Hội thề trung hiếu Đồng Cổ

Đại Việt sử ký toàn thư đoạn chép về sự lên ngôi của thái tử Phật Mã nhà Lý:
Tháng 3, ngày mồng 1 Bính Thân, nhật thực. Ngày Mậu Tuất, vua [Lý Thái Tổ] băng ở điện Long An. Bề tôi đều đến cung Long Đức xin thái tử vâng di chiếu lên ngôi. Ba vương là Đông Chinh [Lực], Dực Thánh và Vũ Đức nghe tin đều đem quân ở phủ mình vào phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh Vương phục ở trong Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục trong cửa Quảng Phúc, đợi thái tử đến thì đánh úp. Một lát sau, thái tử từ cửa Tường Phù vào, đến điện Càn Nguyên, biết có biến, sai người hầu đóng hết các cửa điện và sai các vệ sĩ trong cung phòng giữ, nhân bảo tả hữu rằng: “Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế, mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”
Nội thị là Lý Nhân Nghĩa nói: “Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sứ bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay ba vương làm phản, thì là anh em hay là kẻ thù? Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua”. Thái tử nói: “Ta lấy làm xấu hổ là Tiên đế mới mất chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau, há chẳng để cho muôn đời chê cười sao?”
Nhân Nghĩa nói: “Thần nghe rằng muốn mưa xa thì phải quên công gần, giữ đạo công thì phải dứt tình riêng, đó là việc Đường Thái Tông và Chu Công Đán bất đắc dĩ phải làm. Nay điện hạ có cho Đường Thái và Chu Công là chăm mưu xa, giữ đạo công chăng? Hay là tham công gần, đắm tình riêng chăng? Điện hạ biết theo dấu cũ của Đường Thái, Chu Công thì đời sau ca tụng công đức còn chưa rỗi, còn rỗi đâu mà chê cười!”.
Nhân Nghĩa lại nói: “Tiên đế cho điện hạ là người hiền, đủ để nối được chí, tài đủ để làm nổi việc, nên đem thiên hạ phó thác cho điện hạ. Nay giặc đến vây bức cửa cung mà ẩn nhẫn như thế, thì đối với sự phó thác của Tiên đế ra sao?” Thái tử im lặng hồi lâu rồi bảo Nhân Nghĩa và bề tôi trong cung là bọn Dương Bình, Quách Thịch, Lý Huyền Sư, Lê Phụng Hiểu rằng: “Ta há lại không biết việc làm của Đường Thái, Chu Công hay sao? Chỉ vì ta muốn che giấu tội ác của ba vương, khiến họ tự ý rút quân chịu tội để được vẹn toàn tình cốt nhục là hơn”
Sự kiện Thái tử Phật Mã dẹp loạn Tam vương khi Lý Thái Tổ mất được ví với việc làm của Đường Thái Tông và Chu Công Đán. Khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi gặp phải sự biến cửa Huyền Vũ, Trưởng Tôn Vô Kỵ và Uất Trì Kính Đức đã giết hai anh của Lý Thế Dân là Kiến Thành và Nguyên Cát để giữ ngôi vua cho Thế Dân.
Còn chuyện của Chu Công Đán nhà Chu là việc sau khi đánh bại Trụ Vương, Chu Vũ Vương phong cho 3 người em của mình là Quản Thúc, Hoắc Thúc và Sái Thúc các khu vực gần kinh đô Triều Ca của nhà Ân cũ để giám sát hậu duệ nhà Ân là Vũ Canh. Tuy nhiên, khi Vũ Vương mất, con là Thành Vương lên nối ngôi, ba vị “Thúc” (tức là 3 ông chú của Chu Thành Vương) này cùng với Vũ Canh đã làm phản, phao tin là Chu Công có âm mưu cướp ngôi vua. Chu Công lúc này phụ chính đã cất quân Đông chinh dẹp loạn, giết chế Vũ Canh và Quản Thúc, bắt Hoắc Thúc và Sái Thúc đi đày. Nhờ đó giữ vững ngôi vị cho Chu Thành Vương. Đây là việc làm của Chu Công mà được Thái tử Phật Mã nhắc đến trong loạn Tam vương khi Lý Thái Tổ mất.
Cũng Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Thái Tông:
Phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề. Trước đây, một hôm trước khi ba vương làm phản, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, phải mau đem quân dẹp ngay. Tỉnh dậy liền sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm. Đến đây xuống chiếu giao cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu thành Đại La sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy, đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Các quan từ cửa đông đi vào, đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ, chuyển sang mồng 4 tháng 4.
Khi liên kết 2 đoạn ghi chép trên về sự kiện dẹp loạn Tam Vương của Lý Thái Tông thì chợt nhận ra ý nghĩa của thần Đồng Cổ và hội thề trung hiếu Thăng Long. Thần Đồng Cổ hay thần Trống đồng không phải ai khác chính là Chu Công Đán, người được nhắc đến ở đoạn trích trên. Người đã báo mộng cho Thái tử Phật Mã là Chu Công. Ý nghĩa thực ở đây là Lý Thái Tông muốn ra tay hành động nhưng sợ mang tiếng huynh đệ tương tàn. Vì thế mới lấy gương của Chu Công và sau đó noi theo đó mà lập hội thề trung hiếu để thuyết minh cho hành động này:
Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết“.
Trong cuốn Di huấn vua Hùng mới đây của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng có nhận xét khá hợp lý rằng ngày lập hội thề trung hiếu là ngày mồng 4 tháng 4, ứng với quẻ Thuần Chấn trong Kinh Dịch. Quẻ Chấn có tượng là sấm hay trống nên dùng chỉ thần Đồng Cổ.
Hào ngũ của quẻ Chấn viết: Chấn vãng lai lệ, ức vô táng, hữu sự. Tức là: nghe tiếng sấm đã vội lo, biết lo trước thì tránh được mất mát thiệt hại. Ý hào này tương ứng với từ “đánh động”, nói đến sự cần thiết phải đề phòng, nhằm giảm thiệt hại. Tiếng trống đồng của Chu Công chính đã “đánh động” Thái tử Phật Mã đề phòng và ra tay kịp thời khi lên ngôi.

