Sự tích Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương ở Vụ Bản, Nam Định

Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Hổ Sơn, tổng Hổ Sơn, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, ký hiệu TTTS006832.

Sự tích bách thần tôn phái trăm trứng triều Hùng Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn
Do bộ Lễ quốc triều quan Thượng thư vâng soạn. Chi Càn.

Xưa nước Việt ta trời Nam mở vận, thánh đế ứng đồ, nước Bắc ban đầu phong thẳng theo hướng sao Đẩu, sao Ngưu. Mãi giữ dòng dõi vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương, ngự vạn năm ở thánh điện núi Hùng. Trời Nam đất tổ. Hoàng triều nước nhà mãi tôn dòng dõi, lưu truyền hương khói vạn đời không ngừng.

Xét tích Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình Quân tên là Âu Cơ, lập làm chính cung, về ở đầu núi Nghĩa Lĩnh. Thấy có mây lành năm sắc bốn phương rực rỡ. Thế rồi bà có mang thai. Qua ba năm ba tháng bao mươi ngày bỗng thấy mùi hương thơm đầy phòng, khí lành bao phủ, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai. Đều là có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời, khí độ hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Nước lửa tương khắc, chủng loại không cùng, nên vì thể phải chia cách.

Chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, trấn ở các đầu sông góc biển. Chia 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, trấn yên các nơi đầu núi. Gọi là trăm vương, đều phong là quan Bộ chủ. Khi ấy Vua mới phong làm 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính châu, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở trang Hoằng Hóa huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên đạo Ái Châu có một quan Bộ chủ họ Hùng, tên là Tuệ công, lấy con gái vị quan địa phương ở châu tên là Nguyễn Thị Quế làm chính phu nhân. Quan Bộ chủ thông minh sáng trí, sức mạnh tài cao, võ nghệ tinh thông, có khí dũng trăm người khó địch. Vua bèn phong làm quan Bộ chủ đạo Sơn Nam Hạ. Khi ấy quan Bộ chủ mới lên xe nhàn du ngắm cảnh sông núi. Phàm là ở trời Nam phong cảnh không chỗ nào không tới. Một hôm Chủ quan đi đến trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng, thấy một mảnh đất có sông núi uốn quanh, rồng hổ ôm lấy, mọi bề đều quay chầu vào chính cục. Chủ quản bèn truyền nhân dân cùng quân sĩ xây dựng một du cung tại bên nơi dân, dựa hướng Càn hướng về hướng Tốn, giao phó cho Phu nhân ở đó, khuyến khích nhân dân lấy nghề nông tang làm gốc, mở mang tiện lợi, trừ bỏ điều hại. Công đức như núi cao bể rộng. Không ai là người dân mà không thể sinh sống, không vật nào bị bệnh mà không được chăm sóc. Trải qua khoảng mười năm, khi đó quan Bộ chủ tuổi đã ngoài 50, Phu nhân tuổi cũng hơn 40 mà điều lan quế chưa được ứng nghiệm. Một hôm Chủ quan cùng Phu nhân nói nhau rằng:

  • Ý trời chưa đạt, liệu có phải là do việc người còn thiếu khuyết. Chi bằng thử một lần đi tìm đền thiêng chùa phật mà cầu con nối dõi xem.

Nói xong, lại nghe tiếng ở đạo Hải Dương có chùa Yên Tử có nhiều linh ứng, nước cầu dân nguyện đều ứng. Ngay hôm đó ngày mồng 8 tháng Tư chuẩn bị trai giới đi đến núi Yên Tử, tự làm sớ cúng Phật. Mặt trời đã xuống núi, Chủ quan cùng Phu nhân bèn nằm ở bên phải trước án, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy trong điện rực sáng, ánh hào quang rực rõ. Thấy một tượng thân vàng ở bên trên nói rằng:

  • Một bên là tài vật, một bên là thanh đồng. Vợ chồng ông muốn lấy vật nào?

Trong mộng Chủ quan nhìn thấy thanh đồng rất tốt, trong lòng vui mừng, xin được lấy thanh đồng. Tượng thân vàng bèn trao cho Chủ quan. Quan để vào trong tay áo, biến ảo thành nhỏ sau một tiếng kêu. Lại nghe trên trời có một tiếng sấm lớn, vang đến bên tai. Ông mới tỉnh dậy, mới biết là Phật đã báo mộng như vậy.

Đến sáng ngày ông bà làm lễ bái tạ trước điện Phật rồi lên xe trở về nơi du sở (tức là trang Hổ Sơn tổng Hổ Sơn). Từ đó uyên ương chung gối, loan phượng thành bầy, nhạc chiêng chống cùng kêu vui, hứng đàn thơ hảo hợp. Phu nhân thế rồi có mang thai. Đến năm Bính [Ngọ] mùa hè ngày 24 tháng Sáu Phu nhân sinh được một người con trai, mặt giống như sắt, trên bụng có dòng chữ lớn rằng: “Hổ Sơn Thái Sơn Đại vương”. Đến năm lên ba tuổi Chủ quan mới đặt tên là Sơn Hổ, hiệu là Thái Sơn công. Ngày qua tháng lại tuổi đã lên 7, thân cao 7 thước, sức mạnh trăm cân, bèn cho nhập học với tiên sinh Trần Giản. Khi ấy ông học được 6 năm, văn chương quát triệt, võ nghệ tinh thông, có thể đọc xem thuyết của Khổng Mạnh, bốn khoa ba chuyện không nhường thao lược của Tôn Ngô. Ông đang khi đi học, Tiên sinh thường nói rằng:

  • Rất hay cho một nhà có phúc như vậy sinh được người con trai tốt. Ngày sau tất là người con làm rạng danh gia đình.

Khi ấy Chủ quan cùng Phu nhân bị cảm gió độc, trong thời gian ngắn cùng mất (tức là ngày mùng 10 tháng Mười). Ông khóc lóc động trời nhưng tình thế không thể thay đổi. Ông chọn ngày tốt, chọn quan tài lớn để an táng, mổ trâu, làm lễ chôn cất. Ba năm chịu tang phụng thờ theo nghi lễ. 49 ngày đến tuần chịu tang tận báo đức cù lao.

Khi đó Hùng Huy Vương đang ở ngôi, đóng đô tại sông Bạch Hạc Việt Trì, mới lệnh cho sứ thần gọi ông vào triều, liền bái phong là quan huyện Thiên Bản, ban cho họ tộc Hoàng, nối chức của thân phụ. Ngay hôm đó ông làm lễ bái tạ trước bệ, dẫn lính trở về huyện Thiên Bản nhận chức. Qua 10 năm sau nước nhà có giặc Ân phương Bắc là Thạch Linh Thần tướng khởi binh đạo Bắc, đem sáu vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời. Bỗng thấy quan địa phương báo gấp, một ngày tới 5 lần. Hùng Huy Vương vô cùng lo lắng, ngay hôm đó truyền trăm quan văn võ đến triều bàn việc chống giặc. Hôm ấy Vua truyền dựng một tế đàn cầu đảo bách thần trời đất. Đến ba ngày sau bỗng thấy mưa gió nổi lên, thấy một ông lão cao hơn 9 thước, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người thấy vậy bèn vào tâu lên Vua. Vua nghe vậy cho là sự lạ. Vua thân ra bái chào, đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc Ân quân phương Bắc đến cướp nước đã tới gần.

Ông lão chần chừ hồi lâu, bấm tay vận đoán, lập một quẻ rồi nói với Vua rằng:

  • Nếu cầu được người thì giặc Ân không lâu sẽ dẹp yên.

Nói xong ông lão bay lên không mà đi. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện về báo cho việc này. Ngay hôm đó bèn lệnh cho Xá nhân đi tìm mộ người, đi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh, có một gia đình phú ông tên là Liên công, sinh được một người con trai, tuổi đã lên ba, ăn uống to lớn, không biết nói cười. Một hôm Xá nhân đi cầu mộ đến nơi. Bà mẹ nghe Xá nhân đến, đùa nói rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để có chức tước của triều đình, để báo ơn sâu nuôi mớm.

Đứa trẻ nghe thấy mẹ nói vậy, bỗng nhiên mở miệng rằng:

  • Mẹ mời sứ giả đến đây.

Thần Vương liền nói với sứ giả  rằng:

  • Mau trở về báo với Vua, đúc thành ngựa sắt cao 18 thước, roi sắt dài 10 trượng đem đến. Việc quân nhung Vua không cần lo lắng nữa.

Ngay hôm đó sứ giả nhanh chóng trở về tâu với Vua. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn lệnh cho thơ đúc thành ngựa sắt, roi sắt, đem đến giao cho Thần Vương. Lại lệnh cho 50 bộ Sơn thần, tên là Hổ Sơn Hoàng tộc Đại tướng quân theo cùng với Thiết Xung Thần Vương dẹp giặc

Lại nói, nhân dân trên đời đến dâng rượu và cỗ mang đến. Thần Vương ăn một lúc hết cỗ, đứng thẳng người lên. Bỗng nhiên thân thể dài ra 16 thước. Nhảy lên cưỡi ngựa. Ngựa chạy như bay thẳng đến trước điện nhà vua bái yết, rồi tiến thẳng đến dưới chân núi Chu Sơn quân Vũ Ninh. Ngựa miệng phun lửa, thiêu cháy hết quân Ân. Trận đó Hổ Sơn Đại tướng quân múa long đao chém được Thạch Linh Thần tướng cùng với quân sĩ hơn 500 đầu. Khí giới vứt chất như núi. Một xe không quay được, một ngựa cũng không thoát. Giặc Ân thua to chạy toán loạn. Còn lại dư đảng chạy về nước Bắc. Khi ấy Thần Vương trở về đến tranng tổng Phù Xá huyện Kim Hoa lên núi Sóc Sơn cưỡi ngựa xông lên trời mây mà đi. Vua bèn bao phong làm Xung Thiên Phù Đổng Thiên Vương Thượng đẳng Phúc thần, có tích riêng.

Còn Hổ Sơn Đại tướng quân dẫn binh mã trở về triều bái Vua. Vua rất vui mừng bèn truyền trăm quan mổ trâu mở tiệc mừng, phong thêm các tướng sĩ công thần lớn nhỏ, việc bao phong các vị này có tích riêng.

Phong thêm là Hổ Sơn Lân hầu Hoàng tộc Đại vương. Thăng chức trị nhậm đạo Ái Châu, được ngoài mười năm. Từ đó đất nước thanh bình, trong phủ vô sự, vạn dân được no đủ, vui vẻ hát ca. Bốn biển đều một cảnh tượng thái bình. Ông đi du chơi bốn bể, trải xem núi sông. Hễ chỗ nào có danh sơn thắng cảnh ông đều đến nơi. Hoặc đàn sáo reo vui, thơ sách đối đáp đất trời, phượng hát loan ca, thanh sắc du dưa, tình tang bồng theo cảnh tam diệp, gió trăng năm hồ câu cá in dấu tiên, truy tìm cảnh hội sương khói, vạn nhà xe mây trở bước, nước xanh non cao, thánh Nam thần Bắc quanh năm cùng đất trời, ra vào phong cảnh trời Nam.

Khi ấy ông Hổ Sơn  đi đến đạo Hoan Châu, bèn lên dãy núi tên là Thái Công [Sơn] Hùng Lĩnh. Ông ngồi trên một chiếc bàn đá. Rồi thấy trời đất mù mịt, mư gió kéo đến. Bốn vật linh đều xuống thẳng đến chầu nơi ông. Lại thấy trăm thí đều chầu hai bên. Ông không bệnh mà tự hóa (tức là ngày mồng 6 tháng Hai). Được một lúc mưa gió tự yên, trời đất quang tạnh lại thì thấy mối gỗ xây thành một mộ lớn. Ngay hôm đó nhân dân ở nơi hóa cùng với nhân dân trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản theo ông Hổ Sơn thấy ông đã hóa lấy làm sự lạ, trở về báo cho phụ lão nhân dân, xây sửa chốn miếu ở nơi cung cũ, lại làm biểu dâng tấu lên Vua. Vua nghe vậy rất thương xót vị đại thần, truyền quan đến nới hóa dựng đền chính ở trang Thái Sơn, lệnh cho nhân dân thờ.

Lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ trở về trang Hổ Sơn tu sửa đền, lệnh cho nhân dân làm làng hộ nhi phụng thờ. Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương.

