Các câu đối về Thiên Đế

Toàn bộ các câu đối trong ghi chép ở đền Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên), nơi thờ Vua Trời Đế Thích.

IMG_4923

Câu 1

休言巨小諸神,上帝獨尊無與對
勿論邇遐萬姓,下天一等赤欽崇
Hưu ngôn cự tiểu chư thần, Thượng Đế độc tôn vô dữ đối
Vật luận nhĩ hà vạn tính, hạ thiên nhất đẳng xích khâm sùng.
Dịch:
Thôi lời các thần nhỏ to, Thượng Đế độc tôn không ai sánh
Chớ kể vạn họ gần xa, dưới trời đều một dạ kính sùng.

Câu 2

祿是總災是除,封域順成*永保
樂主和禮主敬,古今上下同由
*豐年也
Lộc thị tổng tai thị trừ, phong vực thuận thành* vĩnh bảo
Nhạc chủ hoà lễ chủ kính, cổ kim thượng hạ đồng do.
* phong niên dã
Dịch:
Lộc thì cộng, nạn thì trừ, bờ cõi thuận bền giữ mãi
Nhạc để êm, lễ để kính, xưa nay trên dưới đều theo.

Câu 3

福降自天,上下四民永保
禮虔享帝,同由一念順安
Phúc giáng tự thiên, thượng hạ tứ dân vĩnh bảo
Lễ kiền hưởng đế, đồng do nhất niệm thuận an.
Dịch:
Phúc ban từ Trời, trên dưới tứ dân gìn giữ mãi
Lễ thành cúng Vua, đồng tâm cùng niệm sự yên bình.

Câu 4

默化神機,十二仙娥安眼
包藏妙用,三千世界一壺
Mặc hoá thần cơ, thập nhị tiên nga an nhãn
Bao tàng diệu dụng, tam thiên thế giới nhất hồ.
Dịch:
Ngầm hóa cơ thần, mười hai tiên nga lành mắt
Dấu kín dùng hay, ba ngàn thế giới chung bầu.

Câu 5

人欲壽者求,得門而入
帝至尊無對,過廟則趍
Nhân dục thọ giả cầu, đắc môn nhi nhập
Đế chí tôn vô đối, quá miếu tắc tri.
Dịch:
Đế chí tôn không ai bì, miếu xưa tất đông đúc
Người muốn sống lâu nên khấn, đến nơi cửa mà vào.

Câu 6

勝會衣冠,燦爾天河斗列
高楼鼓吹,恍然雲洞樂喧
Thắng hội y quan, xán nhĩ thiên hà đẩu liệt
Cao lâu cổ xúy, hoảng nhiên vân động nhạc huyên.
Dịch:
Hội đẹp áo mũ, sáng thế Thiên Hà sao đẩu
Lầu cao cổ súy, bỗng nhiên nhạc nổi động mây.

Câu 7

上帝降衷,仁義禮智
下民遂欲,富貴壽康
Thượng đế giáng trung, nhân nghĩa lễ trí
Hạ dân toại dục, phú quý thọ khang.
Dịch:
Thượng đế ban lành Nhân Nghĩa Lễ Trí
Hạ dân toại nguyện Phú Quý Thọ Khang.

Câu 8

同然福集堂基永孚休慶
油爾雲浮幢盖保合泰和
Đồng nhiên phúc tập đường cơ vĩnh phu hưu khánh
Du nhĩ vân phù tràng cái bảo hợp thái hòa.
Dịch:
Cùng là góp phúc ở nếp nhà, niềm tin tốt mãi
Ùn ùn mây nổi như lọng che, yên hòa giữ gìn.

Câu 9

維岳降神經有見
自天顯聖外無聞
Duy nhạc giáng thần kinh hữu kiến
Tự thiên hiển thánh ngoại vô văn.
Dịch:
Từ núi thần giáng, từng đã thấy
Từ trời thánh hiện, khác chưa nghe.

IMG_5073

Câu 10

億年顯跡金牛上
萬古靈祠義冑西
Ức niên hiển tích Kim Ngưu thượng
Vạn cổ linh từ Nghĩa Trụ Tây.
Dịch:
Muôn năm tích rạng bờ Kim Ngưu
Vạn đại đền thiêng Tây Nghĩa Trụ.

Câu 11

滅鬼一弓方顯聖
出人半局始知天
Diệt quỷ nhất cung phương hiển thánh
Xuất nhân bán cục thủy tri thiên.
Dịch:
Trừ quỷ một cung nơi hiển Thánh
Xuất trần nửa cuộc mới biết Trời.

Câu 12

三級璦臺䀡起敬
兩擎砥柱仰弥高
Tam cấp ái đài chiêm khởi kính
Lưỡng kình để trụ ngưỡng di cao.
Dịch:
Ngọc đài ba bậc xem mà kính
Hai bên cột trụ ngưỡng càng cao.

Câu 13

色空理悟曇而聖
生化機玄帝又天
Sắc không lý ngộ Đàm nhi Thánh
Sinh hóa cơ huyền Đế hựu Thiên.
Dịch:
Biết lẽ sắc không, Phật mà Thánh
Diệu kỳ sinh hóa, Đế cũng Trời.

Câu 14

耕𨯳群方歌日出
管絃萬户詠風薫
Canh tạc quần phương ca nhật xuất
Quản huyền vạn hộ vịnh phong huân.
Dịch:
Cấy cày các chỗ ca ngày mới
Đàn sáo bao người ngợi gió thơm.*
*夏節 Hạ tiết

Câu 15

碁局收餘𪽋勝著
寶香焚處現真身
Kỳ cục thu dư lưu thắng trước
Bảo hương phần xứ hiện chân thân.
Dịch:
Cuộc cờ sắp hết còn nước thắng
Hương quý đốt lên hiện thân tiên.

Câu 16

慧日凝祥張氏墅
慈雲普蔭下亭*花
*遼下亭
Tuệ nhật ngưng tường Trương thị thự
Từ vân phổ ấm Hạ đình* hoa.
* Liêu Hạ đình
Dịch:
Chở che mây ái hoa đình Hạ*
Ngày sáng đẹp lành nhà họ Trương.
* Đình Liêu Hạ

Câu 17

真香閃爍慈雲現
碁局圓神慧日高
Chân hương thiểm thước từ vân hiện
Kỳ cục viên thần tuệ nhật cao.
Dịch:
Cờ thế vẹn tinh cao lúc trí
Hương tiên lấp lánh hiện mây lành.

Câu 18

金峯勝地鍾靈氣
上界仙宮現法身
Kim phong thắng địa chung linh khí
Thượng giới tiên cung hiện pháp thân.
Dịch:
Cõi trên cung thánh ngời thân phép
Non giữa đất lành đúc khí thiêng.

Câu 19

錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kỳ thế giới thiểu Trương công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.

IMG_4977

Câu 20

改命機神仙跡古
好生德洽歲花新
Cải mệnh cơ thần tiên tích cổ
Hảo sinh đức hợp tuế hoa tân.
Dịch:
Thần kỳ thay mệnh xưa tiên tích
Đức rộng hiếu sinh tuổi mới thêm.

Câu 21

藜杖儘空三界鬼
檀香普濟萬家春
Lê trượng tẫn không tam giới quỷ
Đàn hương phổ tế vạn gia xuân.
Dịch:
Gậy cỏ sạch không ba giới quỷ
Hương đàn giúp khắp vạn nhà xuân.

Câu 22

除妖先及吞山𩴳
佑德無穷献果張
Trừ yêu tiên cập thôn sơn Sát
Hữu đức vô cùng hiến quả Trương.
Dịch:
Không cùng ơn giúp Trương dâng quả
Trước kịp trừ yêu Quỷ nuốt non.

Câu 23

慈雲普蔭天三界
慧日輝煌智六通
Từ vân phổ ấm thiên tam giới
Tuệ nhật huy hoàng trí lục thông.
Dịch:
Mây từ ấm khắp ba ngàn giới
Ngày tuệ rạng ngời sáu trí thông.

Câu 24

𩴳讋天威寧論魃
仙蒙惠德況扵生
Sát triệp thiên uy ninh luận bạt
Tiên mông huệ đức huống ư sinh.
Dịch:
Sát sợ oai Trời không gây hạn
Tiên trùm ơn huệ lại thêm sinh.

Câu 25

扇火紅光千怪滅
真香馥郁萬祥生
Phiến hỏa hồng quang thiên quái diệt
Chân hương phúc úc vạn tường sinh.
Dịch:
Quạt lửa ánh hồng ngàn quái diệt
Hương thần tỏa khắp vạn dân lành.

Câu 26

添龄無数今張子
驅害曽刊古弄林
Thiêm linh vô sổ kim Trương tử
Khu hại tằng san Cổ Lộng Lâm.
Dịch:
Thêm vô số tuổi đây Trương tử
Đuổi họa chất chồng Cổ Lộng Lâm.

Câu 27

恩霑法雨三千界
喜倍天僊十二娥
Ân triêm pháp vũ tam thiên giới
Hỉ bội thiên tiên thập nhị nàng.
Dịch:
Ơn thấm ba ngàn giới mưa phép
Mừng thêm mười hai nàng tiên trời.

Câu 28

鏡朗照肝洪造鑄
香薰改命朶雲慈
Kính lãng chiếu can hồng tạo chú
Hương huân cải mệnh đóa vân từ.
Dịch:
Kính sáng chiếu tâm nên vận lớn
Hương thơm thay mạng đám mây lành.

Câu 29

仙升佛降今如見
國擣民祈古以來
Tiên thăng Phật giáng kim như kiến
Quốc đảo dân kỳ cổ dĩ lai.
Dịch:
Tiên lên Phật xuống nay như thấy
Nước cúng dân cầu xưa tới giờ.

IMG_5088

Câu 30

光芒赤電疑弓影
靉靆黃雲想犢車
Quang mang xích điện nghi cung ảnh
Ái đãi hoàng vân tưởng độc xa.
Dịch:
Sáng lòa chớp đỏ ngờ cung ảnh
Mù mịt mây vàng ngỡ xe trâu.

Câu 31

紫極常居雨露申休潭地軸
青雲可躡鈞韶傾耳到天門
Tử cực thường cư, vũ lộ thân hưu đàm địa trục
Thanh vân khả nhiếp, quân thiều khuynh nhĩ đáo thiên môn.
Dịch:
Thường ở cực tía, mưa móc ơn thần thấm khắp đất
Thể cưỡi mây xanh, nhạc thánh lắng nghe tận cửa trời.

Câu 32

曲奏霓裳天上月
人皆絃管陸中仙
Khúc tấu nghê thường Thiên thượng Nguyệt
Nhân giai huyền quản Lục trung Tiên.
Dịch:
Đàn hát cùng người Tiên tại đất
Nghê thường tấu khúc trăng trên trời.

Câu 33

江村絃管多春色
帝座鈞天響廟廷
Giang thôn huyền quản đa xuân sắc
Đế tọa quân thiên hưởng miếu đình.
Dịch:
Thôn xóm sáo đàn khen xuân sắc
Ngôi Đế ngang Trời vọng miếu đình.

Câu 34

告舍人曰吾入相
自天子所我出車
Cốc xá nhân viết ngô nhập tướng
Tự thiên tử sở ngã xuất xa.
Dịch:
Người xã Cốc rằng: Tôi nhập tướng
Thánh từ Trời nói: Ta ra xe.

Câu 35

高棋伯仲張公智
誨奕叨承*上帝仁
*滥也添也
Cao kỳ bá trọng Trương Công trí
Hối dịch thao thừa* Thượng Đế nhân.
* lạm dã thiêm dã
Dịch:
Phép răn nhiều ít lòng Thượng Đế
Cờ cao lớn nhỏ trí Trương Công.

Câu 36

士樂觀光為相為將
象徵大順出馬出車
Sĩ lạc quan quang vi tương vi tướng
Tượng trưng đại thuận xuất mã xuất xa.
Dịch:
Sĩ vui thoáng chỗ vì Tướng vì Vua
Voi bày thế thuận ra Ngựa ra Xe.

Câu 37

世無乾𩴳弓常静
人並張公命可囬
Thế vô Càn Sát cung thường tĩnh
Nhân tận Trương Công mệnh khả hồi.
Dịch:
Đời không Càn Sát cung thường tĩnh
Người đến Trương Công mệnh còn hồi.

Câu 38

亮工德仰金峯峻
福善心如鏡水平
Lượng công đức ngưỡng kim phong tuấn
Phúc thiện tâm như kính thủy bình.
Dịch:
Việc chính đức trông cao ngọn núi
Điều phúc tâm như mặt nước gương.

Câu 39

陟降在帝左右
威福承天聪明
Trắc giáng tại đế tả hữu
Uy phúc thừa thiên thông minh.
Dịch:
Lên xuống bên Vua trái phải
Oai phúc theo Trời sáng trong.

IMG_5090

Bài ký bia đền linh xã Liêu Hạ

IMG_5037

 Cử nhân Bách Sơn Khương Văn Định xã Vĩnh An bái soạn.

