Ngọc phả Hùng Vương ở đình Vân Luông, Việt Trì, Phú Thọ.

Bảo Đại năm thứ 13, ngày 10, tháng 3, xã Vân Lung thừa sao.

NAM VIỆT HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢ VĨNH TRUYỀN
Cháu chắt dòng dõi ức vạn năm hương lửa tôn sùng điển thờ

Kỷ Hồng Bàng

Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường, ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.

Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ

Tại vị 130 năm, thọ 173 tuổi, sinh ngày 15 tháng 11 năm Giáp Tí, mất ngày 1 tháng 1. Sinh Đế Nghi năm Giáp Ngọ là con trưởng, sinh Lộc Tục năm Nhâm Ngọ là con thứ, phong làm Kinh Dương Vương cai trị quận Giao Chỉ, Nam Man.

Sử ký Việt Nam

Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành Xích Quỷ, cùng tên nước Xích Quỷ, nay tên là nước Đại Việt An Nam. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.

  1. Kinh Dương Vương
    Chi Càn

Tên húy là Lộc Tục. Tại vị 250 năm, thọ 271 năm. Sinh ngày 4 tháng 1 năm Nhâm Ngọ. Sau hóa sinh về biển Động Đình, cùng với con gái Đế quân sinh ra con trưởng là Sùng Lãm, phong làm Lạc Long Quân Hiền Vương, năm Bính Thìn bắt đầu trị Nam Man.
6 cung phi của Dương Vương sinh 24 nam hoàng tử, 12 nữ cônng chúa, dòng dõi hoàng tôn 36 chi, sinh cháu chắt 592 người. Trị nước thiên hạ chư hầu đều phục, Bách Man, Tứ Di đều quy thuận, các phương tám hướng đều hưởng phúc thái bình, nước không có thuế cao, dân không dối trá.
Hùng Dương Vương Cao hoàng Thái tổ Đức tông Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương thánh tổ Nam thiên Đại bảo Đức tông Thánh vương.

  1. Hùng Hiền Vương
    Khảm chi

Tên húy là Sùng Lãm. Tại vị 269 năm, thọ 506 năm, sinh ngày 5 tháng 5 năm Bính Thìn. Sau ngày 9 tháng 1 hóa sinh về biển làm đế chủ Thủy Tiên Động Đình Long Quân. Hiền Vương lấy nàng Ẩu Cơ Âu Lạc, là con gái thứ của Đế Lai, ở tại núi Nghĩa Lĩnh, sinh một bào trăm trứng, nở ra điều lành trăm trai hoàng tử. Là thủy tổ của Bách Việt, nước Văn Lang, từ lúc sơ khai mở thánh tạo dựng cơ đồ.
9 cung phi sinh 118 hoàng tử, 19 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 137 chi, sinh cháu chắt 3599 người. Cai trị đất nước có khí trời báu vật tài thần, thiên hạ xưa nay không có, sinh trăm vương tử trị một nước trăm vùng chiếm giữ làm trăm họ.
Hùng Hiền Vương Cao hoàng Thái tổ Quốc tông Quang hưng Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Đại bảo Tiền hoàng đế Khai quốc Hồng đồ Nam triều Thượng thánh Tiền đại Đế vương Thánh vương.

  1. Hùng Quốc Vương
    Chi Cấn

Tên húy là Lân Lang. Tại vị 217 năm, thọ 767 năm, giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ, cùng sinh trăm vương năm Canh Ngọ. Sau trăm vương cùng hóa vào giờ Thìn ngày 12 tháng 3. Các vị cùng tụ họp tại điện, 50 vương theo cha, 50 vương theo mẹ. Tương hợp can Tí Ngọ. Quốc Vương là chủ của trăm vương, truyền 18 vua trị nước.
12 cung phi sinh 33 hoàng tử, 18 công chúa, sinh con trai cả là Nghĩa Vương tiếp ngôi cai quản cơ đồ. 51 chi, cháu chắt 900. Giữa ban ngày lên trời hóa sinh bất diệt vào giờ Ngọ ngày 5 tháng 5, lên đỉnh núi, ngự trên mây năm sắc, bay lên không, hóa thần, vạn năm phụng sự.
Hùng Quốc Vương Thượng thánh tông Nguyên triều hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Thánh tổ Hùng Vương Nam Thiên thượng thánh Tiền hoàng đế khai quốc hồng đồ Đột Ngật Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương.

  1. Hùng Nghĩa Vương
    Chi Chấn

Tên húy là Bảo Lang. Tại vị 300 năm, thọ 546 năm. Sinh giờ Mão ngày 6 tháng 1 năm Tân Mùi. Sau giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 hóa là tiên, sinh bất diệt, thành Kim Tiên Thượng Giác, ở nơi cung ngọc, cai quản ba ngàn chúa tiên. Sinh con trưởng là Hy Vương tiếp ngôi truyền 8 vương trị vì.
14 cung phi của vua sinh 49 hoàng tử, 20 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 69 chi, cùng với cháu chắt 1591 người. Thời vua trị vì thiên hạ, thần dân trăm họ không chịu tô cao, không động đao binh, trọng sản xuất nông tang làm căn bản, bốn biển giàu có, thiên hạ vững mạnh. Mỗi suất người dân nộp 36 đồng tại điện.
Hùng Nghĩa Vương Thần tông Ân trạch Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Viễn Sơn Thánh vương Ân trạch Phổ huệ Thánh vương.

  1. Hùng Hi Vương
    Chi Tốn

Tên húy là Viên Lang. Tại vị 200 năm, thọ 599 năm. Sinh ngày 15 tháng 2 năm Đinh Mão, hưởng được tới ngày 20 tháng 5 thì mất. Sinh con trưởng là Diệp Vương, tiếp ngôi truyền 5 vua trị vì.
36 cung phi của Vương sinh 52 hoàng tử, 9 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 61 chi, sinh cháu chắt 1600 người. Thời Vương cại trị hưởng thái bình, dân không dối trá, thiên hạ vững mạnh, quân binh giữ yên. Theo như lệ trước. Mỗi suất đinh nộp 36 đồng.
Hùng Hi Vương Cao tông Trợ thắng Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Ất Sơn Thánh vương Trợ thắng Công bình Hoàng đế.

  1. Hùng Diệp Vương
    Chi Ly

Tên húy là Pháp Hải Lang. Tại vị 81 năm, thọ 580 năm. Sinh ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tí. Hóa về trời ngày 7 tháng 1. Sinh con cả là Huy Vương.
48 cung phi của Diệp Vương sinh 32 hoàng tử, 19 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 52 chi, cháu chắt 699 người. Vương trị thiên hạ tuân theo phép trước, nộp 36 đồng tiền. Do Vương cầu trời dùng lễ dối, quần thần dèm pha, trời sinh giặc phương Bắc xâm lược.
Hùng Diệp Vương Bảo tông Minh vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Bách Việt thần linh Nam thiên Đại bảo Nhân viên Minh vương Thánh vương.

  1. Hùng Huy Vương
    Chi Khôn

Tên húy là Long Tiên Lang. Tại vị 200 năm, thọ 692 năm. Sinh ngày 10 tháng 10 năm Tân Dậu. Sau vào ngày 15 tháng 7 hóa sinh ở trung điện thành tiên bất tuyệt. Lấy nàng Ngọc Tiêu ở Đảo Sơn làm hoàng chính phi, sinh con trưởng là Ninh Vương, tiếp vị truyền 5 vua trị vì.
Huy Vương truyền 7 vua trị vì. 60 cung phi sinh 23 hoàng tử, 36 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 59 chi, sinh cháu chắt 750 người. Thời Vương trị vì, thiên hạ thái bình, chư hầu thành phục, nhân dân không có trộm cướp, giặc giã, không thu thuế cao, mỗi suất đinh dân nộp ngân khố 18 đồng.
Hùng Huy Vương Thái tông Nhân minh Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hiển đức Nhân minh Quang thiên Phổ hoá Thánh vương.

  1. Hùng Ninh Vương
    Chi Đoài

Tên húy là Thừa Vân Lang. Tại vị 100 năm, thọ 642 năm. Sinh ngày 15 tháng 7 năm Nhâm Thìn. Về trời ngày 11 tháng 10. Sinh con trưởng là Chiêu Vương, tiếp ngôi truyền 5 vua trị vì.
29 cung phi của Ninh Vương sinh 31 hoàng tử, 16 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 47 chi, sinh cháu chắt 579 người. Trị thiên hạ thái bình, dân đinh nộp mỗi suất 24 đồng tiền vào ngân khố.
Hùng Vĩ Chiêu Vương Hiển tông Duệ trí Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thánh văn Thần võ Duệ trí Chí đức Vương.

  1. Hùng Chiêu Vương
    Chi Giáp

Tên húy là Quốc Tiên Lang. Tại vị 80 năm, thọ 602 năm. Sinh ngày 12 tháng 8 năm Quý Tị. Về trời ngày 10 tháng 4. Uy Vương là con trưởng nối ngôi.
46 cung phi của Vương sinh 30 hoàng tử, 9 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 42 chi, sinh cháu chắt 559 người. Trị thiên hạ thái bình. Dân đinh theo vua trước nộp 36 đồng vào ngân khố.
Hùng Chiêu Vương Minh tông Thần công Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thích long Nghĩa Lĩnh Thần công Dũng lược Thánh vương.

