Long Đỗ là ở chỗ nào?

Nói tới Thăng Long Hà Nội ai cũng biết chuyện thần Long Đỗ hiển linh trước Cao Biền và được lập làm thành hoàng của thành Thăng Long. Long Đỗ là “rốn rồng”, tức là huyệt mạch chính của “kinh đô rồng”. Vậy cái “rốn rồng” ấy nằm ở đâu?
Nhiều người nghĩ rằng thần Long Đỗ hiển linh ở sông Tô Lịch thì cái long mạch của đất Thăng Long phải nằm ở đâu đó quãng đầu sông Tô Lịch và sông Hồng, có thể là hồ Tây. Thậm chí có học giả cho rằng Long Đỗ là ở núi Nùng. Nhưng thực tế ở cả ở hồ Tây hay núi Nùng đều không có di tích nào nói về Rồng hay Long Đỗ cả.
Nếu nói tới “kinh đô Rồng” thì Long Đỗ phải là nơi có Rồng xuất hiện, tức là có Rồng bay lên. Ở Hà Nội nơi có Rồng bay lên phải là… Long Biên. Ngay cái tên cũng đã cho biết đây mới là chỗ có Rồng xuất hiện.
Rồng bay lên từ nước, điều này quá rõ. Rồng làm sao mà lại ẩn ở trên núi (như núi Nùng) được. Mặt nước của vùng Long Biên thì rõ là sông Hồng. Xét các làng dọc khúc dòng sông Hồng ở vùng Long Biên (Gia Lâm) ta thấy ở đây còn đậm đặc các di tích và sự tích về sự xuất hiện của Rồng.
Xa nhất là đình làng Xuân Quan, còn gọi là điện Long Hưng, nơi thờ Triệu Vũ Đế, ở Văn Giang, Hưng Yên. Sự tích ở đây ghi:
Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy… Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương Nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ.

Long Hung dien
Long Hưng điện (đình Xuân Quan).

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông Nhị Hà:

Binh phân chi dực hữu chi
Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông
Bỗng đâu thấy rồng nổi lên
Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.

Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Tên gọi Thăng Long đầu tiên là dành cho khu vực Long Biên từ thời Triệu Vũ Đế, tức là còn trước thời Lý hơn ngàn năm.
Thăng Long hay Long Hưng là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, Rồng bay lên trời. Hào ngũ quẻ Càn chỉ điềm thành nghiệp của bậc đế vương.
Bên cạnh Xuân Quan, ngoài bãi ven sông là làng Kim Lan (thuộc Gia Lâm, Hà Nội nay), nơi thờ Cao Vương Biền. Đây cũng là nơi có di chỉ khảo cổ Hàm Rồng với những hiện vật từ thời Đường. Thiên Nam ngữ lục cho biết, Hàm Rồng là nơi được “Phong thủy vương” Cao Biền chọn làm nơi táng mả:

Dân làm cự cứu bảo nhau
Tôn Biền làm chủ giữ âu Long thành
Đến Kim Lan cơ đầu ghềnh
Lục nơi cải tử hoàn sinh chẳng cùng
Mạch tòng Tản Lĩnh giáng long
Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu
Biền già ở cõi Nam Châu
Người nhà bèn táng ở đầu Kim Lan.

Bên cạnh chỗ rồng bay lên (Long Hưng) ở Xuân Quan là miệng rồng (Hàm Rồng) ở Kim Lan. Rõ ràng đây là một huyệt mạch quan trọng, nơi Cao Biền đã lựa chọn. Chú ý theo Thiên Nam ngữ lục thì đây là chỗ “Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu”. Ý nghĩa của “ba sông” sẽ còn gặp ở dưới đây.
Dọc sông tiếp theo gần hơn về phía Bắc là làng Bát Tràng. Đình làng Bát Tràng thờ các thành hoàng là Lưu thiên tử, Lữ hoàng hậu, Bạch Mã tôn thần, cùng 3 vị khác. Thần Bạch Mã cũng là thần Long Đỗ, liên quan tới Rồng thì đã rõ. Còn Lưu Thiên Tử hay Lưu Bang thì chả phải ai khác chính là Triệu Vũ Đế ở Xuân Quan. Lữ Hoàng Hậu là Lữ Hậu, vợ và người đã cùng khởi nghĩa với Lưu Bang từ thủa hàn vi.

Hoi Bat TrangHội đình làng Bát Tràng.

Phía trên làng Bát Tràng về phía Bắc là làng Đông Dư. Nơi đây có chùa Nội Long nằm bên bờ sông Hồng ở Đông Dư Thượng. Nội Long tự nghĩa là “chùa trong mắt rồng”. Vậy đây cũng là đất thiêng nơi, con Rồng Long Biên lộ đầu.
Làng Đông Dư thờ các thần Cao Sơn và Linh Lang đại vương. Cao Sơn là Cao Vương Biền (như thờ ở Kim Lan). Cách Đông Dư không xa là đền Trấn Vũ ở làng Ngọc Trì, Gia Lâm, nơi thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Vậy là ở khu vực này đã hội tụ đủ 4 vị thần của Thăng Long Tứ trấn: Huyền Thiên, Cao Sơn, Bạch Mã và Linh Lang.
Ấn tượng hơn nữa cũng ở khúc sông này, phía bên bờ Tây của sông Hồng là vùng đất Lĩnh Nam của quận Hoàng Mai (trước là huyện Thanh Trì). Các làng ở Lĩnh Nam đều có sự tích gắn với Rồng.
Làng Thúy Lĩnh ở ven sông Hồng, đối diện với Kim Lan qua sông, thờ Linh Lang đại vương, tương tự như bên làng Đông Dư. Sự tích Linh Lang cũng là Rồng, vì khi sinh ra đã liên quan đến Rồng (bà mẹ đi tắm ở hồ Tây thì gặp giao long), rồi sau khi thần dẹp yên quân giặc đã hóa thành con rắn lớn (tức là Rồng) bơi xuống hồ Tây.
Câu đối ở đình Thúy Lĩnh:
氣鎮龍都歷代褒崇隆祀典
霛扶鴻越弌方康阜仰神庥
Khí trấn Long Đô lịch đại bao sùng long tự điển
Linh phù Hồng Việt nhất phương khang phụ ngưỡng thần hưu.
Dịch:
Khí trấn Đô Rồng, các đời ca tôn điển tế hậu
Thiêng phò Hồng Việt, một phương đông đúc ngưỡng điềm thần.