Vào năm Long Thụy thứ hai triều Lý có ông Trương Ba là người xã Liêu Hạ, ba đời tu thiện, tính thích uống rượu và chơi cờ rất giỏi, khắp nước không ai thắng nổi. Từ nước Bắc tới có ông Kỵ Như, cũng là một người chơi cờ rất giỏi. Ông Trương vui mừng, tiếp đón kết giao tình, cùng dẫn về nhà, thỏa chí thích tài. Hai ông hiểu rõ huyền cơ của Tạo hóa (Sách báu ở Trì La có Vua Trời nói rằng cờ là sự biến hóa của huyền cơ), lấy sự vui mừng mà bằng lòng. Bảy năm hai ông kết bạn kim lan. Một hôm, ông Trương nói với ông Kỵ Như rằng:
– Chúng ta chơi cờ cao như vậy, ở Hạ giới không ai là đối thủ. Trộm nghe Vua Trời là danh cờ của Thượng giới. Tôi định muốn được lên đường mây, gõ cửa trời, bái cung Vua, nguyện hầu chuyện cùng cho tỏ tường cái duyên tiên đời trước, cho tận cái hào khí thủa nay vậy.
Sau đó mấy hôm, hai ông đang ngồi chơi cờ thì thấy có một ông già thân gầy như cây mai, râu trắng như tuyết, đội nón lá, quần áo thủng lỗ chỗ, hình dung rất kỳ dị, bẩn thỉu. Ông già chống gậy đến thẳng trước nhà, nói:
– Tôi mới về làng, đường xa hiểm trở, xem hai ông đấu cờ, tôi cũng rất hứng thú, muốn được thử một ván.
Kỳ Như mới nhường chiếu để ông già và Trương Ba đấu cờ. Mới được vài nước ông già đã thắng rõ. Ông Trương mới chắp tay mà nói rằng:
– Lão Tiên từ đâu đến đây? Phép cờ tối cao. Xin được biết tính danh, nguyện cầu thầy dạy cho.
Ông già chậm rãi nói:
– Nhà ta chính ở cung trời 33 trên Thượng giới (tức là Đế Thích, tính danh này chỉ có người biết mới hiểu).
Ông Trương và Kỵ Như nghe vậy thất kinh, trong lòng biết là Vua Trời Thượng giới xuống đấu cờ, quả đúng như nguyện ước. Hai ông bẻ mía ngọt, chuối xanh ở trong vườn về dâng lên, dập đầu lạy 5 lạy. Vua Trời lấy từ trong tay áo ra bó hương có ba nén là trầm hương, giáng hương và chân hương tặng cho hai ông mà nói:
– Lúc khác mà gặp nạn thì đốt ngay hương này lên, ta sẽ đến cứu giúp.
Dứt lời không thấy đâu nữa. Hai ông lạy tạ, rồi lấy hương quý cất đi.
Sau này hai ông ốm mất, người nhà mới nhớ đến việc hương thần, liền đem đốt lên. Vua Trời cưỡi mây hạ xuống, gọi Tam phủ công đồng đến tìm hồn hai ông về hồi sinh trên cõi dương. Chữa thuốc không đến một khuê (là thuốc tiên). Lại sửa sổ đen của Nam Tào (người khi sinh thì ghi sổ hồng, khi chết thì ghi sổ đen để tính toán), tăng thêm tuổi hạc thành tiên ông Đông Hải.
Hai ông cảm ơn tái tạo của Vua Trời (trăm ngày đếm một), dựng nên điện thờ ở xã Liêu Hạ theo phương Càn, cùng với xã Liêu Hạ phụng thờ Vua Trời và Tam phủ. Cầu đảo linh ứng như lời. Vạn thế truyền vang tiếng lạ.

IMG_0403Một góc bia Đế Thích điện ở Liêu Hạ.

Sự tích thờ phụng Đế Thích

Tích xưa phụng sự

Xã Cầu Bảo huyện Văn Giang phụng sự

Thiên Đế ngự ba ngàn thế giới, là Đại Phạm Thiên vương, Thiên chủ Trung tôn cai quản lục dục. Đế Thích là uy cảm của Linh Hữu Bột Hải Hoàng hậu, vua nước Thiền Tiên. Sự tích này của Ngọc bê hạ xưa có văn bia, tới nay mưa vùi gió dập, không còn dấu vết để xem xét. Kể rằng ở địa phận xã Ngu, lộ Quán Triền, trong một ngôi nhà cỏ có một bà lão bán tương. Bỗng một ngày thấy một vị trượng phu từ trên không hạ xuống, dung mạo đường đường, phi phàm. Người đó đi đến và ngồi tọa định. Rồi thấy một phụ nữ kiều diễm mặc áo trắng tươi tắn vượt lại. Chưa kịp trả lời thì thấy bên bờ Tây của sông có nhiều người dân xã Ngu cúi lạy. Đế nói: Ta là vua Đế Thích của 33 cõi trời xuống diệt trừ Càn Xát Bà Vương và 15 loại quỷ trừ hại cho dân. Nói xong thì bay lên không mà về. Nhân dân lập đền tại chỗ đó để thờ phụng, hàng năm có tế lễ. Sau này gặp khi cần chống hạn thì cầu thánh giá về nơi Quán Triền thì được ứng nghiệm, cầu mưa được mưa, nhân dân thường đến cầu đảo nhiều. Triều trước từ khi vua mới lên ngôi các vị bách thần được khai hiệu bởi quan lễ. Quan lễ bàn rằng Thiên Đế vô cùng cao quý, không dám phong tặng nên không có văn sắc.

IMG_4912
Thiên Đế điện ở Cầu Váu, Văn Giang, Hưng Yên.

Xã La Bật huyện Thiên Thi phụng thờ Thánh đế Đế Thích

Theo như lời truyền lại, xưa có một cái cây có ba nhánh khi trôi đến địa phận của bản xã thì có thánh hiển hiện nói rằng đó là Đế Thích giáng hạ. Người trong ấp nhân đó mới lấy cây gỗ để khắc tượng lập quán mà thờ, rất linh ứng. Xã Liễu Cầu ở cạnh đó có hai chị em cho gặp loạn mà sang nước Ai Lao, đã ngầm khấn đươc bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi được như bay. Khi quay về đến quê vào quán bái tạ thì bỗng chốc hình hài biến mất, chỉ còn lưu lại chỏm tóm trên đầu. Sau Đế Thích lại có biến thân thành một lão ông đến xã Liêu Hạ huyên Đường Hào cùng với Trương Ba đấu cờ. Sau đó Trương Ba mắc bệnh mà chết. Vợ Trương Ba lấy hương thắp khấn, lại thấy Đế Thích xuất hiện, thu hồn phách của Trương Ba nhập vào thân xác người đồ tể. Trương Ba được phục sinh gặp lại vợ. Nay ở đền Liêu Hạ từ ở chính giữa có lập tượng, bên trái đặt tượng Trương Ba, phía trước đặt một bàn cờ lớn. Sự tích được kể trong sách Lĩnh Nam trích quái. Từ đó về sau ở địa phương nếu gặp hạn muốn chống thì đón tượng để cầu đảo, đều có mưa ngay. Có nhiều công đức đối với nhân dân. Nhưng sắc phong cho tới nay nhất thiết đều không.

IMG_5807
Bức chạm cõi Thiên ở đền Xá, Ân Thi, Hưng Yên.

Xã Liêu Hạ huyện Đường Hào vâng sao sự tích

Miếu vua Đế Thích xưa từ triều Lý năm Long Thụy thứ tư giáng hạ ở xã Liêu Hạ, tại thôn Thượng ở phương Càn, thử tài cờ cùng với người bản xã tên là Trương Ba. Trương Ba biết là tiên ông trên trời xuống thành người phàm trần nên chắp tay bái tạ. Đến khi Trương Ba mất, đã giáng xuống cải tử hoàn hồn cho kéo dài thêm hơn 800 năm. Nhân dân lập miếu thờ phụng. Thái tể Vinh quận công triều Lê đã cho chép việc này thành sách.

Năm Canh Ngọ tháng Giêng ngày lành.

IMG_0397
Đền thờ Đế Thích ở Liêu Hạ, Yên Mỹ, Hưng Yên.

奉事舊跡

文江縣求保社奉事

天帝御三千界内大𣑽天王統六欲中尊天主帝釋威感靈祐渤海皇后禪僊國王玉陛下其事跡古有碑文至今雨打苔封無痕可攷傳聞愚社地分舘㕓路旁草舍古有老婦沽漿忽於日見一丈夫從空而下容貌堂堂非凢人比入來憇息坐定曰見嫗嬌婦女身著白服皂檽過否答曰未也言江之西岸那時愚社先民羅拜帝曰我是三十三天帝釋王也爲汝下民滅除乾𩴳婆王十五類鬼以祛民害言罷騰空而去因立祠于伊處以奉之歲時享用齋禮嗣後歲或亢旱奉迎聖駕于舘㕓處至誠祈之屡得澍雨之應處人民多來祈禱前朝嗣王新政豋秩百神間有承開𥈠號在禮畨官禮畨官議以天帝至尊不敢封贈無有勅文

天施縣羅払社奉祀帝釋聖帝

由舊傳言一木三枝流至本社地分顯聖言言帝釋降下邑人因取此木刻像立觀而祀之稔著靈應旁接柳梂社有妤妹二娘遭亂入哀牢國宻懇保護忽然行步如飛囬至本觀拜謝形骸一時變了只留頭髮在焉再有變身為老人就唐豪縣遼下社與張巴闘碁後巴以病終其妻取香焚懇俄見前來收巴𩲉魄入屠人就屍巴遂更生復與其妻作合今遼下祠正中塑像左立張巴前置一大碁局事跡具在嶺南摘怪籙嗣後本地方或遇亢旱迎像祈擣輙獲澍雨多有功德及民其敕封從來一切並無

唐豪縣遼下社承抄事跡

帝釋王廟昔自李朝龍瑞四年天帝降下遼下社上村之乾方試碁與本社人名張巴張巴知其天上僊翁下是凢人因拱手拜謝及張巴卒後降臨改死還魂許延八百餘年立廟宇奉事黎朝太宰榮郡公有為之語記以録其事
歲在庚午年正月吉日

Bản sự tích được chép trên giấy sắc, lưu tại điện Thiên Đế ở thôn Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Theo dấu Trâu vàng

Trau Phat Tich
Con Trâu đá ở núi Tiên Du (Phật Tích).

Truyện sự tích Trâu vàng ở Tiên Du (Tiên Du Kim Ngưu tích truyện) trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Ngày xưa, đời thượng cổ, có Vương Chất đi đốn củi ở trong núi gặp hai tiên đồng đang đánh cờ. Hai tiên đồng cho Chất một hạt táo, Chất ăn khỏi đói rồi gác rìu mà ngồi xem đánh cờ. Tiên đồng bảo Chất: “Cán rìu của người nát rồi”. Chất cúi xuống, lúc ngẩng lên thì không thấy tiên đồng đâu. Kịp đến khi trở về nhà thì không còn gặp lại những người thân cũ ở trần gian nữa. Do tích đó người đời bèn gọi quả núi này là núi Lạn Kha (núi rìu nát) còn gọi là núi Tiên Du (núi chơi tiên) rồi nhân lấy tên ấy để đặt tên huyện. Ở huyện Tiên Du nay vẫn còn vết cũ.
Núi Tiên Du có tinh trâu vàng nửa đêm thường tỏa ra ánh sáng. Có nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán trâu, trâu vàng bỏ chạy húc vào đất làm sụp thành cái hồ.
Nơi này sau gọi là thôn Húc. Trâu chạy đến địa phận Văn Giang, vì vậy ở đây có cái vũng lớn gọi tên là vũng Trâu Đằm. Trâu chạy qua các xã Như Phượng, Như Loan, Đại Lạn, Đa Ngưu. Các xã này sở dĩ tên như vậy là vì có vết chân trâu đi tới.
Trâu lại từ trong bến ra sông Cái, đến Ninh Giang, đi men phủ Lý Nhân, theo ven sông Cái tới sông Tô Lịch, chỗ ấy chính là Tây Hồ. Người đời truyền tụng rằng Cao Biền giỏi thuật số, thông địa lý, thường cưỡi diều giấy bay trên không trung để yểm các nơi thắng cảnh. Biền thấy trâu đi vào hồ Dâm Đàn (nay là Tây Hồ) rồi thoắt không thấy trâu đâu nữa. Trên đường trâu chạy, khắp nơi biến thành khe, ngòi, rãnh, lạch.

Phat Tich
Bảng giới thiệu của chùa Phật Tích về Khâu Đà La từng tu hành và cầu mưa gió ở đây.

Núi Lạn Kha là núi Phật Tích ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh ngày nay. Vị tiên đánh cờ trên núi Phật Tích thì hẳn là Đế Thích, vì Thiên Đế nổi tiếng là cao cờ. Cờ là biểu tượng của Dịch học, của phép thuật trong trời đất.
Nhà sư lấy tích trượng yểm lên trán Trâu ở núi Phật Tích thì rõ ràng là Khâu Đà La trong truyện Man Nương vì núi Phật Tích chính là nơi tu hành của Khâu Đà La. Khâu Đà La có thể là tên phiên âm khác của Đế Thích vì tên phiên âm của Đế Thích hiện là Nhân Đà La.
Hình tượng cụ thể của Kim Ngưu ở vùng Bắc Ninh là tượng con Cừu đá ở Thuận Thành, một con ở cạnh tháp chùa Dâu, một con ở lăng mộ Sĩ Nhiếp. Tên gọi Cừu xuất phát từ phép phiên thiết chữ Kim Ngưu, chỉ con Bò thần. Trâu Vàng là con Bò thần Nandin, vật cưỡi của thần Shiva hay hiện thân của thần Indra trong đạo Bà La Môn. 2 vị thần này được người Việt gọi chung là Đế Thích.

Cuu chua Dau
Con Cừu đá (Kim Ngưu) ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Con bò Nandin hay Trâu vàng như vậy tượng trưng cho sự truyền đạo của Đế Thích, tức là đạo Bà La Môn. Đạo này du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, gắn với tục thờ Tứ pháp vì Tứ pháp là Tứ đại thiên vương, 4 vị thần phụ trách mây mưa sấm chớp (Phong Điều Vũ Thuận) và trấn ở chân núi Tu Di, ngọn núi nơi Đế Thích ngự trị.
Bước chân của Trâu Vàng là bước truyền bá phát triển của đạo Bà La Môn ở miền Bắc Việt. Trâu chạy từ Tiên Du, nơi Khâu Đà La khởi đầu truyền đạo, qua vùng Thuận Thành Bắc Ninh, tới vùng Văn Giang. Văn Giang hiện vẫn còn là nơi có tục thờ Tứ pháp rất phổ biển với nhiều ngôi chùa, ngôi đình, ngôi đền đến nay vẫn thờ Tứ pháp như ở các xã Lạc Hồng, Lạc Đạo của huyện Văn Lâm, Hưng Yên. Văn Giang cũng là nơi có sự tích về Đế Thích cưỡi Trâu ở đền Cầu Váu (Vĩnh Khúc) bên dòng sông Nghĩa Trụ, hay Ngưu giang xưa.

De Thich Cau Vau
Thiên Đế cưỡi Bò ở đền Cầu Váu.

Trâu Vàng tiếp tục từ Văn Giang chạy sang vùng Phố Hiến Hưng Yên. Chặng đường này cũng đánh dấu những nơi có sự tích về Đế Thích là ở Liêu Hạ (Mỹ Hào) với chuyện Đế Thích đánh cờ với Trương Ba, ở Cẩm La (Ân Thi) với sự tích Đế Thích giáng trần trừ yêu quỷ từ thời Hùng Vương. Vùng này cũng là nơi mà tục thờ Tứ pháp rất phổ biến.
Trâu Vàng chạy tới ven sông Ninh Giang, tức là quãng huyện Phù Cừ của tỉnh Hưng Yên. Ở đây không có sự tích về Đế Thích nhưng lại là nơi tập trung các đền thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế, được gọi là các Đậu. Riêng ở Phù Cừ có 5 ngôi Đậu thờ Ngọc Hoàng Thượng Đế. Còn ở huyện Tiên Lữ có Đậu An rất nổi tiếng thờ Ngọc Hoàng.

Dau An
Tháp Đậu An ở Tiên Lữ, Hưng Yên.