  1. Hùng Uy Vương
    Chi Ất

Tên húy Hoằng Hải Lang. Tại vị 90 năm, thọ 512 năm. Sinh ngày 15 tháng 11 năm Giáp Ngọ. Về trời ngày 6 tháng 11. Sinh Trinh Vương là con trưởng nối ngôi, truyền 3 vua trị.
40 cung phi của Vương sinh 29 hoàng tử, 30 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 59 chi, sinh cháu chắt 434 người. Trị thiên hạ bốn biển, dân đinh theo lệ triều trước nộp khố 36 đồng tiền.
Hùng Uy Vương Hùng tông Xuân vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hùng đức Chiêu nhân Quang hiếu Xuân vương Thánh vương.

  1. Hùng Trinh Vương
    Chi Bính

Tên húy là Hưng Đức Lang. Tại vị 1 07 năm, thọ 5 14 năm. Sinh ngày 13 tháng 8 năm Canh Tuất. Về trời ngày 2 tháng 1. Sinh Võ Vương là con trưởng nối ngôi truyền 4 vua trị.
36 cung phi của Vương sinh 46 hoàng tử, 18 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 64 chi, sinh cháu chắt 409 người. Trị nước an bình, thần dân trăm họ không chịu thuế cao, không bị quân binh chiếm cứ. mỗi suất 9 đồng nộp khố.
Hùng Trinh Vương Đức vương Minh bảo Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hiển liệt Thánh trí Thai yết(?) Minh bảo thánh vương.

  1. Hùng Võ Vương
    Chi Đinh

Tên húy là Hiền Đức Lang. Tại vị 96 năm, thọ 496 năm. Sinh ngày 14 táng 4 năm Bính Thân. Về trời ngày 15 tháng 11. Sinh Việt Vương là con trưởng truyền 3 vua trị.
35 cung pho của Vương sinh 50 hoàng tử, 6 công chúa , dòng dõi hoàng tôn 56 chi, sinh cháu chắt 305 người. Trị nước thanh bình, trăm nhà đều phục. Mỗi suất đinh nộp khố 6 đồng tiền.
Hùng Võ Vương Thánh tông Thượng giác Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hoàng Đại giác Thần trí Thánh vương.

  1. Hùng Việt Vương
    Chi Mậu

Tên húy là Tuấn Lang. Tại vị 105 năm, thọ 502 năm. Sinh ngày 10 tháng 10 năm Kỷ Hợi, Về trời ngày 15 táng 11. Sinh Định Vương là con trưởng truyền 5 vua trị.
31 cung phi của Vương sinh 27 hoàng tử, 30 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 57 chi, sinh cháu chắt 541 người. Trị nước thái bình, dân không dối trá. Mỗi suất đinh nộp khố 100 đồng.
Hùng Việt Vương Huy tông Quang phúc Hoàng đế.
Mỹ tự truy phong
Hùng Vương Thiên tâm Quang phúc Vương tướng Linh ứng Thánh vương.

  1. Hùng Định Vương
    Chi Kỷ

Tên húy lầ Chân Nhân Lang. Tại vị 99 năm, thọ 386 năm. Sinh ngày 17 tháng 5 năm Bính Dần. Về trời ngày 25 tháng 10. Sinh Triều Vương là con trưởng truyền 3 vua trị.
18 cung phi của Vương sinh 18 hoàng tử, 22 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 40 chi, sinh cháu chắt 309 người. Trị nước thái bình, bốn phương yên tĩnh, dân đinh nộp thuế 1 bách tiền vào khố.
Hùng Định Vương Tông quốc Bảo hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Quốc bảo Tuyên đức Thần công Thượng trí Thánh vương.

  1. Hùng Triều Vương
    Chi Canh

Húy Cảnh Triều Lang. Tại vị 94 năm, thọ 286 năm. Sinh ngày 4 tháng 1 năm Quý Sửu. Sau về trời ngày 9 tháng 9. Sinh con trưởng là Tạo Vương tiếp ngôi truyền 3 vua trị.
60 cung phi của Triều Vương sinh 40 hoàng tử, 16 công chía, dòng dõi hoàng tôn 56 chi, sinh cháu chắt 396 người. Trị nước thiên hạ thái bình. Dân đinh mỗi suất nộp 18 đồng vào khố.
Hùng Triều Vương Nhân tông Quang đức Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Nhân chiêu Quang đức Thần trí Đại nguyên Thánh vương.

  1. Hùng Tạo Vương
    Chi Tân

Tên húy Đức Quân Lang. Tại vị 92 năm, thọ 273 năm. Sinh ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Tị. Sinh con trưởng là Nghị Vương, truyền 3 vua trị.
26 cung phi của Tạo Vương sinh 30 hoàng tử, 7 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 37 chi, sinh cháu chắt 390 người. Trị nước thái bình, trăm họ thần dân giàu đủ, đinh mỗi suất 200 đồng tiền nộp khố.
Hùng Tạo Vương Nghị tông Thiên bảo Quang triều Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thánh tổ Nam Thiên Đại bảo Tiên triều Thánh vương.

  1. Hùng Nghị Vương
    Chi Nhâm

Tên húy là Bảo Quang Lang. Tại vị 160 năm, thọ 217 năm. Sinh ngày 15 tháng 8 năm Ất Dậu. Về trời ngày 11 tháng 8. Sinh con trai cả là Duệ Vương truyền 4 vua trị.
39 cung phi của Vương sinh 22 hoàng tử, 15 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 37 chi, sinh cháu chắt 291 người. Triị nước lâu dài tốt đẹp, dân đinh mỗi suất nộp 300, ruộng mỗi đầu thuế 10 đồng. 50 đinh lập 1 đội binh.
Hùng Nghị Vương Thụy tông Nam triều Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hoàng bảo Thánh tổ Nhân hoằng Huệ đức Thánh vương.

  1. Hùng Duệ Vương
    Chi Quý

Tên húy là Huệ Đức Lang. Tại vị 115 năm, thọ 227 năm. Sinh ngày 3 tháng 3 năm Canh Thân. Sau vào ngày 5 tháng 5 hóa sinh cùng với con rể là Tản Viên Sơn, ban ngày lên trời, trên thượng điện thành tiên, sinh sinh bất tuyệt diệt, tung tích vạn cổ, là thánh vương thiên vương tối linh, kiêm đứng đầu thượng đẳng bách thần. Truyền 5 con trại cai trị. Đầu tiên truyền cho con trưởng là Kính Vương tiếp ngôi, trị được 3 năm thì mất. Sau truyền ngôi cho con thứ là Cảnh Nhiếp Lang, thống trị được 10 năm thì mất. Lại truyền cho cháu được 3 năm tại vị cũng mất. Vương truyền cho con rể Tản Viên giữ ngôi, theo mệnh vua cha mà ban lệnh chế, quyền định thiên hạ, trị vì được 10 năm. Cha con đồng tầm muốn thành tiên, giác ngộ phép thần thông, hưởng vạn năm thiên tiên bất diệt. Nên mới nhường ngôi cho Thục An Dương Vương, cũng là cháu chắt dòng dõi Hùng Vương, tông phái của hoàng đế trước đây, là cháu 19 đời của bộ chủ phụ đạo. Duệ Vương có 100 cung phi, đam mê tửu sắc, sinh 20 hoàng tử, 6 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 26 chi, sinh cháu chắt 194 người. Đến lúc vận cáo chung họ Hùng, 10 nam 4 nữ đều mất, không có con nối dõi. Còn 2 nữ, một là Mị Châu Tiên Dung công chúa lấy Trử Đồng Tử, thành tiên bất diệt. Một là Mị Nương Ngọc Hoa công chúa, lấy Tản Viên Sơn Tinh, nhận ngôi là con rể, một vị vua tốt, trị nước được 10 năm thì nhường ngôi lại cho Thục An Dương Vương. Duệ Vương cùng Tản Viên Sơn cha còn cùng một ngày thành tiên, hóa sinh bất diệt, vạn thế xưa nay không từng có, là những bậc đại thánh minh quân của thiên hạ.
Từ đầu tính nước họ Hùng 18 đời truyền ấn phù quốc gia, 180 đại đế vương lên ngôi, nhất thống núi sông, xe sách trị nước, kiến dựng 120 thành điện.
Hùng Duệ Vương Thiên tông Minh vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thần linh Hải đức Minh vương Nam triều Thánh vương.

Như vậy cộng các năm trị vì, 18 đời thánh vương di truyền, thánh tử thần tôn, triều đại đế vương, hưởng ngôi cộng là 2655 năm, thọ 8618 năm, sinh 986 chi hoàng tôn công chúa, sinh cháu chắt cộng là 14.370 người, trị ở nước Nam, đầu núi góc biển, vạn thế trường tồn, mãi mãi không ngừng.

THƯỢNG THẦN CUNG ĐIỆN
Viễn Sơn thánh vương (bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Hiển linh Thống thủy Điện an Hoằng tế Phổ hóa Minh túc Hậu ứng Quảng Huệ Uy hàm Diễn đức công Thánh vương (bài vị giữa)
Ất Sơn Thánh vương (bài vị phải)

TRUNG THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương (bài vị giữa)
(bài vị phải) 

HẠ THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
(bài vị giữa) Tên hiệu cũng giống như Trung Thần Cung
(bài vị phải) 

Ngày 15 tháng 1 năm Thiên Phúc thứ nhất. Thuộc thư ký Lê Đại Hành.

 

 

Vân Hương Tiên chủ thánh mẫu hành thuật tán văn

20190203_190706.jpgQuần tiên lục bàng cầu dật tích
Nữ trung tiên biến biến lưu phương
Phục giáng tuyết đảo huyền sương
Ly sơn lưu mạch dư hàng nhưỡng hoa.

Cao hoá đạo thừa nga ly tục
Hoa sơn đầu giá lộc thăng thiên
Du du nhất khứ nhi tiên
Kỷ hội tung tích lưu truyền tại nhân.

