Tháp Báo Thiên – trấn Nam thành Thăng Long

Bản đồ khu vực Thăng Long thời Hồng Đức cho thấy phía Bắc hoàng thành có quán Chân Vũ bên hồ Tây, phía Đông là đền Bạch Mã, phía Tây là đền Linh Lang. Tuy nhiên, ở phía Nam hoàng thành lúc đó còn rất xa đàn Nam Giao, không hề có đền Kim Liên – trấn Nam Thăng Long theo quan niệm hiện nay. Thay vào đó ngay gần Nam môn là ngọn tháp Bảo Thiên cao lớn.
(Tên thường gọi là tháp Báo Thiên là theo tên ngôi chùa. Còn tên đầy đủ của tháp là Đại Thắng Tư Thiên Bảo Tháp (大勝資天寳塔). Do đó bản đồ Hồng Đức gọi là tháp Bảo Thiên)
Từ bản đồ này có thể thấy, trong Tứ trấn của kinh thành Thăng Long thì vị trí trấn Nam thời Lê sơ không phải là đền Kim Liên với thần Cao Sơn, mà là chùa Báo Thiên. Chùa Báo Thiên là ngôi chùa đóng vai trò trấn Nam của Thăng Long khi đó.

Hong Duc

Bài thơ của Đề Báo Thiên tháp của Phạm Sư Mạnh thời Trần góp phần khẳng định thêm nhận định này: 
Trấn áp Đông Tây giữ đế kỳ 
Một mình cao ngất tháp uy nghi 
Chống trời cột trụ non sông vững 
Sừng sững ngàn năm một đỉnh chùy 
Chuông khánh gió đưa vang đối đáp 
Đèn sao đêm đến rực quang huy 
Đến đây những muốn lưu danh tính 
Mài mực sông xuân viết ngẫu thi.
Câu đầu tiên của bài thơ “Trấn áp Đông Tây củng đế kỳ đã cho thấy tháp Báo Thiên chính là vật trấn cho kinh đô (đế kỳ).
Hướng Nam kinh thành là hướng quan trọng nhất vì quan niệm xưa vua quay mặt về phương Nam mà trị vì. Tháp Báo Thiên được dựng ở chính đối diện Nam Môn càng cho thấy ý nghĩa của nó đối với tâm linh của kinh thành. Nhưng chùa/tháp Báo Thiên thờ vị thần nào, hay vị thần nào là thần trấn Nam Thăng Long lúc này?
Quan niệm cho rằng đã là “chùa” thì thờ Phật, không hẳn luôn đúng. Thờ Phật thì đã không gọi là Báo Thiên – báo ơn Trời. Hơn nữa người xưa không dùng Phật để làm thần trấn giữ kinh thành.
Chùa – tháp Báo Thiên là nơi từng nhiều lần dưới thời Lý dùng để cầu mưa. Cổ Châu Phật bản hạnh ngữ lục ở chùa Dâu (Bắc Ninh) chép:
Bằng đời vua Lý Nhân Tông
Ba năm mưa gió đùng đùng đã rân
Vua phán rước Bụt Pháp Vân
Ra Báo Thiên tự minh quân chúc kỳ.
Đại Việt sử ký toàn thư chép dưới thời Lý Thần Tông: Vua ngự đến chùa Bảo Thiên, làm lễ phật Pháp Vân để cầu mưa. Đêm hôm ấy mưa to.
Chùa Báo Thiên hay Bảo Thiên tháp lễ phật Pháp Vân mà cầu mưa. Chùa này như thế nằm trong hệ thống thờ Tứ pháp.
Ở khu vực tháp Báo Thiên xưa từng tìm thấy bức tượng đá, gọi là Bà Đá và được lập thành chùa. Chùa Bà Đá nay vẫn còn. Cách gọi “Bà” là cách gọi tương tự đối với Tứ pháp. Rất có thế pho tượng Bà Đá này là tượng Pháp Vân (Bà Dâu).
Các chùa thờ Tứ pháp thực ra thờ chính là Thạch Quang Phật hay hình tượng Linga, biểu trưng của thần Shiva/Indra. Trong văn hóa Việt ở miền Bắc xưa thần Shiva/Indra được gọi dưới tên Vua Trời Đế Thích. Đây là lý giải cho chữ Thiên trong tên của tháp Báo Thiên.

20190720_182713 (2)Tranh vẽ tháp Báo Thiên trong chùa Lý Quốc Sư.

Dưới thời Lý, vị thần được tôn thờ trong các chùa thường không phải Phật Thích Ca, mà lại là Đế Thích. Ví dụ, thời Lý Thánh Tông, Đại Việt sử ký toàn thư chép:
Mùa đông tháng 12 làm hai chùa Thiên Phúc và Thiên Thọ, đúc hai pho tượng Phạn Vương và Đế Thích bằng vàng để phụng thờ.
Còn thờ Lý Thần Tông: Dựng hai chùa Thiên Ninh, Thiên Thành và tô tượng Đế Thích. Vua ngự đến xem.
Các chùa có thờ Đế Thích này đều có chữ Thiên.
Như thế, chùa Báo Thiên thực ra là thờ Vua Trời Đế Thích, nằm trấn ở hướng Nam của Thăng Long. Vua là thiên tử, quay mặt về phương Nam mà trị vì, nên ở hướng Nam đặt Vua Trời làm trấn là hợp lý.
Tháp Báo Thiên còn liên quan đến vị thiền sư nổi tiếng thời Lý là Nguyễn Minh Không, mà nay còn chùa Lý Quốc Sư, vốn là đền thờ Nguyễn Minh Không ở khu vực phường Báo Thiên xưa. Đại Việt sử ký toàn thư chép vào thời Lý Thần Tông:
Tháng 5, đại hạn, cầu đảo được mưa to. Chủ đô Nhiễm hoàng là Hà Nhi dâng chim sẻ trắng. Dựng nhà cho đại sư Minh Không.Đọc đoạn này ta có thể hiển đại sư Minh Không đã được Lý Thần Tông cho dựng nhà vì đã cầu đảo được mưa to khi đại hạn. Nguyễn Minh Không được biết là được vua ban cho khu ấp gần tháp Báo Thiên làm Tịnh xá, trước kia gọi là làng Tiên Thị, nay là nơi có chùa Lý Quốc Sư. Như thế, đại sư Minh Không đã lập công cầu mưa ở chùa Báo Thiên nên được ban nhà ban đất ở vùng này.
Sau đó, khi Lý Thần Tông mắc bệnh, nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong làm quốc sư. Tha phú dịch cho vài trăm hộ.
Việc tha phú dịch cho vài trăm hộ này là liên quan đến sư Minh Không, tức là các hộ dân ở vùng đất ban trước đó được miễn phú dịch do ơn đức của sư Minh Không và để phục dịch cho nhà chùa nơi sư ngụ.
Tháp Báo Thiên xây gạch nhưng chóp tháp lại bằng đồng. Đỉnh tháp này tương truyền là một trong An Nam tứ đại khí. Các tháp thời Lý Trần thường ở trên đỉnh có hình hoa sen, có chức năng để đốt đèn (dùng dầu lạc). Như thế chức năng của cái chóp đồng trên đỉnh tháp Báo Thiên khả năng cũng là một hình Sen Đăng, biểu tượng của ánh sáng hay mặt trời.

IMG_4725Cây Thiên hương ở chùa Lý Quốc Sư.

Hiện ở chùa Lý Quốc Sư còn một cây Thiên hương cổ dựng trước cửa chùa. Khả năng Thiên hương là hình tượng phát triển lên từ những cây cột đèn đá hoặc tháp gạch trước đây.
Chùa Lý Quốc Sư vốn là đền Tiên Thị thờ thiền sư Nguyễn Minh Không. Tên làng Tiên Thị, đất tịnh xã của Nguyễn Minh Không, nghĩa là chợ Tiên. Chữ Tiên này hẳn là chỉ thiền sư Minh Không.
Câu đối ở chùa Lý Quốc Sư nói tới tháp cổ và chợ Tiên ở nơi am của thiền sư:
古寺塔流餘苨址
真僊市在闢師庵
Cổ Tự Tháp lưu dư nễ chỉ

Chân Tiên Thị tại tịch sư am.
Dịch:
Chùa tháp xưa còn nơi rậm rạp 
Chợ tiên thực ở cửa am sư.
Tự Tháp và Tiên Thị là đều tên của làng ở chân tháp Báo Thiên xưa.
Trong chùa Lý Quốc Sư còn có tượng các vị Từ Đạo Hạnh và Giác Hải làm bằng đá ở dạng phù điêu, giống phong cách các tượng đá ở miều Trung dùng cho các đền thờ thần Hindu. Cùng với việc thờ Đế Thích – Tứ Pháp ở chùa Báo Thiên, thì các phù điêu đá này cũng là dẫn chứng khác cho mối liên hệ giữa đạo Phật thời Lý của thiền sư Nguyễn Minh Không với Hindu giáo.

20190720_182204
Ban thờ chính ba vị thiền sư với các tượng phù điêu chùa Lý Quốc Sư.

Vân Hương Tiên chủ thánh mẫu hành thuật tán văn

20190203_190706.jpgQuần tiên lục bàng cầu dật tích
Nữ trung tiên biến biến lưu phương
Phục giáng tuyết đảo huyền sương
Ly sơn lưu mạch dư hàng nhưỡng hoa.

Cao hoá đạo thừa nga ly tục
Hoa sơn đầu giá lộc thăng thiên
Du du nhất khứ nhi tiên
Kỷ hội tung tích lưu truyền tại nhân.

Cố vị hữu nhất thân kim cổ
Nữ nhi tiên nhi chủ nhi thần
Chỉ duyên hiếu thuận toàn chân
Cảm thiên chí đức động nhân chí thành.

Cố vạn thế tinh linh bất diệt
Dữ sơn hà nhật nguyệt vô biên
Lục kỳ tế duyệt di biên
Địa chung Thiên Bản sự truyền Vân Hương.

Duy tiên chủ Ngọc Hoàng chi tử
Thị quỳnh diên ngẫu truỵ ngọc bôi
Giáng sinh phụng mệnh khâm tai
Văn minh chi địa tài bồi chi gia.

Ngôi sơn hạ vân hoà thảo tĩnh
Hoà đao gia phúc khánh môn my
Hương phong thuỵ khí tiêu kỳ
Ngọc kim lệ chất ưng kỳ đĩnh sinh.

Thiên phú tính thông minh quả thất
Đàn nhi thi âm luật tinh thông
Ngâm thành xuân hạ thu đông
Thiên nhiên đại lã hoàng chung ca từ.

Quảng Hàn điện nhất chi đan quế
Nhất di tài thiên lý văn hương
Trần gia thư viện liên phương
Hoa di tín báo Đào lang duyên hài.

Nhất đế sở giáng lai tinh khách
Nhất thiên cung bất trích tiên nhân
Sắt cầm cộng khế túc nhân
Tam gia tình hảo lục thân hoan thừa.

Loại vĩnh tích tường trưng lân chỉ
Tam chu tinh song kỷ thái chiêm
Mộ xuân nhật trị trùng tam
Ngọc đình phản mệnh châu liêm không thuỳ.

Tuy linh sảng dĩ quy thiên thượng
Niệm thâm tình do hướng nhân gian
Hô ta hạc phát đà nhan
Cù lao vị báo thần hôn vị thù.

Canh hu ta cữu cô nhật dạ
Bão nhi tôn nan tả hoài tư
Hu ta lưỡng cá anh nhi
Vị chu tam tuế dĩ ly mẫu hoài.

Báo hu ta nhi hài thân lão
Đồng tâm nhân cầm tháo ly loan
An năng tương bạn tiên đàn
Tôn thư tả mại hạ sơn trợ bần.

Hựu an đắc tịch thần lai vãng
Mã thị canh nhật thượng thân tiền
Kỷ hồi yến hội quần tiên
Hồng bào vũ thấp kim điền châu linh.

Chư tiên nữ liên tình vy tố
Phụng sắc phong công chủ giáng trần
Biệt lai thúc hốt lưỡng xuân
Đại tường thích chí từ thân lai phòng.

Liêm cao quải vãn phong phi phất
Hộ trưởng quynh tà nhật tịch liêu
Bích gian chu chức ngọc tiêu
Trần phong kính hạp hương tiêu bút đài.

Sơ đổ vật bồi hồi hạt ký
Hốt tư nhân đảo truỵ nan cấm
Ninh tri chủ dĩ lai lâm
Ngọc câu bão khởi loan âm tiến từ.

Vị đốt đốt nữ nhi tại thử
Nguyện mẫu thân vô sự tương tư
Tĩnh khán hỷ hỷ bi bi
Ngô nhi hà xứ hà thì đắc lai.

Tín tức hạ trúc mai nhất thất
Hàn huyên trung giao tất lưỡng tình
Thuỷ tướng tâm sự đề minh
Trần hoàn trích mãn đế đình triệu quy.

Niệm cúc dục mẫn tư vị báo
Cố kim tư ngôn cáo quy ninh
Tam hồn tuy tạm hồi sinh
Dĩ phi cửu phách nan đình thử gian.

Gia nương cộng tiên ban danh liệt
Nhật hạ hoàn kim khuyết tương phùng
Vạn thuyền bất tận hung hung
Hốt gian hạc dĩ đằng không hà thì.

Lương nhân hà biệt ly thử hậu
Thiết hài nhi tuỳ phụ thượng kinh
Cô trai nhật nhật thường quynh
Sầu đôi kinh tứ muộn sinh văn phòng.

Thu dạ tĩnh hàn song vũ chích
Cảnh như liêu lữ khách tàn hồn
Bão sồ ám phất mỗi ngân
Cảm hoài nhị tuyệt thất ngôn ngẫu thành.

Đê ngâm bất cảm thanh văn ngoại
Bão tất không toạ đối tàn lê
Hốt văn thanh khấu sài phi
Khai môn địch diện vãn y hân tình.

Ty nhân hạnh thử sinh đa phúc
Phối dao tư tử dục thân hoan
Na kham giáp trướng sương hàn
Thiên biên lạc nhạn vân gian phi hoàng.

Kim bất tưởng tha hương tái ngộ
Nguyện tương thung dĩ phó khát trần
Văn ngôn giải thuyết ân cần
Hồng trang ước đoản thanh vân lộ trường.

Huống thượng hữu cao đường trĩ tử
Phủ dục kiêm ngưỡng sự vị hà
Tam sinh ân ái do đa
Giai kỳ bất viễn tinh hà tái đông.

My án thượng thung dung thiện đạo
Dĩ tu tề trung hiếu vy cương
Kinh thành liệu hoả lưu quang
Thần chung báo thự hiểu trang trí từ.

Niệm đường thượng nghiêm từ thần tịch
Vọng lang quân lân bích phân quang
Thiên thần hàn úc bất thường
Tình liên bán tử nghĩa thường tam sinh.

Thuyết bất tận đinh ninh chúc phó
Hoảng hốt gian giá vụ đằng vân
Thung tư hiển thánh ẩn thần
Sơn phong phượng giá hải tân kình xa.

Hữu thì tác lão bà khai tứ
Hữu thì vy nữ tử xuy tiêu
Y thuỳ hý mạn ương chiêu
Y thuỳ thành kính đảo cầu tất linh.

Thì kim bạch gia đình phụng sự
Vãng lai trung lịch kỷ xuân thu
Sinh thành đại đức dĩ thù
Lương nhân tuỳ diệc chân du hữu kỳ.

