ĐỌC LẠI VIỆT SỬ LƯỢC

Đại Việt sử lược là cuốn sử sớm do một tác giả không biết tên (khuyết danh) viết ở bên… Tàu thời nhà Nguyên và được phát hiện trong đống 4 kho hàng Tứ khố toàn thư của nhà Thanh sau khi Càn Long cho hàng trăm “bác sĩ” thu gom sách sử, bản đồ về “chỉnh lý”…
Về mở sử Việt, tác phẩm này viết như sau:
Xưa, Hoàng Đế dựng nên muôn nước thấy Giao Chỉ xa xôi ở ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được, bèn phân giới hạn ở góc Tât Nam, có 15 bộ lạc là:… Những bộ lạc này đều không thấy đề cập đến trong thiên Vũ cống.
Đến đời Thành Vương nhà Chu, Việt Thường Thị mới đem dâng chim bạch trĩ, sách Xuân Thu gọi là khuyết địa, sách Đái ký gọi là Điêu đề.
Đến đời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật quy phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chân chất, chính sự dùng lối thắt gút. Truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương
.”
Tạm thời gác lại vấn đề văn bản của tác phẩm này, mà thử xem nội dung của Việt sử lược nói về thời đại Hùng Vương như thế nào.

  • Thứ nhất, Đại Việt sử lược ghi rõ Giao Chỉ có từ thời “Hoàng Đế mở muôn nước“. Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên được coi là thủy tổ của Trung Hoa, cách nay 5000 năm. Vậy sử Việt cũng bắt đầu từ thời Hoàng Đế, mà Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả gọi là “Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ“.
  • Thứ hai, 15 bộ (bộ lạc) của đất Việt đúng ra là vào thời Văn Lang sau đó, chứ thời Giao Chỉ của Hoàng Đế đâu đã phân ra 15 bộ. Cho nên các bộ này mới “không có trong thiên Vũ cống“, tức là trong lịch sử thời Hạ Vũ.
    Truyện Việt Thường Thị cống chim trĩ cho Chu Thành Vương, tức vị vua thứ 3 của nhà Chu, cho thấy giai đoạn từ Hoàng Đế Hữu Hùng đến thời Chu, ở đất Việt vẫn tồn tại các chế độ xã hội. Thậm chí đã có họ (“Thị”) hay chế độ cha truyền con nối. Hình tượng “khuyết địa” với “điêu đề” chỉ vùng đất miền ven sông biển, nơi có nhiều thuồng luồng nên người dân xăm mình để xuống nước bắt tôm cá. Tương tự trong sách Quảng Châu ký ghi là các Lạc dân làm ruộng theo nước triều lên xuống. Như vậy đây là chỉ giai đoạn của các Lạc vương, Lạc hầu trên đất Việt, những người con theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền biển Đông.
  • Thứ ba, đến thời Trang Vương nhà Chu, có người lạ ở bộ Gia Ninh dùng ảo thuật quy phục các bộ lạc khác, lập nước Văn Lang, xưng Hùng Vương. Tiếp theo giai đoạn xuống biển là giai đoạn của dòng lên núi (bộ Gia Ninh ở phía Tây trên núi) đã dùng những tri thức “vượt thời đại” (ảo thuật) để quy phục các bộ lạc mà lập nước Văn Lang. Đây là chuyện Cơ Xương Văn Vương tác dịch (dùng lối thắt gút – các dịch tượng trong Hà đồ Lạc thư), dựng nên nước của vua Văn, đến Cơ Phát xưng thiên tử trăm nước. Thiên tử tức là con Trời, con cháu của dòng Hữu Hùng Hoàng Đế, vì nhà Chu mang họ Cơ của Hoàng Đế. Đây là lý do mà thiên tử Chu xưng là Hùng Vương, nối tiếp các đời Hùng Vương từ Hữu Hùng Hoàng Đế.
    Sử Việt gọi sự kiện này là Thục Vương đánh chiếm đất Lạc hầu, lập nước Âu Lạc. Lạc là đất của Lạc Vương thì hiển nhiên Thục chính là Âu. Nhà Thục tính từ Âu Cơ lập người con trưởng là Hùng Quốc Vương lên ngôi thiên tử ở Phong Châu (Gia Ninh), phân ra 15 “bộ lạc”, tức là 15 bang quốc chư hầu lớn. Số chư hầu nhỏ thì lên đến hàng trăm, nên gọi là Âu Cơ sinh trăm con Bách Việt. Nếu so với thời “Hoàng Đế mở muôn nước” hay “Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ” thì các chư hầu thời Âu Cơ – Thục Vương có con số hàng trăm là còn ít.
    Thư tịch lịch sử về cổ sử Việt không hề sai, mà sai ở cách đọc, cách nhìn nhận những thông tin ở trong đó. Thời đại Hùng Vương mở sử có 3 giai đoạn:
  1. Hùng Vương Thánh Tổ bắt đầu ngang thời Hoàng Đế dựng muôn nước cách nay 5000 năm.
  2. Lạc triều với con số 4000 năm lịch sử từ cha Rồng Lạc Long Quân khai phá đồng bằng ven biển trải nhiều đời các Lạc vương, phân chia các Lạc hầu cai quản các đầu sông góc bể, xăm mình lội nước đắp đê, gây dựng cơ đồ.
  3. Thục triều với lịch sử bắt đầu ngang với thời nhà Chu, từ mẹ Âu Cơ tác dịch, Hùng Quốc Vương thề trung thành với họ Hữu Hùng, xưng mình là Hùng Vương, lập nước Văn Lang, đứng đầu trong trăm nước Việt chư hầu.

Thư tịch và phân kỳ thời đại Hùng Vương

Sách Quảng Châu ký viết:
Giao Chỉ có ruộng Lạc, theo nước thủy triều lên xuống, dân dựa vào đó trồng trọt để hưởng hoa lợi, dân có tên là Lạc dân, có Lạc vương, Lạc hầu, các huyện tự gọi là Lạc tướng, có ấn đồng thao xanh, tức là chức Lệnh trưởng ngày nay. Sau Thục Vương Tử đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương, đặt trị sở ở huyện Phong Khê. Sau này, Nam Việt vương Úy Đà đánh phá An Dương Vương, lệnh cho hai Điển sứ trong coi dân hai huyện Giao Chỉ, Cửu Chân.”
Đoạn tư liệu này thường được trích dẫn để nói rằng chỉ có Lạc vương, chứ không có Hùng vương… Rồi Thục An Dương Vương sống ngang với thời Triệu Đà…

Thực ra đây là đoạn sử tóm tắt cả thời đại Hùng Vương trên đất Giao Chỉ, mà nay dưới ánh sáng Sử thuyết Hùng Việt, mọi thứ đã trở nên sáng tỏ:

1. Mở đầu thời đại Hùng Vương là các Lạc Vương. Chữ Lạc lấy theo nghĩa của từ Nước (nước triều lên xuống trong ruộng Lạc). Trong truyền thuyết Việt đây là thời kỳ những người con đất Việt theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền đồng bằng ven biển. Giai đoạn này kéo dài từ 4000 năm trước tới quãng 3000 năm trước.
2. Thục Vương Tử đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương. Chi tiết này rất chính xác. Thục Vương Tử là dòng Thục, tức là dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi. Hậu duệ của dòng Thục đầu tiên đánh Lạc hầu ở đất Giao Chỉ. Đánh Lạc hầu chứ không phải Lạc vương vì khi đó đứng đầu vùng đất Giao Chỉ là một vị hầu của Lạc triều. Đây chính là chuyện Cơ Xương (Âu Cơ) đánh Sùng Hầu Hổ, mà sử Việt gọi là Sùng Lãm, dòng Lạc Long Quân.Dòng Thục chiếm được Giao Chỉ, về đóng đô ở Phong Châu (Phong Khê). Sau đó xưng là An Dương Vương. An Dương Vương cũng như Lạc Vương là danh hiệu của một triều đại, chứ không phải chỉ của 1 người. Thục triều An Dương Vương kéo dài hơn 800 năm.
3. Úy Đà đánh phá An Dương Vương, lệnh cho 2 điển sứ coi dân 2 huyện Giao Chỉ, Cửu Chân. Úy Đà trong chuyện này là tướng của Tần. Nói cách khác An Dương Vương đã bị quân Tần diệt vào năm 257 TCN. Nhà Tần bỏ chế độ chư hầu trước đó và lập ra chế độ quận huyện. 2 huyện Giao Chỉ, Cửu Chân có quan trông coi có thể được lập dưới thời Tần. Giai đoạn phong kiến tập quyền trung ương bắt đầu từ Tần Thủy Hoàng, hoàn chỉnh thêm qua thời nhà Hiếu (Tây Hán) và nhà Triệu (Nam Việt).
Như thế, thư tịch cổ đã ghi tóm lược chính xác về thời đại Hùng Vương, chỉ thiếu phần mở nước của các vị Hùng Vương Thánh Tổ ban đầu. Nhìn nhận lại tư liệu lịch sử từ góc độ mới cho phép giải đoán được chân tướng lịch sử Việt.

Nguồn gốc người Việt và chân tướng lịch sử thời đại Hùng Vương

Những giá trị mới trong cuốn Thiên thư: HÙNG VƯƠNG THÁNH TỔ NGỌC PHẢ sưu khảo, tái bản lần thứ nhất

Cuốn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả sưu khảo do Nhóm Nghiên cứu Di sản văn hóa Đền Miếu Việt vừa mới được tái bản sau 1 năm ra mắt lần đầu, với 5000 ấn bản khổ lớn, bìa cứng, in màu 392 trang. Khác so với với bản in lần đầu, bên cạnh các bản Ngọc phả Hùng Vương trong lần tái bản thứ 1 này cuốn sách đã được bổ sung nhiều bài viết và tư liệu mới nhằm làm sáng tỏ lịch sử thời đại Hùng Vương của người Việt từ những góc độ tôn giáo, lễ hội văn hóa, di tích tín ngưỡng và di vật khảo cổ. Đây là những thông tin vô giá như chìa khóa để mở ra cánh cửa về với cội nguồn lịch sử thật sự hơn 4000 năm của người Việt.

1. Những đóng góp của Phật giáo

Điểm nổi bật của lần xuất bản này là có sự góp sức của các Thượng tọa Phật giáo. Mở đầu giới thiệu là thầy Thích Thọ Lạc, Trụ trì chùa Yên Phú, Trưởng Ban văn hóa trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có Đôi lời về Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, trân trọng giới thiệu cuốn kinh sách này tới những người dân đất Việt có lòng yêu đất nước và mộ đạo pháp. Lời bạt của cuốn sách được Thượng tọa Thích Minh Thuận, Phó trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Phú Thọ, nơi đất tổ Hùng Vương viết, nêu bật Giá trị của sự tri ân báo ân tiên tổ đối với con người và xã hội Việt Nam hiện tại.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả đã cung cấp những dẫn chứng cụ thể về Đạo Phật du nhập rất sớm vào nước ta từ thời Hùng Vương, như việc Phật giáng dưới thời Hùng Chiêu Vương, tặng cho vua Hùng 2 bảo bối chế thành Thiên Linh kiếm và Vương Linh ấn. Bản thân bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền là bản được biên soạn bới Thư ký của Lê Đại Hành, tức là bởi vị Thiền sư Pháp Thuận nổi tiếng.

