Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ

Dịch từ bản Ngọc phả chữ Nho chép tay hiện đang lưu ở đền Hóa Tây Thiên, xã Đại Đình, Tam Đảo, Vĩnh Phúc.

20190508_084143

Bản quốc toàn dân kính hiệu Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ
Truyền lại để đời sau thờ phụng.

Nước Việt Nam ta, tổ quốc vua Hùng, ngày 12 tháng 7 năm Mậu Thìn (tức là năm 1988), tỉnh Vĩnh Phú, huyện Tam Đảo, xã Đồng Tranh, thôn Phù Liễn, Nguyễn Văn Ánh tuổi 76 phụng kính Thượng đẳng Thánh mẫu, chấp bút rõ ràng thừa sao chính bản Ngọc phả sự tích Tây Thiên, y như trước đây truyền lại, theo trước phụng sự đền thiêng quốc mẫu Tây Thiên.
Chuyện bày tới mai sau trong văn thờ tích thiện thường giúp yên giáng ứng, sắc phong chung đúc trạng nguyên tới nay, bậc tôn kính giúp nước cứu dân, lên ngôi rồng, cùng nhau mãi ngưỡng vọng phật thánh, cúi lạy bậc kính tôn.
Theo ở chính sự của bản xã Đại Đình, thôn Sơn Đình nguyên có tục trọng vọng bái Thánh mẫu Tây Thiên, đảo tất thông, cầu tất ứng, giáng phúc nhiều ơn, mọi người đều có phúc. Nên họp tại Đền Thượng, hội nghị Đền Đông trên lầu. Các chức sắc mục, trên dưới tiến đến, cùng một lòng tôn quý Ngọc phả phụng sự, sửa sắp tôn sùng đền Thánh mẫu, phụng sự ngàn năm, oai thiêng rộng lớn, cùng với các công trình, cố lấy tài mà chép truy lại xem cây lớn cội rễ thế nào để làm thành Ngọc phả. Hàng ngàn người chư tôn tín thiện, tăng thêm lòng lành, sinh điều hội họp, mong giáng phúc, được kết quả thành đủ, thời nay lập thành phủ miếu, truyền quốc danh cổ tích, phụng sao cho đời sau truyện cổ Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu Đại vương.

Nước Việt xưa Hùng Vương đóng đô trị nước, lấy hiệu là Văn Lang. Khi đó ở đảo Tây Thiên, phủ Đoan Hùng, huyện Tam Dương, xã Đông Lộ, trong xã có một Trưởng ông của xóm tên Phiêu Hùng, tuổi gần 40 mới lấy bà tên Lũy Tây. Trưởng ông là con người khí trượng, khôi ngô, thể hiện người anh hùng khoáng đạt, 40 tuổi vẫn còn như trẻ, thuộc dòng dõi Hùng Vương theo như Ngọc phả. Trong một ngày ông bà nằm mộng là hành du lên trên núi Tam Đảo, đến chùa Tây Thiên ngủ lại, dâng hương cầu đảo, mật khấn ở trong chùa. Trong ngày đó họ nằm chờ cầu ứng mộng. Đến khoảng ngoài canh ba khi đang mơ màng, chợt thấy trong người bàng hoàng, bên góc có mây ngũ sắc bay vào chùa. Hương khói đầy phòng, nghênh đón mây lành. Trong mây vàng hiện lên một dải tinh mỹ bay lượn trong mây. Trước sân chùa thấy một khối mây trắng, xa lập một quần tiên 7, 8 người đều mặc xiêm áo. Người thì ca hát, người thì nhảy múa, người thì gảy đàn, người thì ngâm thơ quanh bà Đào Thị. Đến lúc trời mờ sáng thì bay về phía Tây. Bà tỉnh lại mới biết đây là ứng mộng lành.
Từ đấy trở đi chuyển động tâm thần, mang thai hơn 14 tháng, đến ngày mồng 10 tháng 5 năm Giáp Thân sinh hạ một người con gái. Lúc mới sinh trong phòng khí sáng huy hoàng, ánh hồng sáng lạn, sắc mặt tươi tốt. Cả nhà đều biết trước sau đây là kỳ nhân giáng hạ từ Cửu thiên. Lên 3-4 tuổi, yểu điệu sánh phượng, mặt sáng như mặt trời bởi thời phượng. Nhan sắc như phượng, được bồi thêm nét thang tĩnh, có vẻ chim sa cá lặn, như hoa nhường nguyệt thẹn, mọi mặt đều đáng ca tụng.
Sáu tuổi đã thông thạo văn ấn, được mệnh danh là Thẩm, húy là Nhược Cảm. Trưởng ông và Thái bà rất mực yêu thương, chăm sóc. Tới năm 11-12 tuổi không có môn nữ tắc, nữ công nào không tường tận. Lại có tài năng võ nghệ, binh thư thao lược, các môn cưỡi ngựa, múa kiếm không có môn nào không thông thạo. Thực là người con gái anh hùng hào kiệt. Từ thời Đường Ngu đến đó chưa có ai có trí bằng.
20 tuổi đã anh hùng dũng mãnh, tài lược cầm quân. Người đến cầu đều là các bậc hào kiệt trong huyện. Đều thấy là một lãng tử hùng kiệt, vẻ ngoài tốt lành rõ ràng, có thuật thần tiên, một lúc vừa là thần, là thánh rành rành, lại vừa là chúa vừa là tiên, biến hóa thần thông, xuất nhập nhiều đường, không phải là dạng nhân gian thông thường. Trong xã đều gọi là bậc đệ nhất đại phu. 
Thời bấy giờ có giặc nước Ngô xâm lăng, trong nước hết sức lo sợ. Hùng Vương có chiếu loan báo trong thiên hạ, kêu gọi ai là anh hùng giải phóng nước Ngô Thục tới mùa xuân thu, thiên hạ yên bình, cứu nhân gian thoát cảnh binh đao, yên nước nhà khỏi cảnh hồn kinh phách lạc, lo sợ đầy rẫy.
Kim Nương nghe thấy chiếu chỉ liền tức tốc kêu gọi người bản bộ, xã Động Lộ 50 người, Quan Nội 150 người, xã Sơn Đình 100 người, xã Quan Ngoại 150 người, xã Quyết Trung 10 tráng sĩ, cùng với các nơi đến tập hợp ở huyện đường, được tất cả 3000 tráng sĩ, theo về Phong Châu, Việt Trì, xin được vào yết kiến Hùng Vương.
Hùng Vương thấy là một đại tài, bèn giao tinh binh 10 vạn, ngựa chiến 3 ngàn, cùng 50 bộ quân thủy theo diệt phá Ngô Thục xâm lược. Kim Nương thống chế thủy bộ quân, vào tháng 2 ngày 29 ra quân dẹp giặc trước. Nàng lệnh hành trình từ kinh thành tiến quân chia thành 3 đạo. Một đạo tinh binh 3 vạn, ngựa mạnh 1 ngàn, từ Phong Châu tiến đến đạo Hưng Hóa, phủ châu Ngưu Giang, cùng với quân nữ Ngô Thục quyết chiến. Một đạo hộ quốc chống Ngô Thục, binh hùng 5 vạn, danh tướng 1 ngàn, ngựa 3 ngàn, cùng nhau từ sông Ấn đến sông Mã trực chiến cùng với quân Ngô Thục. Một đạo cuối hộ quốc giúp Hùng, 4 vạn ẩn binh, ngựa 24, tướng 1 ngàn viên, tiến đến Sóc Sơn tuân lệnh phân tán thành 3 vạn cùng giao chiến với quân Ngô Thục. Ba đạo vạn binh mã cùng tiến đánh, gặp tại chiến trường, giết được quân giặc Ngô Thục rất nhiều. Quân Ngô Thục đại bại, vứt bỏ giáo giáp, bỏ chạy về động của mình, về sau không dám quay lại xâm chiếm.
Kim Nương rút quân về phòng ngự, quay về triều đình. Hoàng đế thấy việc quốc sự vui mừng, bèn mở tiệc. Các tướng sĩ Tây Thiên được ban quan tước. Kim Nương được phong là Tam Đảo Sơn Trụ Quốc Mẫu Đại vương. Ngày 28 tháng 2 toàn huyện quê hương bái giá.
Tương truyền rằng Kim Nương đã dẹp được giặc Ngô, lập công lớn, cùng các tướng bản bộ và binh mã về quê, mổ trâu dê đãi quân sĩ, bái tạ cha mẹ, mời các phụ lão, anh hùng hào kiệt đến ăn mừng.
Ngày tháng qua đi, Thái ông Thái bà tuổi đã ngoài 80, không bệnh mà mất. Kim Nương làm lễ an táng cha mẹ vào ngày 10 tháng Giêng.
Công chúa lúc nhàn rỗi đi ngắm sơn thủy giải khuây, đến các nơi, liền truyền cho tổng xứ, tức là xã Quan Nội lập làm tả cung, Quan Đình và Nhân Lý là nơi thân thuộc lập hữu cung, xã Quyết Trung lập là hạ cung. Lại phụng sự đến núi Tam Đảo, miếu Tây Thiên, ngự tại trong đình, bỗng thấy mây năm sắc từ trên trời hạ xuống, phủ khắp một bên gian phòng. Lại có một vị thiên sứ từ trong mây xuất hiện nói rằng tuân lệnh Thượng Đế triệu Công chúa về triều. Công chúa liền về nhà tắm gội rồi Công chúa cùng với thiên sứ bay về trời.
Những gì còn lại được phụng thờ các đời ở miếu Tây Thiên. Lưu truyền thờ phụng. Sĩ Nông Công Thương một lòng cầu đảo, tất được ứng nghiệm, nhân gian lưu truyền là ngày 11 tháng 2.
Do có công phù Hùng diệt Ngô Thục, phù Đinh Lê, nên được sắc phong Quốc mẫu Đại vương, gia tặng sắc phong làm Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu đại Đệ nhất Thượng thượng đẳng Phúc thần. Xuân thu bốn mùa làm quốc tế, vạn năm cùng với đất nước nhớ ghi, lập miếu đình lưu truyền ngàn thu, vạn đời. Từ Đinh Lê Lý Trần đều đồng lòng thờ phụng Thánh mẫu Đại vương của thần điện Nam Bang. Thiên hạ đồng lòng cầu đảo, cầu lộc được lộc, lưu thông, cầu bình an, cầu phong chức, an cư lạc nghiệp, giúp nước cứu dân. An cư lạc nghiệp, vạn vạn đời nước Nam không quân giặc xâm chiếm, cả nước hòa bình. Đình nhận được quang vinh truyền đời đời, ngày sau đều cảm nhận được tiếng thơm xưa nay.

Văn Tây Thiên Quốc Mẫu

Bản văn chép bằng chữ Nôm lưu tại đền Hóa, Tây Thiên năm 1988.

Tay Thien

Phụng kính lòng tiên cẩm mệnh vận tuần thánh mẫu giáng đàn chứng minh.
Tối anh linh Tây Thiên tú khí
Tả Phù Nghi hữu thượng Bồng Châu
Vạn dân thiên hạ khấu đầu
Quốc gia này cũng sở cầu mộc ân.
Ông bà trưởng giả lão tuần
Dân hiền trướng ngọa, kiệm cần lo âu.
Lễ sở cầu nhất tâm kính tiến
Lòng chí thành thấu đến hoàng thiên
Sắc sai thánh mẫu chúa tiên
Rẽ năm mây xuống kết liền trần gian.
Chốn thiên ban thu bà lóng lánh
Phóng hào quang giáng sinh trần cảnh khi nay
Da ngà mắt phượng mày ngài
Tiên nga miệng nở hoa (tóe) mây tuyết điểm
Nghệ thi thư không kiếm thanh minh
Gần xa nô nức yến anh
Tin đi thư lại khắp danh Tấn Tần.
Nào có để bụi trần vướng vít
Lánh cõi trần vui thú chốn tiên
Tiên cung vứt chiếc áo vàng
Hô phong hóa phép áo liền ra
Ba mảnh lưu vực đình nhà
Mảnh bay làng Mạ, mảnh ra Xuân Đình.
Tự nhiên anh linh chính ngự
Tiếng đồng khấn cả đâu đâu
Ai muốn lên cầu Tiên Chúa
Lên Tây Thiên dục tú anh linh
Thạch Bàn quấn khúc hồi long
Thánh cung chính vị, Chấn cung thượng tòa
Đại bao la long chầu hổ phục
Cầm phượng thụy mênh mông cửa đền
Chín suối bao quanh bên gành chim điểu
Trống canh vang trong truyền loa ếch thú
Khêu ếch trong thành đánh mõ giao canh
Chim thời đánh phách đánh sênh
Thú cầm hoa quả tiến trình đài phi.
Sóc vọng kỳ triều thần bái mệnh
Các triều thần chư tướng tôn nghiêm
Bốn mùa hoa quả trên cành
Dưới khe nước tựa hình quân reo.
Thủa Hùng triều tới nơi lục đại
Hiếm lo hoàng tử chưa sinh
Hùng vương tu lễ tiến trình
Nguyện xin Hoàng tử giáng sinh nơi đời.
Thánh mẫu tới nơi ngọc bệ
Giáng chúng sinh chung thủy kết duyên
Thánh tự ra kết chúa tiên
Sẽ cho hoàng tử duy truyền nơi ngôi.
Thư giao lai đằng hoằng như khí
Sánh cõi trần vui thú chốn tiên
Cứ trong ngọc tỉ duy truyền
Sắc phong Thánh mẫu chính tiên đền rồng.
Phù quốc tộ đại hồng đại lộc
Câu phàm dân đại đức bi lê
Vương sĩ quân thần khẩn đảo
Vánh canh khuya mộng báo phân minh
Phạm Lê đôi ả chí tình
Lam Sơn khởi nghĩa giúp thành Lê quân.
Sắc phong quốc mẫu nguyên huân
Phúc sinh đệ nhất nước thần anh linh.
Địa phương truy, truy truyền kế thế
Ức vạn niên quốc tế linh từ
Trước là bái tạ vua cha
Sau lại quốc mẫu cùng là chư dinh.
Tối anh linh Thạch Bàn điện thượng
Mẫu Tây Thiên thánh thượng đoan trang
Ngôi rồng chính lập đền vàng
Bên chùa bên miếu rõ ràng uy nghi
Hai bên khe thênh thênh nước chảy
Trước cửa đền suối ấy Giải Oan
Du du phóng bộ ngàn quan
Từ từ bước khoan khoan gót ngọc
Suối Giải Oan nước trong như lọc
Tẩy trần ai vứt đục sạch rồi
Cảnh Tây Thiên là cảnh bầu trời
Khi nhàn hạ dạo chơi du lịch
Trong sườn non róc rách nước khe
Vẳng tai nghe sênh phách nhịp nhàng
Đủng đỉnh lên chơi chốn Thạch Bàn
Trông nước chảy tuần hoàn khuất khúc
Lên chốn ấy biến màu tuần tục
Rất ngàn quan đưa tứ túc từ
Thanh nhàn hướng cảnh cõi thừa dư
Cõi tốt nhất một tòa thiên tạo
Ai là kẻ chân tu đắc đạo
Lên Tây Thiên Tam Đảo mà tu
Ai ơi chớ ngại công phu
Dốc lòng thành kính cũng như một lòng
Dù ai có bệnh kêu van
Đến cúng cửa mẹ thời can cửa nhiều
Khó điều nhất trai tồn tẩy
Lại nhờ mẹ chẩy anh trung
Tả hà đức hiếu linh từ
Dốc lòng thành kính cũng như một lòng
Mẫu ban công cùng là tiếp lộc
Hóa cho ngọc đúc tiền xe
Mong tuổi thọ cao cả hải Bắc
Lại nhờ mẹ ngọt nước trường sinh
Già thời mạnh khỏe tinh nhanh
Trẻ thời đến tuổi công danh gặp thời.
Chớ lo gì vạn niên vận thủy
Dốc một lòng khẩn đảo cho chuyên
Cầu trai trai ắt được hiền
Có khi cầu gái gái lên nữ tài.
Gặp phải khi thời hoạn nạn
Động đất khó con lắm thay
Lễ khi kịp phải đặt bày
Thỉnh mời thánh mẫu ngày dày chứng minh.
Mẹ hành binh hô phong hoán vũ
Đâu đấy đều vui thú thảnh thơi
Mẹ cho hạ cũng như xuân
Phong đăng hoa cốc muôn dân thái hòa
Trước cửa tòa đua nở
Trên đền rồng đã khái ngang ca
Tiêu thiều nhã nhạc vang vang
Tiếng tơ tiếng trúc tiếng đàn chen nhau
Gảy mấy câu tình tang tích tịch
Thú hữu tình tích tịch tình tang
Có khi bà ngự đài ngang
Vào ra ba dốc, khi sang ngũ hồ
Khi hò hô bà dạo chơi bát cảnh
Khi lại ngồi bát cảnh tiên bang
Khi bà sang chốn tuần hoàn
Khi lên thượng đế luận bàn quốc gia
Nước du hòa mà dân xã thịnh
Đâu đấy đều nhập thiện Thuấn Nghiêu
Anh linh tự cổ chí triều
Sắc phong thánh mẫu chính tiên đền rồng.

 

 

 

 

 

 

 

Nam quốc Anh Hoàng

Một điểm đặc biệt gắn liền với tục thờ ba vị vua Hùng thánh tổ ở Phú Thọ là luôn kèm theo thờ 2 vị công chúa. Như ở đền Thượng, đền Trung trên núi Nghĩa Lĩnh, bên cạnh 3 long ngai bài vị  của Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn ở chính cung thì còn có một cỗ ngai không bài vị để ở đầu đốc bên phải, trong văn tế được ghi là thờ hai công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung. Bản thân cụm di tích đền Hùng cũng mô phỏng cách thờ tương tự, bao gồm 3 ngôi đền thờ Hùng Vương (Thượng, Trung, Hạ) và thêm đền Giếng lập riêng thờ 2 vị công chúa này. Bộ thần điện cũng thấy ở các đình Cổ Tích, đình Việt Trì…

IMG_1978.JPG
3 ngai thờ Tam Sơn linh lang và 1 ngai không bài vị bên phải thờ Hoa Dung công chúa ở đình làng Việt Trì.

Theo Ngọc phả Hùng Vương thì công chúa Mỵ Châu Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử, còn công chúa Mỵ Nương Ngọc Hoa lấy Tản Viên Sơn Thánh. Câu chuyện Sơn Tinh thi tài, lấy được công chúa Mỵ Nương nổi tiếng, người Việt ai cũng biết. Tuy nhiên, xét kỹ thì thân thế của 2 công chúa được thờ ở đền Hùng không hẳn như vậy. Con rể vua Hùng ở Phú Thọ không phải là Tản Viên từ núi Ba Vì.
Điều khó hiểu là tại sao 2 công chúa của Hùng Vương cuối cùng (thứ 18) lại được thờ chung với 3 vị Thánh tổ dựng nước đầu tiên? Và tại sao các nơi lại thờ 2 vị này chung trong 1 ngai, không ghi tên bài vị rõ ràng?

IMG_1705
Đình Cả làng Trẹo.

Ở Nghĩa Lĩnh có 2 làng He (Vi Cương, nay thuộc xã Chu Hóa) và Trẹo (Triệu Phú, thuộc xã Hy Cương) là các thôn “tạo lệ” cho phụng sự của đền Hùng. Hai làng này thờ giống như ở đền Hùng gồm 3 vị Hùng vương và 2 công chúa. Đặc biệt 2 làng có tục “Rước chúa gái” trên cơ sở truyền thuyết công chúa Ngọc Hoa trên đường về nhà chồng đi qua đây buồn rầu nhớ cha mẹ nên không đi nữa. Dân làng phải diễn trò cho công chúa vui lên mà đi tiếp. Các trò diễn đó được gọi là “Bách nghệ khôi hài”, là những trò liên quan đến trồng lúa, cày ruộng và săn bắt.
Nhiều nơi trong Phú Thọ có truyền thuyết Sơn Tinh hoặc vua Hùng dạy dân đi săn. Như ở Vân Luông (xã Văn Phú, Việt Trì) là nơi thờ 3 vị Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn, Viễn Sơn nhưng lại có tục ném cài cướp bông, liên quan đến việc Sơn Tinh đưa Ngọc Hoa công chúa về thăm cha và đi săn lợn rừng. Hay ở xã Phú Lộc huyện Phù Ninh có tục múa gà phủ và nghi lễ mở cửa rừng, liên quan đến sự tích Sơn Tinh dạy dân làm cung nỏ, dùng dây thường bện lưới để đi săn.
Những tục lệ liên quan đến hoạt động tiền nông nghiệp cho thấy sự cổ xưa của sự tích, của nhân vật được thờ. Đi săn sẽ gắn với thời kỳ đầu của Hùng vương, hơn là thời kỳ cuối khi nghề luyện kim và nông nghiệp đã rất phát triển.
Trong các trò trình nghề ở Phú Thọ thường có đoạn diễn tích Đế Thuấn cày voi. Như trò tứ dân lập nghiệp ở Tứ Xã (Lâm Thao) có người đóng vua Thuấn dẫn voi đi cày và hát:
Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Phu Tho Hung VuongVị trí các địa danh trong bài.

Như đã xác định, vị vua Hùng thứ 3 được thờ ở Phú Thọ là Đế Thuấn. Vì Đế Thuấn cũng được ngọc phả và truyền thuyết gọi là Sơn Thánh tổ (Viễn Sơn hay Lịch Sơn) nên sự tích của vị này bị nhầm với Tản Viên Sơn Thánh. Những việc dạy dân cấy cày, săn bắn ở Phú Thọ là của Lịch Sơn Đế Thuấn, chứ không phải của Tản Viên Ba Vì. Công nghiệp chính của Tản Viên là trị thủy sông Đà, hơn là khai lập bách nghệ. Bản thân tổ của Bách nghệ là vị vua Hùng đầu tiên (Đột ngột Cao Sơn), tức Hoàng Đế Hiên Viên trong văn hóa phương Đông.
Từ nhận định rằng vị Sơn Thánh ở Phú Thọ là Viễn Sơn Đế Thuấn thì chợt nhận ra công chúa Ngọc Hoa lấy chồng không phải là lấy Tản Viên ở núi Ba Vì. Vua Hùng dựng lầu kén rể ở Bạch Hạc là đã chọn Đế Thuấn, người từ núi Lịch (Tuyên Quang). Điều này giúp giải thích tại sao Ngọc Hoa công chúa lại được thờ cùng với Tam Sơn Hùng Vương thánh tổ.

IMG_6117
Hoành phi Nam quốc Anh Hoàng ở đền Giếng.

Hoành phi ở đền Giếng trong quần thể di tích đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh: Nam quốc Anh Hoàng. Ý ở đây so sánh hai công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung với 2 bà Nga Hoàng và Nữ Anh, là con gái của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Thực tế thì đây không chỉ còn la sự so sánh mà ta có thể đặt dấu bằng giữa nhị vị công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung với Nga Hoàng và Nữ Anh.
Tên Ngọc Hoa đọc phiên thiên cho chữ Nga, là tên của Nga Hoàng.
Câu đối ở đền Giếng:
皇家衍出龍仙派
帝闕端門姊妹花
Hoàng gia diễn xuất long tiên phái
Đế khuyết đoan môn tỉ muội hoa.
Dịch:
Rồng tiên lại tiếp dòng vua chúa
Hoa ngọc chị em chính đế cung.
Ngọc phả Hùng Vương có một chi tiết thường hay bị bỏ qua: Lộc Tục… hóa tiên về biển cùng con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung. Lộc Tục ở đây không phải Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình ở đoạn sau đó. Chỉ có thế thì Lộc Tục mới có thể cùng công chúa Ngọc Dung “hóa tiên” được. Ngọc Dung là tên gọi tắt của 2 vị Ngọc Hoa – Tiên Dung, vốn được thờ chung trong 1 ngai. Cả hai đều được vua Hùng (tức là Ất Sơn – Đế Nghiêu) gả cho Đế Thuấn.
Cổ sử Trung Hoa kể rằng, nguyên Đế Thuấn là người bộ lạc Hữu Ngu, mẹ ông là người rất hiền đức mất sớm. Cha là Cổ Tẩu lấy vợ khác và sinh ra Tượng và một cô con gái khác. Dù bị mẹ con Tượng và cả Cổ Tẩu đối xử không tốt, Thuấn vẫn một mực hiếu thuận, giữ đúng đạo làm con. Danh tiếng Thuấn được người trong bộ lạc nể phục. Nhờ đó ông được Đế Nghiêu gả cho hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, đồng thời tặng cho lương thực và rất nhiều gia súc. Sau thời gian thử thách, Đế Nghiêu quyết định truyền ngôi lại cho Thuấn bất chấp lời can ngăn, vì Nghiêu có một người con trai đã đến tuổi trưởng thành là Đan Chu.
Chuyện Đế Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn chính là cốt truyện Vua Hùng kén rể ở Phú Thọ. Ngọc Dung công chúa ở đây là hai vị Nga Hoàng, Nữ Anh, con của Đế Nghiêu. Việc truyền hiền (thiện nhượng) này là thể hiện xã hội của thời kỳ mẫu hệ. Lấy con gái vua tức là được kế nhiệm ngôi vua, cai quản đất nước. Cuộc xung đột tranh giành ngôi vị lúc này là giữa Đế Thuấn và Đan Chu, con của Đế Nghiêu. Truyền thuyết Việt kể thành việc tranh chấp Mỵ Nương giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.

IMG_1842Ban thờ Ngọc Hoa – Tiên Dung trong sân chùa Hoa Long.

Ở cạnh chùa Hoa Long và đình làng Việt Trì từng có một lầu gác thờ Hoa – Dung công chúa, vốn còn dấu kê chân cột bằng đá ong. Nơi đây có thể là “lầu kén rể” của vua Hùng cho con gái. Nay ngôi đền thờ hai vị công chúa này được xây lại trong khuôn viên chùa Hoa Long, có tượng 2 vị bằng đá cẩm thạch.
Cổ kính hơn còn lưu lại được, ở xã Tiên Du, huyện Phù Ninh có ngôi đền Nhà Bà thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung. Tương truyền, trước đây hai nàng công chúa đã đến vùng quê này vừa để du xuân, vừa dạy nhân dân săn bắn, hái lượm và trồng cây… nên mảnh đất này được gọi là Tiên Du.

IMG_6227
Đền Nhà Bà ở Tiên Du.

Một vế đối còn lưu được bên cột hoa biểu ngoài đền:
君由白鶴來駙南越萬邦稱女傑
Quân do Bạch Hạc lai phò, Nam Việt vạn bang xưng nữ kiệt
Dịch:
Chúa đến giúp từ Bạch Hạc, Nam Việt muôn bang gọi gái tài.
Chữ “phò” 駙 ở đây còn có nghĩa là “phò mã”, chỉ con rể vua. Chữ “vạn bang” ở đây cũng như trong Ngọc phả Hùng Vương, nói tới nước Nam rộng lớn, cội nguồn của nhiều bang quốc (Thủa Hoàng Đế mở muôn nước).
Nếu như Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử ở vùng Khoái Châu thì làm sao có thể lại cùng Ngọc Hoa đi “tiên du” tới vùng đồi núi trung du ven sông Lô này mà dạy dân trồng cây, hái lượm được?
Hình tượng hai vị công chúa con vua Ngọc Hoa – Tiên Dung thể hiện ngôi vị thủ lĩnh đứng đầu quốc gia ở thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Đó là cái thủa “quốc sơ”, bách nghệ mới được khai sinh. Thời kỳ mà cuộc sống người Việt còn đang phải sống dựa vào rừng núi, săn bắn hái lượm. Sản xuất lúa nước mới được bắt đầu với việc sáng tạo ra cách cày ruộng sử dụng gia súc (Đế Thuấn cày voi). Một bước tiến từ xã hội nguyên thủy lên xã hội thị tộc, có nước, có vua. Đọc lại chuyện xưa, không thể không cảm cái ơn đức của tổ tiên khai mở từ thủa hồng hoang. Câu “Ẩm hà tư nguyên”, Uống nước nhớ nguồn, được treo ở đền Giếng, đền Nhà Bà, không thể không nhắc lại.

Triệu Cơ Vương tích

Hùng Vương ngọc phả là một bộ sử tóm tắt của thời xa xưa nhất, đã được cha ông ta lưu truyền được cho tới nay sau hàng ngàn năm lịch sử gian nan dựng và giữ nước của dân tộc Việt. Đoạn đầu của Ngọc phả chứa đựng những thông tin cơ bản nhất về thời kỳ Hùng Vương.

2019-05-01
Trang đầu của Ngọc phả Hùng vương R285.

Bản Ngọc phả Hùng Vương lưu tại Thư viện Quốc gia mang mã số R285 chép mở đầu như sau:
Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế ký truyền Ngọc phả Cổ Tích lưu lai.
Tích giả tự Hoàng Đế chi thời, Viêm Đế tam thế tôn Đế Minh sinh Đế Nghi, ký nhi Nam tuần Ngũ Lĩnh sơn. Đế Minh tiếp đắc Vụ Tiên nương thần nữ nhi sinh Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục. Tại vị nhị bách ngũ thập niên, thọ nhị bách ngũ thập thất tuế, hóa tiên quy hải, dữ Động Đình quân nữ Ngọc Dung, dung mạo đoan chính, thánh trí thông minh, trác xuất Đế Nghi chi lượng. Đế Minh dĩ trí tuệ vưu kỳ, sử chi tự vị, khâm truyền đại bảo thống ngự vạn bang. Dương Vương cố nhượng kỳ huynh. Ư thị Đế Minh lập Đế Nghi vi tự, dĩ lỵ Bắc phương, nhi phong Kinh Dương Vương vi Nam diện lý thiên hạ, cổ vân Giao Chỉ quận. Kinh Dương cải Xích Quỷ động, hiệu Xích quốc.
Dịch:
Ngọc phả chép truyện Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ, Tiền Thái tổ Cao Hoàng Đế, lưu tại Cổ Tích.
Xưa kia từ thời Hoàng Đế, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần phương Nam ở núi Ngũ Linh. Đế Minh gặp được con gái thần nương Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tại vị 250 năm, hưởng thọ 257 năm, hóa tiên về biển cùng con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung. Vương dung mạo đoan chính, thánh trí thông minh, vượt hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh lấy làm lạ, muốn lập làm kế tự, truyền mệnh ngôi báu thống trị vạn bang. Dương Vương cố nhường cho anh nên Đế Minh lập Đế Nghi kế tự, cai quản phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương ở mặt Nam quản lý thiên hạ, xưa là quận Giao Chỉ. Kinh Dương Vương đổi thành động Xích Quỷ, gọi là nước Xích.
Ngọc phả Hùng Vương này vốn được lưu ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương ở Phú Thọ, nơi có di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Thôn Cổ Tích là “trưởng tạo lệ” cho việc phụng sự Hùng Vương nên việc thờ cúng tại đình làng Cổ Tích hoàn toàn giống với việc thờ trên đền Hùng. Các bài vị của đền Hùng và bài vị thờ ở thôn Cổ Tích là được sao chép giống nhau. 3 cỗ long ngai thờ ở chính cung đền Thượng gồm các bài vị:

  • Đột ngột Cao Sơn Hiển Hùng ngao thống thủy điện an hoằng tế chiêu liệt ứng thuận phả hộ thần minh thọ quyết ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị.
  • Ất Sơn thánh vương vị
  • Viễn Sơn thánh vương vị.

IMG_1485
Long ngai bài vị ba vị Hùng Vương ở đình Cổ Tích. 

Việc thờ 3 vị vua Hùng Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn không chỉ gặp ở xã Hy Cương mà còn gặp ở nhiều nơi khác trong khu vực Phú Thọ như ở các thôn Việt Trì, An Thái, Vân Luông… 3 vị vua Hùng này như thế không phải là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ như vẫn nhầm tưởng, mà là 3 ngôi vua Hùng đầu tiên của thời dựng nước.
Sắc phong của thôn Cổ Tích dưới thời Quang Trung gọi là: Hùng Vương Sơn Thánh Tổ Nam Thiên đại bảo Tiền Hoàng Đế triệu tạo hồng đồ Việt Nam thuỷ tổ đại thánh Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát vị thánh vương. Ta thấy Hùng Vương Sơn Thánh Tổ, người đã tạo lập quốc gia “Nam Thiên đại bảo”, không phải là thần núi như kiểu giải thích vô nghĩa vô lối đang được phổ biến. Vị Đột ngột Cao Sơn theo sắc phong là Hùng Vương Sơn Thánh tổ, vị vua Hùng đầu tiên “triệu tạo hồng đồ, Việt Nam thủy tổ”.

IMG_1492
Sắc chỉ thời Quang Trung của thôn Cổ Tích về việc thờ phụng Hùng Vương.

Trong Ngọc phả Hùng Vương đã dẫn, Đột ngột Cao Sơn được nhắc đến ngay từ tên gọi của Ngọc phả: Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế. Thái tổ Cao hoàng đế Sơn thánh là tương đương với tên gọi Đột ngột Cao Sơn. “Đột ngột” nghĩa là đầu tiên, tương đương với danh hiệu Thái tổ. Ở Phú Thọ nhiều nơi vẫn thờ Đột ngột Cao Sơn là Thái tổ Hùng Vương, như ở xã Trạm Thản của huyện Phù Ninh (đền Tố hay đền Bình Thản).

IMG_6329.JPGCổng đền Tố ở xã Trạm Thản, Phù Ninh.

Vị Thái tổ Hùng vương đầu tiên mở đầu trong Ngọc phả Hùng Vương là Đế Minh. Ngọc phả ghi ngay từ dòng đầu “Tự Hoàng Đế thời”. Đế Minh là Hoàng Đế (Đế Hoàng) của Hữu Hùng thị trong cổ sử Trung Hoa. Danh hiệu “Hiển Hùng” trên bài vị chỉ rõ đó là Đế Minh vì Hiển nghĩa là sáng, là minh. Chữ Hiển này được đọc khác đi trong tên gọi Hiên Viên (Hiển Vương) của Hoàng Đế Hữu Hùng.
Đại Việt sử ký toàn thư mở đầu: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy Thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam.
Đế Minh trong Ngọc phả cũng là người “thống ngự vạn bang” (cai trị muôn nước), tức chính là Hoàng Đế. Còn chuyện Hy Thị định Giao Chỉ ở phương Nam xét rõ là chuyện Lộc Tục cai quản phương Nam, tên xưa là Giao Chỉ, được kể trong Ngọc phả.

IMG_6169.JPGHoành phi Vương tích triệu Cơ và Nam bang triệu tổ ở đình Cổ Tích. 

Thôn Cổ Tích, nơi có đền Hùng, vốn có tên là Lũng Cơ. Tức là nguyên tên gọi chữ Cổ là từ chữ Cơ. Hoành phi trong đình Cổ Tích cũng như trên đền Thượng của núi Hùng ghi Triệu Cơ Vương tích, là giải nghĩa cái tên Cổ Tích của khu vực này. Cơ cũng là họ của Hoàng Đế theo cổ sử Trung Hoa. Triệu Cơ Vương tích do đó có thể hiểu là dấu tích dựng nước của Vua Cơ – Hoàng Đế Hữu Hùng.
Hai ngôi Hùng Vương tiếp theo là Ất Sơn và Viễn Sơn, cũng được thờ ở nhiều nơi tại Phú Thọ. Ất là số đếm thứ 2 trong Thập can. Còn ở nhiều nơi Viễn Sơn được ghi thành Quý Minh, bởi vì Quý là thứ 3 trong thứ tự Mạnh Trọng Quý. Như thế Ất Sơn và Viễn Sơn nghĩa là các vị vua Hùng đời thứ 2 và 3, sau vị đời thứ nhất đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn. Tiếp sau Đế Minh theo Ngọc phả Hùng Vương là Đế Nghi và Lộc Tục. Vậy Ất Sơn là Đế Nghi, còn Viễn Sơn là Lộc Tục.
Truyền thuyết ở Phú Thọ kể về ba vị Quan Lang đi săn là chàng Cả, chàng Hai và chàng Út, đã hóa thành ba ngọn núi Hùng “Tam Sơn cấm địa”, cũng chính là 3 vị Hùng vương Sơn thánh được thờ tại đây. Ở đình Việt Trì thì gọi là “Tam Sơn linh lang”, cũng là chỉ các vị này.

IMG_1979
Gian tiền tế đình làng Việt Trì.

Theo thư tịch thời Nguyễn ở tổng Vân Nham phủ Đoan Hùng, vị Viễn Sơn còn được thờ dưới tên là Lịch Sơn. Ngọn núi ở phía xa (so với kinh đô tại ngã ba Việt Trì), mang tên Lịch Sơn là núi Lịch nằm bên kia dòng sông Lô, chỗ giáp ranh giữa Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Trên đỉnh núi này theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn có đền thờ Đế Thuấn và Đế Nghiêu và người xã Yên Lịch có tự điển để phụng thờ.
Đế Minh đã được xác định là Hoàng Đế Hiên Viên thì 2 ngôi tiếp theo sẽ phải là Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Tức là Ất Sơn – Đế Nghi là Đế Nghiêu, còn Viễn Sơn hay Lịch Sơn là Đế Thuấn của cổ sử Trung Hoa. Thời kỳ này được tôn vinh là thời Đường Ngu thịnh trị của Trung Hoa cổ đại. 3 vị thánh tổ Hùng Vương thờ trên ngôi đền quốc tổ ở Phú Thọ như vậy là Tam Đế: Đế Hoàng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, là những người đã khai lập vạn bang của quốc gia họ Hùng tại vùng Nghĩa Lĩnh – Phong Châu ngày nay.

IMG_5983
Nghi môn đền Thượng trên núi Hùng.

Câu đối của đền Hùng còn ghi:
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.
Dịch:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.
Từ đời Tam Hoàng đến đời Tam Vương truyền nối nhau, đều là tổ tiên, là lịch sử mở nước của Bách Việt.

Biểu hiện của Hindu giáo vào Việt Nam sớm qua sách Thiên Đế bảo lục

IMG_0524

Thần tích của đền Xá tại Ân Thi, Hưng Yên mang tên Thiên Đế bảo lục do Hàn lâm đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, kể về sự giáng sinh của Vua Trời Đế Thích ở đây. Sự tích này bắt đầu từ thời Hùng Chiêu Vương, là cháu của Kinh Dương Vương.
Chiêu Vương là người khoan nhân, trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thánh thần, chăm lo lấy dân làm gốc, được gọi là bậc hiền quân.  Lúc này ở trại Trì La (nay ở huyện Ân Thi, Hưng Yên) có một cây bạch đàn tím từ trên trời giáng xuống, dựng ở mảnh đất đầu rồng trong trại. Chiêu Vương cho lập đàn thờ lộ thiên để phụng sự và cầu đảo cây thiêng này.
Sang đời Hùng Vương thứ mười, Tạo Vương làm vua, cây thiêng ở Trì La đã trải qua hơn bảy trăm năm. Đất nước gặp tai họa giặc quỷ quấy nhiễu. Cây thiêng vỡ ra một bọc bào thai, được Tạo Vương cho mang về cung điện, đặt trên lầu rồng để cầu khấn.
Tháng Giêng ngày mười lăm bỗng thấy trời đất mùi mịt, trên lầu bọc thai phóng hào quang bốn hướng, khí lành rực rỡ. Bọc thai tự nổ một tiếng kinh động trời đất. Vua cùng trăm quan sợ phục trước lầu, ngưỡng xem thấy Đế Thích Thiên Vương ngự tại đầu rồng trước lầu, mây lành năm màu, đầu đội mũ bình thiên, thân khoác áo rồng, tay cầm kim bài.
Minh Hoa công chúa (là con gái của Hùng Hy Vương), bảy mươi tuổi mà cảm ứng ở chỗ cây thiêng, cùng lúc đó sinh ra 2 vị Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử, cùng theo phò tả hữu bên Đế Thích. Công chúa hóa thân chỉ còn lại 2 búi tóc. Hai vị Thiên tử hô lớn, hai búi tóc bỗng nhiên biến hóa. Búi thứ nhất biến thành Ngựa lửa, thân dài chín thước, ông Tả cưỡi. Một búi khác biến thành Lân ngọc, ông Hữu cưỡi.
Ba vị cùng với Diêm La bộ soái, là tướng của Tạo Vương, dẫn ngàn thiên binh đi diệt giặc quỷ. Lũ quỷ bị đánh tan thành tro bụi. Bè đảng sài lang hổ báo được dẹp yên. Ba vị hóa về trời. Còn Diêm La bộ soái sau đó hóa thành con rắn lớn, trườn xuống sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa…

IMG_0577.JPGCảnh Thiên Đình ở đền Xá.

