Thiên Tiên Thánh giáo

Cong
Trụ sở Thiên Tiên thánh giáo ở Huế.

Đạo Mẫu ở Huế được biết với tên Thiên Tiên Thánh giáo. Người theo đạo này thờ Tứ phủ, nhưng 4 phủ này không hoàn toàn giống Tứ phủ ở miền Bắc. Ngoài 2 phủ là Thủy phủ và Thượng ngàn là tương đồng, còn 2 phủ khác trong Thiên Tiên Thánh giáo đều là Thiên phủ, chia thành Thượng Thiên và Trung Thiên. Đứng đầu Tứ phủ ở Huế là các vị thánh mẫu:
– Cõi Thượng thiên có Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thánh mẫu
Cõi Thượng ngàn có Quản cai Sơn nhạc Cửu châu Lê Mại đại vương
Cõi Trung Thiên có Tây Cung Vương Mẫu bổn mạng Chúa tiên
Cõi Thủy phủ có Thủy phủ Long Cung Thánh mẫu.
Có thể thấy ở vị trí chính – Thượng thiên Thánh mẫu trong Tứ phủ Huế không phải là Thánh mẫu Liễu Hạnh mà lại là một vị Thánh mẫu của “người Chăm” – Thiên Y A Na. Trong khi bản thân đạo Mẫu Huế xuất phát từ hội Sơn Nam, là những người dân từ Nam Định di cư vào Huế từ thời tiền Nguyễn, mà Nam Định là quê hương của Mẫu Liễu. Việc này phải giải thích thế nào? Tại sao người Việt lại tôn thờ một nữ thần Chăm làm thiên chủ?
Thiên Y A Na được biết là bà Mẹ xứ sở Poh Nagar trong tín ngưỡng của người Chăm. Bà là thiên thần sinh ra từ thế giới của mây trời và bọt biển… 
Ngài là nữ thần Mẹ của vương quốc. Ngài tạo dưng nên vùng đất cho cây cối và rừng gỗ quý sinh sôi. Ngài gây ra giống lúa và dạy dân trồng lúa…
Bà Poh Nagar là nữ thần Uma, vợ của thần Shiva trong Hindu giáo. Là vợ của Vua Trời  (Shiva) nên bà Uma được tôn làm Thượng thiên Thánh mẫu, rất hợp lý.
Xét mặt khác, Thánh mẫu Liễu Hạnh được sắc phong là “Đế Thích Tiên đình“. Đế Thích Tiên có thể hiểu là vợ của Đế Thích hay Thiên Đế. Như vậy, bản thân mẫu Liễu là hóa thân của bà Uma ở miền Bắc Việt. Khi vào miền Trung, ngôi Thượng thiên chuyển cho Thiên Y A Na, cũng là vợ Đế Thích, tương đương với vị trí của Mẫu Liễu ở miền Bắc.
Đến đây ta có một phát hiện quan trọng. Thiên Tiên Thánh giáo ở Huế thờ nữ thần Hindu giáo là thần chủ Thượng thiên. Chữ “Thiên” trong tên của Thiên Tiên Thánh giáo chính là chỉ ngôi Thượng Thiên của nữ thần Uma. Suy rộng hơn, Thiên ở đây chỉ các vị thần của Hindu giáo, được gọi là các Chư Thiên, bao gồm cả Phật. Thiên Tiên Thánh giáo thờ Phật A Di Đà và Phật Bà Quan Âm cũng là với ý này.
Chữ Phật nhiều nơi được ghi bằng chữ Thiên với bộ Nhân. Phật là “Người Trời” hay Chư Thiên. Thiên trong Thiên Tiên Thánh giáo là chỉ chung cho Phật đạo – Hindu giáo.

Thien Tien ThanhCửu trùng đài và chính cung Thiên Y A Na ở trụ sơ Thiên Tiên Thánh giáo.

Ở vị trí Trung thiên là bà Tây Cung Vương Mẫu, được người miền Trung thờ là thần “bản mệnh” cho người phụ nữ. Các gia đình ở Thừa Thiên Huế thường thờ đặt ban bà trong nhà, gọi là Tran Bà, với hình ảnh của Cửu Thiên Huyền nữ. Tây Cung Vương Mẫu cũng là Cửu Thiên Huyền nữ, và cũng là Mẫu Cửu trùng trong Thiên phủ ở miền Bắc. Bà là bà Mẹ Trời, cai quản các thần tiên trong Đạo giáo.
Tây Cung Vương Mẫu không chỉ là bản mệnh cho gia đình, mà còn là “bản mệnh” thành hoàng cho cả kinh thành Huế, vì bà mang tên Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân. Rất có thể tên “Thừa Thiên Huế” là bắt nguồn từ danh hiệu này của Tây Cung Vương Mẫu.
Như thế, yếu tố thứ hai cấu thành Thiên Tiên Thánh giáo là yếu tố “Tiên”, tức là chỉ Đạo Lão, với thần chủ Tây Cung Vương Mẫu. Trong tín ngưỡng này còn mang nhiều hình tượng, thần tượng khác của Đạo Lão như bệ Cửu trùng, Ngọc hoàng Thượng đế, các bà Ngũ hành,… Thậm chí ngay cả vị Quan Thánh Đế Quân được thờ trong Thiên Tiên Thánh giáo cũng là một yếu tố từ Đạo Lão.
Yếu tố thứ ba trong Thiên Tiên Thánh giáo là chữ “Thánh”. Ở Việt Nam đạo thờ Thánh tức là đạo thờ tổ tiển, thờ phụng những người có công với đất nước, những vị thủ lĩnh quốc gia hiển hách. Cụ thể vua Đồng Khánh đã tự xếp mình là một vị Thánh, cùng với Lục vị tôn ông thành bộ Thất Thánh trong Thiên Tiên Thánh giáo. Ngoài ra những vị Thánh trong lịch sử của dân tộc cũng được tôn thờ ở đây như Sơn Tinh, Thủy Tinh, Trần Hưng Đạo…

IMG_0695Một góc của điện Hòn Chén.

Đạo thờ Thánh này cũng có thể coi là một dạng tín ngưỡng xuất phát từ Nho giáo, với triết lý tôn vinh các bậc Thánh hiền trong thiên hạ. Xét như vậy thì Thiên Tiên Thánh giáo thực chất là một tôn giáo gồm Tam giáo đồng nguyên:
– Thiên: đạo Phật và Ấn Độ giáo.
– Tiên: đạo Lão
– Thánh: đạo thờ tổ tiên, hay đạo Nho.
Tất cả hình thành một tổ hợp thần điện hỗn hợp nhưng lại rất có trật tự, có giáo lý, hợp thành một tôn giáo đầy đủ: Thiên Tiên Thánh giáo.
Hình thức “Tam giáo đồng nguyên” này ở miền Bắc cùng thời đó là phong trào của Hội thiện với các Thiện đàn, cùng với tục thờ thần và thực hành lên đồng, cầu cơ, giáng bút rất tương đồng.
Có thể nói Thiên Tiên Thánh giáo phát triển từ đạo mẫu Tứ phủ của miền Bắc, nhưng đã bổ sung thêm yếu tố tín ngưỡng của Ấn Độ (Phật và Hindu) trong thần điện, đề cao hơn các vị Thánh – những vị tiền liệt có công lao với đất nước.

Bàn về thành hoàng làng

Thành hoàng ghi bằng chữ Nho là 城隍. “Thành” 城 là cái thành, chỉ một địa điểm tụ cư xưa. “Hoàng” 隍 theo nghĩa chữ Nho là cái ao cạn, hay cái hào nước cạn. Các tác giả thường cho rằng đây là cái hào bao quanh cái thành, và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành (Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh). Tuy nhiên, nếu xét sát nghĩa như trên thì ta thấy “hoàng” không phải là cái hào có nước bao quanh thành. Hơn nữa khi 2 từ này ghép lại là “thành hoàng” thì không có từ nào để chỉ người cả, nên không thể suy ra nghĩa là vị thần coi giữ thành.
Chính xác hơn thì từ Hoàng 隍 vốn là một chữ Nôm được cấu tạo từ bộ phụ 阝, chỉ một khu đất, và chữ hoàng 皇, chỉ người đứng đầu. Khi ghép nghĩa của 2 bộ phận này (phép Hội ý) ta có chữ Hoàng 隍 mang nghĩa là người đứng đầu một khu vực đất đai, tương ứng với nghĩa là thần chủ của khu vực đó.
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính chép: “Xét về cái tục thờ Thần hoàng này từ trước đời Tam Quốc trở về trước vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi. Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thần hoàng ở Thành Đô; kế đến nhà Tống, nhà Minh, thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ.”
Như thế ban đầu là tục thờ “thần hoàng”, chứ không phải “thành hoàng”, nên việc ghép nghĩa “hoàng” là cái hào bao quanh thành ở đây là không sát thực. Ban đầu “thần hoàng” hay “hoàng” là từ để chỉ một vị thần chủ được thờ phụng. Sau này khi người ta lập thần cho một khu vực cư trú nhất định (thành) thì vị thần này mới mang tên gọi là “thành hoàng”. Cho tới nay, ở các tỉnh miền Nam, người ta vẫn gọi là “Bổn cảnh thần hoàng”, chứ không phải “thành hoàng” như ở miền Bắc.
Trong lời hát xoan ở Phú Thọ, Vĩnh Phú, khi dùng để hát chầu nơi cửa đình, thường nói đến vị “Vua”. Ví dụ, hát mời vua:

Vua lên thánh đức trị vì
Vua về nghe hát, mừng làng sống lâu.

