Ngọc phả cổ chép về vị Bộ tích Đại vương Thượng đẳng thần. Thôn Thái Bình xã Vạn Thái huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Sơn Bình

Ngọc phả cổ chép về vị Đông cung Thủy thần, con Bộ chủ, Bột Hải Đại vương.
Chi Cấn, bộ tích Thượng đẳng.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ trời Nam đại bảo Tiền Hoàng đế khởi dựng cơ đồ, là thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Thường Thị, truyền đến đời thứ 6 là Hùng Huy Vương, là bậc thánh vương vậy, ngự trị trời Nam xưa. Nước ta tên gọi là nước Xích Quỷ, sau lại gọi là quận Giao Chỉ, mở mang cơ đồ nước Việt to lớn. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nên cung điện đô thành. Mở vật giúp người thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trấn các phiên bang chư hầu. Nối thừa nghiệp lớn ở Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi mãi giúp giữ dòng dõi truyền thừa vững như bàn đá. Linh thiêng hiển ứng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương, ngự vạn năm ở thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam.

Lại nói, tích truyền rằng Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, lập làm chính cung. Qua ba năm ba mươi ngày sinh được một bầu trăm trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là những bậc anh hùng vượt đời, dũng lược hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn chia chư hầu, lập bình phong phên dậu, chia thành 15 bộ. Một là Sơn Nam, hai là Sơn Tây, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính Châu, tám là Ô Châu, chín là Mai Châu, mười là Ai Lao, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Lại chia thành 50 người con theo cha về biển làm Thủy tinh, 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn tinh. Về sau chia thành trăm họ, cũng là trăm vương, ngự trấn một nước, hiển tỏ nơi đầu non góc biển, vạn cổ phong là thần. Sống là Bộ chủ hưởng lộc một phương. Hóa sau hưởng hương lửa cúng lễ vạn cổ không ngừng.

Lại nói, triều Kinh 6 đời truyền đến Hùng Huy Vương ở ngôi, đóng đô ở Việt Trì cạnh sông Bạch Hạc, lấy tên là nước Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong Châu. Huy Vương lấy phép tắc các đời trước để noi theo, chuyên tâm giáo dưỡng nhân dân, cũng là vị vua có chí trị vì vậy. Đang khi ấy, tương truyền rằng ở đất Quảng Đông có một một vị Bộ chủ dòng phụ đạo Thủy thần, cũng là dòng dõi trong trăm người con trai thuộc về Thủy bộ. Quan Bộ chủ họ Hùng tên Đức, lấy vợ người ở phường Vạn Ninh (vốn là dòng thủy cơ), họ Nguyễn tên là Thục, lập làm Chính cung. Vả lại vị họ Hùng vốn thực là có đức cao khoan hòa, yêu dân trọng nghĩa, tài giỏi liêm chính. Chính cung cũng là người có lòng thiện lành, kính ái tôn trưởng. Mọi người ở một phương ấy đều chịu ơn đức của ông bà. Đương thời đều coi như núi như biển, đức trọng ơn sâu.

Đang khi đó lũ lụt ngập trời, sông biển mênh mông. Nhân dân bị hại rất nhiều. Khi đó Vua sai các quan lang phụ đạo đi khắp thiên hạ đến các chốn ven sông, xem xét dân cư bị lũ lụt sạt lở như thế nào. Ngay hôm đó Vua sai Đức công làm Chủ trưởng dẫn quân sĩ đi kinh lược hai xứ Sơn Nam, Hải Dương, xem xét trộm cướp hại dân như thế nào. Truyền đem quân sĩ cùng quan địa phương để chống giặc Quế Lâm. Ngay hôm đó Chủ trưởng vâng mệnh tiến quân đi truy quét gian tặc. Lúc ấy mưa gió lũ lớn thường thường nổi lên. Thiên hạ thật là đói khổ, lại có nhiều giặc cướp. Một hôm Ông tiến quân đến huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, mới dừng xe ở nơi trú sở, đóng quân ở đó một tối. Quan địa phương đến làm lễ bái mừng. Xong việc ông nằm ở trong cung, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy một người mũ ngọc, đai gấm rực rỡ, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một con giao long, từ lòng sông đi thẳng lên, đường đường tiến vào trong sân huyện đường, đứng trước án của Ông, cúi đầu làm lễ. Ông hỏi:

  • Chức danh của người như thế nào mà lại cúi thân làm lễ vậy? Thật không dám.

