Nan giải Sơn Tinh

Sự tích về Sơn Tinh nhiều vô cùng, nhưng chung quy có 2 hướng kể. Một là Sơn Tinh có tên Nguyễn Tuấn, quê ở Lăng Sương, sau khi có được gậy thần sách ước, giành được phần thắng trong lần kén rể ở Việt Trì, cưới công chúa Mị Nương, con vua Hùng Duệ Vương đời cuối, rồi cùng với 2 vị Tả Hữu Kiên Thần đánh tan 2 lần xâm lăng của Thục chúa, khuyên Duệ Vương nhường ngôi mà học phép thần tiên, hóa sinh bất diệt. Những thần tích của vùng Thanh Thủy, Phú Thọ (như ở Lăng Sương) là theo hướng này. Có thể gọi khái quát đây là Thần Vương Nguyễn Tuấn.

Một hướng kể khác hay gặp trong khu vực các làng ở vùng chân núi Tản như làng Ngọc Nhị, trưởng tạo lệ của đền Thượng Tản Viên. Theo hướng này, Sơn Tinh có tên là Hương Lang, là người con đầu trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi. Hương Lang có cây gậy thần có thể xuyên đá, trị thủy thời Đường Nghiêu, đánh bại sự tấn công của Thủy Tinh ở Bể Cạn, đi thăm thú, dạy dân đánh cá, sắn bắn ở các nơi, sau là các hành cung Tản Viên. Có thể gọi tóm lược đây là Thần Sư Hương Lang.

Hoành phi “Phụng Tản Viên Sơn” ở đình Ngọc Nhị, trưởng tạo lệ thờ Hương Lang trên đền Thượng núi Tản.

Việc tồn tại 2 xuất xứ của Tản Viên Sơn Thánh được ghi chép trong Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái cũng như trong thần tích của các làng tạo lệ thờ Tản Viên đã đánh đố nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian. Giáo sư Đinh Gia Khánh đã vô cùng lúng túng, không biết phải xếp Tản Viên Sơn Thánh vào thời vua Hùng thứ nhất (con của Âu Cơ) hay vua Hùng cuối cùng (Hùng Duệ Vương). Nhận định về Tản Viên Sơn Thánh thực là nan giải, chỉ có thể giải được với cách nhìn mới về lịch sử và phương thức truyền đạt của truyền thuyết Việt.

Cách lưu truyền của truyền thuyết Việt là mỗi một nhân vật, một vị thần thánh được kể, không phải là 1 người, 1 thời điểm trong lịch sử. Mỗi hình tượng truyền thuyết là câu chuyện kể cho cả một triều đại, một dòng tộc cùng chung nguồn gốc, cùng chung người sáng lập khai mở triều đại đó. Khi nhìn nhận như thế thì câu đố về Sơn Tinh hoàn toàn có thể giải được.

Vị Sơn Tinh mang tên Hương Lang vào thời kỳ hồng hoang mở nước, chống nước ngập ngang trời thời Đường Nghiêu, dùng gậy thần đục đá thông dòng sông Hắc Thủy ở Thác Bờ, là vua Đại Vũ trị thủy. Cái tên Hương Lang liên quan đến việc Sơn Tinh giăng lưới sắt ở Thụy Hương (Từ Liêm), chặn đường tiến quân của Thủy Tinh. Sơn Tinh mới là vị thần Hương, đứng đầu trong Tứ linh Việt: Hương Bổng Đổng Đằng. Đình Chèm Từ Liêm thờ Lý Ông Trọng với 2 sự tích ngăn thủy quái và trấn Hồ – Hung Nô thực ra là về 2 nhân vật. 1 là Sơn Tinh Hương Lang quăng võng la trừ thủy quái thời sơ sử. Một là Lý Thân, Tư lệ hiệu úy, phò mã của Tần Thủy Hoàng.

Vị Sơn Tinh Nguyễn Tuấn phù Hùng đánh Thục, phá tan quân Thục ở Quỳnh Nhai dưới thời Hùng Duệ Vương thực ra là dưới thời Lạc Vương theo như thần tích đình Viễn Lãm (La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ). Đây là một trong những hoàng tử con vua Hùng trấn giữ vùng đất Lạc, giao chiến với quân Thục ở miền Tây Bắc. Vị này còn có tên là Tuấn Lương (tương đương với Nguyễn Tuấn), được phong là Tả Thánh, cũng gọi là Tản Viên Sơn Thánh, cùng thờ trên các cung điện của núi Tản. Sự kiện này tương đương với việc Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ nhà Thương giao chiến với quân của Chu Văn Vương. Kết cục, Thục chúa Chu Văn Vương nhờ có mệnh trời lòng dân mà đã chiếm được vùng Lạc Việt, về dựng đô ở Phong Châu, mở nước Văn Lang.

Tượng Nguyễn Tuấn ở Lăng Sương

Dù là trong sự tích nào thì Lăng Sương cũng là quê gốc của Sơn Tinh và bãi Trường Sa – Tang Ma cũng là nơi Sơn – Thủy gặp nhau. Lăng Sương là quê của mẹ Âu Cơ trong thần tích Hương Lang hay của Đinh Phi thánh mẫu Ngọc nương trong chuyện Nguyễn Tuấn. Bãi Trường Sa nay ở La Phù – Thanh Thủy, là nơi Sơn Tinh gặp Thủy Tinh, Lạc Long gặp Âu Cơ, còn là nơi có dấu rồng thiêng xuất thế với sự tích về Tang Ma Động Đình Thủy Tinh Thánh mẫu. Đây là chuyện Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình trong truyền thuyết, cũng là chuyện Đại Vũ lấy người con gái Đồ Sơn thị của cổ sử Trung Hoa.

Tản Viên Tam vị Quốc chúa trong sự tích Hương Lang là 1 vị quốc chúa của núi Ba Vì (Tam Vị) thời Đại Vũ trị thủy, khơi dòng Hắc Thủy ở núi Tam Nguy. Còn Tam Vị Tản Viên trong sự tích Nguyễn Tuấn là cặp 3 vị tướng chống Thục: Tuấn Lương, Cao Sơn và Quý Minh. Trong sự tích Tản Viên Sơn Thánh như vậy đã bao gồm giai đoạn của 2 thời kỳ. 1 là thời đầu nối tiếp Đường Nghiêu Ngu Thuấn, 1 là thời cuối của dòng theo cha Lạc Long chống Thục, tức là Lạc Vương Bắc Bá Hầu họ Sùng của nhà Thương Ân.

Vị Tản Viên Đại Vũ Hương Lang có công khai sáng các nghề nghiệp đánh cá, cày cấy, săn bắn, chăn nuôi, nên được tôn gọi là Thần Sư. Còn vị Tản Viên Sùng Hầu Nguyễn Tuấn thiên hơn về cai trị và chống giặc nên mang danh Thần Vương. Dù thế nào thì 2 vị đều đã hóa thành bất tử, đứng đầu linh thần nước Việt bởi đã đánh dấu mốc 2 giai đoạn phát triển của lịch sử Việt, là:

– Đại Vũ, tiếp theo thời Tam Vương, mở đầu thời kỳ lịch sử cha truyền con nối, 4000 năm trước.

– Sùng Hầu chống Thục Vương, đánh dấu bước chuyển sang thời phong kiến phân quyền, thiên hạ trăm nhà, khoảng 3000 năm trước.

Câu hỏi ngàn năm xưa về nguồn gốc Sơn Tinh nay đã có lời giải đáp thỏa đáng. Lịch sử thời kỳ dựng nước của người Việt cũng ngày càng sáng tỏ.

Câu đối ở đình Văn Khê (Sơn Tây):

南邦顯跡三峰鎮
西土鍾英歷代褒

Nam Bang hiển tích tam phong trấn
Tây Thổ chung anh lịch đại bao.

Dịch nghĩa:

Hiển tích Nam Bang ba núi trấn
Đúc anh Tây Thổ các đời phong.

Chính điện đình Văn Khê

Hiển linh hộ quốc. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Hiển linh hộ quốc

Đình Quang Húc

Năm Giáp Thìn ngày 9 tháng 1, An Dương Vương lên ngôi, đóng đô ở thành Cổ Loa cai quản quốc gia, nối thừa cơ đồ to lớn mà Hùng Duệ Vương giao phó lại. Vua ở ngôi tổng cộng 60 năm. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Tuy nhiên Vua từ khi được nỏ thần linh quang quốc bảo của Hùng Vương thì không chịu khó tu sửa văn, huấn luyện võ, chọn tuyển tướng, luyện tập quân để chế ngự giặc ngoài. Tới khi An Dương Vương tuổi đã 80, có người họ Triệu tên Đà, người Chân Định, thừa cơ khởi binh dẫn lính đến thẳng huyện Quế Lâm, đại chiến với Thục Vương. Lúc ấy Sơn Thánh nghe được tin, liến biến phép thần thông, tự nhiên bay trên không mà tới, cùng với binh mã tiến thẳng đến nơi. Trong vòng 10 lần đấu với quân Triệu đều chiếm được phần thắng. Sơn Thánh nghĩ đến sinh linh và việc hương lửa bèn nói với Thục Vương rằng:
–    50 năm thiên hạ đã được Hoàng thiên định vậy. Ngày nay Triệu Đà có ý muốn thôn tính Nam Bang. Ta phụng mệnh lớn dẫn quân đến chinh chiến, thấy Triệu Đà anh hùng trí dũng. Sang Đông không lấy được cỏ Bồng, ta không đẩy lùi được nạn này. Triệu Đà đến khiêu chiến với Ta tới mức đánh cùng diệt tận. Sinh mệnh đều đang nằm trong tay của Vua. Vì nước tất phải vì dân. Chi bằng thuận theo lòng trời, gọi họ Triệu đến nhường cho ngôi vị.
Vua nghe thấy lời ấy bèn mới nhường lại ngôi vị cho Triệu Đà, còn mình thì đi vào biển lớn mà hóa. Đà được quốc gia mà lên ngôi vào năm Bính Ngọ. Cha truyền con nối được 5 đời thánh vương. Trước sau cộng 149 năm. Tới khi Thuật Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu sớm bại vong, không người cứu giúp. Cho tới khi có người chắt gái của Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, bậc thánh thần trên trần thế, dấy nổi oai hùng, cất quân đến đánh, đương thời nam nhi thao lược cũng không có người như vậy. Nữ tướng dẫn quân, cầu đến thần linh. Trưng nữ mật cáo Tản Viên Sơn Thánh và hội đồng bách thần ở cửa sông Hát Môn, nay là ở xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc xứ Sơn Tây, lập đàn tế cáo thần linh. Đọc chúc rằng:
–    Trời sinh ra người làm tông chủ vạn vật trời đất, sinh linh cây cỏ, thời gian các mùa. Các đế vương đời trước đều là các bậc thánh minh thiên tử. Triều đình có đạo yêu dân vì nước, có đức hóa rộng lớn. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có người ngoại tộc tên Tô Định tỏ thái ý ngông cuồng khắp nơi, ngược bạo người dân. Trời đất thần người đều căm phẫn. Kẻ hèn tôi vốn là một nữ nhân nhà họ Hùng, nghĩ tới sinh linh, rỏ trăm giọt lệ Hoàng thiên. Ngày hôm nay đau lòng thương dân đỏ, trượng nghĩa trừ bạo tàn. Xin trăm họ các vị tôn thần linh thiêng hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ dẫn quân dẹp giặc, giữ nước giúp dân. Dám mong phục dựng lại cơ đồ cũ của tổ tông, đưa nhân dân khỏi tầng cực khổ, thoát ra khỏi nơi nước lửa binh đao, sau không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa linh thiêng của miếu đền tiên tử, an ủi cha ông dưới nơi chín suối.
Chúc xong bèn hô xuất quân ngàn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp quan lang, phụ đạo các châu quận nước Nam, định ngày giờ dẫn quân 5 vạn, tức chia các đạo tiến đánh, tạo thành kỳ binh, đến thẳng đồn của Tô Định mà đại phá trong một thời. Quân Định bỏ chạy. Thế là Trưng nữ xây 65 thành ở ngoài, chiếm phục lại toàn bộ vùng đất Nam Bang. Trưng nữ lên ngôi Hoàng đế. Trưng nữ ở ngôi ba năm, từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần lên ngự ở triều đình. Trưng nữ một thời xuân mộng, được lập miếu ở cửa sông Hát Môn, các xã ấy phụng thờ hương lửa, tới nay hiện còn di tích. Thời thuộc Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống Tề, Lương cộng là 314 năm đến khi Nam Bang thay nhau bốn đời Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở hoàng đồ, đều có biến hóa điềm thần, các triều giúp nước. Sự đã được ghi rõ trong sử ký Nam Việt.
Khi ấy có người làm thơ khen nhớ Tản Viên Sơn Thánh rằng: (xem bài thơ này trong bài riêng https://bahviet18.com/2020/10/24/bai-tho-ve-tan-vien-son-thanh-trong-than-tich-lang-tang-ma/)
Hoàng triều niên hiệu Hồng Phúc năm đầu ngày 10 tháng 1, Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn

Chống Thục lần thứ hai và hóa sinh bất diệt. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ.

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Chống Thục lần thứ hai và hóa sinh bất diệt