Theo Ngọc Hoàng kinh chép của Đậu Từa: Ngọc Hoàng đại đế chính là Hoàng tử của quốc vương nước Quang Nghiêm Diệu Lạc, thời thượng cổ ngài sinh ra năm Bính Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 giờ Tý (tức 12 giờ đêm). Mẫu thân của ngài là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu mơ thấy đức Thái Thượng Lão Quân tặng cho một hình nhân con trai …
Còn trong tư liệu ở đền Cầu Váu về Đế Thích thì ghi: Bàn Cổ năm thứ 48 Giáp Thân tháng Giêng ngày mồng 1 giờ Ngọ, Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu sinh ra Đế Thích ở nước Thiện Tiên. Đến năm Giáp Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 thì lên trời làm Thiên Đế (Bảo Kính Đăng Tâm, tập thượng).
Ở đây tên gọi bà mẹ của Vua là Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu và ngày thánh đản 9 tháng Giêng là trùng nhau. Có thể thấy Ngọc Hoàng Thượng Đế ở Hưng Yên là một cách gọi khác của Thiên Đế – Đế Thích.

Trau chua ChuongĐế Thích (hoặc Lão Tử) cưỡi Trâu ở chùa Chuông, Hưng Yên.

Ở Phố Hiến – Hưng Yên còn có ngôi chùa Chuông, tương truyền khi đánh quả chuông ở đây thì Trâu Vàng chạy đến… Có thể chùa Chuông cũng từng nằm trong hệ thống đền Bà La Môn như các Đậu ở Hưng Yên.
Trâu Vàng tiếp tục đi men phủ Lý Nhân sang đất Hà Nam. Tới đây câu chuyện liên quan tới vị tướng của nhà Đường là Cao Biền.
Sách Thăng Long cổ tích khảo chép rằng: Tương truyền đời Đường, Cao Biền làm Tiết độ sứ An Nam đô hộ phủ, đi các nơi có núi sông danh thắng của ta để yếm diệt long mạch. Khi Biền đào sông yểm mạch núi Long Đội, Sơn Thần núi ấy biến thành hình con trâu toả ánh vàng bơi theo sông Đường Giang lên phía Bắc, ẩn ở vùng Hồ Tây thành Đại La.
Sách Tây Hồ chí dẫn lời của Phạm Đình Hổ: Cuối đời Đường, An Quận công Cao Biền ngàn dặm qua Nam đến châu Duy Tân (nay là Duy Tiên) khai sông chặn long mạch núi Phục Tượng nay thuộc xã Đọi Sơn: Thần núi hoá thành trâu phóng ánh sáng vàng, ngược Đường Giang lên ẩn náu tại Hồ Tây, người quanh vùng dựng miếu thờ, thực là dấu thiêng vậy.

Nha bia chua Long Doi
Nhà bia Sùng Thiện Diên Linh thời Lý ở chùa Long Đọi, Duy Tiên, Hà Nam.

Ở Duy Tiên, vùng Đọi Sơn có núi Điệp cũng có tên là Kim Ngưu, nay trên núi còn ngôi chùa cùng tên. Ngay tên sông Châu giang chảy qua đây cũng có thể là sông Trâu, liên quan đến con Trâu vàng.
Đặc biệt hơn, toàn bộ khu vực quanh núi Đọi đều thờ Cao Sơn quốc chủ. Vị thần này đã được xác định là Cao Biền, vị thần trấn Nam của thành Thăng Long. Đoạn kể về việc Trâu Vàng bị Cao Biền đuổi chạy ngược về thành Đại La rồi ẩn trong hồ Tây có thể có ý nghĩa khác so với khi Trâu chạy từ Tiên Du xuống Hưng Yên. Trâu Vàng là biểu tượng của đạo Bà La Môn, cũng là đạo của người Nam Chiếu lúc này. Người Nam Chiếu thời Đường có thể từng được gọi là Ai Lao 哀牢  hay Ngưu Hống 牛吼. Cả 2 tên này đều có chữ Ngưu 牛 ở trong.
Cao Biền là tướng nhà Đường được cử sang dẹp quân Nam Chiếu ở Bắc Việt. Nam Chiếu theo đạo Bà La Môn và được hình tượng hóa bằng hình ảnh Trâu Vàng – Kim Ngưu. Khu vực Đọi Sơn có lẽ từng là một căn cứ quan trọng của Nam Chiếu. Cao Biền dẫn quân đổ bộ bằng đường biển từ vùng Thái Bình – Nam Định tiến đánh Nam Chiếu, trước hết là đánh vùng Lý Nhân này, sau đó mới đánh thành Đại La.
Dấu vết của Cao Biền ở vùng Thường Tín cũng còn lưu qua các di tích thờ Cao Sơn đại vương ở đây như các làng Hà Hồi, Khê Hồi. Đây cũng là nơi có vết tích Trâu vàng với dòng sông Kim Ngưu.

Ha Hoi
Cổng đình Hà Hồi, Thường Tín, nơi thờ Cao Sơn đại vương.

Khu vực từ Hà Nam trở về cũng là vùng ảnh hưởng của tục thờ Tứ pháp, với các di tích như chùa Bà Đanh ở Kim Bảng, chùa Đậu ở Thường Tín, chùa Pháp Vân ở Thanh Trì. Chùa Đậu ở Thường Tín nơi thờ Pháp Điện và Sĩ Nhiếp có câu đối nói tới con sông Ngưu này:
龍派汪涵惠澤千秋傳聖跡
牛江環遶恩波萬世沐神休
Long phái uông hàm, huệ trạch thiên thu truyền thánh tích
Ngưu giang hoàn nhiễu, ân ba vạn thế mộc thần hưu.
Dịch:
Dòng rồng rộng sâu, đất nhân nghìn thu truyền tích thánh
Sông trâu bao bọc, sóng ân vạn thế thấm điềm thần.

IMG_4538
Vế đối Ngưu giang hoàn nhiễu… ở chùa Đậu.

Cao Biền đánh quân Nam Chiếu, giải phóng được thành Đại La nên con Trâu Vàng đến đây thì đi vào hồ Tây mà ẩn náu. Bài thơ trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Kim ngưu do ẩn tại hồ trung
Thủy hạt nan tầm bất kiến tung

Đại Việt Nam an tồn thánh chủ
Cao Biền hạ bút hận vô cùng.
Dịch:
Trâu vàng còn ẩn mãi trong hồ
Dấu vết khó tìm dẫu nước khô
Đại Việt Nam yên nhờ thánh chúa
Cao Biền hạ bút hận không bờ.

Dau chan Kim nguu
Dấu chân Kim Ngưu.

Bài thơ này có câu “Đại Việt Nam an tồn thánh chúa“, ý chỉ nước Việt Nam vẫn còn vua, Cao Biền không làm gì được. Rõ ràng ở đây hình tượng con Trâu vàng là biểu tượng của thủ lĩnh nước Nam (Nam Chiếu). Tinh thần của nước Nam hóa con Trâu vàng ẩn sâu trong hồ Tây bất diệt. Tinh thần đó xuất phát từ ông Tiên đánh cờ trên núi Phật Tích (Khâu Đà La – Đế Thích) đã truyền bá rộng khắp nơi, trở thành tín ngưỡng của người Nam. Dấu chân Kim Ngưu từ Bắc Ninh – Hưng Yên – Hà Nam – Hà Nội đánh dấu khu vực phổ biến của tục thờ Tứ pháp – Đế Thích – Ngọc Hoàng hay đạo Bà La Môn.
Câu chuyện Trâu Vàng chạy đi và về thể hiện sự giao thoa giữa 2 dòng văn hóa Ấn giáo (Bà La Môn) và Đạo Giáo Trung Hoa. Biểu tượng của Đạo Giáo là đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần tổ của nhà Đường (thời Cao Biền) ở 2 bên bờ hồ Tây, phía Bắc thành Đại La.

Sac phong Kim Ngưu
Sắc phong Kim Ngưu tôn thần ở đền Kim Ngưu, hồ Tây.

Câu đối ở đền Kim Ngưu bên hồ Tây:
牛渚表奇觀四顧江山依舊
龍城標勝景十方大眾望新
Ngưu chử biểu kỳ quan, tứ cố giang sơn y cựu
Long thành tiêu thắng cảnh, thập phương đại chúng vọng tân.

 

 

Tam Giáo thánh thần

Trong Nam Việt Hùng Vương sử ký (Ngọc phả Hùng Vương viết thời Lê Hồng Đức) có sự hiện diện không phải chỉ của một tín ngưỡng hay tôn giáo, mà có ít nhất tới 3 tôn giáo. Trước hết là khi nàng Âu Cơ sinh được một bào ngọc thì:
Bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ cùng cầm long bài, tâu rằng: Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ Nam Miên. Vậy ban sắc này!Thiên sứ báo cho Hiền Vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng, lệnh cho triều đình các tướng đến tề tựu ở ngôi chùa cổ ở Viễn Sơn, tức Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng.
Hiền Vương tuân theo. Tứ đại thần vương lập tức lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.

Tu dai thien vuong.png
Tứ đại thiên vương, khắc gỗ chùa Khải Đoan (Buôn Mê Thuật, Đăk Lăk).

Bốn vị Thiên vương đã giáng xuống để hộ giúp thai ngọc nở ra trăm trai. Đây là hình ảnh của Tứ đại Thiên vương, là bốn Thiên thần trong đạo Bà Là Môn.
Trong văn hóa Trung Hoa Tứ đại Thiên vương được gọi là “Phong Điều Vũ Thuận”. Ở nước ta, Tứ đại Thiên vương được thờ dưới tên gọi là Tứ pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, những vị thần chuyên làm “mây mưa sấm chớp”, đúng như trong Ngọc phả Hùng Vương kể ở trên.
Hình ảnh bào ngọc cũng có thể là xuất phát từ đạo Bà La Môn. Đó là hình ảnh của Linga, vật tượng trưng cho Shiva, là vị thần tối cao trong Tam thần Tạo hóa – Bảo hộ – Hủy diệt của đạo Bà La Môn. Hình ảnh này trong chuyện Tứ pháp là Thạch Quang Phật, được thờ cùng với bộ Tứ pháp.
Tiếp theo trong Ngọc phả Hùng Vương, khi các hoàng tử lớn lên thì: … thấy tám vị thần tướng nhà trời xưng là Bát bộ Kim Cương, vâng sắc chỉ của Thượng Thiên Chư Phật Ngọc Đế sai xuống trợ giúp. Trăm vị vương tử nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một viên ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện.
Hình ảnh bồ tát Kim Cương là của Phật giáo nhưng “Bát bộ” lại có thể là tượng trưng cho Bát quái, tức là triết lý Đạo giáo.

IMG_5373.JPG
Các vị Kim Cương ở đền Bộ Đầu (Thường Tín, Hà Nội).

Sự xuất hiện của đạo Phật được kể rõ ràng hơn trong Ngọc phả ở đời Hùng Huy Vương:
Một ngày tốt có hương trời, Vua đang ngự ở trong điện, bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay đến. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong chùa ở chính điện. Lão ông nói:
– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây.
Vua mừng thầm: Người có lòng thanh tịnh, ý trời sẽ thông.
Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho Vua. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi. Vua mới biết đó là đức Phật trên trời giáng ngự. Vua bèn quỳ vọng bái.
Với những dữ kiện “Tây Vực”, “Giác Hải”, “Bát Nhã”, “Niết Bàn” thì có thể thấy Lão ông gặp Hùng Huy Vương là đức Phật Thích Ca. Phật tổ ban cho Vua một khối ngọc và một chiếc móng rồng, sau đó được dùng để làm ấn và kiếm, là hai bảo vật trấn quốc của triều Hùng, truyền cho nhiều đời sau.
Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo trời vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng.
Đây là cách kể của sự kiện đạo Phật được truyền vào nước ta dưới thời Hùng Vương, đã được sùng chuộng và có tác dụng rõ rệt với xã tắc, triều đình.
Một khám phá bất ngờ khác từ Ngọc phả Hùng Vương là sự khai sinh của đạo Giáo tại nước ta qua việc vua Hùng xây thành Cổ Loa. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng vào thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) nhờ sự giúp đỡ của thần Kim Quy:
Duệ Vương cùng với triều thần trăm quan dời xe vạn thặng đến ở xứ Kinh Bắc, xây thành tên là Cổ Loa. Đô thành rộng nghìn trượng, khoanh tròn như hình con ốc, nay ở tại xã Cổ Loa, huyện Đông Ngạn, nên gọi là thành Cổ Loa. Mới đầu thành xây toàn bị đổ. Bỗng thấy một con rùa vàng trên sông từ phía Đông bơi đến, xưng là Kim Quy giang sứ.
Ngọc phả cung cấp thông tin là Hùng Duệ Vương bị nhà Thục đánh nên đã rời đô về Đông Ngạn. Như thế thời kỳ này đã có sự rời kinh đô, cho dù triều đại không thay đổi. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng dưới thời Hùng Vương chứ không phải thời Thục An Dương Vương.
Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái cung cấp thêm chi tiết:
… Đắp thành ở đất Việt Thường, thành đắp xong lại sập. Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo ba tháng. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một ông già từ phương Tây mà đến thẳng trước cửa thành, vừa đi vừa than rằng:
– Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong!
Vua rước vào trong điện, lạy và khóc rằng:
– Ta đắp thành này đã xong lại đổ, hao tổn công sức rồi mà không thành, thế là tại làm sao?
Ông già thưa:
– Ngày nào có sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vua thì thành ấy mới xong.
Như thế Thanh Giang sứ giả Kim Quy được một Lão ông cử đến giúp vua Hùng. Lão ông này là ai?
Di tích ở chính thành Cổ Loa cho biết đó là Huyền Thiên Trấn Vũ (đền Sái, Đông Anh, Hà Nội). Còn ở đình làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang), cách đền Sái không xa, thì cho biết chính Lão Tử – Thái Thượng Lão Quân là người đã cử thần Kim Quy đến giúp xây thành Cổ Loa.

P1320064.JPG
Tượng thờ Lão Tử ở chùa Bổ Đà (Việt Yên, Bắc Giang).

Câu đối ở đình Thổ Hà:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Sách Lão Tử minh chép: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Từ đó có thể thấy, theo Ngọc phả dưới thời Hùng Vương Trị Bình Kiến Phu (đọc lướt là Tru – Chu), khi dời từ Tây sang Đông thì vùng đất xây kinh đô là Tam Xuyên bị động đất, làm cho thành Đông Đô cứ xây là đổ. Lão Tử lúc đó đã đăng đàn cúng tế, lấy lẽ trời đất mà khuyên nhủ vua Chu – Hùng Vương. Sự xuất hiện của Lão Tử thời này đánh dấu sự hình thành của đạo Giáo dưới thời Hùng Vương.
Tam Giáo – ba tôn giáo lớn đều được xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương là đạo Bà La Môn, đạo Phật và đạo Lão.