Thuy Linh
Chính điện đình Thúy Lĩnh.

Một làng khác của vùng Lĩnh Nam là làng Nam Dư Hạ khá đặc biệt. Đình làng này thờ luôn Rồng, được gọi dưới tên Tam đầu Cửu vĩ Long vương. Tam đầu Cửu vĩ cũng là một vị thần quen biết trong đạo Mẫu Tứ phủ, đại diện cho Thủy thần Hà bá.
Theo thần tích còn lưu lại, có vị sư tổ Từ Phong thường du ngoạn ở ven kinh thành Thăng Long, có lần đi qua đất Nam Dư thấy cảnh sắc đậm đà, bến thuyền xuôi ngược quyến rũ lòng người, ngài bỗng thấy có một con rồng từ đất bay lên nhào lượn trên không trung rồi biến vào vòm trời xanh. Đức tổ cho đây là chốn tiềm long (nơi rồng ẩn) nên quyết định xây phủ đệ ở lại Nam Dư, đồng thời, ngôi chùa lấy tên là Thiên Phúc, mở một con đường rất thẳng từ cung điện nhà vua tới chùa và xây ngôi đình làng cho dân thờ Long Vương thần.
Câu đối ở đình Nam Dư Hạ:
勝景南天黎帝殿
威風畬地水王宫
Thắng cảnh Nam thiên Lê đế điện
Uy phong Dư địa thủy vương cung.
Thậm chí trong đình còn có bức biển (hoành phi) đề: Long Đỗ Nam Dư 龍肚南畬.
Vậy Long Đỗ là ở đây chứ đâu nữa.
Chữ Dư 畬 trong tiếng Nho nghĩa là ruộng tốt. Liên hệ với quẻ Càn, hào nhị: Hiện long tại điền, gặp Rồng tại ruộng. Như thế khu vực Đông Dư – Nam Dư ý chỉ là nơi Rồng bắt đầu xuất hiện.

IMG_3880
Hoành phi “Long Đỗ Nam Dư” ở đình Nam Dư Hạ.

Đình Nam Dư Hạ còn có đình còn 3 cổ hiệu bát cống nguyên vẹn, sơn son thếp vàng, chạm khắc tỉ mỉ, cầu kì, trau chuốt đầu rồng, thân rồng, đuôi rồng, tương truyền được các thợ của Long cung một đêm đã tạo ra.
Đình Nam Dư Thượng thờ các vị thành hoàng là Minh Hoa An Quốc đại vương cùng phu nhân Hoàng Phi Trân và Đương Thống đại vương cùng phu nhân Nguyệt Thái. Tương truyền, Minh Hoa An Quốc Đại vương là con vua Hùng Vương thứ 17, có công trong việc trị quốc an dân. Đương Thống đại vương còn gọi là Thống Công, em Sơn Thánh, sống dưới triều Hùng Duệ Vương. Sơn Thánh lấy công chúa Mị Nương còn Thống Công lấy công chúa Nguyệt Thái.

Kieu Nam Du Thuong
Kiệu rồng ở Nam Dư Thượng.

Câu đối ở chính điện đình Nam Dư Thượng:
南上屹灵祠鴻貉遺徧傳五嶺
西茶餘勝地清潭舊跡儼三江
Nam Thượng ngật linh từ, Hồng Lạc di biên truyền Ngũ Lĩnh 
Tây Trà dư thắng địa, Thanh Đàm cựu tích nghiễm Tam Giang.
Dịch:
Nam Thượng cao đền thiêng, Hồng Lạc để lan truyền Ngũ Lĩnh
Tây Trà tốt lành đất, Thanh Đàm vết cũ oai Tam Giang.

Câu đối nói tới những địa danh khá lạ. Tây Trà là tên gọi cũ của Nam Dư. Còn Ngũ Lĩnh thời Hùng Vương liệu có phải đây là gốc của tên Lĩnh Nam (Ngũ Lĩnh – Nam Dư?) cho khu vực này? Tên gọi Ngũ Lĩnh cùng với sự tích các vị thần thời Hùng Vương cho thấy khu vực này là một trọng điểm cư dân của thời kỳ này.
Câu đối nhắc tới tên Tam Giang, chỉ một vùng đất ở quanh Long Biên. Tam là số 3, con số chỉ phương Đông trong Hà thư. Phương Đông cũng có tượng là Rồng nên Tam tương ứng với Long. Tam Giang do đó tương đương với Long Xuyên hay Long Biên. Thiên Nam ngữ lục như trên đã nói khu vực này là: Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu, cũng là ý này.
Hội làng Nam Dư Hạ và Nam Dư Thượng đều có làng Bát Tràng và Đông Dư bên kia sông sang giao lưu, cúng tế. Trong lễ hội rước nước chung của 3 làng này thì khi ra sông lấy nước cũng đều có bái vọng đình Bát Tràng. Tục kết chạ giữa Nam Dư và Bát Tràng là một tục xưa còn lưu giữ được.

Ban do
Bản đồ các khu vực ven bờ sông Hồng ở đoạn Lĩnh Nam – Gia Lâm.

Huyện Thanh Trì vốn có tên là Long Đàm, tức là đầm Rồng, tương truyền là đầm nước có Rồng ở. Sau này Long Đàm mới đổi thành Thanh Đàm, rồi Thanh Trì. Trong câu đối nói tới Thanh Đàm là địa danh này.
Tên Tam Giang còn ẩn ý trong tên Tam đầu Cửu vĩ Long vương. Tam là hướng Đông, Cửu là hướng Tây trong Hà thư. Tam đầu Cửu vĩ Long vương nghĩa là con Rồng đầu ở phía Đông, đuôi ở phía Tây. Xét ở khúc sông này thì đúng vậy. Đầu Rồng ở bờ Đông nơi có Hàm Rồng (tại Kim Lan), mắt Rồng (ở Đông Dư) và nơi rồng bay lên (ở Xuân Quan). Còn đuôi Rồng ẩn trong Long Đàm (Thanh Trì) ở phía bên bờ Tây.
Long Đàm chính là Long Đỗ, cái rốn của kinh đô Rồng xưa, mà dấu vết vẫn còn lưu lại trong các sự tích và địa danh ở đây.

