Vương quốc Lĩnh Nam

Khái niệm “Lĩnh Nam” trong lịch sử hiện nay đang được hiểu là phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh, là loạt dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc, ngăn cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía bắc của vùng Giang Nam. Ngũ Lĩnh ở đây là đường phân thủy giữa hai con sông lớn là Dương Tử và Châu Giang. Khái niệm này còn dùng chỉ khu vực nước Nam Việt của nhà Triệu trong các cuộc đối đầu thời Tần Hán.
Tuy nhiên, đọc kỹ lại cổ thư thì danh từ Lĩnh Nam không hề được sử dụng để nói về vùng này, cũng như không gặp trong thư tịch cổ nói về thời Tần Hán. Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái là tập hợp những truyền thuyết Việt từ xa xưa, nhưng trong bộ sách này không có những chuyện ở Lưỡng Quảng mà chỉ có ở khu vực miền Bắc nước ta hiện nay. Vậy Lĩnh Nam đây đâu phải là phía Nam dãy Ngũ Lĩnh ở Quảng Đông Quảng Tây. Lĩnh Nam là chỉ khu vực miền Bắc Việt mới đúng.
Lĩnh Nam là địa danh gặp ở ngay dòng đầu tiên trong truyền thuyết dựng nước của người Việt. Truyện họ Hồng Bàng: Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái của Vụ Tiên, rồi trở về sinh ra Lộc Tục.
Ngọc phả Hùng Vương  (bản năm Thiên Phúc nguyên niên, thời Lê Đại Hành) chép: Sử ký Việt Nam. Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.
Lĩnh Nam là nơi Kinh Dương Vương lên ngôi trị vì (Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam). Bản Ngọc phả Hùng Vương thời Hồng Phúc còn cho biết trong 15 bộ của nước Văn Lang thì bộ thứ 14 là “Ngũ Lĩnh sơn Vân Nam“.
Như thế danh từ “Lĩnh Nam” trong huyền sử Việt chính xác phải là Ngũ Lĩnh Vân Nam, chỉ khu vực vùng núi phía Bắc nước ta ngày nay. Vị trí của Ngũ Lĩnh Vân Nam này được mô tả đầy đủ trong Ngọc phả Hùng Vương (bản thời Hồng Phúc):
Vua [Kinh Dương Vương] bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam đại quốc, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức thủy hồng, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên…
Vùng Ngũ Lĩnh Vân Nam ở gần các dãy núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Tam Đảo, Thái Nguyên như thế là chỉ khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam ngày nay, chạy dọc theo dãy núi Hoàng Liên Sơn từ Vân Nam tới ngã ba Việt Trì, tức là quãng các tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang ngày nay.
Việc định vị dãy Ngũ Lĩnh trong cổ sử Việt thành ra dải núi ở phía Bắc Quảng Đông Quảng Tây dẫn đến sai lệch hoàn toàn nguồn gốc xuất phát của người Việt. Với cách hiểu này người ta đã biến thời điểm lập quốc họ Hùng của Đế Minh và Kinh Dương Vương thành ra vương quốc Lĩnh Nam mới chỉ hình thành vào thời Tần Hán khi mà nhà Tần dẫn quân đánh phương Nam và Triệu Đà lập nước Nam Việt.

ngu-linh.png
Vị trí Lĩnh Nam trong sử Việt và các quận phía Nam thời Tần.

Xem xét tất cả các thư tịch về thời Tần Hán cũng đều không hề thấy nói tới từ Lĩnh Nam như sự gán ghép trên. Tư liệu thường được trích dẫn khi nói về cuộc tấn công của nhà Tần xuống phương Nam là đoạn chép trong sách Hoài Nam tử, phần Nhân gian huấn:
Vua Tần chiếm 6 nước, xem truyện này như sau: “Nhà Tần vong, tại sao vậy?”. Nguyên nhân là sai Mông Công và tướng Tương Ông Tử xây sửa thành. Phía Tây chiếm Lưu Sa, phía Bắc  đánh sông Liêu, phía Đông thì liên kết với Triều Tiên, các quận của trong nước phải kéo xe đi chinh chiến. Lại ham những món lợi như sừng tê giác, ngà voi, ngọc phỉ thúy, trân châu, nên sai quan úy Đồ Thư mang 50 vạn quân, chia làm 5 đạo. Một đạo đóng ở vùng Đàm Thành, một đạo phòng thủ ở chỗ hiểm yếu Cửu Nghi, một đạo đóng ở đô thành Phiên Ngung, một đạo đóng ở nơi biên giới Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can. Ba năm quân không cởi giáp giãn nỏ. Sử Giám Lộc không tìm được hướng đi mới sai lính đào kênh để chuyển binh lương đánh người Việt, giết thủ lĩnh Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Đoạn trích trên cho dù đã mô tả rất kỹ cuộc tấn công của Tần xuống phía Nam, nhưng không hề gọi vùng đó là Lĩnh Nam. Địa danh được nhắc tới ở đây là Tây Âu, với quân trưởng lúc đó là Dịch Hu Tống.
Một đoạn khác về việc Tần đánh phương Nam trong Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ: Năm thứ 33, (Tần Thủy Hoàng) đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Đoạn Sử ký này cũng không hề nói đến địa danh Lĩnh Nam. Khu vực Tần đánh chiếm ở đây được gọi là đất Lục Lương.
Có thể thấy, sự kiện Tần đánh Việt có tới 2 mô tả khác nhau như ở trên. Hoài Nam tử cho biết đây là cuộc tấn công quy mô lớn với 50 vạn quân, chia thành 5 đạo đi theo các hướng khác nhau, do một đại tướng của Tần là Đồ Thư cầm đầu, diệt được vùng Tây Âu. Trong khi đó Sử ký Tư Mã Thiên lại mô tả việc này như một “trò đùa”, Tần Thủy Hoàng dùng những người lưu vong, ở rể, thương gia, đến lấy đất lập 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Sự thật thì không thể có việc chiếm một vùng đất đai rộng lớn như vậy lại dùng đám hỗn quân lộn xộn như thế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì chép: Thời Tần đã hợp nhất thiên hạ, chiếm lấy Dương Việt đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng, đưa những người bị đi đày đến ở cùng người Việt, được 13 năm.
Đọc kỹ đoạn này ta thấy việc Tần Thủy Hoàng đưa người bị đi đày đến 3 quận trên đất Việt là để “sống cùng với người Việt” bản địa, chứ không phải việc tiến quân đánh chiếm. Việc dời dân đến 3 quận này hoàn toàn khác với việc Đồ Thư dẫn 50 vạn quân đánh phương Nam ở trên.
Sự kiện Đồ Thư dẫn quân Tần đánh qua đất Tây Âu như thế phải là một sự kiện khác, xảy ra trước thời Tần Thủy Hoàng. Thực ra, nó xảy ra dưới thời Tần Chiêu Tương Vương, hay cuối thời Chu Noãn Vương.
Thiên Nam ngữ lục có đoạn thơ kể về chuyện của Lý Ông Trọng vào thời điểm như sau:

Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Chu Noãn Vương bị Tần diệt năm 256 TCN, cũng là lúc có Lý Ông Trọng là người Việt làm quan cho nhà Tần. Như thế Tần chiếm đất Việt đã là từ lúc này, chứ không phải tới mấy chục năm sau khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi.
Sự kiện Tần đánh Việt được huyền sử Việt chép bằng câu chuyện Thục An Dương Vương đánh và nhận ngôi vị của Hùng Vương. Tần lúc này đã chiếm vùng đất Thục, hoặc chính gốc Tần là ở đất Thục nên Thục cũng chính là Tần. Thục tiếng Việt nghĩa là Chín (đồ chín). Còn Tần cũng được đọc là Chin(a) trong tên gọi tiếng Anh cho Trung Quốc ngày nay.
Miền đất Việt đã bị quân Tần do Đồ Thư, Sử Lộc xâm chiếm vào năm 256 TCN. Tới thời Tần Thủy Hoàng, thống nhất các nước chư hầu, cho thiết lập chế độ quận huyện trên toàn quốc thì mới có sự việc di dân đến 3 quận ở phía Đông đất Việt (Dương Việt). Khả năng những người dân được di cư đi từ vùng đất Âu Lạc mà Tần đã chiếm trước đó, sang vùng đất cảu 3 quận bên cạnh.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 34, đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành cùng với đất Nam Việt.
Rõ ràng mục đích di dân ở đây là để xây dựng cho nhà Tần, chứ không phải đánh chiếm đất đai của nước khác. Cũng chính trong việc đưa ly dân đi làm xây thành đắp đường này mà đã làm nảy sinh cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà như được kể tới trong thần tích về Triệu Vũ Đế ở Chân Định – Kiến Xương:
Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi).
Triệu Đà là một huyện lệnh nhỏ ở Long Xuyên đã đưa dân phu đi xây dựng ở vùng Ngũ Lĩnh, tức là vùng núi Hoàng Liên Sơn ngày nay. Sau đó Triệu Đà cùng dân phu bỏ trốn, lên núi Vũ Ninh (Châu Sơn) ở Bắc Ninh, để ẩn náu, chống lại nhà Tần.
Hoài Nam tử kể: … Vì vậy người Việt vào rừng rậm sống chung cùng muông thú, không chịu để quân Tần bắt làm tù binh. Họ chọn người tài trí và kiệt tuấn làm tướng, cứ đến đêm tối tấn công quân Tần, đạt được chiến thắng lớn, giết quan úy Đồ Thư, quân Tần chết cả chục vạn. (Tần) Bèn cử người đến đóng giữ.
Người tuấn kiệt được chọn làm thủ lĩnh kháng Tần lúc này chính là Triệu Đà, người mà ngay sau khi Tần Thủy Hoàng mất đã chiếm lại toàn bộ vùng đất phương Nam gồm quận Long Xuyên và 3 quận Tần đã lập ra trên đất Việt là Quế Lâm, Nam Hải và Tượng.
Có một điểm liên quan đến sự kiện di dân dưới thời Tần Thủy Hoàng trên đất Việt là câu cuối trong đoạn trên. Nguyên văn trong Hoài Nam tử là: 乃發適戍以備之 Nãi phát trích thú dĩ bị chi. Tương tự, Tần Thủy Hoàng bản kỷ đoạn này cũng viết: 以適遣戍 Dĩ thích khiển thú. Hiện câu này đang được dịch nghĩa là: đưa những người bị biếm trích đến đóng giữ.
Tuy nhiên chữ dùng ở đây không phải là Trích 謫 (trong “biếm trích”), mà là Thích 適. Chữ Thích 適 này có nghĩa chính là: Con gái xuất giá. Như: “thích nhân” nghĩa là con gái về nhà chồng. Hay nghĩa như trong từ “thân thích”.
Dĩ thích khiển thú do đó có thể hiểu là: dùng người bên nhà rể để đóng giữ.
Thật bất ngờ khi hiểu tư liệu theo nghĩa dịch này lại trùng khớp với sự tích Lý Ông Trọng ở Việt Nam. Lý Thân được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh Cung công chúa cho. Sau đó Lý Thân được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Lâm Thao có thể tương đương nghĩa với Lâm Ấp hay Lĩnh Nam. Trị sở của khu vực mà Lý Ông Trọng trấn thủ là tại vùng đất Bắc Việt ngày nay.