Thiên Tiên Thánh giáo

Cong
Trụ sở Thiên Tiên thánh giáo ở Huế.

Đạo Mẫu ở Huế được biết với tên Thiên Tiên Thánh giáo. Người theo đạo này thờ Tứ phủ, nhưng 4 phủ này không hoàn toàn giống Tứ phủ ở miền Bắc. Ngoài 2 phủ là Thủy phủ và Thượng ngàn là tương đồng, còn 2 phủ khác trong Thiên Tiên Thánh giáo đều là Thiên phủ, chia thành Thượng Thiên và Trung Thiên. Đứng đầu Tứ phủ ở Huế là các vị thánh mẫu:
– Cõi Thượng thiên có Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thánh mẫu
Cõi Thượng ngàn có Quản cai Sơn nhạc Cửu châu Lê Mại đại vương
Cõi Trung Thiên có Tây Cung Vương Mẫu bổn mạng Chúa tiên
Cõi Thủy phủ có Thủy phủ Long Cung Thánh mẫu.
Có thể thấy ở vị trí chính – Thượng thiên Thánh mẫu trong Tứ phủ Huế không phải là Thánh mẫu Liễu Hạnh mà lại là một vị Thánh mẫu của “người Chăm” – Thiên Y A Na. Trong khi bản thân đạo Mẫu Huế xuất phát từ hội Sơn Nam, là những người dân từ Nam Định di cư vào Huế từ thời tiền Nguyễn, mà Nam Định là quê hương của Mẫu Liễu. Việc này phải giải thích thế nào? Tại sao người Việt lại tôn thờ một nữ thần Chăm làm thiên chủ?
Thiên Y A Na được biết là bà Mẹ xứ sở Poh Nagar trong tín ngưỡng của người Chăm. Bà là thiên thần sinh ra từ thế giới của mây trời và bọt biển… 
Ngài là nữ thần Mẹ của vương quốc. Ngài tạo dưng nên vùng đất cho cây cối và rừng gỗ quý sinh sôi. Ngài gây ra giống lúa và dạy dân trồng lúa…
Bà Poh Nagar là nữ thần Uma, vợ của thần Shiva trong Hindu giáo. Là vợ của Vua Trời  (Shiva) nên bà Uma được tôn làm Thượng thiên Thánh mẫu, rất hợp lý.
Xét mặt khác, Thánh mẫu Liễu Hạnh được sắc phong là “Đế Thích Tiên đình“. Đế Thích Tiên có thể hiểu là vợ của Đế Thích hay Thiên Đế. Như vậy, bản thân mẫu Liễu là hóa thân của bà Uma ở miền Bắc Việt. Khi vào miền Trung, ngôi Thượng thiên chuyển cho Thiên Y A Na, cũng là vợ Đế Thích, tương đương với vị trí của Mẫu Liễu ở miền Bắc.
Đến đây ta có một phát hiện quan trọng. Thiên Tiên Thánh giáo ở Huế thờ nữ thần Hindu giáo là thần chủ Thượng thiên. Chữ “Thiên” trong tên của Thiên Tiên Thánh giáo chính là chỉ ngôi Thượng Thiên của nữ thần Uma. Suy rộng hơn, Thiên ở đây chỉ các vị thần của Hindu giáo, được gọi là các Chư Thiên, bao gồm cả Phật. Thiên Tiên Thánh giáo thờ Phật A Di Đà và Phật Bà Quan Âm cũng là với ý này.
Chữ Phật nhiều nơi được ghi bằng chữ Thiên với bộ Nhân. Phật là “Người Trời” hay Chư Thiên. Thiên trong Thiên Tiên Thánh giáo là chỉ chung cho Phật đạo – Hindu giáo.

Thien Tien ThanhCửu trùng đài và chính cung Thiên Y A Na ở trụ sơ Thiên Tiên Thánh giáo.

Ở vị trí Trung thiên là bà Tây Cung Vương Mẫu, được người miền Trung thờ là thần “bản mệnh” cho người phụ nữ. Các gia đình ở Thừa Thiên Huế thường thờ đặt ban bà trong nhà, gọi là Tran Bà, với hình ảnh của Cửu Thiên Huyền nữ. Tây Cung Vương Mẫu cũng là Cửu Thiên Huyền nữ, và cũng là Mẫu Cửu trùng trong Thiên phủ ở miền Bắc. Bà là bà Mẹ Trời, cai quản các thần tiên trong Đạo giáo.
Tây Cung Vương Mẫu không chỉ là bản mệnh cho gia đình, mà còn là “bản mệnh” thành hoàng cho cả kinh thành Huế, vì bà mang tên Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân. Rất có thể tên “Thừa Thiên Huế” là bắt nguồn từ danh hiệu này của Tây Cung Vương Mẫu.
Như thế, yếu tố thứ hai cấu thành Thiên Tiên Thánh giáo là yếu tố “Tiên”, tức là chỉ Đạo Lão, với thần chủ Tây Cung Vương Mẫu. Trong tín ngưỡng này còn mang nhiều hình tượng, thần tượng khác của Đạo Lão như bệ Cửu trùng, Ngọc hoàng Thượng đế, các bà Ngũ hành,… Thậm chí ngay cả vị Quan Thánh Đế Quân được thờ trong Thiên Tiên Thánh giáo cũng là một yếu tố từ Đạo Lão.
Yếu tố thứ ba trong Thiên Tiên Thánh giáo là chữ “Thánh”. Ở Việt Nam đạo thờ Thánh tức là đạo thờ tổ tiển, thờ phụng những người có công với đất nước, những vị thủ lĩnh quốc gia hiển hách. Cụ thể vua Đồng Khánh đã tự xếp mình là một vị Thánh, cùng với Lục vị tôn ông thành bộ Thất Thánh trong Thiên Tiên Thánh giáo. Ngoài ra những vị Thánh trong lịch sử của dân tộc cũng được tôn thờ ở đây như Sơn Tinh, Thủy Tinh, Trần Hưng Đạo…

IMG_0695Một góc của điện Hòn Chén.

Đạo thờ Thánh này cũng có thể coi là một dạng tín ngưỡng xuất phát từ Nho giáo, với triết lý tôn vinh các bậc Thánh hiền trong thiên hạ. Xét như vậy thì Thiên Tiên Thánh giáo thực chất là một tôn giáo gồm Tam giáo đồng nguyên:
– Thiên: đạo Phật và Ấn Độ giáo.
– Tiên: đạo Lão
– Thánh: đạo thờ tổ tiên, hay đạo Nho.
Tất cả hình thành một tổ hợp thần điện hỗn hợp nhưng lại rất có trật tự, có giáo lý, hợp thành một tôn giáo đầy đủ: Thiên Tiên Thánh giáo.
Hình thức “Tam giáo đồng nguyên” này ở miền Bắc cùng thời đó là phong trào của Hội thiện với các Thiện đàn, cùng với tục thờ thần và thực hành lên đồng, cầu cơ, giáng bút rất tương đồng.
Có thể nói Thiên Tiên Thánh giáo phát triển từ đạo mẫu Tứ phủ của miền Bắc, nhưng đã bổ sung thêm yếu tố tín ngưỡng của Ấn Độ (Phật và Hindu) trong thần điện, đề cao hơn các vị Thánh – những vị tiền liệt có công lao với đất nước.

Bà Giàng và Tứ Pháp

Ở miền Trung, có một vị thần được thờ rất phổ biến, dọc ven biển từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam Đà Nẵng, nơi nào cũng có thờ. Vị thần có cái tên khá dân gian: Bà Giàng. Bà Giàng là ai mà lại được thờ phổ biến như vậy ở đây? Để nhận diện vị thần này, thử điểm qua các di tích thờ Bà Giàng ở vùng ven biển Trung Bộ.

IMG_3345Miếu Bà Giàng – Thai Dương phu nhân ở Thuận An.

Một ngôi miếu cổ nổi tiếng ở cửa biển Thuận An (Huế) gắn với sự tích Thai Dương phu nhân. Sự tích này đã được ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí và vị thần Thai Dương phu nhân ở đây đã được triều đình nhà Nguyễn nhiều lần sắc phong. Truyền thuyết về Thai Dương phu nhân được kể nói chung như sau:
Có một ngư phủ ra làm nghề biển, nằm gối đầu lên khối đá mà ngủ. Ông nằm mộng thấy người đàn bà mang thai lay đầu mình dạy bảo rằng: “Chớ chạm vào thai ta”. Ngư phủ tỉnh dậy không thấy ai khấn rằng: “Thần có thiêng xin đêm nay phù hộ cho ta bắt được nhiều cá”. Quả nhiên, hôm đó ông đạt được ý nguyện như lời cầu xin. Dân chài trong địa phương cùng nhau lập đền thờ. Mỗi lần họ cầu xin điều gì đều được như ý.

IMG_3332Đá thờ trong nội điện miếu Bà Giàng – Thai Dương phu nhân ở Thuận An.

Tục thờ Thai Dương phu nhân gắn liền với tục thờ đá cổ. Miếu Thai Dương phu nhân ở cửa Thuận An còn được gọi là miếu Bà Giàng. Dễ nhận thấy âm Giàng đã được ghi trong sách vở bằng chữ Dương. Còn chữ được dịch ra thành “phu nhân”.
Câu đối ở miếu Thai Dương phu nhân:
跋跅化生帖海澄波彰聖澤
邰陽顯現騰雲駕雨妙神機
Bạt thác hóa sinh, thiếp hải trừng ba chương thánh trạch
Thai dương hiển hiện, đằng vân giá vũ diệu thần cơ.
Dịch:
Dấu mạnh hóa sinh, biển lặng sóng yên ngời đức thánh
Thai trời hiển hiện, đi mây về gió khéo cơ thần.
Ở các nơi khác, Bà Giàng được ghi trong sắc phong là Dương phu nhân. Ví dụ như sắc phong của xã Thi Ông ở Hải Lăng, Quảng Trị. Điều này củng cố thêm nhận định Bà Giàng = Dương phu nhân.

Sac Duong phu nhan.jpgSắc phong thời Tự Đức cho Dương phu nhân trung đẳng thần ở xã Thi Ông, Hải Lăng, Quảng Trị.

Ở thôn Thanh Phước xã Hương Phong, Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng có một viên đá được vua phong là “phu nhân”. Đó là “Kỳ Thạch phu nhân”, là một tấm đá có khắc chạm tượng. Đây là tấm phù điêu của một tháp Chăm cổ được người dân tìm thấy trên bãi cồn. Tấm đá chạm hình quỷ vương Ravanda mười đầu, mười tám tay, bốn chân đang lay chuyển ngọn núi của thần Shiva trong Hindu giáo. Làng Thanh Phước gọi tấm chạm này là “Bà Đá”, cho dù hình khắc không thể hiện nhân vật nữ nào. Sắc phong cho Kỳ Thạch phu nhân ở làng Thanh Phước có từ thời Minh Mạng.

IMG_3468
Am Bà Đá – Kỳ Thạch phu nhân ở Thanh Phước.

Từ 2 vị “phu nhân” Bà Giàng và Bà Đá trên, ta thấy chữ Bà ở đây không phải chỉ nữ giới mà nó liên quan đến các vị thần Hindu giáo của của người Chăm xưa để lại qua các phiến đá cổ. Bản thân tên gọi Chămpa được ghi là Chiêm Bà. Chữ Bà do đó là từ chỉ thủ lĩnh trong ngôn ngữ cổ. Chiêm Bà nghĩa là Vua Chiêm, nước của vua Chiêm.
Bà Giàng như ở miếu Bà Chiêm Sơn (Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam) còn gọi là Bô Bô. Như thế Bà là biến âm của Bô, hay Bố, vốn là từ chỉ Vua ngày trước, tương tự như trong danh xưng Bố cái đại vương.
Ở thôn Lương Hậu (Thủy Lương, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế) có ngôi miếu Bà Giàng hay Lùm Giàng. Trên miếu ghi chữ “Bố Y Na miếu”. Căn cứ vào chữ này mà người ta cho rằng đó là nữ thần Thiên Y A Na, phiên âm từ tên Poh Nagar ra. Tuy nhiên, đúng với tên gọi vị thần ở đây là Bà Giàng thì phải phiên âm như sau:

  • Bố = Bà
  • Y Na = Yang = Giàng.

Bố Y Na là cách ghi âm Hán Việt khác của từ Bà Giàng. Miếu ở Lương Hậu còn có bức tượng thần Shiva nhiều tay trong điệu múa vũ trụ, cho thấy liên hệ trực tiếp giữa cái tên Bà Giàng với tín ngưỡng của Hindu giáo (người Chăm).
Từ Giàng (Yang) trong tiếng dân tộc nghĩa là Trời. Từ phát hiện trên ta lại có, Bà là từ chỉ thủ lĩnh trong ngôn ngữ Chăm. Như thế Bà Giàng nghĩa là Vua Trời. Ghi bằng âm Hán Việt ở miền Bắc là Thiên Đế (Đế Thích). Vua Trời trong văn hóa Chăm là thần Shiva.
Ở chùa Đông Lâm tại thôn Cù Hoan (Hải Thiện, Hải Lăng, Quảng Trị) có miếu Bà Giàng bên trong thờ một mukhalinga là hình một Linga tròn được gắn với đầu của thần Shiva. Hình thần Shiva còn thấy cả râu mép, rất rõ ràng không phải là nữ thần.

Mukhalinga
Tượng Bà Giàng – mukhalinga chùa Đông Lâm (ảnh theo Internet).

Rất nhiều những điểm thờ cúng khác liên quan đến chữ Bà đều có tượng đá Chăm thể hiện các vị thần của Hindu giáo. Tại chùa Ưu Điềm (Phong Điền, Thừa Thiên Huế) có miếu Bà Lồi, trong đó lưu giữ một bức phù điêu có khắc hình thần Shiva và vợ đang cưỡi trên con bò thần Nandin. Trong miếu còn các hiện vật khác của một ngôi đền Chăm cổ, có cả một Linga tròn và mảnh vỡ của tượng Yoni. Chữ Bà như vậy chỉ các vị thần trong Hindu giáo, nay được gọi là các Chư Thiên.

IMG_3531Phù điêu và Linga cùng các hiện vật đá ở miếu Bà Lồi, chùa Ưu Điềm.