Muốn lên Côn Lôn tìm Huyền Phố

Bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng của Phạm Sư Mạnh ở thế kỷ 14:
Thiên khai địa tịch Tam Giang lộ
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng
Giang vi trì tiệm thạch thành bích
Ốc tự tăng sào tháp đậu đăng
Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố
Đoàn phong vạn lý khoái phi bằng.
Bài thơ rất hào hùng kể về những sự tích xung quanh vùng châu Chân Đăng, thời Lý Trần là khu vực Phú Thọ. Bài thơ đặc biệt ở chỗ dùng rất nhiều những địa danh của cổ sử nên nó như một bức thông điệp ẩn của quá khứ Việt.
Bốn câu đầu của bài thơ đã từng được lý giải bởi tác giả Nguyễn Quang Nhật, nói về những sự kiện của nhà Chu từ việc lập quốc trên vùng đất Phong Châu – Tam Xuyên, rồi dời đô từ Kiểu kinh của Tây Chu về thành Cổ Loa bắt đầu thời Đông Chu cho tới thất bại của Quốc Tây – nước Chu trước cường Tần – Chân Đăng.
Bốn câu thơ tiếp theo xem qua tưởng chỉ là tán tụng, nhà cao sông sâu, nhưng đặc biệt câu thơ thứ bảy: Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố, Muốn lên núi Côn Lôn tìm hỏi Huyền Phố, lại tiếp tục chứa đựng những ẩn ngữ của quá khứ cần được xem xét.
Núi Côn Lôn, ngọn núi huyền thoại nơi thần tiên Trung Hoa ngự trị ở đâu mà Phạm Sư Mạnh đang ở châu Chân Đăng (Phú Thọ) lại nổi hứng muốn lên tận đó để tìm hỏi phố tiên (Huyền Phố)?

Tay Thien.jpgTây Thiên Tam Đảo.

Ngọc phả Hùng Vương khi chép về Kinh Dương Vương mở nước có đoạn:
Vua lại đi tuần thú, trải khắp núi sông, xa giá đến xứ Sơn Tây, thấy địa hình trùng điệp, núi đẹp sông hay. Vua bèn tìm địa mạch, nhận thấy từ núi Côn Lôn giáng xuống qua cửa ải, tựa như cầu vồng thoát mạch, rồng vút đi xa…
Như vậy núi Côn Lôn ở gần Phú Thọ – Phong Châu phải là ngọn núi Tam Đảo cao ngút. Đây cũng là nơi ngự trị của Tây Thiên Quốc Mẫu mà truyền thuyết Trung Hoa gọi là Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu còn có tên là Dao Trì Kim Mẫu, thực ra chính xác phải là Giao Chỉ Kim Mẫu, tức là vị Quốc Mẫu ở vùng Giao Chỉ. Vườn đào tiên của Tây Vương Mẫu không đâu xa mà là trên núi Tam Đảo.
Ở Tam Đảo còn lưu dấu vết sự tích về Tây Vương Mẫu và núi Côn Lôn. 3 hòn đảo trong biển mây phủ của Tam Đảo theo địa chí cổ đó là Phù Nghì cao 1.250m; Thiên Thị (Kim Thiên) cao 1.585m; Thạch Bàn cao 1.585m.
Trong câu thơ của Phạm Sư Mạnh có nói trên núi Côn Lôn có khu Huyền Phố, nơi thần tiên tụ hội. Còn trên núi Tam Đảo có đỉnh Thiên Thị, nghĩa là Chợ Trời vì nơi đây đỉnh núi bằng phẳng với nhiều viên đá lô nhô như những vị tiên đang đi hội chợ. Đỉnh này cũng gọi là Kim Thiên, tức là “giữa trời”, chính nơi Thiên phủ vì Kim là màu của trung tâm trong Ngũ hành. Sự trùng khớp về địa danh Huyền Phố và Thiên Thị thêm một lần nữa khẳng định núi Tam Đảo chính là núi Côn Lôn trong truyền thuyết thần tiên Trung Hoa.

Thach Ban.jpgThạch Bàn trên đỉnh Tây Thiên (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn có tên gọi là do trên đỉnh có một tảng đá lớn, rộng bằng phẳng, được gọi là bàn cờ tiên. Tuy nhiên thực chất tảng đá này là một di tích cự thạch (dolmen) của thời kỳ tiền sử. Những cự thạch có hình dạng tương tự, là những phiến đá phẳng, hình nhọn đầu, được xếp trên những chân trụ đá (thường là 3 chân) cũng gặp ở khu vực quanh núi Tam Đảo như ở Đại Đình (Tam Đảo, Vĩnh Phú).
Cự thạch được cho là nơi người xưa dùng để cúng tế, hay nói cách khác đó là những đàn tế cổ.

