Hindu giáo trong văn hóa Việt cổ

Ảnh hưởng của Ấn Độ đến văn hóa Việt tưởng chừng bắt đầu sớm nhất là Phật giáo. Chứng tích thường được dẫn một cách “chắc chắn” là chuyện Man Nương và Phật Tứ Pháp dưới thời Sỹ Nhiếp. Tuy nhiên, thực tế Phật giáo không phải là tín ngưỡng sớm nhất đến nước ta từ Ấn Độ.

duong long
Tháp Dương Long ở Tây Sơn, Bình Định, gồm 3 tháp thờ bộ ba vị thần Hindu giáo là Brahma, Visnu và Shiva.

Truyện Dạ Xoa Vương trong Lĩnh Nam chích quái:
Xưa về thời thượng cổ, ngoài nước Âu Lạc của nước Nam Việt có nước Diệu Nghiêm, hiệu là Dạ Xoa Vương, có người gọi là Trường Minh Vương, có người gọi là Thập Đầu Vương. Nước ấy phía Bắc giáp nước Hồ Tôn Tinh. Nước Hồ Tôn Tinh gọi là Thập Xoa Vương, Thái tử gọi là Vy Tư.
Vợ Vy Tư gọi là Bạch Tinh Hậu Nương, dung mạo mỹ lệ, đời ít ai có; Dạ Xoa Vương nghe tiếng mà thích bèn đem dân chúng vây đánh nước Hồ Tôn Tinh, bắt được nàng Bạch Tinh Hậu Nương.
Vy Tư giận mới thắng lĩnh bọn di hậu dẹp núi lấp biển hết thảy hóa ra đất bằng, phá nước Diệu Nghiêm, giết Dạ Xoa Vương, lại đem nàng Tinh Hậu trở về.
Nước Hồ Tôn Tinh là tinh của loài khỉ bây giờ là nước Chiêm Thành vậy.
Truyện này chép rằng nước Nam Việt – Âu Lạc là một nước, song song cùng thời với nước Văn Lang (mà biên giới phía Nam giáp Hồ Tôn). Điều này chứng tỏ Văn Lang và Âu Lạc là tên của cùng một quốc gia thời Hùng Vương mà thôi. An Dương Vương lập nước Âu Lạc cũng là Hùng Vương dựng nước Văn Lang.

da xoa duong long
Hình chạm đá các Dạ Xoa trên tháp Dương Long ở Tây Sơn, Bình Định.

Phía Nam của nước Văn Lang – Âu Lạc có nước Hồ Tôn. Câu chuyện thái tử Vy Tư nhờ khỉ tinh cứu vợ Bạch Tinh Nương dễ thấy là mang bóng dáng của sử thi Ramayana, kể về chuyện giữa chàng Rama và nàng Sita.
Vợ Rama, nàng Sita, tình nguyện theo Rama vào rừng sống ẩn, luyện tập võ nghệ. Quỷ vương Ravana ở đảo Lanka lập mưu cướp nàng Sita đem về làm vợ. Hắn dụ dỗ và ép buộc nàng nhưng nàng đã kịch liệt chống cự. Mất Sita, Rama đau buồn khôn xiết. Chàng quyết tâm cứu bằng được vợ trở về. Trên đường đi, Rama gặp và giúp đỡ vua khỉ Xugriva, sau đó chàng được tướng khỉ Hanuman cùng đoàn quân khỉ giúp. Cuối cùng Rama cũng c­ứu được Sita.
Rama là một hóa thân của thần bảo tồn Visnu, một trong ba vị thần tối cao của Hindu giáo. Có thể tên gọi Trường Minh Vương cùng nghĩa với thần bảo tồn – Visnu.

khuong my
Hình khỉ trên tháp Khương Mỹ (Quảng Nam).

Hình tượng khỉ gặp trên trang trí các tháp Chăm cổ ở Quảng Nam như ở Trà Kiệu hay Khương Mỹ.
Phía Nam của nước Hồ Tôn là nước Dạ Xoa của Thập Đầu Vương. Dạ Xoa là bộ chúng của thần quỷ Kubera. Cũng có chỗ Dạ Xoa đồng nghĩa với quỷ La Sát (Rakshasa). Thủ lĩnh của quỷ La Sát là Ravana có 10 đầu, là kẻ thù của Rama đã bắt cóc nàng Sita trong sử thi Ramayana. Như thế Thập Đầu Vương là hình tượng của chúa quỷ La Sát Ravana. Và Truyện Dạ Xoa Vương hoàn toàn khớp với sử thi Ramayana.

300px-ravanaChúa quỷ La Sát Ravana (ảnh internet).

Truyện Dạ Xoa Vương cho biết Hindu giáo đã có ảnh hưởng sâu sắc đến vùng Trung Bộ và Nam Trung Bộ Việt từ thời Hùng Vương. Còn ở miền Bắc Việt liệu có ảnh hưởng của tôn giáo này không?
Dấu chứng rõ ràng của đạo Hindu – Bà La Môn ở Bắc Việt là Truyện Man Nương. Dưới thời Sỹ Nhiếp, vị đạo sĩ Bà La Môn đến từ Ấn Độ tên là Khâu Đà La đã có quan hệ với một người con gái địa phương là Man Nương, từ đó sinh ra 4 vị thần Tứ Pháp là Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Tứ pháp được thờ và cầu mưa trong tín ngưỡng dân gian ở miền Bắc Việt.
Vị thần mưa trong Hindu giáo là thần Indra. Còn gọi là thần Đế Thích. Vị này có màu sắc chủ đạo là màu nâu đỏ, nay còn thấy trong việc thể hiện của tục thờ Tứ pháp dùng màu mận chín cho các tượng thờ.
Thần Indra còn có các tên Hán là Kiều Thi Ca (Kaucika) và Nhân Đà La. Có thể thấy những cái tên này rất gần với tên Khâu Đà La trong Truyện Man Nương.
Một trong những tính chất của thần Indra là tính thác loạn. Tính chất này cũng thể hiện trong quan hệ với Man Nương, sinh ra đứa bé gái. Hoặc truyền thuyết dân gian vùng Thuận Thành kể về thần Thạch Quang ban đêm thường xuyên hiện hình cưỡng hiếp phụ nữ ở trong làng. Hình của Thạch Quang Phật ở chùa Dâu được nhiều người nhận xét rằng đó là một dạng Linga. Mà Linga là biểu tượng của thần Shiva trong Hindu giáo. Đây là bằng chứng rất rõ ràng rằng tục thờ Tứ Pháp ở Bắc Việt chính là đạo Hindu.

p1150359
Tượng Thiên Vương trong tháp Hòa Phong của chùa Dâu (Thuận Thành, Bắc Ninh).

Đặc biệt là hình ảnh Tứ pháp cầu mưa tương ứng với hình tượng hộ pháp Tứ đại Thiên Vương của Hindu giáo.  Trong truyện Phong thần diễn nghĩa, Tứ đại thiên vương được coi là bốn vị thần cai quản mưa thuận gió hóa – “Phong Điều Vũ Thuận” gồm Nam phương Tăng Trưởng Thiên Vương, Đông phương Trì Quốc Thiên Vương, Bắc phương Đa Văn Thiên Vương và Tây phương Quảng Mục Thiên Vương. Như vậy chức năng làm mưa làm gió của các vị thiên vương này đã chuyển vào văn hóa Việt dưới dạng thần Tứ pháp.
Ở chùa Dâu, tượng Tứ đại thiên vương được đặt bên trong tháp Hòa Phong. Tên tháp Hòa Phong cùng một nghĩa với cầu mưa thuận gió hòa.

cuu chua dau
Con “cừu” ở chùa Dâu.

Trước tháp Hòa Phong ở chùa Dâu và lăng Sỹ Nhiếp tại Thuận Thành, Bắc Ninh có tượng con cừu đá. Con cừu đá này tương truyền là của Khâu Đà La.

bo nandi
Bò Nandi trước đền Preah Ko ở Strung Treng (Cambodia).

Thực ra đây là hình ảnh bò thần Nandi, vật cưỡi của thần Shiva trong Hindu giáo. Hình ảnh con vật nằm phục 4 chân là đặc trưng của bò thần Nandi. Ở Ấn Độ có loại bò sừng cong vặn xuống tương tự như tượng ở chùa Dâu. Bản thân thần Indra cũng có hóa thân là con bò đực.

shiva chua dauTượng sáu tay ở chùa Đậu.

Thêm một liên hệ nữa là ở chùa Đậu (Thường Tín) người dân đã tìm thấy một bức tượng lạ, hình dáng như một đạo sĩ đang ngồi thiền, nhưng lại có 6 cánh tay. Đây không phải là một vị bồ tát hay Quan Âm vì vị này đội mũ như đạo sĩ và không ngồi trên tòa sen. Nhiều khả năng bức tượng này thể hiện một vị thần của Hindu giáo, có thể là thần Shiva.

shiva chien dan
Tượng thần Shiva cưỡi trên con bò thần ở tháp Chiên Đàn (Quảng Nam).

Như vậy, Truyện Man Nương dưới thời Sỹ Nhiếp là dấu ấn sâu sắc của Hindu giáo chứ không phải đạo Phật. Rất nhiều hình tượng của Hindu giáo sau này được thấy trong điêu khắc thời Lý Trần như hình chim thần Garuda (Kim Sỉ Điểu), người chim Kinara (Khẩn Na La), nhạc công thiên thần Ganharva (Cát Thàn Bà) hay vũ nữ Apsara chưa chắc đã là ảnh hưởng của văn hóa Chăm, mà có thể chúng đã sớm xuất hiện trong văn hóa Việt từ những năm đầu Công nguyên.