Các “Bà” hay Chư Thiên Hindu giáo thường gắn với truyền thuyết về “thai sinh”, sinh ra từ thân cây hay trong một tảng đá. Ví dụ như trường hợp Thai Dương phu nhân ở Thuận An đã nói ở trên. Có thể cái “Thai” này là tượng trưng của Linga, biểu tượng của thần Shiva.
Từ nhận định chữ Bà là chỉ các vị thần của Hindu giáo ở miền Trung còn đi đến một phát hiện bất ngờ khác. Bốn vị thần Tứ Pháp – Phong Vũ Lôi Điện ở vùng Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) có tên dân gian là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn. Những chữ “Bà” này làm cho người ta nghĩ rằng đây là 4 vị nữ thần…

P1150366
Ban Pháp Vũ ở chùa Dâu.

Thực ra chữ Bà này không phải là từ chỉ phụ nữ. Đây là từ có nguồn gốc trong “tiếng Chăm”, ví dụ như các nơi Bà Đanh, Bà Đá,… thường được cho là du nhập văn hóa Chăm. Như đã dẫn chứng ở trên Bà tương đương với vua hay vương. 4 vị “Bà” làm Mây Mưa Sấm Chớp ở vùng Luy Lâu dó đó là 4 vị vương thần, hay gọi chính xác là Tứ đại Thiên vương. Đây là 4 vị thần của Hindu giáo mà đã được tiểu thuyết Phong Thần diễn nghĩa gọi là Phong Điều Vũ Thuận, liên quan đến việc làm mưa làm gió.

P1150368Ban thờ Pháp Vân ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Cốt lõi của cây Dung thụ nơi sinh Tứ pháp là Thạch Quang Phật, tức là cái “Thai” đá, hay Linga, biểu tượng của thần Shiva. Tứ đại Thiên vương cũng là những vị thần theo hộ giúp thần Shiva.
Tục thờ Tứ pháp do đó thực chất là thờ các vị thần Hindu giáo, đã du nhập vào miền Bắc từ rất sớm ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Khi đó, dưới sự cai quản của Sĩ Nhiếp miền Bắc và miền Trung Việt đang cùng trong 1 châu. Giao Châu thời này bao gồm cả các quận Nhật Nam, Cửu Chân, mà Nhật Nam chính là nơi bố của Sĩ Nhiếp là Sĩ Tứ làm thái thú. Do đó, hoàn toàn hợp lý khi tín ngưỡng của miền Bắc và miền Trung Việt lúc này cùng là một, thờ các vị Thiên Đế và Chư Thiên của đạo Bà La Môn.

 

Biểu hiện của Hindu giáo vào Việt Nam sớm qua sách Thiên Đế bảo lục

IMG_0524

Thần tích của đền Xá tại Ân Thi, Hưng Yên mang tên Thiên Đế bảo lục do Hàn lâm đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, kể về sự giáng sinh của Vua Trời Đế Thích ở đây. Sự tích này bắt đầu từ thời Hùng Chiêu Vương, là cháu của Kinh Dương Vương.
Chiêu Vương là người khoan nhân, trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thánh thần, chăm lo lấy dân làm gốc, được gọi là bậc hiền quân.  Lúc này ở trại Trì La (nay ở huyện Ân Thi, Hưng Yên) có một cây bạch đàn tím từ trên trời giáng xuống, dựng ở mảnh đất đầu rồng trong trại. Chiêu Vương cho lập đàn thờ lộ thiên để phụng sự và cầu đảo cây thiêng này.
Sang đời Hùng Vương thứ mười, Tạo Vương làm vua, cây thiêng ở Trì La đã trải qua hơn bảy trăm năm. Đất nước gặp tai họa giặc quỷ quấy nhiễu. Cây thiêng vỡ ra một bọc bào thai, được Tạo Vương cho mang về cung điện, đặt trên lầu rồng để cầu khấn.
Tháng Giêng ngày mười lăm bỗng thấy trời đất mùi mịt, trên lầu bọc thai phóng hào quang bốn hướng, khí lành rực rỡ. Bọc thai tự nổ một tiếng kinh động trời đất. Vua cùng trăm quan sợ phục trước lầu, ngưỡng xem thấy Đế Thích Thiên Vương ngự tại đầu rồng trước lầu, mây lành năm màu, đầu đội mũ bình thiên, thân khoác áo rồng, tay cầm kim bài.
Minh Hoa công chúa (là con gái của Hùng Hy Vương), bảy mươi tuổi mà cảm ứng ở chỗ cây thiêng, cùng lúc đó sinh ra 2 vị Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử, cùng theo phò tả hữu bên Đế Thích. Công chúa hóa thân chỉ còn lại 2 búi tóc. Hai vị Thiên tử hô lớn, hai búi tóc bỗng nhiên biến hóa. Búi thứ nhất biến thành Ngựa lửa, thân dài chín thước, ông Tả cưỡi. Một búi khác biến thành Lân ngọc, ông Hữu cưỡi.
Ba vị cùng với Diêm La bộ soái, là tướng của Tạo Vương, dẫn ngàn thiên binh đi diệt giặc quỷ. Lũ quỷ bị đánh tan thành tro bụi. Bè đảng sài lang hổ báo được dẹp yên. Ba vị hóa về trời. Còn Diêm La bộ soái sau đó hóa thành con rắn lớn, trườn xuống sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa…

IMG_0577.JPGCảnh Thiên Đình ở đền Xá.

Vua Trời Đế Thích là thần Indra, vị thần chủ rất sớm của 33 cõi trời trong Ấn Độ giáo. Thần Đế Thích – Indra đã được ghi chép trong bộ kinh cổ Vệ Đà. Sự tích Thiên Đế bảo lục cho biết vị thần này đã có mặt trong tín ngưỡng ở miền Bắc Việt từ rất sớm, ban đầu từ thời Kinh Dương Vương, hiển hiện rõ rệt vào thời Hùng Vương thứ 10.
Với niên đại thời Kinh Dương Vương thì rõ ràng chưa thể có đạo Phật vì Phật tổ Thích Ca còn chưa ra đời. Trong khái niệm xưa ở nước ta, Phật còn là chỉ các vị thần của Bà La Môn như Đế Thích. Những dấu hiệu về “cổ Phật” còn lưu truyền chính là dấu vết của sự du nhập Bà La Môn rất sớm vào Bắc Việt.

IMG_0572.JPG
Ngựa lửa, Nhật quang Thiên tử cưỡi.

Cùng với Đế Thích – thần Indra, trong sự tích còn chép tới 2 vị Thiên tử giáng sinh là Nhật Quang và Nguyệt Quang. Đây cũng là 2 vị thần của đạo Bà La Môn. Nhật quang Thiên tử hay Nhật Thiên là thần Mặt trời Surya. Vị thần này thường ngồi xe ngựa kéo có màu hung đỏ. Còn trong sự tích ở Ân Thi, Nhật quang Thiên tử cưỡi con Hỏa mã (ngựa lửa), hoàn toàn trùng khớp.
Nguyệt quang Thiên tử hay Nguyệt Thiên là thần Mặt trăng Chandra. Vị thần này thường cưỡi trên một con linh dương. Sự tích ở Ân Thi kể Nguyệt quang Thiên tử cưỡi con Ngọc lân, cùng hoàn toàn đồng nhất với thần thoại Ấn Độ.
Thần thoại 2 vị Nhật Thiên và Nguyệt Thiên được hình tượng hóa theo cách của người Việt trong công chúa Minh Hoa. Chữ Minh明 gồm chữ Nhật 日và chữ Nguyệt 月 ghép lại. Minh Hoa công chúa được kể là một người tám tuổi đã theo Phật, bảy mươi tuổi lại có mang, sinh ra 2 vị Nhật Nguyệt Thiên tử.

IMG_5764.jpg
Lân ngọc, Nguyệt quang Thiên tử cưỡi.

Câu đối ở đền Xá:
天闕莊嚴開日月
帝威赫濯起風雲
Thiên khuyết trang nghiêm khai nhật nguyệt
Đế uy hách trạc khởi phong vân.
Dịch:
Cửa Trời nghiêm trang mở nhật nguyệt
Đế Oai rực rỡ nổi gió mưa.
Bản thân tên huyện Thiên Thi hay địa danh Ân Thi có nghĩa là “ơn trời”, chỉ ơn huệ của Thiên Đế. Địa danh trại Trì La, nơi Đế Thích giáng sinh, có thể là từ chữ “Thi La”, trong Phật giáo nghĩa là “giới luật”. 
Dấu vết đạo Bà La Môn thời Hùng Vương còn thể hiện ở nhân vật Diêm La bộ soái, vị tướng đã dẫn quân theo Đế Thích diệt quỷ. Thần tích kể:
Diêm La bộ soái vốn là dòng dõi Hùng Vương, con cháu trăm trứng từ Long Vương. Cha là Hùng Độ làm Đế thủ Bộ chủ. Mẹ là Vũ Thị Đoan, mơ thấy giao long mà có mang thần. Tới năm Quý Tỵ tháng mười, ngày mồng mười sinh ra Diêm La công, lấy tên là Đà. Năm mười bốn tuổi ông đã văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, đứng trước sóng cả như đứng trên đất bằng. Vua cho mời vào triều nhận chức, thi thố nhiều tài lạ, được cất nhắc làm Chưởng quản thuyền rồng Lạc Long tướng quân. Năm mười chính tuổi Vua sai làm tướng dẫn quân đánh giặc Diêm La ở ngoài Nam Hải. Ông phụng mệnh trị được chúa Diêm La, lại được triệu về triều làm Chưởng bình Diêm La nguyên soái, Thuỷ đạo đại tướng quân, lại nhận mệnh phó nhậm trấn cửa biển, làm Thuỷ đạo chủ bộ.
Sự tích của vị Diêm La bộ soái này khá giống với sự tích của Quan lớn đệ Tam trong tín ngưỡng Tam phủ. Đều là “dòng dõi” Long vương – Thoải phủ. Đều là mẹ gặp giao long mà sinh thần. Đều là Chưởng quản thuyền rồng (Trưởng Lệnh) của Hùng Vương. Trưởng Lệnh (Quan đệ Tam) thì đánh dẹp giặc Hồng Châu, Diêm La bộ soái đánh giặc Diêm La nên có tên vậy. Sau khi dẹp xong giặc quỷ, Diêm La bộ soái hóa thành con rắn lớn trườn xuống ngã ba sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa. Tam Kỳ hiển ứng cũng chính là chuyện thần Bạch Hạc Thổ Lệnh – Thạch Khanh.
Chi tiết Đế Thích liên quan đến Tam phủ còn thấy trong chuyện Hồn Trương Ba xương da hàng thịt, được ghi trong sự tích và di tích còn lại tại thôn Liêu Hạ (Yên Mỹ, Văn Giang, Hưng Yên). Khi Trương Ba mất, Đế Thích đã giáng hạ, triệu Tam phủ công đồng hoàn hồn cho Trương Ba. Nay ở Liêu Hạ trong đền thờ ngoài Đế Thích còn thờ cả Tam phủ.
Đế Thích được coi là Vua cờ vì theo thần tích Thiên Đế bảo lục nói: Cờ là cốt yếu của họa phúc, sự huyền vi của trời đất. Trong chữ Nho, đánh cờ được gọi là “dịch”. So sánh 2 nghĩa này ta thấy, cờ chính là Dịch lý, tức là “triết lý” thế giới quan, nhân sinh quan của tín ngưỡng này. Kỳ pháp như thế là pháp môn của Đế Thích – đạo Bà La Môn.

IMG_0560.JPGPhạm Đá và Phạm Dũng.

Cũng trong Thiên Đế bảo lục còn kể tới thời Thục An Dương Vương, có họ Phạm ở Biện Sơn (Thanh Hóa) cầu tự Đế Thích, được mộng ban cho 2 quân cờ Xe và Tướng, sinh ra 2 người con trai là Phạm Đá và Phạm Dũng. Hai vị có công dẹp giặc Đại Man, chống chọi với Triệu Úy Đà. Sau đó hóa ở đền Đế Thích tại Trì La (Ân Thi, Hưng Yên). Nay trong đền còn tượng thờ 2 vị này.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) nói tới các sự tích này:
錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kì thế giới thiểu Trương Công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.

IMG_0397.JPGThiên Đế điện ở Liêu Hạ.

Sự kết nối giữa Đế Thích, vị thần chủ của đạo Bà La Môn với thời Hùng Vương và tín ngưỡng Tam phủ cho thấy sự du nhập rất sớm của đạo Bà La Môn vào nước ta. Ngay Văn công đồng khi mở chầu Tứ phủ cũng ghi:
Vận thần thông vô lượng vô biên
Thập phương tam giới thánh hiền
Dục giới sắc giới chư thiên đều mời
Vua Đế Thích quản cai thiên chủ
Vua Ngọc Hoàng thiên phủ chí tôn…
Như thế theo Tứ phủ thì Đế Thích là Thiên chủ quản cai. Phải nói rằng đạo Mẫu Tứ phủ tới nay là sự tổng hợp của cả Đạo Giáo, Đạo Phật và Ấn Độ giáo.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Liêu Hạ:
英靈冠百神南天第壹
功德光千古越地無雙
Anh linh quán bách thần, Nam thiên đệ nhất
Công đức quang thiên cổ, Việt địa vô song.
Dịch:
Anh linh đầu trăm thần, trời Nam thứ nhất
Công đức sáng ngàn xưa, đất Việt không hai.
Các sự tích hiển linh của Đế Thích đều đề cập đến khu vực phía Nam. Như Minh Hoa công chúa (người sinh ra Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử) từng bị biếm đày đi Ô Lý, đất Chiêm Thành. Rồi lại có chuyện Huyền Trân công chúa đời Trần được gả cho chúa Chiêm, khi chúa Chiêm chết Công chúa đã được Thiên Đế giúp thuyền gió lớn thuận buồm thoát nạn. Nay ở Ân Thi, gần đền Thiên Đế, có một số nơi thờ Huyền Trân công chúa làm thành hoàng làng và có cả đền thờ.

IMG_5021.jpg
Một đoạn sách Thiên Đế bảo lục.

Một sự tích khác từng được chép trong Lĩnh Nam chích quái về Đế Thích như sau:
Ở huyện Thiên Thi, xã Liễu Cầu có hai chị em vì loạn lạc vào đến nước Ai Lao. Họ mật cầu Vua Trời bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi bộ như bay, về tới quê quán. Khi đến làm lễ tạ, việc xong thì hình hài biến mất, chỉ còn hai búi tóc lưu lại.
Ở các khu vực Chiêm Thành, Ai Lao thì rõ ràng đã có sự du nhập của đạo Bà La Môn từ rất sớm. Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo lên khu vực Đông Nam Á đã có từ lâu. Với những dẫn liệu như vậy, có thể chúng ta phải nói tới “Tứ giáo đồng nguyên” trong tín ngưỡng ở Việt Nam: Nho, Lão, Phật và Bà La Môn.