Cố vị hữu nhất thân kim cổ
Nữ nhi tiên nhi chủ nhi thần
Chỉ duyên hiếu thuận toàn chân
Cảm thiên chí đức động nhân chí thành.

Cố vạn thế tinh linh bất diệt
Dữ sơn hà nhật nguyệt vô biên
Lục kỳ tế duyệt di biên
Địa chung Thiên Bản sự truyền Vân Hương.

Duy tiên chủ Ngọc Hoàng chi tử
Thị quỳnh diên ngẫu truỵ ngọc bôi
Giáng sinh phụng mệnh khâm tai
Văn minh chi địa tài bồi chi gia.

Ngôi sơn hạ vân hoà thảo tĩnh
Hoà đao gia phúc khánh môn my
Hương phong thuỵ khí tiêu kỳ
Ngọc kim lệ chất ưng kỳ đĩnh sinh.

Thiên phú tính thông minh quả thất
Đàn nhi thi âm luật tinh thông
Ngâm thành xuân hạ thu đông
Thiên nhiên đại lã hoàng chung ca từ.

Quảng Hàn điện nhất chi đan quế
Nhất di tài thiên lý văn hương
Trần gia thư viện liên phương
Hoa di tín báo Đào lang duyên hài.

Nhất đế sở giáng lai tinh khách
Nhất thiên cung bất trích tiên nhân
Sắt cầm cộng khế túc nhân
Tam gia tình hảo lục thân hoan thừa.

Loại vĩnh tích tường trưng lân chỉ
Tam chu tinh song kỷ thái chiêm
Mộ xuân nhật trị trùng tam
Ngọc đình phản mệnh châu liêm không thuỳ.

Tuy linh sảng dĩ quy thiên thượng
Niệm thâm tình do hướng nhân gian
Hô ta hạc phát đà nhan
Cù lao vị báo thần hôn vị thù.

Canh hu ta cữu cô nhật dạ
Bão nhi tôn nan tả hoài tư
Hu ta lưỡng cá anh nhi
Vị chu tam tuế dĩ ly mẫu hoài.

Báo hu ta nhi hài thân lão
Đồng tâm nhân cầm tháo ly loan
An năng tương bạn tiên đàn
Tôn thư tả mại hạ sơn trợ bần.

Hựu an đắc tịch thần lai vãng
Mã thị canh nhật thượng thân tiền
Kỷ hồi yến hội quần tiên
Hồng bào vũ thấp kim điền châu linh.

Chư tiên nữ liên tình vy tố
Phụng sắc phong công chủ giáng trần
Biệt lai thúc hốt lưỡng xuân
Đại tường thích chí từ thân lai phòng.

Liêm cao quải vãn phong phi phất
Hộ trưởng quynh tà nhật tịch liêu
Bích gian chu chức ngọc tiêu
Trần phong kính hạp hương tiêu bút đài.

Sơ đổ vật bồi hồi hạt ký
Hốt tư nhân đảo truỵ nan cấm
Ninh tri chủ dĩ lai lâm
Ngọc câu bão khởi loan âm tiến từ.

Vị đốt đốt nữ nhi tại thử
Nguyện mẫu thân vô sự tương tư
Tĩnh khán hỷ hỷ bi bi
Ngô nhi hà xứ hà thì đắc lai.

Tín tức hạ trúc mai nhất thất
Hàn huyên trung giao tất lưỡng tình
Thuỷ tướng tâm sự đề minh
Trần hoàn trích mãn đế đình triệu quy.

Niệm cúc dục mẫn tư vị báo
Cố kim tư ngôn cáo quy ninh
Tam hồn tuy tạm hồi sinh
Dĩ phi cửu phách nan đình thử gian.

Gia nương cộng tiên ban danh liệt
Nhật hạ hoàn kim khuyết tương phùng
Vạn thuyền bất tận hung hung
Hốt gian hạc dĩ đằng không hà thì.

Lương nhân hà biệt ly thử hậu
Thiết hài nhi tuỳ phụ thượng kinh
Cô trai nhật nhật thường quynh
Sầu đôi kinh tứ muộn sinh văn phòng.

Thu dạ tĩnh hàn song vũ chích
Cảnh như liêu lữ khách tàn hồn
Bão sồ ám phất mỗi ngân
Cảm hoài nhị tuyệt thất ngôn ngẫu thành.

Đê ngâm bất cảm thanh văn ngoại
Bão tất không toạ đối tàn lê
Hốt văn thanh khấu sài phi
Khai môn địch diện vãn y hân tình.

Ty nhân hạnh thử sinh đa phúc
Phối dao tư tử dục thân hoan
Na kham giáp trướng sương hàn
Thiên biên lạc nhạn vân gian phi hoàng.

Kim bất tưởng tha hương tái ngộ
Nguyện tương thung dĩ phó khát trần
Văn ngôn giải thuyết ân cần
Hồng trang ước đoản thanh vân lộ trường.

Huống thượng hữu cao đường trĩ tử
Phủ dục kiêm ngưỡng sự vị hà
Tam sinh ân ái do đa
Giai kỳ bất viễn tinh hà tái đông.

My án thượng thung dung thiện đạo
Dĩ tu tề trung hiếu vy cương
Kinh thành liệu hoả lưu quang
Thần chung báo thự hiểu trang trí từ.

Niệm đường thượng nghiêm từ thần tịch
Vọng lang quân lân bích phân quang
Thiên thần hàn úc bất thường
Tình liên bán tử nghĩa thường tam sinh.

Thuyết bất tận đinh ninh chúc phó
Hoảng hốt gian giá vụ đằng vân
Thung tư hiển thánh ẩn thần
Sơn phong phượng giá hải tân kình xa.

Hữu thì tác lão bà khai tứ
Hữu thì vy nữ tử xuy tiêu
Y thuỳ hý mạn ương chiêu
Y thuỳ thành kính đảo cầu tất linh.

Thì kim bạch gia đình phụng sự
Vãng lai trung lịch kỷ xuân thu
Sinh thành đại đức dĩ thù
Lương nhân tuỳ diệc chân du hữu kỳ.

Tất hạ lưỡng thượng di tiên chủng
Y gia huynh diệc cộng hữu thành
Trần duyên tiệm giác khinh khinh
Vân du tứ hải phóng tình phiêu nhiên.

Lịch lãm tận sơn xuyên danh thắng
Lượng sơn lai nhất tịnh phù đồ
Thập phân cảnh trí ưu du
Tùng thương tế nhật mai cù ngạo sương.

Hương hoả dĩ thê lương kỷ lịch
Cổ chung hoàn tịch mịch đa niên
Bà tâm phủ cảnh tam thiền
Tùng biên kỷ khúc khấu huyền độc ca.

Hốt môn ngoại khách hà nhân giả
Ủng tiết mao tuấn mã lai tiền
Biến văn tả cảnh sổ liên
Khách tài xướng khởi chủ liên đáp từ.

Văn ưng đối ninh tri kính phục
Khấu lai do tướng dục vấn tân
Khách phương phủ thủ liễm thân
Đài đầu hốt dĩ vọng trần vô do.

Già lam lý tứ chu phản phúc
Lâm kính gian nhất mộc đáo hoành
Tự đề mão khẩu phân minh
Mã băng dĩ tẩu bàng kình chu tiêu.

Nhân tự ý tam cầu áo nghĩa
Mão khẩu gia mộc thị thần phong
Mã băng hợp thể thị phùng
Dĩ tẩu thị cáo khởi công tu hoàn.

Khách nguyên thị Khắc Khoan Phùng tính
Bắc sứ nhân phụng mệnh đồ kinh
Tế tư thần ý đinh ninh
Chi viên xướng tạo sử trình vịnh lưu.

Tiên tích biến chu du đề vịnh
Đế vương cư phục hạnh Đông đô
Trường An thành ngoại danh khu
Đông tân ngoạn nguyệt Tây hồ thưởng liên.

Phồn hoa xứ vô duyên nan ngộ
Du thưởng nhân đắc lộ y thuỳ
Phùng công tứ mẫu ngôn quy
Khanh tào thăng nhậm lại ty yếm phiền.

Nhân đới lưỡng đa niên thi khế
Sấn huân phong tu hễ hồ Tây
Phong quang đáo xứ phẩm đề
Nang thu thắng thưởng tụ huề kỳ hương.

Bộ nhất bộ đốn vong trần luỹ
Hành phục hành tiệm chí tiên châu
Hoè âm thâm xứ tửu lâu
Hoa lan tráp trúc hoàng lưu nhưỡng bồ.

Hoành biển tả Tây hồ phong nguyệt
Thập tự liên đối yết lưỡng doanh
Sơ liêm quải hạ ngọc quynh
Hồng y nương tử ỷ bình xuy tiêu.

Khách thi lễ nguyện cầu hưu giả
Chủ trí từ nhất toạ hà phương
Thi thần tửu thánh nhất đường
Quan ngư tục vận hựu trường liên ngâm.

Đông bích thượng nghiên tầm đề thoại
Hoạch lâu tiền thính tiên cuồng ca
Linh tâm tuệ tính lương đa
Nhất thì khuất đại gia kinh hoàng.

Tây lĩnh dĩ tà dương ảnh xạ
Khách trình thừa nguyệt dạ quy lai
Đào nguyên tái phỏng hậu hồi
Mang mang hồ thuỷ lâu đài toàn phi.

Hoè thượng thính mãn chi thiền táo
Thụ gian lưu lưỡng đạo triện đề
Tĩnh quan thi cốt thanh kỳ
Cựu du đốn ngộ tích thì phùng tiên.