Cu thach Dai Dinh.jpgCự thạch ở Đại Đình, Tam Đảo, Vĩnh Phú (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn cũng là nơi từng có ngôi chùa mang tên Đồng Cổ. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn đã cho biết: “Sườn núi có chùa Tây Thiên Cổ Tự, tre xanh, thông tốt, cảnh sắc thanh nhã, rộng rãi. Trên đỉnh núi cao lại có chùa Đồng Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất hai ngày“.
Đồng Cổ là trống đồng. Ý nghĩa của việc dùng trống đồng đã từng được khám phá qua quẻ Dự trong Kinh Dịch. Quẻ Dự có lời tượng là: Lôi xuất địa phấn Dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.
Dịch giải: Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đao đức, long trọng dân lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
Sấm nổ trên mặt đất là chỉ cách đánh trống đồng. Lời tượng này cho biết trống đồng được dùng làm nhạc khí khi tiến hành tế lễ thượng đế và tổ tiên.
Phối hợp các thông tin đàn tế cự thạch và đền Đồng Cổ trên đỉnh Thạch Bàn ta chợt nhận ra đây chính là đàn tế trời của thời Hùng Vương. Trên đỉnh núi cao, nơi xuất xứ của bà mẹ trời Tây Thiên Quốc Mẫu mà đặt đàn tế bằng đá và dùng trống đồng để tế thì chỉ có thể là tế trời, xưa gọi là tế Giao.
Đàn tế của thời kỳ này có thể liên quan đến sự tích của Hùng Chiêu Vương Lang Liêu. Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh vương triều Hùng chép như sau:
… Vua bèn khởi hành xa giá đi xem phong cảnh. Xe loan tới nơi, vua thấy núi non như gấm vóc, lâu đài thiên tầm trùng điệp, khe biếc ngòi xanh, sóng nước nhè nhẹ nối nhau, cảnh trí phong quang, có hoa ngào ngạt, đầu núi lô nhô, có bạch long giáng khí, xưa lập chùa gọi là Tây Thiên.
Vua cho dựng đàn, rồi chỉnh biện lễ chay, sau quần thần dâng lễ đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở trường công đức ở chùa, sớm đảo tối cầu, qua bảy ngày bảy đêm, nam nữ bốn phương tập hợp cùng vui vẻ đến đây chiêm ngưỡng, chim trong rừng nghe đến kinh, cá dưới nước đến nghe giảng kệ.
Công đức viên thành. Vua ngự trên suối Thạch Bàn để xem cảnh tiên, bỗng thấy điện vũ huy hoàng, khói mây óng ánh, mây rồng bốn phía tựa như lâu đài Tây Trúc mênh mang, một bầu sơn thủy, bèn mật khấn với trời, sai bách quan văn võ đứng chầu trang nghiêm. Vua yết lễ, khấn rằng:
– Xin trời giáng thần tiên để được gặp gỡ, thực vui sướng ba đời!…
Như vậy có thể thấy rõ đỉnh Thạch Bàn là đàn tế trời đất và cầu tiên dưới thời Hùng Chiêu Vương – Lang Liêu. Truyền thuyết Trung Hoa chép sự kiện này trong chuyện Chu Mục Vương cưỡi cỗ xe bát mã lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu. Chiêu cũng là Chu. Hùng Chiêu Vương chỉ một vị vua nhà Chu.
Thạch Bàn như vậy là một đàn tế trời cầu tiên của nhà Chu nước Văn Lang. Còn Tam Đảo là ngọn Côn Lôn nơi thần tiên Thiên phủ ngự trị.

Núi Nhồi xứ Thanh và Mạnh Hoạch

Núi Nhồi, ngọn núi đá nổi tiếng ở thành phố Thanh Hóa có tên chữ là An Hoạch. An Hoạch liệu có phải là nơi đánh dấu chiến công thu phục Mạnh Hoạch không?

img_2443
Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi An Hoạch.

Mạnh Hoạch thực ra là Mường Hoàng, chỉ thủ lĩnh người Thái Mường ở phía Tây và Bắc Trung Bộ nước ta. Vì thế trong lịch sử không phải chỉ có 1 vị Mạnh Hoạch. Xét ở khu vực núi Nhồi và Thanh Hóa có thể có khả năng liên quan tới 3 vị thủ lĩnh xứ Mường Mạnh Hoạch sau:
1. Mạnh Hoạch đầu tiên là thời Tam Quốc, do Gia Cát Khổng Minh thu phục. Dấu vết ở khu vực núi Nhồi là chùa Hinh Sơn nơi có tạc tượng Lưu Bị, Quan Công và Khổng Minh vào vách đá để thờ cúng.

quan cong
Tượng Quan Công khắc trên vách đá ở chùa Hinh Sơn (ảnh internet).

Nên biết là Mạnh Hoạch vào thời này là thủ lĩnh khu vực Tây Bắc Việt và Bắc Trung Bộ mà Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái chép là nước Nam Triệu, chiếm cứ một dải từ Thần Phù đến Hoành Sơn:
Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
2. Mạnh Hoạch khác là ở thời Đường, tức nước Nam Chiếu. Người đánh dẹp Nam Chiếu ở Thanh Hóa chính là Cao Vương Biền, di tích thờ còn lại là đền Cao Sơn trên núi An Hoạch.

img_2354
Đền Cao Sơn ở chân núi Nhồi.

Thủ lĩnh người Thái Mường dưới thời Đường là họ Phùng từ Phùng Hưng. Bản thân tên Bố Cái cũng là từ chỉ thủ lĩnh của người Thái Mường, nên Bố Cái có nghĩa tương đương với Mạnh Hoạch.
tư liệu cho biết vùng núi này có nhóm dân cư khá đông mang họ Lôi, tức là từ chữ Lồi chỉ người Chăm. Lồi thực ra không phải chỉ chỉ người Chăm mà là chỉ người Nam Chiếu.

img_2352
Tượng phỗng ở sân đền Cao Sơn bên chân núi Nhồi.

3. Mạnh Hoạch khác là thủ lĩnh người Thái Mường đã được Thái úy Lý Thường Kiệt thu phục như văn bia chùa Báo Ân ở chân núi Nhồi ghi lại. Thông tin từ wikipedia về Lý Thường Kiệt cho biết:
Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy rối. Lý Thánh Tông sai ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, được toàn quyền hành sự. Ông phủ dụ dân chúng, lấy được lòng người. Tất cả năm châu 6 huyện, 3 nguồn, 24 động đều quy phục.
Đây chính là kể về sự kiện mà Thái úy Lý Thường Kiệt đã lập tuyên thệ được ghi trên bia An Hoạch sơn Báo Ân Tự bi:
Quyết hậu nãi thệ vu sư, Bắc chinh lân quốc; Tây thảo bất đình. Thiện thất túng thất cầm chi thắng địch.
Dịch: Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả.

img_2373Tượng thần khắc trên vách núi ở đền Cao Sơn.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: Mùa đông (năm 1103) người Diễn Châu là Lý Giác mưu làm phản. Giác trước học thuật lạ có thể biến cây cỏ thành người, bèn chiêu tập những kẻ vô lại chiếm giữ châu ấy, đắp thành làm loạn. Việc tâu lên, vua sai bọn Lý Thường Kiệt đi đánh. Giác thua trốn sang Chiêm Thành, dư đảng đều bị dẹp yên.
Lý Thường Kiệt được phong thái ấp ở Thanh Hóa chính là gắn liền với sự dẹp loạn người Mường ở phía Tây. Mà thủ lĩnh người Thái Mường ở phía Tây được gọi là Mạnh Hoạch hay Mường Hoàng.