Lại nói, từ sau khi hóa, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, có nhiều anh linh hiển ứng nên trải các đời đế vương Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê có bao phong mỹ tự Thượng đẳng Phúc thần, hưởng lễ vạn đời, hương khói không ngừng. Cho phép xã Hổ Sơn tổng Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng thờ.

Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Anh uy Tế huệ An trấn Hoàng tộc Đại vương.

Vâng khai các chữ húy cấm: Hổ Sơn, Thái Sơn các chữ nhất thiết cấm.

Các màu đỏ, màu vàng nếu nhân dân khi làm lễ không được mặc.

Ngày sinh thần của Đại vương là ngày 24 tháng Sáu. Chính lệ lễ dùng lễ tam sinh, rượu vàng, bánh dày, ca hát cho đến ngày 15 tháng bảy thì ngừng.

Ngày hóa thần của Đại vương là ngày mồng 8 tháng Hai. Chính lệ dùng lễ lợn đen, làm lễ, đánh cờ 3 ngày thì ngừng.

Ngày phong sắc là mồng 10 tháng Giêng. Lễ dùng tam sinh, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày lệ Khánh hạ  là mồng 10 tháng Mười. Lễ dùng trâu đen, bánh dày.

Hoàng triều niên hiệu Hồng Đức đầu xuân ngày tốt Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 13 ngày mùng 6 tháng Ba Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền vâng chép.

Thần tích đền Quốc tướng ở làng Mẫn Xá, Yên Phong, Bắc Ninh

Bản dịch đăng trong sách Đình, đền tướng quốc “Quốc tướng linh từ” làng Mẫn Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, 2016.

Ngọc phả cổ về sự tích Vạn Hộ Đại vương và Lưu Thủ Đại vương anh em sinh ra từ một bọc nhà họ Trương là công thần triều vua Hùng Huy Vương họ Việt Thường
Bản chính của bộ Lễ quốc triều, bộ thứ 6, chi Ly, Nhân thần thượng đẳng

Nước Việt ta xưa, trời Nam mở vận, các bậc Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn 2000 năm, các vua Hùng dựng đặt tên hiệu gọi là tổ của Bách Việt. Các nhà Nho sau này có bài thơ ca ngợi rằng:
Thuở mới đầu nước Nam Việt từ vua Kinh Dương Vương
Thống nhất non sông được 18 đời vua
Trải trăm đời đế vương, ngàn xưa vẫn còn đó
Hơn 2000 năm rồi, hàng trăm năm hương khói.

Dịch thờ:
Khởi đầu Nam Việt tự Dương Vương
Mười tám vua Hùng một núi sông
Ngàn xưa còn đó, trăm đời đế
Hai nghìn năm lẻ mãi thơm hương.

Lại nói vào đời thứ 6 triều Kinh Dương Vương, thời gian ấy vua Hùng Huy Vương trị nước, đóng đô ở bên sông Bạch Hạc Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang, định quốc đô ở thành Phong Châu. Hùng Vương là ông vua nhân từ rộng lượng, chuyên lấy việc dưỡng dân làm gốc, rất yêu thích các vị thần tiên có thuật lạ. Đời lúc bấy giờ đều khen là bậc vua hiền.

Lại nói vào thuở ấy dân gian trong nước truyền rằng ở vùng đất trang Nham Lệnh huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có một người trưởng giả tài đức họ Trương tên húy là Thọ, lấy vợ là người trong trang là Hàn Thị Cúc. Ông họ Trương làm nghề thầy thuốc gia truyền, từng 5 đời làm lương y. Một nhà phúc hậu giàu có dư giả. Vợ chồng một lòng tích góp làm việc thiện, chỉ có điều tuổi đã cao mà điềm lành về đường con cháu chưa thấy ứng hiện. Khi ấy ông Trương đã hơn 50 tuổi, bà cũng đã hơn 40 tuổi mà vẫn chưa có dấu hiệu có con. Ông Trương nghĩ sâu xa đến công đức của tổ tông, ngày sau thờ phụng biết cậy nhờ ai? Năm tháng cứ trôi nhanh chẳng thể đợi chờ. Một hôm ông than thở với bà rằng:

  • Con người ta sống ở trên đời chưa thấy ai được hoàn toàn vui sướng, vì thế mà lòng tôi lo buồn nên râu tóc bạc trắng, người ta sinh ở trên đời có 3 điều thì có con là điều lớn nhất. Vả lại tôi nghe nhà ta nối đời làm nghề y, chỉ một niềm khắc sâu trong lòng là tích góp làm việc, dốc hết sức làm điều nhân. Nay còn kém mà lòng trời chưa thấu đến cũng chẳng biết nữa. Chẳng bằng thành tâm cầu đảo, tận lực tìm thày xem đất để tu sửa phần mộ và nhà cửa. Hai việc ấy là cốt yếu hàng đầu, không bỏ quan được.

Nói xong, ông mới chọn ngày, dựng một đàn chay ở trước sân nhà làm lễ bái trời đất bách thần cầu con ba ngày. Làm lễ cầu xong, đêm hôm ấy ông mới vừa mơ màng chợp mắt, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, mũ áo tề chỉnh, đường hoàng đi thẳng vào lấy tay vẫy gọi ông dậy. Ông bèn đi theo sau cụ già. Cụ già trèo lên núi Hồng Lĩnh, ở bên cạnh có một huyệt đất giống hình cái nồi, phía trước có hình hai con cá chầu vào, mặt nước trong xanh. Hai bên trái phải có hình sư tử đá voi đá. Cụ già chỉ vào giữa huyệt đất bảo với ông rằng:

  • Huyệt đất ở trong giữa nồi, trời đã ban cho người, ắt sẽ có hai người tài năng cùng xuất hiện, có thể giữ nước giúp dân. Hãy kính cẩn, kính cẩn, chớ để lộ.

Nói xong ông già bỗng nhiên biến mất. Ông bừng tỉnh mới hay là mình vẫn nằm mơ. Nhưng ông vẫn có cảm nghĩ trong lòng rằng mình thành tâm thì tất là do trời đưa thần nhân xuống báo mộng. Trong lòng rất cảm động. Ngay hôm ấy ông tìm đến núi Hồng Lĩnh, quả nhiên thấy hình thế phong cảnh giống hệt như đã thấy trong mơ, trong lòng vô cùng vui sướng. Ông bèn trở về nhà đem hài cốt của cha lên táng vào chính giữa huyệt. Lúc đang chôn cất trên núi thấy tiếng ầm ầm như sấm sét, mây mù che phủ mờ mọt, mọi người đều kinh sợ. Sau khi làm lễ mai táng xong, ngay hôm ấy ông trở về nhà. Ba ngày sau lại mộng thấy cụ già lần trước tay bê hai cây tùng đặt trong một cái tráp trao cho ông, ông nhận lấy. Cụ già lại giúp ông và đọc bài thơ rằng:

Song tùng tương hứa nhữ Trương gia
Phúc lưu trường cửu phối sơn hà
Hoàng thiên ứng hứa song tài giáng
Nhữ phúc lưu hề bách thế ca.

Nghĩa là:
Ta đem cho nhà họ Trương hai cây tùng
Phúc lộc sẽ trường tồn mãi mãi cùng với núi sông
Ngọc Hoàng đã chấp thuận hứa cho hai người tài giởi giáng xuống trần thế
Nhà ngươi được ban phúc hãy giữ lấy, muôn đời sẽ được ca tụng (công đức).

Dịch thơ:
Đôi tùng ta hứa tặng Trương gia
Phúc lớn trường tồn với sơn hà
Trời cao giáng xuống hai người giỏi
Phúc giữ trăm đời mãi ngợi ca.

Ông nghe đọc xong bài thơ bỗng bừng tỉnh dậy mới biết là mình vừa nằm mơ, nhưng vẫn cảm tưởng giấc mơ báo điềm lành cho nhà mình. Từ đấy quả nhiên bà có thai. Đến ngày 10 tháng 3 năm Đinh Mùi, bỗng nhiên khi ấy trời đất tối sầm. Cụ bà đẻ ra một bọc, sinh đôi con trai, hình dung tướng mạo khôi ngô, thân hình cao lớn, vẻ lẫm liệt thần uy khác với người thường.

Một trăm ngày sau, đặt tên cho người anh là ông Chiêu, người em là ông Tuấn. Đấy là tên cha mẹ đặt cho. Đến năm lên 6 tuổi, cụ bà mất (tức ngày 18 tháng 10). Ông Trương bèn làm lễ an táng. Năm con lên tám tuổi, ông Trương thầm nghĩ, thân mình đơn chiếc, tóc thì đã bạc, con còn ấu thơ nhỏ bé không có người giúp việc nội trợ. Ông bèn lấy con gái một nhà danh gia họ Phạm. Bốn năm sau sinh được một trai, một gái. Người vợ bé là người tính rất điêu ngoa, lại có lòng ghen ghét đố kỵ, bức bách nghiệt ngã với con riêng của chồng, tình cảnh không thể nói hết. Thanh ôi đạo trời khiến ra như thế, bậc trượng phu quân tử gặp nhiều khó khăn khắc trở là sự thường. Thời gian ấy hai ông đã 13 tuổi, thiên bẩm anh tài, cực kỳ thông minh, trí tuệ, lại là người chính trực, cương cường, nhân tâm trong ấp đều nể sợ. Vì là bậc anh hùng chí khí, đều có nhiều thuật lạ, mưu kỳ. Người dì ghẻ thấy hai ông khí khái khác người, lại càng đố kỵ thêm, muốn mưu hại hai ông để thu lấy cơ nghiệp cho mình và con. Năm ấy vào ngày 12 tháng 9 ông Trương tạ thế. Người dì cùng hai ông làm lễ mai táng. Làm tang lễ an táng xong chưa đầy 100 ngày, người dì manh tâm bàn bạc với những người thân trong họ ngoại mưu hại hai ông, để chiếm cơ nghiệp cho con mình. Hai ông biết ý, từ đấy, không nằm ngủ ở trong nhà. Nửa đêm hai ông mỗi người cầm một cây gậy tre dài nằm phục ở ngoài nhà. Đêm ấy, những người họ ngoại của người dì độ mươi người kéo đến. Hai ông trông ra đúng bọn người ấy, bèn nhẩy vọt ra phóng gậy tre đánh giết. Sau khi giết chết đám người ấy, hai ông bèn trốn đi. Trong thời gian trốn tránh hai ông hay tin có người chú họ, sinh sống lưu trú nương nhờ quê vợ ở trang Mẫn Xá huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc. Hai ông bèn tìm đến. Trong thời gian hai ông còn trên đường đi đến Mẫn Xá, mới được nửa đường, thì cũng vào thời gian này dân trang Mẫn Xá ban đêm mơ thấy có hai vị quan nhân cùng binh sĩ tiến thẳng vào trang. Hai vị quan dừng quân trú lại ngồi nghỉ ở quán sở (thời kỳ ấy trang Mẫn Xá có một ngôi quán lợp cỏ ở giữa trang ấp) truyền hô triệu người. Nhân dân đều ra, có đủ các họ (khi ấy ở Mẫn Xá có các họ Nguyễn, Phạm, Vũ, Lê, Trần, Đặng, Lý, Dương, Đỗ, Hà) đều ra bái kiến. Hai vị quan hình dáng tướng mạo khôi kỳ, tuổi còn niên thiếu. Nhân dân bèn làm lễ, bái mừng và hỏi rằng:

  • Dám xin hỏi tên họ và phẩm tước của hai vị quan đây và đến trang dân Mẫn Xá có việc gì sai bảo?

Hai ông đáp:

  • Chúng ta phụng mệnh Tào quan ở Thiên đình, người họ Trương, vì nghe biết người chú họ lấy vợ và ở lại quê của dân trang, vì thế mới đến thăm người chú.

Nhân dân nghe xong bèn dẫn hai vị quan đến nhà họ Trương (tức người chú họ của hai ông có tên là ông Trạch lấy vợ người trang Mẫn Xá tên là Thị Thủy). Nhân dân tỉnh dậy mới biết là mộng báo. Đến ngày hôm sau nhân dân tụ họp ở ngôi quán cỏ đều nói chuyện nằm mơ, mọi người trong các họ đều nói là cũng mơ thấy như thế. Mọi người cho là sự việc kỳ lạ. Đến đêm hôm ấy nhân dân lại mơ thấy âm hồn gia tiên cha mẹ của các họ cùng báo rằng:

  • Ngày mai có hai vị chúa tể Thiên đình đến ở với dân ta. Cần nhanh chóng dựng một doanh cung ở bên cạnh đường đầu trang, truyền quét dọn đường xá và các nơi dân cư.