“Vua” ở đây là thành hoàng làng. Tức là chữ Hoàng có nghĩa là “vua”, chỉ thần chủ của làng.
Người Việt rất coi trọng tín ngưỡng thờ thành hoàng nên những vị thần được cả làng lựa chọn thờ cúng đều là những người có công lao, sự nghiệp đối với làng xã, với đất nước. Khảo sát trong các vị thành hoàng ở Việt Nam hầu như đều là những nhân vật lịch sử có thật ở các thời kỳ khác nhau. Những nhân vật lịch sử có sự tích rõ ràng được gọi là các Nhân thần. Chủ yếu đây là những anh hùng dân tộc, những nhân vật lịch sử qua các thời kỳ trung đại như các vị tướng của Bà Trưng, Bà Triệu, thời Tiền Lý, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đinh, Lê, Lý, Trần. Hiếm gặp hơn (chủ yếu ở miền Nam) là các nhân vật lịch sử thời Nguyễn được sắc phong là thành hoàng làng.
Những còn nhân vật ở thời kỳ xa xưa, với sự tích huyền ảo thường bị nhầm lẫn gọi là Thiên thần hay Nhiên thần. Tuy nhiên, khi xét kỹ đây đều vẫn là những con người có thực, là những vị anh hùng có công lao to lớn trong buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc. Một số “Nhiên thần” hay “Thiên thần” ở dạng này có thể kể đến như Tản Viên Sơn Thánh, Huyền Thiên Trấn Vũ, Thánh Dóng, thần Đồng Cổ, Bạch Hạc Tam Giang… Dù có được gọi là “Sơn thần” hay “thủy thần” thì các vị thần này vẫn có nguyên mẫu là một nhân vật từng tồn tại trong quá khứ.

DIen Long Hung
Đình Xuân Quan, nơi thờ Triệu Vũ Đế.

Người Việt lại càng tỉnh táo và cẩn trọng trong việc nhìn nhận các vị quan lại của nhân dân hay của giặc ngoại xâm. Hầu như người Việt không thờ “giặc ngoại xâm” bao giờ, mà thực chất những vị thần được thờ có xuất xứ dưới thời Bắc thuộc đều vốn là những người gốc Việt, từng có công với dân với nước. Đây là trường hợp của Triệu Đà (làng Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên; các làng ở khu vực Từ Sơn và Quế Võ, Bắc Ninh), Lưu Bang, Lữ Hậu (làng Bát Tràng), Đặng Nhượng, Tích Quang (làng Lý Đỏ, Hải Dương; làng Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội), Nhâm Diên (làng Nga My Thượng, Thanh Oai), Sĩ Nhiếp (các làng ở vùng Thuận Thành, Bắc Ninh), ba vị họ Chu (ở Thạch Thất, Hà Nội). Thậm chí có cả các Tiết độ sứ thời kỳ sau này như Vũ Hồn (ở Hải Dương), Cao Biền (ở Bắc Ninh). Khi suy xét kỹ nguồn gốc, sẽ nhận ra tất cả những vị thành hoàng “thời Bắc thuộc” này vốn đều là người gốc Việt, làm quan dưới các triều đại của người Việt.

IMG_7205
Ngai vị Lưu Thiên tử và Lữ Hoàng hậu ở đình Bát Tràng.

Một số trường hợp thờ thành hoàng có nguồn gốc Trung Hoa như Tứ vị Hồng nương, Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân, thậm chí cả Tề Thiên Đại Thánh. Đây đều là những vị phúc thần phổ biến trong văn hóa Trung Hoa, không phải “giặc ngoại xâm”.
Trường hợp khác là các thành hoàng có nguồn gốc từ tín ngưỡng Ấn Độ (Bà La Môn giáo và đạo Phật). Xếp vào loại này có các vị Bà trong Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), Đế Thích (tập trung ở Hưng Yên và Hà Nội). Thậm chí có nơi thờ cả Phật tổ Thích Ca làm thành hoàng như đình làng Thổ Cốc (Tân Lập, Yên Mỹ, Hưng Yên). Có lẽ tên gọi “Thiên thần” chỉ nên dùng cho các vị thành hoàng xuất xứ từ tôn giáo.
Lẻ tẻ có một vài nơi có đền miếu thờ các viên tướng giặc như thờ Mã Viện hay Sầm Nghi Đống, nhưng thực chất đều không phải là các thành hoàng làng được sắc phong, mà là do những nhóm Hoa kiều lập miếu thờ.

IMG_9016.JPGChính điện đình Kim Ngân, thờ ông tổ bách nghệ Hiên Hoàng.

Ở một số làng thờ các vị có công truyền dạy nghề cho dân làng, như vị tổ nghề gốm Bát Tràng, làng Phù Lãng, vị tổ nghề đúc đồng ở Đại Bái, nghề chạm khắc gỗ làng Đông Giao, Hải Dương… Trong số các vị thành hoàng là tổ nghề, đáng chú ý có nơi thờ các nhân vật của cổ sử Trung Hoa như đình Kim Ngân (Hàng Bạc, Hà Nội) thờ Hiên Viên Hoàng Đế là tổ bách nghệ. Nhiều làng nghề mộc như Dư Dụ (Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Nội) thờ ông Lỗ Ban, tổ sư của nghề mộc.
Người Việt không thờ cái hào bao quanh thành, không thờ những tà thần làm thành hoàng, không thờ giặc ngoại xâm trong đình làng. Thành hoàng làng đều là những nhân vật lịch sử hoặc tôn giáo có công lúc sống, hiển linh lúc mất với nước với dân.

Đền miếu Việt

“Đền miếu” là cách gọi chung cho các kiến trúc dùng để thờ cúng, thực hành các tín ngưỡng. Tín ngưỡng thờ thần trong các ngôi làng của người Việt đã xuất hiện ngay từ khi làng được hình thành. Do đó các kiến trúc đền miều cũng đã có từ khi đó.

Tùy theo từng vùng miền, từng đối tượng thờ cúng mà các công trình thờ phụng ở làng mang những tên gọi khác nhau như đền, miếu, mạo, nghè, từ, quán, chùa, am, phủ, điện… Tất cả đều có công năng chung là nơi để phụng sự, thờ cúng các vị thánh, thần và là nơi thực hành các tín ngưỡng của người dân hoặc của các vị tu hành. Đây là điểm dựa tâm linh quan trọng đối với cộng đồng người dân trong thôn làng. Tục thờ thần thánh thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đạo thờ tổ tiên, một nét đặc trưng văn hóa của người Việt.

Cu thachCự thạch, đàn tế cổ ở Đại Đình, Tam Đảo.

Ban đầu người Việt thực hành việc thờ cúng dưới dạng các bệ thờ lộ thiên được xếp bằng đá hoặc xây dựng. Những bệ thờ cổ nhất còn lưu lại tới ngày nay dưới dạng các di chỉ cự thạch, gặp ở một số vùng miền núi ở Vĩnh Phúc, Cao Bằng,… Dần dần sau này từ các bệ thờ phát triển thành các loại hình kiến trúc có mái, khép kín khác nhau. Các đàn tế mà nay còn được sử dụng không còn nhiều, chủ yếu ở những nơi có tục thờ Trời (đàn Nam Giao), thờ Thần Nông (đàn Tịch Điền, đàn Xã Tắc) vì theo quan niệm việc thờ cúng này phải thực hiện ở ngoài trời.

Sau các bệ thờ là những am, miếu nhỏ. Những am bệ này thường được lập để tạm thời thờ cúng, trước khi xây thành miếu điện, như trường hợp thờ gốc cây, thờ đá, thờ người chết bất đắc kỳ tử,… Am cũng là từ để chỉ một kiến trúc nhỏ dành cho người tu hành chuyên tâm.

IMG_6262Đền Nhà Bà ở Phù Ninh, Phú Thọ.

Ở miền Bắc xưa kia hầu như làng nào cũng có một ngôi miếu chính để thờ cúng vị thần bảo hộ của làng. Nhưng cũng không hiếm trường hợp làng có nhiều ngôi miếu, thờ các vị thần khác nhau. Nhiều trường hợp đây cũng là các vị thành hoàng của làng, là những người lúc sống có công với làng xã, hoặc khi mất từng hiển linh phù trợ quốc gia, được các triều đại phong kiến công nhận qua các sắc phong.

Thông thường nếu đình làng là chốn “công đường”, nơi khấn cáo, tế lễ thành hoàng làng, thì đền, miếu hay nghè của làng là nơi an nghỉ, lưu giữ các di vật, sắc phong của thành hoàng. Cũng như đình làng, các đền miếu của làng thường do làng quản lý, cử ra một người thủ từ để trông nom hương khói. Nhưng việc cúng tế, tổ chức tế lễ vẫn do ban khánh tiết chung của làng thực hiện.

