Hương Lang, vị thần đứng đầu Tứ linh thần đất Việt

Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”. 

Các tác giả trước đây cho rằng vị thần Hương là Lý Ông Trọng thời Tần, quê ở làng Thụy Hương, Từ Liêm, Hà Nội. Sự tích về Lý Ông Trọng tại đình Chèm kể về việc ông Lý Thân làm tới chức Tư lệ hiệu úy của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh công chúa, rồi cho đi trấn giữ người Hồ ở Lâm Thao. 

Nghi môn đình Chèm

Nhưng sự tích đình Chèm còn kể ông có công… giúp Sơn Tinh đánh Thủy Tinh. Thần tích đình Chèm ghi việc đức thánh Chèm chém thuồng luồng, là đại tướng của Thủy Tinh, ở đoạn sông Hồng chảy qua làng.
Hay trong bản thần tích bằng thơ đình Vật Lại (Ba Vì, Hà Nội) Sự tích thánh Tản Viên diễn ca cũng kể về việc quân của Thủy Tinh khi tấn công Sơn Tinh đi qua Chèm đã ăn thịt mẹ Đức thánh Chèm. Do vậy Đức thánh Chèm nổi giận, chăng lưới đón lõng quân của Thủy Tinh:

Ông Chèm báo oán Long Vương
Lưới giăng ngăn khúc bến giang đón về.
Thuở ấy Long tộc Thủy tề
Đem quân lên đánh Ba Vì Tản Viên.

Khi quân Thủy Tinh bị Sơn Tinh đánh thua chạy rút về thì:

Thủy quân nẻo cũ quen về
Ngày sau tức thì đến xã Từ Liêm.
Tiên binh xung lưới ông Chèm
Ai hòa chẳng được càng thêm lo lường.
Hội đồng cá rắn biên giang
Ông Chèm ra thấy lòng càng mừng thay.
Trả ơn thân mẫu khi nay
Dạng chân sông cả, đôi tay vơ quàng.
Bủa vây mọi khúc biên giang
Rắn rồng bắt lấy bật ngang vào đồi.

Thủy Tinh buộc phải chạy trốn theo đường sông Hát mà ra biển, không dám qua sông Hồng nữa. Đoạn sông Hồng gần Chèm nay còn có bãi bồi lớn giữa sông tên là Võng La, có lẽ nhắc tới tích Thánh Chèm giăng lưới bắt thủy quái ở đây.

Mảng chạm đình Chèm

Câu đối ở đình Chèm tóm tắt sự tích này như sau:

銅影怯彊夷終古神威揚北塞
鉄羅消水怪億年聖力護南邦

Đồng ảnh khiếp cường di, chung cổ thần uy dương Bắc tái
Thiết la tiêu thủy quái, ức niên thánh lực hộ Nam bang.

Dịch:

Tượng đồng khiếp cường di, ngàn xưa oai thần vang ải Bắc
Lưới sắt trừ thủy quái, vạn năm sức thánh giúp nước Nam.

Thành tích trừ thủy quái của Thánh Chèm xem ra không ăn nhập gì lắm với việc Lý Ông Trọng trấn quần Hồ thời Tần. Một đại tướng, phò mã của Tần Thủy Hoàng, một nhân vật lịch sử rõ ràng, sao lại có truyền thuyết gắn với Sơn Tinh – Thủy Tinh?

Thần tích về Tản Viên Sơn Thánh giúp giải đáp khúc mắc này về Đức thánh Chèm. Cuốn Di tích đền thờ Tản Viên Sơn cho biết Vương tên Hương Lang, tức là tôn húy Tản Viên Tam Vị Đại vương vậy. Hương Lang là người con đầu trong số 50 người con theo mẹ Âu Cơ lên núi.

Cũng trong thần tích này kể: Vương bèn chuẩn bị sính lễ đến trước, đón Mị Nương về động trên núi. Sau ba ngày, Thủy Tinh mới tới, tức giận không được nên dẫn các loài thủy tộc mà đánh đến mà chiếm lấy. Vương và Hùng Vương ngầm buông lưới sắt ở bến Thụy Hương của huyện Từ Liêm mà ngăn binh thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mới mở riêng một dải sông nhỏ cắt ngang từ Lị Nhân tới vùng sơn cước Quảng Oai nối lên thượng ngạn cửa sông Hát, ra sông Cái nhập vào sông Đà mà tấn công sau núi Tản Viên. Lại mở một sông nhỏ cắt ngang, gọi là sông Bờ theo mặt trước của núi Tản Viên.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể chi tiết hơn về sự kiện này: Sơn Tinh tâu lên vua cha Hùng Vương. Duệ Vương vô cùng tức giận, lệnh sai quân lính lấy một vạn cân sắt, truyền cho trăm thợ rèn đúc thành một tấm lưới sắt, dài 236 trượng, cao rộng 50 trượng, đem giăng ngang sông ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm, ngăn cắt quân của Thủy Tinh không thể qua lại được.

Như vậy chính Sơn Thánh đã buông lưới sắt chặn Thủy Tinh ở bến Thụy Hương tại Từ Liêm. Rõ ràng là sự tích đức thánh Chèm diệt thủy quái ở Võng La là chuyện của Tản Viên Sơn Thánh, người mang tên thần Hương hay Hương Lang. Phải là Tản Viên Sơn Thánh mới là vị thần đứng đầu các linh thần Việt, chứ Lý Ông Trọng thời Tần khó mà xếp ở hàng đầu trong Tứ linh Hương Bổng Đổng Đằng, trên cả Phù Đổng Thiên Vương được.

Bài thơ ở đình Chèm nói tới núi Tản và sự tích lưới sắt chặn thủy quái:

Viễn ủng Viên phong khống Nhị hà
Từ Liêm cố quận duyệt sương hoa
Lạc đô vĩnh điện sơn hà tráng
Mã sử trường lưu tính tự hoa
Vạn lý ngọc quan kim hữu ảnh
Thiên tầm thiết võng thủy vô ba
Dư linh bàng bạc di Nam Bắc
Suất thổ thần triêm vũ lộ đa.

Dịch nghĩa:

Xa ôm núi Tản, Nhị hà quanh
Quận cũ Từ Liêm sương trải mành
Vững mãi Lạc đô sông với núi
Lưu truyền Mã sử ngưỡng thanh danh
Ải xa vạn dặm in đồng tượng
Lưới sắt nghìn tầm chắn sóng dềnh
Phảng phất oai linh trời Nam Bắc
Nơi nơi thấm đẫm thánh ân lành.

Vì sao ngã ba sông Từ Liêm lại là một nơi xảy ra cuộc giao tranh giữa thần Hương (Tản Viên Sơn Thánh) với Thủy Tinh? 

Truyền Hồ tinh trong Lĩnh Nam chích quái kể:

Thành Thăng Long ngày xưa gọi là đất Long Biên, đời Thượng cổ đã có người ở rồi… Buổi đầu, chỗ đất này về phía Tây có một ngọn núi đá, dưới núi có một cái hang, có một con cáo (Hồ) chín đuôi sống hơn một nghìn năm thành ra yêu quái, biến hóa vạn trạng, có lúc hóa người, lúc hóa khỉ, đi khắp cả nhân gian. Lúc bấy giờ ở dưới chân núi Tản Viên có giống người mọi gác cây kết cỏ mà ở; trên núi có một vị thần được người mọi phụng thờ. Vị thần ấy dạy cho người mọi cày ruộng, dệt vải, may áo trắng mà mặc, nhân đó gọi là Bạch Y man.

Cáo chín đuôi hóa ra người áo trắng nhập vào trong bọn mọi, cùng lũ mọi ca hát, dụ dỗ được người con trai con gái nào thì đem về nhốt ở hang đá; người mọi lấy làm khổ sở về việc ấy. Long Quân mới sai bộ hạ Thủy phủ dâng nước lên đánh phá núi Tiểu Thạch Sơn, đào thành một cái đầm lớn, chính giữa thành có một chiếc vực sâu, gọi là Thi Hồ Trạch (nay là hồ Tây) rồi lập chùa quán để trấn yểm nữa (nay là Thiên Niên quán) …

Trong truyện này có vị thần núi Tản Viên đã dạy cho người dân cày ruộng, dệt vải, may áo… Rõ ràng đây chính là Tản Viên Sơn Thánh. Con cáo chín đuôi (cửu vĩ hồ) ở Tiểu Thạch Sơn hóa thành người dân của núi Tản. Cửu vĩ hồ ở đây là biểu tượng cho quân của Tản Viên Sơn Thánh, của dòng lên núi.

Sau đó xảy ra cuộc đụng độ giữa Lục bộ Thủy phủ của Lạc Long Quân với Cửu vĩ Hồ ở phía Tây của đầm nước Hồ Tây. Làng Thụy Hương của Từ Liêm cũng chính nằm ở phía Tây hồ. Lạc Long Quân là Thủy Tinh trong truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh. Phía Đông của hồ Tây vốn là kinh đô Lạc (như được nói đến trong bài thơ ở đình Chèm) của Lạc Long Quân hay là Thủy phủ Động Đình của Thủy Tinh. Vì thế mà quãng sông trước đình Chèm mới là “chiến trường” tuyến đầu trong cuộc chiến giữa Tản Viên Sơn Thánh với Thủy Tinh Động Đình.

Tản Viên Sơn Thánh với gốc tích nguyên sơ ban đầu trong sự tích về Hương Lang được tôn là thần Hương, đứng đầu trong Tứ linh thần, cũng là đứng đầu trong các bách thần đất Việt.

Ngọc phả Lăng Sương về Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu

Đền Lăng Sương

Trong thời Hùng Duệ Vương ở động Bình, châu Thuận Bình, phủ Triệu Châu, xứ Thuận Hóa có một trưởng bộ, họ Đinh tên Bích, lấy vợ ở trang Hạ, xã Cao Quần, huyện Chân Định, phủ Kiến Xương, xứ Sơn Nam, họ Dương tên Hằng. Vợ chồng tuổi đã ngoài 40 mà chưa thấy lan quế trước nhà nhập mộng, bèn cùng lên chùa Tây Thiên núi Tam Đảo cầu tự. Trời tối lưu lại ở chùa để cầu ứng mộng. Thái bà mộng thấy một ông lão râu tóc bạch phơ nói với Thái bà rằng:
– Hãy nghe mệnh! Thiên Đế lệnh cho ta đem một viên ngọc trắng giao xuống cho.
Lão ông giao cho Thái bà, lại ngâm tụng rằng:
Trời cao có nẻo chiếu nhân gian
Có phúc đều do phúc báo hoàn
Ngọc báu nay ban cho đến chỗ
Đảo Sơn, Tản Lĩnh đối cùng ngang.

Ngâm xong lão ông bay lên trời biến mất. Thái bà cầm ngọc cất vào trong bụng. Bỗng nhiên tỉnh lại, mới biết là nằm mộng. Bèn đem việc này kể lại với Trưởng ông. Vợ chồng ra về. Sau đó trăm ngày, đang khi giữa giờ Ngọ, bỗng thấy một con chim lạ lông cánh năm sắc, chân mỏ màu đỏ, từ trên trời hạ xuống, bay thẳng vào trong nhà. Xung quanh phòng trong nhà trong chốc lát đều sáng bừng lên. Thái bà thấy vậy tự nhiên chuyển ý mà hoài thai. Tới ngày 6 tháng Giêng năm Kỷ Sửu vào buổi tối Thái bà mơ thấy một người con gái rất đẹp, theo mây từ từ mà hạ xuống, đi vào nhà. Thái bà muốn hỏi thì bỗng nhiên tỉnh dậy, thấy trời đã sáng.
Tới ngày mồng 7 giờ Tỵ sinh hạ một người con gái, phong tư đẹp lạ, cốt cách thanh kỳ, thân tự phát ra mùi hương thơm ngào ngạt. Được trăm ngày mới đặt tên là Đinh Thị Ngọc. Lúc Nương lên 3 tuổi trong động có một gia tộc lớn họ Mãn, nhà giàu có, kiêu ngạo ngang ngược, đem lòng kết bè đảng, muốn giết hại Trưởng ông. Buổi tối đó dẫn hơn trăm người cầm khí giới xông vào nhà Trưởng ông. Trưởng ông biết chuyện bèn cùng với gia quyến chạy thoát. Bè đảng đốt nhà, lấy hết tài sản.
Lại nói, Trưởng ông từ khi bị nhà họ Mãn làm hại đã dẫn gia quyến đi vào trong núi sâu, không quay lại nữa. Đi hơn mười ngày đều dựa vào châu động, rừng núi cùng mãnh thú hổ báo, lại không biết đường ra, lạc ở trong rừng. Trưởng ông mới ngửa mặt lên trời mà than dài. Bỗng thấy có một lão ông thần cao 7 thước, quần áo mây gấm, vừa đi vừa cười, rồi đọc rằng:
Trong thân có ngọc cớ sao lo
Còn cười trời được, thật là ngô
Người lòng trong sạch đâu sợ nạn
Cuối cùng sẽ được việc không ngờ.

Trưởng ông nghe lão ông hát biết là ý trời muốn trêu ngươi, bèn mới vui mừng hỏi rằng:
–    Lão ông từ đâu đến đây? Nơi này không thấy đường, mây mù u ám, không biết đường nào mới ra được chỗ có dân cư. Xin lão ông chỉ dạy, sẽ nhớ ghi ơn hậu này.
Lão ông ngửa mặt lên trời cười mà đọc rằng:
Đường mây lớp núi thấy trùng trùng
Người được ý này dễ thoát chung
Một phiến mây trùm trên bảo ngọc
Hướng Tây đi tới chỗ người cùng.

Lão ông đọc xong thì bay lên không mà đi. Trưởng ông bèn ngửa mặt lên xem xét, thấy một đám mây màu nhạt phủ bay trên trời phía trên đầu Ngọc Nương. Đám mây trôi đi trước. Ông cùng Thái bà và gia quyến nhìn mây mà đi theo hướng Tây. Được vài bộ thì thấy một tảng đá lớn chắn đường, không có lối đi. Ông bèn xem xét ở quanh tảng đá, thấy một hang đá. Ông chui vào hang đá lại thấy trong hang có một con đường nhỏ.
Ông cùng vợ con lách người mà đi, vượt qua hang đá thì mở thành đường lớn. Trong khoảnh khắc đã tới châu Hoan (tức nay là Nghệ An), qua đền Khổng Tước (tục gọi là điện Cuông). Ông lại thấy lão ông đã chỉ đường ở đó, đang đi vào trong đền. Ông bèn đi theo. Khi vào trong thì không thấy đâu nữa. Ngửa lên xem phía trên đền có dòng chữ lớn khắc trên biển được trang trí bằng vàng sáng láng, đề rằng:
Hùng Vương điện, Nam Thiên Thánh tổ”.
Ông biết đấy là Hùng Vương đã xuống răn dạy. Ông bèn làm lễ bái tạ trước điện. Lại đi tới châu Ái, đến châu Đà Bắc. Ông bèn ở đất đó. Ông vốn thạo nghề phong thủy, thường đi tìm xem đất. Người dân ở các châu động tại Đà Bắc đều kính phục, cử làm thầy tướng địa lý. Ông cùng với vợ ở đó, qua được 7-8 năm, trở nên giàu có phong lưu.
Khi ấy ở động Lăng Sương có một trưởng bộ, họ Nguyễn Cao tên Hành, gia thế giàu có, thạo việc cung tên, thường đi săn bắn. Ông tuổi đã cao mà nhưng chưa thấy mộng lan quế. Thái bà mất sớm. Lúc ấy Cao Công nghe tiếng Đinh Công ở Đà Bắc là một người tốt. Cao Công thường đi săn ở nơi ấy, để mong kết bạn.  Một hôm Cao Công thấy em gái của Đinh Công (tức là bà Thị Điên), có ý yêu mến, nhờ mai mối đến hỏi cưới. Đinh Công bèn gả cho. Hôn lễ xong Cao Công đón về nhà ở động Lăng Sương chung sống.
Đinh Công đi ngắm phong cảnh đồng nội, lại thấy núi cao muôn vẻ, sông chảy miên man, non nước như vẽ, cây cối sum xuê, chim ca vượn hót véo von, đài phượng gác mây lung linh, thành một cảnh đệ nhất trời Nam. Đinh Công thấy địa hình sơn thủy hữu tình, mới hứng khởi mới làm một bài thơ rằng:
Tạo hoá sinh thành tú khí linh
Lăng Sương đất ấy bốn kỳ hình
Lầu rồng gác phượng sinh hiền chúa
Voi phục rùa chầu xuất thánh minh
Giếng ngọc giấu châu, sinh bất diệt
Ấn đeo bình bạc, thọ mà vinh
Dân phong thuần hậu cùng vui vẻ
Khắp chốn chầu tôn đất tối linh.

Lại nói Đinh Công cùng Cao Công chơi được vài chục ngày lại về Đà Bắc. Khi ấy Ngọc Nương đã 16 tuổi. Môt hôm, Thái bà không bệnh tự nhiên hóa. Ông bèn chôn cốt tại đó (tức động Thanh Khê châu Đà Bắc). Đươc vài năm sau Cao Công đón Đinh Công về động Lăng Sương. Từ đó Đinh Công đến ở tại Lăng Sương. Cao Công tuy là em rể nhưng coi anh như cha mẹ ruột vậy.
Lại nói, Đinh Công ở đó được 3-4 năm thì chẳng may bà em họ Đinh lại mất (tức là vợ của Cao Công, em của Đinh Công tên là Đinh Thị Điên). Trong lúc lâm chung có để lời lại cho người cháu hiền quyền lấy Cao Công. Đinh Công thương tình Cao Công là người có nghĩa, bèn đồng ý gả. Ngày qua tháng lại, được hai năm rưỡi, một hôm (ngày 25 tháng 4) trời đẹp, hai ông quay về Đà Bắc thăm phần mộ của Thái bà. Qua một tháng, lại trở về nhà. Đến ngày 25 tháng 12 năm Ất Mão, trời đông, hai ông đi săn đến chỗ chợ (tức là chợ Lăng Sương), cùng nhau uống rượu rồi ra khe nước mà tắm rửa (ở bên cạnh chợ có một cửa khe giếng nước). Tắm xong lại lên vào chợ, rồi bỗng nhiên bị đau đồng mà cùng hóa.
Thái bà làm lễ an táng ở nơi đó (tức chợ Lăng Sương). Trong 3 năm các tiết, đều làm lễ tuần chay 49 ngày, làm trọn lễ hiếu. Ruộng đất của nhà chia mười phần, chỉ giữ lại một. Thái bà mới dựng nên một gian nhà cỏ ở ngoài khu dân cư nơi đầu ruộng cạnh chỗ giếng nước (giếng này có đất đẹp quý cuộc, mạch dẫn Canh Tân, thế hợp Đinh Quý, trái phải có voi ngựa rồng hổ phượng chim, hình người đang bái, nhất nhất quay đầu cùng lại chầu, ở ngay phía sau có một động cao làm đài lầu, phía trước có dòng nước ở minh đường, cùng với giếng thành hình chữ Ngọc).
Lại nói, Thái bà từ khi đến ở đất đó, mỗi tháng hai kỳ sóc vọng đều thấy hổ về nơi đó nằm chầu trước sân một lúc rồi đi. Tới năm Đinh Tỵ vào ngày 14 tháng 1 vào đêm Thái bà đang nằm mộng thấy một vị quan y phục cân đai chỉnh tề, cưỡi một con ngựa trắng đến thẳng nơi Thái bà đang nằm, tay cầm một bức chiếu chỉ rồng, quỳ mà tuyên đọc rằng:
Thiên thần xuất thế đã đến nay
Vâng mệnh Thiên tào báo sự đây
Hiền nhân Đinh Thị rồi sinh Thánh
Quyền cai thần chưởng Lăng Sương n
ày.
Đọc xong thì bay lên mà đi. Thái bà tỉnh lại thấy trời đã sáng. Ngày hôm đó (ngày 15 tháng Giêng), Thái bà ngồi trên bàn đá trắng, bỗng có mây bây năm màu, hòa quang sáng lành. Đến giờ Thìn sinh được một người con trai, dáng vẻ tuấn tú, cao lớn hơn người thường nhiều lắm. Rồng phun nước tắm, hổ ngậm đá đỡ cho bụng Thái bà (tới nay ở đền hiện vẫn còn hòn đá chèn và bàn đá ở bên giếng).
Lại kể được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn. Khi Công được 6 tuổi, mẹ con một mình cô đơn, không có cách sinh nhai nên mẹ con cùng dẫn nhau tới núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (tức là chính ở tại xứ Mang Bội, châu Thủ Pháp, tổng Hoằng Nhuệ, huyện Thanh Xuyên) trú ở nơi đó. Lại cùng với một lão bà kia trên núi tên là Ma Thị (do ở nơi đất là Bùi nên người ta gọi là bà Bùi) Cao Sơn Thần nữ. Được ba năm quay về động cũ Lăng Sương (Tuấn Công khi 12 tuổi đổi tên là Nguyễn Tùng), có chí cho việc học hành. An bần lạc đạo, thật là có đại chí vậy.
Lại dẫn mẹ đến núi Tản Viên ở cùng mẹ nuôi. Được một năm rưỡi, Đinh bà mộng thấy có một tấm thẻ rồng treo trên tường trúc đề rằng:
Một áng mây hồng đến nhân gian
Mới gọi Tiên nương lên Quảng Hàn
Việc đời qua đi còn là thánh
Núi thiêng hương lửa mãi muôn vàn.

Đinh bà tỉnh lại, thuật lại mộng cho con nghe. Nguyễn Công mới tạ Ma Bà, mẹ con trở về nhà ở Lăng Sương. Sau 4-5 ngày, một hôm (ngày 12 tháng 6) Đinh bà đi ra ruộng cấy lúa, quay về sân, bỗng thấy một đám mây trắng từ trên trời hạ thẳng xuống, tự nhiên mà hóa. Nguyễn Công cùng với người trong động khi đó đang làm lễ chôn cất thì mối xông thành mộ (ở tại nơi góc ruộng có cửa giếng, có bàn đá, là nơi nhà ở trước đây sinh Tùng Công).
Lại nói, Nguyễn Công từ khi thân mẫu qua đời, gia cảnh trở nên khốn cùng. Một hôm vào buổi chiều tối thấy một lão bà từ ngoài đi vào trước sân nói rằng:
Người con côi!
Người con côi!
Quân tử vốn khó khăn
Hồng nhan nhiều gian nan
Con hiếu sẽ được yên
Muốn lập thân thành nên
Hãy về với mẹ nuôi
Dựa vào núi Tản thiêng.