Tản Viên Sơn Thánh và Đinh Phi Thánh Mẫu ở Lăng Sương

Lại nói, được 2 năm Thục chúa nui lòng căm phẫn, tích dưỡng quân mã, cử binh phục thù, cầu viện nước láng giềng, được hơn trăm vạn tinh binh, ba vạn kỵ mã, một vạn chiến thuyền, chia làm 5 đạo thủy bộ cùng tiến vào nước Nam Man ta muốn chiếm Trung Hoa. Các đạo bộ binh nhanh chóng theo các chân núi mà tiến, xuất ra từ Văn Chấn, Trấn Yên, Yên Lập, Văn Bàn, Thuỷ Vĩ, qua Thanh Nguyên, Thuận Châu, Mộc Châu, Phù Hoa, Việt Châu, Mai Châu tới Lai Châu, Luân Châu, Quỳnh Nhai châu, Chiêu Tấn, Sùng Lăng châu, Khiêm Châu, Sùng An châu, Thu Vật, Lục Yên, Đại Man, Tụ Long Bảo Lạc, Côn Lôn, Bắc Tạ, qua châu Bố Chính, Lạng Sơn các địa phương. Lại xuất thủy quân, một vạn thuyền bè, từ cửa biến Thần Phù, Hoan Châu, Ái Châu đến đường thủy sông Lục Đầu, sông Bạch Đằng mà tiến. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời.
Biên cương gửi thư báo gấp. Vua vô cùng lo lắng, bèn triệu Tản Viên Sơn Thánh nhanh chóng đem binh mã tới thẳng Loa thành để lập trận. Lại triệu đại hội đình thần bàn bạc. Vua hỏi các đình thần, các quan đều quay mắt nhìn nhau, không có kế sách khả thi. Sơn Thánh bèn tâu rằng:
–    Thần xin khỏi vất vả đến thánh giá mà tự dẫn các tướng sĩ cùng mười vạn hùng binh. Quân Thục chẳng quá vài ngày là bình định được.
Sơn Thánh bái tạ, từ cửa thành mà tiến, chia các bộ binh hai đường thủy bộ cùng tiến, đến thẳng đồn chính của quân Thục mà đại chiến một trận. Thu được dấu ấn của quân Thục, bèn viết một bức thư rồi giả làm theo dấu ấn đó của Thục chúa đóng vào thư, cho người mặc quần áo của quân địch đưa thư cho tướng Thục rằng:
–    Nước Nam có một thần tướng, chớ nên khinh thường xuất chiến. Đợi khi có chiếu lệnh xuống hãy tấn công.
Tướng Thục đọc thư đó bèn kiên trì phòng thủ không ra đánh. Sơn Thánh trong hôm đó bèn xuất quân, không kể ngày đêm, tiến thẳng đến thành Thục, tay cầm gậy, miệng đọc chú mà chỉ vào. Bỗng thấy nước Thục đại loạn. Sơn Thánh mới phá được trận, bắt hết tướng sĩ binh mã nước Thục. Các đồn đóng quân của các đạo không kịp nghe thấy biến, bị chém hơn vạn đầu các quân tướng. Số còn lại đều bị bắt sống hết, đem về kinh đô, dâng biểu tâu lên đế đình. Duệ Vương nghe thấy rất vui mừng. Sơn Thánh bái tạ xin quay về quê nhà. Đế đồng ý, lại phong thêm cho Sơn Thánh, tặng phong Thái bà cùng với Tả Hữu Kiên Thần, cho phép các nhà ở Lăng Sương đều được miễn hết sưu dịch, phong hiển ấp đó làm làng hộ nhi.
–    Phong Tản Viên Sơn Thánh mẫu Đinh Phi chủ Ngọc bệ hạ.
–    Phong Tả Kiên Cao Sơn Hiển ứng Đại vương.
–    Phong Tản Viên Sơn Chiêu dung Hiểu ứng Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng Bệ hạ.
–    Phong Hữu Kiên Quý Minh Linh ứng Đại vương.
Động Lăng Sương làm hiển quán hộ nhi phụng thờ. Còn như Đồng Luận, Lương Tuyền, Đan Thê, Thạch Xá đều cho làm làng trung nghĩa, cùng giúp thánh giá. Còn Thủ Pháp, Ma Xá, Mang Bồi đều cho lập các cung ở đó sau làm nơi thờ phụng. Còn các hành cung mà Thánh đã từng qua sau cũng là nơi phụng thờ cùng với ruộng thờ đều có ghi chép các hạn ngạch đầy đủ.
Lại nói, Thánh hôm ấy (ngày 11 tháng 8) dẫn quân sĩ quay về quê nhà Lăng Sương. Nhân dân đón giá bái hạ. Thánh hôm đó (ngày 12 tháng 8) bái yết gia đường thân mẫu, mở tiệc mừng lớn trong 3 ngày (từ ngày 12 đến 15). Sơn Thánh cùng với các quan Tả Hữu ở lại chơi quê nhà (tức động Lăng Sương), được hơn mười ngày bèn triệu các hương lão, chức sắc, nhân dân đến ở sân đình nói rằng:
–    Ta cùng với nhân dân đều là người quê ở chốn này, không có tình cảm khác biệt, cùng là bà con láng giềng. Nay ta vốn tuân mệnh Thiên đình giáng xuống để giúp Vua thời nay. Lòng ta không có ham muốn những báu vật, vàng bạc ở chốn trần gian coi nhẹ như lông hồng, yêu mến nơi Bồng Doanh, Lãng Uyển, thích thuốc trường sinh. Hôm nay có các cung lầu đã lập ở các nơi giao cho nhân dân cùng gìn giữ cùng với lăng mộ của gia tiên thánh mẫu, sau là nơi thờ phụng của nhà ta vạn thế vậy (Các địa phương là dân hộ nhi trung nghĩa thiết lập hành cung phụng thờ, đến các ngày sinh hóa của Thánh mẫu, cùng tới nơi nhà này mà phụ giúp cúng tế, cùng với cung đền ở núi thiêng Tản Viên đều phụng thờ Thánh. Các dân hộ nhi của Thánh mẫu và dân tạo lệ của Sơn Thánh đều có những di tích riêng).
Việc xong, Sơn Thánh qua về đình cung ở núi Tản Viên, làm lễ ở đền dưỡng mẫu. Hôm ấy (ngày 12 tháng 9) nhân dân làm lễ bái hạ. Sơn Thánh ở lại đình cung đó (tức là các vùng đất du hành ở Mang Bồi cùng với sách Thủ Pháp tại núi Tản Viên). Lại thiết lập hành cung cho các địa phương, gia thần nhân dân tạo lệ (ở tại các cung Đông Tây, cùng với hành cung của các nơi đi săn, sau đều thành nơi thờ phụng Thánh, nơi nào cũng có di tích riêng). Qua hơn một tháng tới ngày 10 tháng 11, Thánh quay về với việc nước. Duệ Vương muốn nhường lại ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không được, bèn theo ý của Vua mà giúp việc trị quốc vững mạnh được vài năm. Thế rồi Tản Viên Sơn Thánh khuyên Duệ Vương rằng:
–    Họ Hùng cơ đồ hưởng đất nước trải các đời cũng đã lâu dài. Nên lòng trời tất có hạn mới xếp đặt việc Thục Vương thừa cơ gây hấn để chiếm Trung Hoa. Hơn nữa Thục vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là tôn phái của Tiền Hoàng đế (tức là con trong một bọc trăm trứng của Lạc Long Quân, chia thành 15 bộ, có bộ Ai Lao trong đó). Thế nước tốt xấu đều do tiền định. Vua việc gì phải yêu mến một cảnh trời Nam mà đánh dẹp giặc mạnh, gây hại đến sinh linh. Sao bằng Bệ hạ cùng thần cùng có thuật thần tiên, tiêu dao nơi bất lão Bồng Hồ, Lãng Uyển. Quyết bỏ chốn lầu rồng gác phượng, ám nhiễm bụi trần. Vàng bạc châu báu xem nhẹ như sợi tơ. Tiên đồng ngọc nữ cũng xem quên trong nháy mắt. Chí đó mới thật là cao vậy.
Vua nghe vậy mới đồng ý theo cách đó, bèn gửi thư cho Thục mà nhường lại đất nước. Thục chúa (tức An Dương Vương) sai sứ đến tạ. Vua nhân đó ban nỏ thần cho Thục, rồi về núi Nghĩa Lĩnh hẹn cùng Tản Viên Sơn Thánh và công chúa Mị Nương hôm đó (ngày 5 tháng 5) cùng ngày bay lên trời hóa sinh bất diệt (khi Duệ Vương hóa ở núi Nghĩa Lĩnh có mây bay năm sắc. Đế tọa ở đầu đỉnh núi, mây năm sắc bao phủ, khí lành ngào ngạt, trăm thú đến chầu. Đến giờ Ngọ Đế bay lên trời mà bất diệt. Ngày 4 tháng 6 Tản Viên Sơn Thánh cùng với công chúa Mị Nương dẫn binh mã quay về quê nhà Lăng Sương, làm lễ trước đền Thánh mẫu, giao lại cho nhân dân các nơi cung đền phụng thờ, làm lệ điển cho hậu thế. Đến ngày mồng 5 thì quay về đỉnh núi Tản Viên làm lễ dưỡng mẫu. Tới khắc đầu giờ Ngọ thấy giữa trời sương ráng, ba tiếng động dời đất, bỗng thấy mây trắng từ Nghĩa Lĩnh trải sang đến núi Tản Viên như đường mây. Sơn Thánh cùng Mị Nương ngồi trên bàn đá đến hội đón thánh giá. Vợ chồng ban ngày bay lên trời cùng với Duệ Vương trong cùng một ngày. Bàn đá và cây to này nay vẫn còn).
Lại kể từ khi Thục An Dương Vương được đất nước, cảm tạ trước công đức nhường ngôi của Duệ Vương và Tản Viên Sơn Thánh lớn như trời đất, bèn xây dựng một Dao đài cùng với 2 cột đá ở Nghĩa Lĩnh, rồi làm lễ đọc lời thề, không bao giờ quên công đức của Duệ Vương. Lại rời giá đến núi Tản Viên, tu sửa miếu đền, làm lễ bái tạ, định cộng đức sánh ngang với trời đất không cùng.
Vua bái tạ, việc xong, quay giá về kinh đô Phong Châu. Lại triệu các tông phái của Hùng Vương và Sơn Thánh cùng với quý ấp, bản quán và các nơi thờ phụng, đều ban cho làm làng trung nghĩa trưởng tạo lệ (Hùng Vương đã ghi riêng nơi chính thờ phụng Sơn Thánh là điện Tản Viên, nhân dân tạo lệ Trung Nghĩa, Đồng Luận, Lương Tuyền, Đan Thê, Thạch Xá, sách Thủ Pháp, Ma Xá, huyện Minh Nghĩa, Phúc Lộc, các cung Đông Tây Nam Bắc dân các trang phụng thờ, đều là dân tạo lệ, để lại các di tích riêng cùng với các nơi ruộng thờ đã được ban, cũng có hạn mức được ghi lại), tiếp trong họ tộc được cấp ruộng tại làng, phụng thờ với quốc gia cùng yên lành, muôn năm không dứt, vạn cổ trường tồn, nhật nguyệt mãi rạng, còn mãi với núi sông. Sau có tiên sinh Lê Đức Trọng khen rằng:
Sinh mà không diệt lạ kỳ thay
Vạn cổ lưu danh tại phượng đài
Tản Lĩnh đường đường công đức đó
Rạng cùng nhật nguyệt, đối thiên thai.

Lại nói qua thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề Lương cộng 349 năm, cho đến bốn họ Lê, Lý, Trần, Lê nước Nam khai sáng cơ đồ, đều có nhiều sự linh ứng, giúp nước cứu dân. Nên trải các triều đại đế vương Tiền Lê, Hậu Lê, Tiền Lý, Hậu Lý tuân theo như tiền triều khai sáng đều truy phong mỹ tự Kiêm Thượng đẳng phúc thần, vạn năm hương lửa, cúng tế không ngừng.
–    Phong Tản Viên Sơn Thánh Quốc mẫu Đinh Phi chủ Ngọc bệ hạ. Phụng thờ chính ở động Lăng Sương (các trang phụ tế ghi tích riêng).
–    Phong Tản Viên Sơn Thánh Chiêu dung Hiển ứng Hộ quốc Tá thánhUy cảm Hoằng hóa Nhân đức Nghĩa võ Anh triết Minh tín Trợ thuận Hiển công Quảng tế Phù vận Trợ hiển Cao minh Phu hưu Hồng liệt Chương nghị Xung tĩnh Uyên mục Nguyên thông Duệ trí Vĩnh dụ Phu dũng Uy ân Phổ trạch Diệu vi Bảo bang Tương hỗ Trợ linh Hiển liệt Hoành hưu Dương võ Tuyên cứ Quảng vận Diệu hoá Phu dũng Phổ ân Uy đức Tuy dân Dực vận Phụ quốc Bảo dân Hậu đức Chí nhân Cương nghị Trấn quốc kiêm Thượng đẳng thần.
Nay sắc.
Các ngày sinh hóa của Thánh mẫu và Sơn Thánh cùng với tên húy, màu quần áo cấm khi cúng lễ được khai như sau:
–    Ngày sinh của Thánh mẫu là ngày 7 tháng 1 (dùng lễ chay ba bàn, tế trâu, lợn đen, rượu ngọt, ca hát một đêm).
–    Ngày hóa của Thánh mẫu là ngày 12 tháng 6 (dùng lễ lợn toàn màu đen, ba bộ gà sống, tế rượu 6 đấu cùng các đồ khác).
–    Ngày sinh của Sơn Thánh là ngày 15 tháng 1 (dùng lễ chay ba bàn, năm con gà trắng, lợn toàn màu đen, rước bởi cặp vợ chồng có đủ trai gái tới nơi lễ mà cúng, xôi trăm đấu, ca hát một ngày đêm)
–    Ngày Sơn Thánh lên trời vào ngày 5 tháng 5 (lễ dùng thịt trâu một màu, xôi trăm đấu, rượu và các đồ khác).
–    Kiêng cấm các chữ Tuấn, Tùng, Ngọc, Mỹ, Hương, Bích, Hằng, Cao, Minh. Trang phục màu vàng trắng, xanh đậm cũng cấm dùng.
Tản Viên Sơn Tam vị Chiêu dung Hiển ứng Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần Ngọc bệ hạ.
Tả Kiên thần Cao Sơn Hiển ứng Đại vương.
Hữu Kiên thần Quý Minh Linh ứng Đại vương.
Chính bản đến đây là hết. Tuy nhiên, từ chỗ đánh Thục trở xuống so với bản cũ có nhiều sai khác, nhưng vẫn ghi thêm vào đây để tham khảo bổ sung.
Lại nói được 2 năm, quân Thục nuôi lòng căm phẫn, mới cử binh phục thù, cầu trợ giúp từ các nước láng giềng, chỉnh đốn cấp được vạn tinh binh, ngựa tám ngàn, chia làm 5 đạo. Chính binh 30 vạn, ngựa một ngàn, theo đường núi Thập Châu, Hoàng Tùng, Quỳnh Nhai mà xuất vào. Một đạo cánh tả mười vạn quân, ngựa 1.500 con theo đường châu Lạng Sơn, Văn Lan mà tiến vào. Cánh hữu 20 vạn quân, ngựa ngàn con theo đường châu Đại Man mà vào. Một đạo 10 vạn quân, ngựa 500 con theo đường châu Bố Chính Minh Linh mà vào. Một thủy đạo thuyền 3.000 chiếc, quân thạo thủy chiến 30 vạn, theo cửa biển Hoan Châu, Hội Thống Môn. Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa cùng đi, thanh thế quân binh chấn động.
Duệ Vương lo lắng mới triệu đình thần đến hỏi. Mọi người đều nhìn nhau mà không có kế sách khả thi. Tản Viên Sơn Thánh mới tâu rằng:
–    Trước đây Thục Vương ngông cuồng, coi thường oai trời, một bầy lẫm liệt, tưởng che được cả trời. Hoàng đế đã độ lượng khoan hồng, miễn cho khỏi rơi tổ vỡ trứng. Nay lại không biết hối cải, muốn tiếp tục mưu đồ vọng tưởng, châu chấu đá xe, thế như lông tơ trên lò lửa. Bệ hạ sao phải lo lắng việc điều quân khiển tướng. Thần xin đảm nhận việc này.
Duệ Vương tươi tỉnh lại hỏi:
–    Còn việc gìn giữ miếu đường thì Khanh định tính như thế nào?
Sơn Thánh tâu rằng:
–    Sự quyền biến không thể dự đoán trước được. Thần xin được lĩnh 50 vạn hùng binh. Thiên hạ của quân vương khắc có ngày được yên định.
Duệ Vương đồng ý. Sơn Thánh mới lấy 10 vạn quân mạnh, voi ngựa trăm con, theo đường chính Thập Châu chiếm giữ những nơi lũy cao hào sâu, không ra giao chiến. Ngầm sai Dũng mãnh Nguyên soái Tổng đốc Đại vương dẫn 3 vạn quân theo bên trái ra châu Văn Lan để ứng chiến cánh tả của quân Thục. Lại sai Quý Minh Long Linh Chi quân Phụ quốc Thượng Đại tướng quân, nay tức là Tả Kiên thần, trấn tại lầu Tây Bắc Động Sơn Thần vị, tên là Tuấn Long, trấn bên sông dưới chân núi, men theo đằng sau châu Đại Man mà ra, giả lập một đồn binh để ứng chiến với hậu quân của Thục. Lại sai Phụ quốc Ma Vương Đại thần Anh linh Nhất bộ Hào kiệt Thượng tướng quân dẫn 6 vạn binh mã mà ra ứng chiến cánh quân bên phải ở châu Bố Chính Minh Linh. Lại sai Tán quốc Tá thánh Đại thần Tuấn Đôi Hào kiệt Đại tướng quân, nay là Tản Viên Sơn Tả kiên Lãng Ma Lộ Sơn Thần vị, tên là Tuấn Đôi, dẫn 3 vạn binh mã cùng với thuyền bè hơn 30 chiếc ứng chiến thủy đạo ở Hoan Châu, cửa biển Hội Thống Môn, cai quản luôn một mặt của Ái Châu. Lại sai Đại tướng Thần cơ Hổ Ma vương Dũng mãnh Anh linh Đô thượng Đại tướng quân đem 3 vạn quân tùy nơi mà ứng chiến.
Sơn Thánh tự dẫn quân theo đường núi Thập Châu, đánh lớn một trận, lấy được ấn tích cờ xí của quân Thục. Sơn Thánh bèn giả viết một bức thư của Thục Vương cho chủ tướng quân Thục rằng:
–    Nước Văn Lang triều Hùng có một thần tướng. Nay nhà ngươi phụng mệnh dẫn quân đến đánh nước lớn. Binh quý ở bí mật, chứ nên khinh động. Đợi khi có chiếu báo, tất sẽ định được.
Viết xong làm giả ấn tín của quân địch mà đóng vào trong thư. Lại khiến một người thạo việc ăn mặc quần áo của quân địch, tự xưng là sứ giả Thục, cưỡi ngựa đến trại lính cánh quân chính của địch đưa thư cho tướng Thục. Tướng Thục từ khi nhận được thư, ra sức cố thủ. Cánh quân phải nghe có biến cũng không gửi thư báo gấp đến được.
Sơn Thánh bèn tiến quân, ngày đêm đi gấp hơn 150 dặm, đến thẳng kinh đô nước Thục, chia quân mà đánh. Chủ tướng nước Thục không kịp đến cứu. Sơn Thánh lấy sách và gậy thần chỉ vào, đại phá cánh binh mã bên trái của Thục, bắt sống toàn bộ. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên phải rút chạy. Thế là Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch quân địch, dẫn binh mã về kinh thành tấu cáo chiến thắng. Từ đó thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ chối không nhận, quỳ xuống tâu lên Duệ Vương rằng:
–    18 đời họ Hùng hưởng nước dài lâu, tất là lòng trời có hạn mà có quân Thục thừa cơ đến chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn cũng là bộ chủ nước Ai Lao, cùng là tông phái của đế vương đời trước. Thế nước khác thường đều do tiền định. Vua sao quyến luyến một cảnh trời Nam mà chống lại ý trời, tất dẫn đến thế cùng cực chém giết mà hại sinh linh vậy.
Duệ Vương ngừng hồi lâu rồi nói:
–    Lời của Khanh nói cũng có lý, ta đã biết rồi. Nhưng lại nghe nói rằng thời bình thì quan trọng trước hết là con trưởng, thời loạn thì đầu tiên là kẻ có công. Thục Vương ngông cuồng, Trẫm đã được Khanh làm vây cánh, binh trời lẫm liệt, chúng địch sạch tan, quốc thái dân an. Công của Khanh không lớn lao hay sao? Khanh lại là rể quý trong nhà, là trung thần của đất nước, là người được Trẫm cầu để nối ngôi trời. Trị quốc chính ngoài Khanh ra thì còn ai nữa? Khanh hãy nhận lấy ngôi này, đừng từ chối mà phụ ý cầu hiền của Trẫm.
Tản Viên Sơn Thánh bất đắc dĩ đành tuân theo mệnh đó. Từ đó tuy giúp Vua trị nước nhưng không dứt được chí dạo chơi nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, vàng bạc châu báu coi nhẹ như sợi lông. Lánh tục tìm nhàn vốn là ý nguyện bình sinh chẳng thể thay đổi được. Được hai ba tháng, Tản Viên Sơn Thánh lại nói với Duệ Vương rằng:
–    Sự nghiệp bá vương thay đổi xưa nay là lẽ thường. Họ Hùng hưởng nước đã hơn hai ngàn năm. Nước Việt từ Thái tổ Hoàng đế khai quốc, đều đã có con hiền cháu thánh, cha truyền con nối, tới nay được18 triều. Bệ hạ sinh hạ được 20 hoàng tử, đều đem thân về chốn Bồng Lãng, thoát khỏi bụi trần, sau không có người để mong kế truyền. Nghiệm đó thì cơ đồ họ Hùng đã đến lúc mạt, vận nước sắp đến hồi kết thúc. Lại như thần, vốn chỉ là con rể trong nước, mà nắm giữ đại quyền, không dám mà không một lần nhận mệnh cho bệ hạ được yên lòng. Đâu dám ở ngôi trời lâu dài mà chống lại thiên cơ. Thần xin Bệ hạ cầu người hiền mà nhường lại ngôi vị cho thuận với lòng trời, gỡ bỏ nỗi lo muôn năm vậy.
Bèn trả lại ngôi vị cho Duệ Vương mà nhận lời đó để lại cai quản đất nước, rồi đợi tìm người hiền nối vị. Thế rồi Tản Viên Sơn Thánh bái tạ từ biệt, khắp nơi dưới trời không đâu là không có dấu chân Thánh, cùng gió mây voi ngựa mà ngắm xem sông núi, sương móc xe kiệu mà lên xuống trời đất. Lúc thì đàn reo sáo múa, thi thư đối xướng với đất trời, nhạc phượng ca loan, tiếng hình là điều thú vị cõi Bồng Lai. Cỏ bồng dẫn lối, Ngũ hồ gió trăng, thuyền câu là dấu tiên, soi hình cảnh hội khói sương, xe mây vạn hình là bước chân, non xanh nước biếc quấn quít chưa đẫy càn khôn. Thánh Nam thần Bắc, ra vào chốn phong cảnh chín trời. Cứ mỗi năm đúng tháng ngày sóc ngày vọng cùng với những phiên đại lễ của triều đình thì Sơn Thánh hôm đó đều quay giá về triều, chưa lần vắng mặt. Tan chầu lại theo lối cũ ghé bước nhàn du. Cứ thế được hơn 10 năm thì bỏ hết được mối ràng buộc.
Đến đúng năm Mậu Thân ngày 15 tháng 1 bỗng thấy Thục chúa sai sứ giả tới đem theo một trặm hốt vàng cùng với một trăm thước gấm rồng, trước dâng lễ, sau đưa thư cầu tới Duệ Vương. Thư trong đó viết:
–    Bộ chủ Ai Lao, thần, Thục, khâm thừa mệnh trời làm chúa tể một phương, ngày trước dám ngông cuồng không theo đúng lễ làm thần mà dám xúc phạm bền trên, thật là đáng chết, mà quốc gia vẫn còn toàn vẹn, thực là ơn lớn của Thiên hoàng. Nay trộm nghĩ, thần vốn cũng là tông phái của nhà họ Hùng, đã khai cơ sáng nghiệp, nối dài công đức của tổ phụ mà có điều lành cho con cháu nước nhà được một bề phú quý to dày như vậy. Lại nghĩ, người có tổ, vật vốn có tông. Thần được nhiều ơn đức mà không báo đáp tổ phụ ở dưới cửu tuyền, không thỏa linh thiêng của miếu đền phi tử. Mỗi khi nghĩ đến thì lại càng thêm thâm cảm. Nên nay không sợ bị lời quở trách uy nghiêm, xin bề trên niệm tình trước đối với thần Thục đây, cho được kết hòa thân, phụng lễ chầu cống, để được thẫm đẫm ơn vua, sau là không phụ ý nguyện bình sinh của bậc con cháu này vậy.
Hôm ấy, Sơn Thánh đang đứng trong chính điện. Duệ Vương xem xong thư ấy nhân việc đó mà hỏi Sơn Thánh rằng:
–    Thục Vương vốn là tông phái của Tiền Hoàng đế. Trước vì ngông cuồng mà dám đến xâm chiếm nước ta. May mà ý trời còn cho cơ đồ họ Hùng chưa hết. Ngày nay Thục chúa lại xin được cầu hòa. Mong tướng quân xem kỹ rồi nói với Trẫm nên thế nào.
Sơn Thánh đến trước ngự tiền mà tâu riêng rằng:
–    Thục chúa đúng là tông phái của Tiền Hoàng đế, làm chúa tể một phương. Ngày trước muốn đến xâm lăng làm cho Bệ hạ phiền lòng, cũng là bởi trời khiến cơ đồ họ Hùng thứ 18 một phen điêu đứng. Bệ hạ không cần phải oán giận vậy. Ngày nay lại cầu hòa, tức là biết tiến biết lui. Thục chúa đúng là một vị hiền quân, nay biết kế ấy không bằng mở rộng lượng độ đồng ý cầu hòa thân. Đó là sự sáng sốt đem đến sự hòa thuận của Bệ hạ. Vả lại họ Hùng theo ý trời đã định, nhân việc cầu hòa này mà gọi tới nhường ngôi cho. Bệ hạ như thế sẽ là bậc thánh. Việc xong Bệ hạ cùng với thần có thuốc của thần tiên, chi bằng rong ruổi cõi trần, ba sinh nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, mãi cùng với trường xuân tuế nguyệt, lầu rồng gác phượng không dính bụi phàm. Trần gian non xanh nước biếc miên man thưởng ngoạn. Tốt thay Quân tử! Đó chẳng là vui sao? Thần và Bệ hạ đã rõ kế đó thì hãy quyết đoán. Việc không thể chần chừ.  
Thế là Duệ Vương nói:
–    Khanh nói phải thay. Trẫm theo như vậy.
Bèn sai sứ giả theo binh mã về triệu Thục chúa đến nhường ngôi cho. Thục chúa bái tạ. Duệ Vương nhân đó ban cho nỏ thần rồi quay về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh mong hóa sinh bất diệt. Một hôm Duệ Vương ngự bút làm thơ rằng:
Cỏ động tiên bồng đượm xuân xanh
Rêu phủ cung vua mới vẻ lành
Bởi ở thế gian nhiều sự vặt
Gió bụi với trời sao cố ganh.