 

Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt

IMG_0392.JPG

Sách báu Vua Trời
Bổ sung của huyện Đường Hào, xã Liêu Hạ

Triều Lý năm Long Thụy thứ hai (tức năm Tống Nhân Tôn hiệu Chí Hòa thứ hai), người huyện Đường Hào, xã Liêu Hạ là Trương Ba, ba đời tu thiện, thích uống rượu, cờ cao nổi tiếng trong nước, như thần tiên giữa người trần vậy. Khi đó có người nước Bắc là Trọng Huyền, nghe tiếng của Ba, đánh xe đến lều, cùng Ba đấu trí. Ba chơi cờ thấy thế thắng Huyền, mới có lời đại ngôn rằng:
– Thắng thua đã rõ, có là Đế Thích cũng khó phân giải.
Bỗng thấy một ông cụ đầu bạc, cầm một cây gậy đên mách cho Huyền đi thế cờ như vậy. Ba vô cùng sợ hãi, lấy cớ đi uống nước mà rời chiếu. Ba đi ngay vào vườn, bẻ cau, chuối xanh làm vật hiến tế, sắp xếp vuông vắn. Cau chuối còn đang xanh, dâng lên, thì cau trở nên tròn lớn, chuối trở nên chín vàng. Ba chắp tay nói:
– Tiên ông từ đâu tới đây? Cờ pháp tối cao, nguyện được biết danh tính để tôn sư nhận sự giảng dạy.
Ông lão nói:
– Ta là Đế Thích của cung 33 cõi trời.
Nhân đó lấy trong tay áo mấy nén hương mà tặng, rồi nói:
– Khi có việc gấp, đốt hương này, ta sẽ đến cứu giúp.
Ba cùng Huyền lại dập đầu bái. Ngửng đầu lên đã không thấy người. Ba liền hầu giá, cất hương quý đi. Vài năm sau Ba chết, qua được trăm ngày, vợ con nhớ tới việc hương thần, mới cầm đốt hương.
Đế cưỡi mây giáng hạ, hỏi rằng:
– Chồng bà chết được bao lâu rồi?
Đáp rằng: Đã ngoài trăm ngày.
Đế lại hỏi:
– Trong làng này có ai mới mất không?
Đáp rằng:
– Có người đồ tể mới mất được vài ngày.
Đế lập tức gọi Tam phủ Công đồng tới hoàn hồn Trương Ba nhập vào thân thể của người đồ tể. Sau đó hai gia đình vợ con tranh nhau vì thân hình đồ tể mà tính nết của Trương Ba (ngạn ngữ có câu rằng: Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt, là chỉ việc này). Sự việc được bàn luận khắp nơi. Ngưỡng nhờ ơn của Vua Trời đã tái sinh nên dựng miếu ở xã Liêu Hạ, hướng Càn, cùng với người trong làng thờ phụng Vua Trời và Tam phủ.
Tới triều Lê Thái Tổ khai quốc, đến cầu đảo ở đền Vua, bình được giặc Liễu Thăng, cung tạ ơn trời. Triều Mạc Thái bảo Đà quốc công gặp tai nạn, đến cầu đảo, được sự bảo hộ, đã trùng tu lại điện báu, kính cẩn làm lễ tạ, cho phép xã Liêu Hạ (thôn Đình Sơn, thôn Nho Lâm) cùng với hai xã Thư Thị, Thổ Cốc, theo lệ phụng thờ, nước đảo dân cầu, linh thiêng rất mực. Mùa xuân năm Kỷ Tị, Đồng bình chương sự Thái tể Vinh quốc công Hoàng Anh mắc bệnh, sai người đến cầu, cũng được âm phù, bệnh thuyên giảm. Đã cho làm lại cột mái, tô cột vẽ tượng, đáp tạ ơn sâu (xem Bảo kính huyên tâm thượng tập cũng có thuật lại chuyện này).

Phiên âm:
Phụ Đường Hào huyện Liêu Hạ xã. Thiên Đế bảo lục

Phụ Đường Hào huyện Liêu Hạ xã. Thiên Đế bảo lục.
Lý triều Long Thuỵ nhị niên (tức Tống Nhân Tôn Chí Hoà nhị niên), Đường Hào huyện Liêu Hạ xã nhân, Trương Ba, tam thế tu thiện tính thị tửu, dịch cao thông quốc, diệc thần tiên trung nhân dã. Thần hữu Bắc quốc nhân Trọng Huyền, văn Ba danh, thặng hưng tạo lư, dữ Ba đấu trí. Ba chi kỳ thế, ký thắng vu Huyền, hựu đại ngôn viết:
– Thắng phụ dĩ thành, tuy hữu Đế Thích diệc nan phân giải.
Hốt kiến nhất bạch tẩu, chấp cung trượng chỉ kỳ Huyền viết, hành thế như thử. Ba đại kinh, ẩm thủ tỵ tịch, sư sự chi. Tức nhập viên trung, chiết tân lang thanh tiêu hiến chi, kỳ phương chiết dã. Tân tiêu lang do tại bào trung, cập hiến, tắc lang dĩ viên đại tiêu dĩ hoàng thục hỹ. Ba củng thủ vấn viết:
– Tiên ông hà xứ đắc lai, kỳ pháp tối cao, nguyện tường tính danh, đắc thừa sư giáo.
Tẩu viết:
– Ngã thị thượng giới Tam thập tam thiên cung Đế Thích.
Nhân thủ tụ trung hương sổ châu tặng chi, vị viết:
– Hữu cấp, thiêu chi, ngã lai tương cứu.
Ba dữ Huyền khể thủ tái bái. Đài đầu dĩ vô nhân hỹ. Ba tức phụng giá, hương trân tàng chi. Sổ niên Ba mệnh cố, kinh kỷ bách nhật. Thê tử truy ức thần hương sự, tận tướng thiêu chi.
Đế đằng vân giáng hạ, vấn viết:
– Nhữ phu vong kỷ hà thần.
Đối viết:
– Ngoại bách nhật.
Đế vấn:
– Nhữ hương hữu tân vong bĩ.
Đối viết:
– Hữu đồ trung, vong tài sổ nhật.
Đế tức triệu Tam phủ công đồng, hoàn Trương Ba hồn, nhập đồ trung hình thể. Hậu lưỡng gia thê tử giao tranh, tắc hình đồ nhi tính Ba (ngạn hữu chi viết: Hồn Trương Ba xương da hàng thịt, cái chỉ thử dã). Thủ đàm vô địch, ngưỡng hạ Thiên Đế tái sinh chi ân, nãi thiết miếu Liêu Hạ xã chi càn phương, hiệp dữ hương nhân, phụng sự Thiên Đế cập Tam phủ.
Chí Lê triều Thái tổ khai quốc, kiền đảo đế từ, bình Liễu Thăng chi khấu. Cung tạ thiên ân. Anh triều Thái bảo Đà quốc công, ngộ tai kiền đảo, ngưỡng mông bảo hữu, trùng tu bảo điện, cung hành tạ lễ, chuẩn hứa Liêu Hạ xã (Đình Sơn thôn, Nho Lâm thôn) cập Thư Thị, Thổ Cốc nhị xã, y cựu phụng sự, quốc đảo dân kỳ, nhẫm trứ linh ứng. Kỷ Tị niên xuân, Đồng bình chương sự Thái tể Vinh quốc công Hoàng Anh bệnh, bình nhân kiền đảo, ngưỡng hạ âm phù, bệnh giả dĩ khởi. Nhất tân đống vũ, đan doanh khắc dũng, đáp tạ hồng hưu (kiến Bảo Kính huyên tâm thượng tập, diệc cụ lục yên).

Nho văn:

附唐豪縣遼下社天帝寶籙
李朝龍瑞二年(即宋仁尊至和二年)唐豪縣遼下社人,張巴,三世修善,性嗜酒,奕髙通國,亦神仙中人也,辰有北國人仲玄,聞巴名,乘興造廬,與巴鬪智,巴之棋勢,既勝于玄,又大言曰,勝負已成,雖有帝釋,亦難分觧,忽見一白叟,執恭杖指示玄曰,行勢如此,巴大驚,飲手避席,師事之,即入園中,折新榔青蕉献之,其方折也,新蕉榔猶在胞中,及献,則榔已圓大蕉已黃熟矣,巴拱手問曰,仙翁何處得来,碁法最髙,願詳姓名,得承師教,叟曰,我是上界三十三天宫帝釋,因取袖中香数株贈之,謂曰,有急,燒之,我来相救,巴與玄𥡞首再拜,擡頭已無人矣,巴即奉這香珍藏之,数年,巴命故,經己百日,妻子追憶神香事,盡將燒之.
帝騰雲降下,問曰,汝夫亡幾何辰,對曰,外百日,帝問,汝鄊有新亡否,對曰,有屠中,亡𦆵数日,帝即召三府公同,還張巴𩲉,入屠中形體,後两家妻子交争,則形屠而性巴(諺有之曰, 𩲉張巴,昌䏧行𦧘,葢指此也)手談無敵,仰荷天帝再生之恩,乃設庙遼下社之乾方協與鄉人,奉事天帝,及三府.
至黎朝太祖開國,䖍禱帝祠,平柳昇之宼,㳟謝天恩,莫朝太保佗國公,遇災,䖍禱,仰蒙保佑,重修宝殿,㳟行謝禮,準許遼下社(亭山村儒林村)及書柿土穀二社,衣舊奉事,國禱民祈,稔着灵應,己巳年春,同平章事太宰荣國公黃攖病,伻人䖍禱,仰荷隂扶,病者以起,一新棟宇,丹楹刻桶,答謝洪休(見宝鏡煊心上集,亦具錄焉)

