Tục cúng xá tội vong nhân, một đạo lý từ thời Hùng Vương

Từ bao đời nay, cứ vào đầu tháng Bảy người Việt lại có tục cúng ngày Xá tội vong nhân. Theo quan niệm dân gian vào ngày 2/7 âm lịch hằng năm, Diêm Vương mở cửa Quỷ Môn Quan để cô hồn dạ quỷ được trở về nhân gian. Rồi đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, ma quỷ sẽ bị gọi trở lại địa ngục. Đây được coi là ngày “âm khí xung thiên”, nên người ở trần gian sẽ phải cúng cháo, gạo hay muối cho các vong linh, gọi là cúng cô hồn… Nguồn gốc của lệ tục này bắt đầu từ khi nào và liệu có liên quan gì đến lịch sử của người Việt?

Trong kho tàng huyền sử Việt có một câu chuyện vô cùng kỳ dị nói tới Diêm Vương và các hồn ma bóng quỷ. Đó là Truyện Giếng Việt, bắt đầu như sau:

Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua Địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.”

Truyện Giếng Việt cung cấp một thông tin hết sức quan trọng, Ân Vương chết biến thành vua Địa phủ. Như thế, vua Ân chính là Diêm Vương, người cho mở Quỷ Môn Quan thả các vong hồn lên Dương thế vào tháng 7 hàng năm. Tục cúng cô hồn vào tháng 7 do đó liên quan tới cái chết của vua Ân trong cuộc chiến với Phù Đổng Thiên Vương.

Truyện Giếng Việt kể tiếp, đến đời Tần, có quan Ngự sử là Thôi Vĩ đã cho trùng tu lại miếu Ân Vương. Con trai của Thôi Vĩ là Thôi Lượng, sau đó đã đi lạc đường trên núi Trâu Sơn, đến được Ân Vương Thành và gặp mặt Ân Hậu. Ân Hậu tiếp đãi Thôi Vĩ một cách ân cần rồi cho Dương Quan dẫn Thôi Vĩ về. Sau đó Dương Quan nhân biến thành một con dê đá, đứng sau đền Việt Vương trên núi Trâu.

Núi Trâu Sơn nay thuộc địa phận huyện Quế Võ. Trên núi từng có đền thờ Ân Vương rất cổ xưa. Con “dê đá” ở đền Ân Vương là một bức tượng hình nửa thân của một con linh thú kỳ dị nằm trên núi ở thôn Cựu Tự thuộc xã Ngọc Xá. Bức tượng thú bằng đá sa thạch, rất lớn, cao khoảng hơn 1,5m, khắc hình con thú có cổ dài, thân có vảy như rồng, có 2 sừng cong như sừng dê, nhưng lại có mỏ như mỏ phượng và trên thân có 2 cánh và có chân.

Phi LiemTượng Phi Liêm ở thôn Cựu Tự trên núi Trâu Sơn.

Đây là tượng con thần thú Phi Liêm, loại thú kết hợp giữa Rồng và Phượng. Dạng tượng Phi Liêm bằng đá lớn như thế này thường được thấy từ thời Tần Hán, đặt cạnh các lăng mộ hay miếu thờ các vương tôn quý tộc. Phi Liêm cũng là tên một vị trọng thần của vua Ân trong Phong thần diễn nghĩa. Thần thú Phi Liêm là tiền thân cho hình tượng Thiên Lộc, Tỳ Hưu, những linh vật cát tường phổ biến về sau này.

Truyện Giếng Việt còn kể, Ân Vương đã sai vị Ma Cô Tiên đến trao cho Thôi Lượng thuốc ngải chuyên chữa bệnh u bướu và ban cho một người con gái để kết làm vợ, lại ban cho một viên ngọc Long Tụy, trong cặp ngọc báu thư hùng mà vua Ân mang theo người khi chết ở Trâu Sơn. Ma Cô Tiên được biết là một vị thọ thần và phúc thần trong văn hóa phương Đông, là từ câu chuyện Giếng Việt này.

Vùng núi Trâu Sơn nay còn có một ngôi chùa cổ khá lớn mang tên chùa Ma Cô Tiên, nằm ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong. Chùa còn lưu được nhiều bia ký từ thời Lê, nhưng đặc biệt các chữ Ma có trên bia đều bị đục bỏ. Rải rác ở các thôn quanh núi Trâu như ở Phùng Dị, Hữu Bằng có những ngôi miếu nhỏ thờ Ma Cô Tiên.

IMG_4000

Tượng Ma Cô Tiên ở Phùng Dị, xã Ngọc Xá.

Liên quan đến các âm hồn tác quái, truyền thuyết Việt còn có truyện Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, thì có Rùa Vàng hiện lên xưng là sứ giả Thanh Giang. Thanh sứ cho biết, đây là bởi vong hồn của Vương tử đời trước báo thù. Vong hồn này ẩn náu trong núi, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng (Bạch Kê Tinh) hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi, tụ tập gây hại. An Dương Vương cùng thần Kim Qui đi đánh yêu quái, bắt được Bạch Kê Tinh đem giết đi.

Ở núi Thất Diệu, nay thuộc khu vực xã Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh, có ngôi miếu Bạch Kê, trong đó thờ một vị “Mẫu Nghi Thiên Hạ” gọi là Mẫu Bạch Kê. Cùng trên núi đó có đình làng Yên Phụ và ngôi đền Núi cùng thờ đức Vua Bà Ma Vương. Ở đây còn có một cái ao được gọi là Giếng Cô Tiên, gắn với truyền thuyết Bạch Kê và việc xây thành Cổ Loa.

Từ những di tích tín ngưỡng ở núi Yên Phụ có thể thấy Bạch Kê Tinh ở Cổ Loa chính là Ma Cô Tiên, một phi nhân của Ân Vương hay của “Vương tử đời trước” đã báo oán Thục Vương khi xây thành. Làng Ma Lôi có quỷ tinh gà trắng hiện hình vào người con gái chủ quán cũng chính là nói đến vị Ma Cô Tiên.

Truyền thuyết kể, An Dương Vương sau khi diệt được Bạch Kê Tinh liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Xương người chết xưa kia chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng, nên mới hình tượng thành Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh gây hại. Những địa danh như ngã ba Sọ, chợ Chờ, đò Lo ở vùng Yên Phong cũng gắn nỗi ám ảnh của người dân xưa kia khi phải đi qua vùng núi này.

Lịch sử Trung Hoa kể, khi bị quân đội của Vũ Vương nhà Chu, cầm đầu bởi đại tướng là Khương Tử Nha tấn công vào kinh đô Triều Ca, Ân Trụ Vương đã đốt cháy Lộc Đài và nhảy vào biển lửa tự vẫn, chấm dứt thời kỳ nhà Ân Thương kéo dài khoảng 600 năm và đồng thời chấm dứt cuộc chiến giành giật thiên hạ hàng chục năm giữa 2 nhà Ân và Chu với bao nhiêu đổ máu cho cả 2 bên.

Kết thúc cuộc chiến này, các tướng lĩnh đã hy sinh của cả 2 bên đã được vào đưa vào bảng phong thần, trở thành các vị thần có thờ tự. Còn bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng trong cuộc chiến, mà bi thảm nhất chính là cái chết của Trụ Vương, thì được cúng tế trong tục cúng cô hồn. Ngày cúng cô hồn là ngày kinh thành của Ân Vương thất thủ, nước mất, nhà vong.

Tháng 7 là tháng đầu mùa thu theo Âm lịch. Thục Vương hay Chu Vương là thủ lĩnh khu vực phía Tây thiên hạ, lấy mùa thu làm tháng biểu tượng cho triều đại. Khởi đầu mùa thu cũng nghĩa là khởi đầu triều đại phía Tây của nhà Thục hay nhà Chu trong lịch sử.

Cúng cô hồn tháng Bảy hàng năm thực chất là ngày cầu siêu cho nhân dân đói khổ vì chiến tranh loạn lạc, binh sĩ nơi sa trường, đã chết trong cuộc chiến khốc liệt giữa nhà Chu và nhà Ân hay Thục Vương và Hùng Vương của 3000 năm trước. Cũng vì lẽ đó mà nó được gọi là ngày xá tội vong nhân. Sau chiến tranh, những tử sĩ dù là của bên nào cũng đều được xá tội, được hương khói cho siêu thoát các vong hồn. Việc xá tội cho cả kẻ thù bên kia chiến tuyến để có được lòng người, có được sự đại đoàn kết của toàn dân là cái đức của người làm vua, là thiên mệnh giúp quốc gia bền vững. Thiên hạ đại xá để bắt đầu một triều đại mới.