Tất hạ lưỡng thượng di tiên chủng
Y gia huynh diệc cộng hữu thành
Trần duyên tiệm giác khinh khinh
Vân du tứ hải phóng tình phiêu nhiên.

Lịch lãm tận sơn xuyên danh thắng
Lượng sơn lai nhất tịnh phù đồ
Thập phân cảnh trí ưu du
Tùng thương tế nhật mai cù ngạo sương.

Hương hoả dĩ thê lương kỷ lịch
Cổ chung hoàn tịch mịch đa niên
Bà tâm phủ cảnh tam thiền
Tùng biên kỷ khúc khấu huyền độc ca.

Hốt môn ngoại khách hà nhân giả
Ủng tiết mao tuấn mã lai tiền
Biến văn tả cảnh sổ liên
Khách tài xướng khởi chủ liên đáp từ.

Văn ưng đối ninh tri kính phục
Khấu lai do tướng dục vấn tân
Khách phương phủ thủ liễm thân
Đài đầu hốt dĩ vọng trần vô do.

Già lam lý tứ chu phản phúc
Lâm kính gian nhất mộc đáo hoành
Tự đề mão khẩu phân minh
Mã băng dĩ tẩu bàng kình chu tiêu.

Nhân tự ý tam cầu áo nghĩa
Mão khẩu gia mộc thị thần phong
Mã băng hợp thể thị phùng
Dĩ tẩu thị cáo khởi công tu hoàn.

Khách nguyên thị Khắc Khoan Phùng tính
Bắc sứ nhân phụng mệnh đồ kinh
Tế tư thần ý đinh ninh
Chi viên xướng tạo sử trình vịnh lưu.

Tiên tích biến chu du đề vịnh
Đế vương cư phục hạnh Đông đô
Trường An thành ngoại danh khu
Đông tân ngoạn nguyệt Tây hồ thưởng liên.

Phồn hoa xứ vô duyên nan ngộ
Du thưởng nhân đắc lộ y thuỳ
Phùng công tứ mẫu ngôn quy
Khanh tào thăng nhậm lại ty yếm phiền.

Nhân đới lưỡng đa niên thi khế
Sấn huân phong tu hễ hồ Tây
Phong quang đáo xứ phẩm đề
Nang thu thắng thưởng tụ huề kỳ hương.

Bộ nhất bộ đốn vong trần luỹ
Hành phục hành tiệm chí tiên châu
Hoè âm thâm xứ tửu lâu
Hoa lan tráp trúc hoàng lưu nhưỡng bồ.

Hoành biển tả Tây hồ phong nguyệt
Thập tự liên đối yết lưỡng doanh
Sơ liêm quải hạ ngọc quynh
Hồng y nương tử ỷ bình xuy tiêu.

Khách thi lễ nguyện cầu hưu giả
Chủ trí từ nhất toạ hà phương
Thi thần tửu thánh nhất đường
Quan ngư tục vận hựu trường liên ngâm.

Đông bích thượng nghiên tầm đề thoại
Hoạch lâu tiền thính tiên cuồng ca
Linh tâm tuệ tính lương đa
Nhất thì khuất đại gia kinh hoàng.

Tây lĩnh dĩ tà dương ảnh xạ
Khách trình thừa nguyệt dạ quy lai
Đào nguyên tái phỏng hậu hồi
Mang mang hồ thuỷ lâu đài toàn phi.

Hoè thượng thính mãn chi thiền táo
Thụ gian lưu lưỡng đạo triện đề
Tĩnh quan thi cốt thanh kỳ
Cựu du đốn ngộ tích thì phùng tiên.

Phùng công du du nhiên tưởng khởi
Thuyết đương niên phụng sử đồ trung
Phương tri không sắc sắc không
Thần tiên phi ảo tao phùng hữu duyên.

Tiên chủ tự Trường An biệt hậu
Nghệ An thành phục đáo sóc hương
Thanh sơn bích thuỷ thảng dương
Tử hồng hoa tín sinh hoàng điểu thanh.

Thích hữu nhất đình đình giai sĩ
Nhật vãn thung sơn lý xuất thân
Nguyên lai khế khoát tiền nhân
Tình duyên vị liễu hạ trần tái sinh.

Thể mạo tỷ thuỷ thanh ngọc nhuận
Khâm hoài đồng nguyệt ấn thuỷ hàn
Niên hoa phủ cập dịchquan
Tài cao bát đẩu học đàn ngũ xa.

Bất hạnh tảo liệu nga lưu thế
Thất như huyền kháng lệ vị hài
Thử gian học quán trung lai
Ninh tri lộ nhập thiên đài hoát đầu.

Sắc giới cẩn nan hào tố chí
Kỳ phùng lâm bất ký tiền duyên
Tha thì trùng quá sơn biên
Đào gian thích kiến hồng tiên lưu đề.

Lãng tụng quá đê mê trù trướng
Thán dị tài bất nhượng cổ nhân
Đa tri hậu ý ân cần
Tả biên thứ vận hiệu tần liên thư.

Bút nhất trịch thân như mộng giới
Dục tương thung tranh nại mạt do
Lạc huy ám xúc quy đồ
Nhất phiên phong vũ tam thu tình hoài.

Thâm viện tĩnh tần hạc ngâm hưng
Tình thiên khai tái đính tiền trình
Thi tiên y cựu đan thanh
Ngọc nhân bất kiến vy tình lương nan.

Sinh độc toạ bàn hoàn bất tận
Ngâm tái ngâm thi vận thiêm tân
Thuỳ tri thanh khí tương thân
Kim thanh vị khuyết ngọc chân dĩ truyền.

Vân nham lý kim liên từ động
Thạch kỷ trung thương phượng chiêm từ
Tái sinh cựu ước bất khi
Thiên công tác chủ địa kỳ vy môi.

Tử gia vãng kính tai thủ chức
Khuê môn tu tứ đức kiêm toàn
Xướng thù nguyệt hạ hoa gian
Kê minh tối kính thư quan dương hoà.

Hùng mộng ưng thừa gia vọng uỷ
Long môn đăng thệ sĩ tâm thù
Công đường dạ trị thâm thu
Kim lôi đối chước hương lô tịch hàn.

Chủ hạ giác tiềm thoan lệ tấn
Sinh thất kinh vấn tấn tình đầu
Tần my hân tận tiêu háo
Ngọc bôi vãng sự bích đào tiền duyên.

Lai hoàn vãng tự thiên tố định
Hợp nhi ly phủ cảnh nan bài
Hứa đa khoản khúc bồi hồi
Gia đan thuỳ cộng nhi hài hà y.

Sinh kiến thuyết hư hy lưu luyến
Chủ tuỳ phương giải khuyến thung dung
Tam canh lậu chích đồng long
Đái nhi bái biệt thượng không phi tường.

Môn ngoại hoảng du dương tiên nhạc
Thiên trung do thác lạc hồng vân
Hàn lâm tự cách tiên trần
Tích sầu vạn hộc thương thần liên chương.

Thân tuy tại ngọc đường kim mã
Chí không tuỳ hạc giá loan xa
Bệnh hài tảo thoát hoạn ba
Đào lâm cựu xứ yên hà thê thân.

Thị hạ tử thành nhân kế nghiệp
Thiên thượng nhân vọng khiếp tâm khoan
Chủ tòng quy thị ngọc ban
Nam du nhạc bĩ thiên nhan phán truyền.

Thừa thanh vấn phủ tuyên đan khổn
Công án hoàn tư dĩnh vị vong
Duy kỳ trắc giáng vô thường
Đạo dao tự tại dĩ thường túc duyên.

Phụng Ngọc Đế bệ tiền duẫn chỉ
Đới tiên nương nhị vị đồng hành
Dao chiêm thuỷ tú sơn thanh
Thanh Hoa Phố Cát hiệp linh lâm trần.

Diệu pháp lực thánh thần hiển hiện
Hoạ dâm nhi phúc thiện bất si
Nhất phương thâu phúc khổng giai
Tuế thì ca vũ lâu đài nguy nga.

Hoặc hữu chỉ vy tà đạo giả
Thỉnh triều đình triệt hạ linh từ
Vương uy thuỳ cảm trì vy
Khởi tri tiên pháp tối kỳ tối linh.

Tự linh điện nhất kinh hoang phế
Thử phương dân dịch lệ lưu hành
Ngưỡng thừa giáng kỳ phân minh
Cựu từ bất khởi sinh linh vô tồn.

Văn thần mệnh hương thôn lôi động
Khấu đế hôn đại chúng đồng từ
Cửu trùng phủ sát dân y
Mã Hoàng phong sắc miếu từ trùng tân.

Nhưng hoài nhất phương dân phụng sự
Hữu sự cầu nhẫm trước anh linh
Bình Nhung mặc trợ thiên binh
Đại vương đăng trật miếu đình tăng tu.

Chí kim biến hoàn khu hương hoả
Tiên phủ giai phật toạ đồng tôn
Linh thanh bá mãn càn khôn
Bảo dân hộ quốc công tồn thiên thu.

Phàm tiên tích cựu du thử địa
Vưu hiển linh trước dị bội thường
Ích do hiếu thuận can trường
Kim cương bất hoại tang thương đẳng nhàn.

Tự bất tất kim đan chử bạch
Tự bất hối ngọc dịch thiêu hồng
Tự năng thượng hạ thiên cung
Tự năng Ngọc nữ Kim đồng vãng lai.

Năng biến hoá đan đài tử phủ
Năng đạo dao ngọc vũ quỳnh lâu
Năng linh vũ tán vân thu
Năng tuần hổ báo, năng khu long xà.

Năng hoạ sát dâm tà ác loại
Năng phúc sinh hiếu nghĩa thiện nhân
Năng linh si mị tiềm thân
Năng linh bát bộ quỷ thần kính khâm.

Năng tiêu tán trùng âm hắc khí
Năng khoát khai đại địa hôn cù
Thượng năng dực tán hoàng đồ
Hạ năng bảo hữu minh đô thanh bình.

Dực Chẩn hạ hà thanh hải yến
Ngôi sùng gian địa viễn thiên trưởng
Tán văn cẩn thuật nhất chương
Nguy nguy đại đức hoàng hoàng hữu lâm.

Chiêm thiên ngưỡng thánh vô nhậm!

Thánh bất tử Từ Đạo Hạnh

Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính kể về sự tích thánh Từ Đạo Hạnh như sau:
Từ Lộ tự Đạo Hạnh, người làng An Lãng huyện Vĩnh Thuận, làm thầy cúng ở chùa Tiên Phúc núi Phật Tích. Khi xưa thân phụ Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh làm Tăng quan đô sát triều nhà Lý, thường vào chơi làng An Lãng, mới làm nhà ở đấy, lấy con gái họ Lăng, sinh ra Đạo Hạnh.
Đạo Hạnh lúc còn bé hay chơi vời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phú Sĩ, Phan Ất, Lê Hoàn kết bạn, đêm thì cố công đọc sách, ngày thì đàn sáo đánh bạc làm vui…
Không bao lâu sau cha là Từ Vinh dùng tà thuật phản ông Diên thành hầu. Diên thành hầu nhờ thầy phù thủy là Đại Điên dùng phép đánh chết, quẳng xuống sông Tô Lịch…
Đạo Hạnh nghĩ lấy làm tức giận lắm muốn sang nước Ấn Độ học phép, nhưng đi qua núi Kim Sỉ, hiểm trở lắm mới trở về. Đạo Hạnh mới vào trong hang núi Phật Tích, kết thành hội Bạch Liên để học phép Ngũ giáo. Ngày nào cũng tụng kinh “Đại bi tâm” và niệm câu thần chú “Bà la ni”, cứ tung 18 vạn lần mới thôi.
Một hôm thấy thần báo mộng rằng:
– Đệ tử tức là Tứ trấn thiên vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh cho nên lại hầu, tùy thầy muốn sai khiến gì tôi xin vâng lệnh. Đạo Hạnh biết là đạo pháp của mình đã thành rồi…
Từ Đạo Hạnh sang phương Tây tìm đạo, nhưng mới đi được đến núi Kim Sỉ đã quay về. Vậy đạo pháp mà Từ Đạo Hạnh thành được là đạo pháp gì? Rõ ràng không phải là Phật pháp chính tông. Nhiều nhận định hiện nay cho rằng Từ Đạo Hạnh đã sang vùng Tam giác vàng ở giáp Vân Nam – Miến Điến và học theo Mật tông. Kinh Đà la ni mà ông trì tụng cũng là bộ kinh điển hình của Mật tông, như từng được khắc trên các cột kinh tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) trong thời nhà Đinh.

IMG_7594Cột kinh tràng Phật đỉnh tôn thắng Đà la ni tìm thấy ở Hoa Lư.

Khá đặc biệt là việc sau khi tụng 18 vạn lần kinh Đà la ni thì thấy xuất hiện Tứ trấn thiên vương, nhận theo sai khiến của Từ Đạo Hạnh. Tứ trấn thiên vương hay Tứ đại thiên vương là 4 vị thần của Bà La Môn, theo phục Đế Thích. Chi tiết này cho thấy, thực chất Từ Đạo Hạnh đã tu theo Bà La Môn hay Hindu giáo. Bản thân “mật tông” cũng là giáo phái chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Bà La Môn.
Theo Thiền uyển tập anh thì Từ Đạo Hạnh đã tìm đến chùa Pháp Vân thỉnh giáo thiền sư Sùng Phạm và ngộ thêm đạo. Từ đó pháp lực mạnh thêm, duyên thiền càng chín, pháp thuật của sư đã có thể khiến cho rắn rết, muông thú chầu phục. Các phép lạ như đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm.
Ghi chép này cho thấy Từ Đạo Hạnh có khả năng “cầu mưa”. Cần biết là Tứ đại thiên vương cũng là Tứ pháp Vân Vũ Lôi Điện ở vùng Luy Lâu. Sự việc Từ Đạo Hạnh biết phép cầu mưa chứng tỏ thêm mối liên quan giữa đạo pháp của ông với Hindu giáo như trong chuyện Khâu Đà La làm phép cầu mưa ở Luy Lâu trước đây.
Theo Việt điện u linh, khi Từ Đạo Hạnh chuẩn bị viên tịch có nói với các đệ tử:
Ta chưa hết nhân duyên với đời, lại phải thác sinh làm vua ở nhân gian, khi nào chết lại về làm chủ “Tam thập tam thiên”.
Sau đó ngài đã đầu thai làm vua Lý Thần Tông. Chính từ sự thác sinh đầu thai này mà Từ Đạo Hạnh được tôn là một trong các vị thánh bất tử của trời Nam.
Đặc biệt nhất trong đoạn trên Từ Đạo Hạnh cho biết mình sẽ lại về “làm chủ Tam thập tam thiên“. Vị thần chủ của “Tam thập tam thiên”, cõi trời 33, là Vua trời Đế Thích trong đạo Bà La Môn. Từ Đạo Hạnh như vậy chính là hóa thân của Đế Thích.
Khả năng “bất tử” của Đế Thích cũng từng được biết trong câu chuyện “Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt” khi mà Đế Thích đã triệu Tam phủ hoàn hồn cho kỳ thủ Trương Ba. Còn ở chùa Thầy, bên cạnh đó cũng có đền Tam phủ thờ ba vị vua Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ. Từ Đạo Hạnh là hóa thân của Đế Thích nên được xếp vào bậc thần bất tử là hoàn toàn hợp lý.

IMG_2497Cầu Nhật Tiên bắc sang đền Tam phủ ở cạnh chùa Thầy.