Lời dứt thì biến mất. Tùng Công biết là mẫu thân dạy vậy, bèn quay về với lão bà Ma Thị mà ở. Đến một hôm lên núi Tản Linh chặt một cây to cành lớn. Trong hôm đó về báo cho người trong động (tức động Mang Bội) cùng lên chặt gỗ. Nhưng mà ngày hôm sau đến nơi, thì thấy cây gỗ cành lá vẫn xuân xanh, tươi tốt. Nguyễn Công lấy đó làm sự lạ thường, bèn lại một lần nữa chặt cây, rồi giả như đi về, quay lai nơi ấy để xem ra sao. Đến ban đêm thấy một ông lão thần cao hơn một trượng, tay phải cầm một cây gậy trúc, theo sau có một hề đồng cầm một cái chuông đồng, lắc liền ba hồi. Lão ông miệng niệm thần chú, dùng gậy mà chỉ. Bỗng thấy vụt kéo tới một trận sấm gió bồng bột, trời đất chao đảo. Cái cây hồi sinh.
Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng bèn chạy lại nơi cây cổ thụ, hai tay ôm lấy ông lão mà hỏi rằng:
– Ông lão từ đâu đến đây? Từ đâu đến đây? Tên cụ là gì? Sao vì thương xót một cành cây già mà phụ nỗi mong mỏi của người dân?
Ông lão rằng:
– Ta là đại thần tinh núi, tên gọi Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên Tướng, vâng sắc chỉ của Ngọc Hoàng xuống trông giữ vùng núi non. Nay cái cây này là cây ngô đồng quý, giúp thánh ra đời, chính là mộc chủ trong núi Ngọc Tản, không thể chặt được.
Nguyễn Tùng chắp tay vái mà nói:
– Lời nói của thiên tướng đã làm sáng tỏ lòng mong mỏi một bề. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu việc sinh tử người đời, để báo ân sâu cha mẹ, sau là để đáp ơn ban phúc, khỏi phải đi kiếm củi nuôi mẹ nữa.
Ông lão nghe lời nói biết là bậc đại hiếu, không phải dạng người thường, bèn lấy gậy thiêng cùng thần chú giao cho. Lại nói rằng:
– Một đầu gậy có thể cứu sống người. Đầu dưới có thể trừ diệt hại. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Nói xong bay lên không mà đi. Nguyễn Công từ khi được gậy và chú, vui mừng liền trở lại núi thiêng, bái tạ mẹ nuôi mà nói rằng:
–    Con nay có được gậy thiêng của thiên thần, có thể cứu được sự sinh tử thế gian.
Việc xong thì về động cũ Lăng Sương, nhân từ đó xưng là Thần vương. Mọi người trong động đều kính phục. Thần Vương sửa sang lại lăng mộ của cha mẹ, làm lễ bái yết, nhờ thác nhân dân lo việc hương đèn. Mọi người đều nhận việc đó (hôm đó là ngày 4 tháng 4).
Hôm đó Thần vương đi qua thôn Cốc sách Thủy Pháp. Nơi ấy hay bị voi hổ làm hại. Thần vương đến nơi, thấy trăm con voi hổ đang ngậm 5-6 người sách Thủy Pháp. Thần vương lấy gậy chỉ vào, tức thì hồ về Bắc, voi sang Đông, bỏ người xuống đất. Thần vương lại chỉ đầu sinh của trượng, những người đó đều sống lại. Nhân dân hôm ấy (5 tháng 5) đều làm lễ xin làm thần tử. Thần vương đồng ý.
Thaàn vương lại đi đến bãi Trung Độ trang Ma Xá (cũng gọi là Trường Sa). Trên đường thấy đám trẻ chăn trâu cùng đánh chết một con rắn đen. Thần vương nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
–    Cho ta mua lại con rắn này.
Lũ trẻ đồng ý. Thần vương lấu 36 văn tiền mà mua, đem tới bãi Trường Sa, miệng đọc thần chú lấy gậy thiêng mà chỉ. Con rắn sống lại. Rắn đen cúi đầu, trên đầu có chữ Vương, bái tạ Thần vương.
Thần vương tự đứng xem, thấy rắn phân nước thành đường, mới biết đó là con của Long Vương.
Rắn đen về đến Động Đình đem sự việc tâu với Đế quân. Đế quân lập tức sai Thái tử đi đón Thần sư, từ tạ dưỡng mẫu, mà theo sứ đến Thủy cung. Đế quân ngồi ở chính tòa, mời Thần sư đến bên phải long sàng, phán rằng:
–    Giống rồng Đông cung là Thái tử của Trẫm. Hôm qua đi chơi gặp sự biến Trường Sa, may được Ngài cứu khỏi. Hôm nay mời đến muốn để báo đáp tấm tình.
Thần vương tâu rằng:
–    Ngày trước cứu giúp là bởi thấy có lòng nhân. Hôm nay lại được gần với vẻ rạng ngời của Đế quân, đâu dám mong báo đáp.
Hôm đó mở yến tiệc lớn. Sự xong Đế quân muốn tạ ơn bằng vàng bạc châu báu. Thần vương cố từ chối không nhận. Thái tử khi đó nói riêng rằng:
–    Đế quân có một cuốn sách thần, phép lạ bí truyền, kinh thiên triệt địa đều ở trong cuốn sách thần đó. Nếu Thần sư muốn thứ đó tôi sẽ tâu riêng với Đế quân ban cho.
Thần vương nói: Được.
Thế là Thái tử tâu riêng với Đế quân mang sách thần đem cho Thần vương xem. Có được sách thần, bèn từ biệt Thủy cung.
Lại nói, Thần vương về động Lăng Sương, lấy trượng cầu chú, dùng sách mà ước, tự nhiên hóa thành lâu đài vạn vật, rồi đem hành lễ ở lăng của mẹ và cha. Xong quay về núi Tản Linh nói với dưỡng mẫu rằng:
–    Từ thủa nhỏ con đã ở cùng với mẹ. Công đức của mẹ cao như trời vậy. Ngày nay con về đây xin nguyện thần vận quỷ dẫn cho một chút để báo đáp công đức ấy.
Bèn lấy sách thần mà ngầm cầu trời đất đọc ước cho một lần biến hóa. Tự nhiên thấy tiền đồng trăm vạn quan rơi xuống. Thần vương lấy đó mang vào dâng tạ ơn. Ma bà thấy tấm lòng thành thật đó, thầm mong vạn sự được đủ đầy, bèn lấy những vật rừng núi của mình đem trao cho Thần Vương. Nên bèn lập một đạo chúc thư, Ma Thị Cao Sơn Thần nữ tự ký.  
Sự xong, Thần vương lại mẹ nuôi chung sống. Được một năm Ma Thị mắc bệnh mới gọi Thần Vương lại mà dặn lại rằng:
– Sau khi mẹ Ma Thị mất, Vương lập cho một cỗ thọ đường đặt ở miếu đường phụng thờ cho tỏ đạo hiếu.
Thần Vương lĩnh mệnh. Hôm ấy bà Ma Thị mất. Thần Vương làm lễ chôn cất (lăng này chôn ở vực núi Đãng Khô sách Phương Giao huyên Thanh Xuyên, nay vẫn còn).
Lại kể rằng Thần Vương trở về nơi động Lăng Sương cùng với Tả Hữu Kiên Thần (tức là cháu chắt của bà Ma Thị) xem như anh em cùng một bọc, phù tá hai vai. Khi ấy Thần vương về động Lăng Sương, hôm đó bèn truyền nhân dân thiết lập 2 bệ cùng với 2 cột đồng ở tại nơi lăng (tức mộ tổ của Đinh Công và Nguyễn Công), mà làm gia quán kỷ cương. Từ đó các châu động trang sách đều là thần tử. Hàng ngày hứng khởi đàn ngâm. Hoặc luyện thuốc trường sinh, đi du ngoạm non xanh nước biếc, bay lên khó biết, biến hóa vô cùng, thật là bậc thánh trên đời vậy.
Lại kể khi đó cơ đồ họ Hùng đến lúc mạt suy. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt theo nhau về cõi tiên. Rồi sinh được 2 con gái. Công chúa Tiên Dung về sau gả cho Chử Đồng Tử. Còn lại công chúa Mị Nương nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ. Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ. Bút văn múa mà hình rồng động. Trận võ bày mà hổ báo khiếp. Bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận vậy.
Lại nói, khi đó có Tản Viên Sơn Thánh gửi thư cho Thủy Tinh cùng đến kinh thánh, vào tâu trước ngự tiền rằng:
– Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy.
Vua bèn rời giá đến lầu để xem thi. Thế là Sơn Tinh đến ngồi ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước, biến ra muôn hình vạn trạng, xuất quỷ nhập thần, biến hóa mù mịt. Sơn Tinh tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ. Tức thì kỳ kỳ quái quái đều theo đầu gậy mà biến hết. Lại rời núi Ngũ nhạc ra giữa sông lên cao ngàn vạn trượng sánh trời đất.
Hai người làm phép biến hóa đều là huyền diệu. Vua không biết gả cho ai, quay giá về cung, gọi lại nói rằng:
–    Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền. Nay hai khanh đều thật là anh hùng. Hôm nay xem ra không thể thẩm định được thắng thua thuộc về ai. Nếu ai mang được sính lễ đến trước, Trẫm sẽ gả cho.
Thế là Thủy Tinh quay về Động Đình để cầu tìm vật lạ. Sơn Tinh xuống ngay dưới lầu, tay lấy sách thần đọc mật chú. Bỗng thấy voi trắng chín ngà cùng các kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Trời còn tối vào giờ Tý thì đem sính lễ vào lầu rồng. Vua mới gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh đón hôn.
Sơn Tinh đi khỏi thì tới giờ Mão Vua thấy Thủy Tinh mang lễ vật đến. Vua nói:
–    Trẫm theo như ước, Sơn Tinh đã đem sính lễ đến trước rồi.
Thủy Tinh trở về.
Lại nói, khi ấy Duệ Vương trị nước đã 115 năm, mới muốn nhường ngôi cho con rể. Sơn Thánh cố từ chối không nhận. Vua lại rằng:
–    Hùng đồ đã mạt cho nên mới cầu tài nối ngôi. Ngài không nhận thì còn ai trong nước này nữa?
Sơn Thánh còn do dự chưa quyết. Khi đó vào năm Ất Mùi, Thục Vương khởi binh đến xâm phạm bờ cõi. Vua khiển Sơn Thánh cùng với Tả Hữu kiê thần trong ngày (15 tháng 5) đại hội đãi quân sĩ, rồi tiến về kinh thành với quân cả nước là 3 vạn, tiến đến Mộc Châu. Sơn Thánh một mình ngồi ở đầu núi, cầm sách đọc mật chú. Bỗng nhiên từ tren trời giáng xuống một vị đại thần tướng, thân cao 5 trượng, dưới chân có dây lửa vạn nhận, cầm một cây tiêu gỗ dài 30 trượng, đứng bên trái của Sơn Thánh (sau phong là Tá Thánh, cũng thờ phụng ở đền Tản Viên Sơn) mà thôi. Một trận sấm gió nổi lên, gẫy cây bạt nhà, cát bay đá chạy. Quân Thục đại loạn bỏ chay. Phục binh bốn hướng xông đến, bắt sông không thoát. Thần tướng bay lên trời. Sơn Thánh khải hoàn. Vua mở tiệc, phong cho các công thần.
Được hai năm Thục Vương lại dấy binh phục thù. Vua triệu Sơn Thánh. Sơn Thánh nhận mệnh tiến thẳng đến đồn chính của quân Thục, đại chiến một trận, lấy được ấn tín của Thục. Mới viết rằng:
–    Nước Nam có thần tướng, chớ nên khinh động. Đợi khi có chiếu đến hãy tấn công.
Tướng Thục tuân lệnh, kiên trì phòng thủ không đánh. Sơn Thánh tay cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ. Bỗng quân Thục đại loạn. Sơn Thánh đại phá, số chết không kể, số sống bắt đem về kinh sư. Sơn Thánh khải hoàn. Vua bao phong Sơn Thánh, lại tặng phong Đinh Thái bà cùng Tả Hữu kiên thần, cho phép dân hộ nhị Lăng Sương được miễn tất cả các tạp dịch. Đều phong cho làm làng hộ nhi quý ấp.
Phong Tản Viên Sơn Thánh Mẫu Đinh Phi chủ Ngọc bệ hạ.
Phong Tả kiên thần Cao Sơn hiển ứng Đại vương.
Phong Tản Viên Sơn Tam vị chiêu dung hiển ứng Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần Ngọc bệ hạ.
Phong Hữu kiên thần Quý Minh linh hiển ứng Đại vương.
Sơn Thánh trở về Lăng Sương. Qua hơn một tháng, tới ngày 10 tháng 11 thì về quốc đô. Duệ Vương nhường ngôi, Sơn Thánh cố từ chối không được, nên giúp nhiếp chính. Được mấy năm Sơn Thánh bàn rằng:
–    Cơ đồ họ Hùng trải thời gian đã dài, ý trời tất nhiên có hạn nên mới sai Thục Vương hai lần lại gây hấn. Vả lại Thục Vương là bộ chủ Ai Lao, cũng là tông phái của hoàng đế trước đây. Nên Bệ hạ và thần học lấy thuật thần tiên. Chi bằng chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển mà tiêu dao bất lão. Chí ấy mới thật là cao vậy.
Vua nghe theo bèn gửi thư cho Thục Vương. Thục chủ sai sứ đến tạ. Vua nhân đó ban cho nỏ thần, rồi về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh và công chúa Mị Nương, hôm đó (5 tháng 5) cùng nhau giữa ban ngày mà bay lên trời, hóa sinh bất diệt.
Kể đến Thục An Dương Vương được nước, cảm ơn nhường ngôi của Duệ Vương và Sơn Thánh lớn như trời đất, bèn dựng lập dao đài với hai cột đồng ở núi Nghĩa Lĩnh. Lại rời giá đến núi Tản Viên tu sưa đền miếu, làm lễ bái tạ công đức lạ kỳ đó, rồi xa giá về kinh thành. Triệu các tông phái của Duệ Vương và Sơn Thánh cùng với các quê làng quý ấp, các cung chốn phụng thờ, tất cả đều ban làm làng trung nghĩa, trưởng tạo lệ. Lại cấp cho ruộng ở tại làng để phụng thờ cùng với sự lành quốc gia, vạn năm không dứt, vạn cổ trường tồn.
Tự Đức năm thứ 3 ngày 15 tháng 10.
Tiền triều Hồng Phúc năm thứ nhất ngày 10 tháng Giêng Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.
Năm Vĩnh Tộ thứ 20 ngày tốt tháng 2 Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh Lê Nguyên Hải theo như bản cũ vâng chép.
Nay sĩ tử Nghệ An Song viện quán Hoàng Sĩ Đoạn lại theo như nguyên bản vâng sao chép.

Dịch theo bản khai thần tích năm 1938 của làng Lăng Sương, tổng Tu Vũ, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ.

Ban thờ Đinh Phi Thánh mẫu ở đền Lăng Sương.

Ngọc phả Tam vị Tản Viên của trang Quang Diệu

Ngọc phả ba vị Tản Viên Sơn Thánh, Tả Hữu Lưỡng Kiên Thần Cao Sơn, Quý Minh

Chi Chấn, bộ thứ tư, thượng đẳng quốc tế

Đất Việt xưa trời Nam mở vận, phân ngang núi sông bởi sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc lúc đầu thẳng theo hướng sao Ngưu, sao Đẩu. Từ triều Hùng mở vận, Thánh tổ dựng cơ đồ, nước biếc một dòng, mở vận đế thánh, vua sáng. Núi xanh vạn dặm, lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 50 bộ, thế quản chư phiên vững chắc. Làm vua trị nước có hơn hai ngàn năm, mãi giữ cơ đồ tổ tông vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Lưu truyền hươnng lửa nơi núi Hùng. Người đời sau có thơ vịnh rằng:

Tạo dựng Hùng đồ nghiệp mãi đây
Mười tám vị tên truyền mãi này
Tích xưa con đế nòi tiên đó
Thủy tổ mở trời sử chép dầy.

Bấy giờ cơ đồ Hùng Vương truyền 18 nhánh tới Duệ Vương ở ngôi, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước hiệu là nước Văn Lang. Kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua là người có tài cao mưu lớn, tư chất sáng láng, nối nghiệp tổ tông, cơ đồ 17 đời thịnh trị, dốc lòng quản thiên hạ, yên định Trung Quốc.

Trước đó, ở động Lăng Sương, huyện Thanh Châu, phủ Gia Hưng, đạo Sơn Tây, động này có trời Nam gấm vóc, đất rộng suối xanh, hợp thành một cảnh đẹp bậc nhất ở trời Nam. Ở đó có một lão ông họ Nguyên tên Ban, thái bà tên Tạ Thị Hoan. Ông bà là những người tích đức làm việc nhân, chăm lo giữ gìn việc cúng lễ hương lửa, một đời phong lưu, giàu sang dư giả. Khi ấy ông Nguyễn đã gần 53 tuổi. Bà Tạ Thị Hoan cũng đã sống trải nhiều năm, vậy mà phòng lan chưa thấy sinh hương, buồng quế chưa đơm một đóa. Ông Nguyễn có người anh ruột tên Nguyễn Cao Hành. Vợ ông Cao Hành tên là Đinh Thị Điên. Vợ chồng đều tuổi đã ngoài 50 mà chưa có con. Vì sự hiếm muộn đó mà không vui. Nhằm đúng ngày giỗ cha, anh em than thở với nhau rằng:

–    Lời xưa nói 30 tuổi chưa có con trai là điều bất hiếu lớn. Huống chi anh em ta đều đã ở tuổi năm sáu mươi, mà chưa có niềm vui con trẻ. Giả như có ngày kia chết đi, việc hương khói tổ tông cha mẹ lấy ai ủy thác? Đó chẳng phải là đại bất hiếu sao? Chi bằng phân phát tài sản để tạo phúc, cầu cho có được con cái, để lòng người được yên, ý trời có thể đổi.

Thế rồi anh em phân tán hết tài sản, giúp nghèo cứu khổ. Cứ như vậy được ba bốn năm. Một hôm, tiết xuân tháng Giêng, khắp nơi hoa nở ngập đất, người người nhộn nhịp tìm hương. Anh em ông bèn lên chơi núi thiêng Tản Lĩnh. Đến khi trở xuống núi, ở dưới chân núi thấy một ông lão vừa đi vừa hát. Lại có mấy chú bé áo xanh cầm một bầu rượu và một chiếc la bàn. Hai anh em nói với nhau rằng:

–    Đây nếu không phải tiên ông chốn Bồng Lai thì là thần linh núi Tản, không phải người thường. Có lẽ nhà ta làm việc thiện nên Hoàng thiên mới cho tiên ông này xuống để đáp việc đức mà nhà ta đã làm.

Dứt lời, anh em chạy lại trước mặt ông lão, cúi người làm lễ nói:

–    Gia đình chúng thần đức bạc. Anh em thần tuổi tác đã cao mà không có con trai. Dám xin tôn ông mở lòng cứu anh em chúng thần. Vạn điều mong được đại đức tái sinh của tôn ông.

Ông lão nghe vậy bèn cười mà nói rằng:

–    Ta không phải tiên, không phải thánh, chỉ ở trong cuộc trần thế này mà thân ở cõi tam sinh. Đứng xem sự rong ruổi của phong thủy, qua lại nhìn phúc thiện trên nhân gian. Vì người mà tạo phúc, vốn không phải là ý của ta. Nay anh em các người gặp ta tại đây là vì nhà các người có phúc dày, không phải bạc phúc đâu. Ta mới thấy có một thế đất tại ngọn núi Thu Tinh. Không quá trăm ngày sẽ sinh được 1 thánh 2 thần. Anh em các người mau về nhà đem phần mộ của cha đến để ta chôn vào đó.

Hai ông nghe lời đó rất vui mừng, chạy về nơi ở, thu lấy hài cốt của thân phụ đem đến cho ông lão. Ông lão mới chôn ở trên đỉnh núi Thu Tinh theo hướng dựa Quý hướng Đinh. Chôn xong thầy trò ông lão không biết biến mất ở đâu. Anh em hai ông lập đàn làm lễ bái tạ. Từ đó trở về càng thêm lòng tạo phúc, cố sức làm việc nhân. Được khoảng trăm ngày đều thấy hai bà của hai nhà cùng có thai. Mang thai dài 12 tháng. Ngày 6 tháng Giêng năm Đinh Hợi, vợ người anh là Đinh Thị Điên sinh được một bào một người con trai. Vợ người em là Tạ Thị Hoan sinh được một bào hai trai. Tất cả đều có phong thái chỉnh tề, khí chất khôi ngô, khác vượt người thường lắm lắm.

Đương lúc khi sinh ra có khí lành vương vấn, hương bay ngào ngạt. Sinh được trăm ngày thì con người anh được đặt tên là Tuấn Công. Con nhà người em, người đầu tên Sùng Công, người sau là Hiển Công. Ngày qua tháng lại khi đã được 13 tuổi thì đều tìm thầy mà học. Học được vài năm, nghìn kinh vạn quyển, có thể tỏ tường như Khổng Mạnh. Bốn khoa ba truyện, chẳng nhường mưu kế Tôn Ngô. Đến 17 tuổi, cha mẹ hai nhà trong vòng cùng một năm đều theo nhau mà mất. Anh em ba ông khóc lóc với trời nhưng chẳng thể làm gì được. Bèn tìm đất tốt mà làm lễ chôn cất. Ba năm chịu tang, hương lửa theo nghi lễ.

Từ đó gia tài đều cạn sạch. Song dù ở cảnh bần hàn mà tính lạc quan vẫn không thay đổi. Ngày thì rong ruổi theo bầu gió ánh trăng, búa rìu làm kế sinh nhai. Đêm khuya đọc sách bên án tuyết đèn huỳnh, rượu vui một bầu làm thú vị. An bần lạc đạo, lấy đó làm chí lớn. Tuy nhiên đôi lúc chợt xót cha mẹ gian khổ, thương cha mẹ khó nhọc, mà thường buông sách thở dài, rơi lệ rằng:

–    Sinh ra ta, nuôi dưỡng ta, trông nom ta, chăm sóc ta, nghĩ ơn cha mẹ như núi như biển. Nay chưa một chút báo đáp. Ngày sau dù có vạn báu ngàn lộc cũng không còn gặp mà báo đáp.

Từ đó sáng kiếm chiều vay, bữa đực bữa cái, không có lúc mừng. Anh em than thở với nhau rằng:

–    Nghèo hèn như thế này, không có kế sinh nhai, lấy gì để sống.

Vì đó mà cùng đến núi thiêng Tản Lĩnh xin làm con nuôi của Thần nữ Ma Thị Cao Sơn. Ngày ngày hái củi để kiếm nuôi sống. Sau có được gậy trúc của Thái Bạch Thần Tinh và sách ước của vua thủy chốn cung rồng, báo đáp được ơn sâu của bà Ma Thị, cứu được họa phúc ở nhân gian. Bà Ma Thị vì người con nuôi có hiếu mà đem hết núi rừng, khe ngòi, đất đai, cây cối lập chúc thư giao cho Tuấn Công. Tuấn Công bèn phân đất cho hai em, cho Sùng Công ở núi Nộn, Hiển Công ở núi Lãng. Từ đó danh tiếng nổi lên. Thiên hạ đều gọi Tuấn Công là Tản Viên Sơn Thánh, Sùng Công là Tả Kiên Thần, Hiển Công là Hữu Kiên Thần.

Lại nói, lúc này cơ đồ họ Hùng về cuối, ý trời muốn kết thúc. Duệ Vương sinh được 20 nam hoàng tử, 4 nữ công chúa, đều cùng nhau theo về trời. Chỉ còn lại hai người con gái. Người thứ nhất là Tiên Dung công chúa, Vua sau gả cho ông Chử Đồng Tử. Còn lại người thứ hai là Mị Nương công chúa, cung thiềm còn khóa, nhụy ngọc đang phong, lương duyên chưa định cùng ai. Vua bèn dựng lầu ở cửa thành Việt Trì, ban chiếu truyền các thần tử trong thiên hạ, hễ ai có tài trí thông minh, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi báu thì sẽ định kế truyền cho.

Ngày đó bên sông tàu thuyền, trước lầu xe ngựa, bút văn múa như ảnh động rắn rồng, sao sáng sa sông lạnh. Trận võ bày làm hổ báo hồn kinh, sấm sét vang rền góc biển. Một vùng nước nhà, bốn biển anh hùng. Tuy nhiên được cái này mất cái kia, lục tục mà trôi qua, không có ai có thể xứng là có toàn tài. Thời bài Đào yêu chưa có người gảy đàn ngâm thơ vậy. Người đời sau có thơ vịnh rằng:

Trăng gió một trường giục động tâm
Bốn bề chật mắt thấy anh quần
Việt thành then khóa xuân nào thấy
Ai người sẽ mở, ai người cầm?

Bấy giờ Sơn Thánh nghe chuyện bèn nói với Tả Hữu Kiên:

–    Có câu gian nhân khó được. Người đàn ông gặp gỡ được đã là khó huống hồ là cưới vợ là công chúa. Nay con gái nhà vua trong cung là một bậc khuynh thành. Ta chẳng vì xa mà không đến, nắm lấy mối tơ duyên này chẳng cho ta thì còn ai được nữa.

Dứt lời cùng nhau đến trước lầu ở kinh thành. Lại có Thủy Tinh cũng đến tham dự thi. Vua ngự xem thi tài, thấy Sơn Thánh cùng Thủy Tinh đều có phép lạ thông trời thấu đất, có thuật màu nhiệm chiếu nước dời núi. Vua cho là những người tài nhất, bèn triệu đến nói rằng:

–    Trẫm chỉ có một viên ngọc Lam Điền mà hai khanh đều đúng là bậc anh hùng. Ngô vui thì Tần rầu. Hán ca thì Sở khóc. Không biết phải gả công chúa cho ai. Sớm mai ai có thể đem sính lễ đến trước, Trẫm sẽ gả cho người đó.

Thế là Thủy Tinh trở về thủy cung, do cầu kỳ chọn các vật lạ (nguyên trước đó sách ước đã đem cho Sơn Thánh lấy, Thủy Tinh không cưới được công chúa mới kết oán thù. Hàng năm cứ quãng tháng sáu tháng bảy lại dâng nước đến đánh, về sau thường gặp).

