Ngọc phả cổ chép về hai vị đại vương khai quốc công thần triều Hùng có nhiều công lao, đáng tôn tước thần, đáng phong linh ứng
Sơn thần Chi Cấn. Bản chính bộ Lễ quốc triều.
Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ ứng đồ hơn hai ngàn năm, mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế mạnh phục các chư phiên. Nối tiếp ngôi báu cơ đồ to lớn. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giữ dòng dõi bền vững như bàn đá. Hiển linh ở núi Nghĩa Lĩnh. Phàm là những vị công thần giúp nước có nhiều công lao, những người trung nghĩa với triều đình và đất nước, thì tuy hóa mất nhưng dấu tích vẫn còn, tên tuổi còn với núi sông, sự nghiệp gắn với năm tháng mãi mãi trường tồn.
Lại nói, các đời trước truyền đến Kinh Dương Vương lấy người con gái Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Long Quân có tư chất phi thường, vốn có khí tượng của bậc đế vương. Khi ấy có người con gái của Đế Lai là Âu Cơ về ở tại quê mẹ tại động Lăng Sương, ra chơi ở Trường Sa. Long Quân gặp được, rất yêu mến nhan sắc đó nên cưới về, lập làm Hoàng thái hậu. Đến khi Kinh Dương Vương tuổi đã cao, Long Quân nhận nối ngôi vua, đổi tên là Hiền Đặc. Âu Cơ qua hai năm sau có mang, được đủ qua ba năm ba mươi ngày mới đến kỳ mãn nguyệt, sinh hạ một bầu, nở ra trăm trứng, thành điềm trăm trai (tức là năm Giáp Dần giờ Dần ngày mùng 6 tháng Giêng thì sinh). Đang lúc sinh bỗng thấy trên trờ có mây lành năm sắc rực rỡ, khí tốt huy hoàng, không phải như người thường sinh ra. Trải qua trăm ngày, trăm người con trai đều có diện mạo đường đường, vẻ uy lẫm liệt, hàm hổ dáng rồng, thân hình cao lớn, thực là những người con trai khác lạ, dị thường. Đến khi trưởng thành khí chất thông minh, tài cao mưu dũng, hô mưa gọi gió, vượt núi qua sông, biến hổ hiện rồng, ra thần vào thánh, biến hóa vô cùng.
Khi ấy Long Quân cho đặt tên gọi. Mới đặt tên người con trai thứ ba là Uy công, người con trai thứ tư là Tuấn công. Còn lại 98 người con trai khác được ghi ở tích riêng. Đặt tên xong Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
Ta là giống rồng, nàng là loài tiên. Tuy là cùng thân thiết nhưng nước lửa tương khắc, nhân đó mà chia biệt.
Chia tước hầu mà lập các nước chư hầu, lập làm trăm vương, cải thành trăm họ, lệnh trấn giữ các đầu núi góc biển, hùng cứ ở các phương mà trị nước. Bèn đặt 50 người con theo cha về biển là Thủy thần. 50 người con theo mẹ đặt là Sơn thần. Là tổ của Bách Việt vậy.
Lại nói, vào thời Hùng Vương trị vì thiên hạ thái bình, dân giàu vật khỏe, đương thời đều gọi là thịnh trị vậy. Khi ấy vua Ân thấy nước Nam không vào chầu làm lễ nên tự dẫn quân giả là đi tuần thú, muốn đến đánh chiếm. Hùng Vương nghe tin liện triệu gấp các vị sơn thần, thủy thần về triều đình để giúp nước. Khi đó chỉ có hai ông theo cùng với Đổng Thiên Vương tiến quân, cưỡi ngựa sắt thẳng đến đất Chu Sơn huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh), lập trận chia các đồn để đánh quân Ân. Lúc ấy hai ông mới chia nhau lập đồn trại ở tại địa giới trang Bất Phí. Tuấn công lập đồn ở hướng Tây. Uy công lập đồn ở hướng Đông. Đến kỳ định thì bày trận đánh lớn một trận. Quân Ân đều bị phá tan, sợ hãi quay giáo chống cự, chết tại chân núi Chu Sơn.
Khi ấy quan quân đều bái lạy trước mặt, đến xin hàng phục, vì thế mà yên giặc vậy (Đổng Thiên Vương có sự tích ở phả chép riêng). Từ sau khi dẹp được quân Ân hai ông tiến quân trở về triều đình, bái yết trước vua. Hai ông sau đề quay về núi mà hóa mất (tức ngày 12 tháng Tám ở đất núi Ngọc Chúc).
Từ sau khi hóa mất trời đất mù mịt, mưa gió lớn nổi lên, mây mù che phủ ở nơi ấy. Nhân dân thấy vậy bèn làm biểu tâu lên nhà vua. Vua nghe vậy, rất thương tiếc công thần có công với nước, bèn ban tặng cho là họ Cao, lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ về tại nơi cung đồn trang ấp, truyền nhân dân sửa sang lập hai ngôi đền thiêng tại hai cung nơi đồn sở đó để phụng thờ. Lại ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 70 quan để tiền chung, dùng làm quốc tế xuân thu, phong thêm mỹ tự Thượng đẳng Tối linh thần, vạn năm hưởng lộc cùng với đất nước, mãi mãi là quy thức không đổi. Thịnh thay!
Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Hiển hữu, tặng Hưng Phúc Thượng đẳng thần Đại vương.
Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Phổ quốc, tặng Quý Minh Thượng đẳng thần Đại vương.
Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi cho đền thiêng thứ năm, hương lửa phụng thờ.
Lại nói, đến về sau qua các đời đế vương đến khi triều Lý Thái Tổ làm vua. Bỗng có Chiêm Thành dẫn quân đến xâm chiến đất nước. Vua mới cất giá dẫn quân đi dẹp giặc Chiêm. Bỗng thấy khi qua địa giới của trang thì trời đã xế chiều, bóng dương đã ngả. Vua bèn cho lập đồn đóng quân ở đất đó. Đến nửa đêm vua bỗng nhìn xa thấy ở hướng Đông và hướng Tây có hai khối lửa đỏ
Hình dáng như đèn lồng bay thẳng đến trước mặt. Vua thấy thế cho là lạ liền gọi nhân dân trong trang đến hỏi:
Ở phía Đông và Tây có đền thần linh thiêng nào không mà thấy có điềm kỳ lạ như vậy?
Nhân dân, phụ lão tâu lại rõ ràng mọi chuyện trước sau. Nên vua liền truyền cho nhân dân làm lễ chay giới vào trong đền mà cầu khấn. Đang lúc tế khấn bỗng thấy trời đất có mưa to gió lớn nổi lên, bạt cây tung cát, sấm sét vang rền. Vua thấy linh ứng như vậy nên đích thân đến tế chúc rằng:
Nay nước gia có việc giặc Chiêm đến xâm phạm. Ta đích thân đi đánh giặc, lập đồn đóng quân ở đây, làm lễ tự mình cầu đảo trời đất thần linh cùng đến tương trợ, cho giúp được lực âm phù vậy.
Khấn xong bỗng thấy trời đất sáng tạnh, mưa gió yên lặng. Vua bèn làm lễ tạ rồi trở về nơi đồn quân. Đến cuối canh ba vua bàng hoàng nằm mộng thấy có hai vị thần nhân, áo mũ rực rỡ, tay cầm thẻ ngọc, tiếp đến đứng ở hai bên. Vua bèn hỏi rằng:
Các vị ở đâu mà đến đứng ở đây?
Hai thần nhân cùng tâu rằng:
Chúng tôi đều là anh em của tản Viên Sơn triều Hùng, em thứ ba và thứ tư. Nay Thiên đình giao cho trấn giữ nhân địa phương nơi đất này. Nghe được là Hoàng đế đích thân đi chinh chiến nên đến bái mừng. Xin được ra sức âm phù thánh giúp nước, làm rạng công chuyện của mình.
Tâu xong bỗng thấy hai vị thần nhân bay lên mây mà đi. Đến sáng ngày hôm sau vua tỉnh lại biết là thần ứng mộng. Vua bèn cất quân thẳng đến đồn trại quân Chiêm, đánh một trận lớn. Đang ở trận tiền bỗng mưa gió lớn nổi lên, sấm động vang rền, mây bay mù mịt. Giữa ban ngày mà như đêm. Xuất hiện hai vị thần nhân đứng giữa quân giặc, tay chân múa lên, hô to ba tiếng như sấm rền. Quân giặc thấy vậy đều sợ hãi, bỏ chạy mà được dẹp yên. Đến sau khi dẹp xong giặc vua dẫn quân khải hoàn về triều, liền lệnh cho đình thần mang sắc chỉ về trang truyền cho nhân dân tu sửa đền thiêng phụng thờ. Ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 31 quan để làm lễ quốc tế xuân thu. Truy phong mỹ tự là Thượng thượng Tối linh thần, vạn đời hưởng lộc, hương lửa không ngừng.
Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Cảm ứng Hiển hữu, tặng tên Hưng Phúc Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.
Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Cảm linh Phổ quốc, tặng tên Quý Minh Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.
Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi chính của đền thiêng thứ năm, thờ cúng hương lửa.
Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc ngày tốt mùa xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.
Năm thứ ba niên hiệu Vĩnh Hựu ngày tốt mùa đông, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo bản chính trước đây mà sao chép.
Lạc Long Quân và Âu Cơ ở đền Đoan Bái, Gia Bình, Bắc Ninh
Về việc hình thành nước Văn Lang của các vua Hùng, các thần tích thường kể như sau: Từ triều Hùng Kinh Dương Vương tuân mệnh vua cha phân phong, làm dòng đế vương nước Việt ta. Đất đẹp Hoan Châu xây dựng kinh đô. Hình nơi Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền quốc đến đời sau xưng là Lạc Long Quân, cưới tiên nữ Động Đình, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh, mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó có mang, đến khi sinh hạ được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai…
Khi ấy Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí âm dương hợp lại mà có con nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống được.
Thế là chia tách nhau, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi sông, ngòi, khe, lạch. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, chia trị các chốn gò đồi, rừng núi. Lập người con cả làm vua...
Lại nói, họ Hùng truyền nối sáu đời thì đến thời Huy Vương. Vua nối tiếp vận tốt hanh thông sáu đời, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên Văn Lang.
Như thế, kinh đô thời nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân gồm Hoan Châu và Nghĩa Lĩnh. Nhưng không biết từ lúc nào truyền đời tới Hùng Huy Vương thì lại đã có nước tên Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu.
Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả thì sắp xếp chuyện này thành Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, lập con trưởng là Hùng Quốc Vương, dựng nước Văn Lang, đóng đô ở Việt Trì. Theo đó, người dựng nước Văn Lang, xây thành Phong Châu không phải ai khác mà chính là dòng tiên theo mẹ Âu Cơ, sau khi “thủy hỏa xung khắc” với giống rồng của Lạc Long Quân. Cuộc chia tay lập quốc này không nhẹ nhàng như vẫn nghĩ, mà nó kéo dài cả nghìn năm, từ khi Kinh triều Lạc Thị đánh thắng Thục lần thứ nhất, mở ra thời đại xuống biển của các Lạc Vương, cho tới khi Thục Vương được Sơn Thánh khuyên vua Hùng nhường ngôi mà về Phong Châu lập đô. Trong nhiều sự tích đều nói tới những cuộc chiến Hùng – Thục này, có thể kể tóm tắt như sau.
