ông Trọng, đức thánh Chèm. Cùng tên là Trọng. Họ Lý cũng chính là họ của Triệu Đà vì Triệu Đà là Lưu Bang hay Lý Bôn.
Theo sự tích ở đình Chèm (Từ Liêm, Hà Nội) thì Lý Ông Trọng là Tư lệ hiệu úy của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh công chúa cho. Còn Trọng Thủy thì theo đúng ghi chép của thần tích, đã vào cung nhà Thục làm “thị vệ” rồi cầu hôn công chúa của Thục Vương.

P1000409.JPG
Đình Ninh Sơn, nơi thờ Lý Thân ở Chương Mỹ, Hà Nội.

Đặc biệt hơn, sự tích ở vùng Hà Tây kể Triệu Đà vốn tên là Nguyễn Thận ( = Lý Thân vì họ Lý đổi ra họ Nguyễn dưới thời Trần), sau làm con nuôi của Triệu Cao, nên đổi sang họ Triệu. Triệu Cao ở đây như vậy là ông tổ của nhà Triệu, có thể gọi là Triệu Cao Tổ. Cao Tổ nhà Triệu thì rõ ràng là Hiếu Cao Lưu Bang. Lý Ông Trọng là con (nuôi) của Cao Tổ, tương đương với Trọng Thủy, con Triệu Cao Tổ Lưu Bang.
Gia phả Phạm Công tộc tại Mộ Đức – Quảng Ngãi ghi: Cuối đời Hùng Duệ Vương  con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp).
Thần tích Đồng Xâm cũng kể: Đến năm thứ nhất nhà Triệu (Đế 50 tuổi, Tần Nhị Thế năm thứ 3) Đế đã thắng quân Thục chiếm được Lâm Ấp, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (nay là Quảng Đông).
Lý Ông Trọng như vậy là là vị thủ lĩnh khởi đầu của nước Lâm Ấp hay Nam Chiếu. Nước Nam Chiếu ban đầu gọi là Nam Triệu như trong Truyện Nam Chiếu, Lĩnh Nam chích quái đã chép:
Người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế…
Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu.
Người Nam Chiếu là dòng dõi Triệu Đà. Kết nối các thông tin trên càng khẳng định thêm rằng Lý Thân – Lý Ông Trọng chính là Trọng Thủy, con (dòng dõi) của Triệu Đà trong truyền thuyết.
Câu đối về Lý Ông Trọng ở đình Chèm:
秦關莅止中華將
越甸巍然尚等神
Tần quan lỵ chỉ Trung Hoa tướng
Việt điện nguy nhiên thượng đẳng thần.
Dịch:
Ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa
Điện Việt còn đây thần thượng đẳng.