Nghe Gia Lam.jpgNghè Gia Lâm, Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội.

Một loại hình miếu thờ quan trọng rất phổ biến đối với các địa phương có truyền thống khoa bảng là Văn từ của làng. Văn từ, Văn chỉ (Từ chỉ, Từ vũ) là nơi thờ Khổng Tử, các bậc Tiên hiền và các nhà khoa bảng, vinh hiển của địa phương. Một số nơi trong Văn chỉ, Văn miếu có thờ cả Sĩ Nhiếp như vị thánh tổ Nho học nước Nam (Nam Giao học tổ). Mục đích của Văn chỉ là để cổ vũ, dẫn dụ đạo học của quê hương.

Thời phong kiến, một số làng có Quán, là nơi thờ tự của Đạo giáo và nơi tu hành của các đạo sĩ, do Đạo quản lý. Các đạo quán thường được lập ở những nơi được cho là có tính phong thủy tốt, các huyệt mạch quan trọng của thế đất. Cũng có nhiều trường hợp “quán” cũng là nơi thờ cúng các vị thần, thậm chí cả thành hoàng làng, và điều này thường chứng tỏ vị thần được thờ từng là một đạo sĩ hay có liên quan tới Lão giáo.

Lam Duong quan.jpgCổng Lâm Dương quán, nay là chùa Đa Sĩ.

Một điểm thờ tự mà trước kia hầu hết các làng quê Bắc Bộ đều có là ngôi chùa làng. Chùa là nơi phụng thờ Phật và nơi tu hành của các vị sư, sãi và do sư quản lý. Các chùa ở miền Bắc thường thờ theo hình thức Đại thừa, thờ đức Phật Thích Ca, Tam Thế phật cùng các chư Phật khác. Chùa gắn bó thân thiết trong đời sống tâm linh của dân làng. Chùa là nơi dân làng lễ bái, tu thân, trau dồi đức hạnh, để phúc đức lại cho con cháu. Tuy nhiên, chùa làng thường lại không do làng quản lý mà do sư sãi của Phật giáo quyết định.

Trên thực tế nguồn gốc các ngôi chùa hiện nay khá phức tạp. Ở nhiều nơi các đạo quán của Lão giáo trước đây nay đã bị cải thành nơi thờ Phật, và được gọi là chùa. Điển hình như Hưng Thánh quán ở Thường Tín được gọi là chùa Mui, Lâm Dương quán là chùa Đa Sĩ (Hà Đông), chùa Thiên Tôn ở Ninh Bình,… Những nơi này tên gọi và hệ thống tượng thờ phần lớn đã thay đổi, chỉ duy còn giữ được bộ tượng Tam Thanh, đặc trưng của điện thờ Đạo giáo.

IMG_0595.JPGChùa Pháp Vũ ở Ân Thi, Hưng Yên.

Phổ biến hơn nữa, chùa được nói đến khi có liên quan tới các nhân vật của Bà La Môn giáo đã được Việt hóa sâu sắc. Điển hình là tục thờ Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) rất phổ biến ở các chùa của tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội. Tứ pháp hay bốn vị Bà (Dâu, Dàn, Tướng, Đậu) thực chất là Tứ đại Thiên vương trong Bà La Môn giáo đã du nhập vào nước ta từ thời kỳ rất sớm. Cũng ở các vùng này còn có các đền thờ Đế Thích, cũng được gọi thành chùa (Đế Thích tự như ở vùng Hưng Yên hay chùa Vua ở Hà Nội).

Nhiều chùa còn kiêm luôn là đền thờ, với bố cục “tiền Phật hậu Thánh”, có khi là “tiền Thánh hậu Phật”. Đây là các trường hợp thờ các vị thánh tổ thiền sư như Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Giác Hải như chùa Láng, chùa Thầy, chùa Keo,… Còn nữa, chùa Hương Tích thờ bà chúa Ba Diệu Thiện thời Hùng Vương dưới ngôi Nam Hải Quan Âm của đạo Phật.

Chua THay.jpgBệ đá thời Lý đỡ tượng Từ Đạo Hạnh ở chùa Thầy.

Các loại hình Phủ, hay quy mô nhỏ hơn là Điện, là nơi thờ Mẫu hay các vị thần trong Tam tứ phủ. Đây cũng là nơi thực hành tín ngưỡng thông qua hoạt động hát chầu văn và lên đồng. Ngày nay, các điện thờ Mẫu thường được dựng bên trong khuôn viên của chùa, hình thành tổ hợp “tiền Phật hậu Mẫu”.

Dong Hoa.jpgĐền Đỗng Hoa, đàn thiện ở Thạch Thất.

Ở một số địa phương ở miền Bắc còn có loại hình “thiện đàn”, nhiều chỗ gọi là đền thờ Tam giáo. Đây từng là nơi hoạt động của phong trào Đông kinh nghĩa thục, là nơi tổ chức các buổi cầu cơ giáng bút, nhằm phổ biến lòng yêu nước, thương nòi trong nhân dân. Thần điện của các thiện đàn rất phong phú, tập hợp nhiều vị thần mang tính truyền thống dân gian như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tản Viên Sơn Thánh, Thái Thượng Lão Quân, Khổng Tử, Đức Thánh Trần, Mẫu Liễu Hạnh, Quan Thánh Đế Quân… Quan niệm của những nhân sĩ trong phong trào thiện đàn là gìn giữ được tín ngưỡng thờ thánh thần là gìn giữ được hồn cốt của dân tộc, giúp nhân dân ta có tâm thức vượt qua đêm dài nô lệ dưới gót giặc ngoại xâm.

 

Bà Giàng và Tứ Pháp

Ở miền Trung, có một vị thần được thờ rất phổ biến, dọc ven biển từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam Đà Nẵng, nơi nào cũng có thờ. Vị thần có cái tên khá dân gian: Bà Giàng. Bà Giàng là ai mà lại được thờ phổ biến như vậy ở đây? Để nhận diện vị thần này, thử điểm qua các di tích thờ Bà Giàng ở vùng ven biển Trung Bộ.

IMG_3345Miếu Bà Giàng – Thai Dương phu nhân ở Thuận An.

Một ngôi miếu cổ nổi tiếng ở cửa biển Thuận An (Huế) gắn với sự tích Thai Dương phu nhân. Sự tích này đã được ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí và vị thần Thai Dương phu nhân ở đây đã được triều đình nhà Nguyễn nhiều lần sắc phong. Truyền thuyết về Thai Dương phu nhân được kể nói chung như sau:
Có một ngư phủ ra làm nghề biển, nằm gối đầu lên khối đá mà ngủ. Ông nằm mộng thấy người đàn bà mang thai lay đầu mình dạy bảo rằng: “Chớ chạm vào thai ta”. Ngư phủ tỉnh dậy không thấy ai khấn rằng: “Thần có thiêng xin đêm nay phù hộ cho ta bắt được nhiều cá”. Quả nhiên, hôm đó ông đạt được ý nguyện như lời cầu xin. Dân chài trong địa phương cùng nhau lập đền thờ. Mỗi lần họ cầu xin điều gì đều được như ý.

IMG_3332Đá thờ trong nội điện miếu Bà Giàng – Thai Dương phu nhân ở Thuận An.

Tục thờ Thai Dương phu nhân gắn liền với tục thờ đá cổ. Miếu Thai Dương phu nhân ở cửa Thuận An còn được gọi là miếu Bà Giàng. Dễ nhận thấy âm Giàng đã được ghi trong sách vở bằng chữ Dương. Còn chữ được dịch ra thành “phu nhân”.
Câu đối ở miếu Thai Dương phu nhân:
跋跅化生帖海澄波彰聖澤
邰陽顯現騰雲駕雨妙神機
Bạt thác hóa sinh, thiếp hải trừng ba chương thánh trạch
Thai dương hiển hiện, đằng vân giá vũ diệu thần cơ.
Dịch:
Dấu mạnh hóa sinh, biển lặng sóng yên ngời đức thánh
Thai trời hiển hiện, đi mây về gió khéo cơ thần.
Ở các nơi khác, Bà Giàng được ghi trong sắc phong là Dương phu nhân. Ví dụ như sắc phong của xã Thi Ông ở Hải Lăng, Quảng Trị. Điều này củng cố thêm nhận định Bà Giàng = Dương phu nhân.

Sac Duong phu nhan.jpgSắc phong thời Tự Đức cho Dương phu nhân trung đẳng thần ở xã Thi Ông, Hải Lăng, Quảng Trị.

Ở thôn Thanh Phước xã Hương Phong, Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng có một viên đá được vua phong là “phu nhân”. Đó là “Kỳ Thạch phu nhân”, là một tấm đá có khắc chạm tượng. Đây là tấm phù điêu của một tháp Chăm cổ được người dân tìm thấy trên bãi cồn. Tấm đá chạm hình quỷ vương Ravanda mười đầu, mười tám tay, bốn chân đang lay chuyển ngọn núi của thần Shiva trong Hindu giáo. Làng Thanh Phước gọi tấm chạm này là “Bà Đá”, cho dù hình khắc không thể hiện nhân vật nữ nào. Sắc phong cho Kỳ Thạch phu nhân ở làng Thanh Phước có từ thời Minh Mạng.