 

 

 

 

Hoa Lư – Đại La và thời kỳ Đinh – Lê – Lý

Thời kỳ lập quốc Đại Việt của nước ta là một thời kỳ rất khó giải về lịch sử do các sự kiện, nhân vật, thể chế chính trị đan xen lẫn nhau, rối như tơ vò, gỡ được ra sự thực thật là thiên nan vạn nan. Bài viết sau trên cơ sở những gì mới biết của Sử thuyết Hùng Việt đề xuất thêm một số ý, hy vọng có thể tìm được đầu mối sợi tơ vò của thời kỳ “mở đầu độc lập” này.
Năm Đường Hàm Thông thứ 7 Cao Biền được giữ chức An Nam đô hộ, kinh lược chiêu thảo sứ dẫn 5.000 quân đổ bộ vào bờ biển Nam Định (nay là Thái Bình) bắt đầu cuộc thảo phạt quân Nam Chiếu. Khi hay tin Cao Biền chiếm được thành Tống Bình, Đường Ý Tông đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân, bổ nhiệm Cao Biền là Tiết độ sứ. Cao Biền cho xây thành chu vi 3000 bộ, hơn 40 vạn gian phòng ốc…
Người đặt gạch xây thành Đại La chính là Cao Vương Biền. Cũng là Cao Vương đã cho xây dựng các tòa thành Hoa Lư ở Ninh Bình và thành An Tôn ở Thanh Hóa bằng loại gạch Giang Tây quân, làm trị sở phòng thủ chống lại quân Nam Chiếu. Sau hơn 600 năm trị sở của Giao Châu đóng ở Luy Lâu, nay đã chuyển về Đại La. Và cũng từ đây, những vấn đề khúc mắc của sử Đại Việt cũng bắt đầu.

img_0446
Gạch Giang Tây quân ở Thăng Long.

Năm 907 nhà Đường mất ngôi, nhà Hậu Lương lên thay, phong cho Lưu Ẩn làm Nam Bình Vương, kiêm chức Tiết độ sứ Quảng Châu và Tĩnh Hải. Tức là Lưu Ẩn đã làm chủ đất Tĩnh Hải, hay vùng Bắc Việt và Tây Quảng Tây. Người vào Long Thành Đại La lúc này chính là Lưu Ẩn, mà sử Việt gọi là Khúc Hạo. Tuy nhiên, phải đến mùa thu năm 917, Lưu Nham, em của Lưu Ẩn, tức hoàng đế vị ở Phiêng Ngung, đặt quốc hiệu là “Đại Việt”, đại xá, cải nguyên Càn Hanh thì vùng đất Bắc Việt mới trở thành một quốc gia độc lập. Di vật của thời kỳ này là những viên gạch mang dòng chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” được tìm thấy cả ở Hoàng thành Thăng Long, Hoa Lư và An Tôn (thành nhà Hồ).
Hoàng đế Lưu Nham (sau đổi là Lưu Cung, Lưu Nghiễm) đóng đô ở Phiên Ngung (Quảng Đông). Như vậy ai là người cai quản vùng đất phía Tây – Tỉnh Hải lúc này? Sử sách cho biết đó là vị “kiêu tướng” Lý Khắc Chính, người đã đánh dẹp Khúc Thừa Mỹ ở Tĩnh Hải. Thực ra Lý Khắc Chính không thu phục Khúc Thừa Mỹ mà là đánh đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi Bắc Việt và đóng trị sở ở thành Đại La của Cao Vương trước đây.
Tuy nhiên, sử sách lại chép rất lẫn lộn về thời điểm này. Đại Việt sử ký toàn thư kể: “Vua Hán sai kiêu tướng là Lý Khắc Chính đem quân sang đánh Giao Châu, bắt được Tiết độ sứ là [Khúc] Thừa Mỹ đem về, [Khắc Chính] lấy bộ tướng của mình là Lý Tiến thay thế”. Trên đất Giao Châu như thế đồng thời có 2 tướng của nhà Nam Hán (Đại Việt – Đại Hưng) là Lý Khắc Chính và Lý Tiến cai quản. Phải hiểu về việc này như thế nào?
Dưới ánh sáng của Sử thuyết Hùng Việt thì đất Giao Châu – Tĩnh Hải lúc này được gọi là vùng đất Đinh Bộ, tức là vùng đất phía Tây. Bằng chứng xác thực là những viên gạch Giang Tây quân từ thời Cao Vương Biền và đồng tiền Đại Hưng bình bảo với chữ Đinh ở mặt sau. Lý Khắc Chính và Lý Tiến như vậy đều là các vị mang chữ Đinh.
Phép phiên thiết Hán Nôm cho ta liên hệ đầy đủ:

  • Lý Chính thiết Lĩnh, hay Đinh Bộ Lĩnh.
  • Lý Tiến thiết Liễn, hay Đinh Liễn.

Vì 2 vị đồng thời cai quản khu vực này nên khả năng cao nhất là Lý Khắc Chính đóng ở thành Đại La còn Lý Tiến đóng ở Hoa Lư. Mục đích của việc đóng ở Hoa Lư là để trấn giữ quân Nam Chiếu, ở vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ Việt. Lý Khắc Chính có thể là con rể của Lưu Cung, mà truyền thuyết gọi là sứ quân Trần Lãm ở vùng ven biển Đông.
Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Tới thời Ngũ đại, Thạch Kính Đường sai Tư mã là Lý Tiến đem 30 vạn quân đánh vào Đồ Sơn, quân Nam Chiếu bèn rút về biên giới Ai Lao.
Lý Tiến là quan Tư mã của nước Đại Việt – Đại Hưng chứ không phải của Thạch Kính Đường nhà Hậu Tấn.
An Nam chí lược cho biết, vua nhà Tống sai sứ sang phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Vậy là cùng một lúc ở Giao Châu – Tĩnh Hải có 2 vị thủ lĩnh. Một là Đinh Bộ Lĩnh – Lý Khắc Chính trị sở ở Đại La. Hai là Đinh Liễn – Lý Tiến trị sở ở Hoa Lư.
Đây là suy luận mang tính chất then chốt để giải thích sự rối rắm của lịch sử thời kỳ này. Lý Khắc Chính còn được gọi là Lý Thái Tổ, người quê ở Cổ Pháp – Bắc Ninh. Còn Lý Tiến mới là vị vua Đinh của vùng đất Hoa Lư, người ở Gia Viễn, Ninh Bình. Lớp gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên tìm thấy ở cả Hoa Lư và Thăng Long xác nhận khả năng cả 2 khu vực này đều là trị sở thời Đại Việt (của họ Lưu ở Phiên Ngung).

dai viet quoc
Mảnh gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên ở Hoa Lư.

Một điểm khác về thời kỳ này là sự tích về Thái sư Lưu Cơ, vị khai quốc công thần của nhà Đinh, đã chủ trì ở thành Thăng Long mãi tới khi nhà Lý dời đô về. Lưu Cơ là Phó vương của Đinh Bộ Lĩnh, nhưng không đóng ở Hoa Lư mà lại ở thành Đại La. Điều này cho thấy Lưu Cơ là công thần của Lý Khắc Chính, đã cai quản Long Thành sau khi Đinh Bộ Lĩnh – Lý Khắc Chính qua đời, và ông không liên quan gì đến cuộc đổi ngôi giữa Lý Tiến và Lê Hoàn. Lưu Cơ có thể liên quan đến triều đại của Lưu Cung – Lưu Ẩn ở Quảng Đông.
Sau khi triều đình nước Đại Hưng ở Phiên Ngung bị nhà Tống thôn tính, trên vùng đất Tĩnh Hải lúc này chỉ còn lại Tiết độ sứ Lý Tiến – Đinh Liễn, trị sở ở Hoa Lư. Đinh Bộ Lĩnh – Lý Khắc Chính có lẽ đã mất trước đó. Lý Tiến là vị vua Đinh đã đánh dẹp các “sứ quân”, làm chủ đất Tĩnh Hải thời kỳ này. “Sứ quân” ở giai đoạn này thực ra là quân Nam Chiếu, chủ yếu là từ vùng Thanh Nghệ quẩy rối nên Lý Tiến phải trấn giữ tại Hoa Lư.
Sự kiện tiếp theo là việc thay ngôi của Lê Hoàn, với sự giúp đỡ của thái hậu Dương Vân Nga. Hoặc là việc Lý Tiến bị Dương Đình Nghệ từ đất Ái Châu tiến lên đánh dẹp. Lê Đại Hành cũng từ Ái Châu, là vị thủ lĩnh của Tĩnh Hải quân tiếp theo đóng trị sở ở Hoa Lư.
Rất có thể Lê Hoàn cũng mang họ Lý, vì Tống sử cho biết họ Lý thời kỳ này “ẩn họ Lê”. Lê Hoàn có thể là anh em họ với Lý Tiến. Điều này giải thích tại sao Lê Hoàn có thể tiếp ngôi của anh họ và lấy chị dâu là thái hậu Dương Vân Nga. Trong quan niệm xưa, anh mất thì em có quyền lấy chị dâu và thay anh đảm nhận ngôi vị. Cũng vì thế mà Lê Hoàn còn có tên là Lý Đại Hành, tức Lý Thái Tông, vị vua thứ hai của triều Lý.
Tới thời Lý Thánh Tông, vị vua thứ 3 của nhà Lý, đã tiếp ngôi của nhà Lê. Lý Thánh Tông xét thấy thực lực trong nước đã đủ mạnh nên công khai ra mặt đối lập với nhà Tống, tự mình xưng đế, lập quốc gia riêng, lấy lại tên Đại Việt của Lưu Cung thời trước. Đồng thời ông cũng cho dời kinh đô từ Hoa Lư ra Thăng Long mà bằng chứng xác nhận là lớp gạch “Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo” được thấy ở Thăng Long (không có ở Hoa Lư) thời kỳ này.

img_5609 (3)
Gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo.