Khi ấy Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, thừa cơ phát binh từ phương Tây đến tấn công. Sơn Thánh lĩnh mệnh cầm quân, phục kích đánh tan quân Thục ở châu Quỳnh Nhai, khải hoàn trở về.Mấy năm sau, Thục Vương lại phát 5 đạo quân thủy bộ theo các đường châu Quỳnh Nhai Hoàng Tế, Lạng Sơn Văn Giản, Đại Man, Bố Chính Minh Linh, Hoan Châu Hội Thống tiến đánh Hùng Vương. Lần này Sơn Thánh cùng với 2 vị tả hữu kiên thần là Cao Sơn và Quý Minh dẫn quân đánh vào chính binh quân Thục. Sơn Thánh giả ấn của Thục Vương viết thư gửi tướng Thục lệnh án binh cố thủ. Nhân đó Sơn Thánh đem quân đến thẳng kinh đô Thục tập kích, đại phá được cánh quân chính.
Sau trận thắng này, Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ và khuyên Duệ Vương:
Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của hoàng đế trước đây. Nay thế nước kém thường cũng là chuyện do tiền định. Vua không nên vì yêu một cõi phương Nam mà đối địch với ý trời vậy, làm hại đến sinh linh.
Duệ Vương nghe theo, nhường ngôi lại cho Thục Vương, còn nhân đó đem tặng cả nỏ thần linh quang làm vật bảo quốc. Thục Vương nhận vị, mới về Nghĩa Lĩnh lập miếu đền thờ Hùng Vương…
Một cách kể khác về cái kết của Hùng Duệ Vương và khởi đầu của Thục Vương như thần tích Hương Lan (Phú Thọ): … Đến lúc lòng Trời có hạn, cơ nhà Hùng kết thúc. Duệ Vương tự vì giàu mạnh mà không tu chính đức, lấy ấn kiếm làm đồ giữ nước, lấy tửu sắc làm nền móng cho việc thủ thành, việc võ bị phế buông. Ngày đêm yến ẩm ở trong cung đình. Thục Vương thừa cơ đến xâm lấn. Tướng sĩ đều cùng tử nạn. Thư từ biên thùy báo gấp mà Vua không nghe. Đến khi quân Thục đã đến gần, Vua còn đang say chưa tỉnh. Tướng sĩ trong nước hàng Thục nên cơ đồ họ Hùng đã hết. Than ôi, không có điều gì để nói về sự này nữa. Bể dâu đổi thay. Thế cuộc xoay vần. Thế này cũng đã không còn như vậy được nữa... Được năm sáu tháng khi Thục Vương lấy được nước, cho xây thành ở Việt Trì, rộng hơn ngàn trượng, cuốn quanh như vỏ ốc, tên gọi là Loa thành.
Về việc chuyển giao triều đại từ Hùng Duệ Vương sang Thục Vương như vậy có 2 cách kể. Một là Hùng Duệ Vương theo lời Tản Viên Sơn Thánh nhường ngôi cho Thục Vương. Hai là Thục Vương sau nhiều lần tấn cống đất của Hùng Duệ Vương đã chiếm được nước rồi dời đô xây thành ở Việt Trì. Cả 2 cách kể… đều đúng, bởi nó kể đến 2 giai đoạn khác nhau của thời đại Hùng Vương. Giai đoạn mà vua Hùng nhường ngôi cho Thục Vương xảy ra vào cuối thời Hùng Vương. Còn giai đoạn mà Thục Vương chiếm đất Phong Châu mới là sự kiện lập quốc Văn Lang. Tóm tắt lại sự kiện Âu Cơ đánh thắng Cao Sơn họ Sùng lập nên nước Văn Lang – Âu Lạc như sau:
Vị vua Hùng đời cuối của dòng theo cha Lạc Long Quân ra biển là vua Trụ nhà Ân Thương. Đế Tân là người có trí lược, dũng mãnh, từng chinh phạt nhiều nơi, nhưng do có tính tình tàn ác, lại chìm đắm trong tửu sắc, giết hại các đại thần nên đã làm cho “Hùng đồ mạt tạo, vận nước cáo chung”.
Tây Bá hầu Cơ Xương là thủ lĩnh đứng đầu các chư hầu miền Tây của nhà Ân. Truyền thuyết Việt gọi là Thục chúa, Bộ chủ Ai Lao. Thục là hướng Tây. Ai Lao là vùng cao nguyên Vân Nam Quý Châu, mà nay vẫn còn dãy núi Ai Lao Sơn ở đó.
Cơ Xương khởi sự không đánh trực tiếp vào kinh đô của Trụ Vương ở An Huy mà đầu tiên đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất phía Bắc xưa của nhà Ân. Vùng này tương ứng với đất Lạc (Lạc = nước là tượng của phương Bắc). Sùng Hầu Hổ trong truyền thuyết Việt được gọi dưới tên Tản Viên Sơn Thánh. Sơn là quẻ Cấn trong Tiên thiên Bát quái, chỉ hướng Bắc. Sùng Hầu Hổ như thế là tiếp nối dòng dõi Lạc Long Quân, có thể gọi là một Lạc Vương ở vùng đất này. Sùng Hầu Hổ được chép thành ra tên của Lạc Long Quân là Sùng Lãm.
Là 2 đại thủ lĩnh 2 miền lớn của thiên hạ nên cuộc chiến giữa Tây Bá hầu Cơ Xương và Bắc Bá hầu Sùng Lãm diễn ra một cách ác liệt, với nhiều binh lính, nhiều trận chiến khó khăn, nhiều mưu mẹo như mô tả việc Sơn Thánh đánh Thục trong các thần tích. Chiến trường chính là mạn ngược giữa Bắc Việt và Vân Nam nên thần tích ghi là các châu Quỳnh Nhai, Đại Man, Mộc Châu… Không ít lần quân của Cơ Xương (Thục chúa) đại bại, thậm chí kinh đô Thục ở Ai Lao (Vân Nam) cũng bị đánh phá. Nhưng cuối cùng, sức người không bằng ý trời, Cơ Xương nhờ có lòng nhân đức, bao dung, đã thu phục được nhân tâm và giành thắng lợi. Truyền thuyết kể là Sơn Thánh đã theo mệnh trời mà khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương.
Tin Cơ Xương chiếm được nước Sùng, làm rung chuyển cả kinh đô Triều Ca của Trụ Vương như Kinh Thư kể. Cơ Xương cho dời đô từ miền Tây về đất Phong Châu, tức là vùng Việt Trì ngày nay. Đây là kinh đô của họ Hùng từ thời mở nước của Đế Minh và hẳn cũng là nơi đóng đô của Sơn Thánh – Sùng Hầu Hổ khi đó. Truyền thuyết kể thành việc Thục Vương xây thành ở Việt Trì, lên núi Nghĩa Lĩnh lập miếu điện thờ cúng Hùng Vương…
Như vậy, tục thờ Hùng Vương đã bắt đầu từ thời nhà Thục cách nay 3.000 năm. Đền miếu ở Nghĩa Lĩnh là nơi thờ các vị Hùng Vương Thánh tổ đầu tiên gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, chứ không phải thờ Hùng Duệ Vương. Vì “Thục Vương cũng là tông phái của Hoàng đế họ Hùng” nên mới thờ những vị Thánh tổ đầu tiên của họ Hùng. Cơ Xương cũng là người mang họ Cơ, là họ của Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên.
Cùng với việc lập miếu thờ Thánh tổ Hùng Vương, Thục Vương Cơ Xương còn chiêu mộ các cựu thần của Hùng Vương (nhà Ân) trước đây. Đối với những người không theo Thục mà trung nghĩa tử tiết, Cơ Xương đều “phong thần”, cho lập miếu thờ tự như những ví dụ ở trên. Chính do có tấm lòng nhân đức này của Cơ Xương mà cơ trời lòng người đã từ Hùng (nhà Ân) sang tay Thục (nhà Chu).
Sự kiện Cơ Xương thu phục được Sùng Hầu Hổ và dời đô về đất Phong, lập nước Âu Lạc, còn được kể trong truyền thuyết Việt với việc Âu Cơ (Cơ Xương) chia tay với Sùng Lãm, về Phong Châu lập ra nước Văn Lang. Văn Lang là gọi theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương. Còn Âu Lạc chỉ việc sát nhập 2 khu vực Âu của Thục Chúa và Lạc của Sơn Thánh.
Nhờ có được nửa thiên hạ 2 miền Tây và Bắc (hướng Nam nay) Trung Hoa mà sau đó con của Cơ Xương là Vũ Vương Cơ Phát đã phát động cuộc chiến quyết tử phá Trụ diệt Ân. Cuộc chiến thần thánh này được sử Việt mô tả trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Cơ Phát được Hùng Vương ngọc phả chép là con trưởng Hùng Quốc Vương, đã lên ngôi thiên tử, tiến hành việc phân chia đất đai trăm họ chư hầu, đặt ra lễ chế trăm quan, phong cho trăm thần, là những tướng lĩnh đã tử trận trong cuộc chiến Hùng – Thục / Ân – Chu kéo dài hàng chục năm. Nước Văn Lang – Âu Lạc trở thành Trung Nguyên của Thiên hạ Trung Hoa, bắt đầu một Hùng triều tiếp theo của dòng họ Hùng, kéo dài hơn 800 năm.
Câu đối ở đền thờ Âu Cơ tại Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ: Tố Hồng Bàng đế kết dĩ lai, tiên chủng vĩnh truyền lưu quốc tổ Lịch Tượng Quận triệu tu nhi hậu, nhân quần miên mộ bá Viêm bang.
Nghĩa là: Nhớ thủa Hồng Bàng gắn kết tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ Trải đất Tượng quận dựng sửa sau về, bầy dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.
Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Liệp Tuyết, tổng Liệp Mai, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây
Ngọc phả chép về ba vị thủy thần xuất thế triều Hùng Huy Vương đánh giặc Ân
Chi Tốn. Thứ năm bộ Thượng đẳng.Bản chính bộ Lễ quốc triều
Xưa cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh sinh Đế Nghi rồi nhân đi tuần phương Nam ở Ngũ Lĩnh mà gặp được nàng Vụ Tiên mới sinh ra Lục Tục. Lục Tục tư chất phi thường, có khí chất của bậc đế vương. Đế Minh muốn truyền lại ngôi vị. Lục Tục cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh truyền ngôi báu cho Đế Nghi, lại phong Lục Tục ở phương Nam, hiệu là nước Xích Quỷ.
Lục Tục bái từ biệt cha và anh đi nhận phong ở phương Nam nước Việt ta, đổi là Việt Thường Thị, xưng tên là Kinh Dương Vương. Đất thắng Hoan Châu xây dựng kinh đô. Núi mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền đến đời thứ hai tên là Lạc Long Quân. Khi đó Long Quân lấy tiên nữ Động Đình là Âu Cơ, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó mang thai, được ba năm ba tháng thì sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong chư hầu, lập phên dậu bình phong, chia trong nước thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Bắc Kinh, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.
Khi ấy Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí âm dương hợp lại mà có con nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống được.
Thế là chia tách nhau, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi sông, ngòi, khe, lạch. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, chia trị các chốn gò đồi, rừng núi. Lập người con cả làm vua. Nếu có việc thì báo cho nhau, các thần sơn thủy cùng đến phụ giúp, không thể nào phai một. Thế nên cuối cùng thời triều Hùng trăm thần thủy sơn thường hay xuất thế, đầu thai nhập vào làm con ở nhân gian, để giúp nước giữ dân. Gia đình nào có phúc dày tất sẽ gặp được.
Lại nói, họ Hùng truyền nối sáu đời thì đến thời Huy Vương. Vua nối tiếp vận tốt hanh thông sáu đời, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên Văn Lang. Quốc đô là thành Phong Châu. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mị nương. Hữu ty gọi là bồ chính quân. Rủ áo chắp tay, nguy nga chín bệ. Dân được đào giếng cày ruộng, vui vẻ bốn bề một cảnh tượng thái bình. Thời Vua rạng rỡ, lại kính trời theo tổ, tin theo việc thần kỳ. Đương thời gọi là bậc hiền quân vậy.