IMG_3663
Nghi môn trong đền Cổ Loa.

Khi đã xác định Thục chính là Tần thì suy ra thành Cổ Loa của Thục An Dương Vương là trị sở được nhà Tần xác lập trên vùng đất Việt. Người cầm đầu khu vực phương Nam lúc đó là Lý Thân, con rể của Tần Thủy Hoàng. Hiện trong đền Cổ Loa vẫn còn tượng và tục thờ Lý Ông Trọng, xác chứng thêm cho nhận định này.
Câu đối ở đình Chèm, là đền thờ Lý Ông Trọng còn nói tới liên quan giữa Lý Ông Trọng và nhà Tần sau khi thống nhất lục quốc:
六合銷兵想見雄威驚絶域
千秋遺廟疑然正氣障狂瀾
Lục hợp tiêu binh, tưởng kiến hùng uy kinh tuyệt vực
Thiên thu di miếu, nghi nhiên chính khí chướng cuồng lan.
Dịch:
Sáu nước tan binh, oai hùng nhớ thấy khiếp biên cõi
Nghìn thu để miếu, chính khí như còn chặn sóng hung.

Điển thờ Hùng Vương ở đền Vân Luông

Nam Thien chinh thong

THƯỢNG THẦN CUNG ĐIỆN
Viễn Sơn thánh vương (bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Hiển linh Thống thủy Điện an Hoằng tế Phổ hóa Minh túc Hậu ứng Quảng Huệ Uy hàm Diễn đức công Thánh vương (bài vị giữa)
Ất sơn thánh vương (bài vị phải)

TRUNG THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương (bài vị giữa)
(bài vị phải)

HẠ THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
(bài vị giữa) Tên hiệu cũng giống như Trung Thần Cung
(bài vị phải)

Tháng Giêng ngày 8, ngày 10. Tháng Giêng ngày 4 (ngày giỗ). Ngày 15 (ngày mở). Tháng Giêng ngày 6 (ngày sinh).
Tháng Hai ngày 15 (ngày sinh).
Tháng Ba ngày 15, ngày 20 (ngày giỗ).
Tháng Năm ngày 5 (ngày sinh).
Tháng Chín ngày 15, ngày 14.
Tháng Mười ngày 10 (ngày sinh)

Vạn phái nguồn gốc sâu xa như biển lớn chảy mãi. Tiên vương ân nghĩa đắp bồi vạn thế, đức trạch cao dày khắp chốn, sự lành còn đó muôn năm, đất nước yên bình, quốc gia thịnh vượng sao!
Nên ta tuân theo Trời, nối tiếp đức lớn, ngưỡng tổ tông tích đức qua các đời, sáng lòng nhân, yên trời đất núi sông khắp chốn vậy. Ấy là gây dựng nước Nam Việt ta cơ đồ bao la, công nghiệp đế vương to lớn. Trời cùng người đều quy về, các chư hầu cùng phục, lập thứ tự trăm quan trong triều đình, yên định vạn dân, xưng tên nước, đặt trăm quan, chia trăm họ, phân các quan lập các xứ, dựng nước xây thành, vững mạnh 15 bộ giữ mỗi phương phân định, thiết lập các chức vị, phủ huyện, xã, châu, động. Sự trọng yếu của quốc gia, căn bản gốc rễ của thiên hạ là giúp thành cho người dân cày ruộng, đào giếng, làm nghề trồng dâu nuôi tằm, nước giàu quân mạnh, trị vạn dân, biết lấy trọng dưỡng sức dân làm nền tảng.
Các triều đại xưa đưa bút thành sách, lộc quý trời Nam, mãi trùm các thế, con cháu dòng dõi lưu truyền muôn đời, không thể mất. Không truyền lại sự tích này thì không thể là người hiểu biết. Còn nếu lấy đó mà coi thường sự tiết lộ của sách trời điềm lớn thì cũng không thể thành người.
 Xưa Tiền Hoàng đế Thánh tổ Cõi lớn trời Nam, Hùng Vương Sơn Nguyên, đã gây dựng cơ đồ, thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Hùng Thị, mười tám đời thánh vương ngự trị Cõi lớn trời Nam, mở mang cơ đồ nước Việt, nước biếc một dòng, bắt đầu vận vua sáng đế thánh. Núi xanh van dặm, lập nền đô thành điện báu, mở vật giúp người, thống trị mười lăm bộ, giữ thế mạnh trước phiên thần, nối tiếp phát huy Cõi lớn thành đất Viêm Hồng, trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giúp cho dòng giống vững như bàn đá, hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương ngự ở Việt thành, muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam, gốc nước cơ đồ, vạn xuân tôn kính, ngàn xưa chảy mãi, các cung thần Thượng Trung Hạ, đền miếu từ xưa, dấu vết lưu truyền.
Dân xã 5 huyện phủ Lâm Thao phụng thờ
(Vì điện chính của Hoàng Đế ở Phong Châu nay là điện báu ở đầu núi Ngũ Lĩnh, nơi yên táng lăng mộ của bậc cửu tôn).
Các huyện Tam Đái, Phù Khang, Lập Thạch phụng thờ (Vì điện cung thần Bắc cùng núi Nham, núi Tằng, núi Bách Thôi, các đầu núi lập lăng điện tôn quý).
Ba huyện Sơn Dương, Tam Dương, Tây Lan của phủ Đoan Hùng phụng thờ (Vì Hoàng Đế lập lăng điện tôn quý ở núi Tam Đảo, đầu núi Bạch Long trong gò Tụy Ninh. Hai huyệt Tây Thiên, Phù Nghĩa cùng Sơn Dương, Phi Sơn, Nham Đỉnh có lăng điện tôn quý ở chùa trong núi, dưới là các lăng tôn quý ở vùng đất quanh huyệt).
Xã Quần Anh huyện Nam Chân xứ Sơn Nam phụng thờ (Vì điện lăng tôn quý được lập ở miệng ngọn núi nơi cửa biển, có ba huyệt).
Ba huyện Tiên Du, Tản Hoa Đông Ngạn xứ Kinh Bắc phụng thờ (Vì điện tôn quý 9 huyệt ở các núi Sóc Sơn, Dương Sơn, Giác Sơn, Vạn Sơn, Ư Sơn, Bi Sơn, an táng tại đó).
Hai huyện Đông Triều, Hoa Phong xứ Hải Dương phụng thờ (Vì lăng tôn quý ở ba huyệt núi Yên Tử, Ngôi Sơn, Lục Đầu Giang, lập Chân Châu, Triều Sơn, Hoa Phong, Cửu Sơn an táng).
Huyện Thụy Nguyên Tông Sơn, phủ Thiệu Thiên, xứ Ái Châu phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý ở Lam Kim Sơn, Lạng Sơn, Tống Sơn ba huyệt).
Hai huyện Đức Quang, Hà Hoa và hai huyện Thiên Duyên, Thạch Hà xứ Hoán Châu phụng thờ (Vì là thành đô cũ, 60 lăng điện tôn quý tại chùa được táng ở các đầu núi Hùng Lĩnh, lập chùa tên là Ngàn Hống Thứu Lĩnh, 60 huyệt núi).
Châu Bố Chính, châu Hoành Sơn các trang động phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý 9 huyệt lập tại Long Hóa, Tượng Sơn, Thần Đầu giáp biển an táng).
Các phủ huyện chậu Quảng Nam, Phú Xuân, Quy Nhân, Tây Sơn phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý ba huyệt lập ở Tây Sơn, Ngọc Lĩnh, Chu Sơn, Đà Sơn, Điện Thiên, Đài Sơn đầu núi trong chùa Bảo Long an táng).
Mười châu xứ Hưng Hóa các trang động trong châu phụng thờ (Vì lăng tôn quý lập ở đầu núi An Lãng bốn huyệt, núi Phù Hoa đặt ba huyệt).
Châu Thu Vật, Tụ Long xứ Tuyên Quang các trang động trong châu phụng thờ (Vì lăng tôn quý ở Bảo Lạc, Côn Lôn, Sơn Bắc trong điện ba huyệt được an táng).
Châu Tam Thanh Sơn phủ Cao Bình các trang động trong châu phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý đặt tại núi Tam Thanh hai huyệt).
Xứ Lạng Sơn các châu trang động phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý đặt tại núi Tứ Châu, núi Quỷ Môn hai huyệt).
Hai xứ Quảng Đông, Quảng Tây phụng thờ (Vì lăng điện tôn quý tạo núi Kim Bảo, núi Đốc Long hai huyệt).
Các nước Phúc Kiến, Cao Miên, Hồ Tôn phụng (Vì lăng điện tôn quý ở tại núi Thái Lão, núi Cửu Long hai huyệt).
Nước Bắc núi Ngũ Lĩnh, Vân Nam, hồ Động Đình, Linh Sơn trong vùng phụng thờ (Vì 6 điện tôn quý Trung Hoa ở núi Tiền Cơ lập điện ở đó).
Ngọc phả Hùng Vương truyền nhà ngàn xưa, con cháu dòng dõi truyền các đời vua nước Nam, các họ tộc đế vương từ họ Hùng mà cố gắng lưu giữ. Muôn năm trăm bậc đại đế vương thay nhau kế vị nước Nam, hưởng phúc giữ cơ đồ, giúp vận truyền nối đời Hùng Vương, phù giúp cho xã tắc non sông Nam Việt vững mạnh, lập đặt bàn rồng bệ ngọc truyền vị đế vương núi sông đất nước. Cùng rèn đúc đất nước thành ấn phù trân quý, dương cờ mở đô thành, lập cung điện, đổi tên dựng nước đặt hiệu.
Vốn họ Hùng nguyên tộc ở tại địa phương nước Nam, định kỳ giao nhận giấy văn, lập mốc giới núi sông, cúi vọng mà cầu trời đất, thần kỳ, các bậc thánh qua các đời, các bậc thành hoàng linh thiêng, trăm vương thượng đẳng, trăm thần hội tụ của thiên hạ, các linh cung thổ địa, cùng nhau giám chứng, giúp trợ đức vua, mở nước lập nền, dựng nên nghiệp đế, trị yên thiên hạ, bốn bể thẳng cánh chim hồng chim nhạn, cùng hưởng phúc thái bình.
Từ Ba Vua họ Hùng Hoàng Đế Nghiêu Thuấn Vũ Thang dựng nước đến nay, nước Nam các đời nối nhau truyền nghiệp đế qua vua các họ, truyền tới vua Chu, các nhà Tần, Hán, Đường, Tống, Tề, Lương, Nguyên, Minh, Thanh, Đinh, Lê, Lý, Trần, Hồ, các vương Lê, Nguyễn, Trịnh dựng triều, các đế vương ngự trị.
Nhớ Kinh Dương Vương Thái tổ Cao hoàng đế ban sơ, là nguyên bậc thánh đế vương đầu, khởi dựng cơ đồ, thuận trời ra trị, mở vật giúp người, kính lẽ trời, phép tắc các bậc tổ, là bậc thánh thần văn võ, sáng chế lập ra phép tắc, để giáo hóa vạn dân, sáng trước đủ sau.
Đời đời các họ vua giữ quyền chính, thay tên sửa chỗ cho cơ đồ, đều có xe loan ngự giá đến điện Hùng Vương trên núi, phụng tế trời đất, đốt lửa vọng về núi Thái, cùng các bậc tiền hoàng đế tiên vương đời trước, trăm thần nước Nam.
Các vua khi lên ngôi báu tìm các cháu chắt của nguyên tộc họ Hùng là các trinh nữ xinh đẹp, đưa tiến làm phi tần, hoàng hậu. Cầu lấy nước ở giếng thiêng tại miếu mà cầu con được hiển ứng, trời sinh thái tử, hưởng nước lâu dài, hơn năm trăm năm trị thịnh. Ngưỡng vọng công đức các bậc đế trước, thường xuyên phong tặng thêm. Lại ban sách vàng, tiền vàng phong tặng, tôn thêm tên mỹ tự, bốn chữ Thánh Tổ Tối Linh, giúp nước. Lại ban cho làng Cổ Tích Trung Nghĩa, xã Nghĩa Cương làm trưởng tạo lệ mà giữ theo đế đức Hùng Vương. Cháu chắt được sắc mệnh cho quốc tính theo điển mà thờ, cho là thân vương với quốc gia cùng tồn, thu trăm lộc của trời, trùm ân đức vạn đời, sánh cùng trời đất, ngày tháng núi sông mãi mãi.
Dòng dõi các đế vương không dám vi phạm vào sách trời nước Việt, có ước thề theo tộc nước Nam mà làm vua, lên ngôi trị dân, đều nhớ tới công xưa thánh trước đã mở tạo cơ đồ. Nếu vi phạm điều minh ước này sẽ hưởng nước không quá một đời. Các vị đế vương từ xưa đến nay đều như vậy. Cho đến các nhà Đinh, Lê, Lý các vua đều phụng thờ.
Từ khi chúa Trịnh Hy tổ Khang Vương đi kinh lý qua, cầu sự nhưng lòng trời không ứng, nên oán trời trách người, bất kính thần thánh, đã giảm tỉnh dân các xứ phủ huyện xã được cấp lương riêng và giảm tô thuế, lấy đó nộp vào ngân khố. Nhưng vẫn để lại hai phủ Lâm Thao, Tam Đái, các huyện Sơn Vi, Phù Khang, dân 5 tổng 18 xã làm tạo lệ, giữ việc phụng thờ.
Điện Hùng Vương trên núi ở huyện Sơn Vi có Xuân Lũng làm thứ lệ. Các làng Phù Khang, Phù Liễn cùng Phù Lỗ, Lỗ Trì, Việt Trì dân 18 xã phụng sự các miếu điện cung của các bậc triều trước. Các vua đều tôn phong, theo các điển thờ mà phụng tế. Còn việc tu sửa nơi thờ phụng thì được vua giao cho người cai quản cung ở bản xứ đảm trách. Hai phủ Lâm Thao, Tam Đái cùng dân các huyện xã cung cấp nhân lực phục dịch. Ba năm một lần tu sửa. Sáu năm một lần dựng cung điện. Điện thờ có các đồ tế khí lễ nghi như các vật kiệu rồng, cờ, trống, lọng, quạt, chiêng, chuông. Giao cho hai phủ Lâm Thao, Tam Đái dân các huyện xã chiếu theo suất đinh, mỗi suất tiền 36 quan để làm việc tu sửa cung điện thờ cho nghiêm trang đẹp đẽ. Quanh năm từ tháng Giêng tới tháng Chạp các kỳ ngày tiết ngày sinh, ngày giỗ đều làm lễ nghênh phụng.
Hội lệ có chầu xướng vào tiệc xuân thu. Lễ chính có quốc tế, bày bài vị các ngày sinh theo lệ thường của triều trước, ban cho phụng sự, ban cho cung thờ, ban cho tiền. Dưới làm lễ tế yết. Các phủ huyện địa phương cùng với 5 phủ 24 huyện, nha môn cung tam ti, nghiêm trang, áo mũ chỉnh tề, sạch sẽ, cứ theo lệ các ngày này đến ở cung miếu điện làm lễ thờ tế như nghi phép để làm rạng rỡ ý thọ của núi sông.