2. Tập hợp các ngọc phả Hùng Vương

Bản ngọc phả lưu tại đền Vân Luông với tên Hùng Vương kim ngọc bảo giám thực lục là sự tổng hợp các bản ngọc phả Hùng Vương được biên soạn qua các thời, bao gồm:

– Bản thời Lê Đại Hành là Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền với tên hiệu và các thông tin về 18 chi Hùng Vương.

– Bản thời Hậu Lê là Nam Việt sử ký là những câu chuyện thời Hùng Vương được ghi chép theo dòng lịch sử.

– Bản thời Minh Mạng bổ sung phần Hùng Vương tự lệ và lịch kỷ là những điển thờ, huyệt mộ và tục thờ Hùng Vương qua các triều đại.

Toàn bộ các bản ngọc phả này đã được dịch và cung cấp bản chụp gốc trong cuốn sách.

Cuốn sách cũng giới thiệu bản dịch cho Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ, là bản ngọc phả được lưu tại đền Hóa Đại Đình Tây Thiên, là chính bản thần tích cho việc phụng thờ Tây Thiên Quốc Mẫu, vị Mẫu đầu tiên của người Việt thời Hùng Vương.

3. Đối chiếu ngọc phả và di tích tín ngưỡng Hùng Vương

Ngọc phả Hùng Vương vốn là sách báu dùng trong việc thờ cúng các vị vua Hùng nên khảo cứu ngọc phả Hùng Vương không thể tách rời khỏi những di tích tín ngưỡng và văn hóa gắn với miền đất Tổ. Đối chiếu Ngọc phả với các di tích và các vùng văn hóa Hùng Vương cho phép xác tín những thông tin trong Ngọc phả về các vua Hùng, cũng đồng thời giúp chúng ta có được một góc nhìn và sự hiểu biết sâu sắc chính xác hơn đối với Ngọc phả, với từng nhân vật, sự kiện được quốc phả ghi lại và lưu truyền.

Mỗi một vùng di tích gắn với những nhân vật và câu chuyện cụ thể. Vùng di tích đền Hùng gắn với tục thờ Tam Sơn Thánh Tổ Hùng Vương. Vùng Phú Thọ và phía Bắc đền Hùng nổi bật là các di tích thờ Thái tổ Hùng Vương Đột Ngột Cao Sơn. Vùng hữu ngạn sông Lô ở phía Đông đền Hùng là phạm vi thờ 2 vị Viễn Sơn Thánh Vương, Ất Sơn Thánh Vương cùng 2 vị công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung. Vùng núi Lịch ở Sơn Dương, Tuyên Quang là bằng chứng rất rõ ràng về sự tích Ất Sơn Đế Thuấn lập nghiệp…

4. Văn tự thờ Hùng Vương

Ngoài việc cung cấp các tư liệu Hán Nôm của đền Vân Luông (Vân Phú, Việt Trì) lần xuất bản này còn cung cấp toàn bộ tư liệu của đình làng Triệu Phú hay đình Trẹo. Làng Trẹo vốn là dân trưởng tạo lệ của đền Hùng nên việc thờ cúng ở đền Hùng đều do dân làng Trẹo đảm trách. Khi đền Hùng được tu sửa thành di tích quốc gia như hiện nay thì các hoành phi câu đối cổ đã được đưa về để trong đình làng Trẹo. Những bức hoành phi và câu đối này là vật chứng rõ ràng cho tục thờ cúng Hùng Vương như tổ của Bách Việt.

Làng Trẹo cũng là nơi có tục đón vua Hùng về ăn Tết với dân làng nên nơi đây còn có một bộ văn tế Hùng Vương theo các kỳ lễ tiết rất đặc sắc, từ văn tế ngày 26 tháng Chạp, tế Nguyên đán, mồng 2, mồng 4, mồng 6, mồng 7 tháng Giêng tới văn tế ngày mồng 1, mồng 2 tháng 8.

5. Lịch đồ 18 triều Hùng Vương

Phần đặc biệt giá trị trong cuốn sách trong lần xuất bản này là việc khảo cứu và lập nên phả đồ kết nối toàn bộ lịch sử 18 triều đại Hùng Vương, với 4 giai đoạn phát triển của xã hội Việt từ thấp đến cao. 5000 trước Đế Minh đã khởi đầu dòng họ Hùng, lập nên triều đại các Hùng Vương Sơn Thánh Tổ. Sơn triều truyền tới Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân thì bắt đầu thời kỳ thị tộc phụ đạo, cha truyền con nối. Kinh triều trải qua các đời, tới Hùng Duệ Vương thì nhường lại vị trí thiên tử của thiên hạ cho dòng Thục Âu Cơ, bắt đầu thời kỳ phong kiến phân quyền, 1 thiên quốc và trăm chư hầu Bách Việt. Thời kỳ Thục triều này kéo dài hơn 800 năm thì được thống nhất bởi nhà Triệu, xã hội Việt bước sang chế độ phong kiến tập quyền.

Đi xa hơn những bản ngọc phả trước đây khi chỉ nêu tên hiệu các vua Hùng, phả đồ lịch sử Hùng Vương trong sách đã nêu rõ chi tiết các tên gọi, quốc hiệu, niên đại, vị trí kinh đô, các truyền thuyết và di tích liên quan tới từng tên hiệu trong 18 Hùng triều. Cuốn sách cũng cung cấp một bảng đối chiếu các giai đoạn Hùng Vương với các nền văn hóa khảo cổ trên đất Việt qua các thời Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun tới Đông Sơn.

6. Thời đại Hùng Vương trên báo Lao Động

Cuốn sách công bố một loạt các bài đã đăng trên báo Lao Động trong năm 2021 với những chủ đề khác nhau trả lời cho các câu hỏi thường gặp về thời đại Hùng Vương. Đó là về 3 vị vua Hùng thờ ở đất tổ, về núi Thái công cha và suối Nguồn nghĩa mẹ, về Tản Viên Sơn Thánh trị thủy sông Đà, về bãi Trường Sa nơi Tiên Rồng gặp gỡ, về kinh đô đầu tiên của nước Việt Thường bên bờ hồ Dâm Đàm, về chiếc Âu vàng đựng bào ngọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, về nguồn gốc các dòng họ người Việt… Đây là những bài báo ngắn gọn nhưng nội dung rất đặc sắc, như lần lượt hé mở từng cánh cửa tìm về với cội nguồn người Việt.

Cuốn sách Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả sưu khảo là sự giải đáp cho các thắc mắc của người đọc từ việc thờ cúng các vị thánh tổ Hùng Vương, là nguồn tư liệu quý báu của cha ông để lại về lịch sử người Việt đến những bảng biểu, sơ đồ khái quát được lịch sử hàng ngàn năm với những phương pháp và góc nhìn nghiên cứu độc đáo. Tất cả đặt trong một tâm thức hướng về nguồn cội và tri ân công đức tổ tiên.

Đây là cuốn Thiên thư về cội nguồn của người Việt, nước Việt, mà bất cứ ai là con cháu vua Hùng không thể không tìm đọc.

Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ

Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đới thượng triều tôn.

Sách ebook HÙNG VƯƠNG TRUYỀN SỬ DIỄN NGHĨA

Lời nói đầu

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi những sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các danh nhân địa phương…

Cuốn sách Hùng Vương truyền sử diễn nghĩa nêu lên tiến trình hơn 2000 năm lịch sử của thời kỳ Hùng Vương từ một góc độ hoàn toàn mới. Phần chính của cuốn sách gồm 9 bài viết theo dòng lịch sử từ khi Thái tổ Đế Minh đi tuần thú dựng kinh đô Nghĩa Lĩnh, Kinh Dương Vương lấy Thần Long bên bờ Thủy quốc Động Đình, Lạc Long Quân mở nước về phía Đông Nam, Thánh Dóng đánh giặc Ân, Lang Liêu phân phong các anh em làm phiên dậu bình phong, An Dương Vương xây thành Cổ Loa cho đến Triệu Vũ Đế trảm xà khởi nghĩa ở núi Vũ Ninh, Trưng Vương đọc lời thề sông Hát quyết đền nợ nước trả thù nhà.

Cuốn sách được viết dưới dạng sử ký, tức là ghi chép các sự kiện theo dòng lịch sử, trên cơ sở tổng hợp, đối chiếu và sắp xếp từ các nguồn tư liệu thư tịch, văn hóa dân gian, di tích và di vật khảo cổ. Đây không phải một cuốn sách khảo cứu lịch sử, mà là một cách tái hiện lại lịch sử xa xưa của người Việt từ góc nhìn đối chiếu Hoa – Việt và các tư liệu mới. Bằng cách như vậy cuốn sách nhỏ này có tham vọng lớn đi tìm sự thật cho lịch sử nước Nam từ thời khai thiên lập địa tới đầu Công nguyên. Những bài sử ký Hùng Vương muốn góp phần nào chút ánh sáng soi tìm lịch sử chân xác của dân tộc đã chìm đắm sau hàng ngàn năm tăm tối. Người viết không sợ nêu lên những nhận định, suy đoán, mà muốn đưa những vấn đề lịch sử khúc mắc ra bàn dân thiên hạ cùng suy ngẫm. Mỗi cánh cửa hé mở thì sự thật lại càng gần hơn, tỏ hơn. Như vậy cũng là tâm nguyện của người viết đã thành.

Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu

Sách phát hành online bởi Hùng Việt sử quán.

Link tải sách:

https://drive.google.com/file/d/1310gFYK3kTOH0ZQ5KcK-MUXWE4af3Y7I/view?usp=sharing

Liên hệ để nhận mật khẩu:

Facebook: https://www.facebook.com/hungvietsuquan
Email: bachviet18@bachviet18
Phone, Zalo: 0559551003.