Vua Trời Đế Thích là thần Indra, vị thần chủ rất sớm của 33 cõi trời trong Ấn Độ giáo. Thần Đế Thích – Indra đã được ghi chép trong bộ kinh cổ Vệ Đà. Sự tích Thiên Đế bảo lục cho biết vị thần này đã có mặt trong tín ngưỡng ở miền Bắc Việt từ rất sớm, ban đầu từ thời Kinh Dương Vương, hiển hiện rõ rệt vào thời Hùng Vương thứ 10.
Với niên đại thời Kinh Dương Vương thì rõ ràng chưa thể có đạo Phật vì Phật tổ Thích Ca còn chưa ra đời. Trong khái niệm xưa ở nước ta, Phật còn là chỉ các vị thần của Bà La Môn như Đế Thích. Những dấu hiệu về “cổ Phật” còn lưu truyền chính là dấu vết của sự du nhập Bà La Môn rất sớm vào Bắc Việt.

IMG_0572.JPG
Ngựa lửa, Nhật quang Thiên tử cưỡi.

Cùng với Đế Thích – thần Indra, trong sự tích còn chép tới 2 vị Thiên tử giáng sinh là Nhật Quang và Nguyệt Quang. Đây cũng là 2 vị thần của đạo Bà La Môn. Nhật quang Thiên tử hay Nhật Thiên là thần Mặt trời Surya. Vị thần này thường ngồi xe ngựa kéo có màu hung đỏ. Còn trong sự tích ở Ân Thi, Nhật quang Thiên tử cưỡi con Hỏa mã (ngựa lửa), hoàn toàn trùng khớp.
Nguyệt quang Thiên tử hay Nguyệt Thiên là thần Mặt trăng Chandra. Vị thần này thường cưỡi trên một con linh dương. Sự tích ở Ân Thi kể Nguyệt quang Thiên tử cưỡi con Ngọc lân, cùng hoàn toàn đồng nhất với thần thoại Ấn Độ.
Thần thoại 2 vị Nhật Thiên và Nguyệt Thiên được hình tượng hóa theo cách của người Việt trong công chúa Minh Hoa. Chữ Minh明 gồm chữ Nhật 日và chữ Nguyệt 月 ghép lại. Minh Hoa công chúa được kể là một người tám tuổi đã theo Phật, bảy mươi tuổi lại có mang, sinh ra 2 vị Nhật Nguyệt Thiên tử.

IMG_5764.jpg
Lân ngọc, Nguyệt quang Thiên tử cưỡi.

Câu đối ở đền Xá:
天闕莊嚴開日月
帝威赫濯起風雲
Thiên khuyết trang nghiêm khai nhật nguyệt
Đế uy hách trạc khởi phong vân.
Dịch:
Cửa Trời nghiêm trang mở nhật nguyệt
Đế Oai rực rỡ nổi gió mưa.
Bản thân tên huyện Thiên Thi hay địa danh Ân Thi có nghĩa là “ơn trời”, chỉ ơn huệ của Thiên Đế. Địa danh trại Trì La, nơi Đế Thích giáng sinh, có thể là từ chữ “Thi La”, trong Phật giáo nghĩa là “giới luật”. 
Dấu vết đạo Bà La Môn thời Hùng Vương còn thể hiện ở nhân vật Diêm La bộ soái, vị tướng đã dẫn quân theo Đế Thích diệt quỷ. Thần tích kể:
Diêm La bộ soái vốn là dòng dõi Hùng Vương, con cháu trăm trứng từ Long Vương. Cha là Hùng Độ làm Đế thủ Bộ chủ. Mẹ là Vũ Thị Đoan, mơ thấy giao long mà có mang thần. Tới năm Quý Tỵ tháng mười, ngày mồng mười sinh ra Diêm La công, lấy tên là Đà. Năm mười bốn tuổi ông đã văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, đứng trước sóng cả như đứng trên đất bằng. Vua cho mời vào triều nhận chức, thi thố nhiều tài lạ, được cất nhắc làm Chưởng quản thuyền rồng Lạc Long tướng quân. Năm mười chính tuổi Vua sai làm tướng dẫn quân đánh giặc Diêm La ở ngoài Nam Hải. Ông phụng mệnh trị được chúa Diêm La, lại được triệu về triều làm Chưởng bình Diêm La nguyên soái, Thuỷ đạo đại tướng quân, lại nhận mệnh phó nhậm trấn cửa biển, làm Thuỷ đạo chủ bộ.
Sự tích của vị Diêm La bộ soái này khá giống với sự tích của Quan lớn đệ Tam trong tín ngưỡng Tam phủ. Đều là “dòng dõi” Long vương – Thoải phủ. Đều là mẹ gặp giao long mà sinh thần. Đều là Chưởng quản thuyền rồng (Trưởng Lệnh) của Hùng Vương. Trưởng Lệnh (Quan đệ Tam) thì đánh dẹp giặc Hồng Châu, Diêm La bộ soái đánh giặc Diêm La nên có tên vậy. Sau khi dẹp xong giặc quỷ, Diêm La bộ soái hóa thành con rắn lớn trườn xuống ngã ba sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa. Tam Kỳ hiển ứng cũng chính là chuyện thần Bạch Hạc Thổ Lệnh – Thạch Khanh.
Chi tiết Đế Thích liên quan đến Tam phủ còn thấy trong chuyện Hồn Trương Ba xương da hàng thịt, được ghi trong sự tích và di tích còn lại tại thôn Liêu Hạ (Yên Mỹ, Văn Giang, Hưng Yên). Khi Trương Ba mất, Đế Thích đã giáng hạ, triệu Tam phủ công đồng hoàn hồn cho Trương Ba. Nay ở Liêu Hạ trong đền thờ ngoài Đế Thích còn thờ cả Tam phủ.
Đế Thích được coi là Vua cờ vì theo thần tích Thiên Đế bảo lục nói: Cờ là cốt yếu của họa phúc, sự huyền vi của trời đất. Trong chữ Nho, đánh cờ được gọi là “dịch”. So sánh 2 nghĩa này ta thấy, cờ chính là Dịch lý, tức là “triết lý” thế giới quan, nhân sinh quan của tín ngưỡng này. Kỳ pháp như thế là pháp môn của Đế Thích – đạo Bà La Môn.

IMG_0560.JPGPhạm Đá và Phạm Dũng.

Cũng trong Thiên Đế bảo lục còn kể tới thời Thục An Dương Vương, có họ Phạm ở Biện Sơn (Thanh Hóa) cầu tự Đế Thích, được mộng ban cho 2 quân cờ Xe và Tướng, sinh ra 2 người con trai là Phạm Đá và Phạm Dũng. Hai vị có công dẹp giặc Đại Man, chống chọi với Triệu Úy Đà. Sau đó hóa ở đền Đế Thích tại Trì La (Ân Thi, Hưng Yên). Nay trong đền còn tượng thờ 2 vị này.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) nói tới các sự tích này:
錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kì thế giới thiểu Trương Công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.

IMG_0397.JPGThiên Đế điện ở Liêu Hạ.