Phùng công du du nhiên tưởng khởi
Thuyết đương niên phụng sử đồ trung
Phương tri không sắc sắc không
Thần tiên phi ảo tao phùng hữu duyên.

Tiên chủ tự Trường An biệt hậu
Nghệ An thành phục đáo sóc hương
Thanh sơn bích thuỷ thảng dương
Tử hồng hoa tín sinh hoàng điểu thanh.

Thích hữu nhất đình đình giai sĩ
Nhật vãn thung sơn lý xuất thân
Nguyên lai khế khoát tiền nhân
Tình duyên vị liễu hạ trần tái sinh.

Thể mạo tỷ thuỷ thanh ngọc nhuận
Khâm hoài đồng nguyệt ấn thuỷ hàn
Niên hoa phủ cập dịchquan
Tài cao bát đẩu học đàn ngũ xa.

Bất hạnh tảo liệu nga lưu thế
Thất như huyền kháng lệ vị hài
Thử gian học quán trung lai
Ninh tri lộ nhập thiên đài hoát đầu.

Sắc giới cẩn nan hào tố chí
Kỳ phùng lâm bất ký tiền duyên
Tha thì trùng quá sơn biên
Đào gian thích kiến hồng tiên lưu đề.

Lãng tụng quá đê mê trù trướng
Thán dị tài bất nhượng cổ nhân
Đa tri hậu ý ân cần
Tả biên thứ vận hiệu tần liên thư.

Bút nhất trịch thân như mộng giới
Dục tương thung tranh nại mạt do
Lạc huy ám xúc quy đồ
Nhất phiên phong vũ tam thu tình hoài.

Thâm viện tĩnh tần hạc ngâm hưng
Tình thiên khai tái đính tiền trình
Thi tiên y cựu đan thanh
Ngọc nhân bất kiến vy tình lương nan.

Sinh độc toạ bàn hoàn bất tận
Ngâm tái ngâm thi vận thiêm tân
Thuỳ tri thanh khí tương thân
Kim thanh vị khuyết ngọc chân dĩ truyền.

Vân nham lý kim liên từ động
Thạch kỷ trung thương phượng chiêm từ
Tái sinh cựu ước bất khi
Thiên công tác chủ địa kỳ vy môi.

Tử gia vãng kính tai thủ chức
Khuê môn tu tứ đức kiêm toàn
Xướng thù nguyệt hạ hoa gian
Kê minh tối kính thư quan dương hoà.

Hùng mộng ưng thừa gia vọng uỷ
Long môn đăng thệ sĩ tâm thù
Công đường dạ trị thâm thu
Kim lôi đối chước hương lô tịch hàn.

Chủ hạ giác tiềm thoan lệ tấn
Sinh thất kinh vấn tấn tình đầu
Tần my hân tận tiêu háo
Ngọc bôi vãng sự bích đào tiền duyên.

Lai hoàn vãng tự thiên tố định
Hợp nhi ly phủ cảnh nan bài
Hứa đa khoản khúc bồi hồi
Gia đan thuỳ cộng nhi hài hà y.

Sinh kiến thuyết hư hy lưu luyến
Chủ tuỳ phương giải khuyến thung dung
Tam canh lậu chích đồng long
Đái nhi bái biệt thượng không phi tường.

Môn ngoại hoảng du dương tiên nhạc
Thiên trung do thác lạc hồng vân
Hàn lâm tự cách tiên trần
Tích sầu vạn hộc thương thần liên chương.

Thân tuy tại ngọc đường kim mã
Chí không tuỳ hạc giá loan xa
Bệnh hài tảo thoát hoạn ba
Đào lâm cựu xứ yên hà thê thân.

Thị hạ tử thành nhân kế nghiệp
Thiên thượng nhân vọng khiếp tâm khoan
Chủ tòng quy thị ngọc ban
Nam du nhạc bĩ thiên nhan phán truyền.

Thừa thanh vấn phủ tuyên đan khổn
Công án hoàn tư dĩnh vị vong
Duy kỳ trắc giáng vô thường
Đạo dao tự tại dĩ thường túc duyên.

Phụng Ngọc Đế bệ tiền duẫn chỉ
Đới tiên nương nhị vị đồng hành
Dao chiêm thuỷ tú sơn thanh
Thanh Hoa Phố Cát hiệp linh lâm trần.

Diệu pháp lực thánh thần hiển hiện
Hoạ dâm nhi phúc thiện bất si
Nhất phương thâu phúc khổng giai
Tuế thì ca vũ lâu đài nguy nga.

Hoặc hữu chỉ vy tà đạo giả
Thỉnh triều đình triệt hạ linh từ
Vương uy thuỳ cảm trì vy
Khởi tri tiên pháp tối kỳ tối linh.

Tự linh điện nhất kinh hoang phế
Thử phương dân dịch lệ lưu hành
Ngưỡng thừa giáng kỳ phân minh
Cựu từ bất khởi sinh linh vô tồn.

Văn thần mệnh hương thôn lôi động
Khấu đế hôn đại chúng đồng từ
Cửu trùng phủ sát dân y
Mã Hoàng phong sắc miếu từ trùng tân.

Nhưng hoài nhất phương dân phụng sự
Hữu sự cầu nhẫm trước anh linh
Bình Nhung mặc trợ thiên binh
Đại vương đăng trật miếu đình tăng tu.

Chí kim biến hoàn khu hương hoả
Tiên phủ giai phật toạ đồng tôn
Linh thanh bá mãn càn khôn
Bảo dân hộ quốc công tồn thiên thu.

Phàm tiên tích cựu du thử địa
Vưu hiển linh trước dị bội thường
Ích do hiếu thuận can trường
Kim cương bất hoại tang thương đẳng nhàn.

Tự bất tất kim đan chử bạch
Tự bất hối ngọc dịch thiêu hồng
Tự năng thượng hạ thiên cung
Tự năng Ngọc nữ Kim đồng vãng lai.

Năng biến hoá đan đài tử phủ
Năng đạo dao ngọc vũ quỳnh lâu
Năng linh vũ tán vân thu
Năng tuần hổ báo, năng khu long xà.

Năng hoạ sát dâm tà ác loại
Năng phúc sinh hiếu nghĩa thiện nhân
Năng linh si mị tiềm thân
Năng linh bát bộ quỷ thần kính khâm.

Năng tiêu tán trùng âm hắc khí
Năng khoát khai đại địa hôn cù
Thượng năng dực tán hoàng đồ
Hạ năng bảo hữu minh đô thanh bình.

Dực Chẩn hạ hà thanh hải yến
Ngôi sùng gian địa viễn thiên trưởng
Tán văn cẩn thuật nhất chương
Nguy nguy đại đức hoàng hoàng hữu lâm.

Chiêm thiên ngưỡng thánh vô nhậm!

Thục An Vương

Phần dịch Ngọc phả Hùng Vương của GS Ngô Đức Thọ về thời Thục Vương (đoạn cuối):

Thục Vương (là chúa Phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương) từ xa nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho Tản Viên, bèn đem quân sang đánh Hùng Tuyền Vương để xâm chiếm nước Nam. Vua (Tuyền Vương) binh hùng tướng mạnh, Thục Vương mấy lần bị đánh bại. Vương bảo với Thục Vương: “Ta có sức thần, Thục Vương không sợ sao?”
Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn còn say khướt chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục. Hùng Vương bèn đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng khoanh tròn như hình con ốc, gọi là Loa Thành. Mới đầu thành đắp đến đâu đổ đến đấy. Bỗng thấy một con rùa vàng trên sông từ phía đông bơi đến, xưng là Giang sứ. Hùng Vương lấy mâm vàng đặt rùa lên đấy rồi hỏi rùa vì cớ gì mà thành đắp cứ đổ mãi? Rùa vàng đáp:
– Đó là do quỷ hại. Phải trừ tinh khí của nó đi thì thành tự nhiên đắp xong.
Tuyền Vương đem rùa vàng đến một ngôi quán gần bên núi Thất Diệu giả làm khách đi đường vào ngủ trọ. Đêm ấy tinh quỷ ở bên ngoài gọi mở cửa. Rùa vàng hét to một tiếng, quỷ không vào được, đến khoảng gà gáy quỷ binh tan chạy cả. Rùa vàng bảo vua theo vết chân quỷ mà đuổi, đến núi Thất Diệu thì tinh khí của chúng bị thu nhốt hết. Tuyền Vương sai đào núi lên, thu đựoc một cỗ nhạc khí cổ và mấy bộ xương người. Vương sai đốt huỷ, đổ tro xuống sông, đến khi ấy yêu khí của ma quỷ mới trừ hết.
Từ đó việc đắp thành của Tuyền Vương không quá nửa tháng là xong. Rùa vàng từ tạ ra đi, rút một chiếc móng đưa cho Thục Vương mà dặn rằng:
– Quốc gia yên nguy có số trời, nhung người cũng phải có phòng bị. Nếu thấy giặc đến thì dùng móng thiêng này làm cái lẫy nỏ mà bắn thì vương không có gì phải lo!
Hùng Tuyền Vương bèn sai bề tôi là Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy cái vuốt thiêng làm máy, đặt tên là “Linh hoa kim trảo thần nỗ”. Sau khi đã có nỏ thần, Hùng Tuyền Vương thu họp tàn quân, tuyển thêm dân binh, rồi sai người đưa thư cho Tản Viên, nói: “Thục Vương đem quân sang đánh, đã chiếm đô thành của ta, khanh mau đem quân đến cứu viện”
Tản Viên bèn dẫn binh mã thẳng đến Loa Thành, dàn quân đối trận với Thục Vương để khuếch trương thanh thế. Mấy hôm sau Tản Viên khuyên Hùng Tuyền Vương:
– Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm lấn nước ta. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của tiền Hoàng Đế. Nay quốc thế không được bình thường, cũng là chuyện do tiền định. Vua có yêu riêng gì một cõi đất phương nam mà cưỡng lại ý trời, làm hại sinh linh? Vả lại bệ hạ và thần đã có phép thần tiên, không gì hơn là quay về chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển, tiêu dao ở làng quê bất lão, thanh nhàn nơi gác phượng lầu rồng, há phải nhiễm bẩn bụi trần, vàng ngọc châu báu cũng chẳng bằng mảy lông, ngọc nữ tiên đồng cũng chỉ mát mắt chốc lát. Trí lực như thế mới thật là cao!
Tuyền Vương cho là phải. Rồi Tuyền Vương sai đưa thư nhường nước cho Thục Vương. Thục Vương sai sứ đến tạ ơn. Tuyền Vương nhân đó tặng cho Thục vương chiếc nỏ thần, rồi trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng với Tản Viên Sơn Tinh biến hoá vào cõi hoá sinh bất diệt.
Thục An Vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn đức trời biển của Hùng Tuyền Vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trong núi, chỉ tay lên trời thề rằng:
– Nguyện trời cao mây xám lồng lộng xét soi: nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng Vương nơi đây nếu vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.
Đọc lời khấn xong, Thục Vương lạy tạ rồi lên xe trở về kinh đô Phong Châu, cho triệu các dòng phái cành vàng lá ngọc của dòng họ Hùng ban cho danh hiệu Trung Nghĩa hương (làng Trung Nghĩa), cấp cho dân tạo lệ hưởng dụng lâu dài, cấp 500 mẫu ruộng ở gò Nghĩa Lĩnh thuộc bản thôn. Lại cấp cho các cánh ruộng ở nhiều địa phương để thu tô thuế: trên từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, dưới đến các xã ở Việt Trì hàng năm nộp hoa lợi để dùng vào việc đèn hương phụng thờ 18 đời vua Hùng từ Thánh tổ Cao hoàng đế đến các vua kế đời truyền nối.
Thục An Vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú quận Nam Hải, Triệu Đà làm lệnh doãn huyện Long Xuyên (Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ). Câu đối ở miếu:
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cạnh nhĩ sổ lý thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Khai vật tế nhân, tưởng Việt thành thâu túc, t
huỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận dĩ khải hồng đồ.
Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biêt Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết. Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, không hiệu nghiệm. An Vương bẻ nỏ vứt đi rồi lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thủa.
Ô hô! Thịnh thay!

