Đôi điều về các thủy thần ở Phủ Lý Hà Nam

Thông tin giới thiệu đình Văn Xá thuộc thôn Văn Xá (Đức Lý, Lý Nhân, Hà Nam). Đây là một di tích được xếp hạng quốc gia, có nhiều chạm khắc gỗ đẹp.
Đình thờ nhị vị Thủy tề Long vương cùng song thân. Thần phả, sắc phong và truyền thuyết kể rằng, vào đời vua Lý Thái Tổ, ở Văn Xá, huyện Thanh Liêm có ông Cao Phúc kết hôn với bà Từ Thị Lang ở Văn Xá, huyện Nam Xang. Hai ông bà tuổi cao mà vẫn chưa có con. Một hôm, hai ông bà vớt được hai quả trứng trắng ngoài sông bèn đem về, 100 ngày sau nở ra 2 con rắn trắng, một con dưới bụng có chữ Câu Mang anh, một con có chữ Câu Mang em. Hai ông bà để nuôi và thương yêu như con đẻ.
Một năm ở Thanh Liêm trời làm dịch bệnh, hai ông Cao Mang làm mưa to gió lớn tẩy trừ dịch bệnh cho dân rồi làm ra một cái giếng sâu và đi mất. Tương truyền, cái giếng này ở Văn Xá, Nam Xang có mạch thông sang Văn Xá, Thanh Liêm. Dân Văn Xá, Thanh Liêm lập miếu thờ. Cũng năm đó lũ to làm đê vỡ, hai ngài Bạch Xà từ giếng ra, đầu gối bên này, đuôi chạm bên kia nằm chắn khúc đê vỡ để ngăn dòng nước chảy, sau hai ngài lại ra sông đi mất. Quan sở tại tâu lên triều đình, nhà vua phong cho hai ngài là Nhị vị Thủy tề Long vương, thân phụ là Văn Phúc đại Vương, thân mẫu là bà Từ Văn Lang công chúa. Năm sau ở Nam Xang lại có dịch bệnh. Từ bà hóa thành con nghê tới làm phép chữa bệnh cho dân. Dân Nam Xang lập miếu thờ…

Chinh dien dinh Van XaChính điện đình Văn Xá.

Câu đối ở đình Văn Xá:
神化是何年交接禮文猶然敘南舍外鄉青林内邑
民思到今日希奇事業如復覩黄雲捲霧洪水平流
Thần hóa thị hà niên, giao tiếp lễ văn do nhiên, tự nam xá ngoại hương, thanh lâm nội ấp
Dân tư đáo kim nhật, hy kỳ sự nghiệp như phục, đổ hoàng vân quyển vụ, hồng thủy bình lưu.
Dịch:
Thần hóa tự năm nào, lễ văn giao tiếp còn đây, tụ họp quán Nam ngoài làng, bầy yên trong ấp
Dân nhớ tới nay hiện, sự nghiệp lạ kỳ như vẫn, trông thấy mây vàng cuốn móc, nước Hồng lặng trôi.

IMG_6557.JPGHậu cung thờ Nhị vị thủy thần ở đình Văn Xá.

Sự tích về 2 vị con Mãng xà mang cái tên đầy “thần thoại” – Câu Mang không khỏi gây sự nghi ngờ về tính xác thực của câu chuyện. Ngay chính thủ từ của đình Văn Xá cũng gọi đó là thờ sự “linh ứng”, chư không nên tin vào điều phi khoa học.
Tuy nhiên, cái “lý” của truyền thuyết dân gian luôn có. Những câu chuyện được kể dù kỳ bí nhưng đều có nền tảng là những sự kiện nhân vật hiển hiện.
Câu Mang là một cái tên thần gặp khá nhiều, thậm chí trong thần thoại Trung Hoa cổ, chỉ Mộc thần hướng Đông. Còn ở Lý Nhân ngay trong phần giới thiệu ở trên cũng đã có những thông tin giải thích cái tên này:
– Mang = Mường, tương tự như địa danh Nam Xang là Nam Xương trong truyện Người thiếu phụ Nam Xương của Truyền kỳ mạn lục (nay còn có đền thờ ở Lý Nhân là đền Vũ Điện ở xã Chân Lý, Lý Nhân, Hà Nam). Mường nghĩa rộng là đất nước, chứ không phải chỉ là bản mường.
– Câu = Cao = Cả, chỉ thủ lĩnh, người đứng đầu.
Như thế Câu Mang = Cả Mường hay thủ lĩnh của đất nước. Hai vị thần Câu Mang là 2 vị thủ lĩnh tầm cỡ quốc gia.

IMG_7360.JPGNghi môn đình Công Đồng.

Cũng ở khu vực này còn có đình Công Đồng (thôn Tiên Lý, Đồn Xá, Phủ Lý, Hà Nam). Đình Công Đồng thờ ông Trương Minh và Liên Hoa công chúa có công đánh giặc Ân. 3 người con của 2 vị này là Trương Đức, Trương Hiền và Trương Bảo được thờ ở các ngôi đền nhỏ gần đình Công Đồng gọi là Đức thánh Cả, Đức thánh Hai và Đức thánh Ba. Đình Công Đồng cũng đã được xếp hạng di tích quốc gia, trong đình còn lưu được nhiều hoành phi, câu đối, đồ thờ và các mảng chạm khắc rất đẹp.

IMG_6652 (2).JPGChạm khắc ở đình Công Đồng.

Có thể thấy sự tích 2 ngôi đình Văn Xá ở Lý Nhân và Công Đồng khá tương đồng. Trương hay Trưởng cũng như Câu – Cao là những từ chỉ thủ lĩnh. Mô típ truyện các thủy thần sinh ra từ trứng ở khu vực này có thể quy chung về sự tích của vua cha Bát Hải Động Đình và các vị quan lớn trong Thoải phủ. Điển hình ở Hà Nam là nơi có đền Lảnh, nơi thờ chính của Quan lớn đệ Tam Thoải phủ tại huyện Duy Tiên.
Ngay cái tên “đình Công Đồng” cũng đã chỉ ra sự tích 3 vị thánh ở đây là các vị quan lớn của ban Công đồng trong Tứ phủ. Cha của các vị này chính là đức vua cha Bát Hải hay Lạc Long quân. Công chúa mẹ của các vị này là Mẫu Thoải hay Long nữ Động Đình.
Như vậy, truyện các vị thần Câu Mang ở Lý Nhân không phải xảy ra vào thời Lý, mà là thời Hùng Vương. Chữ Lý ở đây chỉ là từ chỉ vua nói chung, gần giống như chữ Hùng vì Lý = lửa, là mặt trời, ánh sáng, chỉ thủ lĩnh. Không rõ chữ “Lý” trong các địa danh Phủ Lý, Lý Nhân, Tiên Lý có phải cùng với nghĩa này không.

Hoanh phi dinh Van XaHoành phi “Lý đại phi anh” ở đình Văn Xá.

Truyền tích đình Công Đồng kể các vị thánh họ Trương giúp vua Hùng đánh giặc Ân. Giặc Ân đây không phải giặc Ân thời Phù Đổng thiên vương, mà Ân = Ơn là số 2, chỉ hướng Xích đạo. Lạc Long Quân cùng các vị quan lớn đã đánh giặc Thục, là dòng của Đế Nghi ở hướng Nam (nay) nên còn gọi là Ân. Sự tích đánh giặc Ân tương tự cũng gặp ở đền Đức thánh Cả Bột Hải đại vương tại Thái Đường (Ứng Hòa, Hà Nội).

Cao Biền và Trang Nghị đại vương trên đất Thái Bình

Năm 1985 ở khu vực chợ Quài (Thái Hà, Thái Thụy, Thái Bình) Bảo tàng Thái Bình đã tiến hành đào một miệng giếng cổ và phát hiện hàng trăm viên gạch mang dòng chữ Giang Tây quân 江西軍. Giang Tây quân là gạch loại gạch của Tĩnh Hải quân thời Đường, mà Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân đầu tiên là Cao Biền. Đây cũng là loại gạch được tìm thấy ở lớp gạch dưới cùng trong Hoàng thành Thăng Long và một số thành cổ khác như thành Hoa Lư (Ninh Bình), thành nhà Hồ (Thanh Hóa).
Theo nhận xét của đoàn khai quật khu vực này tập trung đậm đặc loại gạch trên ở trong khoảng đất dài khoảng 1000m, rộng từ 50-100m. “Di tích khảo cổ Thái Hà – Thái Phúc cao, hẹp, dài, án ngữ cửa Kỳ Bố và cửa Đại Toàn… Rất có khả năng đây là một công trình quân sự phòng thủ ven biển…”.

Giang Tay quanGạch Giang Tây quân ở Thái Bình.

Ở chùa Phúc Lâm của thôn Phúc Tiền (Thái Phúc, Thái Thụy, Thái Bình), cũng là nơi phát hiện loại gạch Giang Tây khi nhà chùa đào đất lấy cát sau chùa. Cùng với những viên gạch Giang Tây quân này nhà chùa còn đào được 1 hũ tiền Khai Nguyên thông bảo, tức là tiền mang niên hiệu Khai Nguyên (713-741) của vua Đường Huyền Tông. Tiền Khai Nguyên thông bảo là loại tiền được dùng phổ biến trong suốt thời nhà Đường. Chùa Phúc Lâm do đó có thể là một trạm hoặc kho quân dụng trong tuyến phòng thủ ven biển dưới thời Đường.
Trong khuôn viên chùa Phúc Lâm nay còn một ngôi đền nhỏ thờ thành hoàng làng. Trước đây đình Phúc Tiền (Thái Phúc) theo Danh mục thần tích thần sắc Thái Bình có thờ tướng quân Cao Biền. Sau đình bị phá nên nhà chùa mang các đồ thờ về dựng một ngôi đền nhỏ để tiếp tục thờ.
Câu đối ở đền thờ thành hoàng trong chùa Phúc Lâm:
文物彬彬地是前東材舊邑
宫庭飭飭歲在己未春新修
Văn vật bân bân, địa thị Tiền Đông tài cựu ấp
Cung đình sức sức, tuế tại Kỷ Mùi xuân tân tu.
Dịch:
Văn vật mộc mạc, đất ở Tiền Đông nơi ấp xưa
Cung quán nghiêm trang, năm tại Kỷ Mùi xuân mới sửa.
“Văn vật” ở đây phải chăng nói tới những viên gạch có chữ Giang Tây quân?

IMG_6914Đền thờ thành hoàng ở chùa Phúc Lâm (Phúc Tiền, Thái Thụy, Thái Bình).