Xưa vào thời đó tương truyền rằng nước Việt ta ở huyện An Sơn (An Sơn thuộc phủ Quốc Oai đạo Sơn Tây) có vị quan lang vốn là cháu của Hùng Huy Vương, tên là Hùng Chiếu Công. Ông tuổi 18 thì nhận phong tước có thực ấp tại An Sơn. Khi ông mới đến nhận đất, đi khắp trong huyện để xem xét thế núi thế sông mà lập cung để ở. Một hôm đi đến trang Lạp Hạ, thấy mạch Càn Cấn chạy tới, có sông Tích uốn lượn, sông núi hữu tình, bèn lập một cung gọi tên là cung Đại Phu mà ở.
Khi ấy trang Lạp Hạ có một trại thứ hai tên là trại Vĩnh Phúc, có một người con gái nhà họ Nguyễn, tên là Nguyễn Kim Nương, có dung nhan chim sa cá lặn, vẻ mạo hoa nhường nguyệt thẹn. Hùng Chiếu Công thích thú muốn cưới, chọn ngày để định lễ dương cờ, duyên lành đẹp đẽ, đón về cùng sống tại cung Đại Phu. Từ khi thành gia thất được hơn mười năm mà phòng lan chưa thấy sinh hương, buồng quế chưa tỏ một đóa. Chiếu Công buồn bã không vui, muốn từ quan mà về, nhưng lòng Vua không cho, việc quan cứ thế qua đi. Đến khi tuổi đã 50, thường than rằng:
Người xưa có 3 điều mong muốn: Giàu có, Sống lâu, Nhiều con trai. Ta giàu có tuy không phải như vương giả nhưng cũng là bậc phong lưu. Tuổi nay đã 50 thì cũng coi là sống thọ. Chỉ là chưa có con trai, nên tâm niệm rằng núi tiền biển bạc coi nhẹ như lông, như cỏ. Con hiếu cháu hiền trọng như vàng ngọc. Không con mà giàu, thì giàu làm gì. Có con dù nghèo, nghèo cũng là vui vậy.
Nên ông lấy hết bổng lộc quan của mình đem phân phát giúp người nghèo khổ, nửa điểm hại người cũng không có ý, một hào lợi riêng cũng không có lòng. Như thế qua được ba bốn năm. Một hôm bỗng thấy trời đất mù mịt, mưa to gió lớn nổi lên, nước sông Tích ầm ào như tiếng sấm động. Đến khi trời đất trong sáng trở lại thấy ở trước cung bỗng thành một vực, sâu hai ba trượng ở tại đó. Ông mơ màng nằm mộng, thấy có ba người, thân thể kỳ dị, diện mạo mạnh mẽ, mặc áo hồng, đeo dải chuỗi ngọc, từ ngoài bãi sông Tích mà đến ở trong vực đó. Được một lúc thì ba người đi lên thẳng tới trước mặt ông. Một người xưng là Triều Lang, một người là Thần Lang, một người xưng là Gia Lang, đều là trong anh em một bầu trăm trứng của Lạc Long Quân, nắm quyền phụ trách ở trên khe Mao Khê. Mao Khê ở tại phía trái của núi Tản Viên, tên thường gọi là Ngòi. Vâng mệnh Hoàng thiên đến đầu thai vào làm con nhà ông.
Ông bỗng tỉnh lại mới biết là nằm mơ. Từ đó bà Nguyễn Thị thân chuyển mang thai. Ngày mười hai tháng Năm năm Nhâm Thìn sinh ra một bọc, nở ra ba người con trai, đều có hình tướng kỳ lạ. Đang khi sinh khí lành bay khắp, khói thơm nồng nàn. Hùng Chiếu Công nhân theo trong mộng mà đặt tên người thứ nhất là Triều Lang, người thứ hai là Thần Lang, người thứ ba là Gia Lang. Đến khi lên ba tuổi Huy Vương ban chiếu gọi người cha về triều nghe mệnh vua. Chiếu Công bèn dẫn theo bà Nguyễn cùng với ba người con về triều. Cha con cùng vào bái Vua. Huy Vương thấy ba chàng diện mạo phi thường, mới gọi Chiếu Công đến hỏi. Chiếu Công đem giấc mộng kể lại tường tận tấu lên. Vua biết là thủy thần xuất thế bèn cho sắp xếp nuôi dưỡng ở trong cung. Đến năm 12 tuổi cho tìm thầy dạy học. Ba anh em vốn bản tính thông minh. Học được vài năm thì văn chương thấu suốt, có thể sánh cung tường Khổng Mạnh, võ bị tinh thông không kém thao lược Tôn Ngô.
Năm 18 tuổi người cha là Chiếu Công tuổi đã 74. Một hôm bỗng nhiên bị sốt liên miên, uống thuốc không giảm, cầu thần không hiệu nghiệm, rồi mất ở trong chính cung. Ba anh em làm lễ chôn cất. Được hai năm sau người mẹ cũng mất theo. Ba năm chịu tang, cúng tế theo nghi lễ.
Khi đó quốc gia có một người vu nữ, có thể tinh thông việc trời. Vua thử làm điều xấu mà trời cao có biết, giáng thẳng những điềm tai ương kỳ dị như voi không ngà, ngựa đỏ ba chân. Vua gọi vu nữ đến hỏi. Sau một lúc, vu nữ quỳ tâu rằng:
Quân vương đã coi thường Hoàng thiên. Ba năm sau tất sinh giặc lớn. Nếu như biết tu đức thì trời sẽ giáng sinh cho kỳ tài để giúp.
Qua được quãng ba năm quả nhiên thấy thư từ biên cương báo gấp, giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng dẫn trăm vạn quân mạnh tiến đến Bắc Kinh, dựng đồn lớn tại đất Trâu Sơn. Giáo giáp khắp trời, cờ xí khắp chốn. Vua mới trai giới lập đàn, tế cáo trăm thần trời đất, đốt hương cầu đảo. Ba ngày sau mưa to gió lớn nổi lên. Thấy có một dị nhân cao hơn 9 thước, ở chỗ ngã ba đường mà cười nói nhảy múa. Mọi người thấy thì vào tâu với Vua. Vua thân ra nghênh đón vào trong đàn, hỏi rằng:
Nay có giặc đến xâm phạm. Thắng bại như thế nào, xin được chỉ giáo.
Dị nhân hồi lâu lập quẻ bói, nói với Vua rằng:
Trong nước hiện có ba người chính là thủy thần xuất thế. Một tên Triều, một tên Thần, một tên Gia. Ba người anh em này có thể sai gấp trước tiên dẫn quân chống giặc. Sau đó nên lệnh cho sứ giả đi cầu trong thiên hạ. Nếu cầu được người thì giặc tất sẽ không phải lo lắng.
Dứt lời thì dị nhân bay lên không mà đi. Vua biết là lời dạy của Lạc Long Quân bèn một mặt cho gọi Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang dẫn mười vạn quân tiến đi trước. Một mặt lệnh cho mười vị sứ giả chia đường mà chiêu mộ người tài. Một hôm sứ giá đi chiêu mộ đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh đạo Bắc Kinh. Trước đó làng Phù Đổng có một gia đình giàu có, sinh được một người con tên là Thiết Xung. Tuổi đã lên ba mà chỉ biết nằm, biết ăn uống, không biết ngồi, biết nói. Người mẹ nghe sứ giả đến, mới đùa rằng:
Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận tước cao của triều đình, để báo đáp ân sâu nuôi dưỡng.
Nhà ngươi hãy về báo với Vua cho đúc thành một con ngựa sắt mười thước, một cây búa sắt dài mười thước, một bộ áo sắt, nón sắt lớn. Ba thứ này đem đến cho ta thì Vua không cần lo gì nữa.
Sứ giả trở về, tâu lại với Vua. Vua bèn lệnh cho thợ đúc thành ngựa sắt, áo sắt, nón sắt đem chở đến cho Thiết Xung. Thiết Xung ăn uống một bữa no say, thì thầm vài chục tiếng, bỗng nhiên thân dài ra mười thước, mặc áo sắt, đội nón sắt, cầm búa sắt, cưỡi ngựa sắt, hô to rằng:
Ta là thiên tướng đây.
Ngựa chạy như bay thẳng tới quận Vũ Ninh, hợp cùng với Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang đánh một trận lớn, bắt sống Thạch Linh Thần tướng, chém ngay dưới trướng. Còn lại các dư đảng chưa trừ hết mà búa sắt đã bị gẫy mất. Thiết Xung bèn nhổ tre cùng với ba anh em tiến đánh một trận. Quân giặc dẹp yên xong. Vua ban chiếu gọi về. Thiết Xung đi đến núi Sóc thì cưỡi ngựa bay lên trời mà đi. Vua bèn phong làm Phù ĐổngThiên Vương. Ngay nơi đất đó cho lập miếu để thờ.
Còn Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang ba chàng trở về triều. Vua đều phong tước trọng. Ba chàng từ chối không nhận, xin được trở về cung Đại Phu ở trang Lạp Hạ huyện An Sơn, là nơi sinh và nơi ở của các chàng trước đây. Vua đồng ý, bèn cho ba chàng cùng có thực ấp ở huyện An Sơn. Từ đó ba chàng ở tại cung Đại Phu, thường đi lại giữa hai trại Đại Phu và Vĩnh Phúc, khuyến khích việc nông tang, thúc đẩy điều tốt, trừ bỏ điều xấy. Thường thường cùng với mấy người gia thần hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đàn hạc gió mát, chu du bốn biển. Hoặc khi xem sông hỏi bến, đội nắng mà đến các dòng hạ lưu. Hoặc khi núi lành dạo bộ, làm bạn với gió mát nơi đồng hoang. Một hôm ba chàng đi đến Mao Khê ở Tản Viên. Ba chàng cùng chỉ nơi đó mà nói:
Đây chính là nhà của anh em chúng ta.
Đang khi đó bỗng thấy trời đất có mưa gió mù mịt. Nước khe dâng sóng, giao long, cá, ba ba trùng trùng vạn sóng nối nhau. Cá côn, cá kình, nghê lớp lớp ánh trùm thiên hà. Ba chàng đều xuống khe đó mà hóa (khi đó là ngày mùng 10 tháng Bảy).
Khi ba chàng đã hóa, những người hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đi theo mới trở về nói với nhân dân. Nhân dân làm biểu dâng tấu. Vua mới phong thêm là:
Triều Lang là Đệ nhất Lang Linh Khê Đại vương
Thần Lang là Đệ nhị Lang Linh Khê Đại vương
Gia Lang là Đệ tam Lang Linh Khê Đại vương.
Sắc chỉ ban cho mang về hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc trang Lạp Hạ để lập miếu thờ phụng. Đến thời nhà họ Hùng đời thứ 18 là Duệ Vương. Tản Viên Sơn Thánh xây cung ở trang Lạp Hạ, lấy sáu trại Lạp Hạ, mỗi trại mười người làm ca nhi. Cứ mỗi năm mùa xuân ca hát, chơi nhạc. Nên về sau sáu trại Lạp Hạ cùng thờ Sơn Thánh làm chính thần. Còn ba vị Triều, Thần, Gia cùng được phối hưởng thờ. Từ đó về sau qua các thời Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần cùng Hoàng gia ta khai mở cơ đồ, thường có giúp nước giữ dân, cầu mưa cầu nắng đều có nhiều linh ứng. Cho nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự để muôn vạn năm hương lửa không ngừng. Tốt lành thay!