Sơn Thánh đi xuống ngay dưới lầu, miệng đọc thần chú, lấy sách ước mà cầu. Tự nhiên thấy voi trắng, ngựa hồng cùng các vật lạ, trân kỳ từ trời rơi xuống. Sơn Thánh nhặt lấy, đương lúc còn tối vào giờ Tí đem sính lễ đến lầu rồng. Vua gọi công chúa đến gả cho. Sơn Thánh làm lễ đón về sống ở sơn động, để lại hai vị Tả Hữu kiên thần cho vua cha.

Vua rất yêu mến bèn phong người em thứ hai của Sơn Thánh Tả Kiên thần Sùng Công là Tả đô đài Đại phu, người em thứ ba Hữu Kiên thần Hiển Công làm Hữu đô đài Đại phu. Vua tôi đức hợp, thiên hạ thái bình, vạn dân gặp được thời no đủ. Bốn biển ngưỡng cảnh tượng thái hòa. Duệ Vương vì công lao đó mà ban cho búa sắt, cùng hưởng lành với đất nước.

Hiển Công, Sùng Công và Sơn Thánh như những con trời cháu tiên đi khắp nơi trong đất nước. Núi sông Thần Phù, Yên Tử mây trắng vầng hồng cao thấp. Gió trăng Vinh Quẫn, Long Biên, núi xanh nước biếc trên dưới. Có lúc đi du ngoạn sông tiểu hoàng thưởng thức sự thú vị của đánh cá. Đi qua trang Quang Diệu, tổng An Lạc, huyện Mỹ Lương, phủ Quốc Oai, Sùng Công và Hiển Công thấy đất Quang Diệu có nước đẹp núi xanh, địa thế quanh co, hổ rồng chầu cuộn, tưởng cũng là một cảnh quang đẹp đẽ. Bèn xin với Sơn Thánh cho dựng một cung ở đất Quang Diệu. Hiển Công, Sùng Công ở đó, khuyến hóa nông tang, giúp thiện trừ tai, lại có thể dùng nhân nghĩa mà cố kết lòng người, lấy hòa mục đắp thành lễ nhượng. Thật là có công lớn với dân.

Bấy giờ Duệ Vương ở ngôi đã 105 năm, triệu Sơn Thánh với Sùng Công, Hiển Công vào triều cùng với Vua lo việc chính sự, lại muốn truyền ngôi cho Sơn Thánh. Lại có bộ chủ Ai Lao họ Thục tên Phán, cũng là dòng dõi của nhà họ Hùng, đổi sang họ Thục, phân trị Ai Lao. Thục Phán tới đó nghe đồn Duệ Vương tuổi thọ trời cho đã cao, mà 20 hoàng tử đầu đã về chốn tiên bồng, không có người nối dõi, bèn thừa cơ phát động can qua, cầu kết các nước láng giềng, chỉnh đốn trăm vạn tinh binh, tám ngàn tuấn mã, chia làm 5 đạo. Một đạo theo đường Thập Châu, Hoàng Đạo tới núi Quỳnh Nhai mà ra. Một đạo theo đường Tuyên Quang, hai châu Tụ Long, Bảo Lạc mà đến. Một đạo theo đường Ái Châu, núi Tam Điệp mà ra. Một đạo quân thủy theo Hoan Châu, cửa Hội Thống, thủy bộ cùng tiến. Quân thanh chấn động. 

Duệ Vương lo lắng, bèn gọi Sơn Thánh đến hỏi kế sách. Sơn Thánh tâu rằng:

–    Hơn hai ngàn năm nay, các bậc vua thánh hiền đã có sáu bảy. Ơn sâu đức dày, đã thẫm đẫm vào cốt tủy. Mà nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ mở ra nước ngoài. Còn người Thục đã không tự giữ gìn, lại dám dấy động, việc nắm lấy phần thua đã có thể thấy trước. Một khi Bệ hạ xét tội thảo phạt, lấy nghĩa mà phục, thì tất con dân đều theo Bệ hạ mà không theo địch. Việc dẹp mối lo này có gì mà không được. Như tình hình hiện nay, thần xin vì thánh giá mà tự dẫn các tướng tài cùng với 30 vạn binh hùng. Giặc Thục không quá một tháng có thể bình được.

Vua rất mừng, đồng ý. Thế là Sơn Thánh ra diễn võ trường, truyền các tướng đến nhận lệnh. Thứ nhất là hai vị Tả Hữu kiên thần Sùng Công và Hiển Công dẫn hùng binh 5 vạn, tì tướng 50 viên tiến theo đường Ái Châu trừ giặc Thục. Còn lại 4 chi đạo giặc Thục, Sơn Thánh cùng các tướng phân ra tấn công. Sùng Công và Hiển Công bái tạ nhận lệnh, lĩnh binh đường đường mà tiến. Tới trang Quang Diệu, huyện Mỹ Lương thì đóng quân nơi cung sở. Hôm ấy nhân dân trang Quang Diệu làm tiệc bái lễ, xin được theo hai ông dẹp giặc. Hai ông bèn lấy trong trang 7 người họ Đinh, 6 người họ Bùi, 6 người họ Lê, 6 người họ Nguyễn, 3 người họ Hoàng, 3 người họ Trần, 2 người họ Phạm, 2 người họ Trương. Cộng tất cả là 40 người làm gia thần thân tín. 

Ngày hôm ấy đại quân thuyền ngựa song hành, tiếng động dậy cả hai bên bờ sông. Thủy bộ cùng tiến, tiếng sấm vang ngoài ngàn dặm. Quân uy ngùn ngụt như bốc tới trời. Tiến thẳng đến Ái Châu, địa đầu của núi Tam Điệp, cùng với giặc Thục một trận đại chiến, thế như chẻ tre đuổi gió, uy dậy như vặn củi bẻ cành. Bắt sống được chính tướng của giặc Thục, chém ngay dưới cờ, và chém hơn ngàn đầu các quân tướng sĩ của giặc. Thế là đạo quân đầu của giặc Thục đã được hai ông bình dẹp. Còn 4 đạo quân giặc Thục do Sơn Thánh cùng các tướng hiệp sức giao chiến. Bốn đạo quân Thục đều thua to tan tác, một xe không thoát, một ngựa không sót. Người đời sau có thơ vịnh rằng:

Đúng là thước kiếm xua giặc dữ
Liền ngay thành chiếm lại cho vua
Nghìn năm về trước, nghìn năm lại
Quốc gọi là thần, đáng con nhà.

Khi đó Sơn Thánh truyền các tướng hội về một chỗ, làm biểu tâu lên. Vua ban chiếu cho quay về, gia phong tướng sĩ thêm cấp bậc. Phong Sơn Thánh là Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng, tăng cấp Sùng Công làm Cao Sơn Đại vương, Hiển Công làm Quý Minh Đại vương. Lúc bấy giờ Sùng Công và Hiển Công tâu với Vua xin Vua cho trang Quang Diệu được miễn đi lính, tô thuế và tạp dịch để sau khi hai ông trăm tuổi làm nơi thờ phụng. Vua hạ chiếu đồng ý. Ngay hôm đó hai ông cùng với các gia thần và nhân dân Quang Diệu nghênh đón chiếc sắc về nơi cung Quang Diệu.

Nhằm vào dịp mồng 6 tháng Giêng là ngày mừng sinh nhật của hai ông, tổ chức ca hát, đấu vật trong 10 ngày. Từ đó hai ông ở cung Quang Diệu. Ngày cùng với một số gian thần của Quang Diệu đi chu du phong cảnh Ái Châu và hai huyện Mỹ Lương, Bất Bạt. Hoặc có lúc săn cáo bắn thỏ, dưới trăng dong buồm nơi sông nước. Hoặc có lúc thích núi vui non, tắm gió mát trong nơi đồng nội. Cứ hàng năm ngày sóc vọng các tiết lớn nhỏ lại về chầu Duệ Vương, chưa từng vắng mặt. Chầu xong, lại quay về nơi cung Quang Diệu mà ở.

Khi Vua truyền ngôi cho Sơn Thánh. Sơn Thánh thay Vua lo chính sự. Được ba năm, Thục Vương gửi thư cầu hòa, xưng thần và nộp cống. Sơn Thánh bèn tâu với Vua rằng:

–    Mười tám đời họ Hùng, lòng trời có hạn nên mới sai Thục Vương thừa cơ đến xâm chiếm. Vẩ lại Bệ hạ sinh 20 con trai đều đã thân về Bồng Lãng, không mong có người kế truyền. Đó không phải là điều đại biến của nước nhà sao? Trước đây Thục Vương tuy có ngông cuồng, nay lại đã xưng thần nộp cống, biết tiến biết lui, đúng là một vị hiền quân. Hơn nữa, Thục chúa tuy là bộ chủ Ai Lao, nhưng cũng là tông phái của hoàng gia. Bệ hạ hà tất chỉ vì yêu mến một cảnh sắc phương Nam mà cưỡng lại ý trời. Thần xin cùng Bệ hạ luyện thuật biến hóa thần tiên, chẳng bằng rong ruổi nơi chốn bất lão Bồng Lai, Lãng Uyển. Gác phượng lầu rồng quyết bỏ tránh nhiễm bụi trần. Xin Bệ hạ nhường cho Thục.

Vua nghe theo bèn gọi Thục Vương đến nhường lại ngôi vị. Xong việc, Vua cùng với Sơn Thánh giữa ngày bay lên trời, hóa sinh bất diệt.

Khi đó Sùng Công và Hiển Công sống ở nơi cung Quang Diệu nghe vậy, than rằng:

–    Thiên hạ nhà họ Hùng đã thuộc người khác.

Bèn mới bày tiệc mời các phụ lão và nhân dân đến uống rượu. Hai ông mới nói rằng:

–    Chúng tôi cùng nhân dân đã có nghĩa xưa, không phải chỉ một ngày, sao nay có thể quên được. Chúng tôi có một cung đền lưu tại nhân dân, làm nơi anh em chúng tôi sau khi trăm tuổi có chỗ tụ lại tinh thần. Vào các ngày sinh ngày hóa của chúng tôi các nghi lễ cần tuân thủ, không thể bỏ được.

Lúc đó nhân dân và phụ lão trang Quang Diệu đều bái tạ nhận mệnh. Hai ông cùng đọc rằng:

Lễ nghi một chốn tụ tinh thần
Vạn cổ khói hương mới mỗi lần
Tuy nói là vui trong cuộc rượu
Quang Diệu lưu tình ngàn vạn xuân.

Đọc xong cùng một số người dân lại theo tiếng hạc, tiếng gió mà chu du bốn biển. Lúc thì reo đàn múa trúc, thơ văn ngân đối đất trời. Nhạc phượng ca loan, sắc thanh thú vị Bồng Lai. Ba nhánh chủ trương trăng gió. Năm hồ dấu tiên thuyền câu. Soi cảnh hội sương khói ngày đêm. Vạn hình mây bay quang cảnh. Nước trong xanh, núi đẹp đẽ, quy lại mảnh áo đất trời. Nam là thánh, Bắc là thần, ra vào một trời phong cảnh.

Một ngày các thầy trò hai ông đến núi Thu Tinh. Hai ông lên núi thăm viếng phần mộ. Bỗng thấy trước mặt có một người râu tóc bạc phơ, chỉ núi Thu Tinh mà rằng:

–    Núi này phàm là người khi chết tất tinh thần sẽ quay về đây, do đó gọi là núi Thu Tinh.

Dứt lời, người đó xuống núi mà không biết đi đâu. Hai ông cùng đọc một bài thơ:

Từ đế vương cùng muôn triệu dân
Quy về sẽ phải tụ tinh thần
Sự truyền khó luận chân hay ảo
Nhớ tên núi đó, lẽ như chân.

Đọc xong thì trời đất tối tăm, sấm gió nổi lên. Nghìn chim tụ tập, trăm thú lại chầu. Từ trên không trung có tiếng đàn hát du dưa. Khi đó Sùng Công và Hiển Công thấy có một ngôi sao lớn từ trong thân bay ra. Hai ông ngồi ngay ngắn trên bàn đá mà cùng hóa (đó là ngày 6 tháng 11). Ngay khi hai ông hóa, những người dân Quang Diệu đi theo mới quay về nói với nhân dân lập miếu thờ phụng. Lúc ấy, Thục chúa nhận ngôi vị, cảm ơn nhường nước của Duệ Vương bèn cho tu sửa miếu điện hoàng gia ở núi Nghĩa Lĩnh để thờ phụng các thánh tổ họ Hùng cùng với ba vị Tản Viên. Tới khi đó các tướng có công giúp nước đều được phong Thượng đẳng phúc thần, sai các hương ấp nơi ở lập miếu phụng thờ, xuân thụ lệnh các quan đến cúng tế, bốn mùa hương lửa, vạn đời duy trì, cùng với quốc gia hưu thịnh. Tốt đẹp thay!

Phong Cao Sơn Đại vương Thượng đẳng thần (bên trái, huý Sùng)

Phong Tản Viên Sơn Quốc chủ kiêm Thượng đẳng thần (chính giữa, huý Tuấn)

Phong Quý Minh Đại vương Thượng đẳng thần (bên phải, huý Hiển)

Cho phép cho trang Quang Diệu, tổng An Lạc, huyện Mỹ Lương phụng sự.

Lại nói, Thục Vương ở ngôi được 50 năm, có người Chân Định họ Triệu tên Đà dẫn quân đến đánh, nên nhà Thục mất. Triệu Đà được nước, cha truyền con nối, 5 đời làm vua. Từ đó đất Việt ta thuộc Hán. Đến Đông Hán Quang Võ lấy Tô Định làm Thái thú đất Việt. Định là người tham tàn, bạo ngược, xâm chiếm trung nguyên. Họ Triệu tàn thương, không người cứu giúp. Đến khi có người cháu gái Hùng Vương là Trưng nữ tướng quân, tên là Trắc Nương, cùng với em ruột là Nhị Nương, nổi chí oai hùng, dẫn quân đến đánh. Đến Mỹ Lương lập đàn cầu đảo Thánh tổ họ Hùng cùng với ba vị Tản Viên. Đến khi đuổi được Tô Định, Trắc Nương lên ngôi, tự lập làm Vua, mới phong thêm mỹ tự Cao Sơn hiển ứng hộ quốc Đại vương, Quý Minh khang dụ linh ứng Đại vương. Sắc chỉ ban về trang Quang Diệu, trùng tu miếu điện để phụng thờ. Từ đó về sau trải qua các triều Tiền Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần cùng với hoàng triều ta mở tạo cơ đồ lớn, thường có giúp nước giữ dân, cầu mưa cầu thời đều có nhiều linh ứng. Nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự để ức vạn niên hương lửa vô cùng.

Phụng khai các tịch sinh hóa cùng với các chữ húy nhất thiết cấm. Ba chữ Tuấn, Sùng, Hiển cùng với chữ húy của thánh phụ, thánh mẫu đều cấm. Các sắc phục màu vàng cũng cấm.

Ngày 6 tháng Giêng là sinh thần, lễ khánh hạ (dùng bánh trôi, bánh chay, bánh mật hoặc thịt trâu, xôi, rượu, ca hát, đấu vật trong 15 ngày).

Ngày lễ mừng sắc phong vào 12 tháng 8 (dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát một ngày đêm).

Ngày hóa là ngày mồng 6 tháng 11 (dùng bánh trôi, bánh chay, bánh mật, các đồ thịt trâu, xôi, rượu).

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 3, tháng giữa xuân, ngày tốt.

Hàn lâm viện Đông các đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.

Quản giám bách thần tri điện Hùng lĩnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền, tuân theo chính bản phụng sao.

Dịch từ bản khai thần tích năm 1938 của làng Quang Diệu, tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Đền Măng Sơn, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây

Tản Lĩnh ngọc ký

Thần tích của làng Dũ Lâu, tổng Lâu Thượng, huyện Hạc Trì, tỉnh Phú Thọ. Dịch từ bản khai năm 1938.

Thánh Tản giáng sinh

Thời Kinh triều 18 nhánh, có động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây. Động ấy là nơi núi gấm ngang trời, nước biếc tràn đất, non nước như tranh, cây cỏ tươi tốt, báo kêu chim hót véo von, gác khói đài mây lung linh, sương chiều bảng lảng. Thật đúng là nơi đẹp đẽ nhất trời Nam.
Lúc bấy giờ có Trưởng ông tên là Nguyễn Cao Hành, tuổi đã 70, Thái bà tên Đinh Thị Điên, tuổi 50, cùng nhau sinh sống ở đó. Ông bà thường tích đức, làm việc nghĩa, hương khói cúng tế một mực phong lưu, rộng rãi, lễ lạt dư giả. Bỗng một hôm trông thấy ở trong động mây lành vương vấn, khí tốt rạng rỡ, một con rồng vàng cuộn mình giáng xuống, lấy nước phun sóng như châu ngọc. Đáy giếng tuôn sóng khí thiêng. Hương vị thoáng bốc phủ ngang khắp trên mặt đất. Được một chốc lát, Rồng cưỡi mây mà bay lên biến mất. Gió nhẹ thổi như có ý muốn đón người. Thái bà nhân đó đi qua tường ở bên trái, gánh nước trong giếng lại chỗ bàn đá trắng, đứng lên đó để tắm gội. Thân mình tự nhiên có mùi hương tỏa ngào ngạt, khí tốt giăng đầy, anh sinh tú đúc, cảm thấy như tinh khí đầy khắp, mừng tụ lại ở bụng. Sau đó mãn nguyệt ý như có động, mang thai được 14 tháng. Đến sáng ngày Rằm tháng Giêng năm Đinh Tỵ, Thái bà đang ngồi nghỉ trên hòn đá trắng bỗng thấy mây năm sắc bay, hào quang giáng khí. Lúc ấy sinh hạ được một người con trai, thần sắc tuấn tú, khí mạo hiên ngang, cao lớn khác vạn người. Được trăm ngày sau mới đặt tên là Nguyễn Tuấn. Nghe chuyện lạ ấy người lúc đó có thơ rằng:

Tinh thần ngọc cốt cách Lăng Sương
Mở chốn Rồng thiêng xuống thế dương
Thái Thủy cũng là Thiên Thượng Mẫu
Hoài thai lâu lạ khác bao thường.

Tảng đá nơi sinh Thánh Tản ở Lăng Sương.

Gậy thần sách ước

Lại nói, Nguyễn Tuấn khi 6 tuổi thì cha mất. Thái bà làm lễ an táng. Bảy tuổi, mẹ con dắt nhau đến núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản (ở xứ Mang Bồi) mà ngụ cư tại đó. Lại kết thân cùng với một lão bà ở núi ấy tên là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ. Được ba năm, nhớ đến mộ phần gia đình, bèn trở về động cũ Lăng Sương, đổi tên là Nguyễn Tùng. Khi lên 12 tuổi bắt đầu theo nghiệp với tiên sinh Lý Đường chuyên tâm học hành. Tuy là ngõ cụt ngách hẹp nhưng tính tình vui vẻ vốn có không đổi. Ngày ngày kiếm góp cây khô, búa rìu tiêu dao làm kế sinh nhai. Đêm đêm bên án tuyết song huỳnh một bầu rượu ngon làm thú vị. An bần lạc đạo, coi đó như chí lớn vậy. Tuy nhiên đôi khi cảm thương mẹ vất vả, xót xa mẹ cực nhọc, nên thường bỏ sách thở dài, gạt nước mắt mà rằng:
–    Sinh ra ta, nuôi nấng ta là lòng yêu thương của mẹ hiền, sánh như chuyện ba lần di dời. Nay tình cảnh như thế này, không có gì để an ủi mẫu thân.
Ngày qua năm lại, mới đến núi thiêng Ngọc Tản kêu than với lão bà Ma Thị rằng:
–    Ô hô! Vận trời tuần hoàn, việc người thường biến. Trước đây ở động Lăng Sương khó khăn, tạm còn đủ ăn. Ngày nay, rừng đã cạn củi, cách nuôi mẹ như chim yến đợi mồi. Chí tình của người con có hiếu biết làm sao đâu. Con nguyện xin làm con nuôi của Lão bà để ngày tiện hái củi, sau là có thể nuôi dưỡng được mẹ nuôi vậy.
Lão bà nghe lời than đó bèn đồng ý. Nguyễn Tùng dẫn mẹ đến cùng ở trên núi Tản Viên. Sau đó được 1 năm thì Thái bà qua đời. Nguyễn Tùng làm lễ chôn cất. Sau cùng với Lão bà Ma Thị cùng sống tại đó.
Một hôm lên đỉnh núi thiêng để chặt một cây lớn cành dài. Ngày hôm đó quay về báo cho người trong động cùng lên trên núi để lấy cây gỗ đó, nên tới hôm sau đến nơi thì đã thấy cây gỗ cành lá tươi tốt y như cũ. Nguyễn Tùng tự thấy làm lạ, lại chặt cây một lần nữa. Chặt xong giả vờ đi rồi quay về phục ở đó để xem xét. Tới ban đêm bỗng thấy một lão ông thân cao một trượng, râu trắng phơ, đầu đội mũ hoa, mình khoác áo gấm, lưng thắt đai vàng, chân xỏ hài mây, tay phải cầm một cây gậy trúc, thong thả bước đi như phượng múa gấm hoa, rồng ngậm ngọc duẩn, nếu không là nơi vườn Kỳ thì cũng là vật lạ chốn Lãng Uyển. Theo sau có một hề đồng, tay cầm một chiếc chuông vàng, lắc 3 hồi. Ông lão miệng đọc thần chú, lấy gậy chỉ vào. Bỗng thấy tất cả một bên gió mát thổi đến, lành mây bao phủ, tinh thần của rừng núi hội tụ, đất trời biến hóa trong chớp mắt. Cây gỗ sống lại. Nguyễn Tùng nhìn thấy rõ ràng, liền chạy ngay lại nơi đó, hai tay ôm lấy ông lão, hỏi rằng:
–    Cụ là người ở đâu đến, xưng hô thế nào. Sao lại thương tiếc một cành cây già để mất nỗi trông mong của người dân đói rét?
Ông lão nói:
–    Ta là Sơn Tinh Thái thần, tên là Thái Bạch Thần Tinh Tử Vi Thiên tướng, vâng nhận sắc hạ của Ngọc Hoàng, canh giữ vùng rừng núi. Nay cái cây này là cây Ngô đồng quý giúp đời sinh thánh, đất dựng lầu phượng, chính là cây chủ của núi Ngọc Tản trời Nam, không thể chặt được. Cho nên ta phải giữ cây quý để cầu cho núi sông được vững bền, quốc gia được trị lâu dài bởi vua sáng, để thiên hạ có những ngày thái bình vậy.
Nguyễn Tùng chắp tay tạ và nói:
–    Một lời nói của Thiên tướng đã sáng tầm nhìn của tôi. Đâu dám không theo mệnh. Đúng là sự đời như ngựa hoang, thói đời như phù du. Có có không không, sinh sinh hóa hóa. Cơ vi khó ngờ, sự đổi khác thường. Cả trời đất này cùng chung lý đó. Tùng tôi nay nguyện được nhận gậy thiêng cùng với thần chú để cứu sự sinh tử của nhân gian, để báo ơn sâu của cha mẹ, sau là để nhờ được ban phép mà không còn phải hái củi nuôi mẹ.
Ông Lão nghe lời nói đó, biết là người đại hiếu, không phải là người thường, bèn lấy gậy thần cùng thần chú truyền thụ cho. Rồi lại dặn rằng:
–    Đầu trên của gậy có thể cứu người. Đầu dưới có thể trừ hại chúng. Chỉ đất đất nứt, chỉ nước nước cạn. Phép thực linh nghiệm, cơ sâu diệu huyền. Nếu chỉ trời thì mây bạt sương tan, chiếu tận cửu trùng. Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Không thể! Không thể!
Dặn xong, thần Thái Bạch bay lên không mà đi. Nguyễn Tùng từ khi có được gậy thần, vui mừng trở về động núi Tản Viên, bái tạ mẹ nuôi, lại đem mộ cốt của mẹ về động cũ Lăng Sương. Nhân đó tự xưng là Thần sư.
Ngày hôm đó Thần sư đi qua thôn Cốc của sách Thủ Pháp, bỗng thấy hơn năm trăm con voi và hổ tập trung ở một vùng trên đường qua lại. Trăm muông thú chạy hàng đàn. Thần sư lấy gậy chỉ vào. Lập tức hổ theo hướng Bắc, voi theo hướng Đông, tránh đầu gậy mà chạy hết. Nhờ đó mà đường đi được thông suốt.
Thần sư đi tới bờ sông nhìn thấy nước trời một màu, khói sương mờ mịt, bên sông vắng lặng, thuyền trống mái gác. Thần sư lấy lấy gậy chỉ vào, tức thì mặt nước rẽ mở, giữa sông trở thành một con đường, đi qua đó như đi trên đất bằng vậy.
Thần sư đi đến bãi Trung Độ của xã Ma Xá, còn có tên là bãi Trường Sa. Trên đường bỗng thấy đám trẻ chăn trâu đánh chết một con rắn đen, hô nhau lôi kéo làm vui đùa. Thần sư thấy vậy sự đáng thương hại cần cứu, mới động lòng mà nói với lũ trẻ chăn trâu rằng:
–    Lũ các ngươi chớ có đùa nghịch như thế. Ta muốn mua con rắn này.
Bọn trẻ cười mà đồng ý. Thần sư lấy 36 văn tiền để mua rắn, rồi đem đến đầu trên bãi Trường Sa niệm thần chú, dùng gậy chỉ vào. Tức thì mờ mờ ảo ảo phục dẫn ở đầu gậy. Con rắn sống lại. Rắn đen khoanh tay bái tạ. Thần sư đứng nhìn, thấy rắn đen trườn ra sông, chia thành đường nước dẫn về tới Động Đình, mới biết đó là con của Long Vương.
Bấy giờ Thần sư trở về động Lăng Sương. Rắn đen trở về Động Đình, đem mọi việc tâu với Đế Quân. Đế Quân nhớ công đức ấy bèn sai Thái tử cùng với Đô đốc Giao Long đi đón Thần sư ở quê động. Thần sư bởi vậy đi theo đến Long cung, qua tường gấm đến cửa châu, nhìn thấy gác ngọc lầu châu tầng tầng lớp lớp, thần Côn tướng Ngao hàng hàng lớp lớp sắp hàng. Binh lính cá, ba ba đứng chầu ở cung ngọc. Đế Quân ngự ở tòa chính, nghênh thỉnh Thần sư vào ngồi ở bên phải long sàng, rồi nói:
–    Long chủng Đông Cung là Thái tử của Trẫm, hôm qua đi chơi chốn điện thiêng Tùng Đài (là đền thiêng giữa sông xã Sơn Bạn), chẳng may gặp biến ở Trường Sa. May nhờ ngài cứu thoát, thật đúng là ơn sâu nghĩa lớn. Hôm nay mời đến muốn tỏ tấc lòng báo đáp.
Thần sư tâu rằng:
–    Thủy phủ Dương gian, đường lối khác nhau. Sự tinh rộng của giống rồng, sao có thể hiểu hết được. Chỉ vì nhà của nô tì vốn âm thầm làm việc thiện, lại được gần gũi dung nghi của bệ hạ. Đâu dám mong sự báo đáp.
Hôm đó trong cung mở tiệc hội lớn. Chiếu rồng trải khắp, đèn phượng thắp cao. Giường ngọc bình hương, vàng ròng mã não, đều là những vật lạ trân kỳ trên thế gian không có, tất cả được bày ra la liệt trước mắt. Tiệc ngọc yến bày, Đế Quân đích thân mời. Thần sư rằng:
–    Kẻ trần thế được gặp long nhan đã là điều hiếm có. Nay may mắn vượt sóng ba đào tới chốn này, bình sinh chưa từng có được niềm vui như vậy, đâu dám không uống say chịu ơn.
Tiệc xong, Đế Quân lấy vàng bạc báu vật ra lễ tạ. Thần sư cố từ chối không nhận. Thái tử bảo riêng với Thần sư rằng:
–    Hôm nay được gặp mặt rồng, là cơ hội ngàn năm có một. Thần sư công đức như núi Ngao biển Kình, tiền tài xem nhẹ như chiếc lông, đức này không phải là thường. Nay có một quyển sách thần là phép màu chân truyền, vốn có thể thấu trời suốt đất chỉ trong một lời ước. Tôi xin tâu riêng với Đế Quân được dùng để báo đáp.
Thần sư đáp: Được.
Do đó Thái tử tâu với Đế Quân. Đế Quân cảm công đức của Thần sư liền lấy sách ấy trao cho Thần sư nhân xem. Thần sư được sách đó rồi, từ tạ Đế Quân. Đế Quân khiến Thái tử đem quân đi tiễn Thần sư trở về, đến tận bãi sông, quay về động cũ. Thần sư nhân lúc từ biệt mà làm thơ rằng:
Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Bãi Trường Sa