Xã hội phương Đông phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ (thời Ân Thương hay Hùng Vương) sang chế độ phong kiến (nhà Chu hay nhà Thục nước Âu Lạc) đã phải trải qua một cuộc “cách cổ đỉnh tân”, thay cũ đổi mới, thật đắt giá với hàng vạn người đã đầu rơi máu chảy. Tục cúng xá tội vong nhân tháng Bảy thể hiện đạo lý nhân bản, vị tha, cầu sinh, chán ghét chiến tranh. Nó nhắc nhở mọi người không quên những người nghèo khổ đã khuất, những binh sĩ bỏ mình vì nước, bởi không có sự hy sinh của họ thì xã hội đã không thể tiến lên phía trước, chúng ta cũng không thể có cuộc sống an lành ngày hôm nay.

IMG_5360

Chiếc Dữu đựng rượu thời Ân Thương.

Đạo lý này cũng thể hiện qua bài thơ mà Ngự sử đại phu Thôi Vĩ đã đề ở miếu Ân Vương trên núi Trâu:

Thắng thua một cuộc không Ân đức

Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường

Trăm họ một lòng cùng thờ phụng

Xin phù tổ quốc mãi yên phương.

Xa toi vong nhan

Tháng Bảy cô hồn là sự kiện gì trong lịch sử?

Theo quan niệm dân gian cứ vào ngày 2/7 âm lịch hằng năm, Diêm Vương sẽ cho mở cửa Quỷ môn quan để cô hồn dạ quỷ được trở về nhân gian. Rồi đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, ma quỷ sẽ bị gọi trở lại địa ngục. Đây cũng là ngày “âm khí xung thiên”. Người ở trần gian sẽ phải cúng cháo, gạo hay muối cho các vong linh…
Còn Truyện giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái cho biết: Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới chân núi Trâu. Hùng Vương cầu cứu với Long Quân, Long Quân hóa thành Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, quân nhà Ân đều thua chạy. Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, bốn mùa đều phải hương khói.
Theo đó, vua Ân chết biến thành vua Địa phủ, tức chính là Diêm Vương, người cho mở Quỷ Môn quan thả các vong hồn lên dương thế vào tháng 7 hàng năm. Từ dữ liệu này có thể nhận định rằng tục cúng cô hồn vào tháng 7 liên quan tới cái chết của vua Ân trong cuộc chiến với Phù Đổng Thiên Vương.
Ở núi Trâu Sơn, hay núi Vũ Ninh nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh vẫn còn những dấu vết trực tiếp của câu chuyện Giếng Việt, với những “hang nhà Ân” như những cung điện ngang dọc trong lòng đất (các mộ gạch cổ). Khu vực núi Vũ Ninh thờ Triệu Vũ Đế, nhưng nhiều khi tượng thờ vua Triệu lại được dân địa phương gọi là “tượng người Ân”.
20191124_092438 (2)
Tượng Triệu Vũ Đế xưa thờ ở Trâu Sơn.
Liên quan đến các âm hồn, truyền thuyết Việt còn có truyện Bạch Kê tinh ở Cổ Loa: Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây.
Tinh Gà trắng hại người ở quán bên chân núi, hàng đêm lại hóa thành con cú bay đậu lên cây chiên đàn, ngậm lá thư kêu Trời, làm cho thành Cổ Loa cứ xây xong lại đổ. Nhờ có Huyền Thiên Lão Tử cử thần Kim Quy đến diệt trừ thì mới dẹp yên.
Miếu Bạch Kê ở núi Thất Diệu nay vẫn còn. Câu đối ở cổng miếu:
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩
Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân.
Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.
Câu đối này coi Bạch Kê là “tiền vương” của Bách Việt.
Bach Ke
Miếu Bạch Kê ở thị trấn Sọ, Yên Phong, Bắc Ninh.  
Đền Bạch Kê nằm ở thị trấn Sọ, cho thấy xương người chết xưa kia ở đây đã chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng… Lĩnh Nam chích quái kể lại việc “khai quật” này khi Thục An Dương Vương xây Cổ Loa: Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông.
Trong lễ tục mở cửa mả, siêu thoát cho người đã khuất cũng có dùng một con gà trống kêu quanh mộ người chết. Kê tinh như thế là biểu tượng cho âm hồn. Mà cụ thể trong truyện ở Cổ Loa, là hiện thân của “con vua đời trước” muốn báo thù cho nước.
Môt liên hệ nữa là bản thân gà trống là chữ Hùng 雄 trong tên Hùng Vương. Kê tinh như thế chỉ oan hồn của vị vua Hùng “đời trước”, đã bị mất nước bởi Thục Vương. Thục An Dương Vương ở Cổ Loa là triều đại mà đã đánh dẹp nhà Ân. Như thế Bạch Kê tinh tức chính là âm hồn của Ân Vương.
Lịch sử kể, khi bị quân đội của Vũ Vương nhà Chu, cầm đầu bởi Khương Tử Nha tấn công vào kinh đô Triều Ca, thì Ân Trụ Vương đã đốt cháy Lộc Đài và nhảy vào biển lửa tự vẫn, chấm dứt thời kỳ nhà Ân Thương kéo dài khoảng 600 năm, chấm dứt cuộc chiến giành thiên hạ hàng chục năm giữa Ân và Chu, với bao nhiêu đổ máu cho cả 2 bên.
Kết thúc cuộc chiến này, các tướng lĩnh đã hy sinh của cả 2 bên đã được vào đưa vào bảng phong thần, trở thành các vị thần có thờ tự. Còn bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng trong cuộc chiến, mà bi thảm nhất chính là cái chết của Trụ Vương, thì được cúng tế trong tục cúng cô hồn.
Ngày rằm tháng 7 theo Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả là ngày hóa của Hùng Huy Vương, húy là Long Tiên Lang. Triều đại tiếp theo là Hùng Ninh Vương, húy là Thừa Văn Lang. Thông tin này khẳng định thêm nhận định về Thương – Chu ở trên. Long Tiên Lang là dòng vua Hùng theo cha Lạc Long Quân ở phía Đông, tức là nhà Ân Thương. Còn Ninh Vương chính là tên của Cơ Phát hay Chu Vũ Vương, người kế thừa nước Văn Lang của Chu Văn Vương, nên có tên là Thừa Văn Lang.
Cúng cô hồn tháng Bảy hàng năm thực chất chính là ngày cầu siêu cho nhân dân đói khổ vì chiến tranh loạn lạc, binh sĩ nơi sa trường, đã chết trong cuộc chiến khốc liệt giữa Chu – Thục Vương và Ân – Hùng Vương của 3000 năm trước.
Xã hội phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ (thời Ân Thương) sang chế độ phong kiến (Chu Văn Lang) đã phải trải qua một cuộc “cách cổ đỉnh tân”, thay cũ đổi mới, thật đắt giá với hàng vạn người đã đầu rơi máu chảy, sọ chất thành núi như ở Cổ Loa.

Văn tế Hùng Vương tiết Quý đông

Văn tế của làng Trẹo, Hy Cương cho thánh tổ Hùng Vương ngày 26 tháng 12 âm lịch.
IMG_1087
Vị tiền viết lệ lễ hữu Quý Đông kỳ phúc tất cáo lễ dã.
Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương thánh vị
Viễn Sơn Thánh vương thánh vị
Ất Sơn Thánh vương thánh vị
Thiên Tiên công chúa nhị vị.
 
Cung duy Thánh vương
Đông thiên hàn lãnh, băng giá liên ngưng.
Nhật dạ bất phân, hà vân u ám.
Thượng đài ảm đạm, dao chấn Nam thiên.
Quốc tặc ngang nhiên, thoán Hùng Thị vị.
Dân tình oán nộ, vương tổ ưu phiền.
Nãi tị kinh thành, phó quyền quốc tế.
Đăng sơn hạ chiếu, dục ngộ dân hiền.
Vương chiếu quảng truyền, biên toàn bản hạt.
Thừa tuân chiếu đạt, nghinh đắc vương quy.
Tỷ dương quang chiếu, vân ám tán phi.
Thắm tình dân quốc, nghĩa trọng ân thâm.
Truyền ban Ngọc phả, phong trưởng tử dân.
Túc diện quân thần, thiết đàn an vị.
Vương tổ phán truyền, khôi hài bách nghệ.
Đái niên đái lệ, vi kỷ niệm kỳ.
Hợp đồng dân bản, tu thiết lễ nghi.
Thượng hiến thánh vương, chứng minh công đức.
Toàn dân túc trực, linh thánh tổ truyền.
Tự thử lĩnh quyền, trưởng tạo lệ dân.
Bảo toàn miếu vũ, di tích thượng sơn.
Tôn phụng tổ tiên, thủ phân hương hoả.
Bảo vệ giang sơn, an ninh xã tắc.
Tận trừ quốc tặc, tha đẳng ngoại xâm.
Đoàn kết nhất tâm, trung thành hộ quốc.
Di ngôn sở ước, dân tượng thừa tuân.
Phụng chiếu thánh vương, vạn niên ký ức.
Thực lại.
Thánh vương thượng đại, ban phúc độ trì, chi đại huệ dã.
Nguyên văn
位前曰例礼有季冬祈福必告礼也.
𥤮屹高山古粵雄氏十八世聖王聖位
遠山聖王聖位
乙山聖王聖位
天僊公主二位
恭惟聖王,冬天寒冷,冰這連凝.
日夜不分,霞雲幽暗.
上臺愔惔,搖振南天.
國賊昂然,篡雄氏位.
民情怨怒,王祖憂㥧.
乃避京城,付權國婿.
登山下詔,欲遇民賢.
王詔廣傳,編全本轄.
承遵詔達,迎得王皈.
比暘光照,雲暗散飞.
𧺀情民國,義重恩深.
傳頒玉譜,封長子民.
足面君臣,設坛安位.
王祖詊傳,詼諧百藝.
逓年逓例,為紀念祈.
合仝民本,修設礼儀.
上献聖王,証明功德.
全民肅直,聆聖祖傳.
自此領權,長造例民.
保全廟宇,遺跡上山.
尊奉祖先,守分香火.
保衛江山,安寧社稷.
盡除國賊,他等外侵.
團結一心,忠誠護國.
貽言所約,民象承遵.
奉詔聖王,萬年記憶.
寔賴
聖王上大,頒福度持,之大惠也.