MỤC LỤC 104 trang

Lời nói đầu

HÙNG VƯƠNG TAM THÁNH TỔ

    Lịch kỷ họ Hùng

    Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ

    Hồng Lạc Đế Nghi

    Lộc Tục Kinh Dương Vương

KINH TRIỀU BẢN KỶ

    Kinh Dương Vương

    Lạc Long Quân

    Hùng Duệ Vương

VIẾT NÊN SỬ DAO

    Trúc thư kỷ niên

    Thành Thang mở nhà Thương

    Bàn Canh lập Ân

    Trung Nguyên xá tội

PHONG THẦN DIỄN VIỆT NGHĨA

    Trụ Vương – Đát Kỷ

    Phượng gáy non Kỳ

    Văn Vương cầu hiền

    Thạch Linh thần tướng

    Vũ Vương khởi binh

    Phá Ân diệt Trụ

    Trảm tướng phong thần

    Phong hầu kiến địa

LANG LIÊU VÀ NƯỚC VĂN LANG

    Thần nông Hậu Tắc

    Âu Cơ lập nước Văn Lang

    Hùng Quốc Vương phân phong chư hầu

    Hùng Chiêu Vương gặp Tiên

    Văn Lang liệt quốc

AN DƯƠNG VƯƠNG, LOA THÀNH VÀ LẠC QUỐC

    An Dương Vương rời đô về Lạc Ấp

    An Dương Vương xây Loa thành

    Tần Thủy Hoàng Đông du

    Tây Vu Vương chống Hán

KHỞI NGHĨA CỦA TRIỆU ĐÀ

    Thuở đầu khởi nghĩa

    Chiếm Long Xuyên

    Xuất Thái Bình

    Kiến quốc Nam Việt

BỐN NHÀ TRIỆU TRONG SỬ VIỆT

    Triệu Đà – Trọng Thủy

    Long Hưng Triệu Vũ Đế

    Nhà Triệu – Lữ Gia

    Nam Triệu – Tây Lý Vương

Phụ khảo

NHỮNG CUỘC CHIẾN MỞ SỬ TRONG THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG

    Cuộc chiến mở nước của Hữu Hùng Đế Minh

    Cuộc tranh đoạt giữa Lạc Long Quân và Đế Lai

    Cuộc chiến về lại đất Lạc của Âu Cơ

    Cuộc chiến khởi dựng chế độ phong kiến nước Văn Lang

    Cuộc chiến thống nhất thiên hạ của Triệu Trọng Thủy

    Khởi nghĩa kháng Tần của Triệu Vũ Đế

    Khởi nghĩa Trưng Vương dòng Lạc Hùng chính thống

CHỮ KHOA ĐẨU TRÊN CÁC CỔ VẬT THỜI NƯỚC VĂN LANG

    Chữ Khoa đẩu thời Tây Chu

    Chữ Đại triện thời Xuân Thu Chiến Quốc

THẾ THỨ VÀ NIÊN BIỂU 18 TRIỀU HÙNG

    Thời thủ lĩnh cộng đồng

    Thời chế độ thị tộc phụ đạo

    Thời chế độ phong kiến phân quyền

    Thời chế độ phong kiến tập quyền

Hùng Vương Tam Thánh Tổ bản kỷ

Lịch kỷ họ Hùng

Xét như tiếng đức Tiền hoàng đế thời Thái cổ, từ kỷ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nay, theo nguyên mệnh của xuân thu, bao gồm thời mở mang hồng hoang trước trời đất. Trời ban đầu mở vào Giáp Tí. Đất tụ mang ở Ất Sửu. Vận người sinh ở Giáp Dần. Vạn vật ra đời ở gian Ất Mão. Từ thời Bàn Cổ, Thái cực sinh Lưỡng Nghi, là Thiên Địa. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Tứ tượng biến hóa thành nhiều hình trạng.

Thời Hỗn Mang còn chưa biết đạo trời đất khởi đầu thế nào, đến Âm dương biến làm Tam tài, vị quân thủ dẫn đường dần dần mở ra phong khí, dần dần có văn minh, làm rõ ràng các giáo lý trị dân. Trời xuất hiện nhiều bậc đại thánh. Cha trời Mẹ đất là Thiên tử xuất hiện đầu tiên. Sau đến các vật ở vạn nước được yên định, nhận trọng trách lớn như thế sao.

Thiên Hoàng nối Bàn Cổ mà trị ở ngôi Thiên tử, nắm quyền chế độ, mới chế ra Can chi. Mười can là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ Canh, Tân, Nhâm, Quý.

Mười hai chi là Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Vị, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Lấy đó để định thời gian, giúp nhân dân biết phương hướng. Cứ mỗi đời có bậc quân vương lại tất có sự sáng chế của quân vương đó. Các vua sau từ đó noi theo trăm đời không lay. Lấy việc giải quyết cho dân làm khó. Lấy sự an định làm nguy. Xem hiền mà sửa mình.

Địa Hoàng định hai thời phân làm ngày đêm, lấy ba mươi ngày làm một tháng, mười hai tháng làm một năm. Gộp những sai lệch mà bày ra nhuận, cuối cùng thì phục hồi lại thời gian như ban đầu, lấy thời khí theo đó. Các anh em của người cứ một vạn tám ngàn năm là chúa tể thiên hạ các phương, sáng chế lập ra pháp luật, ban bố vạn đời. Khiến cho hậu thế đều biết được chỗ sáng tối, tháng năm như thế.

Trời sinh tinh khí thánh nhân tụ hội ở vị trí là thầy là vua, cao quý hơn hết. Vị trí là vị trí của Trời. Lộc là lộc của Trời. Thiên tử thay Trời lo vật, thừa mệnh Trời mà ra trị. Kính Trời, theo phép tổ, làm việc quý người, bèn phân chia chức trách như vậy.

Nhân Hoàng một họ chín người cùng nhau, núi sông chia làm chín khu, người ở một phương. Thời này vạn vật đều thuần hậu, ôn hòa. Chúa không dối, vua thần không dối. Tận hưởng lộc trời tốt thay. Tới thời Xuân Thu khi Lỗ chúa công là Tưởng bắt Kỳ Lân năm thứ mười bốn.

Xét trải tháng năm, ngày được ba trăm hai mươi sáu vạn bảy ngàn năm, chia làm mười kỷ, là: Cửu Đầu, Ngũ Long, Nhiếp Đề, Hợp Lạc, Liên Thông, Tự Mệnh, Tuần Phỉ, Nhân Đề, Thiền Thông, Sơ Ngật, tất cả là mười kỷ. Từ Nhân Hoàng đến Tự Mệnh có tám mươi tám vị quân vương. Từ Tuần Phỉ về sau đều truyền các vua nối vị.

Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ

Kỷ Thiền Thông kết thúc vào thời Thần Nông. Kỷ Sơ Ngật được khởi đầu từ Hoàng Đế, là Hiên Viên, lấy đức trị dân, họ hiệu là Hữu Hùng Thị, tên xưng Đế Minh. Đế Minh là con cháu của Thần Nông, họ Công Tôn, tên là Hiên Viên, sinh ra thần dị, chớm sinh biết nói nhỏ thì thông minh, lớn thì đôn hậu, trưởng thành thì sáng suốt. Thời đó dòng dõi Thần Nông là Viêm Đế suy yếu, chư hầu xâm chiếm lẫn nhau, bạo ngược trăm họ, vậy mà Viêm Đế không thể chinh phạt được. Viêm Đế muốn xâm chiếm chư hầu, chư hầu đều quy thuận Đế Minh.

Đế Minh bèn sửa sang đức chính, chấn chỉnh quân đội, thuận theo khí của Ngũ hành, gieo trồng ngũ cốc, vỗ về muôn dân, đo đạc bốn phương, huấn luyện gấu beo hổ báo tỳ hưu, rồi cùng Viêm Đế đánh nhau ở cánh đồng Bản Tuyền, qua ba trận mới thắng.

Riêng Ngô Thục Xi Vưu bạo ngược nhất, dấy loạn, không theo lệnh vua. Vậy là Đế Minh liền trưng tập quân chư hầu cùng Ngô Thục đánh nhau ở cánh đồng Trác Lộc. Trong trận chiến này Đế Minh đã được sự ủng hộ của Tây Thiên Lăng Thị, chính là bà Lụy Tổ. Nhờ đó Đế Minh đã thắng Ngô Thục Xi Vưu. Chư hầu đều tôn Đế Minh làm Minh chủ. Từ đó mới có tên là Đế Minh và được tôn thờ là Đột Ngột Cao Sơn Thánh vương.

Xưa Đế Minh trên đường ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa có đại cuộc chân long quý mạch để lập đô ấp, trấn trị thiên hạ. Qua đất Hoan Châu (xưa là Hoan Châu, nay là xứ Nghệ An, phủ Đức Quang huyện Thiên Lộc, các xã Điền Thiên Lộc, Tả Thiên Lộc và Lễ Hữu) Vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc phong cảnh tươi đẹp như lâu đài muôn nhẫn, tên là núi Hùng Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, xưa gọi là Cựu Đô, nay là Ngàn Hống.

Vùng đất này non biển đúc linh, núi sông khe hồ hội chầu, tụ họp ở ven biển tại xã Hội Thống. Ở cửa Hội Thống núi chạy quanh co, sông chảy uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông. Vua bèn xây dựng đô thành cung điện lâu đài cửa ngọc, làm nơi cho bốn phương triều cống.

Ngày sau Vua lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa thế trùng điệp, sông đẹp núi lạ, non nước đúc thiêng. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động Vân Nam, Ngũ Lĩnh của nước lớn tiếp gặp Ải Môn Thủy Đỗ của sông Ngưỡng Đức, nước phân ra như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải, Cửu Châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành núi Tam Đảo, như rồng giáng khí ở châu Thái Nguyên, nước chảy khe trên Thiên Thị Thạch Bàn, ngược núi ngược sông. Mạch dẫn liên miên, đưa tới các châu Bảo Lạc, Bằng Di, Thu Vật, Phúc Yên. Đầu nguồn nước từ khe Hoàng Hà, sông Lô, Càn Thủy mà chảy dẫn mạch giáng khí, qua Ải Môn Thủy Đỗ thoát mạch, rồng dẫn đi xa, tới đất Tuyên Quang, thế rõ từ núi Tụ Long, liền tới châu Thu Vật, biến ra toà kim tinh cao muôn nhẫn.

Mạch đất chạy ở giữa chia trái phải. Sông Hán, sông Lô, sông Hoàng, sông Bảo, hai bên dưỡng mạch, chảy tới Lâm Thao, Đoan Hùng, Hạ Hoa, Thanh Ba, Tây Lan, Phù Ninh, đến chùa Hoa Long, thôn Việt Trì ở ngã ba sông Bạch Hạc. Núi lạ sông đẹp, ngọc tụ nước ngưng, chân đá giáp nước, trái phải cùng đổ về, là chính đường của vạn nhánh, hội tụ chính khí. Bên ngoài chia Nam Bắc sông Tứ, Thiên Đức, Hát Môn, Tô Lịch, ngàn khe vạn dòng, đều cùng quay đầu về.

Đầu mạch đất này bên trái từ sông Lôi núi chạy sông theo, tới các huyện Đương Đạo, Đông Lan, Sơn Dương, Tam Dương, bỗng dựng lập núi Tam Đảo. Cung tiên bên trái là rồng xanh, nghìn núi vạn sông chảy ra ở Lập Thạch, Bách Nê, Chu Diên, Thanh Tước, đất sáng như mở chén ngọc. Các núi giúp chuyển tới xứ Kinh Bắc các núi Chu, Sóc, Chung, Trà, Từ, Mộc Phàm, Tích, An Lão phục chầu. Dẫn đến xứ Hải Dương các núi Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử. Mạch tới ngoài biển tám xã Đồ Sơn, là đầu rồng chầu án.