Chúc thư Ma Thị

Lại nói Thần sư trở về động Lăng Sương, gậy chú để cầu, sách thần để ước, tự nhiên hóa sinh thành lầu gác vạn vật, vàng bạc châu báu, đầy đủ mang tới núi thiêng Ngọc Tản. Thần sư nói với Lão bà rằng:
–    Nghĩa tử từ lúc hàn vi cùng ở với mẹ. Công đức của mẹ lớn như trời vậy. Được một bữa cơm cũng tất đền đáp, huống chi là ơn sâu huệ dầy. Sao có thể quên tình? Hôm nay đến đây cảm vận thần vận quỷ, có ít nhiều là để báo công đức này.
Bèn lấy sách thần ngầm khấn trời đất, đọc ước một phép. Tự nhiên một trận mây mưa ập đến, sấm chớp nổi lên cùng sấm vang dậy trời, mưa châu ngọc khắp đất. Được nửa canh giờ bỗng thấy tiền vàng từ không trung rơi xuống trăm vạn ngàn quan. Thần sư lấy mang vào cung dâng cho dưỡng mẫu. Dưỡng mẫu thấy tấm lòng nhân hậu, ngầm mừng muôn việc đủ đầy. Bèn đem các vật rừng núi trao lại cho Thần sư để mình sau khi trăm tuổi có nơi thờ phụng, cúng tế. Nhân đó lập một bản chúc thư để mãi ngàn vạn đời coi giữ việc hương lửa miếu đường.
Thần nữ Ma Thị Cao Sơn ở núi làng quê Mang Bồi, sách Thủ Pháp, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, xứ Hưng Hóa, nước Văn Lang nay lập chúc thư.
Sự là ở tại động này, núi sông, khe suối, miếu mạo, cỏ cây, rừng rú, trước giờ đến nay đều là của tôi. Nghĩ mình sau khi trăm tuổi, thân về chốn Bồng Lai, tất việc hương hỏa xuân thu không ai phó thác phụng sự gia đường.
Năm nay đang là năm Quý Dậu, có một người con nuôi quê ở cùng huyện tại động Lăng Sương là Nguyễn Tuấn, từ nhỏ đã chung sống xem như con đẻ. Nay Ma Thị tôi tuổi đã ngoài 90, chỉ sợ mệnh trời chưa biết sớm tối ra sao, muốn kê khai ra đây mọi vật, nhất nhất ghi rõ trong chúc thư, giao lại cho Nguyễn Tuấn tuân theo mệnh của mẹ mà coi giữ các vật trong núi, mãi mãi không rời, lưu truyền vạn đời để làm hương hỏa phụng thờ. Trời đất có lẽ, xưa nay có luật, nên lập một đạo để lại ý này này cho người đời sau mãi tuân theo. Những nơi sở hữu núi sông, đất đai, khe suối, miếu mạo, cao rộng trượng xích thế nào đều được kê khai như sau, cứ chiếu theo đó mà sử dụng:
Kê:
–     Núi thiêng Thứu Lĩnh Ngọc Tản ở tại sách Thủ Pháp, dân các xứ cộng 22 xóm. Núi Ngọc Lĩnh cao 112.300 trượng.
–    Một đoạn từ Thượng điện trên núi đến Hạ điện, nay gọi là khe Lăng Cốc, cửa ngòi Bùi men tới sông Cái dài 1 vạn trượng.
–    Một đoạn từ đỉnh núi Mũi Mèo, tục gọi là cửa ngòi Bo, men tới bờ sông dài 300 trượng.
–    Một đoạn trên từ Hạch Đa đến cửa sông ngòi Lỗ dài 200 trượng.
–    Một đoạn trên từ đồi Mỏ Cò đến sông dài 300 trượng.
–    Một đoạn trên từ Ba Dương, thường gọi là ngòi Lông, đến mép sông dài 500 trượng.
–    Một đoạn đường ngàn dặm từ xứ Hàm Rồng, xã Cẩm Đái dài 8.500 trượng.
Đông giáp 2 huyện Ma Nghĩa, Thạch Thất. Nam giáp 2 huyện Mỹ Lương, Phúc Lộc. Tây giáp huyện Thanh Xuyên. Bắc giáp huyện Bất Bạt. Mặt tiền chính Tây, tọa Cấn hướng Khôn.
Lại có Đại giang Tả kiên thần Ma Lãng Sơn, Hữu kiên Nhạc Sơn, Tây Nam sơn Chi Đồng Thần Trấn Đồng Long Đại vương, Tây Bắc Hậu Phi Bạch Y Thần nữ Đại vương.
Tất thảy ruộng đất tế tự cộng lại là 278 mẫu 4 sào 1 thước 1 tấc, tính từ sông Đà dưới tới ngã ba sông Lô làm giới hạn. Đông Tây 4 phía ruộng đất sông ngòi như đã kê trên.
Năm 18 đời Hùng Duệ Vương, 28 tháng 8 lập chúc thư.
Ma Thị Cao Sơn Thần nữ ký.

Lập chúc thư xong, Thần sư bái tạ, lại cùng ở với Lão bà. Được 1 năm, Ma Thị mắc bệnh, gọi Thần sư lại đưa cho chúc thư mà rằn:
–    Sau khi Ma Thị ta mất, con đặt cho một cỗ thọ đường ở trong miếu đường để phụng sự, để cho tỏ hiếu đạo.
Thần sư dập đầu lĩnh mệnh. Ngày hôm đó Ma Thị qua đời. Thần sư làm lễ an táng, thiết lập đền miếu, lại bày một cỗ thọ đường ở bên trái, bốn mùa hương lửa phụng thờ theo phép tắc. Đến nay hiện vẫn còn. Người đời sau có bài tán rằng:
Cơ đồ tạo dựng
Nghiệp đế lâu dài
Mười tám đời dằng dặc
Bao ngàn năm qua lâu
Bấy giờ có Thánh Tản
Chăm Ma Thị mẹ nuôi
Lão bà lâm mệnh mất
Truyền lại bức di thư
Lập miếu thiêng trên núi
Bên trái đặt thọ đường
Nhà cửa đều giao lại
Đạo hiếu cho vạn toàn
Anh hùng trăm đời mãi
Núi sông gom một trời
Đáng yêu thay, thần tiên vạn cổ
Lạ kỳ thay, mẹ con một nhà.

Đền Hạ Tản Viên ở Thủ Pháp

Sơn Tinh – Thủy Tinh

Lại nói, bấy giờ cơ đồ họ Hùng đã được 18 nhánh, Duệ Vương trị vì, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lấy tên nước là Văn Lang, quốc đô tên là thành Phong Châu. Duệ Vương là người anh hùng đại lược, thiên tư thông minh, thánh trí, bên trong tu sửa văn đức, bên ngoài lo phòng bị biên phương, dốc chí hưng bình để yên Trung Quốc. Lại năng kính Trời Pháp Tổ, cầu phúc cho dân. Trời giáng điềm lành cho nước nhà. Do đó Vua lại càng thêm sùng trọng, kính sự thần kỳ, truyền hịch cho thần dân thiên hạ tăng việc tu sửa đền miếu, trang trí cung điện, nghiêm trang nghi vệ. Ngày ngày dâng hương hoa để cho tỏ ý thành kính. Các quan sở tại châu huyện đều đến các đền miếu mỗi tháng hai lần để chầu, cầu mong trăm thần cho quốc mạch được lâu dài. Vua lại tự mình đến núi Nghĩa Lĩnh yên định các tôn lăng cung điện cùng với các đền thiêng của các công thần huân tướng của các triều đại, tất cả các doanh điện đều tu sửa. Một bầu phong cảnh trải khắp mặt đất. Bốn phía lâu đài tráng lệ cuốn trời.
Khi Vua đang trị vì, tuy sinh được nhiều hoàng tử nhưng đều đã về quy tiên. Vương bèn xa giá đến cung tiên Tam Đảo, dao xem thắng cảnh, tùy nơi đất tốt mà lập miếu điện, phụng đảo cầu con. Nhưng khi đó số mệnh sắp hết, cơ đồ họ Hùng đã đến lúc cuối. Vua nằm mộng thấy điềm lành rắn ráo. Sau sinh được hai nàng công chúa, đều có đức hiền trinh, phong tư yểu điệu, khóe hạnh má đào, sóng thu vạn điểm, ngọc trau mây quấn, mười phần xuân sắc. Người thứ nhất tên là công chúa Mị Châu Tiên Dung, sau gả cho Chử Đồng Tử (quê ở xã Đa Hòa, huyện Đông Anh, phủ Khoái Châu, đạo Sơn Nam). Người thứ hai tên là công chúa Càn Nương Ngọc Hoa, cung trăng đang khóa, nhụy ngọc còn che, nhân duyên định ước còn chưa đến kỳ.
Vương muốn tìm người tài mà gả để tiếp nối ngôi báu, bèn lập một tòa lầu ở cổng thành Việt Trì, tên đề “Lầu cầu hiền kén rể”, biển đề “Ngắm trăng cầu hiền”. Truyền hịch đi khắp thiên hạ thần dân trăm họ, ai là người thông minh tài trí, đức độ anh hùng, có thể nối được ngôi của Trẫm thì sẽ gả công chúa cho.
Ngày đó thuyền bè tấp nập bên sông, trước lầu nhộn nhịn xe ngựa. Bút văn múa mà hình rồng động, sao đẩu rơi, sông mưa lạnh. Trận võ bày mà hổ báo khiếp, tiếng sấm kinh, góc bể trào. Một mối nước nhà mà bốn bể anh hùng. Tuy nhiên đều là được mặt này mà mất mặt kia, không có toàn tài, khó để xưng nhận là thơ Đào yêu, còn chưa thổi được đàn ngâm vậy. Người đời bấy giờ có thơ rằng:
Trăng gió một trường giục động tâm
Bốn bề chật mắt thấy anh quần
Việt thành then khóa xuân nào biết
Ai người sẽ mở, ai người cầm?

Lại nói lúc đó có Tản Viên Sơn Tinh với Động Đình Thủy Tinh, hai người là bạn học cùng nhau, có nhiều phép thuật thông thiên mà chưa đến ứng tuyển. Hôm sau Sơn Tinh gửi lời đến Thủy Tinh rằng:
– Người xưa nói giai nhân khó được, nam tử đã khó gặp, huống chi lại là việc cưới công chúa làm vợ. Tôi với anh âm dương hai đường khác biệt, mà lại có cùng tình bạn học. Ngày này ở dương thế cung vua đang thật là bậc khuynh thành như trướng Đường buồng Ngu, chưa chọn được ngưới xứng tuyển. Chúng ta chẳng quản ở xa mà tới, để cầu lấy duyên này. Ngoài chúng ta ra thì còn ai xứng nữa.
Thủy Tinh từ khi được tình ý đó, ngay hôm ấy sửa sang hành trang, tu tập quan quân, lập tức đến núi thiêng Ngọc Tản cùng hội với Sơn Tinh. Sơn hào hải vị, mở yến tiệc lớn, nâng cốc mừng thọ, để tiếp khách. Lễ mừng xong, Sơn Tinh với Thủy Tinh cùng đến kinh thành, cung kính trước ngự tiền tâu rằng:
– Chúng thần thẹn vì tài hèn, may sinh ra trên nước của Vua. Trộm nghe Thánh thượng mở khoa lớn chọn rể. Chúng thần đến muộn, xin Vua ngự cho thử thi tài, may thì không ngoài hịch chiêu hiền vậy.
Vua rất vui mừng, bèn rời xa giá đến sông Bạch Hạc để thi tài. Thế rồi Sơn Tinh đến đứng ở đầu sông. Thủy Tinh quay về đáy nước. Phút chốc bỗng thấy giữa sông mây mưa, mặt nước sóng dồn, ngã ba sông tràn nước, tiếng sấm nổi đến làm kình côn lạc phách, cuồng phong vạn dặm thổi tung, sóng dựng kinh hồn rùa cá. Trùng trùng trắng đỏ, gieo khắp cõi trần. Xúm xít xanh vàng, mịt mờ trời đất. Thiên hình vạn trạng, quỷ xuất thần chìm, biến hóa u minh. Hễ trông thấy đó là run tim mất mật.
Sơn Tinh ở nơi ấy tay trái cầm sách, tay phải cầm gậy, miệng ngâm thần chú mà chỉ vào. Tức thì mọi thứ kỳ lạ đều theo đầu trượng mà quét sạch. Bỗng lại có núi Ngũ nhạc nổi lên cao ngàn vạn trượng, đứng sừng sững giữa trời đất. Thú chạy đến chầu, chim bay cùng họp.
Thủy Tinh ở giữa sông lại gọi sóng to gió dữ. Vạn vật mất hình tiêu biến trong nước. Biến biến hóa hóa. Hai người phép đều cùng thật là huyền diệu.
Ngày hôm đó mới xa giá về cung, cử sứ giả gọi hai người lại nói rằng:
– Trẫm chỉ có một người con gái yêu, trước giờ chưa chọn được ai để kết đôi. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng, không biết phân định thế nào. Há chẳng là Ngô mừng thì Sở rầu, Hán ca thì Tần khóc. Chi bằng sáng sớm ngày mai ai có thể đem sính lễ đến trước thì Trẫm sẽ gả cho.
Thế là Thủy Tinh về cung Động Đình để cầu tìm vật lạ (nguyên là sách ước đã đem cho Sơn Tinh). Sơn Tinh ra ngay dưới lầu, lấy trong tay áo ra cuốn sách thần, đọc chúc với trời mà ước được đồ sính lễ. Bỗng thấy, voi trắng chín ngà, kỳ trân dị vật từ trên trời hạ xuống. Sơn Tinh thu lấy đó, vào giữa giờ Tý đem sính lễ vào đến lầu rồng. Vua bèn gọi công chúa lại mà gả cho Sơn Tinh. Sơn Tinh làm lễ. Lễ xong bái tạ, đón về sơn động.
Đến giờ Mão ngày đó Vua thấy Thủy Tinh mới đem lễ tới. Vua nói:
–    Sơn Tinh đã đem sính lễ đến trước. Trước đã có lời hẹn, nay biết làm sao được.
Thủy Tinh vì thế rất oán hận, mới về tâu lên Đế Quân, xin dẫn quân tiến đánh Sơn Tinh. Đế Quân đồng ý. Cùng ngày Thủy Tinh tụ họp thủy tộc, bày trận ngàn hàng côn sấu, lập binh vạn đội kình nghê, thuyền rồng dốc tiến ra giữa sông, trống ba ba gõ vang rung đáy nước, hàng hàng thẳng tiến. Đi được nửa đường thì Sơn Tinh nghe tin, bèn cùng với Duệ Vương giăng lưới võng sắt ở bến Thụy Hương huyện Từ Liêm để ngăn. Quân thủy tộc không tiến được. Thủy Tinh mở ngang một dải sông nhỏ từ Lị Nhân đến vùng chân núi Quảng Oai, kéo lên bờ trên của cửa sông Hát mà ra sông Cái, vào sông Đà để tập kích núi Tản Viên ở mặt sau. Lại mở một con sông ngang nhỏ gọi là sông Bờ, tấn công núi Tản Viên ở hướng mặt trước. Vì thế Sơn Tinh mới dùng phép thần biến hóa, liền gọi người trong núi lại, lấy tre đan thành rào chắn ở trên núi. Lại bảo cho dân rằng:
– Các ngươi nếu thấy dâng nước tiến công ở trước rào thì đều bắn và chém đi.
Nhân dân tin theo lời đó. Trong khoảnh khắc thủy tộc tiến quân đến đánh. Nhân dân đều dùng cung kiếm bắn và chém chết rất nhiều. Khi ấy các loài kình nghê côn sấu chết lấp đầy các hang hốc bên sông. Thủy Tinh căm phẫn oán hận, cho nên đến nay mỗi năm đến tháng sáu tháng bảy thường dân nước lại đánh. Nhân dân sống dưới núi thường bị mưa gió lũ lụt gây hại rất nhiều. Nhưng vì Sơn Tinh được quyển sách thần, có bí thuật phép tiên, nên quân thủy tộc không thể gây hại. Người bấy giờ có thơ rằng:   
Tương tranh sự đó Thủy – Sơn thần
Muốn viết thơ này để hậu nhân
Bể ái gương treo đôi mắt gửi
Ham tình động sóng giữa thu phân
Sách ước đủ rồi đền nợ trước?
Má hồng sao chịu ganh phu quân
Trường Sa ngày ấy mà không gặp
Còn Sắc hay Không, Thủy Tinh thần?

Ghềnh Bợ Đà giang

Chống Thục lần thứ nhất

Lại nói, thời Duệ Vương trị nước, bốn bể thanh bình. Đế tử tiên ông quê người nước cũ. Núi sông trải Thần Phù, Yên Tử, cao thấp mây trắng vầng hồng. Trăng gió rọi Hoa Quật, Long Biên, trên dưới non xanh nước biếc.
[Sơn Thánh] khi đó hoặc dạo chơi trên sông Tiểu Hoành, ngắm cảnh thú vị sông nước mênh mang. Đi qua đất các xã Cổ Đằng, Tam Sơn, Vật Lại, huyện Ma Nghĩa, ngắm nhìn vẻ đẹp núi sông, lập làm hành cung (nay là điện Trung thần cung). Lại đi qua 8 xã Thuỵ Diễm, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tùng Cao của huyện Phúc Lộc, lập thêm Nam thần cung ở cửa 12 khe của Bể Cạn. Lại thường đi săn tới xã An Diệu, huyện Mỹ Lương, lập cung điện Mang Sơn, rồi giữ ruộng thờ (72 mẫu nay tại xã An Diệu, và 200 mẫu nay ở xã Đông Triều làm dân tạo lệ) để cung cấp cho hậu thế làm hương lửa phụng thờ. Đến khi về đến núi Tản Viên. Động cũ là nơi đất này, ba ngọn núi vượt lên, vạn nhẫn cao vời, tốt đẹp u sảng, khó có thể tả hết. Lại thêm xóm thôn đông đúc, phong tục chất phác. Sơn Thánh rất yêu mến, bèn thiết lập trên đỉnh núi, thuộc đất Thủ Pháp 22 xóm (nay Thượng thần cung tọa Càn hướng Khôn là chính điện; Trung, Hạ thần cung là nơi cầu đảo; Đông thần cung là nơi yết kiến; Nam thần cung, Bắc thần cung là nơi trú ngự). Từ đó tuân mệnh Thượng Đế thường cùng với Tứ phủ Công đồng ở hải đảo mà đi tuần xem vạn sự trong nhân gian.
Khi Duệ Vương được 115 tuổi, năm Ất Mùi, nhân thấy Duệ Vương tuổi đã cao, mà 20 hoàng tử đều đã về cõi tiên, không có người nối dõi, Thục thừa cơ muốn dấy động, âm thầm khởi binh, muốn từ phía Tây lại đánh Duệ Vương chiếm lấy nước. Vua bèn cùng với các đình thần bàn bạc. Trong triều có Trác Công bước lên nói:
– Bệ hạ vâng theo mệnh trời, vua tôi tướng sĩ đều yên ổn vô sự đã lâu ngày. Quân binh huấn luyện không tinh. Nay có can qua động tới, liên quan đến nhân dân xã tắc, tình thế không thể giữ được như nguyên thì sự linh thiêng của Thái tổ Thái tông trên trời không phải không bị phương hại bởi chúng ta sao. Vạn nhất xảy ra binh dữ chiến nguy, Thục khó mà phá được, tổ tông và dân chúng biết trông vào đâu. Chi bằng nhân đây mà dùng mưu thận trọng, bí mật hối lộ tướng địch, gửi thư cho chúa quân địch, để xem ý có lui binh không, rồi mới tùy cơ hội về sau.
Vua nghe vậy muốn dùng kế đó, bèn triệu Tản Viên Sơn Thánh đến hỏi. Sơn Thánh tâu rằng:
–    Hơn hai ngàn năm đến nay, mười bảy đời thánh quân gây dựng, ơn sâu đức dày đến tận cốt tủy của nhân dân. Nay nước giàu quân mạnh. Uy đức của Bệ hạ ban cả ra nước ngoài. Còn quân Thục đã không tự giữ gìn lại dám nổi lên chống lại thì cơ thất bại đã nghiệm rõ. Nếu một ngày Bệ hạ nêu rõ tội ấy rồi dấy thảo phạt, lấy nghĩa mà phục thì dân ta sẽ đều theo Bệ hạ mà không theo giặc. Mối họa của quốc gia lo gì không dẹp được. Thần xin lĩnh 3 vạn hùng binh vượt ra chiến địa, một mình một xe sang đến đất Thục thì có thể bình định được.
Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn ngay hôm đó trai giới lập đàn bày lễ, cúng tế trời đất, lấy nỏ thần linh chú trao cho Thánh mà rằng:
–    Binh cơ quý ở thần tốc. Tướng quân dùng thứ này mà bắn thì sẽ được như có thần vậy.
Lại cùng vào tế cáo trong miếu. Vua đứng quay mặt về phía Bắc. Tướng quay mặt hướng Nam. Vua thân lấy búa nắm phần cán, trao cho Thánh phần đầu mà rằng:
–    Từ đây trở lên trên do Tướng quân cai quản.
Vua lại lấy rìu nắm phần đầu, trao cho Thánh phần cán mà nói:
–    Từ đây trở xuống dưới do Tướng quân cai quản.
Thế là Sơn Thánh bái tạ nhận mệnh, đường đường quyết chiến mà ra đi. Duệ Vương có bào thơ úy lạo rằng:
Cửa ngọc xuất chinh phất phới cờ
Ba quân nghiêm giữ chẳng sai tơ
Việc công vó ngựa bay trong gió
Trướng hổ đâu nghi tuyết mòn giờ
Ly biệt một lần chia cách núi
Ruổi rong ngàn dặm tựa như mơ
Kiếm cung từ cổ anh hùng sự
Gánh hết gian nan lạnh nào chờ.