Lịch rùa cống vua Nghiêu

Có nhiều thư tịch cổ ghi lại sự kiện họ Việt Thường cống một con rùa lớn cho vua Nghiêu, trên lưng có khắc chữ, được vua Nghiêu chép làm Quy lịch (lịch rùa). Ví dụ, Thuật dị kí của Nhậm Phưởng (thời Nam Bắc triều) viết:
Thời Đào Đường, nước Việt Thường dâng rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn ba thước. Trên lưng có hoa văn, đều là chữ khoa đẩu, ghi lịch rùa từ thủa mới mở mang đến nay.
Sự tích này thường được sách sử hiện nay coi là sự kiện “ngoại giao” đầu tiên của người Việt. Tuy nhiên, với những dữ liệu và thông tin mới, sự kiện này được nhìn nhận thực chất là một việc khác.
Chua An LichChùa An Lịch ở chân núi Lịch.
Xem phần Ngu thư trong Thượng Thư (Kinh Thư) chép Đế Nghiêu đã sai Hy Thúc đến Nam Giao, quan sát mặt trời di chuyển về phương Nam, ghi ngày Hạ chí. Lúc ngày dài nhất, sao Hỏa đầu hôm ở đỉnh đầu sẽ là ngày trọng Hạ (giữa mùa Hạ).
Đế Nghiêu đã sai người đi 4 phương, quan sát trời đất thiên văn để định làm lịch. Người được cử đi phương Nam là Hy Thúc đã đến Nam Giao để đảm nhận việc làm lịch này. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng đất Bắc Việt ngày nay, cũng có tên gọi là Việt Thường Thị. Đối chiếu 2 ghi chép thời Đế Nghiêu ở trên ta thấy Việt Thường Thị ở Nam Giao là ông Hy Thúc, người đã dâng lịch rùa lên cho Đế Nghiêu.
Việt Thường có nghĩa là vùng phía Nam đất Việt vì Thường – Thẳng, đối lập với Cong, là 2 dịch tượng chỉ hướng Bắc Nam. Việt Thường do đó tương ứng với Nam Giao hay Nam Man Giao Chỉ (từ dùng của Ngọc phả Hùng Vương).
Lich Son
Núi Lịch ở Sơn Dương, Tuyên Quang.
Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách Kiến văn tiểu lục đã ghi chép khá rõ về núi Lịch Sơn ở vùng Tuyên Quang, có đền thờ Đế Nghiêu và là nơi Đế Thuấn đi cày bên đầm Lôi Trạch. Tên gọi Lịch Sơn, quê hương của Đế Thuấn đã cho thấy Đế Thuấn chính là Hy Thúc, người đã cống lịch rùa cho Đế Nghiêu. Ngọn núi Lịch ngày nay ở huyện Sơn Dương của Tuyên Quang vẫn còn lưu dấu tích. Ngọn núi này có một đỉnh nhọn dựng đứng, giống như một tấm bia đá được dựng trên lưng một con rùa lớn. Trên đỉnh núi còn di tích Ao Trời, tương truyền là nơi ngự của Đế Thuấn.
Sách Thuật Đế cống nguyệt minh của Phục Thao viết: “Văn lịch rùa là chữ của người Hồ Man”. Đế Thuấn được coi là một dòng người Di dưới thời Đế Nghiêu. Tới nay, ở khu vực Bắc Việt người Mường vẫn còn lưu truyền và sử dụng loại lịch gọi là “Trừ đá rò”, tương truyền có từ thời Hùng Vương. Trừ đá rò có thể chính là loại lịch rùa được Đế Thuấn tạo ra.
Chính sự phát triển của sản xuất nông nghiệp mà Đế Thuấn đại diện với sự tích đi cày Lịch Sơn người Việt đã sáng tạo ra Lịch pháp, gắn với đời sống sản xuất lúa nước.
Bia RuaBia chùa An Lịch.
Bài trước đã xác định, Đế Thuấn được Ngọc phả Hùng Vương ghi là Ất Sơn Thánh vương. Đế Nghiêu là Viễn Sơn hay U Sơn Thánh vương. 2 vị được thờ phổ biển ở vùng chân núi Lịch trong bộ Tam vị Hùng Vương Thánh tổ.
Đế Thuấn vì công khai mở đất Nam Giao, cày ruộng, đánh cá, săn bắt, làm gốm, lại có công sáng chế ra lịch pháp nên đã được Đế Nghiêu gả 2 con gái và truyền ngôi vị cho. Ngọc phả Hùng vương chép là chuyện vua Hùng gả công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung cho Sơn Tinh sau cuộc kén rể ở bến Việt Trì. Do đó, tục thờ Tam Sơn Hùng vương ở vùng đất tổ luôn kèm theo thờ ban Hai Cô công chúa hoặc 2 vị Long thần, Thành hoàng.
Ban do
Bản đồ thời Nguyễn vẽ núi Lịch có một đỉnh dựng đứng như tấm bia.

Tết Đoan Ngọ là ngày lễ gì trong sử Việt?

Câu ca dao lưu truyền:
Tháng năm là tết Đoan Dương
Nhớ ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang.
Vậy tế Đoan Dương hay Đoan Ngọ ngày 5 tháng 5 là ngày giỗ ai?
Cuốn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả đem lại câu trả lời rõ ràng.
Phần Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền tự điển ghi:
Hùng Quốc Vương… giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ cùng sinh với trăm vương năm Canh Ngọ.
Phần Nam Việt Hùng Thị sử ký ghi:
Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 5, đúng ban ngày giờ Ngọ, mặt trời chiếu thẳng. Cái thai thần của Âu Cơ chuyển động, rồng mây đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc ánh như ngọc trắng, hương lạ thơm nức.
NVHVNP040
Trang Nam Việt Hùng Thị sử ký ghi giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ Âu Cơ đĩnh sinh bào ngọc trăm trứng.
Ngày 5 tháng 5 là ngày mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng, nở ra trăm trai. Người con trưởng là Hùng Quốc Vương lên làm vua, lập nước Văn Lang. Đây chính là sự kiện đĩnh bách nam khai Bách Việt như câu đối ở đền Hùng nói tới.
Số 5 là con số trung tâm của Hà Lạc, chỉ thủ lỉnh. 5 là Ngũ, cũng là Ngọ. Do đó giờ Ngọ, ngày Ngọ, tháng Ngọ, năm Canh Ngọ đều có ý chỉ vua, chỉ thủ lĩnh của cả cộng đồng dân tộc Bách Việt.
Ngày Đoan Ngọ là ngày “giỗ mẹ Việt Thường“, tức là bà Âu Cơ. Khi bà mẹ của triều đại trước mất (ngày giỗ) thì cũng là ngày triều đại kế tiếp bắt đầu. Mẹ Việt Thường tên là Văn Lang tức là Chu Văn Vương.
A03 den Au Co
Đền Hiền Lương nơi thờ Âu Cơ tại Hạ Hòa, Phú Thọ.
Ngày Đoan Ngọ cũng là ngày sinh của Hùng Quốc Vương và trăm người con trai, nên mới có tên Văn Lang trong câu ca dao. Ý chỉ là ngày khởi đầu của Bách Việt với nước Văn Lang là vua chủ.
Tết Đoan Ngọ do đó là lễ ngày lập nước Văn Lang, dựng nên cơ đồ Bách Việt từ bà mẹ Âu Cơ. Đối chiếu Hoa sử thì đây là ngày Chu Văn Vương (tức Âu Cơ) mất, Chu Vũ Vương (tức Hùng Quốc Vương) lên ngôi, mở đầu thiên hạ nhà Chu, phân phong các chư hầu trăm nước (Bách Việt).
Câu đối ở đền Hiền Lương, nơi thờ quốc tổ Âu Cơ:
遡鴻厖締結以來僊種永傳留國祖歷家郡肇修而後人群緬慕播炎邦
Tố hồng mang đế kết dĩ lai, tiên chủng vĩnh truyền lưu Quốc tổ
Lịch cô quận triệu tu nhi hậu, nhân quần miễn mộ bá Viêm bang.
Dịch:
Nhớ thủa hồng mang gắn kết tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ
Trải đất cô quận dựng sửa sau về, bầy dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.