Cong den Dong Co

Cổng đá đền Đồng Cổ ở Đan Nê (Khả Lao), Thanh Hóa.

Thần Đồng Cổ gốc ở núi Khả Lao bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa. Vậy tại sao Chu Công – thần Đồng Cổ lại ở sông Mã?
Con sông Mã là con sông chảy từ Lào đổ ra biển ở Thanh Hóa Việt Nam. Lưu vực sông Mã là nước Lỗ thời Chu. Lỗ biến âm thành Lào. Chu Công đươc phong ở nước Lỗ nên đền thờ Chu Công nằm ở sông Mã là hoàn toàn có căn cứ.
Thanh Hóa cũng là nơi tìm được chiếc trống đồng đầu tiên nổi tiếng mang tên Đông Sơn. Chu Công là người đã chế ra trống đồng nên được người Việt tôn thờ làm thần Đồng Cổ. Lưu vực sông Mã, gồm cả đất Lào là khu vực tìm được nhiều các trống đồng và tới nay vẫn còn tập tục sử dụng trống đồng.
Tên núi Khả Lao tức là Cả Lào, chỉ Chu Công, người được phong ở đất Lào – Lỗ. Chu Công trong sử Việt còn được gọi là Cao Lỗ, cũng cùng một nghĩa với Cả Lào – Khả Lao.

Den Dong Co

Chính điện đền Đồng Cổ ở Khả Lao, Thanh Hóa.

Câu đối đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê (Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa):
Thiên vi anh địa vi linh, tất Mã giang Tây thanh miếu cổ
Thần đương trung tử đương hiếu, Thăng Long thành Bắc thệ đàn cao.
Dịch:
Trời gây tài, đất kết thiêng, sông Mã dải Tây trong miếu cổ
Tôi giữ trung, con đảm hiếu, Thăng Long thành Bắc đàn thề cao.

Bia Dong Co

Mảnh bia đá ở đền Đồng Cổ tại Đan Nê, Thanh Hóa.

Đền Đồng Cổ ở Thăng Long nơi diễn ra hội thề trung hiếu thời Lý nay ở tại đường Thụy Khuê, Hà Nội. Đặc biệt đền này nằm ngay cạnh đền Voi Phục, nơi thờ Linh Lang đại vương, vị thần trấn Tây của Thăng Long. Trong các bài trước đã xác định Linh Lang đại vương cũng chính là Chu Công, đã dùng ngọn cờ chính nghĩa (trung hiếu) để dẹp phản loạn Vĩnh Trinh – loạn Tam giám và Vũ Canh ở vùng đất Trịnh (Hà Nam, Trung Quốc) thời đầu nhà Chu.

IMG_5098

Đền Đồng Cổ ở Thụy Khuê, Hà Nội.

Hội thề trung hiếu Đồng Cổ là một xác tích rằng thần Trống đồng chính là Chu Công Cơ Đán, vị trung thần hiếu nghĩa, công thần lập quốc của nhà Chu, người đã đúc kết những tinh hoa của Dịch học lên mặt trống đồng Việt.