 

Thần tiên Địa phủ ở Châu Sơn

Đây là một bài khó viết vì nó động đến một lịch sử linh thiêng lâu đời của người Việt và vì nó rất thật, thật như có thể giơ tay là chạm được vào quá khứ…

Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái (dịch giả Lê Hữu Mục):
Việt Tỉnh ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh; đời Hùng Vương thứ ba, Ân Vương cử binh Nam xâm, đóng quân ở núi Trâu Sơn; Hùng Vương cầu Long quân giúp, Long quân bao tìm khắp thiên hạ, nếu được người kỳ tài thì dẹp được giặc; đến kỳ cầu được Đổng Thiên Vương cỡi ngựa sắt đi đánh, tướng sĩ nhà Ân đều tan vỡ. Ân Vương chết ở dưới núi, làm Địa Phủ Quân; dân lập đền thờ, bốn mùa cúng tế nhưng lâu năm suy dần bỏ thành chùa hoang.
Núi Trâu Sơn được nói tới, nơi có Giếng Việt, nay ở huyện Quế Võ, Bắc Ninh. Đoạn đầu truyện cho biết Ân Vương sau khi chết đã được làm vua Địa phủ, có đền thờ ở núi Trâu Sơn. Đây là thông tin quan trọng đối với tín ngưỡng Tứ phủ nước ta, vì hiện trong Tứ phủ chưa rõ vị vua cha của Địa phủ là ai.
Trâu Sơn chính xác phải là núi Châu hay Chu. Vết tích ngôn ngữ còn lưu trong tên làng Châu Cầu và xã Châu Phong. Châu hay Chu ở đây chỉ nhà Chu, là triều đại mà nhờ Sóc thiên vương Thánh Dóng đã diệt được nhà Ân.

IMG_0008
Chùa Hữu Bằng ở xã Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Truyện kể tiếp: Người bản quốc tên là Thôi Lạng làm quan nhà Tần đến chức Ngự Sử Đại Phu thường đi ngang qua đấy, thương cảnh điêu tàn mới trùng tu miếu vũ lại, nhân đó có đề một bài thơ…
Sau đến đời Nhâm Ngao, Triệu Đà Nam xâm lại đóng quân ở núi này, lại trùng tu miếu mạo, cúng tế hậu hĩnh; Ân vương cảm đức, muốn đền công cho Thôi Lạng mới sai Ma Cô Tiên đi tìm khắp nơi. Lúc bấy giờ Thôi Lạng đã chết, chỉ còn con là Thôi Vỹ.
Sau khi kể qua thời Chu, đến thời Tần thì ta thấy xuất hiện nhân vật Ma Cô Tiên. Ma Cô Tiên tức là tiên nữ tên Ma Cô, là người của Địa phủ Ân Vương.
Tiết Thượng nguyên tháng Giêng, phương dân đi lễ đền, có người cúng một cặp bình pha lê. Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, bỗng bình rơi xuống đất, vỡ sứt một mảnh; người ta bắt Ma Cô lại đòi bồi thường; Ma Cô mặc áo rách, không ai biết là người tiên; họ mới lấy roi đánh. Thôi Vỹ thấy thế thương hại, cổi áo đền hộ nàng; Ma Cô được khỏi đánh, nhân đó hỏi đến chỗ ở của Thôi Vỹ; Thôi Vỹ nói đến tên cha thì nàng mới hay là con Thôi Lạng. Nàng mừng bảo rằng:
– Ta bây giờ không có lấy gì để đền ơn, sau này chàng sẽ được hậu báo.
Bèn đưa cho Thôi Vỹ một tấm lá ngài và dặn rằng:
– Hãy giữ lấy vật này cho cẩn thận, lúc nào cũng để trong mình, gặp bệnh nhục ảnh (thịt thừa) mà đem cứu tất khỏi, rồi thế nào cũng được giàu sang phú quý.
Tiên Ma Cô tìm gặp được Thôi Vỹ và bày cho anh ta phép thuật để được giàu sang phú quý. Phép thuật của Ma Cô Tiên giao cho Thôi Vỹ ở đây là phép chữa bệnh u bướu.
Ứng Huyền đem Thôi Vỹ sang nhà Nhâm Ngao; Thôi Vỹ lấy ngải ra cứu, cái nhọt lập tức lành ngay. Nhâm Ngao rất mừng, nuôi Vỹ làm con, mở trường để dạy Vỹ; tính Vỹ thông minh, ưa thích đàn cầm, thấy con gái Nhâm Ngao là Phương Dung mới đem lòng yêu dấu, nhân cùng nàng tư thông, tình ý quyến luyến; con Ngao là Nhâm Phu biết được, muốn làm cho Vỹ chết.
Nhờ có phép thuật của Ma Cô Tiên Thôi Vỹ đã được Nhâm Ngao nuôi dạy và còn tư thông với con gái của Nhâm Ngao.
Đoạn tiếp theo truyện kể việc Thôi Vỹ rơi xuống hang, gặp Ân Hậu rồi quay trở về.
… Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”. Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trên núi, nay con dê ấy còn ở sau đền Việt Vương trên núi Trâu.
Sau Vỹ về đến nhà Ứng Huyền thuật chuyện cho Ứng Huyền nghe. Đến ngày mồng một tháng Tám, Vỹ cùng với Huyền đi chơi thì gặp Ma Cô Tiên dắt một người con gái đem cho Vỹ, bảo đem về làm vợ chồng, lại cho hòn ngọc Long Toại, nói đó là ngọc châu, từ thuở trời đất mới khai tịch đã có một cặp trống mái từ đời Hoàng Đế trải đến đời Ân truyền làm thế bảo
Đây là lần thứ hai Ma Cô Tiên đã dắt gái đem cho Thôi Vỹ. Có lẽ chính từ sự tích này mà trong dân gian đã hình thành tên “ma cô” chỉ những người làm nghề mối lái, dắt gái.
Câu chuyện trên đầy màu sắc thần bí, tưởng như là hoang đường nhưng ở chính miền Trâu Sơn ấy nay vẫn còn những di tích lưu lại được, cho dù các vết tích đã bị tàn phá, hủy hoại rất nhiều.