Các tiết khai sinh hóa cùng với các chữ cần cấm là ba chữ Triều, Thần, Gia.
Ngày sinh thần là 12 tháng Năm. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, ca hát ba ngày.
Ngày hóa thần là mùng 10 tháng Bảy. Lễ dùng lợn đen, xôi, rượu.
Năm đầu Hồng Phúc tháng đầu mùa xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.
Năm Vĩnh Hựu thứ sáu, tháng giữa đông ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Di theo đúng bản chính vâng sao.
Năm Tự Đức thứ 13 tháng giữa xuân ngày tốt theo đúng bản chính vâng sao.
Dịch theo bản khai thần tích thần sắc làng Vĩnh Lại Thượng tổng Hưng Lục phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.
Ngọc phả cổ chép về hai vị đại vương triều thần Trưng nữ vương Chi Cấn, bộ Trung đẳng Chính bản bộ Lễ quốc triều.
Xưa nước Việt trời Nam mở vận, chia ngang sông núi theo sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu được phong chia đất thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ Kinh Dương Vương triều Hùng vâng thừa mệnh của vua cha phong làm tông phái đế vương nước Việt ta. Đất thắng vùng Phong Châu xây dựng kinh đô. Hình mạnh núi Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền ngôi cho đời tiếp theo xưng là Lạc Long Quân, lấy tiên nữ Động Đình, ở tại nơi đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ thế rồi có mang, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là bậc anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong chức hầu, lập bình phong phiên dậu, chia nước thành 15 bộ. Thế rồi Lạc Long nói với Âu Cơ rằng:
Ta vốn là giống rồng, nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương, ngũ hành hợp lại mà có con, nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể sống chung được.
Nhân đó bèn cùng chia biệt, mới phân 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, phân cai quản các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, phân cai quản các khu bãi trên miền núi. Khi có việc được báo thì tất đến tương trợ nhau, không thể nào suy được. Nên sau họ Hùng có trăm thần sơn thủy thường có thể xuất thế, đầu thai nhập vào các gia đình làm con để giúp nước giúp dân. Gia đình nào có phúc tất sẽ gặp được.
Khi cơ đồ họ Hùng trị nước 18 đời truyền nhau đã đến lúc cuối, ý trời muốn dứt. Trải đến thời Đông Hán, khi đó ở trang Bảo Sơn huyện Tam Dương phủ Đoan Hùng đạo Sơn Tây nhà họ Tạ có một người con gái tên là Ả Nương, tuổi khoảng 18. Phong tư yểu điểu, đẹp đẽ vô cùng. Đức phụ lòng hiền, nhưng chưa định kỳ duyên phận. Nàng lấy việc hái củi làm nghề sinh sống. Khi đó nàng Ả đi lên núi Uyển Diên kiếm củi, dẫm vào một dấu chân hổ, khi trở về đến núi Đảo, thấy vách núi tựa gương mặt trăng, còn mặt trời đang ở chính đỉnh đầu. Nàng bèn nằm ở dưới núi, nhìn xa thấy có ngôi đền thánh mẫu ở trên, xem rất là linh ứng. Nàng mơ màng nằm mộng, thấy thần hổ sơn quân ứng đến đùa trong mộng. Được một lúc nàng Ả giật mình tỉnh lại. Trời đã chuyển sắc tối. Thế rồi nàng trở về nhà, thấy trong người như mang thai. Khi đó mọi người cười chê nhiều nên nàng Ả rất xấu hổ. Thế là nàng đi đến huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái, đến trang Hưng Lại thì dừng ở bãi đất đầu trang. Đến khi đó thì nàng sinh một bọc, nở ra hai người con trai (là ngày mùng 10 tháng Tư năm Giáp Dần), vẻ trời đẹp lạ, thể mạo khác thường, mới biết là sơn thần xuất thế, rất là yêu quý.
Đêm hôm đó vào cuối canh tư, phụ lão ở trong trang mộng thấy có thần linh đến hô rằng:
Trang các ngươi có sơn quân xuất thế, sinh ra ở khu đất đầu trang. Trang các người phải biết là mẹ con ngài đang nằm ở bên khu cạnh trang. Đến sáng ngày ra hãy đến đón mẹ con ngài về trong dân mà nuôi dưỡng.
Buổi sáng đó phụ lão báo cho người trong trang đến xem, quả thấy có mẹ con còn nằm ở đó, không phải người thường. Bèn đón về nuôi dưỡng. Thế rồi hai ông đến tuổi trưởng thành, đều là người tài giỏi, tốt anh tốt em. Bèn đặt tên người thứ nhất là Cả Lợi, người thứ hai là Hai Lợi. Ngày qua tháng lại hai ông tuổi đã 15, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, thạo đọc binh thư, giỏi về võ lược. Đến khi các ông tuổi lên 18 thì thân mẫu Ả Nương không bệnh mà mất, tức hóa (ngày 12 tháng Chín). Hai ông khóc động trời nhưng không thể làm gì được. Bèn tìm chỗ đất tốt làm lễ chôn cất. Ba năm hết tang thì khi đó có người Tô Định dẫn quân đến nước ta xâm chiếm Trung nguyên. Họ Triệu tàn thương, không người cứu giúp. Có người cháu gái Hùng Vương là Trưng Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, thánh thần trên đời, dương cao oai hùng, đem quân đến đánh. Nhưng khi đó còn thiếu những nam nhi có tài thao lược. Nữ tướng dẫn quân, phát động thần linh. Trưng nữ mật khấn với Tản Viên Sơn Thánh và hội đồng trăm thần ở tại cửa sông Hát Môn (tức xứ Sơn Tây), lập đàn cáo tế các vị linh thần, mới khấn chúc rằng:
Trời sinh ra con người, đó chính là tôn chủ của vạn vật trong trời đất, là dòng dõi sinh linh, là khởi nguồn cỏ cây muôn loài. Trải qua các triều đại đế vương trước đây thiên tử đều là những bậc thánh minh. Triều đình có đạo, yêu nước, thương dân, đức hóa rộng khắp, thiên hạ thanh bình, nước nhà yên ổn. Nay có phường dê chó ngoại tộc Tô Định thường ngông nghênh làm loạn, chính dữ hại dân. Trời đất thần người đều oán giận. Thiếp hiềm là một nữ nhân, cháu gái của Hùng Vương đời trước, nghĩ tới chúng sinh, trời cao rơi lệ. Hôm nay đau lòng thương dân, dấy nghĩa trừ tàn. Nguyện mong trăm vị các chư thần linh tề tựu về đàn để chứng giám lời thề, giúp thêm sức cho Trưng nữ thiếp dấy binh dẹp giặc, giữ nước cứu dân. Thiếp thề khôi phục lại mối xưa tổ tông, đưa muôn dân thoát khỏi vòng nước lửa. Thứ là không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa sự linh thiêng của tông miếu Tiên hoàng, an ủi tổ tiên cha ông ở nơi chín suối.
Khấn xong hô xuất âm binh nghìn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp thần dân tại các châu, huyện, đạo ở nước Nam, nơi nào có người anh tài văn võ, đức độ hơn người, là bậc anh hùng có thể chống giặc thì đến đầu quân, làm phiên thần dẹp giặc.
Hai ông nghe lệnh, ngay hôm đó chiêu mộ các hương binh được hai ngàn người, dẫn quân đến thẳng nơi đồn trại của Trưng nữ. Trưng nữ thấy hai ông đến ứng tuyển đều là kỳ tài, là bậc có tài nghệ hiếm có, bèn xếp ông Cả làm Đô thống Tả tướng quân, xếp ông Hai là Đương lang Hữu tướng quân.
Thế rồi Trưng nữ chia quân các đạo tiến binh, cử hai ông đi trước tuần hành để phòng bị hai đạo hướng Tây Bắc. Ngay hôm đó hai ông nhận mệnh dẫn quân mà tiến. Trên đường cờ xí gió xua vạn dặm, chiêng trống sấm động nghìn non. Một hôm tiến đến đạo Yên Lạc, phủ Tam Đái, tới nơi đất đầu trang Hưng Lại bèn cùng nhau đóng quân ở đó. Hai ông thấy khu vực Hưng Lại địa thế có một cuộc sông núi quanh co, rồng hổ bao ôm. Núi không cao nhưng giao kết với nhau. Sông có nơi giếng có tình, rất tiện nghi. Thật là một nơi thắng cảnh phong quang vậy. Hai ông bèn lập một đồn trại để sau này chống quân Hán.
Khi đó phụ lão nhân dân ở trong trang đều lấy làm sợ hãi. Dân khu trang làm lễ xin được làm thần tử theo các ông. Hai ông đồng ý. Hai ông tuyển được ba ngàn người cường tráng trong khu trang để làm gia thần cận kề. Khi đó phụ lão nhân dân khu Hưng Lại tâu rằng:
Lấy ơn mà phục chúng thì tất có thể được yên. Vì thế nơi nay là đồn trại sau xin được làm nơi thờ cúng.
Hai ông đồng ý. Sáng ngày ra thấy có sứ giả vâng mệnh mang chiếu thư đến gọi hai ông về đồn doanh của Trưng nữ để bàn định việc dẹp giặc. Người có trí thì hiến mưu lạ, người có dũng thì theo lời quyết đoán. Ngay hôm đó Trưng nữ cùng hai ông dẫn quân thẳng đến đồn Tô Định đánh một trận, không phân thắng bại. Khi đó hai ông bị khát nước, muốn tìm uống nước mà phải lui. Hai ông ngẩng mặt lên trời ngầm khấn, rồi nói rằng:
Lòng trời chỉ cho dẫn quân đến nơi này.
Ở đó các ông gặp được một bầy bò sữa. Hai ông uống sữa đó, đều hết cơn khát. Hai ông lại nói rằng:
Nhờ có lòng trời giúp, anh em chúng tôi tất sẽ thắng.
Thế là hai ông hô quân sĩ tụ tập lại, đánh thêm một trận cùng với quân Hán, một lúc được thắng lớn. Quân Tô Định bỏ chạy. Bắt được đại tướng giặc. Dựng 65 thành ở Lĩnh Ngoại, thu phục tất cả vùng đất của nước Nam. Trưng nữ mới lên ngôi xưng Vương (khi đó là tiết xuân thượng tuần tháng Giêng). Thấy sứ giả vâng mang chiếu thư đến, trong nói rằng:
Giặc Tô Định đã dẹp yên. Thiên hạ được yên ổn.
Nữ vương ban chiếu gọi hai ông. Hai ông vâng mệnh trở về. Vua mở tiệc lớn ăn mừng, phong cho tướng sĩ các cấp bậc tương ứng. Thế là Nữ vương phong cho hai ông khu Hưng Lại trang Hưng Lại huyện Yên Lạc. Khi đó hai ông bái tạ, trở về thực ấp nhận chức.
Thế rồi Nữ vương ở ngôi được khoảng 3 năm. Tướng Hán là giặc Mã Viện dẫn quân rất đông tiến đến. Khi đó Trưng nữ mới xuất đầu lộ diện, đem quân để đánh dẹp. Binh thư báo gấp một ngày tới 5 lần, sai hai ông tiến quân đến cùng đánh với Mã Viện một trận. Thắng thua chưa rõ thì không ngờ Trưng nữ thất cơ mà thua chạy, mới cưỡi ngựa chạy lên núi mà về chầu trời. Trưng nữ qua một giấc mộng xuân vậy.
Lại nói, hai ông dẫn quân lùi về đồn ở khu Hưng Lại trang Hưng Lại. Được một lúc bỗng thấy quân Mã Viện rất mạnh kéo đến. Hai ông nói:
Quân Hán mới đánh xong sao đã lại đến đây.