Người đó tâu rằng:

  • Thần vốn là vâng đế mệnh làm chủ giữ bãi Đại Đường, trấn nơi bên sông. Nay Chủ quan có phúc dày tới mọi người, đức thật là thịnh. Do vậy mà ánh trời đã chiếu tận lòng lành, nên mới cho tiểu thần nhập vào nhà làm con để báo đức đó.

Nói xong bèn đưa giao long cho Chủ quan. Chủ quan ôm lấy quan nhân cùng với giao long, bỗng nhiên tỉnh lại, biết là mộng ứng. Bèn kể lại chuyện này với quan huyện. Quan huyện đáp rằng:

  • Giấc mộng của Chủ quan tất là nhà có phúc dày, công đức lớn, lòng trời báo đáp. Tất là thủy thần xuất thế, thiên tướng đầu thai, không phải điềm tầm thường. Quả là ứng nghiệm, không có gì phải nghi ngờ.

Đêm qua ngày tới, đã đến buổi sáng. Chủ quan rời giá cùng với quan huyện đi đến đất bãi Đại Đường để xem điềm mộng như thế nào. Bỗng thấy trên sông sóng to nổi lên ầm ầm. Lại thấy một con rồng trắng dài hơn 9 thước. Chủ quan bắt được rồng trắng ôm mang về, đi về đến nửa đường thì tự nhiên bay lên không mà biến mất. Chủ quan sai quân sĩ soạn lễ trai giới làm lễ ở nơi đất đó. Nhân dân (tức bãi Đại Đường) thấy vậy đều sợ hãi. Khi ấy chủ quan nói cho nhân dân biết chuyện. Chủ quan thấy điềm mộng báo như vậy mà đi đến tìm, thấy quả đúng như trong mộng không khác gì cả. Nhân dân thấy lời nói của Chủ quan như vậy thì trong lòng đều tự nhiên cảm động mà sợ hãi, bèn tâu rằng:

  • Thần dân sau này cùng với Chủ quan sẽ cùng là con cái một nhà. Đạo trời hiển nhiên, không phải do sức người vậy.

Ngay hôm đó làm lễ. Chủ quan rời giá tiến quân đi kinh lược hai xứ, quét sạch được giặc Quế Lâm. Việc xong được khi thanh bình, bèn trở giá về triều, khấu tạ trước bệ rồng. Ông lại trở về trị sở ở Quảng Đông. Khi ấy Chủ trưởng Đức công đã 39 tuổi. Chính cung 35 tuổi, một hôm gió mát nằm ở cung điện phía Đông, mơ màng nằm mộng. Bỗng thấy một con rồng trắng từ trên trời hạ thẳng xuống giữa bụng, gầm lên một tiếng. Khi tỉnh lại mới biết là nằm mộng. Từ đó Bà chuyển dạ có mang. Được 14 tháng thì sinh được một quả trứng. Qua 5 ngày thì trứng nở ra, thấy là một người con trai (tức là năm Bính Ngọ giờ Thân ngày 12 tháng Tư), phong tư lẫm liệt, diện mạo đẹp đẽ, 5 gò cùng chầu, bốn góc nổi cao. Sau lưng có 7 chòm lông dài hơn 3 tấc. Thật là kỳ hình dị tướng. Da bụng có hình như vảy lân. Lúc khi sinh ra sấm sét lẫm liệt, bốn hướng đều mờ mịt. Chỉ có nơi sinh ở giữa đều sáng láng, mùi hương thơm ngào ngạt, khí lành bao trùm. Chủ quan lập đàn trai giới làm lễ. Việc xong thì tự nhiên mây mù tự tan, trời đất trở lại trong sáng. Được trăm ngày Chủ quan mở tiệc mừng, bèn đặt tên là quan Bột Hải.

Xuân sinh hè trưởng, năm qua tháng lại, tuổi Ông đã lên 7. Khi đó có trường học của người chú là Lê tiên sinh đứng dạy học cho con trẻ. Chủ quan cho Hải quan vào học ở trường của người chú. Hải quan tính thích nước, khí chất thông minh, thiên tư trí tuệ. Học được vài năm thì các sách sử đều hiểu tinh thông hết. Thực là kỳ tài khác lạ, tính cách khoan hòa, hiếu thuận. Đương thời đều gọi là kỳ nhân vậy.