Sách báu Vua Trời

IMG_5835

Phủ Khoái Châu, huyện Thiên Thi, trang La Trừng, trại Trì La

Sách báu Vua Trời

Xưa kia Nam Việt Hùng Vương khai sáng, vua tổ lập nền, mười tám đời truyền, hơn hai ngàn năm, ngọc sáng thái bình, âu vàng vững nước. Hậu Trần tiên sinh có thơ rằng:
Sơ khai Nam Việt từ Kinh Dương
Nhất thống núi sông mười tám vương
Thần truyền thánh kế còn thiên cổ
Hai ngàn năm lẻ vạn năm hương.
Đây là tổ của Bách Việt, là thời thịnh vượng thái hoà.
Cháu của Kinh Dương Vương là Chiêu Vương, đóng đô ở Việt Trì, sông Bạch Hạc, tên nước là Văn Lang. Chiêu Vương là người khoan nhân, trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thánh thần, chăm lo lấy dân làm gốc, được gọi là bậc hiền quân. Thời đó trong nước yên bình, trong phủ vô sự. Nhân dân vui vẻ, sung túc, đàn hát. Thiên hạ hưởng cảnh tượng thái bình.
Con trưởng của vua đi ngao du thiên hạ, khi tới đất quận Sơn Nam, phủ Khoái Châu, huyện Thiên Thi, trang La Trừng, trại Trì La, một ngày thấy gió táp mưa sa, trời đất mù mịt, ngày giống như đêm. Dân Trì La khiếp sợ, không dám ra đường. Trong khoảnh khắc trời đất sáng trở lại. Bỗng thấy một cây đại thụ bay đến dựng đứng ở chính giữa khu đất đầu rồng, dài hơn một trượng. Mùi gỗ ngào ngạt, cành lá sum xuê.
Dân Trì La tâu việc lạ lên triều đình. Chiêu Vương loan giá xem xét, biết cây bạch đàn tím này là linh mộc, đây là điềm đại cát. Vua liền truyền cho dân Trì La lập đài lộ thiên, bày lư hương, hàng năm hương đèn thờ cúng vậy. Dân được lệnh phải chăm sửa.
Vua hành lễ cúng trời, loan giá về cung. Từ đó nước cúng dân cầu, trai giới thành tâm, đến dưới cây gỗ thiêng cầu nguyện cho đất nước được mưa thuận gió hòa, dân gian giải bệnh cầu thai, rất linh ứng.
Hùng Vương truyền mười đời tới Tạo Vương. Cây thiêng ở Trì La đã trải qua hơn bảy trăm năm, cành lá vẫn tươi tốt. Trời xuân tốt lành, tháng Hai ngày mồng một, chỗ cây thiêng trời đất mờ tối, mây bay năm màu, dây lửa quấn phủ. Linh mộc có ba vòng hào quang sáng chói, mưa gió mù mịt. Dân Trì La dân kinh sợ phủ phục. Khi trời sáng lại, nhân dân đến xem thì thấy một dấu chân người lớn ba bộ in trên thân cây. Trên bệ thờ lộ thiên hương tự cháy, bốc mùi thơm ra xung quanh. Nhân dân Trì La dân lấy làm kinh dị, lại tâu về triều đình.
Tạo Vương loan giá đến xem, cho là vì hoàng gia có đức thịnh, tất có thánh nhân xuất thế, sẽ bảo vệ quốc gia, chắc chắn không phải điều tầm thường. Vua lập tức truyền dân sở tại lập chùa tự thờ cúng, khiến cho nhân dân, nước nhà có việc cầu đảo sẽ thành. Vua hành lễ rồi loan giá về triều. Từ đó nước cúng dân cầu, hương đèn không dứt.
Lại nói, Vua có một người họ hàng (là con gái của Hy Vương) tên là Minh Hoa công chúa, nhan sắc đẹp lạ, dáng dấp tuyệt thế, môi son má phấn, mắt phượng mày ngài, bản tính như hoa yêu kiều, không nhiễm tục trần, từ lúc sinh ra chỉ ăn chay, thích mùi vị của hương hoa. Chín tuổi ở triều đình tự nguyện xuất gia theo Phật. Hy Vương thấy con gái thành tâm mộ Phật, truyền xây chùa ở trong cung điện theo ý nguyện. Từ đó công chúa chay trường theo Phật, tinh thông Phật pháp.
Tới khi Tạo Vương lên ngôi, công chúa được tôn làm Thế tôn Bồ tát. Năm 71 tuổi công chúa nghe nói ở Trì La có cây linh mộc, trong có một người khổng lồ, xưa vua truyền cho lập chùa thờ cúng. Lòng thơm luyến cảnh, truyền giá du xuân, đến nơi thì mặt trời đã về tà. Công chúa ngửa lên xem cây thiêng, chợt hiện ra một con rắt không từ trên trời rơi xuống, quấn lấy công chúa Minh Hoa ba vòng. Công chúa sợ hãi nép xuống, bàng hoàng như mơ. Bỗng thấy mặt trăng mặt trời đều rơi xuống nhập vào mồm mà nuốt hết. Trong phút chốc con rắn không bay lên không biến mất. Công chúa chợt tỉnh lại, quay về vương phủ. Trăm ngày sau Công chúa do đó mà có mang. Chỗ dấu chân người khổng lồ trên cây thiêng cũng tự nhiên phình lớn, to như mặt trăng mặt trời, thường có mây bay năm màu, che phủ trên cây thiêng. Mọi người đều lấy làm lạ.
Công chúa Minh Hoa có mang được 7-8 tháng thì Tạo Vương truyền vào cung đình, nói:
– Chín tuổi theo Phật, tới nay đã đã hơn bảy mươi năm, đã làm Bồ tát, sao lại vui ham hoa nguyệt, để tiếng cười cho nhân gian.
Công chúa giải bày chuyện khi đến xem cây thiêng có con rắn không quấn thân thành thực tâu lên. Vua không tin, giáng đi đất Ô Lý (tức là đất Chiêm Thành).
Sau mấy tháng người dân Trì La thấy ở chỗ cây thiêng ban đêm nghe tiếng gió phần phật như tiếng sấm, trên cây thiêng sáng láng, giống như ánh lửa. Chỗ gỗ phình to lại càng thêm lớn. Người dân trại bẩm tâu sự việc. Vua cho là yêu quái, liền truyền lập đàn nhiều bậc ở giữa cung đình, cúng tế tắm gội trong ba ngày liền, triệu tập các tăng ni cùng trăm quan làm lễ cầu đảo.
Vua khấn:
– Quả nhân thấy cây quái này cùng với công chúa bảy mươi tuổi có mang, không biết họa phúc ra sao. Do đó tấu cáo lên Hoàng Thiên, bách thần, chư phật, khẩn nguyện tốt xấu cho ứng mộng, để lòng trần biết được huyền cơ.
Tối hôm đó lúc giữa canh hai, Vua lờ mờ chợp mắt, thấy mây lành năm màu, điện ngọc lưu ly, cung rồng rực rỡ, lầu phượng huy hoàng, Ngọc Hoàng ngự ở chính giữa, bách quan tề tựu đông đủ. Bỗng nghe Ngọc Hoàng truyền phán quan giữ sổ Thiên đình gọi Tạo Vương tới sân. Ngọc Hoàng mắng rằng:
– Bây giờ thời vận đã đến lúc gặp cực, dưới thế giới ba mươi ba cõi trời nhiều tai ương kỳ dị, tật bệnh đói khát, chết chóc đầy đường, âm dương hỗn tạp, giặc yêu quỷ đến thật nhiều. Thiên đình lo lắng cho dân chúng hạ giới nên giao mệnh cho Đế Thích Đề Hoàn Thiên Vương ứng thai vào cây thiêng bạch đàn. Lại mệnh cho Đông Quang chủ bộ, Tây Quang chủ bộ hai vị đầu thai vào công chúa Minh Hoa, giáng sinh nhân thế, cùng giúp Đế Thích Thiên Vương trừ giặc quỷ ở Nam Châu, cứu tật khổ cho nhân gian, mà duy trì kéo dài mạch mệnh của quốc gia. Quân vương như thế mà lại giáng biếm Công chúa. Nay do đã biết chí thành cầu đảo, phải ngay lập tức đón Công chúa về cung thì miễn cho tội này.
Vua tỉnh giấc, kinh sợ, hành lễ bái tạ, lập tức lệnh cho đình thần đón công chúa Minh Hoa về lại phủ điện. Vua thân ra đón tạ, kính lễ sự đó. Lại sai Thủy tào phán quan Diêm La bộ soái (Xét Diêm La bộ soái cũng là dòng dõi Hùng Vương, con cháu trăm trứng từ Long Vương. Cha là Hùng Độ làm Bố Chính bộ chủ. Mẹ là Vũ Thị Đoan, mơ thấy giao long mà có mang thần. Tới năm Quý Tỵ ngày mồng mười tháng Mười sinh ra Diêm La Công, lấy tên là Đà. Năm mười bốn tuổi ông đã văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, đứng trước sóng cả như đứng trên đất bằng. Vua cho mời vào triều nhận chức, thi thố nhiều tài lạ, được cất nhắc làm Chưởng quản thuyền rồng Lạc Long tướng quân. Năm mười chín tuổi Vua sai làm tướng dẫn quân đánh giặc Diêm La ở ngoài Nam Hải. Ông phụng mệnh trị được chúa Diêm La, lại được triệu về triều làm Chưởng bình Diêm La nguyên soái, Thuỷ đạo đại tướng quân, lại nhận mệnh phó nhậm trấn cửa biển, làm Thuỷ đạo chủ bộ) đến trại Trì La nơi có cây thiêng, trông coi việc hương đèn, đợi xem điềm ứng ra sao.
Vừa được một năm thì nhân dân trong thiên hạ gặp nhiều tai ách, tật bệnh, yêu tà làm loạn, chiếm khắp nhân gian. Trời đất mù mịt, không phân ngày đêm. Dưới sông biển là giao long, trên rừng núi là hổ báo, quấy nhiễu làm hại nam nữ. Lại có quỷ Mũi đỏ, thần Ma sói, khởi binh làm loạn, thường ăn thịt người, uống máu người, vào lửa không cháy, vào nước không chìm. Có khi bay lên không nghênh chiến, có khi giáp công dưới nước. Quân lính tới ba mươi vạn, biến hiện thật vô cùng, cướp giữ Lưỡng Quảng Đông Tây, mười sáu châu đều là đất giặc quỷ. Triều đình ra đánh đều bị hại phần lớn, quan tướng không có phương sách.
Vua rất lo lắng, nhớ tới việc Hoàng Thiên báo mộng là ba năm sau nước sẽ có giặc quỷ, quả nhiên là nghiệm, mà Thiên vương giáng thế, giúp nước cứu dân, chưa thấy xuất hiện.
Vua lại cho lập một đàn tế, trai giới cầu đảo trời đất trong ba ngày. Năm Giáp Tí tiết xuân ngày mồng 9 tháng 1, cái bọc trên cây thiêng ở Trì La đã qua ba năm, bỗng nghe có tiếng sét đánh một tiếng thình, trời rung đất chuyển, mưa gió tối tăm, giữa ngày mà như đêm. Người dân Trì La kinh sợ, nằm rạp xuống mà xem, thấy mây tụ năm màu, bao trùm trên cây thiêng, hào quang sáng lòa, khí lành rực rỡ, sao trời cùng tụ, rồng phượng bay quanh, bầu trời vang tiếng véo von, nhã nhạc tấu hài hòa. Chốc lát một tiếng nổ vang rền, ánh lửa phóng ra bốn phía. Cây thiêng vỡ tan bay lên trời, chỗ bụng bào trên cây vỡ ra, xuất lộ 2 bọc. Nước chảy ra đều thành nước ngọt. Chỉ còn lại một khối dài ba bốn thước, cứng như sắt đá, khối nước có một bọc, mây năm màu phủ ở trên.
Diêm La vương kinh dị, phụng tâu về triều đình. Vua thân hành đến chỗ bọc thai, nghênh đón về cung điện, truyền lập lầu rồng ở trước sân, đặt bọc thai ngọc tím, thường có mây năm màu phủ ở trên. Vua cùng trăm quan trai giới hành lễ, cầu nguyện Thiên vương xuất thế, để giúp nước nhà, để hết tai biến.
Ngày mười lăm tháng Giêng bỗng thấy trời đất mùi mịt, trên lầu bọc thai phóng hào quang bốn hướng, khí lành rực rỡ. Bọc thai tự nổ một tiếng kinh động trời đất. Vua cùng trăm quan sợ phục trước lầu, ngưỡng xem thấy Đế Thích Thiên Vương ngự tại đầu rồng trước lầu, mây lành năm màu, đầu đội mũ bình thiên, thân khoác áo rồng, tay cầm kim bài.
Minh Hoa công chúa mang thai đã 3 năm, một tiếng nổ lớn, bỗng có hai người xuất ra từ trên đầu Công chúa, hình dáng cao lớn, tướng ngũ nhạc triều thiên, tam đình bằng phẳng, mặt đỏ như mặt trời, to lớn đường đường, áo bào năm sắc, khăn ngọc chói ngời, tay cầm long đao, đứng hai bên phải trái Đế Thích Thiên Vương. Công chúa hóa thân chỉ còn 2 búi tóc, một búi ở bên Đông Quang, một búi ở bên Tây Quang.
Chốc lát bóng mây tan đi. Trời đất lại sáng. Vua cùng trăm quan bái hạ. Bỗng nghe Đế Thích Thiên Vương truyền tả hữu hai ông rằng:
– Thiên đình lệnh cho ta giáng sinh ở Nam Châu, giúp vua nay trừ lũ quỷ, hãy nhanh chóng tuyển tướng điều binh theo ta dẹp giặc, không được trì hoãn.
Hai ông phụng mệnh lập tức triệu Diêm La bộ soái dẫn một ngàn thiên binh diệt giặc. Nhị công lại hô lớn một tiếng, hai búi tóc bỗng nhiên biến hóa. Búi thứ nhất biến thành Ngựa lửa, thân dài chín thước, ông Tả cưỡi. Một búi khác biến thành Lân ngọc, ông Hữu cưỡi.
Ba vị (Vua Trời và hai ông) tiến trên không trung. Diêm La hành quân theo đường thuỷ, tiến đến chỗ quân giặc. Hai ông huy đao vang lừng, tiếng thét lẫm liệt như sấm, hào quang phóng bốn phía. Thiên binh cùng vùng dậy tấn công. Ngựa lửa, Lân ngọc phun lửa. Quân thuỷ của Diêm La tiếp chiến. Mây mưa mờ mịt. Giặc quỷ kinh sợ, tan tác, tất cả biến thành tro bụi. Chỉ có quỷ Mũi đỏ không thể tự biến, chém được ngàn đầu, mang về kinh đô. Lũ hổ báo, giao long, yêu quái nhất loạt đều dẹp yên.
Ngày 10 tháng 6 Đế Thích cùng hai ông bay lên năm tầng mây mà hóa. Diêm La bộ soái trong hôm đó liền về triều tâu lại chuyện. Vua nghe vậy than thở mà rằng:
– Nhân dân đã được chuyển họa thành phúc, chuyển tai ương thành tốt đẹp, kính thánh đức mây lành ngày tốt, liệu trời đất khí hòa gió xuân, ơn dày Vua Trời cùng hai vị đại pháp lực xoay chuyển càn khôn.
Vua bèn truyền xây điện ở trong sân rồng, thờ phụng ba vị, đáp tạ ơn thần.
Ngày 29 tháng 6 Diêm La Công xuống thuyền rồng đi Phong Châu, đến sông Tam Kỳ thì sóng gió nổi lên. Diêm La Công thân biến thành rắn, dài hơn mười trượng, bò thẳng xuống Tam Kỳ mà hoá sinh bất diệt. Tướng sĩ liền về triều đình, phụng tâu lại sự việc. Vua liền lệnh cho đình thần tới Tam Kỳ hành lễ, lập đền thờ phụng. Lại truyền sửa sang tượng thần ba vị cùng tượng Diêm La công, đón vào bảo điện, ngày tháng phụng thờ, cầu đảo linh nghiệm.
Vua lệnh giá đến trại Trì La, trước lập hành cung, coi xem địa hình, rồng như hình con rắn lớn, thế sông uốn lượn như rồng bao quanh. Vua ngự ở chỗ cây thiêng, thấy một mảnh đất thực là rồng, khu dải bảy sao, sau đầu mũ ngọc, trái phải lớp lớp cùng quay đầu hướng về. Trái phải có giếng mắt rồng, cá bơi hướng chầu, sao vàng đứng vững, dải Ngân bao bọc, ngựa trời quỳ, hoa sen nở, giữa gian ba sao cùng mặt trăng mặt trời chợt dậy, thành một vùng đất quý trời tạo.