Nhân dân chợt nghe các âm hồn đại hội, bỗng nhiên tỉnh dậy. Sáng ngày hôm sau lại tụ họp báo về giấc mộng. Lại thấy hơn trăm con chim thước quần tụ thành đàn bay đến đậu đầy vùng đất của trang ấp Mẫn Xá. Dân trang không thể đếm được số lượng chim, mọi người rất kinh ngạc. Dân trang bèn lập một đàn tế ở quán sở làm lễ cầu an tống tiễn, chỉ trong chốc lát bầy chim thước lại tự bay đi, đồng thời thấy hai ông đi đến quán. Nhân dân đang tập trung làm lễ, lại thấy hai ông hỏi ông họ Trương lấy vợ người trong ấp không rõ nhà ở xứ nào. Nhân dân (tức trang Mẫn Xá) thấy hai ông thân hình mặt mũi y như hai vị quan, thầm nghĩ lấy làm kỳ lạ mới hỏi rằng:

  • Hai ông đây với nhà ông họ Trương quan hệ thân thuộc như thế nào mà tự báo nhân dân vào lúc này?

Hai ông đáp:

  • Nhà họ Trương vốn là chú họ, lấy vợ người ấp ta. Nay anh em tôi tìm đến nhờ vả người chú.

Nhân dân Mẫn Xá nghe lời giải thích, cho là đã ứng đúng như trong mộng, mới tôn kính cùng nhau hướng dẫn vào nhà ông Trương. Ông Trương thấy hai ông đi đến thì rất mừng nói:

  • Ta từ khi lấy vợ sinh sống ở ấp này đã lâu rồi. Đêm hôm trước bỗng mơ thấy hai người cháu cùng quân sĩ đi đến. Nay quả nhiên đúng thực như vậy, việc này chắc do trời định vậy?

Nhân dân nghe chuyện rất tin sợ.
Lại nói từ đấy ông Chiêu và ông Tuấn, hai anh em ở lại nương nhờ ông chú họ Trương. Tình tuy là chú cháu nhưng thân yêu như tình cha con, rất là quý trọng. Nhân dân trong trang ấp, đã thấy điềm lành chim thước và giấc mơ báo ứng, tất cả đều tôn kính, không dám coi thường. Hai ông vốn là thiên tài giáng thế, tư chất là bậc thánh, sinh ở trần gian, vốn rất thông minh trí dũng, tình cảm tuy là những người lưu lạc, nhưng mà khí độ vượt hẳn người thường, không dưới một ai. Hai ông ở lại đất này (tức trang Mẫn Xá) được một hai năm thì thiên hạ gặp thiên tai, hạn hán. Lúa mạ trồng cấy bị cháy khô, bệnh dịch lở ngứa khá nhiều. Trang Mẫn Xá bị nặng nhất trong quận huyện. Khi ấy nhân dân trang Mẫn Xá lập đàn cầu mưa, làm lễ cầu an, đến ba bốn lần không có kết quả. Mấy tháng sau nhân dân nhiều người bị ốm đau lại thêm tai hạn, đói khát, nhân dân hết sức lo lắng. Sau đó lại lập đàn làm lễ. Làm lễ xong đêm ấy nhân dân đều mơ thấy một cụ già râu tíc bạc phơ, đi theo sau là các âm hồn gia tiên của các họ có đến hơn ba bốn trăm người. Cụ già cùng các âm hồn đi theo trước hết vào nhà ông Trương. Nhân dân đi theo sau quan sát. Nhân dân nhìn thấy đều là các vị qua nhân, cùng ngồi, hai ông ngồi ở hai bên trái và bên phải, có quân sĩ đứng hầu. Lại nghe thấy hai ông hỏi cụ già:

  • Cụ là ai có việc gì mà đến đây?

Cụ già đáp:

  • Thần là quan bản thổ ở đất Mẫn Xá, nay nhân dân bị thiên tai hạn hán lại bị thêm bệnh ôn và lở ngứa, nay có hai vị chủ quan, quyền cai quản dân chúng, nay xin hai vị quan cứu giúp trị bệnh cho dân được yên lành.

Nghe nói xong mọi người ai nấy làm lễ, đương khi ấy lại thấy các âm hồn cùng bái lễ. Nhân dân đều bừng tỉnh dậy khi ấy trời đã sáng. Họ Nguyễn theo mộng bèn ra quán ở trước tiên, tập họp cùng nhân dân các họ và các vị chức sắc trong làng, mọi người nói đều mơ như thế. Các họ cũng mơ như vậy. Mọi người đều nói nguyên do như nhau. Nhân dân trong Mẫn Xá thấy sự việc trong mơ quả nhiên là như thế lấy làm kinh sợ. Ngay ngày hôm ấy (tức là ngày 12 tháng 8) nhân dân sắm sửa lễ vật cùng nhau đến nhà ông Trương làm lễ nhận làm thần dân. Khi ấy hai ông mới hỏi, nhân dân đáp:

  • Hai anh em vốn là khách phương xã đến, ăn ở tại nhà người chú, nương nhờ vào đất của dân chúng tôi, nếu có tài năng gì, cứu giúp dân trong tai hạn này, dân sẽ làm lễ tôn nhượn làm thần.

Khi ấy nhân dân kể lại đầy đủ rõ ràng sự việc thấy trong mơ như thế, dám xin hai vị cứu giúp, cho dân được sinh sống lập nghiệp qua khởi nạn đói khát, tất cả đều trông đợi hậu phúc của hai vị. Hai ông nghe sự việc, trong lòng còn do dự chưa quyết bèn bảo với nhân dân rằng:

  • Sự việc này xảy ra là do đạo trời báo ứng, như mọi người quả là đã thấy rõ ràng. Trong lòng chúng tôi còn phân vân vì thế chưa dám quyết. Dân làng lại nhờ cậy chúng tôi, mà chịu làm bề tôi chúng tôi sao dám nhận? Nếu như quả đúng như như lời cam kết thi ngay ngày hôm nay chúng tôi lập đàn trai giới, dân chúng đều cùng tập trung làm lễ. Anh em chúng tôi sẽ cáo với trời đất. Nếu quả đúng là anh em chúng tôi được thừa mệnh trời, cho quyền cai quản dân ở vùng đất này, nguyện xin báo mộng cho chúng tôi biết. Chúng tôi sẽ nhận dân chúng làm thần tử.

Nhân dân nghe lời mới sắm sửa thức chay, lập một đàn tế tại trước sân nhà của người chú họ của hai ông. Đêm hôm ấy hai ông vào đàn làm lễ, khấn xong, bèn nằm chờ báo mông ở bên đàn. Đến chừng quá nửa đêm, hai ông mơ màng ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên thấy một vị đại tướng từ trên trời giáng thẳng xuống, đầu đội mũ rồng, phượng sáng lấp lánh, dõng dạc truyền rằng:

  • Ta vốn là sứ giả của Thiên đình sai xuống, vâng mệnh Hoàng thiên giao cho một đạo sắc “long chương” cho phép hai người mở ra xem.

Hai ông bèn vâng mệnh bái nhận, mở ra xem thấy trong đề 4 câu thơ như sau:
Lưỡng khanh sắc phó phụ Dương quân
Quyền chưởng sơn hà bá liệt huân
Họa phúc nhân dân quyền tại chủ
Khuông phù xã tắc chưởng ư dân.

Nghĩa là:
Hai người được sắc ban cho phụ giúp vua Dương vương,
Quyền cai quản núi sông và gây dựng nên công lao
Họa, phúc của dân là do các người nắm giữ,
Hãy giúp nước và bảo vệ nhân dân.

Dịch thơ:
Ban sắc hai khanh giúp thánh quân
Núi sông cai quản lập công huân
Dân gian họa, phúc hai khanh quyết
Sao cho nước mạnh với an dân.

Hai ông đọc xong bỗng tỉnh dậy, biết là quả đúng như mộng báo [cho dân], bèn mới báo cho dân nhận dân làm thần tử. Thế là truyền nhân dân lập đàn cầu mưa và cầu an. Trời bỗng nhiên mưa xuống, lúa màu tươi tốt trở lại, ruộng ao đầy nước. Những người bị bệnh lở ngứa đều khỏi. Nhân dân từ đấy mừng vui cười cười nói nói cùng bảo:

  • Ngày nay dân ta được trời giáng xuống hai vị thánh cứu giúp, không phải lo gì nữa.

Khi ấy viên huyện lệnh huyện Đông Ngàn nghe biết có hai vị thần tài giỏi cứu giúp dân được yên ổn, cầu mưa mưa xuống hết sức kỳ lạ, bèn làm biểu tâu lên vua và triều đình. Vua được tin bèn sai đình thần đem xe đến triệu hai ông về triều để vua cho thi tài và trao chức vụ. Thời gian này, sứ thần vâng mệnh đến nơi hai ông trú ngụ (tức nhà ông chú Trương trang Mẫn Xá) triệu hai ông về triều. Hai ông nghe lệnh bèn nhận lệnh theo sứ thần về triều, vào điện làm lễ bái kiến dưới thềm. Khi ấy hai ông mới vừa 18 tuổi, cả hai đều thân cao 10 thước. Nhà vua xem xét hình thể, tướng mạo khôi ngô lạ kỳ bèn thử hỏi tài năng. Hai ông tâu đối trả lời lưu loát, tinh thông văn võ, không điều gì là không biết. Vua cho là rất xứng đáng, ban chỉ truyền phong ông Chiêu làm Tham nghị triều chính, ông Tuấn làm Thái học sĩ vương. Lại chuẩn y cho trang Mẫn Xá là ấp hộ nhi sở tại. Từ đấy dân phong thịnh vượng, ấp trang giàu có no đủ, tất cả từ người đến vật đều được sống yên vui, lương binh được miễn, nhà cửa khang trang, ruộng vườn rộng rãi, đều cũng nhờ ơn đức to lớn của hai ông.

Một hôm hai ông xin vua cho về quê cũ thăm viếng gia tiên. Vua hứa cho, lại ban cho vàng bạc, gấm vóc các thứ đến hơn nghìn cân. Hai ông từ tạ trước thêm lên xe tiến quân đi thẳng về quê Ái Châu. Ngay hôm về đến quê, làm lễ bái yết gia tiên cha mẹ. Nhân dân cử hàng lễ đón mừng. Hai ông mở tiệc lớn, tu sửa nhà thờ, dừng binh ở lại chừng và mươi ngày. Việc xong, hai ông lại cất quân lên xe trở về thăm người chú họ, thăm thú tình hình đất gia thần (tức trang Mẫn Xá). Hôm ấy (tức ngày 10 tháng 3) dân làm lễ đón mừng. Hai ông truyền làm lễ bái yết vợ chồng ông chú họ. Mọi việc xong, hai ông nhân rảnh rỗi đi xem xét địa thế dân cư để dựng lại cung sở, để sau này có thời gian về tụ họp vui chơi yến ẩm, và lưu binh ở lại. Hai ông xem xét địa thế dân cư đều là mảnh đất hình rồng, phượng ôm ấp, rùa rắn bao quanh. Phía Tây Nam có gò hình sao Mộc phù giúp. Phía Đông Bắc có sao Thất Diệu chầu về. Tức là có ba sao cùng chiếu, phía sau có ao nước. Phía trước có một huyệt đất hình cái nồi khai mở. Thật là chín mặt có bãi rồng lại có ngòi nước chảy từ xa bên ngoài ấp. Một dải sông Thiên Đức chảy vòng xa bên cạnh ngoài địa giớ, đều chầu về và đối ứng. Hai ông bèn dựng cung Hội đồng và đóng quân thường trú ở đó. Năm tháng đi về làm năm yến ẩm du chơi. Ở phía bên cạnh địa giới, phía trước trang ấp, trên đó có thế đất rồng uốn quanh, phía trước lại có vùng nước hình cái nồi mở ra có hai dòng nước giao nhau. Phía sau có sao Kim mang hỏa. Phía trước có sao Mộc án ngữ phù trợ. Tựa hướng Đông Đông Bắc, nhìn hướng Tây Tây Nam. Hai bên trái phải như có hai cánh cửa đóng mở đều cùng ôm quanh và chầu về đất ấy. Hai ông truyền dựng cung sở. Khi hoàn thành, mở tiệc mừng, cho mời các cụ già và nhân giân các họ cùng đến ăn tiệc mừng. Trong khi yến tiệc vui vẻ ông Chiêu nói với nhân dân rằng:

  • Nay đã kết thành tình thày trò và đại nghĩa vua tôi, việc này là do trời định, không phải di ta mong ước, cũng như chẳng phải do dân cầu mong. Hơn nữa anh em tôi từ khi sinh ra đã biết mệnh trời, sức khỏe có thể nhấc đỉnh, bạt núi, tài năng vượt hẳn người thường. Ắt là núi sông không phụ anh em chúng tôi, quả nhiên được dự vào hàng quan chức của triều đình, thật là như ý mà dân tình cũng được nhờ cậy. Nay ta hưởng ơn đức của vua dồi dào, lộc nước cũng nhiều, nên ban tặng cho dân 10 nén vàng để làm vốn chung, mua thêm ao ruộng, lưu lại về sau. Đạo do trời định. Nghĩa vua tôi, không thể mua danh để đời sau tôn thờ được, chớ có cho là khác thường.