Năm Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470), mùa xuân, tháng Ba, ngày tốt.
Hàn lâm viện trực học sĩ NGUYỄN CỐ phụng soạn.

Sơn Tinh Thủy Tinh

Dịch đoạn Ngọc phả Hùng Vương đời thứ 18:

Truyền tới Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tám mươi năm.
Hùng Trinh Vương, một trăm bảy mươi năm.
Hùng Võ Vương, chín mươi sáu năm.
Hùng Việt Vương, một trăm lẻ năm năm.
Hùng Định Vương, chín mươi chín năm.
Hùng Triều Vương, chính mươi hai năm.
Hùng Nghĩ Vương, hai trăm năm.
Trải qua 16 đời, đều xứng là thời Trị Bình. Truyền đến đời Hùng thứ mười bảy là Hùng Nghị Vương, một trăm sáu mươi năm. Vua lập thái tử là Hùng Tuyền vương, kế nối chính thống. Tuyền Vương có tư chất thánh triết, anh hùng dưới trời, trong sửa võ lược, ngoài giữ biên cương, dốc chí hưng thịnh trị bình, giữ yên Trung Quốc. Xa noi nền trị của các bậc tiền vương, kính sùng trời đất, kính trọng quỷ thần, trời ban phúc lành, mến giúp quốc sự. Vì thế Vua càng gia tăng sùng chuộng, kính tín thần nhân, truyền hịch cho thần dân thiên hạ sửa thêm đền miếu, nghi vệ trang nghiêm, ngày ngày đều dâng hương hoa tỏ lòng thành kính phụng thờ. Châu huyện nào có quan cai quản thì mỗi tháng đôi lần viên quan ấy phải đến làm lễ mật khấn bách thần cầu nguyện cho mệnh mạch quốc gia dài lâu. Vua đích thân lên núi Nghĩa Lĩnh xem lăng điện của các bậc tổ tông cùng linh điện các danh tướng tiết liệt, khai quốc công thần, thảy đều cho sửa sang tu bổ, tăng thêm tầng cao vươn như chọc trời, lâu đài bốn phía, ánh sáng cuốn đất, một bầu phong cảnh, dựng đàn bái lễ. Truyền cho văn võ triều thần sửa sang áo mũ năm màu, tùy theo phẩm tước xếp thứ tự, mỗi tuần nghiêm túc làm lễ độ pháp quy mô, cho việc triều đình được trung chính.
Khi đó Vua chưa có thái tử kế vị, nên đại giá đi thăm các cung tiên Tam Đảo, Tản Viên, xem khắp địa thế những nơi núi non lạ kỳ phong cảnh tươi đẹp, cho dựng các điện miếu, phụng khấn cầu con. Nhưng số thời đã hết, cơ đồ họ Hùng đã đến hồi kết thúc.
Vua không chiêm bao được điềm gấu lớn, sau sinh được con gái hai nàng, đều là những trang thục nữ phụ đức trinh hiền, phong tư tuấn nhã, so ra thì Tề Khương, Nga Nữ chỉ là hạng tầm thường, chất ngọc thân tiên hợp thành. Công chúa thứ nhất tên là Mị Xu [Châu] Tiên Dung. Công chúa thứ hai tên là Mị Nương Ngọc Hoa. Vua rất yêu quý. Công chúa Mị Xu được Vua gả cho Trử Công đồng tử (huyện Hương Yên, phủ Sơn Nam). Còn công chúa Mị Nương, Vua muốn cầu bậc anh kiệt, nên chưa định ngày lành. Vua cho lập hai ngồi lầu ở sông Việt Trì, trước cửa treo biết đề: 
Quán chơi trăng cầu hiền;
Lầu kén rể đãi hiền.
Vua cho công chúa thứ hai ở đó. Vua truyền hịch đi bốn phương, cần rể hiền quý để trao ngôi họ Hùng. Ai là tài tử văn nhân, hãy đến tụ hội ở thành Phong Đô, vua chọn kỳ tài, để gả công chúa. Do đó anh hùng hào kiệt bốn biển hăng hái háo hức đến tụ tập ở quốc đô. Vua ngự tuyển người tài trong thiên hạ, có nghìn kinh vạn sách, nhòm xét ở cung tường Khổng Mạnh, bốn khoá ba truyền, chẳng khiêm nhường thao lược của Tôn Ngô. Hiền tài trong thiên hạ đều có mặt cả ở trường thi. Nhưng phần nhiều được mặt này thì mất mặt kia, cùng lóc lóc trôi tuột cả, đều chưa phải là bậc toàn tài của đương thời. Duy có Sơn Tinh Tản Viên và Thuỷ Tinh Động Đình là hai bạn đồng học cùng thầy, có nhiều thuật pháp thông thiên, nhưng không đến kịp để dự thi cùng mọi người. Ngày mồng sáu tháng Giêng năm Giáp Tí, Sơn Tinh và Thủy Tinh hai thần mới biết nước đang cầu tìm rể hiền. Hai tướng giao ước trong ngày cấp tới kinh thành, dâng lời tâu lên Vua:
– Bọn thần thẹn nỗi kém tài, sống thừa trong vương quốc. Trộm nghe thánh thượng mở khoa thi kén rể hiền. Bọn thần đến muộn, nhưng muốn được thi tài mong gặp vận may không lọt ra ngoài hịch chiêu hiền của thánh thượng.
Vua cả mừng, bèn lên xe đến sông Bạch Hạc ngự thi tuyển cho hai người. Sơn Tinh đến ngồi ở đầu sông. Thủy Tinh trở về dưới đáy nước. Trong khoảnh khắc bỗng thấy mây mưa nổi lên giữa dòng, mặt sông gió tung bụi cuốn. Đáy biển vang tiếng động ầm ầm, trên không chớp loè loang loáng. Giao long, ngư kình từng đoàn theo sóng tung lên muôn vạn lớp, kình ngạc côn nghê điệp điệp nuốt muôn sóng ngàn sông. Một bầu trời đất, muôn trũng sóng cồn. Trong khoảng tranh tối tranh sáng, những ai trông thấy đều phải lạnh tim lạc phách. Sơn Tinh tay trái cầm quyển sách, tay phải cầm cây gậy, miệng niệm thần chú mà chỉ. Muôn quái nghìn kỳ, thảy đều do trượng đầu vung quét. Một biến một hoá, đều là diệu pháp thần cơ. Sơn Tinh mới biến hóa sách thần phép ước, nghìn kỳ vạn vật, trăm thú đến chầu. Một khoảnh giữa sông bỗng nổi lập đầu núi ngũ nhạc, cao hơn ngàn trượng. Núi mây năm sắc, Thứu Lĩnh rồng bay phượng múa, lân quỳ, voi trắng chín ngà chầu phục. Voi núi hổ mạnh theo về. Vạn thú nghìn chim tụ hội. Dù Thủy Tinh phép lạ cũng khó vượt Sơn Tinh. Sơn Tinh một biến một hóa, sách thần ước lớn, lấy gậy chỉ ra. Tự nhiên ngọn núi giữa sông biến mất, vạn vật hóa đi đều quay về vùng đất rừng núi Tản Viên.
Vua thấy hai hiền tài đều có phép thuật như nhau, không biết nên chọn gả công chúa cho người nào. Vua bèn lên xe trở về cung, sai sứ giả triệu hai người hiền đến bảo:
– Trẫm chỉ có một đứa con gái, như viên ngọc Lam Điền, ngày trước vua Thục cầu hôn không gả. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng. Nghe nhạc Ngô thì Hán sầu thảm. Hán ca hát thì Tần khóc lóc. Chưa biết phải thẩm định thế nào cho tiện. Vậy ai đem sính lễ đến trước thì trẫm gả cho người ấy.
Thủy Tinh liền trở về cung điện ở Động Đình, lại còn phải tìm chọn lễ vật cho thật kỳ lạ. Sơn Tinh thì chỉ xuống lầu, cầm gậy chỉ lên trời, nhẩm khấn xin sính lễ. Một lát liền thấy voi trắng chín ngà cùng các đồ châu lạ vật dị, tất cả từ trên trời hiện xuống. Sơn Tinh thu lấy, vừa đúng giờ Tí đã đưa các đồ sính lễ đến trước lầu rồng. Vua bèn gọi công chúa đến gả cho Sơn Tinh. Sơn Tinh nghênh rước ngay về sơn động ở núi Tản Viên. Đến giờ Mão, Vua lại thấy Thuỷ Tinh cũng đem đủ lễ vật đến. Vua nói:
– Sơn Tinh đã đem lễ đến trước rồi! Việc cưới xin đã xong. Theo đúng lời hẹn ước, chớ nên hối tiếc.
Vua là người có đạo vợ chồng, giữ nguyên phong tục, làm vua lấy đức giáo hóa nhân dân, rủ áo chắp tay, được nghề canh cửi tằm tang lạc thịnh, có có phong cách để lại của thời thái cổ. Thời vua trị vì đất nước làm việc thi ân có nhân cho dân chúng. Biển vui sông xanh, hoàng gia yên sự, tám cõi đều chầu, dân không gian dối, đều tuần theo chính giáo, chế độ cai trị quy mô, đất đai thống nhất.
Vua lệnh cho các hiền thần xem trời đất âm dương, năm khí núi sông, quan sát tượng trời, lấy núi Nghĩa Lĩnh định quê hương, đặt là điện Nghĩa Động, nay là xã Nghĩa Cương. Trưởng tạo lệ là thôn Trung Nghĩa. Cấp cho ruộng trên từ Tuyên Quang, dưới tới Việt Trì, để phục vụ việc hương hỏa tế tự, cho quốc gia nối mạch dài lâu.
Từ khi Thuỷ Tinh đưa đồ sinh lễ không được, nên có ý bất bình, oán hận, bỏ về thuỷ cung. Từ đó tình bạn học cùng thầy trở thành oán cừu. Hàng năm tháng Sáu tháng Bảy, Thủy Tinh lại dẫn vạn thủy binh tiến thẳng đến núi Tản Viên, gây mưa to gió kớn, sấm chớp sáng lòe. Hai tướng giao chiến. Sơn Tinh mới tấu cáo về với vua cha. Hùng Tuyền Vương rất tức giận, liền sai Sơn Tinh thu thập trăm vạn cân sắt, truyền trăm thợ giỏi, luyện đúc khuôn thành lưới sắt. Dài hai trăm ba mươi sáu trượng. Rộng năm mươi trượng, chặn ngang ở bến Đoan Hương huyện Từ Liêm, ngăn cắt Thủy Tinh không thể qua lại.
Thủy Tinh phải mở riêng một đường thủy sông Tiểu Giang, trên từ thôn Cốc một nhánh nhỏ chảy tới sông Tích một dòng, từ Hát Môn huyện Phúc Lộc, dưới tới phủ Lị Nhân xứ Sơn Nam, thông ra tới cửa biển Thần Phù. Thời thường vẫn căm hận dẫn thủy binh đến giao chiến, xưa nay thường có.
Tuyền Vương hưởng nước khoảng một trăm năm mươi năm, rồi muốn nhường ngôi cho Sơn Tinh Tản Viên. Sơn Tinh cố từ không dám nhận. Tuyền Vương nói:
– Cơ đồ họ Hùng đã hết, con gái không kế tục được.
Tản Viên còn do dự chưa quyết thì vua Thục nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho con rể quý Tản Viên. Thục Vương viện cớ… (bị thiếu).