Nhận diện tín ngưỡng thờ Tứ Pháp

Tứ Pháp là Vân Vũ Lôi Điện, hay 4 Bà Dâu Dàn Tướng Đậu, tín ngưỡng phổ biến ở vùng Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Hà Nội, là các vị thần phụ trách việc làm mưa. Chữ “Bà” ở đây theo ngôn ngữ phương Nam nghĩa là Thần hay thủ lĩnh tinh thần. Do đó 4 Bà trong tín ngưỡng Tứ Pháp tương đương với Tứ đại Thiên vương, trong văn hóa Trung Hoa cũng là những vị thần cai quản Phong Điều Vũ Thuận.

Tứ đại Thiên vương ở chùa Láng, Hà Nội.

Trong đạo Bà La Môn, Tứ đại Thiên Vương hộ trì ở 4 châu quanh núi Tu Di, nơi có cõi trời 33 của Đế Thích nên có sự sắp xếp sau:
Trung tâm: Núi Tu Di với Vua Trời Đế Thích. Trong chuyện Tứ Pháp là Thạch Quang Phật, phần cốt lõi của cây Dung thụ, nơi Khâu Đà La đã gửi đứa con của Man Nương. Tên chùa thờ là Kim Ngưu.

Tây phương: Tây Ngưu Hóa Châu do Quảng Mục Thiên Vương chủ trì. Trong văn hóa Trung Hoa tên là Thuận, với hình tượng là Rồng. Trong Tứ Pháp là Vân. Rồng đi với Mây. Tên chùa thờ là Diên Ứng (Dâu).
Đông phương: Đông Thắng Thần Châu do Trì Quốc Thiên Vương chủ trì. Trong văn hóa Trung Hoa tên là Điều, hình tượng là Đàn tỳ bà. Trong Tứ Pháp là Lôi. Đàn đánh ra tiếng Sấm. Tên chùa thờ là Phi Tướng (Tướng).
Nam phương: Nam Thiện Bộ Châu do Tăng Trưởng Thiên Vương chủ trì. Trong văn hóa Trung Hoa tên là Phong, hình tượng là cây Kiếm. Trong Tứ Pháp là Điện. Kiếm nhọn (phong) tạo ra Sét. Tên chùa thờ là Trí Quả (Dàn).
Bắc phương: Bắc Câu Lô Châu do Đa Văn Thiên Vương chủ trì. Trong văn hóa Trung Hoa tên là , cầm Ô. Trong Tứ Pháp cũng là . Ô để làm Mưa. Tên chùa thờ là Thành Đạo (Đậu).
Diễn ý tên chùa: Bà Pháp Vân là khởi đầu nên thường được rước để cầu mưa, nên mới là Diên Ứng (ứng nghiệm lâu dài). Bà Pháp Vũ là kết quả mong đợi để được mưa nên gọi là Thành Đạo (Đậu). Bà Pháp Lôi là tiếng đàn, tiếng sấm, là để cổ vũ, nghe mà không thấy nên gọi là Phi Tướng. Bà Pháp Điện thể hiện ánh sáng, trí tuệ nên là Trí Quả.
Nhìn (Quảng Mục), Nghe (Phi Tướng), Làm (Tăng Trưởng) rồi mới Thành (Đậu) ra mưa. Thứ tự là: Vân -> Lôi -> Điện -> Vũ.
Tu Phap - Thien Vuong
Mô hình Tứ Pháp – Thiên Vương.
Ở khu vực Bắc Ninh, còn có vị Trưởng của Tứ Pháp là Đại Thánh Pháp Thông, ở chùa Huệ Trạch (Dàn Chợ). Thần tích ở đây chép, vị này hiển linh nói:
Ta là Đại Thánh Pháp Thông Vương Phật, Ngọc Hoàng sai ta coi giữ tứ Pháp trưởng, Phong Vũ chi Thần, làm chủ tể địa phương này.
Ở lễ hội vùng này khi rước kiệu Tứ Pháp đến chùa Dàn (thờ Pháp Lôi) thì kệu không dừng, phải rước đến Dàn Chợ, nơi có Pháp Thông thì mới được.
Kỳ lạ hơn, Pháp Thông lại không phải từ gốc cây “dung thụ” mà ra. Đây là một Nương Tử 18 tuổi ở vào thời Lý, học trò của Từ Đạo Hạnh:
Đến năm 14 tuổi … Nương Tử không nghe từ đó phát tóc xuất gia, trai giới ăn theo Phật. Một ngày nghe tin ở chùa Phật Tích có một vị thiền sư tên là Từ Đạo Hạnh rất là cao tăng đạo đức. Nương Tử xin vào học đạo thiền sư. Nương Tử vốn đã biết trước tất cả những kinh nhà Phật, lên chỉ học trong vài tháng, đã đại tinh thông những tài lạ. Gọi gió, gọi mưa, có phép hay làm, sấm, chớp, biến tướng tàng hình, đi và đến mọi người không thể biết. Thật là một người Nương Tử siêu việt. Đạo sỹ, thiền sư rất yêu mếm kính trọng, cho nên Nương tử tự đặt tên là Pháp Thông.
Tại sao học trò của Từ Đạo Hạnh lại là Pháp trưởng trong Tứ Pháp?
Điều này sẽ trở nên dễ hiểu nếu biết Từ Đạo Hạnh là một kiếp thân của Đế chủ cõi trời 33, tức là Vua Trời Đế Thích. Còn Tứ Pháp là 4 vị Bà (trong ngôn ngữ phương Nam, Bà chỉ các vị Thần, không phải là nữ), hay Tứ đại Thiên vương, dưới trướng của Đế Thích. Do đó đệ tử của Đế Thích thay mặt thầy làm trưởng Tứ Pháp là hợp lẽ.
IMG_5756
Hoành phi Hiện Đế hóa Thần ở chùa Láng.
Câu đối ở tiền tế chùa Láng nơi thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh:
西方活佛丹青玉殿儼卅三天帝
柴峒神機妙應蓮花顯十八聖王
Tây phương hoạt Phật đan thanh, ngọc điện nghiễm táp tam thiên đế
Sài động thần cơ diệu ứng, liên hoa hiển thập bát thánh vương.
Dịch:
Phương Tây Phật sống sáng ngời, điện ngọc trang nghiêm, cõi trời ba ba đế chủ
Động Sài cơ thần ứng diệu, hoa sen rực rỡ, bậc vua họ Lý thánh vương.

Tháp Báo Thiên – trấn Nam thành Thăng Long

Bản đồ khu vực Thăng Long thời Hồng Đức cho thấy phía Bắc hoàng thành có quán Chân Vũ bên hồ Tây, phía Đông là đền Bạch Mã, phía Tây là đền Linh Lang. Tuy nhiên, ở phía Nam hoàng thành lúc đó còn rất xa đàn Nam Giao, không hề có đền Kim Liên – trấn Nam Thăng Long theo quan niệm hiện nay. Thay vào đó ngay gần Nam môn là ngọn tháp Bảo Thiên cao lớn.
(Tên thường gọi là tháp Báo Thiên là theo tên ngôi chùa. Còn tên đầy đủ của tháp là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp (大勝資天寳塔). Do đó bản đồ Hồng Đức gọi là tháp Bảo Thiên)
Từ bản đồ này có thể thấy, trong Tứ trấn của kinh thành Thăng Long thì vị trí trấn Nam thời Lê sơ không phải là đền Kim Liên với thần Cao Sơn, mà là chùa Báo Thiên. Chùa Báo Thiên là ngôi chùa đóng vai trò trấn Nam của Thăng Long khi đó.