Van Luong 2

Phần luận kết trong Ngọc phả Hùng Vương ở đền Vân Luông

Xét như: Tiếng đức Tiền hoàng đế thời Thái Cổ, từ kỷ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nay, theo nguyên mệnh của mùa xuân thu, bao gồm thời mở mang hồng hoang trước khi có trời đất. Trời ban đầu mở vào Giáp Tý. Đất tụ mang ở Ất Sửu. Vận người sinh ở Giáp Dần. Vạn vật ra đời ở gian Ất Mão. Từ thời Bàn Cổ, Thái cực sinh Lưỡng nghi, là Thiên, Địa. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Tứ tượng biến hóa thành nhiều hình trạng.
Thời Hỗn Mang còn chưa biết đạo trời đất khởi đầu thế nào, đến Âm dương biến làm Tam tài, vị quân thủ dẫn đường dần dần mở ra phong khí, dần dần có văn minh, làm rõ ràng các giáo lý trị dân. Trời xuất hiện nhiều bậc đại thánh. Cha trời Mẹ đất là Thiên tử xuất hiện đầu tiên. Sau đến các vật ở vạn nước được yên định, nhận trọng trách lớn như thế sao.
Thiên Hoàng nối Bàn Cổ mà trị ở ngôi Thiên tử, nắm quyền chế độ, mới chế ra Can chi. Mười can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ Canh, Tân, Nhâm, Quý. Mười hai chi là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Vị, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Lấy đó để định thời gian, giúp nhân dân có định hướng.
Cứ mỗi đời có bậc quân vương lại tất có sự sáng chế của quân vương đó. Các vua sau tự theo đó mà được lâu dài, to lớn mà không rung động. Khi dân có việc khó thì lấy đó làm sự nguy mà quyết. Có thể xem hiền mà sửa mình.
Địa Hoàng định hai thời phân làm Ngày Đêm, lấy 30 ngày làm một tháng, 12 tháng làm một năm. Phân tách thiện ác, cuối cùng tuân với gốc gác, ơn huệ mà theo. Các anh em của Người 18.000 là chúa tể thiên hạ các phương, sáng chế lập ra pháp luật, ban bố vạn đời. Khiến cho hậu thế đều biết được chỗ sáng tối, tháng năm như thế. Trời sinh tinh khí thánh nhân tụ hội ở vị trí là thầy là vua, cao quý hơn hết. Vị trí là ngôi vị của trời. Lộc là lộc của trời. Thiên tử thay trời lo vật, thừa mệnh trời mà ra trị. Kính trời, theo phép tổ, làm việc quý người, bèn phân chia chức trách như vậy.
Nhân Hoàng một họ 9 người cùng nhau, núi sông chia làm 9 khu, người ở một phương, là một thời giàu có. Vạn vật đều thuần hậu, ôn hòa. Chúa không dối, vua thần không dối. Tận hưởng lộc trời tốt thay!
Tới thời Xuân Thu khi Lỗ chủ Công là Tưởng bắt Kỳ Lân năm thứ 14. Xét trải tháng năm, ngày được 3.267.000, chia làm 10 kỷ, là: Cửu Đầu, Ngũ Long, Nhiếp Đề, Hợp Lạc, Liên Thông, Tự Mệnh, Tuần Phỉ, Nhân Đề, Thiền Thông, Sơ Ngật, tất cả là 10 kỷ. Từ Nhân Hoàng đến Tự Mệnh có 88 vị quân vương. Từ Tuần Phỉ về sau đều truyền các vua nối vị.
Kỷ Thiền Thông kết thúc vào thời Viêm Đế. Kỷ Sơ Ngật được khởi đầu từ Hoàng Đế, là Hiên Viên, lấy đức trị dân, họ hiệu là Hữu Hùng Thị, tên xưng Hoàng Đế. Ngài là bậc thần linh trị quốc, dùng binh phủ dụ vạn dân, gieo ngũ cốc đi bốn phương, lập chế độ chính triều đình, bốn mùa đều thuận, vạn dân vui mừng, thiên hạ thái bình.
Đế có 6 tướng bao quát hết trời đất thần minh. Ở ngôi được 100 năm thì mất. Người kế tục là Đế Minh, sinh Đế Nghi là con trưởng, Kinh Dương Vương là con thứ (tên húy là Lộc Độc, phong ở Nam Man). Kinh Dương Vương trấn trị Ngũ Lĩnh Vân Nam, vùng đất có núi dài miên man, được thế phong thủy, biển đảo đúc thiêng. Lấy con gái Động Đình Quân, sinh được một hoàng tử kỳ tài hơn người, có khí độ thông minh đại trí, liền phong là Lạc Long Quân (tên húy là Sùng Lãm, hiệu là Hùng Hiền Vương). Vua cha lệnh sai trấn ở chính điện tại đô thành Nghĩa Lĩnh. Lấy bà Âu Cơ, sinh ra điềm lành trăm trai, xưng vua trị nước, cùng với các chư hầu trong thiên hạ cùng yên ổn vô sự.
Thời Vua tu đức, cầu điều nhân nên đức Thổ được thịnh vượng. Dạy dân cày cấy lương thực. Cái ăn cái mặc đầy đủ. Triều đình giữ kỷ cương, theo tôn ti mà định ngôi thứ. Cha con anh em trên dưới hiếu thuận. Con cháu truyền 18 cành lá, đại bảo ấn phù cơ đồ theo mệnh trời mà ra trị nước Nam. Ngọc trắng xe sách núi sông một mối, vĩnh truyền muôn năm hơn trăm đời vương đế trị nước, nắm quyền chính trị phương Nam, nối tiếp được hơn 2.650 năm. Thật là lâu bền. Để lại con cháu giữ nước, vạn đời cơ đồ, con thánh cháu thần dòng dõi, nam nữ trăm họ được 14.370 người, xưng tên là Cổ Việt Hùng Thị. Con vua, quan lang, thổ tù được phân ra trấn giữ núi sông đất Việt. Về sau là các vua nối trị cùng các phiên thần, thổ tù, quan lang, phụ đạo, cùng là những công thần khai quốc.
Trải thời gian từ kỷ Tuần Phỉ về sau, từ Nghiêu Thuấn Ngũ Đế tới nay đã hơn 3.000 năm. Trước Tam Đại không như thời Đường Ngu. Sau Hán Đường Tống không như Tam Đại. Đạo đời lên xuống, không quá 300 năm mới có một sự biến. Rồi 200 năm có một biến, 300 năm có một biến trung bình, 500 năm có một biến lớn. Từ lúc khai mở về sau 4-5 vạn năm lúc phong khí chưa mở văn minh, chưa có đất nước, chưa yên, tới Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, thay nhau mà hưng vượng về sau, lấy vương đạo mà trị.
Xưa thời Hy Nông trở về đời Bàn Cổ, chưa có lịch, gộp các tộc có tên phủ thế trị dân, tất cả là 22 chi hệ được xét. Từ Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, Ngũ Đế là các nguyên thánh trị thiên hạ. Đế là vua, thiên hạ chúa tể ngự thế, theo Càn khôn mà khởi tạo ra lòng nhân, là đức dưỡng sinh thay Tạo hóa vậy.

