Tóm lược tích thiêng Nam Việt đại vương

Thần tích xã Tri Hối. Tóm lược tích thiêng Nam Việt đại vương

Đại vương họ Triệu tên Đà, là người Chân Định. Thời Tần mạt làm quan úy Nam Việt Hải. Sau phát binh đánh Thục Vương, Thục Vương binh bại. Vương mới lên ngôi đế, lập nước tên Đại Việt, đô đóng ở Phiên Ngu.
Thời đó thiên hạ thái bình, Đế đi chu du bốn biển, xem ngắm núi sông. Khi đi qua các địa phương đều lập hành cung nghỉ ngơi. Một hôm Đế đi tới xã Thần Thiệu, động Hoa Lư, phủ Trường An, châu Ái, thấy nước sông chảy dài, núi đá dựng đứng, bèn truyền lập cung tại đó. Sau Đế du hành về trong phủ, tới khu Sào Long xã Tri Hối. Nhân dân làm lễ bái hạ. Đế nhân đó truyền lập cung ở đó, thường thường đến dạy dân canh tác, khuyến khích nông tang.
Tới khi Đế phát binh đánh Trường Sa của nhà Hán, được nhiều ngựa. Quay về xuống chiếu cho dân các xã, nếu trước đây đã có thiết lập cung ở địa phương thì đều cho làm con dân thờ cúng, thiết lập sinh từ để ngày sau hưởng là nơi thờ phụng. Do đó, dân Sào Long tuân theo chiếu lập đền ở chỗ du cung ngày trước. Đế lại ban tặng cho tiền đồng ba trăm quan để làm tiền trông đền, lại miễn giảm tất cả tô thuế. Từ đó nhân dân Sào Long giàu đủ do nhờ thấm ơn tốt lành đó.
Đế thọ 120 tuổi, ở ngôi 71 năm thì băng. Cháu đích tôn Văn Vương nối ngôi, xuống chiếu cho thiên hạ, hễ dân chỗ nào mà vua cha ngày trước đã lập cung thì đều có thể về kinh đô nghênh đón thần hiệu về lập miếu thờ làm thần. Khu Sào Long cũng về kinh thành nghênh thần hiệu về lập miếu thờ. Văn Vương còn ban cho tiền đồng 50 quan để làm tiền hương khói. Lai truy tôn mỹ tự là Dũng nghị Uy hùng Thần võ các chữ, sắc lệnh cho dân phụng thờ. Các tiết lễ cầu đảo đều có linh ứng. 

Tri Hối xã thần tích. Nam Việt đại vương linh tích lược chí

Đại vương tính Triệu huý Đà, nghi Chân Định nhân. Tần mạt vi Nam Việt Hải uý. Hậu phát binh công Thục Vương binh bại. Vương nãi tức đế vị kiến quốc hiệu Đại Việt, đô Phiên Ngu. Thần thiên hạ thái bình, đế chu du tứ hải, lịch quan sơn xuyên. Phàm kinh quá sở tại địa phương giai thiết hành cung an tiết. Nhất nhật hành chí Ái châu Trường Yên phủ Hoa Lư động Thần Thiệu xã, kiến giang thuỷ hoành lưu, thạch sơn ngật lập. Toại truyền lập cung vu thử. Tái du hành phủ nội chí Tri Hối xã Sào Long khu, nhân dân hành lễ bái hạ. Đế diệc nhân truyền lập cung vu thử, thường thường vãng lai, giáo dân canh tác, khuyến khoá nông tang.
Cập phát binh công Hán Trường Sa, đắc sổ mã nhi quy chiếu các xã dân, phàm tiền nhật hữu thiết lập cung sở vu địa phương giả, giai hứa vi thần tử chi dân, thiết lập sinh từ dĩ vi hậu nhật hưởng thần chi sở. Ư thị Sào Long dân phụng chiếu lập từ vu tiền nhật du cung xứ. Đế nãi ban tứ thanh tiền tam bách quan dĩ vi bảo thủ từ sở chi nhu. Phàm tô dong nhất giai quyên miễn. Tự thử Sào Long nhân dân phú túc hàm đắc mông kỳ phúc chỉ yên.
Đế thọ nhất bách nhị thập tuế, tại vị thất thập nhất niên băng. Đích tôn Văn Vương tức vị, chiếu truyền thiên hạ, hà dân tiền nhật vương phụ hữu lập cung giả, tất nghệ đô thành phụng nghinh thần hiệu hồi dân lập miếu phụng chi thần. Sào Long khu giai tựu kinh thành phụng thần hiệu hồi dân lập miếu phụng chi. Văn Vương ban tứ thanh tiền ngũ thập quán dĩ vi hương hoả yên. Nhưng truy tôn mỹ tự viết Dũng nghị Uy hùng Thần võ đẳng tự, sắc chỉ ban hồi dân phụng tự. Phàm tiết thứ kỳ đảo giai hữu linh ứng .

知誨社神蹟
南越大王靈跡略誌
大王姓趙諱陀儀真定人秦末為南越海尉後發兵攻蜀王兵敗王乃即帝位建國號大粵都番禺辰天下太平帝週遊肆海歷觀山川凡經過所在地方皆設行宮安歇壹日行至愛州長安府華閭峒神紹社見江水横流石山屹立遂傳立宮于此再遊行府內至知誨社巢龍區人民行禮拜賀帝亦因傳立宮于此常常往来教民耕作勸課農桑
及發兵功漢長沙得数馬而歸詔各社民凡前日有設立宮所于地方者皆許為神子之民設立生祠以為後日享神之所於是巢龍民奉詔立祠于前日遊宮處帝乃頒賜青錢参百貫以為保守祠所之需凡租庸壹皆蠲免自此巢龍人民富足咸得蒙其福祉焉
帝壽壹百貳拾歲在位柒拾壹年崩嫡孫文王即位詔傳天下何民前日王父有立宮者悉詣都城奉迎神號回民立廟奉之辰巢龍區皆就京城奉神號回民立廟奉之文王頒賜青錢五拾貫以為香火焉仍追尊美字曰勇毅威雄神武等字敕旨頒回民奉祀凡節次祈禱皆有靈應.

Bài ký trên bia Vạn cổ ở đình thôn Thượng, xã Dương Hà, Gia Lâm, Hà Nội

IMG_1513

BIA GHI MUÔN ĐỜI

Bài minh chung trên bia về sáng lập việc phụng thờ.
Thôn Thượng xã Dương Hạ, huyện Đông Ngàn, phủ Từ Sơn, các quan viên là Ngô Tiến Lộc, Phạm Kỳ Mưu, Lâm Viết Quý, Nguyễn Tiến Tài cùng cả thôn trên dưới lớn nhỏ kính cẩn dựng bia đình muôn đời.
Tạo bia ra để làm gì? Muốn để sự sáng truyền đến các đời, sẽ được sừng sững như núi Hằng núi Tung, nên mới lập bia. Nhìn tới thôn ta, là thôn ở một bên của đất đẹp Đông Ngàn, vùng Kinh Bắc nổi danh. Trời mở mái ngọc, đất tạo bãi vàng, bốn bề bằng phẳng, một cõi phì nhiêu. Sông Thiên Đức trong xanh, một dải ôm lấy vùng đất. Cây cối xanh tốt sum suê. Lại có một chỗ vừa cao vừa bằng, trên đó có ngôi đình cổ. Đình thờ Đao Lợi Thiên Vương, ngự ở trên mây. Tích trước có trong sách điển các chư Phật Thích và trong hình vẽ Hoa Tạng.
Thiên Vương là chủ tể của cõi trời 33, quyền trên muôn ngàn vạn thánh, từ bao nhiêu kiếp tới nay. Thôn ta thật may mắn có thắng cảnh nên được hương lửa phụng thờ thần đó, tôn kính không gì so được, danh tiếng to lớn không ai bằng. Cho nên bản tổng khi cầu phúc, trừ tai, cầu mưa không được, thường cùng các thành hoàng thôn xã cung đón tới nơi, xin được phù hộ mà quyết việc, mới tỏ sự thánh như trời đất. Đại vương được cả bản tổng cầu thỉnh, kính nghênh như lễ, oai chấn một phương, danh rạng điển thờ từ xưa tới nay, đem may đuổi họa, hiển ứng trùng trùng.
Một lần không rõ nguyên do tại sao, người và vật trong thôn không được yên ổn. Nên những người trong hội phụ trách phụng thờ làm lễ tế cầu. Khi đó bỗng trong thôn tự nhiên có một vị trượng phu, dung nhan cổ lạ, lời nói phi phàm, nói rằng:
–   Ta ở một bên trên thôn của các ngươi, ngự trên tầng mây che đó. Nay xem các người đều không biết đến điều đó, lễ nghi lại quá sơ sài.
Tất cả già trẻ trong thôn đều cùng bái tạ mà cầu xin sự thương xót rằng:
– Chúng con dân nghèo đất hẹp, lỡ mắc cúng tế sơ sài. Muôn điều xin được xá tội ngu ngốc đó, chuyển điều dị thành điều lành.
Liền nghe lời trên phán rằng:
– Vậy chốn đình làng là nơi Ta tạm dừng xe mây, riêng một thế giới, từ xưa chật hẹp. Ta muốn có một nơi nhìn được bao quát, quanh năm tùy ý điều khiển, sinh khí đầy đặn, trở thành một dải phì nhiêu. Trước có loài cây Vải, nay đang cằn cỗi. Các ngươi hãy nhân đó lấy giống mà trồng rộng rãi. Khi tế tự thì lấy mà biện lễ, tất sẽ được sung túc.
Phán dứt, liền theo khói một nén hương mà bay lên.
Toàn dân đều cùng quỳ chầu trời lễ bái. Nhân đó cẩn thận làm đúng theo lời phán. Người người mắt nhìn, miệng theo, bảo nhau cố gắng lấy những cây cũ mà trồng thêm ra.
Quả nhiên, tăng cùng ngày tháng, lớn với thời năm, vẻ đẹp phủ kín vườn tược bát ngát. Vẻ hồng khoe như sự lạ chốn vườn lãng uyển. Người người từ đó được hưởng thời yên bình. Việc tế tự do đó mà đầy đủ. Cầu thần thần ứng, cầu phúc phúc đến. Trên có thể làm dài mạch nước. Dưới có thể dân sống yên lành. Đến chục năm từ đó đều lấy quả vải để làm lễ phụng sự thần vạn năm.  Nhân đó mà làm văn khế, khắc vào tấm đá, gói ý lớn này thành bài minh rằng:
Bên cạnh thôn ta
Một bãi đất phẳng
Cây cối tốt tươi
Xanh dòng Thiên Đức
Giữa khu gò cao
Là đình Thiên Vương
Tuân theo lời phán
Làm để giúp dân
Giúp dân thế nào?
Trồng nhiều cây vải
Gốc nó rậm rạp
Lá xanh mơn mởn
Quả ngọt vị lồng
Sắc hồng phấn mịn
Để dâng cúng thần
Lòng thần cảm động
Dân muốn cầu phúc
Phúc đến muôn nơi
Trên dài mạch nước
Dưới nền phúc tràn
Muốn truyền mãi mãi
Bèn lập minh bia.

IMG_1275

Thời gian:
Hoàng triều Cảnh Trị vạn vạn năm, năm thứ 5 Bính Ngọ, giữa mùa thu, ngày lành.
Quan viên Ngô Tiến Vinh, Nguyễn Văn Sâm, Đào Văn Hán cùng ký.
Nguyễn Trí, Thạch Văn Khoa, Nguyễn Hưng Tường, Lâm Đắc Lộc ký.
Hương lão Phạm Tuấn Ngạn, Nguyễn Tiến Phú, Ngô Văn Quảng ký
Lâm Duy Quyên, Đào Văn Chính, Thạch Công Ngạn ký
Xã thôn trưởng Thạch Công Tín, Lê Văn Hoa, Nguyễn Kỳ, Phạm Văn Liên, Ngô Hữu Thành, Võ Trí Hữu bàn ký.
Đào Đình Luận, Lâm Viết Thọ, Nguyễn Văn Châu ký.
Người già thọ, người có uy tín trong các giáp, toàn thôn trên dưới lớn bé cùng nhau ký.
Quốc Tử Giám giám sinh Phạm Kỳ Mưu, tên hiệu Đình Chất, vâng soạn
Thần là tướng phụ trách trong xá, chức lại Ngô Hữu Thanh vâng truyền.