Lại nói, khi Hải quan 16 tuổi, người cha tạ thế (tức năm Giáp Thìn ngày 15 tháng Bảy). Hải quan dâng tấu lên triều đình. Vua truyền trăm quan đến làm lễ chôn cất ở nơi làm việc (tức đất Quảng Đông). Vua lại phong con của Đức công Chủ trưởng quan (tức Hải quan) làm Chủ trưởng Quảng Đông. Thật là anh hùng trí dũng, quốc sĩ vô song, tướng tài khó có hai, danh nổi bốn phương, đức ban bốn cõi.

Lại nói, Hải quan được 24 tuổi thì Vua rất yêu quý, sớm ngày cho kề cận bên triều vua, bèn bái làm quan Bồ chính. Hải quan nhận chức qua được vài năm. Năm đó bà mẹ là Chính cung qua đời. Ông bèn làm lễ chôn cất ở nơi đất đó (tức năm Ất Tỵ giờ Tý ngày 15 tháng Tám). Việc xong.

Lại nói, thời Huy Vương có một bà đồng tiên nhân là vợ của Bá Lang, vốn rất tinh thông địa lý, quán triệt thiên văn, thường có phép lạ cơ thần. Vua cho vào làm nội thị, thường hay có việc thì hỏi ý kiến. Khi ấy quan Bồ chính (tức quan Bột Hải) vốn tính trung thực, thường tâu rằng:

  • Nguyên bà đồng vốn mù mịt, một người ngu ngốc sao biết được việc của trời đất mà dám bàn luận. Nay lại được hầu cận vua, kể những thuyết hoang đường cho vua nghe. Nên chúng thần xin bệ hạ hãy thử nghi ngờ điều này.

Vua nghe quan tâu can gián, Vua bèn làm một lễ dối dâng lên Hoàng thiên để thử xem bà đồng có biết không. Do đó Hoàng thiên oán trách Vua rằng:

  • Bởi tự kiêu căng, tùy tiện làm lễ nên ra sự việc này. Trời sẽ giáng tai ương, đất nước sinh biến ra giặc lớn.

Lại nói, khi đó có giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng khởi binh ở nẻo Bắc. Trăm vạn tinh binh đến xâm phạm đất Việt muốn chiếm lấy nước ta. Vua rất lo lắng, ngay hôm đó sai các đạo quân trấn giữ các vùng đất hiểm yếu. Vua cho triệu ngay Hải quan, bái làm Đại tướng quân, dẫn một vạn quân mạnh đi tuần hành bốn hướng, chống trả với quân Ân. Khi đó, Hải quan vâng mệnh Vua, khấu tạ trước bệ rồng nhận mệnh, đường đường tiến đến phía đất Ái Châu, Hoan Châu thì bỗng gặp tiền quân của thủy quân Ân cũng tới. Ông bèn đánh giáp công một trận, tất cả bốn năm hiệp không phân thắng bại. Lại thấy quân Ân kéo đến rất đông, nên bèn bỏ việc giữ đất Ái Châu, dẫn quân trở về đến xã Trinh Tiết huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, xây dựng một đồn doanh để làm nơi đóng quân. Được một tháng thì quân Ân ngày càng mạnh lên. Đạo thủy quân bên tả áp đến các vùng đất sông Nhị, sông Tô Lịch, sông Hát. Hải quan bèn xuất quân ứng chiến, đánh một trận, chém được hơn mười đầu giặc. Quân Ân sắp thua thì hậu quân giặc đến tiếp ứng, bốn mặt kéo đến bao vây thành mấy vòng. Ông thấy khó có thể chiến đấu chống cự nên Hải quan liền lên ngựa múa đao, chém được 20 đầu giặc Ân, giải phá vòng vây mà thoát ra.

Khi đó Ông dẫn quân đến bãi Đại Đường. Lúc ấy ở đó hay xảy ra hỏa hoạn, ngày ngày đều có người dân bị tật bệnh không yên. Ngay hôm đó nhân dân lập một đàn chay tế trời đất. Đến buổi đêm đang khi làm lễ thì thấy có một vị quan thân mặc áo vàng, cưỡi ngựa hồng, tay cầm long đạo, từ dưới sông đi thẳng lên trước đàn, đứng ở trên ngựa mà nói với nhân dân rằng:

  • Nay có Chủ quan đi tuần giữ, chiến đấu chống Thạch Linh Thần tướng, đang tiến quân đến nơi bãi bên ngoài khu dân cư. Ngài chính là thủy thần của đất này. Sao các ngươi lại điềm nhiên không có lễ, không nghênh đón Chủ quan về đóng đồn nơi chốn cũ? Hãy mau chóng đón Quan vào trong ấp (tức xã Đại Đường).