Vua Hùng gặp tiên

Dịch đoạn Ngọc phả Hùng Vương cầu gặp tiên ở Tam Đảo, sau thời Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân:

Thái tử là Hùng Huy Vương nối ngôi kế thừa đại thống. Huy Vương từ khi kế vị cố gắng chuyên lo chính trị, theo thanh thế vang lừng về sau, cất cung khoá giáp, không phải dùng binh, chỉ lo an dưỡng muôn dân, sửa sang chính sự giáo hoá. Rồi đó lấy chuyện trước làm răn, không dám làm càn dâng lễ dối khiến cho Trời giận giáng tai ương, giặc ngoài biên xâm phạm, sáu đời thừa huởng thái bình bỗng trở thành thời loạn. Từ đó vua kính sùng đạo trời, kính việc quỷ thần. Phàm các nơi trên núi dưới biển ở đâu có thần thiêng đều sai trăm quan văn võ đến xây cất miếu điện, hoạ vẽ thánh tượng, thành tâm phụng thờ. Vua mới ngự ở điện Kính Thiên, cho xây cất đài dao điện ngọc, tô vẽ tường cung, trang hoàng miếu vũ, bố trí nghi vệ, nhất nhất trang nghiêm. Các đồ tế khí cũng đều cho vẽ rồng mây, ngày đêm đèn hương không ngớt. Hàng tháng cứ ngày sóc vọng Vua thường trai giới lên ngự chầu. Bên cạnh điện từ xưa có một ngôi chùa, nguyên là nơi khi xưa có các bảo vật của các bậc thánh đời trước, nơi tu luyện thân tâm, thuốc thiêng diệu dụng, được phép thành tiên, hoá sinh bất diệt, giữa ban ngày bay lên trời. Dấu tích bắt đầu tại chùa này, nơi được các bộ chúng thần giáng thế giúp đỡ, núi sông chung đúc linh thiêng lạ đẹp. Tinh thần trời đất, Tứ đại Thiên vương, Bát bộ Kim cương, Nhị thập bát tú cùng trăm thần tụ hội, truyền trông nom tinh núi, tinh nước, sông ngòi biển núi, trăm thú đến chầu, tất cả đều quy về một mối. Xưa gọi là chùa Từ Sơn Cảnh Thừa Long (nay là chùa Thiên Quang Hòa Thượng thiền tự).
Vua đến ngự ở đó, truyền cho trăm quan tả hữu tu sửa trong chùa, cả bốn vách chùa đều cho vẽ các ảnh tượng màu sắc huy hoàng, trồng thêm cây hoa, làm nên thành một nơi cảnh đẹp. Vua bèn truyền chiếu hịch cho dân các châu huyện phủ xã, nơi nào có tăng ni, đạo sĩ, các xứ hội đồng, chọn tuyển các bậc tăng lưu lục tuần, cấp phát áo mũ, tụ hội đạo chúng để thuyết pháp giảng giải chân kinh, khai mở nguồn đạo. Đầy cung hương hoa, bốn mùa thơm phức.
Vua lại sai quần thần mồng một và ngày rằm dâng lễ chay. Hai ban văn võ đứng chầu nghiêm trang. Vua kính cẩn đọc sớ tâu lên bề trên. Cửu Tiêu tuy cao, nhưng đèn hương bay thấu áng mây lành. Một tấm lòng thành cảm cách thông đến trời. Cầu tất ứng, ước nguyện đều được theo ý.
Một ngày tốt có hương trời, bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay đến. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong chùa ở chính điện. Lão ông nói:
– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở Biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây. Vua mừng thầm: “Người có lòng thanh tịnh, ý trời sẽ thông”.
Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho vương. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi.
Vua mới biết đó là đức Phật thượng thiên giáng ngự, bèn sụp quỳ vọng bái. Ngày hôm ấy vua truyền cho trăm quan triều thần ăn ở chay tịnh rồi lập đàn cúng ở cung điện trong chùa. Triệu trăm quan đến hội ở núi Thượng Linh, khấn rằng:
– Ngày hôm nay tôi may mắn được gặp một vị lão ông tặng cho một vật lạ, không biết nên đem làm gì cho được quý báu? Chư vị thần linh nếu hay biết nguyện xin ứng chỉ giáo cho.
Vừa khấn xong bỗng thấy trên không rực sáng, rồi một đám mây lành sà xuống. Tứ đại Thiên vương hiện lên giữa đàn, hiện mình cao bảy thước, mày râu bạc trắng, đầu đội mũ hoa, sắc hình rực rỡ. Vua đón mời vào trong điện, sửa sang áo mũ lạy chào. Tứ đại Thiên vương nói với Vua:
– Thứ mà Lão ông đã tặng là của quý của Hoàng Thiên, một dùng chế ra chuôi kiếm, một dùng chế ra ấn phù ngọc quý, cần phải mài dũa cho thật sáng để làm vật quốc bảo. Nói xong Thiên vương lại bước lên mây mà đi.
Vua hướng về phía đầu núi mà vái vọng. Cũng nhân việc này vua cho đắp thánh tượng đặt ở trong chùa để phụng thờ. Rồi đó Vua ngự giá về cung, sai đem khối ngọc trời khắc thành quả ấn, đem chiếc móng rồng tạc thành chuôi kiếm. Trên ấn khắc chữ “Vương Linh ấn”, trên chuôi gươm khắc chữ “Thiên Linh kiếm”.
Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo trời vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng. Một ngày kia tiết trời tạnh sáng, muôn cảnh đều tươi mới, quần hồng áo tía đầy thành, người và cảnh vật dịu yên trong ánh thiều quang. Triều đình có kỷ cương, đặt khoa cử chọn kẻ sĩ. Lấy đạo đức nhân từ làm chính. Cầu tìm những bậc thần từ tài giỏi. Nhiều kẻ sĩ tốt đẹp hội mây tại triều đình. Đông đúc các bậc hiền thần, đến nơi cử đế. Thật là thời thịnh, ngày hội văn minh.
Một hôm Vua bày tiệc ở Long Lầu. Quần thần dâng lời tâu:
– Chúng thần nghe nói núi Tam Đảo là nơi quần tiên thường hay đến tụ hội, tinh thành trong sạch, đến đó có thể gặp được tiên.
