Tản Lĩnh ngọc ký

Thần tích của làng Dũ Lâu, tổng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ. Dịch từ bản khai năm 1938.

Thánh Tản giáng sinh

Thời Kinh triều 18 nhánh, có động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây. Động ấy là nơi núi gấm ngang trời, nước biếc tràn đất, non nước như tranh, cây cỏ tươi tốt, báo kêu chim hót véo von, gác khói đài mây lung linh, sương chiều bảng lảng. Thật đúng là nơi đẹp đẽ nhất trời Nam.
Lúc bấy giờ có Trưởng ông tên là Nguyễn Cao Hành, tuổi đã 70, Thái bà tên Đinh Thị Điên, tuổi 50, cùng nhau sinh sống ở đó. Ông bà thường tích đức, làm việc nghĩa, hương khói cúng tế một mực phong lưu, rộng rãi, lễ lạt dư giả. Bỗng một hôm trông thấy ở trong động mây lành vương vấn, khí tốt rạng rỡ, một con rồng vàng cuộn mình giáng xuống, lấy nước phun sóng như châu ngọc. Đáy giếng tuôn sóng khí thiêng. Hương vị thoáng bốc phủ ngang khắp trên mặt đất. Được một chốc lát, Rồng cưỡi mây mà bay lên biến mất. Gió nhẹ thổi như có ý muốn đón người. Thái bà nhân đó đi qua tường ở bên trái, gánh nước trong giếng lại chỗ bàn đá trắng, đứng lên đó để tắm gội. Thân mình tự nhiên có mùi hương tỏa ngào ngạt, khí tốt giăng đầy, anh sinh tú đúc, cảm thấy như tinh khí đầy khắp, mừng tụ lại ở bụng. Sau đó mãn nguyệt ý như có động, mang thai được 14 tháng. Đến sáng ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Tỵ, Thái bà đang ngồi nghỉ trên hòn đá trắng bỗng thấy mây năm sắc bay, hào quang giáng khí. Lúc ấy sinh hạ được một người con trai, thần sắc tuấn tú, khí mạo hiên ngang, cao lớn khác vạn người. Được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn. Nghe chuyện lạ ấy người lúc đó có thơ rằng:

Tinh thần ngọc cốt cách Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Thái Thủy cũng là Thiên Thượng Mẫu
Hoài thai lâu lạ khác bao thường.

Tảng đá nơi sinh Thánh Tản ở Lăng Sương.

Gậy thần sách ước

Lại nói, Nguyễn Tuấn khi 6 tuổi thì cha mất. Thái bà làm lễ an táng. Bảy tuổi, mẹ con dắt nhau đến núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (ở xứ Mang Bồi) mà ngụ cư tại đó. Lại kết thân cùng với một lão bà ở núi ấy tên là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ. Được ba năm, nhớ đến mộ phần gia đình, bèn trở về động cũ Lăng Sương, đổi tên là Nguyễn Tùng. Khi lên 12 tuổi bắt đầu theo nghiệp với tiên sinh Lý Đường chuyên tâm học hành. Tuy là ngõ cụt ngách hẹp nhưng tính tình vui vẻ vốn có không đổi. Ngày ngày kiếm góp cây khô, búa rìu tiêu dao làm kế sinh nhai. Đêm đêm bên án tuyết song huỳnh một bầu rượu ngon làm thú vị. An bần lạc đạo, coi đó như chí lớn vậy. Tuy nhiên đôi khi cảm thương mẹ vất vả, xót xa mẹ cực nhọc, nên thường bỏ sách thở dài, gạt nước mắt mà rằng:
–    Sinh ra ta, nuôi nấng ta là lòng yêu thương của mẹ hiền, sánh như chuyện ba lần di dời. Nay tình cảnh như thế này, không có gì để an ủi mẫu thân.
Ngày qua năm lại, mới đến núi thiêng Ngọc Tản kêu than với lão bà Ma Thị rằng:
–    Ô hô! Vận trời tuần hoàn, việc người thường biến. Trước đây ở động Lăng Sương khó khăn, tạm còn đủ ăn. Ngày nay, rừng đã cạn củi, cách nuôi mẹ như chim yến đợi mồi. Chí tình của người con có hiếu biết làm sao đâu. Con nguyện xin làm con nuôi của Lão bà để ngày tiện hái củi, sau là có thể nuôi dưỡng được mẹ nuôi vậy.
Lão bà nghe lời than đó bèn đồng ý. Nguyễn Tùng dẫn mẹ đến cùng ở trên núi Tản Viên. Sau đó được 1 năm thì Thái bà qua đời. Nguyễn Tùng làm lễ chôn cất. Sau cùng với Lão bà Ma Thị cùng sống tại đó.
Một hôm lên đỉnh núi thiêng để chặt một cây lớn cành dài. Ngày hôm đó quay về báo cho người trong động cùng lên trên núi để lấy cây gỗ đó, nên tới hôm sau đến nơi thì đã thấy cây gỗ cành lá tươi tốt y như cũ. Nguyễn Tùng tự thấy làm lạ, lại chặt cây một lần nữa. Chặt xong giả vờ đi rồi quay về phục ở đó để xem xét. Tới ban đêm bỗng thấy một lão ông thân cao một trượng, râu trắng phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt đai vàng, chân xỏ hài mây, tay phải cầm một cây gậy trúc, thong thả bước đi như phượng múa gấm hoa, rồng ngậm ngọc duẩn, nếu không là nơi vườn Kỳ thì cũng là vật lạ chốn Lãng Uyển. Theo sau có một hề đồng, tay cầm một chiếc chuông vàng, lắc 3 hồi. Ông lão miệng đọc thần chú, lấy gậy chỉ vào. Bỗng thấy tất cả một bên gió mát thổi đến, lành mây bao phủ, tinh thần của rừng núi hội tụ, đất trời biến hóa trong chớp mắt. Cây gỗ sống lại. Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng, liền chạy ngay lại nơi đó, hai tay ôm lấy ông lão, hỏi rằng:
–    Cụ là người ở đâu đến, xưng hô thế nào. Sao lại thương tiếc một cành cây già để mất nỗi trông mong của người dân đói rét?
Ông lão nói:
–    Ta là Sơn Tinh Thái thần, tên là Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên tướng, vâng nhận sắc hạ của Ngọc Hoàng, canh giữ vùng rừng núi. Nay cái cây này là cây Ngô đồng quý giúp đời sinh thánh, đất dựng lầu phượng, chính là cây chủ của núi Ngọc Tản trời Nam, không thể chặt được. Cho nên ta phải giữ cây quý để cầu cho núi sông được vững bền, quốc gia được trị lâu dài bởi vua sáng, để thiên hạ có những ngày thái bình vậy.
Nguyễn Tùng chắp tay tạ và nói:
–    Một lời nói của Thiên tướng đã sáng tầm nhìn của tôi. Đâu dám không theo mệnh. Đúng là sự đời như ngựa hoang, thói đời như phù du. Có có không không, sinh sinh hóa hóa. Cơ vi khó ngờ, sự đổi khác thường. Cả trời đất này cùng chung lý đó. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu sự sinh tử của nhân gian, để báo ơn sâu của cha mẹ, sau là để nhờ được ban phép mà không còn phải hái củi nuôi mẹ.
Ông Lão nghe lời nói đó, biết là người đại hiếu, không phải là người thường, bèn lấy gậy thần cùng thần chú truyền thụ cho. Rồi lại dặn rằng:
–    Đầu trên của gậy có thể cứu người. Đầu dưới có thể trừ hại chúng. Chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn. Phép thực linh nghiệm, cơ sâu diệu huyền. Nếu chỉ trời thì mây bạt sương tan, chiếu tận cửu trùng. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Dặn xong, thần Thái Bạch bay lên không mà đi. Nguyễn Tùng từ khi có được gậy thần, vui mừng trở về động núi Tản Viên, bái tạ mẹ nuôi, lại đem mộ cốt của mẹ về động cũ Lăng Sương. Nhân đó tự xưng là Thần sư.
Ngày hôm đó Thần sư đi qua thôn Cốc của sách Thủ Pháp, bỗng thấy hơn năm trăm con voi và hổ tập trung ở một vùng trên đường qua lại. Trăm muông thú chạy hàng đàn. Thần sư lấy gậy chỉ vào. Lập tức hổ theo hướng Bắc, voi theo hướng Đông, tránh đầu gậy mà chạy hết. Nhờ đó mà đường đi được thông suốt.
Thần sư đi tới bờ sông nhìn thấy nước trời một màu, khói sương mờ mịt, bên sông vắng lặng, thuyền trống mái gác. Thần sư lấy lấy gậy chỉ vào, tức thì mặt nước rẽ mở, giữa sông trở thành một con đường, đi qua đó như đi trên đất bằng vậy.
Thần sư đi đến bãi Trung Độ của xã Ma Xá, còn có tên là bãi Trường Sa. Trên đường bỗng thấy đám trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen, hô nhau lôi kéo làm vui đùa. Thần sư thấy vậy sự đáng thương hại cần cứu, mới động lòng mà nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
–    Lũ các ngươi chớ có đùa nghịch như thế. Ta muốn mua con rắn này.
Bọn trẻ cười mà đồng ý. Thần sư lấy 36 văn tiền để mua rắn, rồi đem đến đầu trên bãi Trường Sa niệm thần chú, dùng gậy chỉ vào. Tức thì mờ mờ ảo ảo phục dẫn ở đầu gậy. Con rắn sống lại. Rắn đen khoanh tay bái tạ. Thần sư đứng nhìn, thấy rắn đen trườn ra sông, chia thành đường nước dẫn về tới Động Đình, mới biết đó là con của Long Vương.
Bấy giờ Thần sư trở về động Lăng Sương. Rắn đen trở về Động Đình, đem mọi việc tâu với Đế Quân. Đế Quân nhớ công đức ấy bèn sai Thái tử cùng với Đô đốc Giao Long đi đón Thần sư ở quê động. Thần sư bởi vậy đi theo đến Long cung, qua tường gấm đến cửa châu, nhìn thấy gác ngọc lầu châu tầng tầng lớp lớp, thần Côn tướng Ngao hàng hàng lớp lớp sắp hàng. Binh lính cá, ba ba đứng chầu ở cung ngọc. Đế Quân ngự ở tòa chính, nghênh thỉnh Thần sư vào ngồi ở bên phải long sàng, rồi nói:
–    Long chủng Đông Cung là Thái tử của Trẫm, hôm qua đi chơi chốn điện thiêng Tùng Đài (là đền thiêng giữa sông xã Sơn Bạn), chẳng may gặp biến ở Trường Sa. May nhờ ngài cứu thoát, thật đúng là ơn sâu nghĩa lớn. Hôm nay mời đến muốn tỏ tấc lòng báo đáp.
Thần sư tâu rằng:
–    Thủy phủ Dương gian, đường lối khác nhau. Sự tinh rộng của giống rồng, sao có thể hiểu hết được. Chỉ vì nhà của nô tì vốn âm thầm làm việc thiện, lại được gần gũi dung nghi của bệ hạ. Đâu dám mong sự báo đáp.
Hôm đó trong cung mở tiệc hội lớn. Chiếu rồng trải khắp, đèn phượng thắp cao. Giường ngọc bình hương, vàng ròng mã não, đều là những vật lạ trân kỳ trên thế gian không có, tất cả được bày ra la liệt trước mắt. Tiệc ngọc yến bày, Đế Quân đích thân mời. Thần sư rằng:
–    Kẻ trần thế được gặp long nhan đã là điều hiếm có. Nay may mắn vượt sóng ba đào tới chốn này, bình sinh chưa từng có được niềm vui như vậy, đâu dám không uống say chịu ơn.
Tiệc xong, Đế Quân lấy vàng bạc báu vật ra lễ tạ. Thần sư cố từ chối không nhận. Thái tử bảo riêng với Thần sư rằng:
–    Hôm nay được gặp mặt rồng, là cơ hội ngàn năm có một. Thần sư công đức như núi Ngao biển Kình, tiền tài xem nhẹ như chiếc lông, đức này không phải là thường. Nay có một quyển sách thần là phép màu chân truyền, vốn có thể thấu trời suốt đất chỉ trong một lời ước. Tôi xin tâu riêng với Đế Quân được dùng để báo đáp.
Thần sư đáp: Được.
Do đó Thái tử tâu với Đế Quân. Đế Quân cảm công đức của Thần sư liền lấy sách ấy trao cho Thần sư nhân xem. Thần sư được sách đó rồi, từ tạ Đế Quân. Đế Quân khiến Thái tử đem quân đi tiễn Thần sư trở về, đến tận bãi sông, quay về động cũ. Thần sư nhân lúc từ biệt mà làm thơ rằng:
Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Bãi Trường Sa

Chúc thư Ma Thị

Lại nói Thần sư trở về động Lăng Sương, gậy chú để cầu, sách thần để ước, tự nhiên hóa sinh thành lầu gác vạn vật, vàng bạc châu báu, đầy đủ mang tới núi thiêng Ngọc Tản. Thần sư nói với Lão bà rằng:
–    Nghĩa tử từ lúc hàn vi cùng ở với mẹ. Công đức của mẹ lớn như trời vậy. Được một bữa cơm cũng tất đền đáp, huống chi là ơn sâu huệ dầy. Sao có thể quên tình? Hôm nay đến đây cảm vận thần vận quỷ, có ít nhiều là để báo công đức này.
Bèn lấy sách thần ngầm khấn trời đất, đọc ước một phép. Tự nhiên một trận mây mưa ập đến, sấm chớp nổi lên cùng sấm vang dậy trời, mưa châu ngọc khắp đất. Được nửa canh giờ bỗng thấy tiền vàng từ không trung rơi xuống trăm vạn ngàn quan. Thần sư lấy mang vào cung dâng cho dưỡng mẫu. Dưỡng mẫu thấy tấm lòng nhân hậu, ngầm mừng muôn việc đủ đầy. Bèn đem các vật rừng núi trao lại cho Thần sư để mình sau khi trăm tuổi có nơi thờ phụng, cúng tế. Nhân đó lập một bản chúc thư để mãi ngàn vạn đời coi giữ việc hương lửa miếu đường.
Thần nữ Ma Thị Cao Sơn ở núi làng quê Mang Bồi, sách Thủ Pháp, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, xứ Hưng Hóa, nước Văn Lang nay lập chúc thư.
Sự là ở tại động này, núi sông, khe suối, miếu mạo, cỏ cây, rừng rú, trước giờ đến nay đều là của tôi. Nghĩ mình sau khi trăm tuổi, thân về chốn Bồng Lai, tất việc hương hỏa xuân thu không ai phó thác phụng sự gia đường.
Năm nay đang là năm Quý Dậu, có một người con nuôi quê ở cùng huyện tại động Lăng Sương là Nguyễn Tuấn, từ nhỏ đã chung sống xem như con đẻ. Nay Ma Thị tôi tuổi đã ngoài 90, chỉ sợ mệnh trời chưa biết sớm tối ra sao, muốn kê khai ra đây mọi vật, nhất nhất ghi rõ trong chúc thư, giao lại cho Nguyễn Tuấn tuân theo mệnh của mẹ mà coi giữ các vật trong núi, mãi mãi không rời, lưu truyền vạn đời để làm hương hỏa phụng thờ. Trời đất có lẽ, xưa nay có luật, nên lập một đạo để lại ý này này cho người đời sau mãi tuân theo. Những nơi sở hữu núi sông, đất đai, khe suối, miếu mạo, cao rộng trượng xích thế nào đều được kê khai như sau, cứ chiếu theo đó mà sử dụng:
Kê:
–     Núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản ở tại sách Thủ Pháp, dân các xứ cộng 22 xóm. Núi Ngọc Lĩnh cao 112.300 trượng.
–    Một đoạn từ Thượng điện trên núi đến Hạ điện, nay gọi là khe Lăng Cốc, cửa ngòi Bùi men tới sông Cái dài 1 vạn trượng.
–    Một đoạn từ đỉnh núi Mũi Mèo, tục gọi là cửa ngòi Bo, men tới bờ sông dài 300 trượng.
–    Một đoạn trên từ Hạch Đa đến cửa sông ngòi Lỗ dài 200 trượng.
–    Một đoạn trên từ đồi Mỏ Cò đến sông dài 300 trượng.
–    Một đoạn trên từ Ba Dương, thường gọi là ngòi Lông, đến mép sông dài 500 trượng.
–    Một đoạn đường ngàn dặm từ xứ Hàm Rồng, xã Cẩm Đái dài 8.500 trượng.
Đông giáp 2 huyện Ma Nghĩa, Thạch Thất. Nam giáp 2 huyện Mỹ Lương, Phúc Lộc. Tây giáp huyện Thanh Xuyên. Bắc giáp huyện Bất Bạt. Mặt tiền chính Tây, tọa Cấn hướng Khôn.
Lại có Đại giang Tả kiên thần Ma Lãng Sơn, Hữu kiên Nhạc Sơn, Tây Nam sơn Chi Đồng Thần Trấn Đồng Long Đại vương, Tây Bắc Hậu Phi Bạch Y Thần nữ Đại vương.
Tất thảy ruộng đất tế tự cộng lại là 278 mẫu 4 sào 1 thước 1 tấc, tính từ sông Đà dưới tới ngã ba sông Lô làm giới hạn. Đông Tây 4 phía ruộng đất sông ngòi như đã kê trên.
Năm 18 đời Hùng Duệ Vương, 28 tháng 8 lập chúc thư.
Ma Thị Cao Sơn Thần nữ ký.

Lập chúc thư xong, Thần sư bái tạ, lại cùng ở với Lão bà. Được 1 năm, Ma Thị mắc bệnh, gọi Thần sư lại đưa cho chúc thư mà rằn:
–    Sau khi Ma Thị ta mất, con đặt cho một cỗ thọ đường ở trong miếu đường để phụng sự, để cho tỏ hiếu đạo.
Thần sư dập đầu lĩnh mệnh. Ngày hôm đó Ma Thị qua đời. Thần sư làm lễ an táng, thiết lập đền miếu, lại bày một cỗ thọ đường ở bên trái, bốn mùa hương lửa phụng thờ theo phép tắc. Đến nay hiện vẫn còn. Người đời sau có bài tán rằng:
Cơ đồ tạo dựng
Nghiệp đế lâu dài
Mười tám đời dằng dặc
Bao ngàn năm qua lâu
Bấy giờ có Thánh Tản
Chăm Ma Thị mẹ nuôi
Lão bà lâm mệnh mất
Truyền lại bức di thư
Lập miếu thiêng trên núi
Bên trái đặt thọ đường
Nhà cửa đều giao lại
Đạo hiếu cho vạn toàn
Anh hùng trăm đời mãi
Núi sông gom một trời
Đáng yêu thay, thần tiên vạn cổ
Lạ kỳ thay, mẹ con một nhà.

Đền Hạ Tản Viên ở Thủ Pháp

Sơn Tinh – Thủy Tinh

Lại nói, bấy giờ cơ đồ họ Hùng đã được 18 nhánh, Duệ Vương trị vì, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lấy tên nước là Văn Lang, quốc đô tên là thành Phong Châu. Duệ Vương là người anh hùng đại lược, thiên tư thông minh, thánh trí, bên trong tu sửa văn đức, bên ngoài lo phòng bị biên phương, dốc chí hưng bình để yên Trung Quốc. Lại năng kính Trời Pháp Tổ, cầu phúc cho dân. Trời giáng điềm lành cho nước nhà. Do đó Vua lại càng thêm sùng trọng, kính sự thần kỳ, truyền hịch cho thần dân thiên hạ tăng việc tu sửa đền miếu, trang trí cung điện, nghiêm trang nghi vệ. Ngày ngày dâng hương hoa để cho tỏ ý thành kính. Các quan sở tại châu huyện đều đến các đền miếu mỗi tháng hai lần để chầu, cầu mong trăm thần cho quốc mạch được lâu dài. Vua lại tự mình đến núi Nghĩa Lĩnh yên định các tôn lăng cung điện cùng với các đền thiêng của các công thần huân tướng của các triều đại, tất cả các doanh điện đều tu sửa. Một bầu phong cảnh trải khắp mặt đất. Bốn phía lâu đài tráng lệ cuốn trời.
Khi Vua đang trị vì, tuy sinh được nhiều hoàng tử nhưng đều đã về quy tiên. Vương bèn xa giá đến cung tiên Tam Đảo, dao xem thắng cảnh, tùy nơi đất tốt mà lập miếu điện, phụng đảo cầu con. Nhưng khi đó số mệnh sắp hết, cơ đồ họ Hùng đã đến lúc cuối. Vua nằm mộng thấy điềm lành rắn ráo. Sau sinh được hai nàng công chúa, đều có đức hiền trinh, phong tư yểu điệu, khóe hạnh má đào, sóng thu vạn điểm, ngọc trau mây quấn, mười phần xuân sắc. Người thứ nhất tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung, sau gả cho Chử Đồng Tử (quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông Anh, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam). Người thứ hai tên là công chúa Càn Nương Ngọc Hoa, cung trăng đang khóa, nhụy ngọc còn che, nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ.
Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”, biển đề “Ngắm trăng cầu hiền”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi của Trẫm thì sẽ gả công chúa cho.
Ngày đó thuyền bè tấp nập bên sông, trước lầu nhộn nhịn xe ngựa. Bút văn múa mà hình rồng động, sao đẩu rơi, sông mưa lạnh. Trận võ bày mà hổ báo khiếp, tiếng sấm kinh, góc bể trào. Một mối nước nhà mà bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận là thơ Đào yêu, còn chưa thổi được đàn ngâm vậy. Người đời bấy giờ có thơ rằng:
Trăng gió một trường giục động tâm
Bốn bề chật mắt thấy anh quần
Việt thành then khóa xuân nào biết
Ai người sẽ mở, ai người cầm?