Thục An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng và Thạch Sanh

18 triều Hùng nước Nam, thần truyền thánh kế hơn 2000 năm, dựng lập một thiên hạ họ Hùng mênh mông, gồm cả trăm chư hầu đầu non góc biển, là phên dậu bình phong, phân trăm quan, đặt trăm họ, phong trăm thần… Thời kỳ dựng nước của các vùa Hùng được kết thúc bởi sự chuyển nhượng ngôi vị từ Hùng Vương sang cho nhà Thục. Nhưng câu hỏi đặt ra: Thục là ai? Ngọc phả Hùng Vương một lần nữa lại cung cấp những thông tin cực kỳ xác đáng, giúp nhận diện triều đại tiếp nối 18 Hùng triều này.
Ngọc phả Hùng Vương của xã Hy Cương (Việt Trì, Phú Thọ) chép về đời Hùng Vương thứ 17 có sự kiện sau:
Hùng Nghị Vương thừa hưởng nhiều đời thiên hạ thái bình. Vua sinh ra đam mê tửu sắc, ham thích du chơi, không lo sửa sang võ bị. Vua nước Thục từ xa nghe tin Trung Quốc không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ phương Nam có cây kiếm thần nên còn do dự chưa quyết.
Bấy giờ chúa phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái của Hùng Vương. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa phụ đạo. Bộ Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Hùng Nghị Vương thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Hùng Nghị Vương, nói: “Quân Thục từ phía Tây đến, chỉ muốn bộ chủ [Ai Lao] truyền lại cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà vua”.
Hùng Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục vương bắt được bộ chủ phụ đạo [Ai Lao] đem về Thục, gả công chúa cho, rồi bắt nhường ngôi cho mình. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi triều Nam là anh, triều Tây là em, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó triều Tây ngừng việc binh.
Đoạn ngọc phả này cung cấp thông tin mà trước giờ ít được chú ý. Trước khi Thục Vương thay thế Hùng Vương ở đời Hùng Vương 18, thì từ đời Hùng Vương 17 đầu tiên Thục Vương đã chiếm bộ Ai Lao, tiếm vị “bộ chủ phụ đạo“. Thục Vương thậm chí còn viết thư tỏ ý “đe dọa” tới Hùng Vương để Hùng Vương không can thiệp vào chuyện đoạt vị ở bộ Ai Lao.
Nên biết rằng chức “bộ chủ phụ đạo” vốn được lập ra dưới thời Hùng Quốc Vương khi phân chia lãnh thổ. Đứng đầu một chư hầu phiên dậu (một bộ) là một bộ chủ phụ đạo. Chức vị này được phép “phụ truyền tử kế“, cha truyền con nối. Nói cách khác, bộ chủ phụ đạo chính là vua của một nước chư hầu trong thiên hạ họ Hùng. Thục Vương tranh đoạt chức vị này ở bộ Ai Lao nghĩa là đã chiếm nước chư hầu vào hàng lớn nhất, thân cận nhất của Hùng Vương.
Đoạn ngọc phả trên cũng cho biết Thục nghĩa là Tây, nhà Thục tương đương với triều đại phía Tây. Tây Thục xưng Hùng Vương Văn Lang phía Nam là anh.
Sang đời Hùng Vương thứ 18 là Hùng Tuyền Vương (hay có bản chép là Hùng Duệ Vương), Ngọc phả kể chuyện Hùng Tuyền Vương xây thành Cổ Loa, được thần Kim Quy trợ giúp diệt trừ yêu quỷ và trao cho móng rùa làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần và thành Cổ Loa vững chắc, quân Thục không làm gì được triều Hùng.
Như vậy theo Ngọc phả Hùng Vương, người xây thành Cổ Loa không phải là Thục An Dương Vương. Nói cách khác, thành Cổ Loa đã được xây trước khi Thục chiếm được Văn Lang.
Tới chỗ này lại có một chuyện khó hiểu. Đang có sức mạnh quân sự như vậy nhưng Hùng Vương lại theo lời Tản Viên Sơn Thánh, quyết định nhường ngôi cho Thục Vương, tặng thêm cả nỏ thần. Còn mình thì đi tìm tiên thuật, hóa sinh bất diệt…
Sự thực hẳn phải là khác. Thục Vương đã từng cầu hôn con gái Hùng Vương 18, nhưng không thành. Sau đó thực chất là vừa ép vừa dụ để Hùng Vương nhường lại ngôi cho mình. Đây là ý đồ của nhà Thục đã có từ thời Hùng Vương thứ 17 ở trên.
Với những sự kiện trên về Thục Vương chiếm ngôi của Hùng Vương, chấm dứt Hùng triều trong Ngọc phả, thì chợt nhận ra: Thục trong chuyện này chính là nhà Tần. Tần vốn là một chư hầu của thiên hạ Trung Hoa, vào cuối thời Chu trở nên hùng mạnh. Một trong những cuộc đánh chiếm mở rộng đất Tần là đánh vào Tây Chu. Sử gọi vùng này là Tây Âu.
Sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Tây Âu là vùng đất Vân Nam, xưa là vùng Ai Lao di. Bộ chủ Ai Lao bị Tần Thục đánh chiếm ngôi vị như thế chính là Dịch Hu Tống, một dòng dõi của Hùng Vương Văn Lang, vì:
– Dịch chỉ người đã tác Dịch, tức là Văn Vương (Văn Lang).
– Hu hay Hậu.
– Tống hay Tông.
Dịch Hu Tống = Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi của vua Dịch học Văn Vương, tức là dòng dõi vua Hùng Văn Lang.
Chỉ có Tần mới dám ngang nhiên đánh chiếm đất đai của dòng dõi Thiên tử (Tây Chu), thậm chí viết thư đe dọa vua Chu (Hùng Vương) không được can thiệp. Sau đó, còn xưng làm anh em với thiên tử Chu thay cho lễ quân thần.

bach-viet-13Vị trí các địa danh trong bài.

Tới đời tiếp theo, như đã biết với chuyện con tin của Tần là Dị Nhân Tử Sở ở rể tại nước Châu – Triệu hay trong chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy, Hùng Vương – thiên tử Chu mất thành, mất nước, mất bảo vật nỏ thần theo kiểu vừa bị chiếm vừa bị ép nhường ngôi. Thiên tử Chu Noãn Vương năm 256 TCN đã “hóa sinh bất diệt” bằng cách cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển theo thần Kim Quy. Đây cũng là năm mà Tần chính thức xóa sổ nhà Chu theo ghi chép của chính sử.
Ngọc phả Hùng Vương kể:
Thục An Vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn đức trời biển của Hùng Tuyền vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trên núi, chỉ lên trời thề rằng:
– Nguyện trời cao mây xám lồng lộng xét soi, nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng vương nơi đây nếu vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.
Nhà Tần khi diệt Chu đã không tận diệt con cháu vua Chu, mà cho họ được an trí ở một vùng đất nhỏ, cũng gọi là Đông Chu. Đây hẳn là vì giao tình giữa vua Tần với nhà Chu trong cuộc thông gia dẫn đến việc nhường ngôi nói trên.

Picture3Đá cổ (cự thạch) ở Xín Mần, Hà Giang (gần Tây Côn lĩnh).