Thế là hai ông nói với phụ lão nhân dân và gia thần trang khu Hưng Lại rằng:
Chúng ta để lại di mệnh cho muôn năm sau ở trang này phụng thờ hai người anh em chúng ta. Chúng ta còn có mẹ. Khi cúng tế chúng ta thì hãy cung thỉnh cả mẹ chúng ta về chính vị cùng hưởng giám.
Nói xong liền sai đóng cửa quan không mở. Tướng Hán, quân Hán rất tức giận, tiến vào trong khu tạo mấy vòng bao vây. Thế rồi hai ông hô gọi quân sĩ cùng với nhân dân, gia thần đem hết lòng trung nghĩa cùng với các ông ra sức đánh quân Hán một trận, phá được vòng vây. Thấy hai ông cưỡi ngựa chạy vào trong núi mà biến mất, tức đã hóa (khi đó là mùng 8 tháng Mười một). Từ khi các ông hóa về sau các trang khu là thần tử trở về lập miếu để thờ.
Năm Thiên Phúc thời vua Lê Đại Hành xem xét trăm thần, thấy nếu có linh hiển thì phong thêm cho trăm thần. Phong thêm hai vị là thần Đôn ngưng Linh phù.
Sắc phong nguyên thần hiệu là:
Phong Cả Lợi Đô thống Minh tước Đại vương.
Phong Hai Lợi Đương lang Quang linh Đại vương.
Y phục màu vàng và đỏ khi làm lễ nhất thiết cấm dùng. Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng nên có nhiều đời đế vương phong thêm mỹ tự.
Đến thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên đến xâm phạm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh vua cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó hai vị đại vương cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong tặng mỹ tự cho hai vị là Linh quang Hiển ứng An dân Hoành mô Viễn lược Tích chỉ Ngưng hưu Đại vương.
Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, đến khi được thiên hạ thì Thái Tổ phong thêm hai vị đại vương là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho khu Hưng Lại sửa chữa miếu điện để phụng thờ. Thật tốt đẹp thay!
Thời Hoàng triều năm Cảnh Hưng mới phong thêm mỹ tự cho hai vị là Diên hy Tích khánh.
Vâng khai các lễ sinh hóa cùng với các chữ húy cấm: năm chữ Cả, Hai, Lợi, Minh, Quang. Cho phép khu Hưng Lại phụng thờ.
Ngày sinh thần là mùng 10 tháng Tư. Chính lễ dùng trên mâm chay, phẩm quả, dưới trâu, lợn, xôi, rượu, bánh dày vuông tròn, ca hát, đấu vật.
Ngày hóa thần là mùng 8 tháng Mười một. Chính lễ dùng trên mâm chay, dưới trâu, lợn, xôi, rượu, bánh dày vuông tròn, cấm ca hát.
Ngày lễ tiết xuân kỳ phúc là 14 tháng Giêng. Lễ dùng tùy ý, ca hát nhiều.
Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc (1572), ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.
Hoàng triều năm Vĩnh Hựu thứ sáu (1740) ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại tuân theo bản chính cũ vâng chép.
Năm Duy Tân thứ ba (1908) ngày mùng 8 tháng Mười hai bản xã sao bản chính.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: Triệu Vũ Đế ở ngôi bẩy mươi mốt (71) năm, thọ một trăm hai mươi mốt (121) tuổi. Với tuổi thọ xưa nay… không hề có này thì chắc chắn rằng kỷ Vũ Đế nhà Triệu không phải chỉ có 1 vị vua Triệu Đà. Khảo chứng các tư liệu từ các góc độ khác nhau cho phép nhận ra có tới 3 nhân vật đều được gọi là Triệu Đà và cả 3 đều là các đời Hùng Vương kế tiếp nhau trong một giai đoạn lịch sử bản lề của người Việt.
Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng thuộc xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.
Tần Vương đánh Thục, xây thành Cổ Loa
Tấm bia thời Lê năm Chính Hòa thứ 10 (1689) có tên “Chính Pháp điện thạch bi” ở đền Thượng Cổ Loa chép: Đại Việt suy tôn An Dương Vương là hoàng đế, khởi từ đất Ba Thục, định đô ở Phong Khê, lấy nỏ rùa thần đuổi quân Tần, xây thành trì mà cố thủ, ngàn dặm nhập vào nước Âu Lạc ta. Theo tấm bia này thì việc An Dương Vương đã dùng nỏ thần là để chống lại quân Tần, chứ không phải Triệu Đà như thường kể. Vậy Triệu Đà trong truyền thuyết thực ra là chỉ quân Tần vì nhà Tần vốn mang họ Triệu. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, thủy tổ của Tần là Tạo Phụ đánh xe cho Chu Mục Vương và được phong đất ở Triệu thành, từ đó lấy tên đất làm họ.
Ở am thờ công chúa Mỵ Châu trong Cổ Loa trên bảng gỗ có khắc một bài thơ cổ, có đoạn thơ được dịch giả Đỗ Văn Hỷ dịch như sau: Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ Việc cũ đau lòng biết hỏi ai? Tần Việt nhân duyên thành cập oán Non sông vận kiếp tới mày ngài. Điều lạ là bài thơ gọi mối tình của Mỵ Châu và Trọng Thủy là “Tần Việt nhân duyên”. Công chúa Mỵ Châu là Việt thì đã rõ. Như thế, còn lại Trọng Thủy phải là hoàng tử của vua Tần, họ Triệu.
Câu chuyện tình ngang trái Mỵ Châu – Trọng Thủy kể về sự kết thúc của nhà Thục bởi sự tấn công bất ngờ của quân Tần. An Dương Vương từng xây thành đắp lũy để chống Tần, nhưng cuối cùng cơ đồ đã mất. Tần chiếm được thành Cổ Loa, kinh đô phồn hoa bậc nhất khu vực phương Nam khi đó.
Báo cáo khảo cổ thành Cổ Loa cho biết, các bức thành chính được xây ở quãng thế kỷ thứ III TCN chia thành 2 giai đoạn. Giai đoạn đầu đắp bằng cách đổ đất. Giai đoạn sau là áp dụng “công nghệ” nện đất, tương tự với kỹ thuật đắp thành ở phương Bắc khi đó. Với lớp đắp ở thành Trung cao tới 2,5m, rộng 24 m, các nhà khảo cổ đã tính toán lượng khối lượng đất đá cần khai thác, vận chuyển lên đến hàng triệu mét khối. Lượng nhân công huy động cho đắp thành lên tới hàng vạn người làm việc liên tục trong 3 năm. Vậy nếu lớp thành đầu được xây bởi An Dương Vương thì lớp thành tiếp theo phải là do nhà Tần xây dựng. Chỉ có nhà Tần vào giữa thế kỷ thứ III TCN mới đủ tiềm lực, nhân lực để xây nên tòa thành lớn nhất Đông Nam Á này.
Trong đền Thượng Cổ Loa có ban thờ quan Tứ trụ triều đình. Một trong 4 vị tứ trụ này là Hữu Thừa tướng Lý Ông Trọng. Đức thánh Chèm Lý Ông Trọng được biết rõ là một đại tướng của nhà Tần, lấy con gái của Tần Thủy Hoàng là Bạch Tĩnh Cung công chúa và được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Xem vậy thì người đã trấn thủ Loa thành dưới thời Tần, không ai khác chính là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng.
Đình làng Đình Vỹ, xã Yên Thường, huyện Gia Lâm thờ vị thần là Quý Minh Đại vương, mà theo thần tích ở đây chính là Trọng Thủy, con của Triệu Đà. Làng Đình Vỹ cùng với các làng Đa Vạn, Song Tháp, phường Châu Khê, Từ Sơn, Bắc Ninh gần đó thờ Triệu Vũ Đế và có chung bản thần tích có tên là Ký sự đền linh họ Triệu. Câu chuyện bi thương Trọng Thủy – Mỵ Châu bên thành Cổ Loa được ghi chép theo một cách khác lạ, chưa từng được biết trong thần tích này:
Vương rút kiếm chém Mỵ Châu, rồi theo Kim Quy mà đi. Sau vài tháng Trọng Thủy, Trương Hống, Trương Hát dẫn quân đuổi tới cửa Biện, thấy thi thể Mỵ Châu đeo một chiếc túi, hai chiếc thoa vàng, đúng là tích vật. Trọng Thủy cầm túi mà khóc, tình vợ chồng từ nay ly biệt. Rồi ôm Mỵ Châu trở về thành Ốc, an táng ở núi Yên Phụ. Tháng 4 vào đầu giờ Dần ngày mồng 5, lấy dao trúc mà giết Ngỗng tế Mỵ Nương. Do cảm động nghĩa tử thê lương, người dân Yên Phụ đắp một mộ phần phụng sự. Đến xã Nội Trà ngày 10 tháng 4 nằm mộng mà chết. Dân Nội Trà cũng đắp một mộ phần. Nhân dân phụng sự đem về thành Ốc an táng thành mộ phần. Tới tháng 6 ngày 10, thấy bóng hình Mỵ Châu ở trên giếng, thấy Toán tâm tính mất hết mà đi ra. Toán quay đầu muốn đuổi theo ôm lấy bóng hình mà không được, rơi xuống đáy giếng mà chết.
Như đã nhận định ở trên, Trọng Thủy là vương tử của nhà Tần Triệu thời kỳ đầu, khi đánh An Dương Vương ở thành Cổ Loa. Con của Trọng Thủy là Triệu Lạc Linh lên ngôi xưng Đế, tương ứng là Tần Thủy Hoàng Đế. Còn phần chép về Triệu Đà trong Ký sự đền linh họ Triệu lại là chuyện của Triệu Vũ Đế thời kỳ Tần mạt.
Chính pháp điện bi ký ở đền Thượng Cổ Loa.
Long Hưng Triệu Vũ Đế khởi nghĩa kháng Tần
Đền Đồng Sâm có lưu bản thần tích, ghi là thần tích xã Thượng Gia, tổng Đồng Sâm. Theo như ghi chép trong đó thì thần tích Thượng Gia đã được các cụ bô lão ở địa phương sưu tầm từ nhà quan Thượng thư bộ Lễ ở Vĩnh Phúc, kết hợp với các nguồn sử sách có được mà biên soạn nên. Đồng Sâm là nơi thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu, tương truyền đây là nơi hai người gặp gỡ trên đất quê của Hoàng hậu Trình Thị.
Câu đối ở đền Đồng Sâm: 炎郊創始與圖保龍父僊母之子孫同大漢時雙帝國 戚里屹成宫闕萃茶海桐江之靈秀亦潘隅外弌神京 Viêm Giao sáng thủy dư đồ, bảo long phụ tiên mẫu chi tử tôn, đồng đại Hán thời song đế quốc Thích lý ngật thành cung khuyết, tụy Trà hải Đồng giang chi linh tú, diệc Phan Ngung ngoại nhất thần kinh. Nghĩa là: Khởi sáng cơ đồ chốn Viêm Giao, cha Rồng mẹ Tiên che chở cháu con, ngang thời nhà Hán hai đế quốc Lập nên cung quán nơi quê ngoại, sông Vông biển Trà tụ họp linh tú, cùng ngoài Phiên Ngung một kinh thành.
Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi). Tiếp đó thần tích kể Triệu Đà đi đến trang Đường Sâm, lấy nàng Lan con gái họ Trình ở đây, sinh ra Trọng Thủy. Triệu Đà cho lập hành cung tại Đường Sâm, sau này là nơi thờ tự Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị.