Hai bên chùa Thầy còn có 2 cây cầu gọi là Nhật Tiên và Nguyệt Tiên. Đây là hình tượng khá giống với các nơi thờ Đế Thích, có 2 vị thần là Nhật Thiên và Nguyệt Thiên theo cùng, như ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) hay đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên).
Đoạn cuối truyện Từ Đạo Hạnh trong Nam Hải dị nhân kể:
Khi xưa Từ Đạo Hạnh mới vào chùa Thiên Phúc, thấy có một vết chân người ở trong hang đá. Đạo Hạnh lấy bàn chân in vào thì vừa bằng nhau, tục truyền hang ấy tức là chỗ Đạo Hạnh lột xác… Thây Đạo Hạnh đến mãi lúc nhà Minh sang cướp quân sĩ đốt mất, về sau dân đấy lại tô tượng để thờ như xưa.

IMG_3754Phiến đá trấn trạch tại chùa Thầy.

Dấu chân đá và nhục thân không tan cũng là những đặc điểm của “Mật tông” cũng như Hindu giáo. Nay trong chùa Thầy vẫn còn thờ một phiến đá tương truyền là của Từ Đạo Hạnh dùng để trấn trạch không cho nước dâng cuốn gỗ ở chùa hay không cho kẻ trộm dòm ngó đồ của chùa.
Trong chùa còn có một khám thờ lớn có tượng bên trong. Nguyên trước đây là thân người thật của Thánh, nhưng khi quân Minh sang xâm lược đã đốt mất, dân dùng mây tre, bện lại mà thành, đặt trong 1 khám thờ cầu kỳ to như cả gian nhà, có dây cơ có thể đứng lên ngồi xuống, sau đó Tổng Đốc Sơn Tây Cao Xuân Dục cho cắt dây rối đi để tỏ lòng kính trọng nhà Thánh.
Câu đối ở chùa Thầy:
弌杖顯神機卓錫圓成柴石峝
再生承帝統鴻圖葉繫李蓮花
Nhất trượng hiển thần cơ, trác tích viên thành Sài thạch động
Tái sinh thừa đế thống, hồng đồ diệp hệ Lý liên hoa.
Dịch:
Tỏ cơ thần một gậy, tích lớn đủ thành động đá Sài
Nối dòng đế tái sinh, đất mênh cành tiếp hoa sen Lý.

IMG_3763.JPGKhám thờ ở chùa Thầy, bên trong có tượng xá lợi Từ Đạo Hạnh. 

Việt điện u linh còn kể về lần đầu thai khác của thần dưới thời Lê, cũng là vua:
Trong thời Quang Thuận đời vua Lê Thánh Tông, Trường Lạc hoàng hậu sai Thái úy Trinh quốc công lên động chùa Thiên Phúc cầu tự. Khi làm lễ có một phiến đá ở ngoài động bay vào. Trinh quốc công mang về trình hoàng hậu. Ít bữa sau hoàng hậu mộng thấy rồng vàng vào bên sườn, rồi có mang, sinh ra vua Lê Hiến Tông. Nhân thế mới dựng am Hiển thụy ở chùa Thiên Phúc, có khắc bia để ghi.
Trong chuyện về Từ Đạo Hạnh còn có một số chi tiết về thời gian khá lạ. Từ Đạo Hạnh được biết sống vào thời Lý Nhân Tông. Tuy nhiên, như trích dẫn trên của Nam Hải dị nhân, ông lúc nhỏ lại chơi với Lê Hoàn. Các sách khác chép là đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa. Có thể Toàn Nghĩa chỉ là từ phiên thiết của cái tên Hoàn.
Từ Đạo Hạnh từng đến học sư Sùng Phạm của chùa Pháp Vân. Thiền uyển tập anh cho biết về vị sư này:
Sư vân du khắp nơi trong nước Thiên Trúc rộng cầu hiểu biết. Chín năm sau sư trở về, gồm thông cả Giới và Định. Rồi sư đến chùa Pháp Vân giảng pháp. Học trò các nơi đến theo học rất đông. Vua Lê Đại Hành mấy lần thỉnh sư về kinh để hỏi han chuyền chỉ. Vua rất vừa ý, tiếp đãi long trọng.
Sư Sùng Phạm cùng thời với Từ Đạo Hạnh nhưng lại từng mấy lần được vua Lê Đại Hành mời vào kinh. Sau đó sư viên tịch dưới thời Lý Nhân Tông. Với các thông tin trên có thể thấy Lê Đại Hành chỉ có thể là triều đại ngay trước Lý Nhân Tông. Nói cách khác Lê Đại Hành chính là Lý Thái Tông. Chú ý là Lý Thái Tông cũng có hiệu là Đại Hành hoàng đế.
Từ câu chuyện của Từ Đạo Hạnh rút ra 2 kết luận quan trọng:
– Từ Đạo Hạnh tu theo Hindu giáo, là hóa thân của Vua trời Đế Thích.
– Triều đại của Lý Thái Tông cũng từng được gọi là Lê Đại Hành.

Thánh tổ Không Lộ, vị thần của dân gian

Không Lộ thiền sư là một trong Tứ bất tử nước ta. Ông được thờ ở nhiều nơi nhưng không chỉ như một nhà sư tu hành mà còn được tôn là bậc thánh tổ. Hiện tồn tại nhiều tranh luận về tên gọi (Không Lộ, Giác Hải, Minh Không, Thông Huyền), và xuất xứ (Đàm Xá, Giao Thủy, Hán Lý…) của vị thiền sư này, nhưng trong tâm thức dân gian ông là một vị thần quan trọng bảo hộ cho các nghề nghiệp sinh sống của người dân. Bài sau đi vào chi tiết giải thích vì sao thánh tổ Không Lộ lại được người dân tôn thờ như vậy.

Thần đánh cá
Dọc ven biển miền Bắc Việt Nam có nhiều nơi thờ Không Lộ như một vị thần bảo hộ cho nghề chài lưới. Điều này thể hiện ngay trong tục rước thuyền mông đồng trong lễ hội của chùa Keo ở Thái Bình và Hành Thiện.

Thuyen rong Thai Binh 2.jpg
Thuyền mông đồng chùa Keo Thái Bình.

Lĩnh Nam chích quáiTruyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thiền sư Dương Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang huyện Hải Thanh, mấy đời làm nghề câu cá…
Thiền sư Giác Hải cũng là người huyện Hải Thanh, tu tại chùa Diên Phúc trong quận nhà. Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền câu làm nhà, lênh đênh trên mặt nước.

Không Lộ và Giác Hải người Hải Thanh, ban đầu sống bằng nghề đánh cá, sau đi tu, trở thành một vị cao tăng đắc đạo, phép thần thông biến hóa vô cùng. Cụ thể hơn nữa, Không Lộ từng có công diệt “thủy quái” trên biển, giúp ngư dân đi biển được bình an.

Khong Lo Giac Hai
Tượng thần chài lưới ở đình Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh).

Câu đối ở thôn Trà Đông, Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa, nơi thờ Khổng Minh Không:
南天畱四噐北地嗔雙牛越史永傳法佛
海上斬神蜈殿前醫帝虎李朝褒贈世師
Nam thiên lưu tứ khí, Bắc địa sân song ngưu, Việt sử vĩnh truyền pháp Phật.
Hải thượng trảm thần ngô, điện tiền y đế hổ, Lý triều bao tặng thế sư
Dịch:
Trời Nam còn bốn đồ, đất Bắc chọc hai trâu, mãi truyền Việt sử phép nhà Phật
Trên biển chém thần rết, trước điện chữa đế hổ, khen tặng Lý triều thầy thế gian.

Câu đối này có nói tới sự tích Không Lộ chém thần rết trên biển. Ngày nay, ở khu vực Trực Ninh, nơi Không Lộ khởi nghiệp đánh cá, còn có địa danh “cồn Rết”, tương truyền là nơi Không Lộ đã chém thần Rết ở đây. Đây cũng là một chỉ dẫn về địa điểm Giao Thủy, nơi giao tiếp giữa sông và biển và là quê hương của Không Lộ thiền sư.

Thần giáng long
Câu đối ở đền thánh Nguyễn (Đàm Xá, Gia Viễn, Ninh Bình):
與十八子有因果乎卓然扵後扵前醫虎翊龍两朝偉績
是二社民所尸祝者辰或為分為合觀燈望井萬古祥光
Dữ thập bát tử hữu nhân quả hồ, trác nhiên ư hậu ư tiền, y hổ dực long lưỡng triều vĩ tích
Thị nhị xã dân sở thi chúc giả, thần hoặc vi phân vi hợp, quan đăng vọng tỉnh vạn cổ tường quang.
Dịch:
Cùng vua họ Lý nhân quả sao! vời vợi trước sau, chữa hổ giáng rồng, hai triều tích lớn
Ấy dân hai xã khấn tế vậy! khi lúc chia hợp, xem đèn trông giếng, vạn năm sáng lành.
Không Lộ thiền sư sau khi tu hành từ Tây phương về tương truyền có tài “hàng long phục hổ”. Tuy nhiên, trong các sự tích của Không Lộ thiền sư, không có sự tích nào nói đến việc “hàng long” cả.
Lĩnh Nam chích quáiTruyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thời Lý Nhân Tông, sư thường cùng sư Thông Huyền được triệu vào ngồi hầu trên ghế đá mát lạnh ở cung Liên Mộng. Bỗng một hôm có đôi tắc kè đang gáy, nhức tai điếc óc. Vua truyền Thông Huyền dùng phép để ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua cười bảo với Giác Hải rằng: “Hãy còn một con xin để nhường nhà sư”. Sư liền đọc thần chú, trong nháy mắt con còn lại cũng rơi xuống đất. Vua kinh lạ, làm thơ rằng:
Giác Hải lòng như biển

Thông Huyền đạo cũng huyền
Thần thông thêm biến hoá
Một Phật một thần tiên.
Sự tích Không Lộ “giáng long” là việc 2 vị thiền sư Thông Huyền và Giác Hải cùng làm phép hạ 2 con tắc kè, giúp chữa bệnh mất ngủ cho vua Lý Nhân Tông. Tắc kè là hình ảnh của rồng. Như vậy Không Lộ thiền sư là Thông Huyền hoặc Giác Hải trong sự tích này.

Hanh Thien
Mảng chạm rồng ở chùa Keo Hành Thiện.

Thần chữa hổ
Sự tích chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông được chép là của Nguyễn Minh Không. Điều đáng chú ý, đây cũng là truyền thuyết về một vị đạo sĩ đã diệt thần Xương Cuồng, bởi vì thần Xương Cuồng là Mộc tinh, tức là chúa sơn lâm, cũng chính là ông ba mươi hay thần hổ.
Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái:
Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây chiên đàn cao hơn ngàn trượng cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn rậm. Có chim hạc bay đến đậu nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch Hạc. Cây trải qua hàng mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay đổi hình dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật….
Đến đời vua Đinh Tiên Hoàng có pháp sư Văn Du Tường vốn người phương bắc, đức hạnh thanh cao, đã từng đi qua nhiều nước, biết được tiếng các dân man, học được thuật làm nanh vàng và răng đồng, năm hơn 80 tuổi sang nước Nam ta. Tiên Hoàng lấy lễ thầy trò mà tiếp, pháp sư bèn dạy cho nghề tạp kỹ để làm trò vui cho thần Xương Cuồng xem mà giết y. Đoàn tạp kỹ này có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu… Khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ. Lại giết súc vật mà tế. Thần Xương Cuồng tới, thấy thế bèn đến xem, pháp sư đọc mật chú rồi lấy kiếm mà chém. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ đều chết hết, không thể trở lại thành yêu nữa.
Nguyễn Minh Không – Không Lộ thiền sư là pháp sư Văn Du Tường diệt thần Xương Cuồng bằng cách bày ra các trò diễn để dụ thần Xương Cuồng tới mà giết đi. Các trò diễn này được lưu lại qua 6 “Thánh tượng” đầu gỗ trong trò diễn Ổi Lỗi tại các nơi thờ Không Lộ thiền sư tới nay. Thánh tượng thiết Thượng, là tên của 6 người trong đoàn tạp kỹ của pháp sư Văn Du Tường.

Roi dau go 2.jpg
Rối đầu gỗ ở chùa Keo Thái Bình (ảnh tư liệu thời Pháp).

Một di tích khác có liên quan đến sự tích Không Lộ diệt hổ là ở chùa Thượng, Đình Liêu, thôn Liêu, Ngọc Lương, Yên Thủy, Hòa Bình. Chùa nằm trên hang núi, phía trên làng Hổ. Tương truyền, khu vực này có nhiều hổ, nhưng nếu vào hang chùa này sẽ tránh được hổ. Chùa có sắc phong cho Giác Hải thiền sư và còn đôi câu đối:
武跡在山傳自古
虎頭建廟始於今
Vũ tích tại sơn truyền tự cổ
Hổ đầu kiến miếu thủy ư kim.
Dịch:
Dấu võ ở núi truyền từ cổ
Đầu hùm dựng miếu trước tới nay.
Cùng với việc chữa bệnh cho Lý Thần Tông hóa hổ, Không Lộ có thể còn được thờ phụng như một vị thầy thuộc tài giỏi, chữa trị được nhiều loại bệnh (nghề y dược).

Thần đúc đồng
Các làng nghề đúc đồng nằm ở Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nội và Thanh Hóa thờ thánh Không Lộ. Tất nhiên, nghề đúc đồng ở nước ta đã có từ thời Đông Sơn, trước Công nguyên. Việc các làng đúc đồng thờ thánh tổ Không Lộ mang tính chất là thờ thần bảo hộ cho nghề đúc hơn là tổ nghề. Việc này bắt nguồn từ việc Không Lộ thiền sư đi sang “Minh quốc”, gom đồng vào túi, cưỡi nón làm thuyền vượt biển mà về, dùng đồng đó đúc ra An Nam tứ đại khí: đỉnh tháp Báo Thiên, chuông chùa Phả Lại, vạc Phổ Minh và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm.
Ngọc phả chùa làng Công Luận (Văn Giang, Hưng Yên) kể:
[Minh Không] tự nghĩ mình đến Tây Trúc, đi qua bốn mươi tám nước, chùa nào cũng đến thăm, chưa có chuông nào được năm thước, muốn đúc một quả chuông thật to để lưu danh đến vạn đời sau. Nhưng nước ta nhỏ, sao có thể khuyến khích nhiều người góp vàng, đồng để đúc chuông. Bèn may một chiếc túi, đựng được khoảng hai mươi đấu thóc, đến nước Tống khuyến đồng đúc chuông. Vua Thần Tông nhà Tống tự nghĩ túi này đựng được bao nhiêu đồng, mới cười, bảo: Quý tăng Nam Việt không hẹp hòi công sức đến nước trẫm khuyến đồng, cho phép vào kho đồng lấy theo ý muốn”. Minh Không bèn thu hết đồng trong kho vào túi mà chưa đầy, rồi vác trên vai đến trước mặt vua Thần Tông, bái tạ vua xin về nước. Vua Thần Tông thấy đồng trong kho đã hết, có ý hối tiếc, nhưng đã trót hứa, đành để Minh Không về nước.
Minh Không vác túi đồng về nước, phàm qua sông biển, hễ xuống thuyền đò, đều bị chìm lật, không thể chở được. Minh Không bèn hạ nón của mình thay cho thuyền, vác túi đồng ngồi trong nón, lấy hai tay làm mái chèo, trong chốc lát biển lớn cũng vượt qua. Mọi người nhìn thấy, ai cũng kinh hãi, cùng hô là Thần sư.
Minh Không mang túi đồng về chùa quê ngoại ở Phả Lại, lập một gác chuông chín tầng, cao một trăm thước, rộng ba mươi trượng, đúc một quả chuông, lòng rộng hai mươi thước. Thỉnh ba tiếng, con trâu vàng nước Tống nghe thấy, tự chạy đến thành Thăng Long nước Việt ta, hóa thành sông Kim Ngưu, cùng Tây Hồ, vốn là do đường chạy của trâu vàng tạo ra. Minh Không biết Tống Thần Tông đã mất đồng trong kho, lại mất trâu vàng, tất sẽ sinh lòng oán giận, sợ chuyển thành tội, bèn ném chuông này ở sông Lục Đầu. Từ đó, danh tiếng của Minh Không nổi khắp bốn phương xa gần, nhân dân lũ lượt kéo đến xin làm thần tử, đông đến năm trăm ấp.
Như thế, từ đây Không Lộ được tôn làm thánh tổ, hình thành một dòng phái nhiều “thần tử” đông đảo ở khắp nơi.