Nói xong thì vị quan nhân tự nhiên biến mất. Nhân dân thấy sự việc trước mắt, ngay hôm ấy trong ấp cắt cử 50 người hào trưởng cùng mang lễ vật đi đến bãi ngoài sông. Nhân dân liền dập đầu làm lễ, đón vào trong ấp (tức xã Đại Đường). Hôm ấy Hải quan dẫn quân mã đi thẳng vào trong ấp. Nhân dân làm lễ cỗ chay bái mừng. Việc xong, Hải quan xem địa hình đất đó có quý cục, các dòng nước thông chảy nối nhau, tiến lui đều thuận lợi. Dân trong ấp giàu mạnh. Ngài bèn truyền nhân dân thiết lập 5 nơi đồn doanh để chống quân Ân. Nơi đất đóng đồn ở ngoài bãi phía trước có sông lớn chảy qua, phía sau lại có gò cao. Dân cư phong tinh dẫn mạch, tất cả đều quay về chầu.

Lại nói, Hải quan từ đó lập đồn ở nơi đất ấy, chống cự với quân giặc. Từ đó nhân dân được yên vui, không sinh bệnh tật, tất cả đều được yên lành, là nhờ đức của Hải quan lớn như núi như biển không cùng. Nhân dân địa phương nơi đó đều quy phục. Khi ấy thường thường bốn biển nổi việc chinh phạt can qua. Duy chỉ có Hải quan là giáo hóa dân phong thành mỹ tục, động thì xuất chiến, tĩnh thì dưỡng già giúp nghèo. Nhân dân, gia thần đều khất xin làm thần tử, nguyện theo ra đánh trận. Hải quan lấy làm quân thủ túc, thường thường xuất chiến, không phân thắng bại ra sao.

Khi ấy đất nước bị giặc Ân đến xâm chiếm gây loạn đã gần hai năm. Quân sĩ bị tổn hại vô số. Chỉ có đạo binh của Hải quan là đều được yên ổn. Tuy nhiên Thạch Linh Thần tướng là người trí dũng anh hùng, có nhiều mưu lạ phép kỳ. Thế giặc ngày càng mạnh lên. Thiên hạ biến loạn, thế nước gần suy. Vua bèn sai sứ quan triệu Hải quan dẫn quân trở về triều để lập mưu chống giặc. Thấy sứ giả đến gọi, Hải quan chiêu mộ được hai trăm nghĩa binh (tức ở xã Đại Đường). Ngay hôm đó Ông triệu phụ lão, nhân dân đến nói rằng:

  • Nay có 5 nơi đóng đồn quân ta giao phó lại cho nhân dân. Ngày sau có chỗ để làm sinh từ mà thờ phụng ta, để đề cao mỹ tục của dân chúng.

Nhờ đức lớn của quan mà được yên bình, dân có chủ không phải lo phòng bị. Ông bèn đồng ý như vậy.

Việc xong ông bèn cất giá về triều. Ngày hôm đó trăm quan tụ hội. Vua lập một chay đàn để cầu đảo trời đất trăm thần. Đang khi làm lễ bỗng thấy có một cụ già (tức Lạc Long Quân hiện xuống) xuất hiện. Vua hỏi kế dẹp giặc. Cụ già lập một quẻ rồi nói rằng:

  • Nếu cầu được người giúp thì giặc này chẳng bao lâu sẽ dẹp yên.

Nói xong cụ già bay lên không mà đi. Vua biết là lời dạy của Lạc Long Quân. Thế là Vua sai người đi cầu khắp thiên hạ. Đến Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai lên 3 tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, ăn uống lớn lên nhưng không biết nói cười. Người mẹ nghe sứ giả đến, mới đùa rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để lấy ban thưởng lớn của triều đình, báo đáp ơn sâu bú mớm.

Thần Vương nghe lời mẹ nói bỗng nhiên rằng:

  • Mẹ hãy gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói sứ giả:

  • Hay mau về báo với Vua, xin được ngựa sắt cao mười thước, búa sắt dài mười thước đem lại đây giao cho ta. Vua sẽ không phải lo lắng nữa.