Bên phải mạch đất từ Ba Thục, Hán Giang, Hoàng Giang, Lô Thao Giang, núi dẫn sông theo, tới mười châu Tuyên Quang, Hưng Hóa, châu Đà Bắc, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Giang, đến huyện Bất Bạt thì nổi lên núi Tản Viên. Cung tiên bên phải là hổ trắng. Núi chầu vạn nhánh, nổi lên ở Mỹ Lương, Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Viễn Sơn, Thạch Thất, An Sơn, Tây Phương, Sài Sơn, Tử Trầm, Thạch Bật đến xứ Sơn Nam, Chương Đức, Đại Yên, núi Hương Tích, núi Hữu Na, núi Nam Công Vũ Phượng, núi Đội Điệp, núi Nghi Dương, chầu vào mà thoát, đến cửa biển Thần Phù ở núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát ra ngoài biển ở núi Chích Trợ, cửa Trà Lý, làm đầu rồng chầu án.

Lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường. Lấy sông Cả ở ngã ba Lảnh, huyện Nam Giang làm Trung minh đường. Mặt nước như ấn ngọc phù vàng. Hải Dương, Nam Hải, Cổ Am, Tượng Sơn làm Ngoại minh đường. Nghìn non cúi phục, vạn nước chầu nguồn, đều hướng về núi tổ Nghĩa Lĩnh.

Nhìn thấy tất cả hình thế ấy, Vua nhận ra thế cục của đất quý đẹp hơn đô thành cũ Hoan Châu, bèn lập chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Vua thường ngự giá đến ở. Bên ngoài lại lập dựng đô thành Phong Châu. Vua rời giá về cựu đô Hoan Châu. Việc dựng đô thành của Vua trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại định đô ấp, vị trí của chính điện, ngự trị thành trời ở núi Nghĩa Lĩnh. Nay lấy núi Nghĩa Lĩnh làm chốn đô ấp của Cổ Việt Thường Thị.

Hồng Lạc Đế Nghi

Đế Nghi là dòng trưởng của Đế Minh, nhân từ như trời, trí tuệ như thần. gần gũi thì thấy ngài như mặt trời, đoái trông thì ngỡ ngài như áng mây. Giàu có mà không kiêu căng, cao sang mà không ngạo mạn. Ngài đội mũ vàng, vận áo đen, đi xe đỏ, cưỡi ngựa trắng. Ngài có thể làm rạng đức tốt để khiến chín họ hòa thuận. Chín họ đã hòa thuận rồi, ngài tỏ đức tốt cho cả trăm họ. Trăm họ sáng tỏ rồi, ngài hòa hợp với cả muôn nước chư hầu.

Ngài bèn sai Hy Hòa kính thuận phép trời, xem xét sự vận hành của mặt trời, mặt trăng và các vì sao, rồi kính cẩn truyền cho dân gian biết thời vụ cấy gặt…. Lại sai Hy Thúc đến ở Nam Giao, đôn đốc vụ hè, kính cẩn làm tốt việc gieo trồng. Ngày Hạ chí là ngày dài nhất, lúc hoàng hôn sao Hỏa ở chính Nam, lấy đó để định tháng Trọng hạ. Dân thảy làm đồng, muông thú thưa lông… Một năm có 366 ngày, lại đặt ra tháng nhuận để bốn mùa được chính xác. Bá quan cần mẫn, mọi sự hưng thịnh.

Thời Hồng Lạc, nước Việt Thường dâng rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn ba thước. Trên lưng có hoa văn, đều là chữ khoa đẩu, ghi lịch rùa từ thủa mới mở mang đến nay.

Đế Nghi đã sai người đi 4 phương, quan sát trời đất thiên văn để định làm lịch. Người được cử đi phương Nam là Hy Thúc đã đến Nam Giao để đảm nhận việc làm lịch này. Nam Giao rõ ràng là chỉ vùng đất Bắc Việt ngày nay, cũng có tên gọi là Việt Thường Thị. Việt Thường Thị ở Nam Giao là ông Hy Thúc, người đã dâng lịch rùa lên cho Đế Nghiêu.

Trên núi Lịch Sơn ở vùng Tuyên Quang, có đền thờ Đế Nghiêu và là nơi Đế Thuấn đi cày bên đầm Lôi Trạch. Tên gọi Lịch Sơn, quê hương của Đế Thuấn đã cho thấy Đế Thuấn chính là Hy Thúc, người đã cống lịch rùa cho Đế Nghiêu. Ngọn núi Lịch ngày nay ở huyện Sơn Dương của Tuyên Quang vẫn còn lưu dấu tích. Ngọn núi này có một đỉnh nhọn dựng đứng, giống như một tấm bia đá được dựng trên lưng một con rùa lớn. Trên đỉnh núi còn di tích Ao Trời, tương truyền là nơi ngự của Đế Thuấn.

Đế Nghi hỏi: Ai có thể nối ngôi ta? Mọi người đều nói với Đế Nghi rằng: Có một người chưa vợ trong dân gian tên là Lộc Tục. Đế Nghi nói: Ta thử hắn xem sao. Thế rồi Đế Nghi gả 2 cô con gái Ngọc Hoa và Tiên Dung cho Lộc Tục để qua đó xem đức hạnh của Lộc Tục thế nào.

Lộc Tục bèn đưa hai vợ xuống ở ven sông Lô, theo đúng đạo làm vợ. Đế Nghi hài lòng, bèn sai Lộc Tục cẩn thận điều hòa năm mối nhân luân, mọi người đều thuận theo. Đế Nghi ở ngôi được 70 năm thì có được Lộc Tục, 20 năm sau nữa thì cáo lão, lệnh cho Lộc Tục nhiếp chính. Đế Nghi rời ngôi 28 năm thì băng. Trăm họ đau buồn như mất cha mẹ. Trong 3 năm bốn phương không nơi nào tấu nhạc, để tưởng nhớ Đế Nghi, tôn thờ là Viễn Sơn Thánh Vương.

Lộc Tục Kinh Dương Vương

Lộc Tục tên là Trùng Hoa, cày ruộng ở Lịch Sơn, bắt cá Lôi Trạch, làm gốm ven sông Lô. Lộc Tục vào rừng sâu, mưa gió dữ dội mà không lạc đường. Đế Nghi biết Lộc Tục là người xứng đáng trao cho thiên hạ. Đế Nghi cáo lão, sai Lộc Tục làm thay chính sự của thiên tử, đi tuần thú. Lộc Tục được cất nhắc làm việc trong 20 năm. Đế Nghi sai nhiếp chính, nhiếp chính 8 năm thì Đế Nghi băng. Thiên hạ theo về với Lộc Tục.

Lộc Tục xưng là Kinh Dương Vương, đặt tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương bàn với Tứ nhạc sắp xếp các quan coi việc. Cao Giao làm Đại lý giữ phép công bình, dân đều phục tính chân thực. Bá Di giữ việc Lễ, trên dưới nhún nhường. Thùy làm Công sư, trăm nghề tấn tới. Ích làm Trẫm ngu, núi đầm mở rộng. Khí làm Hậu tắc, bách cốc tốt tươi. Tiết làm Tư đồ, trăm họ hòa thuận. Long giữ việc tiếp đón tân khách, người phương xa tới. 12 châu mục hành sự khiến chín châu không ai dám gian manh phạm pháp.

Riêng công của Nguyễn Tuấn lớn nhất. Nguyễn Tuấn xẻ chín núi, thông chín đầm, khơi chín sông, đặt chín châu, chư hầu đều đến triều cống theo chức phận, không hề mất quy củ. Khắp bốn bể đều đội công ơn của Kinh Dương Vương.

Kinh Dương Vương tiến cử Nguyễn Tuấn với trời, làm chúc thư giao lại đất đai cho Tản Viên Sơn Thánh. Kinh Dương Vương đi tuần ở sông Đuống, băng tại Á Lữ. Hai bà Ngọc Hoa Tiên Dung tử tiết theo chồng ở nhánh Tương của sông Lô. Người Việt tôn thờ Lộc Tục là Ất Sơn Thánh Vương, cùng với Đế Minh và Đế Nghi đời đời thờ phụng ở núi Hy Cương là Tam Sơn Thánh Tổ họ Hùng.

Trải thời gian từ kỷ Tuần Phỉ về sau, từ Nghiêu Thuấn Ngũ Đế tới nay đã hơn ba ngàn năm. Trước Tam Đại không như thời Đường Ngu. Sau Hán Đường Tống không như Tam Đại. Đạo đời lên xuống, không quá hai ba trăm năm mới có một sự biến. Rồi hai trăm năm có một biến, ba trăm năm có một biến trung bình, năm trăm năm có một biến lớn. Từ lúc khai mở về sau bốn năm vạn năm lúc phong khí chưa mở văn minh, chưa có đất nước, chưa yên, tới Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, thay nhau mà hưng vượng về sau, lấy vương đạo mà trị.

Xưa thời Hy Nông trở về đời Bàn Cổ, chưa có lịch, gộp các tộc có tên phủ thế trị dân, tất cả là hai mươi hai chi hệ được xét. Từ Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Ngũ Đế là các nguyên thánh trị thiên hạ. Đế là vua, thiên hạ chúa tể ngự thế, theo càn khôn mà khởi tạo ra lòng nhân, là đức dưỡng sinh thay tạo hóa vậy.