IMG_1327

 

Các câu đối về Thiên Đế

Toàn bộ các câu đối trong ghi chép ở đền Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên), nơi thờ Vua Trời Đế Thích.

IMG_4923

Câu 1

休言巨小諸神,上帝獨尊無與對
勿論邇遐萬姓,下天一等赤欽崇
Hưu ngôn cự tiểu chư thần, Thượng Đế độc tôn vô dữ đối
Vật luận nhĩ hà vạn tính, hạ thiên nhất đẳng xích khâm sùng.
Dịch:
Thôi lời các thần nhỏ to, Thượng Đế độc tôn không ai sánh
Chớ kể vạn họ gần xa, dưới trời đều một dạ kính sùng.

Câu 2

祿是總災是除,封域順成*永保
樂主和禮主敬,古今上下同由
*豐年也
Lộc thị tổng tai thị trừ, phong vực thuận thành* vĩnh bảo
Nhạc chủ hoà lễ chủ kính, cổ kim thượng hạ đồng do.
* phong niên dã
Dịch:
Lộc thì cộng, nạn thì trừ, bờ cõi thuận bền giữ mãi
Nhạc để êm, lễ để kính, xưa nay trên dưới đều theo.

Câu 3

福降自天,上下四民永保
禮虔享帝,同由一念順安
Phúc giáng tự thiên, thượng hạ tứ dân vĩnh bảo
Lễ kiền hưởng đế, đồng do nhất niệm thuận an.
Dịch:
Phúc ban từ Trời, trên dưới tứ dân gìn giữ mãi
Lễ thành cúng Vua, đồng tâm cùng niệm sự yên bình.

Câu 4

默化神機,十二仙娥安眼
包藏妙用,三千世界一壺
Mặc hoá thần cơ, thập nhị tiên nga an nhãn
Bao tàng diệu dụng, tam thiên thế giới nhất hồ.
Dịch:
Ngầm hóa cơ thần, mười hai tiên nga lành mắt
Dấu kín dùng hay, ba ngàn thế giới chung bầu.

Câu 5

人欲壽者求,得門而入
帝至尊無對,過廟則趍
Nhân dục thọ giả cầu, đắc môn nhi nhập
Đế chí tôn vô đối, quá miếu tắc tri.
Dịch:
Đế chí tôn không ai bì, miếu xưa tất đông đúc
Người muốn sống lâu nên khấn, đến nơi cửa mà vào.

Câu 6

勝會衣冠,燦爾天河斗列
高楼鼓吹,恍然雲洞樂喧
Thắng hội y quan, xán nhĩ thiên hà đẩu liệt
Cao lâu cổ xúy, hoảng nhiên vân động nhạc huyên.
Dịch:
Hội đẹp áo mũ, sáng thế Thiên Hà sao đẩu
Lầu cao cổ súy, bỗng nhiên nhạc nổi động mây.

Câu 7

上帝降衷,仁義禮智
下民遂欲,富貴壽康
Thượng đế giáng trung, nhân nghĩa lễ trí
Hạ dân toại dục, phú quý thọ khang.
Dịch:
Thượng đế ban lành Nhân Nghĩa Lễ Trí
Hạ dân toại nguyện Phú Quý Thọ Khang.

Câu 8

同然福集堂基永孚休慶
油爾雲浮幢盖保合泰和
Đồng nhiên phúc tập đường cơ vĩnh phu hưu khánh
Du nhĩ vân phù tràng cái bảo hợp thái hòa.
Dịch:
Cùng là góp phúc ở nếp nhà, niềm tin tốt mãi
Ùn ùn mây nổi như lọng che, yên hòa giữ gìn.

Câu 9

維岳降神經有見
自天顯聖外無聞
Duy nhạc giáng thần kinh hữu kiến
Tự thiên hiển thánh ngoại vô văn.
Dịch:
Từ núi thần giáng, từng đã thấy
Từ trời thánh hiện, khác chưa nghe.

IMG_5073

Câu 10

億年顯跡金牛上
萬古靈祠義冑西
Ức niên hiển tích Kim Ngưu thượng
Vạn cổ linh từ Nghĩa Trụ Tây.
Dịch:
Muôn năm tích rạng bờ Kim Ngưu
Vạn đại đền thiêng Tây Nghĩa Trụ.

Câu 11

滅鬼一弓方顯聖
出人半局始知天
Diệt quỷ nhất cung phương hiển thánh
Xuất nhân bán cục thủy tri thiên.
Dịch:
Trừ quỷ một cung nơi hiển Thánh
Xuất trần nửa cuộc mới biết Trời.

Câu 12

三級璦臺䀡起敬
兩擎砥柱仰弥高
Tam cấp ái đài chiêm khởi kính
Lưỡng kình để trụ ngưỡng di cao.
Dịch:
Ngọc đài ba bậc xem mà kính
Hai bên cột trụ ngưỡng càng cao.

Câu 13

色空理悟曇而聖
生化機玄帝又天
Sắc không lý ngộ Đàm nhi Thánh
Sinh hóa cơ huyền Đế hựu Thiên.
Dịch:
Biết lẽ sắc không, Phật mà Thánh
Diệu kỳ sinh hóa, Đế cũng Trời.

Câu 14

耕𨯳群方歌日出
管絃萬户詠風薫
Canh tạc quần phương ca nhật xuất
Quản huyền vạn hộ vịnh phong huân.
Dịch:
Cấy cày các chỗ ca ngày mới
Đàn sáo bao người ngợi gió thơm.*
*夏節 Hạ tiết

Câu 15

碁局收餘𪽋勝著
寶香焚處現真身
Kỳ cục thu dư lưu thắng trước
Bảo hương phần xứ hiện chân thân.
Dịch:
Cuộc cờ sắp hết còn nước thắng
Hương quý đốt lên hiện thân tiên.

Câu 16

慧日凝祥張氏墅
慈雲普蔭下亭*花
*遼下亭
Tuệ nhật ngưng tường Trương thị thự
Từ vân phổ ấm Hạ đình* hoa.
* Liêu Hạ đình
Dịch:
Chở che mây ái hoa đình Hạ*
Ngày sáng đẹp lành nhà họ Trương.
* Đình Liêu Hạ

Câu 17

真香閃爍慈雲現
碁局圓神慧日高
Chân hương thiểm thước từ vân hiện
Kỳ cục viên thần tuệ nhật cao.
Dịch:
Cờ thế vẹn tinh cao lúc trí
Hương tiên lấp lánh hiện mây lành.

Câu 18

金峯勝地鍾靈氣
上界仙宮現法身
Kim phong thắng địa chung linh khí
Thượng giới tiên cung hiện pháp thân.
Dịch:
Cõi trên cung thánh ngời thân phép
Non giữa đất lành đúc khí thiêng.

Câu 19

錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kỳ thế giới thiểu Trương công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.

IMG_4977

Câu 20

改命機神仙跡古
好生德洽歲花新
Cải mệnh cơ thần tiên tích cổ
Hảo sinh đức hợp tuế hoa tân.
Dịch:
Thần kỳ thay mệnh xưa tiên tích
Đức rộng hiếu sinh tuổi mới thêm.

Câu 21

藜杖儘空三界鬼
檀香普濟萬家春
Lê trượng tẫn không tam giới quỷ
Đàn hương phổ tế vạn gia xuân.
Dịch:
Gậy cỏ sạch không ba giới quỷ
Hương đàn giúp khắp vạn nhà xuân.

Câu 22

除妖先及吞山𩴳
佑德無穷献果張
Trừ yêu tiên cập thôn sơn Sát
Hữu đức vô cùng hiến quả Trương.
Dịch:
Không cùng ơn giúp Trương dâng quả
Trước kịp trừ yêu Quỷ nuốt non.

Câu 23

慈雲普蔭天三界
慧日輝煌智六通
Từ vân phổ ấm thiên tam giới
Tuệ nhật huy hoàng trí lục thông.
Dịch:
Mây từ ấm khắp ba ngàn giới
Ngày tuệ rạng ngời sáu trí thông.

Câu 24

𩴳讋天威寧論魃
仙蒙惠德況扵生
Sát triệp thiên uy ninh luận bạt
Tiên mông huệ đức huống ư sinh.
Dịch:
Sát sợ oai Trời không gây hạn
Tiên trùm ơn huệ lại thêm sinh.

Câu 25

扇火紅光千怪滅
真香馥郁萬祥生
Phiến hỏa hồng quang thiên quái diệt
Chân hương phúc úc vạn tường sinh.
Dịch:
Quạt lửa ánh hồng ngàn quái diệt
Hương thần tỏa khắp vạn dân lành.

Câu 26

添龄無数今張子
驅害曽刊古弄林
Thiêm linh vô sổ kim Trương tử
Khu hại tằng san Cổ Lộng Lâm.
Dịch:
Thêm vô số tuổi đây Trương tử
Đuổi họa chất chồng Cổ Lộng Lâm.

Câu 27

恩霑法雨三千界
喜倍天僊十二娥
Ân triêm pháp vũ tam thiên giới
Hỉ bội thiên tiên thập nhị nàng.
Dịch:
Ơn thấm ba ngàn giới mưa phép
Mừng thêm mười hai nàng tiên trời.

Câu 28

鏡朗照肝洪造鑄
香薰改命朶雲慈
Kính lãng chiếu can hồng tạo chú
Hương huân cải mệnh đóa vân từ.
Dịch:
Kính sáng chiếu tâm nên vận lớn
Hương thơm thay mạng đám mây lành.

Câu 29

仙升佛降今如見
國擣民祈古以來
Tiên thăng Phật giáng kim như kiến
Quốc đảo dân kỳ cổ dĩ lai.
Dịch:
Tiên lên Phật xuống nay như thấy
Nước cúng dân cầu xưa tới giờ.

IMG_5088

Câu 30

光芒赤電疑弓影
靉靆黃雲想犢車
Quang mang xích điện nghi cung ảnh
Ái đãi hoàng vân tưởng độc xa.
Dịch:
Sáng lòa chớp đỏ ngờ cung ảnh
Mù mịt mây vàng ngỡ xe trâu.

Câu 31

紫極常居雨露申休潭地軸
青雲可躡鈞韶傾耳到天門
Tử cực thường cư, vũ lộ thân hưu đàm địa trục
Thanh vân khả nhiếp, quân thiều khuynh nhĩ đáo thiên môn.
Dịch:
Thường ở cực tía, mưa móc ơn thần thấm khắp đất
Thể cưỡi mây xanh, nhạc thánh lắng nghe tận cửa trời.

Câu 32

曲奏霓裳天上月
人皆絃管陸中仙
Khúc tấu nghê thường Thiên thượng Nguyệt
Nhân giai huyền quản Lục trung Tiên.
Dịch:
Đàn hát cùng người Tiên tại đất
Nghê thường tấu khúc trăng trên trời.

Câu 33

江村絃管多春色
帝座鈞天響廟廷
Giang thôn huyền quản đa xuân sắc
Đế tọa quân thiên hưởng miếu đình.
Dịch:
Thôn xóm sáo đàn khen xuân sắc
Ngôi Đế ngang Trời vọng miếu đình.