Sứ giả đem lời nói lại với Vua. Vua rất vui mừng, ngay hôm đó đem ngựa sắt, búa sắt đến giao cho, lại cho các quan lang, phụ đạo cùng với các tướng hơn mười vạn tinh binh đi theo Thần Vương dẹp giặc. Khi ấy, Vua bái Hải quan là Thống chế Thủy bộ chư quân sự. Thuyền bè một trăm chiếc, quân giáp một đạo 2 vạn người, tiến theo đường thủy nghênh chiến giặc Ân.

Lại nói, Hải quan vâng mệnh dẫn quân mã tiến thẳng đến Hải Dương, cửa khẩu Thần Phù, bỗng gặp giặc Ân đến mà đánh một trận lớn. Giặc Ân chạy tán loạn. Hải quan cưỡi ngựa trắng, múa đao chém được hơn trăm đầu quân giặc. Lại nghe tin chính đạo quân Ân của Thạch Linh Thần tướng đã bị Phù Đổng Thần Vương tiêu diệt, nên quân Ân càng sợ hãi bỏ chạy. Hải quan thúc các đạo quân thủy đến giết được vô số, ném xuống biển.

Lại nói, giặc Ân đã được dẹp yên. Vua bèn gọi các đạo quân trở về triều đình. Khi ấy Thiết Xung Thần Vương trở về thẳng đến Sóc Sơn quận Vũ Ninh thì theo mây bay lên không mà đi. Về sau nơi đất đó lập thành đền mà phụng thờ. Vua cảm công đức bèn bao phong mỹ tự. Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Nay vẫn còn lưu dấu chân ngựa.

Khi ấy Hải quan dẫn quân sĩ trở về đến bến sông Đại Đường huyện Hoài An phủ Ứng Thiên. Bỗng thấy trời đất mù mịt, tất cả đều trở nên tối tăm. Bỗng thấy một chiếc thuyền rồng nổi lên trên mặt nước. Trong thuyền có tiếng người nói ra với Hải quan rằng:

  • Lũ giặc đã được dẹp sạch, hãy trở về Thủy quốc, chớ có chậm trễ.

Dứt lời, Hải quan cùng xuống vào trong thuyền mà biến mất (tức ngày 12 tháng Mười một). Khi Quan hóa mưa gió ầm ầm, trên trời sấm chớp sáng khắp chốn, trên sông sóng to nổi lên, cá lớn, ba ba, cá sấu hàng hàng lớp lớp. Nhân dân trông thấy thì lạc phách kinh hồn. Ngay hôm đó nhân dân làm biểu tâu lên triều đình. Vua nghe vậy bèn sai sứ quan đem sắc chỉ cùng áo mũ trở về dân bày tế, bốn mùa hương lửa không ngừng, cùng với đất nước vui hưởng, mãi mãi không đổi. Thịnh thay!

Cho phép xã Đại Đường huyện Hoài An là làng hộ nhi, chính đền phụng thờ. Phong Tối linh Bột Hải Đại vương.

Lại nói trải đến Đinh, Lý, Trần, Lê khai sáng cơ đồ, có nhiều linh ứng giúp nước cứu dân. Các đời đế vương bao phong mỹ tự, mãi cùng trời đất, phối cùng tháng năm mãi không mai một. Đáng phong thêm ba chữ Thượng đẳng Phúc thần.

Phong Tối linh Bột Hải Uyên hùng Khâm thuận Hộ quốc Tế thế Đại vương.

Vua Lê Đại Hành đổi là xã Thái Đường, cho phép xã Thái Đường huyện Hoài An phụng thờ.

Các kỳ sinh hóa và các ngày lễ lệ cùng với tên húy và sắc phục được khai như sau.

Húy các chữ Đức, Thục, Bột, Hải, cùng với màu vàng nhất thiết cấm.

Ngày phong sắc khánh hạ là mùng 8 tháng Giêng. Ca hát, đấu vật, đánh cờ.

Ngày sinh thần lệ là 12 tháng Tư. Chính ngày sinh nhật làm lễ cỗ chay, hương hoa, năm vị hương, ca hát ba ngày thì dừng.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười một. Đúng ngày hóa dùng bánh trôi, cỗ chay, chè thảo mộc.

Ngày hóa của Thánh phụ là 15 tháng Bảy. Ngày hóa của Thánh mẫu là 15 tháng Tám. Làm lễ tùy nghi.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu (1572) ngày 28 tháng Mười một, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ tư (1738) ngày 22 tháng Tám Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân đúng theo bản trước vâng chép.

Người dịch: Thạc sĩ Nguyễn Đức Tố Lưu, Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt.

Leave a comment