Hong Duc

Bài thơ của Đề Báo Thiên tháp của Phạm Sư Mạnh thời Trần góp phần khẳng định thêm nhận định này: 
Trấn áp Đông Tây giữ đế kỳ 
Một mình cao ngất tháp uy nghi 
Chống trời cột trụ non sông vững 
Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy 
Chuông khánh gió đưa vang đối đáp 
Đèn sao đêm đến rực quang huy 
Đến đây những muốn lưu danh tính 
Mài mực sông xuân viết ngẫu thi.
Câu đầu tiên của bài thơ “Trấn áp Đông Tây củng đế kỳ đã cho thấy tháp Báo Thiên chính là vật trấn cho kinh đô (đế kỳ).
Hướng Nam kinh thành là hướng quan trọng nhất vì quan niệm xưa vua quay mặt về phương Nam mà trị vì. Tháp Báo Thiên được dựng ở chính đối diện Nam Môn càng cho thấy ý nghĩa của nó đối với tâm linh của kinh thành. Nhưng chùa/tháp Báo Thiên thờ vị thần nào, hay vị thần nào là thần trấn Nam Thăng Long lúc này?
Quan niệm cho rằng đã là “chùa” thì thờ Phật, không hẳn luôn đúng. Thờ Phật thì đã không gọi là Báo Thiên – báo ơn Trời. Hơn nữa người xưa không dùng Phật để làm thần trấn giữ kinh thành.
Chùa – tháp Báo Thiên là nơi từng nhiều lần dưới thời Lý dùng để cầu mưa. Cổ Châu Phật bản hạnh ngữ lục ở chùa Dâu (Bắc Ninh) chép:
Bằng đời vua Lý Nhân Tông
Ba năm mưa gió đùng đùng đã rân
Vua phán rước Bụt Pháp Vân
Ra Báo Thiên tự minh quân chúc kỳ.
Đại Việt sử ký toàn thư chép dưới thời Lý Thần Tông: Vua ngự đến chùa Bảo Thiên, làm lễ phật Pháp Vân để cầu mưa. Đêm hôm ấy mưa to.
Chùa Báo Thiên hay Bảo Thiên tháp lễ phật Pháp Vân mà cầu mưa. Chùa này như thế nằm trong hệ thống thờ Tứ pháp.
Ở khu vực tháp Báo Thiên xưa từng tìm thấy bức tượng đá, gọi là Bà Đá và được lập thành chùa. Chùa Bà Đá nay vẫn còn. Cách gọi “Bà” là cách gọi tương tự đối với Tứ pháp. Rất có thế pho tượng Bà Đá này là tượng Pháp Vân (Bà Dâu).
Các chùa thờ Tứ pháp thực ra thờ chính là Thạch Quang Phật hay hình tượng Linga, biểu trưng của thần Shiva/Indra. Trong văn hóa Việt ở miền Bắc xưa thần Shiva/Indra được gọi dưới tên Vua Trời Đế Thích. Đây là lý giải cho chữ Thiên trong tên của tháp Báo Thiên.

20190720_182713 (2)Tranh vẽ tháp Báo Thiên trong chùa Lý Quốc Sư.

Dưới thời Lý, vị thần được tôn thờ trong các chùa thường không phải Phật Thích Ca, mà lại là Đế Thích. Ví dụ, thời Lý Thánh Tông, Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Mùa đông tháng 12 làm hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ, đúc hai pho tượng Phạn Vương và Đế Thích bằng vàng để phụng thờ.
Còn thờ Lý Thần Tông: Dựng hai chùa Thiên Ninh, Thiên Thành và tô tượng Đế Thích. Vua ngự đến xem.
Các chùa có thờ Đế Thích này đều có chữ Thiên.
Như thế, chùa Báo Thiên thực ra là thờ Vua Trời Đế Thích, nằm trấn ở hướng Nam của Thăng Long. Vua là thiên tử, quay mặt về phương Nam mà trị vì, nên ở hướng Nam đặt Vua Trời làm trấn là hợp lý.
Tháp Báo Thiên còn liên quan đến vị thiền sư nổi tiếng thời Lý là Nguyễn Minh Không, mà nay còn chùa Lý Quốc Sư, vốn là đền thờ Nguyễn Minh Không ở khu vực phường Báo Thiên xưa. Đại Việt sử ký toàn thư chép vào thời Lý Thần Tông:
Tháng 5, đại hạn, cầu đảo được mưa to. Chủ đô Nhiễm hoàng là Hà Nhi dâng chim sẻ trắng. Dựng nhà cho đại sư Minh Không.Đọc đoạn này ta có thể hiển đại sư Minh Không đã được Lý Thần Tông cho dựng nhà vì đã cầu đảo được mưa to khi đại hạn. Nguyễn Minh Không được biết là được vua ban cho khu ấp gần tháp Báo Thiên làm Tịnh xá, trước kia gọi là làng Tiên Thị, nay là nơi có chùa Lý Quốc Sư. Như thế, đại sư Minh Không đã lập công cầu mưa ở chùa Báo Thiên nên được ban nhà ban đất ở vùng này.
Sau đó, khi Lý Thần Tông mắc bệnh, nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong làm quốc sư. Tha phú dịch cho vài trăm hộ.
Việc tha phú dịch cho vài trăm hộ này là liên quan đến sư Minh Không, tức là các hộ dân ở vùng đất ban trước đó được miễn phú dịch do ơn đức của sư Minh Không và để phục dịch cho nhà chùa nơi sư ngụ.
Tháp Báo Thiên xây gạch nhưng chóp tháp lại bằng đồng. Đỉnh tháp này tương truyền là một trong An Nam tứ đại khí. Các tháp thời Lý Trần thường ở trên đỉnh có hình hoa sen, có chức năng để đốt đèn (dùng dầu lạc). Như thế chức năng của cái chóp đồng trên đỉnh tháp Báo Thiên khả năng cũng là một hình Sen Đăng, biểu tượng của ánh sáng hay mặt trời.

IMG_4725Cây Thiên hương ở chùa Lý Quốc Sư.

Hiện ở chùa Lý Quốc Sư còn một cây Thiên hương cổ dựng trước cửa chùa. Khả năng Thiên hương là hình tượng phát triển lên từ những cây cột đèn đá hoặc tháp gạch trước đây.
Chùa Lý Quốc Sư vốn là đền Tiên Thị thờ thiền sư Nguyễn Minh Không. Tên làng Tiên Thị, đất tịnh xã của Nguyễn Minh Không, nghĩa là chợ Tiên. Chữ Tiên này hẳn là chỉ thiền sư Minh Không.
Câu đối ở chùa Lý Quốc Sư nói tới tháp cổ và chợ Tiên ở nơi am của thiền sư:
古寺塔流餘苨址
真僊市在闢師庵
Cổ Tự Tháp lưu dư nễ chỉ

Chân Tiên Thị tại tịch sư am.
Dịch:
Chùa tháp xưa còn nơi rậm rạp 
Chợ tiên thực ở cửa am sư.
Tự Tháp và Tiên Thị là đều tên của làng ở chân tháp Báo Thiên xưa.
Trong chùa Lý Quốc Sư còn có tượng các vị Từ Đạo Hạnh và Giác Hải làm bằng đá ở dạng phù điêu, giống phong cách các tượng đá ở miều Trung dùng cho các đền thờ thần Hindu. Cùng với việc thờ Đế Thích – Tứ Pháp ở chùa Báo Thiên, thì các phù điêu đá này cũng là dẫn chứng khác cho mối liên hệ giữa đạo Phật thời Lý của thiền sư Nguyễn Minh Không với Hindu giáo.

20190720_182204
Ban thờ chính ba vị thiền sư với các tượng phù điêu chùa Lý Quốc Sư.

NGÀY GIỖ TỔ THÁNG 3 LÀ NGÀY GIỖ AI?

Câu trả lời về nguồn gốc ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 sẽ rất đơn giản nếu… đọc cuốn Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả sưu khảo vừa mới ra mắt. Bởi vì trong Ngọc phả này có ghi chép cụ thể ngày sinh ngày hóa từng đời vua Hùng.
Hiện nay, căn cứ theo bia đá năm Bảo Đại thứ 15 lưu ở đền Hùng thì:
Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ.
IMG_6039
Tấm bia Hùng Vương từ khảo năm Bảo Đại thứ 15 ở đền Hùng.
Trong một văn bia khác sớm hơn, vào năm Khải Định thứ 8 nói rõ hơn việc này, có khắc nguyên công văn trả lời của Bộ lễ cho tỉnh Phú Thọ về việc định ngày 10 tháng 3 làm quốc tế:
… xã Hy Cươnng, phủ Lâm Thao của quý hạt có lăng miếu phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm cả nước đến tế, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày 11 tháng 3, kết hợp với thờ thổ kỳ làm lễ riêng…
Từ nay về sau lấy ngày mồng 10 tháng 3, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…
IMG_6029
 Hùng miếu điển lệ bi năm Khải Định thứ 8.
Theo đó thì ngày giỗ tháng 3 là ngày giỗ của Hùng Vương thứ 18. Tuy nhiên, đền Hùng vốn dĩ không thờ Hùng Vương thứ 18 mà thờ 3 vị vua Hùng đầu tiên. Trong đó vị đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương, bài vị giữa. Rất có thể, tuần phủ Phú Thọ đã nhầm ngày kỵ của Đột ngột Cao Sơn, vị thánh vương của 18 đời Hùng, với Hùng Vương thứ 18.
Tra cuốn Ngọc phả Hùng Vương Thánh tổ cho kết quả:
  • Hùng Duệ Vương, vị vua Hùng cuối cùng hóa ngày 5 tháng 5. Hoàn toàn không phải tháng 3.
  • Trong khi đó, Hùng Quốc Vương (Đột ngột Cao Sơn): cùng sinh với trăm vương năm Canh Ngọ. Sau trăm vương cùng hóa vào giờ Thìn ngày 12 tháng 3.
Hung Quoc Vuong
Trang Ngọc phả có ngày sinh và hóa của Hùng Quốc Vương cùng trăm trai.
Đây mới thực sự là nguồn gốc của ngày giỗ tháng Ba. Nhân dân ở Phú Thọ không phải lấy ngày cúng “thổ kỳ” làm ngày giỗ đền Hùng, mà “thổ kỳ” ở đây chính là vua Hùng. Họ làm tế lễ vào ngày 11 tháng 3, trước ngày hóa của Hùng Quốc Vương 1 ngày. Sau này, đến thời Khải Định, nhà nước phong kiến mới theo đó định ngày 10 tháng 3 làm quốc tế, trước ngày lễ của dân tạo lệ 1 ngày.
Hùng Quốc Vương, vị Thái tử (con trưởng) của Lạc Long Quân đã cùng sinh và cùng hóa với 99 người anh em khác. Ngày giỗ tháng 3 là ngày giỗ của vị vua Hùng đầu tiên trong 18 đời Hùng Vương, cũng là ngày giỗ của cả 100 người con trai sinh ra cùng bọc trứng, là thủy tổ của Bách Việt. Vì thế ngày này không chỉ là ngày giỗ của người Việt Nam, mà có thể lấy làm ngày giỗ của cả cộng đồng Bách Việt, vốn cùng một bọc đồng bào.