Câu 34

告舍人曰吾入相
自天子所我出車
Cốc xá nhân viết ngô nhập tướng
Tự thiên tử sở ngã xuất xa.
Dịch:
Người xã Cốc rằng: Tôi nhập tướng
Thánh từ Trời nói: Ta ra xe.

Câu 35

高棋伯仲張公智
誨奕叨承*上帝仁
*滥也添也
Cao kỳ bá trọng Trương Công trí
Hối dịch thao thừa* Thượng Đế nhân.
* lạm dã thiêm dã
Dịch:
Phép răn nhiều ít lòng Thượng Đế
Cờ cao lớn nhỏ trí Trương Công.

Câu 36

士樂觀光為相為將
象徵大順出馬出車
Sĩ lạc quan quang vi tương vi tướng
Tượng trưng đại thuận xuất mã xuất xa.
Dịch:
Sĩ vui thoáng chỗ vì Tướng vì Vua
Voi bày thế thuận ra Ngựa ra Xe.

Câu 37

世無乾𩴳弓常静
人並張公命可囬
Thế vô Càn Sát cung thường tĩnh
Nhân tận Trương Công mệnh khả hồi.
Dịch:
Đời không Càn Sát cung thường tĩnh
Người đến Trương Công mệnh còn hồi.

Câu 38

亮工德仰金峯峻
福善心如鏡水平
Lượng công đức ngưỡng kim phong tuấn
Phúc thiện tâm như kính thủy bình.
Dịch:
Việc chính đức trông cao ngọn núi
Điều phúc tâm như mặt nước gương.

Câu 39

陟降在帝左右
威福承天聪明
Trắc giáng tại đế tả hữu
Uy phúc thừa thiên thông minh.
Dịch:
Lên xuống bên Vua trái phải
Oai phúc theo Trời sáng trong.

IMG_5090

Bài ký bia đền linh xã Liêu Hạ

IMG_5037

 Cử nhân Bách Sơn Khương Văn Định xã Vĩnh An bái soạn.

Vào năm Long Thụy thứ hai triều Lý có ông Trương Ba là người xã Liêu Hạ, ba đời tu thiện, tính thích uống rượu và chơi cờ rất giỏi, khắp nước không ai thắng nổi. Từ nước Bắc tới có ông Kỵ Như, cũng là một người chơi cờ rất giỏi. Ông Trương vui mừng, tiếp đón kết giao tình, cùng dẫn về nhà, thỏa chí thích tài. Hai ông hiểu rõ huyền cơ của Tạo hóa (Sách báu ở Trì La có Vua Trời nói rằng cờ là sự biến hóa của huyền cơ), lấy sự vui mừng mà bằng lòng. Bảy năm hai ông kết bạn kim lan. Một hôm, ông Trương nói với ông Kỵ Như rằng:
– Chúng ta chơi cờ cao như vậy, ở Hạ giới không ai là đối thủ. Trộm nghe Vua Trời là danh cờ của Thượng giới. Tôi định muốn được lên đường mây, gõ cửa trời, bái cung Vua, nguyện hầu chuyện cùng cho tỏ tường cái duyên tiên đời trước, cho tận cái hào khí thủa nay vậy.
Sau đó mấy hôm, hai ông đang ngồi chơi cờ thì thấy có một ông già thân gầy như cây mai, râu trắng như tuyết, đội nón lá, quần áo thủng lỗ chỗ, hình dung rất kỳ dị, bẩn thỉu. Ông già chống gậy đến thẳng trước nhà, nói:
– Tôi mới về làng, đường xa hiểm trở, xem hai ông đấu cờ, tôi cũng rất hứng thú, muốn được thử một ván.
Kỳ Như mới nhường chiếu để ông già và Trương Ba đấu cờ. Mới được vài nước ông già đã thắng rõ. Ông Trương mới chắp tay mà nói rằng:
– Lão Tiên từ đâu đến đây? Phép cờ tối cao. Xin được biết tính danh, nguyện cầu thầy dạy cho.
Ông già chậm rãi nói:
– Nhà ta chính ở cung trời 33 trên Thượng giới (tức là Đế Thích, tính danh này chỉ có người biết mới hiểu).
Ông Trương và Kỵ Như nghe vậy thất kinh, trong lòng biết là Vua Trời Thượng giới xuống đấu cờ, quả đúng như nguyện ước. Hai ông bẻ mía ngọt, chuối xanh ở trong vườn về dâng lên, dập đầu lạy 5 lạy. Vua Trời lấy từ trong tay áo ra bó hương có ba nén là trầm hương, giáng hương và chân hương tặng cho hai ông mà nói:
– Lúc khác mà gặp nạn thì đốt ngay hương này lên, ta sẽ đến cứu giúp.
Dứt lời không thấy đâu nữa. Hai ông lạy tạ, rồi lấy hương quý cất đi.
Sau này hai ông ốm mất, người nhà mới nhớ đến việc hương thần, liền đem đốt lên. Vua Trời cưỡi mây hạ xuống, gọi Tam phủ công đồng đến tìm hồn hai ông về hồi sinh trên cõi dương. Chữa thuốc không đến một khuê (là thuốc tiên). Lại sửa sổ đen của Nam Tào (người khi sinh thì ghi sổ hồng, khi chết thì ghi sổ đen để tính toán), tăng thêm tuổi hạc thành tiên ông Đông Hải.
Hai ông cảm ơn tái tạo của Vua Trời (trăm ngày đếm một), dựng nên điện thờ ở xã Liêu Hạ theo phương Càn, cùng với xã Liêu Hạ phụng thờ Vua Trời và Tam phủ. Cầu đảo linh ứng như lời. Vạn thế truyền vang tiếng lạ.

IMG_0403Một góc bia Đế Thích điện ở Liêu Hạ.

Sự tích thờ phụng Đế Thích

Tích xưa phụng sự

Xã Cầu Bảo huyện Văn Giang phụng sự

Thiên Đế ngự ba ngàn thế giới, là Đại Phạm Thiên vương, Thiên chủ Trung tôn cai quản lục dục. Đế Thích là uy cảm của Linh Hữu Bột Hải Hoàng hậu, vua nước Thiền Tiên. Sự tích này của Ngọc bê hạ xưa có văn bia, tới nay mưa vùi gió dập, không còn dấu vết để xem xét. Kể rằng ở địa phận xã Ngu, lộ Quán Triền, trong một ngôi nhà cỏ có một bà lão bán tương. Bỗng một ngày thấy một vị trượng phu từ trên không hạ xuống, dung mạo đường đường, phi phàm. Người đó đi đến và ngồi tọa định. Rồi thấy một phụ nữ kiều diễm mặc áo trắng tươi tắn vượt lại. Chưa kịp trả lời thì thấy bên bờ Tây của sông có nhiều người dân xã Ngu cúi lạy. Đế nói: Ta là vua Đế Thích của 33 cõi trời xuống diệt trừ Càn Xát Bà Vương và 15 loại quỷ trừ hại cho dân. Nói xong thì bay lên không mà về. Nhân dân lập đền tại chỗ đó để thờ phụng, hàng năm có tế lễ. Sau này gặp khi cần chống hạn thì cầu thánh giá về nơi Quán Triền thì được ứng nghiệm, cầu mưa được mưa, nhân dân thường đến cầu đảo nhiều. Triều trước từ khi vua mới lên ngôi các vị bách thần được khai hiệu bởi quan lễ. Quan lễ bàn rằng Thiên Đế vô cùng cao quý, không dám phong tặng nên không có văn sắc.

IMG_4912
Thiên Đế điện ở Cầu Váu, Văn Giang, Hưng Yên.

Xã La Bật huyện Thiên Thi phụng thờ Thánh đế Đế Thích

Theo như lời truyền lại, xưa có một cái cây có ba nhánh khi trôi đến địa phận của bản xã thì có thánh hiển hiện nói rằng đó là Đế Thích giáng hạ. Người trong ấp nhân đó mới lấy cây gỗ để khắc tượng lập quán mà thờ, rất linh ứng. Xã Liễu Cầu ở cạnh đó có hai chị em cho gặp loạn mà sang nước Ai Lao, đã ngầm khấn đươc bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi được như bay. Khi quay về đến quê vào quán bái tạ thì bỗng chốc hình hài biến mất, chỉ còn lưu lại chỏm tóm trên đầu. Sau Đế Thích lại có biến thân thành một lão ông đến xã Liêu Hạ huyên Đường Hào cùng với Trương Ba đấu cờ. Sau đó Trương Ba mắc bệnh mà chết. Vợ Trương Ba lấy hương thắp khấn, lại thấy Đế Thích xuất hiện, thu hồn phách của Trương Ba nhập vào thân xác người đồ tể. Trương Ba được phục sinh gặp lại vợ. Nay ở đền Liêu Hạ từ ở chính giữa có lập tượng, bên trái đặt tượng Trương Ba, phía trước đặt một bàn cờ lớn. Sự tích được kể trong sách Lĩnh Nam trích quái. Từ đó về sau ở địa phương nếu gặp hạn muốn chống thì đón tượng để cầu đảo, đều có mưa ngay. Có nhiều công đức đối với nhân dân. Nhưng sắc phong cho tới nay nhất thiết đều không.

IMG_5807
Bức chạm cõi Thiên ở đền Xá, Ân Thi, Hưng Yên.

Xã Liêu Hạ huyện Đường Hào vâng sao sự tích

Miếu vua Đế Thích xưa từ triều Lý năm Long Thụy thứ tư giáng hạ ở xã Liêu Hạ, tại thôn Thượng ở phương Càn, thử tài cờ cùng với người bản xã tên là Trương Ba. Trương Ba biết là tiên ông trên trời xuống thành người phàm trần nên chắp tay bái tạ. Đến khi Trương Ba mất, đã giáng xuống cải tử hoàn hồn cho kéo dài thêm hơn 800 năm. Nhân dân lập miếu thờ phụng. Thái tể Vinh quận công triều Lê đã cho chép việc này thành sách.

Năm Canh Ngọ tháng Giêng ngày lành.

IMG_0397
Đền thờ Đế Thích ở Liêu Hạ, Yên Mỹ, Hưng Yên.