Lại nói bấy giờ quân Thục tiến đến núi Quỳnh Nhai (nay là địa phận phủ An Tây). Sơn Thánh tiến quân đến Mộc Châu, gõ chiêng lớn bày trận, đóng binh tại đó. Lại gửi hịch cho các phiên thần tập hợp binh lính, tùy nơi mà ứng chiến. Thế rồi Sơn Thánh hạ lệnh sai 2 vạn hùng binh, tiến đến núi Quỳnh Nhai, ra ngoài vùng Cổ Táo hơn 50 dặm khiêu chiến. Tướng Thục nghe vậy liền điều 30 vạn quân đến. Quân Hùng giả vờ bỏ chạy, phục nấp ở hai bên vùng Thiên Táo đến Mộc Châu. Sơn Thánh ngồi trên núi Mộc Châu, tay cầm sách thần niệm chú mà ước. Bỗng từ trên trời giáng xuống một đại thần tướng, thân cao 5 trượng, tay cầm một chiếc tiêu gỗ dài 30 trượng, hình như vỏ ốc, đứng tại đầu núi ở mé bên trái Sơn Thánh. Thần tướng thổi tiêu lên thì sấm rền gió giật, sương nổi mây bay, mù mịt vạn khoảnh, đổ cây bốc nhà, cát dâng đá chạy, trời đất tối sầm.
Quân Thục thua to chạy tán loạn. Sơn Thánh bèn đánh trống liên tục, lấy nỏ thần bắn hơn trăm phát. Thế rồi quân mai phục bốn mặt vây lại, chém hết 30 vạn đầu quân Thục, không thoát một tên, không lọt một ngựa. Thần tướng tự nhiên bay lên không mà đi.
Sơn Thánh liền truyền gửi tấu báo tin thắng trận. Duệ Vương ban chiếu mời về. Sơn Thánh vâng mệnh dẫn quân quay trở về đến cửa thành, bái tạ. Duệ Vương phong Sơn Thánh làm Nhạc phủ kiêm Thượng đẳng thần. Ngự chế làm bài thơ úy lạo rằng:
Quả nhân chẳng liệu kẻ phương xa
Cử nghĩa lao phiền tướng nước ta
Vạn dặm trống cờ dồn hết lực
Trời cao mưa gió gạt khăn qua.
Đúng là thước kiếm xua giặc dữ
Liền ngay thành chiếm lại cho vua
Nghìn năm về trước, nghìn năm lại
Quốc gọi là thần, đáng con nhà.

Bia đình Viễn Lãm (Thanh Thủy, Phú Thọ), thờ Tả Thánh

Vua Hùng nhường ngôi

Lại nói, được 2 năm, quân Thục nuôi lòng căm phẫn, tích dưỡng quân mã, cử binh phục thù, cầu viện nước láng giềng, được hơn trăm vạn tinh binh, tám vạn kỵ mã, chia làm 5 đạo. Đạo quân chính 30 vạn quân, 5 ngàn ngựa, tiến thẳng theo đường núi Mộc Châu, Hoàng Tùng, Quỳnh Nhai mà đến. Đạo quân bên trái 10 quân, 1.500 ngựa, theo mặt châu Lạng Sơn, Văn Lan mà đến. Đạo quân bên phải 20 vạn quân, 1.000 ngựa, theo vùng đất Đại Man mà đến. Đạo quân giữa 10 vạn quân, 500 ngựa, theo đường châu Bố Chính, Minh Linh mà tới. Một đạo quân thủy 3.000 chiếc thuyền, 30 vạn quân, tiến theo cửa Hội Thống, Hoan Châu. Thủy bộ cùng tiến, thuyền ngựa song hành. Duệ Vương lo lắng mới triệu các đình thần đến hỏi. Tất cả đưa mắt nhìn nhau, không có một kế khả thi.
Sơn Thánh tâu rằng:
–    Trước đây Thục Vương ngông cuồng, coi thường oai trời, một bầy lẫm liệt, tưởng che được cả trời. Hoàng đế Bệ hạ đã độ lượng khoan hồng, miễn cho khỏi rơi tổ vỡ trứng. Nay lại không biết hối cải, muốn tiếp tục mưu đồ vọng tưởng, châu chấu đá xe, thế như lông tơ trên lò lửa. Bệ hạ sao phải lo lắng việc điều quân khiển tướng. Thần xin đảm nhận việc này.
Duệ Vương tươi tỉnh lại hỏi:
– Còn việc gìn giữ miếu đường thì Khanh định tính như thế nào?
Sơn Thánh tâu rằng:
– Sự quyền biến không thể dự đoán trước được. Thần xin được lĩnh 50 vạn hùng binh. Thiên hạ của quân vương khắc có ngày được yên định.
Duệ Vương đồng ý. Sơn Thánh mới lấy 10 vạn quân mạnh, voi ngựa trăm con, theo đường chính Mộc Châu chiếm giữ những nơi lũy cao hào sâu, không ra giao chiến. Ngầm sai Dũng mãnh Nguyên soái Tổng đốc Đại vương dẫn 3 vạn quân theo bên trái ra châu Văn Lan để ứng chiến cánh tả của quân Thục. Lại sai Long Linh Chi quân Phụ quốc Thượng Đại tướng quân dẫn 2 vạn binh mã men theo đằng sau châu Đại Man mà ra, giả lập một đồn binh để ứng chiến với hậu quân của Thục. Lại sai Phụ quốc Ma Vương Đại thần Anh linh Nhất bộ Hào kiệt Thượng tướng quân dẫn 2 vạn binh mã mà ra ứng chiến cánh quân bên phải ở châu Bố Chính Minh Linh. Lại sai Tán quốc Tá thánh Đại thần Đồng Đôi Hào kiệt Đại tướng quân, dẫn 3 vạn binh mã cùng với thuyền bè hơn 2.000 chiếc ứng chiến thủy đạo ở Hoan Châu, cửa biển Hội Thống Môn, cai quản luôn một mặt của Ái Châu. Lại sai Đại thần Trần Cơ Hổ Ma vương Anh đô Thượng đại tướng quân đem 3 vạn quân tùy địa thế mà ứng chiến. Sơn Thánh thân dẫn đạo quân theo núi Mộc Châu đánh lớn một trận, lấy được ấn tích cờ xí của quân địch, bèn giả làm một bức thư của Thục chủ gửi cho tướng Thục rằng:
– Nước Văn Lang triều Hùng có một thần tướng. Nay nhà ngươi phụng mệnh dẫn quân đến đánh nước người. Binh quý ở bí mật, chớ nên khinh động. Đợi khi có chiếu thư báo, tất sự sẽ có thể định được.
Viết xong làm giả ấn tín của quân địch mà đóng vào trong thư. Lại khiến một người thạo việc ăn mặc quần áo của quân địch, tự xưng là sứ giả Thục, cưỡi ngựa đến trại lính cánh quân chính của địch đưa thư cho tướng Thục. Tướng Thục từ khi nhận được thư, ra sức cố thủ. Cánh quân phải nghe có biến cũng không gửi thư báo gấp đến được.
Sơn Thánh bèn tiến quân, ngày đêm đi gấp hơn 500 dặm, đến thẳng kinh đô nước Thục mà đánh. Chủ tướng nước Thục không kịp đến cứu. Sơn Thánh lấy sách và gậy thần chỉ vào, đại phá cánh binh chính của Thục, bắt sống toàn bộ. Ba cánh quân thủy bộ tự nhiên phải rút chạy. Thế là Sơn Thánh quay cờ khải hoàn, đuổi sạch quân địch, dẫn binh mã về kinh thành tấu cáo chiến thắng. Từ đó thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự.
Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Tản Viên Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ chối không nhận, quỳ xuống tâu lên Duệ Vương rằng:
– 18 đời họ Hùng hưởng nước dài lâu, tất là lòng trời có hạn nên có quân Thục thừa cơ đến chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục chúa vốn cũng là bộ chủ nước Ai Lao, cùng là tông phái của đế vương đời trước. Thế nước khác thường đều do tiền định. Vua sao quyến luyến một cảnh trời Nam mà chống lại ý trời, tất dẫn đến thế cùng cực chém giết mà hại sinh linh vậy.
Duệ Vương ngừng hồi lâu rồi nói:
– Lời của Khanh nói cũng có lý, ta đã biết rồi. Nhưng lại nghe nói rằng thời bình thì quan trọng trước hết là con trưởng, thời loạn thì đầu tiên là kẻ có công. Thục chúa ngông cuồng, Trẫm đã được Khanh làm vây cánh, binh trời lẫm liệt, chúng địch sạch tan, quốc thái dân an. Công của Khanh không lớn lao hay sao? Khanh lại là rể quý trong nhà, là trung thần của đất nước, là người được Trẫm cầu để nối ngôi trời. Trị quốc chính ngoài Khanh ra thì còn ai nữa? Khanh hãy nhận lấy ngôi này, đừng từ chối mà phụ ý cầu hiền của Trẫm.
Tản Viên Sơn Thánh bất đắc dĩ đành tuân theo mệnh đó. Từ đó tuy giúp Vua trị nước, thân ở trong triều, nhưng không dứt được chí dạo chơi nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, vàng bạc châu báu coi nhẹ như sợi tơ. Lánh tục tìm nhàn vốn là ý nguyện bình sinh chẳng thể thay đổi được. Được hai ba tháng, Tản Viên Sơn Thánh lại nói với Duệ Vương rằng:
–    Sự nghiệp bá vương thay đổi xưa nay là lẽ thường. Họ Hùng hưởng nước đã hơn hai ngàn năm. Nước Việt từ Thái tổ Thượng Hoàng khai sáng, đều đã có con hiền cháu thánh, cha truyền con nối, tới nay được18 triều. Bệ hạ sinh hạ được 20 hoàng tử, đều đem thân về chốn Bồng Lãng, thoát khỏi bụi trần, sau không có người để mong kế truyền. Nghiệm đó thì cơ đồ họ Hùng đã đến lúc mạt, vận nước sắp đến hồi kết thúc. Lại như thần, vốn chỉ là con rể trong nước, mà nắm giữ đại quyền, không dám mà không một lần nhận mệnh cho Bệ hạ được yên lòng. Đâu dám ở ngôi trời lâu dài mà chống lại thiên cơ. Thần xin Bệ hạ cầu người hiền mà nhường lại ngôi vị cho thuận với lòng trời, gỡ bỏ nỗi lo muôn năm vậy.
Bèn trả lại ngôi vị cho Duệ Vương mà nhận lời đó để lại cai quản đất nước, rồi đợi tìm người hiền nối vị. Thế rồi Tản Viên Sơn Thánh bái tạ từ biệt, khắp nơi dưới trời không đâu là không có dấu chân Thánh, cùng gió mây voi ngựa mà ngắm xem sông núi, sương móc xe kiệu mà lên xuống trời đất. Lúc thì đàn reo sáo múa, thi thư đối xướng với đất trời, nhạc phượng ca loan, tiếng hình là điều thú vị cõi Bồng Lai. Cỏ bồng dẫn lối, Ngũ hồ gió trăng, thuyền câu là dấu tiên, soi hình cảnh hội khói sương, xe mây vạn hình là bước chân, non xanh nước biếc quấn quít chưa đẫy càn khôn. Thánh Nam thần Bắc, ra vào chốn phong cảnh chín trời. Cứ mỗi năm đúng tháng ngày sóc ngày vọng cùng với những phiên đại lễ của triều đình thì Sơn Thánh hôm đó đều quay giá về triều, chưa lần vắng mặt. Tan chầu lại theo lối cũ ghé bước nhàn du. Cứ thế được hơn 10 năm thì bỏ hết được mối ràng buộc.
Đến đúng năm Mậu Thân ngày 15 tháng 1 bỗng thấy Thục chúa sai sứ giả tới đem theo một trặm hốt vàng cùng với một trăm thước gấm rồng, trước dâng lễ, sau đưa thư cầu tới Duệ Vương. Thư trong đó viết:
–    Bộ chủ Ai Lao, thần, Thục, khâm thừa mệnh trời làm chúa tể một phương, ngày trước dám ngông cuồng không theo đúng lễ làm thần mà dám xúc phạm bền trên, thật là đáng chết, mà quốc gia vẫn còn toàn vẹn, thực là ơn lớn của Thiên hoàng. Nay trộm nghĩ, thần vốn cũng là tông phái của nhà họ Hùng, đã khai cơ sáng nghiệp, nối dài công đức của tổ phụ mà có điều lành cho con cháu nước nhà được một bề phú quý to dày như vậy. Lại nghĩ, người có tổ, vật vốn có tông. Thần được nhiều ơn đức mà không báo đáp tổ phụ ở dưới cửu tuyền, không thỏa linh thiêng của miếu đền phi tử. Mỗi khi nghĩ đến thì lại càng thêm thâm cảm. Nên nay không sợ bị lời quở trách uy nghiêm, xin bề trên niệm tình trước đối với thần Thục đây, cho được kết hòa thân, phụng lễ chầu cống, để được thẫm đẫm ơn vua, sau là không phụ ý nguyện bình sinh của bậc con cháu này vậy.
Hôm ấy, Sơn Thánh đang đứng trong chính điện. Vua xem xong thư ấy nhân việc đó mà hỏi Sơn Thánh rằng:
– Thục Vương vốn là tông phái của Tiền Hoàng đế. Trước vì ngông cuồng mà dám đến xâm chiếm nước ta. May mà ý trời còn cho cơ đồ họ Hùng chưa hết. Ngày nay Thục chúa lại xin được cầu hòa. Mong tướng quân xem kỹ rồi nói với Trẫm nên thế nào.
Sơn Thánh đến trước ngự tiền mà tâu riêng rằng:
– Thục chúa đúng là tông phái của Tiền Hoàng đế, làm chúa tể một phương. Ngày trước muốn đến xâm lăng làm cho Bệ hạ phiền lòng, cũng là bởi trời khiến cơ đồ họ Hùng thứ 18 một phen điêu đứng. Bệ hạ không cần phải oán giận vậy. Ngày nay lại cầu hòa, tức là biết tiến biết lui. Thục chúa đúng là một vị hiền quân, nay biết kế ấy không bằng mở rộng lượng độ đồng ý cầu hòa thân. Đó là sự sáng sốt đem đến sự hòa thuận của Bệ hạ. Vả lại họ Hùng theo ý trời đã định, nhân việc cầu hòa này mà gọi tới nhường ngôi cho. Bệ hạ như thế sẽ là bậc thánh. Việc xong Bệ hạ cùng với thần có thuốc của thần tiên, chi bằng rong ruổi cõi trần, ba sinh nơi Lãng Uyển Bồng Hồ, mãi cùng với trường xuân tuế nguyệt, lầu rồng gác phượng không dính bụi phàm. Trần gian non xanh nước biếc miên man thưởng ngoạn. Tốt thay Quân tử! Đó chẳng là vui sao? Thần và Bệ hạ đã rõ kế đó thì hãy quyết đoán. Việc không thể chần chừ.   
Thế là Duệ Vương nói:
– Khanh nói phải thay. Trẫm theo như vậy.
Bèn sai sứ giả theo binh mã về triệu Thục chúa đến nhường ngôi cho. Thục chúa bái tạ. Duệ Vương nhân đó ban cho nỏ thần rồi quay về núi Nghĩa Lĩnh, hẹn cùng Sơn Thánh mong hóa sinh bất diệt. Một hôm Duệ Vương ngự bút làm thơ rằng:
Cỏ động tiên bồng đượm xuân xanh
Rêu phủ cung vua mới vẻ lành
Bởi ở thế gian nhiều sự vặt
Gió bụi với trời sao cố ganh.

Ngâm thơ xong Duệ Vương cùng với Sơn Thánh và công chúa Ngọc Hoa cùng giữa ban ngày mà bay lên trời đi vào cõi hóa sinh bất diệt.
Thục chúa nhận được nhường ngôi, cảm công đức ấy bèn đại giá đến núi Nghĩa Lĩnh, lập nên miếu điện để làm nơi quốc gia thờ phụng. Lại dựng 2 cột đá ở giữa núi, chỉ trời mà thề rằng:
–    Xin được nguyện ước trời xanh chứng giám cho tỏ tường. Thần tiểu tử tôi là Thục An Dương thu nhận cơ đồ họ Hùng, tiếp nối chính thống. Ơn sâu đức lớn sánh cùng trời đất. Nay lập miếu đường họ Hùng để làm nơi muôn vạn năm cúng thần, hương lửa không ngớt, phụng thờ như lễ. Giả sử các vua sau này kế vị mà bội ước nhạt thề thì núi sông trời đất sẽ chứng giám việc phụ lời thề này.
Chúc xong, Thục Vương quay về đô thành, ban chiếu cho thôn Cổ Tích, xã Nghĩa Lĩnh Nghĩa Cương làm thôn dân trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Hùng Vương Sơn thánh (xem theo trong sự tích của Hùng Vương). 22 xóm của huyện Bất Bạt, Thủ Pháp, làm dân thôn trưởng tạo lệ, bốn mùa tám tiết hương đèn không ngừng để phụng thờ Sơn Thánh. Cùng với xã Trung Độ cùng huyện làm dân trưởng thủ lệ. Chính quán động Lăng Sương, ngoại quán, các xã An Lãng, An Đức, Lũng Phong, Lũng Phao, Ly Trúc, Thái Hoà của khuê Mông Hóa, Vật Lại, Vật An, Vật Phú, Tri Lai, Đồng Bảng, Cẩm Đới, Bình Lộng, An Vệ, Bảo Vệ, Cổ Lãm, An Bạch của huyện Minh Nghĩa, cùng với các ruộng thờ ở các phủ huyện xã sách động trang, cộng 2.700 mẫu để phụng thờ hương lửa cho các điện Thượng, Hạ, Trung, mãi trùm vạn thế.
Trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần thay vua đổi bá thì Tản Viên Sơn Thánh đều có phép thuật thần tiên. Lúc hoặc biến hiện ra chân thân, lúc hoặc cảm thông linh ứng. Hộ quốc an dân, có công với đời. Các triều đại đều chuẩn y các cung điện cùng với các xã trưởng tạo lệ, dân hộ nhi mà miễn việc binh thuế cùng các việc sai dịch, phụng thờ như trước. Cứ thế mà cùng với mạch nước để tiếng thơm truyền lưu vạn cổ. Tốt đẹp thay!

Núi Tản nhìn từ sông Đà

Sau thời Hùng Vương

Năm Giáp Thìn ngày 9 tháng 1, An Dương Vương lên ngôi, đóng đô ở thành Cổ Loa cai quản quốc gia, nối thừa cơ đồ to lớn mà Hùng Duệ Vương giao phó lại. Vua ở ngôi tổng cộng 50 năm. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Tuy nhiên Vua từ khi được nỏ thần linh quang quốc bảo của Hùng Vương thì không chịu khó tu sửa văn, huấn luyện võ, chọn tuyển tướng, luyện tập quân để chế ngự giặc ngoài. Tới khi An Dương Vương tuổi đã 80, có người họ Triệu, tên Đà, người Chân Định, thừa cơ khởi binh dẫn lính đến thẳng huyện Quế Lâm, đại chiến với Thục Vương. Lúc ấy Sơn Thánh nghe được tin, liến biến phép thần thông, tự nhiên bay trên không mà tới, cùng với binh mã tiến thẳng đến nơi cùng Triệu Đà giao chiến. Trong vòng 10 lần đều chiếm được phần thắng. Sơn Thánh nghĩ đến sinh linh và việc hương lửa bèn nói với Thục Vương rằng:
–    50 năm thiên hạ đã được Hoàng thiên định vậy. Ngày nay Triệu Đà bó tay không kế, ta không muốn gây họa nữa. Triệu Đà đến khiêu chiến với ta tới mức đánh cùng diệt tận. Sinh mệnh đều đang nằm trong tay của Vua. Vì nước tất phải vì dân. Chi bằng thuận theo lòng trời, gọi họ Triệu đến nhường cho ngôi vị.
Vua nghe thấy lời ấy bèn mới nhường lại ngôi vị cho Triệu Đà, còn mình thì đi vào biển lớn mà hóa.
Triệu Đà được quốc gia mà lên ngôi vào năm Bính Ngọ. Cha truyền con nối được 5 đời thánh vương. Trước sau cộng 149 năm. Tới khi Lạc Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu bại vong, không người cứu giúp. Cho tới khi có chắt gái của Hùng Vương, tên Trắc và Nhị, là bậc nữ trung hào kiệt, bậc thánh thần trên trần thế, dấy nổi oai hùng, cất quân đến đánh. Đương thời nam nhi thao lược cũng không có người như vậy. Nữ tướng dẫn quân, cầu đến thần linh. Trưng Vương mật cáo Tản Viên Sơn Thánh tụ hội bách thần ở cửa sông Hát Môn (nay là ở xã Hát Môn, huyện Phúc Lộc), lập đàn tế cáo thần linh. Đọc chúc rằng:
–    Trời sinh ra người làm tông chủ vạn vật trời đất, chủ cho dân sinh, khai nuôi cây cỏ. Các đế vương đời trước đều là các bậc thánh minh thiên tử. Triều đình có đạo yêu dân vì nước, có đức hóa rộng lớn. Thiên hạ thanh bình, quốc gia vô sự. Nay có người ngoại tộc tên Tô Định tỏ thái ý ngông cuồng khắp nơi, ngược bạo người dân. Trời đất thần người đều căm phẫn. Kẻ hèn tôi vốn là một nữ nhân nhà họ Hùng, nghĩ tới sinh linh, rỏ trăm giọt lệ Hoàng thiên. Ngày hôm nay đau lòng thương dân đỏ, trượng nghĩa trừ bạo tàn. Xin trăm họ các vị tôn thần linh thiêng hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ dẫn quân dẹp giặc, giữ nước giúp dân. Dám mong phục dựng lại cơ đồ cũ của tổ tông, đưa nhân dân khỏi tầng cực khổ, thoát ra khỏi nơi nước lửa binh đao, sau không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa linh thiêng của miếu đền tiên tử, an ủi cha ông dưới nơi chín suối.
Chúc xong bèn hô xuất quân ngàn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp quan lang, phụ đạo các châu quận nước Nam, định ngày giờ dẫn quân 5 vạn, tức chia các đạo tiến đánh, tạo thành kỳ binh, đến thẳng đồn của Tô Định mà đại phá trong một thời. Quân Định bỏ chạy. Thế là Trưng Vương xây 65 thành ở Lĩnh Ngoại, chiếm phục lại toàn bộ vùng đất Nam Bang. Trưng nữ lên ngôi Hoàng đế. Trưng nữ ở ngôi ba năm, từ năm Canh Tý đến năm Nhâm Dần lên ngự ở triều đình. Trưng nữ một thời xuân mộng, được lập miếu ở cửa sông Hát Môn, các xã ấy phụng thờ hương lửa, tới nay hiện còn di tích. Thời thuộc Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống Tề, Lương cộng là 314 năm đến khi Nam Bang thay nhau bốn đời Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở hoàng đồ, đều có biến hóa điềm thần, các triều giúp nước. Sự đã được ghi rõ trong Sử ký Nam Việt.