Ngâm thơ xong Duệ Vương cùng với Sơn Thánh và công chúa Ngọc Hoa cùng giữa ban ngày mà bay lên trời đi vào cõi hóa sinh bất diệt.
Thục chúa nhận được nhường ngôi, cảm công đức ấy bèn đại giá đến núi Nghĩa Lĩnh, lập nên miếu điện để làm nơi quốc gia thờ phụng. Lại dựng 2 cột đá ở giữa núi, chỉ trời mà thề rằng:
–    Xin được nguyện ước trời xanh chứng giám cho tỏ tường. Thần tiểu tử tôi là Thục An Dương thu nhận cơ đồ họ Hùng, tiếp nối chính thống. Ơn sâu đức lớn sánh cùng trời đất. Nay lập miếu đường họ Hùng để làm nơi muôn vạn năm cúng thần, hương lửa không ngớt, phụng thờ như lễ. Giả sử các vua sau này kế vị mà bội ước nhạt thề thì núi sông trời đất sẽ chứng giám việc phụ lời thề này.
Chúc xong, Thục Vương quay về đô thành, ban chiếu cho các xã Nghĩa Lĩnh, Ma Xá, thôn Cổ Tích làm thôn dân trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Hùng Vương Sơn thánh, xem theo trong sự tích của Hùng Vương. 22 xóm của huyện Bất Bạt, Thủ Pháp, Lăng Sương làm dân thôn trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Sơn Thánh. Cùng với xã Trung Độ cùng huyện làm dân thủ lệ. Chính quán động Lăng Sương, ngoại quán xã Phí Xá, cùng với các ruộng thờ ở các phủ huyện xã sách động trang, cộng 2.700 mẫu để phụng thờ hương lửa cho các điện Thượng, Hạ, Trung, mãi trùm vạn thế. Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần thay vua đổi bá thì Tản Viên Sơn Thánh đều có phép thuật thần tiên. Lúc hoặc biến hiện ra chân thân, lúc hoặc cảm thông linh ứng. Hộ quốc an dân, có công với đời. Các triều đại đều chuẩn y các cung điện cùng với các xã trưởng tạo lệ, dân hộ nhi mà miễn việc binh thuế cùng các việc sai dịch, phụng thờ như trước. Cứ thế mà cùng với mạch nước để tiếng thơm truyền lưu vạn cổ. Tốt đẹp thay!

Chống Thục lần thứ nhất. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ.

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Chống Thục lần thứ nhất

Tản Viên Sơn nhìn từ quê hương của Tá Thánh

Khi Hùng Duệ Vương được 115 năm muốn truyền lại ngôi vị cho con rể Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Vương lại nói với Sơn Thánh rằng:
– Cơ đồ họ Hùng đã đến lúc cuối nên mới cầu tuyển rể hiền mà kế tục ngôi vị của Trẫm. Khanh lại không muốn nhận. Quốc gia này biết giao cho ai được?
Sơn Thánh nghe vậy còn do dự chưa quyết. Đến 5 năm sau vào năm Kỷ Mùi, Thục Vương (là chúa phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái của Hùng Vương) biết được là Duệ Vương tuổi thọ đã cao mà 20 hoàng tử đều theo nhau về cõi tiên, không có người lập trưởng, muốn nhường lại ngôi cho con rể Tản Viên. Thục mới ngầm khởi việc binh đao tự muốn đến tấn công mà chiếm lấy nước. Biên phương báo gấp. Vương bèn cùng với đình thần bàn bạc. Trong triều có Liêu Công bước lên bàn rằng:
– Bệ hạ vâng theo mệnh trời, vua tôi tướng sĩ đều yên ổn vô sự đã lâu ngày. Quân binh huấn luyện không tinh. Nay có can qua động tới, liên quan đến nhân dân xã tắc, tình thế không thể giữ được như nguyên thì sự linh thiêng của Thái tổ Thái tông trên trời không phải không bị phương hại bởi chúng ta. Vạn nhất xảy ra binh dữ chiến nguy, Thục khó mà phá được, tổ tông dân chúng biết trông vào đâu. Chi bằng nhân đây mà dùng mưu thận trọng, bí mật hối lộ tướng địch, gửi thư cho Thục Vương để xem ý có lui binh không, rồi mới tùy cơ hội về sau.
Vương nghe vậy đã muốn dùng kế ấy, bèn tìm triệu Tản Viên Sơn Thánh để hỏi. Sơn Thánh tâu rằng:
– Hơn hai ngàn năm đến nay, mười bảy đời thánh quân gây dựng, ơn sâu đức dày đến tận cốt tủy của nhân dân. Nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ ban cả ra nước ngoài. Còn quân Thục đã không tự giữ gìn lại dám nổi lên chống lại thì cơ thất bại đã nghiệm rõ. Nếu một ngày Bệ hạ nêu rõ tội ấy rồi dấy thảo phạt, lấy nghĩa mà phục thì dân ta sẽ đều theo Bệ hạ mà không theo giặc. Mối họa của quốc gia lo gì không dẹp được. Thần xin lĩnh 3 vạn hùng binh vượt ra chiến địa, một mình một xe sang đến đất Thục thì có thể bình định được.
Vương nghe vậy rất vui mừng, bèn ngay hôm đó trai giới lập đàn bày lễ, cúng tế trời đất bách thần, lấy nỏ thần linh chú trao cho Thánh mà rằng:
– Binh cơ quý ở thần tốc. Tướng quân dùng thứ này mà bắn thì sẽ được như có thần vậy.
Lại cùng vào tế cáo trong miếu. Vương đứng quay mặt về phía Bắc. Thánh quay mặt hướng Nam. Vương thân lấy cờ việt, cầm cán mà nói:
– Từ đây ra ngoài xa là do tướng quân nắm giữ cả.
Sơn Thánh bái tạ rồi quay về Lăng Sương làm lễ ở mộ thân mẫu. Khi ấy thuộc hạ tay chân người nhà ở động Lăng Sương theo Thánh hơn trăm người, làm thị vệ hai bên tả hữu. Còn sách Thủ Pháp, trại Đồng Luận, Ma Xá, Đan Thê cùng thần tử của các châu trang động sách hơn ba ngàn người làm quân của Tả Hữu Kiên Thần. Hôm ấy (tức ngày 15 tháng 5) tụ hội ở khu lăng quê nhà, mổ trâu khao quân sĩ. Rồi tiến về kinh thành, quân cả nước tới 3 vạn. Sơn Thánh lại bái tạ trước bệ rồng, lĩnh mệnh đường đường mà tiến. Sơn Thánh xuất quân, lại có thơ rằng:
Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ
Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ
Việc công vó ngựa bay trong gió
Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ
Ly biệt một lần chia cách núiRuổi rong ngàn dặm tựa như mơ
Kiếm cung từ cổ anh hùng sự
Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Lại nói, khi ấy quân Thục đã tiến đến châu Quỳnh Nhai (nay là đất phủ An Tây). Sơn Thánh tiến quân đến Mộc Châu, gõ chiêng lớn tiếng, kết trận đóng quân ở đó. Bèn gửi hịch cho các phiên thần lấy phiên binh ở các lộ, tùy nơi mà ứng chiến. Thế rồi Sơn Thánh lệnh sai 2 vạn hùng binh khiêu chiến, giả không thắng chạy lùi hơn 50 dặm, lại đánh trống reo hò khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền điều 30 vạn quân đến đuổi đánh. Quân Hùng giả vờ bỏ chạy, phục nấp ở hai bên núi Thiên Lũng. Thục tướng kéo đến Mộc Châu. Sơn Thánh mới ngồi một mình trên núi, tay cầm sách thần niệm chú mà ước. Bỗng từ trên trời giáng xuống một đại thần tướng, thân cao 5 trượng, chân đi giày lửa vạn nhận, đầu đội mũ trăm sao, tay cầm một chiếc tiêu gỗ dài 30 trượng, hình như vỏ ốc, đứng tại đầu núi ở mé bên trái Sơn Thánh (sau phong là Tả Thánh, cũng phụng thờ ở đền Tản Viên), thổi tiêu lên thì sấm rền gió giật, sương nổi mây bay, mù mịt vạn khoảnh, đổ cây bốc nhà, cát dâng đá chạy.
Quân Thục thua to chạy tán loạn. Sơn Thánh bèn đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn hơn trăm phát. Thế rồi quân mai phục bốn mặt vây lại, còn có thú hổ trăm vòng. Bắt giữ tất tật, một xe không lọt, một ngựa không thoát. Xong thần tướng tự nhiên bay lên không mà đi.
Sơn Thánh tức tốc dâng tấu báo chiến thắng. Vương bèn ban chiếu vời về. Sơn Thánh phụng mệnh quay cờ trở lại tận cửa cung bái tạ. Vương rất vui mừng, lập tức mở tiệc ăn mừng, phong làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần. Tả Hữu Kiên Thần được phong làm Cao Sơn Đại vương, Quý Minh Đại vương. Về sau các công thần dẹp giặc được gia phong các nơi có tích riêng. Kẻ sĩ đời sau có thơ rằng:
Đúng là thước kiếm xua giặc dữ
Liền ngay thành chiếm trả vua ta
Nghìn năm về trước, nghìn năm lại
Nước xứng là thần, đáng con nhà.

(Bản cũ còn viết rằng: Duệ Vương làm thơ thêm 4 câu trên:
Quả nhân chẳng liệu kẻ phương xa
Cử nghĩa lao phiền tướng quốc gia
Vạn dặm trống cờ dồn hết lực
Mịt mùng mưa gió gạt khăn qua.

Từ đây trở xuống bản cũ có nhiều sai khác, nhưng cứ viết đúng đến cuối để lưu giữ vậy).