Ve xa.jpg
Tượng đồng Không Lộ thiền sư ở đền Vệ Xá (Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh).

Câu đối ở chùa Trung Kênh, Lương Tài, Bắc Ninh:
括盡一囊萬古聲傳北國
鑄成四噐千秋跡顯南邦
Quát tận nhất nang, vạn cổ thanh truyền Bắc quốc
Chú thành tứ khí thiên thu tích hiển Nam bang.
Dịch:
Thu hết một túi, vạn xưa tiếng truyền nước Bắc
Đúc thành bốn đồ, nghìn thu tích tỏ bang Nam.
Thực tế có lẽ thánh tổ Không Lộ chỉ đúc chuông Phả Lại. Còn những “đại khí” khác xem ra không cùng thời gian với thánh nên có đúc là do các học trò của ngài làm. Nhưng vì sự tích “hải lạp nang đồng” này mà Không Lộ thiền sư được tôn thành vị thần bảo hộ của nghề đúc đồng.

Ba vị Thánh tổ thời Lý

Không Lộ Lý triều quốc sư là một trong Tứ bất tử theo quan niệm dân gian của người Việt. Về thân thế và sự nghiệp của vị thiền sư này có rất nhiều truyền tích, kèm theo hàng chục các ngôi chùa lớn nhỏ và các đền, đình thờ Không Lộ ở khắp các miền duyên hải Bắc và Bắc Trung Bộ Việt đã làm cho vấn đề xác định xuất xứ và nhân thân của Không Lộ thiền sư trở nên rất khó khăn, là đề tài tranh luận của các nhà nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng trong nhiều năm qua, kể cả từ thời Nguyễn. Phổ biến nhất là vấn đề có 1 hay 2 vị Không Lộ thiền sư triều Lý. Bài viết này nêu lên thêm một nhận định, hy vọng góp phần nào vào việc tìm hiểu sự thực về thánh tổ Không Lộ.
Lĩnh Nam chích quái
, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thiền sư Dương Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang huyện Hải Thanh, mấy đời làm nghề câu cá, sau bỏ nghề ấy mà đi tu, thường hay đọc kinh Đà La Ni. Thời Chương Thánh Gia Khánh cùng với bạn tu hành là Giác Hải ẩn dật ở chùa Hà Trạch, mặc áo vải, ăn rau, quên mình mà tu, không cầu bên ngoài, tâm thần tai mắt nhẹ nhàng sáng sủa, có thể bay lên không, đi trên mặt nước, phục được cọp, giáng được rồng, vô cùng kỳ lạ, người đời không sao lường biết được. Sau về quê xây chùa mà ở….
Thiền sư Giác Hải cũng là người huyện Hải Thanh, tu tại chùa Diên Phúc trong quận nhà. Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền câu làm nhà, lênh đênh trên mặt nước. Năm hai mươi lăm tuổi mới bỏ nghề ấy, cắt tóc đi tu. Lúc đầu cùng Thiền sư Không Lộ ở chùa Hà Trạch, sau mới tìm về ở Hải Thanh. Thời Lý Nhân Tông, sư thường cùng sư Thông Huyền được triệu vào ngồi hầu trên ghế đá mát lạnh ở cung Liên Mộng. Bỗng một hôm có đôi tắc kè đang gáy, nhức tai điếc óc. Vua truyền Thông Huyền dùng phép để ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua cười bảo với Giác Hải rằng: “Hãy còn một con xin để nhường nhà sư”. Sư liền đọc thần chú, trong nháy mắt con còn lại cũng rơi xuống đất. Vua kinh lạ, làm thơ rằng:
Giác Hải lòng như biển

Thông Huyền đạo cũng huyền
Thần thông thêm biến hoá
Một Phật một thần tiên.
Sự kiện 2 vị cao tăng diệt tắc kè có nhiều người xem qua nghĩ chẳng có gì là phép thần thông cả, sao lại được vua Lý tán dương như thế?
Thực ra, gọi là tắc kè chỉ là một cách kể. Đúng ra đây là tài: “phục được cọp, giáng được rồng”, vì tắc kè chính là hình ảnh của rồng.
Qua chuyện trên ta thấy Thông Huyền và Giác Hải là 2 người khác nhau. Bản Thánh tổ bản hạnh ở chùa Keo ngoài (Đĩnh Lan) ở Hành Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định) ghi: Thánh tổ Không Lộ đại pháp thiền sư sư giả, cựu danh Thông Huyền. Tức là: Vị sư Thánh tổ Không Lộ đại pháp thiền sư có tên cũ là Thông Huyền.
Sách Địa dư huyện Quỳnh Côi của tri huyện Ngô Vi Liễn, phần chép về xã La Vân, sự tích đức Không Lộ thuyền sư cũng nói, sau khi Từ Đạo Hạnh, Không Lộ và Giác Hải đi Tây phương trở về thì Không Lộ thuyền sư từ đấy phép Phật thông huyền, bay trên không, đi trên mặt nước, hàng long phục hổ, thiên kỳ vạn quái, không ai biết đâu mà lường… Đến đời vua Lý Nhân Tôn ngài cùng thiền sư Giác Hải đã diệt 2 con tắc kè và được vua có thơ tán tụng.
Như vậy Không Lộ thiền sư ở vùng Nam Định từng có tên là Thông Huyền, là người đã cùng thiền sư Giác Hải đã làm phép giáng rồng (diệt tắc kè) thời Lý Nhân Tông. Đây là nhận định quan trọng thứ nhất, xác nhận vị thánh tổ Không Lộ đầu tiên là Thông Huyền ở vùng Giao Thủy Nam Định.
Cũng trong bản Thánh tổ bản hạnh ở chùa Keo ngoài kể Không Lộ và Giác Hải cùng quê Hải Thanh, làm nghề đánh cá, kết nghĩa làm anh em. Sau đó hai người đi sang Tây phương tìm đạo, giữa đường gặp Từ Đạo Hạnh, lại kết nghĩa giao nhượng. Đạo Hạnh làm huynh trưởng, Không Lộ làm huynh thứ, Giác Hải làm đệ.
Như vậy rõ ràng  Không Lộ – Thông Huyền và Giác Hải là 2 nhân vật khác nhau, kết nghĩa huynh đệ. Tuy nhiên, bản Thánh tổ sự tích ở đền chùa La Vân (Quỳnh Phụ, Thái Bình) lại ghi: Nhất phong Không Lộ Giác Hải đại vương. Danh phong “Không Lộ Giác Hải” còn gặp ở khá nhiều nơi khác, chỉ 1 vị thần. Ví dụ như ở xã Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh), còn giữ được 3 sắc phong cho “Không Lộ Giác Hải chi thần“. Trong đình có bức tượng một vị thần cầm mái chèo lướt trên sóng.

Khong Lo Giac Hai.jpg
Tượng thần tại đình Quan Lạn.

Không Lộ Giác Hải được thờ như một vị thần bảo hộ cho ngư dân, tận Đà Nẵng vẫn có nơi thờ. Đình Nam Thọ (Thọ Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng) có sắc phong cho “Khổng Lộ Giác Hải Đạt ma chi thần“.
Có thể thấy vị thần Giác Hải còn có tên được phong là Không Lộ hoặc được thờ cùng với tên Không Lộ như là 1 người. Vậy phải hiểu sao khi Không Lộ cũng là Thông Huyền như trên?
Bài minh trong khoa cúng Thỉnh Thánh tổ Không Lộ trong Tạp tiếu chư khoa có đoạn:
Ngưỡng khải thánh tổ minh
Phụ Lý thị Triều đình
Phụ cư Giao Thủy quán 
Mẫu tại Hán triền sinh
Biến hiện Không Lộ tính
Kết hữu Giác Hải tinh
Dự đồng Từ Đạo Hạnh
Ước vi tam đệ huynh…
Huấn đồng tử ca thanh
Triều đình sự bất minh
Dục dũ thiên tử bệnh
Tu đắc Không Lộ danh

Ở bài minh này nói tới “Không Lộ tính“, “Không Lộ danh“. Như vậy, vốn “Không Lộ” không phải là một tên riêng mà là từ chỉ một danh xưng cho người đắc đạo nào đó.
Khi hiểu như vậy sẽ giúp giải quyết vấn đề tên Không Lộ Giác Hải, nghĩa là vị thần Giác Hải còn được gọi bằng danh hiệu Không Lộ. Đây cũng là danh xưng của vị Thông Huyền trước đó.
Từ những điều trên, có thể nhận đình rằng và đầu thời Lý đã hình thành một dòng phái các thiền sư mang danh tính là Không Lộ. Người đầu tiên lập nên dòng phái tu này là Thông Huyền, người quê ở Giao Thủy, Hải Thanh. Người thứ hai được nhận danh hiệu này là Giác Hải quê Hải Thanh, là em kết nghĩa của Thông Huyền. Rất có thể vị Không Lộ được nói tới, với quê ở Hán Lý (Ninh Giang, Hải Dương) là vị Giác Hải này.
Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng (còn có tên là Gia Viễn) đất Trường An có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh, hiệu là Minh Không quốc sư, lúc ít tuổi đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo giáo, trải hơn mười năm. Đạo Hạnh thấy người tiết tháo bèn truyền tâm ấn, lại đặt tên cho. Kíp tới khi Đạo Hạnh sắp tạ thế bảo Minh Không rằng: “Xưa tôn sư của ta tu đã tròn quả phúc mà còn bị cái nạn đao thương quả báo, huống chi ở cái thuở mạt thế huyền vi này, há có thể tự giữ mình được sao? Ta nay sắp xuất thế, ở cái địa vị làm thầy người ta, bệnh trái kiếp sau quyết là khó tránh nổi. Ta với người có duyên, nên cứu giúp nhau”. Đạo Hạnh đã hóa, Minh Không trở về chùa cũ cày ruộng.
Nguyễn Minh Không sau đó đã chữa bệnh hóa hổ cho hậu kiếp của Từ Đạo Hạnh là vua Lý Thần Tông và được phong là Lý triều quốc sư.
Nguyễn Minh Không quê Đàm Xá (Ninh Bình) là lớp học trò của Từ Đạo Hạnh, nên cũng là hậu bối của Thông Huyền và Giác Hải. Tuy nhiên, Nguyễn Minh Không này cũng hay được gọi là Không Lộ thiền sư, rất nhầm lẫn với Dương Không Lộ. Từ những nhận xét trên có thể thấy Nguyễn Minh Không cũng là một vị thiền sư đạt được danh hiệu Không Lộ, nối tiếp dòng phái tu từ Thông Huyền và Giác Hải.
Một dẫn chứng khác là ở đền Phả Lại (Quế Võ, Bắc Ninh), thờ cùng lúc 2 vị là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không. Tương truyền 2 vị này đã từng hưng công chùa này.

IMG_7660 (2).JPG
Bia Phả Lại tự bi

Như vậy, do Không Lộ là một danh hiệu, chỉ người đứng đầu dòng phái tu Không Lộ, nên ít nhất có tới 3 Không Lộ thiền sư:
1. Người sáng lập ra dòng phái này là Thông Huyền ở Giao Thủy. Vị Không Lộ thứ 1 này được biết với công trạng chém thần rết ở cửa biển Giao Thủy và được thờ như thần phù hộ nghề chài lưới.
2. Người kế nhiệm là Giác Hải, cũng từng mang danh là Không Lộ, quê gốc ở Hải Dương, là em kết nghĩa của Thông Huyền. Rất có thể Giác Hải là người đã học được nghề đúc đồng (khi đi phương Tây?) và là người khởi xướng việc đúc An Nam tứ đại khí. Vị Không Lộ tổ nghề đúc đồng là thiền sư Giác Hải.
3. Người thứ ba, là học trò/hậu bối của 2 vị trước, là Nguyễn Minh Không ở Đàm Xá (Gia Viễn, Ninh Bình). Nguyễn Minh Không có quan hệ mật thiết với vị tổ Thông Huyền, có thể là con hoặc học trò. Nguyễn Minh Không là một thầy thuốc danh tiếng, đã chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông và được phong là Lý triều quốc sư.
Cũng vì lý do có tới 3 vị thánh tổ Không Lộ ở các thời gian khác nhau như vậy nên Không Lộ thiền sư được dân gian tôn là một trong các vị thần bất tử.

IMG_1730.JPG
Cổng đền thánh Nguyễn ở Gia Viễn, Ninh Bình.

Câu đối ở đền thánh Nguyễn (Đàm Xá, Gia Viễn, Ninh Bình):
與十八子有因果乎卓然扵後扵前醫虎翊龍两朝偉績
是二社民所尸祝者辰或為分為合觀燈望井萬古祥光
Dữ thập bát tử hữu nhân quả hồ, trác nhiên ư hậu ư tiền, y hổ dực long lưỡng triều vĩ tích
Thị nhị xã dân sở thi chúc giả, thần hoặc vi phân vi hợp, quan đăng vọng tỉnh vạn cổ tường quang.
Dịch:
Cùng vua họ Lý nhân quả sao! vời vợi trước sau, chữa hổ giáng rồng, hai triều tích lớn
Ấy dân hai xã khấn tế vậy! khi lúc chia hợp, xem đèn trông giếng, vạn năm sáng lành.

Những vị pháp sư thời Lý

Về sự tích của thiền sư Từ Đạo Hạnh thời Lý câu đối ở nội điện chùa Thầy (Sài Sơn) khái quát như sau:
弌杖顯神機卓錫圓成柴石峒
再生承帝統鴻圖葉繫李蓮花
Nhất trượng hiển thần cơ, trác tích viên thành Sài thạch động
Tái sinh thừa đế thống, hồng đồ diệp hệ Lý liên hoa.
Dịch:
Một gậy tỏ phép thần, chót vót thành toàn Sài động đá
Tái sinh nối dòng đế, mênh mông tiếp dõi Lý hoa sen.
Câu đối nói tới việc Từ Đạo Hành tu hành đắc đạo ở núi Sài, dùng tích trượng đánh chết kẻ thù là Đại Điên, trả thù cho cha, sau đó đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu, nối dõi cho nhà Lý, tức là vua Lý Thần Tông. Nội điện (chùa Thượng) của chùa Thầy thờ Từ Đạo Hạnh ở cả 3 ngôi: thánh, phật và đế.

IMG_2395Nội điện chùa Thầy.

Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng (còn có tên là Gia Viễn) đất Trường An có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh, hiệu là Minh Không quốc sư, lúc ít tuổi đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo giáo, trải hơn mười năm. Đạo Hạnh thấy người tiết tháo bèn truyền tâm ấn, lại đặt tên cho.
Theo truyện này thì thiền sư Nguyễn Minh Không là học trò của Từ Đạo Hạnh, là người sau này đã giải kiếp nạn hóa hổ cho vua Lý Thần Tông. Điều này được xác nhận hơn qua phát hiện Nguyễn Minh Không là vị pháp sư đã diệt thần hổ Xương Cuồng cùng đoạn tạp kỹ diễn các trò nhảy, lăn, phi, vỗ tay, hò hét…  Các thánh tượng (tượng đầu gỗ) trong trò rối Ổi Lỗi là dấu tích của sự kiện này. Từ Đạo Hạnh được coi là tổ của nghề múa rối, tức là “pháp thuật” biểu diễn mà Nguyễn Minh Không đã dùng diệt thần hổ Xương Cuồng là được truyền từ Từ Đạo Hạnh.
Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải của trong Lĩnh Nam chích quái lại kể, có hai vị thiền sư là người huyện Hải Thanh, đánh cá trên sông rồi cùng tu với nhau là Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải. Sư Giác Hải đã có dịp vào kinh và cùng Thông Huyền đọc thần chú diệt trừ đôi tắc kè trong cung, được vua Lý Nhân Tông làm bài thơ khen tặng:
Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo diệc huyền
Thần thông kiêm biến hoá
Nhất Phật, nhất thần tiên.
Trong khi đó ở chùa Thầy có tượng thờ Nguyễn Minh Không và Giác Hải với sự tích rằng đây là những người đã cùng đi học Phật với Từ Đạo Hạnh. Câu đối ở chùa Thầy (Sài Sơn):
覺海心如海赫赫英靈真妙法
通玄道亦玄洋洋顯跡到今傳
Giác Hải tâm như hải, hách hách anh linh chân diệu pháp
Thông Huyền đạo diệc huyền, dương dương hiển tích đáo kim truyền.
Dịch:
Giác Hải lòng như biển, rõ rệt anh linh thực phép lạ
Thông Huyền đạo càng tuyệt, mênh mông dấu tỏ tới nay truyền.
Như vậy trong chuyện này có tới 5 vị thiền sư: Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải, Nguyễn Minh Không và Thông Huyền. Mối quan hệ giữa các vị thiền sư đời Lý này với nhau rất chồng chéo, khó sắp xếp cho hợp lý.

IMG_2363Ban thờ Lý Thần Tông ở chùa Thầy.

Về pháp sư Thông Huyền thì trong Sự tích đức thánh tổ cụ Đặng Xuân Bảng ở làng Hành Thiện (Nam Định) cho biết: Thông Huyền là biệt hiệu của Đức Thánh Tổ (Dương Không Lộ hoặc Nguyễn Minh Không – thánh tổ thờ ở làng Hành Thiện).
Để phân định vai trò và nhân vật giữa các vị thiền sư này, cần nhắc lại rằng cái tên gọi Không Lộ vốn không phải là tên của 1 người, mà là của một giáo phái gồm các pháp sư thời Lý. Không Lộ cũng là tên để gọi giáo chủ của giáo phái đó. Vì thế có ít nhất 2 người đã đảm đương chức giáo chủ Không Lộ này ở 2 thời gian khác nhau. Một là Dương Không Lộ người Hải Thanh (Thái Bình). Hai là Nguyễn Minh Không người Đàm Xá ở Hoa Lư.
Theo tượng thờ ở chùa Thầy (Sài Sơn) thì Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không (ở đền Lại Trì – Thái Bình chép là Dương Không Lộ) và Giác Hải thiền sư cùng nhau đi tìm học Phật và đắc đạo. Điều này có thể hiểu nghĩa là ba người này đã cùng sáng lập ra giáo phái pháp sư Không Lộ. Thử  sắp xếp thứ tự các vị giáo chủ phái Không Lộ thời Lý như sau:
– Vị giáo chủ đầu tiên của giáo phái là Dương Không Lộ, người Hải Thanh, còn có biệt hiệu là Thông Huyền.
– Giác Hải thiền sư có vẻ không từng đảm đương chức vụ giáo chủ, nhưng ông là một trong những người đồng sáng lập giáo phái cùng với Dương Không Lộ ở miền Hải Thanh.
– Từ Đạo Hạnh tương tự, có vai trò sáng lập nhưng không từng làm giáo chủ, vì như đã biết, ông quay về kinh đô để trả thù cho cha và giúp nhà Lý có con nối dõi.
– Vị giáo chủ tiếp theo sau Dương Không Lộ là Nguyễn Minh Không, người quê Ninh Bình, là người đã chữa bệnh cho hậu thân của Từ Đạo Hạnh (vua Lý Thần Tông) hóa hổ.
3 người đi Tây Trúc học Phật có lẽ là 3 vị đầu: Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ và Giác Hải. Còn Nguyễn Minh Không thuộc thế hệ sau, được truyền pháp từ Từ Đạo Hạnh hoặc từ Dương Không Lộ.

IMG_2456Cầu Nhật Tiên và đền Tam phủ trong quần thể di tích chùa Thầy ở Sài Sơn.

Một điều chú ý thêm là giáo phái này có thể đã lấy Tam phủ làm thần điện để tu và thờ cúng. Ở chùa Thầy tại Sài Sơn, là nơi tu hành và hóa của Từ Đạo Hạnh, có đền Tam phủ ở ngay trước chùa (ngoài hòn đảo trên hồ, đi qua cầu Nhật Tiên). Đền này thờ đúng 3 vị là Ngọc Hoàng, Diêm Vương và Long Vương.
Tương tự, ở Bắc Ninh (Cao Đức, Gia Bình) có đền Tam phủ hay gọi là đền Ba Vua thờ các vua Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ. Đền này cũng thờ cả Dương Không Lộ vì nơi đây gần chùa Phả Lại (Quế Võ, Bắc Ninh), là nơi do Không Lộ thiền sư từng trụ trì và tu hành.
Ở làng Hành Thiện (Nam Định), nơi từng là “trụ sở” của phái Không Lộ (chùa Keo) cũng có miếu Tam phủ. Theo cụ Đặng Xuân Bảng thì miếu này thờ 3 vị Thiên phủ Chủ thiên Thánh đế, Địa phủ Diêm la Thánh đế và Thủy phủ Bát hải Long vương.

IMG_1939Chính điện Tam phủ linh từ ở Lục Đầu.

Như vậy, ở thời Lý, Tam phủ nguyên gốc chưa hề có các vị mẫu thẫn. Điều này khá rõ ràng vì lúc đó thánh mẫu Liễu Hạnh còn chưa xuất thế. Tam phủ nguyên gốc là hình thức thần điện của các pháp sư (đạo sĩ) từ thời Lý thờ đại diện của Tam tài: Thiên – Địa – Nhân, trong đó Thủy phủ đại diện cho nhân sinh.

Từ cô Tấm đến thánh Láng

Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Ông họ Từ tên Lộ, tự là Đạo Hạnh, ở chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, cha tên là Vinh, làm chức tăng quan đô sát ở triều Lý, thường qua chơi làng An Lãng, lấy con gái người họ Lỗ tên là Loan, nhân thế ở lại đó. Lộ tức là con bà họ Lỗ vậy. Thuở niên thiếu, thích giao du hào hiệp, phóng khoáng, có chí lớn, hành động ngôn ngữ không ai có thể lường được, thường cùng kẻ nho giả Mãi sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người con hát là Phan Ất kết bạn. Đêm thì mải miết đọc sách, ngày thì thổi sáo đánh cầu, vui sự chơi bời. Cha mẹ thường trách là trễ nải, một đêm ghé dòm qua khe cửa vào trong phòng thấy ngọn đèn gần tàn, sách vở chồng chất, Lộ gục xuống án mà ngủ, tay vẫn chưa rời khỏi sách; do đó cha mẹ không còn lo nghĩ nữa. Sau Lộ dự kỳ thi tăng hương thí, đỗ khoa Bạch Liên.

Chua Nen

Chùa Nền ở Láng Thượng, Hà Nội, nơi sinh của thánh Láng Từ Đạo Hạnh.

Không bao lâu, cha dùng tà thuật làm phật ý Diên Thành hầu, Diên Thành sai Đại Điên thiền sư dùng phép đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch. Xác trôi tới cầu An Quyết, đến trước cửa nhà Diên Thành hầu, hốt nhiên đứng dựng lên ở đấy suốt một ngày không trôi đi. Diên Thành hầu sợ hãi nói với Đại Điên, Đại Điên đến và hét lên rằng: “Người đi tu không được phép giận quá một ngày”. Dứt lời thây đổ xuống mà trôi đi.
Lộ nghĩ việc báo thù cho cha nhưng chưa nghĩ ra mưu kế. Một hôm, rình Đại Điên ra ngoài, gây sự định đánh, bỗng nghe thấy trên không trung có tiếng thét ngăn lại. Lộ sợ hãi quăng gậy mà đi. Muốn sang chùa ấn Quốc cầu phép lạ để đánh Điên, đường đi qua đất rợ Kim Sỉ (răng vàng) thấy hiểm trở bèn quay về, ẩn cư ở núi Phật Tích, thường ngày đọc kinh Đại-bi-đà-la, đọc trọn mười vạn tám nghìn lần. Một hôm, thấy có thần nhân đến trước mặt mà nói rằng: “Kẻ đệ tử tức là Trấn Thiên Vương, cảm phục thày có công trì kinh nên lại đây để thày sai khiến”. Lộ biết là đạo pháp đã thành, thù cha có thể rửa, bèn thân đến cầu An Quyết, cầm cây gậy chống ở tay ném xuống dòng nước chảy xiết. Gậy đi ngược dòng nước tới cầu Tây Dương thì dừng lại. Lộ mừng mà nói rằng: “Phép của ta thắng được Đại Điên rồi!” Bèn đến thẳng chỗ Điên ở, thấy Điên nói rằng: “Mày không nhớ chuyện ngày trước sao?” Nói rồi nhìn lên không trung, tịnh không thấy gì, bèn đánh liền. Điên phát bệnh mà chết….
Khi ấy vua Lý Nhân Tông không có con, tháng ba năm Hội tường Đại khánh thứ 3, có người ở phủ Thanh Hoa nói rằng: “ở bãi bể có đứa trẻ kỳ lạ, mới khoảng lên ba, tự xưng là hoàng đế, lấy hiệu Giác Hoàng, phàm vua làm điều gì đứa trẻ ấy cũng biết, đó chính là Đại Điên hóa sinh”. Vua sai quan trung sứ tới xem, thấy đúng như lời nói, bèn đón về kinh sư, cho ở chùa Báo Thiên. Vua thấy đứa trẻ thông minh, rất lấy làm yêu dấu, muốn lập làm kẻ kế tự, quần thần đều cố khuyên can là không thể được, và nói: “Nếu kẻ kia thực là linh dị, tất phải thác sinh ở nơi cung cấm, sau mới có thể lập được”. Vua nghe theo. Bèn mở đại hội bảy ngày đêm cho đầu thai.
Pháp Lộ nghe tin, nói với chị gái rằng: “Đứa trẻ kia là yêu tà mê hoặc người ta quá đáng. Ta há chịu ngồi yên mà không cứu, để nó làm mê hoặc lòng người, rối loạn chính pháp sao?”. Nhân sai chị gái giả đò làm người đi xem hội, mật đem mấy tấm bùa của Lộ treo ở trên rèm. Hội tới ngày thứ ba thì Giác Hoàng bị bệnh nói với mọi người rằng: “Khắp biên giới trong nước đều có lưới sắt vây che, tuy muốn thác sinh, sợ không có lối vậy”. Vua nghe có kẻ phá mất bùa chú, bèn sai người đi tìm, quả nhiên bắt được Lộ ở Hưng thánh lâu, trói lại, họp quần thần lại để xét xử. Vừa lúc đó Sùng Hiền Hầu đi ngang qua, Lộ năn nỉ nói: “Xin ra sức cứu bần tăng khỏi phải chịu tội, ngày sau xin ngụ thai trong cung để báo đáp công đức này”. Hầu gật đầu.
Sau ngày hội, quần thần tâu với vua rằng: “Bệ hạ vô tự, nên cầu kẻ kia thác sinh, thế mà tên Lộ cuồng dại dám tự ý giải chú, thật là đắc tội”. Hầu tâu rằng: “Thiết tưởng nếu Giác Hoàng có thần lực thì tuy có trăm tên Lộ giải chú, há đâu có hại được ru? Nay lại trái hẳn, Lộ hơn hẳn Giác Hoàng, thần trộm nghĩ nếu như giết, chẳng thà cho nó thác sinh”. Vua bằng lòng. Lộ đến thẳng phủ đệ nhà Hầu, nhằm chỗ phu nhân tắm, nhìn khắp cả. Phu nhân giận quá, mách với Hầu. Hầu vốn hiểu ý, để mặc không hỏi đến. Phu nhân vì thế có thai. Lộ dặn Hầu rằng đến lúc phu nhân lâm bồn phải báo cho biết trước. Đến kỳ lâm bồn, Lộ được người báo tin, bèn tắm rửa thay quần áo, bảo học trò rằng: “Mối túc nhân của ta chưa hết, phải thác sinh lần nữa ở đời, tạm làm đế vương, kíp đến khi già chết làm nhị thập thiên tử. Nếu thấy thân thể tan ra đất, đó là ta đã thâm nhập vào bùn đất không còn ở trong cõi sống chết nữa”.
Học trò nghe nói, ai cũng cảm động sụt sùi. Lộ đọc kệ rằng: Thu tới, không cho chim nhạn báo trước, Cười nhạt mà nhìn nhân gian đau xót. Khẽ bảo bọn môn nhân chớ nên luyến tiếc, Thày xưa mấy độ hóa thày nay. (dịch ý) Đọc dứt, nghiễm nhiên mà hóa. Hầu phu nhân bèn sinh con trai, đặt tên là Dương Hoán. Khi lên ba, vua nhân tông nuôi ở trong cung, lập làm hoàng thái tử. Nhân Tông băng hà, thái tử tức vị, ấy là vua Thần Tông do Lộ thác sinh ra vậy. Hình xác Lộ nay còn ở hõm đá trong chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, huyện Ninh Sơn…

Tien dinh chua Lang

Chùa Láng, Hà Nội.

Câu đối ở chùa Láng (Hà Nội):
生化何年仙是帝
英靈此地聖而神
Sinh hóa khả niên tiên thị đế
Anh linh thử địa thánh nhi thần.
Dịch:
Sinh hóa năm nào tiên chính đế
Linh thiêng đất đó thánh là thần.

Từ Đạo Hạnh là một trong những vị thần bất tử trong tín ngưỡng dân gian, được biết với chuyện trả thù cho cha và đầu thai thành Lý Thần Tông. Tuy nhiên, tại sao một vị thánh tổ Phật giáo lại nặng nghiệp trả thù, rồi tranh đầu thai để làm vua như thế? Công nghiệp thực sự của Từ Đạo Hạnh là ở chỗ nào?
Để lý giải câu chuyện của Từ Đạo Hạnh phải bắt đầu từ vị pháp sư Đại Điên, đối thủ của Từ Đạo Hạnh trong truyện trên. Đại Điên là ai mà lại dám giết cả Tăng đô sát của triều đình (Từ Vinh) và còn định đầu thai làm con vua (Giác Hoàng) nữa?
Khi tìm hiểu về Đại Điên thì có một thông tin bất ngờ. Giác Hoàng Đại Điên cũng là vị sư đã tham gia vào câu chuyện sinh nở của nguyên phi Ỷ Lan. Vua Lý Thánh Tông hiếm muộn, sau khi rước bà Ỷ Lan về cung, thường sai một thái giám là Nguyễn Bông đi cầu tự ở chùa. Sư trụ trì ở chùa này là Đại Điên, đã dùng phép để cho Nguyễn Bông đầu thai làm con của Ỷ Lan. Ỷ Lan sinh được con trai là thái tử Càn Đức, tức vua Lý Nhân Tông sau này. Về sự kiện này dân gian còn lưu lại di tích chùa Thánh Chúa ở làng Vòng (Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội), nơi còn thờ Nguyễn Bông và nguyên phi Ỷ Lan.