Lại nói lúc đó có Tản Viên Sơn Tinh với Động Đình Thủy Tinh, hai người là bạn học cùng nhau, có nhiều phép thuật thông thiên mà chưa đến ứng tuyển. Hôm sau Sơn Tinh gửi lời đến Thủy Tinh rằng:
– Người xưa nói giai nhân khó được, nam tử đã khó gặp, huống chi lại là việc cưới công chúa làm vợ. Tôi với anh âm dương hai đường khác biệt, mà lại có cùng tình bạn học. Ngày này ở dương thế cung vua đang thật là bậc khuynh thành như trướng Đường buồng Ngu, chưa chọn được ngưới xứng tuyển. Chúng ta chẳng quản ở xa mà tới, để cầu lấy duyên này. Ngoài chúng ta ra thì còn ai xứng nữa.
Thủy Tinh từ khi được tình ý đó, ngay hôm ấy sửa sang hành trang, tu tập quan quân, lập tức đến núi thiêng Ngọc Tản cùng hội với Sơn Tinh. Sơn hào hải vị, mở yến tiệc lớn, nâng cốc mừng thọ, để tiếp khách. Lễ mừng xong, Sơn Tinh với Thủy Tinh cùng đến kinh thành, cung kính trước ngự tiền tâu rằng:
– Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy.
Vua rất vui mừng, bèn rời xa giá đến sông Bạch Hạc để thi tài. Thế rồi Sơn Tinh đến đứng ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước. Phút chốc bỗng thấy giữa sông mây mưa, mặt nước sóng dồn, ngã ba sông tràn nước, tiếng sấm nổi đến làm kình côn lạc phách, cuồng phong vạn dặm thổi tung, sóng dựng kinh hồn rùa cá. Trùng trùng trắng đỏ, gieo khắp cõi trần. Xúm xít xanh vàng, mịt mờ trời đất. Thiên hình vạn trạng, quỷ xuất thần chìm, biến hóa u minh. Hễ trông thấy đó là run tim mất mật.
Sơn Tinh ở nơi ấy tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ vào. Tức thì mọi thứ kỳ lạ đều theo đầu trượng mà quét sạch. Bỗng lại có núi Ngũ nhạc nổi lên cao ngàn vạn trượng, đứng sừng sững giữa trời đất. Thú chạy đến chầu, chim bay cùng họp.
Thủy Tinh ở giữa sông lại gọi sóng to gió dữ. Vạn vật mất hình tiêu biến trong nước. Biến biến hóa hóa. Hai người phép đều cùng thật là huyền diệu.
Ngày hôm đó mới xa giá về cung, cử sứ giả gọi hai người lại nói rằng:
– Trẫm chỉ có một người con gái yêu, trước giờ chưa chọn được ai để kết đôi. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, không biết phân định thế nào. Há chẳng là Ngô mừng thì Sở rầu, Hán ca thì Tần khóc. Chi bằng sáng sớm ngày mai ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm sẽ gả cho.
Thế là Thủy Tinh về cung Động Đình để cầu tìm vật lạ (nguyên là sách ước đã đem cho Sơn Tinh). Sơn Tinh ra ngay dưới lầu, lấy trong tay áo ra cuốn sách thần, đọc chúc với trời mà ước được đồ sính lễ. Bỗng thấy, voi trắng chín ngà, kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Sơn Tinh thu lấy đó, vào giữa giờ Tý đem sính lễ vào đến lầu rồng. Vua bèn gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh. Sơn Tinh làm lễ. Lễ xong bái tạ, đón về sơn động.
Đến giờ Mão ngày đó Vua thấy Thủy Tinh mới đem lễ tới. Vua nói:
–    Sơn Tinh đã đem sính lễ đến trước. Trước đã có lời hẹn, nay biết làm sao được.
Thủy Tinh vì thế rất oán hận, mới về tâu lên Đế Quân, xin dẫn quân tiến đánh Sơn Tinh. Đế Quân đồng ý. Cùng ngày Thủy Tinh tụ họp thủy tộc, bày trận ngàn hàng côn sấu, lập binh vạn đội kình nghê, thuyền rồng dốc tiến ra giữa sông, trống ba ba gõ vang rung đáy nước, hàng hàng thẳng tiến. Đi được nửa đường thì Sơn Tinh nghe tin, bèn cùng với Duệ Vương giăng lưới võng sắt ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm để ngăn. Quân thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mở ngang một dải sông nhỏ từ Lị Nhân đến vùng chân núi Quảng Oai, kéo lên bờ trên của cửa sông Hát mà ra sông Cái, vào sông Đà để tập kích núi Tản Viên ở mặt sau. Lại mở một con sông ngang nhỏ gọi là sông Bờ, tấn công núi Tản Viên ở hướng mặt trước. Vì thế Sơn Tinh mới dùng phép thần biến hóa, liền gọi người trong núi lại, lấy tre đan thành rào chắn ở trên núi. Lại bảo cho dân rằng:
– Các ngươi nếu thấy dâng nước tiến công ở trước rào thì đều bắn và chém đi.
Nhân dân tin theo lời đó. Trong khoảnh khắc thủy tộc tiến quân đến đánh. Nhân dân đều dùng cung kiếm bắn và chém chết rất nhiều. Khi ấy các loài kình nghê côn sấu chết lấp đầy các hang hốc bên sông. Thủy Tinh căm phẫn oán hận, cho nên đến nay mỗi năm đến tháng sáu tháng bảy thường dân nước lại đánh. Nhân dân sống dưới núi thường bị mưa gió lũ lụt gây hại rất nhiều. Nhưng vì Sơn Tinh được quyển sách thần, có bí thuật phép tiên, nên quân thủy tộc không thể gây hại. Người bấy giờ có thơ rằng:   
Tương tranh sự đó Thủy – Sơn thần
Muốn viết thơ này để hậu nhân
Bể ái gương treo đôi mắt gửi
Ham tình động sóng giữa thu phân
Sách ước đủ rồi đền nợ trước?
Má hồng sao chịu ganh phu quân
Trường Sa ngày ấy mà không gặp
Còn Sắc hay Không, Thủy Tinh thần?

Ghềnh Bợ Đà giang

Chống Thục lần thứ nhất

Lại nói, thời Duệ Vương trị nước, bốn bể thanh bình. Đế tử tiên ông quê người nước cũ. Núi sông trải Thần Phù, Yên Tử, cao thấp mây trắng vầng hồng. Trăng gió rọi Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc.
[Sơn Thánh] khi đó hoặc dạo chơi trên sông Tiểu Hoành, ngắm cảnh thú vị sông nước mênh mang. Đi qua đất các xã Cổ Đằng, Tam Sơn, Vật Lại, huyện Ma Nghĩa, ngắm nhìn vẻ đẹp núi sông, lập làm hành cung (nay là điện Trung thần cung). Lại đi qua 8 xã Thuỵ Diễm, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tùng Cao của huyện Phúc Lộc, lập thêm Nam thần cung ở cửa 12 khe của Bể Cạn. Lại thường đi săn tới xã An Diệu, huyện Mỹ Lương, lập cung điện Mang Sơn, rồi giữ ruộng thờ (72 mẫu nay tại xã An Diệu, và 200 mẫu nay ở xã Đông Triều làm dân tạo lệ) để cung cấp cho hậu thế làm hương lửa phụng thờ. Đến khi về đến núi Tản Viên. Động cũ là nơi đất này, ba ngọn núi vượt lên, vạn nhẫn cao vời, tốt đẹp u sảng, khó có thể tả hết. Lại thêm xóm thôn đông đúc, phong tục chất phác. Sơn Thánh rất yêu mến, bèn thiết lập trên đỉnh núi, thuộc đất Thủ Pháp 22 xóm (nay Thượng thần cung tọa Càn hướng Khôn là chính điện; Trung, Hạ thần cung là nơi cầu đảo; Đông thần cung là nơi yết kiến; Nam thần cung, Bắc thần cung là nơi trú ngự). Từ đó tuân mệnh Thượng Đế thường cùng với Tứ phủ Công đồng ở hải đảo mà đi tuần xem vạn sự trong nhân gian.
Khi Duệ Vương được 115 tuổi, năm Ất Mùi, nhân thấy Duệ Vương tuổi đã cao, mà 20 hoàng tử đều đã về cõi tiên, không có người nối dõi, Thục thừa cơ muốn dấy động, âm thầm khởi binh, muốn từ phía Tây lại đánh Duệ Vương chiếm lấy nước. Vua bèn cùng với các đình thần bàn bạc. Trong triều có Trác Công bước lên nói:
– Bệ hạ vâng theo mệnh trời, vua tôi tướng sĩ đều yên ổn vô sự đã lâu ngày. Quân binh huấn luyện không tinh. Nay có can qua động tới, liên quan đến nhân dân xã tắc, tình thế không thể giữ được như nguyên thì sự linh thiêng của Thái tổ Thái tông trên trời không phải không bị phương hại bởi chúng ta sao. Vạn nhất xảy ra binh dữ chiến nguy, Thục khó mà phá được, tổ tông và dân chúng biết trông vào đâu. Chi bằng nhân đây mà dùng mưu thận trọng, bí mật hối lộ tướng địch, gửi thư cho chúa quân địch, để xem ý có lui binh không, rồi mới tùy cơ hội về sau.
Vua nghe vậy muốn dùng kế đó, bèn triệu Tản Viên Sơn Thánh đến hỏi. Sơn Thánh tâu rằng:
–    Hơn hai ngàn năm đến nay, mười bảy đời thánh quân gây dựng, ơn sâu đức dày đến tận cốt tủy của nhân dân. Nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ ban cả ra nước ngoài. Còn quân Thục đã không tự giữ gìn lại dám nổi lên chống lại thì cơ thất bại đã nghiệm rõ. Nếu một ngày Bệ hạ nêu rõ tội ấy rồi dấy thảo phạt, lấy nghĩa mà phục thì dân ta sẽ đều theo Bệ hạ mà không theo giặc. Mối họa của quốc gia lo gì không dẹp được. Thần xin lĩnh 3 vạn hùng binh vượt ra chiến địa, một mình một xe sang đến đất Thục thì có thể bình định được.
Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn ngay hôm đó trai giới lập đàn bày lễ, cúng tế trời đất, lấy nỏ thần linh chú trao cho Thánh mà rằng:
–    Binh cơ quý ở thần tốc. Tướng quân dùng thứ này mà bắn thì sẽ được như có thần vậy.
Lại cùng vào tế cáo trong miếu. Vua đứng quay mặt về phía Bắc. Tướng quay mặt hướng Nam. Vua thân lấy búa nắm phần cán, trao cho Thánh phần đầu mà rằng:
–    Từ đây trở lên trên do Tướng quân cai quản.
Vua lại lấy rìu nắm phần đầu, trao cho Thánh phần cán mà nói:
–    Từ đây trở xuống dưới do Tướng quân cai quản.
Thế là Sơn Thánh bái tạ nhận mệnh, đường đường quyết chiến mà ra đi. Duệ Vương có bào thơ úy lạo rằng:
Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ
Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ
Việc công vó ngựa bay trong gió
Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ
Ly biệt một lần chia cách núi
Ruổi rong ngàn dặm tựa như mơ
Kiếm cung từ cổ anh hùng sự
Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Lại nói bấy giờ quân Thục tiến đến núi Quỳnh Nhai (nay là địa phận phủ An Tây). Sơn Thánh tiến quân đến Mộc Châu, gõ chiêng lớn bày trận, đóng binh tại đó. Lại gửi hịch cho các phiên thần tập hợp binh lính, tùy nơi mà ứng chiến. Thế rồi Sơn Thánh hạ lệnh sai 2 vạn hùng binh, tiến đến núi Quỳnh Nhai, ra ngoài vùng Cổ Táo hơn 50 dặm khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền điều 30 vạn quân đến. Quân Hùng giả vờ bỏ chạy, phục nấp ở hai bên vùng Thiên Táo đến Mộc Châu. Sơn Thánh ngồi trên núi Mộc Châu, tay cầm sách thần niệm chú mà ước. Bỗng từ trên trời giáng xuống một đại thần tướng, thân cao 5 trượng, tay cầm một chiếc tiêu gỗ dài 30 trượng, hình như vỏ ốc, đứng tại đầu núi ở mé bên trái Sơn Thánh. Thần tướng thổi tiêu lên thì sấm rền gió giật, sương nổi mây bay, mù mịt vạn khoảnh, đổ cây bốc nhà, cát dâng đá chạy, trời đất tối sầm.
Quân Thục thua to chạy tán loạn. Sơn Thánh bèn đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn hơn trăm phát. Thế rồi quân mai phục bốn mặt vây lại, chém hết 30 vạn đầu quân Thục, không thoát một tên, không lọt một ngựa. Thần tướng tự nhiên bay lên không mà đi.
Sơn Thánh liền truyền gửi tấu báo tin thắng trận. Duệ Vương ban chiếu mời về. Sơn Thánh vâng mệnh dẫn quân quay trở về đến cửa thành, bái tạ. Duệ Vương phong Sơn Thánh làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần. Ngự chế làm bài thơ úy lạo rằng:
Quả nhân chẳng liệu kẻ phương xa
Cử nghĩa lao phiền tướng nước ta
Vạn dặm trống cờ dồn hết lực
Trời cao mưa gió gạt khăn qua.
Đúng là thước kiếm xua giặc dữ
Liền ngay thành chiếm lại cho vua
Nghìn năm về trước, nghìn năm lại
Quốc gọi là thần, đáng con nhà.

Bia đình Viễn Lãm (Thanh Thủy, Phú Thọ), thờ Tả Thánh

Vua Hùng nhường ngôi

Lại nói, được 2 năm, quân Thục nuôi lòng căm phẫn, tích dưỡng quân mã, cử binh phục thù, cầu viện nước láng giềng, được hơn trăm vạn tinh binh, tám vạn kỵ mã, chia làm 5 đạo. Đạo quân chính 30 vạn quân, 5 ngàn ngựa, tiến thẳng theo đường núi Mộc Châu, Hoàng Tùng, Quỳnh Nhai mà đến. Đạo quân bên trái 10 quân, 1.500 ngựa, theo mặt châu Lạng Sơn, Văn Lan mà đến. Đạo quân bên phải 20 vạn quân, 1.000 ngựa, theo vùng đất Đại Man mà đến. Đạo quân giữa 10 vạn quân, 500 ngựa, theo đường châu Bố Chính, Minh Linh mà tới. Một đạo quân thủy 3.000 chiếc thuyền, 30 vạn quân, tiến theo cửa Hội Thống, Hoan Châu. Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa song hành. Duệ Vương lo lắng mới triệu các đình thần đến hỏi. Tất cả đưa mắt nhìn nhau, không có một kế khả thi.
Sơn Thánh tâu rằng:
–    Trước đây Thục Vương ngông cuồng, coi thường oai trời, một bầy lẫm liệt, tưởng che được cả trời. Hoàng đế Bệ hạ đã độ lượng khoan hồng, miễn cho khỏi rơi tổ vỡ trứng. Nay lại không biết hối cải, muốn tiếp tục mưu đồ vọng tưởng, châu chấu đá xe, thế như lông tơ trên lò lửa. Bệ hạ sao phải lo lắng việc điều quân khiển tướng. Thần xin đảm nhận việc này.
Duệ Vương tươi tỉnh lại hỏi:
– Còn việc gìn giữ miếu đường thì Khanh định tính như thế nào?
Sơn Thánh tâu rằng:
– Sự quyền biến không thể dự đoán trước được. Thần xin được lĩnh 50 vạn hùng binh. Thiên hạ của quân vương khắc có ngày được yên định.
Duệ Vương đồng ý. Sơn Thánh mới lấy 10 vạn quân mạnh, voi ngựa trăm con, theo đường chính Mộc Châu chiếm giữ những nơi lũy cao hào sâu, không ra giao chiến. Ngầm sai Dũng mãnh Nguyên soái Tổng đốc Đại vương dẫn 3 vạn quân theo bên trái ra châu Văn Lan để ứng chiến cánh tả của quân Thục. Lại sai Long Linh Chi quân Phụ quốc Thượng Đại tướng quân dẫn 2 vạn binh mã men theo đằng sau châu Đại Man mà ra, giả lập một đồn binh để ứng chiến với hậu quân của Thục. Lại sai Phụ quốc Ma Vương Đại thần Anh linh Nhất bộ Hào kiệt Thượng tướng quân dẫn 2 vạn binh mã mà ra ứng chiến cánh quân bên phải ở châu Bố Chính Minh Linh. Lại sai Tán quốc Tá thánh Đại thần Đồng Đôi Hào kiệt Đại tướng quân, dẫn 3 vạn binh mã cùng với thuyền bè hơn 2.000 chiếc ứng chiến thủy đạo ở Hoan Châu, cửa biển Hội Thống Môn, cai quản luôn một mặt của Ái Châu. Lại sai Đại thần Trần Cơ Hổ Ma vương Anh đô Thượng đại tướng quân đem 3 vạn quân tùy địa thế mà ứng chiến. Sơn Thánh thân dẫn đạo quân theo núi Mộc Châu đánh lớn một trận, lấy được ấn tích cờ xí của quân địch, bèn giả làm một bức thư của Thục chủ gửi cho tướng Thục rằng:
– Nước Văn Lang triều Hùng có một thần tướng. Nay nhà ngươi phụng mệnh dẫn quân đến đánh nước người. Binh quý ở bí mật, chớ nên khinh động. Đợi khi có chiếu thư báo, tất sự sẽ có thể định được.
Viết xong làm giả ấn tín của quân địch mà đóng vào trong thư. Lại khiến một người thạo việc ăn mặc quần áo của quân địch, tự xưng là sứ giả Thục, cưỡi ngựa đến trại lính cánh quân chính của địch đưa thư cho tướng Thục. Tướng Thục từ khi nhận được thư, ra sức cố thủ. Cánh quân phải nghe có biến cũng không gửi thư báo gấp đến được.
Sơn Thánh bèn tiến quân, ngày đêm đi gấp hơn 500 dặm, đến thẳng kinh đô nước Thục mà đánh. Chủ tướng nước Thục không kịp đến cứu. Sơn Thánh lấy sách và gậy thần chỉ vào, đại phá cánh binh chính của Thục, bắt sống toàn bộ. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên phải rút chạy. Thế là Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch quân địch, dẫn binh mã về kinh thành tấu cáo chiến thắng. Từ đó thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự.
Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ chối không nhận, quỳ xuống tâu lên Duệ Vương rằng:
– 18 đời họ Hùng hưởng nước dài lâu, tất là lòng trời có hạn nên có quân Thục thừa cơ đến chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục chúa vốn cũng là bộ chủ nước Ai Lao, cùng là tông phái của đế vương đời trước. Thế nước khác thường đều do tiền định. Vua sao quyến luyến một cảnh trời Nam mà chống lại ý trời, tất dẫn đến thế cùng cực chém giết mà hại sinh linh vậy.
Duệ Vương ngừng hồi lâu rồi nói:
– Lời của Khanh nói cũng có lý, ta đã biết rồi. Nhưng lại nghe nói rằng thời bình thì quan trọng trước hết là con trưởng, thời loạn thì đầu tiên là kẻ có công. Thục chúa ngông cuồng, Trẫm đã được Khanh làm vây cánh, binh trời lẫm liệt, chúng địch sạch tan, quốc thái dân an. Công của Khanh không lớn lao hay sao? Khanh lại là rể quý trong nhà, là trung thần của đất nước, là người được Trẫm cầu để nối ngôi trời. Trị quốc chính ngoài Khanh ra thì còn ai nữa? Khanh hãy nhận lấy ngôi này, đừng từ chối mà phụ ý cầu hiền của Trẫm.
Tản Viên Sơn Thánh bất đắc dĩ đành tuân theo mệnh đó. Từ đó tuy giúp Vua trị nước, thân ở trong triều, nhưng không dứt được chí dạo chơi nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, vàng bạc châu báu coi nhẹ như sợi tơ. Lánh tục tìm nhàn vốn là ý nguyện bình sinh chẳng thể thay đổi được. Được hai ba tháng, Tản Viên Sơn Thánh lại nói với Duệ Vương rằng:
–    Sự nghiệp bá vương thay đổi xưa nay là lẽ thường. Họ Hùng hưởng nước đã hơn hai ngàn năm. Nước Việt từ Thái tổ Thượng Hoàng khai sáng, đều đã có con hiền cháu thánh, cha truyền con nối, tới nay được18 triều. Bệ hạ sinh hạ được 20 hoàng tử, đều đem thân về chốn Bồng Lãng, thoát khỏi bụi trần, sau không có người để mong kế truyền. Nghiệm đó thì cơ đồ họ Hùng đã đến lúc mạt, vận nước sắp đến hồi kết thúc. Lại như thần, vốn chỉ là con rể trong nước, mà nắm giữ đại quyền, không dám mà không một lần nhận mệnh cho Bệ hạ được yên lòng. Đâu dám ở ngôi trời lâu dài mà chống lại thiên cơ. Thần xin Bệ hạ cầu người hiền mà nhường lại ngôi vị cho thuận với lòng trời, gỡ bỏ nỗi lo muôn năm vậy.
Bèn trả lại ngôi vị cho Duệ Vương mà nhận lời đó để lại cai quản đất nước, rồi đợi tìm người hiền nối vị. Thế rồi Tản Viên Sơn Thánh bái tạ từ biệt, khắp nơi dưới trời không đâu là không có dấu chân Thánh, cùng gió mây voi ngựa mà ngắm xem sông núi, sương móc xe kiệu mà lên xuống trời đất. Lúc thì đàn reo sáo múa, thi thư đối xướng với đất trời, nhạc phượng ca loan, tiếng hình là điều thú vị cõi Bồng Lai. Cỏ bồng dẫn lối, Ngũ hồ gió trăng, thuyền câu là dấu tiên, soi hình cảnh hội khói sương, xe mây vạn hình là bước chân, non xanh nước biếc quấn quít chưa đẫy càn khôn. Thánh Nam thần Bắc, ra vào chốn phong cảnh chín trời. Cứ mỗi năm đúng tháng ngày sóc ngày vọng cùng với những phiên đại lễ của triều đình thì Sơn Thánh hôm đó đều quay giá về triều, chưa lần vắng mặt. Tan chầu lại theo lối cũ ghé bước nhàn du. Cứ thế được hơn 10 năm thì bỏ hết được mối ràng buộc.
Đến đúng năm Mậu Thân ngày 15 tháng 1 bỗng thấy Thục chúa sai sứ giả tới đem theo một trặm hốt vàng cùng với một trăm thước gấm rồng, trước dâng lễ, sau đưa thư cầu tới Duệ Vương. Thư trong đó viết:
–    Bộ chủ Ai Lao, thần, Thục, khâm thừa mệnh trời làm chúa tể một phương, ngày trước dám ngông cuồng không theo đúng lễ làm thần mà dám xúc phạm bền trên, thật là đáng chết, mà quốc gia vẫn còn toàn vẹn, thực là ơn lớn của Thiên hoàng. Nay trộm nghĩ, thần vốn cũng là tông phái của nhà họ Hùng, đã khai cơ sáng nghiệp, nối dài công đức của tổ phụ mà có điều lành cho con cháu nước nhà được một bề phú quý to dày như vậy. Lại nghĩ, người có tổ, vật vốn có tông. Thần được nhiều ơn đức mà không báo đáp tổ phụ ở dưới cửu tuyền, không thỏa linh thiêng của miếu đền phi tử. Mỗi khi nghĩ đến thì lại càng thêm thâm cảm. Nên nay không sợ bị lời quở trách uy nghiêm, xin bề trên niệm tình trước đối với thần Thục đây, cho được kết hòa thân, phụng lễ chầu cống, để được thẫm đẫm ơn vua, sau là không phụ ý nguyện bình sinh của bậc con cháu này vậy.
Hôm ấy, Sơn Thánh đang đứng trong chính điện. Vua xem xong thư ấy nhân việc đó mà hỏi Sơn Thánh rằng:
– Thục Vương vốn là tông phái của Tiền Hoàng đế. Trước vì ngông cuồng mà dám đến xâm chiếm nước ta. May mà ý trời còn cho cơ đồ họ Hùng chưa hết. Ngày nay Thục chúa lại xin được cầu hòa. Mong tướng quân xem kỹ rồi nói với Trẫm nên thế nào.
Sơn Thánh đến trước ngự tiền mà tâu riêng rằng:
– Thục chúa đúng là tông phái của Tiền Hoàng đế, làm chúa tể một phương. Ngày trước muốn đến xâm lăng làm cho Bệ hạ phiền lòng, cũng là bởi trời khiến cơ đồ họ Hùng thứ 18 một phen điêu đứng. Bệ hạ không cần phải oán giận vậy. Ngày nay lại cầu hòa, tức là biết tiến biết lui. Thục chúa đúng là một vị hiền quân, nay biết kế ấy không bằng mở rộng lượng độ đồng ý cầu hòa thân. Đó là sự sáng sốt đem đến sự hòa thuận của Bệ hạ. Vả lại họ Hùng theo ý trời đã định, nhân việc cầu hòa này mà gọi tới nhường ngôi cho. Bệ hạ như thế sẽ là bậc thánh. Việc xong Bệ hạ cùng với thần có thuốc của thần tiên, chi bằng rong ruổi cõi trần, ba sinh nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, mãi cùng với trường xuân tuế nguyệt, lầu rồng gác phượng không dính bụi phàm. Trần gian non xanh nước biếc miên man thưởng ngoạn. Tốt thay Quân tử! Đó chẳng là vui sao? Thần và Bệ hạ đã rõ kế đó thì hãy quyết đoán. Việc không thể chần chừ.   
Thế là Duệ Vương nói:
– Khanh nói phải thay. Trẫm theo như vậy.
Bèn sai sứ giả theo binh mã về triệu Thục chúa đến nhường ngôi cho. Thục chúa bái tạ. Duệ Vương nhân đó ban cho nỏ thần rồi quay về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh mong hóa sinh bất diệt. Một hôm Duệ Vương ngự bút làm thơ rằng:
Cỏ động tiên bồng đượm xuân xanh
Rêu phủ cung vua mới vẻ lành
Bởi ở thế gian nhiều sự vặt
Gió bụi với trời sao cố ganh.