Sơn Tinh – Thủy Tinh. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Sơn Tinh – Thủy Tinh

Tượng công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung ở Việt Trì

Lại kể, khi đó cơ đồ họ Hùng đến lúc mạt suy, quốc thế cáo chung. Duệ Vương ở ngôi sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt theo nhau về cõi tiên. Sau đó Đế xa giá đến núi Tam Đảo cầu tự, mộng thấy điềm rắn lớn, rồi sinh được 2 con gái, đều có đức tinh hiền, phong tư tuấn nhã như Tề Khương, Tống Nữ, có dáng vẻ cùng cả con vua cốt tiên. Một người tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung. Một người là công chúa Mị Nương Ngọc Hoa. Vua rất yêu quý. Công chúa Tiên Dung về sau gả cho Chử Đồng Tử (quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông An, phủ Khoái Châu xứ Sơn Nam, sau vợ chồng cùng bay lên trời giữa ban ngày mà hóa sinh bất diệt, để lại di tích riêng). Còn lại công chúa Mị Nương (tên húy Ngọc Mỹ), cung trăng đang khóa, nhụy ngọc hiện che, nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ. Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”, biển đề “Ngắm trăng cầu hiền”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi của Trẫm thì sẽ gả công chúa cho.
Ngày đó thuyền bè tấp nập bên sông, trước lầu nhộn nhịn xe ngựa. Bút văn múa mà hình rồng động, sao đẩu rơi, sông mưa lạnh. Trận võ bày mà hổ báo khiếp, tiếng sấm kinh, góc bể trào. Một mối nước nhà mà bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận là thơ Đào yêu, còn chưa thổi được đàn ngâm vậy. Người đời sau lấy đó mà có thơ làm chứng:
Trăng gió một trường giục động tâm
Bốn bề chật mắt thấy anh quần
Việt thành then khóa xuân nào biết
Ai người sẽ mở, ai người cầm?

Lại nói lúc đó có Tản Viên Sơn Tinh (tức là Nguyễn Tuấn Công, hiệu là Thần Vương) với Động Đình Thủy Tinh hai người là bạn học cùng nhau, có nhiều phép thuật thông thiên mà chưa đến ứng tuyển. Hôm sau Sơn Tinh gửi lời đến Thủy Tinh rằng:
– Người xưa nói giai nhân khó được, nam tử đã khó gặp, huống chi lại là việc cưới công chúa làm vợ. Tôi với anh âm dương hai đường khác biệt, mà lại có cùng tình bạn học. Ngày này ở dương thế cung vua đang thật là bậc khuynh thành như trướng Đường buồng Ngu, chưa chọn được ngưới xứng tuyển. Chúng ta chẳng quản ở xa mà tới, để cầu lấy duyên này. Ngoài chúng ta ra thì còn ai xứng nữa.
Thủy Tinh từ khi được tình ý đó, ngay hôm ấy sửa sang quần áo, tu tập quan quân, lập tức đến núi Tản Viên. Sơn Tinh gặp đón đủ lễ khách. Việc xong thì Sơn Tinh với Thủy Tinh cùng đến kinh thành, cung kính trước ngự tiền tâu rằng:
– Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy.
Vương rất vui mừng, bèn rời xa giá đến sông Bạch Hạc để thi tài. Sơn Tinh đến đứng ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước. Phút chốc bỗng thấy giữa sông mây mưa, mặt nước sóng dồn, ngã ba sông tràn nước, tiếng sấm nổi đến làm kình côn lạc phách, cuồng phong vạn dặm thổi tung, sóng dựng kinh hồn rùa cá. Trùng trùng trắng đỏ, gieo khắp cõi trần. Xúm xít xanh vàng, mịt mờ trời đất. Thiên hình vạn trạng, quỷ xuất thần chìm, biến hóa u minh. Hễ trông thấy đó là run tim mất mật.
Sơn Tinh ở nơi ấy tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ vào. Tức thì mọi thứ kỳ lạ đều theo đầu trượng mà quét sạch. Bỗng lại có núi Ngũ nhạc di đến ở giữa sông, cao ngàn vạn trượng, đứng sừng sững giữa trời đất. Thú chạy đến chầu, chim bay cùng họp.
Thủy Tinh ở giữa sông lại gọi sóng to gió dữ. Vạn vật mất hình tiêu biến trong nước. Biến biến hóa hóa. Phép đều cùng là huyền diệu.
Vua không biết phải gả công chúa cho người nào. Ngày hôm đó mới xa giá về cung, cử sứ giả gọi hai người lại nói rằng:
– Trẫm chí có một viên ngọc Lam Điền, trước giờ chưa chọn được ai để kết đôi. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, không biết phân định thế nào. Vậy ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm sẽ gả công chúa cho người đó.
Thế là Thủy Tinh về cung Động Đình để cầu tìm vật lạ (nguyên là sách ước đã đem cho Sơn Tinh). Sơn Tinh ra ngay dưới lầu, lấy trong tay áo ra cuốn sách thần, đọc chúc với trời mà ước được đồ sính lễ. Bỗng thấy, voi trắng chín ngà, kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Sơn Thinh thu lấy đó, ban đêm vào giữa giờ Tý đem sính lễ vào đến lầu rồng. Vương bèn gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh. Trong hôm ấy đón về ra khỏi cổng thành. Sơn Tinh lấy gậy chỉ lên trên trời, tay cầm sách ước mở ra mà cầu chúc. Bỗng thấy mây bay năm sắc, rồng vàng, phượng đỏ, lân, rùa hạ thẳng tới đón giá. Cùng với mãnh hổ bách thú bầy hơn vài ngàn con đến chầu sau giá, cùng hội rước về động núi Tản Viên. Vua ở đó thấy mà kinh động.
Đến giờ Mão Vua thấy Thủy Tinh mới đem lễ tới. Binh cá rùa rắn ngoài ngàn con cùng đến. Vua nói:
– Trẫm như đã hẹn. Sơn Tinh đã đem sính lễ đến.
Thủy Tinh ân hận mới về thủy cung, tấu lên triều đình xin dẫn quân đánh Sơn Tinh.
Bản cũ còn thêm một đoạn nên soạn chép ở đây:
Cùng ngày Thủy Tinh chỉnh đốn quân nhu, tụ họp thủy tộc, bày trận ngàn hàng côn sấu, lập binh vạn đội kình nghê, thuyền rồng dốc tiến ra giữa sông, trống rùa gõ vang rung đáy nước, hàng hàng thẳng tiến. Đi được nửa đường thì Sơn Tinh nghe tin, bèn cùng với Duệ Vương giăng lưới võng sắt ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm để ngăn quân thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mở ngang một dải sông nhỏ từ Lị Nhân đến vùng chân núi Quảng Oai, kéo lên bờ trên của cửa sông Hát mà ra sông Cái, vào sông Đà để tập kích núi Tản Viên ở mặt sau. Lại mở một con sông ngang nhỏ gọi là sông Bờ, tấn công núi Tản Viên ở hướng mặt trước. Vì thế Sơn Tinh mới dùng phép thần biến hóa, liền gọi người trong núi lại, lấy tre đan thành rào chắn ở trên núi. Lại bảo cho dân rằng:
–    Các ngươi nếu thấy quân địch tấn công dưới nước ở trước rào thì đều bắn và chém đi.
Nhân dân tin theo lời đó. Trong khoảnh khắc thủy tộc tiến quân đến đánh. Nhân dân cùng nhau chém chết rất nhiều. Khi ấy các loài kình nghê côn miết chết đều dạt vào bên sông. Thủy Tinh căm phẫn oán hận.

Từ đó mỗi năm đến tháng bảy tháng tám Sơn Tinh và Thủy Tinh lại giao chiến ở núi Tản Viên. Nhân dân sống gần nơi đó bị mưa gió lũ lụt gây hại rất nhiều (những nơi mà Sơn Tinh cùng Thủy Tinh giao chiến các trận, người dân địa phương sau lập thành miếu phụng thờ, nên còn có các di tích riêng để lại).
Bản cũ còn thêm một đoạn có cùng phần đầu như đã ghi:
Nguyên là Sơn Tinh được quyển sách thần, có bí thuật phép tiên, nên quân thủy tộc không thể gây hại. Người bấy giờ có thơ rằng:   
Tương tranh sự đó Thủy – Sơn thần
Muốn viết thơ này để hậu nhân
Bể ái gương treo đôi mắt gửi
Ham tình động sóng giữa thu phân
Sách ước đủ rồi đền nợ trước?
Má hồng sao chịu ganh phu quân
Trường Sa ngày ấy mà không gặp
Còn Sắc hay Không, Thủy Tinh thần?
Lại nói khi ấy Duệ Vương hưởng quốc
(Bản cũ còn thêm một đoạn là: bốn biển thanh bình. Con vua cháu ông đều đã rời xa. Núi sông Thần Phù, Yên Tử cao thấp trời rạng mây bay. Trăng náu Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc. Hoặc lúc dạo sông Tiểu Hoành ngoạn xem thú vui đánh cá, đi đến các nơi Cổ Đằng, Tam Vật Lại của huyện Ma Nghĩa, nhìn ngắm núi sông thanh tú, lập làm hành cung, nay là cung điện Trung Chấn cung. Lại đi qua 8 xã Thụy Phiêu, Tam Sơn, Lễ Tuyền, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, lập lại Nam Chấn cung ở cửa 12 khe nước của Bể Cạn. Lại thường đi săn đến xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung điện Mang Sơn, rồi để lại ruộng thờ 72 mẫu ở xã An Diệu. Còn 200 mẫu nay ở xã Đông Triều, nay là dân tạo lệ cho cung ấy mà hậu thế phụng thờ hương lửa.
Lại quay về động cũ nơi núi Tản Viên, mà xem đất ấy ba ngọn chót vót vạn nhận cao thay, đẹp đẽ sáng lặng, không thể tả được. Chỗ thôn Cốc người ở đông đúc, phong tục thuần hậu, rất lấy làm yêu mến, bèn thiết lập một cung điện ở trên đỉnh núi thuộc đất 22 xóm của Thủ Pháp, nay là Thượng Chấn cung, tọa Cấn hướng Khôn, làm chính điện. Trung Hạ Chấn cung là nơi cầu đảo. Đông Chấn cung là nơi tề tựu bái yết. Nam Chấn cung là nơi nghỉ ngơi. Từ đó khâm phụng mệnh Hoàng thượng, thường cùng với Tứ phủ hội đồng non biển đi xem xét vạn sự trong nhân gian
).
 

Trống đá ở chùa Hoa Lonng bên bến Việt Trì

Chúc thư Ma Thị Cao Sơn Thần nữ. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Chúc thư Ma Thị Cao Sơn Thần nữ

Đền Trung Tản Viên

Lại nói Thần Vương trở về động Lăng Sương, dùng gậy đọc chú mà cầu, giở sách thần mà ước, tự nhiên hóa thành đài các đủ muôn vạn vật, đến làm lễ ở lăng mộ thân mẫu và tổ tiên. Thần Vương lại về núi thiêng Ngọc Tản, nói với Lão bà rằng:
– Từ thủa nhỏ con đã ở cùng với mẹ. Công đức của mẹ cao như trời vậy. Mẹ sinh mười tháng mang thai, công đức như núi Thái sông Hoàng. Mẹ nuôi ơn sâu đức dày, đều cùng là tấm lòng đức lớn. Sao có thể quên được tình cảm đó. Ngày nay con về đây xin nguyện thần vận quỷ dẫn cho một chút để báo đáp công đức ấy.
Bèn lấy sách thần mà ngầm cầu trời đất, đọc ước mọi bề. Tự nhiên chốc lát nổi một trận mây bay mưa rơi, sấm đuổi gió xua, khắp trời nổi sấm đùng đùng, mưa rơi như châu ngọc trên mặt đất. Cho tới nửa canh giờ sau thấy tiền đồng khoảng trăm vạn quan. Thần Vương lấy đó mang vào dâng tạ ơn mẹ nuôi. Ma Thái bà thấy tấm lòng thành thật đó, thầm mong vạn sự được đủ đầy, bèn lấy những vật rừng núi của mình đem trao cho Thần Vương lưu giữ để sau khi trăm tuổi có nơi thờ phụng hưởng thần. Nên bèn lập một đạo chúc thư để lưu mãi ngàn vạn đời nơi quản giữ miếu đường hương lửa.
Chúc thư này viết rằng:
Nước Văn Lang, xứ Hưng Hóa phủ Gia Hưng huyện Thanh Xuyên sách Thủ Pháp, thôn Mang Bồi xóm Cốc, thần nữ Ma Thị Cao Sơn, tên húy là Bạch, lập chúc thư. Sự là tôi nguyên sống ở động này, núi sông ruộng vườn, khe ngòi miếu mạo, cỏ cây rừng rú từ trước tới nay đều là của tôi. Song lại nghĩ, mình sau khi trăm tuổi, thân về chốn Bồng Lai, việc hương lửa xuân thu không ai phó thác, không biết lấy ai phụng thờ gia đường. Đương lúc năm Quý Dậu, tôi có người con nuôi quê ở huyện nhà Lăng Sương tên là Nguyễn Tuấn, từ nhỏ đã cùng chung sống, coi như con đẻ. Ma Thị tôi tuổi đã ngoài 90, chỉ sợ mệnh trời chưa biết sớm hay chiều nên mới kê khai các vật, nhất nhất ghi rõ trong chúc thư, giao cho con nuôi gìn giữ, lưu truyền vạn đời không đổi, để phụng thờ hương lửa. Sự người thường xem trong các luật điển xưa nay mà lập một đạo chúc thư, để lại toan tính ấy cho người đời sau mà tuân theo. Núi sông ruộng đất, khe ngòi miếu mạo mà tôi có, cao rộng bao nhiêu trượng thước tấc đều kê khai sau đây, để căn chiếu vào đó mà sử dụng. Kê:
– Núi thiêng Ngọc Tản Thứu Lĩnh ở sách Thủ Pháp, dân thôn các xứ cộng là 22 xóm. Đỉnh núi Ngọc cao 112.300 trượng, chu vi cộng 10.000, dài 10.680 trượng. Cùng các khe ngòi gồm 6 đoạn, cộng là 12.300 trượng.
– Một đoạn từ thượng điện trên đỉnh núi đến hạ điện là khe Lăng Cốc, cửa cuối ngòi Bùi (trước đây là nơi ở của Ma Thị, nhân đó gọi là Bùi Nương) ra tới sông lớn dài một vạn trượng.
– Một đoạn trên từ đỉnh núi Mũi Miêu, tục gọi là ngòi Bô, cửa đổ tới bờ sông dài ba trăm trượng.
– Một đoạn từ Ba Dương, thường gọi là ngòi Lông, tới bờ sông dài năm trăm trượng.
– Một đường dài ngàn dặm từ trang Cẩm Đới xứ Hàm Rồng dài tám ngàn năm trăm trượng.
Đông giáp hai huyện Ma Nghĩa
(sau đổi là Minh Nghĩa), Thạch Thất. Nam giáp hai huyện Mỹ Lương, Phúc Lộc. Tây giáp huyện Thanh Xuyên. Bắc giáp huyện Bất Bạt. Mặt tiền ở hướng chính Tây, tọa Cấn hướng Khôn.
Lại có Đại Giang – Tả Kiên Thần
(tức là cháu của bà Ma Thị, cũng có tên tích riêng), Ma Lãng Sơn – Hữu Kiên Thần (cũng là cháu của bà Ma Thị), Non Sơn Tây Nam Kỹ Động Thần – Trấn Đồng Long Đại Vương, Tây Bắc Hậu Phi Cung – Bạch Y Thần Nữ Đại Vương (cũng đều có các tích riêng).
Cùng với ruộng đất tế tự cộng là 270 mẫu 4 sào 1 thước 1 tấc
(các nơi thờ này cùng với ruộng thờ đều có tên bộ hạn mức riêng), từ sông Đà cho tới sông Bình, lấy ngã ba làm mốc giới, bốn mặt Đông Tây y như ruộng đất trong chúc văn đã lập.
Hùng Duệ Vương năm thứ mười tám ngày 18 tháng 2 lập chúc thư.
Ma Thị Cao Sơn thần nữ đã ký.