IMG_3468
Am Bà Đá – Kỳ Thạch phu nhân ở Thanh Phước.

Từ 2 vị “phu nhân” Bà Giàng và Bà Đá trên, ta thấy chữ Bà ở đây không phải chỉ nữ giới mà nó liên quan đến các vị thần Hindu giáo của của người Chăm xưa để lại qua các phiến đá cổ. Bản thân tên gọi Chămpa được ghi là Chiêm Bà. Chữ Bà do đó là từ chỉ thủ lĩnh trong ngôn ngữ cổ. Chiêm Bà nghĩa là Vua Chiêm, nước của vua Chiêm.
Bà Giàng như ở miếu Bà Chiêm Sơn (Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam) còn gọi là Bô Bô. Như thế Bà là biến âm của Bô, hay Bố, vốn là từ chỉ Vua ngày trước, tương tự như trong danh xưng Bố cái đại vương.
Ở thôn Lương Hậu (Thủy Lương, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế) có ngôi miếu Bà Giàng hay Lùm Giàng. Trên miếu ghi chữ “Bố Y Na miếu”. Căn cứ vào chữ này mà người ta cho rằng đó là nữ thần Thiên Y A Na, phiên âm từ tên Poh Nagar ra. Tuy nhiên, đúng với tên gọi vị thần ở đây là Bà Giàng thì phải phiên âm như sau:

  • Bố = Bà
  • Y Na = Yang = Giàng.

Bố Y Na là cách ghi âm Hán Việt khác của từ Bà Giàng. Miếu ở Lương Hậu còn có bức tượng thần Shiva nhiều tay trong điệu múa vũ trụ, cho thấy liên hệ trực tiếp giữa cái tên Bà Giàng với tín ngưỡng của Hindu giáo (người Chăm).
Từ Giàng (Yang) trong tiếng dân tộc nghĩa là Trời. Từ phát hiện trên ta lại có, Bà là từ chỉ thủ lĩnh trong ngôn ngữ Chăm. Như thế Bà Giàng nghĩa là Vua Trời. Ghi bằng âm Hán Việt ở miền Bắc là Thiên Đế (Đế Thích). Vua Trời trong văn hóa Chăm là thần Shiva.
Ở chùa Đông Lâm tại thôn Cù Hoan (Hải Thiện, Hải Lăng, Quảng Trị) có miếu Bà Giàng bên trong thờ một mukhalinga là hình một Linga tròn được gắn với đầu của thần Shiva. Hình thần Shiva còn thấy cả râu mép, rất rõ ràng không phải là nữ thần.

Mukhalinga
Tượng Bà Giàng – mukhalinga chùa Đông Lâm (ảnh theo Internet).

Rất nhiều những điểm thờ cúng khác liên quan đến chữ Bà đều có tượng đá Chăm thể hiện các vị thần của Hindu giáo. Tại chùa Ưu Điềm (Phong Điền, Thừa Thiên Huế) có miếu Bà Lồi, trong đó lưu giữ một bức phù điêu có khắc hình thần Shiva và vợ đang cưỡi trên con bò thần Nandin. Trong miếu còn các hiện vật khác của một ngôi đền Chăm cổ, có cả một Linga tròn và mảnh vỡ của tượng Yoni. Chữ Bà như vậy chỉ các vị thần trong Hindu giáo, nay được gọi là các Chư Thiên.

IMG_3531Phù điêu và Linga cùng các hiện vật đá ở miếu Bà Lồi, chùa Ưu Điềm.

Các “Bà” hay Chư Thiên Hindu giáo thường gắn với truyền thuyết về “thai sinh”, sinh ra từ thân cây hay trong một tảng đá. Ví dụ như trường hợp Thai Dương phu nhân ở Thuận An đã nói ở trên. Có thể cái “Thai” này là tượng trưng của Linga, biểu tượng của thần Shiva.
Từ nhận định chữ Bà là chỉ các vị thần của Hindu giáo ở miền Trung còn đi đến một phát hiện bất ngờ khác. Bốn vị thần Tứ Pháp – Phong Vũ Lôi Điện ở vùng Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) có tên dân gian là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn. Những chữ “Bà” này làm cho người ta nghĩ rằng đây là 4 vị nữ thần…

P1150366
Ban Pháp Vũ ở chùa Dâu.

Thực ra chữ Bà này không phải là từ chỉ phụ nữ. Đây là từ có nguồn gốc trong “tiếng Chăm”, ví dụ như các nơi Bà Đanh, Bà Đá,… thường được cho là du nhập văn hóa Chăm. Như đã dẫn chứng ở trên Bà tương đương với vua hay vương. 4 vị “Bà” làm Mây Mưa Sấm Chớp ở vùng Luy Lâu dó đó là 4 vị vương thần, hay gọi chính xác là Tứ đại Thiên vương. Đây là 4 vị thần của Hindu giáo mà đã được tiểu thuyết Phong Thần diễn nghĩa gọi là Phong Điều Vũ Thuận, liên quan đến việc làm mưa làm gió.

P1150368Ban thờ Pháp Vân ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Cốt lõi của cây Dung thụ nơi sinh Tứ pháp là Thạch Quang Phật, tức là cái “Thai” đá, hay Linga, biểu tượng của thần Shiva. Tứ đại Thiên vương cũng là những vị thần theo hộ giúp thần Shiva.
Tục thờ Tứ pháp do đó thực chất là thờ các vị thần Hindu giáo, đã du nhập vào miền Bắc từ rất sớm ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Khi đó, dưới sự cai quản của Sĩ Nhiếp miền Bắc và miền Trung Việt đang cùng trong 1 châu. Giao Châu thời này bao gồm cả các quận Nhật Nam, Cửu Chân, mà Nhật Nam chính là nơi bố của Sĩ Nhiếp là Sĩ Tứ làm thái thú. Do đó, hoàn toàn hợp lý khi tín ngưỡng của miền Bắc và miền Trung Việt lúc này cùng là một, thờ các vị Thiên Đế và Chư Thiên của đạo Bà La Môn.

 

Biểu hiện của Hindu giáo vào Việt Nam sớm qua sách Thiên Đế bảo lục

IMG_0524

Thần tích của đền Xá tại Ân Thi, Hưng Yên mang tên Thiên Đế bảo lục do Hàn lâm đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, kể về sự giáng sinh của Vua Trời Đế Thích ở đây. Sự tích này bắt đầu từ thời Hùng Chiêu Vương, là cháu của Kinh Dương Vương.
Chiêu Vương là người khoan nhân, trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thánh thần, chăm lo lấy dân làm gốc, được gọi là bậc hiền quân.  Lúc này ở trại Trì La (nay ở huyện Ân Thi, Hưng Yên) có một cây bạch đàn tím từ trên trời giáng xuống, dựng ở mảnh đất đầu rồng trong trại. Chiêu Vương cho lập đàn thờ lộ thiên để phụng sự và cầu đảo cây thiêng này.
Sang đời Hùng Vương thứ mười, Tạo Vương làm vua, cây thiêng ở Trì La đã trải qua hơn bảy trăm năm. Đất nước gặp tai họa giặc quỷ quấy nhiễu. Cây thiêng vỡ ra một bọc bào thai, được Tạo Vương cho mang về cung điện, đặt trên lầu rồng để cầu khấn.
Tháng Giêng ngày mười lăm bỗng thấy trời đất mùi mịt, trên lầu bọc thai phóng hào quang bốn hướng, khí lành rực rỡ. Bọc thai tự nổ một tiếng kinh động trời đất. Vua cùng trăm quan sợ phục trước lầu, ngưỡng xem thấy Đế Thích Thiên Vương ngự tại đầu rồng trước lầu, mây lành năm màu, đầu đội mũ bình thiên, thân khoác áo rồng, tay cầm kim bài.
Minh Hoa công chúa (là con gái của Hùng Hy Vương), bảy mươi tuổi mà cảm ứng ở chỗ cây thiêng, cùng lúc đó sinh ra 2 vị Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử, cùng theo phò tả hữu bên Đế Thích. Công chúa hóa thân chỉ còn lại 2 búi tóc. Hai vị Thiên tử hô lớn, hai búi tóc bỗng nhiên biến hóa. Búi thứ nhất biến thành Ngựa lửa, thân dài chín thước, ông Tả cưỡi. Một búi khác biến thành Lân ngọc, ông Hữu cưỡi.
Ba vị cùng với Diêm La bộ soái, là tướng của Tạo Vương, dẫn ngàn thiên binh đi diệt giặc quỷ. Lũ quỷ bị đánh tan thành tro bụi. Bè đảng sài lang hổ báo được dẹp yên. Ba vị hóa về trời. Còn Diêm La bộ soái sau đó hóa thành con rắn lớn, trườn xuống sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa…

IMG_0577.JPGCảnh Thiên Đình ở đền Xá.