Những viên gạch Giang Tây quân và tục thờ Cao Biền tại Thái Phúc đã xác nhận đây là một điểm đồn binh quan trọng của Cao Biền trên đất Tĩnh Hải. Thần tích của một nơi khác ở Thái Bình đã kể lại rõ ràng diễn biến của việc này. Đó là thần tích về Trang Nghị đại vương ở Hoa Dương (nay là xã Thái Phương, Hưng Hà, Thái Bình). Hoa Dương xã thần tích chép như sau:
Giữa Đời Đường Hàm Thông đời vua Ý Tông lại cử Yêu Vệ tướng quân Cao Biền: ông họ Cao húy là Biền, cháu của Cao Sùng, con của Cao Luân, mẹ người họ Lý vốn người ở Quảng Đông, gia truyền làm thầy địa lý tinh thông, đời nối đời làm quan. Vào thời Đường, thay quan chức Tù trưởng bằng chức Đô hộ Tổng quản Kinh lược Chiêu thảo sứ tướng quân tất phải trao cho Cao Biền. Cao Biền khấu tạ (vua Đường) đem quân ra đi, tới cửa biển làm lễ cầu đảo trời đất, rồi lệnh cho hơn 5 vạn tinh binh xuống thuyền ra đi từ cửa biển thuận buồm xuôi gió hứng khởi ngâm một vần thơ:
Ba quân lẫm liệt xuất trùng quan
Vạn dặm sóng cồn vạn dặm an
Tự hồng mao chẳng nề sống thác
Thờ vua nợ nước dám từ nan?
Vừa khi đi tới địa đầu huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng, đạo Sơn Nam, có một ngày đi qua địa đầu trại Yến Liên, sau đổi là trang Hoa Dương, ở đó có một con sông nhỏ.
Đoạn trên trong thần tích tại Hoa Dương kể rất rõ việc Cao Biền xuất quân từ bên phương Bắc theo đường biển đổ bộ vào cửa biển nước Nam tại Thái Bình. Đó cũng là lý do để Cao Biền xây dựng một tuyến phòng thủ ven biển tại đây như đã thấy qua di tích gạch Giang Tây quân ở trên.
Đại Việt sử ký toàn thư chép về lần tiến quân này của Cao Biền:
Ất Dậu (865) (Đường Hàm Thông năm thứ 6). Mùa thu, tháng 7, Biền trị quân ở trấn Hải Môn, chưa tiến. Giám quân là Lý Duy Chu ghét Biền muốn tống đi, nhiều lần giục Biền tiến quân. Biền đem hơn 5000 quân vượt biển đi trước, hẹn Duy Chu đem quân ứng viện. Biền đi rồi, Duy Chu cầm quân còn lại không đi. Tháng 9, Biền đến huyện Nam Định và Châu Phong, người Man gần 5 vạn đương gặt lúa, Biền đánh úp, chúng tan cả, chém được bọn Trương Thuyên, thu lấy lúa đã gặt để nuôi quân.
Như vậy việc đổ bộ của Cao Biền vào Nam Định (đúng ra là đất Thái Bình) của Châu Phong (có lẽ là Tĩnh Hải hay Giang Tây) là trận thắng đầu tiên của quân nhà Đường trước quân Nam Chiếu. Nhờ có trận thắng này mà lực lượng ban đầu của Cao Biền đã đứng vững trên đất Giao Châu.
Đoạn tiếp theo thần tích thôn Hoa Dương kể tại đây Cao Biền gặp 4 vị thần, tự xưng là tứ vị Lôi Đình (Lôi Oanh): một vị tên là Thanh Cung, một vị tên là Chàng Chiểu, một vị tên là Từ Kinh, một vị tên là Trang Nghị,… Vốn là thần nắm giữ gió mây sấm chớp, chăm chăm phụng mệnh trời giáng làm Thủy thần trông coi bốn phía phương dân, cai quản đất đai cảnh thổ.
Lại nói, bấy giờ ở đất Phong Châu có trên 5 vạn tên giặc Man vào xâm lấn bờ cõi. Viên quan dâng tấu vua Đường, vua sai quan truyền lệnh cho Biền công Thứ sử Giao Châu đem quân đi đánh Nam Chiếu (tức Ai Lao), Biền công lập tức điều quân đi đánh Nam Chiếu. Trong một ngày, quan quân vừa tới trang Hoa Dương, huyện Ngự Thiên phủ Tiên Hưng, Biền công ra lệnh cho quân đình trú ngự tại thần từ, kỷ đảo xin thần phù hộ cho quân đi đánh giặc đợi sau khi chiến thắng trở về, sẽ phong sắc cho thần là Thượng Thượng đẳng.
Sáng hôm sau ông bái yết thần từ, đề binh tiến thẳng tới Nam Chiếu đại phá giặc, chém đầu Chánh tướng và Tỳ tướng của chúng gồm 20 thủ cấp, thu hồi vũ khí, xe ngựa của chúng nhiều vô kể. Giặc tháo chạy tan tác chẳng biết đi lối nào hết. Từ đây thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự, Biền công làm sớ tâu lên vua Đường: giặc Man đã quét sạch cũng là nhờ công âm phù trợ của thần linh.
Vua ban sắc cho Tứ Vị Lôi Oanh là Thượng đẳng phúc thần để thần cùng được trường tồn với trời đất mà việc phụng thờ thần trở thành nghi thức muôn thuở vậy thay.
Cao Biền được nhà Đường cử sang An Nam để đánh dẹp giặc Nam Chiếu. Bước tiến quân đầu tiên của Cao Biền là dẫn quân đi thuyền vào đất Thái Bình. Tứ vị Lôi Oanh ở Thái Bình đã hiển linh phù trợ Cao Biền trong trận chiến này. 4 vị “thần sấm” này là ai mà lại trợ giúp Cao Biền đánh Nam Chiếu?
Xét các vị thủy thần của khu vực đất Thái Bình thì 4 vị thần này chỉ có thể là những người trong Ngũ vị tôn quan trong thần tích thờ vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình). Nói cách khác, đây chính là những người anh em đã theo Lạc Long Quân (vua Hùng) đánh Thục, gây dựng nên triều đại cha truyền con nối đầu tiên của Trung Hoa. Vì là những vị thần có công đánh Thục ở phía Tây nên các vị này mới hiển linh giúp Cao Biền đánh giặc Nam Chiếu (Ai Lao – cũng là ở phía Tây).
Chữ Lôi là quẻ Chấn, chỉ hướng Đông. Hướng Đông là hướng biển (Động Đình), là hướng Bát (số 8 của Hà thư) trong tên Bát Hải Động Đình. Lạc Long Quân có nơi như ở làng Bình Đà (Hà Nội) còn được gọi là Pháp Lôi là với ý này.
Tứ vị Lôi Oanh còn gọi là Lôi Đình. Lôi là quẻ Chấn, tương đương với hướng Đông, tính Động. Lôi Đình = Động Đình. Tứ vị Lôi Đình là Ngũ vị tôn quan của Động Đình.
Xét tên của 4 vị Lôi Oanh ở Hoa Dương thì đây là 4 phương vị:
– Thanh Cung rõ nhất là hướng Đông vì Thanh, màu xanh là màu phương Đông.
– Chàng Chiểu là hướng Tây vì Chiểu – Chiêu – Chiều, hướng mặt trời lặn.
– Từ Kinh là hướng Bắc vì Kinh hay Canh là can chỉ phương Bắc (như trong kim La Kinh).
– Trang Nghị như thế phải là thần hướng Nam. Chưa hiểu liên hệ từ ngữ thế nào.
Địa danh Hoa Dương cũng có thể xuất phát từ “Hoa Đào trang”, là nơi lập nghiệp của vua cha Bát Hải Động Đình. Hoa – Hạ là tên của vương triều do Lạc Long Quân lập nên, xuất phát từ đất Thái Bình.
Trang Nghị đại vương là vị thần thời Hùng Vương, công thần lập quốc của Lạc Long Quân và là một trong 5 vị quan lớn của ban Công đồng trong Tứ phủ. Một vị cổ thần anh linh đã 4000 năm như vậy mà bị biến thành bố của Thái sư Trần Thủ Độ thì… con cháu quá to gan, chẳng mấy bữa các cụ hiển linh vặn cổ cho chẳng còn đường mà sống…

Từ thần tích của một ngôi đình ở ngã ba sông Bạch Hạc

Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô (Ba Vì, Hà Nội) là một ngôi đình cổ nằm trên khu đất ở khu vực hợp lưu của 3 con sông lớn của miền Bắc là sông Đà, sông Thao và sông Lô. Khu vực này được gọi là ngã ba Bạch Hạc (Bạch Hạc Tam Giang).
Theo thần tích thì đình Viên Châu thờ 2 vị thủy thần thời Hùng Vương. Bà mẹ của 2 vị này là một công chúa có tên Thụy Hoa, đi tu ở chùa trên đất làng Viên Châu. Một hôm công chúa ra bãi sông Viên Châu, mơ thấy rắn cuốn, về sinh đôi được 2 người con trai có dị tướng, đặt tên là Lân và Lý… Về sau 2 người con được vua phong làm “quản trưởng đội thuyền rồng, tả hữu thủy quân tuần sông“, có công cầu đảo mưa và hiển ứng báo vua đánh giặc Thục… Hai vị được sắc phong danh hiệu là:
– Thông Hà hiển ứng an dân đại vương
– Thủy Giang linh ứng đương cảnh đại vương.
Bà mẹ cũng được phong là Mục Phật công chúa và thờ ở am bên cạnh đình.

p1270862

Ngã ba Hạc nhìn từ Viên Châu.