奉事舊跡

文江縣求保社奉事

天帝御三千界内大𣑽天王統六欲中尊天主帝釋威感靈祐渤海皇后禪僊國王玉陛下其事跡古有碑文至今雨打苔封無痕可攷傳聞愚社地分舘㕓路旁草舍古有老婦沽漿忽於日見一丈夫從空而下容貌堂堂非凢人比入來憇息坐定曰見嫗嬌婦女身著白服皂檽過否答曰未也言江之西岸那時愚社先民羅拜帝曰我是三十三天帝釋王也爲汝下民滅除乾𩴳婆王十五類鬼以祛民害言罷騰空而去因立祠于伊處以奉之歲時享用齋禮嗣後歲或亢旱奉迎聖駕于舘㕓處至誠祈之屡得澍雨之應處人民多來祈禱前朝嗣王新政豋秩百神間有承開𥈠號在禮畨官禮畨官議以天帝至尊不敢封贈無有勅文

天施縣羅払社奉祀帝釋聖帝

由舊傳言一木三枝流至本社地分顯聖言言帝釋降下邑人因取此木刻像立觀而祀之稔著靈應旁接柳梂社有妤妹二娘遭亂入哀牢國宻懇保護忽然行步如飛囬至本觀拜謝形骸一時變了只留頭髮在焉再有變身為老人就唐豪縣遼下社與張巴闘碁後巴以病終其妻取香焚懇俄見前來收巴𩲉魄入屠人就屍巴遂更生復與其妻作合今遼下祠正中塑像左立張巴前置一大碁局事跡具在嶺南摘怪籙嗣後本地方或遇亢旱迎像祈擣輙獲澍雨多有功德及民其敕封從來一切並無

唐豪縣遼下社承抄事跡

帝釋王廟昔自李朝龍瑞四年天帝降下遼下社上村之乾方試碁與本社人名張巴張巴知其天上僊翁下是凢人因拱手拜謝及張巴卒後降臨改死還魂許延八百餘年立廟宇奉事黎朝太宰榮郡公有為之語記以録其事
歲在庚午年正月吉日

Bản sự tích được chép trên giấy sắc, lưu tại điện Thiên Đế ở thôn Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Chiêm quan chữ nghĩa Đền Hùng

Hàng trăm con chữ rờ rỡ uẩn súc, bao ngữ nghĩa lấp lánh tâm thức Việt trên những hoành phi câu đối giăng từ Đền Hạ Đền Trung Đền Thượng Đền Giếng… trong khu Di tích Đền Hùng. Chữ mới nhất cũng tròm trèm gần thế kỷ. Bao bận được kính cẩn quan chiêm như thế mà vẫn thấy khó dứt mắt…

Cao Son Canh HanhNgôi Đền thiêng kết cấu hình chữ Vương tọa lạc trên Nghĩa Lĩnh ở độ cao vừa phải 175 mét gồm các quần thể Đền Hạ, Trung, Thượng đã được bao năm rồi nhỉ? Thời vua Đinh Tiên Hoàng thế kỷ thứ X cho viết thần tích Đền Hùng nhưng nơi thờ tự vua Hùng đã có từ lẩu lâu.
Và thời gian nào Hùng Vương Cơ Miếu (miếu thờ cơ nghiệp Vua Hùng) từ làng Trẹo (đọc chệch từ Triệu) ở chân núi Hy Cương được ai, triều nào dời sang bên Nghĩa Lĩnh?
Tôi nghĩ đến cái lần giặc Minh hung bạo triệt phá Đại Việt trong đó có việc làm cỏ Đền Hùng. Thần tích rõ là bị hủy. Nhưng còn bao câu đối hoành phi? Chắc cũng cùng chung số phận?
May mà thời Lê Trịnh, Đền lại được phục dựng, lại nguy nga! Nhưng xôm tụ bàn thờ Quốc Tổ được như bây giờ phải tính đến công sức của dân 18 tỉnh thành miền Bắc đâu như năm 1917 hay 1918 chi đó, đã có một cuộc lạc quyên lớn góp được hơn 6.000 đồng bạc Đông Dương để sửa sang tu bổ Đền Hùng.

Uẩn súc ngữ nghĩa
Khá khen cho cái lần trùng tu năm 1917 quy mô ấy. Việc đầu tiên phải tính đến cái cổng chính Đền Hùng? Xây mới hay trùng tu? Đau cái nỗi, cận gần là thế mà chưa tìm ra những biên chép cụ thể. Nhưng có lẽ từ thời điểm đó, con dân nước Việt hành hương, mới đến cổng thôi, chưa nhịp bước leo những Hạ, Trung, Thượng mà có cảm giác như đương chạm mặt trước Bàn thờ Quốc Tổ?
Ngước lên sừng sững bức hoành là 4 chữ trên nóc cổng Cao sơn cảnh hành (Núi cao, ngẩng trông. Đường rộng ta bước). Vế đối hai bên như lời diễn giải ý nghĩa của bức đại tự:
Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà qui bản tịch
Đăng cao viễn vọng quần phong la liệt tự nhi tô
n
(Mở lối đắp nền, bốn phía non sông qui một mối
Lên cao nhìn rộng, núi non trùng điệp tựa đàn con
)
Khéo là thứ đại tự ấy. Núi cao ta ngẩng đầu trông/ Đường rộng ta bước đất thiêng Đền Hùng. Có người đã mạo muội diễn nôm 4 chữ ấy. Mạo muội bởi 4 chữ này lấy từ Kinh Thi. Cao sơn ngưỡng chi, cảnh hành hành chi. Duyên do ông Nhan Hồi học trò Khổng Tử, ca ngợi đạo của Thày mình:
Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên, chiêm di tại tiền, hốt yên tại hậu
(Càng ngẩng trông, càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau).
Thôi thì những cao thâm này khác của tích Tàu, nếu tán ra thì còn dài. Nhưng lần sửa sang xây cất ấy, những hiệp thợ Việt tuân người mách bảo, chỉ chăm chút có 4 chữ mà thôi. Cao sơn cảnh hành. Ngẩng trông lên là ân đức của Vua Hùng. Dưới chân là đường rộng như cơ đồ cơ nghiệp vua Hùng đã mở mang cho tộc Việt!
Nhớ bận ấy lên Đền, tình cờ đụng được một vị áo chùng, khăn đóng, giọng hào sảng đương cắt nghĩa cho các người cùng đi ngữ nghĩa uyên thâm của đôi câu đối mà nhằm vào hai chữ “thác thủy” khởi đầu vế đối. “Thác” nghĩa là nâng lên, là tạo dựng. Rõ rồi. Còn “thủy” có bộ “nữ ” bên trái và chữ “thai” bên phải tượng trưng cho phụ nữ nghĩa là sinh nở.
Như vậy, thác – sức lực tạo dựng nên hiểu đó là Cha. Thủy – sinh nở, tức là Mẹ! “Thác thủy” là lấy tích Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ sinh trăm con tỏa khắp nơi nhưng đều quy về một mối tức gốc tổ!
Lại cũng khá khen cho tác giả câu đối! Dùng chữ nghĩa sao đó khiến hậu thế nổi… hứng có thể sáng tạo ra những ngữ nghĩa không ngờ? Đã đành Thủy do hai chữ “nữ” và “thai” hợp thành. Nhưng oái oăm, Thai ở đây không phải là… thai sản.
Thủy càng chả phải là sinh nở mà vẫn ngữ nghĩa của nó là mới. Thác thủy khai cơ là dựng nền mở lối mới vậy! Nhưng vị nọ với tâm thế luôn đăm đắm hướng về nguồn cội, cắt nghĩa như thế cho đám con Lạc cháu Hồng nghe, áng chừng thú vị và cũng lọt tai đấy chứ nhỉ?
Cũng như bức hoành Triệu Tổ Nam Bang hoặc Nam Việt Triệu Tổ (thứ khắc thứ đắp) người thuyết minh hướng dẫn đã dõng dạc như trong vài ba cuốn sách hẳn hoi là Tổ muôn đời của nước Nam.
Nghe có vẻ thuận và lọt tai? Nhưng chuẩn vẫn phải gọi đúng cái tên là Tổ đầu tiên của nước Nam! Bởi chữ Triệu được khắc được đắp có một nghĩa duy nhất là bắt đầu là ngay mới. Triệu ở đây không phải là số đếm để mà muôn hay vạn chi cả!

Về một chữ lạChữ trên mặt tiền, Hùng Vương Cơ Miếu.

Lần ấy ghé Hùng Vương Cơ Miếu, tôi chợt thấy một chữ lạ trong đôi câu đối.
Thiên thư định phận, chính thống triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành túy miếu, tam giang khâm đới thượng triều tôn
(Sách trời đã định, chính thống dựng kinh đô Bách Việt non sông có Tổ
Núi sáng khí thiêng, cố cung thành miếu mạo, ba sông quanh quất hướng chầu vua
).
Ba sông ở đây là sông Lô, sông Thao, sông Đà.
Chữ lạ ấy là chữ Bách!
Đã đành chữ, ngữ nghĩa của câu đối uẩn súc, thâm hậu. Tác giả đã hào sảng cái mạch chủ quyền độc lập quốc gia bất khả xâm phạm trong bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt khi rinh hẳn tổ hợp từ định phận thiên thư về cho một vế đối ở bàn thờ Quốc Tổ. Nhưng trong câu đối, chữ Bách viết khá lạ. Cứ băn khoăn mãi cái nỗi, không hiểu sao tác giả câu đối lẫn người thợ khắc chữ lại không dùng chữ Bách mà người thạo tiếng Hán ai cũng rành?
Chữ bách ở đây được viết, có thể nói là cường điệu và ở dạng tháu. Tháu đây không có nghĩa là lối viết thảo, giản lược. Mà chữ bách nom từa tựa như chiếc rìu Việt cổ. Hình rìu Việt lại có đầu rìu cuộn lại hình sóng nước, hình rắn và có đầu rắn. Kiểu viết như thế này khiến ta liên tưởng ngay tới Bách Việt. Chao ôi, nội đôi câu đối này thôi, và cũng nội một kiểu viết chữ Bách rờ rỡ nghiêm ngắn đĩnh đạc trên bàn thờ Quốc Tổ kia đã toát lên âm hưởng hùng khí chủ quyền quốc gia bao đời của giống nòi Lạc Việt.
Hình như chữ Bách này khi chuyển câu đối từ Hùng Vương Cơ Miếu sang Đền Thượng ở Nghĩa Lĩnh đã được kíp thợ khắc bằng chữ bách thường thấy, thường viết?
(Một dịp thích hợp, chúng tôi sẽ trở lại chữ Bách này trong một bài viết về hòn đá lạ – thực chất là một đạo bùa đang đặt ở Đền Thượng từng xôn xao cư dân mạng lâu nay. Đó là chữ Bách trong hàng chữ Bách Giải Tiêu Tai Phù – bùa giải tai ách – viết trên một mặt hòn đá)
Một dạo người viết bài này lấy làm tâm đắc ngữ nghĩa đôi câu đối tại Đền Thượng do chính nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương, người trai trưởng thi sĩ Tản Đà trực tiếp cắt nghĩa. Câu ấy là:
Thử địa thử sơn, Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô thổ, Bắc thần tôn
(Đất này núi này nước Nam dấy nghiệp
Vua ta nước ta khiến phương Bắc cũng phải nể
).
Lần ấy trong buổi trà dư tửu hậu với mấy ông thạo chữ ở Hà Thành, mạo muội hé ra cái điều sở đắc ấy, một ông cười đại ý, cụ Nguyễn Khắc Xương nghĩ thế cũng là được! Nhưng cái sự thể nó không hẳn thế…
Không hẳn là thế nghĩa là cứ chăm chắm nghĩa của Bắc thần tôn thì dễ lạc sang nghĩa khác. Bắc thần tôn thường hiểu và dịch là phương Bắc, Bắc quốc. Bởi phải hiểu và dịch như thế thì mới đối được với vế bên là Nam quốc. Phải quá đi rồi!
Hơn nữa, chữ Thần ở đây (khác chữ thần trong thánh thần buổi sớm, thần chỉ các quan…) gồm bộ Miên, dưới là chữ Thìn. Thần cư là nơi vua ở. Thần chương là văn chương của vua. Chữ Tôn ở đây là tôn trọng nể vì!
Nhưng Bắc thần tôn ở đây phải lấy Luận Ngữ ra mà giải. Đó là câu trong chương Vi Chính. Có câu “Tử viết: Vi chính dĩ đức. Thí như Bắc thần cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi
(Khổng Tử nói rằng, người làm chính trị, cầm quyền trị dân mà dùng Đức để thi hành chính sự thì dân chúng đều tuân phục tựa như ngôi sao Bắc thần, ở một chỗ mà mọi vì sao khác đều phải tuân chầu!)
Vậy đôi câu đối nên hiểu:
Đất này núi này đã được ghi chép là của nước Nam
Vua ta trị vì bằng Đức nên dân ta tôn kính như muôn sao hướng về Bắc Đẩu
.

Hiếm hoi tác giả

Chữ Hùng Vương Tổ Miếu ở Đền Trung. Ảnh: Xuân Ba.