Nhân dân nghe thấy lời nói, bèn làm lễ hết lo sợ và nhận lễ. Yến tiệc xong, ông Chiêu mới làm bài thơ rằng:
Thiên địa sinh lai hữu thử thân
Tiên tri bẩm mệnh việt hồ nhân
Nam thiên đáo xứ giai thần tử
Phi thị hữu duy Mẫn Xá dân.

Nghĩa là:
Có thân ta là do trời đất sinh ra,
Biết trước rằng bẩm sinh tài đức vượt hẳn người thường.
Dưới trời nước Nam, nơi nào cũng là tôi con của ta
Không chỉ có duy nhất dân trang Mẫn Xá mà thôi.

Dịch thơ:
Trời đất sinh ra mới có thân,
Trước hay tài đức vượt thường nhân
Trời Nam khắp chốn đền che chở
Chẳng riêng Mẫn Xá mới ban ân.

Ông Tuấn họa lại bài thơ rằng:
Càn khôn tú khí tự thành thân,
Tại thượng nhân hề bất hạ nhân.
Phối dữ sơn hà danh bất tử
Phù chi ư quốc bảo ư dân.

Nghĩa là:
Khí thiêng của trời đất chung đúc nên thân ta
Nên ở trên tất cả mọi người thường
Tên tuổi chúng ta bất tử cùng sông núi
Luôn luôn giúp nước và bảo vệ dân.

Dịch thơ:
Khí thiêng trời đất đúc nên thân
Vượt trên tất cả đấng thường nhân
Tên tuổi núi sông lưu bất tử,
Giúp dân cứu nước mãi thi ân.

Hai ông làm thơ yến tiệc xong bèn lên xe đem quân về triều, làm lễ bái yết vua. Vua lại phong cho ông Chiêu là Thái bảo Đại tướng quân, ông Tuấn làm Tham tri bộ Binh. Thời gian ấy trời lại ra tai ương gây hạn hán. Vua sai ông Chiêu đi tuần sát tình hình trong thiên hạ và cầu trời mưa. Ông vâng mệnh cất quân đi tuần sát thiên hạ. Được chừng một năm ông tiến quân đến vùng đất nào, truyền vùng đất ấy dựng đàn cầu mưa, tất cả đều thấy mưa xuống trút nước, ruộng ao đầy nước, lúa màu hồi sinh xanh tốt. Thiên hạ tất cả đều nhở vào công đức của ông, dân được no đủ yên vui. Các nơi nhân dân đều làm biểu tâu về triều. Vua nghe tin rất mừng bèn triệu ông về triều. Ông Chiêu vâng lệnh về triều, làm lễ bái tạ. Vua mở tiệc mừng và phong thưởng. Lại phong cho ông làm Vạn hộ hầu. Từ đấy vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh bình, không phải lo đến các việc như đói kém bệnh tật.

Lại nói triều Nội Minh có viên đại tướng giặc người nước Hàn tên là giặc Lân, làm loạn có đến trăm vạn quân tinh nhuệ. Nội Minh thế khó chống cự được, bèn cầu viện nước Nam giúp đánh giặc Hàn. Khi ấy vua bèn sai ông Tuấn, phong làm Thái thú lĩnh 20 vạn quân giúp Nội Minh trợ chiến. Ông Tuấn vâng mệnh trước sân đình làm lễ bái tạ, từ biệt nhà vua, đem quân đến giúp Nội Minh cùng Nội Minh chống cự với giặc Hàn. Ba năm đóng quân lưu trú ở hai đất Quảng Đông, Quảng Tây phòng thủ vững chắc cự chiến với quân giặc Hàn. Về sau dẹp được giặc Hàn, vua và triều đình Nội Minh (Vua Hùng là con của Đế Nghi, em của Đế Minh, chia cho Kinh Dương Vương lúc đầu ở Nam Man xưng hiệu là họ Hùng. Người anh là Đế Minh trị vì nước Nội Minh – đều là anh em) thấy ông Tuấn là bậc anh tài thu được đất Lưỡng Quảng (tức Quảng Đông, Quảng Tây), cho trở về đất Nam Man phong ông Tuấn làm Lưu thủ Nội Minh Đại vương, trấn thủ Lưỡng Quảng.

Ba năm sau, khi ấy Nam Man nước ta có giặc Ân, tướng giặc tên là Thạch Linh thần tướng, tiến quân đến Bắc Giang, có trăm vạn quân mạnh, cờ hiệu, binh khí rợp đất, tiếng chiêng trống vang trời. Biên giới có thư báo về gấp, có ngày 5 lần thư đến. Vua sai đình thần cử tướng đi đánh dẹp nhưng đều bị thua và bị giặc giết khá nhiều, khó tìm người chống cự lại được chúng. Khi ấy vua mới triệu tập ông Tuấn về triều đánh giặc. Ông vâng mệnh trở về triều làm lễ bái yết. Vua bèn lệnh cho cả hai ông Chiêu và ông Tuấn, phong ông Chiêu làm Chiêu ứng đại vương, ông Tuấn là, Nội Minh đại vương đem quân chống giặc Ân. Khi ấy hai ông bái biệt vua vâng mệnh đem quân tiến thẳng đến Bắc Giang. Hai ống đóng quân tại phủ Từ Sơn huyện Đông Ngàn. Hai ông tuyển mộ thêm các nghĩa quân và gia thân được 822 người (gia thần thủ túc ở trang Mẫn Xá cùng các họ tập trung được 237 người đi theo hai ông đánh giặc Ân).

Hai ông xây dựng doanh nghiệp đồn lũy tại huyện Kim Hoa đóng quân cố thủ chống cự giặc Ân. Trải qua một tháng đánh nhau ba bốn trận không phân thắng bại. Hai ông thấy quân giặc Ân càng tăng viện đông đảo mà thiên hạ đều hướng về nhà Ân, bèn làm biểu tâu về triều. Vua vô cùng lo lắng, triều đình đành chịu bó tay [trước giặc mạnh]. Ngay hôm đó vua cho dựng một đàn, tự thân trai giới hành lễ cầu bách thần trời đất âm phù giúp nước, mời trăm quan của triều về tập hợp tại đàn làm lễ. Sau ba ngày bỗng nhiên trời đất tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên, trên đàn mây khói cuồn cuộn, đúng lúc ấy thấy một ông lão, tóc mi bạc phơ, áo mũ chỉnh tề, thân cao 9 thước, ngồi ở ngã ba đường vừa dẫm chân múa vừa hát. Mọi người cho là rất kỳ dị bèn vào tâu với vua. Vua tự mình ra đón ông lão mời vào trong điện. Vua mời ông lão ngồi lên trên và hỏi ông lão rằng:

  • Nay nước nhà đang có giặc mạnh nhà Ân làm loạn, dám hỏi tôn lão việc thắng thua như thế nào, xin tôn lão chỉ giáo.

Tôn lão gieo tiền được quẻ “lương cửu”. Tôn lão bảo:

  • Hãy đi mộ tìm trong thiên hạ sẽ được người, không mấy chốc sẽ dẹp yên được giặc Ân.

Ông lão nói xong tự biến mất. Vua thầm nghĩ ông lão này ắt là hiện hình của vua Lạc Long Quân về báo ứng, bèn sai sứ giả đi mộ tìm trong thiên hạ. Thời gian ấy sứ giả đi tìm đến làng Phù Đổng huyện Tiên Du. Lúc ấy ở làng Phù Đổng có một nhà ông bà sinh được một con trai tên là Thiết Xung thần tướng, tuổi mới lên ba, ăn uống khỏe, to béo, chỉ có điều là chưa biết nói. Lúc ấy bà mẹ nghe sứ giả rao đến mới nói đùa với con rằng:

  • Nay nước nhà có giặc mạnh, sứ giả đi chiêu mộ người tài giỏi trong thiên hạ để dẹp giặc. Vua ắt sẽ ban thưởng công lao. Nay con mẹ chỉ biết ăn uống mà không biết đi đán giặc để được triều đình ban cho tước trọng, báo đáp công ơn sâu nặng của mẹ bú mớm nuôi nấng.

Nghe mẹ nói, người con bỗng thốt lên lời bảo mẹ:

  • Mẹ phải mời sứ giả vào đây.

Bà mẹ cho là sự việc rất lạ bèn mời sứ giả vào cho gặp. Người con vẫn nằm và bảo sứ giả rằng:

  • Ngài hãy trở về và báo gấp, chế tạo một con ngựa sắt cao 30 thước, dài 10 trượng, một cây roi sắt trăm cân mang đến cho ta, để mặc ta đối phó với giặc Ân, vua không phải lo gì nữa.

Người sứ giả nghe nói, bèn vái chào chạy về tâu đầy đủ lên vua. Vua nghe chuyện rất mừng, sai chế ngựa sắt roi sắt. Đồng thời sai ông Chiêu và ông Tuấn, cưỡi tuấn mã, cầm theo long đao cùng các tướng sơn bộ, thủy bộ đem quân đi theo hai bên tả hữu trợ chiến cùng Thần vương. Ngay hôm ấy hai ông vâng mệnh trước sân triều đình đem ngựa sắt, roi sắt đến trước sân nhà, [Thần vương] bỗng vươn mình lớn mạnh, cao ngoài 30 thước, sức khỏe kinh thiên, lập tức cầm roi nhảy lên ngựa, hét vang bảo rằng:

  • Ta là tướng nhà trời.

Ngựa phi nhanh như bay. Kh ấy ông Chiêu và ông Tuấn phi ngựa theo hai bên tả hữu. Chỉ trong khoảnh khắc tiến thẳng đến núi Sơn Việt, bắt được tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng chém làm ba đoạn. Quân giặc Ân bỗng thấy vậy sợ kinh hồn bỏ chạy tán loạn đại bại. Ông Chiêu, ông Tuấn cùng Thần vương đem quân truy đuổi, chém được hơn 3000 đầu giặc. Sau một chốc rơi mất roi sắt, Thần vương bèn nhổ tre đâm vào quân giặc. Giặc chết rất nhiều. Giặc Ân bị quét sạch, đất nước thanh bình. Hai ông trở về kinh đô làm biểu tâu lên. Vua được tin rất vui mừng. Khi ấy Thiết Xung thần vương đánh xong giặc Ân bèn phi ngựa thẳng tới núi Ninh Sóc, cưỡi ngựa phi thẳng lên trười (đến nay dấu chân ngựa vẫn còn). Vua bèn truyền lệnh cho nhân dân địa phương lập đền thờ phụng.

Lại nói, về hai ông, Vua có chiếu triệu hai ông về triều. Hai ông vâng mệnh đem quân về triều làm lễ bái yết. Vua mở đại tiệc khao thưởng quân sĩ ba quân. Từ đấy hai ông ở trong triều làm việc, chức đến hàng Tam công tước tòng nhị phẩm. Được nửa năm lại có giặc Ô Lý nổi lên. Vua lại sai hai ông đem quân dẹp giặc. Hai ông vâng mệnh làm lễ cất quân. Đem quân tiến đánh một trận, giặc Ô Lý đại bại tan tác, hai ông truy sát được rất nhiều quân giặc, thu lấy toàn bộ khí giới đem về kinh, làm biểu tâu lên.