Vua Trời Đế Thích là thần Indra, vị thần chủ rất sớm của 33 cõi trời trong Ấn Độ giáo. Thần Đế Thích – Indra đã được ghi chép trong bộ kinh cổ Vệ Đà. Sự tích Thiên Đế bảo lục cho biết vị thần này đã có mặt trong tín ngưỡng ở miền Bắc Việt từ rất sớm, ban đầu từ thời Kinh Dương Vương, hiển hiện rõ rệt vào thời Hùng Vương thứ 10.
Với niên đại thời Kinh Dương Vương thì rõ ràng chưa thể có đạo Phật vì Phật tổ Thích Ca còn chưa ra đời. Trong khái niệm xưa ở nước ta, Phật còn là chỉ các vị thần của Bà La Môn như Đế Thích. Những dấu hiệu về “cổ Phật” còn lưu truyền chính là dấu vết của sự du nhập Bà La Môn rất sớm vào Bắc Việt.

IMG_0572.JPG
Ngựa lửa, Nhật quang Thiên tử cưỡi.

Cùng với Đế Thích – thần Indra, trong sự tích còn chép tới 2 vị Thiên tử giáng sinh là Nhật Quang và Nguyệt Quang. Đây cũng là 2 vị thần của đạo Bà La Môn. Nhật quang Thiên tử hay Nhật Thiên là thần Mặt trời Surya. Vị thần này thường ngồi xe ngựa kéo có màu hung đỏ. Còn trong sự tích ở Ân Thi, Nhật quang Thiên tử cưỡi con Hỏa mã (ngựa lửa), hoàn toàn trùng khớp.
Nguyệt quang Thiên tử hay Nguyệt Thiên là thần Mặt trăng Chandra. Vị thần này thường cưỡi trên một con linh dương. Sự tích ở Ân Thi kể Nguyệt quang Thiên tử cưỡi con Ngọc lân, cùng hoàn toàn đồng nhất với thần thoại Ấn Độ.
Thần thoại 2 vị Nhật Thiên và Nguyệt Thiên được hình tượng hóa theo cách của người Việt trong công chúa Minh Hoa. Chữ Minh明 gồm chữ Nhật 日và chữ Nguyệt 月 ghép lại. Minh Hoa công chúa được kể là một người tám tuổi đã theo Phật, bảy mươi tuổi lại có mang, sinh ra 2 vị Nhật Nguyệt Thiên tử.

IMG_5764.jpg
Lân ngọc, Nguyệt quang Thiên tử cưỡi.

Câu đối ở đền Xá:
天闕莊嚴開日月
帝威赫濯起風雲
Thiên khuyết trang nghiêm khai nhật nguyệt
Đế uy hách trạc khởi phong vân.
Dịch:
Cửa Trời nghiêm trang mở nhật nguyệt
Đế Oai rực rỡ nổi gió mưa.
Bản thân tên huyện Thiên Thi hay địa danh Ân Thi có nghĩa là “ơn trời”, chỉ ơn huệ của Thiên Đế. Địa danh trại Trì La, nơi Đế Thích giáng sinh, có thể là từ chữ “Thi La”, trong Phật giáo nghĩa là “giới luật”. 
Dấu vết đạo Bà La Môn thời Hùng Vương còn thể hiện ở nhân vật Diêm La bộ soái, vị tướng đã dẫn quân theo Đế Thích diệt quỷ. Thần tích kể:
Diêm La bộ soái vốn là dòng dõi Hùng Vương, con cháu trăm trứng từ Long Vương. Cha là Hùng Độ làm Đế thủ Bộ chủ. Mẹ là Vũ Thị Đoan, mơ thấy giao long mà có mang thần. Tới năm Quý Tỵ tháng mười, ngày mồng mười sinh ra Diêm La công, lấy tên là Đà. Năm mười bốn tuổi ông đã văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, đứng trước sóng cả như đứng trên đất bằng. Vua cho mời vào triều nhận chức, thi thố nhiều tài lạ, được cất nhắc làm Chưởng quản thuyền rồng Lạc Long tướng quân. Năm mười chính tuổi Vua sai làm tướng dẫn quân đánh giặc Diêm La ở ngoài Nam Hải. Ông phụng mệnh trị được chúa Diêm La, lại được triệu về triều làm Chưởng bình Diêm La nguyên soái, Thuỷ đạo đại tướng quân, lại nhận mệnh phó nhậm trấn cửa biển, làm Thuỷ đạo chủ bộ.
Sự tích của vị Diêm La bộ soái này khá giống với sự tích của Quan lớn đệ Tam trong tín ngưỡng Tam phủ. Đều là “dòng dõi” Long vương – Thoải phủ. Đều là mẹ gặp giao long mà sinh thần. Đều là Chưởng quản thuyền rồng (Trưởng Lệnh) của Hùng Vương. Trưởng Lệnh (Quan đệ Tam) thì đánh dẹp giặc Hồng Châu, Diêm La bộ soái đánh giặc Diêm La nên có tên vậy. Sau khi dẹp xong giặc quỷ, Diêm La bộ soái hóa thành con rắn lớn trườn xuống ngã ba sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa. Tam Kỳ hiển ứng cũng chính là chuyện thần Bạch Hạc Thổ Lệnh – Thạch Khanh.
Chi tiết Đế Thích liên quan đến Tam phủ còn thấy trong chuyện Hồn Trương Ba xương da hàng thịt, được ghi trong sự tích và di tích còn lại tại thôn Liêu Hạ (Yên Mỹ, Văn Giang, Hưng Yên). Khi Trương Ba mất, Đế Thích đã giáng hạ, triệu Tam phủ công đồng hoàn hồn cho Trương Ba. Nay ở Liêu Hạ trong đền thờ ngoài Đế Thích còn thờ cả Tam phủ.
Đế Thích được coi là Vua cờ vì theo thần tích Thiên Đế bảo lục nói: Cờ là cốt yếu của họa phúc, sự huyền vi của trời đất. Trong chữ Nho, đánh cờ được gọi là “dịch”. So sánh 2 nghĩa này ta thấy, cờ chính là Dịch lý, tức là “triết lý” thế giới quan, nhân sinh quan của tín ngưỡng này. Kỳ pháp như thế là pháp môn của Đế Thích – đạo Bà La Môn.

IMG_0560.JPGPhạm Đá và Phạm Dũng.

Cũng trong Thiên Đế bảo lục còn kể tới thời Thục An Dương Vương, có họ Phạm ở Biện Sơn (Thanh Hóa) cầu tự Đế Thích, được mộng ban cho 2 quân cờ Xe và Tướng, sinh ra 2 người con trai là Phạm Đá và Phạm Dũng. Hai vị có công dẹp giặc Đại Man, chống chọi với Triệu Úy Đà. Sau đó hóa ở đền Đế Thích tại Trì La (Ân Thi, Hưng Yên). Nay trong đền còn tượng thờ 2 vị này.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) nói tới các sự tích này:
錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kì thế giới thiểu Trương Công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.

IMG_0397.JPGThiên Đế điện ở Liêu Hạ.

Sự kết nối giữa Đế Thích, vị thần chủ của đạo Bà La Môn với thời Hùng Vương và tín ngưỡng Tam phủ cho thấy sự du nhập rất sớm của đạo Bà La Môn vào nước ta. Ngay Văn công đồng khi mở chầu Tứ phủ cũng ghi:
Vận thần thông vô lượng vô biên
Thập phương tam giới thánh hiền
Dục giới sắc giới chư thiên đều mời
Vua Đế Thích quản cai thiên chủ
Vua Ngọc Hoàng thiên phủ chí tôn…
Như thế theo Tứ phủ thì Đế Thích là Thiên chủ quản cai. Phải nói rằng đạo Mẫu Tứ phủ tới nay là sự tổng hợp của cả Đạo Giáo, Đạo Phật và Ấn Độ giáo.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Liêu Hạ:
英靈冠百神南天第壹
功德光千古越地無雙
Anh linh quán bách thần, Nam thiên đệ nhất
Công đức quang thiên cổ, Việt địa vô song.
Dịch:
Anh linh đầu trăm thần, trời Nam thứ nhất
Công đức sáng ngàn xưa, đất Việt không hai.
Các sự tích hiển linh của Đế Thích đều đề cập đến khu vực phía Nam. Như Minh Hoa công chúa (người sinh ra Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử) từng bị biếm đày đi Ô Lý, đất Chiêm Thành. Rồi lại có chuyện Huyền Trân công chúa đời Trần được gả cho chúa Chiêm, khi chúa Chiêm chết Công chúa đã được Thiên Đế giúp thuyền gió lớn thuận buồm thoát nạn. Nay ở Ân Thi, gần đền Thiên Đế, có một số nơi thờ Huyền Trân công chúa làm thành hoàng làng và có cả đền thờ.

IMG_5021.jpg
Một đoạn sách Thiên Đế bảo lục.