Ngâm thơ xong Duệ Vương cùng với Sơn Thánh và công chúa Ngọc Hoa cùng giữa ban ngày mà bay lên trời đi vào cõi hóa sinh bất diệt.
Thục chúa nhận được nhường ngôi, cảm công đức ấy bèn đại giá đến núi Nghĩa Lĩnh, lập nên miếu điện để làm nơi quốc gia thờ phụng. Lại dựng 2 cột đá ở giữa núi, chỉ trời mà thề rằng:
–    Xin được nguyện ước trời xanh chứng giám cho tỏ tường. Thần tiểu tử tôi là Thục An Dương thu nhận cơ đồ họ Hùng, tiếp nối chính thống. Ơn sâu đức lớn sánh cùng trời đất. Nay lập miếu đường họ Hùng để làm nơi muôn vạn năm cúng thần, hương lửa không ngớt, phụng thờ như lễ. Giả sử các vua sau này kế vị mà bội ước nhạt thề thì núi sông trời đất sẽ chứng giám việc phụ lời thề này.
Chúc xong, Thục Vương quay về đô thành, ban chiếu cho thôn Cổ Tích, xã Nghĩa Lĩnh Nghĩa Cương làm thôn dân trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Hùng Vương Sơn thánh (xem theo trong sự tích của Hùng Vương). 22 xóm của huyện Bất Bạt, Thủ Pháp, làm dân thôn trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Sơn Thánh. Cùng với xã Trung Độ cùng huyện làm dân trưởng thủ lệ. Chính quán động Lăng Sương, ngoại quán, các xã An Lãng, An Đức, Lũng Phong, Lũng Phao, Ly Trúc, Thái Hoà của khuê Mông Hóa, Vật Lại, Vật An, Vật Phú, Tri Lai, Đồng Bảng, Cẩm Đới, Bình Lộng, An Vệ, Bảo Vệ, Cổ Lãm, An Bạch của huyện Minh Nghĩa, cùng với các ruộng thờ ở các phủ huyện xã sách động trang, cộng 2.700 mẫu để phụng thờ hương lửa cho các điện Thượng, Hạ, Trung, mãi trùm vạn thế.
Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần thay vua đổi bá thì Tản Viên Sơn Thánh đều có phép thuật thần tiên. Lúc hoặc biến hiện ra chân thân, lúc hoặc cảm thông linh ứng. Hộ quốc an dân, có công với đời. Các triều đại đều chuẩn y các cung điện cùng với các xã trưởng tạo lệ, dân hộ nhi mà miễn việc binh thuế cùng các việc sai dịch, phụng thờ như trước. Cứ thế mà cùng với mạch nước để tiếng thơm truyền lưu vạn cổ. Tốt đẹp thay!

Núi Tản nhìn từ sông Đà

Sau thời Hùng Vương

Năm Giáp Thìn ngày 9 tháng 1, An Dương Vương lên ngôi, đóng đô ở thành Cổ Loa cai quản quốc gia, nối thừa cơ đồ to lớn mà Hùng Duệ Vương giao phó lại. Vua ở ngôi tổng cộng 50 năm. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Tuy nhiên Vua từ khi được nỏ thần linh quang quốc bảo của Hùng Vương thì không chịu khó tu sửa văn, huấn luyện võ, chọn tuyển tướng, luyện tập quân để chế ngự giặc ngoài. Tới khi An Dương Vương tuổi đã 80, có người họ Triệu, tên Đà, người Chân Định, thừa cơ khởi binh dẫn lính đến thẳng huyện Quế Lâm, đại chiến với Thục Vương. Lúc ấy Sơn Thánh nghe được tin, liến biến phép thần thông, tự nhiên bay trên không mà tới, cùng với binh mã tiến thẳng đến nơi cùng Triệu Đà giao chiến. Trong vòng 10 lần đều chiếm được phần thắng. Sơn Thánh nghĩ đến sinh linh và việc hương lửa bèn nói với Thục Vương rằng:
–    50 năm thiên hạ đã được Hoàng thiên định vậy. Ngày nay Triệu Đà bó tay không kế, ta không muốn gây họa nữa. Triệu Đà đến khiêu chiến với ta tới mức đánh cùng diệt tận. Sinh mệnh đều đang nằm trong tay của Vua. Vì nước tất phải vì dân. Chi bằng thuận theo lòng trời, gọi họ Triệu đến nhường cho ngôi vị.
Vua nghe thấy lời ấy bèn mới nhường lại ngôi vị cho Triệu Đà, còn mình thì đi vào biển lớn mà hóa.
Triệu Đà được quốc gia mà lên ngôi vào năm Bính Ngọ. Cha truyền con nối được 5 đời thánh vương. Trước sau cộng 149 năm. Tới khi Lạc Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu bại vong, không người cứu giúp. Cho tới khi có chắt gái của Hùng Vương, tên Trắc và Nhị, là bậc nữ trung hào kiệt, bậc thánh thần trên trần thế, dấy nổi oai hùng, cất quân đến đánh. Đương thời nam nhi thao lược cũng không có người như vậy. Nữ tướng dẫn quân, cầu đến thần linh. Trưng Vương mật cáo Tản Viên Sơn Thánh tụ hội bách thần ở cửa sông Hát Môn (nay là ở xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc), lập đàn tế cáo thần linh. Đọc chúc rằng:
–    Trời sinh ra người làm tông chủ vạn vật trời đất, chủ cho dân sinh, khai nuôi cây cỏ. Các đế vương đời trước đều là các bậc thánh minh thiên tử. Triều đình có đạo yêu dân vì nước, có đức hóa rộng lớn. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có người ngoại tộc tên Tô Định tỏ thái ý ngông cuồng khắp nơi, ngược bạo người dân. Trời đất thần người đều căm phẫn. Kẻ hèn tôi vốn là một nữ nhân nhà họ Hùng, nghĩ tới sinh linh, rỏ trăm giọt lệ Hoàng thiên. Ngày hôm nay đau lòng thương dân đỏ, trượng nghĩa trừ bạo tàn. Xin trăm họ các vị tôn thần linh thiêng hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ dẫn quân dẹp giặc, giữ nước giúp dân. Dám mong phục dựng lại cơ đồ cũ của tổ tông, đưa nhân dân khỏi tầng cực khổ, thoát ra khỏi nơi nước lửa binh đao, sau không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa linh thiêng của miếu đền tiên tử, an ủi cha ông dưới nơi chín suối.
Chúc xong bèn hô xuất quân ngàn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp quan lang, phụ đạo các châu quận nước Nam, định ngày giờ dẫn quân 5 vạn, tức chia các đạo tiến đánh, tạo thành kỳ binh, đến thẳng đồn của Tô Định mà đại phá trong một thời. Quân Định bỏ chạy. Thế là Trưng Vương xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, chiếm phục lại toàn bộ vùng đất Nam Bang. Trưng nữ lên ngôi Hoàng đế. Trưng nữ ở ngôi ba năm, từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần lên ngự ở triều đình. Trưng nữ một thời xuân mộng, được lập miếu ở cửa sông Hát Môn, các xã ấy phụng thờ hương lửa, tới nay hiện còn di tích. Thời thuộc Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống Tề, Lương cộng là 314 năm đến khi Nam Bang thay nhau bốn đời Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở hoàng đồ, đều có biến hóa điềm thần, các triều giúp nước. Sự đã được ghi rõ trong Sử ký Nam Việt.

Nghi môn đình Phú Hữu (Ba Vì, Hà Nội)

Toản yếu lục Tản Viên Sơn Thánh

Xưa Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân, có con gái của Đế Lai là Âu Cơ sống ở động Lăng Sương huyện Bất Bạt, đi ra chơi ở bãi Trường Sa. Long Quân thích sắc đẹp đó bèn cùng kết duyên. Mười tháng mang thai sinh một bầu trăm trứng. Qua tháng
Trăm trứng nở ra những người con trai, không bú mớm mà trưởng thành. Sau Long Quân chia biệt, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy Tinh. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn Tinh. Lên núi xuống biển, có sự thì gọi nhau.
Vương tên là Hương Lang. Thời Đường Nghiêu, hồng thủy ngập trời. Lạc Long Quân sai trăm trai cùng nhau trị thủy. Chỉ có Vương vũ dũng anh uy, lại có phép tiên, cầm gậy sắt chỉ nước, thủy hoạn hết, có công xếp hàng đầu.
Tới khi quân Ngô nước Tần khởi binh, thỉnh Vương đến giúp, quả nhiên được đại thắng. Tần ăn mừng.
Sau Vương theo về hải quốc, đi ngắm các danh thắng, tới núi Tản Viên, thấy ba ngọn vượt lên, cao vời vạn nhẫn, đẹp đẽ u sảng, không thể mô tả. Bèn lập cung ở trên đỉnh núi mà ở. Tới nay, cầu đảo có nhiều linh ứng.

Niên hiệu Thuận Thiên năm thứ 3, ngày 5 tháng 11

Viết nên sử Dao

Nhà Thương Ân có tổ tiên của là ông Tiết. Trúc thư kỷ niên kể:

Cao Tân thị có người vợ tên là Giản Địch, vào tiết xuân phân, khi chim huyền điểu tới thì đang theo Đế đi làm lễ tế giao để cầu tự, bấy giờ cùng người em gái của mình tắm ở sông Huyền Khâu. Có con chim huyền điểu ngậm quả trứng mà đánh rơi, trứng ấy có năm màu rất đẹp, hai người tranh nhau đi lấy, rồi dùng giỏ ngọc úp lên. Giản Địch lấy được trứng trước, bèn nuốt vào bụng, thế rồi mang thai, sau đấy xẻ ngực mà sinh ra Tiết. Tiết lớn lên rồi làm chức Tư đồ cho vua Nghiêu, vì có công với dân mà được nhận phong ở đất Thương. Trải qua mười ba đời sinh ra Chủ Quý. Vợ của Chủ Quý tên là Phú Đô, nhìn thấy có luồng khí trắng vắt ngang mặt trăng trong lòng rung cảm, thế rồi sinh ra Thang vào ngày Ất, bởi thế mới có hiệu là Thiên Ất.

Truyền thuyết “huyền điểu sinh Thương” cho biết nhà Thương là dòng dõi từ Đế Khốc hay Cao Tân Thị, vợ là Giản Địch do nuốt trứng ngũ sắc của chim huyền điểu mà sinh ra ông Tiết. Dòng dõi 14 đời của ông Tiết là Thành Thang, có tên là Thiên Ất.

Người Xá hay Phiên ở Trung Quốc có truyền thuyết về Cao Tân và Long Vương. Người Xá ở Quảng Đông kể rằng: Thời Đế Cao Tân, trong cung có một bà già tai to bị đau tai. Trăm chim vào chầu, quan ngự y cắt ra thì xuất hiện Long Khuyển. Đó là Kim Long giống tằm, nuôi được tám tháng, Kim Long thân dài 8 thước, cao 5 thước, toàn lông ngũ sắc, bèn ban hiệu là Bàn Hồ.

Đàn tế cúng trong lễ hội Bàn Vương ở Hoàng Su Phì

Người Dao và người Xá đều thờ Bàn Hồ. Đối chiếu 2 câu chuyện trên có thể thấy người Dao và ngưới Xá (cùng nhóm tộc) có tổ tiên chính là ông Tiết, con của Đế Khốc Cao Tân Thị. Ông Tiết là tổ của nhà Thương, nên người Dao cũng chính là thành phần dân tộc gốc của nhà Thương, khởi dựng từ Thiên Ất Thành Thang.

Người Dao tôn thờ Bàn Hồ là Bàn Vương. Cũng có nơi gọi là Bàn Cổ. Ông Bàn Cổ dùng rìu khai thiên lập địa trong truyền thuyết khai sáng Trung Hoa có nguồn gốc từ truyền thuyết Bàn Hồ của dân tộc Dao. Điều này càng cho thấy người Dao là một trong những dân tộc chính của Trung Hoa cổ đại.

Theo truyện kể dân gian, thần tích và các truyện thơ, đặc biệt là trong Quá sơn bảng văn (Bình hoàng khoán điệp), Bàn Hồ là con Long Khuyển được Bình Vương gả con gái và phong là Bàn Vương sau khi có công lớn giết được Cao Vương. Vợ chồng Bàn Hồ sinh được 12 người con (6 con trai, 6 con gái) đều được ông là Bình Vương ban sắc thành 12 họ là: Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu, như các họ của người Dao ngày nay.

Các họ người Dao tế lễ Bàn Vương

Trúc thư kỷ niên chép về Thành Thang: Thang đi về phía Đông tới bên bờ sông Lạc, ngắm nhìn đàn tế của Đế Nghiêu, lại ném ngọc bích xuống sông, lùi ra phía sau mà đứng. Sau đấy một cặp cá màu vàng nhảy vọt lên, một con chim đen theo đó mà đậu xuống dưới đàn tế, hóa thành hắc ngọc. Lại có con rùa đen xuất hiện, trên lưng có hoa văn màu đỏ sắp thành chữ, nói là Hạ Kiệt vô đạo, Thành Thang sẽ thay thế hắn. Có vị thần Đào Ngột xuất hiện ở núi Bi. Có vị thần dắt theo con sói trắng, miệng ngậm cái móc, đi vào triều đình nhà Thương.

Có thể thấy những điềm Thành Thang làm thiên tử trong truyện trên mô tả Ngũ sắc: cá vàng, chim đen, rùa mai đỏ, thần ở núi (xanh), sói trắng. Ngũ sắc là biểu tượng của Ngũ hành. Người có Ngũ sắc nghĩa là người nắm được Ngũ hành, hay nắm được thiên hạ. Con sói trong chuyện của Thành Thang cùng với Ngũ sắc cho thấy sự tương đồng với truyện Long Khuyển Bàn Hồ của người Dao. Vị Bàn Vương (Long Khuyển) đã diệt Cao Vương, lấy con gái của vua mà sinh ra 12 họ người Dao chính là Thành Thang, người đã diệt Hạ Kiệt, lên ngôi thiên tử của nhà Thương.

Đoạn sách cúng kể về Bàn Vương dẫn 12 họ người Dao “phiêu du quá hải”

Sách cúng người Dao còn kể: vào năm Dần mão, nạn hạn hán xảy ra, con cháu người Dao rơi vào cảnh thiếu đói, cơ cực nên phải thiên di vượt biển tìm nơi sinh sống. Với sự che chở của Bàn Cổ đại vương, 12 tộc họ người Dao vượt biển thành công. Để lưu truyền cho đời sau, họ đã viết sách “Quá Sơn Bảng Văn” kể lại quá trình thiên di đầy gian khổ, ca ngợi Bàn Vương.

Câu chuyện Bàn Vương đã quá sơn, vượt bể này là nói đến vua Thương Bàn Canh đã 5 lần dời đô, vượt sông Trường Giang, kiến lập nhà Ân ở vùng Hà Nam. “Vượt bể” ở đây là vượt sông lớn, chứ người Dao không ở bên bờ đại dương để mà vượt biển. Kinh Thư có 3 thiên Bàn Canh thượng, trunghạ nói đến việc Bàn Canh dời đô. Các vua Thương dời đô nhiều lần đến mức… dân gian có cụm từ “lang thang”, chỉ sự di cư bất định như các vị vua (lang) nhà Thương (thang).

Thời nhà Thương, chữ tượng hình bắt đầu trở nên phổ biến, hình thành một thể chữ khá chín muồi mà nay được gọi là Giáp Cốt văn, do chúng thường được khắc trên yếm rùa và xương động vật. Giáp cốt văn tự được biết là khởi nguồn của chữ Nho sau này.

Múa Bắt Rùa của người Dao ở Hoàng Su Phì

Người Dao cũng có tục cúng Rùa với nghi lễ diễn xướng khá trang trọng trong các dịp lễ tết. Cho tới nay người Dao cũng là dân tộc vẫn sử dụng chữ Nho. Các sách cúng, sách bói, lịch, sớ… của người Dao đều được ghi bằng chữ Nho một cách nguyên sơ nhưng thuần thục. Chắc chắn người Dao là một trong những bộ phận dân tộc chính đã làm nên sự hình thành của chữ viết tượng hình Trung Hoa.

Trúc thư kỷ niên cho biết, năm thứ 32 đời vua Vũ Đinh nhà Ân chinh phạt người Quỷ Phương, đóng trú ở đất Kinh. Sự kiện Ân Cao Tông phạt Quỷ Phương, nhưng lại đóng quân ở đất Kinh, tức là đất Kinh Sở ở Hồ Nam – Hồ Bắc này cho thấy vùng đất Kinh này đã nằm trong đất của nhà Ân. Vùng Hồ Nam cũng chính là nơi tập trung nhiều người dân tộc Dao. Sách Dao nói là “Bàn Cổ xuất thế Trường Sa quốc“. Trường Sa nay là đất Hồ Nam. Có thể nói, đất Kinh vốn là địa bàn gốc của nhà Thương từ Thành Thang. Sau này tới thời Chu thì được phân phong cho Dục Hùng, thầy dạy của Chu Văn Vương, lập thành nước Sở. 

Bài cúng mở đầu bằng Bàn Cổ xuất thế Trường Sa quốc

Người Sở còn gọi là Man. Còn người Dao cũng gọi là người Mán. Thậm chí có chỗ Bàn Vương được gọi là Hùng Vương, nên có những thông tin cho rằng người Dao cũng thờ Hùng Vương. Điều này càng khẳng định thêm nhận định rằng thành phần chính của nước Sở của Dục Hùng là người Miêu Dao.

Về tín ngưỡng, thì người Dao mang tín ngưỡng Đạo giáo một cách sâu sắc, chứng tỏ đây là tôn giáo gốc của dân tộc Dao. Trong lịch đồ của Đạo giáo mà người Dao thờ có khái niệm Tam Nguyên. Tranh thờ Tam Nguyên, dùng trong lễ cấp sắc và các lễ hội của người Dao, gồm:

•    Thượng Nguyên Thiên Quan tứ phúc: cúng vào rằm tháng Giêng.
•    Trung Nguyên Địa Quan xá tội: cúng vào rằn tháng Bảy.
•    Hạ Nguyên Thủy Quan giải ách: cúng vào rằm tháng Mười.

Theo Đạo giáo mỗi độ số của Trời có 180 năm, gồm 3 Giáp Tý (Lục thập hoa giáp 60 năm). Giáp Tý thứ nhất là Thượng Nguyên, có Thiên Quan cai quản. Giáp Tý thứ hai là Trung Nguyên do Địa Quan cai quản. Giáp Tý thứ ba là Hạ Nguyên do Thủy Quan cai quản.

Tranh Tam Quan của người Dao

Khái niệm Tam Nguyên là Tam Quan như trên tương tự như tín ngưỡng Tam phủ của người Kinh. Trên chiếc chày gỗ là dụng cụ của các thầy cúng người Dao cũng có khắc hình Tam phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ). Đặc biệt, vị vua của Địa phủ đã được ghi nhận là Ân Vương chết trong trận chiến với Thánh Dóng (Truyện Giếng Việt). Ngày rằm tháng 7 cúng Địa quan xá tội cũng là ngày tiết lễ lớn trong năm của người Dao.

Truyền thuyết Bàn Vương có đoạn cuối kể rằng Bàn Vương đi săn sơn dương, chẳng may bị sơn dương húc chết, người Dao vô cùng thương tiếc, làm lễ cúng tế Bàn Vương… Đây có lẽ nói tới chuyện Ân Trụ Vương đi săn con hươu của “thiên hạ” mà đã nhảy vào ngọn lửa ở Lộc Đài tại kinh đô Triều Ca để tự kết thúc. Lộc là hươu, là sơn dương, cũng là Lục, nghĩa là đất đai hay Địa phủ.

Dụng cụ của thầy cúng người Dao có ghi Tam phủ

Người Dao còn thờ cả những vị thần thái cổ Trung Hoa như Thần Nông, Phục Hy. Cùng với thờ ông Bàn Cổ thì có thể thấy người Dao là một trong những thành phần chính của thời Trung Hoa dựng nước, khai thiên lập địa, sáng tạo ra cái ăn, cái mặc…

Qua những so sánh trên, có thể khẳng định rằng, dân tộc Miêu Dao vốn là thành phần chính của nhà Ân Thương. Cũng giống như người Việt thờ 18 đời Hùng Vương, tín ngưỡng Bàn Vương của người Dao nói đến nhiều thời đại các vị vua tổ của mình. Đó là ông Bàn Cổ khai thiên lập địa, là ông Tiết con của Cao Tân Thị thời Nghiêu Thuấn, là Thành Thang cầm búa lớn mở ra nhà Thương với 12 họ người Dao, là Bàn Canh quá sơn vượt Trường Giang lập Ân, là Ân Trụ Vương làm vua Địa phủ, là các vua Sở họ Hùng. Sự thiếu khuyết của truyền thuyết Việt cho giai đoạn mở nước về phía Đông Nam của Lạc triều từ Long Quân được bổ sung bằng truyền thuyết Bàn Vương của người Dao.

Kinh Dương bản kỷ

Kinh Dương Vương tên là Tản (Tuấn). Bố là Cao Hành, được phong ở đất Sùng. Ông Cao Hành là dòng dõi của Hoàng Đế Đế Minh ở phương Nam (đất Sùng hay đất Lạc).Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Đế Nghi tìm người có thể trị thủy. Quần thần Tứ nhạc đều nói ông Cao Hành có thể làm được. Đế Nghi nghe lời Tứ nhạc dùng Cao Hành trị thủy. Ông Cao Hành lấy đất đá đắp bờ chặn dòng nước lũ, nên còn có tên là Cổn (cản). Qua chín năm mà lũ vẫn không dứt, chẳng nên công trạng. Thế rồi Đế Nghi lại tìm người, liền được Lộc Tục ở Lịch Sơn là Thuấn.
Thuấn được cất nhắc, làm thay chính sự của thiên tử, đi tuần thú các nơi. Thấy Sùng Cổn trị thủy không có công trạng, bèn đày tới Vũ Sơn. Thiên hạ đều cho rằng Thuấn trách phạt đúng. Thuấn còn được gọi là Ma Thị Cao Sơn, cất nhắc con của ông Cao Hành là Tản, sai tiếp tục công việc của Cổn.
Vua Nghi băng, Đế Thuấn hỏi Tứ nhạc: Có ai có thể phát huy và làm rạng rỡ được đức nghiệp của vua Nghi thì cho làm quan? Mọi người đều đáp: Tản Viên làm chức Tư không có thể phát huy và làm rạng rỡ công tích của vua Nghi. Đế Thuấn nói: Ồ, đúng. Rồi mệnh cho Tản Viên rằng: Ngươi dẹp yên nước lũ, thật gắng giỏi. Tản Viên chắp tay dập đầu nhường cho Tiết, Hậu Tắc và Cao Giao. Đế Thuấn nói: Ngươi đi coi việc của ngươi được rồi.