Thêm một chi tiết là Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất thiên hạ các nước đã lên núi Thái Sơn để phong thiện tế cáo trời đất. Nên biết là núi Thái của thời kỳ này không phải là ở vùng Sơn Đông bên Tàu. Thái Sơn của thiên hạ họ Hùng là ngọn Côn Lôn, nơi vị Thái tổ Hùng Vương là Đế Minh đã khởi dựng cơ nghiệp hồng đồ. Dãy Côn Lôn này chính là dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Việt, mà được ghi rõ ràng trong Ngọc phả Hùng Vương của đền Vân Luông (Việt Trì):
Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường, ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.
Sự kiện Thục Vương lên núi Nghĩa Lĩnh lập cột đá thề là việc Tần Thủy Hoàng phong thiện ở núi Thái Sơn. Cột đá thề của Tần Thục do đó khả dĩ nhất là nằm trong khu vực… bãi đá cổ Sa Pa ở gần đỉnh Phan Xi Phăng của dãy núi tổ Hoàng Liên. Bãi đá có khắc những hình ruộng bậc thang, vuông tròn này vốn là khu vực tế đàn của thời Hùng Vương, nên sẽ hợp lý nhất đó cũng là nơi phong thiện trên núi Thái của Tần Thủy Hoàng. Suy luận hơn nữa, cũng chính vùng núi Sa Pa này có các mộ của các vị vua Hùng mà “trời táng ở núi Côn Lôn” như Ngọc phả đã ghi.
Việc Tần diệt Chu hay Thục thay Hùng, thống nhất Trung Hoa, chuyển từ chế độ phong kiến phân quyền (thiên tử – chư hầu) sang phong kiến tập quyền trung ương (chế độ quận huyện), còn được truyền thuyết Việt kể dưới góc độ khác. Đó là chuyện Chín chúa tranh vua của người Tày ở Cao Bằng, khi mà Thục Phán đã đánh bại các chúa (các nước chư hầu) rồi thôn tính luôn nước Văn Lang.

Thạch SanhTượng Thạch Sanh thờ ở chùa Đống Lân ở TP Cao Bằng.

Liên hệ xa hơn nữa, cũng ở Cao Bằng, nơi xuất xứ của truyện Thạch Sanh, lấy công chúa rồi dùng niêu cơm tiếng đàn của mình dẹp tan quân sĩ của mười tám nước. “Thạch” hay Thổ là hành chỉ hướng Tây trong Ngũ hành, tương đương với Tây Thục, hay Tần. Truyện cổ tích Thạch Sanh ghi rõ: “Về sau vua không có con trai nên nhường ngôi cho Thạch Sanh“, tức là y chang truyện vùa Hùng 18 nhường ngôi cho Thục.
Thục Vương – Tần Vương – Thạch Sanh là một. Nhận định này thật khó tin, nhưng khó có gì hợp lý hơn khi so sánh những thông tin từ Ngọc phả Hùng Vương.

Những mốc lịch sử thời Hùng Vương dựng nước

Các vua Hùng đã có công dựng nước“, câu nói của cụ Hồ bên đền Hùng là một đánh giá lịch sử chính xác. Nhưng lịch sử thời dựng nước của các vua Hùng tính từ lúc nào. 4000 năm lịch sử như cha ông ta từng lưu truyền? Hay 5000 năm ngang với Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa? Hay chỉ “vài ngàn năm” như hội thảo gần đây về thời Hùng Vương mới “kết luận”?…
Lịch sử dựng nước tính từ đâu phụ thuộc vào mốc tính, thế nào là “bắt đầu lịch sử”. Lịch sử hoàn toàn không phải bắt đầu từ khi có chữ viết vì không thiếu gì dân tộc cho tới tận ngày nay không hề có chữ viết riêng. Chả nhẽ họ cũng bị coi là không có “lịch sử”?
Lịch sử được tính bằng những mốc, những nấc thang phát triển của thể chế xã hội. Đối với người Việt, những nấc thang lịch sử ban đầu đích thực là do các vua Hùng đã gây dựng nên. Những cuốn ngọc phả Hùng Vương còn lưu truyền lại cho tới ngày nay cung cấp chính xác những mốc phát triển của xã hội Việt thời dựng nước.

Mốc lịch sử Việt thứ nhất: Thủ lĩnh cộng đồng
Mốc lịch sử đầu tiên của người Việt được đánh dấu bằng Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Ngọc phả đền Hùng Phú Thọ gọi ông là Thái tổ Đế Minh. Hàng loạt di tích ở Thanh Ba, Phù Ninh, Phú Thọ thờ vị Thái tổ Hùng Vương này.

Den Thai to
Đền Thái Tổ ở Trạm Thản, Phù Ninh, Phú Thọ.

Vị vua Hùng đầu tiên, đứng đầu 18 đời Hùng Vương là Đế Minh, được các nơi thờ dưới tên Đột Ngột Cao Sơn, hay tên đầy đủ như trong Ngọc phả đền Vân Luông là Thánh tổ Hùng Vương Nam Thiên thượng thánh Tiền hoàng đế khai quốc hồng đồ Đột Ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương.
Từ “đột ngột” hiểu nôm na là “bất ngờ xuất hiện”, cũng nghĩa là trước đó chưa có ai, chỉ vị vua đầu tiên. Rõ ràng chỉ có Đế Minh mới thích hợp ở vị trí “tiền hoàng đế khai quốc” này.
Ngọc phả đền Vân Luông còn cho biết: Đế Minh chính thống vạn bang chư hầu thiên hạ. Đế Minh như thế là người đã khai thống toàn thiên hạ, ngang với thời “Hoàng Đế mở muôn nước“, tức là cách đây khoảng 5000 năm. Bắt đầu từ Đế Minh xã hội Việt đã có vua, có thủ lĩnh cộng đồng. Bước tiến lịch sử đầu tiên của người Việt phải tính từ Thái tổ Hùng Vương 5000 năm. Tên gọi cho thời kỳ này là kỷ Hồng Bàng.

IMG_0394.JPG
Hùng Vương miếu ở Đình Chu, Lập Thạch, Phú Thọ, nơi thờ Đột Ngột Cao Sơn.

Câu đối ở đền Hùng về mốc lịch sử đầu tiên này:
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Dịch:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Mốc lịch sử Việt thứ hai: Chế độ thế tập
Sau Đế Minh, mặc dù đã có thủ lĩnh của cộng đồng thiên hạ vạn bang nhưng chế độ vẫn đang là truyền hiền. Cụ thể là chuyện 2 vị công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung được gả cho Sơn Tinh, dẫn đến vị hiền tế phò mã này được tiếp ngôi chính thống. Vế đối còn lưu ở đền Nhà Bà, Tiên Du, Phú Thọ nơi thờ 2 vị công chúa này ghi:
Quân do Bạch Hạc lai phò, Nam Việt vạn bang xưng nữ kiệt
Dịch:
Chúa đến giúp từ Bạch Hạc, Nam Việt muôn bang gọi gái tài.

Nha Ba
Vế đối đền Nhà Bà ở Tiên Du, Phù Ninh, Phú Thọ.

Những dấu vết khác của thời kỳ truyền hiền còn thấy ở Phú Thọ như lầu kén rể bên bến Việt Trì, hay tục rước chúa gái của 2 làng Vi Trẹo dưới chân núi Hùng.
Thời kỳ truyền hiền kết thúc bởi sự kiện Lạc Long Quân kế vị Kinh Dương Vương, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Chế độ thế tập xuất hiện ở thời điểm này cách nay khoảng 4000 năm. Đây chính là mốc lịch sử trước đây thường được nhắc tới, gắn liền với tên tuổi của “cha” Lạc Long Quân. Tên gọi thời kỳ này là Xích Quỷ hoặc Việt Thường.

Tam quan
Nghi môn đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình.

Câu đối ở đền Đồng Bằng, nơi thờ vua cha Bát Hải Động Đình (tức Lạc Long Quân):
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.

Mốc lịch sử Việt thứ ba: Chế độ phong kiến
Thời kỳ bộ lạc thế tập, gọi vua là cha (“phụ”), kéo khá dài như chuyện nàng Âu Cơ mang nặng đẻ đau sinh ra bào ngọc trăm trứng… Phải đến khi xuất hiện Hùng Quốc Vương, người con trưởng đích trong trăm trai, với kỳ công hiệu triệu chư hầu, tiêu diệt nhà Ân Thương, thì xã hội Việt mới tiến lên một bước quan trọng.
Ngọc phả Hùng Vương kể: Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn… Bấy giờ Vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương.
Bắt đầu từ Hùng Quốc Vương bờ cõi đất đai trong thiên hạ được chia phân thành các chư hầu phiên dậu bình phong. Mỗi chư hầu có người chủ trì gọi là “phụ đạo” và chức chư hầu này được thế tập nối nhau. Vua xưng là thiên tử. Đặt ra lễ chễ trăm quan. Nhân dân được định tộc họ. Những vị tiên tổ có công lao được phong làm thần mà thờ phụng.

IMG_8547.JPG
Đình Hương Trầm, Việt Trì, nơi có sự tích thờ Lang Liêu.

Đây cũng là thời điểm đời Hùng thứ 6 với vị Lang Liêu, người có công hoàn tác Dịch học âm dương vuông tròn, khai mở lễ tiết (Tết). Truyện Bánh chưng bánh dày kể rõ, Lang Liêu nối ngôi đã phân chia cho các anh em làm phiên dậu bình phong…
Bản chất là xã hội Việt lúc này bước sang chế độ phong tước kiến địa hay chế độ phong kiến điển hình. Vua Hùng đứng đầu Bách Việt (là tổ của Bách Việt), vì mỗi “Việt” là một chư hầu trong thiên hạ họ Hùng. Thời điểm của mốc lịch sử này được ghi nhận sau khi Hùng Vương thứ 6 đánh thắng giặc Ân, tức vào quãng hơn 3000 năm trước. Tên gọi đất nước của Lang Liêu thì như đã rõ, là Văn Lang.

IMG_8595.JPG
Đình Bảo Đà, Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ.