La Thành và các vị thành hoàng Thăng Long

Truyện sông Tô Lịch trong Lĩnh Nam chích quái có một dị bản mở đầu như sau:
Nước ta có người họ Tô tên Lịch xưa ở Long Đỗ, nay là mé ven sông, ba đời sống nhân nhượng với nhau. Đời Tấn được cử làm chức hiếu liêm, cắm cờ ở trước cổng xóm, vì vậy người đời bèn gọi xóm ấy là xóm Tô Lịch.
Sau đó truyện nói: Thần chính là vị đại vương của cả quốc gia vậy.
Thử xem trong lịch sử nước ta, vị nào ở Long Đỗ, sống đức độ, khoảng đời Tấn làm chức hiếu liêm và được coi là “đại vương” của cả quốc gia. Vị quan chủ quản có đức độ thời Tấn là Đào Hoàng. Tuy nhiên, khả năng cao hơn thần Tô Lịch ở đây là Sĩ Nhiếp, người đã nhiều đời (từ thời cha là Sĩ Tứ đã là thái thú quận Nhật Nam) sống có đức, lại giỏi về văn (chức hiếu liêm). Đặc biệt Sĩ Nhiếp từng được nhà Ngô phong là Long Độ đình hầu, Long Độ sau đổi thành Long Đỗ (do kỵ húy). Vị “hầu tước” này được sử Việt gọi là Sĩ Vương, đúng là bậc “đại vương của cả quốc gia” vậy.
Truyện sông Tô Lịch chép tiếp:
Đời Đường Mục Tông Lý Nguyên Gia làm quan đô hộ, giữ đất Long Biên. Lý cho rằng phía Bắc thành có dòng nước chảy ngược, sợ dân hay sinh lòng phản nghịch nên chọn đất khác định chuyển La Thành sang vời sông Tô Lịch, bèn khấn mời Tô Lịch làm thần chủ giữ thành rồi xin lập đền thờ cúng.
Nửa đêm, Lý Nguyên Gia nằm mộng thấy thần tới nói rằng: “Ta vâng mệnh sứ quân làm chủ thành này, nếu như ta có thể giáo hóa được dân chúng trong thành trở nên có trung hiếu thì xin hãy lập đền thờ”. Nguyên Gia xin vâng.
Từ đó dân không có lòng phản nghịch. Lý bèn xây thành nhỏ để ở lại lập đền thờ phụng.
Đoạn truyện trên cung cấp một thông tin rất quan trọng: La Thành vốn ban đầu không ở vị trí sông Tô Lịch ngày nay. Tới thời Đường Mục Tông thành mới được chuyển về và xây một thành nhỏ bên sông Tô Lịch. Vậy La Thành trước đó nằm ở đâu?
Thông tin trong chính sử về La Thành thời Sơ Đường rất rối rắm. Đại Việt sử ký toàn thư lúc thì chép năm 767 thời Đường Túc Tông Kinh lược sứ Trương Bá Nghi đánh tan quân Chà Và và Côn Lôn đến cướp châu thành, rồi đắp lại La Thành. Nhưng lại chú là theo sách Nguyên Hòa quận huyện chí thì năm này Trương Bá Nghi bỏ thành cũ mà xây lại thành ở chỗ mới ở phía Bắc cách sông Tô Lịch 200 thước. Nhưng đúng hơn thì việc La Thành được chuyển về sông Tô Lịch xảy ra vào thời Lý Nguyên Gia sau đó.
Đoạn sau Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Nguyên Gia:
Đường Nguyên Hòa năm thứ 4 (819) mùa đông tháng 10 đô hộ là Lý Tượng Cổ vì tham bạo mà mất lòng dân chúng. Tướng của Tượng Cổ là Dương Thanh đời đời làm tù trưởng Man ở Hoàng Động. Thanh nhân thấy lòng người oán giận Tượng Cổ ban đêm quay về đánh úp lấy châu, giết Tượng Cổ (Thanh là người Giao Châu, Tượng Cổ là người tôn thất nhà Đường). Đường Đế chiếu cho Quế Trọng đánh Thanh không được. Thanh vào trong người Man Lão để làm loạn, cướp phá phủ thành. Đô hộ là Lý Nguyên Gia đánh không được, dụ không đến. Do đấy người Man Hoàng Động dẫn người Hoàn Vương vào cướp.
Hoàng Động nơi người Man nổi loạn, giết quan độ hộ nhà Đường là ở đâu không rõ, nhưng rõ ràng rằng nơi này không xa châu thành (La Thành) vì Dương Thanh “ban đêm quay về đánh úp” Lý Tượng Cổ. Rất có thể Hoàng Động là ở vùng Sơn Tây ngày nay.
Người Man Lão ở Sơn Tây đã liên kết với người nước Hoàn Vương, tức là với người ở phía Nam (Hoàn Vương là tên nước của vùng phía Nam sau khi Lâm Ấp bị nhà Tùy tiêu diệt). Nhà Đường cử một vị tôn thất khác là Lý Nguyên Gia (Lý là họ của vua Đường) sang làm đô hộ, nhưng cũng không dẹp được.
Việc nổi loạn của người Man và sự tấn công của Hoàng Vương chính là lý do mà Lý Nguyên Gia buộc phải rời bỏ trị sở cũ Tống Bình – La Thành sang nơi mới gần sông Tô Lịch. Lý Nguyên Gia thấy trước cửa thành có nước chảy ngược, sợ trong châu nhiều người sinh lòng làm phản, vì thế dời đóng ở thành ngày nay.

IMG_6219
Mộ gạch cổ dưới đình Quán La.

Dòng “nước chảy ngược” này không phải là sông Tô Lịch, mà là sông Thiên Phù, xưa là một nhánh sông Hồng chảy từ quãng khu vực Phú Thượng qua vùng phía Tây Bắc hồ Tây. “Nước chảy ngược” là ý chỉ việc ngập lụt, nước dâng cao. 2 sự việc ngập lụt và loạn dân được “thần thoại hóa” thành chuyện Long Quân dâng nước tiêu diệt con cáo chín đuôi ở Hồ Tây trong Truyện Hồ Tinh của Lĩnh Nam chích quái. Di tích của truyện này nằm ở khu vực Xuân La, Nhật Tảo bên Hồ Tây là đình Quán La (nơi có “hang cáo” – mộ cổ thời Lục triều), chùa Khai Nguyên (nơi thờ Đường Huyền Tông) và chùa Thiên Niên (nơi Huyền Thiên Trấn Vũ lập đàn diệt Cửu vĩ hồ). Như vậy, rõ ràng là châu thành trị sở thời Sơ Đường của An Nam nằm chính ở đây, bên dòng sông Thiên Phù (sông Già La), phía Tây Bắc của Hồ Tây. Tới Lý Nguyên Gia do nạn lụt lội và loạn người Man nên mới dời về vị trí mới ở phía Nam Hồ Tây bên sông Tô Lịch.
Khi Lý Nguyên Gia dời thành đã lấy Tô Lịch làm vị thần phù trợ cho La Thành. Ban đầu La Thành vốn mới là một thành nhỏ. Tới năm Hàm Thông đời Đường Ý Tông, quân Nam Chiếu làm loạn. Vua Đường sai Cao Biền sang dẹp, đặt ra quân Tĩnh Hải, sai Biền làm Đô hộ sứ. Biền xưng vương, đóng quân trong phủ.
Thần Tô Lịch sau đó hiển linh khi Cao Biền xây thành lớn hơn ở đây. Lý do xây thành lớn, gọi là Đại La là vì Cao Biền đã thắng lợi trong việc đánh dẹp người Man – Nam Chiếu, việc mà các tôn thất nhà Đường như Lý Nguyên Gia, Lý Trác không làm được. Cao Biền khi đó đã tôn thần Tô Lịch – Long Đỗ làm đô phủ thành hoàng của thành mới Đại La.