Tản Viên Sơn Thánh ở đền Đỗng Hoa, Thạch Thất

Khi đó Tản Viên có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, mới đọc ước chú làm cho đá vỡ tung tóe, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai mới hết, là người có công đầu vậy (nơi Tản Viên Sơn đục đá thông nước lũ là Long Môn Thác Bờ trên sông Hắc Thủy hay sông Đà).
Tản Viên cùng với Ích và Hậu Tắc vâng mệnh vua, lệnh cho chư hầu bá quan điều động nhân lực đào đất trị thủy, vượt núi cắm mốc, xác định núi cao sông cả. Hậu Tắc có tên là Kỳ Mệnh do sinh ra chốn rừng núi, được muông thú che chở.
Tản Viên thương cha Cao Hành công trạng chưa thành lại bị phạt liền lao tâm khổ tứ, ở ngoài mười ba năm, qua cửa nhà không dám vào. Áo cơm đạm bạc, hết mực kính thờ quỷ thần. Cung thất giản đơn, dốc hết chi phí cho việc trị thủy.
Biết Tản Viên mắc việc lâu ngày không trở về nhà, Thủy Tinh cho quân cải trang đến báo tin vợ con ông ốm nặng, mới mất, mời ông về nhà gấp. Tản Viên điềm nhiên bảo:
– Sinh mạng của vợ con ta không lớn bằng sinh mạng của trăm họ. Trăm họ còn đang lầm than khốn khổ vì nước dữ. Rủi vợ con ta có bề nào chăng nữa, ta cũng không thể bỏ mọi người mà về được.

Rồi Tản Viên Sơn Tinh lại tiếp tục gánh đất đắp núi. Đường đất đi bằng xe, đường sông đi bằng thuyền, đường bùn đi bằng khiêu, đường núi đi bằng cúc. Tay trái thì mang gậy thần, tay phải thì mang sách ước, mang suốt bốn mùa để vạch 9 châu, thông 9 đường, đắp 9 đầm, đo 9 núi.
Lại sai Ích cho dân lúa để có thể ở trồng ở vùng trũng ẩm. Sai Hậu Tắc cho dân lương thực, lương thực thiếu thì điều động ở những nơi dư thừa, cung cấp cho nhau, cân đối lương thực giữa các nơi.
Tản Viên theo miền biển mà về, vào cửa biển Thần Phù, lại qua các quận, muốn tìm được đất tốt, lên núi Đông Nhạc, Yên Tử, xem cảnh trí, nhân qua ở Phạm Xá, Hoa Quật. Rồi đó ngược sông Cái mà qua đất Long Biên. Tiếp tới bến Chấn, muốn ở lại đó nhưng rồi lại ngược sông Lô lên thượng nguồn, qua huyện Phúc Lộc, tới bến Bạn Phiên, nhìn về núi xanh Tam Đảo, đất quý hội loan là đô thành cũ của Hùng Vương. Nhân đó về Mộc Châu xem ngắm phong thủy, theo thế rồng uốn lượn cho đến núi Tản Viên, thấy có 3 ngọn cao vót hơn vạn nhận, thật là đẹp thay, mờ tỏ không thể gọi tên được. Lại thêm nhiều xóm thôn dân cư trù phú tập trung, bất giác thấy lòng trong sáng, chất phác mà thích thú vô cùng. Bèn mới mở một con đường lên, lập cung ở đỉnh đó, thuộc đất của sách Thủ Pháp (nay là Thượng thần cung theo hướng Cấn – Khôn làm chỗ ngự chính, còn Hạ thần cung là nơi để cầu đảo, cung Đông Tây là nơi cáo chúc, Nam Bắc thần cung là nơi tạm trú). Núi Ba Vì là núi Đại Tông của Tản Viên.

Nghi môn đình Phú Hữu, một nơi thờ Tản Viên Sơn

Vương lúc thì đi ra sông Tiểu Hoành xem đánh cá, qua các huyện Ma Nghĩa, Phúc Lộc, lạc tới xứ Bi Bi xã Cổ Đằng, thường tạm trú ở đó. Đến xã Tam Vật Lại thấy phong cảnh đẹp mà lập hành cung. Lại đi xem đánh cá ở sông Tiểu Hoành, qua tám xã Thuỵ Phiêu, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, rồi xa giá trở về cung, xa trông cửa biển Thần Phù, sai người dân không được làm tắc đường thủy.
Lại thường đi săn tới xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung Mang Sơn, lưu ruộng thờ để cho việc thờ cúng, định việc hàng năm tiết Xuân, tiết Đông nhân dân các xã theo như lệ đánh cá cùng nhau thờ phụng. Tháng 8, tháng 9 xã Tam Vật Lại phụng đón tới xã Khả Lê, lập làm điện thờ bằng tranh cỏ, đánh cá để tế các thần, cùng người dân địa phương đều đến đền để làm lễ phụng thờ.

Thế là chín châu đại đồng, bốn cõi an cư, 9 núi tế Lữ, 9 sông khơi dòng, 9 chằm có đập, bốn bể lưu thông. Đồ cống tế của các chư hầu có Voi 9 ngà, Gà 9 cựa, Ngựa 9 hồng mao.
Vua ban đất và đặt tên họ trong nước. Nước Xích Quỷ Đông vươn đến biển, Tây chạm đất Lào (Lưu Sa thiết La), Bắc Nam trải dài, thanh giáo trùm khắp bốn bể. Bấy giờ Ma Thị Cao Sơn mới lập chúc thư, giao lại toàn bộ vùng kinh đô núi Tản sông Đà, truyền lại ngôi vị cho Tản Viên. Cao Sơn Đế Thuấn băng. Tản Viên lên ngôi gọi là Kinh Dương Vương, lấy họ là Nguyễn.
Vương thường đi vãng du đến sông Tiểu Hoành xem đánh cá tới xã An Vệ huyện Ma Nghĩa thấy một khu Thanh Lan Bảo Sơn, có hình rồng chầu về tổ, mới lập làm cung xá để ở, lấy xã An Vệ làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.
Vương thường đi săn bắn tới xã Cổ Đằng huyện Ma Nghĩa nghỉ ngơi, lập cung xá gọi là Nam cung điện, ở xứ Bi Bi lập 4 cột đá, 8 con lợn đá gồm 1 lợn mẹ và 7 lợn con để lưu làm di tích. Lấy xã Cổ Đằng làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.
Vương thường đi vãng du sông Tiểu Hoành xe đánh cá đến xã Tam Sơn huyện Phúc Lộc lập làm cung xá một dãy, tạm trú ở đó, nay gọi là điện Cửu Miếu. Hàng nằm các xã Tam Sơn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, Lễ Toàn, An Phúc, Tung Cao lấy ngày 10 tháng 10 phụng nghênh tại điện Quán Thánh đến điện Cửu Miếu, cùng nhau thờ cúng, tới ngày 15 đánh cá để làm lễ cúng tế.

Lăng mộ Kinh Dương Vương ở Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Mười năm sau, Kinh Dương Vương đi tuần hướng Đông, đến Á Lữ bên bờ sông Đuống thì băng, trao thiên hạ cho ông Ích. Kinh Dương Vương hóa sinh bất diệt, đứng đầu trong Tứ bất tử và linh thần đất Việt. Nhờ có công lao trị thủy, yên định 9 châu, ông được tôn là Vua cha Nhạc phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Ông Ích là chính dòng của Đế Nghi, còn gọi là Đế Lai. Sau 3 năm Đế Lai nhường ngôi (ái nữ Âu Cơ) cho con của Kinh Dương Vương là Khải, lánh ra ở phía Nam Kỳ Sơn. Con của Hậu Tắc cũng vì bị Hạ Khải bỏ chức Tắc phải lánh nạn theo ông Ích.
Chư hầu các nơi đều theo Khải. Khải lên ngôi thiên tử, lấy tên nước là Hoa Hạ, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân là con trai của Tản Viên Sơn Thánh. Mẹ là Thần Long Động Đình. Mẫu Thần Long sinh ra một bọc trứng, đem vứt bỏ ở bãi Nhật Chiêu bên sông Hồng. Tới đêm bọc trứng phát sáng, tiếng nổ như sấm, rồi hóa thành 7 con rồng bay lên trên sông Nhị. Đó là Long Quân và 6 người anh em của lục bộ thủy phủ, là thất giáp Đoài hồ.
Long Quân lên ngôi, họ Hữu Hồ không phục, Lạc Long Quân bèn thảo phạt, đại chiếm ở đất Chàm. Sắp khai chiến, Long Quân làm bài Chàm thệ. Đoạn diệt họ Hữu Hồ. Thiên hạ đều chầu. Long Quân sau khi dẹp loạn Cửu vĩ Hồ, định đô ở An Ấp tại Yên Phụ giữa Tây Hồ và sông Nhị, lấy tên là Uy Linh Lang. 

Đình Yên Phụ thờ Uy Linh Lang

Lạc Long Quân băng, hóa sinh về biển Động Đình, thành vua cha Bát Hải của Thoải phủ. Những người anh em cùng bọc của Long Quân thành Ngũ vị tôn quan, lập thành ban Công đồng trong Tứ phủ.
Con của Lạc Long Quân gọi là Hùng Vương, nối ngôi phụ đạo. Vua gọi là Phụ (Bố), vợ vua gọi là Mẫu (Ma, má). Chế độ cha truyền con nối bắt đầu là từ Lạc Long Quân vậy.
Giữa thời Lạc triều, Chử Đồng Tử là một chư hầu, nhân lúc vua đi săn đã chặn đường về, tiếm ngôi, chiếm đoạt vị (công chúa Tiên Dung), lập đô ở vùng Hồng Châu (Hưng Yên). Hùng Thái Khang phải sống lưu lạc ở phương Nam xưa. Tới thời Hùng Thiếu Khang, trung hưng lại vương quyền, nhưng kinh đô đã dời đến đất Quảng Đông ở Dương Thành. Con cháu Lạc triều lại xăm mình, lội nước, noi gương Tản Viên Sơn, khai phá vùng đất Mân Việt, lấy đó làm đất thờ Kinh Dương Vương.
Kinh triều cha truyền con nối, truyền 18 đời đến Hùng Duệ Vương thì con cháu của Tản Viên Sơn là Nguyễn Sùng Cao Sơn và Nguyễn Hiển Quý Minh cai quản vùng đất Sùng Lạc của tổ tiên. Hậu duệ của dòng theo Đế Lai và Hậu Tắc chạy về hướng Tây là Thục bá Âu Cơ phát binh tiến đánh nước Sùng. Cao Sơn và Quý Minh ra sức chống giặc, giữ nước, nhiều lần thắng quân Thục, nhưng cuối cùng thất bại. Sùng Hầu đành phải khuyên Hùng Duệ Vương nhường lại ngôi cho Âu Cơ. Lạc triều của Kinh Dương Vương từ đây chấm dứt. Đất Lạc nhập vào với đất Âu thành nước Âu Lạc của Thục triều.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Hơn trăm họ truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.

Thái sử công soạn

Nguồn tham khảo:

1. Lĩnh Nam chích quái. Các truyện Truyện Họ Hồng Bàng, Truyện Hồ Tinh, Truyện Đầm Nhất Dạ

2. Sử ký Tư Mã thiên. Các phần Ngũ đế bản kỷ, Hạ bản kỷ.

3. Kinh Thư. Khổng Tử san định.

4. Tản Lĩnh sơn từ di tích của ngọc phả của Cẩm Đái (Bất Bạt, Sơn Tây), trưởng tạo lệ đền Thượng núi Ba Vì.

5. Thần tích đền An Trì của làng Yên Phụ, tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông.

6. Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu, ngọc phả của sách Tang Ma, Thanh Thủy, Phú Thọ.

7. Sự tích núi Chẹ và núi Chẹ Đùng trong tập Dưới chân núi Tản một vùng văn hóa dân gian.

Giải nghĩa các tinh quỷ trong truyền thuyết Cổ Loa thành

Người Việt ai cũng biết Truyện Rùa vàng kể việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây xong lại đổ. Vua lập đàn cầu khấn thì được một Lão ông đến chỉ cách đón thần Kim Quy về giúp đỡ, trừ diệt con Gà trắng tu luyện ngàn năm thành tinh, đã tụ tập yêu quỷ trong núi phá thành. Truyện về Tinh gà và Quỷ núi ở Cổ Loa là một trong những câu chuyện thần bí đáng sợ nhất trong kho tàng truyền thuyết Việt. Nhưng liệu đằng sau truyền thuyết này ẩn chứa sự thực nào trong lịch sử xa xưa của người Việt?

Nghi môn miếu Bạch Kê

1. Trong Truyện Rùa vàng, Bạch Kê tinh ẩn hình trong người con gái của quán trọ ở chân núi tại làng Ma Lôi gần thành Cổ Loa. Nói cách khác, Bạch Kê là tinh nữ có tên là Ma Lôi. Chữ Ma thực ra là âm đọc khác của Má – Mụ – Mẫu, chỉ một vị thần nữ.

Núi Thất Diệu là nơi Bạch Kê tinh hóa thành con chim cú bay lên cây chiên đàn ngậm lá thư tâu đến trời trong truyền thuyết thành Cổ Loa. Núi Thất Diệu nay ở xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh. Nơi đây có ngôi đền thờ một vị công chúa con vua Hùng. Theo thần tích của đền, “thời Hùng Duệ Vương, công chúa nhiều lần hiển hách âm phù quân tướng nhà Hùng dẹp giặc. Khi quân Thục lấy được nước Lạc Việt xây thành Cổ Loa thì công chúa sai ngàn vạn âm binh phá thành. Sau nhờ thần Kim Quy, vua Thục mới xây xong được thành.”

Trong cấm cung của đền có bức tượng thờ chính bằng gỗ, thể hiện một vị Mẫu, đầu đội mũ mào gà, gọi là Mẫu Bạch Kê. Mẫu Bạch Kê ở đây được kể là dòng dõi Lạc Hồng, miêu duệ Rồng Tiên của vua Hùng. Điều này tương ứng với câu nói của thần Kim Quy: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước”. Thục An Dương Vương đã đánh dẹp triều Hùng rồi xây thành Cổ Loa. Bạch Kê là một vị nữ tướng, dòng dõi của nhà Hùng, hiện lên báo oán ở núi Thất Diệu, làm cho thành cứ xây lại đổ.

Ở Yên Phụ, Mẫu Bạch Kê còn được thờ tại đình và đền dưới tên Vua Bà Ma Vương. Đối chiếu với truyền thuyết về Ma Cô Tiên trong Truyện Giếng Việt ở núi Châu Sơn thì Mẫu Bạch Kê chính là Ân Hậu, vợ của vua Ân trong cuộc chiến với Thánh Dóng. Ân Hậu cũng là tướng cầm đầu quân đội nhà Ân sang đánh nước Văn Lang, được ngọc phả Hùng Vương gọi là Thạch Linh thần tướng.

Đình Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh

2. Truyện Rùa Vàng kể: “Trong núi có người nhạc công triều trước chôn ở đây, hóa thành quỷ.” Vị “nhạc công” triều trước ở trong núi là ai mà lại hóa thành quỷ chống phá Thục Vương xây thành?

Đền Yên Phụ còn có tên là đền Núi. Đền này cùng với Vua Bà Ma Vương còn thờ một vị Đại vương tên là Cao Sơn. Thần tích kể rằng Cao Sơn là một trong những người anh em của Tản Viên Sơn Thánh. Cùng với đức Quý Minh, đức Cao Sơn, đã được bà mẹ nuôi là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ gửi cho em là Ma Lôi nuôi dưỡng. Sau này Cao Sơn và Quý Minh giúp Hùng Duệ Vương chống lại quân Thục.

Có thể nhận ra, vị “nhạc công” ở trong núi Thất Diệu là thần Cao Sơn. Từ “nhạc” còn có phát âm khác là “Lạc”. Nhạc công tức là Lạc Công, chỉ vị thủ lĩnh vùng đất Lạc lúc đó. Cao Sơn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn tinh nên mới được Truyện Rùa Vàng kể là “quỷ trong núi”. Thần tích cũng cho thấy mối liên quan trực tiếp giữa Cao Sơn Đại vương và Ma Lôi, tức mẫu Bạch Kê ở núi Thất Diệu. Cao Sơn Đại vương là một đại tướng của Hùng Duệ Vương trong cuộc chiến chống lại Thục Vương, cũng giống như Mẫu Ma Lôi Bạch Kê đã nói ở trên.

Bình Cú thời Ân Thương (Hiện vật Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

3. Truyện Rùa Vàng kể sau khi An Dương Vương cùng thần Kim Quy giết con Gà trắng trong quán Ma Lôi, “Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, Vua và Rùa Vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỷ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên chiên đàn”.

Việc Thục Vương đào được nhiều nhạc khí cổ ở núi Việt Thường, rồi thấy chim Cú mèo ngậm lá thư bay lên chiên đàn không ngờ lại là một hình ảnh rất thật của thời đại nhà Ân Thương cách nay hơn 3.000 năm. Trên nhiều đồ đồng tế khí của nhà Ân thường dùng hình chim Cú trong tạo hình. Một chiếc bình đồng có hình chim Cú như vậy được thấy ở Việt Nam.

Bình có tiết diện hình trứng, một mặt bình được đúc nổi ở giữa là mặt một con chim Cú với 2 mắt tròn to, có mi mắt, mỏ nhọn. Phía trên có 2 tai to nhọn (tai mèo). Phần thân Cú có cánh và chân ở 2 bên. Xung quanh con Cú được trang trí bằng những hình rồng quỳ nhỏ. Toàn bộ chiếc bình được trang trí nền bằng hoa văn vân lôi vuông hoặc tròn, phủ một màu đồng cổ xanh lam độc đáo và đẹp mắt. Đôi mắt Cú mèo tròn to đúc nổi ở giữa thân bình tạo một ấn tượng rất trang nghiêm. Nhìn tổng thể chiếc bình có cảm tưởng như hình một chiến binh đang đứng thẳng, rất dũng mãnh với đầy đủ mũ giáp, áo giáp, mắt to tai lớn, có nanh có mỏ.

Cú mèo (tên chữ Nho là Si hiêu) là biểu tượng của nhà Ân Thương. Thậm chí trong Kinh Thi, phần Bân phong có bài thơ Si hiêu (Cú mèo) như sau:

Cú mèo, Cú mèo.
Đừng phá nhà ta.
Bao nhiêu ân cần.
Nỗi niềm nuôi nấng
”.

Bài thơ này nói chuyện Chu Công, khi đi dẹp phản loạn hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh, bị phao tin là Chu Công sẽ làm hại ấu chúa. Chu Công đã viết bài thơ này gửi cho vua là Chu Thành Vương, ý nói loài Cú mèo nhà Ân, đã cùng các vị vương thân Giám Thúc của nhà Chu làm phản, thì đừng gây chia rẽ trong tông thất giữa Chu Công với vua Chu nữa.

Đáy bình Cú với dòng chữ Vong tông binh Tây sĩ cung…

4. Truyện Rùa Vàng kể, Bạch Kê tinh sau khi bị giết hóa thành một lá thư, được Chim Cú ngậm bay lên núi Thất Diệu. “Rùa vàng liền biến thành con chuột theo sau, cắn vào chân Cú, lá thư rơi xuống đất. Vua vội nhặt lấy, lá thư đã bị mọt ăn mất quá nửa.”

Điều hết sức bất ngờ là dưới chân chim Cú trên chiếc bình thời Ân Thương lại cũng có một “lá thư”. Đó là những chữ tượng hình cổ được khắc lớn và sâu. Dưới đáy bình Cú có 10 chữ dạng Kim văn, loại chữ của thời Thương Chu dùng trên đồ đồng. Đây có thể xem như là lá thư mà chim Cú đã ngậm khi bay lên chiên đàn ở Cổ Loa.

Chiếc bình đồng hình chim Cú cho phép hiểu ý nghĩa câu kể trong Truyện Rùa Vàng: khi chim Cú bị cắn rơi lá thư, lá thư đã bị “mọt ăn” mất quá nửa. Ý nói là mảnh đáy bình có khắc chữ đã bị rỉ mất phân nửa, nên có nhiều chữ không đọc được.

Dù phần đáy bình đã bị phong hóa, nhưng một số chữ Kim văn trên đáy chiếc bình Cú còn có thể đọc như sau: “Vong tông binh Tây sĩ cung”. Tuy không dịch hết dòng chữ này nhưng rõ ràng là nội dung viết về hành động của quan (sĩ) binh. Như thế có thể liên hệ chiếc bình này với Cao Sơn Đại vương ở núi Thất Diệu, vị thủ lĩnh cầm quân vùng đất Lạc chống lại Thục Vương.

Hoành phi Duy nhạc giáng thần ở đình Yên Phụ

5. Còn một nhân vật nữa trong sự tích Sát quỷ ở thành Cổ Loa là vị Lão ông đã cử thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương. Vị Lão ông này không phải ai khác mà chính là Lão Tử, người được thờ ở làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang), cách núi Thất Diệu không xa.

Bia “Cung sao sự tích thánh” ở đình Thổ Hà cho biết, vị thần ở đây thờ có “họ là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng. Thời An Dương Vương, Vua xây thành có những u hồn và tà ma quấy nhiễu. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo Vua rằng: xin Vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi ngay hôm đó Người sai Thanh giang sứ, hiệu là Thần Quy, đến giúp trừ phép quỷ, giết Bạch Kê. Lại đào trong núi Thất Diệu được nhạc khí thời cổ cùng hài cốt, đem đốt đi. Từ đó yêu ma tan hết.”

Lão Tử hay Thái Thượng Lão quân được truyền thuyết hóa thành Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần bảo hộ của thành Cổ Loa. Tiểu sử của Lão Tử được ghi trong bài Lão Tử minh như sau: “Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U Vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.”

Đoạn trích “nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương” đã ghi rất đúng câu chuyện ở núi Thất Diệu. “Âm khí thời Thương” là Mẫu Bạch Kê hay Ân Hậu Ma Lôi. Còn “Dương khí thời Hạ” là Lạc tướng Cao Sơn, vốn gốc là dòng dõi nhà Hạ từ Lạc Long Quân (Tản Viên Sơn Thánh).

Trong lịch sử nhà Tây Chu (Thục Vương), thời U Vương gặp loạn Khuyển Nhung tấn công Tây kinh, nhà Chu buộc phải dời đô về lại vùng đất Lạc (Dương) ở phía Đông. Khi xây thành ở Tam Xuyên (Cổ Loa) lại gặp những trận động đất lớn. Lão Tử khi đó đang là “thủ thư” và là quốc sư của nhà Chu đã nhân đó bày chuyện tế trời, lấy tấm gương của hai nhà Hạ và Thương (Lạc Vương và Hùng Duệ Vương) để khuyên răn vua Chu (Thục Vương).

Cây “Chiên đàn” trên núi Thất Diệu theo đúng chữ Nho nghĩa là đàn tế có cắm cờ. Huyền Thiên Lão Tử đã đăng đàn tế ở núi Thất Diệu, nơi chiến trường ác liệt xưa giữa 2 dòng Đông – Tây (Hùng – Thục) từ thời Thục Vương chống giặc Ân, dựng nghiệp nhà Chu. Mẫu Bạch Kê Ma Lôi và Lạc Công Cao Sơn được tái xuất trên đàn tế qua những đồ tế khí đồng thau cổ của thời Ân Thương như những chiếc bình hình chim Cú và những dòng chữ Kim văn khắc sâu dưới chân chim. “Lá thư” của Mẫu Bạch Kê được chim Cú ngậm dâng tấu trên chiên đàn là lời nhắc nhở đấng quân vương không được thất đức, bỏ dân, coi thường các nước chư hầu anh em của Bách Việt mà đánh mất mệnh trời. Nếu không sẽ mất nước và phải chịu hậu quả thảm khốc với sự dày vò của Ma Quỷ. Thần thánh luôn ở trên hai vai. Lời nhắc của Lão Tử đã ghi vào Đạo Đức kinh, gửi gắm trong chiếc móng của thần Kim Quy để làm phép cai quản đất nước ngàn năm.