Nghi môn đình Phú Hữu (Ba Vì, Hà Nội)

Toản yếu lục Tản Viên Sơn Thánh

Xưa Kinh Dương Vương sinh Lạc Long Quân, có con gái của Đế Lai là Âu Cơ sống ở động Lăng Sương huyện Bất Bạt, đi ra chơi ở bãi Trường Sa. Long Quân thích sắc đẹp đó bèn cùng kết duyên. Mười tháng mang thai sinh một bầu trăm trứng. Qua tháng
Trăm trứng nở ra những người con trai, không bú mớm mà trưởng thành. Sau Long Quân chia biệt, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy Tinh. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn Tinh. Lên núi xuống biển, có sự thì gọi nhau.
Vương tên là Hương Lang. Thời Đường Nghiêu, hồng thủy ngập trời. Lạc Long Quân sai trăm trai cùng nhau trị thủy. Chỉ có Vương vũ dũng anh uy, lại có phép tiên, cầm gậy sắt chỉ nước, thủy hoạn hết, có công xếp hàng đầu.
Tới khi quân Ngô nước Tần khởi binh, thỉnh Vương đến giúp, quả nhiên được đại thắng. Tần ăn mừng.
Sau Vương theo về hải quốc, đi ngắm các danh thắng, tới núi Tản Viên, thấy ba ngọn vượt lên, cao vời vạn nhẫn, đẹp đẽ u sảng, không thể mô tả. Bèn lập cung ở trên đỉnh núi mà ở. Tới nay, cầu đảo có nhiều linh ứng.

Niên hiệu Thuận Thiên năm thứ 3, ngày 5 tháng 11

Kinh Dương bản kỷ

Kinh Dương Vương tên là Tản (Tuấn). Bố là Cao Hành, được phong ở đất Sùng. Ông Cao Hành là dòng dõi của Hoàng Đế Đế Minh ở phương Nam (đất Sùng hay đất Lạc).Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Đế Nghi tìm người có thể trị thủy. Quần thần Tứ nhạc đều nói ông Cao Hành có thể làm được. Đế Nghi nghe lời Tứ nhạc dùng Cao Hành trị thủy. Ông Cao Hành lấy đất đá đắp bờ chặn dòng nước lũ, nên còn có tên là Cổn (cản). Qua chín năm mà lũ vẫn không dứt, chẳng nên công trạng. Thế rồi Đế Nghi lại tìm người, liền được Lộc Tục ở Lịch Sơn là Thuấn.
Thuấn được cất nhắc, làm thay chính sự của thiên tử, đi tuần thú các nơi. Thấy Sùng Cổn trị thủy không có công trạng, bèn đày tới Vũ Sơn. Thiên hạ đều cho rằng Thuấn trách phạt đúng. Thuấn còn được gọi là Ma Thị Cao Sơn, cất nhắc con của ông Cao Hành là Tản, sai tiếp tục công việc của Cổn.
Vua Nghi băng, Đế Thuấn hỏi Tứ nhạc: Có ai có thể phát huy và làm rạng rỡ được đức nghiệp của vua Nghi thì cho làm quan? Mọi người đều đáp: Tản Viên làm chức Tư không có thể phát huy và làm rạng rỡ công tích của vua Nghi. Đế Thuấn nói: Ồ, đúng. Rồi mệnh cho Tản Viên rằng: Ngươi dẹp yên nước lũ, thật gắng giỏi. Tản Viên chắp tay dập đầu nhường cho Tiết, Hậu Tắc và Cao Giao. Đế Thuấn nói: Ngươi đi coi việc của ngươi được rồi.

Tản Viên Sơn Thánh ở đền Đỗng Hoa, Thạch Thất

Khi đó Tản Viên có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, mới đọc ước chú làm cho đá vỡ tung tóe, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai mới hết, là người có công đầu vậy (nơi Tản Viên Sơn đục đá thông nước lũ là Long Môn Thác Bờ trên sông Hắc Thủy hay sông Đà).
Tản Viên cùng với Ích và Hậu Tắc vâng mệnh vua, lệnh cho chư hầu bá quan điều động nhân lực đào đất trị thủy, vượt núi cắm mốc, xác định núi cao sông cả. Hậu Tắc có tên là Kỳ Mệnh do sinh ra chốn rừng núi, được muông thú che chở.
Tản Viên thương cha Cao Hành công trạng chưa thành lại bị phạt liền lao tâm khổ tứ, ở ngoài mười ba năm, qua cửa nhà không dám vào. Áo cơm đạm bạc, hết mực kính thờ quỷ thần. Cung thất giản đơn, dốc hết chi phí cho việc trị thủy.
Biết Tản Viên mắc việc lâu ngày không trở về nhà, Thủy Tinh cho quân cải trang đến báo tin vợ con ông ốm nặng, mới mất, mời ông về nhà gấp. Tản Viên điềm nhiên bảo:
– Sinh mạng của vợ con ta không lớn bằng sinh mạng của trăm họ. Trăm họ còn đang lầm than khốn khổ vì nước dữ. Rủi vợ con ta có bề nào chăng nữa, ta cũng không thể bỏ mọi người mà về được.

Rồi Tản Viên Sơn Tinh lại tiếp tục gánh đất đắp núi. Đường đất đi bằng xe, đường sông đi bằng thuyền, đường bùn đi bằng khiêu, đường núi đi bằng cúc. Tay trái thì mang gậy thần, tay phải thì mang sách ước, mang suốt bốn mùa để vạch 9 châu, thông 9 đường, đắp 9 đầm, đo 9 núi.
Lại sai Ích cho dân lúa để có thể ở trồng ở vùng trũng ẩm. Sai Hậu Tắc cho dân lương thực, lương thực thiếu thì điều động ở những nơi dư thừa, cung cấp cho nhau, cân đối lương thực giữa các nơi.
Tản Viên theo miền biển mà về, vào cửa biển Thần Phù, lại qua các quận, muốn tìm được đất tốt, lên núi Đông Nhạc, Yên Tử, xem cảnh trí, nhân qua ở Phạm Xá, Hoa Quật. Rồi đó ngược sông Cái mà qua đất Long Biên. Tiếp tới bến Chấn, muốn ở lại đó nhưng rồi lại ngược sông Lô lên thượng nguồn, qua huyện Phúc Lộc, tới bến Bạn Phiên, nhìn về núi xanh Tam Đảo, đất quý hội loan là đô thành cũ của Hùng Vương. Nhân đó về Mộc Châu xem ngắm phong thủy, theo thế rồng uốn lượn cho đến núi Tản Viên, thấy có 3 ngọn cao vót hơn vạn nhận, thật là đẹp thay, mờ tỏ không thể gọi tên được. Lại thêm nhiều xóm thôn dân cư trù phú tập trung, bất giác thấy lòng trong sáng, chất phác mà thích thú vô cùng. Bèn mới mở một con đường lên, lập cung ở đỉnh đó, thuộc đất của sách Thủ Pháp (nay là Thượng thần cung theo hướng Cấn – Khôn làm chỗ ngự chính, còn Hạ thần cung là nơi để cầu đảo, cung Đông Tây là nơi cáo chúc, Nam Bắc thần cung là nơi tạm trú). Núi Ba Vì là núi Đại Tông của Tản Viên.

Nghi môn đình Phú Hữu, một nơi thờ Tản Viên Sơn

Vương lúc thì đi ra sông Tiểu Hoành xem đánh cá, qua các huyện Ma Nghĩa, Phúc Lộc, lạc tới xứ Bi Bi xã Cổ Đằng, thường tạm trú ở đó. Đến xã Tam Vật Lại thấy phong cảnh đẹp mà lập hành cung. Lại đi xem đánh cá ở sông Tiểu Hoành, qua tám xã Thuỵ Phiêu, Tam Sơn, Lễ Toàn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, An Phúc, Tung Cao của huyện Phúc Lộc, rồi xa giá trở về cung, xa trông cửa biển Thần Phù, sai người dân không được làm tắc đường thủy.
Lại thường đi săn tới xã An Diệu huyện Mỹ Lương, tạo cung Mang Sơn, lưu ruộng thờ để cho việc thờ cúng, định việc hàng năm tiết Xuân, tiết Đông nhân dân các xã theo như lệ đánh cá cùng nhau thờ phụng. Tháng 8, tháng 9 xã Tam Vật Lại phụng đón tới xã Khả Lê, lập làm điện thờ bằng tranh cỏ, đánh cá để tế các thần, cùng người dân địa phương đều đến đền để làm lễ phụng thờ.

Thế là chín châu đại đồng, bốn cõi an cư, 9 núi tế Lữ, 9 sông khơi dòng, 9 chằm có đập, bốn bể lưu thông. Đồ cống tế của các chư hầu có Voi 9 ngà, Gà 9 cựa, Ngựa 9 hồng mao.
Vua ban đất và đặt tên họ trong nước. Nước Xích Quỷ Đông vươn đến biển, Tây chạm đất Lào (Lưu Sa thiết La), Bắc Nam trải dài, thanh giáo trùm khắp bốn bể. Bấy giờ Ma Thị Cao Sơn mới lập chúc thư, giao lại toàn bộ vùng kinh đô núi Tản sông Đà, truyền lại ngôi vị cho Tản Viên. Cao Sơn Đế Thuấn băng. Tản Viên lên ngôi gọi là Kinh Dương Vương, lấy họ là Nguyễn.
Vương thường đi vãng du đến sông Tiểu Hoành xem đánh cá tới xã An Vệ huyện Ma Nghĩa thấy một khu Thanh Lan Bảo Sơn, có hình rồng chầu về tổ, mới lập làm cung xá để ở, lấy xã An Vệ làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.
Vương thường đi săn bắn tới xã Cổ Đằng huyện Ma Nghĩa nghỉ ngơi, lập cung xá gọi là Nam cung điện, ở xứ Bi Bi lập 4 cột đá, 8 con lợn đá gồm 1 lợn mẹ và 7 lợn con để lưu làm di tích. Lấy xã Cổ Đằng làm tạo lệ phụng sự hương hỏa, mỗi năm mùa xuân tháng 2 dùng trâu một con, dê một con, lợn một đầu mà làm nghi lễ cúng tế.
Vương thường đi vãng du sông Tiểu Hoành xe đánh cá đến xã Tam Sơn huyện Phúc Lộc lập làm cung xá một dãy, tạm trú ở đó, nay gọi là điện Cửu Miếu. Hàng nằm các xã Tam Sơn, Nhân Lý, Văn Khê, Xuân Hương, Lễ Toàn, An Phúc, Tung Cao lấy ngày 10 tháng 10 phụng nghênh tại điện Quán Thánh đến điện Cửu Miếu, cùng nhau thờ cúng, tới ngày 15 đánh cá để làm lễ cúng tế.

Lăng mộ Kinh Dương Vương ở Á Lữ (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Mười năm sau, Kinh Dương Vương đi tuần hướng Đông, đến Á Lữ bên bờ sông Đuống thì băng, trao thiên hạ cho ông Ích. Kinh Dương Vương hóa sinh bất diệt, đứng đầu trong Tứ bất tử và linh thần đất Việt. Nhờ có công lao trị thủy, yên định 9 châu, ông được tôn là Vua cha Nhạc phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Ông Ích là chính dòng của Đế Nghi, còn gọi là Đế Lai. Sau 3 năm Đế Lai nhường ngôi (ái nữ Âu Cơ) cho con của Kinh Dương Vương là Khải, lánh ra ở phía Nam Kỳ Sơn. Con của Hậu Tắc cũng vì bị Hạ Khải bỏ chức Tắc phải lánh nạn theo ông Ích.
Chư hầu các nơi đều theo Khải. Khải lên ngôi thiên tử, lấy tên nước là Hoa Hạ, xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân là con trai của Tản Viên Sơn Thánh. Mẹ là Thần Long Động Đình. Mẫu Thần Long sinh ra một bọc trứng, đem vứt bỏ ở bãi Nhật Chiêu bên sông Hồng. Tới đêm bọc trứng phát sáng, tiếng nổ như sấm, rồi hóa thành 7 con rồng bay lên trên sông Nhị. Đó là Long Quân và 6 người anh em của lục bộ thủy phủ, là thất giáp Đoài hồ.
Long Quân lên ngôi, họ Hữu Hồ không phục, Lạc Long Quân bèn thảo phạt, đại chiếm ở đất Chàm. Sắp khai chiến, Long Quân làm bài Chàm thệ. Đoạn diệt họ Hữu Hồ. Thiên hạ đều chầu. Long Quân sau khi dẹp loạn Cửu vĩ Hồ, định đô ở An Ấp tại Yên Phụ giữa Tây Hồ và sông Nhị, lấy tên là Uy Linh Lang. 

Đình Yên Phụ thờ Uy Linh Lang

Lạc Long Quân băng, hóa sinh về biển Động Đình, thành vua cha Bát Hải của Thoải phủ. Những người anh em cùng bọc của Long Quân thành Ngũ vị tôn quan, lập thành ban Công đồng trong Tứ phủ.
Con của Lạc Long Quân gọi là Hùng Vương, nối ngôi phụ đạo. Vua gọi là Phụ (Bố), vợ vua gọi là Mẫu (Ma, má). Chế độ cha truyền con nối bắt đầu là từ Lạc Long Quân vậy.
Giữa thời Lạc triều, Chử Đồng Tử là một chư hầu, nhân lúc vua đi săn đã chặn đường về, tiếm ngôi, chiếm đoạt vị (công chúa Tiên Dung), lập đô ở vùng Hồng Châu (Hưng Yên). Hùng Thái Khang phải sống lưu lạc ở phương Nam xưa. Tới thời Hùng Thiếu Khang, trung hưng lại vương quyền, nhưng kinh đô đã dời đến đất Quảng Đông ở Dương Thành. Con cháu Lạc triều lại xăm mình, lội nước, noi gương Tản Viên Sơn, khai phá vùng đất Mân Việt, lấy đó làm đất thờ Kinh Dương Vương.
Kinh triều cha truyền con nối, truyền 18 đời đến Hùng Duệ Vương thì con cháu của Tản Viên Sơn là Nguyễn Sùng Cao Sơn và Nguyễn Hiển Quý Minh cai quản vùng đất Sùng Lạc của tổ tiên. Hậu duệ của dòng theo Đế Lai và Hậu Tắc chạy về hướng Tây là Thục bá Âu Cơ phát binh tiến đánh nước Sùng. Cao Sơn và Quý Minh ra sức chống giặc, giữ nước, nhiều lần thắng quân Thục, nhưng cuối cùng thất bại. Sùng Hầu đành phải khuyên Hùng Duệ Vương nhường lại ngôi cho Âu Cơ. Lạc triều của Kinh Dương Vương từ đây chấm dứt. Đất Lạc nhập vào với đất Âu thành nước Âu Lạc của Thục triều.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Hơn trăm họ truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.

Thái sử công soạn

Nguồn tham khảo:

1. Lĩnh Nam chích quái. Các truyện Truyện Họ Hồng Bàng, Truyện Hồ Tinh, Truyện Đầm Nhất Dạ

2. Sử ký Tư Mã thiên. Các phần Ngũ đế bản kỷ, Hạ bản kỷ.

3. Kinh Thư. Khổng Tử san định.

4. Tản Lĩnh sơn từ di tích của ngọc phả của Cẩm Đái (Bất Bạt, Sơn Tây), trưởng tạo lệ đền Thượng núi Ba Vì.

5. Thần tích đền An Trì của làng Yên Phụ, tổng Thượng, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông.

6. Tản Viên Đinh Phi Thánh mẫu, ngọc phả của sách Tang Ma, Thanh Thủy, Phú Thọ.

7. Sự tích núi Chẹ và núi Chẹ Đùng trong tập Dưới chân núi Tản một vùng văn hóa dân gian.

Lang Liêu bản kỷ

Hậu Tắc Cơ Khí

Truyện Bánh chưng kể, Lang Liêu nằm mơ thấy thần nhân bảo rằng: “Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là vật để nuôi dân khỏe mạnh, ăn mãi không chán, không có vật gì hơn được. Nếu giã gạo nếp gói thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông để tượng trưng cho Đất, ở trong làm nhân ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý công ơn dưỡng dục của cha mẹ, như thế thì lòng cha sẽ vui, nhà ngươi chắc được ngôi quý”.

Vị thần nhân đã giúp Lang Liêu dùng gạo làm lễ vật là Hậu Tắc, người được Đế Nghiêu gọi là Nông sư. Hậu Tắc là tổ của nhà Chu, được Đế Thuấn đặt tên và ban họ Cơ. Tắc nghĩa là lúa tẻ, tức là lúa nước, chứ không phải lúa nếp (thử) trồng trên nương. Cũng như sự tích Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, chuyện Hậu Tắc trồng lúa nước cho thấy đây chắc chắn là một nhân vật lịch sử thời kỳ Hùng Vương Thánh tổ dựng “xã tắc” họ Hùng ở khu vực đất tổ Phong Châu.

Mẹ của Hậu Tắc là bà Khương Nguyên, vào rừng thấy vết chân người khổng lồ bèn dẫm vào rồi mang thai. Cho rằng đó là điềm không lành, khi sinh nở, Khương Nguyên bỏ đứa trẻ ra ngõ hẹp. Nhưng trâu ngựa đi qua đều tránh không dẫm vào đứa trẻ. Khương Nguyên bèn mang bỏ vào rừng, nhưng đúng lúc rừng lại đông người, nên bỏ vào lạch. Đứa trẻ được loài chim lấy cánh ủ cho. Khương Nguyên thấy lạ bèn mang con về nuôi và đặt tên là Khí (弃; nghĩa là bỏ).

Sự tích của ông Hậu Tắc giống một trong những truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh. Mẹ Tản Viên là bà Đinh Thị Nguộc, người rất xấu, không ai lấy. Một hôm, bà vào rừng kiếm củi, giẫm phải một vết chân lạ, trở về nhà thụ thai. Vì hoang thai nên khi sắp sinh nở bà bị người làng ghét bỏ, đuổi ra khỏi làng. Bà phải vào rừng để ở và sinh ra Nguyễn Tuấn. Người làng bèn kéo nhau lên rừng bắt vạ. Hùm beo ra đuổi những người bắt vạ và hàng ngày mang thịt hươu nai về nuôi mẹ con Nguyễn Tuấn.

Lại có truyền thuyết khác kể rằng thần núi Tản Viên thuở lọt lòng bị bỏ rơi trong rừng, được một người tiều phu gặp đem về nuôi, đặt tên là Kỳ Mạng. Sở dĩ thần có tên nầy là vì trước khi gặp cha nuôi, đứa bé mới lọt lòng đã được dê rừng cho bú, chim chóc ấp ủ cho khỏi chết. 

Chữ Kỳ với Khí cùng một âm. Truyền thuyết này cho thấy ông Hậu Tắc, tổ của nhà Chu, được truyền thuyết Việt ghi vào dòng Tản Viên Sơn Thánh, tức là dòng lên núi theo mẹ về phía Tây.

Chu bản kỷ trong Sử ký Tư Mã Thiên cho biết: Hậu Tắc mất, con là Bất Truất nối dõi. Cuối đời Bất Truất, chính sự nhà Hạ Hậu suy, bỏ dùng chức Tắc. Bất Truất vì vậy mất chức quan, chạy vào vùng Nhung địch.

Hạ Hậu” ở đây là chỉ Hạ Khải, người nối tiếp Hạ Vũ, vì ông Hậu Tắc là người cùng thời với Hạ Vũ từ đời Nghiêu Thuấn. Hạ Khải trong truyền thuyết Việt là Lạc Long Quân. Hạ Khải “bỏ chức Tắc” tức là phế đi quyền nối dõi của con ông Hậu Tắc và đánh đuổi Bất Truất chạy vào vùng Nhung địch. Chính sự kiện này khởi đầu cho sự chia tay 2 dòng lên núi và xuống biển mà dòng ông Hậu Tắc là đại diện của Sơn Tinh, còn dòng Hạ Hậu là đại diện của Thủy Tinh. Dòng họ Cơ của Hậu Tắc bị dòng phía Đông tranh giành quyền lực, phải bỏ đất gốc mà chạy về phía Tây, để sau 14 đời mới lại phục hưng.

Chiếc mâm thời Tây Chu

Văn Vương Cơ Xương

Truyện Bánh chưng kể: Công tử thứ 9 là Lang Liêu… bèn lựa nếp hạt trắng tinh, không sứt mẻ, đem vo cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu chín tượng trưng cho Đất, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho nhuyễn, nhào thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, gọi là bánh dày…

Vua khen ngợi hồi lâu, rồi cho Lang Liêu được giải nhất. Vua dùng thứ bánh ấy để cung phụng cha mẹ trong các dịp lễ tết cuối năm. Thiên hạ mọi người đều bắt chước theo. Lấy tên là bánh Lang Liêu và gọi là Tiết Liệu.

Con số 9 là số chỉ phương Tây trong Hà thư. Lang Liêu nghĩa là thủ lĩnh của người Liêu Lão ở phía Tây Trung Hoa. Vị thủ lĩnh người Liêu Lão xuất phát từ phía Tây là Tây Bá Hầu Cơ Xương. Cơ Xương cũng là người đã viết ra Kinh Dịch, bao hàm đạo Âm Dương, Trời Đất, nên được truyền thuyết Việt kể là Lang Liêu chế ra bánh chưng vuông tượng trưng cho Đất, bánh dày tròn tượng trưng cho Trời.

Cơ Xương là hậu duệ 14 đời của Hậu Tắc. Truyền thuyết Việt chép chung 14 đời này vào thành chuyện Âu Cơ chia đôi đàn con Bách Việt, dẫn một nửa lên núi đi về phía Tây mà lập nước Văn Lang.

Người Liêu Lão được nhắc đến tại phần Phong Tục, Cổ Nam Việt, chương Châu Quận Thập Tứ, sách Thông Điển, thời Đường, nói về nước Nam Việt của nhà Triệu như sau:

Phía Nam Ngũ Lĩnh, các bộ lạc người Di người Liêu cư trú lẫn lộn… Thủ lĩnh ở đây đều dùng đồng đúc thành trống lớn, trống vừa đúc xong thì treo giữa sân, bày rượu để đón mời đồng loại (ăn mừng). Họ lại thường hay gây thù chuốc oán với nhau, hay đánh nhau, khi đó sẽ gõ trống, người khắp nơi liền tụ về (tham chiến) đông nghịt như mây. Kẻ có trống đồng tự xưng là Đô Lão, dân chúng sẽ tôn phục.

Theo đó, người Liêu Lão là tộc người sử dụng trống đồng làm nhạc khí quy tập cộng đồng (đón mời đồng loại), dùng trong quân đội (khi đánh nhau) và là biểu tượng của thủ lĩnh (Đô Lão). Tộc người trước thời Hán dùng trống đồng để hiệu lệnh thì rõ ràng là thuộc về nước Văn Lang của Hùng Vương. Thủ lĩnh lập nước của nước Văn Lang là Lang Liêu Cơ Xương, hay bà Âu Cơ. Tên nước Văn Lang là lấy theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương.

Âu đồng thời Tây Chu

Võ Vương Cơ Phát

Truyện Bánh chưng mở đầu: Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”.

Thời vua Hùng phá giặc Ân là thời của Văn Vương Cơ Xương khởi nghiệp, đến Võ Vương Cơ Phát đại thành diệt Trụ, lên ngôi của Thiên tử.