IMG_5934
Đình Trích Sài.

Như thế tên thần Tô Lịch là vị thần do Lý Nguyên Gia tôn thờ khi dời thành. Còn thần Long Đỗ là tên thời Cao Biền. Sau đó tới thời Lý xuất hiện thêm một tên gọi nữa là thần Bạch Mã:
Đến đời Lý Thái Tổ, khi vua dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long, muốn mở rộng phủ thành nhưng đắp thành xong đều bị lở, bèn cử người tới cầu thần. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến chúc mừng rồi dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp. Có con ngựa trắng từ đền đi ra, đi theo hướng Tây, vòng về hướng Đông, trở về điểm xuất phát rồi biến vào đền. Nhà vua y lời thần, bèn cho đắp thành xây lũy theo vết chân ngựa để lại, xây đến đâu chắc đến đấy. Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ và ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương, tức Thành hoàng của cả thành Thăng Long. Ngôi đền này vì thế cũng được gọi là đền Bạch Mã.
Đền Bạch Mã nay nằm ở trong khu phố cổ Hà Nội trên phố Hàng Buồn, là ngôi đền trấn Đông của Thăng Long. Việt Điện u linh chép:
Đến đời Lý Thái Tông, cho mở phố chợ về Cửa Đông, dân cư buôn bán tấp nập, chen chúc huyên náo sát tới tận bên đền. Vua muốn dời đền đến chỗ thanh tịnh khác, nhưng rồi lại bảo: “Xưa lập ở đây, nay không nên dời đi chỗ khác”; mới đem sửa sang lại đền, liền với các nhà ngoài phố, nhưng vẫn để một khoảng làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi trận gió bấc rất to, cả dãy phố đều đổ, duy chỉ có đền thờ thần vẫn nguyên vẹn. Vua lấy làm lạ hỏi, có người biết, tâu lại chuyện hiển linh của thần từ trước. Vua mừng nói: “Đó thật là vị thần coi việc nhân gian”, xuống chiếu cho sửa lễ tế đền, cho thần hưởng lộc cứ đến mùa xuân lại đến làm lễ cầu phúc. Vua lại sắc phong thần làm Quảng Lợi vương. Ở phố chợ Cửa Đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố đều bị cháy, duy chỉ có chỗ đền thờ thần, lửa không bao giờ lấn tới.

P1010759
Tiền tế đền Bạch Mã.

Câu đối đền Bạch Mã:
Hiển hách thần uy, nhất trận linh phong đằng bảo mã
Huy hoàng hỏa đức, thiên thu vượng khí trấn Thăng Long.
Khu vực này còn có nhiều nơi khác thờ thần Tô Lịch, Long Đỗ, Bạch Mã như đình Thái Cam ở phố Hàng Vải. Đình này còn có tên là đền Tân Khai thờ 3 vị thần của Thăng Long là Tô Lịch, Bạch Mã và Thiết Lâm. Hai vị thần Tô Lịch và Bạch Mã và Tô Lịch đã bàn ở trên. Còn thần Thiết Lâm tương truyền là thần của vùng rừng lim bên Hồ Tây.
Đối chiếu với câu chuyện về Hồ Tây ghi về đình Trích Sài:
Vùng Hồ Tây là một rừng lim rậm rạp, có nhiều gò núi, có con cáo 9 đuôi đã tu luyện thành tinh, luôn thay hình đổi dạng hại dân quanh vùng… Sau nhờ thần tiên giúp sức trừ được yêu quái, rừng lim bỗng sụp xuống thành hồ, gọi là hồ Xác Cáo.
Tên Trích Sài cũng có nghĩa là lấy củi, cho thấy vùng này vốn là khu rừng. Như thế thần Thiết Lâm (rừng lim) là vị thần của phía Tây Bắc hồ Tây, gắn với chuyện diệt con Cửu vĩ Hồ. Vùng này xưa gọi còn gọi là bến Lâm Ấp. Vị thần diệt Cáo là Huyền Thiên Trấn Vũ nên khả năng thần Thiết Lâm cũng là thần Huyền Thiên.

 

IMG_4518Hoành phi ở đình Tân Khai: Long Đỗ Chung Linh.

Câu đối ở đình Tân Khai:
Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích
Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.
Dịch:
Thành Đại La một dải núi sông, Long Đỗ tới nay còn thắng tích
Thờ Tứ trấn các triều hương lửa, Lạc Đô từ cổ nổi tiếng thiêng.
Tóm lại, La Thành ban đầu ở phía Tây Bắc hồ Tây với vị thần Thiết Lâm là thần Huyền Thiên đã diệt trừ con cáo chín đuôi. Tới thời Đường Mục Tông, Lý Nguyên Gia sợ lụt lội và loạn dân đã chuyển La Thành về gần sông Tô Lịch, lập Tô Lịch làm thần. Cao Biền thắng được quân Nam Chiếu cho xây thành lớn hơn gọi là thành Đại La, lấy thần Long Đỗ là chính khí của thành. Thời Lý dời đô về đây xây thành được thần hiện lên giúp đỡ, phong thần Bạch Mã làm đô thành hoàng.

 

 

 

 

 

 

Theo dấu Trâu vàng

Trau Phat Tich
Con Trâu đá ở núi Tiên Du (Phật Tích).

Truyện sự tích Trâu vàng ở Tiên Du (Tiên Du Kim Ngưu tích truyện) trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác rìu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng bảo Chất: “Cán rìu của người nát rồi”. Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà thì không còn gặp lại những người thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha (núi rìu nát) còn gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt tên huyện. Ở huyện Tiên Du nay vẫn còn vết cũ.
Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ.
Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang, vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu Đằm. Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới.
Trâu lại từ trong bến ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn (nay là Tây Hồ) rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh, lạch.

Phat Tich
Bảng giới thiệu của chùa Phật Tích về Khâu Đà La từng tu hành và cầu mưa gió ở đây.

Núi Lạn Kha là núi Phật Tích ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh ngày nay. Vị tiên đánh cờ trên núi Phật Tích thì hẳn là Đế Thích, vì Thiên Đế nổi tiếng là cao cờ. Cờ là biểu tượng của Dịch học, của phép thuật trong trời đất.
Nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán Trâu ở núi Phật Tích thì rõ ràng là Khâu Đà La trong truyện Man Nương vì núi Phật Tích chính là nơi tu hành của Khâu Đà La. Khâu Đà La có thể là tên phiên âm khác của Đế Thích vì tên phiên âm của Đế Thích hiện là Nhân Đà La.
Hình tượng cụ thể của Kim Ngưu ở vùng Bắc Ninh là tượng con Cừu đá ở Thuận Thành, một con ở cạnh tháp chùa Dâu, một con ở lăng mộ Sĩ Nhiếp. Tên gọi Cừu xuất phát từ phép phiên thiết chữ Kim Ngưu, chỉ con Bò thần. Trâu Vàng là con Bò thần Nandin, vật cưỡi của thần Shiva hay hiện thân của thần Indra trong đạo Bà La Môn. 2 vị thần này được người Việt gọi chung là Đế Thích.

Cuu chua Dau
Con Cừu đá (Kim Ngưu) ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Con bò Nandin hay Trâu vàng như vậy tượng trưng cho sự truyền đạo của Đế Thích, tức là đạo Bà La Môn. Đạo này du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, gắn với tục thờ Tứ pháp vì Tứ pháp là Tứ đại thiên vương, 4 vị thần phụ trách mây mưa sấm chớp (Phong Điều Vũ Thuận) và trấn ở chân núi Tu Di, ngọn núi nơi Đế Thích ngự trị.
Bước chân của Trâu Vàng là bước truyền bá phát triển của đạo Bà La Môn ở miền Bắc Việt. Trâu chạy từ Tiên Du, nơi Khâu Đà La khởi đầu truyền đạo, qua vùng Thuận Thành Bắc Ninh, tới vùng Văn Giang. Văn Giang hiện vẫn còn là nơi có tục thờ Tứ pháp rất phổ biển với nhiều ngôi chùa, ngôi đình, ngôi đền đến nay vẫn thờ Tứ pháp như ở các xã Lạc Hồng, Lạc Đạo của huyện Văn Lâm, Hưng Yên. Văn Giang cũng là nơi có sự tích về Đế Thích cưỡi Trâu ở đền Cầu Váu (Vĩnh Khúc) bên dòng sông Nghĩa Trụ, hay Ngưu giang xưa.

De Thich Cau Vau
Thiên Đế cưỡi Bò ở đền Cầu Váu.