Vua bèn triệu hai ông về. Hai ông vâng mệnh đem quân trở về đến núi Dũng Quyết huyện Nghi Xuân châu Hoan bỗng thấy mưa to gió bão nổi lên, trời đất tối sầm, lại thấy hai mảnh cầu vồng xuất hiện ở thân người hai ông. Hai ông bay thẳng lên trời đi mất, mầu sắc rực rỡ huy hoàng cũng đột nhiên tan biến. Hôm đó là ngày 5 tháng 10, hai ông cùng hóa. Lúc ấy quân sĩ tán loạn khiếp sợ, trong chốc lát, trời tạnh mây quang. Quân sĩ và nhân dân nghe tin đều tập trung đến đã thấy hai ông hóa rồi. Mối đất đã đùng thành ngôi mộ lớn, chỉ còn thấy đai lưng và mũ của hai ông trên mặt đất. Quân sĩ và nhân dân thấy thế cho là kỳ lạ mới làm biểu tâu về triều. Vua biết tin vô cùng thương tiếc hai vị bề tôi hiền tài có nhiều công lao đối với nước, nên sai quan triều đình về nơi hóa, truyền sai dân địa phương dựng đền thờ phụng. Lại truyền trang Mẫn Xá vốn là dân hộ nhi tu sửa cung sở thờ phụng, được miễn trừ khoản đóng góp binh lương. Hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế. ngay hôm ấy vua khen phong mỹ tự được vào bậc Thượng đẳng phúc thần trường tồn cùng trời đất, mãi mãi được ghi nhớ tôn thờ.

Thời gian ấy các quan triều đình được sai về các cung sở của hai ông truyền dân lập bàn thờ thờ phụng.
– Phong [ông Chiêu] là Vạn hộ Chiêu ứng đại vương
– Phong [ông Tuấn] là Lưu thủ Nội Minh đại vương.

Chuẩn y cho 8 giáp thuộc trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ, hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế.

Lại nói đến các thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 349 năm đến nước Nam ta trải bốn triều Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ [thần] giúp nước cứu dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, dẹp giặc thành công. Cho nên các vị đế vương các triều khen phong là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, rất sùng kính, thịnh vượng vậy.

Lại nói vào thời Triệu Việt Vương phò giúp Lý Nam Đế đánh dẹp giặc Lương. Thời gian ấy quan đại thần của Triệu Việt Vương là Trương tướng quân Hống Hát Phục Man đại vương đem quân đi đánh giặc Lương, đi qua cung sở, đền thờ ở Mẫn Xá. Thấy đền trang nghiêm rực rỡ, tướng quân họ Trương bèn cầu đảo khấn xin âm phù giúp nước dẹp giặc, thành công ắt sẽ tâu lên vua khen phong làm Thượng đẳng phúc thần, muôn đời thờ phụng. Khấn xong thấy chân hương bỗng hóa cháy nghi ngút, trong đền có tiếng vang ầm ầm như tiếng sấm. Quan quân thấy sự hiển linh thật lạ kỳ, bèn làm lễ cảm tạ. Về sau dẹp được giặc Lương, bèn truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.

Đến triều nhà Lý sau này được 8 đời, vua Lý Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, lại cũng tiến đến qua cung sở đền thờ ở trang Mẫn Xá, bỗng thấy hai con rắn hoa mày ngũ sắc rực rỡ dài hơn 1 trượng, nằm cuộn tròn ở ngoài cửa đền thờ. Đến khi vua tiến quân đến bèn ngóc đầu dậy trước xe cúi đầu như bái lạy nhà vua, rồi bỗng bò vào trong đền biến mất. Vua thấy thế cho là đền rất linh thiêng bèn hỏi các cụ già trong dân:

  • Đền thờ vị thần nào vậy?

Các cụ trả lời:

  • Đền thờ danh tướng triều Hùng Vương.

Vua nghe xong bèn cho dừng xe, và dừng quân một lát. Truyền cùng quân sĩ vào đền làm lễ mật đảo âm phù giúp nước đánh dẹp giặc. Chỉ một trận dẹp được giặc Chiêm. Vua lại phong là “Thượng đẳng tối linh [Thần thiêng bậc thượng đẳng].

Vào cuối thời nhà Trần họ Hồ tranh quyền (tức Hồ Quý Ly). Quân nhà Minh nhân thế chiếm lấy nước ta. Lúc bấy gờ ở núi Lôi Dương huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có người họ Lê tên Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, có đến 3000 quân mạnh trừ họ Hồ, bình định giặc Minh. Bấy giờ Lê Thái Úy vâng mệnh Lê Lợi đem quân đánh họ Hồ và quân Minh, hành quân qua cung sở đền thờ ở Mẫn Xá, thấy miếu đền trang nghiêm rực rỡ, bèn cho dừng xe, đem quân vào đền, nghỉ lại đó một đêm. Làm lễ mật đảo cầu đọc văn xin âm phù giúp nước trừ giặc thành công, đợi khi thanh bình cùng hưởng cảnh thái bình thịnh vượng. Đọc chúc xong chỉ trong khoảnh khắc thấy một đàn ong mật bay vào tụ họp đầy cả cung đền, tiếng kêu vo vo không dứt. Đến nửa đêm hôm đó Thái Úy thiu thiu mơ màng, bỗng thấy hai vị quan cao lớn đường hoàng, mũ rồng giáp ngọc rực rỡ, đai phượng, áo bào gấm sáng chói, tay cầm long đao cùng bảo:

  • Nay thấy vua Lê mở vận, xin được âm phù trừ giặc thành công.

Quan Thái Úy đang nghe nói chưa hết bỗng bừng tỉnh thì khi ấy trời đã sáng rõ. Thái úy cho là hiển ứng lạ kỳ bèn làm lễ cảm tạ, rồi ngay hôm ấy đem quân đi đánh giặc, chẳng bao lâu quét sạch cả giặc nhà Hồ lẫn nhà Minh. Trăm quan phò nhà Lê lên làm vua ở Lam Sơn, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, tức Lê Thái Tổ Cao Hoàng đế. Từ đấy các triều vua nhà Lê đều khen tặng mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, làm mẫu mực tôn thờ mãi mãi. Chuẩn cho trang Mẫn Xá làm hộ nhi sở thờ phụng, mỗi năm vào hai kỳ xuân, thu sai quan triều đình đến làm lễ tế.

Phong Vạn hộ Tối linh Đại vương
Phong Lưu thủ Tối linh Đại vương.

Chuẩn cho trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ. Các điều lệ quy định nghi lễ ngày sinh ngày mất, ngày chúc mừng của thần và các màu sắc cấm kỵ, cũng như tên húy của thần kê khai như sau:

Ngày sinh của hai vị đại vương: ngày 10 tháng 3, đến 12 tháng 3 là lễ chính tế. Làm lễ nhập tịch 10 ngày, trước đó 3 ngày thì chuẩn bị mâm bàn, các thức chay như trà, hoa, oản, chuối, các thức mặn thì mổ lợn gà làm cỗ. Các trò vui có đấu vật, cờ, ca hát sau 10 ngày thì làm lễ tạ.

Ngày hóa của hai vị đại vương: ngày 5 tháng 10, đến 10 tháng 10 là lễ chính tạ. Lễ vật hành lễ có cỗ chay, trà, hoa quả, thịt lợn, bánh dày, xôi rượu, vàng mã.

Lễ Khánh hạ [lễ mừng]: ngày 4 tháng Giêng. Lễ dùng cỗ chay, cũng có thể dùng thịt lợn, gà xôi, rượu và ca hát được.
Lễ Đại khánh hạ [đại tiệc mừng]:ngày 10 tháng 8, làm lễ tế rước như ngày lễ sinh nhật, ca hát 3 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 5, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 11, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.

Các chữ kiêng húy: Chiêu, Tuấn, Minh ba chữ cùng tên cha mẹ của thánh nhất thiết cấm không được dùng.
Ba màu: vàng, tía, hồng đỏ, khi làm lễ cấm dùng.

Ngày 10 tháng Giêng niên hiệu Hồng Phúc thứ nhất [1577 – triều Lê Anh Tông] Đông các Đại học sĩ Viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn [ngọc phả]

Ngày 1 tháng 5 niên hiệu Tự Đức thứ 11 [1858] bản xã đến xã Bằng Đắng huyện Bạch Hạc phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây vâng sao lại từ bản chính.

Vâng sao lại lần nữa ngày 24 tháng 3 niên hiệu Bảo Đại thứ 7 [1933].

Thần tích Hiệp Phù, tổng Hạ Dương, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Hiệp Phù tổng Hạ Dương huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 1938, lưu tại Viện thông tin Khoa học xã hội, số hiệu TTTS3240.

Ghi chép về đền thần ở bản xã

Tích thần hiển tỏ từ thời thượng cổ. Truyền rằng thời Hồng Bàng Thị đời vua Hùng thứ 6 nước Văn Lang có vị khanh triều Hùng là Bạch Sam, có tài lược văn võ, trung trinh. Khi quân Ân đánh vào bộ Vũ Ninh, một vùng khổ sở vì can qua. Vua sai sứ đi khắp thiên hạ để cầu người có dũng lược, thiện chiến có thể phá được giặc, được một người con nhà ông Đổng giàu có tự xin được giúp đánh giặc. Vua bèn bái làm Thượng tướng, ban cho gươm ngựa, lệnh cho Bạch Sam là Đốc chiến. Đổng Thượng tướng lên ngựa, múa kiếm, chưa đến một ngày phá tan quân Ân ở dưới núi Vũ Ninh. Chúng đều quỳ lại, xưng là Thiên tướng.

Thế rồi Đổng Thượng tướng cưỡi ngựa đến thẳng núi Sóc Sơn, bay lên trời giữa ban ngày. Còn Đốc tướng Bạch Sam khải hoàn về Văn Lang tâu báo tin chiến thắng. Vua khen công lao to lớn đó, lệnh cho Bạch Sam mang cờ tiết đến phong Đổng Thượng tướng là Đổng Thiên Vương, lập đền ở đất cũ làng Đổng, năm tháng truy thờ. Phong Đốc tướng là Hùng hầu, lấy vùng sông Thiên Đức làm thực ấp.

Một hôm ông đóng quân ở thôn Tố xã Phù Ninh, duyên may gặp Lý Nương. Nương tuổi mới 15, có vẻ mạo đoan trang. Ông thích thú mà đón về kết phối. Một nhà hòa hợp, cầm sắt đàn vui. Từ sau lễ truy thờ Thiên Vương một vùng trở thành 5 huyện dân, đều rất yêu mến ông. Đến tuổi 83 thì ông mất, chôn cất ở nơi đất phúc trong vùng, lập đền thờ ở thôn Tố. 10 nơi xứ năm tháng đều tế thờ. Đền thờ này linh thiêng tỏ rõ, có thể giữ đất giúp dân, ngăn tai ương, trừ hoạn nan, gặp hạn cầu đảo được mưa, có sự việc cầu tất được, qua các thời đều anh linh bất hủ. Thời Sĩ Vương phong Hùng Hầu Bạch Sam là Linh ứng Hiển thông Phúc thần. Lý Nương là Phương tư Nương nương. Trải các đời hưởng thờ, dân cầu đều quả được ứng nghiệm…

(Phần sau là sự hiển ứng và gia phong các đời, không dịch)

Thần phả làng Hiên Ngang, Tiên Du, Bắc Ninh

Theo bản dịch từ bia đá tại làng Ngang Kiều của Nguyễn Công Hảo trong sách Tìm hiểu về truyền thuyết ba làng Ngang ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh, NXB Mỹ thuậ, 2018.

Họ [Đất] Việt [ta] thường có 18 Thánh chủ ngự trị, đi tuần Ngũ Lĩnh phương Nam, khai sáng Hùng đô nước Việt. Mở đầu là ông Đế Minh [Thánh đế minh vương] xây dựng nên thành đô cung điện nhất [thống] 15 bộ.

Đến đời Kinh Dương Vương lập nước lấy tên là Xích Quỷ truyền ngôi cho Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ lập nên chính cung, sinh được bọc trứng trăm trai, đều là anh hùng cái thế, trí dũng song toàn. Lạc Long Quân – Âu Cơ chia 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên rừng. Người con cả Hùng Đoàn theo mẹ được kế tiếp làm vua gọi là Vua Hùng truyền 18 đời. Chuyện này đời Hậu Lê [Trần] có thơ rằng:

Mười tám chi vua vẫn nối truyền
Trăm trai một bọc giống Rồng Tiên
Trời Nam đất tổ muôn đời định
Đức rộng, tài cao bậc thánh hiền.

Đến đời vua Hùng Huy Vương thứ 6 ngự đô ở Việt Trì – Bạch Hạc giang. Kiến quốc gọi là nước Văn Lang, thủ đô hiệu là Phong thành (Phong Châu). Từ khi Hùng Huy Vương lên ngôi lấy khuôn phép để trị dân, đất nước hưng thịnh, thiên hạ thái bình an lạc.