Vua vốn trọng việc quỷ thần, nên nghe vậy rất thích thú, liền truyền cho xa giá đi ngắm xem phong cảnh. Xe loan đến nơi, mừng thấy đồi vóc núi gấm, lâu đài lớp lớp toả sáng ngàn tầm, động biếc khe xanh, vạn dòng lặng tung bọt sóng. Cảnh vật tranh sắc, hoa cỏ đua thơm. Đầu ngọn núi nhỏ có ngôi chùa cổ tên là chùa Tây Thiên dựng trên khoảnh núi địa thế như con rồng trắng bay sà xuống. Vua bèn cho dựng đàn tràng, sửa dọn lễ chay, sai quần thần dâng tiến đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở một tràng công đức ở trong chùa, sớm cầu tối nguyện trong bảy ngày bảy đêm, trai gái bốn phương kéo về dự hội đông như mây họp. Mọi người cùng vui thăm xem cảnh vật. Dẫu chim chóc chốn sơn lâm cũng được nghe kinh, tuy cá tôm dưới khe suối cũng vui nghe giảng kệ. Một lòng công đức, ban phúc. Vua lại đến bên khe Thạch Bàn để xem tiên cảnh. Bỗng thấy trên lầu điện nguy nga khói sương lấp lánh, bốn phía quần hội rồng mây, mông lung đài sen đất Phật hiện lên. Một bầu núi non, đúng là cảnh Bồng Lai thú vị. Vua bèn vào chùa Phù Nghi, lập đàn Vọng Tiên, khấn lời cầu nguyện Hoàng Thiên. Rồi Vua truyền gọi triều thần văn võ đến hội chầu, áo mũ nghiêm trang. Vua đọc văn khấn chúc:
– Nguyện Hoàng Thiên cho các vị thần tiên giáng xuống cho được có dịp hạnh ngộ, thoả lòng mong ước ba sinh.
Đọc chúc xong vua sụp xuống lạy tạ. Nhưng sau ba ngày vẫn không thấy bóng dáng của các vị tiên đến. Vua hồi hộp lo lắng, nhưng không biết phải làm thế nào. Vua bèn đến chỗ núi đầu rồng, lập đài Vọng Tiên mà lòng kiên trì cầu khấn. Đêm ấy vua chiêm bao thấy thần linh hiện lên bảo rằng:
“Tây Thiên chi thượng
Bất kiến hạ tướng.
Niệm Đông túc các,
Nhân cửu cư thượng khẩu vượng.”
Vua nhận được bài thơ thần bốn câu đó xong liền xa giá về cung. Về đến dưới núi thấy một mỹ nhân phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh cao đang đứng bên điện Cẩm Miếu xem xa giá nhà vua. Vương thích nhan sắc cô gái ấy, muốn lấy làm vợ. Đến khi về cung, Vua hỏi:
– Nhà nàng ở đâu?
 Cô gái đáp:
– Thiếp là tiên nhân giáng sinh xuống trần ở Đông Lộ làm con của một gia đình trưởng lão. Thiếp đã mấy mùa hoa vịnh sử ngâm kinh, che châu giấu ngọc để đợi bậc anh hùng. Gần đây trộm nghe bệ hạ đại giá đến Tây Thiên, dựng đàn tràng muốn cầu tiên tử. Thiếp vì thế dẫu chẳng phải xa xôi cũng đến xem, may duyên trời tiền định cho thiếp được gặp quân vương, xin nguyện phụng hầu nơi màn trướng không phụ nguyện ước ba sinh.
Vua nghe lời kể của mỹ nhân, mới biết là thần tiên sai đưa tiên nữ đến cho mình. Thế là Vua sai quần thần sắm sửa sính lễ, rồi ngự xa giá đến nhà Trưởng ông ở Đông Lộ xin nạp sính lễ. Rồi đó Vua đón hôn trở về thành Phong Đô, lập tiên nương làm vương phi chính nhất. Chưa đầy năm Ngọc Tiêu mang thai, rồi sinh một con trai tư chất bẩm sinh thông minh, anh tài trác việt. Đến tuổi trưởng thành được vua cha lập làm Thái tử nối quốc thống, hiệu là Hùng Vĩ Vương. Về sau, Vua cùng hoàng phi học được tiên thuật, hưởng nước được 200 năm, Vua truyền cho con lên ngôi trị vì. Vua thọ sánh ngang tuế nguyệt Kiều Bành, hoá sinh bất diệt.
Ninh Vương nối vị, kế thừa ngôi báu các đời tiên vương. Lúc mới nắm quyền, các việc chính sự thi thố kể cũng khả quan. Vua thường lấy ấn kiếm đưa cho quần thần xem mà bảo:
– Trẫm có hai vật báu linh thiêng, lo gì không trị được thiên hạ?
Từ đó thần uy càng chấn động, thanh thế lên cao, những kẻ gian phu trong bốn phương thảy đều vỡ mật run tim. Trong nước thái hoà, biên cương vô sự, thiên hạ ngợi khen là bậc vua hiền. Hưởng nước được 100 năm thì băng.

Tiểu kết trong Ngọc phả Hùng Vương về thời dựng nước

Thien dia nhat nguyet

Dịch đoạn bàn về thời dựng nước trong Ngọc phả Hùng Vương.

Ngọc phả Hùng Bảo bàn rằng: Đất Việt từ Hồng Bàng Thị kế tiếp sau là cháu ba đời của Thần Nông, Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, đều là đạo sáng vợ chồng, là gốc của phong hóa. Cai trị được là nhờ có đức giáo hóa cho nhân dân, rủ áo chắp tay. Bốn phương trăm họ đều thần thuộc. Vạn dân được cày ruộng soi giếng, ăn nên làm ra. Trời đất trăng sao đều tỏ, âm dương đều chính. Bốn mùa khí hậu an hòa. Thái tổ bởi phong tục tốt đó mà lệnh cho Hiền Vương kế tục Dương Vương cai trị phương Nam, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, tên là nàng Âu Lạc, sinh ra sự lành trăm trai, là khởi thủy của Bách Việt nước Nam, hưởng quốc qua các năm, có hơn trăm bậc đế vương, là sự trường tồn.
Khi đó nước giàu thọ, nhiều nam giới, mười tám lá ngọc, cơ đồ vững lập, trị hưởng quốc gia lâu dài, sách trời ước định. Thời kỳ này đầy đủ là hai ngàn sáu trăm hai mươi hai năm. Từ cổ tới nay chưa từng có. Ban đầu bày xếp ơn đức yên nhân dân, các nơi đều an vui, thiên hạ thái bình, chuyên nghề làm nông tang, không có binh đao. Bốn cõi núi bể sáng yên.

Nguyên văn phiên âm:

Hùng Bảo án viết, Việt tự Hồng Bàng Thị kế Thần Nông chi hậu, tam thế tôn dã. Kinh Dương Vương thú Động Đình Quân nữ, minh phu phụ chi đạo, chính phong hoá chi nguyên, cư trị tắc dĩ đức hoá dân, thuỳ y củng thủ. Tứ phương bách tính, dĩ thần thuộc sự. Vạn dân tắc canh điền giám tỉnh, tuế tác nhập tức. Thiên địa nhật nguyệt tinh thần, âm dương dĩ chính. Tứ thần tiết hậu. Thái tổ chi thuần phong dư lệnh Hiền Vương kế Dương Vương chính trị Nam phương, thú Đế Lai chi nữ tính Âu Cơ danh Âu Lạc nương, đĩnh sinh bách nam chi tường, vi Nam quốc Bách Việt thuỷ. Hưởng quốc lịch niên, dư bách đại đế vương. Tối vi trường cửu.
Thì quốc phú thọ đa nam, thập bát diệp bảo đẳng, hồng đồ bảo đỉnh, vĩnh trị hưởng quốc, thiên thư định ước, mãn tải kỷ niên, nhị thiên lục bách nhị thập nhị niên, tự cổ dĩ lai, vị chi hữu dã, sơ thi đức huệ, anh? ư nhân dân, quần phương an nhạc, thiên hạ thái bình, chuyên sự nông tang chi nghiệp, vô hữu binh qua, tứ dã hải nhạc quang bình.

Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương

Dịch lại Ngọc phả Hùng Vương, đoạn đầu tiên về ba vị Đế Minh thái tổ, Đế Nghi đế bá, Kinh Dương Vương hoàng phụ.