Câu đối ở đình Bảo Đà tại Việt Trì:
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Mốc lịch sử Việt thứ tư: Quốc gia thống nhất
Mô hình Thiên tử – Chư hầu, vua Hùng – Bách Việt kéo dài qua các thời kỳ thịnh rồi suy, dẫn tới xung đột khốc liệt giữa các chư hầu. Để rồi nổi lên 1 chư hầu lớn thôn tính toàn bộ các chư hầu khác là Thục An Dương Vương như trong truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày. Vị vua đã thống nhất các nước chư hầu đến từ phía Tây – Thục này chính là nhà Tần. Truyền thuyết chép vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán.
Tuy nhiên, với sự tàn ác của Tần đế, truyền thuyết Việt không chấp nhận vai trò thống nhất thiên hạ của nhà Thục. Người được coi người khởi thủy nước Nam lại là Vũ Đế Triệu Đà. Xét kỹ thì với vai trò là bố của Trọng Thủy, Triệu Đà cũng chính là vua Tần, người đã diệt con cháu hậu duệ của Hùng Quốc Vương Lang Liêu.
Mặt khác, Triệu Đà thứ hai là Lưu Bang Hiếu Cao Tổ, người Tuấn kiệt đã lãnh đạo dân Việt kháng Tần thắng lợi, lập nên một triều đại Hảo Hán (Hiếu Hán), thống nhất. Chế độ quận huyện từ trung ương xuống địa phương được áp dụng trên toàn lãnh thổ. Xã hội Việt bước vào giai đoạn quốc gia thống nhất.
Thời điểm cho mốc thống nhất toàn lãnh thổ hay phong kiến tập quyền này rơi vào quãng năm 256 TCN (thời điểm Tần diệt Chu) hoặc 207 TCN (thời điểm Lưu Bang diệt Tần), tức là cách nay trên 2200 năm.
Câu đối ở điện Hưng Long, nơi thờ Triệu Vũ Đế tại Xuân Quan, Hưng Yên:
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch:
Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.

Từ thời điểm này xã hội người Việt đã thống nhất chế độ, thống nhất lãnh thổ nên lịch sử Việt chấm dứt thời Hùng Vương dựng nước, bước sai thời kỳ con cháu “giữ lấy nước”. Hơn 3000 năm dựng nước đầy gian nan, từng bước, từng bước một cha ông đổ mồ hôi nước mắt mới có được những thành tựu to lớn để lại cho con cháu. Đọc lại ngọc phả Hùng Vương xin chớ quên câu Uống nước nhớ nguồn.

 

 

 

 

 

Ngọc phả Hùng Vương ở đình Vân Luông, Việt Trì, Phú Thọ

Bảo Đại năm thứ 13, ngày 10, tháng 3, xã Vân Lung thừa sao.

NAM VIỆT HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢ VĨNH TRUYỀN
Cháu chắt dòng dõi ức vạn năm hương lửa tôn sùng điển thờ

Kỷ Hồng Bàng

Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường, ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.

Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ

Tại vị 130 năm, thọ 173 tuổi, sinh ngày 15 tháng 11 năm Giáp Tí, mất ngày 1 tháng 1. Sinh Đế Nghi năm Giáp Ngọ là con trưởng, sinh Lộc Tục năm Nhâm Ngọ là con thứ, phong làm Kinh Dương Vương cai trị quận Giao Chỉ, Nam Man.

Sử ký Việt Nam

Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành Xích Quỷ, cùng tên nước Xích Quỷ, nay tên là nước Đại Việt An Nam. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.

  1. Kinh Dương Vương
    Chi Càn

Tên húy là Lộc Tục. Tại vị 250 năm, thọ 271 năm. Sinh ngày 4 tháng 1 năm Nhâm Ngọ. Sau hóa sinh về biển Động Đình, cùng với con gái Đế quân sinh ra con trưởng là Sùng Lãm, phong làm Lạc Long Quân Hiền Vương, năm Bính Thìn bắt đầu trị Nam Man.
6 cung phi của Dương Vương sinh 24 nam hoàng tử, 12 nữ cônng chúa, dòng dõi hoàng tôn 36 chi, sinh cháu chắt 592 người. Trị nước thiên hạ chư hầu đều phục, Bách Man, Tứ Di đều quy thuận, các phương tám hướng đều hưởng phúc thái bình, nước không có thuế cao, dân không dối trá.
Hùng Dương Vương Cao hoàng Thái tổ Đức tông Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương thánh tổ Nam thiên Đại bảo Đức tông Thánh vương.

  1. Hùng Hiền Vương
    Khảm chi

Tên húy là Sùng Lãm. Tại vị 269 năm, thọ 506 năm, sinh ngày 5 tháng 5 năm Bính Thìn. Sau ngày 9 tháng 1 hóa sinh về biển làm đế chủ Thủy Tiên Động Đình Long Quân. Hiền Vương lấy nàng Ẩu Cơ Âu Lạc, là con gái thứ của Đế Lai, ở tại núi Nghĩa Lĩnh, sinh một bào trăm trứng, nở ra điều lành trăm trai hoàng tử. Là thủy tổ của Bách Việt, nước Văn Lang, từ lúc sơ khai mở thánh tạo dựng cơ đồ.
9 cung phi sinh 118 hoàng tử, 19 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 137 chi, sinh cháu chắt 3599 người. Cai trị đất nước có khí trời báu vật tài thần, thiên hạ xưa nay không có, sinh trăm vương tử trị một nước trăm vùng chiếm giữ làm trăm họ.
Hùng Hiền Vương Cao hoàng Thái tổ Quốc tông Quang hưng Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Đại bảo Tiền hoàng đế Khai quốc Hồng đồ Nam triều Thượng thánh Tiền đại Đế vương Thánh vương.

  1. Hùng Quốc Vương
    Chi Cấn

Tên húy là Lân Lang. Tại vị 217 năm, thọ 767 năm, giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ, cùng sinh trăm vương năm Canh Ngọ. Sau trăm vương cùng hóa vào giờ Thìn ngày 12 tháng 3. Các vị cùng tụ họp tại điện, 50 vương theo cha, 50 vương theo mẹ. Tương hợp can Tí Ngọ. Quốc Vương là chủ của trăm vương, truyền 18 vua trị nước.
12 cung phi sinh 33 hoàng tử, 18 công chúa, sinh con trai cả là Nghĩa Vương tiếp ngôi cai quản cơ đồ. 51 chi, cháu chắt 900. Giữa ban ngày lên trời hóa sinh bất diệt vào giờ Ngọ ngày 5 tháng 5, lên đỉnh núi, ngự trên mây năm sắc, bay lên không, hóa thần, vạn năm phụng sự.
Hùng Quốc Vương Thượng thánh tông Nguyên triều hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Thánh tổ Hùng Vương Nam Thiên thượng thánh Tiền hoàng đế khai quốc hồng đồ Đột Ngật Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương.

  1. Hùng Nghĩa Vương
    Chi Chấn

Tên húy là Bảo Lang. Tại vị 300 năm, thọ 546 năm. Sinh giờ Mão ngày 6 tháng 1 năm Tân Mùi. Sau giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 hóa là tiên, sinh bất diệt, thành Kim Tiên Thượng Giác, ở nơi cung ngọc, cai quản ba ngàn chúa tiên. Sinh con trưởng là Hy Vương tiếp ngôi truyền 8 vương trị vì.
14 cung phi của vua sinh 49 hoàng tử, 20 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 69 chi, cùng với cháu chắt 1591 người. Thời vua trị vì thiên hạ, thần dân trăm họ không chịu tô cao, không động đao binh, trọng sản xuất nông tang làm căn bản, bốn biển giàu có, thiên hạ vững mạnh. Mỗi suất người dân nộp 36 đồng tại điện.
Hùng Nghĩa Vương Thần tông Ân trạch Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Viễn Sơn Thánh vương Ân trạch Phổ huệ Thánh vương.

  1. Hùng Hi Vương
    Chi Tốn

Tên húy là Viên Lang. Tại vị 200 năm, thọ 599 năm. Sinh ngày 15 tháng 2 năm Đinh Mão, hưởng được tới ngày 20 tháng 5 thì mất. Sinh con trưởng là Diệp Vương, tiếp ngôi truyền 5 vua trị vì.
36 cung phi của Vương sinh 52 hoàng tử, 9 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 61 chi, sinh cháu chắt 1600 người. Thời Vương cại trị hưởng thái bình, dân không dối trá, thiên hạ vững mạnh, quân binh giữ yên. Theo như lệ trước. Mỗi suất đinh nộp 36 đồng.
Hùng Hi Vương Cao tông Trợ thắng Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Ất Sơn Thánh vương Trợ thắng Công bình Hoàng đế.

  1. Hùng Diệp Vương
    Chi Ly

Tên húy là Pháp Hải Lang. Tại vị 81 năm, thọ 580 năm. Sinh ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tí. Hóa về trời ngày 7 tháng 1. Sinh con cả là Huy Vương.
48 cung phi của Diệp Vương sinh 32 hoàng tử, 19 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 52 chi, cháu chắt 699 người. Vương trị thiên hạ tuân theo phép trước, nộp 36 đồng tiền. Do Vương cầu trời dùng lễ dối, quần thần dèm pha, trời sinh giặc phương Bắc xâm lược.
Hùng Diệp Vương Bảo tông Minh vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Bách Việt thần linh Nam thiên Đại bảo Nhân viên Minh vương Thánh vương.

  1. Hùng Huy Vương
    Chi Khôn

Tên húy là Long Tiên Lang. Tại vị 200 năm, thọ 692 năm. Sinh ngày 10 tháng 10 năm Tân Dậu. Sau vào ngày 15 tháng 7 hóa sinh ở trung điện thành tiên bất tuyệt. Lấy nàng Ngọc Tiêu ở Đảo Sơn làm hoàng chính phi, sinh con trưởng là Ninh Vương, tiếp vị truyền 5 vua trị vì.
Huy Vương truyền 7 vua trị vì. 60 cung phi sinh 23 hoàng tử, 36 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 59 chi, sinh cháu chắt 750 người. Thời Vương trị vì, thiên hạ thái bình, chư hầu thành phục, nhân dân không có trộm cướp, giặc giã, không thu thuế cao, mỗi suất đinh dân nộp ngân khố 18 đồng.
Hùng Huy Vương Thái tông Nhân minh Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hiển đức Nhân minh Quang thiên Phổ hoá Thánh vương.