Y LanTượng nguyên phi Ỷ Lan ở chùa Thánh Chúa.

Nơi trụ trì của sư Đại Điên cũng ở khu Dịch Vọng, nay là chùa Duệ Tú tại thôn Tiền. Ở đây, lý lịch của Đại Điên cho biết ông tên là Lê Nghĩa. Rất có thể vị đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa mà Từ Đạo Hạnh giao du ban đầu như trong truyện trích dẫn trên chính là Đại Điên.
Theo thần tích của chùa Duệ Tú, Đại Điên là một thiền sư đắc đạo, một lương y nổi tiếng, một công thần lớn có công giúp nước thời nhà Lý đã được tôn phong là Thánh tổ Giác Hoàng Đại Điên. Nay ở trong chùa Duệ Tú còn tượng ông tạc gỗ kích thước bằng người thật đặt trong khám để phụng thờ. Tới hội chùa Láng (nơi thờ Từ Đạo Hạnh) và chùa Duệ Tú (cùng ngày 7 tháng 3 âm lịch), còn có tục diễn trò đấu thần, khi kiệu rước Từ Đạo Hạnh đến ngõ chùa Duệ Tú (ngõ Vụt – nơi Từ Đạo Hạnh dùng gậy đánh chết Đại Điên) thì hai bên cho bắn pháo vào kiệu của nhau.

Dai Dien

Tượng Giác Hoàng Đại Điên ở chùa Duệ Tú.

Đại Điên như thế vừa là một pháp sư, vừa là một thầy thuốc. Gạt bỏ đi lớp màn sương của truyền thuyết, có thể nhận ra công lao chính của vị lương y Đại Điên chính là việc giúp nguyên phi Ỷ Lan có con trai. Nhờ người con trai này Ỷ Lan đã nắm được quyền nhiếp chính. Nếu trong dân gian Ỷ Lan được thể hiện thành hình tượng cô Tấm thì hình tượng ông Bụt luôn hiện lên giúp đỡ sẽ không phải ai khác chính là sư Đại Điên.
Thần tích xã Thuận Quang (tức làng Siêu Loại xưa) chép rõ sư Đại (Thái) Điên là người đã đến hỏi cô Tấm (Cám) “vì sao cô khóc” và giúp Tấm gặp được nhà vua. Như vậy sư Đại Điên chính là ông Bụt đỡ đầu của Ỷ Lan ngay từ lúc vào cung cho tới chuyện Nguyễn Bông đầu thai làm con trai Ỷ Lan.
Ỷ Lan vốn mang họ Lê, tên gọi Khiết Nương. Cái tên Ỷ Lan hay Yến Loan theo Mộng khuê bút đàm của nhà Tống có thể chỉ là tên phiên thiết của chữ An. Tên hiệu của bà là An phi thì hợp lý hơn. Đại Điên có  tên là Lê Nghĩa, tức là cùng họ Lê với nguyên phi Ỷ Lan. Không rõ họ Lê ở vùng Bắc Ninh này có liên quan gì tới triều Tiền Lê trước đó hay không? Không phải ngẫu nhiên mà Lý Thánh Tông lại đi chọn một cô gái thôn quê về làm phi tần một cách bất ngờ như vậy.

Den tho Y LanĐền thờ nguyên phi Ỷ Lan trên dải núi Phật Tích (Bắc Ninh).

Là người hỗ trợ nguyên phi Ỷ Lan, giúp bà sinh độ hoàng thái tử Càn Đức nên tất nhiên Đại Điên biết rất rõ các chuyện của nhà vua Lý Nhân Tông. Vì thế ông mới có tên là Giác Hoàng, nghĩa là người biết mọi chuyện của nhà vua, như trong chuyện kể về đứa trẻ mang tên Giác Hoàng: “phàm vua làm điều gì đứa trẻ ấy cũng biết, đó chính là Đại Điên hóa sinh”.
Ở đây ta lại thấy một vấn đề khác trong việc truyền thừa của nhà Lý. Lý Thánh Tông vốn hiếm muộn, nhờ Đại Điên tư vấn chữa bệnh mà nguyên phi Ỷ Lan sinh được con trai kế vị. Đến đời Lý Nhân Tông lại không có con trai.  Truyền thuyết giải thích là vì Nhân Tông là do thái giám Nguyễn Bông đầu thai nên vua không có hứng thú với chuyện phòng the. Trước tình thế đó Giác Hoàng Đại Điên hẳn đã phải tính toán một cách thức khác để cho nhà Lý có người kế vị. Mà gia đình được chọn ở đây là Diên Thành Hầu được nhắc tới trong truyện Từ Đạo Hạnh.

Chua DamNền chùa Dạm ở Quế Võ, Bắc Ninh, còn gọi là chùa bà Tấm, là ngôi chùa do nguyên phi Ỷ Lan khởi công xây dựng và từng có đền thờ bà.

Tới đây có thể nhận thấy, mâu thuẫn giữa vị Tăng đô sát Từ Vinh và ngự y Đại Điên nằm ở việc ủng hộ ai để có con trai làm hoàng thái tử. Từ Vinh hẳn đã chống lại Đại Điên chọn gia đình của Diên Thành Hầu là người kế vị, nên bị Đại Điên giết chết. Tới đời con là Từ Đạo Hạnh nối chí cha, diệt Đại Điên và phù trợ cho em vua Nhân Tông là Sùng Hiền Hầu có con trai.
Tương tự như việc làm của Đại Điên dưới thời Lý Thánh Tông, công đức chính của Từ Đạo Hạnh là việc đã dùng pháp thuật (y thuật) giúp cho vợ của Sùng Hiển Hầu sinh con trai, mà người con này sau lên ngôi là vua Lý Thần Tông. Lý Thần Tông do đó coi Từ Đạo Hạnh như cha đẻ của mình, đã cho thờ cúng ông ở những nơi ông tu hành.
Sau khi Từ Vinh bị Đại Điên đánh chết, Từ Đạo Hạnh đã đi tu phép Phật. Tuy nhiên, đầu tiên không phải ông sang Ấn quốc tìm đạo mà là ông xuống Nam Định, nơi có chùa Đại Bi ở Nam Trực để tu hành. Sự tích chùa Đại Bi ở đó kể rằng đây là nơi Từ Đạo Hạnh đã lui về sau khi cha bị giết và cùng giao du học phép với Nguyễn Minh Không và Giác Hải. Bản thân chữ Đại Bi cũng gắn với sự tích Từ Đạo Hạnh niệm kinh Đại-bi-đà-la, đọc trọn mười vạn tám nghìn lần mới đắc đạo.
Hiểu một cách thực tế thì hẳn Từ Đạo Hạnh đã phải rời khỏi quê nhà ở Láng, Thăng Long, xuống trú tránh ở vùng Nam Định. Nam Định lúc này là nơi thịnh hành đạo phù thủy của phái Không Lộ. Cùng với Nguyễn Minh Không và Giác Hải, Từ Đạo Hạnh là một trong những người sáng lập của phái Không Lộ (cùng đi Tây Trúc học Phật).
Có thể nhờ sự trợ giúp của phái Không Lộ, hoặc nhờ học/cùng tu các pháp thuật của phái này mà Từ Đạo Hạnh đã có đủ bản lĩnh để về thực hiện nốt sự nghiệp của cha: diệt Đại Điên và giúp Sùng Hiền Hầu có con trai.

Gac chuong Dai Bi

Gác chuông chùa Đại Bi (Nam Trực, Nam Định).

Câu đối ở chùa Đại Bi:
西地三同行六智神通先得道
南天四不死两朝帝制登尊
Tây địa tam đồng hành, lục trí thần thông tiên đắc đạo
Nam thiên tứ bất tử, lưỡng triều đế chế biệt đăng tôn.
Dịch:
Đất Tây ba người đi, lục trí thần thông thành đạo trước
Trời Nam bốn bất tử, hai triều vua sắc trọng riêng tôn.
Sau khi diệt được Đại Điên, Từ Đạo Hạnh đã về chùa Thầy ở Sài Sơn tu hành rồi hóa ở đó. Núi Sài cũng có tên là núi Phật Tích, giống như ngọn núi ở Bắc Ninh, nơi nguyên phi Ỷ Lan đã cho xây một ngôi chùa lớn mà di tích còn lại tới nay. Không rõ đây chỉ là sự trùng lặp hay có ẩn ý gì khác trong cái tên Phật Tích của 2 nơi này.
Truyền tích cho rằng Từ Đạo Hạnh là tổ của nghề hát chèo và múa rối. Chú ý rằng khác với các Không Lộ thiền sư có xuất xứ từ dân gian, Từ Đạo Hạnh có xuất thân là con quan lớn trong kinh thành, có học hành và đỗ đạt tới khoa Bạch Liên trước khi đi tu. Có thể đóng góp của ông trong đạo phù thủy của phái Không Lộ là đã đưa diễn xướng hát, múa vào trong thực hành đạo. Hát chèo ban đầu có thể được dùng như một dạng hát chầu, kiểu lên đồng khi làm phép phù thủy.
Tương tự, dấu ấn về múa rối mang đậm màu sắc tín ngưỡng còn lưu lại trong tục múa rối đầu gỗ (Ổi Lỗi) ở di tích chùa Đại Bi, Nam Định. Không rõ có liên quan gì không, nhưng cái tên Ổi Lỗi này cũng chính là tên quê của nguyên phi Ỷ Lan ở làng Thổ Lỗi (Sủi, Lỗi Hương). Từ “Lỗi” còn có thể liên quan trực tiếp đến Từ Đạo Hạnh vì ông có tên là Lộ (họ mẹ là Lỗ). Không rõ vì sao tên họ mẹ của Từ Đạo Hạnh lại trùng với tên của nguyên phi Ỷ Lan: Loan, Lỗi.

Chan cot chua Dai BiChân cột hoa sen thời Lý ở chùa Đại Bi.

Nhận định mới về mối liên quan giữa 2 truyền tích đầu thai thời Lý, một là của Ỷ Lan – Đại Điên, hai là của Sùng Hiền Hầu – Từ Đạo Hạnh đã làm sáng tỏ hơn về sự tích của vị thánh bất tử Từ Đạo Hạnh. Điều này ghi nhận rõ ràng hơn công nghiệp của vị sư tổ này, gạt bỏ đi lời phê phán về hành động khác với giáo lý Phật của Từ Đạo Hạnh. Từ Đạo Hạnh là một pháp sư có tài nghệ độc đáo (hát chèo, múa rối) đã góp phần cho việc nối truyền ngôi của nhà Lý dưới thời Lý Nhân Tông.

Vị thần bất tử Không Lộ Lý quốc sư

Không Lộ thiền sư là một trong các vị thần bất tử của tín ngưỡng dân gian người Việt. Tuy nhiên các ghi chép và di tích còn lại về vị này lại thường lẫn lộn trong thân thế và tiểu sử của thánh, ít nhất có 2 xuất xứ được nói tới. Một là Dương Không Lộ ở Hải Thanh – Thái Bình. Hai là Nguyễn Minh Không ở Đàm Xá – Ninh Bình. Dương Không Lộ sinh vào thời Lý Thái Tổ, còn Nguyễn Minh Không sinh vào thời Lý Thánh Tông. Thêm vào đó, sự tích và công trạng của những vị này theo các ghi chép rất giống nhau và phạm vi di tích tín ngưỡng thờ 2 người này cùng tập trung ở khu vực Thái Bình và Nam Định. Do đó về xuất xứ của Không Lộ Lý triều quốc sư hiện vẫn còn đang rất nhiều tranh cãi. Trong quá khứ thậm chí đã từng có một vụ các cụ đồ địa phương ở Thái Bình tranh kiện nhau xem đức thánh Không Lộ là họ Nguyễn hay họ Dương. Cho đến nay trong giới học thuật những thảo luận về xuất xứ của Không Lộ thiền sư cũng vẫn còn chưa ngã ngũ.

IMG_1675Gác chuông đền thờ thánh Nguyễn ở Đàm Xá (Gia Viễn, Ninh Bình).

Bài viết này nêu một góc nhìn mới cho phép lý giải được sự tích khác nhau của Không Lộ thiền sư thông qua phân tích tín ngưỡng dân gian, mà trước hết là từ quan niệm về thần bất tử. Các vị thánh bất tử trong tín ngưỡng của người Việt đã được xác định là những vị tu tiên đắc đạo, có phép cải tử hoàn sinh, trường sinh bất lão hoặc giáng sinh chuyển thể. Không Lộ thiền sư là vị thần bất tử hàng thứ tư trong quan niệm này.
Đứng đầu Tứ bất tử là Tản Viên Sơn Thánh với cây gậy thần đầu sinh đầu tử và cuốn sách ước diệu kỳ. Tản Viên được gọi là Thần Sư, đi khắp nơi lên rừng xuống biển, cứu giúp nhân dân. Điểm đáng chú ý trong sự tích về Tản Viên là Sơn Thánh đã khuyên vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán và cùng đi ngao du, tức là đi tu tiên. Tản Viên Sơn Thánh còn là vị thần đứng đầu trong các linh thần Việt.
Thần bất tử thứ hai là Chử Đồng Tử cùng công chúa Tiên Dung và Tây Sa. Với cây gậy và chiếc nón thần gia đình nhà Chử là những bậc thánh tiên cứu chữa bệnh cho nhân dân và một đêm đã bay về trời trên đầm Dạ Trạch. Chử Đồng Tử được tôn gọi là Chử Đạo Tổ, tức là một trong những vị tổ Đạo của người Việt.
Thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên vương Huyền Thiên đại thánh, người đã có công giúp An Dương Vương trừ yêu diệt quỷ khi xây thành Cổ Loa. Huyền Thiên Đổng Thiên Vương đã được xác định là Thái Thượng Lão Quân hay Lão Tử, vị giáo chủ khai mở Đạo Giáo. Lão Tử vừa là người khởi đầu cho một tín ngưỡng tâm linh, vừa là một thầy thuốc chữa bệnh dịch cho dân ở miền Bắc Việt (thần tích gọi là diệt giặc Xích Tỵ).
Một trong những vị thần bất tử ở hàng thứ tư là Liễu Hạnh công chúa. Thánh mẫu Liễu Hạnh với ba lần tái thế đã trở thành vị giáo chủ của Đạo Mẫu và Tứ phủ. Điểm đặc biệt của sự tích Liễu Hạnh là bà có vẻ như không có công nghiệp gì lớn lao trong việc cứu dân độ thế, nhưng lại được tôn làm giáo chủ của Đạo Mẫu. Công nghiệp chính của Mẫu Liễu là ở việc đã đề xướng Đạo Mẫu, đưa vai trò của các nữ thần lên bậc thần quyền chính thức trong Tứ phủ.
Điểm qua 4 vị thần bất tử Thần Sư, Đạo Tổ, Lão Quân và Thánh Mẫu trên ta nhận thấy họ đều là các vị “giáo chủ”, mở đầu cho những đạo phái trong tín ngưỡng của người Việt. Đây cũng chính là ý nghĩa cơ bản của tín ngưỡng thờ thần bất tử, là thờ những vị tổ khai lập môn phái, mở đường cho đạo.
2 vị Không Lộ thiền sư và Từ Đạo Hạnh cũng được xếp ở hàng thứ tư trong các vị thần bất tử. Vận dụng nhận định mới phát hiện trên về ý nghĩa của thần bất tử có thể thấy Không Lộ và Từ Đạo Hạnh cũng phải là những vị sư tổ, có công gây dựng tông phái và được thờ như các giáo chủ của giáo phái.
Giáo phái của Không Lộ thiền sư có thể được gọi là phái Không Lộ. Đồng thời Không Lộ cũng là danh xưng của Giáo chủ giáo phái này. Với cách hiểu như thế thì sẽ thấy rõ, không phải chỉ có 1 vị Không Lộ thiền sư bởi vì chức Giáo chủ của giáo phái có thể là những người khác nhau đảm nhận qua các thời.