Linh Uyên Đại vương ngọc phả

Theo bản khai 1938 của làng Ngọc Tháp, tổng Phú Thọ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Từ đời vua Lạc Long Quân đời Hồng Bàng lấy bà tiên nữ gọi là Âu Cơ một bọc đẻ được trăm trứng. 50 con theo cha về núi, dựng nước chia làm vua trị dân cha truyền con nối đều lấy chữ Sơn 山 làm hiệu. 50 con theo mẹ về bể, cùng chia nhau làm vua Thủy quốc, chủ tể một phương.
Bà Thái phi của vua sông Thao có tính chỉ ăn chay, ăn hoa quả mà thôi. Một hôm trời mùa xuân trong lành, vạn cảnh tươi đẹp. Thái phi bỏ lốt rắn đi lên rừng chơi hái hoa, hái thuốc. Đến rừng làng Trung Hoàng (tức thuộc huyện Phù Ninh bây giờ) chợt rơi ra một bọc trứng 5 quả ở đấy. Làng ấy có một ông già không biết đi làm gì đến đất, nhặt lấy 5 quả trứng đem về luộc ăn. Đun lửa nửa ngày, lửa vẫn cháy, mà nước vẫn lạnh. Ông già lấy làm quái lạ, bưng cả nồi đem để giữa sân. Được 3 ngày, nở ra 5 con rắn. Gáitrai già trẻ ở làng ấy đến xem như hội. Thấy thế đều bảo ông già bưng ra ngoài vực sâu thả xuống đấy. 
5 con rắn ấy mỗi ngày một lớn lên. Ông già thời thường lên núi hái củi qua đầm đó, xuống rửa ráy ở đấy. 5 con rắn cảm ơn dưỡng dục đều cất tất cả lên quấn quít quanh cả mình ông già để mừng. Ông già vô ý lấy con dao phát bờ khoắng một cái, đứt đuôi một con. 5 con rắn quấn quít lấy cái đuôi khóc mà nói rằng: 
– Chúng ta là giống rồng, trời định cho ta, mỗi người làm vua một phương. Nay sự tình như thế này thì không thể được quây quần lâu trong vực này nữa. 
Thế là các con rắn Đệ nhất, Đệ nhị ra ở Thao giang. Đệ tam, Đệ ngũ ra ở sông Lô. Đệ tứ mất đuôi ở lại vực Trung, để báo đức cho ông già. Người anh cả Đệ nhất làm vua ở tại ghềnh đá làng Ngọc Tháp. Người Thứ hai ở tại ghềnh đá làng Ba Triệu. 
Thời bấy giờ họ Hùng đến ông Duệ Vương làm vua, tự đắc thời bình, không tu sửa việc võ bị, chỉ ham về tử sắc. Có vua nước Thục sang để chiếm, mà vua Duệ Vương vẫn say rượu không tỉnh. Bỗng mộng thấy một người, thân dài 10 thước, mình mặc áo đỏ có cả cân đai, đứng ở trước điện nói rằng: 
– Ta là tôn phái thời trước theo mẹ về bể, sinh trưởng ở vực thiêng Trung Hoàng. Bây giờ ta làm vua ở làng Ngọc Tháp, đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Nay quốc gia có nạ, không thể không cứu. Nhà vua hãy làm thuyền chiến, rồi đón đức thánh Tản Viên, dẫn tướng sĩ binh mã chia nhau các đạo, để đánh Thục. Ta âm giúp uy vũ, để bảo tồn lấy tông xã và cứu lấy lê dân. Chớ có say sưa như vậy nữa.

Vua Duệ Vương tỉnh giấc, mừng được mộng triệu, y như mộng triệu lập đàn ở ghềnh để tế. Rồi tu tạo chiến thuyền ở sông Thao. Sơn Thánh đốc suất quân sĩ. Sang ngày hôm sau nổi gió Đông to, sóng dờn cuồn cuộn, cả hai bên bờ sông, tiếng sóng dồn nghe như tiếng sấm vang mười dặm. Thuyền theo dòng nước đến núi Tiên Du, Bắc Giang, cùng quân Thục đại chiến. Quân Thục thua đại bại chạy đi hết.
Thắng trận đem quân về. Vua Duệ Vương cảm đến giấc mộng báo mà được trận, bèn lập miếu thờ ở ghềnh đá Ngọc Tháp, gia phong lớn là Linh Uyên Đại vương. Xuân thu quốc tế là Thượng đẳng phúc thần để phụng thờ Linh Uyên Đại vương.

Tháng Giêng ngày mồng 7 và mồng 8 là ngày Thái phi sinh, lệ tế bàn hoa quả.
Tháng Ba ngày mồng 10 là ngày lệ lễ Trung Hoàng Uyên ra trị sở.
Tháng Tám ngày mồng 10 là ngày lệ lễ khánh hạ lập miếu gia phong.
Xã Ngọc Tháp phụng sự trong 3 ngày làm thuyền rồng để tượng trưng cho công phạt Thục.

ABC về NGUỒN GỐC NGƯỜI VIỆT

Nhân chuyện bàn luận về Nguồn gốc người Việt của một số học giả vừa rồi, rằng người Việt có nguồn gốc không “đơn tuyến”, rằng trống đồng thuộc về người Tày Thái, rằng người Mường không biết trồng lúa nước, rằng người Kinh là người Hoa di cư…

Ý kiến của các vị đó không sai, nhưng chưa đủ, vì mới chỉ là những hiện tượng bề nổi. “Nguồn gốc” của người Việt đúng là đa tuyến, bởi vì có tới 5 dòng tộc ban đầu đã cùng nhau lập ra thiên hạ họ Hùng từ thời vua Hùng Đế Minh, được lịch sử gọi là “Ngũ Đế Đức”.

Ngũ Đế và Tam Đại

Sử ký Tư Mã Thiên: “Từ Hoàng Đế tới Thuấn, Vũ đều cùng họ nhưng khác quốc hiệu, để làm rạng rỡ đức sáng. Vậy nên hiệu của Hoàng Đế là Hữu Hùng, hiệu của Đế Chuyên Húc là Cao Dương, hiệu của Đế Khốc là Cao Tân, hiệu của Đế Nghiêu là Đào Đường, hiệu của Đế Thuấn là Hữu Ngu. Hiệu của Đế Vũ là Hạ Hậu, nhưng khác thị tộc, họ Tự. Tiết là thủy tổ của nhà Thương, họ Tử. Khí là thủy tổ của nhà Chu, họ Cơ.”

5 họ tộc ban đầu này sau đó phân chia lên rừng xuống biển, đẻ đất đẻ nước, dẫn đến thiên hạ mỗi thời do một “đức” làm chủ. Thời Hạ từ Lạc Long Quân là nhóm Lạc và Long, tức 2 nhóm Kinh Mường và Tày Thái. Thời Thương vị trí chủ thiên hạ là nhóm Miêu Dao (người Man) vốn là Tiên tộc xưa. Thời Chu là nhóm Liêu Lão, dân tộc dùng trống đồng, vốn là dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi (dòng Âu). Tới thời Tần Hán thì thiên hạ nhất thống, tộc nào cũng là người Việt cả. Thành phần dân tộc ở Bắc Việt định hình từ đó.

Người Hoa không phải là người Hán, mà là người Việt. Nên có là “Hoa kiều” cũng vẫn là Việt tộc. Điểm căn bản nhất, dù là tộc người nào thì người Việt đều thuộc về đại chủng tộc Mongoloid phương Nam, và hoàn toàn không liên quan nguồn gốc gì tới nhóm Mongoloid phương Bắc, tức nhóm Mông Cổ, Mãn Thanh, Liêu Hán.

Những sơ đồ các triều đại họ Hùng sau đây giúp giải thích cặn kẽ vấn đề Nguồn gốc người Việt, trăm con cùng bọc trứng, tuy nhiều cành nhưng đều chung gốc lớn lên.

Truyện Họ Hồng Bàng chép: Đế Minh, cháu 3 đời của Thần Nông, sinh ra Đế Nghi, nhân đi tuần ở phương Nam gặp bà Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Như thế đã xuất hiện 2 dòng tộc gốc ban đầu ở 2 đầu Nam và Bắc là dòng Viêm tộc và Lạc tộc, hay vẫn được gọi là Hồng – Lạc. Cả 3 vị thánh tổ ban đầu là Đế Minh, Đế Nghi và Lộc Tục được thờ thành Quốc tổ Hùng Vương ở vùng đất tổ là Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn.

Lộc Tục Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Động Đình Long Nữ mà sinh ra Lạc Long Quân. Tới đây thì dòng Lạc tộc đã bổ sung thêm tộc người ở phía Đông ven biển Động Đình là Long tộc, mà hình tượng ba tộc người lúc này là Tam Vị Tản Viên Sơn Thánh: Tản Sơn, Nộn Sơn, Lãng Sơn.

Con của Đế Nghi là Đế Lai, bị Lạc Long Quân xua đuổi phải trở về phương Bắc (xưa), sau đó nàng Âu Cơ “chia tay” với cha Rồng để mang 50 người lên núi. Tức là Viêm tộc lúc này tách thành 2 dòng: 1 chạy xa hơn về phía Bắc xưa (tức phương Nam ngày nay) và 1 chạy về phía Tây Nam xưa lên núi.

Ngũ tộc thời sơ sử

Từ một Thái cực ban đầu (Đế Minh), sinh ra Lưỡng nghi (Đế Nghi – Lộc Tục), rồi Lưỡng nghi sinh Tứ tượng (Đế Lai – Âu Cơ – Lạc – Long). Kết quả có 4 dòng tộc đã hình thành trên mảnh đất Việt Nam (miền Bắc Việt)

1. Dòng phương Bắc xưa, tức Nam nay, là chính dòng Viêm tộc, được gọi là người La hay người Lồi (từ Đế Lai), có chỗ gọi là người Chăm, Chiêm.

2. Dòng phía Tây là người Lý Lão, Ai Lao Di, là nhánh tách ra từ Viêm tộc theo mẹ Âu Cơ. Sau nhóm này quay trở về Phong Châu lập nước Văn Lang, với đặc trưng văn hóa là trống đồng. Là thành phần Âu trong nước Âu Lạc. Vua chủ là Lang Liêu hay An Dương Vương.

3. Dòng Lạc tộc sau là người Kinh Mường (Lạch – Kênh – Mương đều là các từ cùng nghĩa) ở Bắc Việt và Quảng Tây (Giao Chỉ và Nam Giao). Vua chủ gọi là Lạc Vương hay Hùng Vương.

4. Dòng Long tộc ven biển sau thành nhánh Tày Thái. Nhóm này vào thời Hiếu Vũ Đế khi nước Nam Việt sụp đổ đã di cư hàng loạt sang vùng Tây Bắc Việt, dẫn tới sự tương đồng giữa người Choang, người Tày Nùng và người Thái Lào. Nước Nam Chiếu – Nam Triệu hình thành từ đây.

5. Ngoài ra còn nhóm Tam Miêu trong cổ sử trở thành chủ thể thời Ân Thương, lấy Bàn Vương làm thủy tổ. Khi nhà Ân bị diệt bởi Thánh Dóng, các quý tộc nhà Ân bị cho về an trí ở Lạc Dương, tức vùng Cổ Loa. Do đó một phần dòng máu Miêu tộc cũng gặp tại vùng đồng bằng sông Hồng, mà được hình tượng hóa trong nhân vật Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh.

Đối chiếu khảo cổ và lịch sử thời đại Hùng Vương

Thời đại Hùng Vương ở Việt Nam được cho rằng bắt đầu từ văn hóa Phùng Nguyên trước 4.000 năm lịch sử. Khi đối chiếu phân kỳ văn hóa khảo cổ ở miền Bắc Việt với các giai đoạn lịch sử Trung Hoa và truyền thuyết Việt sẽ thấy có sự trùng khớp chính xác. Thời kỳ văn hóa Đông Sơn được khảo cổ học chia làm 3 giai đoạn, kéo dài tới tận thời Hai Bà Trưng. Như vậy văn hóa Việt tới năm 43 sau Công nguyên chưa hề bị đứt gãy, gián đoạn bởi “phương Bắc”.