  1. Hùng Ninh Vương
    Chi Đoài

Tên húy là Thừa Vân Lang. Tại vị 100 năm, thọ 642 năm. Sinh ngày 15 tháng 7 năm Nhâm Thìn. Về trời ngày 11 tháng 10. Sinh con trưởng là Chiêu Vương, tiếp ngôi truyền 5 vua trị vì.
29 cung phi của Ninh Vương sinh 31 hoàng tử, 16 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 47 chi, sinh cháu chắt 579 người. Trị thiên hạ thái bình, dân đinh nộp mỗi suất 24 đồng tiền vào ngân khố.
Hùng Vĩ Chiêu Vương Hiển tông Duệ trí Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thánh văn Thần võ Duệ trí Chí đức Vương.

  1. Hùng Chiêu Vương
    Chi Giáp

Tên húy là Quốc Tiên Lang. Tại vị 80 năm, thọ 602 năm. Sinh ngày 12 tháng 8 năm Quý Tị. Về trời ngày 10 tháng 4. Uy Vương là con trưởng nối ngôi.
46 cung phi của Vương sinh 30 hoàng tử, 9 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 42 chi, sinh cháu chắt 559 người. Trị thiên hạ thái bình. Dân đinh theo vua trước nộp 36 đồng vào ngân khố.
Hùng Chiêu Vương Minh tông Thần công Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thích long Nghĩa Lĩnh Thần công Dũng lược Thánh vương.

  1. Hùng Uy Vương
    Chi Ất

Tên húy Hoằng Hải Lang. Tại vị 90 năm, thọ 512 năm. Sinh ngày 15 tháng 11 năm Giáp Ngọ. Về trời ngày 6 tháng 11. Sinh Trinh Vương là con trưởng nối ngôi, truyền 3 vua trị.
40 cung phi của Vương sinh 29 hoàng tử, 30 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 59 chi, sinh cháu chắt 434 người. Trị thiên hạ bốn biển, dân đinh theo lệ triều trước nộp khố 36 đồng tiền.
Hùng Uy Vương Hùng tông Xuân vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hùng đức Chiêu nhân Quang hiếu Xuân vương Thánh vương.

  1. Hùng Trinh Vương
    Chi Bính

Tên húy là Hưng Đức Lang. Tại vị 1 07 năm, thọ 5 14 năm. Sinh ngày 13 tháng 8 năm Canh Tuất. Về trời ngày 2 tháng 1. Sinh Võ Vương là con trưởng nối ngôi truyền 4 vua trị.
36 cung phi của Vương sinh 46 hoàng tử, 18 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 64 chi, sinh cháu chắt 409 người. Trị nước an bình, thần dân trăm họ không chịu thuế cao, không bị quân binh chiếm cứ. mỗi suất 9 đồng nộp khố.
Hùng Trinh Vương Đức vương Minh bảo Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hiển liệt Thánh trí Thai yết(?) Minh bảo thánh vương.

  1. Hùng Võ Vương
    Chi Đinh

Tên húy là Hiền Đức Lang. Tại vị 96 năm, thọ 496 năm. Sinh ngày 14 táng 4 năm Bính Thân. Về trời ngày 15 tháng 11. Sinh Việt Vương là con trưởng truyền 3 vua trị.
35 cung pho của Vương sinh 50 hoàng tử, 6 công chúa , dòng dõi hoàng tôn 56 chi, sinh cháu chắt 305 người. Trị nước thanh bình, trăm nhà đều phục. Mỗi suất đinh nộp khố 6 đồng tiền.
Hùng Võ Vương Thánh tông Thượng giác Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hoàng Đại giác Thần trí Thánh vương.

  1. Hùng Việt Vương
    Chi Mậu

Tên húy là Tuấn Lang. Tại vị 105 năm, thọ 502 năm. Sinh ngày 10 tháng 10 năm Kỷ Hợi, Về trời ngày 15 táng 11. Sinh Định Vương là con trưởng truyền 5 vua trị.
31 cung phi của Vương sinh 27 hoàng tử, 30 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 57 chi, sinh cháu chắt 541 người. Trị nước thái bình, dân không dối trá. Mỗi suất đinh nộp khố 100 đồng.
Hùng Việt Vương Huy tông Quang phúc Hoàng đế.
Mỹ tự truy phong
Hùng Vương Thiên tâm Quang phúc Vương tướng Linh ứng Thánh vương.

  1. Hùng Định Vương
    Chi Kỷ

Tên húy lầ Chân Nhân Lang. Tại vị 99 năm, thọ 386 năm. Sinh ngày 17 tháng 5 năm Bính Dần. Về trời ngày 25 tháng 10. Sinh Triều Vương là con trưởng truyền 3 vua trị.
18 cung phi của Vương sinh 18 hoàng tử, 22 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 40 chi, sinh cháu chắt 309 người. Trị nước thái bình, bốn phương yên tĩnh, dân đinh nộp thuế 1 bách tiền vào khố.
Hùng Định Vương Tông quốc Bảo hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Quốc bảo Tuyên đức Thần công Thượng trí Thánh vương.

  1. Hùng Triều Vương
    Chi Canh

Húy Cảnh Triều Lang. Tại vị 94 năm, thọ 286 năm. Sinh ngày 4 tháng 1 năm Quý Sửu. Sau về trời ngày 9 tháng 9. Sinh con trưởng là Tạo Vương tiếp ngôi truyền 3 vua trị.
60 cung phi của Triều Vương sinh 40 hoàng tử, 16 công chía, dòng dõi hoàng tôn 56 chi, sinh cháu chắt 396 người. Trị nước thiên hạ thái bình. Dân đinh mỗi suất nộp 18 đồng vào khố.
Hùng Triều Vương Nhân tông Quang đức Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Nhân chiêu Quang đức Thần trí Đại nguyên Thánh vương.

  1. Hùng Tạo Vương
    Chi Tân

Tên húy Đức Quân Lang. Tại vị 92 năm, thọ 273 năm. Sinh ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Tị. Sinh con trưởng là Nghị Vương, truyền 3 vua trị.
26 cung phi của Tạo Vương sinh 30 hoàng tử, 7 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 37 chi, sinh cháu chắt 390 người. Trị nước thái bình, trăm họ thần dân giàu đủ, đinh mỗi suất 200 đồng tiền nộp khố.
Hùng Tạo Vương Nghị tông Thiên bảo Quang triều Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thánh tổ Nam Thiên Đại bảo Tiên triều Thánh vương.

  1. Hùng Nghị Vương
    Chi Nhâm

Tên húy là Bảo Quang Lang. Tại vị 160 năm, thọ 217 năm. Sinh ngày 15 tháng 8 năm Ất Dậu. Về trời ngày 11 tháng 8. Sinh con trai cả là Duệ Vương truyền 4 vua trị.
39 cung phi của Vương sinh 22 hoàng tử, 15 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 37 chi, sinh cháu chắt 291 người. Triị nước lâu dài tốt đẹp, dân đinh mỗi suất nộp 300, ruộng mỗi đầu thuế 10 đồng. 50 đinh lập 1 đội binh.
Hùng Nghị Vương Thụy tông Nam triều Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hoàng bảo Thánh tổ Nhân hoằng Huệ đức Thánh vương.

  1. Hùng Duệ Vương
    Chi Quý

Tên húy là Huệ Đức Lang. Tại vị 115 năm, thọ 227 năm. Sinh ngày 3 tháng 3 năm Canh Thân. Sau vào ngày 5 tháng 5 hóa sinh cùng với con rể là Tản Viên Sơn, ban ngày lên trời, trên thượng điện thành tiên, sinh sinh bất tuyệt diệt, tung tích vạn cổ, là thánh vương thiên vương tối linh, kiêm đứng đầu thượng đẳng bách thần. Truyền 5 con trại cai trị. Đầu tiên truyền cho con trưởng là Kính Vương tiếp ngôi, trị được 3 năm thì mất. Sau truyền ngôi cho con thứ là Cảnh Nhiếp Lang, thống trị được 10 năm thì mất. Lại truyền cho cháu được 3 năm tại vị cũng mất. Vương truyền cho con rể Tản Viên giữ ngôi, theo mệnh vua cha mà ban lệnh chế, quyền định thiên hạ, trị vì được 10 năm. Cha con đồng tầm muốn thành tiên, giác ngộ phép thần thông, hưởng vạn năm thiên tiên bất diệt. Nên mới nhường ngôi cho Thục An Dương Vương, cũng là cháu chắt dòng dõi Hùng Vương, tông phái của hoàng đế trước đây, là cháu 19 đời của bộ chủ phụ đạo. Duệ Vương có 100 cung phi, đam mê tửu sắc, sinh 20 hoàng tử, 6 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 26 chi, sinh cháu chắt 194 người. Đến lúc vận cáo chung họ Hùng, 10 nam 4 nữ đều mất, không có con nối dõi. Còn 2 nữ, một là Mị Châu Tiên Dung công chúa lấy Trử Đồng Tử, thành tiên bất diệt. Một là Mị Nương Ngọc Hoa công chúa, lấy Tản Viên Sơn Tinh, nhận ngôi là con rể, một vị vua tốt, trị nước được 10 năm thì nhường ngôi lại cho Thục An Dương Vương. Duệ Vương cùng Tản Viên Sơn cha còn cùng một ngày thành tiên, hóa sinh bất diệt, vạn thế xưa nay không từng có, là những bậc đại thánh minh quân của thiên hạ.
Từ đầu tính nước họ Hùng 18 đời truyền ấn phù quốc gia, 180 đại đế vương lên ngôi, nhất thống núi sông, xe sách trị nước, kiến dựng 120 thành điện.
Hùng Duệ Vương Thiên tông Minh vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thần linh Hải đức Minh vương Nam triều Thánh vương.

Như vậy cộng các năm trị vì, 18 đời thánh vương di truyền, thánh tử thần tôn, triều đại đế vương, hưởng ngôi cộng là 2655 năm, thọ 8618 năm, sinh 986 chi hoàng tôn công chúa, sinh cháu chắt cộng là 14.370 người, trị ở nước Nam, đầu núi góc biển, vạn thế trường tồn, mãi mãi không ngừng.