Bao bận ghé Đền mà vẫn cứ bẵng đi cái việc hỏi ông thủ từ Nguyễn Xuân Các, Trưởng Ban Khu Di tích Đền Hùng, sơ bộ thống kê thì Khu Di tích Đền Hùng có bao nhiêu hoành phi câu đối, bao nhiêu là Hán? là Nôm? Là quốc ngữ? Lại nữa, tác giả những bức hoành phi câu đối ấy là ai vậy?
Quả là một điều khiếm khuyết lẫn tiếc xót, như nét mặt rầu rĩ của ông thủ từ khi ắng lặng đi một hồi rồi mới khẽ khàng rằng, đến tận bây giờ, mặc dầu đã hết sức cố gắng bươn bả này khác nhưng nhà Đền vẫn chưa biết tác giả những chữ nghĩa ấy là ai? Được viết và dâng cúng vào Đền Hùng thời gian nào?
Khiếm khuyết ấy ở thời nào vậy? Cứ lẩn thẩn, khi chế tác, các hiệp thợ tiếc chi một dòng lạc khoản (tác giả, triều nào ngày lành trọng đông hay trọng xuân hoặc sơ hạ) thì hậu thế tường ngay! Hoặc giả có một cuốn giấy bổi hay xuyến chỉ chép lại tường tận rồi giao cho thủ từ.
Hay là có những cuốn ấy nhưng qua bao tao loạn biến cố, nó mất đi rồi? Than ôi, bây chừ hậu sinh con cháu về Giỗ Tổ đành ngậm ngùi cảm nhận ngữ nghĩa qua người thuyết minh hoặc các bảng biểu treo trên tường.
Không biết tác giả nhưng thầm đoán phải là những đấng văn chương, các bậc túc nho hay chữ hoặc cao sang hơn phải là chữ nghĩa của các đấng quân vương. Thêm nữa, việc tuyển chọn chữ nghĩa để dâng bàn thờ Quốc Tổ phải từng được tiến hành rất cẩn trọng thì mới chất lượng thế!
Nói vô danh, khuyết danh cả cũng chả phải! Có đấy. Nhưng hiếm hoi làm sao, nghển ngó mỏi cổ cũng chỉ được biết ở Hùng Vương Cơ Miếu có ba bức hoành. Một của vua Duy Tân (Nam quốc sơn hà), hai bức của vua Khải Định (Quyết sơ sinh dânDân sinh là điều tiên quyếtTử tôn bảo chi Con cháu nhớ giữ gìn).
Và cũng hiếm hoi ở Đền Trung có đôi câu đối của Chúa Trịnh Sâm:
Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục mệnh thi
(Hỏi lại việc xưa nên chép sử
Ngắm xem phong cảnh muốn đề thơ
).
Sở dĩ biết tác giả là Trịnh Sâm bởi hậu thế căn cứ vào Bản dập thủ cảo của Tĩnh vương Trịnh Sâm trên núi Hùng được treo ở Bảo tàng Viễn Đông Bác cổ trước 1945, và chụp đăng trên tạp chí BEFFO,1937.
Chúa có câu đối, vua cũng chả kém. Thơ của vua Lê Hiển Tông (bố vợ của Quang Trung) về Đền Hùng:
Mộ cũ ở lưng đồi
Đền thờ trên sườn núi
Muôn dân tới phụng thờ
Khói hương còn mãi mãi…
Nhưng thơ vua chỉ lưu trong sách, trên Đền không thấy ghi!
Cũng cần nói thêm, chính sử còn chép rõ giai đoạn vua Lê chúa Trịnh đã có sự quan tâm đặc biệt và vương triều này đã góp phần lớn xây dựng lại đền Hùng. Năm 1407 nhà Minh phá trụi thùi lụi Đền Hùng. Khi nước độc lập, triều Lê sơ chiêu dân lập lại làng.
Vua Lê Thánh Tông xây lại đền Trung, đền Hạ, như vậy hầu như hoàn thành xây dựng lại ba đền có từ thời Lý Trần, Tiếp đó xây lại đền Giếng. Năm 1600, thời vua Lê Kính Tông, chúa Trịnh Tùng sai quan thị độc Nguyễn Trọng sao lại tài liệu về đền Hùng. Năm 1727, chúa Trịnh Cương sai Hoàng Nghĩa Chử xây dựng ở Hy Cương tức đền Hùng. Cuối thế kỷ XVIII, vua Lê, chúa Trịnh đề thơ ca ngợi sự nghiệp vua Hùng và cảnh đẹp núi Hùng.
Và cũng hiếm hoi câu đối Nôm? Hiện tạc ở Lăng Vua Hùng:
Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà non nước vẫn quay về Đất Tổ
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn biết nhớ Mồ Ông.
Khá hay. Nghe nói của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu không biết có phải? Còn quốc ngữ, hình như hiếm hoi mỗi câu. Mà cũng phải trước năm 1945 bởi hồi ấy còn Xứ Bắc Kỳ, Trung và Nam Kỳ?
Con cháu ba kỳ thăm mộ tổ
Non sông muôn thuở rạng nòi Tiên.
Biên ra như thế không có nghĩa là khuyến khích việc cần khẩn trương cúng thêm chữ nghĩa Hán Nôm lẫn quốc ngữ lên bàn thờ Quốc Tổ! Hoàng phi lẫn câu đối Đền Hùng chừng như cũng đã rậm đã dày?
Thôi cứ để tiếp tục lẫn trường tồn cái mạch uẩn súc thoang thoáng như hiện trạng cho thuận mắt! Bởi cứ nghĩ đến những chữ nghĩa trên các hoành các câu đối chăng giăng khắc in một cách tùy tiện, sai be bét, lòe loẹt và ngây ngô ở không ít các đình chùa di tích đã thấy hai hãi!
Sao lại tài liệu về Đền Hùng! Gặp được dòng này trong sử cứ ngỡ như đang vớ được cuốn vở ghi danh tên các tác gia cúng tiến chữ nghĩa vào Đền Hùng mà thời Lê Trịnh từng làm!
Và không phải chỉ thời ấy làm việc đó? Xa hơn cũng như gần hơn? Dẫu thất tán nhưng người nhà Đền lẫn các nhà chức việc hình như chưa ráo riết và siêng năng thực thi cái việc chắp nối sưu tra từ ký ức trong dân gian lẫn việc nối mạng với giới nghiên cứu cùng các nhà bảo tàng trong ngoài nước?
Phập phồng một ngày đẹp giời, hậu thế hành hương Đền Hùng khi chiêm quan chữ nghĩa trên các hoành phi câu đối có được cảm khoái biết thêm được các tác giả cùng lý lịch trích ngang và hoàn cảnh ra đời của những chữ nghĩa ấy!

Đêm Mồng Mười tháng Ba năm Tỵ
Xuân Ba

Ngước lên sừng sững bức hoành là 4 chữ trên nóc cổng chính Đền Hùng “Cao sơn cảnh hành” (Núi cao, ngẩng trông. Đường rộng ta bước). “Cao sơn cảnh hành”. Ngẩng trông lên là ân đức của Vua Hùng. Dưới chân là đường rộng như cơ đồ cơ nghiệp vua Hùng đã mở mang cho tộc Việt!

Bài và ảnh theo báo giấy Tiền phong

Thần tích Lão Tử ở làng Thổ Hà

Ha Bac
Theo ghi chép của Ty văn hóa Hà Bắc năm 1973 thì thần tích làng Thổ Hà ở Việt Yên được kể theo 2 truyện:
  1. Thành hoàng làng Thổ Hà tên húy là Lão Đam, tên chữ là Lý Bá Dươnng, vốn là người nhà trời. Thượng Hoàng sai Lão Đam đầu thai vaof bà lão Mậu Huyền Diệu Mông để giúp dân dẹp bọn Xích Quỷ. Vì đầu thai sớm quá nên Lão Đam phải ở trong bụng mẹ 81 năm, rồi ra đời dưới gốc cây mận. Lão Đam sau khi dẹp hết bọn Xích Quỷ thì hóa ở chùa Đoan Minh (chùa làng Thổ Hà) và được phong là Thái Thượng Lão Quân.
  2. Cuối đời Chu, Lão Tử đã đi xuống miền Nam du ngoạn. Khi Lão Tử tới tả ngạn sông Nguyệt Đức thấy một khu đất rông hơn 50 mẫu, ba mặt liền sông, sau có hồ sen thiên tạo rộng hơn 6 mẫu. Lúc này đang mùa sen nở, hoa thắm lá xanh, hương bay ngàn dặm. Lão Tử thấy phong cảnh đẹp bèn cắm trang ở đây, đặt tên là Thổ Hà trang. Sau khi lập trang ông ta còn mở trường truyền đạo cho các đồ đệ, nhà trường nay là chùa Đoan Minh. Lão Tử có nhiều phép màu trừ hung sát quỷ. Đương khi Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, nhưng thành cứ xây lên, sáng dậy lại bị đổ, bởi thần Kim Kê ở núi Thất Diệu trêu cợt. Vua nghe thấy ở trang Thổ Hà có người biết trừ hung sát quỷ bèn cử sứ giả lại mời. Lão Tử nhận lời, rồi đi đến núi Thất Diệu sai Thanh Giang sứ hiện thành rùa vàng vào rừng trừ yêu quái, lại thư phù vào lá trúc thả xuống sông cho trôi khắp mọi nơi xua yêu quái. Nhờ vậy, nửa tháng đã xây xong thành Cổ Loa, Lão Tử có từ ra về, được An Dương Vương ban thưởng rất hậu. Về đến trang Thổ Hà bèn mở tiệc khao toàn thể dân làng. Đang lúc đó trên trời xuất hiện một đám mây ngũ sắc bay đến. Lão Tử liền bay lên trời, ẩn vào mây biến mất. Hôm đó là ngày 22 tháng 2 âm lịch.
    Nhân dân làm sớ tấu, vua truyền cho dân Thổ Hà lập đình phụng sự.
    (Theo Bắc Giang tỉnh chí, Trịnh Như Tấu).

IMG_7320
Chùa Đoan Minh, trường giảng đạo của Lão Tử.

Sự tích 1 chép Lão Đam dẹp bọn Xích Quỷ, có lẽ bị nhầm chữ. Đúng là Xích Tỵ (Mũi Đỏ). Đây là chuyện Lão Tử chữa bệnh dịch hạch hoặc đậu mùa (bệnh có biểu hiện nổi mụn đỏ trên da) cho người dân. Trong tín ngưỡng dân gian, Lão Tử được tôn như một vị thánh cứu thế chính là vì công nghiệp chữa bệnh dịch cứu nhân gian này.
Chi tiết Lão Tử đã thư phù vào lá trúc thả xuống sông cho trôi khắp mọi nơi xua yêu quái. Hẳn là ông đã biết dùng loại thảo dược gì đó (“lá trúc”) để sát khuẩn cho nước ăn, triệt tận gốc nguồn dịch bệnh.
So sánh sự tích 2 với tiểu sử của lão Tử trong Lão Tử minh (bài minh văn soạn thời Hán Hoàn Đế):
Lão Tử vi Chu tàng thất sử. Đương U Vương thời Tam Xuyên thật chấn dĩ Hạ Ân chi quý, âm dương chi sự giám dụ thời vương.
Dịch:
Lão Tử làm quan coi sử sách của nhà Chu. Thời Chu U Vương, vùng Tam Xuyên xảy ra động đất, đã lấy sự biến động của âm dương mà răn dụ Vua.

IMG_7258
Bia “Thủy tạo đình miếu bi” ở trước đình làng Thổ Hà.