Chu Vương tạo đỉnh, dùng tế lễ lớn

Cửu đỉnh ở Huế

Cửu đỉnh ở Thế miếu Huế

Dưới thời vua Minh Mạng, nước Đại Nam của nhà Nguyễn đã mở rộng lãnh thổ hơn bao giờ hết. Khu vực Tây Bắc và một phần của Lào trước đó thuộc nước Bồn Man đã được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt vào thời Lê, với tên gọi là Trấn Ninh. Nhờ công lao mở nước ở phương Nam của chúa Nguyễn Hoàng mà miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ đã thuộc về nước Đại Nam. Một phần lớn đất ở Campuchia cũng thuần phục nhà Nguyễn, trở thành Trấn Tây Thành. Là một đế quốc bao trùm Đông Nam Á khi đó, Minh Mạng đã rất ý thức được vấn đề nguồn gốc người Việt. Vua nêu cao việc noi gương tổ tiên và các vị vua triều đại trước, mà việc đúc Cửu đỉnh để đặt làm tế lễ phụng sự ở Thế miếu là một điển hình, công khai với toàn thiên hạ về nguồn gốc và phạm vi lãnh thổ của triều đại.

Trong buổi lễ khánh thành cửu đỉnh, nhà vua cùng quần thần đến miếu tế cáo. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng: Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ [truyền lại] còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là [hình dạng] của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và Trấn Tây Thành đều được biết.

9 chiếc đỉnh to lớn sừng sững nay vẫn còn tại Thế miếu trong kinh thành Huế là một lời minh chứng cho thời kỳ huy hoàng của đế quốc Đại Namvà tư tưởng noi gương các đời Tam Đại của vua Minh Mạng.

Cao đỉnh trước Thế miếu ở Huế

Phỏng Chu Vương Bá đỉnh

Cũng thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, năm thứ 20, vua đã cho phỏng theo các đồ vật thời Tam Đại mà đúc nên 33 loại đồ vật, gọi là Cổ khí. Bài minh văn ngự chế đúc trên 1 chiếc đỉnh nói rõ chuyện này. Đỉnh này có tên ghi là đỉnh phỏng theo đỉnh của Chu Vương Bá, với chữ ngự đề:

惟明命二十年己亥予受天眷祐河順歲豐盜賊屏息年近知天爰法古鑄器凡三十三類此鼎其一也用傳來許我之子孫若能親賢遠侫愛民敬天卜年世遠勝周家可天下畏服大南日昌可永保用之可

Duy Minh Mạng nhị thập niên Kỷ Hợi, dư thụ thiên quyến hữu, hà thuận tuế phong, đạo tặc bính tức, niên cận tri thiên, viên pháp cổ chú khí, phàm tam thập tam loại, thử đỉnh kì nhất dã, dụng truyền lai hứa, ngã chi tử tôn, nhược năng thân hiền viễn nịnh, ái dân kính thiên, bốc niên thế viễn, thắng Chu gia khả, thiên hạ úy phục, Đại Nam nhật xương khả, vĩnh bảo dụng chi khả.

Dịch nghĩa: Năm Kỷ Hợi niên hiệu Minh Mạng thứ 20, ta được trời mến giúp, sông thuận, được mùa, trộm cắp trừ yên. Ta đã sắp đến tuổi biết mệnh trời (tuổi 50), bèn theo phép cổ mà đúc khí vật, tất cả 33 loại. Đỉnh này là một trong số 33 loại ấy, để truyền lại cho đời sau, sao cho biết gần gũi người hiền, tránh xa nịnh bợ, biết thương dân kính trời, thì đoán chừng là triều đại này bao năm có thể còn dài hơn cả nhà Chu, thiên hạ có thể sợ phục nước Đại Nam ngày càng thịnh vượng, mãi mãi có thể dùng bảo vật này.

Tên gọi Chu Vương Bá ở trên đỉnh khả năng là một vị vương thất thời Chu Vũ Vương. Vua Minh Mạng đặt bài minh khái quát các cổ khí ở chiếc đỉnh Chu Vương Bá vì có thể vua coi Gia Long là người lập nên nhà Nguyễn giống như Chu Văn Vương mở đầu nhà Chu. Còn bản thân Minh Mạng nối tiếp sự nghiệp, giống như Chu Vũ Vương nối tiếp Văn Vương. Trong Cửu đỉnh tại Huế có Cao đỉnh là dùng thờ Gia Long, và Nhân đỉnh dùng đặt đối diện ban thờ Minh Mạng.

Vị Vương Bá thời Chu Vũ Vương lập nhà Chu thì có khả năng là Bá Ấp Khảo, người con đầu của Văn Vương, anh của Vũ Vương. Bá Ấp Khảo đã hy sinh trong cuộc chiến chống lại Trụ Vương, để Vũ Vương sau đó hoàn thành đại nghiệp, phạt Trụ diệt Ân, lập nên vương triều thiên tử nhà Chu kéo dài hơn 800 năm.

Hình vẽ Phỏng Chu Văn Vương đỉnh

Chu Vương đỉnh

Một chiếc đại đỉnh lớn thật sự của thời Chu đúc bằng đồng, cao tổng cộng 53 cm, rộng tới 43 cm, nặng 12 kg. 2 quai đỉnh hình chữ U lớn, dày. Mặt ngoài mỗi quai có hình hai con rồng chầu mặt trời. Trên từng quai đỉnh có khắc 8 chữ Kim văn lớn: 周王作之子孫永用

Chu vương tác chi. Tử tôn vĩnh dụng

Dịch nghĩa: Chu Vương tạo vật này cho con cháu dùng mãi.

Chiếc đỉnh Chu Vương này có phần thân hình tròn, hơi dẹt. Thân đỉnh có 6 khía dọc chia đỉnh thành 6 múi. Mỗi múi có hình mặt thú thao thiết. 3 chân đỉnh lớn cũng có đúc nổi hình mặt thao thiết. Cả chiếc đỉnh nhìn trầm hùng, vững chắc, bề thế.

Đỉnh Chu Vương

Phần thân đỉnh có đúc chữ nổi xung quanh thân, là một bài minh chép bằng chữ kim văn. Chữ đúc lớn, nét chữ có phần giản lược. Bài minh này được lặp lại 3 lần (ba mặt một lời) và có một dòng 4 chữ như tiêu đề. Tất cả có 208 chữ đúc nổi trên thân đỉnh. Chia thành 52 dòng, mỗi dòng 4 chữ. Nội dung bài minh trên Chu Vương đỉnh như sau:

晳丕俎用

史戊寸公,作休子子門,休永寶對,賜旗吉待,匍正民初,曰盂玟有,

周命于若,胜又王宗,攸用佩帚,門生隹卑,邵宫名大,反吊夫死,

友君子師,厭永吉有, 考庚辟內,于其朋享,晳丕俎用

TÍCH PHI TRỞ DỤNG

Sử Mậu Thốn Công, tác hưu tử tử môn, hưu vĩnh bảo đối, tứ kỳ cát, đãi bồ chính dân, sơ viết Vu Mân, hữu Chu mệnh vu nhược, thắng hựu Vương tông, du dụng bội trửu, môn sinh chuy ti, thiệu cung danh đại, phản điếu phu tử, hữu quân tử sư, yếm vĩnh cát hữu, khảo canh tịch nội, vu kỳ bằng hưởng, tích phi trở dụng.

Chú giải:

Tích phi trở dụng: chữ Bất 不 ở đây đọc thông với chữ Phi 丕, nghĩa là to lớn. Trở là vật dùng tế lễ.

Sử Mậu Thốn Công: Chữ sử 史dùng thông với chữ 使. Mậu Thốn là tên một vị đại thần tước Công.

Tác hưu tử tử môn: làm ra khu nhà dùng cầu lành cho con cháu

Hưu vĩnh bảo: Bảo là đồ quý, ở đây chỉ chiếc đỉnh.

Bồ chính dân: Bồ nghĩa là vất vả. Ý nói việc cai quản dân nhiều khó nhọc.

Vu Mân: Nghĩa thường là đồ đựng bằng ngọc. Nhưng có thể ở đây chỉ Văn Vương, là vị vua khởi đầu nhà Chu. Vu Mân đọc thiết là Văn.

Dụng bội trựu: chữ “trựu” đọc không chắc chắn. Hiểu nghĩa chung là dùng đồ vật quý làm tín lễ.

Chuy ti: chữ đọc không chắc chắn. Suy theo nghĩa là chỉ việc phúc sinh được con cái.

Hữu quân tử sư:  chỉ bậc thầy của vua, có lẽ là chỉ các bậc tiên vương.

Khảo canh: đọc thông nghĩa với “thọ khang”.

Diễn nghĩa bài minh trên Chu Vương đỉnh:

Dùng tế lễ lớn

Sai Mậu Thốn Công làm chiếc đỉnh quý đặt ở cửa lành cho con cháu, cùng ban cờ cầu phúc, để gắng sức cai quản nhân dân. Trước đây vua Văn có được mệnh thắng của nhà Chu, Vương tông lại dùng đồ tín lễ mà trong nhà sinh được điều lành, rạng danh cung lớn, dùng cúng điếu người đã mất, để cho bạn, quân, con, thầy có điều tốt đầy mãi, luôn trong mạnh thọ mà hưởng dụng như vậy, dùng cho tế lễ lớn.

Phần đầu bài minh Tích phi trở dụng

Chiếc đỉnh tông Chu Vương này có hình dạng tương đồng với đỉnh Cận 堇鼎, là chiếc đỉnh lớn thời đầu Tây Chu tìm thấy ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Đỉnh Cận là một trong những trọng khí quốc gia của Trung Quốc, kích thước cao 62 cm, chỉ cao hơn chiếc đỉnh Chu Vương trên 9 cm. Trên đỉnh Cận có khắc chữ kể về một vị hầu tước tên Cận đi cống lễ vua Chu. Chiếc đỉnh Chu Vương mô tả ở trên như vậy cũng có niên đại xấp xỉ vào đầu thời kỳ Tây Chu, cách nay gần 3.000 năm.

Nội dung bài minh trên đỉnh Chu Vương khá tương đồng với bài minh của vua Minh Mạng đúc trên Phỏng Chu Vương Bá đỉnh. Bài minh có ý nghĩa là đúc đỉnh để truyền lại cho con cháu làm vật quý sử dụng trong việc tế lễ, thờ cúng tổ tiên, tang lễ, để nhờ đó cầu phúc, cầu mệnh trời cho triều đại được lâu dài, cai quản nhân dân.

Pháp cổ

Dụ chỉ đúc đỉnh của vua Minh Mạng nêu: Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam Đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc.

Các minh vương thời Tam Đại đúc cửu đỉnh tượng trưng cho đất đai thiên hạ 9 châu bắt đầu từ Đại Vũ của nhà Hạ. Các cổ khí của vua Minh Mạng chủ yếu phỏng theo các đồ thời Thương và và Chu. Tam Đại Trung Hoa mà Minh Mạng noi theo là các triều đại Hạ, Thương và Chu của Trung Hoa cổ đại.