Với giả thuyết trên, ta cũng giải quyết được khúc mắc về ghi chép Lý Thái Tổ là người định đô ở Thăng Long vì Lý Thái Tổ – Lý Khắc Chính đúng là ở Đại La – Thăng Long. Ông có xây thành, nhưng bằng loại gạch Đại Việt quốc, vì lúc đó vùng Tĩnh Hải đang là một phần của nước Đại Việt đô đóng ở Phiên Ngung. Thăng Long thực sự được tiếp tục xây dựng sau đó là dưới thời vị vua thứ ba của nhà Lý – Lý Thánh Tông.
Trên đất Tĩnh Hải từ khi Cao Vương Biền lập quyền tiết độ đã xảy ra hàng loạt biến cố trong một thời gian ngắn đầy loạn lạc. Lúc này có 2 nhánh họ Lý, một nhánh gốc Cổ Pháp Bắc Ninh, một nhánh ở động Hoa Lư. Hai nhánh họ Lý chủ quản ở 2 khu vực Đại La và Hoa Lư làm chủ Đinh Bộ – Tĩnh Hải quân nên cùng gọi là triều Đinh. Họ Lý “ẩn họ Lê” thay thế quyền cai quản ở Hoa Lư bởi Lê Đại Hành rồi tới Lý Thánh Tông dời đô về Thăng Long, bắt đầu thời kỳ hoàn toàn độc lập với quốc danh Đại Việt, truyền mãi ngàn năm sau.

Bãi đá cổ – những đàn xã tắc của nước Văn Lang

Để hiểu được khu đá khắc cổ ở Sa Pa nói riêng và các khu khác trong vùng này nói chung trước hết nên nhìn nhận vấn đề một cách tổng quát. Về địa bàn phân bố các khu đá khắc ta thấy nổi lên một điểm là chúng đều ở các khu vực núi đất ở vùng cao, có mưa nhiều, thuận lợi cho việc trồng lúa. Những điểm phát hiện có đá khắc đều gắn với các khu ruộng bậc thang nổi tiếng của nước ta:

  • Bãi đá Mường Hoa là khu Sa Pa của Lào Cai.
  • Bãi đá Nấm Dẩn ở Xín Mần là khu ruộng bậc thang Hoàng Su Phì.
  • Bãi đã ở Yên Bái là khu Mù Cang Chải.

Picture1Ruộng bậc thang ở Hoàng Su Phì, Hà Giang.

Đá khắc không gặp ở vùng Đông Bắc, nơi có địa chất núi đá vôi và không gặp xa hơn sâu trong lục địa về Tây Bắc vì khu vực đó khô hạn hơn.
Về niên đại, tạm thời có thể khống chế đá khắc có vào thời “tiền sử”, tức là khoảng trước Công nguyên, khi chưa có sử sách rõ ràng vì những nét khắc khá thô sơ và chữ viết chưa phổ biến. Niên đại sớm được ước định bởi khắc đá phải cần phải có công cụ kim khí phát triển, tức là từ khi có đồ sắt hoặc khi kỹ nghệ đồ đồng đã đạt mức cao.
Với việc xác định thời gian như vậy thì đoán định niên đại của bãi đá nằm tương đương với thời văn hóa Đông Sơn từ khoảng 3000 trước Công nguyên tới khoảng gần Công nguyên. Trên niên biểu lịch sử Việt Nam thì đây tương ứng thời kỳ nước Văn Lang và Âu Lạc của các vua Hùng và Thục An Dương Vương.
Mục đích của việc khắc đá, một công việc không đơn giản với người tiền sử, phải rất quan trọng đối với những cư dân này. Trong các khu đá khắc không tìm thấy các dấu vết mộ táng có niên đại tương ứng nên có thể xác nhận đây không phải các khu mộ táng. Khả năng rất cao đây là nơi cúng tế của người xưa, là hình thức đền miều, tín ngưỡng sơ khai của người dân.

Picture2Một tảng đá khắc ở Sa Pa trông giống như một bệ thờ cúng.

Các di chỉ đàn tế đá đã có từ lâu, được biết với tên các di tích cự thạch (Dolmen). Ở Xín Mần (Hà Giang) cạnh bãi đã khắc cổ cũng có các di tích cự thạch, mang dấu ấn của một nơi cúng tế rất rõ.

Picture3
Một bệ đá trong khu Nấm Dẩn, Xín Mần, Hà Giang.

Vấn đề đặt ra là những bái đá này được tạo ra để cúng tế cái gì?
Câu trả lời hẳn nằm ngay trong các hình khắc. Cúng tế gì thì người ta sẽ khắc lên đá mà cúng. Chúng ta thử xem nội dung được khắc họa chính trên các tảng đá này là gì.
Dễ nhận thấy là phần lớn các tảng đá khắc đều có hình các vạch song song, lượn cong giống như các đường đồng mức trên bản đồ. Hình này rất giống với hình ảnh ruộng bậc thang rất phổ biến ở khu vực này.

Picture4Hình ruộng bậc thang trên đá khắc Sa Pa.

Theo thống kê của nhóm Giải nghĩa di sản đá khắc Sa Pa thì 1/5 số đá khắc tại đây có hình vuông, ở dạng 1 hình hay chia thành nhiều ô, có vạch chéo.

Picture5Một bản khắc có hình vuông.

Từ 2 hình chủ đạo là hình uốn lượn song song và hình vuông ta có thể nhận định mục đích cúng tế chính được thể hiện ở đây là tế ruộng lúa và khu đất đai sinh sống. Một cộng đồng thời cổ chắc chắn điều quan trọng nhất là cầu mong cái ăn và cái mặc. Các tảng đá được khắc vẽ với mục đích cầu mùa màng bội thu và cuộc sống an bình cho các cư dân.
Với quy mô và số lượng hàng trăm tảng đá khắc ở một loạt các tỉnh thuộc dãy Hoàng Liên, có thể thấy đây là một tập quán mang tính chất quốc gia rộng lớn chứ không phải chỉ của một bộ tộc nhỏ ở vùng quanh Sa Pa. Rõ hơn thì đây là nơi để nhà nước Văn Lang thực hành việc cúng tế cầu mùa và cầu phúc cho nhân dân. Đối chiếu khái niệm ngày nay, ta nhận ra đây là những đàn Xã Tắc của nước Văn Lang.
Trong tục thờ cúng xã tắc thì:

  • Xã là thần Hậu Thổ, chủ quản về đất đai.
  • Tắc là Thần Nông, vị thần của các loại ngũ cốc.

Trên hình khắc các hình ruộng bậc thang nơi trồng lúa là hình ảnh của Tắc. Bản thân chữ tắc nghĩa là lúa nếp. Các hình khắc vuông là hình ảnh của Xã, nơi có cộng đồng sinh sống (làng xã?) Có thể là hình ảnh địa điểm cư trú (thành).
Việc xác định khu đá cổ Sa Pa là di tích có tính quốc gia của nước Văn Lang giúp ta liên hệ được nó với lịch sử dựng nước của các vua Hùng. Phong tục tập quán của nước Văn Lang hiển nhiên được biết thông qua… thư tịch Trung Hoa cổ đại.
Tục tế xã tắc có từ thời Chu của Trung Hoa. Sách Chu Lễ chép: Ngày đông chí tế Trời ở đàn Viên Khâu (gò tròn), tế Đất ở đàn Phương Trạch (gò đất vuông), đấy là lễ của vương giả.
Trời tròn đất vuông. Do đó hình vuông tượng trưng cho đất hay cho thần Hậu Thổ (thần Xã). Tế Xã là lễ tế của bậc vương giả, mang tầm quốc gia, không phải của địa phương, làng xóm.
Về tế trời, truyền thuyết Việt cho biết Thục Phán sau khi tiếp ngôi của Hùng Vương đã lên núi Nghĩa Lĩnh lập cột đá thề trung thành với quốc tổ họ Hùng. Như thế vùng Phong Châu Nghĩa Lĩnh có thể chính từng là một đàn tế trời và cây cột đá thề là dạng cự thạch như tìm thấy nhiều ở khu Đại Đình, Tam Đảo của Vĩnh Phú.
Nếu bãi đá cổ là đàn tế Xã Tắc thì rất có thể khu ruộng xung quanh đó là nơi đã diễn ra lễ “tịch điền”, lễ xuống đồng do vua làm chủ lễ thời xưa. Về lễ tịch điền chương Nguyệt lệnh, Kinh Lễ chép:
Tháng ấy, thiên tử bèn lấy ngày bắt đầu làm lễ dâng lúa gạo lên cho thượng đế. Thiên tử chọn buổi sáng ngày đầu, tự thân mang theo cày bừa, cho các quan phò tá cùng đi xe ngựa, dẫn tam công cửu khanh chư hầu và các đại phu kính cẩn cùng cày ruộng tịch điền. Thiên tử (đẩy cày) năm lần, khanh và chư hầu chín lần.
Việc tế và lễ tịch điền đã có từ thời trước Công nguyên và là một nghi lễ quan trọng không chỉ của nhà Chu mà của cả thiên hạ thời đó.

Picture6
Một lễ hội trên trống đồng văn hóa Điền.

Về phạm vi của nước Văn Lang thời Hùng Vương Đại Việt sử ký toàn thư chép: Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang (nước này Đông giáp biển Nam Hải, Tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn), chia nước làm 15 bộ.

Picture12
Phạm vi nước Văn Lang theo chính sử và truyền thuyết.