Các di vật thờ ở đình Viên Châu đã bị mất mát khá nhiều. Đình còn lưu giữ được một số vế đối thờ như sau:
Vế đối khác:
春臺壽域竝生竝育遂吾胞
Xuân đài thọ vực tịnh sinh tịnh dục toại ngô bào.
Dịch:
Đài xuân cõi thọ, cùng sinh cùng dưỡng thỏa anh em.
Vế đối này nói tới sự việc hai anh em thủy thần cùng sinh đôi và lớn lên, lập công nghiệp tại đất Viên Châu.
青龍包白虎四民同樂奠洪基
Thanh long bao bạch hổ tứ dân đồng lạc điện hồng cơ
Dịch:
Rồng xanh ôm hổ trắng, bốn dân vui thích yên cơ nghiệp.
Khi xét kỹ thì sự tích 2 vị thần ở đình Viên Châu thì thấy đây cũng là chuyện của các vị thần Bạch Hạc Tam Giang. Viên Châu nằm đúng ngã 3 sông Bạch Hạc. Các vị Thần Bạch Hạc Tam Giang trong Lĩnh Nam chích quái là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, đã hiển linh vào thời Đường khi xây đạo quán ở Bạch Hạc.
Truyện thần sông Bạch Hạc kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam Thanh ở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước…
Lý Thường Minh cho đắp tượng thờ thần Thổ Lệnh tại Thông Thánh Quán (nay là đền Tam Giang tại phường Bạch Hạc, Việt Trì) và Thạch Khanh được thờ ở đền Chi Cát (nay thuộc phường Tiên Cát, Việt Trì). Cuộc thi nhảy qua sông của hai vị thần đã để lại dấu ấn đến nay, một vết chân trước đền Tam Giang và một gót chân tại Bến Gót (nay thuộc phường Bến Gót, thành phố Việt Trì). Nếu từ đền Tam Giang hay Bến Gót mà “nhảy” qua sông thì chính là vùng đất Viên Châu.
Như đã từng nhiều lần khảo cứu, Thổ Lệnh Tam Giang là Trung Thành phổ tế đại vương, được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên (Hà Nội), cũng là vị Quan lớn đệ Tam của tín ngưỡng Tứ phủ, thờ chính tại đền Lảnh (= Lệnh) ở Duy Tiên, Hà Nam. Thần tích ở Viên Châu chép là “quản trưởng đội thuyền rồng” (= Trưởng Lệnh). Còn Thạch Khanh là Quan lớn đệ Ngũ Tuần Tranh của Thoải phủ. Thần tích ở Viên Châu chép là “tả hữu thủy quân tuần sông”.
Thổ Lệnh và Thạch Khanh là 2 anh em, 2 vị tướng đã giúp vua cha Bát Hải Động Đình, hay đức Lạc Long Quân đánh giặc Thục, lập nên vương triều đầu tiên của người Việt. Vì công lao phò vua lập quốc từ thời sơ sử này nên các vị quan lớn (các vị thủy thần Bạch Hạc) mới trở nên cực kỳ linh thiêng, được người dân nhiều nơi tôn thờ như vậy.
Đền Tam Giang ở Việt Trì vẫn trong lễ hội hàng năm vẫn diễn lại tích thần Thổ Lệnh đưa tiễn Tản Viên Sơn Thánh khi ngài đến thăm Bạch Hạc. Tương tự, trong thần tích đình Viên Châu thì Thông Hà và Thủy Giang đại vương đã báo mộng cho vua Hùng, phò tá Tản Viên Sơn Thánh đánh Thục. Thực ra “Tản Viên” ở trong chuyện này là Lạc Long Quân như đã nói ở trên.
Bà mẹ của 2 vị quan lớn của Thoải phủ là Quý Nương, cũng là Mẫu Thoải, là con gái Thần Long Động Đình. Bà là vợ của vua Kinh Dương Vương, người đã sinh ra Lạc Long Quân. Như vậy Thụy Hoa công chúa ở đình Viên Châu cũng là Mẫu Thoải. Đền thờ Xích Lân Long Nữ là đền Tiên Cát nay ở thành phố Việt Trì.

p1270875Đình Viên Châu ở xã Cổ Đô, Ba Vì, Hà Nội.

Câu đối khác còn lưu được, nay treo trước cung thờ ở đình Viên Châu là:
神異昭天一之生産瑶琪扵龜峒
英武顯乾三之躍誇屋纛扵龍宫
Thần dị chiêu Thiên nhất chi sinh, sản dao kỳ ư quy động
Anh vũ hiển Càn tam chi dược, khoa ốc đạo ư long cung.
Giải nghĩa câu đối này trong từng vế. Ở vế đối đầu, Thần dị là sự lạ, sự khác thường của thần. Thiên nhất: Thiên là quẻ Càn (Kiền). Thiên nhất là hào sơ cửu của quẻ Càn “Tiềm long vật dụng” (Rồng còn đang ẩn mình, chưa hành động). Ý chỉ lúc bắt đầu. Dao kỳ: là tạo ra 2 loại ngọc quý, ý chỉ 2 vị Thông Hà và Thủy Giang. Quy động: động rùa giải, có thể chỉ vùng đất bãi Viên Châu. Vế đầu nói đến sự ra đời kỳ lạ của 2 vị thánh vương tại đất Viên Châu.
Vế đối sau: Anh vũ: sức mạnh tài năng hơn người. Càn tam: Là hào cửu tam của quẻ Kiền “Quân tử chung nhật kiền kiền, tịch dịch nhược, lệ, vô cữu”. Hào này ý nói là người quân tử làm việc liên tục, cẩn thận, tránh lỗi. Khoa ốc đạo: Khoa trương thanh thế cờ xe. Ví dụ như Hoàng ốc tả đạo là xe mui vàng cắm cờ tiết mao, chỉ bậc quân trưởng. Long cung: cung rồng, chỉ cung vua hoặc thủy cung vì đây là 2 vị thủy thần. Vế sau nói tới công nghiệp của 2 vị thần này.
Dịch câu đối ở cung thờ Viên Châu:
Thần dị chiếu khi xuất thánh vương, đúc ngọc dao kỳ nơi động giải
Tài sức tỏ lúc gây công nghiệp, dương màu xe đạo chốn cung rồng.
Trong tên của 2 vị thủy thần ở đình Viên Châu là Thông Hà và Thủy Giang thì chữ Hà ở đây phải hiểu nghĩa là Trời, không phải nghĩa là sông. Thông Hà tương tự như Thông Thiên.

p1270943

Trang cuối trong thần tích đình Viên Châu.

Phần cuối thần tích đình Viên Châu còn kể một “sự lạ” khác:
…Nói tới Thục Vương (chính là An Dương Vương) ở ngôi được 50 năm thì Triệu Đà mang quân chiếm đất nước, cha truyền con nối được 5 đời thánh vương, trước sau tổng cộng là 149 năm. Đến đời Vệ Vương chỉ được 1 năm, Tô Định đem quân tới bờ cõi. Bà Trưng (là con gái của nhà họ Hùng), cất quân khởi nghĩa, tự xưng nữ vương, được 5 năm thì đến thời Đông Hán. Qua các thời Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 340 năm thì tới nước Nam. Các triều đại có Đinh, Lê, Lý, Trần 4 nhà khai sáng hồng đồ…
Phiên âm trích nguyên gốc từ thần tích:
Tức thuyết Thục Vương (tức An Dương Vương thị dã) tại vị phương ngũ thập niên gian, Triệu Đà nãi đề binh thủ quốc, phụ truyền tử kế đắc ngũ đại thánh vương, tiền hậu cộng nhất bách tứ thập cửu niên. Hựu chí Vệ Vương phương đắc nhất niên, Tô Định đề binh chiêm giới. Trưng nữ (tức Hùng gia tính nữ) hưng sư phương đắc ngũ niên tự xưng vương nữ thời chí Đông Hán. Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm tam bách tứ thập niên chí thử Nam Bang. Lịch hữu Đinh, Lê, Lý, Trần tứ tính khai sáng hồng đồ…
Theo bản thần tích này thì vào thời Vệ Vương, vị vua cuối cùng của nhà Triệu Nam Việt, tướng Tô Định đã đem quân xâm chiếm bờ cõi. Sau đó Bà Trưng mới khởi nghĩa, xưng vương được 5 năm, rồi mới tới nhà Đông Hán.
Thông tin này hoàn toàn khác so với chính sử. Chính sử hiện nay cho rằng người đánh Triệu Vệ Vương (Thuật Dương Vương) là Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán. Sau đó là thời kỳ cai trị của nhà Tân của Vương Mãng với các thái thú châu mục Đặng Nhượng, Tích Quang ở Giao Châu, rồi mới đến Tô Định làm thái thú Đông Hán và nổ ra khởi nghĩa của Trưng nữ vương. Thần tích đình Viên Châu lại cho biết người đánh Vệ Vương là Tô Định và khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra ngay sau đó, trước thời Đông Hán. Như thế khởi nghĩa Trưng Vương là vào thời Tây Hán, ngay sau khi nhà Nam Việt bị diệt. Tướng Tô Định trong thần tích tương đương với tướng Lộ Bác Đức của nhà Tây Hán.
Liệu có phải người biên lập thần tích ở Viên Châu đã nhầm? Hay chính sử đang bị nhầm?
Không phải chỉ có một mình thần tích đình Viên Châu cho biết một thời điểm khác của khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thần tích của xã Phú Lạc (Cẩm Khê, Phú Thọ) theo bản dịch của Nguyễn Duy Hinh trong sách Tín ngưỡng thành hoàng Việt Nam (AE a9/6) cũng kể hoàn toàn tương tự:
… Triệu Đà được nước cha truyền con nối 5 đời cộng 149 năm. Đến đời Thuật Dương Vương kế ngôi chính thống vừa được một năm thì có Tô Định mang quân vào đất nước chiếm Trung Hoa, họ Triệu tàn tạ không người cứu nước. Đến đó cháu gái Hùng Vương húy là Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt thánh thần trong đời oai hùng cử binh đánh thẳng đến thành Tô, đại phá. Tô Định thuy chạy. Bà Trưng bèn xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, khôi phục toàn bộ cảnh thổ nước Nam. Bà Trưng tức vị tự lập làm vua.
Hàng loạt những tư liệu dân gian ở nhiều nơi khác nữa cho thấy, có một cuộc khởi nghĩa của Trưng nữ vương nổ ra ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt mất nước, dưới thời Hiếu Vũ Đế của nhà Tây Hán. Chính sử Việt hiện tại đang có sự nhầm lẫn về thời điểm và bản chất của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng.

Những vị thủy thần của phủ Ứng Thiên

Thần phả đình Giẽ Hạ (xã Thịnh Đức, huyện Phú Xuyên, Hà Nội), khu vực thuộc phủ Ứng Thiên cũ, chép:
Vào ngày rằm tháng Giêng năm Giáp Thìn đệ nhị tiên cung tên là Tiên Dung Châu xuất thần giáng sinh. Nhân đó đặt tên là Giáng Tiên. Khi nàng trưởng thành, sắc đẹp tuyệt trần…, những lúc nhàn rỗi thường du ngoạn ở châu Phong, đất Giao Chỉ. Tình cờ gặp vua Hùng Vương thứ 8 là Huy Vương. Vua rất ưng ý liền phong làm cung phi chính thất.
Hai năm sau nàng có thai tròn 12 tháng. Lúc đó là ngày mồng 10 tháng 6 năm Giáp Ngọ nàng đến ngã ba sông Sa tắm gội. Đến ngày 12-6 sinh được một bọc, nở ra 5 người con trai. Người xưa vẫn ca ngợi “nhất bào ngũ tử”…
Khi trưởng thành 5 anh em này đều lần lượt nhiều lần lập công lớn, dẹp giặc đem lại yên bình cho đất nước… Sau khi hóa vua lại ban cho sắc chỉ phong vào hàng thượng đẳng thần. Cả năm anh em đều là quý tử… Vua ban sắc phong cho là Thủy thần…

image0021
Miếu thờ bà Tiên Dung Châu ở Giẽ Hạ.