Lúc bấy giờ trong triều chính có quan Bồ chính họ Hùng tên Chạc lấy vợ ở phủ Đà Giang, thôn Phượng Mao, tên nàng là Đinh Châu Hoa. Hai vợ chồng ở với nhau ý hợp, tâm đầu, thật là “cầm sắt duyên hài, phu thê hòa hợp, trượng phu thục nữ, quân tử thuyề quyên, tương hoan tương ái”. Đã hơn 5 năm chung sống mà hai vị “lan phòng chưa thấy sinh hương, quế hộ không thấy khai đà đóa hoa”. Một hôm Bồ chính Hùng Chạc tâm tình với phu nhân Châu Hoa:

  • Nhà ta vốn dòng hoàng gia phúc hậu, bách tử thiên tôn rất là đông đúc, hoặc thái quá mà bất cập, hoặc đầy quá mà lại nghiêng, hay thịnh rồi lại suy, lấy nhân nghĩa làm đại bản, đem thiện đức để cảm dân, không mảy may nào là làm điều ác. Thế mà trời lại phụ ta ư, hay là tổ tiên phần mộ bị khuyết khung, hay đoản thương long mạch thế nào mà đến nỗi khó bề sinh dưỡng. Nay ý tôi muốn đi các địa phương nào có những linh từ, linh tự nào linh thiêng để cầu tự. Đồng thời cũng là để tìm các danh sư, tướng địa để di chuyển mộ tổ xem sao.

Hai vợ chồng thành tâm sắm sửa lễ vật du ngoạn về Kinh Bắc vì nghe nói vùng này có nhiều linh từ, linh tự đẹp và linh thiêng. Một hôm đi đến Kinh Bắc nghe thấy ở Lãm Sơn Khê Nham có cổ tự Lãm hiện đang mở hội. Nhân dân xa gần đến lễ Phật, ngoạn cảnh rất đông. Hai vợ chồng quan Bồ chính cũng vào đó lễ Phật, ngoạn cảnh và cầu tự một thể. Khi hai vợ chồng đang đi xem phong cảnh, do cảnh đẹp quên cả thời gian, thì trời đã về chiều. Hai vợ chồng mới vào chùa lễ tạ, xin phép sư trưởng trụ trì để về nhà trọ trong dân. Khi ra đến bãi trước chùa, chợt trông thấy một ông lão mình mặc áo xanh, tay cầm một cành hoa hải đường, theo sau là một chú thanh đồng, tay cầm một cái La kinh, theo hướng từ cổng chùa đi lên. Quan Bồ chính trông thấy La kinh liền nghĩ:

  • Đây chắc là thầy địa lý.

Quan Bồ chính dừng bước và thi lễ vái chào ông lão:

  • Vợ chồng tôi rất hân hạnh được gặp tôn ông. Trộm nghĩ tôn ông là người Tướng địa, may lắm, may lắm. Tôn ông có thể giúp vợ chồng hèn mọn này một việc được chăng?

Ông lão dừng bước:

  • Cầm ta giúp việc gì cứ nói rõ.

Hai vợ chồng quan Bồ chính tiếp tục quỳ vái:

  • Xin tôn ông dạy bảo, chỉ cho ngôi đất tốt, giúp vợ chồng hèn mọn này đặt ngôi sinh phần tránh được tiệt phúc.

Ông lão cười và nói rằng:

  • Việc tuy là đạo Trời, nhưng phải là người có phúc mới thành đạt. Mọi việc căn bản ở Phúc – Đức. Phúc chỉ đãi những người có thiện tâm. Thấy vợ chồng ông thi lễ và xem qua là người ăn ở có phúc, có đức. Thôi đã xin thì ta chỉ cho. Còn được hay không là tùy đạo Trời.

Nói rồi ông lão lấy gậy vạch ở đường một bài thơ:
Muốn tìm ngôi đất tốt
Thì lên núi Tản Viên
Phúc ông Trời ưu đãi
Mạch đất chẳng khó tìm
Ngôi ở nơi Trung cấp
Huyệt chính tại Tả biên
Một bọc hai quý tử
Long – Sơn tài cái thế.

Lão ông vạch xong bài thơ, tự nhiên hóa thành một con hổ chạy vào núi biến mất. Vợ chồng Bồ chính Hùng Chạc – Đinh Châu Hoa cả sợ thất kinh, biết là có Trời giúp đỡ. Sáng hôm sau về đến gia phủ tiến hành dời ngôi mộ tổ lên Tản Lĩnh Linh sơn. Khi còn đang ngơ ngác tìm kiếm vị trí như bài thơ ứng bá “Trung cấp, Tả biên” ở đâu thì bỗng thấy một con hổ miệng cầm hòn đất chạy đến đặt trước mặt, rồi phóng chạy mất. Quan Bồ chính biết là thần đã dẫn bảo, liền đặt mộ tổ tại vị trí hòn đất lưu lại của hổ, làm lễ an táng chu toàn rồi ra về.

Được 100 ngày thì một đêm Hùng công đang mơ màng nhìn thấy ông lão Tướng địa mà hai vợ chồng gặp ở Kinh Bắc trước đây đi vào nhà. Ông vội vàng quỳ xuống thưa hỏi:

  • Thưa thầy, từ khi vợ chồng tôi được gặp thầy, được thầy chỉ bảo chỗ đất thiêng, chưa biết thầy ở đâu để báo đáp. Ơn thầy sao quên. Thầy cho biết quê hương, bản quán để vợ chồng chúng tôi được đến để tạ ân.

Ông lão cười ha hả và nói rằng:

  • Ta là Khổng Lồ Tổ giáo Thiền sư. Ta thấy vợ chồng ông có lòng thành kính và sống có lương tâm phúc hậu, cho nên ta hiện xuất để báo cho ông ngôi đất tốt, chứ ta có phải ông thầy Tướng địa trên nhân gian đâu.

Nói xong ông lão ngoảnh lại bảo chú thanh đồng lấy ở trong túi ra một bài thơ đưa cho quan Bồ chính Hùng Chạc, đại ý bài thơ ghi:
Dòng dõi nhà Hùng đức hậu dài
Được đất sinh thành quý tử hai
Bao gồm sông núi ngàn năm vững
Tiếng thơm rực rỡ chẳng bao phai.

Hùng công xem xong chưa kịp nói gì thì tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng. Từ dấy bà Đinh Châu Hoa có mang. Khoảng 7 tháng sau, bấy giờ là mùa đông, Hùng công được vua mời vào thế sự. Khi về đến gia phủ thì tạ thế. Hôm ấy ngày 10 tháng Chạp năm Bính Ngọ. Nhà vua cho tổ chức lễ an táng tại gia phủ.

Đến ngày mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mùi, thái bà Châu Hoa mãn nguyệt khai hoa sinh một bọc hai người con trai. Mới sinh đã có tướng lạ, thân hình cao lớn khác thường, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Lúc Thái bà sinh tự nhiên có mây ngũ sắc đầy trời, chim chóc kéo đến hót vang. Có cả đàn hổ con kéo đến quanh phủ, làm mọi người trong phủ vừa kinh sợ, vừa thấy lạ.

Khi hai chàng trai 3 tuổi, một đêm Thái bà nằm mộng thấy phu quân Hùng Chạc hiện về báo mộng đặt tên con: Một là Hùng Long, một là Hùng Sơn. Đến năm 16 tuổi thì hai người đều cao lớn, vạm vỡ trở thành anh hùng cái thế, dũng lược quả nhiên. Long công có tài xuống bể, đi trên mặt nước như đi trên mặt đất. Đi đến đâu thì các loài thủy tộc đều bơi đến hướng chầu. Các loài thủy tộc hại người đều lùi xa vạn dặm ngoài biển khơi. Sơn công có tài đi bộ leo núi nhẹ như đi đường bằng, đi vào rừng các loài muông thú đều tụ tập đến hướng chầu. Các loài thú dữ hại dân thì sợ một phép, lui dần về rừng sâu.

Cả hai vị đều thông minh, trí tuệ, đức trọng, tài cao, kỳ mưu dị thuật. Các tướng sĩ trong triều đều nể phục. Vua Hùng Huy Vương biết tài hai vị liền triệu vào cung phong chức:
– Hùng Long công làm Trướng long chu Thủy đạo Tướng quân.
– Hùng Sơn công làm Nhạc phủ Tướng quân.

Bấy giờ có giặc nhà Ân sang xâm lược nước Văn Lang. Thủ lĩnh giặc Ân là Thạch Linh thần tướng cầm đầu, đem quân từ phương Bắc sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất hùng mạnh, cờ quạt, giáo mác, ngựa chiến hành quân mù mịt cả đất trời. Đi đến đâu chúng cướp phá của cải, đánh giết dân lành. Các vị quan trấn thủy biên thùy thua trận, cấp báo về triều đình, cũng là lúc giặc Ân đã tiến đến vùng Kinh Bắc, lập trú đồn trại, củng cố binh mã để tiến đánh Phong thành. Vua Hùng Huy Vương liền triệu hai vị Hùng Long, Hùng Sơn về triều, cấp binh mã, lương thực, tấn phong làm tướng ra trận đánh giặc Ân. Hùng Long là Thủy đạo quân Thống lĩnh binh mã. Hùng Sơn là Nhạc hầu phó tướng lĩnh quân. Một thuộc 50 thủy bộ. Một thuộc 50 sơn bộ.

Hai vị tuân lệnh, đem 2000 quân binh hành quân gấp đến Kinh Bắc. Một mặt huy động các anh hùng hào kiệt ở các phủ, trang, ấp, đồng thời động viên dân binh xây dựng các đồn lũy để chuẩn bị cuộc chiến với giặc Ân. Một mặt Long công lập doanh trại ở hai chi nhánh: sông Nguyệt Đức và sông Nhị Hà để trấn giữ đường thủy. Một mặt Sơn công lập đồn trại từ Phong thành đến Kinh Bắc để trấn giữ đường bộ.

Một hôm hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiến quân đến khu núi tại trại Hiên Đường, thuộc huyên Tiên Du. Hai vị vốn có thiên bẩm anh tài, thông hiểu địa lý, nhìn thấy dải núi ở đây hình thù như một con rồng nằm uốn khúc, xung quanh có nước bao bọc. Thật là khí đất thiêng. Hai vị quyết định lập đồn trại tại đây. Khi khảo sát địa hình tìm thấy một khu đất nổi lên hình thế “chân long quý cục”, hai bên có hai gò đất chầu lại. Tiếp đến là khu đất có hình thế “long cảnh”, nghĩa là cổ rồng, phong thủy gọi là “Tả hữu hội tụ”. Trước mặt có “khai hoa minh đường thủy tụ”. Lại có con đường cái nhỏ chạy qua trước mặt. Hai bên có hai giếng tựa mắt rồng. Tiếp xuống chân núi lại có khu đất hình thế “chân long chi vĩ” như cái đuôi con rồng. Phong thủy gọi là “Vĩ long chính cục”. Trước mặt có ba cánh đồng nước hợp lại, thật đúng là “hội đáo minh đường, kim quy chấn trạch”. Đằng trước lại thấy một khu đất nổi lên như hình con phượng nằm ẩn mình. Hai bên có hai dải đất, một bên hình nghiên bút, một bên hình quyển sách, thực là “thiên địa bài, chung linh đại địa”. Hai vị quyết định lập bản doanh tại ba vị trí đắc địa trên.

Hôm ấy là ngày mùng 4 tháng Giêng, đẹp ngày, hai vị tiến quân đến vùng đất này. Nhân dân trang ấp Hiên Đường đón tiếp nồng nhiệt và tổ chức lễ ăn mừng khao quân sĩ. Đất đắc địa, lòng dân thuận, hai vị quyết định làm lễ lập đồn trại cùng ăn ừng với nhân dân.

Khu đất “chân long quý cục” thuộc trang Kiều là chính trại chỉ huy. Trung trại ở khu đất “chung linh đại địa” thuộc trang Na. Tiền tiêu ở khu đất “chân long chi vĩ” thuộc trang Nội. Đồn trại được lập theo thế liên hoàn hình chữ Vương để chuẩn bị đối phó và dàn trận chống lại giặc Ân. Lúc nào nhân dân ở trang ấp Hiên Đường có 7 họ: Lê, Nguyễn, Trần, Trương, Mai, Cao, Trịnh. Các trưởng họ đều được hai vị bổ nhiệm chức “tộc trưởng”. Các trai tráng được bổ sung vào quân sĩ và lập các đội dân binh. Dân số Hiên Đường lúc này có khoảng gần 300 nhân khẩu.