Nhìn trên bản đồ ta thấy nước Văn Lang theo sử liệu bao gồm khu vực nay là Bắc Việt, Quảng Tây, Vân Nam và Quý Châu. Đặc biệt thấy rõ khu vực phân bố đá khắc ở Lào Cai – Yên Bái – Hà Giang nằm ở tâm điểm của nước Văn Lang. Đây cũng là nơi có độ cao cao nhất vì nằm trên dãy núi Hoàng Liên Sơn với nóc nhà Đông Dương là đỉnh Phan Xi Păng.
Liên hệ với tư liệu thư tịch Trung Hoa ở thời kỳ tương đương chép về tục thờ tế lễ. Chương Vương Chế trong Kinh Lễ ghi:
Thiên tử ngũ niên nhất tuần thú. Tuế nhị nguyệt Đông tuần thú. Chi vu Đại tông, sài nhi vọng tự sơn xuyên. Cận chư hầu. Vấn bách niên giả tựu kiến chi. Mệnh thái sư trần thi dĩ quan dân phong. Mệnh thị nạp giả dĩ quan dân cho sở hiếu ô, chi dâm, hiểu tịch. Mệnh điển lễ khảo thời nguyệt, định nhật. Đồng luật lễ nhạc chế độ y phục, chính chi.
Dịch:
Thiên tử 5 năm đi tuần thú một lần, vào dịp tháng hai. Đi về phía Đông đến núi Thái Sơn vua đốt đuốc vọng tế sơn xuyên. Tiếp kiến chư hầu. Đến thăm các cụ già trăm tuổi. Sai quan thái sư dâng những bài thơ sưu tập trong dân gian để biết phong tục của dân. Sai nộp giá cả ở chợ để xem xét sở thích của dân, chuộng xa xỉ dẫn đến tà tịch. Sai quan trông coi điển lễ quan sát sự vận hành của mặt trăng mặt trời và thời tiết. Làm cho pháp luật, lễ nhạc, chế độ, quần áo được đồng nhất.
Núi Thái Sơn ở phía Đông được nói đến không thể là ở tỉnh Sơn Đông Trung Quốc hiện nay như vẫn giải thích vì nhà Chu không hề có đất đai ở Sơn Đông. Từ kinh đô (Thiểm Tây?) vua Chu đi ra bán đảo Sơn Đông quá xa. Hơn nữa Sơn Đông là vùng đất Nhung Địch ngay thời đầu Chu mà Chu Công đã phải cất quân đi dẹp phản loạn. Ngọn Thái Sơn của Trung Hoa nhà Chu không thể ở đất Nhung Địch.
Khi kết nối với nhà nước Văn Lang thì phần Đông chính là đất Bắc Việt nay và ngọn Thái sơn cao nhất là nóc nhà Hoàng Liên Sơn. Do đó bãi đá khắc ở đây có thể chính là nơi vua Chu tế núi sông và tiếp kiến chư hầu. Cứ 5 năm thiên tử Chu lại lên núi Hoàng Liên Sơn tế xã tắc một lần. Vương triều Chu kéo dài hơn 800 năm, chia ra có khoảng 150 lần tế, tương ứng với số đá khắc ở khu vực này.
Để hiểu được mối liên hệ giữa nhà Chu và nước Văn Lang của vua Hùng cần phải điểm qua lịch sử lập quốc của nhà Chu và so sánh với huyền sử Việt. Cơ Xương là thủ lĩnh miền Tây (Tây Bá Hầu) dưới thời Trụ Vương nhà Ân Thương đã thu phục được nhân tâm nhằm gây nghiệp lớn. Được sự giúp đỡ của Lã Vọng Cơ Xương đánh nước Lê của Sùng Hầu Hổ. Sau đó ông dời về đất Phong. Huyền sử Việt ghi bằng câu chuyện Âu Cơ người Lăng Xương (Cơ Xương) lấy Sùng Lãm, rồi dẫn đàn con về Phong Châu lập nước Văn Lang. Tên gọi Văn Lang là tên hiệu của Cơ Xương – Chu Văn Vương.
Cơ Phát, con trai của Cơ Xương, nối nghiệp cha, phát động toàn bộ chư hầu tấn công tiêu diệt Trụ Vương, lên ngôi thiên tử của cả thiên hạ Trung Hoa. Huyền sử Việt chép Thục Phán (Cơ Phát) đánh Hùng Vương và lên ngôi lập cột đá thề với trời. Hoặc Thánh Dóng ở Vũ Ninh đánh giặc Ân. Cơ Phát lên ngôi là Chu Vũ Vương, được sử Việt gọi là Vũ Ninh, hay Ninh Lang (Linh Lang). Vũ Vương cho dời lại đô về vùng phía Tây đất gốc của nhà Chu, lập kinh đô ở đất Cảo, bắt đầu thời kỳ Tây Chu. Cảo Kinh của Tây Chu nay là Côn Minh (Côn Ninh = Vũ Ninh) ở vùng Vân Nam.
Như vậy, vùng bãi đá cổ là khu vực giữa Đông và Tây Chu (giữa Bắc Việt và Vân Nam), là trung tâm của nước Chu – Văn Lang với phạm vi đã thấy trên bản đồ.

Picture9.png
Hoàn tiền Đông Chu và Tây Chu tìm thấy ở Việt Nam.

Bản thân chữ Chu 周 là Điền 田+ Khẩu 口, chỉ mối liên hệ trực tiếp của nhà Chu với văn minh lúa nước.
Khi nhận ra nước Văn Lang của vùa Hùng chính là nước của Chu thiên tử Trung Hoa thì bãi đá cổ trở nên có nguồn tư liệu thành văn. Đó chính là những ghi chép về nhà Chu và về tục tế xã tắc cầu mùa được Khổng Tư ghi lại trong Ngũ Kinh: Thi, Thư, Dịch, Lễ, Nhạc.

Picture8
Chuông có chữ Nho tìm thấy ở Cốc Lếu, Lào Cai.

Trong Thượng Thư (Kinh Thư), bài Thái Thệ Hạ có: Nay vua Thụ nhà Thương… chẳng sửa tế Giao, tế Xã, chẳng cúng tông miếu…
Thái Thệ là lời thệ của vua Chu khi phạt Trụ. Ở đây lời thệ vạch tội vua Trụ nhà Ân Thương đã không tôn trọng việc tế trời tế đất và tế tổ tiên, là một nguyên nhân quan trọng để lật đổ hôn quân vô đạo, chuyển thiên mệnh từ Thương sang Chu. Ta thấy tầm quan trọng của việc tế xã tắc đối với sự hưng suy của một triều đại như thế nào qua dẫn liệu này.
Trong Kinh Thi có bài Phủ ĐiềnTiểu nhã có đoạn 2 như sau:
Dĩ ngã tư minh. Dữ ngã hy đường. Dĩ xã dĩ phương. Ngã điền ký tang. Nông phu chỉ khánh. Cầm sắt kích cổ. Dĩ nhạ điền tổ. Dĩ kỳ cam vũ. Dĩ giới ngã tắc thử. Dĩ cốc ngã sĩ nữ.
Dịch nghĩa:
Lấy xôi của ta
Và dê của ta
Để tế thần Hậu Thổ và khí tốt bốn phương
Ruộng của ta đã tươi tốt
Đó là nhờ hồng phúc của nông phu
Gảy đàn cần đàn sắt và đánh trống lên
Để rước Thần Nông
Để cầu mưa lành
Để cây lúa cây nếp của ta được lớn
Để nuôi dưỡng con trai con gái nhân dân của ta.
Bài nhã này mô tả rất đầy đủ cách thức và ý nghĩa của tục tế xã tắc. Dùng xôi, dùng dê tế Xã (Hậu Thổ) tế phương. Cho ruộng tươi tốt, nông dân vui mừng. Tế “Điền tổ” (Thần Nông) để có mưa lành. Cho lúa tẻ lúa nếp được lớn nuôi sống trai gái.
2 vị thần được cúng tế cầu mùa ở đây là Xã và Điền Tổ, được ghi nhận là Hậu Thổ và Thần Nông. Cây trồng của nhà Chu được ghi rõ là Tắc – Thử, là lúa tẻ và lúa nếp hay lúa nước và lúa nương. Nhà Chu ở đâu mà trồng được cả lúa tẻ và lúa nếp?
Đặc biệt bài này có nói tới việc dùng chiêng trống để cúng tế: Cầm sắt kích cổ. Vì khu vực Lào Cai nằm trong văn hóa trống đồng nên “kích cổ” ở đây có thể hiểu là đánh trống đồng. Ví dụ như hình ảnh người Điền (Vân Nam) đánh trống đồng trong ngày hội mùa được thấy trên thạp đồng. Lào Cai, Hà Giang, Yên Bái cũng là nơi tìm thấy hàng chục chiếc trống đồng của thời kỳ này.

Picture10Cảnh cúng tế có trống đồng trong văn hóa Điền.

Tinh thần trọng nông của văn minh Trung Hoa thể hiện rõ ở Kinh Dịch, với hào nhị của quẻ Càn:
Hiện long tại điền, lợi, kiến đại nhân.
Rồng xuất hiện ở ruộng, là điều tốt để thành người quân tử. Cải cách xã hội bắt đầu từ cuộc cách mạng về nông nghiệp.
Bài Sở từ trong Tiểu Nhã cũng thể hiện tinh thần “dĩ nông vi bản” của nhà Chu, một chế độ rất chú trọng phát triển nông nghiệp:
Sở sở giả từ. Ngôn trừu kỳ cức. Tự tích hà vi. Ngã nghệ thử tắc. Ngã thử dư dư. Ngã tắc dực dực. Ngã thương ký doanh. Ngã dữu duy ức. Dĩ vi tửu thực. Dĩ hưởng dĩ tự. Dĩ giới cảnh phúc.
Dịch nghĩa:
Cây từ chen rậm rạp
Phải trừ dẹp cho hết gai góc
Từ xưa sao lại làm như thế
Là để ta trồng lúa và nếp
Khi nếp của ta đã tươi tốt
Khi lúa của ta đã rườm rà
Khi vựa của ta đã đầy
Khi bồ của ra đã chứa đủ mười vạn hộc
Thì làm rượu làm món ăn
Để dâng lên để cúng tế
Để rước xác thần ngồi yên và để khuyên mời ăn uống
Để được phúc lớn.
Bài nhã này nêu phải chú trọng làm cỏ để cho lúa nếp lúa tẻ được tươi tốt, nặng hạt, cho thóc đầy vựa đầy bồ và phải cúng tế để có phúc lớn.

Picture11Tảng đá khắc hình ruộng bậc thang và thạp.