THƯỢNG THẦN CUNG ĐIỆN
Viễn Sơn thánh vương (bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Hiển linh Thống thủy Điện an Hoằng tế Phổ hóa Minh túc Hậu ứng Quảng Huệ Uy hàm Diễn đức công Thánh vương (bài vị giữa)
Ất Sơn Thánh vương (bài vị phải)

TRUNG THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương (bài vị giữa)
(bài vị phải) 

HẠ THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
(bài vị giữa) Tên hiệu cũng giống như Trung Thần Cung
(bài vị phải) 

Ngày 15 tháng 1 năm Thiên Phúc thứ nhất. Thuộc thư ký Lê Đại Hành.

 

 

Sự sinh thành Bách Việt qua Ngọc phả Hùng Vương

Bài viết trong Tọa đàm TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT do Trung tâm Minh triết và Trung tâm Lý học phương Đông tổ chức ngày 7/9/2019.

Thời đại Hùng Vương được biết tới trong các ngọc phả, thần tích và truyền thuyết nên việc nghiên cứu về thời kỳ dựng nước của vua Hùng không thể không khảo sát một cách đầy đủ các ghi chép này. Ngọc phả Hùng vương là bản văn được những người có tâm đủ tầm thu thập trong dân gian và biên tập lại để lưu truyền. Đây là trường hợp đặc biệt của Việt Nam sau cả ngàn năm mất nước tức thời kỳ đứt đoạn không liên thông với quá khứ, Ngọc phả là những thông tin cô đọng, khách quan nhất mà tổ tiên người Việt muốn truyền đạt lại cho thế hệ sau.
Với sự trân trọng yêu quý vô cùng quá khứ gian khó mà tiền nhân đã trải qua, trong thời văn minh hiện đại chỉ với chút thông tin lịch sử lưu truyền quý giá ngày nay có thể so chiếu với nhiều thành tựu trong những lĩnh vực khoa học liên quan mà hiệu chỉnh. Rồi đây chắc chắn có ngày con cháu sẽ có được bộ sử chân xác của nòi giống.
Bản Ngọc phả Hùng Vương có ký hiệu R.285 do GS. Ngô Đức Thọ nộp lưu tại Thư viện quốc gia có tựa đề: Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế ký truyn ngọc phổ cổ tích lưu lai. Dịch là: Tích xưa lưu lại của Ngọc phả chép truyền Tiền Thái tổ Cao Hoàng đế Hùng Vương Sơn Thánh tổ nước Đại Nam.
Đây là một bản sao của cuốn Ngọc phả được lưu ở đền Hùng, soạn bởi Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố vào năm Hồng Đức thứ nhất (1470). Ngay trang đầu tiên của Ngọc phả đã đề đôi câu đối tương truyền của chúa Trịnh viết:
Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục ngâm thi.
Dịch:
Hỏi chuyện đã qua nên đọc sử
Tinh tường như vẽ muốn ngâm thơ.
Ý của câu đối rất rõ, bản Ngọc phả này chính là “sử”, muốn biết về quá khứ người Việt thì phải đọc cuốn “sử” này, mọi chi tiết đều tinh tường cả.

van-lai.png

Ngọc phả Hùng vương kể, sau khi Lạc Long Quân (gọi là Hiền Vương) lấy nàng Âu Cơ đã sinh ra một bào ngọc, được đặt trên mâm vàng tại núi Thứu Lĩnh. Lúc bào thai nở thành một trăm người con trai có Tứ đại Thiên vương hóa gió mưa sấm chớp tới bảo hộ. Khi các hoàng tử lớn lên lại được Bát bộ Kim cương các thần tướng tới giúp, tặng cho các bảo vật. Trăm hoàng tử đều có thần tài thánh trí. Các quan triều đình lúc ấy cũng không ai có thể phân biệt được người anh minh quyết đoán hơn, khó đặt được danh thần tên xưng. Nhà vua bèn lập đàn cầu trời thì được ứng nghiệm, có một lão tiên ông giáng hạ ở bến sông Việt Trì.
Vua hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Lão ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốn đặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần âm dương, gọi tên các phép tiên…
Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai.
Nhờ cuốn Thiên thư (Sách trời) này mà Vua đã xác định được vị hoàng tử trưởng, lập làm thái tử. Còn lại 99 người anh em đều được đặt tên xưng danh là các vị Lang.
Xem tới đây ta mới hiểu ý nghĩa của “Thiên thư” – Sách trời trong cổ văn xưa. Sách trời phân định ở đây không phải là sách sử của Trung Quốc như vẫn nghĩ. Một đôi câu đối tại đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh nói về Thiên thư và Bách Việt:
天書定分正統肇明都百粵山河知有祖
光岳協靈故宮成萃廟三江襟帶尚朝尊
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.
Dịch:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Theo Ngọc phả Hùng Vương, sau khi sắp đặt xong việc đặt tên cho các hoàng tử, Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Bắc, ba là Sơn Nam, bốn là Hải Dương, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Lạng Sơn Cao Bằng, mười ba là Quảng Đông Quảng Tây, mười bốn là núi Ngũ Lĩnh Vân Nam, mười lăm là Chiêm Thành, bộ chủ các xứ.
Nước 15 bộ, là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Trinh, Nhật Nam, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang.
Thông tin về cương vực quốc gia lúc này thật đặc biệt. Phạm vi quốc gia gồm 15 xứ, trong đó ngoài những khu vực ở miền Bắc (Sơn Tây, Sơn Bắc, Sơn Nam, Hải Dương, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng Lạng Sơn) và Bắc Việt (Ái Châu, Hoan Châu, Bố Chính, Ô Châu) ngày nay, lại còn có các vùng phụ thuộc:

  • Quảng Đông Quảng Tây
  • Ngũ Lĩnh Vân Nam
  • Ai Lao
  • Chiêm Thành.

Như thế cương vực quốc gia lúc này đã bao trùm toàn cõi Đông Nam Á (Ai Lao, Chiêm Thành) và kể cả vùng phía Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây). Dễ nhận thấy cương vực trên cũng trùng khớp với phạm vi bắt gặp của trống đồng thời Đông Sơn. Trống đồng là bằng chứng rõ ràng về một quốc gia tập hợp nhiều khu vực, đều do Hùng Vương làm chủ.
Ngọc phả Hùng Vương kể tiếp:
Vua mới phân định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu quý, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc…
Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc. Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng. Các vương tử gọi là Quan Lang. Các vương nữ gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính.
Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng… Đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Đó là thuỷ tổ của Bách Việt.
Ngọc phả Hùng Vương cũng như Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái đều nói rõ, trăm người con trai Hùng Vương ấy là thủy tổ của trăm giống Việt – Bách Việt. Bách Việt theo đó chia làm 2 dòng. Một dòng 50 người con theo cha về biển làm Thủy Tinh. Một dòng 50 người con theo mẹ về núi là Sơn Tinh. Điều này rất quan trọng khi xét nền văn hóa khảo cổ thời kỳ này ta thấy có 2 dòng văn hóa song song. Một là văn hóa đồ đồng đỉnh vạc, với đặc trưng trang trí Rồng của vùng phía Đông Bắc. Hai là văn hóa trống đồng, với họa tiết Chim là chủ đạo, của khu vực Tây Nam.
Ngọc phả Hùng Vương kể tiếp:
Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn…
Bấy giờ Vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương.
[Nguyên văn: Truy ân tiền liệt thổ phân đệ, nãi lập các bộ, Sơn tinh Thủy tinh, định vi tộc, cải vi bách tính, xưng vi bách quan, hiệu phong bách thần, phân liệt sơn đầu hải giác, hùng cứ nhất phương]

nhat-nguyet-tinh-than.png
Tiếp theo:
50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù mà truyền dẫn. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ đất đai, xác định cương giới. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Người chủ gọi là Bô (bố), bố gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ theo phụ giúp, khi đó đều là những người tài giỏi. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Các họ tông của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời coi giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, giữ mãi phương Nam.
Đoạn Ngọc phả này cho những thông tin cực kỳ quan trọng về thiên hạ Bách Việt từ Hùng Quốc Vương:

  • Cương vực của Bách Việt được chia phân thành các cõi, là các vùng đất ”bình phong”, chư hầu phiên thuộc. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Các vùng đất này được giao cho các anh em của Hùng Vương, các họ tông của các công thần khai quốc. Vùng nhỏ hơn thì cho các quan lang, thổ tù cai quản. Áp dụng hình thức thế tập cha truyền con nối để cai trị qua các đời. Nói cách khác đây chính là lúc bắt đầu hình thức phong tước kiến địa hay khởi đầu chế độ phong kiến trong lịch sử nước ta.
  • Vua Hùng ”định làm các tộc, đổi làm trăm họ”. Như vậy, cùng với việc đặt tên cho trăm hoàng tử, việc xác lập các dòng tộc và đặt họ theo cha cũng bắt đầu từ lúc này. Người Việt có trăm họ cũng là từ đây.
  • Vua Hùng ”đặt ra chức vụ trăm quan”. Tức là chế độ triều đình, lễ chế nhà nước được thiết lập, với hệ thống quan lại đầy đủ.
  • Vua Hùng ”phong tên cho trăm thần”. Cùng với thể chế triều đình, chư hầu, thời kỳ này còn khởi lập tín ngưỡng chính thức, xác lập những người có công, có đức mà phong làm thần để thờ phụng.

Ngọc phả Hùng Vương là bộ sử tóm tắt về thời kỳ dựng nước của người Việt. Những thông tin tiền nhân người Việt ghi nhận rõ ràng trong sử và sách lưu truyền lại đã xác định: Vào khoảng giữa thời kỳ Hùng Vương, nước ta đã bước sang chế độ phong kiến với mô hình vua Hùng làm chủ cả thiên hạ trăm cõi núi sông cùng hàng trăm các chư hầu phụ thuộc làm phiên dậu bình phong. Chế độ thế tập cha truyền con nối được áp dụng ở chính quyền trung ương cũng như ở các xứ chư hầu. Triều đình được tổ chức quy củ, có lễ nhạc với hệ thống trăm quan hoàn chỉnh. Nhân dân được đặt tên trăm họ. Xã hội được xác lập về tư tưởng – tín ngưỡng bởi tục thờ cúng tổ tiên. Cũng từ đó mà thiên hạ thái bình thịnh vượng. Đất đai Bách Việt bao trùm Đông Nam Á và Hoa Nam.
Thay cho lời kết, xin đọc đôi câu đối ở đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ:
數千年王佐始終父子君臣開拯點
十五部天分草埜山河日月共長存
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.
Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.