IMG_7074Đền Lại Trì ở Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình.

Nhận định này giúp giải quyết được khúc mắc về việc có tới 2 ngài Không Lộ như ở phần đầu bài đã nêu. Có thể sắp xếp như sau, Dương Không Lộ quê Thái Bình là vị tổ thứ nhất của giáo phái Không Lộ, xuất hiện vào quãng thời Lý Thái Tổ – Thánh Tông. Kế tục ông là Nguyễn Chí Thành, người quê Ninh Bình, làm giáo chủ Không Lộ phái vào thời Lý Nhân Tông – Thần Tông.
Câu đối ở đền Lại Trì (Vũ Tây, Kiến Xương, Thái Bình) nơi thờ Dương Không Lộ:
蹟顯李朝三出世
名尊真定四靈祠
Tích hiển Lý triều tam xuất thế
Danh tôn Chân Định tứ linh từ.
Dịch:
Dấu tỏ Lý triều ba thế xuất
Tên nêu Chân Định bốn đền linh .
Tam xuất thế” ở đây có thể chỉ Không Lộ, Giác Hải và Từ Đạo Hạnh, nhưng cũng có thể là chỉ 3 lần xuất hiện của Không Lộ thiền sư. Cũng vì chức danh giáo chủ Không Lộ là gồm các đời nối tiếp nhau, tức là khả năng tái xuất thế nhiều lần, nên Không Lộ được xếp vào hàng thần bất tử.
Một đạo phái được xác lập khi nó có đủ 3 yếu tố, gọi là Tam bảo. Trước hết là có giáo chủ là Không Lộ thiền sư như nêu trên. Thứ hai là có giáo lý thể hiện qua những tiêu chí và hành động của giáo phái. Thứ ba là có các tăng lữ hay đạo sĩ theo đạo này.
Giáo lý của phái Không Lộ vừa theo giáo lý nhà Phật lại vừa kết hợp với Đạo Giáo ở nước ta. Điều này thể hiện qua các tài phép “lục trí thần thông” của Không Lộ thiền sư như đi trên không, nổi trên nước… Các chùa nơi Không Lộ từng tu hành đều có tên Thần Quang tự, phần nào cũng nói tới sự thần bí (tính chất của Đạo Giáo) của vị thiền sư này. Lý triều quốc sư Không Lộ như vậy không chỉ là một Phật tử mà còn là một Pháp sư cao tay. Bia chùa Keo Hành Thiện ở Nam Định ghi rõ ông là một Đại pháp sư.

P1280468Hoành phi “Đại Pháp Sư” ở chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định).

Câu đối khác ở đền Lại Trì nêu công nghiệp của Không Lộ thiền sư:
法手濟群生徳是聖神心是佛
仙丹扶九鼎國留事業史留名
Pháp thủ tế quần sinh, đức thị thánh thần tâm thị phật
Tiên đan phù cửu đỉnh, quốc lưu sự nghiệp sử lưu danh.
Dịch:
Tài phép cứu chúng sinh, đức chính thánh thân tâm chính phật
Thuốc tiên giúp thánh thượng, nước lưu sự nghiệp sử lưu tên.
Đặc biệt, đạo Không Lộ có mức độ nhập thế rất cao so với các thiền phái của nhà Phật thể hiện trong việc Không Lộ chữa bệnh cho vua Lý và thực hành nghề đúc đồng. Nhận định Không Lộ là tên giáo chủ hay giáo phái giúp giải quyết khúc mắc về sự kiện Không Lộ thiền sư đã đúc An Nam tứ đại khí vì 4 đồng khí lớn được đúc vào các thời kỳ khác nhau. Đỉnh tháp Báo Thiên chắc chắn đã được làm dưới thời Lý Thánh Tông vì đã phát hiện những viên gạch Lý gia đệ tam đế Long Thụy Thái Bình tứ niên tạo ở chân tháp, là niên hiệu của vị vua Lý thứ ba này. Tượng Phật Di Lặc chùa Quỳnh Lâm, chuông Quy Điền hoặc chuông Phả Lại, vạc Phổ Minh lại là ở những nơi khác vào thời gian khác. Nếu Không Lộ chỉ là 1 người thì không thể có chuyện lại tham gia đúc nên cả 4 đồng khí này.
Vì Không Lộ là tên giáo phái nên ở đây có thể hiểu là những đại đồng khí trên đã do giáo phái Không Lộ đảm nhận việc đúc nên ở các thời kỳ khác nhau. Như thế thì giáo chủ của giáo phái ở các thời gian đó cũng khác nhau, không phải chỉ là 1 người. Câu chuyện Không Lộ thiền sư đi sang Trung Quốc chở đồng đen về đúc chuông có lẽ muốn nói giáo phái này đã học được nghề đúc đồng tới mức thu hút hết tinh hoa của nghề này về nước ta. Không Lộ thiền sư được các làng nghề đúc đồng trên cả nước tôn làm vị tổ nghề.

IMG_6470Một số tháp Phật và gạch hoa thời Lý mới phát lộ ở Nam Định.

Câu đối đền Lại Trì về tứ đại khí nước Nam:
四噐容成南越地
一囊括尽北京銅
Tứ khí dung thành Nam Việt địa
Nhất nang quát tận Bắc Kinh đồng.
Dịch:
Bốn đồ chứa nên đất Nam Việt
Một túi gói hết đồng Bắc Kinh.

IMG_7017Gian thờ Dương Không Lộ ở đền Lại Trì.

Về giáo lý, có thể Không Lộ nghĩa đúng không phải là tài bay trên không của các vị thiền sư như vẫn nghĩ. Không Lộ là con đường của đạo Không. Thiền uyển tập anh còn lưu một bài thơ của Không Lộ thiền sư như một tâm yếu chú, như sau:
Đoán luyện thân tâm thủy đắc thanh
Sâm sâm trực cán đối hư đình
Hữu nhân lai vấn không không pháp
Thân tọa bình biên ảnh tập hình.
Dịch:
Rèn luyện thân tâm tựa nước thanh
Sân thênh cổ thụ tỏa sum cành
Có người xin hỏi nguồn Không pháp
Lưng dựa bình phong, bóng tựa hình.
Bài thơ có nhiều dị bản, nhưng câu “Hữu nhân lai vấn không không pháp” cho thấy rõ “phép” của Không Lộ thiền sư là “Không pháp”. Nó cũng là lời giải thích cho danh xưng Không Lộ của giáo chủ giáo phái này.
Giáo phái Không Lộ từng phổ biến chính ở vùng Nam Định – Thái Bình, với trung tâm là 2 ngôi chùa Keo ở 2 bên sông Hồng. Chữ Keo có thể nghĩa là Cả, là thủ lĩnh hay giáo chủ. Chùa Keo nghĩa là chùa Cả, trung tâm của giáo hội.

P1170499Gian ngoài chùa Keo Thái Bình.

Về tăng lữ của phái Không Lộ, có thể thấy các chùa thờ Không Lộ và Từ Đạo Hạnh thường ban đầu không có sư trụ trì như chùa Keo Hành Thiện, Keo Thái Bình hay chùa Đại Bi. Điều này nay có thể hiểu vì giáo phái của Không Lộ khác với Phật giáo chính dòng.
Điểm đặc biệt là ở các chùa thờ Không Lộ và Từ Đạo Hạnh tới nay còn lưu được nghi lễ hầu thánh bằng múa rối đầu gỗ, là các thánh tượng, đại diện cho giới tăng lữ của giáo phái này. Câu chuyện về các thánh tượng này có liên quan đến truyền tích Pháp sư diệt thần Xương Cuồng trong Lĩnh Nam chích quái. Vị pháp sư và các đệ tử của mình đã diệt được thần Xương Cuồng chính là Không Lộ thiền sư.

P1170531Các thánh tượng đầu gỗ ở chùa Keo Thái Bình.

Với đầy đủ tam bảo: giáo chủ, giáo lý và tăng lữ, rõ ràng phái Không Lộ có thể được coi là một Đạo, phổ biến và có vai trò lớn dưới thời Lý. Vua Lý cũng là đệ tử của giáo phái này (Lý Thần Tông là hóa thân của Từ Đạo Hạnh) và giáo chủ Không Lộ được tôn làm Lý triều quốc sư. Đây mới là tôn giáo chính của nước ta dưới thời nhà Lý.

Liễu Hạnh công chúa, người khởi xướng Đạo Mẫu Tứ phủ

Trong tín ngưỡng Tứ phủ vai trò của Thánh mẫu Liễu Hạnh được đề rất cao, được coi là “giáo chủ” của của tín ngưỡng này với vị trí Đệ nhất Thiên tiên thay thế cho cả Thượng thiên thánh mẫu. Lý do nào dẫn tới sự tôn sùng đặc biệt đối với Mẫu Liễu như vậy? Cho dù bà là một nhân vật xuất hiện khá muộn trong lịch sử và nếu xét về công nghiệp hộ quốc an dân thì bà Liễu Hạnh không có thành tích gì to lớn.
Nếu nói Liễu Hạnh là người đã khởi xướng Đạo Mẫu ở Việt Nam thì chắc ai cũng đồng tình. Tuy nhiên như vậy thì ra trước khi Mẫu Liễu xuất hiện ở Việt Nam chưa có đạo Mẫu? Chi tiết này ít người chú ý nhưng lại là điểm then chốt để nhìn nhận công nghiệp của thánh mẫu Liễu Hạnh.

IMG_4656

Thủy đình ở phủ Vân Cát tại Vụ Bản, Nam Định

Mẫu Liễu được tôn là một trong bốn vị thần bất tử, thay chỗ cho cả Từ Đạo Hạnh hay Nguyễn Minh Không. Tuy vậy, 3 lần giáng sinh của bà thực ra không có gì đáng kể về công tích. Lần thứ nhất bà giáng sinh ở Vi Nhuế (Vụ Bản, Nam Định) trong một gia đình giàu có họ Phạm. Trong lần giáng sinh đầu này bà là người rất có hiếu với cha mẹ, không lấy chồng, giúp đỡ nhân dân xây đường, đắp cầu, dựng chùa. Bà có tiếng tăm tốt (hiếu, trinh, từ) nên khi mất được người dân tôn làm phúc thần.
Lần giáng sinh thứ hai của Liễu Hạnh ở Vân Cát (Vụ Bản, Nam Định) vào nhà họ Lê, kết duyên với chồng họ Trần, sinh 2 con rồi hóa sớm năm 20 tuổi. Lần thứ ba bà giáng sinh ở Thanh Hóa, lấy chồng là kiếp sau của ông Trần Đào là Mai Thanh Lâm, sinh được 1 con trai, rồi cũng hóa sớm.

IMG_4375

Nghi môn Nguyệt Du cung (Phủ Bóng) ở Phủ Giầy.

Sự kỳ lạ của câu chuyện Liễu Hạnh công chúa thực sự nằm ở các diễn biến sau đó. Ghi chép của tác giả Nguyễn Văn Huyên về hành tích của Mẫu Liễu trong cuốn Sự thờ cúng các thần tiên ở Việt Nam:
… Khi mãn hạn đi đầy, nàng chết. Nhưng thay vì trở về thiên đình nàng ở lại trên trái đất, khi thì dưới dạng một người đàn bà đi đường hoặc bán hàng, khi thì là một cô hàng nước để khiêu khích tình dục của người trần.
Tất cả những ai làm trái ý nằng đều bị nàng làm cho chết. Hơn nữa, để thỏa cơn giận, nàng còn giết hạ cả súc vật, gây nên sự kinh hoàng trong nhân dân vùng Sơn Nam. Để nàng nguôi giận tại nhiều làng người ta phải lập đền thờ nàng.
Sau đó nàng đến tỉnh Thanh Hóa. Nàng đến bất cứ đâu thì ở đó súc vật chết hàng loạt và các vị thần thành hoàng đều lánh xa, để tránh nàng.
Tới vùng Sùng Sơn, thấy phong cảnh  ngoạn mục, nàng quyết định ở lại đấy. Ngay đêm hôm đó, nàng báo mộng cho các vị chức sắc trong làng, ra lệnh cho họ phải xây cất ngay những ngôi đền để thờ nàng, nếu không thì chết chóc sẽ tàn phá cả vùng.
Từ khi đó, trong năm ngày liền, dân làng chết hàng loạt. Vì vậy người ta quyết định theo lời chỉ dẫn trong mộng, xây cất những ngôi đền tại Sùng Sơn để thờ nàng.
Mô tả của tác giả Nguyễn Văn Huyên hơi có ác ý khi nhìn nhận những hành động của Mẫu Liễu. Cách kể khác nhẹ nhàng hơn của các tín đồ đạo Mẫu về hành trạng này:
Nhiều làng trên đất nước cũng lập phủ thờ Mẫu. Chúa đi du ngoạn các danh lam thắng cảnh cùng hai vị công chúa. Thấy phong cảnh vùng Sòng Sơn non xanh nước biếc, Chúa dừng lại hiển thánh nhiều lần tỏ sự uy linh. Đêm đêm Tiên Chúa vùng hai vị Tiên nữ nằm mắc võng giữa rừng cây, ban ngày hiện thành bà già bán quán, thiếu nữ ca hát trên đường, kẻ nào qua đường mà chứ trêu ghẹo thì chắc chắn gặp tai ương. Chiều tà sẩm tối thì kéo quân binh rầm rập đi tuần khắp nơi, dân làng nghe tiếng phải đi ngủ sớm, những tên hoà lý sâu mọt trong làng thường bị xử phạt, thậm chí cho người đột nhập vào làng bắt trói lý trưởng nhốt xuống giếng sâu, hoặc bắt các kỳ mục trong làng treo lên cây cho nhịn đói.
Gạt bỏ đi những quan niệm nhìn nhận về Mẫu Liễu từ các khía cạnh khác nhau, những ghi chép trên cho thấy Mẫu Liễu đã hành động rất tích cực không phải chỉ vì tính ngang tàng, phá phách. Mục đích chính của những hành động này được nói rất rõ khi hiển mộng: “Ra lệnh cho họ phải xây cất ngay những ngôi đền để thờ nàng”. Đây mới là động cơ chính cho sự tung hoành của Chúa Liễu. Mục tiêu chính mà bà yêu cầu là phải đưa các nữ thần vào trong thần điện phụng dưỡng thờ cúng. Đòi hỏi sự chia sẻ “thần quyền” cho phái nữ này sẽ dễ dàng hiểu được nếu biết bối cảnh về tín ngưỡng Tam phủ lúc đó.

Song Son 2Đền Sòng ở Thanh Hóa.