Đoạn văn ngắn ngủi nhưng đã cung cấp thông tin rất quan trọng về thời gian, công nghiệp thực sự của Lão Tử:
Thời gian: Lão Tử là quan thủ thư của nhà Chu dưới thời Chu U Vương, tức là vị vua cuối cùng của thời Tây Chu. U Vương là vị vua tàn bạo, nổi tiếng với câu chuyện đốt lửa Ly Sơn mua nụ cười của Bao Tự. Cũng vì thế mà sau đó, Chu Bình Vương đã phải dời đô nhà Chu sang phía Đông, mở đầu thời kỳ Đông Chu liệt quốc.
Công nghiệp của Lão Tử: vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử nhân đó dựa sự quỷ thần, lấy tấm gương của các nhà Hạ, Ân mất nước để khuyên răn Chu U Vương.
Đây cũng là cốt truyện của việc An Dương Vương (vua Chủ) xây thành Cổ Loa ở vùng Đông Ngàn, bị hồn ma các vua đời trước biến thành con Bạch Kê tinh quấy phá, thành xây xong là đổ do… động đất. Huyền Thiên Trấn Vũ, tức Lão Tử, đã cử thần Kim Quy đến đăng đàn trên núi Thất Diệu, giúp vua An Dương Vương diệt yêu trừ quỷ dựng thành.
Câu đối ở đình Thổ Hà:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, Ngũ Vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

Bổ sung: MÓNG RÙA TRAO LẠI LÀ BẢO BỐI GÌ?
Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả cho biết, người xây thành Cổ Loa là Hùng Vương, chứ không phải Thục An Dương Vương. Khi thành mới dựng, cứ xây xong lại đổ. Vua cầu khấn thì được Rùa Vàng hiện làm Thanh Giang sứ giả đến giúp trừ tinh quỷ ở núi Thất Diệu. Sau đó Rùa Vàng trao cho vua Hùng một bảo vật là chiếc Móng Rùa, được dùng làm lẫy nỏ thần, sẽ giúp nhân dân trong thiên hạ được yên vui…
Vậy chiếc Móng Rùa đó là vật gì mà lại có sức mạnh như vậy?
Câu chuyện Lão Tử với tên Huyền Thiên Trấn Vũ, cử thần Kim Quy giúp vua xây thành ở núi Võ Đang giúp tìm ra chiếc Móng Rùa này.
Lão Tử cuối đời xuất quan đi về phía Tây (hẳn có nghĩa là ông đi hóa – quy Tây – về trời) thì gặp quan Doãn Hỷ cầu xin ông để lại sở học của mình, chép ra thành Đạo Đức kinh để truyền thế.
So sánh 2 chuyện ta thấy quan Doãn Hỷ chính là đã vào vai trong hình tượng thần Kim Quy, là đệ tử của Huyền Thiên Lão Tử. Như thế, chiếc Móng Rùa để lại không gì khác chính là cuốn Đạo Đức Kinh, tác phẩm truyền đời nổi tiếng, làm nền tảng cho văn hóa tín ngưỡng phương Đông sau này.
Ở đền Sái Đông Anh trên núi Võ Đang, trong lễ hội thần Kim Quy được gọi là Chúa (xem hình Chúa áo vàng), cùng với Vua sống đến tế lễ thần Huyền Thiên.

P1110606

Lữ Nam Đế sự tích

Thần tích lưu ở làng Ước Lễ (xã Tân Ước, huyện Thanh Oai) và Đa Phúc (Sài Sơn, Quốc Oai).
Sơn Tây tỉnh, Quốc Oai phủ, Lật Sài tổng, Đa Phúc xã ngọc phả cổ lục.

Bản dịch:

SỰ TÍCH LỮ NAM ĐẾ
Thần họ Lữ húy Gia, người xã Thiên Phúc (nay đổi là Đa Phúc) huyện Ninh Sơn (đời Lê Trang Tôn đổi là Yên Sơn), làm quan triều Triệu Văn Vương, đến khi Minh Vương lên ngôi, ông được ban chức Thái phó.
Lúc đầu, khi Minh Vương còn là Thái tử, vào làm con tin bên nhà Hán sống ở Trường An, lấy bà Cù Thị ở Hàm Đan, sinh được một người con trai tên là Hưng. Đến khi Minh Vương lên ngôi, nhân giấu ấn của Tiên đế, đã dâng thư cho nhà Hán xin lập bà họ Cù làm hoàng hậu, con trai Hưng làm Thái tử. Nhà Hán nhiều lần sai sứ giả dụ Minh Vương vào triều. Minh Vương đã cáo bệnh không chịu nghe theo. Đến khi con trai Hưng đã lập tôn bà họ Cù làm hoàng hậu.
Nguyên khi bà họ Cù chưa lấy Minh Vương, bà thường đi lại với Thiếu Quý An Quốc người Bá Lăng. Năm Nguyên Đỉnh thứ 4 đời Vũ Đế nhà Hán đã sai Thiếu Quý đến dụ Hưng và hoàng hậu Cù Thị vào triều. Đến khi sang nước Việt, Thiếu Quý lại tư thông với bà. Người trong nước biết chuyện đó, nhiều người không ủng hộ. Cù Hậu tức giận, muốn dựa vào thế nhà Hán, nhiều lần khuyên Hưng và các quần thần quy phục. Thế rồi nhân sứ giả nhà Hán đến, liền dâng thư xin được theo qui chế đối với các nước chư hầu ba năm một lần triều cống, vua nhà Hán chấp thuận, liền ban ấn bạc cho Hưng và Thừa tướng Lữ Gia. Năm sau, Hưng và và Cù Hậu đã sắm sửa hành trang của cải châu báu đầy đủ để nhập triều.
Lúc đó, Thừa tướng Lữ Gia tuổi đã cao, làm Thừa tướng trải qua ba triều, tôn tộc đều làm trưởng lại đại thần, tất cả hơn 70 người. Con trai thì lấy công chúa, con gái đều gả cho con em các nhà vương gia. Ngày ấy, họ Lữ giữ quyền rất lớn, người trong nước tin theo, còn lớn hơn cả người theo vua Triệu. Lữ Gia đã nhiều lần can ngăn Hưng không nên qui phục nhà Hán, nhưng Hưng không nghe, nên đã nhiều lần cáo bệnh không muốn gặp sứ giả.
Sứ giả nhà Hán đều để ý đến Lữ Gia. Cù Hậu bèn bầy tiệc rượu mời sứ giả nhà Hán đến, âm mưu trừ khử Lữ Gia. Sứ giả đến uống rượu, các đại thần đều đến uống rượu. Sứ giả ngồi phía đông, Cù Hậu ngồi ở phía Nam, Hưng và các tướng đều ngồi ở phía Tây. Em trai Lữ Gia là Lữ Cường làm tướng, đem binh sĩ đến ở ngoài cung.
Khi rót rượu, Cù Hậu nói với Lữ Gia rằng: “Nam Việt nội phục nhà Hán là có lợi, tướng quân không muốn là cớ làm sao?”. Nói vậy là có ý khích sứ giả nhà Hán, nhưng sứ giả hồ nghi nhìn nhau không dám chống cự.
Lữ Gia thấy xung quanh không có tai mắt của mình liền bỏ ra ngoài. Cù Hậu tức giận muốn cầm mâu đâm Lữ Gia, nhưng Hưng cản lại. Lữ Gia đi ra, sai em trai mang quân đến phủ đệ riêng ở Trúc Viên Sài Sơn, cáo bệnh không gặp sứ giả.
Cù Hậu muốn giết Lữ Gia nhưng không giết nổi. Hán Vũ Đế cho rằng: “Hưng và Cù Hậu đã quy phục, chỉ còn Lữ Gia là không chịu nghe theo, nên không muốn mang quân sang đánh, muốn sai tướng là Trang Sâm mang 2000 quân đi sứ.
Trang Sâm nói: “Nếu có ý tốt thì mang vài người là đủ, còn nếu dùng vũ lực mà đem 2000 người thì chẳng làm gì được”. Tướng ở Tế Bắc là Hàn Thiên Thu hăng hái nói rằng: “Chỉ có nước Nam Việt bé tí tẹo thế, lại có thêm Hưng và Cù Hậu làm nội ứng rồi, thì thần chỉ xin đem theo 300 dũng sĩ sang sẽ bắt được Lữ Gia đem về đền ơn vua”. Thế là nhà Hán liền cử Hàn Thiên Thu và em trai Cù Hậu là Cù Lạc đem 2000 quân sang đất Việt.
Thừa tướng Lữ Gia liền ban lệnh cho dân cả nước rằng: “Vua Triệu nhỏ tuổi, Cù Hậu vốn là người Hán, đã từng dâm loạn với sứ nhà Hán, chỉ muốn nội phụ nhà Hán, lại mang tất cả bảo khí của Tiên Đế để sang cống vua Hán để lấy lòng, lại sai tôi tớ đem vàng bạc đến Trường An bán kiếm lời. Họ chỉ giữ mối lợi nhất thời, chẳng đoái hoài đến giang sơn xã tắc nhà Triệu”. Thế rồi sai tướng đến đánh, giết chết cả Hưng, Cù Hậu và sứ giả nhà Hán. Lại cho người đến nói với Tần Vương ở Thương Ngô, xin cho lập con cả của Triệu Minh Vương là Kiến Đức làm vua Nam Việt.
Kiến Đức lên ngôi thì Hàn Thiên Thu đem quân đến xâm phạm bờ cõi, phá tan mấy làng ấp. Lữ Gia liền mở đường, cấp lương cho binh sĩ, đặt đồn lũy đến tận Phiên Ngung dài 40 dặm, đem quân đánh giết chết Hàn Thiên Thu, treo cờ tiết nhà Hán lên trên ải. Sau đó lại chất đá làm cửa, chống lại quân Hán. Nhà Hán sai Lâu Thuyền tướng quân đến chặn giữ các nơi hiểm yếu, lại sai bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc đem mấy vạn quân đến công phá cửa đá, đánh bại quân Việt. Kiến Đức và Lữ Gia đem mấy trăm quân đi thuyền chạy ra biển. Thế là nhà Triệu đã bị bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc dẹp yên.
Tương truyền, Lữ Gia đánh nhau với quân Hán, bị thua lại bị quân Hán chém cụt đầu. Ngài vẫn ngồi trên lưng ngựa, chạy mãi đến địa giới xã Đăng Khôi huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản), gặp đám phụ nữ đi qua, họ đều nói: “Xưa nay người không có đầu lại có thể sống được chẳng?”. Thế là Người liền ngã ngựa mà hóa. Ngài rất linh thiêng, các đời vua đều phong tặng, trong đó có ý tán thán rằng: “Lữ Nam Đế đã tỏ rõ tài năng dám chống lại nhà Hán”.
Người đời sau từng ca ngợi: “Riêng một mình chẳng coi được ấn tín nhà Hán làm vinh hạnh, nên rõ ràng không thuận tiện cho kẻ quy phụ, thế thì há bảo là không trí được chăng? Chém Thiếu Quý diệt Thiên Thu bỏ cờ tiết nhà Hán, chiếm cứ nơi hiểm yếu, như thế há bảo rằng không dũng mãnh hay sao? Phế một vua lập một vua, chỉ biết thờ con cháu Vũ Đế, giữ gìn xã tắc nhà Triệu, sống chết vì đất nước, như thế há bảo rằng không có nghĩa được hay sao?”.
Từ xưa đến nay nhân dân các nơi thờ phụng rất là tôn kính, hễ có cầu khấn điều gì đều rất linh nghiệm.