Đối chiếu trên hình khắc của bãi đá có một tảng đá khắc ruộng bậc thang dày đặc và bên cạnh là hình một chiếc thạp. Ý nghĩa rõ ràng, mong cho ruộng lúa được tốt tươi, cho thóc đầy thạp đầy vựa. Bồ thóc ở đây được gọi là Thương 倉.
Thạp đồng được phát hiện nhiều ở khu vực Lào Cai, Yên Bái. Điển hình như thạp đồng Đào Thịnh tìm thấy ở Văn Yên. Vừa mới đây Bát Xát, Lào Cai gần đây cũng đã phát hiện được chiếc thạp đồng thời Đông Sơn cùng với các vật dụng khác.
Từ những phân tích trên có thể đi đến một số kết luận:

  • Các đá khắc là những đàn tế xã tắc dùng để cầu mùa màng bội thu và cuộc sống ấm no. Xã là nơi ở (đất đai), Tắc là lúa gạo. Người Việt xưa cầu tế 2 nhu cầu quan trọng nhất là ăn và ở. Trên đá khắc thể hiện bằng hình vuông (xã) và ruộng bậc thang (đường song song).
  • Đây là khu vực trung tâm của nước Văn Lang thời Hùng Vương, là đỉnh núi cao nhất vùng nên việc tế xã tắc có ý nghĩa toàn quốc chứ không phải là một phạm vị hẹp. Thời gian của tập quán này kéo dài hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, đã tạo ra hàng trăm tảng đá khắc – các đàn tế của các thời kỳ khác nhau.
  • Tư liệu thư tịch cho việc tế xã tắc có thể tìm thấy trong Ngũ Kinh Trung Hoa bởi vì nước Văn Lang là nước do Văn Vương nhà Chu thành lập, là khu vực trồng lúa tắc thử trù phú, là nơi thiên tử hội kiến chư hầu.

Với cách tiếp cận này có thể đề xuất một số phương hướng cho nghiên cứu tiếp theo về đá khắc cổ như sau:

  • Xây dựng một bản đồ phân bố các đá khắc và đá cự thạch ở các nơi, làm cơ sở cho việc nhìn nhận về bài trí và ý nghĩa của các đàn tế.
  • Đối chiếu thư tịch trong Ngũ Kinh để phát hiện và làm rõ cách thức tế xã tắc cũng như góp phần hỗ trợ giải mã ý nghĩa các hình khắc.
  • Kết hợp với các cổ vật, đặc biệt là đồ đồng được tìm thấy trong phạm vi nước Văn Lang để so sánh, đối chiếu các hình khắc đá.

Lịch sử qua những lớp thành ở Cổ Loa

Theo bài công bố của các chuyên gia khảo cổ đăng trên báo Tia Sáng về kết quả khai quật tại thành Cổ Loa gần đây thì có những phát hiện mới về tòa thành sớm nhất và quy mô nhất Đông Nam Á này như sau:
Thứ nhất là phát hiện lớp văn hóa Đông Sơn nằm dưới thành do An Dương Vương đắp, trong hố khai quật thành Trung năm 2007-2008. Trong lớp văn hóa Đông Sơn ở đây, cùng với đồ gốm, hiện vật sắt, đã phát hiện được di tích phòng thủ có quy mô nhỏ hơn và khác phương vị với thành Cổ Loa của An Dương Vương. Di tích có cấu trúc (từ ngoài vào trong) là: Hào -Tường thành – Hào – Vọng gác + tường chắn. Trong nền của vọng gác còn phát hiện được di tích bếp lửa, hiện vật sắt và gốm Đông Sơn.
Phát hiện thứ hai là nền gia cố bằng đất gốc trước khi đắp thành trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012.
Phát hiện thứ ba trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012 tại xóm Thượng. Theo các chuyên gia khảo cổ học Nhật Bản, có một số hiện tượng lạ trong cấu trúc của đất đắp thành có thể là dấu vết của hiện tượng động đất. Vấn đề này đang tiếp tục được nghiên cứu. Nếu hiện tượng động đất được xác nhận, cũng đồng thời xác nhận cốt lõi của truyền thuyết thần Kim Quy/ Thanh Giang xứ được Huyền Thiên Trấn Vũ sai xuống giúp An Dương Vương khắc phục hiện tượng “thành cứ xây xong lại đổ”.
Phát hiện thứ tư gần đây nhất (2014) trong hố cắt thành Nội và ụ hỏa hồi tại thôn Hương đã phát hiện được di tích gốc của thành Nội và ụ hỏa hồi trong cùng bình diện xuất lộ, nằm dưới mặt thành Nội hiện nay khoảng trên 2m. Đây là phát hiện quan trọng khẳng định An Dương Vương đã đắp cả 3 vòng thành và hệ thống ụ hỏa hồi trong hệ thống thành Nội cũng được An Dương Vương đắp cùng với thành Nội.

Co Loa A3

Các giai đoạn đắp thành Trung và công trình phòng thủ sớm. Ảnh: Lại Văn Tới.

Như thế kết quả khảo cổ ở Cổ Loa cho thấy tòa thành này đã qua 2 lần xây dựng khác biệt. Lần sớm nhất là một công trình phòng thủ gồm Hào – Tường thành – Vọng gác có quy mô nhỏ. Lần thứ hai mới là lần xây thành có 3 lớp như còn thấy tới nay. Ở lần thứ hai này việc xây thành được tiến hành tới 4 giai đoạn đắp đất khác nhau. Và đặc biệt có dấu hiệu về sự xáo trộn các địa tầng, nhiều khả năng là do động đất khá mạnh trong thời gian xây thành.
Những dữ kiện khảo cổ trên là minh chứng cho nhận định Cổ Loa chính là Lạc Ấp – Đông Đô của nhà Chu. Thành Lạc Ấp của nhà Chu đầu tiên do Chu Công xây dựng làm nơi an trí đám ngoan dân của nhà Ân sau khi ông dẹp loạn Vũ Canh. Truyền thuyết Việt chép là sau khi Thánh Dóng diệt giặc Ân thì có Linh Lang đại vương đánh giặc Vĩnh Trinh, yên ổn đất nước. Chu Công cũng là tướng Cao Lỗ của truyền thuyết Việt, tương truyền là người đã xây thành Cổ Loa.
Tới khi nhà Chu dời đô từ Hạo Kinh về Lạc Dương thì Cổ Loa trở thành kinh đô của thời Đông Chu. Truyền thuyết Việt chép là An Dương Vương dời đô về đất Lạc, xây kinh thành ở đây.
Các nhà khảo cổ đã nhận định chính xác rằng trận động đất là cốt lõi của chuyện Huyền Thiên Trấn Vũ cử thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương khắc phục việc “thành cứ xây xong lại đổ”. Nguyên nhân thành đổ là do động đất, dẫn đến việc phải đắp thành tới 4 lần như khảo cổ địa tầng thành Cổ Loa cho thấy.
Cụ thể hơn, Huyền Thiên Trấn Vũ ở Cổ Loa chính là Lão Tử như thần tích ở làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang) ghi nhận, là người đã giúp An Dương Vương diệt Bạch Kê tinh đắp thành. Câu đối ở cửa võng đình Thổ Hà, nơi thờ Lão Tử (Thái Thượng Lão Quân):
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Sách Lão Tử minh chép về hành trạng của Lão Tử như sau:
Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Cơn địa chấn thời Chu U Vương – Chu Bình Vương ở vùng Tam Xuyên chính là nguyên nhân làm cho thành Lạc Dương – Đông Đô ở Cổ Loa “cứ xây xong lại đổ”. Vì Chu U Vương say mê Bao Tự, gây chuyện đốt lửa Ly Sơn hiệu triệu chư hầu làm trò đùa, mua tiếng cười cho Bao Tự mà nhà Chu đi vào chỗ suy thoái, buộc phải dời đô từ phía Tây sang Đông. Lão Tử là một vị “pháp sư” của triều đình nhà Chu lúc đó, đã nhân thành Đông Đô cứ xây lại đổ do động đất, bày đàn tế trời, lấy sự việc các vua đời trước (Hạ, Thương) để khuyên răn vua Chu (lúc này là Chu Bình Vương) biết làm theo lẽ trời, tôn trọng ý dân, giữ gìn sức nước. Đây mới là công nghiệp chính của Lão Tử đối với quốc gia.
Đoạn dữ liệu trên của Lão Tử minh cũng cho một thông tin quan trọng: khu vực Lạc Dương của nhà Chu còn gọi là vùng Tam Xuyên. Tam Xuyên là tên quận thời Tần, lập ra trên đất của nhà Chu. Điều này thêm một lần nữa xác nhận vùng Bắc Việt ngày nay chính là đất Đông Chu thời trước Công nguyên.

Những đồng tiền cổ của thiên hạ Trung Hoa trên đất Việt

PGS. TS. NGND. Hoàng Văn Khoán, chuyên gia hàng đầu Việt Nam hiện nay về cổ tiền học, đã giới thiệu “một số đồng tiền Trung Quốc thường gặp ở Việt Nam” trong cuốn sách Thức dậy từ quá khứ mới in của mình (2018), gồm các loại như sau:

Bố tiền (tiền hình thuổng – xẻng):
Không thủ bố. Hai mặt có chữ Tam xuyên cân 三川釿. Niên đại: Xuân Thu – Chiến Quốc, Sở đến Chu, Tấn.
Kiều túc bố. Hai mặt có chữ Ngu nhất cân 虞一釿. Niên đại: Xuân Thu trung kỳ, đúc trên đất Ngụy.
Trường bố. Mặt trước có chữ Thù bổ dương cân 殊布當釿. Mặt sau có chữ Thập hóa 十貨. Phát hiện trên đất Sở.
Kiều túc bố. Mặt trước có chữ An ấp nhất cân 安邑一釿. Mặt sau có chữ An 安. Phát hiện trên đất Ngụy.
Tam khổng bố. Mặt trước có chữ Dư 余. Mặt sau có chữ Nhất lạng 一两. Phát hiện trên đất Lỗ, Tề, Tấn, Sở, Tống, Vệ, Trần, Thái, Tào, Trịnh, Yên thời Chiến Quốc (Xuân Thu?) Đông Chu, 841-756 TCN, Tống 765 – 476 TCN.
Tam khổng bố. Mặt trước có chữ Nam hành đường 南行唐. Mặt sau có chữ Thập nhị chu 十二朱. Tiền đúc trên đất Triệu thời Chiến Quốc 442 – 111 TCN.