Một sự tích khác từng được chép trong Lĩnh Nam chích quái về Đế Thích như sau:
Ở huyện Thiên Thi, xã Liễu Cầu có hai chị em vì loạn lạc vào đến nước Ai Lao. Họ mật cầu Vua Trời bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi bộ như bay, về tới quê quán. Khi đến làm lễ tạ, việc xong thì hình hài biến mất, chỉ còn hai búi tóc lưu lại.
Ở các khu vực Chiêm Thành, Ai Lao thì rõ ràng đã có sự du nhập của đạo Bà La Môn từ rất sớm. Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo lên khu vực Đông Nam Á đã có từ lâu. Với những dẫn liệu như vậy, có thể chúng ta phải nói tới “Tứ giáo đồng nguyên” trong tín ngưỡng ở Việt Nam: Nho, Lão, Phật và Bà La Môn.

 

Sự tích Đế Thích, dấu vết sớm của Hindu giáo ở miền Bắc Việt

IMG_4912
Thiên Đế điện ở Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Ở thôn Cầu Váu, xã Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên có một ngôi đền cổ khá đặc biệt, nơi thờ Đế Thích, gọi là Thiên Đế Điện. Theo một bản thần tích chép lưu tại đền thì sự tích vị Thiên Đế này như sau:
Đế Thích lấy tên là Đại Phạm Thiên vương Thiên chủ Đế Thích Đế Hoàn Nhân Thánh đế, thống trị sáu cõi dục. Ngọc Hoàng là Hạo Chí tôn Huyền khung Cao Thượng Đế. Trong năm tháng Giêng ngày mồng 9 là ngày lễ mừng của các Chư Thiên Thượng Đế (theo Đạo tàng đình quang tập).
Bàn Cổ năm thứ 48 Giáp Thân tháng Giêng ngày mồng 1 giờ Ngọ, Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu sinh ra Đế Thích ở nước Thiện Tiên. Đến năm Giáp Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 thì lên trời làm Thiên Đế. Thời Đế Thích năm 11 có Tây phương Đại Càn Bà vương dâng một người con gái cho Thượng Đế làm Ngọc Chi phu nhân. Bà Vương khi về phương Tây tâu lên xin cho tìm gặp Đế Thích. Thượng Đế đồng ý, ra ý cho đặt ra một cái vạc dầu, để khi Đế Thích đến, sẽ mời vào vườn hoa thưởng ngoạn, dẫn tới chỗ vạc dầu sôi mà ném vào.
Bỗng có một người áo trắng (tức là Phật) bảo Đế rằng là có mưu hại Đế. Ta sẽ chomột chiếc quạt. Đế nên đi từ Bắc về Nam, nếu bị đuổi kịp thì dùng quạt này mà quạt.
Bà Vương thấy vạc dầu đã sôi thì chạy vào vườn hoa tìm Đế. Lúc đó người áo trắng hóa thành Đế. Bà Vương liền túm và ném vào vạc dầu, nhưng bỗng trong vạc hết sạch dầu. Bà Vương kinh sợ hỏi: Thần hay Phật vậy. Rồi Bà Vương quay ra tìm Đế.
Đế dùng quạt quạt, tức thì thành ba núi năm non. Bà Vương lè lưỡi nuốt chửng, núi non tiêu sạch. Đế chạy đến nước Nam Việt, ở Cổ Lộng Lâm (nay là tỉnh Kinh Bắc, phủ Thuận Thành, huyện Văn Giang, Vĩnh Bảo xã, địa phận thôn Ốc Nhiêu) thấy tình thế bức bách liền chạy vào trốn trong đàn trâu cùng lũ trẻ chăn trâu. Bà Vương chạy lách qua đó đi thẳng về phía Nam.
Đế đi ra rồi vào một quán. Người trong quán dâng cho Đế xôi rau. Lại thấy sau quán có 12 người con gái không có mắt ôm 8-9 đứa trẻ nhỏ. Đế hỏi vì sao lại ra như vậy. Họ đáp chúng tôi là tiên nương 36 động Bồng Thái đang lên chầu Trời thì bị Bà Vương móc mất mắt như thế này.
Đế về tâu sự việc đó lên Thượng Đế. Thượng Đế trao cho Đế lục thần ngũ trí để diệt Càn Bà Vương, đốt Cổ Lộng Lâm trừ hổ lang, chấm hóa lại mắt cho 12 tiên nàng, sau đó dẫn họ quay về Trời.
Từ đó, Đế thường đi tiêu du ba ngàn thế giới, linh thiêng hiển rõ. Dân Vĩnh Bảo lập sửa cung đền phụng sự, gặp khi trời hạn cầu phúc được ứng báo như ý vậy (chép đầy đủ theo Bảo Kính Đăng Tâm thượng tập).
Tích thiêng Thiên Đế xưa có văn bia, tới nay mưa vùi gió rập, chuyện cũ khó truy. Tương truyền xã Vĩnh Bảo, xã Triền Quán có một ngôi nhà cỏ, có bà lão bán nước chè ở đó. Bỗng thấy một đại trượng phu từ trên không hạ xuống, dung mạo đường đường khác thường, đi vào quán và hỏi: Bà có thấy một thiếu phụ kiều diễm mặc áo trắng đi qua đây không? Chưa kịp đáp thì ngay lúc đó Bà Vương xông đến. Đế phất áo, mở chiếc quạt thần ra quạt hóa thành ngọn lửa lớn ,đốt diệt Bà Vương. Trong chốc lát 15 loại quỷ cùng kéo tới. Đế dùng cung thiêng bắn chúng, một lúc diệt hết lũ quỷ. Đế cưỡi trên một chiếc xe bò đi tới bờ Tây Nghĩa Trụ. Nhân dân ở trong xã đều bái yết.
Đế nói: Ta là Đế Thích của cõi trời 33, xuống cứu giúp nhân dân, diệt Bà Vương và 15 loại quỷ hại dân. Dứt lời, bay lên không mà về. Bản xã lập đền miếu tại đó để thờ, cung phụng đồ tế lễ, gặp khi hạn hán thì nghênh thánh giá về Triền Quán để cầu đảo, thường được ứng mưa. Nhân dân bốn biển cầu là ứng vậy.
Thiên Đế ở trên cõi trời 33 mỗi năm tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín dùng kính báu chiếu về Nam Hải các châu động xem nhân gian thiện ác. Những người thường xuyên tụng kinh, làm việc thiện tất được sự che chở của huyền giới (theo Bắc triều đại lịch).

IMG_5017Bản thần tích lưu ở đền Cầu Váu.

Tục thờ Đế Thích Thiên cho thấy rõ Hindu giáo đã xuất hiện ở miền Bắc Việt từ rất sớm. Thậm chí thần tích ghi từ thời… ông Bàn Cổ năm thứ 48. Vị thần ngự trị trên 33 tầng trời là thần Indra trong Ấn Độ giáo. Kinh đô của cõi trời này theo là Thiện Kiến thành, trong thần tích gọi là Thiện Tiên. Đây cũng chính là đỉnh núi Tu Di, ngọn núi thần thánh trong Phật giáo.
Câu đối trong đền Cầu Váu:
恩霑法雨三千界
喜倍天僊十二娥
Ân triêm pháp vũ tam thiên giới
Hỉ bội thiên tiên thập nhị nàng.
Dịch:
Ơn thấm mưa phép ba ngàn giới
Mừng thêm tiên trời mười hai nàng.
Cũng chính thần Indra (Đế Thích) là vị thần chống lại vua quỷ La Sát và các giống quỷ Dạ Xoa. Trong thần tích trên gọi là quỷ vương Càn Sát Bà và 15 loại quỷ.
Câu đối trong đền Cầu Váu:
帝座至尊御三十三天統三千世界
天神妙化除十五鬼類救十二僊娥
Đế tọa chí tôn, ngự tam thập tam thiên, thống tam thiên thế giới
Thiên thần diệu hóa, trừ thập ngũ quỷ loại, cứu thập nhị tiên nga.
Dịch:
Đế ở ngôi cao, ngự trời ba mươi ba, trị ba ngàn thế giới
Thần trời phép nhiệm, diệt quỷ mười lăm loại, cứu mười hai nàng tiên.
Chi tiết khác rất đặc biệt, điển hình của Hindu giáo là việc Thiên Đế cưỡi bò. Vị thần cưỡi bò là vị thần hủy diệt Shiva với con bò thần Nandin. Thần Shiva trong tranh của Ân Độ có nơi thể hiện là dùng Cung và Lửa để hủy diệt. Còn Đế Thích ở Văn Giang cũng dùng Cung và Quạt ra lửa để diệt quỷ.
Ở Thiên Đế điện tại Cầu Váu trong khám thờ cấm cung là tượng một vị Thiên Đế đang cưỡi một con bò màu mận chính. Sự tích Thiên Đế cưỡi bò đi dọc sông cho thấy đây là hình ảnh của thần Shiva.

IMG_4960
Thiên Đế cưỡi Bò thần trong khám thờ đền Cầu Váu.