Bài đăng trên báo Lao Động cuối tuần số 26 từ 25.6 đến 27.6.2021

Tết Đoan Ngọ kể chuyện Âu vàng ngàn thủa lễ non sông

Vua Trần Nhân Tông sau chiến thắng Bạch Đằng đã làm hai câu thơ bất hủ: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá. Non sông ngàn thủa vững âu vàng”. Âu vàng đã trở thành hình ảnh tượng trưng cho non sông đất nước từ hàng ngàn năm trước. Cùng với câu thơ “Rành rành định phận tại sách trời” trong bài thơ Nam Quốc sơn hà của thời Lý thì đây là những bản tuyên ngôn lịch sử hào hùng của dân tộc ta. Nhưng âu vàng và sách trời là gì mà lại có ý nghĩa to lớn như vậy?

1. Người Việt có câu ca dao: “Tháng năm là tết Đoan Dương. Nhớ ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang.” Như thế, ngày Tết Đoan Ngọ không chỉ là ngày diệt sâu bọ mà đó là một ngày lễ trọng đại trong lịch sử của người Việt, là ngày tế lễ tổ tiên và non sông đất nước.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể về sự ra đời của trăm người con trai của mẹ Âu Cơ: “Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 5, đúng ban ngày giờ Ngọ, mặt trời chiếu thẳng. Cái thai thần của Âu Cơ chuyển động, rồng mây đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc ánh như ngọc trắng, hương lạ thơm nức…

Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân rồng điện ngọc. Rồi bốn vị thiên tướng hiện ra… báo cho Hiền Vương đặt bào ngọc lên chiếc âu vàng, lệnh cho triều đình các tướng đến tề tựu ở ngôi chùa cổ ở Viễn Sơn, tức Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt.

Đầy 100 ngày sau khi bào ngọc nở ra trăm trai, có 8 vị tướng xưng là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Thượng Thiên Chư Phật Ngọc Đế sai xuống trợ giúp… Trời ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một viên ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển sách trời, một chiếc thước ngọc, để trên âu vàng, tất cả đều đặt trong chính điện.”

Chùa Thiên Quang trên núi Nghĩa Lĩnh

Theo như ngọc phả Hùng Vương thì ngày Đoan Ngọ 5 tháng 5 là ngày mẹ Âu Cơ sinh ra trăm người con trai ở Phong Châu. Người con trưởng là Hùng Quốc Vương lên ngôi vua, lập nên nước Văn Lang. Số 5 là con số trung tâm của Hà Lạc, chỉ thủ lĩnh. 5 là Ngũ, cũng là Ngọ. Do đó giờ Ngọ, ngày Ngọ, tháng Ngọ, năm Canh Ngọ đều có ý chỉ vua, chỉ thủ lĩnh của cộng đồng dân tộc Việt. Đoan nghĩa là bắt đầu. Đoan Ngọ là ngày ra đời vị vua của đất nước, hay ngày lập quốc. Ngày tết Đoan Ngọ như thế là ngày tế lễ nhớ đến tổ tiên và cầu chúc cho non sông vững bền, một tục lệ đã có từ hàng ngàn năm nay trong phong tục của người Việt.

2. Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể tiếp rằng, các hoàng tử đã thành những người lớn, nhưng trong triều không có ai có thể phân biệt được trưởng thứ và tên gọi. Hiền Vương lập đàn cầu trời thì có một vị Tiên ông xuất hiện, cầm gậy trúc, rửa chân trên bàn đá ở cạnh chùa Hoa Long bên bến sông Việt Trì. Vua cho mời Tiên ông vào hỏi chuyện và nhờ giúp cho việc đặt tên trăm người con trai.

Tiên ông lấy bút viết ra, đặt trăm tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc âu vàng, phân định thứ bậc anh em. Trăm hoàng tử đến hội ở chính điện, mà nhận chữ đề tên, trong tên có cùng một tiếng. Một người là con trưởng, theo như lời định được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước âu vàng nhận danh hiệu được ban.”

Trong sự tích bào ngọc của mẹ Âu Cơ nở ra trăm người con trai, trưởng thành và được phân thứ bậc thì luôn nhắc tới một chiếc “âu vàng” (nguyên văn là “kim bàn”). Chiếc âu này đã đựng bào ngọc đặt ở trên núi Nghĩa Lĩnh, rồi lại dùng để đựng các bảo khí trời ban, và sau đó dùng để ghi tên và thứ tự cho trăm hoàng tử. Chiếc âu vàng là thứ gì mà lại quan trọng đến vậy trong huyền sử lập quốc của người Việt?

3. Thật vô cùng bất ngờ khi nhận ra rằng, chiếc âu vàng của Hiền Vương Âu Cơ là hình ảnh của một vật hoàn toàn có thật, mang ý nghĩa lớn lao như những dòng sử đầu tiên khi cha sinh mẹ đẻ, khai mở nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Một chiếc âu vàng như vậy là một cổ vật từ thời Tây Chu, cách đây khoảng 3.000 năm, tương đương với thời lập quốc Văn Lang. 

Âu đồng thời Tây Chu

Chiếc âu cổ đúc bằng đồng, có 3 chân là hình 3 tượng người đang ngồi quỳ như hành lễ. Thành phía bên ngoài của âu được trang trí bằng các hoa văn rồng và họa tiết vân lôi tinh tế. Trong lòng âu, trên nền vàng óng ánh của đồng cổ, là một bài minh văn đúc chìm, gồm 12 dòng, cộng tất cả là 144 chữ. Khoảng giữa thành của âu có 2 dòng chữ chạy xung quanh mâm, mỗi dòng gồm 10 chữ Kim văn. Đây là dạng chữ Kim văn, được đúc chìm, sâu, còn khá sắc nét, thể hiện thư pháp tiêu biểu của thể chữ này vào thời kỳ Tây Chu.

Bài minh văn trong lòng chiếc âu này có thể được đọc dịch như sau:

Minh rằng: Khi [Chu] Văn Vương lên nắm chính sự, gian nan để có được trên dưới. [Chu] Võ Vương chinh chiến khắp nơi, khuyến dân được lâu bền tốt đẹp, liên tục phạt Di. Khi lập con nối ngôi [Chu Thành Vương], có các đại thần tả hữu giúp trị, thi hành khuôn phép của Vương.

Thiên tử là một người cao cả. Trời ban cho các bậc văn võ xử lý công việc trên dưới.

Tông thất của Hạo bang [chỉ nhà Thương] mất, sau nhờ giữ mệnh phúc nên nhánh Kinh vẫn còn. Lại sinh ra việc dấy quân. Các quan Thiệu Chu chinh phạt Kinh.

Tốt đẹp thay tổ ở đất Vi. Võ Vương chiếm đất Vi, sai liệt tổ của nước đã mất đến gặp, [Võ Vương] lệnh cho Chu Công ân xá, cho dời đến vùng đất thờ của Ất Vương [Thiên Ất, tức Thành Thang]

Đến Tổ Tân có nhiều con cháu, duy giữ việc tế tự. Văn Công nối nghiệp, ông vất vả ngày tháng, tìm hiểu học sử, phép tắc đầy đủ, kế nối điều lành. Sau đó Tổ Văn ghi chép lại, quyết vì dân sinh, làm thành phép tắc, năm đó bền lòng quyết hợp, lấy đó mà dùng để cai quản.

Bài Kim văn trong chiếc âu cổ kể về giai đoạn lập triều của nhà Chu, từ khi Văn Vương khởi dựng, Võ Vương chinh phạt, yên định thiên hạ, đến Thành Vương cùng các đại thần Thiệu Công, Chu Công phụ tá, lập ra khuôn phép chế độ, bình định Kinh phương (quân Kinh thời Chu Thành Vương là chỉ cuộc nổi loạn của Vũ Canh, có Canh = Kinh). Người tạo ra chiếc âu này là con cháu của nhà Ân Thương, xưng là họ Vi. Khi Chu Võ Vương phạt Ân, đã triệu kiến Liệt tổ họ Vi (tức Vi Tử Khải, là anh cùng cha khác mẹ của Trụ Vương) đến gặp, rồi cho hưởng phong ở vùng đất nơi Thiên Ất Thành Thang đã khởi nghiệp lập Thương. Đến vị tổ tiếp theo của họ Vi tên là Tân, tiếp tục giữ gìn việc tế tự. Sau đó vị tổ Văn ra sức học tập, ghi lại những dòng sử này vào chiếc âu, dùng để cúng tế hiếu lễ với thiên tử Chu và truyền đời đời cho con cháu.

4. Những thông tin được ghi lại trên chiếc âu vàng là nỗ lực ghi chép lịch sử rất sớm về thời kỳ nhà Chu lập quốc, phân phong chư hầu cho các đại công thần và cho con cháu các triều đại trước đó. Trong bài sử này, vị vua Chu cuối cùng được nhắc đến là Chu Thành Vương, nên ước đoán, chiếc âu có bài minh văn này được tạo ra dưới thời vị vua Chu tiếp theo là Khang Vương (1020 TCN – 996 TCN), cách nay khoảng 3.000 năm.

Ở Trung Quốc, một chiếc âu có chữ Kim văn tương tự đã được phát hiện, có tên là “Sử Tường bàn” và được xếp là 1 trong số 64 bảo vật cấm mang ra khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, bài Kim văn trên âu Sử Tường dài hơn, kể sự việc tới thời Chu Mục Vương, nên niên đại của nó sau chiếc âu mô tả ở trên khoảng 60 năm.

Những bài minh văn trên âu vàng đúng là những cuốn “sách trời”, chứa đựng lịch sử 3.000 năm trước, từ khi Hiền Vương Âu Cơ (tức Chu Văn Vương) mang nặng đẻ đau, gian nan khởi dựng nước Văn Lang, đến Hùng Quốc Vương (tức Chu Võ Vương) lên ngôi thiên tử, phân định thiên hạ, chia các anh em ở trăm nơi đầu núi góc biển làm chư hầu, cha con nối tiếp nhau, đời đời thế tập dòng họ và đất đai. Những dòng Kim văn đúc trên các đồng khí Thương Chu là những tấm bia hàng ngàn năm của lịch sử cổ đại, chứng tích cho thời kỳ xã hội người Việt chuyển mình từ chế độ thị tộc sang chế độ phong kiến, lập nên một thiên hạ rộng lớn bao trùm toàn cõi trời Đông.

Phần chữ Vạn đại tử tử tôn tôn vĩnh dụng bảo đậu

5. Nguyên văn câu thơ của vua Trần Nhân Tông là “Sơn hà thiên cổ điện kim âu”, trong đó chữ “điện” nghĩa là bày đặt tế lễ. Vua Trần viết bài thơ này khi đang làm lễ tế mừng non sông chiến thắng ở Chiêu Lăng, do đó mới nhắc đến việc “điện kim âu” (đặt tế lễ trên âu vàng). Chiếc âu vàng thời Tây Chu ở trên ngoài việc xác nhận việc phân phong chư hầu (họ Vi) thì đồng thời cũng dùng cho mục đích tế tổ tiên và thiên tử. Dòng chữ Kim văn ở hai bên thành chiếc âu dịch nghĩa như sau: “Vua sớm tối dùng cho con cháu nhà Chu hiếu lễ tế tự. Trước tạo ra chiếc âu làm vật quý dùng lâu dài cho con cháu vạn đời.”

Câu thơ hào hùng của vua Trần “Non sông ngàn thủa vững âu vàng” có cùng ý nghĩa “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước” như lời Bác Hồ đã từng căn dặn bên đền Giếng ở núi Hy Cương. Nhân ngày giỗ mẹ Việt Thường, Văn Lang, xin dâng một nén hương lên ngôi chùa Thiên Quang linh thiêng trên núi Nghĩa Lĩnh để nhớ lại công sức của các bậc tiền nhân đã gian nan dựng và giữ non sông ngàn thủa trước âu vàng.

Bài đăng trên báo Lao Đông cuối tuần số 24 ngày 11-13/6/2021

Từ thần tích làng Yên Phú bàn về khởi nghĩa Trưng Vương thời Tây Hán và các vị thủy thần dòng Lạc Long Quân ven sông Hồng

Bài tham luận trình bày tại hội thảo “Sư bà Phương Dung với đạo pháp và dân tộc” do Viện nghiên cứu tôn giáo tổ chức tại Hà Nội ngày 7/4/2021.

Làng Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội còn lưu giữ được một bản thần tích có nhan đề là: Phả chép về Một vị âm thần Thái hậu, Hai vị dương thần Đại vương triều Trưng Nữ Vương

Thần tích Yên Phú được Hàn lâm lễ viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn dưới thời nhà Lê, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572). Cuốn thần phả hiện lưu giữ tại chùa Yên Phú là bản chép tay trên giấy dó, được viết bởi một vị đạo sĩ trong xã vào năm Thánh Thái thứ 17 (1906), ghi theo bản chính lưu của bộ Lại nhà Lê năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740), chỉ sửa có 7 chữ.

Nghiên cứu kỹ lưỡng bản thần phả này và đối chiếu với các di tích, sự tích còn truyền tụng cho phép thu nhận thêm nhiều thông tin, đặc biệt về diễn biến lịch sử và văn hóa nước ta thời kỳ những năm trước Công nguyên. Bài viết sau tập trung tham luận về hai vấn đề: 

– Thứ nhất là thời điểm, thân thế và vai trò của Bà Phương Dung trước và trong cuộc khởi nghĩa Trưng Vương từ thần tích địa phương trong liên hệ với các thần tích nơi khác cùng thời. 

– Thứ hai là 2 vị thủy thần xuất thế Trung Vũ và Đài Liệu là những vị thần đã được thờ phụng tại khu vực Thanh Trì từ trước trong mối liên hệ với tín ngưỡng Thủy thần Lạc Long Quân của cả khu vực, mà cụ thể là dọc sông Hồng nơi đất Thăng Long xưa. 

I.    SƯ BÀ PHƯƠNG DUNG VÀ KHỞI NGHĨA TRƯNG VƯƠNG

Thời điểm của khởi nghĩa Trưng Vương qua thần tích ở Yên Phú

Thần tích làng Yên Phú chép về một vị thần nữ (âm thần) là bà Phương Dung, quê ở đạo Sơn Nam Hạ, năm 16 tuổi đã xuất gia đi tu cửa Phật tại chùa Thanh Vân, thuộc đất làng Yên Phú ngày nay. Khi Trưng Nữ Vương phất cờ khởi nghĩa, sư bà Phương Dung cùng 2 người con nuôi đã theo Trưng Vương làm tướng, đánh đuổi Tô Định, lập công trạng lớn.

Khám tượng thờ Hoàng bà Phương Dung tại đình Yên Phú

Thần tích Yên Phú ghi: Thời đó, có người Tô Định đem binh đến cõi, xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu tang thương không người cứu giúp. Đến khi có người cháu gái họ Hùng trước đây, tên là Trắc, vốn bậc hào kiệt trong giới nữ, là bậc đại thánh thần trên trần thế, dậy khởi oai hùng, dẫn binh đến đánh.

Đây là một thông tin hết sức lạ vì theo chính sử hiện nay, Trưng Vương khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định vào năm 40 sau Công nguyên, dưới thời nhà Đông Hán. Còn thần tích ở Yên Phú lại kể Tô Định đem quân đến xâm chiếm nước Nam Việt của họ Triệu và Trưng Nữ Vương là dòng dõi các vua Hùng, đánh giặc Tô Định vào lúc này. Vị vua cuối cùng của nhà Triệu là Vệ Dương Vương, mất nước vào tay nhà Tây Hán năm 111 trước Công nguyên (TCN). Như thế thông tin của thần tích Yên Phú so với chính sử chênh lệch nhau tới 150 năm cho thời điểm của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương.

Thần tích của Yên Phú không phải là trường hợp duy nhất nói về khả năng khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra dưới thời Tây Hán. Một di tích được ghi nhận là nơi Trưng Vương chiêu quân tụ nghĩa là chùa Bối Linh ở làng Lâu Thượng, nay là xã Trưng Vương của thành phố Việt Trì. Bản Lâu Thượng thần tích ngọc phả cổ truyền chép:

Triệu Đà được quốc gia mà lên ngôi, cha truyền con nối được 5 đời thánh vương, trước sau cộng 149 năm. Tới khi Vệ Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Trăm họ điêu tàng, không người cứu giúp. Lúc bấy giờ có hai người cháu gái (thuộc chi trưởng đời thứ 24 của nhà Hùng), nàng cả là Ả Nương Công chúa, nàng hai là Bình Khôi Công chúa. Nàng cả húy là Trắc, nàng hai húy là Trong…

Còn cuốn ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh có tên Tản Lĩnh ngọc ký ở sách Tang Ma (Thanh Thủy, Phú Thọ) cũng có đoạn tương tự: [Triệu] Đà được quốc gia mà lên ngôi vào năm Bính Ngọ. Cha truyền con nối được 5 đời thánh vương. Trước sau cộng 149 năm. Tới khi Vệ Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu sớm bại vong, không người cứu giúp. Cho tới khi có người chắt gái của Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, bậc thánh thần trên trần thế, dấy nổi oai hùng, cất quân đến đánh.

Cũng như thần tích ở Yên Phú, ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh cho một thông tin tưởng chừng như không đúng: Trưng nữ, cháu gái cuar vua Hùng, khởi nghĩa ngay sau khi nhà Triệu nước Nam Việt bị diệt. Tuy nhiên, khi xem xét đầy đủ các di tích và ghi chép về cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương thì thấy đây là một thông tin hết sức mới nhưng trung thực và chính xác.

Tóm tắt các sự kiện lịch sử nước ta thời kỳ Công nguyên như sau. Hùng Vương lập nước Văn Lang truyền quốc tới thời Hùng Duệ Vương thì nhường ngôi cho Thục Phán, hoặc bị quân Tần tấn công Lĩnh Nam chiếm đất nước. Một thời gian ngắn sau đó Triệu Đà, người Chân Định, nổi lên, đánh thắng vua Thục và quân Tần, lập ra nước Nam Việt. 

Nam Việt nhà Triệu truyền ngôi 5 đời đến Vệ Dương Vương lên kế vị mới được 1 năm thì nhà Tây Hán cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công. Kinh đô Phiên Ngung thất thủ. Thừa tướng Lữ Gia đưa vua Vệ Dương Vương và cả hoàng tộc lên thuyền chạy về phía Tây. Lữ Gia tử nạn ở cửa biển thuộc đất Nam Định, hoặc chạy về đến vùng Trúc Viên (Sài Sơn) thì thất thủ. Nhà Triệu diệt vong, không người cứu giúp từ đó. Đó là năm 111 TCN.

Sử cũng chép tiếp rằng, ở vùng đất Phong Châu lúc này nổ ra một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn, do một thủ lĩnh gọi là Tây Vu Vương cầm đầu, chống lại quân đội của Tây Hán. Tây Vu Vương ban đầu rõ ràng đã khởi nghĩa thành công, xưng là Vương vùng đất Tây Vu, đóng đô thành ở Cổ Loa. Khởi nghĩa Tây Vu Vương sau vài năm thì bị dập tắt. Nhà Tây Hán lấy đất Nam Việt cũ chia thành 9 quận, 7 quận trong đó sau lập thành Giao Châu. Thạch Đái, Nhâm Diên, Tích Quang, Đặng Nhượng là những thái thú, thứ sử Giao Châu đầu tiên được sử sách nhắc tới, với công đức tốt đẹp là giáo hóa nhân dân, truyền bá chữ viết.

Năm 9 sau Công nguyên, Tây Hán bị một ngoại thích là Vương Mãng soán ngôi, đổi thành nhà Tân. Các thái thú và thứ sử Giao Châu vẫn tiếp tục làm quan cho Vương Mãng. Khi Đông Hán là Lưu Tú diệt nhà Tân, chiếm Giao Châu thì từ đó chế độ cai trị của Hán Quang Vũ ở Giao Châu trở nên vô cùng hà khắc. Từ đó dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 40. 

Điểm lại suốt các sự kiện của thời kỳ này thì rõ ràng thấy, cuộc khởi nghĩa do con cháu Hùng Vương dấy lên ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt mất thì phải là khởi nghĩa của Tây Vu Vương. Chính sử có rất ít ghi chép về Tây Vu Vương, nhưng các thần tích đã có thể bổ sung nhiều thông tin cho cuộc khởi nghĩa này khi nhận ra khởi nghĩa của Trưng Vương được chép là thông tin về khởi nghĩa của Tây Vu Vương thời Tây Hán trước Tây lịch.

Tại xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) có tục thờ Thánh Mẫu và năm anh em chàng Vịt. Câu chuyện này tóm tắt như sau. Bà Triệu Thị Khoan Hòa là vợ của Triệu Vệ Dương Vương, chạy lánh nạn về ở chùa Quảng Hựu tại Thanh Lãng. Một đêm bà nằm mơ thấy một người kỳ dị, sau đó sinh được 5 quả trứng, nở ra 5 anh em trai có tài bơi lội, nên gọi là 5 chàng Vịt. Các chàng trai này lớn lên đầu quân cho Trưng Vương, tham gia đánh trận trên sông Nguyệt Đức, phá Tô Định. Khi Nhị Trưng Vương hy sinh, 5 anh em chàng Vịt đã xông pha đem được thi hài của các nữ vương về táng ở Hy Cương.

Đền Thánh Mẫu Triệu Thị Khoan Hòa ở Thanh Lãng

Câu đối ở đền Thánh Mẫu tại Thanh Lãng:

青朗寺生神北同簡狄南同粤
白藤江破賊母為陽王子為徵

Thanh Lãng tự sinh thần, Bắc đồng Giản Địch Nam đồng Việt
Bạch Đằng giang phá tặc, mẫu vị Dương Vương tử vị Trưng.

Dịch:

Chùa Thanh Lãng sinh thần, Bắc tựa Giản Địch, Nam tựa Việt
Sông Bạch Đằng phá giặc, mẹ vì Dương Vương, con vì Trưng.

Giản Địch là tổ của nhà Thương trong tích “chim huyền điểu sinh Thương”. Vế đối đầu muốn nói tới việc bà Triệu Thị Khoan Hòa sinh trứng nở ra 5 chàng Vịt như bà Giản Địch, hay như truyền thuyết Việt về Âu Cơ sinh bọc trăm trứng.

Chỗ khó hiểu của câu đối trên là ở vế thứ hai. Thời Trưng Vương thì phá giặc trên “sông Bạch Đằng” lúc nào? Vấn đề quan trọng hơn, bà Triệu Thị Khoan Hòa là cung phi hay hoàng hậu của Triệu Vệ Dương Vương từ năm 111 TCN. Còn khởi nghĩa Hai Bà Trưng lại nổ ra vào năm 40 sau Công nguyên. Tính ra giữa 2 việc này có đến trên 150 năm. Làm sao có thể “mẹ vì Dương Vương, con vì Trưng” được?

Truyền tích về Thánh mẫu Triệu Thị Khoan Hòa và năm anh em chàng Vịt mang đến một suy nghĩ bất ngờ. Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương không phải xảy ra vào những năm 40 dưới thời Đông Hán, mà là ngay sau thất bại của nhà Triệu Nam Việt, thời Tây Hán. Ý tưởng này nghe thật vô lý, nhưng có lẽ lại là hợp lý nhất trong chuyện về Trưng Vương, giải đáp và gắn kết được phần lớn những di tích, truyền thuyết còn lại trong dân gian với sử sách.