Lập chúc thư xong, Thần Vương bái tạ, rồi với mẹ nuôi Ma Thị cùng sống. Được một năm Ma Thị mắc bệnh mới gọi Thần Vương lại mà dặn lại rằng:
–    Sau khi mẹ Ma Thị mất, Vương nên lập một cỗ thọ đường đặt ở miếu đường phụng thờ cho tỏ đạo hiếu.
Thần Vương dập đầu lĩnh mệnh. Hôm ấy bà Ma Thị mất. Thần Vương bày lễ chôn cất, thiết lập miếu đường, lại đặt cỗ thọ đường ở bên trái miếu đường, bốn mùa phụng sự hương lửa như phép tắc, tới nay vẫn còn. Về sau có người  kẻ sĩ khen rằng:
Cơ đồ tạo dựng
Nghiệp đế lâu dài
Mười tám đời dằng dặc
Bao ngàn năm qua lâu
Bấy giờ có Thánh Tản
Chăm Ma Thị mẹ nuôi
Lão bà lâm mệnh mất
Truyền lại bức di thư
Lập miếu thiêng trên núi
Bên trái đặt thọ đường
Nhà cửa đều giao lại
Đạo hiếu cho vạn toàn
Anh hùng trăm đời mãi
Núi sông gom một trời
Đáng yêu thay, thần tiên vạn cổ
Lạ kỳ thay, mẹ con một nhà.

Lăng mộ đó táng ở núi cạn Vực Nham sách Phương Giao, huyện Thanh Xuyên, tới nay hiện vẫn còn.
Lại kể rằng từ sau khi an táng bà Ma Thị, Thần Vương lại trở về nơi động Lăng Sương cùng với Tả Hữu Kiên Thần (Tả Hữu Kiên Thần là cháu chắt của bà Ma Thị) xem như anh em cùng một bọc, phù tá hai vai, không chút sao nhãng giao tình. Khi ấy Thần Vương về nhà ở động Lăng Sương, đi qua một dải sông Đà, đến chợ Lăng Sương xem xét quê ngoại tổ tiên, cảm đức lớn của tiên tổ cùng với ơn sâu của thân mẹ, ngày hôm đó (ngày 12 tháng 1 bắt đầu cho tới ngày 25) bèn truyền nhân dân thiết lập 2 bệ cùng với 2 cột đồng ở tại nơi (đất ấy có dòng suối nhỏ sông Đà phía sau, lại có núi như hình rồng, voi, rùa trùng trùng điệp điệp, hai vai đỡ trái phải phía sau, cùng là nơi cao chân thoáng, tới đất bằng giữa chợ là lăng, trái phải hai bên đối nhau, mặt trước nhìn ra núi Tản Viên, có sông Đà làm nội minh đường như vậy) lăng (tức mộ tổ của Đinh Công và Nguyễn Công – chồng của Thái bà trước đây) mà tuyên biểu công đức của gia tiên, lập làm gốc cho phong hóa, vạn cổ lưu truyền làm kỷ cương. Việc xây sửa đất quê gia phần hoàn thành thì tới ngày giỗ (tức ngày 5 tháng 2), lại rước bài vị của mẹ cùng đến nơi cột đồng làm lế tế. Việc xong Công trở về cung sở, làm lễ tạ ở lăng của thân mẫu. Từ đó các châu động trang sách đều là thần tử (về sau nhân dân các nơi phụng thờ Thánh đều lấy đất này làm nơi riêng thờ bên ngoài). Hàng ngày đi ngắm cảnh săn bắn. Lúc lúc hứng khởi đàn ngâm. Hoặc luyện thuốc trường sinh (đất trang Đan Vân, sau cải là đất trại Túc Luận xã Đa Vân, chính là nơi Thần Vương luyện thuốc, nhân đó gọi là Đan Vân, cũng là đất của Thần Vương), đi du ngoạm non xanh nước biếc, hoặc dạo nơi Bồng Lai Đảo Lĩnh, hoặc quay về bay lên núi thiêng Tản Lĩnh, biến hóa vô cùng, thật là bậc thánh trên đời vậy.

Gậy thần sách ước. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Hạ

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Hạ
Gậy thần sách ước

Tượng đá cổ ở đền Thượng Tản Viên

Khi đó Tùng Công còn đang lên núi Tản hái củi đem về bán mà nuôi mẹ, nên không có ở nhà. Những người trong động thấy việc như vậy bèn cùng ra nơi ấy (tức là bên góc ruộng nơi nhà Thái bà ở) mà làm lễ. Lúc ấy Tùng Công mới trở về đến nơi, thấy Thái bà còn đang nằm ở nơi đó, gió mưa mù mịt, nổi vù vù bốn mặt tựa như sấm vậy. Tùng Công cùng với người trong động khi đang tìm nơi làm lễ táng thì thấy mối đùn thành mộ (chính ở tại nơi góc ruộng có miệng giếng, có bàn thạch chính nơi dựng nhà, trước đây là chỗ sinh Tùng Công).
Lại kể rằng Tùng Công từ khi Thái bà tạ thế trong trăm ngày đều ở đó, nhà cửa cùng quẫn, tứ cố vô thân, sống trong căn nhà nhỏ ở chỗ xa xôi. Một hôm gần tối, thấy một lão bà từ bên ngoài đi vào, không biết từ đâu tới, là người rất kỳ lạ, đứng ở trước sân mà rằng:
Người con côi! Người con côi!
Quân tử vốn khó khăn
Hồng nhan nhiều gian nan
Con hiếu sẽ được yên
Muốn lập thân thành nên
Hãy về với mẹ nuôi
Dựa vào núi Tản thiêng.

Lời dứt thì biến mất. Tùng Công biết là mẫu thân dạy vậy, bèn làm một lễ nhỏ, cẩn thận đặt trước mộ nhà rồi đi. Sau cùng về với lão bà Ma Thị mà ở.
Đến một hôm lên núi Tản Linh chặt một cây to cành lớn. Trong hôm đó về báo cho người trong động (tức động Mang Bồi) cùng lên chặt gỗ. Nhưng mà ngày hôm sau đến nơi, thì thấy cây gỗ cành lá vẫn xuân xanh, tươi tốt như nguyên. Nguyễn Tùng lấy đó làm sự lạ thường, bèn lại một lần nữa chặt cây, rồi giả như đi về, quay lai nơi ấy để xem ra sao. Đến ban đêm thấy một ông lão thần cao hơn một trượng, râu tóc bạc phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt khăn đỏ, chân đi giày mây, tay phải cầm một cây gậy trúc, thong dong bước đi như hoa gấm đùa phượng, bút ngọc vờn rồng, nếu không là nơi Vườn Kỳ thì cũng thành vật lạ chốn Lãng Uyển. Theo sau có một hề đồng cầm một cái chuông đồng, lắc liền ba hồi. Lão ông miệng niệm thần chú, dùng gậy mà chỉ. Bỗng thấy vụt kéo tới một trận sấm gió bồng bột, sắc mây đê mê. Tinh thần hội đồng nơi đỉnh núi biến loạn. Mắt mày trời đất chao đảo quay cuồng. Cái cây lớn hồi sinh.
Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng bèn đứng dậy chạy lại nơi cây cổ thụ, hai tay ôm lấy ông lão mà hỏi rằng:
– Ông lão từ đâu đến đây? Từ đâu đến đây? Tên cụ là gì? Sao vì thương xót một cành cây già mà phụ nỗi mong mỏi của người dân đói lạnh?
Ông lão rằng:
– Ta là đại thần tinh núi, tên gọi Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng xuống trông giữ vùng núi non. Nay cái cây này là cây ngô đồng quý, giúp thánh ra đời, lầu phượng dựng nên, chính là trời sinh mộc chủ trong núi Ngọc Tản, không thể chặt được. Trái lại, ta phải giúp giữ cây này để cầu cho non sông vững mạnh, đất nước bền lâu, vua trị được thấy có ngày thái bình vậy.
Nguyễn Tùng chắp tay vái mà nói:
– Lời nói của thiên tướng đã làm sáng tỏ lòng mong mỏi một bề. Lại bàn bụi trần khói bay, kiếp người phù du, có có không không, sinh sinh hóa hóa, cơ diệu khó đoán, sự biến khôn lường. Cả trời đất đều chung lý ấy. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu việc sinh tử người đời, để báo ân sâu cha mẹ, sau là có thể cầu được phúc vậy. Khỏi phải đi kiếm củi nuôi mẹ nữa.
Ông lão nghe lời nói biết là bậc đại hiếu, không phải dạng người thường, bèn lấy gậy thiêng cùng thần chú giao cho. Lại nói rằng:
– Một đầu gậy có thể cứu sống người. Đầu dưới có thể trừ diệt hại. Chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn, phép thật linh nghiệm, cơ thật diệu huyền. Nếu chỉ trời thì khắc mây bay mưa tạnh, chiếu tận cửu trùng. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Nói xong bay lên không mà đi. Nguyễn Tùng từ khi được gậy và chú, vui mừng liền trở lại núi Tản Linh, bái tạ mẹ nuôi mà nói rằng:
– Con nay có được gậy thiêng của thiên thần, có thể cứu rõ được sinh tử thế gian.
Việc xong thì về động cũ Lăng Sương, nhân từ đó xưng là Thần Vương. Mọi người trong động (tức là động Lăng Sương) đều kính phục. Tùng Công sửa sang lại nhà cửa lăng mộ, làm lễ bái yết các tiền nhân, nhờ thác nhân dân lo việc hương đèn. Mọi người đều làm lễ nhận việc đó (hôm đó là ngày 4 tháng 4).
Xong việc Thần Vương (tức Tùng Công) cùng ngày lên đường. Đi qua chỗ đất sách Thủ Pháp (thôn Cốc). Sách Thủ Pháp hay có nạn voi hổ hại, nhân dân rất khổ sở. Thần Vương đến nơi đất ấy, bỗng thấy một đám voi hổ hơn trăm con đang ngậm ba bốn người của sách Thủ Pháp. Lối về bị chắn mất bởi đàn trăm con thú chạy qua lại. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì hổ Bắc voi Nam, cùng bỏ người ở nơi đất đầu gậy mà chạy mất. Thần Vương lại chỉ gậy ở đầu sinh. Những người đó đều sống lại. Nhân dân nơi ấy (tức sách Thủ Pháp) đều thấy việc lạ ấy, ngay hôm đó (ngày 5 tháng 5) cùng đến làm lễ bái hạ, xin làm thần tử. Thần Vương đồng ý. Từ đó voi hổ không dám xâm phạm, nhân dân đều được yên ổn nơi ruộng vườn đó. Thần Vương lại đi tiếp đến bên bờ sông, nhìn thấy sông lớn một màu, sương mù bay phủ mờ mịt. Bến sông không một chiếc thuyền. Thần Vương lấy gậy chỉ vào, tức thì nước rẽ mở thông suốt thành một con đường, đi qua đó như đi trên đất bằng vậy.
Vương đi đến trang Ma Xá châu Trung Độ (còn gọi là Trường Sa). Trên đường bỗng thấy đám trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen rồi cùng đem mà reo đùa. Thần Vương thấy vậy động lòng thương xót muốn cứu, bèn nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
– Các ngươi sao lại đùa nghịch như vậy. Nay hãy bán lại con rắn này cho ta.
Lũ trẻ chăn trâu cười mà bằng lòng. Thần Vương lấy 36 văn tiền để mua, đem đến phía trên bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú, dùng gậy thiêng chỉ vào. Tức thì như mộng mị chạy dẫn ở đầu gậy, con rắn sống lại. Rắn đen dập đầu bái tạ Thần Vương, trên đầu rắn có chữ Vương. Thần Vương đứng đó xem thì thấy rắn đen trở đi, giữa sông tách thành đường nước, mới biết đó là con của Long Vương (khi đó người ở Ma Xá thấy sự lạ đó đều đến làm lễ bái, xin làm thần tử).
Từ đó Thần Vương lại trở về nhà ở động Lăng Sương (tức là nhà và lăng của mẹ đẻ). Rắn đen trở về đến Động Đình, đem sự việc tâu lên. Đế Quân cảm công đức ấy bèn sai Thái tử (tức là con rắn đen) cùng với đô đốc Giao long đến đón Thần Vương ở động. Thần Vương tạ từ mẹ nuôi Ma Thị rồi theo sứ giả mà đến Thủy cung. Đi qua tường gấm cửa son, thấy gác ngọc lầu châu trùng trùng điệp điệp, tướng côn ngao ba ba lớp lớp hàng hàng, cùng với quân binh tôm, cá, rùa vây quanh hai bên. Đế Quân ngồi ngự ở chính giữa, mời Thần Sư đến ngồi ở long sàng bên phải, phán rằng:
– Gót rồng Đông Cung chính là Thái tử của Trẫm. Hôm trước đi dạo ở Tùng đài Linh điện, chẳng may gặp biến ở châu Trường Sa, may nhờ Ngài cứu khỏi, thật là ơn lớn. Hôm nay mời đến là muốn báo đáp tấm lòng ấy.
Thần Vương tâu rằng:
– Thủy phủ dương gian hai đường khác biệt. Cốt rồng sâu rộng, đâu chạm đến thổ địa. Nhà tôi vốn làm việc thiện đạo âm thầm, lại được thần phép. Buổi trước cũng có đi dạo mà cứu được sự biến, đó là bởi ở lòng người. Đâu ngờ hôm nay được gần dung nghi sáng rỡ. Không dám mong báo đáp vậy.
Cùng ngày khắp trong cung mở tiệc hội lớn, bày trải chiếu hoa rồng, thắp sáng bởi đèn dầu phượng, bình hương trướng ngọc, vàng bạc mã não, kỳ trân dị vật, đều là những thứ trên trần thế không có được. Tất cả bày ra la liệt trước mắt đều là cỗ ngọc đồ ngon. Đế Quân tự tay rót rượu mời. Thần Vương phục tâu rằng:
– Tôi thường vẫn mong gặp được những nơi kỳ khoáng. Nay may mắn đi xa vượt sóng mà tới được cảnh đây. Bình sinh chưa từng mơ thấy sự vui như vậy. Đâu dám không uống rượu cho say hết mình.
Tiệc xong, Đế Quân cảm tạ bằng vàng bạc châu báu. Thần Vương cố từ chối không nhận. Thái tử mới nói riêng rằng:
– Nay đã thấy mặt rồng, đúng là cơ hội ngàn năm có một. Công đức của Thần Sư như biển kình núi ngao, tiền tài đều nhẹ như lông hồng, báo đáp bao nhiêu cũng không đủ được công đức ấy. Nay Đế Quân có một quyển sách thần, truyền đủ phép lạ, nguyên gốc thông đất thấu trời đều ở trong cuốn sách thần ấy. Nếu Thần Sư muốn cầu, tôi sẽ tâu riêng với Đế Quân để xin cho được.
Thần Vương nói: Được. Thế là Thái tử tâu lên. Đế Quân cảm công đức của Thần Vương, liền mới lấy cuốn sách ấy ban cho. Thần Vương xem kỹ sách đó, rồi từ biệt. Long Quân sai Thái tử cùng dẫn quân tiễn tới tận bãi sông mới quay lại. Đời sau có người làm thơ khen làm chứng:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Tiền Thánh mẫu. Ngọc phả cổ về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu triều Hùng Việt Thường Thị, bộ Trung

Bản ngọc phả được sao trong bản khai của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ năm 1938. Bản ngọc phả này được chép là tổng hợp các bộ phả gồm: bộ Thượng về thời Hùng Vương, bộ Trung về Tiền Thánh mẫu, bộ Hạ về sự tích Sơn Thánh.