Từ đấy hai vị Hùng Long, Hùng Sơn đã an cư ở đồn trại, ngày đêm luyện tập quân sĩ và tiến đánh giặc Ân ở núi Vệ Linh. Gần nửa năm đã đánh đến 30 trận đều thắng trận, bắt trên 30 tên tướng giặc Ân nộp về triều đình, đuổi được giặc Ân về nước.

Thua trận, giặc Ân củng cố lực lượng, tăng thêm quân sĩ tiếp tục tiến đánh Văn Lang, thế giặc mạnh gấp nhiều lần. Được tin báo giặc lại vào xâm lược, hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiếp tục củng cố lực lượng ở các trại Hiên Đường và hai đường thủy bộ trên sông Cầu, Nhị Hà và đường bộ lên phương Bắc. Nhưng thế giặc mạnh, hai vị không chặn được, đành lui về cố thủ ở trại Hiên Đường và cấp báo về triều đình.

Hùng Huy Vương lập tức triệu tập quần thần để bàn việc đánh giặc. Đã qua 3 ngày nhưng chưa tìm được kế đánh giặc. Đến ngày thứ tư bỗng xuất hiện một ông lão mình cao 9 thước, cứ ngồi ở cổng thành cười, múa, hát vang. Nhân dân trông thấy lấy làm lạ, vào bẩm báo với vua. Hùng Huy Vương thân chinh ra đón vào dự hội nghị quần thần và hỏi:

  • Trông tướng mạo tiên sinh chắc không phải người thường. Vậy tiên sinh có kế sách nào hay để giúp dân ta đánh đuổi giặc Ân, xin tiên sinh chỉ giáo cho?

Lão ông nghĩ một lát rồi lấy một vật gì đó trong tay nải gieo quẻ, xong rồi nói:

  • Phải cầu lấy một người có tài “thần vũ” đến hỗ trợ cho Long – Sơn tướng quân, ắt giặc phải tan và từ bỏ dã tâm xâm lược.

Nói xong đi thẳng ra cổng biến mất. Hùng Huy Vương và quần thần thấy lạ, nhưng vẫn quyết định cử quân sĩ đi loan báo cầu người tài khắp đất nước để tìm được tướng “thần vũ”. Đêm ấy, Hùng Huy Vương lại có giấc mơ gặp ông lão ban ngày. Ông lão xưng là Lạc Long Quân và cho biết thêm việc tìm người tài đánh giặc:

  • Cứ đến làng Phù Đổng, ắt tìm được.

Tỉnh dậy, vua liền cho quân lính về làng Phù Đổng để tìm “thần vũ”. Quân lính đến Phù Đổng loan báo thì được cậu bé lên 3 tự xưng là Thiết Xung ở với một bà mẹ nhà rất nghèo mời vào và nhận lời giúp vua đánh giặc. Bà mẹ Thiết Xung cho là con mình đùa cợt, vì từ khi bà dẫm vào vết chân lạ ở vườn cà, rồi có mang sinh ra cậu bé, lên 3 vẫn chưa biết nói, biết cười. Tự dưng nghe sứ giả loan báo, cậu bảo mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc. Thiết Xung nói với sứ giả:

  • Về tâu với vua cấp cho tôi một con ngựa sắt 10 thước, một áo giáp sắt và một chiếc đĩnh dài 10 thước, tự khắc tôi sẽ đánh thắng giặc.

Sứ giả đem những lời tâu đó về bẩm với vua. Hùng Huy Vương vui mừng cấp tốc cho đúc ngựa, rèn thiết đĩnh đưa về làng Phù Đổng và phong chức cho cậu bé là Thiết Xung Thần Vương, lệnh cấp tốc về Hiên Đường cùng Hùng Long, Hùng Sơn đánh giặc.

Ngày 10 tháng 8 hai vị Hùng Long, Hùng Sơn thiết yến hội binh cùng Thiết Xung Thần Vương ở Hiên Đường và ra lệnh xuất quân. Thiết Xung Thần Vương lĩnh đội kỵ binh, tiền quân. Hùng Long lĩnh đội thủy quân, trung quân. Hùng Sơn lĩnh đội bộ binh, hậu quân.

Ba đạo quân tiến thế liên hoàn đại chiến với giặc Ân ở núi Vệ Linh sơn, mới đánh một trận giặc Ân thua to, thi nhau tháo chạy. Quân Văn Lang thừa thắng truy quét. Mải truy quét giặc và đánh quá hăng tự nhiên thiết đĩnh của Thần Xung bị gãy. Thần Vương liền nhổ các bụi tre quật, kẻ bị cháy khiếp vía kinh hồn, chết như ngả rạ. Thắng trận về đến núi Sóc Sơn, Thần Vương cưỡi ngựa sắt bay về trời. Sau được vua Hùng Huy Vương phong là Phù Đổg Thiên Vương.

Hùng Long bên đường thủy cũng tiếp sức đánh tan các chiến thuyền của giặc Ân. Trên bộ Hùng Sơn chỉ còn việc bắt sống những tên giặc còn sống sót đưa về báo công với triều đình. Thắng trận trở về Long công đi dọc bờ sông Nguyệt Đức, tự nhiên có một trận mưa to gió lớn, trời mây mù mịt. Long công tự hóa trên dòng sông. Sơn công rút quân về đến doanh trại Hiên Đường. Nhân dân nô nức đổ ra đón mừng. Đêm ấy tự nhiên có một đám mây ngũ sắc bay về, sấm sét nổ ầm ầm, mây mù tối tăm. Sơn công cũng tự hóa, mối đùn thành mộ.

Nhân dân và quân sĩ cho là điềm lạ, cấp tốc tâu về triều đình. Vua Hùng Huy Vương vô cùng thương tiếc và giao đình thần đem sắc chỉ tặng phong và ban thưởng cho nhân dân Hiên Đường. Miễn tô thuế, thiết lập hội đồng tại sở thờ phụng lập đền thờ để cả nước cùng thờ phụng. Đồng thời phong tước cho hai vị tướng:
– Long công được phong là Uy Long Đại vương.
– Sơn công được phong là Uy Sơn Đại vương.

Ban sắc chỉ cho nhân dân Hiên Đường thờ cúng hai vị ở chính lăng từ sở tại. Cứ mỗi năm xuân thu nhị kỳ khiển quan tế lễ. Các nơi thờ cúng hai vị trong cả nước có tất cả 42 đền thờ.

Lại nói đến thời Đông Hán, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm 349 năm cho đến nước Nam trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần 4 họ đã khai sáng ra cơ đồ lớn đều ban thưởng người có công. Khi triều Lê Trang Tông có quan đại thần Thái úy cũng khởi nghĩa quân diệt nhà Mạc. Quan Thái úy có yết kiến đền thờ hai vị Uy Long Đại vương, Uy Sơn Đại vương ở Hiên Đường và xin cầu giúp nước. Trận đó Thái úy diệt xong nhà Mạc.

Đến hiệu Lê Vương Bình, khi đó còn nhà Mạc lên ngôi hoàng đế đã phong 4 chữ “Vạn cổ Phúc thần” cho hai vị tướng quân ở đền thờ Hiên Đường. Xuân thu nhị kỳ cả nước hương hỏa lâu dài thịnh vượng.

Các ngày lễ. Các ngày sinh, hóa, khánh tiết tế lễ:
Ngày 8 tháng 2 là ngày sinh hai vị Hùng Long, Hùng Sơn.
Ngày 12 tháng 9 là ngày kỵ nhật.
Ngày mồng 4 tháng Giêng là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 5 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 7 tháng 7 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 8 là ngày Khánh hạ.
Ngày 10 tháng 12 là ngày Khánh hạ (khai sắc), ngày kỵ nhật quan Bồ chính Hùng Trạc.

Các tên húy: Long, Sơn, Chạc, Châu (bốn chữ).

Chi phí làm bia: mua bia đá hết 53 quan. Thuê mang về hết 15 quan. Thuê khắc chữ hết 45 quan.

Kính soạn Thần tích ngày 10 tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ nhất. Người phụng soạn Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn …

Thần tích làng Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Trích bản khai năm 1938 của làng Đại Lâm, tổng Phong Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, ký hiệu TTTS3649 lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Tên làng: xã Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 大林社豊舍縂安豊縣北寧省

Thần thành hoàng:
1 vị duệ hiệu là 輔國公嚴大王 [Phụ quốc Công Nghiêm Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 海國濟治大王 [Hải Quốc Tế trị Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 佐治明天大王[Tá Trị Minh Thiên Đại vương]
Các ngài là Thủy thần, đức Minh Thiên là Thiên thần.

Sự tích các ngài: Thế truyền về đời vua Hùng Vương, ở xã An Khang, huyện Yên Mô có 1 phú ông họ Phạm, tên là Đài, vốn nhà hào phú, dòng dõi phong lưu, lý số nho y mọi nghề tinh thạo. Ông lấy vợ người họ Hán, đến năm ngoài 30 tuổi, không may bà vợ mất sớ, sinh hạ 1 người con gái tuổi vừa 16. Ông muốn gả chồng cho con. Người cùng làng, sắp toan định ngày nghi thất nghi gia. Lại gặp lúc trong địa hạt mình xảy ra nhiều trộm giặc, đua nhau cướp bóc của cải thôn dân. Vù thế lòng ông chán nản, muốn tìm nơi cảnh vắng mà an dưỡng tuổi già. Ông bèn thu xếp cửa nhà cùng với con gái thẳng ra miền Kinh Bắc lánh nạn. Khi đi có mang 1 giỏ thuốc Nam để giữ mình. 1 ngày kia đi đến làng Đông Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, ông trú cư ở đấy vài tháng để tiện việc làm thuốc. Nhân dân ở làng ấy nhiều người được nhờ vả nên ai cũng đem lòng yêu mến. Bất giờ trong tổng nội có người mắc bệnh khó chữa, nghe tiếng ông là danh sư bèn đón ông về chữ giúp. Quả nhiên người ấy khỏi bệnh. 1 ngày ông đến vãn cảnh chùa làng Đại Lâm. Khi trở về vừa gặp cơn mưa gió, ông đành phải trở lại chùa ngủ trọ 1 tối. Đêm ông nằm mộng thấy 1 vị sư đến bảo rằng:

  • Nhà ngươi tốt phúc, ngày mai sẽ có tin mừng.

Nói xong đọc 1 bài thơ rằng:
詢之以报喜于君
汝福從茲日日新
天定降家來見日
必然相配自成親

Tuân chi dĩ báo hỉ vu quân
Nhữ phúc tòng tư nhật nhật tân
Thiên định giáng gia lai kiến nhật
Tất nhiên tương phối tự thành thân.

Nghe mấy câu thơ ấy ông chợt tỉnh dậy, tự nghĩ trong bụng lấy làm lạ. Sớm ngày mai ông lễ Phật trở ra về, đi qua làng Đại Lâm, thấy 1 người con gái nằm trong lều cỏ kêu khóc. Ông chạy vào hỏi duyên cớ. Người con gái thưa rằng:

  • Thiếp là con gái họ Trần, tên là Tố Nương. Cha mẹ mất sớm, khi còn tuổi trẻ. Anh em chẳng có ai, không người nương tựa. Đem mình đi ở với cậu ruột, ngày tháng dung thân. Thiếp lại hay có cứng đau bụng vặt. Cậu đem lòng ghét bỏ, đuổi đi. Vì thế thiếp phải ra nằm ở quán này.

Ông thấy tình cảnh lấy làm ái ngại, bèn mở túi lấy thuốc cho uống. Lúc lâu nàng Trần khỏi bệnh. nàng bèn mời về nhà, đem tình trạng kể với cậu và xin cho mình được hầu hạ chăn gối để báo đáp ân sâu. Cậu vui lòng gả. Sau khi đã thành gia thất, ông bèn đến xã Đại Lâm, ngày thường đi chữa thuốc cứu dân. Dân làng thấy ông là người hiên fhoaf thuần hậu, thỉnh ông coi giữ cảnh chùa. Được mấy năm ông làm thuốc rất là phát đạt giầu thịnh. Ông xuất gia sản dựng thành 1 ngôi chùa nữa. 1 hôm ông nằm mộng thấy 1 vị thần tự xưng là Nam Tào, [vâng] sứ mệnh đức Thượng Đế đến báo cho các vị thần văn võ biết rằng:

  • Đây có nhà họ Phạm giữ chùa vốn là người phúc hậu. Lai hay mộ về đạo Phật. Nay đức Ngọc Hoàng cho 1 viên Thiên tào Điển lại và 2 viên Thủy tế Long hầu, xuống Dương gian đầu thai làm con nhà họ Trần để sau này giúp nước cứu dân.