Trieu Vu De o Huu Bang 2
Tượng Triệu Vũ Đế ở chùa Hữu Bằng.

Trước hết là ở chùa Hữu Bằng ở xã Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh hiện còn lưu giữ được một pho tượng gỗ Triệu Vũ Đế. Theo các sắc phong hiện còn lại ở bảo tàng Bắc Ninh thì toàn bộ khu vực xung quanh núi Trâu Sơn đều tôn Triệu Vũ Đế làm thành hoàng. Đây là bằng chứng hiện hữu về tục thờ Triệu Vũ Đế ở vùng núi Trâu Sơn, xác nhận chi tiết trong Truyện Giếng Việt về việc Triệu Đà và Nhâm Ngao đóng quân ở Trâu Sơn. Tượng Triệu Vũ Đế (và hoàng hậu) ở đây có thể chính là di vật còn lại từ ngôi đền thờ Triệu Việt Vương ở Trâu Sơn mà Truyện Giếng Việt nhắc đến.

IMG_9592Đình Châu Cầu.

Theo tư liệu của Bảo tàng Bắc Ninh, ở làng Châu Cầu của xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh hiện còn 12 trang thần tích về Triệu Đà và và nội dung 09 đạo sắc phong cho Thiên tiên Thánh mẫu đệ nhất cửu trùng công chúa. Trong làng Châu Cầu có một di tích cổ là chùa Cô Tiên. Ngôi chùa tuy mang cái tên rất “Nôm” na, nhưng đây lại từng là một ngôi chùa lớn có 99 gian, là một danh lam cổ tích, hiện còn lưu được những tấm bia từ thế kỷ 17-18.
Đặc biệt, theo tư liệu của Viện Hán Nôm thì chùa này có tên đầy đủ là Ma Cô Tiên 麻姑仙. Tên Ma Cô Tiên của chùa này xác nhận đây chính là di tích liên quan tới Truyện Giếng Việt về tiên nữ Ma Cô đã giúp Thôi Vỹ được vinh hoa phú quý thời Triệu Vũ Đế. Chùa này vốn là nơi thờ tiên Ma Cô, có từ rất lâu. Rất có thể Thiên tiên thánh mẫu ở làng Châu Cầu là vị Ma Cô Tiên này, vì rất hiếm khi gặp Mẫu Cửu trùng là thành hoàng một làng như ở đây và sự tích của làng không liên quan gì tới Mẫu Cửu trùng.

IMG_9634
Bia cổ ở chùa Cô Tiên.

Ma Cô là nhân vật trong thần thoại của Đạo giáo, sự tích về bà sớm xuất hiện trong tác phẩm Thần tiên kỷ của Cát Hồng. Điển tích về tiên nữ Ma Cô kể thời Hán Hoàn đế thần tiên Vương Viễn tự Phương Bình có hẹn cùng tiên nữ Ma Cô xuống nhà Thái Kinh dưới hạ giới để uống rượu. Trong bữa tiệc, Ma Cô tự mình nói với Phương Bình rằng: “Từ lần gặp gỡ trước đến nay, đã thấy Đông Hải ba lần biến thành đồng dâu, hướng đến đảo Bồng Lai thì lại thấy nước cạn đi so với trước, xem thời gian thì ước đoán đã cạn đi một nửa, lẽ nào lại sắp biến thành gò đống, lục địa ư?”. Phương Bình cười nói: “Thánh nhân đều nói, Đông Hải sắp sửa nổi lên thành cồn đất rồi đó!”.
Vì Ma Cô “đã thấy Đông Hải ba lần biến thành đồng dâu” cho nên người ta thường lấy Ma Cô ví với sự trường thọ.
Thành ngữ “bãi bể nương dâu” là từ câu nói trên của Ma Cô. So với sự tích về Ma Cô trong Truyện Giếng Việt thì ý nghĩa của thành ngữ này nay có thể hiểu khác. Đông Hải thời cổ của Trung Hoa chắc chắn chỉ biển Đông – vịnh Bắc Bộ ở Việt Nam. Còn hướng ra Bồng Lai tức là hướng ra vịnh Hạ Long, chốn tiên cảnh Bồng Lai của hạ giới. Đông Hải tương đương với Hải Dương, chỉ khu vực ven biển xưa của đồng bằng Bắc Bộ. Núi Trâu Sơn nằm giáp ngay với Chí Linh của tỉnh Hải Dương là chỗ này.
Tiên Ma Cô có từ thời Ân và xuất hiện lại vào thời nhà Hán. 3 lần “bãi bể thành nương dâu” như thế thực ra là chỉ 3 lần thay đổi triều đại trong lịch sử Trung Hoa: Ân Thương sang Chu, Chu sang Tần và Tần sang Hán (Triệu), như được nhắc tới đầy đủ trong Truyện Giếng Việt. Còn câu nói của Phật Phương Bình thời Hán Hoàn Đế: “Đông Hải sắp sửa nổi lên thành cồn đất rồi đó” ý chỉ triều đại lại sắp thay đổi một lần nữa.

IMG_9616
? Cô Tiên tự hậu phật bi ký.

Tiên Ma Cô không chỉ là biểu tượng của trường thọ mà còn là của sự phú quý, hạnh phúc mang đến những thứ quý giá như ngọc Long Tụy và hôn nhân hỷ sự. Tiên Ma Cô cũng là nhân chứng cho sự thay đổi, tiến hóa của lịch sử Việt – Trung Hoa trên miền đất ven biển Đông.

 

 

Thừa Thiên Huệ pháp Hậu Thổ Nguyên Quân

Truyện Ứng Thiên hóa dục Hậu thần trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Thần vốn là vị thổ thần ở nước Nam ta. Năm Thần Võ thứ nhất đời Thánh Tông, vua đi chinh phạt nước Chiêm Thành, tới cửa bể Hoàn Hải, bỗng nhiên trời nổi mưa to gió lớn, sóng dâng cuồn cuộn, xa nhìn như núi, ngự thuyền và chiến thuyền đều không thể qua bến được, bèn phải cắm thuyền ở bờ biển.
Đêm ấy, mộng thấy có người con gái mặc đồ trắng, quần đỏ, trang điểm sơ sài, phong tư yểu điệu bước lên thuyền ngự mà nói rằng: “Thiếp là tinh đất ở nước này, hồn đậu ở trên cây đã lâu. Nay gặp lúc minh quân xuất chính, nguyện xin cùng đi theo để lập chiến công”. Dứt lời không thấy đâu nữa. Vua bèn tỉnh dậy triệu tập tả hữu và các bậc kỳ túc kể lại chuyện.
Có vị tăng thống là Huệ Sinh tâu rằng: “Thần đã nói là đậu nhờ ở trên cây, vậy nên cầu khấn tất được yên”. Bèn sai thân nhân tìm khắp các núi trên bờ, ngẫu nhiên thấy một cái cây ngọn như hình người, giống hệt vị thần trong mộng, bèn đặt trên thuyền ngự, thắp hương cầu đảo, đặt hiệu là Hậu Thổ phu nhân.
Trong khoảnh khắc gió yên sóng lặng, hành quân vượt biển thuận lợi, không lo ngại vì sóng gió nữa. Vua bèn lập thần từ, phút chốc sóng gió lại nổi cuồn cuộn như trước. Huệ Sinh tậu rằng: “Ý thần không muốn ở lại bên bờ”. Bèn về kinh xin âm dương để cầu cho sóng bể được yên. Kíp khi về tới kinh, xây đền thờ ở làng An Lãng…
Tới đời Trần Anh Tông, gặp hạn hán, vua sai lập đàn để cầu đảo. Thần bèn thác mộng cho vua, nói: “Đền này có vua Câu Mang, có phép làm mưa”. Vua tỉnh dậy, sai quân dâng lễ, quả nhiên được buổi mưa to gió lớn.Vua bèn sách phong cho thần làm Hậu Thổ đại phu nhân, đời đời gia phong vì nghĩ thần có công với dân. Triều Trần lại phong làm Ứng Thiên Hậu thổ Thần kỳ Nguyên quân. Phàm tiết lập xuân đều mang thổ ngưu nộp ở dưới đền, tới nay đã thành tục lệ.

IMG_0110.jpgĐình Ứng Thiên ở Láng.

Đền thờ Hậu thổ Nguyên quân ở làng Yên Lãng nay là đình Ứng Thiên. Đình có câu đối tóm tắt lại sự tích vị thần này:
海門應夢以来木像金容彰聖蹟
安邑顯靈猶昨風平雨順仰神庥
Hải môn ứng mộng dĩ lai, mộc tượng kim dung chương thánh tích
An ấp hiển linh do tạc, phong bình vũ thuận ngưỡng thần hưu.
Dịch:
Cửa biển ứng mộng tới nay, tượng gỗ hình vàng rực tích thánh
Ấp Láng linh thiêng thủa nọ, gió yên mưa thuận kính điềm thần.
Thì ra tên làng Láng là từ chữ Yên Lãng – yên sóng, của sự tích thần Hậu Thổ phù vua Lý bình Chiêm.
Hậu Thổ Nguyên Quân là ai mà quyền năng lại cao như thế? Có thể giúp nước mở mang bờ cõi và điều khiển được cả thần mưa (Câu Mang), đã đi vào sử sách từ đời Lý Trần. Đây không phải là “thổ thần, thổ địa” nho nhỏ ở phương Nam mà là một vị thần có tầm vóc quốc gia to lớn.

IMG_0137.jpg
Tiền tế đình Ứng Thiên.