Xưa kia từ thời Hoàng Đế, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần du phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh. Đế Minh gặp được con gái của Vụ Tiên nương, mà sinh ra Kinh Dương Vương, húy là Lộc Tục. Vua ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thọ hai trăm năm mưới bảy năm. Hóa tiên về biển cùng với con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung.
Vua có dung mạo đoan chính, thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh thấy có trí tuệ kỳ lạ, có ý lập kế tự, muốn truyền ngôi báu cai quản muôn nước. Nhưng Dương Vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, còn phong cho Kinh Dương Vương cai trị thiên hạ ở mặt Nam, xưa là quận Giao Chỉ. Kinh Dương Vương đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích.
Xưa Dương Vương vào ngày mồng năm tháng hai năm Nhâm Tuất, vâng lệnh đem quân lính dời đến núi Nam Miên, trấn giữ và cai trị đất nước. Trên đường Vua ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa, có đại cuộc chân long quý mạch, để lập đô ấp, trấn trị thiên hạ. Qua đất Hoan Châu (xưa là Hoan Châu, nay là Nghệ An) Vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc phong cảnh tươi đẹp, như lâu đài muôn nhẫn, gọi là Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, xưa gọi là Cựu Đô Ngàn Hống. Vùng đất này non biển đúc linh, núi sông khe hồ hội chầu, tụ họp ở cửa Hội Thống ven giáp biển, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành cung điện lâu đài cửa ngọc, làm nơi cho bốn phương triều cống.
Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình, núi xanh nước biếc. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng, nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.
Ngày sau Vua lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình trùng điệp, sông đẹp núi lạ. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam của cả nước, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức nước lớn, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên.
Đưa tới các châu Bảo Lạc, Bằng Du, Thu Vật, Lục Yên, đầu nguồn nước từ Hoàng Hà, Hán Giang, Lô Giang, Càn Thủy, mà chảy dẫn mạch giáng khí, gặp nước ròng mạch nhỏ Ải Môn, rồng dẫn đi xa, tới núi Nam Miên là đất Tuyên Quang, thế rõ từ núi Tụ Long, liền tới châu Thu Vật, biến ra toà Kim tinh cao muôn nhẫn.
Mạch đất chảy ở giữa chia trái phải. Sông Hán, sông Hoàng, sông Bảo hai bên dẫn mạch. Chảy tới Lâm Thao, Đoan Hùng, Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Khang, đến chùa Long Hoa, thôn Việt Trì ở ngã ba sông Bạch Hạc. Núi lạ sông đẹp, ngọc tụ nước ngưng, chân đá giáp nước, trái phải cùng đổ về, là chính đường của vạn nhánh, hội tụ chính khí. Bên ngoài chia các huyện Nam Giang, Bắc Giang, Thiên Lịch Giang, Tô Lịch, Tam Dương. Bỗng dựng lập núi Tam Đảo. Cung bên trái là rồng xanh, nghìn núi vạn sông chảy ra ở Lập Thạch, Bạch Nê, Châu Diên. Núi xanh nước biếc, đất sáng như mở ngọc bội, các núi giúp chuyển, tới xứ Kinh Bắc các núi Chu, Sóc, Trà, Từ, Mộc Hoàn, Tích An, An Lão phục chầu. Dẫn đến xứ Hải Dương các núi Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử, thoát ra biển tám xã Đồ Sơn, là đầu rồng chầu án.
Bên phải đất từ Ba Thục, Hán Giang, Hoàng Giang, Thao Giang, núi dẫn sông theo, tới mười sáu châu Tuyên Quang, Hưng Hóa, châu Đà Bắc, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà, đến huyện Bất Bạt thì nổi lên núi Tản Viên. Cung bên phải là hổ trắng. Núi chầu vạn nhánh, nổi lên ở Mỹ Lương, Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Viễn Sơn Thạch Thất, An Sơn, Tây Sơn, Sài Sơn, Tử Trầm, Hữu Bật đến xứ Sơn Nam Chương Đức, Đại Yên, núi Hương Tích sơn, núi Thạch Na, Nam Công, núi Vũ Phượng, núi Đội Điệp, núi Nghi Dương, chầu vào mà thoát, đến cửa biển Thần Phù ỏ núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Vạn Lý, làm đầu hổ chầu án. Lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường. Lấy Ngã Ba Lãnh, Đại Giang, huyện Nam Giang làm Trung minh đường. Mặt nước như ấn ngọc trông phù vàng. Tiền Hải, Cổ Yếm, Tượng Sơn làm Ngoại minh đường. Nghìn non cúi phục, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về núi tổ Nghĩa Lĩnh.
Nhìn thấy tất cả hình thế ấy, Vua nhận ra thế cục của đất Bắc quý đẹp hơn đô thành cũ Hoan Châu, bèn lập điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Vua thường ngự giá đến đất bên nơi ngoại này, lập dựng đô thành Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang. Rồi vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại định đô ấp, vị trí của chính điện, thành trời ao vàng, ở núi Nghĩa Lĩnh, làm đô ấp của họ Việt Thường xưa tại đó.
Bấy giờ vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Cung phi con gái đế quân là Thần Long cùng với Vua sống ở núi Kỷ Lĩnh, điềm rồng khí chính, thụy thánh có mang. Mang thai mười lăm tháng mười ngày. Đến kỳ mây rồng năm sắc giáng xuống chính điện. Vua sinh hạ Lạc Long quân, tên huý là Sùng Tục. Trước Long Quân có tỏ điềm rồng ứng tốt, ánh sáng đầy nhà, trong trướng tỏa hương thơm. Qua tuần sinh hạ Lạc Long Quân, tư chất phi thường, tự có khí tượng đế vương. Vua mới lập làm hoàng thái tử. Thái tử trưởng thành, tài năng hơn người, thông minh nhanh nhẹn, tài thần trí thánh, anh hùng hiểu biết. Năm tháng tăng thêm, Đế lệnh với triều đường trăm quan rằng: Ta thừa mệnh trời mà trị vạn dân, giữ yên cơ đồ, sắc lệnh cho Thái tử khâm sai cùng với trăm quan cử hành lễ đi tuần thú lãnh thổ, chính là để xem núi sông, những nơi biển non kỳ lạ. Vua khiến Thái tử điều trăm viên tướng mạnh, ba vạn binh tinh đi tuần thú nước nhà, xem xét bốn bể, địa thế núi sông.
Thái tử đi đến Nam Bang, thế đất theo núi sông dẫn mạch mà đến, lên núi tìm theo mạch rồng, tựu ở xứ Tuyên Quang, châu Thu Vật, Tụ Long, nhìn thấy mạch đất rồng chạy đến, Nghĩa Lĩnh đúc thiêng,  gặp qua thượng lưu sông Hoàng Hà, Nhị Hà, Đầu Giang, Hán Lô Giang, đầu nguồn một nhánh chảy ra, nuôi dưỡng che chở nước Nam, từ Tây rồng đến, từ châu Bảo Lạc núi Côn Lôn trên dưới hai bờ, cho đến cửa ải, nước lớn từ Ngũ Lĩnh, Thái tổ Côn Lôn của đất nước, đất tổ Linh Sơn Phong Thứu. Trăm vạn đầu núi dựa Đông Tây Nam Bắc, làm được như bầy con. Lấy Côn Lôn Ngũ Nhạc đại tổ quốc làm Thái tổ, cha mẹ, cùng vạn nước đầu núi góc biển, một mối quy đồng. Thái tử trí thánh thông minh, tài anh mưu lớn, là vị vua có chí trị, danh hiền Việt cổ.
Thái tử có tâm với các bậc tổ, quay về nước lớn thăm hỏi tổ là Đế Minh, bác là Đế Nghi. Thái tử là người có hiếu đễ lớn, trung tín khiêm nhường, có tam cương ngũ thường, là bậc có đức cả. Thái tổ mới đặt quốc thư phong cho Kinh Dương Vương là Thái Tổ Cao Hoàng Đế nước Nam, phong cho Lạc Long Quân là Hiền Vương nước Nam, cai trị Nam Bang. Vạn dân trong thiên hạ đều hân hoan, trăm họ yên vui. Đế tổ, Đế bá coi Thái tử như cốt nhục, xem như tinh túy đất trời, quý như châu ngọc vàng báu, vật quý cũng không bằng.
Đế tổ sắc phong tặng thêm cho Thái tử sách vàng, thẻ bài rồng, lụa ngọc, xe sách một mối, áo mũ chầu trời, áo bào cổn rồng, thắt lưng ngọc, giày vàng, cờ lọng quạt, ô vàng chiêng trống, xe loan giá rồng, voi ngựa tướng binh, lại ban cho đồ thần lụa vàng (vật quý lớn của trời Nam), ngọc châu mã não, quý lạ các vật, lại ban cho xe giá có chuông. Thái tử hồi giá khải hoàn về Nam Man, phụng giúp vua cha cai quản vạn dân.
Thời Thái tổ Đế Minh trong triều có vị Thiên sư biết thông trời đất người, xem thấy hết quỷ thần, chức vị ở Bắc triều là quan tướng, văn võ đều toàn. Nay theo lệnh Đế tổ sai Thiên sư giúp nước cho Thái tử cai quản Nam Bang, xem phong thủy, tìm đất lập nước định kinh đô, xây dựng thành trì, sửa sang chính điện, tạo nên cung thất, lãnh thổ đất đai, đặt tên sông núi, lập định ấp đô, địa đồ đất nước, sắp quan xếp tướng, đặt lệnh trấn các xứ, phủ, huyện, xã, châu, trang, động. Trên rừng dưới biển, nước có Thiên sư phụ giúp Vua cai trị bốn biển. Trăm họ nhân dân thiên hạ cùng hưởng phúc thái bình. Các chư hầu Bách Man đều xưng thần phụ thuộc.