Trâu Vàng tiếp tục từ Văn Giang chạy sang vùng Phố Hiến Hưng Yên. Chặng đường này cũng đánh dấu những nơi có sự tích về Đế Thích là ở Liêu Hạ (Mỹ Hào) với chuyện Đế Thích đánh cờ với Trương Ba, ở Cẩm La (Ân Thi) với sự tích Đế Thích giáng trần trừ yêu quỷ từ thời Hùng Vương. Vùng này cũng là nơi mà tục thờ Tứ pháp rất phổ biến.
Trâu Vàng chạy tới ven sông Ninh Giang, tức là quãng huyện Phù Cừ của tỉnh Hưng Yên. Ở đây không có sự tích về Đế Thích nhưng lại là nơi tập trung các đền thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, được gọi là các Đậu. Riêng ở Phù Cừ có 5 ngôi Đậu thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Còn ở huyện Tiên Lữ có Đậu An rất nổi tiếng thờ Ngọc Hoàng.

Dau An
Tháp Đậu An ở Tiên Lữ, Hưng Yên.

Theo Ngọc Hoàng kinh chép của Đậu Từa: Ngọc Hoàng đại đế chính là Hoàng tử của quốc vương nước Quang Nghiêm Diệu Lạc, thời thượng cổ ngài sinh ra năm Bính Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 giờ Tý (tức 12 giờ đêm). Mẫu thân của ngài là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu mơ thấy đức Thái Thượng Lão Quân tặng cho một hình nhân con trai …
Còn trong tư liệu ở đền Cầu Váu về Đế Thích thì ghi: Bàn Cổ năm thứ 48 Giáp Thân tháng Giêng ngày mồng 1 giờ Ngọ, Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu sinh ra Đế Thích ở nước Thiện Tiên. Đến năm Giáp Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 thì lên trời làm Thiên Đế (Bảo Kính Đăng Tâm, tập thượng).
Ở đây tên gọi bà mẹ của Vua là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu và ngày thánh đản 9 tháng Giêng là trùng nhau. Có thể thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế ở Hưng Yên là một cách gọi khác của Thiên Đế – Đế Thích.

Trau chua ChuongĐế Thích (hoặc Lão Tử) cưỡi Trâu ở chùa Chuông, Hưng Yên.

Ở Phố Hiến – Hưng Yên còn có ngôi chùa Chuông, tương truyền khi đánh quả chuông ở đây thì Trâu Vàng chạy đến… Có thể chùa Chuông cũng từng nằm trong hệ thống đền Bà La Môn như các Đậu ở Hưng Yên.
Trâu Vàng tiếp tục đi men phủ Lý Nhân sang đất Hà Nam. Tới đây câu chuyện liên quan tới vị tướng của nhà Đường là Cao Biền.
Sách Thăng Long cổ tích khảo chép rằng: Tương truyền đời Đường, Cao Biền làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ, đi các nơi có núi sông danh thắng của ta để yếm diệt long mạch. Khi Biền đào sông yểm mạch núi Long Đội, Sơn Thần núi ấy biến thành hình con trâu toả ánh vàng bơi theo sông Đường Giang lên phía Bắc, ẩn ở vùng Hồ Tây thành Đại La.
Sách Tây Hồ chí dẫn lời của Phạm Đình Hổ: Cuối đời Đường, An Quận công Cao Biền ngàn dặm qua Nam đến châu Duy Tân (nay là Duy Tiên) khai sông chặn long mạch núi Phục Tượng nay thuộc xã Đọi Sơn: Thần núi hoá thành trâu phóng ánh sáng vàng, ngược Đường Giang lên ẩn náu tại Hồ Tây, người quanh vùng dựng miếu thờ, thực là dấu thiêng vậy.

Nha bia chua Long Doi
Nhà bia Sùng Thiện Diên Linh thời Lý ở chùa Long Đọi, Duy Tiên, Hà Nam.

Ở Duy Tiên, vùng Đọi Sơn có núi Điệp cũng có tên là Kim Ngưu, nay trên núi còn ngôi chùa cùng tên. Ngay tên sông Châu giang chảy qua đây cũng có thể là sông Trâu, liên quan đến con Trâu vàng.
Đặc biệt hơn, toàn bộ khu vực quanh núi Đọi đều thờ Cao Sơn quốc chủ. Vị thần này đã được xác định là Cao Biền, vị thần trấn Nam của thành Thăng Long. Đoạn kể về việc Trâu Vàng bị Cao Biền đuổi chạy ngược về thành Đại La rồi ẩn trong hồ Tây có thể có ý nghĩa khác so với khi Trâu chạy từ Tiên Du xuống Hưng Yên. Trâu Vàng là biểu tượng của đạo Bà La Môn, cũng là đạo của người Nam Chiếu lúc này. Người Nam Chiếu thời Đường có thể từng được gọi là Ai Lao 哀牢  hay Ngưu Hống 牛吼. Cả 2 tên này đều có chữ Ngưu 牛 ở trong.
Cao Biền là tướng nhà Đường được cử sang dẹp quân Nam Chiếu ở Bắc Việt. Nam Chiếu theo đạo Bà La Môn và được hình tượng hóa bằng hình ảnh Trâu Vàng – Kim Ngưu. Khu vực Đọi Sơn có lẽ từng là một căn cứ quan trọng của Nam Chiếu. Cao Biền dẫn quân đổ bộ bằng đường biển từ vùng Thái Bình – Nam Định tiến đánh Nam Chiếu, trước hết là đánh vùng Lý Nhân này, sau đó mới đánh thành Đại La.
Dấu vết của Cao Biền ở vùng Thường Tín cũng còn lưu qua các di tích thờ Cao Sơn đại vương ở đây như các làng Hà Hồi, Khê Hồi. Đây cũng là nơi có vết tích Trâu vàng với dòng sông Kim Ngưu.

Ha Hoi
Cổng đình Hà Hồi, Thường Tín, nơi thờ Cao Sơn đại vương.

Khu vực từ Hà Nam trở về cũng là vùng ảnh hưởng của tục thờ Tứ pháp, với các di tích như chùa Bà Đanh ở Kim Bảng, chùa Đậu ở Thường Tín, chùa Pháp Vân ở Thanh Trì. Chùa Đậu ở Thường Tín nơi thờ Pháp Điện và Sĩ Nhiếp có câu đối nói tới con sông Ngưu này:
龍派汪涵惠澤千秋傳聖跡
牛江環遶恩波萬世沐神休
Long phái uông hàm, huệ trạch thiên thu truyền thánh tích
Ngưu giang hoàn nhiễu, ân ba vạn thế mộc thần hưu.
Dịch:
Dòng rồng rộng sâu, đất nhân nghìn thu truyền tích thánh
Sông trâu bao bọc, sóng ân vạn thế thấm điềm thần.

IMG_4538
Vế đối Ngưu giang hoàn nhiễu… ở chùa Đậu.

Cao Biền đánh quân Nam Chiếu, giải phóng được thành Đại La nên con Trâu Vàng đến đây thì đi vào hồ Tây mà ẩn náu. Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Kim ngưu do ẩn tại hồ trung
Thủy hạt nan tầm bất kiến tung

Đại Việt Nam an tồn thánh chủ
Cao Biền hạ bút hận vô cùng.
Dịch:
Trâu vàng còn ẩn mãi trong hồ
Dấu vết khó tìm dẫu nước khô
Đại Việt Nam yên nhờ thánh chúa
Cao Biền hạ bút hận không bờ.

Dau chan Kim nguu
Dấu chân Kim Ngưu.

Bài thơ này có câu “Đại Việt Nam an tồn thánh chúa“, ý chỉ nước Việt Nam vẫn còn vua, Cao Biền không làm gì được. Rõ ràng ở đây hình tượng con Trâu vàng là biểu tượng của thủ lĩnh nước Nam (Nam Chiếu). Tinh thần của nước Nam hóa con Trâu vàng ẩn sâu trong hồ Tây bất diệt. Tinh thần đó xuất phát từ ông Tiên đánh cờ trên núi Phật Tích (Khâu Đà La – Đế Thích) đã truyền bá rộng khắp nơi, trở thành tín ngưỡng của người Nam. Dấu chân Kim Ngưu từ Bắc Ninh – Hưng Yên – Hà Nam – Hà Nội đánh dấu khu vực phổ biến của tục thờ Tứ pháp – Đế Thích – Ngọc Hoàng hay đạo Bà La Môn.
Câu chuyện Trâu Vàng chạy đi và về thể hiện sự giao thoa giữa 2 dòng văn hóa Ấn giáo (Bà La Môn) và Đạo Giáo Trung Hoa. Biểu tượng của Đạo Giáo là đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần tổ của nhà Đường (thời Cao Biền) ở 2 bên bờ hồ Tây, phía Bắc thành Đại La.

Sac phong Kim Ngưu
Sắc phong Kim Ngưu tôn thần ở đền Kim Ngưu, hồ Tây.

Câu đối ở đền Kim Ngưu bên hồ Tây:
牛渚表奇觀四顧江山依舊
龍城標勝景十方大眾望新
Ngưu chử biểu kỳ quan, tứ cố giang sơn y cựu
Long thành tiêu thắng cảnh, thập phương đại chúng vọng tân.