Nói rồi biết mất. Đến khi ông tỉnh dậy, biết thế nào cũng có điềm hay. Một ngày đức bà Trần Thị ra bến sông ở trước làng tắm gội. Đương lúc tắm, chợt thấy con giảo long nổi lên quấn quanh mình ba 3 vòng. Bà sợ hãi chạy lên bờ, thấy có mùi hương thơm ngào ngạt. Khi về đến chùa trời đã xế bóng. Lại thấy 1 ngôi sao tự trên trời sa xuống trước mặt. Hào quang chói lọi. Phút chốc biến mất. Tự đấy trong mình bà có thai.

Đến ngày mồng 6 tháng 8 bà sinh hạ 1 bọc 3 người con trai, thân thể cao lớn, hình dung kỳ dị. Ông bà mới đặt tên ông thứ nhất là Nghiêm công, thứ 2 là Minh công, thứ 3 là Trị công. Kịp lúc tuổi trưởng thành, ông nào cũng học hành sáng suốt, và có tài văn cõ. Đến ngày 13 tháng 7 đức than phụ là đức Phạm công tạ thế. Bấy giờ nhân dân trong làng thấy các ông có tính trí dị thường, lại có tài văn võ mới rủ nhau đến làm thần tử. Ông bèn chọn đinh tráng xã ấy, cùng các xã lân bàng như Đại Bàng, Thọ Đức, Thiểm Xuyên, Đông Xá được hơn 1000 người, thiết lập 1 cái doanh trại ở địa giới đầu làng. Chọn ngày mồng 1, 2, 3 tháng Giêng để khao thưởng quân sĩ. Việc ấy nghe đến tai các quan địa phương làm biểu tâu Vua. Vua toan sai đình thần đi đánh dẹp, nhưng đêm Vua nằm mộng thấy sứ mệnh Thiên đình đến báo rằng:

  • 3 ông ấy vốn là người trời sai xuống giúp nước, thì nhà vua nên dụ chứ không nên đánh.

Nói rồi đằng không biến mất. Vua tỉnh dậy biết là mộng báo, mới sai sứ thần đem chiếu chỉ đến phủ dụ. 3 ông được chiếu chỉ cùng theo sứ thần về yết kiến Vua. Vua xem thấy thể diện khác thường, nói thử tài văn võ, rồi phong cho ông Nghiêm là Thống lĩnh long chu Thủy đại Lạc tướng quân. Ông Minh là Cứ thiên Bố chính Tướng quân. Ông Trị là Thủy tào Tả điển lại Lạc Long tướng quân. Từ đấy vua tôi hiệp đức, trong nước yên hòa. 3 ông tâu vua xin về bái yết gia đường. Vua ban cho vàng bạc gấm vóc rất nhiều. 3 ông lạy tạ trở về nguyên quan sở Ái châu. Nhân dân kéo đến mừng rỡ vui vẻ. Sau khi thám tỉnh mẫu thân, ông bèn tu sửa từ đường, làm lễ tạ gia tiên. Được ít lâu đến ngày mồng 2 tháng 9 đức Thái bà thân mẫu tạ thế. Ông sửa lễ tìm nơi an táng. Mọi việc xong xuôi, 3 ông lại trở về triều yết chúa. Vua gia phong quan tước rồi bổ dụng cho đi trị nhậm các nơi.

Thời bấy giờ có giặc nhà Ân là Thạch Linh thần tướng, đem 300000 hùng binh sang làm loạn. Được tin, Vua sai 3 ông đi chống cự. Chống nhau với giặc nhà Ân hơn 10 trận, thế giặc ngày ngày một mạnh. Ông phải sai người đem tờ biểu về tâu vua, lấy thêm quân cứu viện. Bấy giờ trong triều các đình thần thấy đều thúc thủ. Vua lấy làm lo sợ, lập đàn cầu đảo thiên địa bách thần, rồi sai sứ thần đi chiêu mộ các người hiền tài trong thiên hạ để giúp nước. Bấy giờ ở xã Phù Đổng thuộc huyện Vũ Ninh có 1 nhà hào phú sinh được 1 người con trai đặt tên là Thiết Xung thần tướng, lên 3 tuổi ăn uống rất khỏe mà không biết nói. 1 hôm nghe tiếng sứ giả nhà vua đến, ngài bật ra tiếng nói mà bảo mẹ gọi sứ thần lại. Khi sứ thần đến, ngài bảo về tâu với nhà vua đánh cho 1 con ngựa sắt, 1 thanh gươm sắt, ngài sẽ đi dẹp giặc giúp nước. Nhà vua không phải lo gì.

Sứ giả về tâu Vua. Vua truyền đánh gươm sắt, ngựa sắt đem lại để cùng với 3 vị (Nghiêm Công, Minh Công, Trị Công) đem quân đi đánh giặc. Bấy giờ ngài nhảy lên mình ngựa sắt chạy như bay đến dưới núi Vũ Ninh, đánh nhau 1 trận. Ngài chém được tướng giặc là Thạch Linh thần tướng. Khi giặc đã tan ngài đi đến núi Sóc Sơn, đằng không mà biến hóa.

Lại nói đến đức Nghiêm Công và Trị Công sau khi bình được giặc rồi 2 ngài bơi thuyền đến sông Bạch Đằng, biến ra thần rắn gieo mình xuống sông mà hóa. Ngày ấy là ngày mồng 2 tháng 9. Vua sau đình thần đến địa phương ấy truyền cho dân gian lập miếu thờ phụng. Còn đức Minh Công khi phụng mệnh hồi triều bái tạ, ngài đứng giữa sân rồng rồi đằng không mà hóa. Vua truyền lập đền thờ ở trong cung phủ phụng sự. Lại truyền cho xã An Khang và xã Đại Lâm lập đền phụng sự và bao phong là Vạn cổ Phúc thần…

Thần phả Ả Thuần Nương Công chúa ở Mạnh Tân, xã Thư Lâm, Đông Anh

Phả chép về một vị công chúa âm phù triều Hậu Lý Thánh Tông

Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Nước Việt từ khi trời đất mở núi sông, kế nối xe sách, chia giới theo sao Dực Chẩn, non nước chính khí. Trải từ triều Hùng Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha phân phong ở nước ta, lập nước mở nền. Đất đẹp Hoan Châu dựng kinh đô. Dãy núi Nghĩa Lĩnh sửa sang miếu điện. Truyền đến Lạc Long Quân lấy tiên nữ Động Đình, thấy mây lành năm sắc, sinh ra điềm trăm con trai, đều là bậc anh hùng trùm đời, đức độ hơn người. Bèn phân làm trăm thần sông núi mà đều hóa hóa sinh sinh khác thường, anh linh không phai. Đến nước Nam sau đó họ tộc nào có phúc lớn dựng nên cơ đồ, giữ nước cứu dân mà trị vì lâu dài đều là dòng dõi nhà họ Hùng vậy. Người đời sau có thơ rằng:

Hùng gia sáng nghiệp tối du trường

Nhất thống sơn hà thập bát vương

Nghĩa Lĩnh, Hùng Sơn tồn cựu [tích]

Lưu truyền hương hoả vĩnh vô cương.

Khi ấy cơ đồ họ Hùng đến lúc suy, ý trời muốn dứt. Trải qua các triều ở Trung Nguyên Tây Đông Hán, Ngô, Tống, Tề, Lương, Đường, Tuy đến khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần nổi lên, khai mở cơ đồ thì quốc thống từ ấy bền lâu. Xưa nước Việt thời vua Hậu Lý Thánh Tông, tên húy là Nhật Tôn, là con trưởng của vua Thái Tông, kế nghiệp tổ tiên gây dựng bồi đắp, nối tiếp sự hưng thịnh quốc gia. Trong tu sửa văn đức, ngoài phòng bị biên cương, cố sức hưng bình để yên Trung Quốc. Có lòng yêu dân, mở khoa chọn sĩ, để tuyển người tài. Dưỡng oai, nuôi khí để trừ giặc Chiêm. Khi ấy có quân Chiêm gậy loạn, khởi binh ở đất Khâm Châu ta, quân thủy bộ cùng tiến. Thế quân giặc vang dội. Vua rất lo lắng bèn triệu tập quần thần đến bàn bạc định kế sách tiến đánh quân Tống Chiêm. Thế là có một vị quan tâu rằng:

  • Uy đức của Bệ hạ bao trùm cả hải ngoại, nước giàu quân mạnh. Nay có giặc Tống Chiêm gậy loạn đến xâm phạm đất ta. Chúng thần xin được thay Bệ hạ chọn lấy tướng tài, lãnh quân chia đi tuần các đạo để hưng chấn quân thanh, đề phòng bất trắc. Lại có lòng trời quý mến mà giáng hạ nhiều anh tài, các vị trăm thần sông núi thường xuất hiện, biến hóa oai thần để âm phù giúp nước. Bệ hạ không cần phải lo lắng việc đánh giặc này.

Vua nghe nói rất vui mừng. Ngay hôm đó truyền lập đàn cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, rồi giao cho các tướng lĩnh quân thủy bộ đi trước để tuần phòng các đạo. Còn vua đích thân dẫn quân tiếp ứng phía sau. Ngay hôm đó các tướng dẫn quân thủy bộ đường đường xuất quân. Vua mới làm một bào thơ úy lạo quân sĩ:

Tam quân lẫm lẫm xuất trùng quan
Vạn lý tinh kỳ vạn lý an
Công tự nhạn mao khinh tử mệnh
Sự quân nhất tiết cảm từ nan.

Khi ấy vua dẫn hai ngàn quân tướng đi. Trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống vang động ngàn non. Đi khắp bốn phương để yên định thiên hạ. Lên núi ngắm cảnh, nhàn chơi hải đảo. Một hôm vua tiến quân đến khu Mạnh Tân trang Bình Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là phủ Vũ Ninh). Lúc đó mặt trời đang chính giữa trưa. Vua nhìn xa thấy một vùng đầm có cảnh sơn thủy hữu tình bèn đi dạo xem bốn hướng. Bỗng thấy một người con gái, tuổi độ đôi mươi, dung mạo đẹp đẽ, nhan sắc phi thường, ngồi một mình ở bên bờ đầm, hát cười thầm. Vua lấy làm lạ, hỏi rằng:

  • Nhà người là ai mà lại đường đột ở đây như vậy? Hãy tâu thật thì sẽ không bị tội.

Người con gái tâu rằng:

  • Thiếp vốn cũng là con gái họ Hùng trước đây, vâng mệnh thiên đình trấn trị ở nơi địa phương này, sống tại trong đầm. Tên hiệu là Ả Thuần Nương. Nay nghe Bệ hạ thân chính dẹp giặc, thiếp vâng chiếu Thiên đế muốn đến gặp, tự xin âm phù dẹp giặc lập công. Đến sau yên bình để được tỏ ngôi này.

Nói xong thì biến mất. Khi đó là mùng 7 tháng Giêng. Vua lấy làm là, liền gọi các cụ già đến hỏi cho rõ. Khi ấy cụ già tâu rằng:

  • Khu chúng thần đúng là hay thấy có sự hiển hiện khác thường. Hoặc hiện hình ở trong khu. Hoặc dẫn người nơi đường. Người không may bị hại vô số nên mới lập một ngôi miếu nhỏ ở trên đầm mà phụng thờ. Ngày rằm mồng một đều thắp hương đèn, thấy rất linh ứng. Nhưng không biết tên hiệu như thế nào.

Vua nghe vậy truyền cho nhân dân làm lễ bái yết. Rồi vua dẫn quân thẳng đến Khâm Châu,, đánh một trận. Quân Tống Chiêm thua to, bỏ chạy. Vua dẫn quân khải hoàn trở về, mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ theo thứ tự công lao. Nhân đó vua nói:

  • Quân Tống Chiêm dẹp yên được cũng là nhờ có thần âm phù trợ.

Vua bèn phong thêm trăm thần. Sắc phong tên thờ tên thần. Phong Ả Thuần Nương Công chúa, tặng phong Thanh ảo Nhàn uyển Thủy Tinh Phu nhân. Cho phép khu Mạnh Tân trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay.

Lấy  các ngày 15 tháng Hai và tháng Tám làm chính lệ xuân thu.

Năm đầu Hồng Đức ngày tốt đầu mạnh xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, trang 1004 – 995, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội.