Rồng bay biển Bát – Phượng gáy non Kỳ

Thời đại Hùng Vương theo huyền sử Việt có thể được chia thành 3 giai đoạn:1. Sơ kỳ họ Hùng: 5.000 năm – 4.000 năm trước. Thời kỳ có thủ lĩnh. Bắt đầu từ Đế Minh, cháu ba đời của Thần Nông cho đến Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình. Khởi đầu của thời kỳ này là việc Thái tổ Đế Minh lên núi Thái Sơn mở nước. Biểu tượng của thời này là Nhật nguyệt tinh thần (khai mở Càn Khôn). Trung tâm của thời này là vùng đất tổ Phong Châu.2. Trung kỳ Hùng Vương: 4.000 năm – 3.000 năm trước. Thời phụ đạo.Từ Lạc Long Quân đến Hùng Duệ Vương. Khởi đầu thời kỳ này là Vua cha Lạc Long Quân xuất thế ở Bát Hải. Thời kỳ này người Việt phát triển về phía Đông (Động Đình). Biểu tượng là con Rồng.3. Hậu kỳ Hùng Vương: 3.000 năm trước đến năm 258 TCN. Thời kỳ phong kiến phân quyềnTừ khi Thục Chủ Âu Cơ lên ngôi ở Phong Châu cho đến khi An Dương Vương cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển. Thời kỳ này là dòng Âu – Thục ở phía Tây (Ai Lao) làm Thiên tử. Biểu tượng là hình chim Phượng trên trống đồng, gắn với điềm báo “Phượng gáy non Kỳ”.
Thời đại Hùng Vương theo huyền sử kết thúc khi nhà Tần diệt An Dương Vương thống nhất thiên hạ, lập chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Biểu tượng thời thống nhất là hình tượng Phi Liêm, kết hợp giữa Rồng và Phượng.
Lược đồ thời đại Hùng Vương kèm theo với những hình màu xanh là những truyền thuyết (sự kiện) xảy ra trong mỗi thời kỳ.Hình Long Phượng chầu Nguyệt thực chất là biểu tượng cho lịch sử dựng nước họ Hùng, gồm cả 3 thời kỳ trên.

Lược đồ sơ và trung kỳ của thời đại Hùng Vương

Lược đồ sơ và trung kỳ của thời đại Hùng Vương đối chiếu và sắp xếp theo 3 nguồn tư liệu:

1. HUYỀN SỬ VIỆT như Lĩnh Nam chích quáiTrong mỗi truyện của huyền sử mỗi hình tượng nhân vật là một triều đại truyền nhiều đời, có thể kéo dài vài trăm tới hàng nghìn năm. Ví dụ, Kinh Dương Vương không phải chỉ có 1 người mà Kinh Dương Vương là một danh xưng của thủ lĩnh vùng Bắc Việt (đất Kinh hay Lạc). Do đó có Kinh Dương Vương Lộc Tục lấy 2 công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung, có Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình.

2. TÍN NGƯỠNG VIỆT qua các thần phả thần tích ở các di tích tín ngưỡngĐiểm đặc biệt của loại thông tin này là mang tính địa phương cao. Cùng một hình tượng trong huyền sử nhưng được cụ thể hóa bởi công đức sự nghiệp tại địa phương có di tích. Nhờ đó có thể định vị, xác định được những chi tiết trong lịch sử.

3. HOA SỬ như ghi chép của Tứ thư Ngũ kinhĐặc điểm của những tư liệu này là rất chính xác… từ góc nhìn của người Hoa. Trong đó 90% những lời chú giải về vị trí của các nhân danh, địa danh là sai hoàn toàn do hệ tọa độ địa văn hóa bị dùng nhầm một cách vô tình hay cố ý.

Ghi chú về các ký hiệu trong hình:

– Dấu cộng: Sự kết hợp 2 dòng (2 cộng đồng) một cách hòa bình qua hình thức kết hôn hoặc nhường ngôi.

– Dấu mũi tên một chiều: Ngôi vị được truyền qua các đời.

– Dấu mũi tên 2 chiều: Sự đối kháng của 2 cộng đồng qua chiến tranh giành quyền lực.

Nước Sùng và Tản Viên Sơn Thánh

Thông tin về nước Sùng, một nước thời Tam Đại Trung Hoa, theo wikipedia:

Tương truyền vào thời Hạ, cha của vua Vũ là Cổn được phong là Sùng Bá đã lập nên thành trì nước Sùng, sau khi Cổn bị giết thì đất ấy từ đó liên tục không có vua.

Nước Sùng thời Ân Thương dời đô sang chỗ khác… Quốc quân nước này trong giáp cốt văn được gọi là “Tông hầu”, người trong họ từng giữ chức khuyển quan nên gọi là “khuyển tông”… Dưới thời Đế Tân, Sùng Hầu Hổ mật báo việc Chu Văn Vương mưu đồ tạo phản với vương thất nhà Thương. Văn Vương về sau liền khởi binh diệt luôn nước Sùng, lấy đô thành của nước này dựng nên Phong Kinh. 

Theo đó, nước Sùng trong thư tịch cổ là:

– Nơi Đại Vũ trị thủy, tức là kinh đô Trung Hoa thời Hạ Vũ.

Nơi đóng đô của Sùng Hầu Hổ, Bắc Bá Hầu dưới thời Ân Trụ Vương. Tông hầu nghĩa là nước của “tổ tông” Trung Hoa, tức còn là đất gốc từ thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.

Là Phong kinh của thời Chu Văn Vương.

Các học giả Tàu hiện lúng túng không biết nước Sùng như thế thì nằm ở đâu, đành đưa ra lý thuyết… nước này có chân, chạy từ nơi này sang nơi khác… vì nhà Hạ họ xác định đâu đó quãng Sơn Tây – Hà Bắc, Phong kinh của nhà Chu lại ở Thiểm Tây, cách nhau một giời một vực, làm sao ra thành một địa điểm được?

Thời Hạ Vũ, nước lũ ngập trời… Vậy làm sao chỗ nước ngập trời ấy lại ở vùng sa mạc Thiểm Tây?

Những ghi chép về nước Sùng thời Tam Đại đã cho thấy… định vị Hạ Thương Chu của sử Tàu hiện nay là sai hoàn toàn. Sự thực nước Sùng không hề nằm ở lưu vực sông Hoàng Hà nên tìm khắp ở đó không có chỗ nào đáp ứng được những mô tả của cổ thư về nước này.

Để xác định vị trí nước Sùng, trước tiên xin xem thiên Vũ Cống của Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”.

Sông Hắc Thủy đổ ra biển Nam Hải, nơi Đại Vũ khơi dòng trị thủy, thì không thể ở tận bên Hoàng Hà được. Hắc Thủy thực ra là tên của sông Đà (sông Đen), tới ngày nay vẫn còn lưu tên. Nhà thơ Tản Đà, quê hương và bút danh ở vùng núi Tản sông Đà có bài thơ Tự thuật như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy của sông Đà:

Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà,
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc Giang bên cạnh nhà. 

Chạm khắc cá hóa long đình Tây Đằng.

Sông Đà cũng là nơi “cá vượt Vũ Môn hóa rồng” vì Vũ Môn hay Long Môn là khu vực Thác Bờ hiểm trở trước đây của dòng sông này. Đại Nam nhất thống chí ghi“Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội”…

Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn thì ghi: “… Núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Long Môn là nơi vua Vũ đã  đục thông lòng sông, khơi dòng dẫn nước qua Tam Nguy về Nam Hải, là ở đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển.Như vậy khu vực nước Sùng, nơi 2 vị Cổn và Vũ lao tâm khổ tứ hàng chục năm trời trị thủy cũng chính là vùng sông nước mêng manh thời cổ này ở đồng bằng miền Bắc Việt. Vị vua trị thủy bên dòng sông Đà thì không còn ai khác ngoài Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Thánh chính là Đại Vũ trong cổ sử Trung Hoa.

Câu ca dao Việt:

Mồng bốn cá đi ăn thề

Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Theo Hà thư thì số 4 là con số chỉ hướng Tây, số 8 là chỉ hướng Đông. Cá tụ họp ăn thề đi từ hướng Tây sang hướng Đông, theo sông Đà vượt qua Vũ Môn ở Thác Bờ mà hóa Rồng ở vùng sông Nhị (đền Và) rồi ra biển. 

Ban văn võ ở đền Và và hoành phi Nam Thiên thánh tổ.

Cá thuộc về hành Thủy (nước). Rồng thuộc về hành Mộc. Thủy sinh Mộc là một giai đoạn trong Ngũ hành tương sinh, nói về sự phát triển từ những nền tảng vật chất (hành Thủy) mà đạt được sự thăng hoa trong xã hội (hành Mộc). Đại Vũ Sơn Tinh thật sự là “cá hóa rồng” khi khơi dòng Hắc Thủy, rồi lên làm chủ thiên hạ họ Hùng người Việt.

Thư tịch cổ cho thông tin hết sức quan trọng. Cha của Đại Vũ là Cổn, là thủ lĩnh vùng đất Sùng. Do vậy, nước Sùng của Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương cũng chính là nơi Đại Vũ trị thủy, tức là miền Bắc Việt ngày nay. Hình ảnh Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt bao gồm những sự tích của cả thời Đại Vũ trị thủy và Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương. 

Nước Sùng còn in dấu ấn trong sử Việt với tên Sùng Lãm của cha Lạc Long Quân. Còn ở Bình Đà, nơi thờ Lạc Long Quân thì có ghi chép 4 đời chúa họ Sùng có là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm. Lạc Long Quân được coi là người khởi đầu triều Hùng nên các chúa họ Sùng sau đó cũng thuộc về các đời Hùng Vương, mà Hùng triều kết thúc bằng sự kiện Thục Vương đánh Hùng Duệ Vương. 

Sùng Công còn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Vị Tả kiên thần Cao Sơn của Thánh Tản có tên là Nguyễn Sùng. Đây hẳn cũng là một vị chúa họ Sùng đã cùng Sùng Hầu Hổ chống giặc Thục. 

Câu chuyện Sơn Thánh đánh Thục trong sử Việt là việc Sùng Hầu Hổ chống lại Chu Văn Vương, mà kết thúc là Văn Vương chiếm được đất Sùng, lập Phong kinh ở đó. Truyền thuyết Việt kể thành Thục Vương được vua Hùng nhường ngôi liền về Phong Châu đóng đô, lập đền miếu thờ các vua Hùng. Nước Sùng – Phong Châu chính là đất gốc tổ của Trung Hoa, mà giáp cốt văn gọi là “Tông hầu”, là nơi khởi phát của dòng họ Hùng từ thời Đế Minh Hữu Hùng Hoàng Đế Hiên Viên thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ.

Dòng họ Hùng truyền qua thời Nghiêu Thuấn, qua thời Hạ từ Đại Vũ, rồi Thương Ân, được ngọc phả Hùng Vương chép là 18 đời vua Hùng. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất tổ họ Hùng và được kể dưới tên Sơn Thánh trong cuộc chiến chống Thục Vương (Chu Văn Vương). Kinh đô của nước Sùng thời Sùng Hầu Hổ có thể là vùng xứ Đoài Sơn Tây, nơi có dày đặc các di tích thờ Sơn Thánh, có cả cung điện thiết triều của Sơn Thánh như đền Và. Ở đây Sơn Thánh đã hóa thành một vị thần bất tử, đứng đầu linh thần trong Việt điện, cũng bởi vì vị trí thiêng liêng của mảnh đất Sùng đối với dòng giống Việt.

Đất Sùng là đất gốc tổ “Tông hầu” nơi Thái tổ Đế Minh mở nước bên dãy Thái Sơn, Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, Đại Vũ trị thủy ở Long Môn núi Tản, Sơn Thánh Sùng Hầu phò giúp Duệ Vương, cũng là nơi Thục Vương Cơ Xương khởi đầu nước Văn Lang trên vùng Tây Thổ Phong Châu.

Tục cúng xá tội vong nhân, một đạo lý từ thời Hùng Vương

Từ bao đời nay, cứ vào đầu tháng Bảy người Việt lại có tục cúng ngày Xá tội vong nhân. Theo quan niệm dân gian vào ngày 2/7 âm lịch hằng năm, Diêm Vương mở cửa Quỷ Môn Quan để cô hồn dạ quỷ được trở về nhân gian. Rồi đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, ma quỷ sẽ bị gọi trở lại địa ngục. Đây được coi là ngày “âm khí xung thiên”, nên người ở trần gian sẽ phải cúng cháo, gạo hay muối cho các vong linh, gọi là cúng cô hồn… Nguồn gốc của lệ tục này bắt đầu từ khi nào và liệu có liên quan gì đến lịch sử của người Việt?

Trong kho tàng huyền sử Việt có một câu chuyện vô cùng kỳ dị nói tới Diêm Vương và các hồn ma bóng quỷ. Đó là Truyện Giếng Việt, bắt đầu như sau:

Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua Địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.”

Truyện Giếng Việt cung cấp một thông tin hết sức quan trọng, Ân Vương chết biến thành vua Địa phủ. Như thế, vua Ân chính là Diêm Vương, người cho mở Quỷ Môn Quan thả các vong hồn lên Dương thế vào tháng 7 hàng năm. Tục cúng cô hồn vào tháng 7 do đó liên quan tới cái chết của vua Ân trong cuộc chiến với Phù Đổng Thiên Vương.

Truyện Giếng Việt kể tiếp, đến đời Tần, có quan Ngự sử là Thôi Vĩ đã cho trùng tu lại miếu Ân Vương. Con trai của Thôi Vĩ là Thôi Lượng, sau đó đã đi lạc đường trên núi Trâu Sơn, đến được Ân Vương Thành và gặp mặt Ân Hậu. Ân Hậu tiếp đãi Thôi Vĩ một cách ân cần rồi cho Dương Quan dẫn Thôi Vĩ về. Sau đó Dương Quan nhân biến thành một con dê đá, đứng sau đền Việt Vương trên núi Trâu.

Núi Trâu Sơn nay thuộc địa phận huyện Quế Võ. Trên núi từng có đền thờ Ân Vương rất cổ xưa. Con “dê đá” ở đền Ân Vương là một bức tượng hình nửa thân của một con linh thú kỳ dị nằm trên núi ở thôn Cựu Tự thuộc xã Ngọc Xá. Bức tượng thú bằng đá sa thạch, rất lớn, cao khoảng hơn 1,5m, khắc hình con thú có cổ dài, thân có vảy như rồng, có 2 sừng cong như sừng dê, nhưng lại có mỏ như mỏ phượng và trên thân có 2 cánh và có chân.

Phi LiemTượng Phi Liêm ở thôn Cựu Tự trên núi Trâu Sơn.

Đây là tượng con thần thú Phi Liêm, loại thú kết hợp giữa Rồng và Phượng. Dạng tượng Phi Liêm bằng đá lớn như thế này thường được thấy từ thời Tần Hán, đặt cạnh các lăng mộ hay miếu thờ các vương tôn quý tộc. Phi Liêm cũng là tên một vị trọng thần của vua Ân trong Phong thần diễn nghĩa. Thần thú Phi Liêm là tiền thân cho hình tượng Thiên Lộc, Tỳ Hưu, những linh vật cát tường phổ biến về sau này.

Truyện Giếng Việt còn kể, Ân Vương đã sai vị Ma Cô Tiên đến trao cho Thôi Lượng thuốc ngải chuyên chữa bệnh u bướu và ban cho một người con gái để kết làm vợ, lại ban cho một viên ngọc Long Tụy, trong cặp ngọc báu thư hùng mà vua Ân mang theo người khi chết ở Trâu Sơn. Ma Cô Tiên được biết là một vị thọ thần và phúc thần trong văn hóa phương Đông, là từ câu chuyện Giếng Việt này.

Vùng núi Trâu Sơn nay còn có một ngôi chùa cổ khá lớn mang tên chùa Ma Cô Tiên, nằm ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong. Chùa còn lưu được nhiều bia ký từ thời Lê, nhưng đặc biệt các chữ Ma có trên bia đều bị đục bỏ. Rải rác ở các thôn quanh núi Trâu như ở Phùng Dị, Hữu Bằng có những ngôi miếu nhỏ thờ Ma Cô Tiên.

IMG_4000

Tượng Ma Cô Tiên ở Phùng Dị, xã Ngọc Xá.

Liên quan đến các âm hồn tác quái, truyền thuyết Việt còn có truyện Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, thì có Rùa Vàng hiện lên xưng là sứ giả Thanh Giang. Thanh sứ cho biết, đây là bởi vong hồn của Vương tử đời trước báo thù. Vong hồn này ẩn náu trong núi, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng (Bạch Kê Tinh) hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi, tụ tập gây hại. An Dương Vương cùng thần Kim Qui đi đánh yêu quái, bắt được Bạch Kê Tinh đem giết đi.

Ở núi Thất Diệu, nay thuộc khu vực xã Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh, có ngôi miếu Bạch Kê, trong đó thờ một vị “Mẫu Nghi Thiên Hạ” gọi là Mẫu Bạch Kê. Cùng trên núi đó có đình làng Yên Phụ và ngôi đền Núi cùng thờ đức Vua Bà Ma Vương. Ở đây còn có một cái ao được gọi là Giếng Cô Tiên, gắn với truyền thuyết Bạch Kê và việc xây thành Cổ Loa.

Từ những di tích tín ngưỡng ở núi Yên Phụ có thể thấy Bạch Kê Tinh ở Cổ Loa chính là Ma Cô Tiên, một phi nhân của Ân Vương hay của “Vương tử đời trước” đã báo oán Thục Vương khi xây thành. Làng Ma Lôi có quỷ tinh gà trắng hiện hình vào người con gái chủ quán cũng chính là nói đến vị Ma Cô Tiên.

Truyền thuyết kể, An Dương Vương sau khi diệt được Bạch Kê Tinh liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Xương người chết xưa kia chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng, nên mới hình tượng thành Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh gây hại. Những địa danh như ngã ba Sọ, chợ Chờ, đò Lo ở vùng Yên Phong cũng gắn nỗi ám ảnh của người dân xưa kia khi phải đi qua vùng núi này.

Lịch sử Trung Hoa kể, khi bị quân đội của Vũ Vương nhà Chu, cầm đầu bởi đại tướng là Khương Tử Nha tấn công vào kinh đô Triều Ca, Ân Trụ Vương đã đốt cháy Lộc Đài và nhảy vào biển lửa tự vẫn, chấm dứt thời kỳ nhà Ân Thương kéo dài khoảng 600 năm và đồng thời chấm dứt cuộc chiến giành giật thiên hạ hàng chục năm giữa 2 nhà Ân và Chu với bao nhiêu đổ máu cho cả 2 bên.

Kết thúc cuộc chiến này, các tướng lĩnh đã hy sinh của cả 2 bên đã được vào đưa vào bảng phong thần, trở thành các vị thần có thờ tự. Còn bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng trong cuộc chiến, mà bi thảm nhất chính là cái chết của Trụ Vương, thì được cúng tế trong tục cúng cô hồn. Ngày cúng cô hồn là ngày kinh thành của Ân Vương thất thủ, nước mất, nhà vong.

Tháng 7 là tháng đầu mùa thu theo Âm lịch. Thục Vương hay Chu Vương là thủ lĩnh khu vực phía Tây thiên hạ, lấy mùa thu làm tháng biểu tượng cho triều đại. Khởi đầu mùa thu cũng nghĩa là khởi đầu triều đại phía Tây của nhà Thục hay nhà Chu trong lịch sử.

Cúng cô hồn tháng Bảy hàng năm thực chất là ngày cầu siêu cho nhân dân đói khổ vì chiến tranh loạn lạc, binh sĩ nơi sa trường, đã chết trong cuộc chiến khốc liệt giữa nhà Chu và nhà Ân hay Thục Vương và Hùng Vương của 3000 năm trước. Cũng vì lẽ đó mà nó được gọi là ngày xá tội vong nhân. Sau chiến tranh, những tử sĩ dù là của bên nào cũng đều được xá tội, được hương khói cho siêu thoát các vong hồn. Việc xá tội cho cả kẻ thù bên kia chiến tuyến để có được lòng người, có được sự đại đoàn kết của toàn dân là cái đức của người làm vua, là thiên mệnh giúp quốc gia bền vững. Thiên hạ đại xá để bắt đầu một triều đại mới.

Xã hội phương Đông phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ (thời Ân Thương hay Hùng Vương) sang chế độ phong kiến (nhà Chu hay nhà Thục nước Âu Lạc) đã phải trải qua một cuộc “cách cổ đỉnh tân”, thay cũ đổi mới, thật đắt giá với hàng vạn người đã đầu rơi máu chảy. Tục cúng xá tội vong nhân tháng Bảy thể hiện đạo lý nhân bản, vị tha, cầu sinh, chán ghét chiến tranh. Nó nhắc nhở mọi người không quên những người nghèo khổ đã khuất, những binh sĩ bỏ mình vì nước, bởi không có sự hy sinh của họ thì xã hội đã không thể tiến lên phía trước, chúng ta cũng không thể có cuộc sống an lành ngày hôm nay.

IMG_5360

Chiếc Dữu đựng rượu thời Ân Thương.

Đạo lý này cũng thể hiện qua bài thơ mà Ngự sử đại phu Thôi Vĩ đã đề ở miếu Ân Vương trên núi Trâu:

Thắng thua một cuộc không Ân đức

Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường

Trăm họ một lòng cùng thờ phụng

Xin phù tổ quốc mãi yên phương.

Xa toi vong nhan

Văn tế Hùng Vương ngày 1 tháng 8

Văn tế Hùng Vương ngày 1 tháng 8 của làng Triệu Phú (Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ).

Bát nguyệt sơ nhất nhật văn
Cung duy Thánh vương
Nhật nguyệt chung quang, càn khôn dựng tú.
Thiên khởi Viêm Bang, sơ đầu thánh tổ.
Trị quốc an dân, kiến nghi xã tắc.
Thiết lập kỷ cương, bảo vệ sơn hà.
Lịch kiến quốc tự Xích Quỷ Nam Giao, chí Văn Lang kế tục.
Chí kim sơn hà thượng địa, chư di tích đắc bảo tồn Nghĩa Lĩnh sơn thượng.
Bách tính tử tôn, nhật thiêm đa thịnh vượng.
Dân phú quốc cường, địa bàn thiêm quảng đại.
Hùng Thị thập bát thế tương truyền.
Di dân hương hoả tôn phụng tổ tiên.
Bảo toàn di tích, bảo vệ giang sơn.
Dân tư di chúc, tẩm hiện ngôn truyền, thiên vạn niên bất dị.
Đệ niên dĩ kỳ tái vi lệ.
Thích trị thu thiên, nhật phùng sơ nhất.
Nhân Vương tổ thân chinh thám vấn chư phương thắng trận.
Dân hân hoan tác tịch nghinh vương.
Bài loan nghinh loan giá.
Xướng ca vi lạc, phụng sự Thánh Vương.
Lai nhật quân thần thượng lộ.
Dân hoan hỷ hợp đồng tái tịch.
Kim nhật cáo lễ, kỳ phúc kỳ an, kỳ ủng hộ nhân khang vật thịnh.
Thiên hạ thái bình, thiên tĩnh hải trừng.
Phù hộ quốc điền phong đăng hoà cốc,
Chư nhân đắc an khang trường thọ.
Tư Thánh tổ công ân thiên hải,
Tử tôn nguyện vạn đại bất vong.
Tẩm lại.

Nho văn

八月初一日文
恭惟聖王,日月鍾光,乾坤孕秀.
天啟炎邦,初頭聖祖.
治國安民,建宜社稷.
設立紀綱,保衛山河.
歷建國自赤鬼南交, 至文郎繼續.
至今山河尚地,諸遺跡得保存義嶺山上.
百姓子孫,日添多盛旺.
民富國強,地盤添廣大.
雄氏十八世相傳.
貽民香火尊奉祖先.
保全遺跡,保衛江山.
民思貽嘱,寔現言傳,千万年不易.
遞年以祈賽為例.
適值秋天,日逢初一.
因王祖親征探問諸方勝陣.
民訢歡作席迎王.
排鸞迎鵉 駕.
唱歌為樂,奉事聖王.
來日君臣上路.
民歡喜合仝再席.
今日告礼,祈福祈安,祈擁護人康物盛.
天下太平,天靜海澄.
扶護國田丰登禾穀,
諸人得安康長壽.
思聖祖功恩天海子孫願萬代不忘.
寔賴

Thủa vua Hùng Vương thứ 18…

Sự kiện kết thúc thời đại Hùng Vương thường được kể trong các thần tích tóm tắt như sau:

Hùng Duệ Vương là người có hùng tài đại lược, tư chất thánh minh, kế nghiệp 17 đời Hùng, yên định Trung Quốc. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt về chầu tiên tổ. Chỉ còn 2 công chúa là Tiên Dung được gả cho Chử Đồng Tử và Ngọc Hoa kén được rể là Tản Viên Sơn Thánh.

Khi ấy Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, thừa cơ phát binh từ phương Tây đến tấn công. Sơn Thánh lĩnh mệnh cầm quân, phục kích đánh tan quân Thục ở châu Quỳnh Nhai (Mạn Nhai), khải hoàn trở về.

Mấy năm sau, Thục Vương lại phát 5 đạo quân thủy bộ theo các đường châu Quỳnh Nhai Hoàng Tế, Lạng Sơn Văn Giản, Đại Man, Bố Chính Minh Linh, Hoan Châu Hội Thống tiến đánh Hùng Vương. Lần này Sơn Thánh cùng với 2 vị tả hữu kiên thần là Cao Sơn và Quý Minh dẫn quân đánh vào chính binh quân Thục. Sơn Thánh giả ấn của Thục Vương viết thư gửi tướng Thục lệnh án binh cố thủ. Nhân đó Sơn Thánh đem quân đến thẳng kinh đô Thục tập kích, đại phá được cánh quân chính.

Sau trận thắng này, Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ và khuyên Duệ Vương:

Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của hoàng đế trước đây. Nay thế nước kém thường cũng là chuyện do tiền định. Vua không nên vì yêu một cõi phương Nam mà đối địch với ý trời vậy, làm hại đến sinh linh.

Duệ Vương nghe theo, nhường ngôi lại cho Thục Vương, còn nhân đó đem tặng cả nỏ thần linh quang làm vật bảo quốc. Thục Vương nhận vị, mới về Nghĩa Lĩnh lập miếu đền thờ Hùng Vương… Đồng thời cũng phong thờ cho một loạt các tướng lĩnh công thần của Hùng Duệ Vương, đặc biệt nhiều là ở vùng 2 bên bờ sông Lô như:

– Ở Quế Nham (Đồng Quế, Sông Lô, Vĩnh Phúc): 4 vị đại vương là danh tướng theo Sơn Thánh đánh Thục.

– Ở Hương Lan (Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ): 3 vị Chàng Chấu Linh Lang đại vương, là tùy tòng hầu kiệu của Duệ Vương.

– Ở Bảo Đà (Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ): Tả hữu kiên thần Cao Sơn, Quý Minh và Cương Trực tướng quân…

Que NhamĐình Quế Nham ở Đồng Quế, Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Câu đối ở đình Quế Nham:

Kháng Thục phù Hùng sinh dũng tướng
Tòng Trưng phạt Hán tử linh thần. 

Hiện nay, sự kiện Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương được cho là xảy ra vào quãng năm 257 TCN. Tuy nhiên, đây là sự lẫn lộn với việc nhà Tần (Triệu) đánh phương Nam, diệt Thục vào cùng năm (thời Tần Chiêu Tương Vương). Sự kiện Hùng nhường ngôi cho Thục trên phải xảy ra vào đầu thời kỳ nhà Thục, chứ không phải lúc cuối.

Nhận định như vậy thì chợt nhận ra, việc Thục Vương thay thế Hùng Vương đời cuối chính là sự kiện Chu Văn Vương bắt đầu cuộc chiến đánh giặc Ân ở vùng Bắc Việt. Cụ thể như sau.

Vị vua Hùng đời cuối của dòng theo cha Lạc Long Quân ra biển là vua Trụ nhà Ân Thương. Đế Tân là người có trí lược, dũng mãnh, từng chinh phạt nhiều nơi, nhưng do có tính tình tàn ác, lại chìm đắm trong tửu sắc, giết hại các đại thần nên đã làm cho “Hùng đồ mạt tạo, vận nước cáo chung“.

Tây Bá hầu Cơ Xương là thủ lĩnh đứng đầu các chư hầu miền Tây của nhà Ân. Truyền thuyết Việt gọi là Thục chúa, Bộ chủ Ai Lao. Thục là hướng Tây. Ai Lao là vùng cao nguyên Vân Nam Quý Châu, mà nay vẫn còn dãy núi Ai Lao Sơn ở đó.

Cơ Xương khởi sự không đánh trực tiếp vào kinh đô của Trụ Vương ở An Huy mà đầu tiên đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất phía Bắc xưa của nhà Ân. Vùng này tương ứng với đất Lạc (Lạc = nước là tượng của phương Bắc). Sùng Hầu Hổ trong truyền thuyết Việt được gọi dưới tên Tản Viên Sơn Thánh. Sơn là quẻ Cấn trong Tiên thiên Bát quái, chỉ hướng Bắc. Sùng Hầu Hổ như thế là tiếp nối dòng dõi Lạc Long Quân, có thể gọi là một Lạc Vương ở vùng đất này. Sùng Hầu Hổ được chép thành ra tên của Lạc Long Quân là Sùng Lãm.

IMG_8571Nghi môn đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ.

Là 2 đại thủ lĩnh 2 miền lớn của thiên hạ nên cuộc chiến giữa Tây Bá hầu Cơ Xương và Bắc Bá hầu Sùng Lãm diễn ra một cách ác liệt, với nhiều binh lính, nhiều trận chiến khó khăn, nhiều mưu mẹo như mô tả việc Sơn Thánh đánh Thục trong các thần tích. Chiến trường chính là mạn ngược giữa Bắc Việt và Vân Nam nên thần tích ghi là các châu Quỳnh Nhai, Đại Man, Mộc Châu… Không ít lần quân của Cơ Xương (Thục chúa) đại bại, thậm chí kinh đô Thục ở Ai Lao (Vân Nam) cũng bị đánh phá. Nhưng cuối cùng, sức người không bằng ý trời, Cơ Xương nhờ có lòng nhân đức, bao dung, đã thu phục được nhân tâm và giành thắng lợi. Truyền thuyết kể là Sơn Thánh đã theo mệnh trời mà khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương.

Tin Cơ Xương chiếm được nước Sùng, làm rung chuyển cả kinh đô Triều Ca của Trụ Vương như Kinh Thư kể. Cơ Xương cho dời đô từ miền Tây về đất Phong Châu, tức là vùng Việt Trì ngày nay. Đây là kinh đô của họ Hùng từ thời mở nước của Đế Minh và hẳn cũng là nơi đóng đô của Sơn Thánh – Sùng Hầu Hổ khi đó. Truyền thuyết kể thành việc Thục Vương xây thành ở Việt Trì, lên núi Nghĩa Lĩnh lập miếu điện thờ cúng Hùng Vương…

Như vậy, tục thờ Hùng Vương đã bắt đầu từ thời nhà Thục cách nay 3000 năm. Đền miếu ở Nghĩa Lĩnh là nơi thờ các vị Hùng Vương Thánh tổ đầu tiên gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, chứ không phải thờ Hùng Duệ Vương. Vì “Thục Vương cũng là tông phái của Hoàng đế họ Hùng” nên mới thờ những vị Thánh tổ đầu tiên của họ Hùng. Cơ Xương cũng là người mang họ Cơ, là họ của Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên.

Trieu CoHoành phi Triệu Cơ Vương Tích của đền Hùng (nay để ở đình làng Trẹo, Hy Cương). 

Hoành phi “Triệu Cơ vương tích” ở các nơi thờ vua Hùng tại Nghĩa Lĩnh có nghĩa là: Dấu tích khai mở của vua họ Cơ. Chính chữ Cơ Tích này mà đã đổi thành Cổ Tích, là làng tạo lệ của Hùng Sơn.

Cùng với việc lập miếu thờ Thánh tổ Hùng Vương, Thục Vương Cơ Xương còn chiêu mộ các cựu thần của Hùng Vương (nhà Ân) trước đây. Đối với những người không theo Thục mà trung nghĩa tử tiết, Cơ Xương đều “phong thần”, cho lập miếu thờ tự như những ví dụ ở trên. Chính do có tấm lòng nhân đức này của Cơ Xương mà cơ trời lòng người đã từ Hùng (nhà Ân) sang tay Thục (nhà Chu).

Sự kiện Cơ Xương thu phục được Sùng Hầu Hổ và dời đô về đất Phong, lập nước Âu Lạc, còn được kể trong truyền thuyết Việt với việc Âu Cơ (Cơ Xương) chia tay với Sùng Lãm, về Phong Châu lập ra nước Văn Lang. Văn Lang là gọi theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương. Còn Âu Lạc chỉ việc sát nhập 2 khu vực Âu của Thục Chúa và Lạc của Sơn Thánh.

Nhờ có được nửa thiên hạ 2 miền Tây và Bắc (hướng Nam nay) Trung Hoa mà sau đó con của Cơ Xương là Vũ Vương Cơ Phát đã phát động cuộc chiến quyết tử phá Trụ diệt Ân. Cuộc chiến thần thánh này được sử Việt mô tả trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Cơ Phát được Hùng Vương ngọc phả chép là con trưởng Hùng Quốc Vương, đã lên ngôi thiên tử, tiến hành việc phân chia đất đai trăm họ chư hầu, đặt ra lễ chế trăm quan, phong cho trăm thần, là những tướng lĩnh đã tử trận trong cuộc chiến Hùng – Thục / Ân – Chu kéo dài hàng chục năm. Nước Văn Lang – Âu Lạc trở thành Trung Nguyên của Thiên hạ Trung Hoa, bắt đầu một Hùng triều tiếp theo của dòng họ Hùng, kéo dài hơn 800 năm.

Câu đối ở đình Bảo Đà:

Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch:

Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Tháng Bảy cô hồn là sự kiện gì trong lịch sử?

Theo quan niệm dân gian cứ vào ngày 2/7 âm lịch hằng năm, Diêm Vương sẽ cho mở cửa Quỷ môn quan để cô hồn dạ quỷ được trở về nhân gian. Rồi đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, ma quỷ sẽ bị gọi trở lại địa ngục. Đây cũng là ngày “âm khí xung thiên”. Người ở trần gian sẽ phải cúng cháo, gạo hay muối cho các vong linh…
Còn Truyện giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái cho biết: Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới chân núi Trâu. Hùng Vương cầu cứu với Long Quân, Long Quân hóa thành Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, quân nhà Ân đều thua chạy. Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, bốn mùa đều phải hương khói.
Theo đó, vua Ân chết biến thành vua Địa phủ, tức chính là Diêm Vương, người cho mở Quỷ Môn quan thả các vong hồn lên dương thế vào tháng 7 hàng năm. Từ dữ liệu này có thể nhận định rằng tục cúng cô hồn vào tháng 7 liên quan tới cái chết của vua Ân trong cuộc chiến với Phù Đổng Thiên Vương.
Ở núi Trâu Sơn, hay núi Vũ Ninh nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh vẫn còn những dấu vết trực tiếp của câu chuyện Giếng Việt, với những “hang nhà Ân” như những cung điện ngang dọc trong lòng đất (các mộ gạch cổ). Khu vực núi Vũ Ninh thờ Triệu Vũ Đế, nhưng nhiều khi tượng thờ vua Triệu lại được dân địa phương gọi là “tượng người Ân”.
20191124_092438 (2)
Tượng Triệu Vũ Đế xưa thờ ở Trâu Sơn.
Liên quan đến các âm hồn, truyền thuyết Việt còn có truyện Bạch Kê tinh ở Cổ Loa: Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây.
Tinh Gà trắng hại người ở quán bên chân núi, hàng đêm lại hóa thành con cú bay đậu lên cây chiên đàn, ngậm lá thư kêu Trời, làm cho thành Cổ Loa cứ xây xong lại đổ. Nhờ có Huyền Thiên Lão Tử cử thần Kim Quy đến diệt trừ thì mới dẹp yên.
Miếu Bạch Kê ở núi Thất Diệu nay vẫn còn. Câu đối ở cổng miếu:
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩
Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân.
Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.
Câu đối này coi Bạch Kê là “tiền vương” của Bách Việt.
Bach Ke
Miếu Bạch Kê ở thị trấn Sọ, Yên Phong, Bắc Ninh.  
Đền Bạch Kê nằm ở thị trấn Sọ, cho thấy xương người chết xưa kia ở đây đã chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng… Lĩnh Nam chích quái kể lại việc “khai quật” này khi Thục An Dương Vương xây Cổ Loa: Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông.
Trong lễ tục mở cửa mả, siêu thoát cho người đã khuất cũng có dùng một con gà trống kêu quanh mộ người chết. Kê tinh như thế là biểu tượng cho âm hồn. Mà cụ thể trong truyện ở Cổ Loa, là hiện thân của “con vua đời trước” muốn báo thù cho nước.
Môt liên hệ nữa là bản thân gà trống là chữ Hùng 雄 trong tên Hùng Vương. Kê tinh như thế chỉ oan hồn của vị vua Hùng “đời trước”, đã bị mất nước bởi Thục Vương. Thục An Dương Vương ở Cổ Loa là triều đại mà đã đánh dẹp nhà Ân. Như thế Bạch Kê tinh tức chính là âm hồn của Ân Vương.
Lịch sử kể, khi bị quân đội của Vũ Vương nhà Chu, cầm đầu bởi Khương Tử Nha tấn công vào kinh đô Triều Ca, thì Ân Trụ Vương đã đốt cháy Lộc Đài và nhảy vào biển lửa tự vẫn, chấm dứt thời kỳ nhà Ân Thương kéo dài khoảng 600 năm, chấm dứt cuộc chiến giành thiên hạ hàng chục năm giữa Ân và Chu, với bao nhiêu đổ máu cho cả 2 bên.
Kết thúc cuộc chiến này, các tướng lĩnh đã hy sinh của cả 2 bên đã được vào đưa vào bảng phong thần, trở thành các vị thần có thờ tự. Còn bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng trong cuộc chiến, mà bi thảm nhất chính là cái chết của Trụ Vương, thì được cúng tế trong tục cúng cô hồn.
Ngày rằm tháng 7 theo Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả là ngày hóa của Hùng Huy Vương, húy là Long Tiên Lang. Triều đại tiếp theo là Hùng Ninh Vương, húy là Thừa Văn Lang. Thông tin này khẳng định thêm nhận định về Thương – Chu ở trên. Long Tiên Lang là dòng vua Hùng theo cha Lạc Long Quân ở phía Đông, tức là nhà Ân Thương. Còn Ninh Vương chính là tên của Cơ Phát hay Chu Vũ Vương, người kế thừa nước Văn Lang của Chu Văn Vương, nên có tên là Thừa Văn Lang.
Cúng cô hồn tháng Bảy hàng năm thực chất chính là ngày cầu siêu cho nhân dân đói khổ vì chiến tranh loạn lạc, binh sĩ nơi sa trường, đã chết trong cuộc chiến khốc liệt giữa Chu – Thục Vương và Ân – Hùng Vương của 3000 năm trước.
Xã hội phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ (thời Ân Thương) sang chế độ phong kiến (Chu Văn Lang) đã phải trải qua một cuộc “cách cổ đỉnh tân”, thay cũ đổi mới, thật đắt giá với hàng vạn người đã đầu rơi máu chảy, sọ chất thành núi như ở Cổ Loa.

Sự tích các vị thành hoàng xã Quế Lâm

IMG_0062

Sự tích các vị thành hoàng xã Quế Lâm (nay đổi là xã Quế Trạo)

Năm Hưng Long thứ tư, ngày 15 tháng 1, lương thần phụng sao một cuốn thần tích bản chính.

Chủ bộ quan triều Hùng Chính Lâm Đại vương họ Đặng húy Hồng, cùng với bà họ Trần húy Đoan, sinh một bọc nở được ba người con trai, con đầu tên là Cốt Sơn, thứ hai là Giao Sơn, thứ ba là Húc Sơn. Năm 24 tuổi cùng với cha cùng giúp vua Hùng thứ 18 là Duệ Vương đánh Thục Vương. Bản phả cổ, Trung bộ, hào thứ 6 quẻ Khôn.

Xưa nước Việt ta triều Hùng khai mở thánh đồ, mười tám đời vận đế thánh vua sáng, núi xanh vạn dặm dựng nên dáng đô thành cung điện, giữ phép trị nước hơn hai ngàn năm, mãi mãi giúp dòng dõi vững như bàn đá, mở vật giúp người quản mười lăm bộ, thế lớn mạnh trước phiên thần, hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, lưu truyền hương lửa ở núi Hùng, đời đời cha truyền con nối, cùng xưng tên là Hùng Vương, ngọc trắng xe sách, núi sông thống nhất, chính là tổ của Bách Việt. Người đời sau có thơ ca ngợi rằng:

Triều Hùng một mối các vương hầu

Mười tám đời truyền tên giống nhau

Năm lẻ hai ngàn dòng nhánh mãi

Lệ trời điện đẹp vững dài lâu.

Kể rằng thời cơ đồ họ Hùng mười tám lá truyền tới Duệ Vương đóng đô ở Bạch Hạc bên sông Việt Trì, đặt tên là nước Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Vua có tài hùng mưu lớn, tư chất minh thánh, kế nghiệp tổ dựng tông bồi, vững mạnh mười bảy đời Hùng đồ, trong sửa đức văn, ngoài phòng biên giới, lấy việc hưng bình làm chí hướng mà yên định Trung Quốc. Đương khi đó ở xứ Sơn Tây có một Chủ bộ quan, quê ở xứ Tuyên Quang, người châu Tụ Long, là dòng dõi danh tướng nhà họ Hùng, được Duệ Vương khi ấy phong là Chủ bộ quan. Khi đó triều Hùng yên sự, bồn biển thanh bình. Vua ở quê người núi Tiên, núi sông nước cũ, thấp cao Thần Phù Yên Tử, ngày hồng mây trắng, gió trăng hoa quả lúc lên khi xuống, trên dưới núi xanh nước biếc, bốn biển yên ninh.

Chủ bộ quan cũng đi chu du khắp phong cảnh thiên hạ, núi sông bốn hướng, qua sông ra bến, tản bộ dạo núi. Hoặc lúc đàn reo trúc múa, thơ văn gói cả đất trời, nhạc phượng ca loan, sắc tiếng Bồng Lai, thích gặp khi Tam Giang chủ trương câu cá, đón trăng nơi Ngũ Hồ theo dấu tiên, chơi ngắm tới lúc sương ráng hội cảnh, mây bay vạn hình như cổ, nước chảy quanh núi xanh, cuộn đẹp rời đi như đất trời hé lộ, thánh Nam, thần Bắc, ra vào phong cảnh chốn Trời Nam.

Một ngày Chủ bộ quan đi đến xã Quế Lâm (tức Quế Trạo), huyện Lập Thạch, phủ Tam Đới. Ông thấy xã Quế Lâm có địa thế nước dạt dào, núi vời vợi, đá nghiêng nghiêng, rồng bay hổ giữ, sông vạch núi theo. Phía trước có sông như hình rồng lại chầu. Phía sau có dãy núi cúi phục. Kim tinh dẫn mạch, tất cả đều quay về chầu ở đất này. Khi đó đang mùa xuân, khí trời ấm áp, khắp nơi khoe sắc. Ông nhận thấy là một vùng có thế cục quý giá, mới lập hành cung ở đất này, gọi tên là cung Thưởng Xuân, rồi ở lại đó.

Khi đó Chủ bộ quan lấy một người con gái là dòng dõi đời thứ sáu của họ Hùng, tên là Đạm Nương, lập làm đệ nhất cung phi, rước về cung Thưởng Xuân. Ở được vài năm thì bà Đạm Nương không bệnh mà mất. Lúc đó Chủ bộ quan đã 38 tuổi. Ông xem chọn được đất tốt để chôn cất tại đó (chôn tại đất Đông Thụy). Ông trở về cung ở xã Quế Lâm. Được ba bốn tháng, một hôm Bộ quan đi chơi đến xã Hoa Ngạc. Khi đó xã Hoa Ngạc có một người họ Trần tên Bảo, lấy người ở xã Quế Lâm là bà Nguyễn Thị Đường. Uyên ương hợp bạn, loan phượng vui bầy, tiếng đàn tiếng thơ đẹp vần, chiêng trống múa ca, vẻ mê ngày xuân bướm lượn, tình thư cưu thanh tốt. Thế rồi sinh được một con gái tên là Thụy Nương. Tuổi 20 mặt phấn má đào, ánh sắc như nước, nhan sắc tươi đẹp, phong tư yểu điệu, lại là người có bốn đức công dung ngôn hạnh không thiếu đức nào, thực là Hằng Nga trên thượng thế, là bậc quốc sắc đương thời.

Lúc ấy Chủ bộ quan du ngoạn nơi đất đó (tức là xã Quế Lâm), bỗng gặp Thụy Nương ở trên đường. Nhìn thấy nhan sắc của Thụy Nương, lòng vô cùng thích thú. Ông triệu nhân dân Quế Lâm đến hỏi. Dân nói đó là con gái nhà họ Trần, tuổi đã 24, thơ Đào Yêu chưa có người nghe ngâm. Ông nghe nhân dân nói vậy mới mời triệu ông Bảo đến, đãi tiệc thật hậu, xin được cùng Thụy Nương kết làm vợ chồng. Ông Bảo đồng ý, trở về nhà nói với Thụy Nương. Thụy Nương cũng vui lòng, đợi ngày lành tháng tốt định hôn lễ, sánh duyên lành kết hợp. Bộ quan mới cưới đón về nơi cung Quế Lâm. Được vài năm, tình nồng loan phượng, hòa hợp thư cưu, chú chuyên vào lầu nguyệt, tưởng vui buồn như giấc mộng trên đời, nhã hứng duyên hảo hợp phòng khuê. Tất thêm kỹ duyên tới điềm rắn ấu, ngắm trông điều lành mà chưa hề thấy.

Một hôm đang lúc ngày giỗ tiên tổ, vợ chồng mới cùng nhau than rằng:

– Ngoài ba mươi mà chưa có con là tội lớn bất hiếu. Nhà ta nay tuổi đã cao mà chưa mộng được điềm gấu rắn. Hay là do phạm phải điều dặn dò của cha mẹ, tổ tông nào đó. Chi bằng chia của để cầu phúc, yên được lòng người, trời mới có thương cho.

Do đó mới đem chia hết gia tài vào các đền thần chùa phật, chỗ nào chưa có nơi đều tu sửa, để cầu sinh được con. Khi ấy Bộ quan cho lập một ngôi chùa ở xã Quế Lâm, gọi là chùa Phù Long. Ngày thì tiến cúng hương hoa. Đêm thì tụng niệm chân kinh. Được ba bốn tháng, một hôm buổi tối Ông cùng với Thụy Nương đang ngồi ở trong chùa, cảm thấy mông lung. Bỗng thấy trước chùa có ba quả núi dựng cao, ở giữa có một thần tướng cưỡi hổ đen, đứng trên ba ngọn núi mà gọi Thụy Nương ra, nói rằng:

– Ba quả núi này tên một là Cốt Sơn, một là Giao Sơn, nữa là Húc Sơn. Hôm nay gia đình các ngươi có đức cầu đã nhiều. Ta đem ba ngọn núi này cho nhà các ngươi. Ngày sau tất sinh được ba con trai theo như mệnh này.

Dứt lời, lại thấy ở trên núi có một tiếng động lớn.  Chốc lát trong núi bay ra ba con rồng trắng, bay thẳng đến nằm bên thân Thụy Nương. Thụy Nương giật mình tỉnh dậy, mới biết là một giấc mộng Kê Vàng, tai vừa nghe bầy gà gáy sáng, phương Đông trắng dần. Bèn đem những điều trong mộng kể với Bộ quan. Bộ quan liền nói rằng:

Nhà ta phúc dày nên Trời đã biết thấu đó. Mộng này tất là Trời giáng điềm lành, sẽ sinh được quý tử. Dứt lời, Ông mới ngâm một bài thơ luật:

Tích thiện nhiều năm tất có nền

Hoàng Thiên ứng mộng đẹp cho điềm

Ba rồng chầu đến, tỏ điều tốt

Thêm đức nhà ta mừng sắp nên.

Ngâm xong Ông thuật lại sự việc trong mộng bằng cách viết lên vải lụa để cất cho mai sau. Lại thấy Thụy Nương có mang thai. Mang thai được 13 tháng tới năm Giáp Tý ngày 11 tháng 1. Tối đó Bộ quan nằm ở trong cung sở (tức cung Thưởng Xuân ở xã Quế Lâm), hồi hồi như mộng, bỗng thấy bên ngoài cửa vang lên ba tiếng kêu lớn, gọi Bộ quan rằng:

– Xin hãy mau mở cửa.

Ông bàng hoàng liền mở cửa đi ra. Nhìn khắp nơi không thấy ai, nhìn xa như từ trên trời có khí trời thanh hòa, chỉ thấy một đám mây trắng từ phương Tây bay đến. Trong khoảnh khắc đám mây lại biến mất. Ông lấy đó làm lạ mà không biết là điều gì.

Tới ngày hôm sau (tức ngày 12 tháng 1) mới thấy Thụy Nương sinh được một bọc, nở ra ba người con trai. Lúc đang sinh trên trời có ba tiếng sấm nổ, khí lành bay khắp, mùi hương thơm nức. Sinh được một trăm ngày sau thì Bộ quan theo sự việc trong mộng mới đặt tên người con trưởng là Cốt Sơn, người con thứ là Giao Sơn, người con út là Húc Sơn.

Năm 8 tuổi được vào học với Hiên Đường tiên sinh, xưng rằng:

Đây là một gia đình vững mạnh mới có điều phúc thế này, sinh được những người con trai có học vậy. Có ngày sẽ kiêm toàn văn võ, là những người con làm nổi danh gia đình.

Đến khi 15 tuổi, những người con không có sách vở của bách gia nào chưa xem. Người người cùng gọi là thánh đồng. Lại rất giỏi đấu cung tên, đọc binh sách Thái Công. Mỗi khi ngồi đàm thoại nghị luận, bạn bè hai bên không ai không kinh phục, đều xưng là lạ, cho là kỳ tài trong thiên hạ. Những bậc tuấn tú của thế gian so như kém cỏi. Các vị như rồng gặp mây mưa, những người khác như vật trong ao tù. Nên mới sáng tác một bài thơ vịnh ba ông rằng:

Sông dài bao dẫn hội màu trời

Sinh xuất chân Nho há ở nơi

Khen rộng sớm khuya cao tiếng giá

Cùng như huynh đệ ít trên đời.

Một ngày khí trời trong xanh, mặt trời mới ló, khi đang vui chơi với bạn bè, ba ông có hứng làm bài thơ luật vịnh rằng:

Mặt trời mới ló vạn dặm xuân

Ví như chúng tớ há lo bần?

Râu tóc mắt tai trời nào thiếu

Nam Dương nằm đợi giúp thánh quân.

Khi đó cuộc sống người dân xã Quế Lâm còn hoang sơ, phong tục chưa thuần. Ba ông đã lấy nhân nghĩa là cố kết lòng dân, lấy sự hòa thuận đúc thành mỹ tục. Lại dạy dân làm nông tang, ra sức chuyên cần. Do đó nhân dân được giàu có, phong tục trở nên thuần hậu. Thật là có công lớn với dân.

Khi ba ông tuổi được 22, Thụy Nương tự nhiên bị sốt nóng liên miên, hơn mười ngày dùng thuốc mà không đỡ, cầu khấn không linh hiệu. Thụy Nương mất ở tại nhà. Ba ông liền làm lễ tìm đất tốt chôn cất. Việc cúng tế hương khói trong gia đường ba năm liền, rất đỗi hiếu kính.

Lại rằng, thời đã đến lúc kết thúc, cơ đồ họ Hùng cận cuối. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử, 6 công chúa, đều lần lượt theo về với tiên tổ. Chỉ còn lại 2 người con gái, một tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung, sau được gả cho Chử Đồng Tử. Người thứ hai tên là công chúa Mị Nương Ngọc Hoa. Cung trăng một vẻ, ngọc nhụy đương thì, lương duyên tốt đẹp chưa được định ước. Vua muốn tìm người tài đến lấy để nhường ngôi báu, bèn lập một lầu ở cửa thành Việt Trì, xuống chiếu truyền thần dân thiên hạ, ai có tài trí thông minh, anh hùng đức độ có thể tiếp được ngôi vua thì sẽ gả con gái cho.

Khắp bên sông thuyền bè, trước lầu xe ngựa, viết văn múa võ như hình động rắn rồng, sao đẩu lạc lạnh sông, trận võ về mà kinh hồn hổ báo, một trường sấm sét bay bạt biển. Anh hùng bốn biển trong nước đều lỡ mất duyên kia. Những người có duyên thì đều không có toàn tài, khó xưng đạt ý chỉ. Chỉ có Tản Viên Sơn Thánh, có kỳ tài thông trời thấu đất, phép thuật dời non lấp biển. Vua cho là nhân tài đứng đầu, bèn mời công chúa Ngọc Hoa đến gả cho Tản Viên Sơn Thánh. Khi đó, Vua đã ở ngôi 105 năm.

Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, mới nghe Duệ Vương tuổi trời đã đến lúc, mà 20 hoàng tử đều đã quy tiên, không có người lập trưởng, nên đã thừa cơ âm thầm phát động binh đao, từ phương Tây đến muốn tấn công để chiếm lấy nước này. Vua mới triệu Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh nói rằng:

– Đã hơn hai ngàn năm, mười bảy thánh quân, ơn sâu dày đã thấm vào trong xương tủy lòng người. Nay nước giàu quân mạnh. Oai đức của Bệ hạ vang cả ngoài cõi. Mà người Thục đã không tự thủ giữ, lại dám chống lại thì cơ sự thua bại đã rõ. Một khi Bệ hạ kêu gọi trừ dẹp Thục thì dân ta sẽ đều vì Bệ hạ mà chống lại giặc thù, phá họa này, Thục không thể thắng.

Vua nghe thế vô cùng vui mừng. Ngày hôm đó Sơn Thánh sai sứ đi truyền hịch tới triệu các phiên thần phụ đạo, dẫn quân về triều chống giặc. Một ngày tới xã Quế Lâm. Quan bộ chủ cùng với Ba ông đều được mời đến. Ba ông bèn tập hợp được 78 người dân xã Quế Lâm, 60 người dân xã Quế Nham cùng với binh phu ở huyện và bản bộ binh mã, được năm ngàn người, ngay trong ngày tiến quân hướng về kinh thành để bái yết. Vua thấy Ba ông, tức là con trai của Bộ quan, có tướng mạo đường đường, oai phong lẫm liệt, bèn nói rằng:

– Nước ta trời đã sinh được người con rể Tản Viên Sơn Thánh, thật là bậc thánh thần trên cao, lại có nhiều bậc kỳ tài để bảo hộ cho nhà họ Hùng của ta không gặp họa.

Hôm đó Sơn Thánh cùng với các tướng Bộ quan và Ba ông làm lễ bái tạ lĩnh mệnh, đường đường mà quay về. Người đời sau có thơ vịnh là:

Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ

Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ

Việc công vó ngựa bay trong gió

Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ

Ly biệt một lần chia cách núi

Ruổi rong ngàn dặm tựa như mơ

Kiếm cung từ cổ anh hùng sự

Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Khi quân Thục đã đến núi Mạn Nhai Châu (nay là địa phận miếu Yên Tây), Sơn Thánh cùng với các tướng tiến quân đến bản châu, nổ một tiếng lớn để phát lệnh, lập trận đóng quân ở đó. Sơn Thánh mới sai hai vạn quân mạnh tiến thẳng đến núi Mạn Nhai Châu, ở ngoài xa 50 dặm cho nổi trống khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền đưa 30 vạn quân đến tấn công quân Hùng. Quân Sơn Thánh giả vờ không đánh lại mà chạy về phục ở Thiên Táo. Quân Thục truy kích đến bản châu. Sơn Thánh mới đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn vào đó. Quân phục kích vây lại, đại chiến với tướng Thục. Một trận chém hơn 5.000 quân. Quân Thục thua to, chạy trốn. Ba ông đuổi theo mà chém. Đám quân Thục không thể quay phát binh nữa. Mới gửi tấu về cho Duệ Vương. Vua mới ban chiếu cho rút về. Sơn Thánh và các tường phụng nghênh chiếu triệu hồi, khải hoàn trở về nước bái tạ.

Hôm đó Vua cho giết mổ để khao thưởng tướng sĩ, luận công mà ban thường, phong cho Sơn Thánh là Thượng đẳng thần phụ trách Nhạc phủ.  Phong cho Chủ bộ quan là Chính Lâm Đại vương từ đó (do vậy mà từ đấy xã Quế Lâm đổi thành xã Quế Trạo). Phong cho Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn đều là Đại vương. Từ đó phúc thánh thấm sâu, ơn vua hưởng nặng, có duyên hương lửa sáng rạng.

Một hôm Chính Lâm Đại vương và Ba ông mới xin Vua cho được trở về cung quán. Vua đồng ý. Chính Lâm Đại vương mới trở về mở tiệc khao thưởng quân sĩ (tức ngày 12 tháng 8). Nhân dân xã Quế Lâm làm lễ bái, xin làm thần tử. Khi Chính Lâm Đại vương thọ 78 tuổi thì một hôm bỗng thấy bị đau quặn bụng mà mất (ngày 1 tháng 1. Chính Lâm Đại vương họ Đặng húy Hồng, sinh vào năm Canh Thìn ngày 10 tháng 6, sống thọ được 78 năm thì hóa). Ba ông mới dâng biểu tấu lên triều đình, làm lễ chôn cất, lập miếu ở xứ gò (tức là phần gò Đông Thụy) để phụng thờ về sau.

Lại kể rằng, được 3 năm, Thục Vương lại chuẩn bị cho cuộc chiến, đi xem xét cầu viện các nước láng giềng, chỉnh đốn quân đội trăm vạn, ngựa khỏe tám ngàn, chia thành 5 đạo. Chính binh 30 vạn, 5000 ngựa, theo đường núi Mạn Nhai châu Hoàng Tế mà đi. Đạo thứ hai ở cánh tả quân số 10 vạn, ngựa ngàn con, theo đường núi Lạng Sơn châu Văn Giản mà vào. Hậu quân 20 vạn, ngựa ngàn con, theo đường Đại Man mà đi. Ba đạo ở cánh phải có quân 10 vạn, ngựa 500 con đi theo châu Bố Chính Minh Linh. Một đạo thủy quân tàu thuyền 3000 chiếc, quân thạo thủy chiến 20 vạn tiến theo cửa Hội Thống châu Hoan. Thủy bộ cùng tiến, tiếng quân vang động.

Duệ Vương rất lo lắng, hỏi các đình thần thì đều nhìn nhau không có kế sách gì khả thi. Sơn Thánh mới tâu rằng:

– Trước đây Thục Vương ngông cuồng đã dẫn quân, tưởng oai như trời, xuất binh lẫm liệt, nhưng thất bại thảm hại. Hoàng đế Bệ hạ đã khoan hồng độ lượng, miễn cho không lật tổ phá đô. Nay lại không biết hối cải, tội muốn tái chiếm cơ đồ. Như thế trời đã định chắc phải vong vậy. Bệ hạ không phải lo nữa. Hiện nay đầu tiên cần bảo vệ thánh giá. Thần xin được lĩnh các tướng tài cùng với 30 vạn quân mạnh. Thiên hạ khắc sẽ được được định đoạt.

Vua đồng ý. Như vậy, Sơn Thánh điều hai vị tả hữu kiên thần ở động Lăng Sương trợ giúp. Lại truyền hịch triệu Ba ông dẫn quân theo đánh trận. Ba ông nghe hịch bèn chỉnh đốn binh mã đến hội quân với Sơn Thánh. Hôm đó, Ba ông đến gặp đại binh của Sơn Thánh tiến tới địa phận xã Lãng Sơn ở cùng huyện. Các ông bèn điều động nhân dân (nhân dân xã Quế Lâm) cùng với các binh sĩ từ cung sở của mình đến để làm lễ đón tiếp, xin được theo ra chinh chiến (Sau này hai xã Lãng Sơn, Quế Lâm mỗi năm ngày 27 tháng 8 quét dọn từ chốn đình ra đến bãi triền để hội tế, mổ trâu và ca hát vui chơi để tưởng nhớ sự tích Ba vị Đại vương làm lễ đón Sơn Thánh vậy).

Sơn Thánh cùng với hai vị thần tả hữu và Tam công Đại vương dẫn quân tiến thẳng đến kinh đô Thục cùng đánh chặn, thế như sấm sét. Sơn Thánh mới cử Tam công đánh hậu binh của quân Thục. Ba ông đánh một trận đại phá, bắt được một số quân Thục thì quay về giao hiến cho Sơn Thánh. Sơn Thánh mới giả viết một bức thư của Thục Vương, sai một quân địch đã đầu hàng biết việc, tự xưng là do Thục Vương sai khiến, cưỡi ngựa đưa đến đồn của cánh quân chính, mang thư cho tướng Thục rằng: Phía bên quân nhà Hùng có một thần nhân. Lệnh cho tướng quân phụng mệnh đến đánh nước người, chớ nên khinh động. Đợi có thư báo lại thì mới quyết định.

Tướng Thục từ khi nhận được thư đó lại tăng thêm phòng thủ. Từ đó khi các cánh quân giao chiến đều không dâng thư báo gấp về. Sơn Thánh mới tiến quân ngày đêm hơn 50 dặm đến thẳng kinh đô của Thục, chia quân tập kích. Nước Thục cáo cấp không ngừng. Sơn Thánh ước sách thần, hô gậy thần, đại phá được tướng cánh chính của địch. Binh mã đều bị bắt sống cả. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên chạy tan tác. Ba ông bèn truy sát, chém được ngàn đầu, treo dưới cổ ngựa. Quân Thục bị phá tan, chạy trốn về phương Bắc. Nhờ đó, Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch cánh quân chính của địch, rồi binh mã trở về kinh tấu báo.

Hôm đó Vua bèn nhường ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Nhân đó dâng lời can Vua rằng:

18 triều Hùng đều cơ căn cơ của lòng trời. Nay xem Bệ hạ sinh được 20 hoàng tử, đều đã thoát đi phiêu du chốn Bồng Lãng, không còn ở trên trần thế để mong kế tục ngôi vị. Đó là cơ đồ nhà Hùng đã mạt, vận nước kết hồi, ý trời quả nhiên như vậy, nay biết làm sao. Thục Vương vốn là Bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái của nhà họ Hùng. Vua không nên vì mến một cảnh phương Nam mà cưỡng lại ý trời. Chi bằng triệu Thục Vương đến truyền lại ngôi sự. Còn thần xin cùng Bệ hạ chuyên vào thuật thần tiên, hưởng một cuộc sống thân ở chốn Lãng Uyển, Bồng Hồ, trường xuân sánh cùng năm tháng. Lầu rồng gác phượng chẳng nhiễm bụi trần. Non xanh nước biếc thưởng ngoạn. Quân tử vui vầy là vậy!

Vua nghe lời nói ấy liền triệu Thục Vương đến nhường ngôi cho.

Lại kể rằng Tam Công nghe chính lệnh về việc Vua nhường nước cho Thục bèn tạ triều đình xin được về cung sở an nhàn. Vua bèn thưởng cho 500 hốt vàng. Từ đó Tam Công chu du bốn biển, hoặc lúc bắt thỏ săn cáo, ngăm trăng sáng trên dòng nước, hoặc lúc làm ruộng, săn bắt, gió mát ngoài bãi triền. Một hôm Tam Công trở về chốn cung sở. Hôm ấy nhân dân đến lễ bái. Ba ông mới bày tiệc ở từ đường ngoài gò, làm lễ báo yết. Xong việc mới mời nhân dân phụ lão xã Quế Lâm đến uống rượu. Rót rượu mà nói với nhân dân rằng:

– Chúng tôi cùng với dân đã thành nghĩa lâu năm, không thể chỉ một ngày mà mất đi. Nay chúng tôi là những danh tướng của triều Hùng, không phải gia thần của chúa Thục. Bây giờ hoàng gia đã nhường ngôi cho Thục, tức là mọi nơi nhân dân đều là chỗ của chúa Thục. Thục chúa nhận ngôi tất sẽ triệu các cự thần, dòng dõi hoàng gia về giao việc. Chúng tôi chắc cũng sẽ bị gọi. Thờ 2 chủ là bất trung. Chúng tôi thà giao du ở núi trúc rừng đào, chứ không thể vì Thục. Chúng tôi có cung sở ở đây, là để phụng thờ cha mẹ tổ tiên. Sau này chúng tôi ngoài trăm tuổi, xin nhân dân cũng phụng thờ chung cho một chỗ. Lại có 500 hốt vàng ở đây xin gửi nhân dân dùng bày tỏ tấm lòng, để sau này làm việc hương lửa, cúng thần có chỗ cầu chúc vậy.

Nhân dân phụ lão đều nhận mệnh bái tạ. Tiệc xong, Ba ông mới vịnh một bài thơ rằng:

Một nhà tụ hội giáo tinh thần

Vạn cổ hương đèn tại xã dân

Ấy đó khi say vui lời rượu

Tình lưu thôn ấp muôn năm xuân.

Ngâm xong, ngày hôm sau bỗng thấy một đám mây trắng đên ở trên chỗ cung. Chốc lát gió mưa như sấm sét nổi lên. Lại thấy trên giữa cung có ba tiếng gọi lớn, kêu Ba ông nhanh chóng trở về lên Thiên đình (tức là ngày 19 tháng 11). Ba ông cùng hóa.

Hôm đó xã Quế Lâm đều ra ngoài nghênh đón Tam Công về cùng chôn cốt ở lăng Chính Lâm, tức lăng Đông Thụy. Chôn cất xong nhân dân lập miếu cùng với Chính Lâm Đại vương để thờ một chỗ. Xong xuôi, nhân dân làm lễ an vị. Khi đang làm lễ bỗng thấy sứ giả Thục đến triệu Tam Công. Thấy nhân dân đều đang việc tang, sứ thần bèn làm lễ bái tạ, gia phong Thượng đẳng thần. Khi ấy bỗng nhiên trời đất u ám, kinh trời động đất, trên gác nghe tiếng ầm ầm như sấm sét sắp nổi lên. Sứ thần mới biết đó là rất linh dị, bèn về triều tâu với Thục Vương. Thục Vương bèn theo mỹ tục của triều Hùng (tức là coi Tam Công đúng là trung thần) mà phong tặng sắc chỉ, cho đem về nhân dân được bảo hộ ở xã Quế Lâm để phụng thờ hương lửa, vạn đời cùng thịnh với đất nước. Gia phong các tên hiệu chức vị là Chính Lâm Đại vương, Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn cùng là Đại vương. Còn như Quế Lâm, Quế Nham truyền đời sự tích, xã Hoa Ngạc có miếu thờ. Còn các xã có thờ phụng cộng tất cả 36 xã.

Lại kể rằng thời Trưng nữ vương tên Trắc, là bậc thượng thánh thần, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh trừ Tô Định, có hành quân qua chỗ cung Quế Lâm, trú đêm tại đây, truyền cho quân làm lễ cầu đảo ở cung Quế Lâm nơi chính đền phụng thờ 4 vị đại vương. Tối ấy, Trưng Vương lưu nghỉ ở trong cung. Tới nửa đêm mơ màng như mộng, bỗng thấy 4 người từ phương Tây đến, một người cưỡi hổ đen còn ba người cưỡi hổ trắng, thân mặc áo vàng áo trắng. Theo sau có binh sĩ giáo mác hàng ngàn, cờ xí rợp trời, tinh khí khắp đất, đến hội đứng trước Trưng nữ vương, tự nguyện phù giúp dẹp giặc, ra trận giúp nước. Vua Trưng mới hỏi tính danh thì tự xưng là Chính Lâm Đại vương và các Đại vương Cốt Sơn, Giao Sơn, Húc Sơn,

Là phúc thần của xã Quế Lâm. Vừa dứt lời thì bỗng tỉnh lại, mới biết là mộng, nghĩ là điềm tất thành công. Bèn làm lễ bái, khởi binh tiến đánh một trận. Tô Định đại bại, chạy trốn. Trưng nữ vương lên ngôi mới bao phong là Chính Lâm Phù vận Hộ quốc, lại phong Cốt Sơn Anh linh Dực thánh, phong Giao Sơn Tế thế Hiển ứng, phong Húc Sơn Hùng lược An dân là các Đại vương cùng quốc gia hưởng phúc. Lại ban sắc chỉ về trùng tu miếu điện, sai sứ thần đến tế, bốn mùa hương lửa, vạn đời không ngừng. Từ đó về sau, nước cầu dân cúng, đều rất linh thiêng, có nhiều linh ứng. Sau này các đời đế vương có phong thêm mĩ tự, vạn đời hưởng cúng cùng với trời đất mãi còn.

Thật tốt thay! Đẹp thay!

Cuối cùng:

Chính Lâm Đại vương, ngày sinh là ngày 1 tháng 1, ngày hóa là 10 tháng 6.

Tam công Đại vương, ngày sinh là ngày 12 tháng 1, ngày hóa là ngày 19 tháng 11.

Ngày 27 tháng 8 Tam Công làm lễ bái đón Tản Viên tại chốn bãi bằng tiếp giáp với xã Lãng Sơn. Hàng năm đúng ngày tháng đó hai xã Quế Lâm, Lãng Sơn làm lễ tới chỗ bãi đó cúng tế. Trên bày bài vị Tản Viên Sơn Thánh. Bên trái là bài vị của Tam công Đại vương. Bên phải là bài vị của một vị thành hoàng Đại vương của xã Lãng Sơn.

IMG_0065

Có bao nhiêu nhà Thục trong sử Việt?

Ngày nay học sinh sinh viên Việt Nam học sử Việt, được giảng: Thục An Dương Vương là người đã thay thế Hùng Vương lập ra nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa, rồi bị Triệu Đà sai con là Trọng Thủy đến lừa lấy mất lẫy nỏ thần, nên phải đường cùng mà tự vẫn ngoài biển Đông… Cao cấp hơn một chút, các giáo sư lịch sử sẽ “hé lộ” phát kiến mới chưa từng được sử sách nào ghi lại… là chuyện Thục Phán được các Lạc hầu Lạc tướng tôn lên làm “người Tuấn kiệt”, kháng chiến chống đại quân Tần thắng lợi…
Việc quy kết tất cả các chuyện nói đến Thục Vương đều vào một thời gian khi thời đại Hùng Vương kết thúc là một sự lạc lối hết sức lớn của cổ sử Việt. Nếu Hùng Vương có tới 18 chi nhánh (18 triều đại) thì liệu Thục Vương có thể chỉ là 1 người được hay sao?
Thục thực ra là danh từ chỉ phía Tây vì:
– Thục = Thụt, là hướng mặt trời lặn.
– Thục nghĩa là Chín (thành thục), chỉ số 9, con số của hướng Tây.
Ví dụ nước Ấn Độ được gọi là Tây Trúc hay Đại Thực đều là những từ phiên thiết của chữ Thục mà ra, chỉ nước ở phía Tây Trung Hoa.
Vì Thục nghĩa là phía Tây, nên Thục Vương có nghĩa là Tây Vương, không phải là tên 1 người hay một dòng họ, mà là một danh xưng của các triều đại lập quốc ở phía Tây Trung Hoa xưa. Do đó, không phải chỉ có 1 Thục Vương, mà là có hàng loạt các triều đại Thục khác nhau trong sử Việt.
Hơn nữa, các sách vở đều ghi, Thục Vương là dòng dõi hoàng đế đời trước của Hùng Vương. Như vậy, việc Thục Vương kế vị (Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Vương) là chuyện tự nhiên và quan trọng hơn, khi đó Thục Vương lại trở thành một triều đại Hùng Vương kế tiếp.
Với cách nhìn nhận như vậy, xem hết trong sử sách nước ta, có ít nhất những thời kỳ sau có nói tới Thục:
1. Trong sự tích của Quốc mẫu Tây Thiên kể, bà đã tụ họp quân dân ở vùng Đại Đình, Tam Đảo kéo về Phong Châu giúp vua Hùng dẹp tan giặc Thục. Do đó, bà đã được phong là Tam Đảo sơn Trụ quốc Mẫu, đời đời tôn là người mẹ nguyên tổ của cả dân tộc họ Hùng. Giặc Thục ở thời kỳ này là tộc Cửu Lê do Xuy Vưu cầm đầu, đã được Hiên Viên Hữu Hùng Hoàng Đế (Đế Minh) dẹp nhờ sự giúp đỡ của Cửu Thiên Huyền Nữ (Tây Thiên Quốc mẫu). Sự kiện diễn ra ở thời khởi sử 5000 năm trước của Hồng Bàng Thị.

Câu đối ở đền Hóa Tây Thiên:
Vô sinh thiên hạ giai xưng mẫu

Phù Hùng tảo tặc hiệu thánh thần.

Dịch nghĩa:
Tự không thiên hạ đều xưng mẫu

Giúp Hùng dẹp giặc gọi thánh thần.

Dai LuNghi môn đền Đại Lữ, nơi Tây Thiên quốc mẫu hội quân với vua Hùng. Vế đối chữ Nôm còn ghi: Phù Hùng thắng Thục giữ trời Nam. 

2. Trận chiến Hùng – Thục thứ hai được kể trong sự tích Vĩnh Công Bát Hải Động Đình đánh Thục cùng với các vị quan lớn. Trong lần này, phần thắng thuộc về Hùng Vương, tức là dòng phía Đông (Động Đình) thắng dòng phía Tây. Đây cũng là chuyện Lạc Long Quân đánh nhau với Đế Lai khi bắt Âu Cơ vì vua cha Bát Hải đứng đầu Thoải phủ là Lạc Long Quân. Trong Hoa sử thì đây là cuộc chiến giữa Hạ Khải, con của Đại Vũ, đã đánh đuổi ông Bá Ích giành quyền cai quản thiên hạ. Sự kiện này đánh dấu mốc thời kỳ lịch sử theo chế độ phụ đạo, cha truyền con nối (Đại Vũ cho Hạ Khải hay Kinh Dương Vương cho Lạc Long Quân) ở quãng 4000 năm trước. Có thể gọi thời kỳ này là Việt Thường Thị.

Câu đối ở điện thờ vua cha Bát Hải tại đền Đồng Bằng:
Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu
Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu.

Dịch nghĩa:
Trải triều đại thịnh dày năm xưa, đúng đây hội tục Á Âu, màn uy còn tại tiết thu cửa biển
Dẹp quân Thục công đầu tiếng nổi, đẹp thay Lạc Hồng sông núi, bia đá mãi sáng nơi miếu Động Đào.

Dong Bang
Nghi môn đền Đồng Bằng với dòng chữ Bát Hải Động Đình.

 

3. Dòng dõi ông Bá Ích hay Đế Lai (Âu Cơ) buộc phải “dắt nhau” lên núi, tức là di cư về phía Tây, nên được gọi là Thục. Khoảng 1000 năm sau, hậu duệ của dòng này được kể là vị con trai trưởng Hùng Quốc Vương đã lên ngôi Thiên tử ở đất Phong Châu, sau khi đã giành thắng lợi trước dòng Hùng ở phía Đông (từ nhánh Lạc Long Quân đi khai phá miền biển). Hùng Quốc Vương lập nước Văn Lang, phân phong cho các anh em và các công thần ở các nước chư hầu phiên dậu, mỗi chư hầu được quyền cha truyền con nối gọi là Phụ đạo, đặt ra trăm họ cho các nước chư hầu được phong, đặt ra lễ chế triều đình trăm quan, phong cho trăm thần. Trong Hoa sử đây là khi nhà Chu ở phía Tây (do Tây Bá Hầu Cơ Xương khởi sự) đánh bại nhà Ân Thương ở phía Đông, lập ra thiên hạ Trung Hoa trăm nước Bách Việt.

Câu đối ở đình Bảo Đà (Việt Trì):
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch nghĩa:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Au Co
Đền mẫu Âu Cơ ở Hạ Hòa. 
 

 4. Nhà Chu ban đầu đóng đô ở phía Tây nên gọi là thời Tây Chu. Tới thời Chu U Vương, do vua Chu thất đức, quân Khuyển Nhung làm loạn, nên buộc phải dời đô về phía Đông, bắt đầu thời kỳ Đông Chu. Đánh dấu sự kiện này là việc vua Chu xây thành ở Lạc Dương mà được sử Việt kể Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, với sự giúp đỡ của Huyền Thiên Lão Tử, cử thần Kim Quy đến diệt trừ Bạch Kê Tinh, là oan hồn của đời trước (của thời nhà Ân – dòng Hùng Vương phía Đông). Sự kiện dời đô xây thành ở Đông Ngàn Cổ Loa xảy ra vào quãng thế kỷ 8 trước Công nguyên.

Câu đối ở đình Thổ Hà, nơi thờ Lão Tử:
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch nghĩa:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ chốn thanh hư, mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Ngu mon
Ngũ môn đền Sái ở Đông Anh, nơi Huyền Thiên cử Kim Quy diệt Kê tinh.

5. Cuối thời Đông Chu, chư hầu mạnh nhất ở phía Tây là nước Tần bắt đầu thôn tính cả thiên hạ. Trung tâm nước Tần khi đó nằm ở vùng Tứ Xuyên, tức là đất Xuyên Thục, phía Tây Bắc thiên hạ Trung Hoa. Do đó Tần chúa cũng được gọi là Thục Vương. Tần chúa ban đầu thôn tính đất đai phần Tây Chu, tức là vùng cao nguyên Vân Quý mà được sử Việt gọi là đất Ai Lao. Tần chiếm được vùng này, trở thành “bộ chủ Ai Lao” như trong Ngọc phả Hùng Vương đã chép. Sau đó, Tần Chiêu Tương Vương mới tấn công chiếm nốt đất Đông Chu ở miền Bắc Việt Nam, đuổi dòng họ Cơ của vua Chu về một khu đất nhỏ, gọi là Đông Chu Quân. Đất của Đông Chu Quân khả năng là ở miền Trung Việt, nơi mà theo truyền thuyết An Dương Vương đã đi vào biển về với thần Kim Quy. Tần thay thế vua Chu làm Thiên tử của Thiên hạ Trung Hoa, được sử Việt gọi là An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc. Tới đời Tần Thủy Hoàng, chế độ Thiên tử – Chư hầu bị bãi bỏ, thay vào đó theo kế sách của Lý Tư, Thủy Hoàng đã lập quận huyện thống nhất quản lý trên toàn lãnh thổ. Thời kỳ phong kiến của nhà Chu (nước Văn Lang của Hùng Vương) đã chấm dứt, thay bằng một thời kỳ quốc gia thống nhất, vào năm 257 TCN.

Câu đối ở đền Cổ Loa:
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà thượng cố cung.

Dịch nghĩa:
Thông bách lăng Chiêu giờ đâu nhỉ?
Non sông nước Thục đó cung xưa.

Co Loa
Cửa võng đền Cổ Loa.

Tới đây ta nhận thấy, cuộc chiến giữa Hùng – Thục hay hai dòng Đông – Tây chính đã tạo nên sự phát triển chế độ xã hội Trung Hoa (Việt), là những nấc thang trên con đường tiến hóa của lịch sử phương Đông. (Hùng – Thục) = (Đông – Tây) = (Âu – Lạc) = (Rồng – Tiên) là cặp lưỡng lập, âm dương tăng trưởng không ngừng.
Trong các thần tích Việt, còn có sự kiện Tản Viên Sơn Thánh cùng các tướng lĩnh đánh Thục. Đây khả năng là sự kiện thứ 3 nêu trên, khi Thục Vương – Tây Bá Hầu Cơ Xương (Âu Cơ) đánh nước Sùng của Sùng Hầu Hổ (Sùng Lãm). Sử Việt kể Hùng Vương sau nhiều trận chiến với sự trợ giúp của Sơn Thánh đã nhường lại ngôi vị cho Thục Vương.
Ngoài ra, còn một thời kỳ Thục nữa là thời Tây Thục của Lưu Bị, mà khi đó phần Tây của miền Bắc Việt do Mạnh Hoạch cai quản, là một khu tự trị của nhà Tây Thục. Khu vực Tây Bắc sau đó đã không bị nhà Tấn chiếm được, tồn tại mãi dưới tên Hậu Lý Nam Đế, kéo dài tới thời Tùy mới nhập lại với quốc gia Trung Hoa, để rồi sau đó thời gian ngắn lại tách ra thành nước Nam Chiếu nổi tiếng trong sử cận đại.

LỜI RU KHÔNG QUÊN VỀ NÚI THÁI CÔNG CHA VÀ SUỐI NGUỒN NGHĨA MẸ

Từ thuở lọt lòng, tôi đã được nghe câu ca dao ngọt lành như hương lúa:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Câu ca dao xưa nay đã trở thành làn điệu ru con phổ biến ở vùng Bắc Bộ. Nhưng có lẽ không chỉ riêng ở miền Bắc mà người mẹ, người con nào trên đất Việt cũng thuộc nằm lòng lời ru bao đời này. Tuy nhiên, mấy ai hiểu rõ, ngọn núi Thái công Cha và dòng suối Nguồn nghĩa Mẹ trong câu ca dao là ở đâu? Lời ru của cha, của mẹ ấy nhắn gửi tới chúng ta điều gì?

Suoi Cuu tuyen

Suối Bát Nhã đoạn trên đỉnh Phù Nghi, Tam Đảo.

1. Tiếp tục đàm đạo với sư thầy Tâm Hiệp về hành trình khám phá và vén những lớp sương mờ của thời gian để tìm về nguồn cội. Lần này, những gì sư thầy Tâm Hiệp cho tôi biết về câu ca dao công cha nghĩa mẹ, thực sự đã làm tôi bất ngờ và ngạc nhiên bởi sự mộc mạc nhưng chân xác của những thông điệp mà tiền nhân người Việt đã để lại.

Thầy Tâm Hiệp giải thích, trong câu ca dao này Cha và Mẹ là nguồn cội của người Việt, là những người đã dựng nên đất nước này, dân tộc này. Vì thế đây là những vị vua Hùng đầu tiên của người Việt mà sự tôn thờ họ đã được lưu truyền trong các bản Ngọc phả Hùng Vương cũng như trong các di tích tín ngưỡng bao đời nay trên mảnh đất Việt này.

Tuong DNCS

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở xã Hiền Lương.

Hiện nay tại xã Hiền Lương của huyện Hạ Hòa, Phú Thọ còn giữ được một pho tượng thờ vua Hùng đầu tiên là đức Đột Ngột Cao Sơn. Bức tượng này được thể hiện một cách uy nghi, Vua ngự trên long ngai bệ sư, đầu đội mũ bình thiên hình vuông, trán miện có hình mặt trời rực rỡ, khoác áo cổn có vẽ rồng chầu, hổ phục, phượng vũ, trang hoàng bằng hình sóng nước, núi non, hoa lá và cả chữ viết nữa. Hai tay đức vua chắp lại, cầm ngọc khuê. Đây có lẽ là bức tượng Hùng Vương cổ nhất còn bảo tồn tới nay. Xã Hiền Lương cũng là nơi có đền thờ Mẫu, mà bức tượng mẹ Âu Cơ trong đó đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Bức tượng Đột Ngột Cao Sơn ở đây được tạo tác cùng thời với tượng mẹ Âu Cơ, quãng vào đầu triều Nguyễn.

Theo thầy Tâm Hiệp, công Cha là công đức sáng lập của các vua Hùng. Vậy ngọn núi Thái của các vua Hùng là ở đâu? Bản Nam Việt Hùng Vương sử ký kể chuyện đức vua cha Lạc Long Quân khi đang còn là Thái tử như sau:

“Thái tử lên núi tìm kiếm mạch rồng, đến châu Thu Vật, châu Tụ Long ở xứ Tuyên Quang, nhận thấy mạch đất rồng chạy đến, Nghĩa Lĩnh đúc thiêng. Lại qua giáp với thượng lưu sông Hoàng, sông Nhị. Đầu sông Hán, sông Lô là đầu nguồn nước một nhánh sâu thẳm, dẫn mạch nước Nam. Tạo dưỡng hai mạch rồng chạy tới từ châu Bảo Lạc núi Côn Lôn, trên dưới hai đỉnh, cho đến Ải Môn Thủy Đỗ. Mạch từ Ngũ Nhạc, Côn Lôn Thái tổ của đất nước, là đất tổ Linh Sơn Phong Thứu.

Trăm vạn đầu núi dựa Đông Tây Nam Bắc, giống như bầy con. Lấy Côn Lôn Ngũ Nhạc Đại quốc làm núi Thái tổ cha mẹ, cùng đầu núi góc biển vạn nước, trùng trùng các nhánh, một mối quy đồng.

Ngọc phả này cho biết ngọn núi tổ của người Việt là núi Côn Lôn Ngũ Nhạc ở vùng Bắc Việt ngày nay. Núi này chạy từ ải môn cửa sông Hồng (Vân Nam – Lào Cai) qua Tuyên Quang đổ về Việt Trì. Tức là Côn Lôn Ngũ Lĩnh là dải núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, nơi có đỉnh Phan Xi Păng cao hơn 3.452m, được ví như nóc nhà Đông Dương.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền cũng ghi: “Đời đời các triều vua giữ quyền chính, khi thay tên sửa chỗ cho cơ đồ, đều có xe loan ngự giá đến điện Hùng Vương trên núi, phụng tế trời đất, đốt lửa vọng về núi Thái để tế các bậc tiền hoàng đế tiên vương đời trước cùng trăm thần nước Nam.

Các đời vua khi lên ngôi đều lên núi Nghĩa Lĩnh ở Việt Trì mà hướng vọng Thái Sơn. Ngọn Thái Sơn núi tổ người Việt là dải núi Hoàng Liên vời vợi. Câu ca dao lưu truyền của cha ông chắc chắn không ví công cha với ngọn núi nào ở tận phương Bắc, không có liên hệ gì với nguồn gốc người Việt.

2. Ngọn núi Thái tổ công cha người Việt là dãy núi Hoàng Liên, nơi các vua Hùng mở nước. Vậy còn dòng suối nguồn nghĩa mẹ là ở đâu?

Thầy Tâm Hiệp kể, cách đây không lâu, thầy cùng với Nhóm nghiên cứu di sản Đền miếu Việt đã có dịp khảo sát kỹ lưỡng khu vực núi Tam Đảo là nơi có tục thờ Tây Thiên quốc mẫu. Khi đến hành lễ tại đền Hóa ở xã Đại Đình, Nhóm đã bất ngờ phát hiện trong khám thờ Quốc mẫu còn lưu giữ một cuốn ngọc phả chữ Nho chép tay có tựa đề Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ. Đây là một ngọc phả hiếm có vì trong hầu hết các nơi thờ quốc mẫu Tây Thiên hiện nay đều không còn lưu lại được thần tích chữ Nho.

Ngoc pha Tay Thien

Bản Ngọc phả Quốc Mẫu Tây Thiên ở đền Hóa.

Khác với Ngọc phả Hùng Vương ở Phú Thọ, bản Ngọc phả đền Hóa Tây Thiên kể lại sự tích vị quốc mẫu có tên Thẩm, húy là Nhược Cảm. Đức quốc mẫu giáng sinh ở thôn Đông Lộ chân núi Tam Đảo. Khi đất nước có giặc, bà đã tập hợp quân binh trong vùng, kéo về Phong Châu giúp vua Hùng dẹp yên giặc dữ. Do có công phù Hùng diệt Ngô Thục nên bà được phong là Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu, tức là vị mẫu trụ quốc họ Hùng ở núi Tam Đảo.

Cũng ngay ở chính điện tiền tế của đền Hóa Tây Thiên có một đôi câu đối đặc biệt:

Nghĩa Lĩnh Cao Sơn phụ lập quốc

Bát Tuyền trường thủy mẫu nghĩa dân.

Ý nghĩa của câu đối này hoàn toàn tương đồng với câu ca dao về công cha nghĩa mẹ, nhưng cung cấp những chỉ dẫn rõ ràng hơn. Theo đó, Nghĩa Lĩnh là ngọn núi có đền Hùng, nơi thờ đức Đột Ngột Cao Sơn. Cao Sơn là vị Thái tổ đã lập ra quốc gia họ Hùng. Núi Nghĩa Lĩnh như thế chính là ngọn Thái Sơn của người Việt.

“Bát tuyền” là con suối mang tên Bát Nhã, bắt nguồn từ trên đỉnh Phù Nghi của núi Tam Đảo, chảy qua 9 khúc suối thì tới chân núi. Dòng suối này nước trong vắt, quanh năm không bao giờ cạn, được gọi là “cửu khúc hồi hoàn” hay là suối Cửu tuyền. Đây là dòng suối nguồn gắn liền với sự tích Mẹ Tây Thiên, đã tụ nghĩa giúp muôn dân trong buổi đầu dựng nước. Lấy theo tên núi Phù Nghi thì dòng suối Nghĩa là dòng suối linh thiêng, mạch nguồn của dân tộc, chảy từ trên Trời (ngọn Kim Thiên là đỉnh cao nhất của núi Tam Đảo) hàng ngàn năm qua vẫn không ngừng tuôn chảy.

Bia Bat Nha tuyen

Tảng đá có khắc bia “Bát Nhã tuyền” bên dòng suối ở đỉnh Phù Nghi, Tam Đảo.

3. Núi Nghĩa Lĩnh còn đền thờ cha Cao Sơn và dòng suối nguồn Cửu tuyền từ đỉnh Phù Nghĩa đến nay vẫn là nơi thờ mẹ. Câu ca dao mộc mạc, gần gũi mà thực thà giản dị như ngọn nguồn lịch sử dân tộc mình. Chính bởi nếp sống trọng về ân nghĩa, lấy hiếu đạo làm nền tảng mà ông cha ta đã đời đời thờ phụng, thương tưởng và kính ngưỡng tổ tiên. Nếp sống ấy từ bao đời nay được tiền nhân trao truyền và cháu con tiếp nối, trở thành nếp nhà với ban thờ gia tiên và sự sum vầy đoàn tụ trong những ngày lễ kỵ, trở thành nếp làng xã nơi đình, đền, miếu và các lễ hội. Rồi nó lại trở thành nếp sống của cả dân tộc với việc thờ kính vị quốc tổ Hùng Vương ngàn đời.

Cả dân tộc gọi nhau là anh em, chú bác, cháu con như một đại gia đình cùng chung một mẹ cha. Người Việt có chung một đạo, chính là Đạo Hiếu, làm nền tảng cho việc hình thành tinh hoa văn hóa Việt. Cho nên, mới có câu “Ly hương, bất ly tổ”, hay “Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn có mắt ông cha không thờ”. “Đạo nhà” là nếp sống, là hồn nước và tính dân tộc của người Việt. Cũng nhờ ở quan niệm vì kính ngưỡng, thương tưởng mà lập ra thờ tự nên có những mảng ghép lịch sử xa xưa thật may mắn vẫn còn lưu lại được đến ngày nay qua. Lịch sử từ thời Cha sinh Mẹ đẻ vẫn như còn sống động qua từng di tích.

Minh Thi

335