Bộ Trung

Hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và trong nhà

Lại kể rằng triều Kinh truyền 18 nhánh tới Duệ Vương, ngự ở đô thành Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Duệ Vương có tư chất thánh triết anh hùng, nối thừa sự nghiệp khai mở của tổ tông, vun đắp của các thế hệ, cơ đồ thịnh trị 17 đời, trong luyện võ lược, ngoài giữ biên phương, cố gắng hưng bình cho yên Trung Quốc, theo gương trị vì của các đời vua trước, khâm sùng đạo trời, kính sự quỷ thần, trời giáng điềm lành cùng với quốc gia. Người đời đều gọi là vị vua hiền vậy.
Trong thời của Duệ Vương ở động Thuận Bình, phủ Triệu Châu, xứ Thuận Hóa có một nhà trưởng bộ, họ Đinh tên Bích, Lấy vợ ở trang Hạ, xã Cao Quần, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, xứ Sơn Nam, họ Dương tên Hằng. Vợ chồng kết tóc, cầm sắt thanh hòa. Ngày tháng đi qua, Trưởng ông tuổi ngoài 50, Thái bà đã hơn 40 mà chưa thấy lan quế trước nhà nhập mộng. Trưởng ông vốn có đức hậu lòng nhân, trọng nghĩa khinh tài, rộng thí giúp người, không hề có chút hại người, tham tưởng vật lợi, tâm sáng cho việc cứu nhân, không gì là không có ý giúp đỡ, điều thanh kỳ thực là bậc chân thế hiền nhân, bản tính là người trong giới tuấn kiệt. Thái bà lại có lòng nhân ái, kính thuận khiêm tốn, ăn ở ôn hòa mà có đủ tứ đức, phong cách kính yên như Nam Giản, nhất nhất theo nhà họ Đinh, nối tiếp nét đẹp bóng tốt Cam Đường, đúng như Hằng Nga trên mặt trăng, thực là bậc nữ trung Nghiêu Thuấn.
Lại nói tới việc ngọc sứ, lan quế khi đó còn chưa thấy sinh. Một hôm Trưởng ông nói với Thái bà rằng:
– Vợ chồng chúng ta, tuổi nay đã cao, giọt sành chưa ứng, chưa động lòng trời thì không đạt được việc người, hẳn là còn thiếu. Chi bằng lúc này cố tìm đền thiêng mà trai giới thành tâm, làm lễ cầu đảo các thần kỳ tinh túy, núi sông trời đất, may thì có thể được ban rủ phúc lớn.
Dứt lời liền chuẩn bị lễ vật, hai vợ chồng cùng lên chùa Tây Thiên núi Tam Đảo, dâng hương cầu nguyện, cầu đảo mong được điềm lành giáng ứng, mong thấm ơn ban, vạn nhờ trời đất thần phật giúp cho được vậy. Khấn chúc xong thì mặt trời đã khuất sau núi, trời trở tối. Bèn lưu nằm tại đó để cầu ứng mộng. Đến cuối canh ba, Thái bà mơ màng như mộng, bỗng thấy trong chùa mây khói từ trên trời cao giáng xuống, bao phủ mù mịt. Trong chùa thấy một ông lão râu tóc bạch phơ, mình mặc áo xanh, đầu đội mũ trăm sao sáng láng, chân đi giày hình rùa tỏa sáng vạn nhẫn, tướng mạo đường đường, thầm oai lẫm liệt, tay cầm một cây gậy ngọc. Theo sao có 5-6 tiểu đồng mang đàn, sách, quạt lông cùng với một bầu rượu, tiến thẳng vào trong chùa, nói với Thái bà rằng:
– Hãy nghe mệnh! Thiên Đế lệnh cho ta đến. Vợ chồng bà quả là những người có lòng tốt. Hoàng Thiên đã thấy, xem xét cơ duyên, mới lệnh cho ta đem một viên ngọc trắng giao xuống.
Lão ông ném cho Thái bà, lại ngâm tụng rằng:
Trời cao có nẻo chiếu nhân gian
Có phúc đều do phúc báo hoàn
Ngọc báu nay ban cho đến chỗ
Đảo Sơn, Tản Lĩnh đối cùng ngang.

Ngâm xong lão ông bay lên trời cùng các đồng tử biến mất. Thái bà cầm ngọc cất vào trong bụng. Bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mộng. Bèn đem việc này kể lại với Trưởng ông. Sau khi dập đầu bái tạ trước điện Phật, vợ chồng quay về. Mới được trăm ngày, một hôm, đang khi giữa giờ Ngọ, bỗng thấy một con chim lạ lông cánh năm sắc, chân mỏ màu đỏ, từ trên trời hạ xuống, bay thẳng vào trong nhà, đậu ở trên nóc. Xung quanh phòng trong nhà trong chốc lát đều sáng bừng lên vậy. Thái bà thấy vậy tự nhiên chuyển ý mà hoài thai. Tới ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Sửu vào buổi tối cuối canh năm Thái bà đang ngủ bỗng thấy một đám mây hồng từ trên trời hạ thẳng xuống trước sân. Thái bà nhìn ra xem thì thấy trong đường mây có một người con gái rất đẹp, áo xiêm sáng lạn, cân đai huy hoàng, cưỡi trên xe mây, hai bên trái phải là quạt gấm, cùng với các thanh đồng, trinh nữ hơn mười người, cùng theo hai bên. Tiếng đàn sáo Tiêu Thiều, Nhã Nhạc vang lên. Từ từ mà hạ xuống trước sân, đi thẳng vào trong nhà. Thái bà cất hỏi thì bỗng nhiên tỉnh dậy thấy trời đã sáng.
Tới ngày mồng 7 đến lúc đầy kỳ sinh hạ một người con gái, phong tư đẹp lạ, cốt cách thanh kỳ, môi như hoa hợp dạ, sắc tựa vẻ phù dung, nét mặt như gương ngọc bình bạc, má hồng như lầu châu tường họa, thân tự phát ra mùi hương thơm ngào ngạt. Vào lúc đó khi sinh gió mưa mờ mịt, mặt trời như bị che khuất. Chỉ có nơi sinh nhà mái vẫn sáng quang, bốn bề vang vọng tiếng nhạc tiếng ca. Ba ngày sau mới thấy bầu trời sáng lên, tiếng ca mới ngừng.
Cha mẹ rất yêu quý. Được trăm ngày mới đặt tên là Đinh Thị Ngọc. Lúc Nương lên 3 tuổi trong động có một gia tộc lớn họ Mãn, tên là Trương, nhà có nhiều gia đinh nên sinh kiêu ngạo ngang ngược. Trưởng ông vốn tính thanh liêm, có lòng từ ái, tuy làm trưởng bộ mọi người trong động nhưng không hề phạm tơ hào hối lộ. Còn họ Mãn vốn hay có tâm nhũng hại, tham tài sắc, thấy Công thanh liêm chính trực, người trong động đều yêu kính mến mộ theo tâm đức của Công nên họ Mãn sinh lòng gây ác, thầm viện người ở động bên, kết bè đảng muốn gây hại, mưu giết Công. Có người báo với Công. Công trong lòng còn chưa tin.
Tới sau đó nửa tháng, vào lúc trời tối, bỗng thấy ông Mãn Trương cùng với hơn trăm người cầm theo khí giới sắc nhọn, tiến thẳng đến nhà Công. Công biết ý đó nên liền dắt Ngọc Nương chạy thoát. Khi đó ông có người em gái ruột (tên là Đinh Thị Điên) cùng theo ông đi trốn, cùng với Thái bà cộng là 4 người cùng chạy. Còn những người hầu trong nhà đều trốn đi các nơi. Mãn Trương tìm kiếm trong nhà không thấy một ai, rất là tức giận, liền đốt hủy cả nhà, lấy hết tài sản, dẫn quân binh trở về. Tới nửa đường gặp đàn hổ đón bắt Mãn Trương mà ăn thịt.
Lại nói Công từ lúc bị nhà họ Mãn gây hại thì chạy vào trong núi sâu mà đi, không quay trở lại. Công dẫn con cái cùng với em gái chạy bộ, cứ theo chân núi mà đi. Hơn mười ngày đêm đến các châu động xin ăn, trú ở ngoài dưới các gốc cây to hoặc đêm ở những nơi đó. Thái bà ôm Nương ngồi ở đâu thì thấy ở đó ánh sáng chiếu lên, cả khu sáng tỏ.
Một hôm ông đang đi trong chân núi, bỗng lạc mất đường. Cây cối rậm rạp, cây to chọc trời, các khe nước bao quanh, hổ báo chạy tới lui mà gầm rú, nhìn bốn phía có tới hơn trăm con chạy đến. Trưởng công nghĩ tưởng khó có thể thoát được nơi mãnh thú này. Chỗ đó rừng sâu rậm rạp, không có lối ra. Ông thấy thảng thốt bàng hoàng, rất kinh sợ, mới ôm dẫn vợ con cùng với em gái nhảy vào trong chỗ đó. Hổ thú chim chóc bao vây bốn phía, tiếng kêu như sấm nổi lên. Trưởng công và Thái bà đều than khóc. Duy chỉ có Ngọc Nương là vẻ mặt không đổi, cất tiếng cười, hô chỉ mắng chửi. Mãnh hổ tất cả đầu quay đầu không dám nhìn vào Nương (khi đó Ngọc Nương mới 5 tuổi). Đám hổ dần dần tiến lại. Trưởng ông rất sợ hãi mới ngửa mặt lên trời mà than rằng:
– Hoàng Thiên sao lại phụ người có lòng nhân mà không cứu vậy!
Ông vừa than xong, bỗng nổi lên một trận gió lớn, trời đất trong khoảnh khắc tối mờ. Rồi trong phút chốc trời đất sáng trở lại. Lũ hổ đều đã biến lui.
Lại thấy một lão ông thân dài 7 thước, quần áo vân gấm màu xanh, đầu đội mũ đốm, râu tóc bạc phơ, tay cầm một chiếc quạt lá cỏ và gậy trúc. Theo sao có 1 thanh đồng, tay cầm bầu rượu, không biết từ đâu tới. Chỉ thấy ở nơi đó vừa đi vừa cười, đọc bài thơ rằng:
Trong thân có ngọc cớ sao lo
Còn cười trời được, thật là ngô
Người lòng trong sạch đâu sợ nạn
Cuối cùng sẽ được việc không ngờ.
Ông nghe lão ông đọc ngâm biết là lòng trời muốn đùa với Công mà cho đàn hổ đến xem ý ra sao, mới có nạn đó vậy. Nên lão ông này tất là bậc thần tiên, thấy ông lúc cùng quẫn kêu đến trời mới giáng xuống mà báo giúp, chứ trên trần thế không có người nào như vậy. Ông mới vui mừng mà hỏi rằng:
– Lão ông từ đâu tới? Xin cho hỏi, chỗ này không có đường xá, bốn bề là khe vách cây cỏ, chỉ toàn là thú dữ, cây xơ xác, không thấy tiếng nhân dân ở đâu. Đường quay lại bị cản trở, mây móc tối tăm. Không biết đường đến đâu mới ra được chỗ có dân cư. Xin lão ông biết đường ở hướng nào chỉ giúp thoát khỏi chỗ tối tăm này.
Lão ông ngửa mặt lên trời cười mà đọc ngâm:
Đường mây lớp núi thấy trùng trùng
Người được ý này dễ thoát chung
Một phiến mây trùm trên bảo ngọc
Hướng Tây đi tới chỗ người cùng.

Lão ông đọc xong thì bay lên không mà đi. Ông bèn ngửa mặt lên xem xét, thấy một đám mây màu nhạt phủ bay trên trời phía trên đầu Ngọc Nương. Đám mây trôi đi trước. Công cùng Thái bà và em gái dắt Ngọc Nương nhìn mây mà đi theo hướng Tây. Được vài bộ thì thấy một tảng đá lớn chắn đường, không có lối đi. Công bèn xem xét ở quanh tảng đá, thấy một hang đá. Công chui vào hang đá lại thấy trong hang có một con đường nhỏ. Công cùng vợ con lách người mà đi, vượt qua hang đá thì mở thành đường lớn. Trong khoảnh khắc đã tới châu Hoan (tức là Nghệ An sau này), qua đền Khổng Tước (tức là đền Cuông). Công lại thấy lão ông ở đó, báo vào trong cửa đền. Công bèn đi theo để làm lễ tạ. Khi vào trong thì không thấy đâu nữa. Ngửa lên xem phía trên đền có dòng chữ lớn khắc trên biển được trang trí bằng vàng sáng láng, đề rằng:
Hùng Vương điện, Nam Thiên Thánh tổ”.
Công biết đấy là Hùng Vương đã xuống răn dạy. Công bèn làm lễ bái tạ trước điện.
Lại đi tới châu Ái, đến châu Đà Bắc. Công bèn ở đất đó. Công vốn thạo nghề phong thủy, thường đi tìm xem đất. Người dân ở các châu động tại Đà Bắc đều kính phục, cử làm thầy tướng địa lý. Công cùng với vợ ở đó, qua được 7-8 năm, trở nên giàu có phong lưu.
Khi ấy ở động Lăng Sương có một trưởng bộ, họ Nguyễn Cao tên Hành, gia thế giàu có, tính tình nhân ái, kính mến người trong động, lại thạo việc cung tên, thường đi săn bắn. Ông tuổi đã cao mà nhưng chưa thấy mộng lan quế. Thái bà mất sớm. Lúc ấy Cao Công nghe tiếng Đinh Công ở Đà Bắc là người có đức lớn, thường dùng gia tài đãi khách, giúp đỡ mọi người, thật là một người tốt. Cao Công đi săn ở nơi ấy (tức Đà Bắc), kết bạn với Đinh Công, giao tình thân sâu.  Một hôm Cao Công thấy em gái của Đinh Công (tức là bà Thị Điên), có ý yêu mến, nhờ mai mối đến hỏi cưới. Đinh Công vốn trọng tình cảm với Cao Công nên đã gả cho. Hôn lễ xong Cao Công bèn đón về nhà ở động Lăng Sương ở.
Vào lúc trời xuân hòa khí, Đinh Công cùng người thân đi ngắm sông núi, xem xét địa hình phong thủy, tới động Lăng Sương (động Lăng Sương bốn ở tại đất huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây). Công đi ngắm phong cảnh đồng nội, lại thấy núi cao muôn vẻ, sông chảy miên man, non nước như vẽ, cây cối sum xuê, chim ca vượn hót véo von, đài phượng gác mây lung linh, thành một cảnh đệ nhất trời Nam. Đinh Công thấy quý cuộc của vùng đất, phong tục nhân dân thuần hậu, sơn thủy hữu tình, Công hứng khởi mới làm một bài thơ rằng:
Tạo hoá sinh thành tú khí linh
Lăng Sương đất ấy bốn kỳ hình
Lầu rồng gác phượng sinh hiền chúa
Voi phục lân chầu xuất thánh minh
Giếng ngọc giấu châu, sinh bất diệt
Ấn đeo chuôi bạc, thọ mà vinh
Dân phong thuần hậu cùng vui vẻ
Khắp chốn chầu tôn đất tối linh.