Sự kết nối giữa Đế Thích, vị thần chủ của đạo Bà La Môn với thời Hùng Vương và tín ngưỡng Tam phủ cho thấy sự du nhập rất sớm của đạo Bà La Môn vào nước ta. Ngay Văn công đồng khi mở chầu Tứ phủ cũng ghi:
Vận thần thông vô lượng vô biên
Thập phương tam giới thánh hiền
Dục giới sắc giới chư thiên đều mời
Vua Đế Thích quản cai thiên chủ
Vua Ngọc Hoàng thiên phủ chí tôn…
Như thế theo Tứ phủ thì Đế Thích là Thiên chủ quản cai. Phải nói rằng đạo Mẫu Tứ phủ tới nay là sự tổng hợp của cả Đạo Giáo, Đạo Phật và Ấn Độ giáo.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Liêu Hạ:
英靈冠百神南天第壹
功德光千古越地無雙
Anh linh quán bách thần, Nam thiên đệ nhất
Công đức quang thiên cổ, Việt địa vô song.
Dịch:
Anh linh đầu trăm thần, trời Nam thứ nhất
Công đức sáng ngàn xưa, đất Việt không hai.
Các sự tích hiển linh của Đế Thích đều đề cập đến khu vực phía Nam. Như Minh Hoa công chúa (người sinh ra Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử) từng bị biếm đày đi Ô Lý, đất Chiêm Thành. Rồi lại có chuyện Huyền Trân công chúa đời Trần được gả cho chúa Chiêm, khi chúa Chiêm chết Công chúa đã được Thiên Đế giúp thuyền gió lớn thuận buồm thoát nạn. Nay ở Ân Thi, gần đền Thiên Đế, có một số nơi thờ Huyền Trân công chúa làm thành hoàng làng và có cả đền thờ.

IMG_5021.jpg
Một đoạn sách Thiên Đế bảo lục.

Một sự tích khác từng được chép trong Lĩnh Nam chích quái về Đế Thích như sau:
Ở huyện Thiên Thi, xã Liễu Cầu có hai chị em vì loạn lạc vào đến nước Ai Lao. Họ mật cầu Vua Trời bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi bộ như bay, về tới quê quán. Khi đến làm lễ tạ, việc xong thì hình hài biến mất, chỉ còn hai búi tóc lưu lại.
Ở các khu vực Chiêm Thành, Ai Lao thì rõ ràng đã có sự du nhập của đạo Bà La Môn từ rất sớm. Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo lên khu vực Đông Nam Á đã có từ lâu. Với những dẫn liệu như vậy, có thể chúng ta phải nói tới “Tứ giáo đồng nguyên” trong tín ngưỡng ở Việt Nam: Nho, Lão, Phật và Bà La Môn.

 

Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ

Các bản thần tích do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính làm ở bộ Lễ triều Lê biên soạn vào niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572) phụng soạn thường được mở đầu như sau:
Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khai vận mở đồ hơn hai ngàn năm. Vua Hùng lập nước núi xanh vạn dặm, xây kinh đô Hùng, dựng nền cung điện, nước biếc thăm thẳm, bắt đầu đạo đế thánh vua minh, giúp vật giúp dân, thống lĩnh 15 bộ, lấy tên là Bách Việt, là tổ tiên khai sáng (Triệu tổ) vậy.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Mười tám đời truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.
Đoạn “giới thiệu” tóm tắt này về thời kỳ khai mở đất nước của người Việt rất cô đọng, xúc tích. Thế nhưng, thời buổi ngày nay, có quá nhiều người Việt hiểu lơ mơ về quốc tổ Hùng Vương. Cũng như có quá nhiều những bậc “học giả” chữ tác đánh chữ tộ, biết đọc mà không biết nghĩ, dựng chuyện lật lọng cả với tiên tổ mà vẫn tự cho mình là đã “giải ảo” quá khứ…
Điển hình nhất là chuyện người ta lấy 3 danh hiệu phụng thờ Hùng Vương ở đền Hùng là Đột Ngột Cao Sơn, Ất Sơn Viễn Sơn, để quy kết rằng đây là tục thờ 3 vị thần núi??? Nhiều vị cho mình là thạo chữ Hán thì đưa ra kết luận… chắc như bắp… Hùng vương là chép nhầm của Lạc vương.
Các vị đã quen cái học rởm của Tàu, của Tây, mà không nhìn nhận di sản cha ông người Việt đã để lại cho con cháu, qua chính những dòng thần phả thần tích lưu truyền đời này qua đời khác như đoạn văn trên.
Đoạn văn mở đầu của thần tích do Nguyễn Bính soạn nói ngay người khai sáng cơ đồ nước Việt là Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ. Chữ Sơn ở đây là núi, nhưng không phải nghĩa Hùng Vương là thần núi như đám học giả nửa mùa tưởng tượng. Sơn là núi, tức là quẻ Cấn trong Tiên thiên Bát quái, chỉ hướng Nam xưa (tức Bắc nay). Hùng Vương Sơn nguyên tức là vị vua Hùng xuất hiện đầu tiên ở phương Nam. Tên gọi này tương đương với danh hiệu Đột Ngột Cao Sơn ở đền Hùng vì “đột ngột” là bất ngờ xuất hiện, ý chỉ là người đầu tiên, cũng giống như từ “nguyên” nghĩa là đầu tiên. Cao hay Cả là từ chỉ thủ lĩnh, tương đương với Vương.

Bat quai
Tiên thiên Bát quái và hệ tọa độ không thời gian. 

Đền Hùng ở Phú Thọ thờ Đột ngột Cao Sơn hay Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh tổ, là vị vua Hùng đầu tiên của cõi trời Nam. Vị vua Hùng “Thánh đế Minh vương” này là Đế Minh, người đã “đi tuần thú ở phương Nam“, bắt đầu thời kỳ Nam Giao mở nước.
Phương Nam xưa là phương cây kim chỉ Nam của La bàn, tức là phương Bắc cực ngày nay do khái niệm Bắc Nam đã bị đảo lộn trong lịch sử. Phương Nam xưa theo Ngũ hành thuộc về hành Thủy – nước. Từ “nước” biến âm thành “nác”, rồi thành “lạc”. Vì thế các vua Hùng thời kỳ đầu Nam Giao mở nước cũng gọi là các Lạc Vương.
Nhưng Lạc Vương không tương đương với Hùng Vương vì thời kỳ Nam – Sơn – Lạc này chỉ gồm 3 thời vua Hùng như được thờ trên núi Nghĩa Lĩnh ở Phú Thọ. Trong tiến trình lịch sử hơn 2000 năm, quốc gia họ Hùng đã mở rộng về các hướng, phía Đông vươn ra biển Đông, phía Tây kéo dài tới Xuyên Thục, phía Nam xưa (Bắc nay) tới Hồ Nam, phía Bắc xưa (phía Nam nay) chạy tới miền Trung Việt, đúng như ghi chép của cổ sử Việt.
Thần tích cũng luôn nhắc lại rằng các vua Hùng thống lĩnh 15 bộ, là Triệu tổ của Bách Việt. Cũng như bức hoành phi trên cổng đền Hùng đề rõ Nam Việt triệu tổ. Đất nước họ Hùng đông, nhiều, rộng, gồm nhiều dòng, nhiều nhánh Việt khác nhau, nhưng đều chung một nguồn cội từ Hùng Vương thánh tổ.
Câu thơ trong thần tích nói rõ:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương.
Kinh là đầu chỉ hướng Nam (Bắc nay) của cây kim La – Kinh. Dương hay Giêng là số 1 của Hà thư, cũng chỉ hướng Nam xưa. Kinh Dương như vậy là từ đồng nghĩa với hướng Nam, hay Lạc. Kinh Dương Vương cũng là Lạc Vương, được chép tên là Lộc Tục (Lạc tộc). Cũng vì thế mà 2 vị Ất SơnViễn Sơn không phải ai khác là Đế Nghi và Lộc Tục, là 2 vị vua kế ngôi Đế Minh dựng nước và mở rộng lãnh thổ trên vùng đất Nam Giao – Kinh Dương.

Ngu hanhNgũ hành và tứ phương.

Nam Việt như vậy chỉ nước Nam người Việt từ thời các vua Hùng dựng nước. “Quốc danh” Nam Việt của thời kỳ này tồn tại mãi về sau. Các sử gia lầm lẫn rằng nó mới chỉ có từ thời Triệu Vũ Đế lập quốc. Thực ra Triệu Vũ Đế lấy tên nước Nam Việt là ý muốn nhấn mạnh mình là dòng dõi “Lạc Hùng chính thống” trên vùng đất tổ phương Nam của các vị vua Hùng thánh tổ.
Sơn – Nam – Lạc – Kinh đều là những từ chỉ khu vực nơi các vua Hùng đầu tiên đã khai vận mở đồ hơn hai ngàn năm. Xin hãy chấm dứt những trò bôi nhọ tiền nhân bởi sự ngu dốt của chính mình khi nói về các vị thánh tổ của người Việt. Đừng biến mình thành những đứa con bất hiếu chỉ vì không hiểu biết.