Các đền thờ là:
1. Quảng Xung linh tế đại vương (xã Hữu Vĩnh, phủ Hoài An)
2. Quảng Bác uyên dung đại vương (xã Thịnh Đức, huyện Phú Nguyên)
3. Quảng Xuyên linh quang đại vương (xã Quảng Tái, huyện Sơn Minh)
4. Quảng Tế linh ứng đại vương (xã Bãi Nhiễm, huyện Duy Tiên)
5. Quảng Hóa cư sĩ đại vương (xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì).
Ở khu vực xã Thịnh Đức hiện còn đền thờ đức Quảng Bác đại vương, là con thứ 2 của Vua Hùng thứ 8. Đức thánh này được gọi là thánh Ba Sa, hay thủy thần Tam Giang.
Thần tích đình Giẽ Hạ về 5 vị thủy thần với đền thờ trong vùng phủ Ứng Thiên là một đầu mối để lần tìm lại sự tích, công nghiệp và nhân vật thật sự của các vị thần được thờ ở đây.
Câu đối tại ở đình Giẽ Hạ:
三两秀所鍾龍子仙孫七世譜
百千秋為烈丹庭紫誥歷朝恩
Tam lưỡng tú sở chung, long tử tiên tôn thất thế phổ
Bách thiên thu vi liệt, đan đình tử cáo lịch triều ân.
Dịch:
Đôi ba đúc ngời, con rồng cháu tiên truyền lưu thế phả
Trăm ngàn thu rạng, thềm son chiếu tía ơn ghi lịch triều.
Thần tích của đình Giẽ Hạ hoàn toàn tương đồng với sự tích về Trung Thành phổ tế đại vương, vị thần được thờ phổ biến ở khu vực Phú Xuyên – Hà Nam:
– Hùng Vương thứ 8 tương ứng trong thần tích về Trung Thành đại vương là ông Đào Công Bột hay Bột Hải đại vương. Bột = Bát, là số 8. Số 8 hay số 3 (trong Ba Sa) ở đây là chỉ hướng Đông, “bộ Hải Dương” hay vùng Biển Đông. Bức đại tự trong đình Giẽ Hạ Trạch tư Đông thổ 宅兹東土 (Yên định vùng đất Đông) cùng hàm ý này.
– 5 người con trai sinh ra cùng một bọc trứng họ Đào là Cự, Hồng, Trưởng, Quý Lân và Thạch Khanh. Ở sự tích tại Giẽ Hạ gọi là Quảng Xung, Quảng Bác, Quảng Xuyên. Quảng Tế, Quảng Hóa. Cả 5 người có công đánh giặc (giặc Thục) và là các thủy thần, phụ trách thủy quân, sông nước.
Như đã từng xác định, đây cũng là chuyện về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình của đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Bột Hải đại vương là Bát Hải Động Đình, là vua cha của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. 5 người con là Ngũ vị quan lớn của ban Công đồng trong tín ngưỡng này. Trung Thành phổ tế đại vương là Thổ Lệnh hay Quan lớn đệ Tam, thờ chính ở đền Lảnh (Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam). Còn Thạch Khanh, một trong 2 vị thần sông Bạch Hạc là Quan lớn đệ Ngũ tuần Tranh.
Trong sự tích ở đình Giẽ Hạ thì Quảng Bác đại vương là người con thứ hai, tức là tương ứng với Quan lớn đệ Nhị. Vị Quảng Xuyên đại vương ở Quảng Tái, nay thuộc xã Trung Tú của huyện Ứng Hóa, vẫn còn được thờ ở các làng tại đây. Vị Quảng Tế đại vương ở huyện Duy Tiên có thể tương ứng với Quan lớn đệ Tam, là khu vực đền Lảnh ở Duy Tiên. Trong 2 vị Quảng Hóa và Quảng Xuyên, không rõ vị nào là quan lớn đệ Tứ, vị nào là quan lớn đệ Ngũ, cần khảo cứu thêm.

image0041
Nghi môn đền Thiên Vựng ở Hữu Vĩnh.

Riêng người con thứ nhất, Quảng Xung đại vương, khá đặc biệt. Trong thần tích Giẽ Hạ ghi là thờ ở đền Hữu Vĩnh. Tại thôn Hữu Vĩnh, xã Hồng Quang của huyện Ứng Hòa nay có ngôi đền rất nổi tiếng, là đền Đức thánh Cả. Vị thánh này không rõ tại sao lại bị ghi chép thành một tướng dưới thời Lý Bôn, đánh dẹp giặc Lương. Trong khi đó, sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: Đền Hữu Vĩnh ở xã Hữu Vĩnh, huyện Hoài An. Tương truyền thần là con của Kinh Dương Vương, tên là Quảng Xung.
Đôi câu đối ở nghi môn đền Vựng (đền Hữu Vĩnh):
四千餘年于兹鴻貉聖神秀水奇山標勝跡
百年萬世之下龍仙民族普風甘雨藉靈庥
Tứ thiên dư niên vu tư/ Hồng Lạc thánh thần/ tú thủy kỳ sơn tiêu thắng tích
Bách niên vạn thế chi hạ/ long tiên dân tộc/ phổ phong cam vũ tạ linh hưu.
Dịch:
Bốn ngàn năm dư ấy nay, thánh thần Hồng Lạc, sông đẹp núi lạ nêu thắng tích
Trăm năm vạn đời sau đó, dân tộc rồng tiên, gió lộng mưa thơm nhờ phúc thần.
Câu đối này nói sự tích của vị Đức thánh Cả tại Hữu Vĩnh đã có từ 4000 năm, từ thời Hồng Lạc, liên quan tới con rồng cháu tiên. Câu đối tương tự cũng thấy ở trong đình Giẽ Hạ. Nội dung này nhắc tới câu đối cũng ở nghi môn đền Đồng Bằng về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.
Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.
Có thể thấy Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh cũng là Vĩnh Công, là con Hoàng xà lớn trong 3 con Hoàng xà do Quý Nương sinh ra của sự tích đền Đồng Bằng. Ở đền Đồng Bằng có sự tôn sùng Vĩnh Công ở cả 2 ngôi, vừa là vua cha Bát Hải của Thủy phủ, vừa là Quan lớn đệ Nhất. Điều này có thể hiểu, người con đầu đã được tôn làm vua nên Quan lớn đệ Nhất khi đánh giặc Thục cũng là đức Vua cha Thoải phủ sau đó.
Vua cha Vĩnh Công Bát Hải từng được xác định là Lạc Long Quân, vị quốc tổ 4000 năm của người Việt. Như vậy, Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh cũng là đức Lạc Long Quân. Điều này giải thích vì sao đền Hữu Vĩnh nổi tiếng linh thiêng. Người dân địa phương thậm chí còn lưu truyền câu nói “Bất lộ trần ai”, không được tiết lộ điều gì về Đức Thánh Cả. Không ai được vào cung cấm của đền trừ thủ từ. Còn có chuyện, có cụ đồ ở làng vào cung cấm để đọc sắc phong và thần tích, chỉ mấy tháng sau đó bị chết không rõ nguyên nhân…

phu-ung-thienVị trí các địa danh di tích trong bài viết.

Câu đối tại đền Hữu Vĩnh của Thượng thư Bùi Bằng Đoàn viết:
國有永祠昭帝德
民懷安宅仰皇恩
Quốc Hữu Vĩnh từ chiêu đế đức
Dân Hoài An trạch ngưỡng hoàng ân.
Dịch
Đền quốc gia Hữu Vĩnh sáng đế đức
Đất nhân dân Hoài An ngưỡng ơn vua.
Theo như câu đối này thì Đức thánh Cả là một vị vua chứ không phải chỉ là một tướng quân thông thường. Trong đền 2 bên có đắp tượng ban văn và ban võ đầy đủ. Đã có sự nhầm lẫn, tam sao thất bản về thần tích của Xung Lang đại vương tại Hữu Vĩnh. Đây là hình ảnh của quốc tổ Lạc Long Quân, vị vua khởi sử của người Việt, không thể chép thành vị tướng thời Tiền Lý.
Sách Từ điển di tích văn hóa Việt Nam dẫn theo Đại Việt địa chí Bắc Thành đia dư chí lục cho biết đền Hữu Vĩnh có tên “Nam thiên hoàng đế từ“. Tương truyền đền thờ thần Quảng Xung là con của Kinh Dương Vương. Truyền thuyết nói vua Lê đi tuần qua miền này, thuyền đang đi trên sông Vĩnh thì gặp phải bãi cát, không tiến lên được. Vua lên bờ vào đền làm lễ cầu đảo, dòng sông lại thông suốt. Vua bèn phong cho thần là Nam Thiên hoàng đế.
Có lẽ chính tên Nam thiên hoàng đế này mà Đức thánh Cả thời Hùng Vương đã bị nhầm lẫn thành thời Tiền Lý Nam Đế. Quảng Xung đại vương như vậy rõ ràng đã là một vị vua lớn của trời Nam.
Bản thân chi tiết thần Xung Lang là con của Kinh Dương Vương cũng chứng tỏ điều này. Con cả của Kinh Dương Vương thì rõ là Lạc Long Quân. Như vậy bà Tiên Dung Châu thờ ở đình Giẽ Hạ hay đức Vua Bà ở đền Hữu Vĩnh phải là Quý Nương – Mẫu Thoải, hay là Xích Lân Long nữ vợ của Kinh Dương Dương.

image008
Miếu thờ Vua Bà bên cạnh đền Đức thánh Cả ở Hữu Vĩnh.

Câu đối khác ở chính điện đền Hữu Vĩnh, do tiến sĩ Nguyễn Thượng Hiền đề:
隆典奮崇祠五彩鸞章僊闕下
靈蹤傳古史千年雲駕海天歸
Long điển phấn sùng từ, ngũ thái loan chương tiên khuyết hạ
Linh tung truyền cổ sử, thiên niên vân giá hải thiên quy.
Dịch:
Điển rồng hưng đền lớn, nét phượng năm sắc xuống cửa tiên
Dấu thiêng truyền sử xưa, xe mây ngàn năm về trời biển.
Ngũ thái loan chương” có thể ám chỉ việc đức Vua Bà (Mẫu Thoải) sinh 5 người con rồng.
Về Ngũ vị tôn quan ở phủ Ứng Thiên còn có thể lẫn trong sự tích của thần Quý Minh đại vương. Ở đình Hoàng Xá (nơi khả năng là trị sở của phủ Ứng Thiên cũ), thờ Quý Minh đại vương, vị “Đệ Tam Tản Viên Sơn”, một trong Tam vị Tản Viên. Tuy nhiên rất khó xác định Quý Minh ở đây là Sơn thần hay Thủy thần. Đặc biệt ở góc mái của đình Hoàng Xá lại có một bức chạm riêng biệt hình chiếc thuyền bơi chải. Tục bơi chải là đặc trưng trong các lễ hội thờ các Thủy thần. Xét trong khung cảnh của phủ Ứng Thiên thì Quý Minh đại vương ở Hoàng Xá phải là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ, người anh em đã cùng Lạc Long Quân (được chép dưới tên Tản Viên Sơn Thánh) đánh Thục, giành ngôi, lập quốc. Quý là thứ 3 trong thứ tự Mạnh Trọng Quý. Quý Minh do đó tương ứng với Quan đệ Tam Thoải phủ.

image010
Bức chạm bơi chải ở đình Hoàng Xá.

Ở khu vực Ứng Hòa, quanh thị trấn Vân Đình còn một số di tích với sự tích tương tự. Tại thôn Thái Bình (xã Thái Đường) cũng có đền thờ Đức thánh Cả. Vị thánh này có tên phong là Bột Hải đại vương, với công tích giúp vua Hùng thứ 6 đánh… giặc Ân, nhưng lại bằng thủy chiến và ở châu Hoan châu Ái. Thật khó hiểu, giặc Ân nào trên sông nước ở vùng Thanh Nghệ?
Câu đối trong đền Đức Thánh Cả ở Thái Đường:
第六代雄王神將揮刀鯨刳鰐断
幾千秋東海殷兵絶命戟折舟沉
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao, kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số, kích gãy thuyền chìm.
Từ “Đông Hải” trong vế đối chỉ rõ Bột Hải đại vương là người cầm quân đánh thủy binh của giặc Ân ở vùng biển Đông. Bột Hải chính là chỉ biển Đông ở nước ta. Châu Hoan châu Ái là vùng đất ven biển Đông nên Bột Hải phải là biển Đông. Trận thủy chiến đánh giặc Ân ở châu Hoan, châu Ái này không phải trận chiến trên cạn của Thánh Dóng diệt giặc Ân ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh.
Đức Thánh Cả ở Thái Đường là Bột Hải đại vương, tức là vị Quan lớn đệ nhất hay vua cha Bát Hải Động Đình. Khu vực này còn có 2 vị Đức thánh Trung và Đức thánh Hạ tương ứng với các vị Quan đệ nhị và Quan đệ tứ trong ban Công đồng Tứ phủ.
Để lý giải sự khác biệt của sự tích này cần nhắc lại bản chất cuộc chiến Hùng Thục thời vua cha Bát Hải Động Đình. Đây là cuộc chiến tranh giành vương vị của ông Khải – Lạc Long Quân với ông Ích sau khi Đại Vũ – Kinh Dương Vương mất. Ích cũng là Ất, là số 2 trong thập can (Giáp, Ất…). Địa bàn gốc của tộc người theo Bá Ích là vùng cựu đô Ngàn Hống ở châu Hoan từ thời Hoàng Đế – Đế Minh. Vì thế thần tích về Đức thánh Cả ở Thái Bình đã kể thành Hùng Vương thứ sáu (Hùng Lục Vương hay Lạc Vương) đánh giặc Ân ở Hoan Ái. Ân hay ơn là số 2. Ái cũng là từ biến âm của Ích – Ất. Trong các thần tích về Trung Thành phổ tế đại vương gọi là dẹp giặc ở Hồng Châu.
Phủ Ứng Thiên là nơi tập trung các vị thủy thần thời Hùng Vương. Vị thánh Cả là Lạc Long Quân, đức Vĩnh Công Bát Hải, vua cha của Thoải phủ. Còn 5 vị thủy thần khác là Ngũ vị tôn quan, làm nên ban Công đồng, là một triều đình đầy đủ, khởi đầu lịch sử người Việt.

p1270630Khúc sông Đáy ở cửa đền Hữu Vĩnh.

Viết thêm:
Tháng Tám giỗ cha…
“Cha” ở đây là đức vua cha của Thoải phủ, hay đức Bát Hải Động Đình, cũng là cha Lạc Long Quân của người Việt. Khu thờ chính của cha Bát Hải ở đền Đồng Bằng tại Quỳnh Phụ, Thái Bình.
Một “di bản”, “dị tích” của Lạc Long Quân là Đức thánh Cả Bột Hải đại vương ở thôn Thái Đường (Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội). Có lẽ cũng vì nguồn gốc của vị này từ đất Thái Bình mà ở đây có xã Thái Bình. Bản thân tên phủ Ứng Thiên có thể cũng là sự linh ứng của vị Nam Thiên hoàng đế Lạc Long Quân này.
Đặc biệt theo ghi chép và tục thờ ở Thái Đường thì Đức thánh cả được thờ cùng với 4 bộ tướng là: Quý Minh thượng đẳng, Minh Pháp tôn thần, Chiêu Pháp tôn thần và Nguyễn thượng đẳng thần. Đức thánh Cả cùng với 4 bộ tướng hợp thành bộ 5 – Ngũ vị quan lớn của Tứ phủ.
Đây cũng là dẫn chứng trực tiếp cho thấy vị thần Quý Minh được thờ ở đình Hoàng Xá (cách đền Đức thánh Cả ở Thái Đường chưa đầy 1km) với bức đại tự “Sơn anh Hải tú” chính là bộ tướng của Bột Hải đại vương hay là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ. Chữ “Hải” ở đại tự tại Hoàng Xá là chỉ Bột Hải hay Biển Đông. Còn chiếc thuyền bơi chải ở góc mái đình là từ tục thờ Quý Minh, vị thủy thần đứng đầu (Trưởng Lệnh) trong Ngũ vị tôn quan của Thoải phủ.

than-tich-thanh-ca

Hùng Hải trị nước

Truyền thuyết Việt kể Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh trăm trứng, nở ra trăm trai. Người con cả theo mẹ về đất Phong Châu, lên ngôi là vua Hùng, dựng nước Văn Lang… Vậy vết tích nào của quốc tổ Lạc Long còn lưu lại ở vùng đất Phong Châu của các vua Hùng?

P1220130

Đình Đào Xá ở Thanh Thủy, Phú Thọ.

Truyền thuyết thời Hùng Vương ở Phong Châu thường kể tới một nhân vật mang tên Hùng Hải đại vương. Vị thần này được thờ ở nhiều làng tại Phú Thọ, như ở tại làng Đào Xá (Thanh Thủy). Sự tích của Hùng Hải tóm tắt như sau (theo thần tích Cấn thủy thần chi bộ của làng Đào Xá):
Lạc Long Quân xuống biển giao nước lại cho con trai cả là Hùng Quốc Vương. Miền Hưng Hóa các châu, trang, động, sách thường bị loài thủy quái dâng nước làm cho mất người mất của. Vua Hùng sai em là Hùng Hải, con tra thứ 19 của Lạc Long Quân, về Hưng Hóa chủ giữ các sông. Đức Hải Công sau gọi là “Hải Vân Long Vương Động Đình thủy tề”. Hùng Hải nhận mệnh xong liền thả hịch xuống các đầu sông ngọn nguồn, các nơi thác ghềnh hiểm dữ. Trong ba ngày nước vỡ thành khe ngòi chảy đi hết.
Mùa xuân Hùng Hải lấy Trang Hoa làm vợ. Trang Hoa rất xinh đẹp, quê ở Châu Mai, là con gái Lạc hầu. Hùng Hải thường đi tuần thú xem xét các sông từ sông Đà, sông Thao tới sông Lô, sông Hát, thấy chỗ nào khuyết lở thì truyền sức cho nhân dân bồi đắp.
Một hôm Hùng Hải cùng vợ từ đầm Thọ Xuyên sang Đào Xá, dựng lầu nghỉ ở đây một đêm. Sau đó bà Trang Hoa có thai, sinh ra ba bọc trứng, nở ra 3 con rồng, rồi hóa thành 3 người con trai, đặt tên là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Bà Trang Hoa hóa ở cửa sông Nhị sau đó.
Hùng Hải dạy dân trị thuỷ làm ăn và nuôi dạy các con khôn lớn. Rồi ông giao miền đất này cho 3 con cai quản, còn mình về trông nom cửa sông Nhị tỉnh Hải Dương. Vua Hùng thấy ông là người có công lớn đã ban thưởng cho 2 thớt voi chiến làm phương tiện đi lại…
Ba vị Long hầu, con trai của Hùng Hải được trị nhậm ở vùng sông Đà, sông Thao, chia nhau ở các khu Thọ Xuyên, Ngọc Tháp và Đào Xá.
Làng Đào Xá lập đức Hải Công làm thành hoàng thờ tại đình làng. Trong làng còn có đền Tam công thờ ba con trai của Hải Công. Đến ngày hội có tục rước voi hướng về phía Đông, hướng Hùng Hải đi ra Hải Dương trị nhậm và tục bơi chải trên 2 chiếc thuyền rồng lớn trong vùng đầm Đào Xá.
Câu đối ở đình Đào Xá
興化千秋秀氣凝髙配天厚配地
平原一境財源湊浩如泉暴如邱
Hưng Hóa thiên thu, tú khí ngưng cao, phối thiên hậu phối địa
Bình nguyên nhất cảnh, tài nguyên thấu hạo, như tuyền bộc như khâu.
Dịch:
Hưng Hóa ngàn thu, khí đẹp tụ cao, hợp trời cùng hợp đất
Bình nguyên một cảnh, nguồn tài hội sáng, như suối mạnh như đồi.

P1220016 (2)Đầu kèo chạm rồng ở Đào Xá.

Nay so sánh chuyện Hùng Hải trị nước ở vùng Tam Giang Phong Châu thì thấy rõ đây cũng là chuyện của vua cha Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng tại Quỳnh Phụ, Thái Bình. Bát Hải Động Đình là vị vua cha của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Trước hết Hùng Hải được gọi là Động Đình thủy tề, tức là trùng khớp với tên Bát Hải Động Đình. Tên “Hải” còn gặp ở di tích An Cố tại Thái Thụy, Thái Bình, nơi thờ Phạm Hải hay Hải Công. Đức Hải Công ở vùng Phú Thọ như vậy là Bát Hải hay Phạm Hải ở Thái Bình.
Hùng Hải lấy vợ là Trang Hoa, đóng trụ sở ở Đào Xá. Còn vua cha Bát Hải Động Đình thì xây dựng Hoa Đào Trang ở vùng cửa Động (Thái Bình). Tên bà Trang Hoa và tên làng Đào Xá đã chỉ rõ Hùng Hải cũng là vị vua của Hoa Đào Trang ở Thái Bình. Ngọc phả đền Hùng ở Phú Thọ còn nhắc tới một trong 18 đời Hùng Vương là Hùng Hoa với tên Hải Lang Vương. Hùng Hoa – Hải Lang đều chỉ một người, là Hải Công ở Đào Xá và Bát Hải Động Đình ở Hoa Đào Trang.
Hùng Hải không phải ai khác chính là Lạc Long Quân, vị vua cha của Thủy phủ, được kể đến trong truyền thuyết khởi nguồn của người Việt. Đó cũng là lý do tại sao Hùng Hải lại được thờ rất tôn kính ở nhiều nơi tại vùng Phong Châu. “Hùng Hải trị nước” còn có nghĩa là cai trị quốc gia (đất nước). Chữ Nước biến âm thành Nác – Lạc. Hùng Hải là một vị Lạc Vương, làm chủ đất nước thời Hùng.
Bà Trang Hoa hay Hoa Đào Trang ở Thái Bình thực ra ám chỉ Hùng Hải – Lạc Long là vua chủ của triều đại mang tên… Hoa, hay Hạ. Lạc Long Quân là Hạ Khải, người khởi đầu nhà Hạ trong Hoa sử.

Bat Hai

Vị trí các di tích của Hùng Hải – Lạc Long và Ngũ vị tôn ông.

Hùng Hải được cử đi trị nhậm ở cửa sông Nhị Hà tỉnh Hải Dương. Thực ra Hải Dương chỉ có nghĩa là vùng đất phía Đông (Dương là hướng mặt trời mọc) giáp biển. Cửa sông Nhị Hà đổ ra biển chính là sông Thái Bình. Ở đó gọi sông Nhị là sông Đào, như trong câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng ở Quỳnh Phụ, Thái Bình:
桃江洞口祁千跡
生化神仙萬古傳
Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
Dịch:
Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
Động Đình trong chuyện này có nghĩa là biển Đông, chứ không phải vùng đầm Hưng Hóa ở Phong Châu. Cửa Động là vùng cửa sông Hồng (sông Đào hay sông Nhị đổ ra biển).

P1220058 (2)

Cửa cung đền Tam Công ở Đào Xá.

Luôn gắn liền với vua cha Bát Hải Động Đình là sự tích 3 anh em cùng bọc trứng, như trong chuyện Vĩnh Công (vua cha Bát Hải) ở Thái Bình, trở thành các vị tôn quan trong Tứ phủ. Như đã từng biết, vị quan lớn đệ tam ở đền Lảnh là Trung thành phổ tế đại vương vùng Phú Xuyên – Hà Nam, cũng là thần Thổ Lệnh ở sông Bạch Hạc. Vị quan lớn đệ ngũ ở sông Tranh là thần Thạch Khanh trong chuyện Bạch Hạc Tam Giang.
Như vậy, nếu Hùng Hải là vua cha Bát Hải thì ba vị Long hầu ở Đào Xá phải là các vị tôn quan của Tứ phủ. Hai vị trong số đó là các thần Thổ Lệnh, Thạch Khanh đã hiển ứng ở ngã ba Bạch Hạc. Mọi sự tích và tên gọi đều trùng khớp giữa 2 khu vực ở Phong Châu và ở cửa sông Hồng đổ ra biển.

P1220180Đền Giếng Giá ở Do Nghĩa, Sơn Vi, Phú Thọ thờ Đại Hải Long Vương.

Tục thờ 3 vị thủy thần đại vương còn gặp ở một số nơi tại Phú Thọ, như ở làng Chu Khống (xã Chu Hóa, Việt Trì) tại chân núi Hùng. Xã này nay có đền thờ Lạc Long Quân mới được xây dựng. Ở Chu Hóa 3 vị thành hoàng được phong là Đông Hải đại vương, đã sinh ra từ trứng, nở thành 3 con rắn, sau hóa thành tướng giúp vua Hùng đánh Thục. Hay ở làng Do Nghĩa (Sơn Vi, Phú Thọ) thờ Đại Hải Long Vương, có công đánh Thục giúp vua Hùng. Những chuyện này hoàn toàn tương tự như chuyện về anh em Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở miền Đồng Bằng phá Thục.
Cuộc chiến Hùng – Thục xảy ra giữa Lạc Long Quân (Hùng Hải) với quân Thục là hình ảnh của cuộc chiến giữa Hạ Khải và Bá Ích, tranh dành vương vị sau khi Hạ Vũ mất trong Hoa sử. Hạ Khải – Lạc Long với sự trợ giúp của các vị tôn quan trong dòng tộc bên mẹ ở Động Đình (bà Trang Hoa) đã chiến thắng, lên ngôi cai quản cả 2 vùng đất Lạc (vùng trung du Phong Châu) và đất Long (vùng đồng bằng sông Hồng ven biển). Hùng Hoa Hải Lang là vị vua khởi đầu sử Việt, bắt đầu thời kỳ cha truyền con nối, thần truyền thánh kế nên được tôn làm quốc tổ muôn đời của người Việt. Dấu vết của cha Rồng còn in đậm trong ký ức dân gian, trải dài từ miền đất tổ Phong Châu tới bờ biển Động Đình bao la…

Phủ Tam ở Thái Bình

Trong đạo Tứ phủ thì phủ Tam là Thoải phủ. Các vị thần trong phủ này đều liên quan tới số Ba – Bát hay Tam – Tám. Mẫu Thoải là Mẫu đệ Tam, là nàng Ba (thần tích đền Dầm ở thôn Xâm Dương, Ninh Sở Thường Tín, Hà Nội) hay nàng Quý (Quý là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý). Vua cha Thoải phủ là Bát Hải. Vị quan của Thoải phủ là Quan đệ Tam. Rồi ông Hoàng Bơ và cô Bơ thoải phủ (Bơ = Ba).
Đứng đầu Thoải phủ trước hết phải kể đến Vua cha Bát Hải Động Đình, người được thờ chính tại đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Bát Hải hoàn toàn không phải nghĩa là 8 cửa biển. Bát hay Ba (số 3 và 8) đều là 2 con số của Hà thư chỉ phương Đông. Phủ Tam ở Động Đình là biển Đông. Nơi đây cũng gọi là vùng Đào Động.
Câu đối ở đền Sinh trong quần thể đền Đồng Bằng:
桃江洞口祁千跡
生化神仙萬古傳
Đào giang Động khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.
Dịch:
Sông Đào cửa Động ngàn tích lạ
Sinh hóa thần tiên vạn thủa truyền.
Nơi sông Đào đổ ra cửa Động là đất Thái Bình, tức là nơi sông Hồng (Đào) đổ ra biển Đông (Động Đình hồ). Trên mảnh đất này do đó lưu dấu rõ ràng các nhân vật của phủ Tam (Thoải phủ).
Thần tích đền Đồng Bằng mở đầu như sau:
Trên bờ sông Vĩnh, thuộc Đào Hoa Trang, Trấn Sơn Nam, Quận Giao Chỉ có 2 vợ chồng ông Phạm Túc và bà Trần Thị là người Trang An Cố (thuộc Thụy An – Thái Bình ngày nay) đã lớn tuổi, sống phúc hậu mà không có con. Một lần, họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh. Ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố, đặt tên là Quý Nương. Mấy năm sau, khi tròn 18 tuổi, Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang.
Tiếp đó Quý Nương sinh ra một bọc trứng, nở ra 3 con hoàng xà. Con hoàng xà lớn sau trở thành Vĩnh Công giúp vua Hùng đánh giặc Thục. Vĩnh Công được tôn là Vua cha Bát Hải Động Đình, đứng đầu Thoải phủ. Còn 2 con hoàng xà em được tập hợp trong trận chiến với quân Thục, trở thành 2 vị quan lớn dưới trướng Vĩnh Công.

Den An Co

Đền An Cố ở Thụy An, Thái Thụy, Thái Bình.

Hiện ở An Cố có đền lớn thờ một vị thần là Nam Hải đại vương. Vị này có cha là Phạm Xuyến, tên gọi Hải Công. Phạm Hải cũng giúp vua Hùng đánh Thục, xây dựng làng xóm ở miền ven biển, rồi một ngày hóa bên bờ biển ở An Cố.
Câu đối ở đền An Cố:
勦蜀冦固皇圖雄貉山河餘正氣
弭天灾安邑宇太平草木囿淳風
Tiễu Thục khấu cố hoàng đồ, Hùng Lạc sơn hà dư chính khí
Nhị thiên tai an ấp vũ, Thái Bình thảo mộc hữu thuần phong.
Dịch:
Trừ giặc Thục, vững hoàng đồ, non nước Lạc Hùng bao chính khí
Ngăn thiên tai, yên thôn ấp, cây cỏ Thái Bình đậm thuần phong.
Phạm Hải và Phạm Vĩnh ở Thái Bình được họ Phạm ghi nhận là những người họ Phạm đầu tiên được nhắc tới ở Việt Nam. Thực ra Phạm Hải và Phạm Vĩnh chỉ là một người. Trang An Cố như trong thần tích đền Đồng Bằng là quê mẹ của Vĩnh Công Bát Hải. Sự tương đồng về tên gọi, sự tích, địa điểm xác thực nhận định Nam Hải Đại Vương ở An Cố là Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng.
Một minh chứng khác là tại đền An Cố gian ngoài cấm cung thờ 4 vị là Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan tuần phủ và Quan thần sát. Đây là chỉ dẫn trực tiếp cho thấy Phạm Hải liên quan tới Ngũ vị tôn quan của Tứ phủ. Ngũ vị tôn quan hợp thành Ban công đồng, trong đó có Quan đệ nhất thượng thiên, Quan đệ nhị giám sát, Quan đệ Tam thoải phủ, Quan đệ Tứ khâm sai, Quan đệ ngũ tuần tranh. Phạm Hải đứng đầu Ban Công đồng thì còn ai khác ngoài Vua cha Bát Hải Động Đình, vua cha của các vị quan lớn Tứ phủ.

Chinh dien An Co

Gian thờ Quan đệ nhị ở đền An Cố.

Vị Quan lớn của phủ Tam là Quan đệ Tam với nơi thờ chính tại đền Lảnh (Yên Lạc, Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam), nơi chân cầu Yên Lệnh. Quan lớn Lảnh chính là Thổ Lệnh hay Trưởng Lệnh, vị thần Bạch Hạc Tam Giang trong truyền thuyết (Lĩnh Nam chích quái). Địa danh Yên Lệnh nghĩa là nơi “yên nghỉ” của Trưởng Lệnh, vì Trưởng Lệnh hóa ở làng Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội) gần đó. Tương tự, An Cố rất có thể là nơi “an nghỉ” của vị thánh Cả (Cổ – Cố) vì đó là nơi Vua cha Bát Hải đã “hóa”.

Văn chầu Quan đệ Tam bắt đầu như sau:
Trịnh giang biên doành ngân lai láng
Đôi vầng hồng soi rạng Nam minh
Con vua thủy quốc Động Đình
Đệ Tam hoàng tử giáng sinh đền rồng.
“Trinh Giang” là đọc lệch của sông Vĩnh, con sông nơi giáng sinh Vĩnh Công Bát Hải và 2 em ở Quỳnh Phụ, Thái Bình. Còn “Nam minh” là biển Nam, ở đây cho thấy Động Đình chính là biển Nam minh hay biển Đông.

Sự tích về Quan Đệ Tam – Trưởng Lệnh hay hiệu thờ của thần là Trung Thành Phổ Tế Đại Vương ở vùng Phú Xuyên có vài dị bản khác nhau. Theo các thần tích phổ biến nhất như ở đình Đa Chất thì Trưởng Lệnh là 1 trong 5 người con của ông Đào Công Bột đã giúp vua Hùng đánh Thục. Họ Đào ở đây thực ra liên quan đến vùng Đào Động ở Thái Bình. Còn Bột Hải Công tương đương với Vua cha Bát Hải (Bột là biến âm của Bát).
Sự tích khác ở đình Cổ Chế (xã Phúc Tiến) thì cho biến Trưởng Lệnh mang họ Phạm. Họ này cũng là họ của Vua cha Bát Hải (Phạm Vĩnh hay Phạm Hải).
Đặc biệt thần tích của đình Cát Bi (xã Thụy Phú) còn cho biết Trưởng Lệnh là con của ông Nguyễn Cao Hành và bà Đoan Trang… Sự thể tưởng như khác biệt, vô lý, nhưng xét kỹ thì:
– Ông Nguyễn Cao Hành là dòng Tản Viên Sơn Thánh vì theo truyền thuyết về Tản Viên, cha của Sơn Thánh là ông Nguyễn Cao Hành.
– Bà Đoan Trang là Mẫu Thoải (“Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang”), mẹ của Vĩnh Công ở đền Đồng Bằng.
Đây là chuyện Kinh Dương Vương (Kinh Xuyên) lấy con gái Thần Long Động Đình trong Truyện Họ Hồng Bàng. Kinh Dương Vương ở đây là Tản Viên Sơn Thánh, đã “cùng vui với các loài thủy tộc” hay đã kết bạn với Thủy Tinh và xuống Thủy cung nhận cuốn sách ước trong thần tích về Tản Viên ở vùng Sơn Tây. Bát Hải Động Đình, vị vua cha của Thủy phủ, do vậy không ai khác là con của Kinh Dương Vương và Xích Lân Long Nữ, tức là cha Lạc Long Quân, thủy tổ của người Việt. Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển, rõ ràng là vị vua của miền Thủy phủ – Động Đình.
Sự kết hợp các bộ tộc Nam Giao của Tản Viên (Lạc) và phía Đông của Long Nữ Động Đình (Long) đã khởi nguồn Việt tộc bởi cha Lạc – Long Quân. Đây là ý nghĩa của câu chuyện về Bát Hải Động Đình. Với sự giúp đỡ của bên mẹ (các vị quan lớn Thoải phủ) Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình đã đánh đuổi dòng tộc hướng Tây (=Thục) để lập nên quốc gia Đào – Hoa – Hạ (Hoa Đào trang) trong sử Việt.
Câu đối ở đền An Cố:
雄貉山河成萬古
都臺事業定千秋
Hùng Lạc sơn hà thành vạn cổ
Đô đài sự nghiệp định thiên thu.
Dịch:
Núi sông Lạc Hồng thành vạn cổ
Sự nghiệp đô đài định ngàn thu.
Người đã dựng thành non sông Hùng Lạc ngàn thu thì còn ai ngoài cha Lạc Long Quân?

Nam Hai Dai Vuong

Tượng Nam Hải đại vương ở đền An Cố.

Cuối cùng, ở đất Thái Bình nơi cửa Động còn truyền tích về vị Hoàng Bơ Thoải phủ. Hoàng Bơ xuất thế tại làng Kênh Xuyên (Đông Xuyên, Tiền Hải). Không rõ cái tên Kênh Xuyên này có liên quan gì tới tên Kinh Xuyên của Kinh Dương Vương trong sự tích Mẫu thoải không. Đền thờ Hoàng Bơ nay được dựng ở Hưng Long (Tiền Hải), là nơi vị thần này đã giúp dân hàn gắn con đê biển, ngăn sóng lớn. Nơi Hoàng Bơ đi ra biển (“hóa”) gọi là An Long, cũng tương tự như những cái tên An Cố của Phạm Vĩnh và Yên Lệnh của Quan đệ Tam thoải phủ…

Viết thêm:

Theo “Cổ Lôi Ngọc Phả Truyền Thư”, ” Bách Việt Tộc Phả” thì cụ bà họ Đỗ, tên huý là Ngoạn, còn gọi là công chúa Đoan Trang. Tục truyền Cụ là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương. Cụ sinh ngày mồng tám tháng tư và hoá (mất) ngày rằm tháng bảy. Cụ thường được gọi theo họ là Đỗ Quý Thị  (tức Quý bà họ Đỗ). Cụ lấy chồng người họ Nguyễn tên là Nguyễn Minh Khiết tức là Đế Minh. Hai cụ sinh ta Lộc Tục (sau là Kinh Dương Vương). Họ Nguyễn Vân ở làng Vân Nội vẫn cúng giỗ cụ hằng năm với bài văn cúng: “Thỉnh tổ tổng khoa – Cúng gia tiên”. Mộ và miếu thờ cụ ghi trong thư tịch cũ trên đây nay vẫn còn ở Ba La, thị xã Hà Đông.

Do có sự bất hoà với chồng (Đế Minh), Cụ đã đem con trai là Lộc Tục (khi còn ít tuổi) vào tu động Tiên Phi (thường gọi là Động Tiên) ở huyện Lạc Thuỷ thuộc tỉnh Hoà Bình ngày nay, cùng với 8 em trai của Cụ giúp cho Lộc Tục Trưởng thành: Cụ theo đạo Bà La môn, đạo hiệu là Hương Vân Cái Bồ Tát. Tám vị em trai đều là người tài giỏi, hết lòng giúp cháu (con của chị) cho đến khi Lộc Tục được cha là Đại Minh giao quyền thay cha trị vì đất nước, lấy hiệu là Kinh Dương Vương (được tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế), đặt tên là Xích Quỷ. Tám vị mà Lộc Tục gọi là cậu (em mẹ) sau đều trở thành các vị “Kim Cương”, thường được gọi là Bát Bộ Kim Cương.

Công chúa Đoan Trang họ Đỗ tên là Quý Thị trong tộc phả này chính là Mẫu Thoải, hay Quý Nương sinh Hoàng xà ở Thái Bình. Cụ là con của Long Đỗ Hải Vương, tức là con gái của Thần Long Động Đình.

Tộc phả trên chép hơi nhầm lẫn ở chuyện tiếp theo. Bà Đoan Trang là mẹ của Lạc Long Quân, ở đây chép là Lộc Tục, sau thay cha cai quản đất nước. “Sự bất hòa” của bà Đoan Trang với chồng được nhắc tới là chuyện Mẫu Thoải bị Thảo Mai dèm pha và Kinh Xuyên ruồng bỏ. 8 em trai của dòng Mẫu Thoải đươc chép là Bát bộ kim cương trong đạo Phật là các vị quan lớn đã phò giúp Vĩnh Công – Lạc Long Quân đánh Thục, giành ngôi vị vương quyền.