Nguyên văn chữ Nho của đoạn kể trên về Triệu Đà: “Đế vi Long Xuyên lệnh (tức Nam Hải huyện), lĩnh trích đồ thú Ngũ Lĩnh”. Đoạn thông tin này bị hiểu là Triệu Đà dẫn đám dân đi lính thú của nhà Tần tấn công nước Việt. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Hiểu chính xác phải là Triệu Đà được cử làm huyện lệnh Long Xuyên, cũng là huyện Nam Hải. Triệu Đà nhận lĩnh việc đưa những người phu dịch (“đồ”) đến vùng Ngũ Lĩnh. Làm gì có chuyện những người có tội bị biếm trích lại là quân lính để tấn công phương Nam. Đây là việc nhà Tần tăng cường nhân công cho việc xây dựng ở nước Nam, tương tự việc phu dịch xây Vạn lý trường thành ở phía Bắc. Triệu Đà là một lệnh trưởng chịu trách nhiệm dẫn dân phu đến vùng núi Ngũ Lĩnh.
Đoạn trích trên cũng cho biết, Triệu Đà đi đến vùng đất Thái Bình (Đồng Sâm), rồi lấy vợ, sinh con, còn lập cả hành cung (dựng nhà để ở) tại đó. Vậy là Thái Bình hay vùng Bắc Việt lúc này đã nằm trong lãnh thổ của nhà Tần thì Triệu Đà mới có thể ngụ cư, làm huyện lệnh và dẫn dân phu đi đến đó.
Đền Đồng Sâm là đền chính được nhiều nơi trong vùng tham gia phụng sự như: thôn Đa Cốc, xã Thanh Bình; thôn Đồng Sâm, xã Hồng Thái; xã Quốc Tuấn. Ngoài ra còn có làng Đông Thổ, xã Lê Lợi nay vẫn còn nhiều sắc phong cho Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng Hậu. Ngoài huyện Kiến Xương thì khu huyện Hưng Hà, thôn Quan Hà, xã Cộng Hòa có di tích thờ cả Triệu Vũ Đế và Triệu Việt Vương. Bên huyện Thái Thụy có di tích thôn Tuấn Nghĩa, xã Thái Thành và thôn Cam Đoài, xã Thụy Liên thờ Triệu Đà. Hiện chùa Cam Đoài vẫn lưu giữ được sắc phong và bài vị cổ thờ Triệu Đà.
Câu đối của Nguyễn Công Trứ đề ở đền Đồng Sâm: 當年戈馬低刘項 自昔山河截北南 Đương niên qua mã đê Lưu Hạng Tự tích sơn hà triệt Bắc Nam. Nghĩa là: Đang thời giáo ngựa khinh Lưu Hạng Từ đó non sông tách Bắc Nam. Câu đối này cho biết Triệu Vũ Đế nổi lên cùng thời với Lưu Bang và Hạng Vũ, tức là khởi nghĩa chống Tần mà lập quốc.
Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 33 (năm 216 TCN), Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đó canh giữ.
Sách Hoài Nam tử cho biết tiếp: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Nhưng người Việt đều vào trong rừng, ở với cầm thú, không ai chịu để cho quân Tần bắt. Họ cùng nhau đặt người Tuấn kiệt lên làm tướng để ban đêm ra đánh quân Tần, đại phá quân Tần và giết được Đồ Thư.
“Người Tuấn kiệt” lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Tần thắng lợi của dân Âu Lạc là ai? Các sử gia đời nay cho rằng đó là Thục Phán. Nhưng năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đã đánh chiếm vùng đất Việt, lập quận huyện đầy đủ, còn đâu nước nào nữa mà có Thục An Dương Vương? Nếu An Dương Vương là người kháng Tần những năm 216 – 207 TCN, thì Tần đã đánh ai ở đất Lục Lương năm 216 TCN?
Dịch Hu Tống có thể đọc thành Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi cuối cùng của Dịch Vương. Dịch Vương là Chu Văn Vương, người đã viết Kinh Dịch, mở đầu vương triều Chu của Trung Hoa. Dịch Hu Tống, dòng dõi cuối cùng của nhà Chu là Chu Noãn Vương, đã bị Tần diệt năm 256 TCN ở đất Âu Lạc. Vương triều Chu Thục như vậy đã kết thúc năm 256 TCN, nên người lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần không phải là dòng dõi vua Thục.
So sánh thời gian này với hành trạng của Triệu Đà. Triệu Đà làm huyện lệnh Long Xuyên, rồi được Nhâm Hiêu trao lại quyền cai quản ở Nam Hải. Tiếp theo Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép: Khi nhà Tần bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương. Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Giáp Ngọ, năm thứ 1 [207 TCN] (Tần Nhị Thế năm thứ 3). Vua (Triệu Đà) chiếm lấy đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương.
Triệu Đà chứ không phải ai khác vào năm 207 TCN đã chiếm lại 3 quận Quế Lâm (hoặc Lâm Ấp), Tượng Quận và Nam Hải mà Tần thành lập trên đất Việt năm 216 TCN. Vì vậy Triệu Đà mới là “người Tuấn kiệt” đã lãnh đạo nhân dân Âu Lạc kháng Tần thắng lợi được nhắc đến trong sách Hoài Nam tử.
Sách Hoài Nam Tử ghi: [Nhà Tần] sai Úy Đà Đồ Thư đem lâu thuyền xuống Nam đánh Bách Việt… Làm sao Đồ Thư lại là Triệu Đà được? Đúng hơn phải hiểu: Đà = Đầu = Đô. “Úy Đà Đồ Thư” nghĩa là Đô úy Đồ Thư. Úy Đà là chức vụ chứ không phải tên riêng. Như vậy Triệu Đà có nghĩa là vua Triệu đầu, không phải tên thật của Triệu Vũ Đế. Càng không phải Triệu Đà đã cùng Đồ Thư dẫn quân Tần đánh Bách Việt.
Một tư liệu khác nói về Triệu Đà là lời trăn trối của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với vua Trần Anh Tông khi nhà vua hỏi kế sách đối phó với giặc phương Bắc. Hưng Đạo Vương tâu rằng: “Nước ta thuở xưa, Triệu Vũ Vương dựng nghiệp, Hán đế đem binh đến đánh, Vũ Vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm được, rồi đem đại quân sang châu Khâm, châu Liêm đánh quận Trường Sa, dùng đoản binh mà đánh được, đó là một thời…“.
Lời kể của Hưng Đạo Vương về hành trạng Triệu Vũ Đế xét kỹ thì thấy không giống gì với chính sử hiện nay. Triệu Đà khởi nghiệp ở Nam Hải tại Quảng Đông thì còn mang đại quân sang “châu Khâm, châu Liêm” đánh chiếm làm gì nữa? Kỳ lạ hơn, Triệu Đà còn dùng kế vườn không nhà trống và lối đánh “du kích”, dùng đoản binh để chống giặc phương Bắc. Nhà Hán có tấn công chiếm lãnh thổ Nam Việt thời Triệu Đà lúc nào đâu mà phải bỏ cả ruộng đồng để đánh du kích? Lời kể của Trần Hưng Đạo chỉ có thể hiểu được nếu Triệu Đà chính là người đã lãnh đạo nhân dân Việt kháng Tần, bắt đầu từ huyện Long Xuyên (Long Biên) rồi mới tiến sang chiếm châu Khâm, châu Liêm và các quận khác. Lối đánh vườn không nhà trống, dùng đoản binh của Triệu Vũ Đế được Trần Hưng Đạo noi theo là cách người Việt bỏ vào rừng, ngày trốn, đêm ra đánh Tần như Hoài Nam tử đã kể.
Chuyện người Tuấn kiệt chống Tần rất giống chuyện của Hiếu Cao Tổ Lưu Bang trong Hoa sử. Sử ký Tư Mã Thiên, Cao Tổ bản kỷ cho biết Lưu Bang vốn là một đình trưởng nhỏ ở đất Bái, khi thay mặt huyện đưa những người bị đày đến Lịch Sơn, giữa đường nhiều người bỏ trốn. Lưu Bang tự xét đến nơi thì tất cả đều sẽ trốn hết, cho nên khi đến cái đầm ở phía Tây ấp Phong thì dừng lại, đang đêm, thả tất cả những người bị đày ra rồi cùng họ vào núi Mang Đường trốn tránh.
Việc đưa những người đi đày cũng trùng với thời điểm năm 216 TCN Tần Thủy Hoàng đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn dời từ quận Tam Xuyên sang 2 quận lân cận. Sự kiện Lưu Bang thả dân phu giữa đường áp giải và bắt đầu cuộc khởi nghĩa chống lại nhà Tần có thể tính từ năm này.
Thần tích Thượng Gia kể: Năm thứ 50 đời An Dương Vương (Tần Nhị Thế năm thứ 2), Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch nói với Đế rằng: “Nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, lòng dân chưa biết theo ai. Đất này là nơi hẻo lánh, ta sợ bọn giặc xâm phạm đến đây nên muốn cắt đường mà tự phòng bị (là nơi Tần mở đường qua Việt), đợi xem các nước chư hầu biến động ra sao. Nhà Tần đã mở một con đường độc đạo để đi sang Việt. Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng thường “Đông du”.
Thần tích Thượng Gia kể tiếp: Đến khi bệnh nguy cấp Nhâm Hiêu nói: “Đất Phiên Ngung dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài mấy nghìn dặm, lại có người Tần giúp đỡ, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Các vị trưởng sử trong quận không ai có thể bàn được, chi nên phải triệu ông đến bảo”. Nhân đó cho Đế thay mình.Nhâm Hiêu mất, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: “Quân giặc đã đến. Các quân binh cắt đường tự thủ”. Hịch truyền đến các châu huyện đều hưởng ứng theo. Thế rồi giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, thay bằng những người bạn bè thân thích của mình cai quản. Rồi phát binh đánh Thục Vương.
Đoạn thần tích này nói Triệu Đà đã tiếp ý của Nhâm Hiêu, loại bỏ các quan của Tần ở trong quận, nhưng lại “phát binh đánh Thục Vương”. Đã giết các trưởng sử của Tần thì phải phát binh đánh Tần mới đúng. Tất cả sự trùng hợp về không gian, sự kiện nêu trên cho thấy Thục Vương trong chuyện Triệu Đà là chỉ nhà Tần. Người đã khởi nghĩa kháng Tần trên đất Việt không phải ai khác chính là Triệu Đà.
Về núi Trâu Sơn Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể: Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức Ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu…Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam, đóng quân ở núi này.
Truyện kể Thôi Vỹ là con Thôi Lượng sau khi chữa bệnh cho Nhâm Hiêu, ngã xuống hang tại núi Trâu Sơn, lạc vào Ân Vương thành, được Ân hậu tiếp đãi tiệc rượu… Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”.Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu Sơn. Đoạn trích này là dữ liệu cho biết khu vực núi Trâu Sơn từng có chùa thờ Triệu Việt Vương, tức là thờ Triệu Đà.
Dấu vết thờ Triệu Vũ Đế ở Bắc Ninh còn lưu giữ ở 2 khu vực. Một là ở 2 làng Song Tháp và Đa Vạn ở thị xã Từ Sơn. Hai là ở 6 làng thuộc huyện Quế Võ là Hữu Bằng, Cựu Tự, Kim Sơn, Long Khê (xã Ngọc Xá), Châu Cầu, Thất Gian (xã Châu Phong). Các ngôi đình của 6 làng này trước đây thờ Triệu Vũ Đế làm thành hoàng làng, nay đều đã không còn. Duy nhất ở chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ) còn giữ được một bức tượng gỗ Triệu Vũ Đế, tuy đã bị hư hỏng khá nặng.