GS. Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Đạo Thánh ở Việt Nam cho biết Thánh bà Ả Lã Nàng Đê là con gái của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt, đã giúp Trưng Vương đánh giặc Hán. Theo thần tích đình Đại Mỗ thuộc huyện Từ Liêm thì Ả Lã Nàng Đê là con gái tể tướng Lữ Gia quê ở Thiên Phúc, huyện An Sơn. Cuối thời Triệu, vua tôi nhà Hán muốn thôn tính Nam Việt, thừa tướng Lữ Gia đã chỉ huy quân sĩ giết giặc xâm lược là Hàn Thiên Thu. Mua chuộc không được, Hán Võ Đế sai tướng Bác Đức và Dương Phác đem quân xâm lược nước ta. Tướng Lữ Gia tổ chức kháng chiến chống lại, sau bị giặc bắt và sát hại. Ả Lã Nàng Đê đến tuổi trưởng thành, tiếp thu tinh thần của cha, đã đứng ra chiêu mộ dân binh, tụ nghĩa ở sông Hát cùng Hai Bà Trưng. Sau Ả Lã Nàng Đê được Hai Bà Trưng ban tước lộc và cho về lập ấp luyện quân ở cửa sông Đáy. Ba năm sau Mã Viện đem quân tiến đánh, Ả Lã Nàng Đê tham gia chiến đấu trận Lãng Bạc và Cấm Khê, cuối cùng bà trầm mình ở sông Hát.

Thần tích Đại Mỗ một lần nữa cho thấy mối liên quan trực tiếp giữa khởi nghĩa Trưng Vương với nhà Triệu Nam Việt, mà con gái của Thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu là Ả Lã, là một trong những người cầm đầu của cuộc nổi dậy ở Phong Châu thời Tây Hán. Ả Lã là vị thần được thờ ở nhiều nơi nhất trong số các nữ tướng thời Trưng Vương. Thậm chí ở làng Nại Xá (xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội), là miếu thờ ông Thi Sách, thần tích còn cho biết Trưng Vương có tên thời con gái là Ả Lã Nàng Đê.

Ban thờ Triệu Mỵ Nương và bà Phạm Tĩnh ở chùa Nôm

Ở Hưng Yên có đình Đại Đồng (Văn Lâm) hay còn gọi là đình Nôm, thờ vị thành hoàng là đức thánh Tam Giang thời Hai Bà Trưng. Đặc biệt là vị đại tướng của Trưng Vương này theo thần tích lại lấy vợ là cháu gái Triệu Đà. Hiện đình Nôm thờ đức thánh Tam Giang, còn bà mẹ Phạm Tĩnh và vợ ông là Triệu Mỵ Nương được thờ tại chùa Nôm.

Ở Hưng Yên còn một di tích là đình và đền thôn Thượng Bùi ở xã Trung Hòa, Yên Mỹ. Thần tích kể về vị tướng thống lĩnh nội vệ của Trưng Vương là Nguyệt Nga công chúa, nhưng bố của Nguyệt Nga là Phạm Cầu, làm đến chức Thái phó ở đời Triệu Ai Vương. 

Một trong những nữ tướng nổi danh nhất của Hai Bà Trưng là Thánh Thiên công chúa, nay còn đền thờ ở thôn Ngọc Lâm (Tân Mỹ, TP. Bắc Giang). Thần tích đền Ngọc Lâm cho biết thân phụ của Thánh Thiên là Nguyễn Huyến, vốn là một vị quan nhà Triệu ở Kinh Môn, Hải Dương. Sau khi cha mất Thánh Thiên đã cùng với cậu của mình khởi nghĩa ở vùng Yên Dũng – Bắc Giang, sau đó về tụ nghĩa với Hai Bà Trưng.

Chưa thể khảo sát hết các thần tích về các vị tướng thời Hai Bà Trưng mà lại có liên quan trực tiếp đến nhà Triệu Nam Việt, nhưng vài ví dụ ở trên cũng đã đủ để khẳng định, tại miền Bắc Việt đã có một cuộc khởi nghĩa nổ ra dưới thời Tây Hán, mà người cầm đầu là con cháu của họ Lữ của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu. Thư tịch Trung Hoa gọi là khởi nghĩa của Tây Vu Vương. Còn các thần tích ngọc phả của Việt Nam gọi là khởi nghĩa của Trưng Vương. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa này khoảng năm 110 trước Công nguyên và kéo dài nhiều năm sau đó.

Vai trò của Hoàng bà Phương Dung trong khởi nghĩa Trưng Vương

Làng Yên Phú còn lưu giữ được 23 sắc phong của thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Trong đó có 18 sắc phong thời Lê từ niên hiệu Dương Hòa thứ 5 (1639) đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783) sắc cho Hoàng bà Phương Dung.5 sắc phong thời Nguyễn từ niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) đến niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) cho 2 vị tôn thần Trung Vũ và Đài Liệu.

Theo sắc phong sớm nhất là sắc phong năm Dương Hòa thứ 5 (1639) thì nguyên tên gọi của bà Phương Dung là: Khâm từ Hoàng Thái hậu Hoàng bà Thái phó Tả giai dự hiến Vương thượng vị. Tên gọi này được duy trì trong tất cả các sắc phong về sau cho đến hết thời Lê. Điều rõ ràng rằng tên gọi trên không phải là những “mĩ tự” được sắc phong gia tặng cho thần sau khi hóa, mà là chức vị của bà Phương Dung lúc còn sống.

Thần tích Yên Phú chỉ ghi bà Phương Dung tham gia khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, được phong là Công chúa. Sau khi đánh đuổi được giặc thì bà cùng với 2 người con nuôi được ban phong trở về nơi cư trú. Tuy nhiên, sắc phong lưu giữ tại Yên Phú cho biết bà Phương Dung là Hoàng Thái hậu – Hoàng bà Thái phó – Tả giai dự hiến – Vương thượng vị. Cụ thể về ý nghĩa của những chức sắc này xin được bàn dưới đây.

Hàng loạt từ “Hoàng Thái hậu”, “Hoàng bà”, “Vương thượng vị” trong sắc phong cho thấy bà Phương Dung là người trong hoàng tộc của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Như phần trên đã phân tích, hoàng tộc của Trưng Vương lúc này là người của 2 họ Triệu (của vua Nam Việt) và họ Lữ (của thừa tướng Lữ Gia). Thần tích Yên Phú cũng có nhan đề: “Phả chép về Một vị âm thần Thái hậu”, càng khẳng định hơn vị trí trong hoàng tộc Trưng Vương của bà Phương Dung.

Sắc phong ở Yên Phú cho bà Phương Dung cho biết bà là Thái phó, Tả giai dự hiến, Vương thượng vị. Thái phó là chức vị thứ nhì trong hàng Tam công, gồm Thái sư, Thái phó, Thái bảo thời phong kiến. “Tả giai dự hiến” cũng là một chức vụ rất cao trong triều đình, tương đương với Tả thừa tướng, là một trong những rường cột của nước nhà (ý của chữ “giai”) và tham dự vào chính sự quốc gia (dự hiến). Vị trí “tả giai” là vị trí còn quan trọng hơn “hữu giai”, vì theo thứ tự xưa tả là vị trí cao hơn “hữu”. “Vương thượng vị” có thể cũng chỉ chức vụ đứng vào hàng đầu trong triều đình, như chức Thượng công.

Theo sử sách thì Trưng Vương sau khi đánh đuổi được Tô Định thì lên ngôi xưng vương, cai quản đất nước trong ba năm. Khi đã lên ngôi xưng vương thì chắc chắn đã phải thiết lập triều đình một cách quy củ có trên dưới. Với thân phận là người trong hoàng thất, có công lớn trong cuộc khởi nghĩa dẹp giặc, bà Phương Dung đã giữ một vị trí tương đương với Tướng quốc, đứng đầu văn võ bá quan trong triều đình Trưng Vương.

Điều đặc biệt khác rút ra được khi nghiên cứu các sắc phong cho Thái hậu Phương Dung là trong tên phong trên sắc ngoài bà Phương Dung còn có 2 người nữa. Đó là:

–    Trương thị công hầu Thượng phẩm phán thú hầu Điều Quý Công 

–    Điều Quý Nương.

Cụm từ “Trương thị” – họ Trương cho thấy đây không phải là tên gọi hay mĩ tự được phong, mà là tên riêng chỉ người. Trong khi đó, thần tích Yên Phú cho biết: 

Ở làng Lưu Hàm, huyện Thượng Hiền, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam Hạ có ông Trương Công Điều (tên húy là Điều) là người được kế thừa tập ấm, lấy vợ là Phùng Thị, tên húy là Huệ, vốn là người cùng quận, dòng dõi trâm anh nức tiếng đã lâu, cũng là chỗ môn đăng hậu đối. Ông bà đã sinh mấy người con trai, sau này sinh thêm con gái đặt tên là Phương Dung.”

Theo thần tích bố của bà Phương Dung có tên là Trương công Điều, mẹ là Phùng thị Huệ. Rõ ràng, tên trên sắc phong chính là tên bố và mẹ của bà Phương Dung. Trong đó ông Trương công Điều có tước phong là “Thượng phẩm phán thú hầu”. Tước “hầu” là một tước vị khá lớn, chỉ sau tước “công” trong bộ máy phong kiến xưa. Chữ phán 判 chỉ sự xét xử. Chữ thú ở sắc phong ghi là 獸. Tuy nhiên, khả năng phải là chữ 守với nghĩa là coi giữ thì mới hợp lý. “Thượng phẩm phán thú hầu” có thể hiểu là vị hầu tước đứng đầu phụ trách việc xét xử trong triều đình, hay ngày nay nôm na gọi là “Thẩm phán tòa án tối cao”.

Sắc phong thời Lê ở Yên Phú như vậy phong tặng mĩ tự không chỉ cho Hoàng bà Phương Dung mà còn cho bố và mẹ của bà. Mĩ tự dài nhất phong cho ông Trương công là trong sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783): Trương thị công hầu Thượng phẩm Phán thú Anh hùng Vũ dũng Cương nghị Trung chính Linh thông Bác đạt Điều Quý Công. Mĩ tự này là những mĩ tự dùng phong tặng cho một vị quan võ.

Mẹ của bà Phương Dung được sắc phong gọi theo tên của chồng là Điều Quý Nương. Mĩ tự dài nhất được phong cho bà mẹ là trong sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783): Phù tộ Hợp nghi Đoan mục Gia huệ Thuận mỹ Điều Quý Nương.

Việc sắc phong cho cả bố và mẹ của Hoàng bà Phương Dung càng củng cố thêm giả thuyết rằng bà Phương Dung có xuất thân là người trong hoàng tộc. Rất có thể ông Trương công Điều, một vị quan lớn trong triều đình, là người trong họ với Trưng Vương (có liên hệ Trương – Trưng).

Về nơi thờ Hoàng bà Phương Dung, ở Yên Phú trong đình làng có khám thờ và tượng của bà. Bên cạnh đình còn có một phủ bà, trong cung thờ Hoàng bà Phương Dung với tượng khá đẹp. Phủ này tuy nhiên đã bị “tứ phủ hóa” thành miếu Hai cô.

Cung thờ Thánh mẫu Phương Dung ở Phủ Bà (miếu Hai cô)

Như vậy, qua phân tích các tên gọi trong sắc phong ở Yên Phú có thể nhận định Thái hậu Phương Dung vốn là người trong vương thất của nhà Triệu nước Nam Việt. Khi Nam Việt bị nhà Tây Hán tấn công, bà Phương Dung đã về vùng đất Thanh Trì đi tu ẩn mình ở ngôi chùa cổ Thanh Vân, chờ cơ hội báo quốc. Đến khi Trưng nữ phất cờ khởi nghĩa ở đất Tây Vu – Phong Châu, bà Phương Dung lại hội quân tham gia cùng với Trưng Vương và trở thành một trong những đại thần bậc nhất của Trưng triều. Lịch sử thật sự của cuộc khởi nghĩa của hậu quân nước Nam Việt đã được ẩn giấu trong các di tích, sắc phong, tín ngưỡng của người dân Việt trên khắp vùng miền Bắc Việt ngày nay.

II.    HAI VỊ THỦY THẦN Ở YÊN PHÚ TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN RỒNG LINH LANG 

Thần tích Yên Phú kể, sư bà Phương Dung lúc tu ở chùa Thanh Vân (Yên Phú, Thanh Trì) đêm nằm mơ thấy có Thủy quan báo mộng, sáng ra sông Tô Lịch nhặt được 2 quả trứng, đem về chùa nở thành 2 vị thủy thần đầu người thân rắn. Hai vị thủy thần nói với các phụ lão trong làng rằng:

Anh em chúng ta vốn là thủy thần mà các ông thờ phụng lâu nay, một người tên là Trung Vũ, một người tên là Đài Liệu. Nay phụng mệnh Thiên đình giáng sinh để giúp đỡ cho đất nước.

2 vị thủy thần xuất thế Trung Vũ và Đài Liệu là những vị thần đã được thờ phụng tại khu vực Thanh Trì từ lâu, trước thời Trưng Vương. Trước thời Trưng Vương tức là thời kỳ Hùng Vương, mà bản thân Trưng nữ là cháu gái dòng dõi của của vua Hùng. 

Khám tượng thờ Trung Vũ và Đài Liệu

Ở phần mở đầu của thần tích Yên Phú, cũng như trong các ngọc phả thời Hùng Vương, đều ghi chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra trăm trai, rồi chia 50 con theo cha xuống biển là Thủy thần, cai quản nguồn sông, góc biển. 50 con theo mẹ về núi làm Sơn thần, cai quản các ngọn núi và ruộng đồng. Như vậy, các vị “thủy thần” trong các thần tích thực ra chính là những người con đất Việt đã theo cha Rồng Lạc Long Quân xuống khai phá, cai quản vùng sông biển. Đây hoàn toàn không phải là các “nhiên thần” (thần có nguồn gốc từ các vật thể tự nhiên), mà là nhân vật lịch sử thực sự đã được “thần thánh hóa” hoặc là những hình tượng đại diện cho bộ phận người Việt đã tiến ra miền ven biển Đông của thời mở nước.

Đình Yên Phú

Trưng Nữ Vương khi phất cờ khởi nghĩa đã lập tế đàn cầu khấn bách thần tại cửa sông Hát Môn, đọc lời thề trừ tàn diệt giặc, khôi phục tông miếu, cứu vớt nhân dân, nguyện mong thần linh chứng giám. Khi đó, hai vị thủy thần Trung Vũ và Đài Liệu cùng với mẹ nuôi là sư bà Phương Dung đã đến tụ quân với Trưng Vương như một sự ứng nghiệm của thần linh. Hai vị được phong là Tả, Hữu tướng quân, dẫn binh đánh đuổi Tô Định. Đại công cáo thành, hai thần trở về bản quán ở Thanh Trì, xây sửa lại miếu điện…

Đôi câu đối ở nghi môn đình Yên Phú:

二氣良能扶國攻勳千古仰
一誠可格庇民事業萬年芳

Nhị khí lương năng, phù quốc công huân thiên cổ ngưỡng
Nhất thành khả cách, tí dân sự nghiệp vạn niên phương.

Dịch nghĩa:

Hai khí tốt lành, công danh giúp nước nghìn năm ngưỡng
Một lòng cảm cách, sự nghiệp hộ dân vạn thế thơm.

Bên cạnh công lao đánh giặc, đúng với vai trò của “Thủy thần”, hai vị Trung Vũ và Đài Liệu còn có công cầu mưa cứu hạn, được nhân dân trong vùng Thanh Trì hết sức kính phục. Sự tích truyền khẩu ở Yên Phú (được chép trong bản khai thần tích – thần sắc năm 1938 của làng Yên Phú) còn kể, khi đê ở Giầy Kẻ bị sạt vỡ, 2 vị đã hóa thân thành 2 ông rắn nằm ngăn nước để dân đắp, hộ được đê. Lúc hộ đê 1 ông bị đứt một tí đuôi, nên có hèm là Cụt.

Đê Kẻ Giầy được truyền khẩu là đê sông Hồng ở vùng Yên Phụ. Thông tin này là một đầu mối quan trọng để lần lại gốc tích và ý nghĩa lịch sử của nhị vị thủy thần của làng Yên Phú.

Khảo sát khu vực Yên Phụ thì những vị thủy thần đã hộ đê Yên Phụ là những vị thần được phong xung quanh hồ Tây. Trong số đó, có sự tích 2 vị thủy thần ở làng Hồ Khẩu là rất tương đồng với thần tích ở Yên Phú. Thần tích các vị nam thần làng Hồ Khẩu như sau:

“Xưa, vào đời Hùng Vương, ở động Đản Thánh, châu Bố Chính có ông Lê Quốc Công húy là Tín Phệ, làm quan trong triều…Ông cùng với phu nhân cầu tự ở đền Đông Hải Vương. Một hôm phu nhân du chơi Hồ Tây, thấy một con cá chép vẩy đỏ lấp lánh, đùa rỡn sóng nước. Trong lòng cảm động mà có thai. Đến khi mang thai đủ tháng, nằm mơ thấy có hai người mũ áo chỉnh tề, tới chắp tay nói rằng:

–  Chúng thần là ở bộ Lễ Long cung, vâng sắc mệnh đầu thai.

Phu nhân giật mình tỉnh giấc, bỗng thấy trời đất mù mịt, mưa gió ập tới, trong phòng hương thơm tỏa khắp, mây lành rực rỡ, sinh hạ được một bọc hai người con trai.

Ông liền theo giấc mộng đặt tên cho người con trưởng là Cống Lễ, người con thứ là Cá Lễ. Cống Lễ sinh ra đã cao 9 thước, tướng mạo đường hoàng. Cá Lễ sinh ra hàm én râu hổ, tay dài quá gối. Đều là bậc anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, tài năng xuất chúng, sức nâng đỉnh bạt núi.

Duệ Vương lên ngôi, xuống chiếu tìm người có học vấn quảng bác, văn võ toàn tài. Hai ông liền ra ứng tuyển. Vua thấy nơi gần hai ông đứng có gió mát thổi quanh người. Vua biết là thủy thần xuất thế, bèn cùng cho nhận chức thị tòng.

Bấy giờ… Thục Vương bèn đem quân sang xâm chiếm. Vua bèn lệnh cho hai ông chỉ huy thủy quân (ông Cống Lễ làm Tả chưởng quản, ông Cá Lễ làm Hữu chưởng quản), lãnh ấn đại tướng quân ra sông Bạch Đằng nghênh địch…

Ngày khải hoàn, thuyền đến bên sông Tô Lịch, chợt trời đất tối sầm, gió thổi sóng cuồn cuộn, ánh cầu vồng đỏ như thép luyện từ trên trời chiếu thẳng vào thuyền. Hai ông bèn buộc lại mũ đai, hướng về cửa thành bái mệnh. Trong chốc lát, bay lên trời mà hóa…

Vào những năm Vĩnh Thọ triều nhà Lê, vỡ đê phường Yên Phụ. Cứ đắp lại đến đâu lại bị nước đánh trôi đến đó. Triều đình sai quan đến đền của hai vương cầu đảo. Lũ lụt mới tạm dừng. Bèn gia phong hai chữ Hiển ứng Uy linh.” 

2 vị thủy thần sinh ra có báo mộng hình cá chép đỏ, sinh cùng một bọc trứng, tướng mạo dị thường, khi đánh giặc được phong làm Tả Hữu chưởng quản, khi hóa về sông Tô Lịch, hiển linh thời Lê hộ đê Yên Phụ. Những chi tiết này hoàn toàn khớp với 2 vị thủy thần Trung Vũ và Đài Liệu ở làng Yên Phú.

Các vị thủy thần Hồ Tây theo ghi chép của các thần tích từng làng ven hồ thì đã có nhiều lần giáng thế. Như tại đình Tây Hồ, địa phương đã có nhận định: Uy Linh Lang là thủy thần là con trưởng của Lạc Long Quân theo cha xuống biển trấn trị khai thác sông biển lãnh đạo muôn dân xây dựng cuộc sống phồn thịnh. Ngay từ đầu thời Hùng Vương, Thần đã hóa thành bảy con rồng bay lên trời; làng Nhật Chiêu đã trồng bảy cây gạo để ghi dấu sự kiện này. Đình ấp Tây Hồ xưa kia chính là đền thờ Ngài.

Đến thời Hùng Vương thứ 18, Thần lại đầu thai làm con Lạc Hầu Lê Quốc Tín và bà Thục Nương, người phường Hồ Khẩu là Cống Lễ và Cá Lễ. Hai ông được vua Hùng thứ 18 phong là Tả Hữu chưởng quan chỉ huy giúp nhà vua dẹp giặc. Sau đó hóa đi về Thủy Quốc, nhà vua nhớ công ơn hai ông ban cho sắc phong, lập đền thờ nay là đền Vệ Quốc và đền Dực Thánh thuộc phường Bưởi.

Đến thời Lý Nam Đế thần nhân hóa thành Bảo Trung, Minh Khiết để giúp vua chống giặc ngoại xâm, trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa nên Châu Xuyên Bảo gồm các làng: Nội Châu, Ngoại Châu, Vạn Châu, Xuyên Châu thuộc phường Tứ Liên đều có đình để phụng thờ.

Thời Lý thần nhân hóa thành Thái tử Hoàng Lang con vua Lý Thái Tông giúp vua đánh giặc Chiêm Thành. Năm Đinh Tỵ Thái tử lại giúp vua Lý Thánh Tông đánh bại quân Tống tại sông Phả Lại và sông Cầu, đất nước trở lại thanh bình, Quốc gia hưng thịnh.Ngày 12 tháng 2 âm lịch, Thái tử không bệnh mà hóa, có thuyết lại nói Thái Tử bị bệnh đậu mùa rồi hóa thành con rắn khổng lồ chui xuống hồ Tây. Nhà vua biết tin vô cùng thương tiếc phong là Linh Lang đại vương cho lập đền thờ ở Voi Phục.

Thời Trần thần nhân hóa thành Hoàng tử thứ 7 con vua Trần Nhân Tông để giúp vua đánh giặc Chiêm Thành và giặc Nguyên xâm lược. Sau khi khải hoàn trở về Hoàng tử không nhận tước thưởng lui về tu thiền ở chùa Vân Hồ. Triều đình luận công phong thưởng phong là Dâm Đàm Đại Vương được thờ ở đình Tây Hồ, sau đó là các đình Nhật Tân, Yên Phụ, Yên Trì.

Vị trí một số nơi thờ thủy thần Uy Linh Lang ven Thăng Long – Hà Nội

Vị thần Dâm Đàm Đại vương (thủy thần Hồ Tây) là Uy Linh Lang, được thờ ở các làng Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân, là vị thủy thần trong dòng Lạc Long Quân đã có công đánh giặc và hộ đê Yên Phụ. Sự tích kể Uy Linh Lang sinh ra trong bọc trứng, nở thành 7 con rồng bay trên sông Nhị ở điện Nhật Chiêu, đánh giặc rồi hóa thần ở làng Yên Phụ.

Ngoài khu vực hồ Tây, cả dải sông Hồng từ Nhật Tân đến Lý Nhân (Hà Nam) rải rác có nhiều đền thờ Uy Linh Lang. Đình Thanh Trì là đình của làng Thanh Trì, trung tâm của huyện Thanh Trì xưa, cũng thờ Uy Linh Lang. Hay đình đền Lưu Phái (xã Ngũ Hiệp) cùng huyện Thanh Trì cũng là nơi thờ Uy Linh Lang. Thanh Trì xưa vốn có tên là Thanh Đàm, hay từ xa xưa là Long Đàm. Đây là đầm rồng, nơi có vị Rồng Uy Linh Lang làm thần chủ.

Nơi thờ Uy Linh Lang bên sông Hồng gần với làng Yên Phú là làng Xâm Dương (xã Đại Lộ) và làng Xâm Hồ (xã Vân Tảo) nay thuộc huyện Thường Tín. Đây là những di tích nằm trong khu vực tín ngưỡng thờ của Thoải phủ với đền Dầm là trung tâm thờ Mẫu Thoải nằm ở Xâm Dương. Mẫu Thoải được biết là vợ của vua Kinh Dương Vương, có tên là Xích Lân Long Nữ Động Đình Thủy Tinh Công chúa. Bà là người sinh ra Lạc Long Quân. 