Lại nói Công đến chơi với ông Cao Hành được vài chục ngày thì quay về Đà Bắc. Khi ấy Ngọc Nương đã 16 tuổi. Một hôm (tức là ngày mồng 2 tháng 2), Thái bà không bệnh tự nhiên nằm trong nhà mà hóa. Công làm lễ an táng tại đó (tức động Thanh Khê, châu Đà Bắc). Qua mấy năm sau, ông Cao Hành đến đón Đinh Công trở về ở động Lăng Sương. Từ đó Công chuyển đến ở Lăng Sương. Ông là người có đức tính rất tốt, hiền, độ lượng hơn người, xứ ấy ai ai cũng phục, động Lăng Sương đều kính mến. Ông Hành tuy là em rể (lấy em gái nhà họ Đinh), nhưng đối xử với anh như cha mẹ sinh ra vậy. Khi đó Ngọc Nương tuổi đã 16, hoa xuân hương nhị, trăng thu đang rằm, có dung nhan chim sa cá lặn, có nét vẻ hoa thẹn nguyệt nhường, tính đức hiền hòa, là một người con gái hiếu thuận, trên đời khi ấy không có ai được như Nương. Trên lưng ở người Nương có điểm sao Thất diệu, không dùng nước lan mà tự có hương thơm, bẩm tính như tiên, dung mạo không như người phàm trần có được.Lại nói Đinh Công ở đất đó được quãng 3-4 năm. Than ôi, đạo trời gây nên bất hạnh! Em gái của Công qua đời (tức là vợ của ông Cao Hành, em ruột của Đinh Công, tên Đinh Thị Điên). Bà Đinh trước lúc lâm chung có dặn lại với anh trai (tức là Đinh Công) cùng với ông Nguyễn Cao (tức là chồng) rằng:
– Niệm tình bạn của anh, chồng của em mà xin lại gả cháu cho ông Nguyễn Cao để giữ quyền trông nom việc nhà. Em tất như thế mới được nhắm mắt yên lòng.
Đinh Công rất thương xót em gái, lại biết ông Nguyễn Cao là người có tình nghĩa, bèn đồng ý gả cho để nối tiếp vị trí của cô ruột. Từ đó Ngọc Nương lập gia thất, chỉ theo một thuyền, hiền thảo đảm đương việc nhà, sánh như thánh nữ Hằng Nga, cùng ngang vợ hiền Khương Phụ, duyên hài cầm sắt, tình như loan phượng, thấy điềm gót lân sắp có.
Ngày tháng đi qua, được hai năm rưỡi. Một hôm (ngày 15 tháng 4) trời đẹp hai vị Công (tức Đinh Công và Cao Công) đi ra ngoài săn bắn, ngắm cảnh núi sông, ngao du tìm rồng bắt hổ, bắn thỏ đuổi cáo làm thú vui. Nhân đó đi về đến Đà Bắc, thăm lại mộ của Thái bà.
Sau đó khoảng một tháng, lại trở về ở nhà. Tới trời mùa Đông tháng 12, một hôm (tức ngày 15) hai ông đi săn bắn, thầy trò trở về tới nơi chợ (tức là chợ Lăng Sương). Hai ông (tức Đinh Công và Cao Công) ngồi nghỉ, vui đùa uống rượu ở trong chợ. Rượu say bèn cùng nhau xuống khe nước mà tắm (khi đó ở gần chợ có một cửa khe giếng nhỏ). Tắm xong lại vào quán trong chợ thì bỗng nhiên thấy đau đầu rồi cùng nhau mất (khi đó Đinh Công đã 78 tuổi, Cao Công cũng đã 72 tuổi, ngày 15 tháng 12 cùng hóa).
Các gia nhân của hai ông thấy sự đó đều sợ hãi, chạy về động, gọi Thái bà (tức Ngọc Nương) cùng với người trong động cùng đến trong quán chợ, thì thấy hai ông đã hóa. Thái bà bèn làm lễ an táng ở nơi đất đó (tức là chợ Lăng Sương, đất An Bắc). Trong 3 năm các tiết, đều làm lễ tuần chay 49 ngày, làm trọn lễ hiếu. Ruộng đất của nhà chia mười phần, chỉ giữ lại một. Thái bà thật là người làm việc đức, giúp người nghèo, dưỡng người già, cứu người khi chìm đắm, giúp người lúc nguy nan, trọng nghĩa khinh tài. Hàng ngày thường giúp đỡ người dân các gia đình trong động. Không lấy tiền công, chỉ ăn cơm đủ bữa mà khi đi về dù nắng hạn mưa sương đều không rơi trên đầu. Hoặc đi kiếm củi phát cỏ, hoặc gánh nước cấy lúa, thì nơi bà ở trên trời có một áng mây màu nhạt tròn như một cái ô lớn che ngay trên đầu của Thái bà. Dù là vào những khi nắng lớn thì nơi Thái bá vẫn giâm mát. Hoặc khi mưa to giáng lũ thì chỗ Thái bà vẫn quang tạnh.
Một hôm Thái bà đang cấy ở ngoài đồng, bỗng nhiên thấy trên trời có tiếng kêu hô, bốn bề ảm đạm huy hoàng. Thái bà bèn ngước mắt lên nhìn thì thấy ở cái giếng trong nơi động (nơi đó có tên là xứ Đồng Cốc, tại chỗ ruộng lúa của Thái bà), mây lành khắp chốn, sương mù tỏa sáng. Có một con rồng cuốn lấy nước ở bên miệng giếng, phun sóng như châu ngọc.Từ đáy giếng bỗng chốc bốc lên mù mịt như mây khắp không trung, tỏa che mặt đất. Mùi hương đầu núi ngào ngạt. Rồng bay lên không mà đi.
Thái bà (tức là Đinh Thị Ngọc Nương) liền bỏ lúa đang cấy ở ruộng, đứng dậy nhìn lên trên trời. Lại thấy một đám mây năm sắc hình như một con chim điêu lớn bay trên trời, tiếng kêu như tiếng chuông đồng, từ từ từ trên trời mà hạ thẳng xuống đầu Thái bà. Một làn gió mát nổi lên, nhập vào trong thân như là đón người. Thái bà tự nhiên nhẹ bước đi trên không, đến bên giếng chỗ một bàn đá trắng (chỗ đó có một bàn đá trắng), bước lên đó mà tắm gội. Thân mình tự như bao bởi nước hương, khói mây thơm phức, khí lành dày đặc, núi sông anh dưỡng, sông biển đúc lành, cảm thấy khắp người như mây lành bao phục không dứt. Sau đó tự nhiên hoài ý mà có thai.
Khi ấy có người hào phú là Lê Hùng, cai quản trong động, muốn lấy Nương nhưng không được. Nay lại thấy Nương có mang thai thì trong lòng rất tức giận. Liền cùng với người trong động đến tụ tập ở ngoài quán, ngay hôm đó truyền mõ làng đến nhà bắt Thái bà ra quán để các chức sắc hỏi sự tình, bắt ăn phạt vạ họa hoang dâm. Thái bà nghe vậy mới đi theo người mõ ra tới quán. Thấy Lê Hùng và các hương chức hơn mười người, đều là họ hàng của Lê Hùng. Đám người trước là ra oai, truyền mõ cùng với Đinh Thị đến nhà Thái bà, lấy hết gia tài, bán đi khu đất. Thật là họa phạt vạ rất ô nhục. Phạt vạ được ba ngày, bỗng thấy một đàn hổ hơn mười con xông vào thẳng trong khu dân cư của động mà bắt hết bè đảng Lê Hùng, tất cả hơn mười người, đem tha xác lên trên đỉnh núi Thu Tinh rồi tản đi. Nhân dân trong động khi ấy đều kinh sợ chạy trốn. Những người đã mua đất đai đều đem trả lại cho Thái bà, không dám chiếm giữ. Nhưng Thái bà đã rất hận những người láng giềng xấu mặt, không ở tại đất đó nữa mà dựng nên một gian nhà cỏ ở ngoài khu dân cư nơi đầu ruộng cạnh chỗ giếng nước (giếng này là nơi Rồng vàng đã lấy nước cho Thái bà tắm gội, có đất đẹp quý cuộc, mạch dẫn Canh Tân, thế hợp Đinh Quý, trái phải có voi ngựa rồng hổ phượng chim, hình người đang bái, rùa rắn trống cờ, nhất nhất quay đầu cùng lại chầu, ở ngay phía sau có một động cao làm đài lầu, phía trước có dòng nước ở minh đường, cùng với giếng thành hình chữ Ngọc).
Lại nói Thái bà từ khi đến ở đất đó, mỗi tháng hai kỳ sóc vọng đều thấy hổ về nơi đó nằm chầu trước sân một lúc rồi đi. Thái bà có mang 14 tháng tới năm Đinh Tỵ vào ngày 14 tháng 1 đúng vào giữa đêm Thái bà đang nằm ngủ say, mơ màng như mộng, bỗng thấy một ánh hào quang xán lạn, lại thấy một vị quan y phục cân đai chỉnh tề, cưỡi một con ngựa trắng đến thẳng nơi Thái bà đang nằm, tay cầm một bức chiếu chỉ rồng, quỳ trước mặt Thái bà mà tuyên đọc rằng:
– Thời gian hạn định Thiên thần xuất thế đã đến. Khâm mệnh Thiên tào, báo sự này cho hiền nhân Đinh Thị biết. Nay sẽ sinh Thánh, quyền chưởng các thần kỳ ở Lăng Sương.
Quan nhân đọc xong cưỡi ngựa biến mất. Thái bà tỉnh lại thì trời đã sáng. Hôm ấy (ngày 15 tháng 1) Thái bà đang ngồi ở trên bàn đá trắng, bỗng thấy mây bay năm sắc, ánh hào quang chiếu xuống, chim phượng hổ báo trăm loài thú đến chầu ở nơi đó. Đến giờ Thìn sinh được một người con trai, hình dạng tuấn chỉnh, khí mạo khôi ngô, ba ngôi cân xứng, năm gò chầu về, cao vượt hơn hẳn bình thường, mắt như sao đẩu chiếu sáng, mặt như thái dương xán lạn. Vào lúc ra đời, trời đất mờ mịt, sấm sét ầm ầm, đáy giếng nổi sóng to, rồng vàng hạ xuống phun nước tắm rửa. Lại thấy chim điêu bay trên trời che cho chỗ sinh. Tiếng kêu tựa như âm nhạc Tiêu Thiều réo rắt, sáo trúc ca vịnh. Hổ ngậm đá nén bụng của Thái bà (tới nay hai tảng đá mà Thái bà nằm sinh cùng với bàn đá hiện còn ở bên cạnh giếng trong đền, tảng đá này vẫn còn dấu răng hổ ngậm đá nén).
Lại kể được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn (tuy rằng ông Nguyễn Hành không sinh ra nhưng Thái bá thủ tiết theo chồng cho nên tuân theo dòng họ bên chồng mới đặt là Nguyễn). Khi Công được 6 tuổi, Thái bà một mình cô đơn không có người nương tựa. Nhân dân trong động tuy có cấp dưỡng nhưng vì sự sỉ nhục trước đây nên lòng vẫn còn oán hận. Ngày tháng đó không có cách sinh nhai nên mẹ con cùng dẫn nhau tới núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (tức là chính ở tại xứ Mang Bồi, châu Thủy Pháp, tổng Hoằng Nhuệ, huyện Thanh Xuyên) trú ở nơi đó. Lại cùng với một lão bà kia trên núi tên là Ma Thị (do ở nơi đất là Bùi nên người ta gọi là bà Bùi) Cao Sơn thần nữ (cha của Ma Thị Cao Sơn thần nữ là Ma Linh, mẹ là Hán Thị Ngạn, quê ở châu Bố Chính, do chạy loạn đến ở đất này, làm chủ quản một châu, nằm mộng thấy nuốt sao Thái dương, lại được điềm chim trắng trên núi cao mà sinh ra Ma Thị Cao Sơn thần nữ. Chính sinh ở đất Mang Bồi, châu Thủ Pháp, nay vẫn còn tồn nhà ở xưa), cùng kết giao. Được ba năm vì nhớ phần mộ của người thân nên mẹ con quay về động cũ Lăng Sương (sau đổi là Tuấn Công. Khi Công 2 năm 11 tháng nguyên có tên là Nguyễn Tùng), bắt đầu thụ mệnh theo học Lý Đường tiên sinh tên là Nhã. Năm 15 tuổi có chí cho việc học hành. Tuy cảnh nghèo sách mọn nhưng tính tình trời sinh lại vui vẻ, không thay đổi. Ngày ngày tha hồ bầu gió, sắc trăng mà tiêu dao, lấy rìu búa làm kế sinh nhai. Ban đêm tối theo đèn huỳnh án tuyết, rượu một bầu lấy làm thú vị. An bần lạc đạo, thật là có đại chí vậy.
Tuy nhiên đôi khi thấy mẹ cần lao khó nhọc, thương mẹ cùng khổ nên thường ôm sách thở dài, gạt lệ mà rằng:
– Sinh ra ta, chăm sóc ta, nuôi nấng ta, dưỡng dục ta là tình mẹ hiền vậy, đến ba lần chuyển dời chỗ ở. Tình cảnh nay như thế biết lấy gì an ủi cho lòng mẹ.
Năm tháng thường đến núi thiêng Ngọc Lĩnh cùng với lão bà Ma Thị than rằng:
– Than ôi! Than ôi! Vận trời tuần hoàn, sự người thường biến. Gần đây còn có thể cố ở động Lăng Sương, tạm sống an nhàn. Ngày nay rừng đã kiệt củi, không có cách để nuôi dưỡng mẹ già. Là người con có hiếu thì biết làm sao đây? Nên muốn nguyện làm nghĩa tử của lão bà, hàng ngày tiện việc kiếm củi, sau là có thể chăm sóc cho mẹ của con.
Lão bà nghe lời đó liền đồng ý. Nguyễn Tùng mới dẫn Lão mẫu đến ở cùng Lão bà tại núi Tản Viên. Được một năm rưỡi thì một hôm Thái bà (tức là mẹ đẻ của Công) đang ngủ bỗng thấy một đám mây mây hồng bay trên không trung, hạ thẳng xuống quanh Thái bà, tự nhiên nhẹ bước mà quay về nơi ở xưa tại động Lăng Sương (tức là ở nơi nhà cạnh giếng nước). Lại thấy có một dấu ấn rồng đóng lên tường trúc trong nhà, bên trên có tiếng đọc các chữ đó rằng:
Một áng mây hồng đến nhân gian
Mới gọi Tiên nương lên Quảng Hàn
Việc đời qua đi còn là thánh
Núi thiêng hương lửa mãi muôn vàn.

Tiếng đọc dứt thì Thái bà tỉnh lại, thấy dưới đầu gối có một tấm màu hồng như mây. Thái bà lấy làm lạ bèn nói lại sự mộng cho Nguyễn Tùng. Nguyễn Tùng thấy mẹ nói vậy bèn chào tạ Ma Thái bà rồi mẹ con lại quay về nhà ở Lăng Sương. Ở được bốn năm ngày thì một hôm (tức ngày 12 tháng 6) trong động có nhà cụ già nhờ Thái bà đi cấy lúa. Thái bà xuống ruộng cấy được một lúc, bỗng thấy trên trời mây đen nổi lên bốn bề, mưa gió lớn kéo đến. Tất cả những người đang cấy đều lên bờ chạy về. Thái bà cũng leo lên bờ mà về nhà (tức là ở nhà ở tại chỗ giếng nước). Mới đến sân thì bỗng thấy một đám mây trắng từ trên trời hạ thẳng xuồng đầu, tự nhiên mà hóa.

Bài thơ về Tản Viên Sơn Thánh trong thần tích làng Tang Ma

Mười tám nhánh Hùng đồ củng cố
Hai ngàn năm cuồn cuộn khí lành.

Tinh thần cốt cách ngọc Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Khí mạo to cao còn tỏ thánh
Phong tư đẹp gọn khác người thường.

Ba sinh hương lửa vừa mới thấy
Phong lưu một nét cổ gia đường
Sáu tuổi mẹ cha về vực thọ
Bảy năm phụng tự chốn yên hương.

Trở học chuyên cần nơi động cũ
Linh sơn hái củi lúc khi đang
Ngô đồng chặt hạ gặp tiên lão
Gậy thần thu nhận cứu dân làng.

Lũ trẻ bên đường xem giết rắn
Thần chú đọc ngay cạnh bến phương
Động Đình cùng tới đền công đức
Chia tay Ngọc Tản nghĩa bao nhường.

Muôn đồ vạn bạc đều không đủ
Một cuốn sách thần vật dị thường
Trời cao cơ diệu nên linh ứng
Phép lạ hiếm truyền từ đế vương.

Vàng bạc ngọc ngà cầu được ước
Gió mưa sấm chớp nổi khôn lường
Chí hiếu mẹ cha tuân phép đạo
Dưỡng mẫu tạ ơn cung kính dâng.

Lão mẫu non khe di chúc lại
Thần nữ khói hương để miếu đường
Mẹ con một nhà, đời khó sánh
Thần tiên vạn cổ cũng không thường.

Nơi núi thảnh thơi ngàn vạn trượng
An nhàn ba sáu điện cung quang
Thế thời vua trị, Đường Nghiêu thịnh
Quảng đại Sơn Tinh, Ngu Thuấn vang.

Nhường ngôi mới tìm cầu Hoa Mị
Thủy Tinh thù kết một mối trường
Côn kình nhằm chém nơi đầu núi
Thủy thổ tách phân, rùa sấu quăng.

Theo trời là Tiên, người là Thánh
Trung thần với nước, hiếu gia đường
Búa việt giao cầm, vua bái tướng
Dẹp giặc hai đàng rơi tuyết sương.

Vách đá núi cao khắc sự nghiệp  
Vẻ vang ghi trúc bến sông Tương
Không ham làm khách trên trần thế
Muốn thành người ở chốn tiên phương.

Giúp nước một thời lo việc lớn
Hóa sinh cảnh hội lúc phi thăng
Hưng thịnh non sông cùng giữ mãi
Âm phù hộ quốc đạo thần vương.

Gió bụi đi qua nhàn một cuộc
Còn mãi đền đài giữ khói hương
Ngựa sắt thiên vương danh Phù Đổng
Đúc tướng người đồng thánh Thụy Hương.

Kìa như Tản Linh Sơn Thánh
là thánh, là tướng, là vua, là thầy, là tiên, là thần,
Lồng lộng sao! Vòi vọi sao!
Thật khó tả nổi.

Thuận việc cảnh đó ngàn vạn bái
Nguyện cùng trời đất phúc ghi văn.
 

Phiên âm

Thập bát diệp Hùng đồ củng cố
Nhị thiên niên(?) thuỵ khí uân nhân.

Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần
Bả thác Long linh giáng hạ trần
Khí mạo khôi ngang hỗn hiển thánh
Phong tư tuấn chỉnh dị thường nhân.

Tam sinh hương hoả tân tài kiến
Nhất chẩm phong lưu túc hữu nhân
Lục tuế nghiêm đường vi(?) thọ vực
Thất niên lăng lĩnh chỉ từ thân.

Thì hồi cố động tu cần học
Nhàn đáo Linh sơn tiện thái tân
Tiễn phạt ngô đồng phùng lão tẩu
Khâm thừa trúc trượng cứu sinh dân.

Lộ kiến hắc xà niêm mục thụ
Khẩu ngâm thần chú thố giang tân
Động Đình tương đáo thường công đức
Ngọc Tản nghinh lai tạ nghĩa nhân.

Trùng hoá vạn kim thường bất túc
Thần thư nhất quyển thụ kỳ chân
Huyền cơ linh ứng do thiên thượng
Bí pháp hy truyền tự đế quân.
 
Ước tức đắc kim ngân ngọc bảo
Chúc thi lai vũ điện phong vân
Tạ ân dưỡng mẫu tiên cung hiến
Chí hiếu từ thân địch phỉ cần.

Nhạc độc lão bà di chúc khế
Miếu đường thần nữ phó hương yên
Nhất môn mẫu tử trần vô đối
Vạn cổ thần tiên tục vị hoàn(?).
 
Sái lạc ức thiên vạn trượng nhạc
Tiêu dao tam thập lục cung xuân
Quốc vương long đại Đường Nghiêu? thịnh
Sơn thánh hồng hoằng Thuấn Ngu nhân.

Tốn vị phương cầu Hoa Mị phối
Kết nhân quang bản thuỷ tinh thần
Kình côn nhậm hướng sơn đầu đoạn
Miết ngạc không đầu thảo lý phân.