Con số 22 vị quan lang công tử của vua Hùng khá khó giải thích ý nghĩa vì có vẻ nó không hợp với con số biểu tượng nào trong Dịch học. Tuy nhiên nếu liên hệ với lời mở đầu: “Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân”, thì chợt nhớ tới câu hát của phường Ải Lao trong hội Phù Đổng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương

Ân sai hai tám tướng cường nữ Nhung

Xâm cương cậy thế khoe hùng

Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Người đánh giặc Ân cùng với Phù Đổng Thiên vương là Lang Liêu Cơ Phát. Do đó mới có phường Ải Lao (Lao = Lão = Liêu) là đội quân chính của Thánh Dóng. Bên phía giặc Ân là 28 “nữ tướng”. Như vậy, phía Lang Liêu sẽ có 50 người con trừ đi 28 nữ nhà Ân thành ra 22 người anh em. Con số 50 này cũng như số 100, là con số chỉ sự tổng hợp của 2 dòng theo Cha Lạc Long Quân xuống biển và theo Mẹ Âu Cơ lên núi. 28 nữ đại diện của nhà Ân là dòng Lạc Long. 22 nam của Âu Cơ Xương là dòng Liêu (Ải Lao) phía Tây nhà Chu.

Truyện Bánh chưng ghi: Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu; hai mươi hai anh em đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở.

Còn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể là khi người con trưởng của Âu Cơ là Hùng Quốc Vương lên ngôi, Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương… Vua mới phân quan lại, định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu trời, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc.

Lang Liêu Cơ Phát sau khi diệt Ân đã lên ngôi thiên tử, phân phong cho các anh em và công thần ở nơi làm chư hầu, gọi là phiên trấn, để quản lý các vùng đất. Đây là khởi đầu của chế độ phong kiến (phong tước kiến địa) trong lịch sử.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể tiếp: Thái tử là Hùng Quốc Vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn. Quốc Vương sau khi nối ngôi chính thống, chuyên lo giáo hóa đạo đức, khuyến khích nông tang, khiến dân không lo nghèo thiếu, nước có tích luỹ của dư. Bốn biển yên bình, không ai gian xảo giả dối, phong tục hồn thuần chất phác. Xét xem xuyên suốt cho đến bấy giờ, vua là bậc có nhiều công hưng trị, càng sáng tỏ hơn các đời trước, được người đời tôn xưng là bậc hiền quân.

Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm trăm vương, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, cùng là các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ. Đất đai 15 bộ này được xác định cương giới, định người trưởng quân gọi là Bô (bố), cha gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con).

Nam nữ đều xem theo dòng cha mà xưng. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù, phụ đạo. Cháu chắt của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời nối giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của các bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, truyền mãi nước Nam.

Thời kỳ này cũng được Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả gọi là thời Trị bình kiến phu, tức là trị quốc bình thiên hạ, kiến lập các nước chư hầu.

Thành Vương Cơ Tụng

Võ Vương băng, con là Cơ Tụng nối ngôi, còn nhỏ. Chu Công Đán là chú, nhiếp chính. Chu Công đặt ra các lễ chế là Chu Lễ, viết hào từ cho Chu Dịch. Hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh cùng với 3 vị giám thúc nổi loạn. Chu Công Đông chinh, dẹp được loạn Vũ Canh và Tam Giám, an trí đám ngoan dân nhà Ân ở Lạc Dương. Truyền thuyết Việt kể là tướng Cao Lỗ giúp Thục Phán bảo vệ thành Cổ Loa. Chu Công cũng là thần Đồng Cổ, chủ minh thệ trung với nước với vua.

Dưới thời Chu Thành Vương, nước Việt Thường ở vùng cửa sông Trường Giang mang lễ vật là chim bạch trĩ qua 3 lần sứ dịch vào đến Cảo kinh gặp Chu Công. Chu Công nhận lễ, nhận sự chầu phục của nước Việt Thường trong thiên hạ Trung Hoa. Lại ban cho sứ Việt Thường xe chỉ Nam để về nước. Sứ Việt Thường đi dọc sông Mê Kong, qua đất Lâm Ấp và Phù Nam rồi men theo biển mà về.

Con của Thành Vương nối ngôi là Chu Khang Vương. Người nối nghiệp Chu Công, hoàn thành việc xây dựng, yên định vùng đất Lạc Đông Đô là Tất Công. Truyền thuyết Việt gọi là Phan Tây Nhạc. Thời Thành Khang chi trị nhà Chu đã thâu tóm, thuần phục được toàn bộ thiên hạ Trung Hoa, gồm cả vùng đất cũ của nhà Ân ở Trịnh, Vệ, quý tộc nhà Ân ở Lạc Dương, dân nhà Hạ ở Việt Thường.

Dòng chữ “Mục Vương quyết chính” trên mâm đồng

Mục Vương Cơ Mãn

Chu Mục Vương là người đã củng cổ lại triều chính nhà Tây Chu, đánh dẹp Khuyển Nhung, chinh phạt Kinh Sở. Dấu chân của ông đã rải khắp thiên hạ. Ông cũng là người theo truyền thuyết được kể đã lên núi Côn Lôn thấy cung điện ngọc của Hoàng Đế và gặp bà Tây Vương Mẫu.

Ngọc phả Hùng Vương thì kể, vị vua Hùng thứ bảy, sau thời vua Hùng thứ sáu đánh giặc Ân, là Hùng Chiêu Vương, cũng gọi là Lang Liêu. “Hùng Chiêu Vương, buổi đầu tiên nối ngôi nghiêm khắc, chuyên về chính trị. Bãi bỏ khí giới, không dùng việc quân binh. Chăm lo sức dân, chăm sóc nền giáo hóa để mở mang trí tuệ. Ðúc kiếm báu (Thiên linh kiếm), ấn báu (Thiên linh ấn) làm báu vật của quốc gia để giữ yên xã tắc vững bền mãi mãi. Lập đàn ở núi Tam Ðảo, đến chùa Tây Thiên mở hội 7 ngày, 7 đêm để cho trai gái bốn phương dự hội vui. Lại đến chùa Phù Nghì lập vọng Tiên đàn cầu trời đất, mong được gặp Tiên. Trên đường trở về, gặp được nàng Ngọc Tiêu, con gái nuôi của vị Trưởng ông thôn Ðông Lộ rồi kết duyên, sinh ra Hùng Vĩ Vương, lập làm con trưởng.”

Hùng Chiêu Vương chỉ một vị vua của nhà Tây Chu vì chữ Chiêu = chiều, chỉ hướng mặt trời lặn. Sự tích Lang Liêu lên núi Tam Đảo cầu tiên chính là sự kiện Chu Mục Vương lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu.

Các vị Lang Liêu nối tiếp Chu Mục Vương là Cung Vương, Ý Vương, Hiếu Vương và Di Vương. 

Lai lôi thời Tây Chu

Lệ Vương Cơ Hồ

Truyện Bánh chưng kể: Về sau, anh em tranh giành nhau làm trưởng, mỗi người dựng “mộc sách” (hàng rào cây bằng gỗ) để che kín, phòng vệ. Vì thế, mới gọi là Sách, hay là Trại, là Trang, là Phường. Sách, hay Trại, Trang, Phường bắt đầu có từ đây vậy.

Nhà Tây Chu truyền đến Chu Lệ Vương thì bắt đầu suy. Lệ Vương sống xa xỉ, làm nhiều điều bạo ngược khiến nhân dân oán hận, dẫn đến loạn Quốc dân bạo động. Lệ Vương phải bỏ chạy đến đất Trệ. Trệ là đọc khác của Trại. Đất Trệ, có sách chép là đất Di (Di Lão?), nơi Lệ Vương nương náu có thể là địa danh Thạch Trại Sơn ở Vân Nam ngày nay, nơi có tộc người Di (Lô Lô).

Tên của các vị Lang Liêu từ Văn Vương đến Lệ Vương trong bài minh văn 340 chữ được đúc trên chiếc Lai lôi cổ bằng đồng.

Khi Lệ Vương lưu vong ở đất Trại, triều đình do 2 tướng quốc là Chu Công và Triệu Công quản lý, gọi là thời Chu Triệu cộng hòa. Lệ Vương mất, con là Chu Tuyên Vương lên nối ngôi, chấn hưng lại nhà Chu.

Những chữ: Cung Vương, Ý Vương, Hiếu Vương, Di Vương trên chiếc Lai lôi.

U Vương Cơ Cung Sinh

Cuối thời Tuyên vương, có đứa trẻ hát bài ca:

“Mặt trăng sẽ lên. Mặt trời sẽ lặn.

Cung dâu áo cỏ. Đồ vong nhà Chu.”

Theo Chu bản kỷ thì đây là khi xuất hiện Bao Tự. Bao Tự được Sử ký Tư Mã Thiên chép là từ nước dãi rồng của thời nhà Hạ, truyền qua nhà Ân Thương tới thời Lệ Vương mở ra, hóa thành con thằn lăn đen mà nhập cung. Tới thời Chu U Vương, vùng Tam Xuyên có động đất lớn. Thái sử nhà Chu là Bá Dương viết:

Nhà Chu sẽ mất. Khí của trời đất không để mất trật tự; nếu mất trật tự thì dân sẽ loạn. Khí dương ẩn náu mà không thể phát xuất, khí âm bị chèn ép không thể bốc lên, vậy nên có động đất.

Nay Ba Sông đã chấn động là do khí dương mất chỗ, mà khí âm dồn đầy. Dương mất là do âm, nguồn ắt bị tắc. Nguồn bị tắc, quốc gia ắt mất. Đất có nước tưới nhuần thì dân mới sử dụng được. Đất không có nước chảy, dân thiếu vật dụng, không vong sao được!

Xưa sông Lạc cạn mà nhà Hạ mất. sông Hà cạn mà nhà Thương mất. Nay đức của nhà Chu giống như buổi cuối của hai nhà kia rồi. Nguồn sông lại tắc, tắc tất cạn. Ôi, quốc gia dựa vào sông núi. Sông cạn núi lở, là điềm mất nước vậy. Sông cạn thì núi tất lở. Không quá mười năm nữa nước sẽ mất thôi. Sự ruồng bỏ của Trời không quá số này.

Thái sử Bá Dương, người đã lấy nhị khí âm dương hai thời Hạ Thương để khuyên răn Chu U Vương, là Lão Tử. Vùng Tam Xuyên là đất Bắc Việt ngày nay, nơi có đình làng Thổ Hà lưu dấu tích về Lão Tử đã đăng Chiên đàn Thất Diệu ở Cổ Loa, nhắc lại sự việc Đát Kỷ thời Trụ Vương nhà Ân qua chuyện Bạch Kê tinh. Chu U Vương không nghe theo. Lão Tử biết nhà Chu sắp vong nên rời bỏ thành Lạc Dương mà đi về phía Tây, chắc hẳn là đi gặp các vị Lang Liêu khai triều Tây – Chu thời Văn Vương, Võ Vương.

Chu U Vương sủng ái Bao Tự, đánh mất đạo lý trời đất âm dương của bánh chưng bánh dày từ Hậu Tắc, khinh thường các anh em chư hầu Bách Việt. Nhà Chu (triều Tây – Lang Liêu) vong. Hai mươi hai người anh em tranh giành nhau làm trưởng, mỗi người dựng hàng rào bằng gỗ để che kín, phòng vệ. Thiên hạ chuyển sang thời các liệt quốc Xuân Thu xưng bá chư hầu. “Cung dâu áo cỏ” là chỉ âm thịnh dương suy hay chư hầu lấn át thiên tử?

Thái sử Lý Bá Dương ký

TÓM LƯỢC VỀ CÁC TRIỀU ĐẠI HÙNG VƯƠNG

SƠN TRIỀU: Hùng Vương Thánh tổ

Nhật nguyệt tinh thần

1.      Đế Minh (Hùng Vũ Vương)

Triều đại: Hoàng Đế mở muôn nước. Tổ phụ bộ tộc Trung tâm Giao Chỉ

Vua khai sáng và tên húy: Đế Minh, Hiền Đức Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Vũ Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Hiên Viên Hoàng Đế

Tên thờ và trong truyền thuyết: Vua cha Thiên phủ, Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương, Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ

Tên dân dã: Ngọc Hoàng

Niên đại: khoảng – 4.000 đến – 2879 DL

Quốc hiệu: nước Họ Hùng, Hữu Hùng quốc, Viêm Giao, Viêm Việt

Kinh đô: Hồng Lĩnh

Truyền thuyết: Tây Thiên quốc mẫu, Vua Hùng chọn đô

Di tích: Đền Hùng và các nơi thờ trên vùng đất tổ. Đền Đình Chu.

2.      Đế Nghi (Hùng Hy Vương)

Triều đại: Đường Nghiêu

Vua khai sáng và tên húy: Đế Nghi, Viên Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Hy Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đế Nghiêu

Tên thờ và trong truyền thuyết: Viễn Sơn Thánh vương

Tên dân dã: Bắc Đẩu

Quốc hiệu: Hồng Bàng

Niên đại: khoảng –2879 đến –2500 DL

Kinh đô: Hồng Lĩnh và Ngũ Lĩnh

Truyền thuyết: Vua Hùng kén rể, Vua Hùng chọn đô

Di tích: Đền Hùng và các nơi thờ trên vùng đất tổ

3.      Lộc Tục (Hùng Hi Vương)

Triều đại: Ngu Thuấn.

Vua khai sáng và tên húy: Lân Lang, Lộc Tục

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Hi Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đế Thuấn

Tên thờ và trong truyền thuyết: Ất Sơn Thánh vương, Nam triều thánh tổ Ngọc hoàng thượng đế, Sơn Tinh

Tên dân dã: Nam Tào

Quốc hiệu: Nam Bang, Xích Quỷ

Niên đại: khoảng -2500 đến -2200 DL

Kinh đô: Ngũ Lĩnh

Truyền thuyết: Đi cày Lịch Sơn, Vua Hùng kén rể

Di tích: núi Lịch, các nơi thờ Hùng Vương trên đất tổ.

KINH TRIỀU: Phụ đạo

Rồng bay biển Bát

4.      Kinh Dương Vương (Hùng Việt Vương)

Triều đại: Tổ nhà Hạ

Vua khai sáng và tên húy: Kinh Dương Vương, Tuấn Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Việt Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đại Vũ, Hạ Vũ.

Tên thờ và trong truyền thuyết: Tản Viên Sơn Thánh quốc chúa đại vương, Vua cha Nhạc phủ

Tên dân dã: Hương Lang

Quốc hiệu: Nam Bang, Xích Quỷ

Niên đại: khoảng –2200 đến –2000 DL

Kinh đô: Sơn Tây

Truyền thuyết: Tản Lĩnh Ngọc ký, Thần Long Động Đình, Sơn Tinh – Thủy Tinh

Di tích: Ba Vì, Lăng Sương, Thác Bờ

5.      Lạc Long Quân (Hùng Diệp Vương)

Triều đại: Nhà Hạ

Vua khai sáng và tên húy: Lạc Long Quân, Pháp Hải Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Diệp Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Đế Khải, Hạ Khải.

Tên thờ và trong truyền thuyết: Uy Linh Lang, Bát Hải Động Đình, Vua cha Thoải phủ

Tên dân dã: Linh Lang

Quốc hiệu: Hồng Bàng, Đào Động.

Niên đại: khoảng –2000 đến – 1900 DL.

Kinh đô: An Hoa (ở giữa hồ Dâm Đàm và sông Nhị)

Truyền thuyết: Truyện Hồ Tinh, thần tích Yên Phụ, La Phù, Đồng Bằng, Thủ Lệ, Ngũ vị tôn quan

Di tích: Yên Trì, La Phù, Đồng Bằng và các đền thờ ven sông Hồng

6.      Hùng Uy Vương

Triều đại: Nhà Hạ Trung Hưng

Vua khai sáng và tên húy: Hoằng Hải Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Uy Vương

Danh hiệu trong Hoa sử: Hạ Thiếu Khang

Quốc hiệu: Hồng Bang

Niên đại: khoảng -1900 đến -1700 DL

Kinh đô: Dương thành

Truyền thuyết: Chử Đồng Tử, Hậu Nghệ – Hằng Nga

Di tích: Đầm Nhất Dạ và những nơi thờ Chử Đồng Tử

7.      Hùng Huy Vương

Triều đại: Nhà Thương

Vua khai sáng và tên húy: Long Tiên Lang.

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Huy Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Thành Thang.

Tên thờ và trong truyền thuyết: Bàn Hồ

Tên dân dã: Lang thang

Quốc hiệu: Việt Thường

Niên đại: khoảng –1700 đến –1400 DL

Kinh đô: Tân Cán (Ngô thành)

Truyền thuyết: Các họ của người Dao

8.      Hùng Duệ Vương

Triều đại: Nhà Ân.

Vua khai sáng và tên húy: Huệ Đức Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Duệ Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Bàn Canh, Trụ Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Vua cha Địa phủ

Tên dân dã: Diêm vương

Quốc hiệu: Việt Thường

Niên đại: khoảng –1400 đến –1100 DL

Kinh đô: Bàn Long thành, An Huy

Truyền thuyết: Tam vị Tản Viên Sơn thánh, Giếng Việt, Truyện vu nữ

Di tích: Các di tích thờ Cao Sơn, Quý Minh; núi Vũ Ninh

THỤC TRIỀU: Trị bình kiến phu

Phượng gáy non Kỳ

9.      Âu Cơ (Hùng Chiêu Vương)

Triều đại: Tổ nhà Chu

Vua khai sáng và tên húy: Âu Cơ

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Chiêu Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Cơ Xương, Chu Văn Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Thục Vương tử, Hiền Vương

Tên dân dã: Lang Liêu

Quốc hiệu: Văn Lang – Âu Lạc

Niên đại: khoảng –1100 đến -1000 DL

Kinh đô: Phong Châu

Truyền thuyết: Phù Đổng Thiên vương, Truyện họ Hồng Bàng, Lão tiên ở bến Việt Trì, Cột đá thề

Di tích: Hiền Lương, Phù Đổng, Sóc Sơn, chùa Hoa Long, núi Hùng

10. Hùng Quốc Vương

Triều đại: Nhà Tây Chu.

Vua khai sáng và tên húy: Thừa Văn Lang.

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả:  Hùng Ninh Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Thục Phán, Vũ Ninh

Danh hiệu trong sử Hoa: Cơ Phát, Ninh Vương, Chu Vũ Vương.

Tên dân dã: Ninh lang (Linh Lang).

Quốc hiệu: Văn Lang – Âu Lạc.

Niên đại: khoảng -1000 đến -770 DL

Kinh đô: Côn Minh (Vân Nam)

Truyền thuyết: Chim bạch trĩ, Bà Nghi Địch, Đồng Cổ Sơn thần, Lang Liêu cầu Tiên, Phan Tây Nhạc, Hùng Linh Công

Di tích: Làng Vân, Đan Nê, Hiền Lương, Tây Thiên, Y Sơn, Thị Cấm

11. Hùng Tạo Vương

Triều đại: Nhà Đông Chu.

Vua khai sáng và tên húy: Đức Quân Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Tạo Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Chu Bình Vương.

Tên thờ và trong truyền thuyết: An Dương Vương

Quốc hiệu: Văn Lang – Âu Lạc

Niên đại: –770 đến –314 DL

Kinh đô: Cổ Loa

Truyền thuyết: Huyền Thiên Trấn Vũ, Giếng Việt, Lang Liêu gặp Phật

Di tích: Thổ Hà, núi Sái, Thất Diệu, chùa Thiên Quang

12. Hùng Nghị Vương

Triều đại: Cuối thời Đông Chu.

Vua khởi đầu: Bảo Quang Lang.

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Nghị Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: An Dương Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Chu Noãn Vương

Quốc hiệu: Âu Lạc

Niên đại: –314 đến –256 DL

Kinh đô: Cổ Loa

Truyền thuyết: Mỵ Châu – Trọng Thủy

Di tích: Cổ Loa, đền Cuông

TRUNG HOA: Đại đế quốc

Tiên Rồng hợp hình

13. Tần (Hùng Định Vương)

Triều đại: nhà Tần

Vua khai sáng và tên húy: Chân Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Định Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Đinh Tiên Hoàng

Danh hiệu trong sử Hoa: Tần Thủy Hoàng

Tên dân dã: Lang sói – Sài lang

Quốc hiệu: Đại Cồ Việt

Niên đại: –257 đến –206 DL

Kinh đô: Tam Xuyên

Truyền thuyết: Lý Ông Trọng, Yên Kỳ Sinh, Giếng Việt

Di tích: Chèm, Yên Tử, núi Vũ Ninh

14. Hiếu (Hùng Trinh Vương)

Triều đại: Nhà Hiếu (Tây Hán)

Vua khai sáng và tên húy: Hưng Đức Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Trinh Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Lý Bôn, Triệu Vũ Đế

Danh hiệu trong sử Hoa: Lưu Bang – Hán (Hiếu) Cao Tổ

Tên dân dã: Lang bang

Quốc hiệu: Vạn Xuân

Niên đại: -206 tới –9 DL

Kinh đô: Trường An

Truyền thuyết: thần tích Đồng Xâm, Nhữ Nương (Trình Thị)

Di tích: Đồng Xâm, Nhữ Nương, Xuân Quan, Cựu Tự, Bát Tràng

15. Triệu (Hùng Triêu Vương)

Triều đại: nhà Triệu

Vua khai sáng và tên húy: Cảnh Triêu Lang

Danh hiệu trong Hùng Vương Ngọc phả: Hùng Triêu Vương

Tên thờ và trong truyền thuyết: Triệu Việt Vương

Danh hiệu trong sử Hoa: Triệu Đà

Tên dân dã: Triệu Quang Phục

Quốc hiệu: Nam Việt

Niên đại: -179 đến –111 DL

Kinh đô: Phiên Ngung

Truyền thuyết: Triệu Quang Phục

Di tích: các nơi thờ Triệu Việt Vương ở cửa biển Đại An và ven các cửa sông

Ngọc phả Tản Viên Sơn Thánh do Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm soạn sửa

Ngọc phả ghi về Tản Viên Sơn Thánh,

Bản sửa của Trình Quốc Công Nguyễn Bỉnh Khiêm, trích in từ cuốn “ĐẠI HÓA THẦN KINH”

ĐẠI HÓA THẦN KINH

Ở phía Tây Bắc của thành Phong Châu có một dãy núi, núi có hình như chiếc lọng, bên trên có một ngôi đền. Đền là nơi ngự của vị thánh đệ nhất Tản Viên Sơn. Xem trong quốc sử rằng từ khi mở nước Hồng Bàng, khai phá phương Nam, có Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh một bầu trăm trứng, thực là tổ của Bách Việt. Nhưng hậu sinh sau ngàn năm muốn cầu tìm lý lẽ cho ngàn năm về trước thì tất sẽ đặt câu hỏi, lịch sử này là hoang truyền, sợ không có chứng cứ xác thực. Thế nhưng, chim huyền điểu sinh ra nhà Thương, cá trắm đỏ khởi nên họ Lý. Việc đế vương sinh ra có sự đặc biệt dị thường xưa cũng đã từng có. Huống hồ nước Nam ta, nối nhau có thần minh, đất đúc nên linh khí, tất sinh ra những tư chất như vậy. Người lạ thì việc tương ứng cũng lạ. Tin hẳn không sai.

Một ngày, Lạc Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

– Ta là giống Tiên, nàng là giống Rồng, nước lửa tương khắc, không thể ở chung.

Thế là bèn phân 50 người con theo mẹ về biển, nay chính là Thủy thần Quảng Tế. Còn trong 50 người con theo cha lên núi thì Thánh Tản ta là con trưởng.

Thánh vốn là Thanh Vi Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh. Bẩm sinh đã khác lạ, tư chất vượt thường, có tài động trời trùm đất, có thuật dời núi lấp biển, Thật đúng là con của đất trời, vua trưởng của xã tắc. Từ khi lên núi, Thánh phụ ở ngôi, lập đô Phong Châu. Thời ấy mưa thuận gió hòa, dân yên nước thịnh, đào giếng cầy ruộng, tất cả đều theo phép tắc của vua, khắc đề là Giao Chỉ, rạng rỡ nét phong hóa thuần cổ. Được hơn bốn năm Thánh phụ bất chợt quy thiên, mây che Đỉnh Hồ, ôm bảng đen mà nén khóc. Thuyền ra khe lớn, thương thay ngựa lồng khó giữ. Tản Sơn Thánh từ đó đau xót không ngơi, bèn nhường lại nước cho người em thứ ba, chuyên tâm niệm vào việc tu luyện. Lại thêm núi Tản Viên có hình núi đẹp đẽ, vách đứng chọc trời, trên có một con đường có thể tới đường mây. Dưới có con đường có thể thông với địa phủ. Tất cả các núi cao đường xa của nước Nam đều dẫn về chầu quanh nơi này. Tản Thánh ở đó, ngày đêm tu luyện, ngày càng thêm tinh. Được 16 năm bỗng nhiên thần hóa. Thượng Đế sắc phong làm Nam Nhạc thần, nắm quyền Nam Tào Bắc Đẩu, là chủ của vạn thần nước Nam. Tất cả việc nối ngắt các triều đại, hóa sinh của người vật, không có gì là không thuộc quyền xét của Thánh, là đại diện phân xử chính. Đến nay việc ra vào đi đứng, ăn uống trang phục đều như lúc còn sống. Trong các thần bất tử nước Nam thì Tản Thánh ta là đứng đầu.