Có thể thấy hệ thống thờ các thủy thần gắn với sự tích của Uy Linh Lang từ thời Lạc Long Quân và Long Nữ Động Đình nằm ven sông Hồng ở đoạn qua Thăng Long (Hà Nội). Đây là một dẫn chứng khác bổ sung cho lời chép trong các thần tích và ngọc phả rằng, các Thủy thần là dòng những người con đã theo Lạc Long Quân đi cai quản vùng sông biển. Những vị thủy thần này do đó được hình tượng hóa trong hình dáng của Rồng (thân rắn có vảy…) với nhiều lần giáng sinh ở các triều đại khác nhau.
Đôi câu đối cổ ở đình Yên Phú ca ngợi các vị thần thờ tại đây:

降生持近玄王蹟
掃患相傳夏禹功

Giáng sinh trì cận Huyền Vương tích
Tảo hoạn tương truyền Hạ Vũ công.

Dịch nghĩa:

Giáng sinh gần với tích Huyền Vương
Trừ nạn tương truyền công Hạ Vũ.
 

Tiền tế đình Yên Phú và đôi câu đối cổ

Vế đối đầu so sánh chuyện 2 vị Trung Vũ và Đài Liệu giáng sinh trong trứng, có đầu người thân rắn, mình có vảy, giống như sự tích Huyền Đế Chuyên Húc hóa thành “ngư phụ” được ghi trong Sơn Hải Kinh – Đại Hoang Tây Kinh. Vế đối sau nói tới công lao hộ đê giúp dân, sánh với công nghiệp của vua Đại Vũ nhà Hạ trong cổ sử Trung Hoa.

Như vậy, hai vị là Thủy thần tức là dòng dõi Lạc Long Quân, mở cõi nơi đất Thăng Long vùng ven bờ sông Nhị xưa, qua ngàn năm vẫn được phản ánh trong tín ngưỡng văn hóa, cũng như ghi chép lại trong các thần tích, hương khói thờ phụng ở đình chùa đền miếu. Hai vị là thần bản thổ linh ứng chống ngoại xâm và lũ lụt đi cùng chiều dài lịch sử dân tộc hàng ngàn năm. Cũng như rất nhiều vị thần thành hoàng làng khác trên cả miền đất cổ, họ đều là những bậc tiền nhân có công lao mở đất, phù trợ muôn đời cho con cháu, bao đời nay vẫn được ngưỡng vọng phụng thờ./.

Linh thần của kim thạch

Hùng Vương Thánh tổ ngọc phả kể người cầm đầu quân đội nhà Ân kéo sang nước ta là Thạch Linh thần tướng. Trận chiến giữa Thánh Dóng với Thạch Linh thần tướng diễn ra dưới chân núi Châu Sơn (núi Vũ Ninh) và tướng Ân đã tử trận.

Trong hội Dóng làng Phù Đổng, có bài hát:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương

Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung

Xâm cương cậy thế khoe hùng

Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Bài ca dao và lễ hội Phù Đổng cho biết, tướng Ân là nữ. Vậy Thạch Linh thần tướng ở núi Vũ Ninh cũng chính là nữ tướng Ân. 

Thời nhà Ân các nữ tướng cầm quân ra trận cũng thường cũng là vợ vua Ân. Điển hình là nữ tướng Phụ Hảo nổi tiếng dưới thời Ân Vũ Đinh đã cầm quân đánh các nước như Khương Phương, Ba Phương, Thổ Phương…

(Nhân đây bàn thêm, sử ghi Vũ Đinh đánh nước Quỷ Phương, nhưng lại ghi Phụ Hảo đánh nước Khương Phương. Như thế Khương và Quỷ là 2 từ cùng dùng để chỉ 1 phương hướng. Ở đây là hướng Tây vì ta biết người Khương ở phía Tây. Thực ra Khương hay Khăng là tính chất của phương Tây. Quỷ là đọc sai của Cửu, con số chỉ hướng Tây của Hà thư. Vũ Đinh đánh nước Quỷ Phương là nước của người Khương ở hướng Tây nhà Ân, chứ không có nước “Xích Quỷ” nào vào thời này cả.)

Mộ Phụ Hảo là ngôi mộ lớn của thời Ân Thương, được phát hiện ở thôn Tiểu Đồn, huyện An Dương tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ngôi mộ của vị nữ chúa này có một lượng đồ tùy táng lớn gồm các đồ đồng, ngọc, gốm, xương ngà, mã não, pha lê. Các hiện vật đồ đồng rất phong phú trong mộ cho biết Phụ Hảo còn có “miếu hiệu” là Mẫu Tân, căn cứ vào dòng chữ khắc trên một chiếc đỉnh và các đồ minh khí bồi táng kèm theo.

Một đồ đồng bồi táng mang tên Mẫu Tân cũng được thấy ở Việt Nam. Đó là một chiếc quang (dạng cốc đựng rượu có 4 chân) có hình con Dê với cặp sừng cong cuộn. Xung quanh chiếc quang được đúc trang trí bằng những hoa văn rồng phượng kỳ lạ, đặc trưng của văn hóa thời Ân Thương.

Chiếc Dương quang thời Ân Thương. Hiện vật sưu tầm của Nhóm Đền miếu Việt

Bên dưới chiếc “dương quang” này có dòng chữ đúc chìm, mà thường được đọc là Tư Mẫu Tân 司母辛 và được giải nghĩa là “Dành tế Mẫu Tân”. Cách đọc này tương tự như trên chiếc đỉnh lớn nhất thời Thương đã được phát hiện, với chữ Tư Mẫu Mậu 司母戊. Trong đó chữ cuối cùng là tên một trong thập can, là cách dùng thời Ân Thương để gọi các vị vua (như các tên của Vũ Đinh, Đế Tân).

Tuy nhiên thứ tự đọc này không đúng với nguyên tắc đọc của chữ Nho, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Thứ tự đọc theo nguyên tắc này phải là Mẫu Tư Mậu hoặc Mẫu Tư Tân. Vấn đề là khi đó chữ Tư (nghĩa là quản lý) sẽ trở nên vô nghĩa khi ghép với tên của một can.

Ở vùng Vĩnh Phú từng đã phát hiện được 2 chiếc di đồng khá lớn, có hình dạng rất giống với những hiện vật trong mộ Phụ Hảo ở An Dương. Trong lòng 2 chiếc di đồng này có khảm 2 dòng gồm 8 chữ, được đọc là:  

Tôn thủ tác vĩnh bảo Mẫu hậu Dậu 尊守作永寶母后酉

3 chữ cuối cùng của chiếc phương di này cũng như hình chữ trên các đồ bồi táng ở mộ Phụ Hảo và đỉnh Tư Mẫu Mậu cho thấy thứ tự đọc đúng cách viết tên thời Thương ở đây là:

  • Chữ đầu tiên là chữ Mẫu 母 hoặc chữ Phụ 婦.
  • Chữ thứ hai là chữ Tư 司 hoặc chữ Hậu 后 do trong văn tự thời Ân Thương 2 chữ này viết giống nhau.
  • Chữ thứ ba là tên gọi một trong thập can, cũng là tên người được cúng tế.

Với thứ tự đọc này thì chữ thứ 2 phải đọc là Hậu 后 (nghĩa là hoàng hậu) mới có nghĩa, vì chữ Tư 司 (nghĩa là quản lý) không thể ghép được với tên gọi của thập can.

Chữ Mẫu Hậu Tân ở đáy chiếc Dương quang (Hiện vật sưu tầm của nhóm Đền miếu Việt)

Như vậy chữ ở chiếc quang hình dê và ở mộ Phụ Hảo đọc là Mẫu Hậu Tân 母后辛. Chữ trên chiếc phương di ở Vĩnh Phú đọc là Mẫu Hậu Dậu 母后酉. Còn chữ trên chiếc đỉnh trọng khí đồ đồng lớn nhất thời Ân Thương phải đọc là Mẫu Hậu Mậu 母后戊.

Tới đây ta thấy, các vị hoàng hậu của nhà Ân đều được gọi là Mẫu 母. Như đã biết, các vua Ân được gọi là Phụ 父, như Phụ Ất, Phụ Đinh… Phụ và Mẫu vào thời đó không phải là chỉ cha, mẹ đẻ, mà là chỉ các thủ lĩnh của quốc gia gồm vua và hoàng hậu.

Thường là chính các vị Mẫu Hậu này là tướng thống lĩnh quân đội của nhà Ân đi viễn chinh như trường hợp của Phụ Hảo (Mẫu Hậu Tân). Do đó, vị tướng Ân đã dẫn quân đánh sang nước Văn Lang của vua Hùng cũng có thể đúng là “nữ nhung” như trong câu ca dao và đây là một trong các vị Mẫu của nhà Ân được nhắc tới.

Thạch Linh thần tướng chết dưới chân núi Vũ Ninh là hoàng hậu nhà Ân hay Ân Hậu. Đây là một nhận định rất mới, cho phép hiểu rõ hơn truyền thuyết ở vùng núi Vũ Ninh. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể:

Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới chân núi Trâu (Trâu Sơn). Hùng Vương cầu cứu với Long Quân, Long Quân hóa thành Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, quân nhà Ân đều thua chạy. Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, bốn mùa đều phải hương khói.”

Sau đó tới thời Tần, có người là Thôi Vĩ đi lạc vào núi Trâu Sơn, gặp được Ân Hậu và một vị thần nữ là Ma Cô Tiên…

Như trên đã phân tích, người chết trận dưới chân núi không phải vua Ân mà là Ân Hậu – Thạch Linh thần tướng. Cũng vì thế mà Thôi Vĩ chỉ gặp Ân Hậu chứ không gặp Ân Vương. Ân Hậu “hiển linh” và được thờ phụng tại vùng núi Châu Sơn này dưới tên Ma Cô Tiên, như một loạt các di tích còn ở đây. Rõ nhất là ngôi chùa mang tên Ma Cô Tiên ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong (huyện Quế Võ, Bắc Ninh). Đây là khám phá hết sức bất ngờ, giải thích được vấn đề “Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi” Châu Sơn và truyền tích ở Bắc Ninh.

Suy xét xa hơn, từ Ma Cô đọc thiết âm là , là cách phát âm khác của từ Mẫu 母. Nói cách khác, Ma Cô cũng là một vị Mẫu như được đúc rõ trên các hiện vật thời Ân Thương.

Cũng Truyện Giếng Việt kể, Thôi Vĩ sau khi gặp Ân Hậu và Ma Cô Tiên đã được một người là Dương quan dẫn đường trở về. “Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu.” Con “dê đá” này ngày nay vẫn còn, là một bức tượng bằng đá cổ hình nửa thân một con thần thú trông có dáng dấp của con Dê do có cặp sừng cong.

Con “Dê đá” ở núi Vũ Ninh

Thật trùng khớp khi chiếc quang hình dê thời Ân Thương được thấy có chữ “Mẫu Hậu Tân” lại khớp với tên gọi của “Dương quan” trong truyện Giếng Việt. Chiếc quang này là bằng chứng hiển hiện cho sự tham gia của Ân Hậu trong cuộc chiến với Thánh Dóng ở nước ta.

Ân Hậu – Ma Cô Tiên không chỉ hiển linh ở núi Châu Sơn. Truyền thuyết Việt còn kể, khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa thì có oan hồn của các vua đời trước nhập vào người con gái chủ quán trọ ở chân núi Ma Lôi, đến đêm hiện hình thành con gà trắng mà phá hoại. Hoặc sự tích ở núi Thất Diệu, nơi có đền Bạch Kê thờ Mẫu là dòng dõi vua Hùng, đã biến thành cô tiên gánh đất giúp An Dương vương xây thành…

Một lần nữa ta lại thấy, nhân vật hiển linh báo oán cho đời trước là nữ, chứ không phải nam. Người con gái ở núi Ma Lôi và Mẫu Bạch Kê ở núi Thất Diệu chính là Ma Cô Tiên hay Ân Hậu được nhắc tới tại Vũ Ninh.

Miếu Bạch Kê ở núi Thất Diệu tại Yên Phong, Bắc Ninh có đôi câu đối ở nghi môn
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩

Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân.

Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.

Câu đối nói rất rõ, Mẫu Bạch Kê hay Ma Cô Tiên chính dòng dõi Bách Việt của “cố quốc” xưa và các đồ vật kim thạch tế khí của vua đời trước này vẫn còn lưu truyền ngàn năm. 

Phù điêu bên giếng Cô Tiên trên núi Thất Diệu

Cái tên “Thạch Linh thần tướng” của Ma Cô Tiên cho một liên hệ sau. Thạch Linh nghĩa là linh khí của đá. Ma Cô Tiên cũng được biết là vị phúc thần mang lại tài phúc cho nhân gian, như Thôi Vĩ đã được Ma Cô Tiên cho viên ngọc Long Tụy của Hoàng Đế mà trở nên giàu có. Còn ở núi Thất Diệu, sau khi An Dương Vương diệt được Bạch Kê tinh đã cho đào núi, lấy được nhạc khí và xương cốt cổ. “Nhạc khí” thời này là chuông, trống làm bằng đồng, dùng trong việc tế lễ. Ma Cô Tiên là chủ thần về môn “kim thạch học”, tức là tên gọi của ngành Khảo cổ học xưa. Chiếc cốc hình dê (dương quang) và con dê đá ở núi Vũ Ninh đúng là “kim thạch”, là con thần thú chở tài vật của Thạch Linh thần tướng Ma Cô Tiên.

Bài đăng trên báo Lao Động cuối tuần số 22 ngày 28-30/5/2021

Truyền thuyết Lang Liêu tế trời ở Tây Thiên và chiếc mâm đồng thời Tây Chu

Ai là người Việt đều biết câu chuyện hoàng tử Lang Liêu có hiếu với vua Hùng đã nghĩ ra bánh chưng bánh dày mà được truyền ngôi báu. Cũng là Lang Liêu, vị vua Hùng thứ 7, còn được kể là vị vua đã lên núi Tây Thiên ở dãy Tam Đảo để cầu trời cho gặp tiên và đã gặp được nàng tiên Lăng Thị Tiêu ở đây. Nhưng truyền thuyết này là có thật không, có chứng tích gì để lại tới ngày nay không? Khảo cổ ở nước ta đã từng tìm thấy vết lá bánh chưng trên một chiếc nồi đồng thời Đông Sơn, chứng thực cho chuyện bánh chưng bánh dày. Còn câu chuyện về Lang Liêu gặp tiên nay lại được xác thực bởi một hiện vật khác cùng thời.

Một chiếc mâm đồng 4 chân thời Tây Chu (quãng thế kỷ 10 – 9 TCN) được thấy ở miền Bắc Việt. Dạng mâm này là đồ tế tự, dùng để đựng các vật phẩm hiến tế trong các dịp lễ quan trọng của triều đình. Trong lòng chiếc mâm có đúc chìm một bài minh bằng chữ Kim văn. Nội dung bài minh này có thể được đọc như sau:

Đọc chữ Nho:

王雩朕皇祖侯天令厥
萬年無國民配皇高祖公
中息幽賜令不用奠
王永新穆王厥政四令
祖辟考王雩朕皇亞政
用奠于又成于用單雩
考夾考殷 交敓允有孫
王雩休天子其萬年勒乃
又成公則隹乃前考
天子萬年乃官臣子方

Phiên âm:

Vương vu trẫm Hoàng tổ hầu thiên mệnh quyết
Vạn niên vô quốc dân phối hoàng cao tổ công
Thất trung tức u tứ lệnh phương bất dụng điện
Vương vĩnh tân ai Mục Vương quyết chính tứ mệnh
Tổ tịch khảo, Vương vu trẫm Hoàng á chính
Dụng điện hoanh ư hựu thành ư dụng đan vu
Khảo giáp khảo ân giao tịch thoát doãn hữu tôn
Vương vu hưu thiên tử kỳ vạn niên lặc nãi
Hựu thành công tắc duy nãi tiền khảo giáp trường
Thiên tử vạn niên nãi các quan thần tử phương.

(Các chữ in nghiêng là chữ đọc còn nghi vấn)

Tạm dịch:

Vua tế cầu cho Hoàng Tổ hầu của ta được mệnh trời vạn năm. Không quốc dân nào phối tế với Hoàng Cao tổ. Công thất là U ban lệnh tế, làm lễ dâng Vua, mãi nhớ tới Mục Vương trị chính, theo mệnh của các vị vua tổ khảo.
Vua cầu cho chính sự của Hoàng Á của ta. Dùng lễ tế lớn để được thành, dùng riêng tế các vị tổ khảo Giáp, khảo Ân. Có người cháu Vua làm lễ tế trăng, cầu cho Thiên tử vạn năm thống lĩnh thành công, được lâu dài như vị khảo Giáp trước đây.
Thiên tử vạn năm, cùng các quan thần tử vậy./.

Chữ “Mục Vương” trong lòng chiếc mâm đồng thời Tây Chu

Bài minh văn nói về việc vị vua đương thời làm lễ cầu tế các vị vua tổ, các vị tiền vương đời trước (tổ khảo) và cầu chúc cho Thiên tử (vua đương thời) vạn năm với cùng các quan thần. Điểm đặc biệt trong bài văn này là nhắc tới Mục Vương, một vị vua thời Tây Chu. 

Chu Mục Vương (chữ Nho: 周穆王; 1027 TCN – 922 TCN) là vị vua thứ 5 của nhà Tây Chu, trị vì từ năm 976 TCN đến năm 922 TCN. Mục Vương từ nhỏ đã rất thích tu luyện phép thuật thành tiên. Lớn lên ông học theo Hoàng Đế ngồi xe ngựa đi thăm thú các danh lam thắng cảnh trên khắp thiên hạ. Vì vậy ông ngồi xe do 8 con ngựa kéo thẳng tới vùng đất của người Nhung ở Tây Bắc (thực ra thì đây là chuyện kể về sự kiện Chu Mục Vương đã Tây chinh đánh dẹp Khuyển Nhung).

Tương truyền, Mục Vương đã đến núi Côn Lôn, phát hiện ra cung điện bằng ngọc của Hoàng Đế. Cũng tại đây, truyền thuyết kể rằng ông đã gặp Tây Vương Mẫu ở Dao Trì, được đãi yến tiệc. Mục Vương uống nước tuyết ngọt trên núi Côn Lôn, ăn cao tương chế từ ngọc thạch, còn có tố liên, táo đen, ngó sen ngọc và rất nhiều tiên quả… Sau đó Chu Mục Vương đã thành tiên thuật, cưỡi mây mà bay về trời.

Chu Mục Vương gặp Tây Vương Mẫu trên núi Côn Lôn (hình lấy từ internet)

Trong truyền thuyết Việt cũng có một câu chuyện tương tự cùng thời. Hung Vương Thánh Tổ ngọc phả đã cho biết núi Côn Lôn, nơi vua tổ Hùng Vương khởi dựng là dải núi ở miền Bắc Việt. Triều Hùng sau thời Thánh Dóng đánh giặc Ân, truyền tới vua Hùng thứ bảy là Hùng Huy Vương. Huy Vương bình sinh ưa thích tiên thuật, trọng chuyện quỷ thần. Bởi ngưỡng mộ thần tiên mà Vua đã đến lên Tam Đảo:

… Liền truyền cho xa giá đi ngắm xem phong cảnh. Xe loan đến nơi, mừng thấy đồi vóc núi gấm, lâu đài lớp lớp toả sáng ngàn tầm, động biếc khe xanh, vạn dòng lặng tung bọt sóng. Cảnh vật tranh sắc, hoa cỏ đua thơm. Đầu ngọn núi nhỏ có ngôi chùa cổ tên là chùa Tây Thiên dựng trên khoảnh núi địa thế như con rồng trắng bay sà xuống. Vua bèn cho dựng đàn tràng, sửa dọn lễ chay, sai quần thần dâng tiến đứng chầu. 

Vua lại đến bên khe Thạch Bàn để xem tiên cảnh. Bỗng thấy trên lầu điện nguy nga khói sương lấp lánh, bốn phía quần hội rồng mây, mông lung đài sen đất Phật hiện lên. Một bầu núi non, đúng là cảnh chốn Bồng Lai. Vua bèn vào chùa Phù Nghi, lập đàn Vọng Tiên, khấn lời cầu nguyện Hoàng Thiên. Rồi Vua truyền gọi triều thần văn võ đến hội chầu, áo mũ nghiêm trang. Vua làm lễ khấn:

– Nguyện Trời cho các vị thần tiên giáng xuống cho được có dịp hạnh ngộ, thoả lòng mong ước ba sinh.

Khấn xong vua lạy tạ. Nhưng sau ba ngày vẫn không thấy bóng dáng của các vị tiên đến. Vua hồi hộp lo lắng, nhưng không biết phải làm thế nào. Vua bèn đến chỗ núi đầu rồng, lập đài Vọng Tiên mà lòng kiên trì cầu khấn. Đêm ấy vua chiêm bao thấy thần linh hiện lên bảo rằng:

Trên Tây Thiên tiên đó/ Không thấy điều mong chờ/ Gặp người nơi Đông Lộ/ Vua sẽ được như mơ
.

Bìa cuốn ngọc phả Tây Thiên quốc mẫu được tìm thấy ở đền Hóa Tây Thiên.

Vua nhận được bài thơ thần bốn câu đó xong liền quay giá về. Đến dưới núi thấy một mỹ nhân phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh cao đang đứng bên điện Cẩm Miếu xem xa giá nhà vua. Vua thích nhan sắc cô gái ấy, muốn lấy làm vợ. Đến khi về cung, Vua hỏi: – Nhà nàng ở đâu?

 Cô gái đáp: – Thiếp là tiên nhân giáng sinh xuống trần ở Đông Lộ làm con của một gia đình trưởng lão. Thiếp đã mấy mùa hoa vịnh sử ngâm kinh, che châu giấu ngọc để đợi bậc anh hùng. Gần đây trộm nghe bệ hạ, dựng đàn tràng muốn cầu tiên tử. Thiếp vì thế dẫu chẳng phải xa xôi cũng đến xem, may duyên trời tiền định cho thiếp được gặp quân vương, xin nguyện phụng hầu nơi màn trướng không phụ nguyện ước ba sinh.

Vua nghe lời kể mới biết là thần tiên sai đưa tiên nữ đến cho mình. Thế là Vua sai quần thần sắm sửa sính lễ, rồi ngự xa giá đến nhà Trưởng ông ở Đông Lộ xin nạp sính lễ. Rồi đó Vua đón hôn trở về thành Phong Đô, lập tiên nương làm hoàng phi chính nhất.

Chưa đầy năm Ngọc Tiêu mang thai, rồi sinh một con trai tư chất bẩm sinh thông minh, anh tài trác việt. Đến tuổi trưởng thành Vua lập làm Thái tử nối quốc thống, hiệu là Hùng Vĩ Vương.

Về sau, Vua cùng hoàng phi học được tiên thuật, hưởng nước được 200 năm. Vua truyền cho con lên ngôi trị vì. Vua thọ sánh ngang tuế nguyệt Kiều Bành, hoá sinh bất diệt. 

Các sự tích ở vùng Tam Đảo (Vĩnh Phúc) kể chuyện này là Lang Liêu hay Hùng Chiêu Vương đã lên đỉnh Phù Nghi lập Vọng Tiên Đàn cầu trời, rồi gặp và kết duyên với nàng tiên nữ Lăng Thị Tiêu ở chân núi Tây Thiên. Tây Thiên cũng là nơi mà sau này nhiều triều đại đã lên đây tế cáo trời đất, cầu mưa như trong tấm bia ma nhai bên dòng suối Bát Nhã vẫn còn lưu lại.