Thiên tắc tiên hề nhân tắc thánh
Gia vi hiếu tử quốc trung thần
Tuyết sương lưỡng lộ bình Man khấu
Phủ việt bát trì bái tướng quân.
 
Trúc bạch kiêm tương minh thịnh liệt
Sơn hà đới lệ ký nguyên huân
Lãn vi thế thượng trần ai khách
Hảo tác tiên bồng ngọc nhuận nhân.

Hộ quốc đẳng nhàn gian đại sự
Thăng thiên cảnh hội hoá sinh thân
Bảo đề tương dữ hưng đại? nhạ
Hộ quốc âm phù hữu đạo quân.
 
Xa giá phong trần nhàn nhất cục
Cung đài hương hoả thọ trường xuân
Phù Đổng thiên vương(?) dương thiết mã
Thuỵ Hương thánh tướng chú đồng nhân.
 
Kỷ hữu như Tản Linh Sơn Thánh
vi thánh vi tướng vi quân vi sư vi tiên vi thần,
đãng đãng hồ, nguy nguy hồ,
nan danh chi hỹ.

Tình cảnh niệm thuận thiên vạn bái
Nguyện đồng thiên địa phúc tư văn.

Thần tích Đinh Phi quốc mẫu của làng Tang Ma, tổng Phương Giao, huyện Thanh Thủy, Phú Thọ.

Nguyên văn chữ Nho

十八葉雄圖鞏固二千千瑞氣氲氤
凌霜骨格玉精神把托龍靈降下陳氣冒魁昂渾顯聖丰姿俊整異常人

三生香火辛纔見一枕風流夙有姻六歲嚴堂為壽域七年崚嶺祇慈親

時回故峒須勤學閑到灵山便採薪剪伐梧桐逢老叟欽承竹杖救生民

路見黑蛇𢫈牧竖口吟神咒措江津洞庭相到償功德玉傘迎来謝義仁

重貨萬金償不足神書一卷授其真玄机灵應由天上秘法希傳自帝君

約即得金銀玉宝祝施来雨電風雲謝恩養母先供献至孝慈親迪棐勤

岳瀆老婆遺嘱契庙堂神女付香煙一門母子塵無对萬古神仙俗未回

洒落億年干萬丈岳逍遙三十六宮春國王隆大唐卢(堯?)盛山聖洪弘舜禺仁

遜位方求花媚配結仁光本水晶神鯨鯤任向山頭断鱉鱷空投草裡分

天則仙兮人則聖家為孝子國忠臣雪霜兩路平蛮窛斧越癶持拜將軍

竹帛縑湘銘盛烈山河帶礪記元勳懶為世上陈哀客好作仙蓬玉潤人

護國等閒艱大事升天景會化生身保題相與興?偌護國陰扶有道君

車駕風塵閒一局宫臺香火壽長春扶董天?揚鐵馬瑞香聖將鑄銅人

幾有如傘靈聖山聖為聖為將為君為師為仙為神蕩蕩乎巍巍乎難名之矣

情景念㥧千萬拜
願同天地福斯文

Sử tích Sơn Tinh

Thủa Hoàng Đế mở muôn nước, Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ sau khi đã sát nhập được bộ tộc của Viêm Đế ở phương Nam, đánh đuổi tộc Cửu Lê của Xi Vưu – Ngô Thục ở miền Tây Bắc Việt và kết hợp Tiên tộc của bà Tây Thiên – Vụ Tiên ở dải núi Tam Đảo. Hoàng Đế Hữu Hùng Đế Minh dời từ cựu đô Ngàn Hống về vùng Phong Châu, lập Minh đô ở chân núi Thái Sơn trên miền Bắc Việt ngày nay. Vùng đất này trở thành đất tổ muôn đời của dòng họ Hùng dân Việt.

Kế nghiệp Hữu Hùng Hiên Viên là Đế Nghi hay Đế Nghiêu, thuộc dòng Viêm tộc, đóng đô ở 2 vùng đất chính là Đào và Đường, tức là ở Nghệ An và Phú Thọ. Đế Thuấn là một người thuộc Tiên tộc theo dòng dõi bà Vụ Tiên trên dải núi Tây Thiên, vì có lòng hiếu thuận động thiên tâm nên đã được Đế Nghiêu tín nhiệm, gả cho 2 người con gái của mình là Nga Hoàng và Nữ Anh, rồi nhường ngôi cho. Truyền thuyết Việt chép là Sơn Tinh lấy 2 vị công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung rước về Lịch Sơn ở Tuyên Quang.

Ba vị vua Hùng đầu tiên ở vùng đất tổ được thờ dưới “thụy hiệu” là Đột Ngột Cao Sơn (Hoàng Đế Đế Minh), Viễn Sơn (Đường Nghiêu Đế Nghi) và Ất Sơn (Ngu Thuấn Lộc Tục). Tam Sơn Thánh Tổ là 3 bộ tộc đã hợp nhất trong thời kỳ lập quốc họ Hùng, gồm Viêm tộc, Lạc tộc và Tiên tộc.

Núi Ba Vì nhìn từ động Lăng Sương

Tiếp theo, lịch sử Việt được lưu lại dưới truyền thuyết của Tản Viên Sơn, mà sự ra đời và sự nghiệp của vị Thánh tổ này hết sức phức tạp và đa dạng. Tản Viên Sơn có cha là ông Nguyễn Cao Hành, mẹ là bà Đinh Thị Đen, nhưng khi ông Hành tuổi đã 70, bà Đen khi đi tắm gội ở ngoài đồng thì có Rồng vàng xuất hiện phun nước, về cảm động có thai, sinh ra Thánh Tản. Như vậy, Rồng vàng mới thực sự là “bố đẻ” của Nguyễn Tuấn.

Không chỉ vậy, trong số các bậc “phụ huynh” của Tản Viên Sơn còn có bà dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn, người sau đó đã lập chúc thư để lại toàn bộ khu vực Sơn Tây núi Tản lại cho con nuôi là Nguyễn Tuấn. Có tới 4 “phụ huynh” như vậy, Tản Viên Sơn Thánh thực chất là hình tượng của sự hợp nhất 4 dòng tộc, ngoài 3 dòng tộc của Tam Sơn Thánh tổ Hùng Vương đã thêm dòng Long tộc Rồng thiêng vùng ven biển Động Đình.

Năm tộc Việt thời Hùng Vương

Hoa sử kể, ông Cổn là thủ lĩnh đất Sùng nên gọi là Sùng Bá Cổn. Bá Cổn là cháu chính hệ của Hoàng Đế Hiên Viên. Thời Nghiêu Thuấn, Sùng Cổn được phân lo việc trị thủy nhưng không thành công, do ông tập trung vào việc đắp bờ đập ngăn hồng thủy. Cái tên “Cổn” thực ra tiếng Việt nghĩa là Cản, xuất phát từ cách “trị thủy” không hợp lý này của ông. Đế Thuấn đã bỏ Bá Cổn mà thay vào đó lấy con của ông là Vũ để lo việc trị thủy. Ông Vũ thay đổi cách làm của cha, không đắp bờ ngăn nước nữa mà đã khởi thông các dòng chảy để thoát nước. Nổi bất nhất là sự kiện ông Vũ đục bạt vách đá chắn trên sông Hắc Thủy ở Long Môn, dẫn nước con sông này qua núi Tam Nguy mà ra biển Nam Hải.

Còn sự tích Tản Viên Sơn thì chép: Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, mới đọc ước chú làm cho đá vỡ tung tóe, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai mới hết, là người có công đầu vậy.

Cây gậy thần mà Tản Viên có được từ Thái Bạch Thần Tinh trên đỉnh núi Tản đã dùng để đục đá, khơi cạn nước hồng thủy bên thác Vạn Bờ ở Hòa Bình. Tản Viên Sơn là Đại Vũ trị thủy, còn lưu truyền trong câu ca dao:

Mồng Bốn cá đi ăn thề
Mồng Tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Sự tích khác về Tản Viên Sơn chép Vương là một trong những người con của bà Âu Cơ và Lạc Long Quân. Đền Lăng Sương, nơi bà Đinh Thị Đen cảm động Rồng vàng mà sinh Thánh cũng là nơi thờ Tổ mẫu Âu Cơ, theo như ghi chép của cuốn Di tích thờ Tản Viên lưu tại làng Ngọc Nhị. Đen cũng là Ô, hay Âu trong tên Âu Cơ. Quốc mẫu Hoàng bà Đinh Thị Đen chính là Tổ mẫu Âu Cơ, hay là chính hệ của Hữu Hùng Hoàng Đế, tức là Sùng Bá Cổn.

Đình làng Ngọc Nhị, làng tạo lệ đền Thượng Ba Vì.

Ông Nguyễn Cao Hành trong chuyện này được chép có xuất xứ từ Hoan Châu, tức là dòng dõi của Viêm tộc theo hướng của Đế Nghiêu. Còn bà dưỡng mẫu Ma Thị Cao Sơn đã di chúc “nhường ngôi” lại cho Tản Viên là Sơn Tinh Đế Thuấn, dòng dõi Tiên tộc ở vùng núi cao Tam Đảo.

Tản Viên Sơn sau khi có được cây gậy đầu sinh đầu tử đã đi xuống chân núi, gặp đàn voi hổ quấy phá ở xóm Cốc của đất Thủ Pháp. Thần Vương đã chỉ gậy niệm thần chú, chốc lát hổ Bắc voi Nam tụ ở 2 đầu gậy. Nay chỗ này là khu vực đền Hạ Tản Viên, vẫn còn tượng đá hình một con quái thú nửa Voi nửa Hổ kích thước khá lơn đang chầu.

Quái thú đền Hạ Tản Viên

Thần Vương vượt sông Đà (cũng bằng cây gậy thần chỉ nước nước cạn như việc đục đá trị thủy ở trên), sang bãi Trường Sa và cứu được con rắn thần bị trẻ mục đồng đánh chết. Con rắn đen này là Thủy Tinh con vua Động Đình. Bãi Trường Sa ở Ma Xá, Trung Độ xưa có tên là bãi Tang Ma ở gần cầu Trung Hà bây giờ. Tại đây có sự tích y hệt về việc một con rắn đã được mua lại của lũ trẻ mục đồng mà hóa kiếp thành bà Phan Thị, rồi bà Phan lấy con rồng là vua Thủy Tề Động Đình, sinh nhất bào ngũ tử, được 5 người con, 2 gái 3 trai. Bà Phan được thờ là Thủy Tinh Động Đình Tang Ma Thánh mẫu, tức chính là con rắn Thủy Tinh đã được Tản Viên Sơn cứu sống ở bãi Trường Sa.

Chính điện đình La Phù ở Thanh Thủy, Phú Thọ, nơi thờ Tản Viên Sơn, Thủy Tinh Động Đình Tang Ma Thánh mẫu, Quý Minh Đại vương.

Sự kiện Đại Vũ trị thủy đã được truyền thuyết hóa thành cuộc giao tranh Sơn Tinh – Thủy Tinh vô cùng ác liệt dưới chân núi Tản. Từ đó mà gắn với tên những quả đồi, núi ở đây như núi Chẹ, núi Đùng, núi Sọt… mà Sơn Tinh dùng để chặn nước chế ngự thủy tai. Rồi với sông Tiểu Hoàng, tức là sông Tích, là đường tiến quân của Thủy Tinh. Đầm Đượng ở khu vực Suối Hai ngày nay là nơi mà Thủy Tinh thua trận, phải rút về theo 16 cửa nước. Đông cung Tản Viên ở xã An Vệ nay là đền Và là nơi trấn thủy trên lối thoát nước từ vùng Bể Cạn xưa (Đầm Đượng Suối Hai) ra sông Tích.

Đình Thụy Phiêu, bên đầm Đượng, ngôi đình cổ nhất Việt Nam hiện nay.

Nhờ công lao trị thủy to lớn mà Nguyễn Tuấn được tôn là Tản Viên Sơn Tam Vị Quốc chủ Đại vương. Tam Vị không phải là 3 vị thánh khác nhau mà chỉ có 1 vị Quốc chủ, lấy theo tên núi Ba Vì, mà cổ sử Trung Hoa gọi là Tam Nguy. Đúng ra tên thánh phải là Tam Nguy Sơn Tốn Vương Quốc chủ, vị vua chủ của vùng phía Tây (quẻ Tốn chỉ hướng Tây) ở núi Tam Nguy.

Cùng với công lớn trị nạn hồng thủy cứu dân, Đại Vũ Tản Viên còn là người đã khai sáng văn hóa và tạo ra các nghề nghiệp khác nhau. Lúc thì là Tản Viên Sơn dạy dân đi săn ở khu vực Mang Sơn (núi Mường), lập hành cung tại đó. Lúc thì ra Tiểu Hoành giang xem đánh cá, lập cung điện ở Liệp Tuyến (Khánh Xuân điện). Lúc thì Vương đến khu Cổ Đằng, là vùng “hạ điền” – ruộng hè mênh mông xưa, lập Nam cung điện, nay là đền Lác ở xã Đồng Thái, Ba Vì. Cày ruộng, đánh cá, săn bắt, khơi sông trị thủy, sáng tạo ra Hà đồ Lạc thư (gậy thần sách ước)…

Bia đình Đồng Bảng, xã Đồng Thái, là nơi có Bắc thần cung Tản Viên Sơn Tam Vị Quốc chủ.

Tản Viên Sơn hay Vua tổ phía Tây như vậy đã nối dõi 3 dòng tộc của thời Hùng Vương Thánh Tổ trên đất Phong Châu (Tây Thổ) rồi kết hợp thêm dòng tộc phía Đông của Thần Long Động Đình mà sinh ra các thần Rồng, anh em Ngũ vị của Lạc Long Quân. Dòng phía Đông này được đại diện bằng ngôi vị của Hữu kiên thần Quý Minh đại vương, vì Quý là thứ Ba, chỉ hướng Đông. Quý Minh cũng là vị thủy thẩn Trưởng Lệnh đã ở lại cai quản sông Đà (Đà Giang tôn thần) tại đất quê mẹ Thủy Tinh bên bãi Tang Ma, nơi ghềnh Bợ.

Đền Thượng núi Ba Vì xưa tới nay chỉ còn lưu lại 3 pho tượng đá cổ. Theo thần tích của làng Ngọc Nhị (làng tạo lệ của đền Thượng Tản Viên) thì đây là Tản Viên Sơn Tam Vị Quốc chủ Đại vương, Tả thánh Quý Minh Đại vương và Thái Bạch Thần Tinh (cũng là Sơn Tinh hay Cao Sơn).

Tản Viên Sơn cũng chính là Kinh Dương Vương, người có tài đi dưới Thủy phủ rồi lấy con gái Thần Long Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân đi qua bãi Trường Sa, thấy nàng Âu Cơ, ái thiếp của Đế Lai ở đó mà đem lòng yêu mến… Đây là đoạn Rồng vàng phún thủy khi bà Đinh Thị Đen cảm động hoài thai ở Lăng Sương. Do đó Đế Lai là ông Nguyễn Cao Hành, theo dòng Viêm tộc của Đế Nghiêu, mà Hoa sử gọi là Bá Ích. Bà Đinh Thị Đen là chính dòng Hoàng Đế họ Cơ, tức Âu Cơ. Lạc Long Quân là con của Đại Vũ, mang tên Khải, người đã đánh đuổi Bá Ích, cướp lấy ngôi vị thống trị vạn bang, khởi đầu (Khải) nhà Hạ, triều đại thế tập đầu tiên trong lịch sử Hoa Việt.

Rồng vàng và Đinh Phi Thánh mẫu ở đền Lăng Sương.

Đền Lăng Sương tới giờ vẫn có tượng thờ Rồng vàng ở chính cung sau tượng Đinh Phi Thánh mẫu. Bài thơ của đền Lăng Sương, nơi sinh thánh Tản và quê của tổ mẫu Âu Cơ ghi rõ việc này:

Lăng Sương cốt cách ngọc tinh thần
Bả thác Long linh giáng hạ trần
Thái Thủy diệc vi Thiên Thượng Mẫu
Cửu hoài hà nhược thế gian nhân.

Dịch thơ:

Tinh thần cốt cách ngọc Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Thái Thủy cũng là Thiên Thượng Mẫu
Hoài thai lâu lạ khác bao thường.

Quá trình “sinh nở” hợp nhất 4 tộc người giữa cha Rồng mẹ Tiên để thành một thiên hạ thống nhất tất nhiên là lâu và khác thường. Thời sơ sử Hùng Vương của Nghiêu Thuấn Vũ kết thúc để bước sang thời lịch sử từ nhà Hạ, bắt đầu với bước tiến khai phá vùng duyên hải ven biển Đông.

Bốn ngàn năm nước gọi Thượng thần, biển Bát Rồng bay truyền tích lạ…

Ngũ tộc Hoa thời Tam Đại