Nguyên văn:

山西省國威府栗柴總多福社玉譜古籙

呂南帝事跡

神姓呂諱嘉寧山(黎莊尊時改為安山縣)天福人(今改多福)仕趙文王朝至明王即位拜太傅初明王為太子時入質於漢居長安娶邯郸樛氏女生子興及明王即位因藏先帝璽上書於漢請立樛氏為皇后興為世子漢数遣使者誘明王入朝王稱病不朝從子興立尊樛氏為皇后原樛氏未嫁明王時常與伯陵人安國少季通漢武帝元鼎四年使少季来誘興及樛后入朝少季至後與後私通國人知之多不附樛后后怒欲倚漢威数勸興群臣求內附即因使者上言請此內諸侯三歲一朝漢帝許之錫興與丞相呂嘉銀印次年興及樛后知飭治行装重宝為入朝
其时丞相呂嘉年老歷相三朝尊族仕官為長史者七十餘人男皆尚公主女皆嫁王之子弟及槍梧秦王有連親壻也其㞐國中甚重國人信之多為耳目者得眾心愈於王嘉数諌興勿內附弗咱因称病不見漢使者使者皆注意嘉樛后乃置酒介漢使隂謀欲誅嘉使者飲大臣皆視坐飲使者東鄉樛南鄉興與将相皆西鄉嘉弟呂強為将将卒居宮外行酒后謂嘉曰
南越內附國之利也而相君不更者何也以意激漢使使者弧疑相顧遂莫敢抗嘉見耳目非是即出后怒欲縦嘉以矛興止之嘉遂出分其弟兵仍就柴山竹園私第称病不見使者后欲誅嘉而力不能
漢武帝以為興及樛氏已內附獨嘉不咱命不足興兵欲使将莊参以弍千兵往使莊参曰以好往数人足矣以武往二千人無以為也濟北将韓千秋奮曰以一區區之越又有興及樛后內為應願得勇士三百人必蒦嘉以报於是漢使韓千秋興樛后弟樛樂以弍千人往入境丞相嘉遂不令國中趙王年少樛后本漢人又與漢使乱專欲內附尽持先帝器入献于漢以自媚多縱人行至長安慮賣以為重僕自守一時之利無願趙氏社稷為萬世計慮之意乃與其弟将卒攻興遂殺興及樛后尽殺漢使者遣人先說槍梧秦王及諸郡邑立明王長子衛陽侯建德為王建德即立而韓千秋引兵入境破数小邑嘉乃開道給良未至番禺四十里出兵撃韓千秋等滅之使亟封漢使節置塞上人積石為門以抗漢楼船發兵守要害處漢使博德楊僕等将𢼂萬進兵破石門敗之建德及嘉興𢼂百人夜奔入海以船西去而趙已為博德楊僕等所平矣
世傳以為嘉與戰漢不利䘮其首猶騎馬奔至天本縣(今務本縣)登灰社諸村婦女皆言古今豈有無首而生者遂墜馬為死稔著靈異歷代封曰呂南帝盖表其能與北敵抗也後人称之曰獨不漢印為荣確然求內附為不便不可謂非智誅少季滅千秋亟封漢印㨿守要害攄先王之忄憤於九泉不可謂非勇癈一君立一君惟知事武帝子孫趙氏社稷死生以之遑悔其他不可謂非義從来北方之民歲時奉祀祈禳無不靈驗焉

Điển thờ Hùng Vương ở đền Vân Luông

Nam Thien chinh thong

THƯỢNG THẦN CUNG ĐIỆN
Viễn Sơn thánh vương (bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Hiển linh Thống thủy Điện an Hoằng tế Phổ hóa Minh túc Hậu ứng Quảng Huệ Uy hàm Diễn đức công Thánh vương (bài vị giữa)
Ất sơn thánh vương (bài vị phải)

TRUNG THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương (bài vị giữa)
(bài vị phải)

HẠ THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
(bài vị giữa) Tên hiệu cũng giống như Trung Thần Cung
(bài vị phải)

Tháng Giêng ngày 8, ngày 10. Tháng Giêng ngày 4 (ngày giỗ). Ngày 15 (ngày mở). Tháng Giêng ngày 6 (ngày sinh).
Tháng Hai ngày 15 (ngày sinh).
Tháng Ba ngày 15, ngày 20 (ngày giỗ).
Tháng Năm ngày 5 (ngày sinh).
Tháng Chín ngày 15, ngày 14.
Tháng Mười ngày 10 (ngày sinh)

Vạn phái nguồn gốc sâu xa như biển lớn chảy mãi. Tiên vương ân nghĩa đắp bồi vạn thế, đức trạch cao dày khắp chốn, sự lành còn đó muôn năm, đất nước yên bình, quốc gia thịnh vượng sao!
Nên ta tuân theo Trời, nối tiếp đức lớn, ngưỡng tổ tông tích đức qua các đời, sáng lòng nhân, yên trời đất núi sông khắp chốn vậy. Ấy là gây dựng nước Nam Việt ta cơ đồ bao la, công nghiệp đế vương to lớn. Trời cùng người đều quy về, các chư hầu cùng phục, lập thứ tự trăm quan trong triều đình, yên định vạn dân, xưng tên nước, đặt trăm quan, chia trăm họ, phân các quan lập các xứ, dựng nước xây thành, vững mạnh 15 bộ giữ mỗi phương phân định, thiết lập các chức vị, phủ huyện, xã, châu, động. Sự trọng yếu của quốc gia, căn bản gốc rễ của thiên hạ là giúp thành cho người dân cày ruộng, đào giếng, làm nghề trồng dâu nuôi tằm, nước giàu quân mạnh, trị vạn dân, biết lấy trọng dưỡng sức dân làm nền tảng.
Các triều đại xưa đưa bút thành sách, lộc quý trời Nam, mãi trùm các thế, con cháu dòng dõi lưu truyền muôn đời, không thể mất. Không truyền lại sự tích này thì không thể là người hiểu biết. Còn nếu lấy đó mà coi thường sự tiết lộ của sách trời điềm lớn thì cũng không thể thành người.
 Xưa Tiền Hoàng đế Thánh tổ Cõi lớn trời Nam, Hùng Vương Sơn Nguyên, đã gây dựng cơ đồ, thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Hùng Thị, mười tám đời thánh vương ngự trị Cõi lớn trời Nam, mở mang cơ đồ nước Việt, nước biếc một dòng, bắt đầu vận vua sáng đế thánh. Núi xanh van dặm, lập nền đô thành điện báu, mở vật giúp người, thống trị mười lăm bộ, giữ thế mạnh trước phiên thần, nối tiếp phát huy Cõi lớn thành đất Viêm Hồng, trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giúp cho dòng giống vững như bàn đá, hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương ngự ở Việt thành, muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam, gốc nước cơ đồ, vạn xuân tôn kính, ngàn xưa chảy mãi, các cung thần Thượng Trung Hạ, đền miếu từ xưa, dấu vết lưu truyền.
Dân xã 5 huyện phủ Lâm Thao phụng thờ
(Vì điện chính của Hoàng Đế ở Phong Châu nay là điện báu ở đầu núi Ngũ Lĩnh, nơi yên táng lăng mộ của bậc cửu tôn).
Các huyện Tam Đái, Phù Khang, Lập Thạch phụng thờ (Vì điện cung thần Bắc cùng núi Nham, núi Tằng, núi Bách Thôi, các đầu núi lập lăng điện tôn quý).
Ba huyện Sơn Dương, Tam Dương, Tây Lan của phủ Đoan Hùng phụng thờ (Vì Hoàng Đế lập lăng điện tôn quý ở núi Tam Đảo, đầu núi Bạch Long trong gò Tụy Ninh. Hai huyệt Tây Thiên, Phù Nghĩa cùng Sơn Dương, Phi Sơn, Nham Đỉnh có lăng điện tôn quý ở chùa trong núi, dưới là các lăng tôn quý ở vùng đất quanh huyệt).
Xã Quần Anh huyện Nam Chân xứ Sơn Nam phụng thờ (Vì điện lăng tôn quý được lập ở miệng ngọn núi nơi cửa biển, có ba huyệt).
Ba huyện Tiên Du, Tản Hoa Đông Ngạn xứ Kinh Bắc phụng thờ (Vì điện tôn quý 9 huyệt ở các núi Sóc Sơn, Dương Sơn, Giác Sơn, Vạn Sơn, Ư Sơn, Bi Sơn, an táng tại đó).
Hai huyện Đông Triều, Hoa Phong xứ Hải Dương phụng thờ (Vì lăng tôn quý ở ba huyệt núi Yên Tử, Ngôi Sơn, Lục Đầu Giang, lập Chân Châu, Triều Sơn, Hoa Phong, Cửu Sơn an táng).
Huyện Thụy Nguyên Tông Sơn, phủ Thiệu Thiên, xứ Ái Châu phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý ở Lam Kim Sơn, Lạng Sơn, Tống Sơn ba huyệt).
Hai huyện Đức Quang, Hà Hoa và hai huyện Thiên Duyên, Thạch Hà xứ Hoán Châu phụng thờ (Vì là thành đô cũ, 60 lăng điện tôn quý tại chùa được táng ở các đầu núi Hùng Lĩnh, lập chùa tên là Ngàn Hống Thứu Lĩnh, 60 huyệt núi).
Châu Bố Chính, châu Hoành Sơn các trang động phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý 9 huyệt lập tại Long Hóa, Tượng Sơn, Thần Đầu giáp biển an táng).
Các phủ huyện chậu Quảng Nam, Phú Xuân, Quy Nhân, Tây Sơn phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý ba huyệt lập ở Tây Sơn, Ngọc Lĩnh, Chu Sơn, Đà Sơn, Điện Thiên, Đài Sơn đầu núi trong chùa Bảo Long an táng).
Mười châu xứ Hưng Hóa các trang động trong châu phụng thờ (Vì lăng tôn quý lập ở đầu núi An Lãng bốn huyệt, núi Phù Hoa đặt ba huyệt).
Châu Thu Vật, Tụ Long xứ Tuyên Quang các trang động trong châu phụng thờ (Vì lăng tôn quý ở Bảo Lạc, Côn Lôn, Sơn Bắc trong điện ba huyệt được an táng).
Châu Tam Thanh Sơn phủ Cao Bình các trang động trong châu phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý đặt tại núi Tam Thanh hai huyệt).
Xứ Lạng Sơn các châu trang động phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý đặt tại núi Tứ Châu, núi Quỷ Môn hai huyệt).
Hai xứ Quảng Đông, Quảng Tây phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý tạo núi Kim Bảo, núi Đốc Long hai huyệt).
Các nước Phúc Kiến, Cao Miên, Hồ Tôn phụng (Vì lăng điện tôn quý ở tại núi Thái Lão, núi Cửu Long hai huyệt).
Nước Bắc núi Ngũ Lĩnh, Vân Nam, hồ Động Đình, Linh Sơn trong vùng phụng thờ (Vì 6 điện tôn quý Trung Hoa ở núi Tiền Cơ lập điện ở đó).
Ngọc phả Hùng Vương truyền nhà ngàn xưa, con cháu dòng dõi truyền các đời vua nước Nam, các họ tộc đế vương từ họ Hùng mà cố gắng lưu giữ. Muôn năm trăm bậc đại đế vương thay nhau kế vị nước Nam, hưởng phúc giữ cơ đồ, giúp vận truyền nối đời Hùng Vương, phù giúp cho xã tắc non sông Nam Việt vững mạnh, lập đặt bàn rồng bệ ngọc truyền vị đế vương núi sông đất nước. Cùng rèn đúc đất nước thành ấn phù trân quý, dương cờ mở đô thành, lập cung điện, đổi tên dựng nước đặt hiệu.
Vốn họ Hùng nguyên tộc ở tại địa phương nước Nam, định kỳ giao nhận giấy văn, lập mốc giới núi sông, cúi vọng mà cầu trời đất, thần kỳ, các bậc thánh qua các đời, các bậc thành hoàng linh thiêng, trăm vương thượng đẳng, trăm thần hội tụ của thiên hạ, các linh cung thổ địa, cùng nhau giám chứng, giúp trợ đức vua, mở nước lập nền, dựng nên nghiệp đế, trị yên thiên hạ, bốn bể thẳng cánh chim hồng chim nhạn, cùng hưởng phúc thái bình.
Từ Ba Vua họ Hùng Hoàng Đế Nghiêu Thuấn Vũ Thang dựng nước đến nay, nước Nam các đời nối nhau truyền nghiệp đế qua vua các họ, truyền tới vua Chu, các nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Tề, Lương, Nguyên, Minh, Thanh, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, các vương Lê, Nguyễn, Trịnh dựng triều, các đế vương ngự trị.
Nhớ Kinh Dương Vương Thái tổ Cao hoàng đế ban sơ, là nguyên bậc thánh đế vương đầu, khởi dựng cơ đồ, thuận trời ra trị, mở vật giúp người, kính lẽ trời, phép tắc các bậc tổ, là bậc thánh thần văn võ, sáng chế lập ra phép tắc, để giáo hóa vạn dân, sáng trước đủ sau.
Đời đời các họ vua giữ quyền chính, thay tên sửa chỗ cho cơ đồ, đều có xe loan ngự giá đến điện Hùng Vương trên núi, phụng tế trời đất, đốt lửa vọng về núi Thái, cùng các bậc tiền hoàng đế tiên vương đời trước, trăm thần nước Nam.
Các vua khi lên ngôi báu tìm các cháu chắt của nguyên tộc họ Hùng là các trinh nữ xinh đẹp, đưa tiến làm phi tần, hoàng hậu. Cầu lấy nước ở giếng thiêng tại miếu mà cầu con được hiển ứng, trời sinh thái tử, hưởng nước lâu dài, hơn năm trăm năm trị thịnh. Ngưỡng vọng công đức các bậc đế trước, thường xuyên phong tặng thêm. Lại ban sách vàng, tiền vàng phong tặng, tôn thêm tên mỹ tự, bốn chữ Thánh Tổ Tối Linh, giúp nước. Lại ban cho làng Cổ Tích Trung Nghĩa, xã Nghĩa Cương làm trưởng tạo lệ mà giữ theo đế đức Hùng Vương. Cháu chắt được sắc mệnh cho quốc tính theo điển mà thờ, cho là thân vương với quốc gia cùng tồn, thu trăm lộc của trời, trùm ân đức vạn đời, sánh cùng trời đất, ngày tháng núi sông mãi mãi.
Dòng dõi các đế vương không dám vi phạm vào sách trời nước Việt, có ước thề theo tộc nước Nam mà làm vua, lên ngôi trị dân, đều nhớ tới công xưa thánh trước đã mở tạo cơ đồ. Nếu vi phạm điều minh ước này sẽ hưởng nước không quá một đời. Các vị đế vương từ xưa đến nay đều như vậy. Cho đến các nhà Đinh, Lê, Lý các vua đều phụng thờ.
Từ khi chúa Trịnh Hy tổ Khang Vương đi kinh lý qua, cầu sự nhưng lòng trời không ứng, nên oán trời trách người, bất kính thần thánh, đã giảm tỉnh dân các xứ phủ huyện xã được cấp lương riêng và giảm tô thuế, lấy đó nộp vào ngân khố. Nhưng vẫn để lại hai phủ Lâm Thao, Tam Đái, các huyện Sơn Vi, Phù Khang, dân 5 tổng 18 xã làm tạo lệ, giữ việc phụng thờ.
Điện Hùng Vương trên núi ở huyện Sơn Vi có Xuân Lũng làm thứ lệ. Các làng Phù Khang, Phù Liễn cùng Phù Lỗ, Lỗ Trì, Việt Trì dân 18 xã phụng sự các miếu điện cung của các bậc triều trước. Các vua đều tôn phong, theo các điển thờ mà phụng tế. Còn việc tu sửa nơi thờ phụng thì được vua giao cho người cai quản cung ở bản xứ đảm trách. Hai phủ Lâm Thao, Tam Đái cùng dân các huyện xã cung cấp nhân lực phục dịch. Ba năm một lần tu sửa. Sáu năm một lần dựng cung điện. Điện thờ có các đồ tế khí lễ nghi như các vật kiệu rồng, cờ, trống, lọng, quạt, chiêng, chuông. Giao cho hai phủ Lâm Thao, Tam Đái dân các huyện xã chiếu theo suất đinh, mỗi suất tiền 36 quan để làm việc tu sửa cung điện thờ cho nghiêm trang đẹp đẽ. Quanh năm từ tháng Giêng tới tháng Chạp các kỳ ngày tiết ngày sinh, ngày giỗ đều làm lễ nghênh phụng.
Hội lệ có chầu xướng vào tiệc xuân thu. Lễ chính có quốc tế, bày bài vị các ngày sinh theo lệ thường của triều trước, ban cho phụng sự, ban cho cung thờ, ban cho tiền. Dưới làm lễ tế yết. Các phủ huyện địa phương cùng với 5 phủ 24 huyện, nha môn cung tam ti, nghiêm trang, áo mũ chỉnh tề, sạch sẽ, cứ theo lệ các ngày này đến ở cung miếu điện làm lễ thờ tế như nghi phép để làm rạng rỡ ý thọ của núi sông.