Thông tin về di tích thờ Triệu Đà ở Bắc Ninh như trên thoạt xem tưởng không có gì quan trọng so với các khu vực khác thờ Triệu Đà là Thái Bình (đền Đồng Sâm) hay Hưng Yên (đình Xuân Quan), nhưng đây lại thực là thông tin quý giá và mới mẻ về công nghiệp của Triệu Vũ Đế ở nước ta. Tại sao khu vực huyện Quế Võ lại từng có đậm đặc tục thờ Triệu Vũ Đế như vậy? Nơi này gắn với công nghiệp của vị đế vương đầu tiên của nước Nam Việt như thế nào?
Trước hết cần nhận ra rằng khu vực huyện Quế Võ (Bắc Ninh) chính là địa danh Vũ Ninh với núi Trâu Sơn, là địa danh hay được nhắc tới trong truyền thuyết Việt. Trâu Sơn nay gọi thành Châu (Châu Phong, Châu Cầu), nằm gần khu vực Lục Đầu Giang, trên tuyến đường quốc lộ 18 ngày nay. Đây là địa bàn rất thuận tiện cho việc giao thông cả thủy lẫn bộ, lại có núi đồi và sông nước, khá hiểm trở dễ cho việc ẩn náu, phòng thủ, tiến lui.
Cũng Truyện Giếng Việt như trên cho biết Trâu Sơn là nơi mà hai tướng Nhâm Hiêu và Triệu Đà đã đóng quân vào thời Tần. Nhiều thần tích khác cũng kể về việc Triệu Đà khi đánh nước Âu Lạc đã từng đóng quân ở Vũ Ninh. Như vậy nguyên do của tục thờ Triệu Đà ở đây là vì nơi đây từng là một nơi đồn quân quan trọng của Triệu Vũ Đế.
Tuy nhiên, vấn đề khó lý giải ở chỗ là nếu chỉ chiếu theo chính sử thì Triệu Đà chưa từng sang miền Bắc nước ta bao giờ. Triệu Đà làm quan huyện Long Xuyên (ở Quảng Tây?), thay Nhâm Hiêu ở Nam Hải (Quảng Đông?), rồi chiếm Quế Lâm, Tượng Quận lập nên nước Nam Việt. Mãi tới sau khi Cao Hậu nhà Hán mất, Triệu Đà mới “nhân đó, dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót các nước Mân Việt, Tây Âu Lạc để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Sử ký Tư Mã Thiên). Vậy tại sao lại có nhiều di tích của Triệu Đà ở Bắc Việt như vậy? Triệu Đà lấy vợ ở Thái Bình khi nào? Đóng quân ở Bắc Ninh khi nào? Thấy rồng bay lên ở Long Biên khi nào?
Di tích và tư liệu dân gian rõ ràng nói những điều khác so với cách giải thích của chính sử ngày nay về Triệu Đà. Những địa danh và những câu chuyện về thời khởi nghĩa của Triệu Đà đều nằm ở Bắc Việt. Nói cách khác, Triệu Đà vốn khởi nghĩa ở miền đồng bằng sông Hồng, chống lại nhà Tần. Đây là cuộc khởi nghĩa của người Việt kháng Tần như sách Hoài Nam tử đã chép.“Người Tuấn kiệt” được nói tới là Triệu Đà, chứ không phải An Dương Vương như sự “tưởng tượng” của các sử gia ngày nay. “Quân trưởng Tây Âu” đã bị giết rồi, làm gì còn An Dương Vương nào lúc này nữa.
Chuyện người Việt bỏ vào rừng, “đánh du kích” chống quân Tần là lời giải cho tục thờ Triệu Việt Vương ở núi Trâu Sơn. Trâu Sơn là điểm đóng quân phòng thủ rất thuận lợi như đã nói ở trên, là nơi mà Triệu Đà đã cầm đầu người Việt dựa vào thế sông núi vùng Lục đầu giang mà chống Tần.
Đại Việt sử ký toàn thư chép: … (Tần Thủy Hoàng năm thứ 33) nhà Tần phát những người trốn tránh, người ở rể người đi buôn, ở các đạo ra làm binh, sai hiệu úy Đồ Thư đem quân lâu thuyền, sai Sử Lộc đào ngòi vận lương, đi sâu vào đất Lĩnh Nam, đánh lấy miền đất Lục Dương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Triệu Đà làm Long Xuyên lệnh. Quận Tam Xuyên thời Tần vốn là đất của Đông Chu đã bị gộp chung thành quận Nam Hải. Tam Xuyên còn gọi là Long Xuyên vì hai chữ Tam và Long dùng đổi cho nhau, Tam là con số 3 chỉ phương Đông, phương của Rồng trong Dịch học.
Nhâm Hiêu được nhà Tần bổ làm quan ở quận Long Xuyên chứ không phải Nam Hải. Dẫn chứng rõ ràng là Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái: … khi Tần Thủy Hoàng bổ Nhâm Hiêu làm quan lệnh Long Xuyên, Nhâm Hiêu cấm không được nạp lễ người sống, thần Xương Cuồng tức giận vật chết Nhâm Hiêu.Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái cũng xác định thêm điều này. Thôi Vỹ chữa bệnh cho Nhâm Hiêu rồi bị ngã xuống hang tại vùng Vũ Ninh. Nhâm Hiêu không thể ở đâu xa ngoài vùng đất Long Biên – Bắc Ninh ngày nay.
Triệu Đà làm quan của huyện Long Xuyên và được Nhâm Hiêu trao lại quyền hành. Như vậy Nhâm Hiêu là quan tiền nhiệm của Triệu Đà ở Long Xuyên. Có thế thì việc Nhâm Hiêu trao quyền cho Triệu Đà mới hợp lẽ. Nếu Nhâm Hiêu ở Nam Hải, Triệu Đà ở Long Xuyên thì làm sao mà trao quyền được? Tại sao Nhâm Hiêu trao quyền lại cho Triệu Đà? Vì sao mà quan của một quận lớn lại dễ dàng từ bỏ chức vụ quyền hành cho người khác? Lý do việc này đã được Sử ký Tư Mã Thiên chép trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện:
Nhâm Hiêu, ốm sắp chết, mời huyện lệnh Long Xuyên là Triệu Đà đến nói: – Tôi nghe bọn Trần Thắng làm loạn. Nhà Tần làm điều vô đạo, thiên hạ khổ cực. Bọn Hạng Vũ, Lưu Quý, Trần Thắng, Ngô Quảng đều dấy binh tụ tập quân sĩ, tranh giành thiên hạ. Trung Quốc loạn lạc chưa biết lúc nào yên. Những người hào kiệt phản Tần đều đứng lên cả. Nam Hải ở nơi xa lánh, tôi sợ quân giặc xâm lấn đến đây, nên định dấy binh chặn đứt con đường mới để tự phòng bị, đợi chư hầu có sự thay đổi.
Nhâm Hiêu ốm sắp chết thì còn quan tâm chuyện thiên hạ làm gì? Nguyên nhân sâu xa của việc mời Triệu Đà đến là Nhâm Hiêu thấy thiên hạ nổi lên chống Tần khắp nơi, sợ hại đến mình, muốn “tự phòng bị” nên gọi Triệu Đà đến để gánh đỡ gánh nặng này.
Nhâm Hiêu khi nói với Triệu Đà có đề cập đến việc “chặn đứt con đường mới”. Đây là con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở (Tần Thủy Hoàng bản kỷ): Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Con đường mà Tần Thủy Hoàng mới mở đi ra biển là qua quận Nam Hải, nơi Nhâm Hiêu và Triệu Đà sau đó cai quản. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng đã đi tuần thú ở phía Đông năm thứ 37 (211 TCN): lên Cối Kê tế vua Vũ, nhìn ra biển Nam Hải dựng đá khắc công đức nhà Tần.
Nhâm Hiêu không ốm chết mà… bị thần Xương Cuồng tức giận “vật chết”. Viên huyện lệnh Long Xuyên là Nhâm Hiêu đã bị nhân dân Long Xuyên nổi dậy giết, rồi họ tôn Triệu Đà lên làm thủ lĩnh, vì ai cũng sợ kháng Tần không thành công, phải chịu hậu quả.
Nơi Triệu Đà bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần là Long Xuyên. Long Xuyên hay Long Biên chỉ là 2 cách đọc khác nhau của quận Tam Xuyên thời Tần. Theo dịch học thì số 3 (Tam) là chỉ phương Đông, tượng trưng bởi con rồng. Long Biên ngày nay là nơi có điện Long Hưng thờ Triệu Vũ Đế ở làng Xuân Quan (Văn Giang, Hưng Yên). Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dựa vào các tư liệu cũ chép sự tích đền Long Hưng như sau: Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy. Đến đời Hán được phong làm Nam Việt Vương. Triệu Đà cho con cầu hôn nhà Thục để lấy bí mật nỏ thần, nhân đó diệt nhà Thục lập ra nhà Triệu. Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương Nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ. Triệu Đà là thấy rồng vàng bay lên ở Long Hưng, bắt đầu cuộc khởi nghĩa kháng Tần. Rồng bay lên là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, chỉ việc thành nghiệp của bậc đế vương.
Theo Thiên Nam ngữ lục thì Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông Nhị Hà: Binh phân chi dực hữu chi Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông Bỗng đâu thấy rồng nổi lên Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.
Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long: Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng Long Biên thành hiệu Thăng Long Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà. Có thể thấy khả năng tên thành Thăng Long là do Triệu Vũ Đế đã đặt cho vùng đất quanh Hà Nội ngày nay, với trung tâm ở khu vực ven sông Hồng thuộc Gia Lâm – Văn Giang.
Câu đối ở điện Long Hưng (Xuân Quan, Long Biên, Hà Nội) khẳng định Triệu Vũ Đế tiếp nối thời Hùng Vương: 拔地巍崔芳蹟不随秦漢去 冲天砥柱英標長揭貉雄來 Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ Xung thiên để trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai. Nghĩa là: Bạt đất cao lồng, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán Động trời cột ngọc, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.
Đền Đồng Sâm ở xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình thờ Triệu Vũ Hoàng Đế và Trình Thị Hoàng Hậu trên quê ngoại.
Triệu Việt Vương lập quốc Nam Việt
Thần tích xã Hạ Mạo, Phú Thọ: Xưa Hùng Vương đời thứ 17 là Hùng Huy Vương sinh người con trai thứ tên là Hùng Ánh. Hùng Ánh thiên tư dũng lược, diện mạo lạ thường, thông minh nhanh hiểu biết, vượt trội hơn người anh. Huy Vương yêu quý muôn lập làm người nối ngôi. Chàng Ánh cố gắng nhường cho anh. Khi ấy phong tục còn chất phác. Các con vua đều gọi là quan chàng, cho nên có tên là quan Chàng Ánh. Đến khi Duệ Vương nối ngôi, phong Chàng Ánh làm Vương tử, ban cho họ Lê.
Khi giặc Thục đến xâm lăng, Chàng Ánh chỉ huy quân binh, có công chống Thục. Từ đó Chàng Ánh nắm quyền triều chính. Duệ Vương về sau trở nên biếng nhác, chìm đắm trong hoan lạc, không quan tâm đến chính sự, việc binh quốc gia buông lỏng. Chàng Ánh hết sức can ngăn nhưng Duệ Vương không nghe. Chán ngán, Chàng Ánh đi ra bộ ngoài, không muốn tham dự vào chính sự quốc gia. Sau giặc Thục đánh Duệ Vương, thế nước nhà Hùng mất. Chàng Ánh rất hận mới luyện binh tuyển tướng, cẩn thận giữ gìn cương giới, bèn tự xưng là Hậu Hùng Vương, không thần phục An Dương Vương. Xưng là nước Việt Tây, nay là Quảng Tây.