Từ thời vua Gia Long đầu triều Nguyễn đã đề ra xu hướng “Pháp cổ” – noi theo phép xưa có. Có 2 khái niệm pháp cổ:

  • Pháp tiên vương: tức là theo phép thời Nghiêu, Thuấn.
  • Pháp hậu vương: tức là theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu).

Thời Minh Mạng lại đề ra khái niệm “pháp tổ”, theo phép tổ tiên, cũng đều có thể gọi chung là pháp cổ. Tuy là phương châm “pháp tổ” (“kính thiên pháp tổ”) nhưng lại vua Minh Mạng lại mô phỏng theo thời Hạ Thương Chu, mà tiêu biểu là đúc Cửu đỉnh và Cổ khí. Nói cách khác, Minh Mạng công khai coi các vị tiên vương thời Ngũ Đế và hậu vương thời Tam Đại Trung Hoa là “tổ” của triều Nguyễn, mà noi theo.

Trang Ngọc phả Hùng Vương thời Minh Mạng có ghi “niên hiệu” Hùng Vương năm thứ 32

Vương triều Chu của Trung Hoa bắt đầu từ Văn Vương dựng nghiệp, Vũ Vương lập thiên hạ lên ngôi thiên tử, đều là những triều đại của người Việt, được sử sách Việt gọi là thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, phân phong trăm anh em thành Bách Việt. Chiếc đỉnh Chu Vương tạo đúc là biểu tượng của vương quyền thiên tử nhà Chu trước trăm tộc Bách Việt, cũng chính là tế vật của vua Hùng nước Văn Lang xưa. Lịch sử Trung Hoa cổ đại còn truyền tới triều Nguyễn nước Đại Nam, tự xưng mình là Hùng Vương như trong bản Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả được biên soạn dưới thời vua Minh Mạng. Báu vật bảo đỉnh Chu Vương còn lưu truyền đến nay qua gần 3000 năm, là chứng thực cho sự vững bền của quốc gia, của nền văn minh dân tộc Việt trải suốt chiều dài lịch sử. Liệu Việt Nam ngày nay có thể lại trở thành một “đế quốc” bao trùm rộng lớn với thiên hạ chín châu hay không phụ thuộc vào nhận thức của chính người Việt đối với những di sản cổ vật của tiên tổ để lại cho chúng ta ngày nay.

Lạc Hùng chính thống

Có rất nhiều học giả Tây có, ta có, Tàu có, cho đến nay vẫn cho rằng sách vở xưa các cụ chép đã nhầm chữ “Lạc” thành chữ “Hùng”, nên kết luận Hùng Vương là Lạc Vương, hay các vua Hùng mang họ Lạc… Bài viết này xin tổng quan lại nhận định về dòng giống Lạc Hùng của người Việt trong suốt tiến trình lịch sử là gì.

Tên gọi “Lạc” đầu tiên được nhắc đến trong sử Việt là Lộc Tục Kinh Dương Vương làm vua phương Nam, lấy tên nước là Xích Quỷ. Chữ “Lộc” ở đây chính là đọc sai của “Lạc”, mà bằng chứng trực tiếp là sau đó Kinh Dương Vương lấy Thần Long sinh ra Lạc – Long quân, thủ lĩnh của vùng Lạc và Long. Nếu mẹ Rồng Động Đình đã là Long thì hiển nhiên cha Tiên phải là Lạc.

Lộc Tục tức là Lạc tộc, chỉ dòng tộc ở vùng đất phương Nam xưa thời lập quốc Xích Quỷ. Phương Nam xưa là phương của cây kim chỉ Nam, vốn luôn chỉ về địa cực, chứ không phải phương Xích đạo như ngày nay. Phương này trong Ngũ hành thuộc về hành Thủy (nước). Do đó tên nước Xích Quỷ thực ra là cách phiên thiết của chữ Thủy = Sủy, chỉ phương Nước mà thôi. Lạc cũng vốn phát âm là Nác, mà tiếng Nghệ Tĩnh ngày nay vẫn đang nói để đọc từ Nước. Lạc nghĩa là Nước, là Thủy, là phương Nam xưa.

Chính điện đình Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ)

Câu đối ở đền Hùng, Phú Thọ:

Khải ngã Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc

Hiển vu Tây Thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.

Dịch nghĩa:

Mở đất Nam Giao, Hồng Lạc nghìn thu xưng đế quốc

Sáng vùng Tây Thổ, Tản Lô một dải mãi lưu đền.

Dòng Lạc tộc của Kinh Dương Vương đã kết hợp với dòng Long tộc Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Con Rồng là biểu tượng của phương Đông trong Tứ linh, xuất xứ từ vùng ven biển Động Đình, tức biển Đông. 2 dòng Lạc ở vùng trung du Bắc Bộ và dòng Long ở ven biển Đông đã hợp nhất dưới thời vua cha Lạc Long Quân. Từ đó chữ Lạc cũng dùng chung với nghĩa Lạc Long, chỉ 2 vùng đất này ở miền Bắc Việt.

Phương hướng trong cổ sử Hoa Việt

Dòng Lạc Thị từ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân được thờ tập trung ở vùng Thuận Thành, Gia Bình (Bắc Ninh) với những di tích tiêu biểu như lăng Kinh Dương Vương ở Á Lữ (Thuận Thành), đình Đại Bái thờ Lạc Long Quân, đền Bình Ngô thờ Hùng Vương…

Lạc Long Quân khi nhận ngôi của Kinh Dương Vương đã phải làm một cuộc “cách mạng”, giành quyền cai quản từ dòng phía Tây là Đế Lai. Nhờ dựa vào những người anh em “cùng một bọc trứng” rồng của mẹ Thần Long mà Lạc Long Quân đã trở thành đức Vua cha Bát Hải, đứng đầu Thủy phủ Động Đình.

Câu đối ở đền Đồng Bằng, nơi thờ đức Vua cha Bát Hải Động Đình:

Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu
Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu.

Dịch nghĩa:
Dẹp Thục nên công đầu, đẹp thay núi sông Lạc Hồng, bia kệ sáng dài Đào Động miếu
Trải triều thịnh điển lề, đến nơi phong hội Á Âu, uy sương còn mãi hải môn thu.

Hình Rồng ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình)

Những người anh em phò trợ Lạc Long Quân được kể dưới nhiều cái tên. Đó là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, hai vị thần Tam Giang ở bến Việt Trì. Đó cũng là 5 anh em của Trung Thành Phổ Tế Đại vương được kể ở vùng Thường Tín, Phủ Lý. Bên Hồ Tây thì đó là Uy Linh Lang và Đoài Hồ Thất giáp, lục bộ thủy phủ đã diệt con Cửu vĩ Hồ (người Hồ ở hướng Tây). Trong tín ngưỡng Tứ phủ thì đó là Ngũ vị tôn quan, lập nên Ban công đồng của Tứ phủ.

Trong truyền thuyết về Tản Viên Sơn thì Lạc Long Quân và những bộ tướng Thủy phủ được kể bằng các tên là Quý Minh như ở Ghềnh Bợ (Ba = Quan Đệ tam Thoải phủ) hay 5 vị thủy thần ở La Phù bên bãi Trường Sa của Đà giang. Đây cũng là các “Lạc tướng” dưới trướng của Lạc Vương (Long Quân), vì hiển nhiên các vị này cùng họ với Lạc Long Quân. Công nghiệp lớn nhất của họ là “phù Hùng đánh Thục”, tức là giúp Lạc Long Quân (vua cha Hùng Vương) đánh dòng phía Tây (Thục) của Đế Lai, lập nên nước Hồng Bàng hay Việt Thường.

Lạc triều từ Lạc Long Quân (hoặc từ Lộc Tục Kinh Dương vương) trải 18 đời (con số ước lệ) đều gọi là Hùng Vương, lấy theo tên của Thái tổ Hữu Hùng Đế Minh. Đến đời Hùng Vương thứ 18 là Duệ Vương thì thiên hạ họ Hùng đã trải rộng vượt bờ Hoàng Hà. Trên vùng đất Lạc lúc này có thủ lĩnh là Lạc tướng Cao Sơn mà truyền thuyết chép mang tên Sùng Lãm. Sùng có nghĩa là Cao. Truyền thuyết Trung Hoa gọi là Bắc Bá hầu Sùng Hổ của thời Ân Thương.

Chính điện đình La Phù (Thanh Thủy, Phú Thọ)

Hậu duệ của dòng theo Đế Lai đi về phía Tây (lên núi) lúc này là Âu Cơ hay Cơ Xương, là Tây Bá hầu của nhà Ân. Cơ Xương phát động cuộc đại chiến, tiến đánh Sùng Hầu Hổ ở đất Lạc, truyền thuyết gọi là Thục đánh Hùng Duệ Vương. Lạc tướng Cao Sơn cùng với những dòng tộc khác trên đất Lạc là Tản Viên Nguyễn Tuấn và Quý Minh Nguyễn Hiển chống lại sự tấn công của quân Thục ở vùng thượng du sông Đà, sông Thao (Mộc Châu, Quỳnh Nhai). Quân Thục của Cơ Xương giành phần thắng, đất Lạc bị dòng Âu Cơ chiếm. Cơ Xương dời đô từ Kỳ Sơn về Phong Châu (Phú Thọ), hợp nhất 2 vùng đất Âu (tức Ai Lao, hay vùng cao nguyên Vân Quý) và đất Lạc (tức vùng Nam Giao – Giao Chỉ thời Nghiêu Thuấn Vũ), gọi là nước Âu Lạc.

Cơ Xương băng, con trai là Cơ Phát đã phát động các chư hầu làm cuộc tổng tấn công nhằm vào Trụ Vương. Vua Ân chết ở Lộc Đài vào mùa thu, hóa thành Vua Địa phủ. Ngày vua Ân chết trở thành ngày Xá tội vong nhân, khi mà cánh cửa Dương gian và Địa phủ mở ra để Âm Dương có thể quy về hòa hợp.

Thục Vương Cơ Phát (Thục Phán) lên ngôi Thiên tử, xưng là Vũ Vương, truy phong cho cha là Văn Vương, nên lấy tên nước là Văn Lang. Cơ Phát dời lại đô về phía Tây ở Cảo kinh. Vùng đất Lạc ở phía Đông trở thành nơi tế tự tổ tiên họ Hùng và Văn Vương trên núi Nghĩa Lĩnh.

Vũ Vương băng, Thành Vương nối ngôi còn nhỏ, Chu Công Đán cùng Thiệu Công Thích nhiếp chính. Hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh cùng với ba vị giám thúc nổi loạn. Chu Công xuất thân Đông chinh, bắt đám “ngoan dân” của nhà Ân về an trí tại đất Lạc. Thượng thư có mấy thiên nói về viên việc này:

Thiệu cáo (lời của Thiệu Công với Thành Vương và Chu Công): Qua bảy ngày, Giáp tí, Chu Công bén sớm ra dùng thư để ra lệnh cho dân Ân… Dân Ân đều tới làm. Sau đó Thiệu Công đã trình bày sự việc và xin vua (Thành Vương) xá tội cho dân Ân ở đất Lạc.