Đồng Cổ Sơn thần là ai?

Bài của tác giả Hoàng Tuấn Công cho rằng các đền Đồng Cổ ở Thanh Hóa không phải là thờ thần trống đồng mà là thờ thần núi Tam Thai hay núi Khả Lao.
http://nongnghiep.vn/den-dong-co-tho-ai-post159518.html
Xin bàn thêm về ý kiến này.

IMG_9156Đền Đồng Cổ ở phố Thụy Khê, Hà Nội.

Trong thần điện Việt không có “thần núi” với nghĩa là quả núi được tôn lên thành thần. Người Việt không thờ những vật thiên nhiên làm thần, mà chỉ tôn thờ những nhân vật có thật làm thần. Những cái tên gọi kiểu Thần núi, Thần sông… là chỉ “chức danh” của các vị thần, hay của các nhân vật có thật được tôn vinh. Nó tương tự như có ông Chủ tịch phường nhưng ông ta là người thật chứ không phải là “cái phường” được tôn làm Chủ tịch.
Hiểu như vậy thì Đồng Cổ Sơn thần đúng là một vị thần núi, nhưng là một nhân vật lịch sử được đảm nhận vai trò làm thần ở núi Đồng Cổ. Nhân vật đó là ai?
Trong bài trên có dẫn sách Thanh Hóa kỷ thắng:
“…Trong đền thờ thần có trống đồng (…). Nguyên thần là tinh khí của trái núi, rất linh ứng. Xưa Hùng vương đi đánh Chiêm Thành trú binh dưới chân núi Khả Lao, đêm mộng thấy thần nhân nói rằng:
– Nguyện được đem trống đồng đi phù trợ vương chiến thắng.”
Như thế vị thần Đồng Cổ này đã có từ thời Hùng Vương, dùng trống đống trợ vua đánh giặc Chiêm Thành.
Câu đối ở đền Đồng Cổ (Thụy Khê, Hà Nội):
可牢山毓秀鍾英萬古灵聲長不泯
蘇瀝水营祠勒石前朝御墨尚留香
Khả Lao sơn dục tú chung anh, vạn cổ linh thanh trường bất miến
Tô Lịch thủy doanh từ lặc thạch, tiền triều ngự mặc thướng lưu hương.
Dịch:
Núi Khả Lao sinh tú đúc anh, vạn cổ tiếng thiêng dài bất tận
Nước Tô Lịch lập đền khắc đá, tiền triều đề ngự lưu tôn hương.
Chiếu theo dòng sử mới thì vị thần trồng đống chính là Cao Lỗ. Phân tích từ ngữ ta thấy Khả Lao và Cao Lỗ là tương đồng:
– Khả = Cả = Cao
– Lao = Lão = Lỗ, vốn là từ chỉ nước Lào hay nước Lỗ xưa.
Còn có Khả Lao đọc phản thiết là Khao Lả = Cao Lỗ.
Khả Lao hay Cao Lỗ nghĩa là vị thủ lĩnh đứng đầu nước Lỗ hay nước Lào.
Vị trí nước Lỗ xưa là vùng lưu vực sông Mã, tức là phần Bắc Lào và vùng Thanh Hóa ngày nay. Đó cũng là nơi có thần Đồng Cổ và có những nơi sản xuất trống đồng từ xa xưa ở Đông Sơn.
Như vậy Đồng Cổ Sơn Thần chính tướng quân Cao Lỗ hay vị thái sư Chu Công của nhà Chu.
Sự tích Cao Lỗ chế nỏ thần từ chiếc móng rùa của thần Kim Quy chỉ việc Chu Công viết hào từ để hoàn thiện bộ Kinh Dịch, và cũng là chỉ việc Cao Lỗ chế tạo trống đồng, một pho sách Dịch khắc trên đồng. Nhà Hạ có Liên Sơn Dịch, là Dịch khắc trên đá núi. Nhà Thương có Quy Tàng Dịch, là Dịch khắc trên mai rùa (trong hình tượng Thanh Giang – Thương sứ Kim Quy). Còn nhà Chu nay với phát hiện Trống đồng là chiếc nỏ thần của Chu Công – Cao Lỗ thì có thể gọi là Đồng Cổ Dịch – Dịch đúc trên trống đồng. Trống đồng – Dịch lý là ánh sáng soi đường cho người Việt trong đời sống cũng như trong việc chống ngoại xâm.
Đồng Cổ Dịch hay Dịch trống đồng một lần nữa xác định chủ nhân của Kinh Dịch là người Việt và lịch sử văn hoá phương Đông buộc phải viết lại.