Vợ vương là con gái Đông Chu Quân có mang 3 năm, sinh một bầu năm con trai vào giờ Ngọ ngày 14 tháng 3 năm Mậu Thân. Đến khi trưởng thành đều có tướng mạo khác thường, mũi cao, mắt xếch. Một người trên đầu có 7 chấm đỏ, sau lưng có 27 nốt ruồi đen. Một người một tay dài quá gối, mắt xếch tới tai. Một người mắt phượng mũi rồng. Một người mặt vuông tai to, râu đen, tóc xanh, thân dài 10 thước. Năm chàng đều là những người phi thường. Hùng Vương rất vui mừng, hoàng hậu chưa đặt tên nên nhân theo cổ tục khi đó đặt là Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Chàng Tư, Chàng Út mà gọi.
Gặp lúc có tướng Tần Triệu Đà dẫn quân chiếm phương Nam. An Dương Vương có nỏ thần, quân Triệu gặp nhiều thất bại. Hùng Vương (tức là Chàng Ánh, Hậu Hùng Vương ở Việt Tây) sai Chàng Hai đến quân Tần nói với Triệu Đà rằng: – An Dương có thù với chúng tôi. Nay phụng nghe đại quân đánh Thục, nước tôi tuy nhỏ cũng xin dẫn ba ngàn quân trợ giúp. Tôi vì báo thù mà trợ giúp ngài định quốc..
Đà bèn cử sứ về nước sai con trai Trọng đến thông hiếu kết nghĩa, sau lại cầu hôn với An Dương để cho Trọng làm con rể, ở đó trộm lấy phá hủy lẫy nỏ. Trọng về báo, phát sứ sang Việt. Hùng Vương bèn lệnh Chàng Út dẫn ba ngàn quân giúp Triệu Đà đánh Thục chiếm nước thành công. Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt.
Theo thần tích Hạ Mạo, Chàng Út là con của Việt Tây Vương Hùng Ánh (Hậu Hùng Vương), đã dẫn quân cùng với Triệu Vũ Đế đánh Thục (tức là quân Tần) thắng lợi, lập quốc và phục thù nhà. Vợ của Chàng Út là “hoàng hậu họ Triệu”, tức là con gái của Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế còn ban sắc phong cho Chàng Út là Út Ngọ Lôi Mao Đại vương, cai quản một vùng đất riêng Quảng Tây. Có thể thấy, đây là sự kiện lập nước Nam Việt của nhà Triệu. Danh xưng triều đại nhà Triệu không lấy theo họ cha (họ Lê của Hùng Ánh) mà lấy theo họ mẹ, do dòng bên mẹ có Triệu Vũ Đế là hoàng đế của cả khu vực.
Câu đối ở đình Hạ Mạo, Phú Thọ: 雄貉紀傳來滅蜀平吳明在史 粵西相遜後龍祥山壯莫成莊 Hùng Lạc kỷ truyền lai, diệt Thục bình Ngô minh tại sử Việt Tây tương tốn hậu, long tường sơn tráng mạc thành trang. Nghĩa là: Hùng Lạc ký truyền nay, diệt Thục bình Ngô rạng ở sử Việt Tây cùng nhường đó, điềm rồng thế núi bãi thành trang.
Đây là thông tin hết sức mới lạ về nguồn gốc nhà Triệu của nước Nam Việt, cho phép giải mã được những khúc mắc lịch sử hiện tại về thời kỳ Hậu Hùng Vương. Có thể tóm tắt lại diễn biến của thời kỳ này theo những thông tin mới thu nhận từ thần tích Hạ Mạo như sau. Hùng Vương thứ 18 là dòng Tiên Phượng theo mẹ Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, tương ứng với vị vua Chu cuối cùng là Chu Noãn Vương. Tác phẩm thơ Thiên Nam ngữ lục có đoạn về thời gian này như sau: Kể từ Hùng tổ trị dân Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường Tới nay Chu mạt Noãn Vương Ông cha con cháu giữ giàng trị dân… Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.
Giặc Thục tấn công và diệt Hùng Vương là nước Tần. Một chư hầu của Hùng Vương mang họ Lê không thần phục Tần đã cát cứ đất Quảng Tây mà xưng vương. Đây là vị Vũ Vương, tức là vị vua đầu triều, của nước Nam Việt. Vũ Vương có người vợ là con gái của Đông Chu Văn Quân, tức là dòng dõi nhà Chu. Khi Triệu Đà khởi nghĩa chống Tần, Vũ Vương cử các con cùng quân đội giúp Triệu Đà định được thiên hạ. Triệu Đà lên ngôi Hoàng đế, xưng là Triệu Vũ Đế. Triệu Vũ Đế phong cho Vũ Vương họ Lê làm vua đất Việt Tây như một chư hầu. Con Út của Vũ Vương họ Lê là người có công trong việc diệt Tần lập quốc, được Triệu Vũ Đế gả con gái cho, là Triệu hậu. Út Ngọ Lôi Mao lên nối ngôi cha ở Quảng Tây tức là Triệu Văn Vương trong lịch sử. Họ Triệu của nước Nam Việt lấy theo họ bên ngoại (theo Triệu Vũ Đế) từ đây.
Bách Việt triệu tổ cổ lục của họ Nguyễn ở Thanh Oai cho thông tin về vua Triệu: Nguyễn Thận là con trai Hùng Dực Công và bà Trần Thị Quý – người làng Chân Định (nay là làng Đại Định, xã Tam Hưng, huyện Thanh Oai – Hà Nội), sau lấy vợ kế là bà Nguyễn Thị Sinh…Chị ruột Nhâm Hiêu lấy viên quan Thái giám họ Triệu tên là Cao, không có con, bèn đem Nguyễn Thận cho Triệu Cao nuôi, đổi tên họ là Triệu Đà.
Về đoạn sử này, Cổ Lôi ngọc phả truyền thư chép là Triệu Vương lúc nhỏ có tên là Nguyễn Thận, cùng với Chử Đồng Tử nương tựa vào nhau, mò cua bắt ốc ở bãi Tự Nhiên mà sống. Sau đó Nguyễn Thận gặp và đi theo Nhâm Hiêu về Bắc. Chị ruột Nhâm Hiêu lấy quan thái giám Triệu Cao, không có con, nên nhận Nguyễn Thận về nuôi, đổi tên thành Triệu Đà… Triệu Cao là thái giám mà lại lấy vợ để có con? Thông tin này gián tiếp chỉ ra rằng đây không phải nói tới thái giám Triệu Cao của nhà Tần.
Triệu Đà lấy họ theo Triệu Cao và lập nước Nam Việt. Như vậy bản cổ lục này có ý nói Triệu Cao là vị tổ của nhà Triệu Nam Việt, nói cách khác là Triệu Cao là Triệu Vũ Đế. Chữ Cao ở đây nghĩa là vị tổ đầu tiên. Còn Nguyễn Thận trong chuyện này là Triệu Quang Phục, chứ không phải Triệu Đà ở Đồng Sâm.
Làng Quảng Minh, Mỹ Hưng, Thanh Oai thờ một vị Đại vương họ Triệu và thường được các “tín đồ” của Cổ Lôi ngọc phả dẫn rằng đây là nơi thờ Triệu Đà, người Việt chính cống, bởi trong Cổ Lôi ngọc phả kể về một vị Nguyễn Cẩn (hay Thận), là con của Hùng Dực Công (em của Hùng Duệ Vương), sau làm con nuôi của Triệu Cao và đổi sang họ Triệu, rồi làm vua nước Nam Việt… Làng Quảng Minh có vẻ cũng thích thú việc thành hoàng quê mình là vị Hoàng đế khai quốc Triệu Đà nên khá tin vào câu chuyện trên. Nhưng thực ra Cổ Lôi ngọc phả không hề có chữ nào nói về Triệu Đà cả, vì như họ đã ghi đây là ông Nguyễn Cẩn hoặc Nguyễn Thận, chưa từng chép tên Đà. Tức là bản thân vị họ Triệu được nhắc đến trong Cổ Lôi ngọc phả không phải là Triệu Đà.
Ngọc phả Hạ Mạo phối hợp với thần tích của làng Mạo Phổ bên cạnh cho biết vị vua Triệu, cháu của Hùng Duệ Vương cùng Sơn Thánh chống Tần là Út Ngọ Lôi Mao hay Triệu Quang Phục. Đây không phải là Triệu Đà, người xưng Vũ Đế, bởi Triệu Vũ Đế không phải dòng dõi quý tộc Hùng Vương và khởi nghĩa ban đầu là ở đất Chân Định, không phải ở vùng Phong Châu. Triệu Vũ Đế thực ra là cũng là vị Cao Tổ họ Triệu, nên Cổ Lôi ngọc phả chép thành Triệu Cao. Triệu Quang Phục Nguyễn Cẩn là “con nuôi” của Triệu Cao Tổ là chính xác.
Triệu Quang Phục có cha là Triệu Túc, hay Hậu Hùng Vương (em Hùng Duệ Vương) trong ngọc phả Hạ Mạo. Mẹ của ông là Duyên Hòa Thánh mẫu thờ ở Mạo Phổ, là con gái Đông Chu Quân, tức triều vua Hùng đời cuối. Triệu Quang Phục đã cùng với Triệu Đà (được kể thành Sơn Thánh) khởi nghĩa chống Tần thắng lợi. Triệu Đà xưng là Vũ Đế, còn Triệu Quang Phục sau đó xưng vương, tức là Triệu Việt Vương. Triệu Vũ Đế gả con gái cho Triệu Quang Phục nên từ đó nước Nam Việt theo họ Triệu (chi tiết giống Nguyễn Cẩn theo Triệu Cao làm con nuôi và đổi họ).
Như vậy, vị Triệu công chính vị ở Quảng Minh hay Nguyễn Cẩn trong Cổ Lôi ngọc phả là Triệu Quang Phục, người sau này trở thành Nam Việt Vương. Đây là một vị khác, không phải Vũ Đế Triệu Đà ở Đồng Sâm (Thái Bình), người là Cao Tổ đã xưng Đế cả thiên hạ Trung Hoa sau khi diệt Tần thắng Sở. Vị “Tả Hoàng hậu” họ Trần ở Quảng Minh tương ứng với con gái Đông Chu Quân, vợ của Hậu Hùng Vương Triệu Túc.
Câu đối đình Hạ Mạo ở Phú Thọ.
Sự tích về Triệu Quang Phục đánh du kích ở đầm Dạ Trạch rồi lên ngôi lập nước Nam Việt, xưng Đế sánh ngang với nhà Hán còn được kể trong nhiều tư liệu, mà sẽ được dẫn trong một bài viết khác. Như vậy, có thể tóm tắt về 3 vị vua Hùng mang “họ Triệu” như sau:
Triệu Đà đánh An Dương Vương trong truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là Tần Vương, vì nhà Tần vốn mang họ Triệu.
Triệu Vũ Đế được kể trong Sử ký Tư Mã Thiên là người lấy vợ ở Thái Bình, khởi nghĩa kháng Tần ở núi Châu Sơn, chiếm Long Biên.
Triệu Việt Vương là Triệu Quang Phục, con rể của Triệu Vũ Đế, tiếp ngôi của Vũ Đế chống giặc ở Dạ Trạch rồi lập nước Nam Việt, xưng Đế (Triệu Văn Đế).
Hoành phi Tự đế kỳ quốc ở đình Đa Vạn, Gia Lâm, Hà Nội.
Tượng Triệu Vũ Đế bị bỏ trong kho chùa ở vùng Châu Sơn thuộc Quế Võ, Bắc Ninh.