Bia ma nhai Bát Nhã tuyền ở đỉnh Phù Nghi của khu Tây Thiên

Có thể thấy cốt truyện của chuyện vua Hùng lên núi tế trời gặp Tiên ở Tây Thiên cũng chính là sự kiện về Chu Mục Vương lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu. Mọi chi tiết đều trùng khớp trong 2 chuyện, từ việc một vị vua thời Chu – Lang Liêu lên núi Côn Lôn – Tam Đảo, tế Hoàng Thiên – Hoàng Đế, đến việc gặp Tây Thiên quốc mẫu – Tây Vương Mẫu, rồi vua cùng với tiên phi học thành tiên thuật, hóa sinh bất diệt.

Chiếc mâm đồng dùng đựng đồ hiến tế với bài minh văn cũng có nội dung tương tự về việc một vị vua tế Hoàng thiên và các vị tổ khảo, nhắc tới chuyện của Chu Mục Vương xưa. Đây là một vật chứng cực kỳ quý giá, hiển thực và rất cổ cho mối liên hệ giữa truyền thuyết Việt về Lang Liêu ở Tây Thiên với Chu Mục Vương gặp tiên trong lịch sử.

Con Trâu chở Đạo và Huyền Thiên Lão Tử

Bài đăng báo Lao động số Xuân Tân Sửu 2021

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả bàn rằng: Trời ban đầu mở vào Giáp Tý. Đất tụ mang ở Ất Sửu. Vận người sinh ở Giáp Dần. Vạn vật ra đời ở gian Ất Mão. Từ thời Bàn Cổ, Thái cực sinh Lưỡng Nghi, là Thiên Địa. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Tứ tượng biến hóa thành nhiều hình trạng… Thiên Hoàng nối Bàn Cổ mà trị ở ngôi Thiên tử, nắm quyền chế độ, mới chế ra Can chi. Mười can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười hai chi là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Vị, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Lấy đó để định thời gian, giúp nhân dân biết phương hướng.

Các thánh nhân thời cổ đại đã chế ra Thiên can và Địa chi dùng để phân định thời gian và nhận biết phương hướng. 12 con giáp không chỉ dùng để chỉ ngày giờ tháng năm, mà còn là để gọi tên cho các khu vực trên mặt đất. Vì thế các con giáp được gọi là các Địa chi. 12 địa chi được sắp xếp theo 4 phương Đông – Tây – Nam – Bắc, mỗi phương tương ứng với 3 vùng đất (3 địa chi). Như một chiếc gương đồng thời Đường (thế kỷ 7-9) tìm thấy ở Quảng Nam có khắc nổi trên mặt gương hình Tứ linh, Bát quái và Thập nhị địa chi, minh họa rõ cho những mối liên hệ này.

Xem đồ hình trên gương cổ, chi Sửu có hình tượng là con Trâu, nằm cùng hướng quẻ Khảm trong Bát quái và cùng với phương Huyền vũ (hình con Rùa) trong Tứ linh. Đây là phương Bắc, trong Ngũ hành thuộc về hành Thủy (nước), ứng với màu Tím (hoặc Đen).

Gương đồng thời Đường tìm thấy ở Duy Xuyên, Quảng Nam

Tên gọi chi Sửu có mối liên hệ với từ Nước như sau: Sửu – Sủy – Thủy. Con trâu được người Việt Nam gọi đầy đủ là con trâu nước hay thủy ngưu. Trâu là con vật quen thuộc của nền văn minh lúa nước đã được người xưa dùng làm con vật tiêu biểu cho phương “nước” – hành Thủy, hay hướng Bắc ngày nay. Tính chất căn bản của quẻ Khảm hay hướng Nước đó là sự tòng thuận. Con Trâu là con vật nuôi do người điều khiển mà làm các công việc hàng ngày như cày, kéo, nên người xưa đã dùng hình ảnh con Trâu để tượng trưng cho tính chất thuận tòng của hành Thủy, Bắc phương.

Tòng thuận cũng là tư tưởng then chốt trong học thuyết Đại Đạo do Lão Tử đề xướng từ cách đây trên 2.500 năm. Trong tác phẩm để đời Đạo Đức Kinh của mình, ở chương “Tượng nguyên” Lão Tử đã viết: “Trong cõi có Tứ Đại, mà Người là một. Người thuận theo Đất, Đất thuận theo Trời, Trời thuận theo Đạo, Đạo thuận theo tự nhiên”.

Trong tư duy Dịch học cổ đại, Đất tượng trưng cho những gì thuộc về vật chất, về tri thức khoa học kỹ thuật. Trời tượng trưng cho những gì thuộc về tinh thần, về minh triết nhân sinh. Đạo Đức kinh giảng rằng, con người phải biết tuân theo những hiểu biết của khoa học kỹ thuật. Khoa học đến lượt mình lại cần được sự định hướng của minh triết. Chân lý này tuy đơn giản nhưng ngày nay với khoa học công nghệ hiện đại chế ra hàng tấn bom nguyên tử treo lơ lửng thì ta mới hiểu, khoa học mà không có sự định hướng của minh triết sẽ có hậu quả khôn lường.

Minh triết có gốc ở Đạo. Đạo là từ sự tự nhiên, không cưỡng ép. Con người ta có Khôn (trí tuệ, khoa học) nhưng phải có Ngoan (biết tuân thủ, biết hướng Đạo) thì mới được bền lâu. Khi con người làm những điều trái với tự nhiên, mất “đạo đức”, như phá rừng, thiêu đốt nguyên liệu hóa thạch, đã dẫn đến biến đổi khí hậu toàn cầu, ảnh hưởng to lớn đến tương lai loài người ngày nay. Đây là những viễn cảnh đã được báo trước trong Đạo Đức kinh.

Tư tưởng tòng thuận, tự nhiên, vô vi là căn cơ trong Đạo Lão. Vì thế mà Lão Tử thường được thể hiện dưới hình ảnh đang cưỡi một con Trâu. Trâu là con vật chở Đạo tòng thuận, sống và hành động thuận theo trời đất, không đi ngược với lẽ tự nhiên.

Ở nước ta sự tích về hành trạng và công nghiệp của Lão Tử được gặp ở nhiều di tích cổ, là những nơi còn lưu dấu chân con Trâu chở Đại Đạo trên vùng đất Bắc Việt. Như bên bờ sông Cầu, quê hương của những làn điệu quan họ, di sản văn hóa phi vật thể thế giới đã được công nhận, có một ngôi đình làng cổ nổi tiếng. Đình Thổ Hà ở xã Vân Hà (Việt Yên, Bắc Giang) được vang danh từ lâu bởi nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc rất tinh xảo của xứ Kinh Bắc. Có điều khi xem đến vị thành hoàng được thờ ở đây thì mới thực sự là điều bất ngờ. Thành hoàng làng Thổ Hà tên là Lão Đam, Thái Thượng Lão Quân.

Thần tích về Lão Tử ở làng Thổ Hà được khắc trên tấm bia “Cung sao thánh tích” lưu tại đình. Sự tích thánh mở đầu như sau: “Thời Hùng Vương kết thúc, khi An Dương Vương nối ngự trị, có một người từ nước Bắc tới trang Thổ Hà, huyện Yên Việt, phủ Bắc Hà, đạo Kinh Bắc, sống ở tại chùa tên là chùa Đoan Minh. Ngài ngày đêm đọc giảng, tự như có sức lực của thần thánh vậy. Ở trong trang có nhiều đệ tử đến theo học. Một hôm, Ngài nói với đệ tử rằng:

– Ta vốn xuất hiện từ chốn Hồng Mông, trời đất sinh ra nên Ta có được bản tính thông minh. Xưa mẹ Ta nói với Ta rằng: Mẹ vốn sinh ra từ sự huyền diệu của lòng từ bi, tên là Mỹ Thổ Hoàng, nằm mộng nuốt một con Trâu trắng là tinh khí của mặt trời mà cảm ứng mang thai. Sau 81 năm vào mùa Xuân năm Canh Thìn, ngày 7 tháng Giêng, bên nách cánh tay chuyển động mà sinh ra Ta. Khi sinh đầu đã bạc, chân có chữ. Ta không có cha. Theo lời mẹ mà lấy Lý làm họ, tên là Lão Đam, tự Lý Bá Dương, danh Thái Thượng.”

Sự tích làng Thổ Hà cho biết vị Thái Thượng ở đây mang tên Lão Đam hay Lý Bá Dương, cầm tinh con Trâu trắng mặt trời. Tinh con Trâu trong sự tích này có ý nghĩa nói tới Đạo tòng thuận của Lão Tử.

Ở làng Thổ Hà, Lão Tử không chỉ giảng đạo mà còn ra sức chữa bệnh cứu giúp nhân dân. “Lúc bấy giờ trong nước có giặc Quỷ mũi đỏ, một vị quan thị hầu vua bị bệnh ngã nhào xuống đất và sau đó bệnh tật lan khắp mọi nơi. Trong nước nhiều nơi mắc bệnh, người ốm người chết thiệt hại rất nhiều. Nhà vua vội truyền hịch đi các nơi: Nếu ai trừ được giặc Quỷ vua sẽ gia phong tước lộc. Lão Tử vâng mệnh, đến nơi có giặc Quỷ, người liền niệm chú. Xong, Ngài lại thư phù vào gậy trúc và phóng đi bốn phương. Các nơi đều trở nên yên ổn. Quan địa phương tâu với triều đình, vua liền mời Lão Tử đến ban thưởng, mở tiệc khoản đãi và phong người là Đệ nhất nhân. Lại cho ngài được hưởng thực ấp ở vùng An Việt huyện. Người bái tạ đức vua và trở về Thổ Hà trang.

Giặc Xích tỵ (Quỷ mũi đỏ) là loại dịch bệnh gây nổi các vết đỏ trên da, dẫn đến tử vong. Có thể đây là bệnh dịch hạch hoặc đậu mùa, rất phổ biến thời xưa. Nhờ có những tri thức về y học, về vệ sinh dịch tễ mà Lão Tử đã giúp nhân dân và triều đình ngăn chặn được dịch bệnh bùng phát. Do đó ông đã được tôn phong ở trang Thổ Hà. Nhưng công nghiệp của vị Thái Thượng này không chỉ dừng ở đó. Thần tích làng Thổ Hà kể tiếp:

Sau đó vua (An Dương Vương) xây thành (Cổ Loa) có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi. Từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng trống đồng). Thành xây nửa tháng vừa xong.”

Đây là một thông tin hết sức bất ngờ, khi biết được rằng người đã giúp vua An Dương Vương trừ yêu quỷ xây thành Cổ Loa trong truyền thuyết lại là triết gia Lão Tử của Trung Hoa cổ đại. Thần Kim Quy đã theo sự sai khiến của Lão Tử hiện thành Thanh Giang sứ giả mà chém Bạch Kê tinh. Sự thật trong truyền thuyết Cổ Loa thành này là gì?

Về hàng trạng của Lão Tử, tấm bia cổ đời Hán Hoàn đế (146-167) có tên “Lão Tử minh” chép: “Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.”

So sánh thông tin của Lão Tử minh và sự tích thành Cổ Loa sẽ nhận thấy, nguyên nhân chính của việc thành xây bị đổ là những trận động đất của vùng Tam Xuyên. Tam Xuyên là 3 con sông, chỉ vùng đất hợp lưu sông Đà, sông Lô và sông Thao ở Việt Trì. Tam Xuyên hay Tam Giang là tên gọi cổ của vùng đất Bắc Việt, nơi có thành Cổ Loa.

Lão Tử là quan thủ thư dưới thời Chu U Vương, vị vua cuối cùng của nhà Tây Chu. U Vương tính tình tàn dị, để mua nụ cười của Bao Tự mà đã cho đốt lửa Ly Sơn ngàn dặm, gây kinh động tới các chư hầu. Lão Tử nhân việc động đất ở Tam Xuyên đã đăng đàn ở núi Thất Diệu, nhằm muốn khuyên răn vua Chu về đạo thuận theo mệnh trời và nhắc nhở bài học mất nước của Hạ Kiệt, Trụ Vương thời trước.

Đình Thổ Hà có câu đối nói về sự việc này:

Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ

Long năng thừa hóa, Ngũ Vân trang hạ ký đăng tiên.

Dịch:

Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ

Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

Cửa võng ban thờ chính điện đình làng Thổ Hà

Như trên đã biết, trong địa chi thì chi Sửu – con Trâu nằm cùng hướng với Huyền vũ, là hình tượng “Quy Xà hợp hình”, gồm có Rùa và Rắn (Rồng). Vì thế, thần Kim Quy từ dưới nước đi lên cũng là biểu tượng của hành Thủy, của tinh thần Đạo tòng thuận, tuân theo lẽ trời đất. Đạo lý này chính là điều đã giúp được An Dương Vương yên định được oán khí trong nhân dân, xây dựng thành trì, củng cố đất nước vững mạnh, nối nghiệp tổ tiên và theo mệnh trời mà trị quốc.

Tại Ngọc điện ở làng An Xá (xã Tân Trào, Thanh Miện, Hải Dương), Lão Tử được thờ dưới hình một ông lão râu tóc bạc trắng, tay cầm gậy đầu Rồng, chân dẫm lên một con Rùa vàng. Hình tượng Rùa vàng hay Trâu trắng đều là thể hiện tinh thần tòng thuận của Đạo Lão.

Tượng thờ Thái Thượng Lão Quân ở làng An Xá, Tân Trào, Thanh Miện, Hải Dương

Về Lão Tử còn lưu truyền câu chuyện “Tử khí Đông lai”, kể rằng, khi Lão Tử đi qua cửa Hàm Cốc, quan lệnh là Doãn Hỷ nhìn thấy có một luồng khí sắc tím bay tới từ phía Đông, biết rằng sẽ có thánh nhân đi qua. Quả nhiên lúc sau Lão tử cưỡi trâu xanh từ hướng Đông qua đây. Doãn Hỷ ăn mặc chỉnh tề, quỳ gối dập đầu, khẩn khoản giữ Lão Tử ở lại và viết lại những hiểu biết của mình trước khi đi vào sa mạc. Lão Tử vì ưu ái Doãn Hỷ nên đã lưu lại Hàm Cốc quan hơn 100 ngày, truyền thụ lại tư tưởng của mình trong cuốn Đạo Đức Kinh.

Thần Kim Quy cũng từ phía Đông tới giúp An Dương Vương, rồi trao cho vua cái Móng rùa để làm bí quyết an dân giữ nước. Móng rùa ở đây không gì khác chính là cuốn Đạo Đức kinh, hay là tư tưởng Đại Đạo mà Lão Tử đã theo đuổi. Sống có Đạo, có Đức, tuân theo trời đất, hợp với tự nhiên là chiếc Móng rùa được Lão Tử gửi gắm lại cho nhân gian.

Ở Cổ Loa, người được tôn sùng vì giúp An Dương Vương trừ yêu xây thành là Huyền Thiên Chân Vũ. Đây là tên thờ của Lão Tử, xuất hiện dưới thời Đường. Do học thuyết của Lão Tử lấy sự tòng thuận trong tính chất của phương Bắc (Huyền vũ) làm căn bản nên ông được tôn là Đại Thánh Bắc phương Thiên Tôn. Đặc biệt ở làng Thụy Lôi, là nơi thờ phụng Huyền Thiên Chân Vũ bên núi Võ Đương (núi Sái ở Đông Anh), có tục lệ hàng năm nuôi một con bò chăn cho béo tốt, đến ngày dùng để tế lễ đức Huyền Thiên. Truyền ngôn rằng: “khi xưa Ngài nằm ở đây trông thấy một con bò tinh. Ngài ước rằng được ăn thịt con bò ấy. Rồi sau khi Ngài hóa, con bò ấy cũng chết. Cho nên dân làng đều tế bằng bò. Dân làng phải lập cuộc giả vương giả tướng để lễ tạ Ngài, tức là thay mặt vua Thục để lễ tạ.” Việc nuôi bò để tế Huyền Thiên Chân Vũ là hình thức khuyến khích Đạo tòng thuận trong biểu tượng của con “Hoàng ngưu” (chi Sửu còn có hình tượng là con Bò vàng trong lịch pháp Trung Quốc).

Tượng Huyền Thiên Đại thánh ở đền Trấn Vũ tại làng Ngọc Trì, phường Thạch Bàn, quận Long Biên, Hà Nội.

Các nơi thờ Huyền Thiên Chân Vũ như ở Quán Thánh bên Hồ Tây, Huyền Thiên Cổ Quán ở phố Hàng Khoai, hay ở đền Trấn Vũ tại làng Ngọc Trì, Long Biên, đều thể hiện Ngài trong hình dáng to lớn, đang chống một thanh gươm có Rắn quấn quanh lên mình con Rùa. Những hình tượng này đều thống nhất với cách thờ đối với Thái Thượng Lão Quân như ở làng An Xá ở trên. Quy xà hợp hình thành linh vật Huyền vũ, đại diện của Bắc phương, sắc tím.

Huyền Thiên Lão Tử cầm tinh con Trâu, giảng Đại Đạo ở Thổ Hà, tiêu trừ dịch bệnh, đăng đàn nêu cao đạo tòng thuận ở núi Võ Đương, để lại cuốn Đạo Đức kinh làm bí quyết nỏ thần giúp An Dương Vương an định thành đô, trị bình thiên hạ. Mùa Xuân năm Tân Sửu 2021 bắt đầu. Xem lại chuyện xưa mà ngẫm trong xã hội ngày nay. Thế kỷ 21 này dịch bệnh lây lan, xã hội đầy những sự thái quá, phá bỏ quy luật tự nhiên, tất không khỏi phải gánh lấy hậu quả. Xin hãy cưỡi Trâu mà đi giữa đường đời để có được sắc tím huyền diệu của Đạo, giúp cho con người có cuộc sống yên bình dài lâu, hạnh phúc như các bậc thần tiên.

Câu đối đình Thổ Hà

Để nhớ đến đức Huyền Thiên Lão Tử, người đã khai mở con đường Đạo Đức cho nhân gian, xin ghi nhớ đôi câu đối ở chính điện tiền tế đình Thổ Hà:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo

Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.

Dịch nghĩa:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ thanh hư mở Đạo Giáo

Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền màu nhiệm tạo Thần Tiên.

MINH THI

SỰ KẾT HỢP KỲ DIỆU GIỮA SỰ THẦN VÀ PHẬT TRONG TRƯỜNG HỢP CHÙA YÊN PHÚ

Đình làng Yên Phú

Làng Yên Phú xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội có ngôi chùa khá đặc biệt, là nơi vị sư bà Phương Dung đi tu vào thời Hai Bà Trưng. Theo thần tích của làng thì bà Phương Dung khi đang tu hành ở chùa Yên Phú đã nhặt được 2 quả trứng bên sông Kim Ngưu, đem về đã nở ra 2 vị thủy thần mặt người thân cá, tên là Trung Vũ và Đài Liệu. Sau đó cả 3 mẹ con tham gia vào cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng. Thắng giặc, hai vị thần về nơi sinh dựng lại miếu đền và khi đó cảm hứng đọc một bài thơ:
Tự cổ đế vương ức triệu dân
Quy thần tất tự điến tinh thần
Thử truyền vị biện Chân tương Ảo
Hồi tưởng Sơn danh Phật tức Chân.

Tượng thần Đài Liệu ở Yên Phú

Trong lời của thần này đặc biệt có câu cuối: “Hồi tưởng Sơn danh Phật tức Chân” khá là khó hiểu. “Sơn danh” là gì mà khi nhớ đến lại biết “Phật là thật”?

Nhờ sự kết hợp thần tích ở Yên Phú với Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả thì câu thơ thần này đã được giải. Bản Nam Việt Hùng Thị sử ký ghi:

Xưa Tiền Hoàng đế Thánh tổ Cõi lớn trời Nam, Hùng Vương Sơn nguyên, đã gây dựng cơ đồ, thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Hùng Thị, mười tám đời thánh vương ngự trị Cõi lớn trời Nam, mở mang hùng đồ nước Việt, nước biếc một dòng, bắt đầu vận vua sáng đế thánh. Núi xanh vạn dặm, lập nền đô thành điện báu, mở vật giúp người, thống trị mười lăm bộ, giữ thế mạnh trước phiên thần, nối tiếp phát huy cõi đất lớn thành Viêm Hồng…”Nguyên văn chữ Nho là: Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế.

Tên gọi “Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ” cũng được ghi trong bức tranh gỗ sơn son thiếp vàng lưu ở đình Bình Đà mà đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Tên gọi này còn gặp trong nhiều các văn bản thần phả thần tích khác.

Cụm từ “Sơn Nguyên” trước nay chưa ai hiểu. Nay, khi nhận ra từ “Sơn” chính là chỉ các vị thánh tổ Hùng Vương thì cái tên này đúng phải đọc là:

Hùng Vương Sơn – Nguyên Thánh tổ

Cách gọi “Hùng Vương Sơn” cũng tương tự như “Tản Viên Sơn”, chỉ vị tổ Hùng Vương hay thánh Tản Viên. “Sơn” ở đây hoàn toàn không phải là quả núi như vẫn nghĩ.
Sơn triều chính là tên gọi của thời khởi đầu, giai đoạn thánh tổ Hùng Vương, bắt đầu từ “Nguyên thánh tổ” Đế Minh, qua 2 vị Viễn Sơn, Ất Sơn và kết thúc ở Tản Viên Sơn, để chuyển qua giai đoạn Kinh triều của Lạc Long Quân.

Hai vị thủy thần giáng sinh thời Hai Bà Trưng mà hồi tưởng lại thì chỉ có thể là về thời Hùng Vương. Ý của câu thơ cuối này cho biết: vào thời Hùng Vương thì đã có sự việc Phật giáng thế ở trời Nam.

Phật thời Hùng Vương. Tranh sứ Bảo tàng đền Hùng.

Thực vậy, Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả cho biết vua Hùng Vương thứ 7 khâm sùng thiên đạo, kính sự quỷ thần. Vua mới ngự ở điện Kính Thiên. Bên cạnh điện từ xưa có một ngôi chùa, nguyên là nơi khi xưa Thánh thượng của đất nước đời trước tu luyện thân tâm, thuốc thiêng diệu dụng, được phép thành tiên, hoá sinh bất diệt, giữa ban ngày bay lên trời. Dấu tích bắt đầu tại chùa này, nơi được các bộ chúng thần tiên giáng thế giúp đỡ. Núi sông chung đúc linh thiêng lạ đẹp. Nhật nguyệt tinh thần, Tứ đại Thiên vương, Bát bộ Kim cương, Nhị thập bát tú cùng trăm thần tụ hội, truyền trông nom tinh núi, tinh nước, sông ngòi biển núi, trăm thú đến chầu, tất cả đều quy về một mối. Xưa gọi là chùa Từ Sơn Cảnh Thừa Long (nay là Thiên Quang Hòa Thượng thiền tự).

Sau đó Hùng Huy Vương “nhất thành khả cách”, tại ngôi chùa thiêng này đã gặp một Lão ông nói:

– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây.

Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho Vua. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi. Vua mới biết đó là đức Phật trên trời giáng ngự.

Hùng Vương đã dùng 2 bảo bối mà Phật ban chế thành 2 bảo vật trấn quốc là Thiên Linh kiếm và Vương Linh ấn. Dấu vết của việc này chính là ngôi chùa trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh mang tên chùa Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng, là ngôi chùa còn tới nay cạnh đền Hạ trên núi Hùng.

Chùa Thiên Quang trên núi Nghĩa Lĩnh

Dịch nghĩa bài thơ thần ở chùa Yên Phú:

Từ cổ đế vương muôn triệu dân
Theo thần tất phải giữ tinh thần.
Sự truyền không dễ phân Chân, Ảo
Nhớ lại Sơn triều Phật chính Chân.