Câu đối trong đền Cầu Váu nói tới sự tích cưỡi bò:
光芒赤電疑弓影
靉靆黃雲想犢車
Quang mang xích điện nghi cung ảnh
Ái đãi hoàng vân tưởng độc xa.
Dịch:
Sáng lòa chớp đỏ ngờ cung bóng
Mù mịt mây vàng ngỡ xe trâu.
Hay câu khác:
弓掛何年秋電赤
犢歸甚𩂜暮雲黄
Cung quải hà niên thu điện xích
Độc quy thậm xứ mộ vân hoàng.
Dịch:
Cung khoác năm nào sầu chớp đỏ
Trâu về xứ ấy tối mây vàng.

IMG_4985
Tượng chim thần ở nội điện đền Cầu Váu.

Điều đáng chú ý là con sông này mang tên Ngưu Giang, thường được gắn với truyền thuyết con Trâu vàng (Kim ngưu). Nhưng với ngôi đền Thiên Đế ở Cầu Váu và sự tích thần cưỡi bò thì Kim Ngưu hay Hoàng Ngưu phải là con Bò. Cái tên Kim ngưu như vậy bắt nguồn từ ảnh hưởng của tín ngưỡng Hindu giáo ở khu vực này.
Câu đối nói tới Kim Ngưu:
億年顯跡金牛上
萬古靈祠義冑西
Ức niên hiển tích Kim Ngưu Thượng.
Vạn cổ linh từ Nghĩa Trụ Tây.
Dịch:
Nghìn năm rõ tích Kim Ngưu Thượng
Vạn thế đền thiêng Nghĩa Trụ Tây.
Chùa Đậu ở Thường Tín nơi thờ Pháp Điện và Sĩ Nhiếp cũng có câu đối nói tới con sông Bò (Ngưu giang) này:
龍派汪涵惠澤千秋傳聖跡
牛江環遶恩波萬世沐神休
Long phái uông hàm, huệ trạch thiên thu truyền thánh tích
Ngưu giang hoàn nhiễu, ân ba vạn thế mộc thần hưu.
Dịch:
Dòng rồng rộng sâu, đất nhân nghìn thu truyền tích thánh
Sông trâu bao bọc, sóng ân vạn thế thấm điềm thần.

Đôi câu đối ở chùa Đậu.

Một điểm nữa là Thiên Đế điện cũng là nơi để cầu đảo khi gặp hạn hán. Bởi vì thần Indra – Đế Thích là thần Giông tố, có phép làm mưa.
Câu đối nói tới việc cầu đảo, cầu mưa, cầu phúc ở đền Thiên Đế Cầu Váu:
仙升佛降今如見
國擣民祈古以來
Tiên thăng Phật giáng kim như kiến
Quốc đảo dân kỳ cổ dĩ lai.
Dịch:
Tiên lên Phật xuống nay như thấy
Nước cúng dân cầu xưa tới giờ.
Bản thân tên thôn Cầu Váu hay bằng chữ Nho là Cầu Bảo 求保, nghĩa là cầu sự bảo trợ của thần.
Câu đối khác ở Cầu Váu nói tới sự bình an ở đây nhờ có Thiên Đế:
曲奏霓裳天上月
人皆絃管陸中仙
Khúc tấu nghê thường Thiên thượng Nguyệt
Nhân giai huyền quản Lục trung Tiên.
Dịch:
Nghê thường tấu khúc Trăng trên Trời
Đàn hát cùng người Tiên tại đất.
Thiên Đế làm mưa còn gặp trong tục thờ Tứ pháp, với di tích chùa Đậu ở Thường Tín, nơi Sĩ Nhiếp đã cho dựng Kính Thiên Điện (nơi thờ Thiên Đế?). Tại chùa Đậu còn có chùa Vua (Thiên Đế) và hiện tìm thấy một bức tượng lạ hình một vị thần có 6 tay. Rất có thể đây chính là bức tượng Thiên Đế – thần Shiva của Hindu giáo.
Hình tượng con Bò thần cũng gặp trong sự tích của Tứ pháp và Sỹ Nhiếp, là 2 con “cừu” đá, 1 con ở chùa Dâu nơi thờ Pháp Vũ cùng Thạch Quang Phật, 1 ở lăng mộ Sỹ Nhiếp. Bản thân Thạch Quang Phật vốn là một tảng đá có hình Linga, mà Linga là biểu tượng của thần Shiva. Chùa Dâu không gì khác vốn là một điện thờ Thiên Đế, bên trong thờ Linga, ngoài thờ Tứ pháp là Tứ đại thiên vương của Hindu giáo, ngoài sân có chú bò thần Nadin ngồi chầu ở chân tháp Hòa Phong.

IMG_4569
Con Bò ở lăng Sỹ Nhiếp tại Tam Á, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Trong thần tích thì Đế Thích được Thượng Đế ban cho lục thần ngũ trí nên là người rất thông tuệ. Truyền thuyết dân gian kể thành chuyện Đế Thích là một kỳ thủ tài giỏi, đã từng so tài cùng Trương Ba và hồi mạng cho họ Trương khi mất. Đền thờ Trương Ba và Đế Thích nay ở xã Liêu Hạ, Yên Mỹ, Hưng Yên. Câu chuyện Hồn Trương Ba này cũng mang đậm màu sắc của Hindu giáo.
Các câu đối ở đền Cầu Váu thường gắn liền chuyện Đế Thích diệt quỷ Càn Sát và đánh cờ cùng Trương Ba:
滅鬼一弓方顯聖
出人半局始知天
Diệt quỷ nhất cung phương hiển thánh
Xuất nhân bán cục thủy tri thiên.
Dịch:
Trừ quỷ một cung nơi hiển thánh
Giáng nhân nửa cuộc mới biết trời.
Hay như câu:
錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kì thế giới thiểu Trương Công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.
Khả năng cải tử hoàn sinh là một quyền năng rất lớn, chỉ có những bậc Thiên thần đặc biệt mới làm được. Ở đền Cầu Váu ngoài cửa nghi môn có 2 bức tượng lớn, được gọi là tượng Nam Tào Bắc Đẩu. Tức là những vị nắm sổ sinh tử của chúng sinh.

Tượng Nam Tào, Bắc Đẩu đền Cầu Váu.

Câu đối ở đền:
世無乾𩴳弓常静
人盡張公命可囬
Thế vô Càn Sát cung thường tĩnh
Nhân tận Trương Công mệnh khả hồi.
Dịch:
Đời không Càn Sát cung thường tĩnh
Người đến Trương Công mệnh còn hồi.
Như thế, Hindu giáo đã vào miền Bắc Việt từ rất sớm. Sau này những đền thờ Hindu bị chuyển thành “chùa”, tưởng rằng là thờ Phật. Bản thân các vị thần Hindu cũng được gọi là các chư Phật. Hindu giáo hay Bà La Môn, Ấn Độ giáo vốn là tôn giáo có trước Phật giáo. Về sau khi đức Thích Ca ra đời, một bộ phận lớn tín đồ Bà La Môn mới cải sang đạo Phật. Đạo Phật tới này còn dùng rất nhiều biểu tượng và thần điện của Bà La Môn.
Câu đối ở đền Cầu Váu liên quan đến nhận định này:
色空理悟曇而聖
生化機玄帝又天
Sắc không lý ngộ Đàm nhi Thánh
Sinh hóa cơ huyền Đế hựu Thiên.
Dịch:
Biết lẽ sắc không Phật mà Thánh
Diệu kỳ sinh hóa Đế cùng Trời.
Hay câu:
永清鬼類神哉佛
保惠黔黎聖即天
Vĩnh thanh quỷ loại Thần tai Phật 
Bảo huệ kiềm lê Thánh tức Thiên.
Dịch:
Mãi không loại quỷ Thần như Phật
Giữ ái dân đen Thánh cũng Trời.

 

Đôi điều về các vị tổ Thiền phái Trúc Lâm và Đạo Giáo

Một trong những tư tưởng nổi bật của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần là tư tưởng nhập thế tích cực. Tư tưởng này như một cương lĩnh đường lối hoạt động của Thiền phái mà được thể hiện rõ trong bài Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông:
Cư trần vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm
Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền.
Hay trong câu:
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật đồ công.
Sau này có ý kiến cho rằng Trần Nhân Tông khi xuất gia đã không còn tích cực nhập thế, không còn tham gia việc thế tục nữa. Nhưng thực tế không phải vậy.
Tư tưởng nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm rất có thể là ảnh hưởng từ Đạo Giáo. Ngay khi Trần Nhân Tông xuất gia đầu tiên ở hành cung Vũ Lâm đã có đạo sĩ luôn đi cùng Phật Hoàng như trong bức tranh Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ thể hiện.
Trần Quang Chỉ trong bài dẫn đề trên bức tranh này đã ghi:
Tuổi ngoài 40, ngài bỗng có chí xuất gia, bèn truyền quốc đồ cho con, vào động Vũ Lâm tu tập… Thủa ấy có đạo sĩ Trung Quốc là Lâm Thời Vũ tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi, có lúc viễn du giáo hóa, tế độ các nước láng giềng. Các ngài đi về phương Nam, đến tận Chiêm Thành, khất thực ở kinh đô…
Nguyên văn là Trung quốc đạo sĩ Lâm Thời Vũ 中國林時雨. Ở đây “trung quốc đạo sĩ” nghĩa là một đạo sĩ trong nước, chứ không phải đạo sĩ đến từ Trung Quốc, vì để chỉ xuất xứ từ phương Bắc khi đó sẽ dùng nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh. Còn khái niệm Trung Quốc ở thời Trần rất không rõ ràng. Nhà Nguyên không phải Trung Quốc vì là người Mông Cổ. Còn nhà Minh thời đó (Minh Thành Tổ) đang làm chiếm cả vùng Bắc Việt thì sao phải phân ra Trung Quốc với An Nam?
Tương tự như trong cùng bài giới thiệu trên của Trần Quang Chỉ phần đầu có đoạn nói Trần Nhân Tông kỳ trị quốc dĩ nhân kỳ sự trung quốc dĩ thành 其治國以仁其事中國以誠. Câu này phải hiểu là “Trị nước có nhân, xử lý việc trong nước với tấm lòng chân thành”. Còn hiểu là “đối với Trung Quốc một cách thành thực” (???) thì câu trở nên rất vô lý và tối nghĩa.
Tên Lâm Thời Vũ giống một danh hiệu hơn là một tên riêng. Họ Lâm ở Việt Nam rất hiếm. Để hiểu danh hiệu này của một người Việt “trong nước” thì cần dùng tiếng Việt (tiếng Nôm) làm căn cứ.
Xét ra thì từ “Vũ” (cho dù nó được ghi âm bằng chữ Nho là 雨, 禹 hay 武) vốn dùng để chỉ Vua trong tiếng Việt.  Trong văn hóa Trung Hoa các vị vua khai mở triều đại được đặt tên hiệu là Vũ, như Đại Vũ khai mở nhà Hạ, Chu Vũ Vương lập nhà Chu,…
Vũ là biến âm của Ngũ, là con số 5, số trung tâm của Hà đồ và Lạc thư (河圖洛書), là Dịch tượng dùng để chỉ thủ lĩnh của cộng đồng, của Thiên hạ. Do đó nó tương đương với từ Vua của tiếng Nôm.
Khi hiểu như vậy ta sẽ thấy “Vũ Lâm” có nghĩa là “chỗ vua tu ẩn” (Lâm 林 ở đây là khu vực rừng núi). Còn “Lâm Thời Vũ” tức là người tháp tùng vua. Dùng nghĩa của chữ Lâm 臨, “lâm thời” nghĩa tiếng Việt là “đi theo”. Nghĩa này đúng như bài giới thiệu đã ghi: Lâm Thời Vũ tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi.
Bên cạnh Phật Hoàng Trần Nhân Tông luôn có một đạo sĩ đi cùng, tới mức gọi luôn là ông Lâm Thời Vũ – “Đi Theo Vua”, chứng tỏ ảnh hưởng của Đạo Giáo tới việc tu thiền của Phật Hoàng rất lớn.
Ngay cả khi Trần Nhân Tông sang tận Chiêm Thành, thì tín ngưỡng ông không quên thúc đẩy ở đây là đề cao một vị thần bản xứ. Sách Trung Châu nhân vật ký của Lam Trà Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương ghi:
Khi lên xứ Trầm Hương – Đại Điền, nhớ lại tích xưa, tưởng niệm công đức của vợ chồng bà Tinh Vệ – Chấn Long, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tôn phong Bà Tinh Vệ là Thiên Y Thánh Mẫu, và bàn với chúa Chiêm Chế Mân cho trùng tu lại ngôi đền thờ ông bà Tinh Vệ. Chúa Chiêm Chế Mân đã cho trùng tu ngôi đền. Trên mái trước đền tạc 4 chữ Nho Thiên Y Thánh Mẫu và 2 bên trụ đền tạc đôi câu đối do chính Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngự đề…

IMG_3140
Bia và tháp mộ Tam tổ Huyền Quang ở chùa Đại Bi.

Ảnh hưởng hay sự hòa đồng của Đạo Giáo trong Thiền phái Trúc Lâm còn thấy rõ ở sự tích của vị tổ thứ ba là Huyền Quang tôn giả. Xuất xứ của Tam tổ Huyền Quang hiện còn được lưu trên bia đá Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng nay ở chùa Đại Bi, xã Thái Bảo, Gia Bình, Bắc Ninh. Sách Tổ gia thực lục chép nội dung tương tự như trên bia chùa Đại Bi, tóm tắt chuyện này như sau:
Thủy tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan hành khiển dưới triều Lý Thần Tông. Trải qua nhiều đời đến tổ phụ là Tuệ Tổ có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không ra làm quan, chỉ thích chuyện hay, sách lạ và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại chùa Ma Cô Tiên. Trong khi chợp mắt bỗng mơ thấy một con khỉ lớn đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà… Lê Thị hoài thai Sư đến 12 tháng…
Trước khi sinh nhà của Sư ở phía Nam chùa Ngọc Hoàng, một hôm thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là thiền sư Huệ Nghĩa mộng thấy Đức Phật chỉ Tôn giả A-Nan bảo hãy tái sinh làm pháp khí Đông độ và phải nhớ lại duyên xưa…
Chùa Ma Cô Tiên ở núi Chu Sơn (Châu Sơn hay Trâu Sơn) gần quê của Huyền Quang nay là chùa Cô Tiên ở Châu Cầu, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh. Sự tích Ma Cô Tiên gắn với công cuộc khởi nghiệp của một vị đế vương lớn tại núi này là Triệu Vũ Đế. Tục thờ Triệu Vũ Đế vốn được phổ biến ở 8 làng trong khu vực núi Châu Sơn là Ngọc Xá, Cựu Tự, Châu Cầu, Thất Gian, Hữu Bằng, Kim Sơn, Long Khê.
Như thế hình tượng con khỉ lớn đội mũ triều thiên mặc áo hoàng bào ở đây chính là chỉ Triệu Vũ Đế. Sự tích này ám chỉ Huệ Quang là dòng dõi từ Triệu Vũ Đế. Điều này rất có thể vì Huệ Quang là dòng dõi nhà Lý. Theo thông tin địa phương ở Châu Sơn, thân tộc nhà Lý đã di cư đến đây khi triều đại đổi sang nhà Trần. Lý cũng là họ của nhà Triệu Nam Việt vì Triệu Vũ Đế là Lý Bôn.

IMG_3765Bia Thánh tổ Cô Tiên tự bi ký tại chùa Cô Tiên ở Châu Cầu.

Điểm chú ý khác là Ma Cô Tiên được gọi là Thánh tổ trên bia còn lưu ở chùa Cô Tiên tại Châu Cầu. Còn sắc phong của làng Châu Cầu gọi bà là Thông huyền Diệu hóa Thanh hư Nhàn uyển Dực bảo Trung hưng Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa. Có thể thấy đây là một vị tổ mẫu của Đạo Giáo. Chữ “Cô” chỉ người nữ tu. Ma Cô Tiên cũng là một phúc thần phổ biến trong Đạo Giáo.
Việc bà mẹ của Huyền Quang ngụ ở chùa Cô Tiên mơ thấy khỉ mang triều phục ném mặt trời hồng vào lòng mà sinh ra Huyền Quang ám chỉ khá rõ rằng Huyền Quang có xuất xứ từ Đạo Giáo. Thêm vào đó là việc nhà sư ở chùa Ngọc Hoàng cũng mơ thấy Huyền Quang là A-Nan Tôn giả giáng thế. Chùa Ngọc Hoàng nay ở thôn Thái Bảo, xã Đại Lai, Gia Bình, Bắc Ninh. Bia chùa còn ghi đây là “Ngọc Hoàng quán”, tức đây vừa là chùa vừa là quán. Quán thờ Ngọc Hoàng cho thấy yếu tố Đạo Giáo rất rõ.

IMG_3242
Bia Ngọc Hoàng quán ký ở chùa Ngọc Hoàng.

Huyền Quang còn được biết là người đã chắp bút (định bản) tác phẩm Bảo đỉnh hành trì bí chỉ toàn chương, được mô tả là gồm các nghi lễ trong đạo Phật; các bài văn, các đạo bùa dùng trong lúc làm đàn chay, giải oan, phá ngục v.v.
Có thể thấy yếu tố bùa chú, đàn tràng, cúng giải oan, phá ngục… của Đạo Giáo được đưa vào Phật giáo thời Trần bởi chính Tam tổ Huyền Quang, hay chính qua Thiền phái Trúc Lâm từ Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

IMG_3114Đền Tam tổ ở chùa Đại Bi.

Câu đối ở đền thờ Trúc Lâm tam tổ tại chùa Đại Bi (Gia Bình, Bắc Ninh):
悲海運潮音喚醒山河千載夢
南天重聖瑞光囬社稷萬斯民
Bi hải vận triều âm, hoán tỉnh sơn hà thiên tải mộng
Nam thiên trùng thánh thụy, quang hồi xã tắc vạn tư dân.

Dịch:
Bể thương nổi tiếng triều, đánh thức núi sông ngàn năm mộng
Trời Nam dày điềm thánh, sáng soi đất nước vạn nhân dân.