Đao tiền (tiền hình dao):
Tề quan hóa 齊官化. Tiền chỉ lưu thông ở thành Lâm Chung, kinh đô nước Tề.
Tam tự đaoTriệu đao. Tiền nước Triệu.
Yên Minh đao. Một mặt có chữ Minh 明. Tiền nước Yên.
Đao tiền. Thời kỳ Chiến Quốc (trong mộ Việt Khê, Hải Phòng).
Lục tự đao. Tiêm thư đao. Chiết khánh đao. Tiêm đao.

Hoàn tiền (tiền tròn có lỗ tròn):
Thử viên nhất cân 黍垣一釿. Tiền nước Ngụy.
Tiền tròn có chữ Viên 垣. Tiền nước Ngụy.
Tiền tròn có chữ Cộng Tiền nước Ngụy.


Vài hình ảnh cho các đồng tiền có tên trên (ảnh của trang bachviet18.com):

Tam khổng bố Dư Nhất lạng
Tam khổng bố có chữ Dư và Nhất lạng.
Te quan hoa
Tề quan hóa.
FullSizeRender
Yên Minh đao.

Thử viên nhất cân
Thử viên nhất cân.

Dao tien Viet KheĐao tiền trong mộ Việt Khê, Hải Phòng.

Vấn đề nổi lên là: Tại sao những bố tiền, đao tiền, hoàn tiền của các nước Triệu, Tề, Yên, Sở, Ngụy lại có “thường gặp” trên đất Việt Nam? Theo chính sử thì mãi tới thời Tần nước ta mới bị Tần chiếm đánh. Còn sau khi Tần thống nhất thiên hạ đã thực hành “xa đồng trục, thư đồng văn”, loại bỏ tiền của các nước cũ, dùng tiền tệ thống nhất là đồng tiền Bán Lạng. Vậy làm thế nào mà các nước Triệu, Ngụy, Yên, Tề ở tận Bắc sông Hoàng Hà từ 300-500 năm TCN lại đã có “giao lưu” tiền tệ với vùng Bắc Việt? Sự “giao lưu” của vùng Bắc Việt với các nước chư hầu thời Xuân Thu Chiến Quốc là như thế nào?
Sự hiện diện của những hiện vật khảo cổ – tiền cổ ở Việt Nam cho thấy, không có cách giải thích nào khác là: vùng Bắc Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc nằm cùng trong một khu vực “giao thương” chung của cả Trung Hoa. Tức đây là một trong các nước thời Đông Chu. “Nước ta” đã biết dùng tiền trong thương mại, tức là đã dùng văn tự (chữ trên tiền). Vậy “nước ta” lúc đó là nước nào trong số các chư hầu của nhà Chu?

Ngoài những đồng tiền “thường gặp” trên, ở Việt Nam còn phát hiện một số đồng tiền sau:
Bo tien Dong Chu
Bố tiền mặt trước có chữ Đông Chu 東周, mặt sau có chữ Vương cát 王吉.

Hoàn tiền Đông Chu 東周 và Tây Chu 西周
Nếu nước ta lúc đó không phải Tần, Triệu, Ngụy, Yên, Tề,… thì phải chăng khu vực Việt Nam ngày nay chính là nước của nhà Chu thời kỳ này?

Những đồng tiền cổ tìm thấy ở Việt Nam chứng tỏ một cách rõ ràng rằng khu vực Việt Nam thời Xuân Thu Chiến Quốc nằm cùng trong một thiên hạ Trung Hoa, cùng chung một loại tiền tệ, chữ viết. Hơn nữa, khu vực Bắc Việt có thể chính là nước Chu, thiên tử của cả thiên hạ phương Đông.

Đất Thái Bình đã có lịch sử 3000 – 2000 năm

Bài viết trích trong sách Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân của hai tác giả Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan (2008).
Năm 1990 – 1991 trong lúc một số tác giả viết bài cho rằng thế kỷ thứ VI chưa có Thái Bình vì vậy Thái Bình không thể là quê hương, là đất dấy nghĩa của Lý Bí… thì giáo sư Vũ Tự Lập và những cộng sự của ông đã đi điền dã khắp vùng châu thổ sông Hồng, đặc biệt là Thái Bình. Sau những chuyến đi thực tế một hội thảo khoa học đã được tổ chức và cuối cùng Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ra mắt bạn đọc sách “Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Hồng“. Sách đưa ra bản đồ lịch sử phát triển châu thổ sông Hồng, theo đó thì “Đất đai thuộc huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ và phầ lớn đất đai thộc huyện Tiên Hưng, Thư Trì, Thụy Anh có lịch sử từ 3000 – 2000 năm. Hầu hết phần đất các huyện Vũ Tiên, Đông Quan, Thụy Anh có lịch sử 2000 -1000 năm. Vùng Nam Kiến Xương, Tiền hải và một phần Thái Ninh cũ có lịch sử từ 1000 năm trở lại đây theo xu hướng muộn dần.
Không chỉ ngày nay các nhà nghiên cứu mới đưa ra tuổi của đất Thái Bình – Long Hưng mà từ xa xưa một số sách của người Hán cũng đã viết về vùng đất này…
(Lược bỏ một đoạn dẫn các thư tịch về đất Thái Bình từ xưa)
Ngoài nguồn tư liệu thư tịch đã nêu Thái Bình còn lưu nhiều truyền thuyết về thời Hùng Vương, thời An Dương Vương. Đặc biệt có truyền thuyết về Triệu Đà, về Đường Thâm (nay là Đồng Sâm) lấy vợ, đền Đồng Sâm và nhiều nơi trong vùng đã lập đền thờ Triệu Đà và Trình Hoàng hậu.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chương (Cục Bảo tồn bảo tàng, nay là Cục Di sản văn hóa) trong bài “Về tình hình phân bổ các di tích lịch sử thời các vua Hùng” Thái Bình có 244 di tích thờ các vị thần thời Hùng Vương đến thời Triệu Đà. Trong khi đó ở hai tỉnh Vĩnh Phúc , Phú Thọ (nội Văn Lang) chỉ còn được 432 di tích. Cả tỉnh Hà Tây chỉ có 164 di tích. Thái Bình là tỉnh có mật độ thờ các công thần thời Hùng Vương cao nhất cả nước”.
Việc thờ các thần thời Hùng Vương, có người cho rằng dân từ các miền đất nước đến Thái Bình hội cư đã đem theo cả các vị thần từ quê gốc về Thái Bình? Qua dẫn chứng đã nêu và qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy những nơi thờ các công thần thời Hùng đều là những miền đất cổ của Thái Bình, những làng có tên Nôm và hầu hết ở các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Đông Hưng, Kiến Xương. Một phần đất Kiến Xương cắt về Tiền Hải, một phần đất của Đông Quan xưa cắt về Thái Thụy. Ở những vùng dân cư khai phá thời Trần, Lê không có các công thần thời Hùng vương. Thời Hùng Vương nước ta có 15 bộ, đất Thái Bình thời ấy thuộc bộ Lục Hải.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào các năm 40-43 diễn ra ở Thái Bình rất sôi động. Nhân dân Thái Bình đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa với tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
Câu nói bất tử của nữ tướng Cẩm Hoa ở làng Lộ Xá (nay là thôn An Liêm xã Thăng Long huyện Đông Hưng) còn vang vọng đến ngày nay: “Ta sinh ra vì việc nước, chết vì việc nước, chết cũng như sống vậy” với ý chí ấy nhân dân vùng Hương Đường – Vũ Thư đã “đốt tre tươi mài thành mũi giáo, đập mảnh vại làm gươm” để giết giặc. Cả nhà họ Triệu đã hy sinh vì nước. Tấm gương trung liệt ấy đến kẻ thù phải thán phục. Hơn một trăm năm sau Sĩ Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu đến thăm đền phải ghi tặng “Nhất gia trung liệt hiển Giao Châu” (Một nhà hy sinh oanh liệt nổi tiếng ở Giao Châu). Nhân dân vùng sông nước ven sông cũng vót cọc làm giáo, vác bê chèo làm gươm để đánh giặc. Các tướng súy đã đánh giặc là phải thắng, không thắng giặc thì cùng chết với giặc. Bà Lê Thị Cố ở làng Hoàng Quan, Rồi Công (xã Đông Phương, An Tràng) nói: “Bất Cam sinh mệnh tướng quần đầu” và đánh giặc đến lúc trên người không còn mảnh vải che thân (vì vậy tục lệ của làng là không rước thánh ra khỏi đền thờ trong ngày hội).
Tổng kết cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Thái Bình ngày nay có gần 30 tướng súy tham gia. Trong đó nhiều người đã đưa nghĩa sĩ về Phong Châu cùng Bà Trưng tiến về giải phóng Luy Lâu. Mã Viện trở lại xâm lược, họ lại sát cánh cùng Bà Trưng chống giặc. Bà Trưng hy sinh, nhiều người trở lại quê hương, lấy sông nước để thủ hiểm, tiếp tục chống giặc. Những nơi thờ tướng lĩnh của Hai Bà Trưng ngày nay phần lớn ở bên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, ven các sông nội đồng. Không có dân cư từ thời Hùng Vương, không được sống trên mảnh đất đầy sóng gió này làm sao tôi luyện được ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm như vậy? Đất đai Thái Bình và truyền thống của người Thái Bình được tôi luyện trong cuộc sống hàng ngày, trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm từ thời Hùng Vương là những yếu tố thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa của Lý Bí trên đất Thái Bình ở thế kỷ thứ VI. IMG_6632 (2)

Nếu còn hồ nghi, trăn trở với sử liệu thần phả, ta có thể theo dấu vết di tích khảo cổ để giám định niên đại tuổi của đất. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở thôn Ô Cách, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ đã sưu tầm được gần 100 mũi tên đồng, lục lạc, giáo đồng. Tháng 5 năm 2000 tại làng Công xã Minh Tân nhân dân đã tìm thấy 2 trống đồng đều có cùng niên đại với trống đồng Đông Sơn, cách ngày nay 2500 năm. Hiện vật đồng Đông Sơn còn tìm thấy ở làng Mẽ, làng Buộm thị trấn Hưng Nhân (Hưng Hà), cửa sông Diêm Hộ (Thái Thụy).
Ngoài các hiện vật đồng, những ngôi mộ cổ đầu Công nguyên cũng là chứng tích lịch sử. Ngay tại làng lưu Đồn xã Thụy Hồng huyện Thái Thụy, một xã vùng ven biển, năm 1974 trong khi đào mưng máng nhân dân đã tình cờ đào được một số ngôi mộ cổ hình thuyền độc mộc có kích thước 2,2×1,4×0,4m. Những ngôi mộ cổ này có cùng niên đại với mộ cổ Thủy Nguyên cách ngày nay ngót 2000 năm.
Ngoài các ngôi mộ cổ của người Việt, dấu vết quý tộc Hán từ trước thềm Công nguyên còn thấy ở vùng Hưng Hà, Quỳnh Phụ, bắc Vũ Thư… Tại các vùng đất trên đã phát hiện gần 100 khu địa táng, xây cuốn vòm, mộ cao tới 3-4 mét. Vùng hạ lưu, ít nhất đã tìm thấy được khu mộ Hán trước thế kỷ III tại Phú Xuân (thành phố Thái Bình), Vân Động (xã Vũ Lạc huyện Kiến Xương). Lui xuống là Động Trung, trong khi làm đất ngoài đồng, nhân dân đã đào được tiểu đồng có đề chữ “Mã Viện chi thiếp” (vợ bé của Mã Viện). Con cháu họ Mã (gia đình Mã Soang) nhận là họ nhà mình xin được trông nom. Ngôi mộ ấy còn mãi đến năm hợp tác xã san ghềnh lấp trũng mới bị mất (1960).
– Mộ cổ ở làng Mẽ (Mỹ Xá) thị trấn Hưng Nhân huyện Hưng Hà: cửa mộ dày 40cm rộng 3m, cao 1,65m. Phần chính của mộ dài 4m, rộng 3m, cao 1m65m kích thước (40x20x5cm) (theo cụ Nguyễn Văn bàn năm nay đã 90 tuổi (2007) thì sau ngày Cách mạng tháng 8-1945 khi ấy cụ làm cán bộ thông tin ở xã đã từng đi xuống hầm mộ), tại đây người ta đã tìm thấy môt con rồng bằng đất nung, được chắp nối từng khúc dài 1,2m, có hai con thú bằng kim loại, có cán gươm tượng người bằng đồng.
– Mộ cổ ở làng Phú Lạc xã Phú Xuân (cách thành phố Thái Bình 2km) dân gian thường gọi là mả Ngô. Mộ đã bị đào bới từ lâu, hiện vật còn thu được 5 bình gốm các loại, 1 bát gốm, 1 dao găm đồng… Những hiện vật cổ ở đây cho phép các nhà khảo cổ kết luận: mộ cổ Phú Xuân có niên đại vào thế kỷ III sau Công nguyên.
Từ những phát hiện trên, năm 1999 Bảo tàng Thái Bình đã xuất bản sách “Di tích khảo cổ học ở Thái Bình“. Tác giả Nguyễn Ngọc Phát và Vũ Đức Thơm viết: “Loại mộ này thường là các gò đống lớn, khối lượng ấp trúc lên tới hàng ngàn m3. Hầu hết các mộ này có kết cấu song táng hoặc đơn táng. Huyệt mộ dài 5-6m, rộng từ 1,5-3m. Móng thân vòm mộ được sử dụng loại gạch lưỡi búa, còn gọi là gạch múi bưởi, dài 40cm, rộng 20-25cm… Gạch lát mộ có loại nặng 70kg, có kích thước 53x53x10cm. Toàn bộ gạch được ấp trúc bằng đất sét hoặc đất thịt pha sét. Trên mộ người sau thường dựng miếu, trồng cây đa, cây si… Những ngôi miếu, những cây đa, cây si này có vài trăm năm tuổi”…

Người đầu tiên xây thành nhà Hồ ở Thanh Hóa

Thành nhà Hồ ở Vĩnh Lộc, Thanh Hóa, nằm giữa 2 dòng sông Mã và sông Bưởi, là di tích đã được công nhận di sản văn hóa thế giới. Thành nhà Hồ thì hiển nhiên do nhà Hồ (Hồ Quý Ly) xây dựng. Nhưng nơi đây đã từng là hành cung hay một trị sở quan trọng của các triều đại từ trước đó. Ai là người thật sự đầu tiên đặt gạch nền móng để xây dựng thành tại khu vực này?

Dinh Phu LuuGian tiền tế đình Phù Lưu (Vĩnh Yên, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Xung quanh khu vực thành nhà Hồ có nhiều nơi thờ vị thần tên là Cao Sơn đại vương. Như ở phía cổng Tây của thành nhà Hồ có đình Phù Lưu và đền Cao Sơn tại xã Vĩnh Yên (Vĩnh Lộc). Còn ở phía Đông thành có phế tích đền Còng tại xã Vĩnh Hưng, cũng là nơi thờ Cao Sơn đại vương.
Cao Sơn là một vị thần được thờ khắp nơi trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Theo thống kê trong sách Thanh Hóa chư thần lục do bộ lễ triều Nguyễn soạn vào năm Thành Thái thứ 15 cho biết ở Thanh Hóa có tới trên 400 làng nơi thờ Cao Sơn làm thành hoàng trải dài ở hầu hết các huyện của tỉnh Thanh. Hiện nay ngay ở thành phố Thanh Hóa còn có một con đường lớn mang tên Cao Sơn.
Vậy Cao Sơn là ai, có công nghiệp như thế nào đối với xứ Thanh mà được tôn thờ rộng rãi như vậy?
Theo sách Thanh Hóa chư thần lục thì: Bản ngọc phả làng Yên Tôn Thượng ghi cụ thể về xuất thân vị thần tên huý là Hiển, ông đỗ tiến sỹ vào thời Tấn (thế kỷ 10), khi đó nước Việt ta bị phong kiến phương Bắc cai trị, tiến sỹ Hiển được điều sang cai quản vùng đất thuộc Thanh – Nghệ này nay. Khi qua núi An Tôn, nhận thấy vùng đất này là thắng địa, ông cho xây dựng ở chân núi một số công trình để thỉnh thoảng về nghỉ ngơi. Viên quan cai trị đã lập công to trong lần đi chinh chiến ở đất Đông Di. Ông mất năm 103 tuổi, tại núi Đại Liễn. Trang Bảo Thánh huyện Đông Thành, Nghệ An, Cao Hiển vốn là viên quan có học vấn cao, lại có lòng thương dân, nên ông được dân tôn vinh. Nhân dân vùng đất An Tôn thờ Ông, coi Ông như một vị thành hoàng bảo hộ cho dân làng. Các triều đại phong kiến Việt Nam đều có sắc phong thần cho Ông thuộc hạng Thượng đẳng tối linh với nhiều mỹ tự ca ngợi.

Bia An Tôn

Tấm bia An Tôn… năm Thành Thái thứ nhất đặt ở sân đình Phù Lưu.

Thần tích này cho biết Cao Sơn có tên là Cao Hiển, người Trung Quốc sang nước ta dẹp giặc Đông Di và đã cho xây dựng một số công trình ở vùng núi xứ Thanh.
Chỗ khác, như ở đền Còng (Vĩnh Hưng, Vĩnh Lộc) thì chép thần Cao Sơn ở vào thời Lý: vào khoảng năm Khánh Lịch (1041-1048) ông làm quan tới chức Thừa tướng kiêm trấn thủ các xứ Nghệ An, Thanh Hóa… Bỗng năm đó có giặc Đông Di (Cao Ly Triều Tiên ngày nay) nổi lên xâm chiếm đất đó, quấy nhiễu cướp đoạt dân cư. Nhà vua bèn sai ông ra quân dẹp giặc…
Thật không biết vị thần Cao Sơn này chính xác sống vào thời nào. Chỗ thì bảo là đời Tấn (thế kỷ thứ 10), chỗ lại là thời Lý nhưng dùng niên hiệu Khánh Lịch của nhà Tống. Thậm chí ông này còn đánh giặc Đông Di ở tận Triều Tiên??? Quãng thời gian thế kỷ 10 – 11 thì nước ta đã độc lập rồi, lấy đâu ra vị quan đô hộ nào của phương Bắc cai quản ở đất Thanh Hóa nữa?
Vị tiến sĩ tài ba cai quản đất Thanh Nghệ mang tên Cao Hiển Văn Trường này thực ra là Tiết độ sứ của nhà Đường Cao Biền. Tướng Cao Biền có công đánh dẹp quân Nam Chiếu, truyền tích gọi là giặc Đông Di, ở vùng Thanh Nghệ, chứ chẳng phải ở tận Cao Ly Triều Tiên. Nam Chiếu là quốc gia xuất phát từ Bắc Trung Bộ Việt (không phải từ Vân Nam như sử Tàu vẫn chép) chiếm lĩnh vùng Tây Bắc Việt, làm nhà Đường lao đao, phải cử Cao Biền làm tướng đánh dẹp. Việc Cao Biền tiến xuống phía Nam, đánh vào sào huyệt của Nam Chiếu ở Nghệ An đã từng được bàn trong bài trước về thần Cao Sơn Cao Các. Thanh Hóa là nơi Cao Biền cho xây hành cung, là một vị trí chiến lược trong yếu trong việc trấn giữ quân Nam Chiếu thời kỳ này.
Sự xuất hiện của Cao Biền và hành cung tại Vĩnh Lộc thời Đường được khẳng định bởi những khai quật khảo cổ thành nhà Hồ. Tại di tích này đã phát hiện nhiều viên gạch mang dòng chữ Giang Tây quânGiang Tây chuyên. Giang Tây là từ tương đương với tên gọi Tĩnh Hải mà Cao Biền là vị Tiết độ sứ đầu tiên của Tĩnh Hải quân. Gạch Giang Tây quân là loại gạch của Tĩnh Hải sứ quân Cao Biền.