Muốn lên Côn Lôn tìm Huyền Phố

Bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng của Phạm Sư Mạnh ở thế kỷ 14:
Thiên khai địa tịch Tam Giang lộ
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng
Giang vi trì tiệm thạch thành bích
Ốc tự tăng sào tháp đậu đăng
Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố
Đoàn phong vạn lý khoái phi bằng.
Bài thơ rất hào hùng kể về những sự tích xung quanh vùng châu Chân Đăng, thời Lý Trần là khu vực Phú Thọ. Bài thơ đặc biệt ở chỗ dùng rất nhiều những địa danh của cổ sử nên nó như một bức thông điệp ẩn của quá khứ Việt.
Bốn câu đầu của bài thơ đã từng được lý giải bởi tác giả Nguyễn Quang Nhật, nói về những sự kiện của nhà Chu từ việc lập quốc trên vùng đất Phong Châu – Tam Xuyên, rồi dời đô từ Kiểu kinh của Tây Chu về thành Cổ Loa bắt đầu thời Đông Chu cho tới thất bại của Quốc Tây – nước Chu trước cường Tần – Chân Đăng.
Bốn câu thơ tiếp theo xem qua tưởng chỉ là tán tụng, nhà cao sông sâu, nhưng đặc biệt câu thơ thứ bảy: Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố, Muốn lên núi Côn Lôn tìm hỏi Huyền Phố, lại tiếp tục chứa đựng những ẩn ngữ của quá khứ cần được xem xét.
Núi Côn Lôn, ngọn núi huyền thoại nơi thần tiên Trung Hoa ngự trị ở đâu mà Phạm Sư Mạnh đang ở châu Chân Đăng (Phú Thọ) lại nổi hứng muốn lên tận đó để tìm hỏi phố tiên (Huyền Phố)?

Tay Thien.jpgTây Thiên Tam Đảo.

Ngọc phả Hùng Vương khi chép về Kinh Dương Vương mở nước có đoạn:
Vua lại đi tuần thú, trải khắp núi sông, xa giá đến xứ Sơn Tây, thấy địa hình trùng điệp, núi đẹp sông hay. Vua bèn tìm địa mạch, nhận thấy từ núi Côn Lôn giáng xuống qua cửa ải, tựa như cầu vồng thoát mạch, rồng vút đi xa…
Như vậy núi Côn Lôn ở gần Phú Thọ – Phong Châu phải là ngọn núi Tam Đảo cao ngút. Đây cũng là nơi ngự trị của Tây Thiên Quốc Mẫu mà truyền thuyết Trung Hoa gọi là Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu còn có tên là Dao Trì Kim Mẫu, thực ra chính xác phải là Giao Chỉ Kim Mẫu, tức là vị Quốc Mẫu ở vùng Giao Chỉ. Vườn đào tiên của Tây Vương Mẫu không đâu xa mà là trên núi Tam Đảo.
Ở Tam Đảo còn lưu dấu vết sự tích về Tây Vương Mẫu và núi Côn Lôn. 3 hòn đảo trong biển mây phủ của Tam Đảo theo địa chí cổ đó là Phù Nghì cao 1.250m; Thiên Thị (Kim Thiên) cao 1.585m; Thạch Bàn cao 1.585m.
Trong câu thơ của Phạm Sư Mạnh có nói trên núi Côn Lôn có khu Huyền Phố, nơi thần tiên tụ hội. Còn trên núi Tam Đảo có đỉnh Thiên Thị, nghĩa là Chợ Trời vì nơi đây đỉnh núi bằng phẳng với nhiều viên đá lô nhô như những vị tiên đang đi hội chợ. Đỉnh này cũng gọi là Kim Thiên, tức là “giữa trời”, chính nơi Thiên phủ vì Kim là màu của trung tâm trong Ngũ hành. Sự trùng khớp về địa danh Huyền Phố và Thiên Thị thêm một lần nữa khẳng định núi Tam Đảo chính là núi Côn Lôn trong truyền thuyết thần tiên Trung Hoa.

Thach Ban.jpgThạch Bàn trên đỉnh Tây Thiên (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn có tên gọi là do trên đỉnh có một tảng đá lớn, rộng bằng phẳng, được gọi là bàn cờ tiên. Tuy nhiên thực chất tảng đá này là một di tích cự thạch (dolmen) của thời kỳ tiền sử. Những cự thạch có hình dạng tương tự, là những phiến đá phẳng, hình nhọn đầu, được xếp trên những chân trụ đá (thường là 3 chân) cũng gặp ở khu vực quanh núi Tam Đảo như ở Đại Đình (Tam Đảo, Vĩnh Phú).
Cự thạch được cho là nơi người xưa dùng để cúng tế, hay nói cách khác đó là những đàn tế cổ.

Cu thach Dai Dinh.jpgCự thạch ở Đại Đình, Tam Đảo, Vĩnh Phú (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn cũng là nơi từng có ngôi chùa mang tên Đồng Cổ. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn đã cho biết: “Sườn núi có chùa Tây Thiên Cổ Tự, tre xanh, thông tốt, cảnh sắc thanh nhã, rộng rãi. Trên đỉnh núi cao lại có chùa Đồng Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất hai ngày“.
Đồng Cổ là trống đồng. Ý nghĩa của việc dùng trống đồng đã từng được khám phá qua quẻ Dự trong Kinh Dịch. Quẻ Dự có lời tượng là: Lôi xuất địa phấn Dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.
Dịch giải: Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đao đức, long trọng dân lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
Sấm nổ trên mặt đất là chỉ cách đánh trống đồng. Lời tượng này cho biết trống đồng được dùng làm nhạc khí khi tiến hành tế lễ thượng đế và tổ tiên.
Phối hợp các thông tin đàn tế cự thạch và đền Đồng Cổ trên đỉnh Thạch Bàn ta chợt nhận ra đây chính là đàn tế trời của thời Hùng Vương. Trên đỉnh núi cao, nơi xuất xứ của bà mẹ trời Tây Thiên Quốc Mẫu mà đặt đàn tế bằng đá và dùng trống đồng để tế thì chỉ có thể là tế trời, xưa gọi là tế Giao.
Đàn tế của thời kỳ này có thể liên quan đến sự tích của Hùng Chiêu Vương Lang Liêu. Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh vương triều Hùng chép như sau:
… Vua bèn khởi hành xa giá đi xem phong cảnh. Xe loan tới nơi, vua thấy núi non như gấm vóc, lâu đài thiên tầm trùng điệp, khe biếc ngòi xanh, sóng nước nhè nhẹ nối nhau, cảnh trí phong quang, có hoa ngào ngạt, đầu núi lô nhô, có bạch long giáng khí, xưa lập chùa gọi là Tây Thiên.
Vua cho dựng đàn, rồi chỉnh biện lễ chay, sau quần thần dâng lễ đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở trường công đức ở chùa, sớm đảo tối cầu, qua bảy ngày bảy đêm, nam nữ bốn phương tập hợp cùng vui vẻ đến đây chiêm ngưỡng, chim trong rừng nghe đến kinh, cá dưới nước đến nghe giảng kệ.
Công đức viên thành. Vua ngự trên suối Thạch Bàn để xem cảnh tiên, bỗng thấy điện vũ huy hoàng, khói mây óng ánh, mây rồng bốn phía tựa như lâu đài Tây Trúc mênh mang, một bầu sơn thủy, bèn mật khấn với trời, sai bách quan văn võ đứng chầu trang nghiêm. Vua yết lễ, khấn rằng:
– Xin trời giáng thần tiên để được gặp gỡ, thực vui sướng ba đời!…
Như vậy có thể thấy rõ đỉnh Thạch Bàn là đàn tế trời đất và cầu tiên dưới thời Hùng Chiêu Vương – Lang Liêu. Truyền thuyết Trung Hoa chép sự kiện này trong chuyện Chu Mục Vương cưỡi cỗ xe bát mã lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu. Chiêu cũng là Chu. Hùng Chiêu Vương chỉ một vị vua nhà Chu.
Thạch Bàn như vậy là một đàn tế trời cầu tiên của nhà Chu nước Văn Lang. Còn Tam Đảo là ngọn Côn Lôn nơi thần tiên Thiên phủ ngự trị.