Bàn về tín ngưỡng Tam tứ phủ

Tu phu 2

Tín ngưỡng Tam tứ phủ của Việt Nam đang được đề xuất là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Thế nhưng, bản chất của Tứ phủ là gì? Nguồn gốc Công đồng từ đâu? Tín ngưỡng Tam tứ phủ của Việt Nam được gọi là Đạo Mẫu nhưng hệ thống lý luận, lý giải lại còn quá nhiều câu hỏi chưa giải đáp, để có thể gọi là Đạo. Bản chất và nguồn gốc Đạo không rõ dễ dẫn đến các chuẩn mực trong thực hành đạo không có căn cứ để xác định, tín ngưỡng dễ biến thành mê tín dị đoan.
Khi nhìn nhận “đạo” và “đời” trong Tam tứ phủ luôn đi liền với nhau thì sẽ thấy rõ các thần linh trong Tứ phủ đều có phần “đời” thực, tức là họ đều là những nhân vật có thực hóa thần mà thành. Tín ngưỡng Tam tứ phủ do vậy bản chất là tín ngưỡng thờ tổ tiên, thờ những người có công, có đức trong quá khứ. Đây hoàn toàn không phải tín ngưỡng xuất phát từ việc tôn thờ trời, đất, nước, núi mà thành. Thiên, Địa, Nhạc, Thoải không phải là đối tượng thờ của tín ngưỡng này mà chỉ là các “phủ”, tức là chỗ ngự trị của các thần trong tín ngưỡng mà thôi.
Do tín ngưỡng Tứ phủ xuất phát từ tục thờ tổ tiên nên nó không hề thần bí, vô lý, mê tín. Trái lại, thờ tổ tiên là trách nhiệm của mỗi người Việt nên tín ngưỡng Tứ phủ là tín ngưỡng chung của mọi người Việt. Cũng vì đây là tục thờ tiền nhân nên tín ngưỡng Tứ phủ không phải là Đạo để có thể tu hành. Trong Đạo Giáo các đạo sĩ đi tu để thành tiên. Các Phật tử cũng đi tu để thành chính quả. Còn tín ngưỡng Tứ phủ không có khái niệm thanh đồng hay cung văn “đắc đạo”. Trong tín ngưỡng Tứ phủ quan trọng không phải là đi tu mà là thực hành tín ngưỡng (hầu đồng, thờ cúng).
Tứ phủ không phân cõi âm, cõi dương vì đơn giản tất cả các vị thần được thờ đều là tiền nhân đã khuất, hiển linh mà thành thánh. Thần thánh và con người đều chung một thế giới chứ không phân biệt. Khái niệm cõi âm, cõi dương là khái niệm của đạo Phật, không phải của tín ngưỡng Tứ phủ.
Tín ngưỡng Tứ phủ không hoàn toàn chính xác nếu gọi là Đạo Mẫu vì trong Tứ phủ số nam thần và nữ thần tương đương. Mỗi phủ luôn có một nam thần làm vua cha và một nữ thần làm mẫu cai quản.
Xuất phát từ nhận định tín ngưỡng Tứ phủ là đạo thờ tổ tiên người Việt, có thể nhận diện nguồn gốc lịch sử từng vị thần trong Tứ phủ công đồng. Trước hết để xác định xuất phát lịch sử của các thần trong Tứ phủ hãy đọc trang sử đầu tiên của người Việt được chép trong Truyện họ Hồng Bàng (Lĩnh Nam chích quái):
Đế Minh cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Đế Minh rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Lộc Tục cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Đế Minh liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Lộc Tục làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước.
Dưới đây xin dẫn tóm tắt đối chiếu truyền sử Việt với các thần chủ trong Tam phủ (gồm Thiên, Nhạc, Thoải). Địa phủ ra đời sau muộn nên không có mặt trong các truyền thuyết khởi thủy dân tộc.

THIÊN PHỦ
Đức vua cha của Thiên phủ là Ngọc Hoàng Thượng Đế, cai quản Thiên đình. Ngọc Hoàng Thượng Đế là Hoàng Đế Hiên Viên, người khởi đầu cổ sử Trung Hoa. Đây cũng là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên được nói tới trong Truyện họ Hồng Bàng. Đế Minh được thờ tại núi Nghĩa Lĩnh (Ngũ Lĩnh) là đền Hùng ở Phú Thọ. Ngọc Hoàng Thượng Đế luôn hiện diện trong ban Công đồng ở các nơi thờ Tứ phủ.
Mẫu chủ của Thiên phủ là Mẫu Cửu Trùng. Mẫu Cửu Trùng được biết là Cửu Thiên Huyền Nữ, người đã giúp Hoàng Đế Hiên Viên khi khởi lập Trung Quốc. Trong truyền thuyết và tục thờ của người Việt thì Mẫu Cửu Trùng là Tây Thiên Quốc Mẫu ở núi Tam Đảo. Tây Thiên Quốc Mẫu là con gái bà Vụ Tiên trong truyền sử Việt. Tam Đảo là ngọn núi Côn Lôn của các thần tiên. Tây Thiên Quốc Mẫu cũng là bà Tây Vương Mẫu trong huyền thoại Trung Hoa.

THOẢI PHỦ
Mẫu chủ của Thoải phủ đã biết là Xích Lân Long Nữ hay Long Nữ Động Đình, vợ của Kinh Dương Vương. Truyện Tàu xuyên tạc ra thành Mẫu Thoải lấy Kính Xuyên, đi chăn dê, bị Thảo Mai vu oan… Mẫu Thoải là Quý Nương (nàng Ba) trong truyền thuyết về Vĩnh Công Bát Hải Động Đình, cũng là mẹ của Lạc Long Quân.
Vua cha Thoải phủ là Bát Hải Động Đình, thờ chính tại đền Đồng Bằng (Thái Bình). Bát Hải Động Đình rõ ràng là biển (Hải), không hề là cái hồ nước bên Hồ Nam Trung Quốc như nhầm tưởng. Bát là số 8, chỉ hướng Đông trong Hà thư, chứ không phải có tới 8 vị Long Vương. Bát Hải Động Đình là vua biển Đông. Người đứng đầu của Thủy phủ – Thủy cung trong truyền sử Việt là Lạc Long Quân (dẫn 50 người con xuống biển). Bát Hải Động Đình do vậy chính là người cha của Việt tộc – Lạc Long Quân.
Thoải phủ là nơi cai quản của Ngũ vị tôn quan, là những vị quan trong ban Công đồng ở các nơi thờ Tứ phủ. Trong truyền thuyết Việt thì 2 vị quan lớn hay giáng đồng Quan Đệ Tam và Quan Đệ Ngũ là các thần Thổ Lệnh và Thạch Khanh ở sông Bạch Hạc Tam Giang. 3 vị quan lớn còn lại là các Đức Thánh Cả, Đức Thánh Trung, Đức Thánh Hạ thờ ở khu vực Vân Đình (Ứng Hòa).

NHẠC PHỦ
Vua cha của Nhạc phủ được Văn công đồng gọi là Ngũ Nhạc thần vương. Ngũ Nhạc thần vương không ai khác ngoài Tản Viên Sơn Thánh. Thần tích Sơn Thánh ở đền Và (Sơn Tây) chỉ rõ núi Ngũ Nhạc là núi Ba Vì, chứ chẳng phải 5 quả núi nào ở bên Tàu. Cũng thần tích này cho biết Tản Viên được phong là Nhạc phủ kiên thượng đẳng. Tản Viên Sơn Thánh cũng là Kinh Dương Vương, cha của Lạc Long Quân.
Vị trí mẫu chủ của Nhạc phủ khá rắc rối do mỗi nơi tôn một vị khác nhau làm Mẫu Thượng Ngàn. Về cơ bản Lê Mại đại vương hiển linh ở ải Chi Lăng cũng là Cao Mại, vị chúa Mường thứ ba trong Sơn trang ở Lâm Thao (Phú Thọ). Vị chúa Ba hay bà Chúa Ót cũng là nàng Diệu Thiện trong truyền thuyết về Nam Hải Quan Âm ở Hương Sơn.
Nhạc phủ đứng khá độc lập trong Tứ phủ, có hẳn một hệ thống Tam vị chúa Mường và ban Sơn trang. Việc này có lý do từ lịch sử, do phần rừng núi phía Tây nước ta (Nhạc phủ) có tới ngàn năm phân tách với miền đồng bằng sông Hồng (Thoải phủ). Phải tới thời Ngũ đại, Lưu Cung mới nhập hai vùng Đông và Tây Giao Chỉ vào nhau, dẫn đến sự tái hợp tín ngưỡng Tam phủ của người Mường và người Kinh.

Suoi MoĐền Suối Mỡ (Nghĩa Phương, Lục Nam, Bắc Giang) thờ Quế Mỵ Nương thời Hùng Vương làm Mẫu Thượng Ngàn.

Đoạn Truyện họ Hồng Bàng đã dẫn ở đầu bài nay đã có thể viết lại dưới ngôn ngữ của Tam phủ:
Ngọc Hoàng thượng đế, cháu ba đời Thái Viêm Thần Nông sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh mừng gặp và lấy được Mẫu Cửu Trùng (Mẫu Tây Thiên), rồi trở về, sinh ra Tản Viên Sơn Thánh (Ngũ Nhạc thần vương). Tản Viên Sơn Thánh mặt mày sáng sủa, thông minh phúc hậu, Ngọc Hoàng thượng đế rất lấy làm lạ, muốn cho nối ngôi mình. Tản Viên Sơn Thánh cố từ, xin nhường cho anh là Đế Nghi. Ngọc Hoàng thượng đế liền lập Đế Nghi làm người nối ngôi cai trị đất phương Bắc, phong cho Sơn Thánh làm Kinh Dương Vương để cai trị đất phương Nam, lấy hiệu nước là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở biển Đông, sinh ra Lạc Long Quân hiệu là Bát Hải Động Đình cho nối ngôi trị nước…

ĐỊA PHỦ
Ra đời sau cùng nhưng Địa phủ có đóng góp quan trọng vào tín ngưỡng Tam tứ phủ với sự xuất hiện của Mẫu Liễu Hạnh. Địa phủ là chốn con người nên với con người Mẫu Liễu trở nên đặc biệt quan trọng và linh thiêng. Điều này dẫn đến Mẫu Liễu đại diện luôn cho Mẫu Thượng Thiên, Thiên Địa hóa một trong Tam tòa thánh mẫu.
Nếu Địa phủ là nơi của con người, Thiên phủ là nơi của Thần Tiên thì rất có thể Thoải phủ là nơi của Tôm Cá và Nhạc phủ là của Cây cối Động vật. Mọi sinh linh trên thế giới này đều có chỗ trong tín ngưỡng Tứ phủ cả.
Mẫu Liễu Hạnh còn là vị thần bất tử thứ 4 trong Tứ bất tử. Tứ bất tử cũng có thể tương chiếu với Tứ phủ. Trong đó vị thần bất tử thứ nhất là Tản Viên Sơn Thánh ứng với Nhạc phủ. Vị thần bất tử thứ hai là Chử Đồng Tử ứng với Thoải phủ (ví dụ Chử Đồng Tử được thờ ở đền Lảnh cùng với Quan lớn đệ Tam Thoải phủ). Vị thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên Vương ứng với Thiên phủ.
Vị trí vua cha Địa phủ hiện đang còn bỏ ngỏ. Văn công đồng gọi đó là Thập Điện Minh Vương, nhưng khái niệm Thập điện là khái niệm của Đạo Phật, không phải của Tứ phủ (Tứ phủ không có cõi u minh – cõi âm). Trong khi đó có một nhân thần được Tứ phủ gọi là cha là Trần Hưng Đạo đại vương (Tháng Tám giỗ cha…). Trần triều được phối thờ ở hầu hết các nơi thờ Tứ phủ. Xét về thời gian xuất hiện của thánh (tương đương với thời kỳ của Mẫu Liễu) và ý nghĩa (cai quản cõi người) thì hợp lý nhất nếu tôn đức Hưng Đạo đại vương là Vua cha Địa phủ. Như vậy Tứ phủ trở nên đầy đủ, rõ ràng về bản chất và nguồn gốc, mới có thể mong “hoằng dương” được Đạo thánh.