Vua truyền lập đền ở chính giữa đầu rồng, dựa Quý hướng Đinh, thế sông chầu bên trong, núi sao ứng theo bên ngoài. Lại truyền chọn lấy loại gỗ bạch đàn tím cẩn kính tạo tượng thần Đế Thích Thiên Vương để thờ. Tiếp truyền lập chùa ở chỗ đất hình rồng. Làm xong thì cho phép trại Trì La hai giáp Đông Tây ngày tháng lo hương đèn, miễn cho việc binh lương. Xuân (tháng 3 ngày 10), thu (tháng Chín ngày 12) làm lễ quốc tế. Ban cho 30 quan tiền, đặt 12 mẫu ruộng thờ, tuân theo mà thờ cúng. 6 trang trong trại (Yên Canh, Liễu Cầu, La Trừng, Trại Thung, Cổ Lễ, Lưu Xá) đều được miễn đóng binh lương, hàng ngày giúp thờ cúng ở đền Vua Trời tại Trì La.
Vua đề thơ rằng:
Trì La thắng địa rất oai linh
Xứ xứ chầu về kính đế đình
Vua Trời giáng sinh di tích đó
Vạn năm hương lửa quốc gia lừng.
Vua quay giá về cung, tặng phong Tam thiên thiên Giới nội Đế Thích Đề Hoàn Đại phu Ngọc bệ hạ, Nhật Quang Thiên tử Thánh vương, Nguyệt Quang Thiên tử Thánh vương là ba vị thiên thần thượng đẳng và Diêm La bộ soái Môn tiền Tôn thần.
Lại truyền rằng, Hùng Vương truyền mười tám đời tới Tình Vương không có con, nhường ngôi cho An Dương Vương. Tương truyền ở Ái Châu (tức Thanh Hóa nay), phủ Thuận Thiên, huyện Lôi Dương, xã Biện Sơn có ông Phạm Đạt đến quận Sơn Nam đóng quân, lấy bà Lục Nương họ Đinh của trại Trì La, nhờ cậy ba bốn năm. Vợ chồng ra sức làm việc thiện. Hơn bốn mươi tuổi chưa mơ thấy điềm gấu rắn. Một bữa ông nói với vợ rằng:
– Tiên tổ nhà ta đều xứng là gia đình thiện đức, tôn trọng ngũ luân, ban phát cho người nghèo khó. Tôi và bà đều làm việc nhân, tu đức, không dám vì mình hại người, chưa mảy may phạm tội ác nào, bồi đắp quả thiện lâu dài, mà chưa thấy được hương quế. Hay là do đạo nhân nghĩa còn thiếu sót nên ý trời còn chưa tỏ. Tôi nghe nói điện Vua Trời giúp dân giúp nước, cầu là được, vạn sự như ý. Tôi cùng bà thành tâm cầu tự, nhạn bay mong mỏi, sao cho thỏa nguyện bình sinh.
Theo ý đó hai người đến đền cầu tự. Đêm mộng thấy thần nhân báo rằng:
– Ta thích đánh cờ, ông có biết chơi cờ không?
Ông Phạm trả lời:
– Thần vốn không biết chơi cờ.
Thần nhân nói:
– Cờ là cốt yếu của họa phúc, là sự huyền vi của trời đất, người trần khó biết. Ông đã thành tâm cầu tự, ta xét gia đình ông có phúc lớn lắm, nên ưng cho ông quân Xe cờ đá về làm của quý trong gia đình.
Dứt lời đem trao cho. Ông Phạm vui mừng nhận kính cẩn nhận lấy và bái tạ. Khi tỉnh lại, yên lặng suy nghĩ, nhà ta phúc hậu, Hoàng Thiên sẽ ban cho con cái. Vợ chồng hành lễ bái tạ rồi về.
Sau mấy tháng bà Đinh có mang. Qua sáu bảy tháng thì ông Phạm nghe rằng người chú ruột của mình qua đời. Vợ chồng lại đến đền làm lễ, sau đó về Biện Sơn để giúp mai táng.
Năm Kỷ Mùi ngày 9 tháng 3, ánh sáng lành tỏa khắp xã Biện Sơn, phu nhân sinh hai con trai, mặt mũi khôi ngô sáng sủa, tư chất lẫm liệt, hàm én mày ngài, mắt phượng hình rồng, tay dài quá gối, chân có 7 túm lông, được đặt tên là Đá Công và Dũng Công.
Đến năm tám tuổi trí dũng siêu quần, theo học Ngô tiên sinh. Sau mấy năm tam lược lục thao của Bách gia chư tử đều thông thuộc (Hoàng Thạch trao cho Trương Lương binh thư có 3 phần Thượng, Hạ, Trung là Tam lược; Binh thư của Thái Công có Rồng, Hổ, Văn, Võ, Báo, Khuyển là Lục thao), văn võ toàn tài, bạn bè đều sợ phục.
Hai ông tuổi trẻ, cha mẹ mất sớm, có người họ tộc Võ có uy thế trong ấp thấy hai ông có kỳ tài nên nuôi dưỡng trợ giúp, định gả con gái cho, nhưng hai ông không theo. Họ Võ thấy hai ông cương dũng, cho đi bắt trộm cướp. Hai ông theo kẻ gian đến huyện Thiên Thi, quán ngoài Trì La thì trời đã tối, cổng làng đã đóng. Hai ông nhìn xa thấy bên ngoài có một cung quán (tức là hành cung nơi Tạo Vương từng ngự khi đến đây), bèn nghỉ ngơi ở đó.
Đêm đó dân các họ tộc ở Trì La đều nằm mơ thấy một vị quan lớn quần áo chỉnh tề, thân cưỡi ngựa hồng, tùy tùng đi theo mấy chục người, tiến thẳng vào trong ấp, triệu các chức sắc của ấp đến nói: Ta tuân lệnh của Đế Thích Thiên Vương, là Long thần của đất này. Hiện đang có hai vị quý nhân được Thiên đình cử đến đây, là phúc thần, đang ở hành cung bên ngoài. Dân ấp các người mau ra bái kiến, đón về, không được chậm trễ.
Người dân trong ấp tỉnh mộng, nghe bên hành cung ngoài phảng phất có tiếng người, như đang có rất nhiều binh mã. Mọi người đều kinh sợ, tụ tập nhau báo lại, kể đầy đủ giấc mộng, không hẹn mà cùng nhau mở cửa ra ngoài nơi quán, thấy hai vị đang ngủ say. Mọi người cùng đồng thanh hỏi:
– Hai vị ở đâu tới đây?
Hai ông dậy trả lời rằng:
– Chúng tôi vốn là con của gia đình họ Phạm, đến tìm hỏi người thân thuộc bên họ ngoại.
Người dân trong ấp biết đây là con của nữ họ Đinh, chưa chịu bái phục, đồng tâm tôn kính phụng dưỡng ngay, còn muốn xem đạo trời ra sao. Hai ông ở quán ngoài mấy tháng thì dân ấp gặp bệnh dịch. Dân làm lễ cầu trời đất, lại mộng thấy quan quân tới chỗ dân ở nói:
– Trời cao đã lệnh cho Long thần báo mộng ấp này đón quý nhân làm phúc thần mà lại dám nghi ngờ. Thiên đình mới phạt ấp các người không được yên đó.
Dân ấp tỉnh lại sợ hãi, vội đón hai ông, kể lại 2 giấc mộng, làm lễ bái mừng. Bốn năm năm sau, sự việc như thần báo, hai ông tuổi mười bảy, mình cao mười thước, anh hùng kiêu dũng, tay có thể nâng sắt đá ngàn tạ, đi xa trăm dặm nhẹ như hồng mao. Khi đó Thục Vương có giặc Đại Man, đông hàng chục vạn, chiếm giữ Tuyên Quang, Cao Bình, Hưng Hóa. Triều đình đánh không dẹp được. Vua truyền hịch tìm người tài. Hai ông tham gia ứng thí, văn võ tài năng vô địch. Vua liền cho người anh làm Bình Man Đô nguyên soái Đại tướng quân, người em làm Thiên Quan Nguyên soái Đại tướng quân, cấp cho năm mươi vạn tinh binh diệt giặc.
Hai ông tuân lệnh, chiêu mộ con cháu các gia đình hào kiệt làm bộ hạ thân cận, cộng được một ngàn ba trăm người (các họ tộc ở Trì La đã theo hai ông dẹp giặc là Như Nguyễn, Hào Nguyễn, Tá Đinh, Tào Đinh, Tấn Đinh, Sĩ Đinh, Giảo Phạm, Mai Phạm, Vị Hà, Thưởng Đỗ, Bân Đỗ, Đán Trần, Kế Đào, Quý Lê, Thưởng Đặng, Hoàn Đặng, Tố Giả, Đoan Tự, đều là những tì tướng, lính tốt). Ngay hôm đó chia thành các đạo quân, tiến vào đất giặc, đại chiến một trận. Quân Man thua to, chém được 3 tướng Man, hơn ngàn thủ cấp, thu hết cờ trống khí giới, đem về kinh đô. Vua nghe vậy rất vui mừng, truyền hai ông vào dự tiệc mừng. Hai ông xin phép được về yết bái hai bên nội ngoại. Vua đồng ý, ban cho vàng bạc, châu báu, nhung lụa, mỗi thứ mười thăng, cùng voi ngựa, binh sĩ theo về quê quán.
Hai ông về yết tạ ở từ đường, mở tiệc mừng, rồi lại về quê ngoại ở Trì La. Tháng 3 ngày 15 yết tạ ở từ đường bên ngoại, truyền cho tu sửa cung quán (tức là nơi đã tạm trú qua đêm trước đây) để làm chỗ bày tiệc. Đến hành cung mở tiệc mừng, tự đem năm ngàn quan tiền để sửa chữa đền chùa Vua Trời. Hai ông nói với dân Trì La rằng:
– Chúng tôi cùng các phụ lão bên quê ngoại là có tình, cũng là nghĩa thầy trò, thân lại thêm thân, trời cho như vậy. Chúng tôi có mười thoi vàng giao cho dân ấp làm tiền công để mua thêm ruộng vườn xung quanh làm như hành cung. Sau này chúng tôi mất, thì nơi nay bày yến tiệc sẽ là nơi thờ phụng.
Phụ lão đều đồng ý như vậy. Hai ông làm thơ rằng:
Thiên địa sinh ta vốn có tình
Danh lưu nhân thế tử như sinh
Trì La hương lửa ngàn xuân vẫn
Sinh đã vinh mà tử cũng vinh.
Lại có thơ rằng:
Giúp cho đất nước dựa vào dân
Vạn cổ cương thường có tấm thân
Đến xứ núi sông ta ở cảnh
Một vùng cá nước vạn năm xuân.
Hai ông đến bái tạ đền Vua Trời rồi về triều gặp Vua, xin cho nhận trại Trì La làm nơi thang mộc. Vua đồng ý. Phong cho người anh là Thái Bảo Quốc, đổi người em làm Thiên Cung Bảo Điện tướng quân.
Quán ngoại Trì La một thời nổi tiếng. Gian điện Vua Trời rực rỡ. Thần thường hiển linh cùng Trương Ba (người huyện Đường Hào, xã Liêu Hạ, vốn là thần tiên giáng thế) đánh cờ ở đất này, là nhờ hai ông đã thành tâm thờ cúng mà thần giáng phúc.
Hai ông làm quan qua hơn mười năm. Tới thời Triệu Úy Đà ở Sơn Nam đánh Thục Vương. Vua lệnh cho hai ông đánh dẹp, cùng với Đà giao chiến ba bốn năm. Quân Đà thua nhiều lần, chỉ còn chờ phân thắng bại. Đà giả xin hòa. Vua đồng ý. Hai ông cố can ngăn vì nuôi hổ để họa. Vua không nghe. Hai ông xin được về quê. Vua đồng ý. Hai ông từ biệt ra về, than rằng:
– Thế nước nguy rồi.
Bèn về đất Trì La. Ngày 25 tháng 12 đến đền Vua Trời, vào sau đền rồi hóa. Ngày đó mọi người nhìn xa thấy bên đền có sợi dây lửa dài mười trượng bay lên không biến mất. Người dân trại đem chôn cất. Mối đất bồi lên mộ, mọi người đều lấy làm lạ. Vua thương tiếc tướng hiền lương, truyền sửa sang hành cung để thờ, tặng phong mỹ tự cùng với đất nước:
Phong Hiển thánh Linh thông Đại vương.
Phong Đại quan Bảo điện Đại vương.
Lại kể rằng Uý Đà nghe hai ông đã mất, liền trực tiếp cầu hôn con gái Thục Vương lấy con trai mình là Trọng Thủy. Vua đồng ý. Trọng Thủy lấy trộm nỏ thần Linh Quy hủy đi. Vua đánh cùng Đà đại bại. Đà chiếm được Nam Bang, thâm oán hai ông, phá hủy đền thờ, thu lại sắc chỉ, ấp dân phải lưu tán.
Nhà Triệu truyền được bốn đời, tới Tập Vương thì thế nước suy nhược. Đông Hán Quang Vũ chiếm được đất Nam, sai thần là Tô Định làm thái thú Nam Châu. Định là kẻ tham lam, giết hại huyện lệnh Thi Sách, là chồng của Trưng nữ Vương (Trưng Trắc, Trưng Nhị vốn là dòng dõi Hùng Vương, con của quan lệnh Phong Châu, chị em đều có kỳ tài). Trưng nữ khởi binh đánh Tô Định, báo thù chồng. Đại tướng Huệ Lực tích cực theo chiến trận để báo thù cho cha (Huệ Lực là con của huyện lệnh Đường Hào, cha bị Tô Định giết, mẹ lúc đó có mang chạy đến ở trong chùa La Trừng, sinh ra Huệ Lực theo Trưng nữ báo thù cho cha).
Huệ Lực đầu tiên đóng doanh trại ở trại Trì La, mật cầu ở đền Vua Trời để được âm phù giúp đánh quân hung tàn. Ban đêm mộng thấy hai Thiên tử tay cầm long đao nói:
– Chúng ta tuân lệnh Vua Trời giúp vua dẹp giặc.
Liền tiến binh, chém được Tô Định. Hơn năm mươi thành đều quy phục. Trưng Vương lên ngôi, mở tiệc mừng công.
Huệ Lực giúp dân Trì La tạo lại đền thờ Hai vị và đền Vua Trời. Một tối, Huệ Lực cùng dân Trì La đều mơ thấy thần nhân báo trời giáng cho cây gỗ dâu ở trước đền, nên dùng đó để làm tượng Nhật Quang, Nguyệt Quang Thiên tử. Khi đến đền xem thì đúng là thấy có cây gỗ dâu đặt ở cửa đền, đem vào trong đền. Lại thấy hai con rắn dài hơn một trượng, toàn thân vảy năm màu ở dưới tượng hai vị Thiên tử. Huệ Lực truyền lấy gỗ dâu tạc thành tượng hai vị Thánh vương. Mở tiệc mừng lớn, lệnh hợp nhất trang La Trừng và trại Trì La. Giáp Tây phù giá Nhật Quang Thiên tử, giáp Đông phù giá Nguyệt Quang Thiên tử.
Việc xong tâu về triều. Trưng Vương lại khen tặng ba vị thiên thần thượng đẳng: Tam thập tam thiên Đế Thích Đề Hoàn Thánh đế Bệ hạ, Nhật Quang Thiên tử Thánh Vương, Nguyệt Quang Thiên tử Thánh vương. Cùng với Đá Công, Dũng Công, Diêm La Công, đều phong làm bản thổ thành hoàng. Còn các tộc tì tướng làm thần bộ hạ thủ điện. Cho phép Trì La hương đèn thờ cúng. Trải Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, gồm ba trăm bốn mươi chín năm, Nam Bang có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai sáng hồng đồ, đế đức giúp nước giúp dân, đều rất linh nghiệm.
Trần Thái Tôn có con gái là Huyền Trân công chúa, được gả cho chúa Chiêm Thành để báo ơn cũ. Chúa Chiêm mất, bầy tôi muốn đem đốt Công chúa trên giàn lửa. Trần Thái Tôn nghe vậy lập tức cầu đền Đế, làm lễ cầu gió. Công chúa xuống thuyền rồng chạy ra ngoài biển. Gió lớn thổi buồm giúp lánh nạn thoát khỏi.
Sau này công chúa Thiều Ninh lại đến đền cầu tự, bỗng thấy hai búi tóc đặt hai bên trái phải của đền. Nhân dân tâu rõ việc ấy lên. Thái Tôn lệnh cho đình thần đến đền làm lễ, truyền để búi tóc vào hai cái hộp, chôn ở phía dưới hai vị Thánh chủ. Lại tưởng nhớ tới ngày trước công chúa Minh Hoa (người sinh ra hai vị Thiên tử), hai búi tóc là điềm lành. Bèn truy tặng mỹ tự cho ba vị thượng đẳng cùng các tôn thần bản thổ. Trải triều Trần 12 đời đến Lê Thái Tổ, Tiền Lê Hậu Lê, đều có giúp nước ích dân, đế vương các đời xưa đều truy tặng mỹ tự, hương lửa ngàn thu cái đức ấy.

Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn.

Lại ở huyện Thiên Thi, xã Liễu Cầu có hai chị em vì loạn lạc vào đến nước Ai Lao. Họ mật cầu Vua Trời bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi bộ như bay, về tới quê quán. Khi đến làm lễ tạ, việc xong thì hình hài biến mất, chỉ còn hai búi tóc lưu lại (xem Lĩnh Nam trích quái).
Ngày 12 tháng 6 (14 xã đại hội làm lễ ca hát).

IMG_5036