Giang Tay quan

Gạch Giang Tây quân tìm thấy ở thành nhà Hồ (nguồn ảnh https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/phat-hien-gach-co-nghin-nam-tai-thanh-nha-ho-2662936.html)

Cũng tại di tích thành nhà Hồ còn tìm thấy các viên gạch mang chữ Đại Việt quốc, nhưng lại không hoàn toàn giống như gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên dùng trong xây thành Hoa Lư và Thăng Long. Viên gạch ở thành nhà Hồ mang các chữ còn lại đọc được là Đại Việt quốc Nam bình 大越国南平. Gạch Đại Việt là loại gạch dùng xây thành dưới thời nước Đại Việt do Lưu Cung lập nên, chứ không phải thời Lý vì mãi tới năm 1054 vua Lý thứ 3 là Lý Thánh Tông mới đặt tên nước là Đại Việt và dùng gạch với niên hiệu Long Thụy Thái Bình.

Gach Dai Viet quoc

Gạch Đại Việt quốc Nam bìnhtìm thấy ở thành nhà Hồ (Nguồn ảnh https://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/phat-hien-gach-co-nghin-nam-tai-thanh-nha-ho-2662936.html)

Hai lớp gạch Giang Tây quânĐại Việt quốc ở thành nhà Hồ như vậy tương đồng với các lớp gạch xây thành tại Hoa Lư. Đây là bằng chứng xác thực về một trị sở quan trọng liên tục từ thời Đường tới thời Đinh Lê tại địa bàn Vĩnh Lộc, Thanh Hóa.
Các hiện vật thời Lý Trần cũng được phát hiện và trưng bày tại thành nhà Hồ như lá đề có hình rồng, phượng, gạch lát nền hoa dây, hình đầu thú đất nung,… Có thể thấy rõ đây là một trung tâm chính trị tồn tại liên tục bắt đầu từ khi Tiết độ sứ Cao Biền xây dựng vào thời Đường cho tới khi nhà Hồ chuyển kinh đô của cả nước về An Tôn và xây thành đá. Việc loại bỏ không trưng bày hay không tính tới các lớp di vật của thời Đường, thời Đinh Lê tìm thấy trong di tích làm hạn chế giá trị của di tích này và làm khuất lấp sự thực lịch sử về vai trò của các triều đại trước thời Trần Hồ khi xây dựng khu vực thành ở Vĩnh Lộc.

La de lech

Lá đề lệch hình rồng trưng bày ở khu thành nhà Hồ.

Sự hiện diện của Tiết độ sứ Cao Biền và hành cung thời Đường ở Vĩnh Lộc còn được ghi nhận trong một sự tích khác. Đình Hồ Nam tại xã Vĩnh Khang (Vĩnh Lộc) cũng như nhiều ngôi đình, nghè ở khu vực xung quanh thành nhà Hồ hiện đang thờ vị thần là Quản Gia Đô Bác. Sách Vĩnh Lộc huyện chí của Lưu Công Đạo chép về vị thần này như sau:
Buổi đầu, ngài giữ chức Quan Lang Thổ Tù ở đất Thiên Vực họ Trịnh, tên La (Ngọc phả ghi là Ra), là người thông minh mẫn tiệp, trung tín, truyền mãi danh thơm. Nhà ở xứ Long Xá, đời thế làm tù trưởng, có 3 anh em, 2 trai, 1 gái, trai trưởng là ngài, thứ là Tú, gái út tên là Thị Ba. Cả ba anh em dung mạo đẹp đẽ, dáng dấp khỏe mạnh, đĩnh đạc.
Vào thời gian vua Đường Ý Tông niên hiệu Hàm Thông bên Bắc Quốc (Trung Quốc), vua xuất trị thiên hạ sai Cao Biền giữ chức Đô Hộ sứ trấn giữ nước Nam. Khi đặt chân tới Nam Bang, Cao Biền mệnh xưng là Cao Vương đi kinh lý quan sát địa hình núi sông. Qua đất nhà Trịnh ở huyện Vĩnh Ninh, Cao Biền ngang qua nhà ông. Biền biết ông là người trung thực, bình định xong được Nam Chiếu, Cao Biền cho ông theo cùng về thành Đông Quan. Ông không quản mệt nhọc, một lòng theo hầu, chuyên tâm vào việc. Cao Biền cho ông là người hiền lành, tài đức, chịu khó nên rất mực yêu thương, bèn giao cho ông năm quyền quản lý kho của phủ và việc nhà. Ông làm việc chăm chỉ nên lại lập được nhiều công lớn. Cao Vương rất mực yêu mến tài của ông, ban cho Thạch Khố sứ quan, kiêm Quản Tri quan trung Nội Ngoại chư khố.
Ông lại cáo từ về quê. Cao Vương quý ông trung thành ban cho ông 500 quan tiền, vì thế mà trở thành người giàu có. Ông lại có tính thương xót kẻ nghèo khó, mọi người trong huyện ai nấy đều được ông ban phát.
Trước kia tổ phụ họ Trịnh có hiềm khích với người làng Vĩnh Thanh, có oán thù về đời thế từ lâu mà chưa phân giải được, người đó tên là Hà Lang… Khi thuyền gần tới phía bờ cát, ba anh em đang ngồi trên thuyền nhìn nhau, Hà Lang từ trong bờ đột nhiên xông ra phục kích, cả ba anh em đều bị hại… Xác trôi quanh quẩn ở đó 5 ngày, người nhà biết được báo tin cho Cao Vương. Cao Vương nhớ đến công lao, bèn cho an táng ở đỉnh núi Nhật Chiêu, sai người đắp thành mộ, lập đền thờ trên đó, lệnh cho nhân dân thờ phụng… Cao Biền phong cho ngài là Đương Giang Quản Gia Thần Vương…

Dinh Ho Nam

Đình Hồ Nam (Vĩnh Khang, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa).

Cuối triều nhà Trần, khi họ Hồ tiếm ngôi vua đế, dời kinh đô từ về Tây Đô. Một đêm, mộng thấy một người khách lạ, mình mặc áo lụa mỏng, đầu đội bình đính, lưng thắt đai đen, đứng bái trước mặt tự xưng: Thần là Trịnh La, nối đời làm Tù trưởng, xin Cao Vương phong làm Thần vương, giúp dân quanh vùng được hưởng phụng thờ bảo vệ dân trong một vùng. Nay thiên hạ thái bình, nguyện xin đại vương bày rõ uy đức, chớ đem tai ương đến cho dân sinh. Nói xong không thấy đâu nữa.
Vua Hồ tỉnh dậy, mới biết là mình nằm mộng, liền chiêu gọi các phụ lão hỏi rõ đầu đuôi. Vua Hồ biết được quả rất anh linh, có ý giúp lập cơ vận nhà Hồ, bèn ban lệnh cho sửa chữa đền thờ, gia phong cho thần là Đương Giang Quản Gia Đô Bác Đại Vương.
Từ sự tích trên ta có bằng chứng rõ ràng về hiện diện của Cao Vương Biền tại đất Vĩnh Lộc. Hơn thế, khi đó tù trưởng hay thủ lĩnh địa phương tại đây là người họ Trịnh, đã theo Cao Biền làm quản gia. Có thể suy luận, người đã giúp Cao Biền xây hành cung tại Vĩnh Lộc chính là vị Quản Tri quan trung nội ngoại chư khố Trịnh La. Đó cũng là lý do tại sao sau đó khi vua Hồ dời đô về An Tôn đã gặp vị “thành hoàng” họ Trịnh này hiển mộng phù trợ.

2018-04-19

Sơ đồ các điểm di tích trong khu vực thành nhà Hồ ở Vĩnh Lộc (ảnh theo Trung tâm bảo tồn di sản thành nhà Hồ).

Điểm đáng lưu ý khác là như thần tích cho biết họ Trịnh ở đất Vĩnh Lộc đã đời thế làm tù trưởng, từ thời Đường. Sau đó đến thời Lê vùng đất này lại có danh tướng là Trịnh Khả, công thần lập quốc của nhà Lê, cùng tham gia khởi nghĩa với Lê Lợi. Trịnh Khả có cha là Tổng chính (chánh tổng) của vùng Vĩnh Ninh. Tổ tiên trước làm quan triều Trần, có công bình dẹp giặc Nguyên. Như vậy, họ Trịnh trên vùng đất Vĩnh Lộc là thủ lĩnh của khu vực này suốt từ thời Đường tới thời Lê sơ. Sang thời Lê trung hưng lại nổi lên chúa Trịnh, cũng quê ở Vĩnh Lộc, là người nắm quyền điều hành quốc gia trong một thời gian dài.
Như thế rất có thể cội nguồn của các chúa Trịnh, tướng quân Trịnh Khả thời Lê đều bắt đầu từ vị Trịnh La, người xây thành đầu tiên tại đất Vĩnh Lộc dưới thời Cao Vương Biền. Đồng thời, hơn 400 nơi thờ thần Cao Sơn ở Thanh Hóa cũng chính là nơi thờ Cao Biền, vị Tiết độ sứ quân đầu tiên của đất Tĩnh Hải, người xây thành Đại La, Hoa Lư và thành ở Vĩnh Lộc.