Van Luong 2

Phần luận kết trong Ngọc phả Hùng Vương ở đền Vân Luông

Xét như: Tiếng đức Tiền hoàng đế thời Thái Cổ, từ kỷ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nay, theo nguyên mệnh của mùa xuân thu, bao gồm thời mở mang hồng hoang trước khi có trời đất. Trời ban đầu mở vào Giáp Tý. Đất tụ mang ở Ất Sửu. Vận người sinh ở Giáp Dần. Vạn vật ra đời ở gian Ất Mão. Từ thời Bàn Cổ, Thái cực sinh Lưỡng nghi, là Thiên, Địa. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Tứ tượng biến hóa thành nhiều hình trạng.
Thời Hỗn Mang còn chưa biết đạo trời đất khởi đầu thế nào, đến Âm dương biến làm Tam tài, vị quân thủ dẫn đường dần dần mở ra phong khí, dần dần có văn minh, làm rõ ràng các giáo lý trị dân. Trời xuất hiện nhiều bậc đại thánh. Cha trời Mẹ đất là Thiên tử xuất hiện đầu tiên. Sau đến các vật ở vạn nước được yên định, nhận trọng trách lớn như thế sao.
Thiên Hoàng nối Bàn Cổ mà trị ở ngôi Thiên tử, nắm quyền chế độ, mới chế ra Can chi. Mười can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười hai chi là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Vị, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Lấy đó để định thời gian, giúp nhân dân có định hướng.
Cứ mỗi đời có bậc quân vương lại tất có sự sáng chế của quân vương đó. Các vua sau tự theo đó mà được lâu dài, to lớn mà không rung động. Khi dân có việc khó thì lấy đó làm sự nguy mà quyết. Có thể xem hiền mà sửa mình.
Địa Hoàng định hai thời phân làm Ngày Đêm, lấy 30 ngày làm một tháng, 12 tháng làm một năm. Phân tách thiện ác, cuối cùng tuân với gốc gác, ơn huệ mà theo. Các anh em của Người 18.000 là chúa tể thiên hạ các phương, sáng chế lập ra pháp luật, ban bố vạn đời. Khiến cho hậu thế đều biết được chỗ sáng tối, tháng năm như thế. Trời sinh tinh khí thánh nhân tụ hội ở vị trí là thầy là vua, cao quý hơn hết. Vị trí là ngôi vị của trời. Lộc là lộc của trời. Thiên tử thay trời lo vật, thừa mệnh trời mà ra trị. Kính trời, theo phép tổ, làm việc quý người, bèn phân chia chức trách như vậy.
Nhân Hoàng một họ 9 người cùng nhau, núi sông chia làm 9 khu, người ở một phương, là một thời giàu có. Vạn vật đều thuần hậu, ôn hòa. Chúa không dối, vua thần không dối. Tận hưởng lộc trời tốt thay!
Tới thời Xuân Thu khi Lỗ chủ Công là Tưởng bắt Kỳ Lân năm thứ 14. Xét trải tháng năm, ngày được 3.267.000, chia làm 10 kỷ, là: Cửu Đầu, Ngũ Long, Nhiếp Đề, Hợp Lạc, Liên Thông, Tự Mệnh, Tuần Phỉ, Nhân Đề, Thiền Thông, Sơ Ngật, tất cả là 10 kỷ. Từ Nhân Hoàng đến Tự Mệnh có 88 vị quân vương. Từ Tuần Phỉ về sau đều truyền các vua nối vị.
Kỷ Thiền Thông kết thúc vào thời Viêm Đế. Kỷ Sơ Ngật được khởi đầu từ Hoàng Đế, là Hiên Viên, lấy đức trị dân, họ hiệu là Hữu Hùng Thị, tên xưng Hoàng Đế. Ngài là bậc thần linh trị quốc, dùng binh phủ dụ vạn dân, gieo ngũ cốc đi bốn phương, lập chế độ chính triều đình, bốn mùa đều thuận, vạn dân vui mừng, thiên hạ thái bình.
Đế có 6 tướng bao quát hết trời đất thần minh. Ở ngôi được 100 năm thì mất. Người kế tục là Đế Minh, sinh Đế Nghi là con trưởng, Kinh Dương Vương là con thứ (tên húy là Lộc Độc, phong ở Nam Man). Kinh Dương Vương trấn trị Ngũ Lĩnh Vân Nam, vùng đất có núi dài miên man, được thế phong thủy, biển đảo đúc thiêng. Lấy con gái Động Đình Quân, sinh được một hoàng tử kỳ tài hơn người, có khí độ thông minh đại trí, liền phong là Lạc Long Quân (tên húy là Sùng Lãm, hiệu là Hùng Hiền Vương). Vua cha lệnh sai trấn ở chính điện tại đô thành Nghĩa Lĩnh. Lấy bà Âu Cơ, sinh ra điềm lành trăm trai, xưng vua trị nước, cùng với các chư hầu trong thiên hạ cùng yên ổn vô sự.
Thời Vua tu đức, cầu điều nhân nên đức Thổ được thịnh vượng. Dạy dân cày cấy lương thực. Cái ăn cái mặc đầy đủ. Triều đình giữ kỷ cương, theo tôn ti mà định ngôi thứ. Cha con anh em trên dưới hiếu thuận. Con cháu truyền 18 cành lá, đại bảo ấn phù cơ đồ theo mệnh trời mà ra trị nước Nam. Ngọc trắng xe sách núi sông một mối, vĩnh truyền muôn năm hơn trăm đời vương đế trị nước, nắm quyền chính trị phương Nam, nối tiếp được hơn 2.650 năm. Thật là lâu bền. Để lại con cháu giữ nước, vạn đời cơ đồ, con thánh cháu thần dòng dõi, nam nữ trăm họ được 14.370 người, xưng tên là Cổ Việt Hùng Thị. Con vua, quan lang, thổ tù được phân ra trấn giữ núi sông đất Việt. Về sau là các vua nối trị cùng các phiên thần, thổ tù, quan lang, phụ đạo, cùng là những công thần khai quốc.
Trải thời gian từ kỷ Tuần Phỉ về sau, từ Nghiêu Thuấn Ngũ Đế tới nay đã hơn 3.000 năm. Trước Tam Đại không như thời Đường Ngu. Sau Hán Đường Tống không như Tam Đại. Đạo đời lên xuống, không quá 300 năm mới có một sự biến. Rồi 200 năm có một biến, 300 năm có một biến trung bình, 500 năm có một biến lớn. Từ lúc khai mở về sau 4-5 vạn năm lúc phong khí chưa mở văn minh, chưa có đất nước, chưa yên, tới Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, thay nhau mà hưng vượng về sau, lấy vương đạo mà trị.
Xưa thời Hy Nông trở về đời Bàn Cổ, chưa có lịch, gộp các tộc có tên phủ thế trị dân, tất cả là 22 chi hệ được xét. Từ Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, Ngũ Đế là các nguyên thánh trị thiên hạ. Đế là vua, thiên hạ chúa tể ngự thế, theo Càn khôn mà khởi tạo ra lòng nhân, là đức dưỡng sinh thay Tạo hóa vậy.