Thời Hùng Vương có người ở châu Ái là Nguyễn Khang, lớn tuổi mà chưa có con trai, cùng với em đến cầu đảo ở núi Tản Viên. Tản Thánh ta xét tâm thành ấy, hóa làm một đạo sĩ, ban tặng cho nơi đất tốt ở động Lăng Sương, quyết rằng: một huyệt sinh được ba vị thánh. Năm ấy sinh ra Nguyễn Tùng, quả nhiên là tư chất kỳ lạ hơn người, khí chất con nhà thành đạt. Khi Nguyễn Tùng được 15 tuổi thì Tản Thánh lại hiện thành vị tiên Thái Bạch, trao cho gậy thần. Nguyễn Tùng theo phép sau cứu được Thái tử của Long cung, tức là con trưởng của Thủy thần Quảng Tế. Thủy thần cảm công đức ấy mới tặng cho cuốn sách ước, dặn rằng: dựa vào sách này mà cầu được như ý. Nguyễn Tùng từ khi được sách này thì tất cả lân thử nghiệm đều thấy linh ứng. Sau Nguyễn Tùng tham gia giúp việc nước, được 14 năm thì cáo lui, đi ngắm các nơi danh thắng sông núi. Đến khi 77 tuổi thì tạ thế (nay thấy trong ngọc phả xã Thủ Pháp có chép việc này). Các em Nguyễn Hiển, Nguyễn Sùng đều hưởng tuổi thọ, với nước cùng vui, sau hóa có hiển linh, được thờ cùng ở xã Thủ Pháp, tỉnh Sơn Tây. Kỳ thực ba vị thánh này đều là sự hiển hóa của Tản Viên Thánh thay phiên nhau mà xuất hiện (để phân minh rõ việc này nay có thể xem tham khảo với ngọc phả xã Thủ Pháp).

Lại nói, thời loạn 12 sứ quân, chính sự nước Nam không người lo lắng. Tản Thánh phục tấu Đế đình rằng:

– Nước của thần xa ở phương nóng, ánh sáng chiếu rọi, không có ngoại lệ. Xin chọn cho một vị vua chính thống làm chủ nhân dân.

Thượng Đế đồng ý, bèn mệnh sai Đinh Tiên Hoàng giáng sinh, dẹp trừ giặc phương Bắc, sáng lập triều đình. Bậc vua chính thống thực sự bắt đầu từ đó.

Nước Nam trước đây còn chất phác lạc hậu, chưa biết đến sách vở. Tản Sơn Thánh lại tâu lên Đế đình, lại mệnh sai thánh đồng Nhâm Diên giảng dạy về hôn nhân, cày cấy. Sau lại mệnh sai thái thú Tích Quang giảng dạy thơ sách, lễ nghĩa. Phương Nam ta bắt đầu có phong tục tốt đẹp từ đó. Trải thế thứ các đời Đinh, Lê, Lý, Trần, Hoàng Nguyễn, đều do Tản Thánh trình tâu lên, tuy giản dị nhưng nguyên tắc là giữ được điều trọng yếu, tìm được nguồn gốc mà ủy thác. 

Tản Thánh ta thực là thủy tổ của nước Nam. Mà Lạc Long Quân cũng là thủy tổ của các tổ vậy. Vạn năm công đức sánh cùng trời đất. Đời đời thờ cúng. Các triều tôn báo, sắc phong là Chiêu tường Tập thiện Đại vương, tới nay có nhiều linh ứng. Song ngọn núi cao tuyệt, thần lại rất thiêng, hiếm có ai lên được đến đỉnh để mà có thể biết rõ. Nay phụng chép các bài thơ của các vị thánh đã đề để dùng làm tham khảo.

Thơ của thiền sư Không Lộ:

Muốn lên núi lạnh cất tiếng vang

Gió tiên thổi tiễn bước thênh thang

Vân Già chùa cổ tìm vết lối

Rêu khóa cửa tầng thoát tục gian

Rèm ngọc ánh hồng tô nét đất

Đá bàn mây tỏ giữa trời quang

Tiểu thần may mắn hầu cung khuyết

Xin gọi cúc hoa hướng nắng tràn.

Thơ của thiền sư Từ Đạo Hạnh:

Bất tử danh truyền, ảo chính chân

Ba sinh tu luyện chứng tiền thân

Sao bay cực tím nghiêng về Bắc

Rêu phủ tường sâu chẳng biết xuân

Mọc tỏa hoa trời hương chẳng dứt

Thư đem chim biếc mộng bao lần

Ở đời thiện ác đều giám quyết

Nghiêm cẩn đêm ngày có thị thần.

Thơ của Phù Đổng Thiên vương:

Giáp Tí bấy lâu bụi khói tung

Lẫm liệt linh thiêng tỏ vô cùng

Huy hoàng hương lửa hai đài vững

Sừng sững càn khôn một sức nâng

Dốc lượn núi xa nên tạc vẽ

Lầu tầng gác nối tạo bình phong

Bầu trời một khoảnh như ngời sáng

Giữa chốn ngày nào gậy sắt vung.

Thơ Thân vương Trần Quốc Tuấn:

Ngoài thành một ngọn núi Châu Phong

Hình dáng chênh vênh, cúi ngưỡng trông

Vạn cổ sách thần nêu tuyệt đỉnh

Nghìn tầng đá quái khóa thâm cung

Bao la sao đẩu lòng vô hạn

Xoay chuyển càn khôn trí tuệ hùng

Một tấc oai trời còn ngóng vọng

Khi xưa thần kiếm chặn gió lồng.

Tiểu thần Nguyễn Bỉnh Khiên bái đề:

Dực Chẩn dải sao trấn đất Nam

Làn mây mờ thẳm vén Tiên am

Phép mầu sấm sét người sao biết

Xét việc dữ lành thần giỏi làm

Mù mịt khói hương nhô bệ đá

Trong trong sương quý rỏ hoa chàm

Tiểu thần may được nương nhờ chốn

Vạn tuế ba lần xin tụng vang.

Những bài thơ đề trên đều sánh như những dãy nhà trái phải bằng đá ngọc tuyệt tác để mà lưu truyền lâu dài.

Tiểu thần Cổ Am Nguyễn Bỉnh Khiêm vâng mệnh chỉnh lý.

Trang đầu cuốn Ngọc phả Tản Viên Sơn Thánh do Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉnh lý

AI VỀ BÊN BẾN SỐNG TƯƠNG – Mà nghe chuyện cũ Tiên Rồng ngàn năm

Truyện Họ Hồng Bàng kể rằng, Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Lạc Long Quân gặp được nàng Âu Cơ bên bãi Trường Sa, sinh ra bọc trăm trứng, nở thành trăm con trai. Khi các con trưởng thành Âu Cơ và Lạc Long Quân hội ngộ ở cánh đồng Tương rồi phân 50 người con theo cha về Thủy phủ chia trị các xứ, 50 người con theo mẹ lên núi, lập nước Văn Lang. Khi có việc thì cùng nhau tương trợ. Là thủy tổ của Bách Việt vậy.

1. Bãi Trường Sa bên hồ Động Đình nơi hai dòng Tiên và Rồng gặp nhau là ở đâu? Cánh đồng Tương, nơi trăm trai Bách Việt phân trị đất nước là ở đâu?

Thật hết sức sai lầm khi cho rằng cánh đồng Tương và hồ Động Đình trong truyền thuyết khởi sử Việt lại ở bên tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay. Bởi vì, đây là những địa danh nằm ngay trên đất Việt từ thủa cha sinh mẹ đẻ và những câu chuyện về các cuộc gặp gỡ rồi chia ly thời dựng nước vẫn còn lưu dấu đậm nét trong lòng nhân dân ở những nơi này.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả chép: “Khi ấy con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, là một thiếu nữ hiền đức, quay về sống ở quê mẹ tại huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc của Giao Chỉ (xưa là huyện Thanh Nguyên, động Lăng Sương, sau đổi thành huyện Bất Bạt, sách Lăng Sương). Một hôm nàng trinh nữ Âu Cơ đi chơi ở bãi Trường Sa, gặp khi Vua đi tuần thú ở sông Đà. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, tư chất kiều diễm, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm chính phi hoàng hậu.

Bãi Trường Sa nằm ở bên sông Đà, gần động Lăng Sương, nay thuộc huyện Thanh Thủy của tỉnh Phú Thọ. Đây cũng là nơi có cuộc hội ngộ giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh trong truyền thuyết về đức thánh Tản Viên. Tản Viên Sơn Thánh khi lên núi chặt cây đã thụ nhận được cây gậy thần đầu sinh đầu tử từ Thái Bạch Tử Vi Thần tướng, từ đó xưng là Thần sư. Thần sư xuống núi, thu phục voi hổ ở sách Thủ Pháp, rẽ nước sông Đà quay về quê mẹ Lăng Sương. Trên đường đi qua bãi Trường Sa đã dùng gậy thần cứu sống một con rắn đen, trên đầu có chữ Vương. Con rắn đó là con vua thủy quốc Động Đình Đế Quân. Đế Quân đã mời Tản Viên Sơn Thánh xuống thăm thủy phủ, tiếp đãi linh đình trong cung rồng tòa ngọc và tạ ơn bằng một cuốn sách ước diệu kỳ. Khi ra về, Thủy Tinh (tức con rắn con của Long Vương) tiễn Sơn Thánh tới tận bãi sông Trường Sa, lưu luyến chia tay. Có thơ rằng:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Bãi Trường Sa, nơi gặp gỡ và chia tay của Sơn Thánh và Thủy Tinh xưa thuộc trang Ma Xá châu Trung Độ bên bờ sông Đà. Nơi này còn có tên là bãi Tang Ma, nay thuộc xã La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ. Tại vùng đất Thanh Thủy còn có một câu chuyện về sự xuất hiện và gặp gỡ của Động Đình Thủy Tinh như sau. Ở xã La Phù có một gia đình họ Phan. Một hôm tiết xuân ông bà Phan lên núi Tản Viên lễ Phật, lúc quay về đến bên sông thấy một con rắn gió bị con rết cắn chết. Ông bà thương xót, bèn lo việc chôn cất con rắn đó. Rắn đã cảm ơn này mà đầu thai thành con gái nhà họ Phan. Năm 22 tuổi, Phan Nương gặp Thủy Đế Long Quân đi tuần du ở sông Đà tại động Tang Ma, kết duyên mà sinh ra một bầu trứng, nở thành năm người con, 2 nữ 3 nam. Long Quân hiện hình phân giao cho 5 người con thành 5 vị thủy quan, trấn nhậm các vùng sông nước Tam Giang. Phan Bà hóa ở La Phù, được lập đền thờ là “Động Đình Tang Ma Uy Linh Thánh Mẫu”.

Động Đình Thánh mẫu tức là vị Long Nữ, người đã lấy Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân trong huyền sử Việt. Mẫu Thần Long được tôn thờ ở ngã ba sông Bạch Hạc tại đền Tiên Cát, Việt Trì, cách không xa xã La Phù. Sự tích đền Tiên Cát kể rằng Lạc Long Quân tưởng nhớ công ơn của mẹ, truyền cho dân lập đền tại cung Tiên Cát thờ Ngọc Nữ Thần Long cùng 2 chị em kết nghĩa của bà là Thủy Tinh Ngọc Nữ và Bạch Hoa Ngọc Nữ. Long Quân lại sai ba vị hoàng tử trong bọc trăm trứng là Cự Linh Lang, Ất Linh Lang và Linh Thông Thủy cai quản đầu sông và gìn giữ lăng miếu. Như vậy, chuyện về mẫu Thần Long Động Đình trùng khớp với sự tích Thánh mẫu Phan Bà và 5 người con trấn nhậm sông nước ở bãi Trường Sa động Tang Ma.

2. Truyện Họ Hồng Bàng kể Lạc Long Quân sau khi gặp gỡ Âu Cơ đã đón về ở “Long Trang Nham”. Hang Rồng Long Nham cũng là nơi Thánh mẫu Phan Bà gặp Thủy Đế Long Quân. Thần tích xã La Phù chép: “Nơi đó đất trang Tang Ma có một hang rồng đá hướng trăng, tên là cửa động Thạch Long. Trong động rồng có một cửa giếng thông tới Thủy phủ. Phía trên thân hang rồng có một ngôi chùa nhỏ, có tên là chùa Long Linh.

Động Thạch Long ở trang Tang Ma được chép vào Truyện Họ Hồng Bàng với tên là Long Trang Nham, chính là nơi cha Rồng mẹ Tiên gặp nhau. Ngôi chùa Long Linh xưa giờ là chùa Tăng Má, thuộc xã Thanh Lâm của huyện Thanh Thủy, Phú Thọ. Cửa hang rồng vẫn còn trong chùa và trước hang có ngôi miếu thờ Động Đình Thánh mẫu cùng với người con trai thứ hai là Hồng Xuyên Đại vương.

Còn cánh đồng Tương, nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ phân chia trăm trai lên núi xuống biển không ở đâu xa, mà cũng tại chính vùng đất Thanh Thủy này. Tương và Tang là 2 âm hoán đổi cho nhau nên bãi dâu gai Tang Ma ở La Phù chính là cánh đồng Tương trong huyền sử Việt. Theo thần tích La Phù thì tại bãi Tang Ma bên dòng sông Đà dưới chân núi Tản Viên, Long Quân đã chia 5 người con đi trị nhậm các vùng sông nước, trở thành Ngũ Vị Tôn Quan của Động Đình Thủy phủ.

Tên gọi Động Đình Thánh mẫu của Phan Bà ở La Phù đã cho thấy, địa danh hồ Động Đình xưa thực ra là chỉ vùng biển Đông, nơi ngự trị của Long tộc Thủy phủ. Cách đây 4.000 năm thì biển Đông đang còn ăn sâu vào tới gần ngã ba Việt Trì. Đồng bằng Bắc Bộ khi đó đang là một vùng nước ngập mênh mang. Do đó Động Đình hồ tức là cái hồ lớn ở phía Đông, thời lập quốc chính là Vịnh Bắc Bộ.

Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương và Thần Long Động Đình, đã nối sự nghiệp của cha Lạc và mẹ Long, trở thành vị quân chủ đứng đầu đất nước và cai quản miền duyên hải Thủy phủ Động Đình. Khi lên nối ngôi, Lạc Long Quân đã phải trải qua một cuộc tranh giành ngôi vị với chính dòng bên cha mà được huyền sử Việt kể là cuộc chiến giữa Lạc Long Quân với Đế Lai để giành nàng Âu Cơ. Cuộc chiến này dẫn đến sự phân ly 2 dòng tộc, người lên rừng, kẻ xuống biển trong thiên hạ họ Hùng. Đây cũng là cốt lõi của truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh năm năm báo oán, đời đời đánh ghen được lưu truyền.

3. Trong cuộc phân ly Bách Việt, dòng Tiên theo mẹ Âu Cơ lên núi làm Sơn Tinh, còn được truyền thuyết Việt gọi là dòng Thục. Dòng Rồng theo cha Lạc Long xuống biển làm Linh Lang Thủy Tinh, truyền thuyết gọi là dòng Hùng. Lạc Long Quân nối ngôi cha là Kinh Dương Vương, bắt đầu thời kỳ cha truyền con nối hay khởi đầu chế độ công xã thị tộc. Thời kỳ này, do nước biển bắt đầu rút nên những vị Thủy Tinh theo cha Lạc Long đã xuống khai phá vùng đồng bằng ven biển Đông mới lộ ra, huyền sử gọi là vùng đầm Vân Mộng bên hồ Động Đình.

Thời lập quốc, 2 dòng Hùng – Thục hay Rồng – Tiên đều xuất phát từ cuộc gặp gỡ và chia ly nơi cánh đồng Tương – bãi Trường Sa bên bờ sông Đà, gần ngã ba Bạch Hạc Việt Trì. Lịch sử dựng nước của người Việt có thể kể bắt đầu từ 3 vị Hùng Vương Thánh tổ khai sáng hồng đồ, nối tiếp là Tản Viên Sơn Thánh – Kinh Dương Vương hợp nhất các tộc người ở 4 phương, đến Thủy Tinh Động Đình – Lạc Long Quân phân 2 dòng Tiên – Rồng, lên núi xuống biển, nối đời cha con thế tập. Sang thời Hùng Quốc Vương, người con trưởng theo mẹ Âu Cơ lên núi, lập ra nước Văn Lang, Bắc giáp Hồ Nam, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn Tinh. Quốc Vương xưng lập công hầu, đặt ra trăm họ. Thiên hạ họ Hùng chia thành trăm nơi đầu núi góc biển. Hùng Vương là thủy tổ của Bách Việt vậy.

Lịch sử người Việt còn in đậm trong từng di tích, từng ngọn núi, con sông trên đất Việt. Núi Tản sông Đà, nơi Sơn – Thủy gặp nhau, mãi là chứng tích buổi khởi đầu gian nan của trời Đông.

Ngọc phả Quốc mẫu Vua Bà của tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn

Xã Đào Lãng, tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, vâng tuyển thừa sao sự tích thần hoàng như sau.

Ngọc phả cổ chép về Tản Viên Thánh mẫu Quốc mẫu Vua Bà Tam vị Đại vương triều Hùng Nam Việt

Chính bản bộ Lễ quốc triều, Đệ nhất âm thần thượng đẳng

Nước Việt xưa trời Nam khởi thánh tổ, trải hơn hai ngàn năm, lấy tên là Hùng Vương, là thủy tổ của Bách Việt vậy. Nho sĩ đời sau là Trần tiên sinh có thơ khen rằng:

Trời Nam khai mở từ triều Kinh

Đế đức nguy nga công tối linh

Chính thống nối truyền mười tám nhánh

Trị nước hơn nghìn năm thái bình.

Lại kể rằng nước ta tương truyền ở động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây có một một Bộ chủ họ Đinh, quyền trị đất đai một châu, tên là Cán Công, lấy trưởng nữ của một gia đình địa phương ở động Đào Lãng, huyện Mỹ Lương, phủ Quảng Oai, tên là Châu Nương, làm phu nhân chính thất. Một hôm phu nhân đang dạo chơi, bỗng nhiên thấy có một người con gái áo xanh đến nói:

– Tôi vốn là con gái vua trên thiên đình, nay vâng mệnh Thượng đế xuống nhập làm con của phu nhân.

Phu nhân trong lòng rất vui mừng, liền trở về nhà. Được trăm ngày sau thấy tự nhiên có thai. Mang thai được 12 tháng tới năm Bính Thìn ngày 18 tháng 1 Phu nhân trở về quê mẹ. Khi đi đến Gò Đảng bỗng thấy gió thơm tràn ngập, khí lành rạng trời. Lúc đó Phu nhân sinh hạ được một người con gái, thật là tiên nữ Bồng Doanh, hoa kiều Lãng Uyển, người thường trên đời không thể có sắc vẻ ấy được. Lên ba tuổi cha mẹ đặt tên là Điên Nương. Năm ấy ngày 12 tháng 8 Bộ chủ ông không bệnh mà mất. Khi lên 15 tuổi, Nương có vẻ hoa đào lá trầu tuyệt sắc, mọi người đều thán phục. Tuổi 20 lời nói ra như có thần. Năm 22 tuổi có Bộ trưởng ông là Nguyễn Cao Hành, vốn là con cháu dòng dõi miêu duệ họ Hùng, nghe tiếng Điên Nương, mới trầu cau mối mai đến đưa sính lễ, loan phượng kết tình nồng, duyên ý hòa hợp, hương hỏa ba sinh, một bức phong lưu vậy. Qua hơn mười năm mà chưa thấy có thai. Đến năm Đinh Tỵ ngày 7 tháng 1 sinh được một người con trai, khác xa người thường… Nhận từ sơn thần cây gậy thiêng, lấy sách ước từ Vua thủy, bèn xưng là Tản Viên Sơn Thánh. Rồi lấy công chúa con vua Duệ Vương, từ đó cùng giúp việc trị nước.

Lại nói, vua Duệ Vương phong cho Điên Nương làm Quốc mẫu Phu nhân, ban cho hưởng các xứ nhân dân cộng là 180 nơi. Quốc mẫu Điên Nương tuổi thọ được 89 năm. Đến giờ Mão ngày 18 tháng 11 Quốc mẫu Điên Nương mắc bệnh, rồi hóa. Nhân dân bèn tâu lên triều đình, cho chôn cất ở động Lăng Sương. Truyền cho 2 quê lập miếu đền, xuân thu hai kỳ quốc tế. Lại ban thêm cho mỗi nơi 3000 quan tiền để phụng thờ. Việc binh lương đều được miễn. Vua còn phong tặng mỹ tự Thương đẳng Quốc mẫu Vua Bà, vạn năm hưởng lộc cùng hưởng với đất nước, mãi mãi theo lễ điển vậy. Theo mệnh Duệ Vương phong mỹ tự như vậy.

Khi đó Vua cùng phong tôn Sơn Trụ, Sơn Giai làm tả hữu Ba vị.

Phong Quốc mẫu Vua Bà Đinh Thị Điên Tam vị Thượng đẳng Tôn thần Đại vương (đồng ý cho quê ngoại ở động Đào Lãng nơi sinh phụng thờ. Miễn hết việc binh lương. Xuân thu có mệnh quan đến tế)

Lại nói, trải các đời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề Lương cộng 349 năm, tới nước Nam có 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần mở dựng cơ đồ, thường có công giúp nước cứu dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa. Thật có linh thiêng hiển ứng lớn. Nên các triều đại đều phong thêm mỹ tự Thượng đẳng Tôn thần Nhụ nhân, vạn năm hưởng lộc, cùng vui với đất nước, mãi theo lệ vậy.

Phong Quốc mẫu Vua Bà Đinh Thị Điên Tam vị Đại vương. Phong thêm Tuyên đức Huệ hòa Từ hạnh Anh linh Phương dung ? ? Thánh mẫu, Phù vận Hiển ứng Ý đức Đoan trang Chỉnh túc Hoằng nhân Tế thế Phong tư Yểu điệu Thượng đẳng Tôn thần Nhụ nhân Đại vương.

Ngày sinh thần là 18 tháng 1, làm lễ trước một ngày, quét dọn từ nơi sinh thần Gò Đảng đến nơi chỗ đình sở, làm việc quét dọn nghênh đón thần về đình làm lễ. Cùng với tế lợn đen, xôi, rượu. Rượu dùng là rượu ngọt. Bánh dày trăm chiếc. Ngày chính trên dùng mâm chay hoa quả, tế lợn hoặc trâu, xôi, rượu ngọt, hát ca, đấu vật, chọi gà 3 ngày.

Ngày hóa thần là 18 tháng 11 (làm lễ ngày hôm trước cáo tế bằng lợn, xôi, rượu. Ngày chính trên dùng mâm chay, lợn, xôi, rượu, cơm, ?)

Ngày đại khánh hạ là 18 tháng 4 (làm lễ đón thần cáo tế giống như lệ ngày sinh thần, ca hát 10 ngày, làm lễ tạ)

 Ngày khánh hạ 12 tháng 8 (làm lễ ngày trước đó cáo tế, gà hoặc lơn. Ngày chính dùng lợn, xôi, rượu, ca hát 3 ngày)

Ngày khánh hạ ngày 10 tháng 10 (làm lễ tế cáo hôm trước dùng lợn, xôi, rượu. Ngày chính dùng lợn hoặc trâu, ca hát 1 ngày. Đến ngày hôm sau thì mở tiệc cơm rượu, làm lễ với bộ hạ hổ thần)

Ngày khánh hạ 15 tháng 12 (làm lễ ca hát tùy nghi)

Các chữ húy Điên, Tôn, Trụ, Viễn, Tùng đều cấm. Ba màu vàng, tím, đen khi làm lế đều cấm.

Tên của thánh phụ, thánh mẫu trong các ngày hóa, ngày xem sự tích và khi làm lễ đều cấm.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất, ngày 10 tháng 1.

Niên hiệu Tự Đức năm thứ 19, ngày 10 tháng 10 xã Đào Lãng vâng sao.