Lạc cáo (lời đối thoại giữa Chu Công và Thành Vương): Duy thánh ba ngày rằm, Chu Công bắt đầu dựng nền, làm ấp lớn ở nước miền Đông là đất Lạc… Hỡi người do vua sai khiến! Dân Ân chịu lời dạy dỗ, muôn năm cũng vẫn xem mãi ông vua, cháu ta mà mến đức. Ngày Mậu Thìn nhà vua ở ấp mới làm lễ tế chưng hàng năm, tế Văn Vương 1 trâu, Vũ Vương 1 trâu…

Đa sĩ (lời Chu Công nói với các quan nhà Ân):Duy tháng ba, Chu Công bắt đầu ở ấp mới là Lạc, bèn bá cáo với các quan của vua Thương cũ… Bảo cho các ngươi, các quan nhà Ân được hay! Ta không giết các ngươi. Lúc này ta chỉ lại ra lệnh. Nay ta làm ấp lớn ở đất Lạc này. Ấy là ta vì không có chỗ tiếp đãi bốn phương. Và cũng vì các quan các ngươi chạy bạy làm việc, gần vớ nhiều kẻ biết nhường nhịn của ta… Các ngươi hãy nhận lấy ruộng đất của các ngươi! Các ngươi hãy yên ổn ở lại mà làm việc!…

Vùng đất Lạc lúc này ngoài dòng tộc của Lạc Long Quân xưa (Cao Sơn và Quý Minh) đã có thêm dòng tộc của Âu Cơ Văn Vương và của dòng nhà Ân Thương (Việt Thường) đến lập Lạc ấp. Việc yên định hậu duệ của nhà Ân ở đất Lạc là mối lo của các đời vua Chu từ Thành Vương đến Khang Vương, tới Tất Cônghọ Phan mới thành toàn được vùng Đông đô này:

Tất mệnh (lời Khang Vương truyền cho Tất Công): Than ôi! Cha Thái sư! Vì Văn Vương, Vũ Vương ra đức lớn với thiên hạ nên được nhận ngôi của nhà Ân. Nhờ Chu Công giúp đỡ vua trước, yên định được việc nhà. Khó nhọc với đám dân ngoan ngạnh của nhà Ân, dời họ sang ấp Lạc gần kề nhà vua, họa hóa theo lời dạy bảo. Trải qua ba kỷ (mỗi kỷ 12 năm), đời đổi, thói dời… Sự yên nguy của nước chỉ là trông bọn dân Ân ấy. Không cương, không như đức mới thực tu! Duy Chu Công cẩn thận được ban đầu. Duy Quân Trần thỏa hiệp được khoảng giữa. Duy ông thành toàn được đoạn cuối.

Vế đối có chữ Lạc Đô ở đình Tân Khai

Câu đối ở đình Tân Khai ở trung tâm Hà Nội gọi đích xác nơi này là “Lạc Đô”:

Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích

Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.

Dịch nghĩa:

Thành Đại La một dải núi sông, Long Đỗ tới nay còn thắng tích

Bốn đền trấn các triều hương lửa, Lạc Đô tự cổ dậy tiếng thơm.

Thời Chu U Vương vùng Tam Xuyên (tức là vùng Tam Giang trên đất Lạc) gặp trận động đất lớn là điềm âm thịnh dương suy. Thái sử nhà Chu là Lão Tử Lý Bá Dương đã đăng đàn trên núi Thất Diệu, nhắc lại ân oán của 2 nhà Hạ và Thương (cùng là dòng Lạc Long) ở đây để răn dạy vua Chu. U Vương sủng ái Bao Tự, hóa thân của dãi rồng từ thời Hạ, dẫn đến mất nước. Nhà Chu buộc phải dời đô về Đông, tức là về vùng đất Lạc của tổ tiên họ Hùng xưa, đóng đô ở Đông Ngàn Cổ Loa, gọi là Lạc Dương. Dương là hướng mặt trời lên, chỉ phương Đông.

Câu đối ở nghi môn đền mẫu Bạch Kê trên núi Thất Diệu:

Hồng Lạc di phong trang thể thế

Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Dịch nghĩa:

Di tích Lạc Hồng đẹp hình thế

Dòng dõi Tiên Long mở cơ đồ.

Câu đối ở miếu Bạch Kê

Cuối thời Chiến Quốc, nước Tần ở phía Tây trên đất Ba Thục trở nên hùng mạnh. Tần Vương (cũng gọi là Thục Vương) đánh chiếm đất Chu của họ Hùng, sát nhập vùng đất Lạc với lãnh thổ phía Tây của nhà Tần nên cũng được gọi là nước Âu Lạc. Tần Thủy Hoàng xưng Đế, thống nhất thiên hạ Trung Hoa.

Chế độ hà khắc của Tần không được lâu. Một người từ vùng đất Phong Bái, tức là đất Lạc, là Lưu Bang đã dựng cờ khởi nghĩa ở vùng núi Châu Sơn Vũ Ninh. Nước Vạn Xuân lập ra rồi lại tách làm 2 phần sau khi Lữ Hậu mất. Nước Nam Việt có địa bàn nằm trên vùng đất Lạc Long xưa, nên Triệu Vũ Đế được coi là dòng Lạc Hùng như câu đối ở điện Xuân Quan bên sông Hồng:

Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ

Xung thiên để trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai. 

Dịch là:

Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán

Động trời cột trụ, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Nhà Triệu truyền 5 đời tới Triệu Vệ Dương Vương thì thất thủ bởi cuộc tấn công của nhà Hiếu vào Phiên Ngung. Vua Triệu cùng với thừa tướng Lữ Gia đem gia quyến lên lâu thuyền chạy về phía Tây, về đất Lạc xưa ở cửa biển Đại Ác. Không may, vua và Lữ Gia đều bị bắt giết. Nhưng các vị hoàng phi nhà Triệu mang họ Lữ tiếp tục ngược sông Đáy, chạy về vùng Phong Châu, làm nên cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Trưng Vương là dòng “Lạc Hùng chính thống“, khởi nghĩa trả thù cho chồng là “Lạc tướng Chu Diên“, đọc lời thề ở Hát Môn.

Câu đối ở đền Đồng Nhân thờ nhị vị Trưng Vương, nói rõ Trưng Vương đã tiếp nối dòng Lạc, dựng nước Đinh:

Tiếp Lạc, khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử

Khu Tô, kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương.

Dịch là:

Tiếp Lạc Hồng mở Đinh Tây, áo mũ xưng vua ba mùa lưu sử sách

Đuổi Tô Định chống Mã Viện, núi sông thu lại vạn xuân truyền danh thơm.

Câu đối trên đá ở đền Đồng Nhân

Câu đối ở đình Nôm, thờ thánh Tam Giang, một vị đại tướng của Trưng Vương, lấy cháu gái của Triệu Vũ Đế là Triệu Mỵ Nương, nói tới Trưng Vương thu được 65 thành và đóng đô ở “Đông Lạc”:

Lục thập thành Đông Lạc đại đô, Hán thị sơn hà ki khả chuyển

Bách thiên tải Nam triều danh tích, Trưng gia nghĩa liệt khải năng ma.

Dịch nghĩa:

Sáu mươi thành đô lớn Đông Lạc, thời Hán núi sông mà lay chuyển

Trăm ngàn năm tích nổi Nam triều, nhà Trưng công nghĩa chẳng từ.

Khởi nghĩa Trưng nữ Vương thất bại, nhưng hậu quân của Nam Việt nhà Triệu vẫn tiếp tục duy trì ở vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ dưới tên Nam Triệu (Nam Chiếu) của Triệu Ông Lý. Lạc Dương thời Chu Thục trở thành Giao Chỉ với thủ phủ ở Long Biên. 

Tới thời Đường, Lạc Điêu ngự sử Cao Biền được cử sang An Nam bình định Nam Chiếu. Chữ “Lạc Điêu” thực ra là Lạc Diên mới đúng, là đọc chệch của từ Lạc Dương. Cao Biền đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi vùng đất Lạc Dương, xây thành Đại La.

Hội đình Kim Lan

Câu đối ở đình Kim Lan, thờ Cao Vương Biền:

Châu lĩnh ngật đồi ba, Hồng Lạc sơn hà lưu thắng tích 

Nhị hà bồi xuân sắc, Thăng Long cố chỉ ánh Đại La.

Dịch nghĩa:

Đất ngọc sóng vờn vun, non nước Lạc Hồng lưu thắng tích

Sông Nhị đắp xuân sắc, nền cổ Thăng Long sáng Đại La.

Dòng dõi Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướngsau khởi nghĩa Trưng Vương còn chưa dứt, bởi tới khi chúa Nguyễn Hoàng dựng nghiệp, Gia Long, Minh Mệnh lập lại đế quốc Đại Nam thì vẫn nhận mình là dòng dõi Hùng Vương, như được ghi trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả.Chúa Nguyễn Hoàng nay được thờ là ông Hoàng Mười với sự tích cho rằng là con của Vua cha Bát Hải giáng thế. Vua cha Bát Hải là Lạc Long Quân nên sự tích này ý chỉ họ Nguyễn là dòng dõi của Lạc triều xưa.

Trang ngọc phả đề Hùng Vương năm 32

Nhà thờ họ Nguyễn ở Kẻ Xốm (Vân Nội, Phú Lương, Thanh Oai), nơi lưu giữ Cổ Lôi ngọc phả truyền thưBách Việt triệu tổ cổ lục, luôn coi mình là dòng dõi Kinh Dương Vương. Đình Bình Đà thờ thủy tổ Lạc Long Quân với bức giá tượng cổ Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ. Khu vực Thanh Oai này cũng là “quê mẹ” Bồng Lai của hoàng tử Linh Lang, tức là Lạc Long Quân trong truyền thuyết. Như thế 2 cuốn phả tộc họ Nguyễn trên thực chất là ghi chép lịch sử người Việt từ góc độ của dòng Lạc theo cha, khác với những truyền thuyết chép từ góc độ của dòng lên núi theo mẹ Âu Cơ nước Văn Lang xưa.

Có thể họ Nguyễn = Nguyên, là số 1, chỉ phương Nam xưa trong Hà thư, hành Thủy. Tức là Nguyễn cũng tương đương với Lạc.

Cấm cung đình nội Bình Đà

Lịch sử hơn 4.000 năm, từ khi Lạc tộc khai phá phương Nam, Lạc Long Quân mở nước về miền biển Đông, Thục Vương dời đô về Lạc ấp, Tần Vương thống nhất Âu Lạc, Triệu Vũ Đế khởi binh, Trưng Vương nêu cao ngọn cờ Lạc Hùng chính thống, Cao Vương xây thành Đại La, cho tới các vua Nguyễn hưng thịnh nước Đại Nam. Dòng máu Lạc Hồng chưa hề ngừng chảy trong con tim mỗi người dân Việt.