Các di tích đền Tam phủ còn lại tới nay cho thấy trước khi Thánh mẫu Liễu Hạnh xuất hiện, tín ngưỡng Tam phủ gồm Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ với 3 vị thần chủ là: Ngọc Hoàng thượng đế, Diêm La thiên tử và Long Vương Bát Hải. Ở thời gian này các phủ chưa hề có mặt các nữ thần với vai trò thần chủ như trong hệ thống Tứ phủ hiện nay. Việc đưa các nữ thần vào Tứ phủ thành các Mẫu, sánh ngang cùng với với các vị vua cha chính là công lao của mẫu Liễu Hạnh.
Chúa Liễu đã phải giáng sinh 3 lần, rồi khổ công đi Bắc (Lạng Sơn biên giới phía Bắc) vào Nam (tới Đèo Ngang, tức là biên giới phía Nam của nước ta thời đó) để “vận động hành lang” nhằm nâng cao vai trò của thần nữ trong Việt điện. Cuối cùng Chúa cũng phải ra mặt, yêu cầu gắt gao ở Sòng Sơn, dẫn đến cuộc đại chiến với các nam thần của Nội Đạo Tràng.
Đi sâu vào lai lịch của ba vị quan thánh đã đối đầu với Chúa Liễu trong trận chiến Sòng Sơn ta sẽ hiểu hơn, đây thực chất là cuộc đấu tranh của các tín đồ Tam phủ thờ nam thần chống lại đòi hỏi vị trí cho các nữ thần trong các phủ. Ba vị quan thánh là các con đầu của Thượng sư họ Trần có tên Nhật Quang, Nguyệt Quang và Ngọc Quang. Đây là khái niệm về Tam tài gồm Thiên (Nhật – Dương), Địa (Nguyệt – Âm) và Nhân (Ngọc). Sau này 3 vị quan thánh cũng được phân chia cai quản Tam phủ gồm Thiên đình, Trái đất và Người trần.
Nói cách khác, ba vị quan thánh là đại diện cho tín ngưỡng Tam phủ thờ nam thần khi đó. Chữ “Nội đạo” liệu có phải hiểu nghĩa là đạo Cha, đạo thờ nam thần, đối lập với “đạo Mẫu” do Chúa Liễu khởi xướng (“Ngoại đạo”, đạo bên ngoại)?

Den Mau Lang Son

Phủ Mẫu ở Lạng Sơn.

Chúa Liễu đã phải so tài “văn’ với Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, rồi đấu “võ” với các đạo sĩ của Tam phủ. Kết cục được kể là Ba vị quan thánh đã bắt được Chúa Liễu, buộc bà quy y Phật. Nhưng thực ra thắng lợi đã thuộc về Chúa Liễu vì bà được sắc phong là Chế Thắng Hòa Diệu đại vương và được phụng thờ khắp nơi. Tức là mục đích về nâng cao “thần quyền” cho nữ giới đã đạt được. Từ đó cũng xuất hiện Đạo Mẫu Tứ phủ, thay chỗ cho Nội đạo Tam phủ, khi mà mỗi phủ đều có 1 vị Vua cha và 1 Thánh mẫu song hành làm thần chủ. Cùng với việc Mẫu Liễu được tôn vào ngôi Thiên chủ, hai vị mẫu khác là Mẫu Thượng ngàn và Mẫu Thoải cũng được lập thành Tam vị thánh mẫu, thờ phụng trên cả nước.
Câu đối về Mẫu Liễu ở Phủ Giầy:
廾一在人間身是姮娥心是佛
重三皈帝命家稱慈母國稱王
Củng nhất tại nhân gian, thân thị Hằng Nga tâm thị Phật
Trùng tam quy đế mệnh, gia xưng từ mẫu quốc xưng vương.
Dịch:
Hai mốt ở nhân gian, thân ấy Hằng Nga tâm ấy Phật
Ba lần theo mệnh đế, nhà xưng từ mẫu nước xưng vương.

Mau Lieu

Khám thờ Mẫu Liễu ở đền Sòng, Thanh Hóa.

Với nhìn nhận công đức của Thánh mẫu Liễu Hạnh như trên thì nay Đạo Mẫu Tứ phủ đã có thể được gọi là Đạo vì nó có đầy đủ các yếu tố “Tam bảo”:

  • Giáo chủ: Thánh mẫu Liễu Hạnh.
  • Giáo lý: Tôn thờ nữ thần.
  • Tăng lữ: số người theo tín ngưỡng này hiện rất nhiều là các thanh đồng của các di tích, điện thờ Mẫu trong cả nước.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ bất tử và Tứ linh

TỨ BẤT TỬ
Bộ tứ tiếp theo thường được nhắc đến là Tứ bất tử. Quan niệm rằng tứ bất tử là biểu trưng hóa các giá trị tinh thần trong các lĩnh vực đời sống xã hội của dân gian là không chính xác. Hầu hết các thần linh Việt đều là biểu trưng của các giá trị này như đấu tranh chống giặc ngoại xâm, tình yêu đôi lứa, lao động sản xuất,… Nhưng tại sao lại chỉ có 4 vị được gọi là bất tử?
Bất tử là khái niệm và mục tiêu tu hành của đạo Giáo hay đạo Thần tiên. Các đạo sĩ tu hành nhằm hóa thành tiên, tức là thành những người bất tử, bất diệt. Vì thế các vị thánh bất tử đầu tiên phải là những đạo sĩ hay tu sĩ, có khả năng làm cho mình trở nên “bất tử” dưới các hình thức khác nhau.
Đứng đầu các vị thần bất tử là Tản Viên Sơn Thánh. Khác với việc là vua cha cai quản Nhạc phủ, Tản Viên Sơn Thánh được gọi là bất tử vì ông có phép thần là cây gậy thần do Thái  Bạch Tử Vi thần tướng trao tặng trên núi Ba Vì. Cây gậy thần này có khả năng làm cho người chết sống lại, Tản Viên đã từng dùng nó để cứu sống con rắn thần, là con của Long Vương, nên Tản Viên lại được nhận thêm cuốn sách ước khi đi xuống thăm thủy cung Động Đình.
Gậy thần sách ước của Tản Viên là Hà thư Lạc đồ, là 2 bảo vật mà Đại Vũ đã nhận được từ Phục Hy trong truyền thuyết Trung Hoa. Tản Viên Sơn Thánh không ai khác chính là vua Đại Vũ trị thủy nổi tiếng, nhờ biết vận dụng những kiến thức khoa học về trời đất (Hà Lạc) của thời hồng hoang, chinh phục thắng lợi cơn hồng thủy, khởi dựng nên nước Việt. Nơi Đại Vũ khơi thông dòng Hắc Thủy là cửa Long Môn, tức là khu vực Thác Bờ trên dòng sông Đà (sông Đen) ở Hòa Bình. Công nghiệp của Đại Vũ – Tản Viên gắn với ngọn núi Ba Vì và dòng sông Đà.
Đứng thứ hai trong các thần bất tử không phải là Phù Đổng Thiên Vương mà là Chử Đồng Tử hay còn gọi là Chử Đạo Tổ. Thứ bậc trong tứ bất tử xác định bởi năng lực “bất tử” của các vị thần này và thời gian xuất hiện của họ. Những vị thần có năng lực càng cao thì sẽ xuất hiện càng sớm trong dòng lịch sử dân gian. Chử Đồng Tử là người đi tu tiên, cho dù truyền thuyết kể là đi thụ giáo lão Phật Quang ở Quỳnh Lâm. Phật ở đây chỉ có nghĩa là người tu hành đắc đạo, không có nghĩa là đạo Phật như ta hiểu ngày nay, vì thời Chử Đồng Tử đã làm gì có ông Thích Ca Mầu Ni ra đời mà có Phật giáo.
Phép bất tử của Chử Đạo Tổ (cái tên Đạo Tổ chỉ rõ đây là một Đạo sĩ) nằm ở cây gậy và chiếc nón (trượng lạp). Cùng với sự hỗ trợ của công chúa Tây Sa (thực ra là Tây Vương Mẫu) Chử Đồng Tử đã dùng cây gậy đầu sinh đầu tử này đi cứu chữa cho nhân dân. Chử Đồng Tử và Tiên Dung là cách kể khác của các vị thần bất tử Hậu Nghệ và Hằng Nga trong truyền thuyết Trung Hoa. Hậu Nghệ là người đã làm gián đoạn nhà Hạ thời Hạ Thái Khang (tranh ngôi theo kiểu lấy con gái vua mà không được sự đồng ý), rồi sau đó cùng Hằng Nga bay lên cung trăng. Truyền thuyết Việt kể thành truyện Đầm Nhất Dạ, trong một đêm Chử Đồng Tử và Tiên Dung cùng lâu đài thành quách phút chốc bay về trời.
Vị trí thứ ba của thần bất tử được gọi là Phù Đổng Thiên Vương. Tuy nhiên, đức Thánh Dóng làng Phù Đổng mà gọi là bất tử rõ ràng là không phù hợp, vì Thánh Dóng không hề đi tu ngày nào và không hề có phép bất tử. Ở đây các nhà bác học đã nhầm. Vị thần bất tử thứ ba là Đổng Thiên Vương hay Huyền Thiên đại thánh. Chứng thực điều này là đền Bộ Đầu ở bên sông Hồng (thuộc xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội), nơi thờ Đổng Thiên Vương Huyền Thiên đại thánh. Huyền Thiên là vị thánh đã giúp An Dương Vương trừ yêu diệt quỷ ở núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa. Huyền Thiên Trấn Vũ không phải ai khác chính là vị Lão Tử nổi tiếng, vị đạo tổ của đạo Giáo Trung Hoa. Gốc tích thành nghiệp của Lão Tử là ở Cổ Loa, nơi đền Sái trên núi Thất Diệu thờ Huyền Thiên và làng Thổ Hà nơi thờ Thái Thượng Lão Quân.
Lão Tử được gọi là bất tử thì khá dễ hiểu vì ông là Thái Thượng Lão Quân, chuyên nghề luyện kim đan giúp con người sống trường sinh bất lão. Hiểu nôm na thì Huyền Thiên Lão Tử vốn là một đạo sĩ bác sĩ, đã giúp nhân dân phòng chống đại dịch Xích Tị hay dịch hạch vào thời giao kỳ giữa Tây Chu và Đông Chu. Xét về thời gian và năng lực như vậy thì rõ ràng Lão Tử đứng thấp hơn Đại Vũ Tản Viên và Hậu Nghệ Chử Đạo Tổ vì không có phép cải tử hoàn sinh mà chỉ có thuật trẻ mãi không già.

P1230442Gác chuông đền thánh Nguyễn ở Gia Viễn (Ninh Bình).

Riêng vị trí thứ tư của Tứ bất tử lại có tới 3 người từng được xếp ở đây. Đó là Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không và thánh mẫu Liễu Hạnh. Đặc điểm rõ ràng là cả 3 vị này đều là những đạo sĩ. Nguyễn Minh Không theo bia ở chùa Keo Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định) còn được gọi là “Đại pháp sư”. Khả năng của các vị này khá hạn chế, còn chưa được trường sinh bất lão như Huyền Thiên Lão Tử. Các vị vẫn phải “hóa”, rồi tái sinh chuyển thế. Như Từ Đạo Hạnh hóa sinh thành Lý Thần Tông hay nhất là thánh mẫu Liễu Hạnh có tới 3 lần sinh hóa. Ở vị trí này ảnh hưởng của đạo Phật thấy cũng khá rõ vì Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không đều là các nhà sư, còn Liễu Hạnh công chúa đã quy y Phật sau trận chiến ở Sòng Sơn. Bản thân khái niệm “hóa sinh” hay luân hồi là khái niệm của Phật giáo, không phải gốc của đạo Giáo.

Song SonChính điện Sòng Sơn (Thanh Hóa).

TỨ LINH
Tứ linh là khái niệm ngày nay ít được nhắc tới, nhưng đó từng là khái niệm được ghi nhận đối với thần điện Việt. Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. Vậy Hương Bổng Đổng Đằng là những ai?

Ninh SonĐình Ninh Sơn (Chương Mỹ, Hà Nội) nơi thờ Lý Ông Trọng.

Thần Hương: khá rõ là Thụy Hương Lý Ông Trọng. Lý Thân là một đại tướng, phò mã của Tần Thủy Hoàng, trấn giữ giặc Hung Nô hay người Hồ (Hung Nô thiết Hồ), tức là người Chiêm ở vùng Tây Nam nhà Tần. Vì thế Lý Thân còn gọi là đức thánh Chèm (chính xác là Chiêm vì Từ Liêm thiết Chiêm). Lý Thân mất, Tần Thủy Hoàng vô cùng thương tiếc cho đặt làm tượng đồng và để ở Hàm Dương, đe dọa Hung Nô. Hàm Dương thiết Hương, tức là tượng đồng Ông Trọng đặt ở ngay làng Thụy Hương chứ chẳng phải ở tận Thiểm Tây ở phía Bắc.
Đặc biệt là khái niệm Tứ linh được sắp xếp theo đúng Ngũ hành. Thần Hương chiếm phương vị ở phía Tây, dùng màu trắng (vợ của Lý Thân là Bạch Tĩnh Cung công chúa), tượng là Chim (Chiêm).
Thần Bổng: tìm khắp thần điện Việt không thấy vị nào có tên là Bổng cả. Nhưng lại có Phù Đổng thiết PhổngBổng. Thần Bổng chính là Phù Đổng Thiên Vương Thánh Dóng, người đã ăn cơm cà mà lớn nhanh như thổi, phi ngựa sắt làm nên cuộc chiến thần thánh, đánh Trụ diệt Ân, khai quốc Văn Lang ngàn năm bay bổng. Thánh Dóng sau trận chiến đã về nơi núi Sóc mà bay bổng về trời. Xét về phương vị thần Bổng chiếm hướng Nam hay hướng Sóc, dùng lửa (ngựa phun lửa).
Thần Đổng: như đã biết Đổng Thiên Vương chính là Huyền Thiên Trấn Vũ hay Lão Tử, vị tổ của đạo Giáo. Phương vị của Đổng Thiên Vương rõ ràng là hướng Bắc, màu đen (Huyền). Linh vật là Rắn và Rùa. Huyền Thiên trong các tượng thờ thường được thể hiện là vị thần có khả năng khiển quy xà, với hình thanh xà kiếm, chống lên lưng rùa.
Thần Đằng: thần Đằng Châu hay vua Mây họ Phạm ở Hưng yên, được nói tới với khả năng hô mưa gọi gió, hiển linh làm nửa phần sông tạnh, nửa phần mưa. Truy nguyên nguồn gốc thì đây chính là Sĩ Nhiếp hay Phạm Tu, người đã duy trì nền tự trị của Giao Châu trong vòng 40 năm thời loạn cuối thời Đông Hán và Tam Quốc. Sĩ Nhiếp là một tu sĩ Bà La Môn, theo thầy Khâu Đà La trong truyện Man Nương, thờ thần dông tố Indra, được biến tướng trong tín ngưỡng dân gian thành Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện). Vua Mây cũng là có nghĩa như vậy. Vua của mây cũng là Rồng nên thần Đằng chiếm phương Đông (Đằng), có tượng là rồng.
Như thế Tứ linh là những nhân thần có công lớn, rất được tôn sùng, trở nên linh thiêng ở 4 hướng Đông Tây Nam Bắc. Biểu tượng Tứ linh còn gắn với bộ 4 linh vật là Long Ly Quy Phượng, tuy ở vị trí Tây và Nam ở đây có sự hoán đổi: chim Phượng lại gắn với Lý Ông Trọng ở hướng Tây, còn loài động vật lông mao (Ly ở đây thay bằng Ngựa phun lửa) của hướng Tây lại gắn với thần Bổng của Sóc phương.