Ở đình Ứng Thiên hiện nay người ta cho rằng thần Hậu Thổ cũng là Địa Mẫu. Chữ Hậu ở đâu nghĩa là hoàng hậu, chứ không phải là “sau”. “Chức danh” hoàng Hậu này cho thấy đây là một nhân vật có tầm vóc quốc gia, là vợ vua.
Trong văn khấn tại đền gọi tên bà như sau: Thừa Thiên hiệu pháp đức quang thái hậu thổ hoàng địa kỳ cửu lũy nguyên quân.
Trong các văn khấn ở miền Trung vị thần này cũng là vị được nhắc tới đầu tiên, chứng tỏ vị thế cực cao trong tín ngưỡng. Ví dụ bản văn khấn sau:
Thừa thiên hiệu pháp Khai hoàng Hậu thổ Nguyên quân, Thổ hoàng Địa kỳ Tử Anh phu nhân, Thái giám Bạch Mã tôn thần, Kim niên hành khiển đại vương…
Hậu Thổ Nguyên Quân là vị thần quan trọng trong Đạo Giáo, là mẫu chủ của các thần tiên (Nguyên Quân). Tức chính là Tây Vương Mẫu hay Cửu Thiên Huyền Nữ.
Gọi là Hậu Thổ hay bà mẹ đất là đối lại với Hoàng Thiên chỉ vua cha Ngọc Hoàng thượng đế. Thổ hay Địa ở đây không phải là khu vực đất đai mà chỉ phần vật chất, phần âm (tính Khôn) trong đối lập với Thiên chỉ tinh thần (tính Càn). Ý nghĩa của câu nói “thiếp là tinh đất” ở đây là như vậy.
Cái tên “Cửu Lũy” được giải nghĩa là có 9 loại lũy đất, trạng thái mềm rắn khác nhau… Nhưng thực ra chữ Cửu này là chữ Cửu trong Cửu Thiên Huyền Nữ, chỉ hướng Tây trong tên Tây Vương Mẫu hay Tây Thiên quốc mẫu, Mẫu Cửu trùng. Còn chữ Lũy vốn là tên của bà Lụy tổ nghề tơ tằm, hay cũng là Cửu Thiên Huyền Nữ. Lũy như vậy có thể chỉ công nghiệp của Cửu Thiên Huyền Nữ dùng đất làm nhà (đắp lũy), cũng có thể chữ Lũy tương đương với Thổ, hoặc Địa, chỉ phần vật chất.
Liên hệ bất ngờ nhất đối với Hậu Thổ Nguyên Quân là danh xưng: Thừa Thiên hiệu pháp. Pháp hiệu của Hậu Thổ Nguyên Quân là Thừa Thiên. Điều này cho thấy bà mẹ trời ở chùa Thiên Mụ tại Huế chính là Thừa Thiên hiệu pháp Hậu thổ Nguyên quân. Địa danh Thừa Thiên Huế xuất phát chính từ sự tích chùa Thiên Mụ, gắn với Hậu Thổ Nguyên Quân.
Khi so sánh sự tích bà Thiên Mụ hiển linh phù hộ chúa Nguyễn Hoàng ở Thừa Thiên Huế với truyện Hậu Thổ thời Lý ta thấy sự liên thông thống nhất. Cũng là bà mẹ trời (Ứng Thiên hay Thừa Thiên), cũng mặc đồ màu hồng/đỏ, cũng trợ giúp vua chúa mở cõi về phương Nam. Hậu Thổ Nguyên Quân ở đây không phải bà Thiên Y A Na của người Chăm, mà là vị thần chủ tiên giới Cửu Thiên Huyền Nữ.
Cửa biển Hoàn Hải thời Lý, nơi Hậu Thổ Nguyên Quân ứng hiện không rõ là nơi nào, nhưng hẳn là từ miền Quảng Bình Quảng Trị đổ về phía Nam, nơi giáp đất Chiêm Thành. Khu vực này cũng tương đương với vùng Thừa Thiên Huế. Chữ Hoàn này cũng như trong tên nước Hoàn Vương, là quốc gia trước của Chiêm Thành. Hoàn là tượng chỉ đầu phương Nam.
Điểm liên hệ khác là vị tăng thống giải mộng có tên là Huệ Sinh (tiên sinh Huệ). Điều này tương quan với cái tên Huệ – Huế trong Thừa Thiên Huế. Huệ Sinh có thể hiểu là Huệ nhân hay người Huế. Thành ra, có vị tăng thống người Huế nói về thần Hậu Thổ. Liệu có phải đúng ra tên vị thần này phải là Thừa Thiên Huệ Pháp?

IMG_0152.jpg
Hoành phi Ứng Thiên Hiển Thánh.

Câu đối ở đình Ứng Thiên làng Láng:
李海鯨清波剩鏡
陳壇龍噴澤猶香
Lý hải kình thanh ba thặng kính
Trần đàn long phún trạch do hương.
Dịch:
Biển Lý kình vang dư sóng chiếu
Đàn Trần rồng nhả đất lưu hương.

Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương

Câu hát ru mà ở Huế ai cũng thuộc:

Gió đưa cành trúc la đà
Ti
ếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương.

Câu ca dao này nêu 2 danh lam thắng cảnh nổi tiếng ở Huế là chùa Thiên Mụ và đồi Long Thọ (Long Thọ Cương). Đây là 2 địa danh nằm đối diện nhau qua dòng sông Hương, tạo ra một cảnh đẹp thơ mộng của đất Thần kinh.
Ta hãy thử đặt những câu hỏi sâu hơn cho những danh lam thắng cảnh này. Chùa Thiên Mụ và đồi Long Thọ có quan hệ thế nào đối với công cuộc lập nước của nhà Nguyễn ở Thừa Thiên Huế? Tìm trả lời cho câu hỏi này đem lại những điều bất ngờ, phát hiện ngay nguồn gốc của cái tên gọi “Huế” ở nơi đây.

IMG_0932.jpgTháp chùa Thiên Mụ.

Trước hết là về sự tích chùa Thiên Mụ. Việc xây ngôi chùa này liên quan đến vị Thái Tổ của nhà Nguyễn là Chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Theo sách Đại Nam thực lục, ngay sau khi quyết định rời bỏ vua Lê chúa Trịnh và về đất Thuận Hóa lập nghiệp chúa Nguyễn Hoàng “đi dạo xem hình thế núi sông, thấy trên cánh đồng của xã Hà Khê thuộc huyện Hương Trà, giữa khu đất bằng phẳng nổi lên một gò cao, trông tựa như hình đầu rồng đang ngoái nhìn lại, phía trước thì có sông lớn, phía sau thì có hồ rộng, cảnh trí rất đẹp đẽ. Nhân đó mới hỏi chuyện người địa phương, ai cũng nói gò đất đấy rất thiêng.
Tục truyền: Xưa, đang đêm bỗng có người nhìn thấy một bà già mặc áo đỏ, quần xanh, ngồi trên đỉnh gò và nói:
– Sẽ có vị chân chúa đến đây xây chùa để tụ khí thiêng, cho bền long mạch.
Nói rồi bà già ấy biến mất. Bấy giờ, nhân đấy mới gọi là núi Thiên Mụ. Chúa cũng cho là núi ấy có linh khí, bèn cho cất chùa, gọi là chùa Thiên Mụ”.
Bà già mặc áo đỏ” trong sự tích này là ai mà lại hiển linh báo trước sự xuất hiện của một triều đại mới như vậy? Có ý kiến cho rằng đó là Bà Hỏa trong bộ các bà Ngũ hành nương nương. Nhưng… Thiên Mụ, hay bà mẹ trời thì không phải là Ngũ hành. Thiên Mụ gắn với chúa Nguyễn là một nhân vật cấp quốc gia, cao hơn nhiều so với các “hành”, tục thờ Ngũ hành có mức độ thờ phụng thấp hơn nhiều, thường chỉ dùng trong các làng xã. Thiên Mụ ở đây là một vị thần khác.
Trong kinh thành Huế, dưới thời Minh Mạng vua đã cho xây dựng một Đạo quán của kinh thành là quán Linh Hựu 靈祐. Về quán Linh Hựu Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ có chép:
Năm Minh Mạng thứ 10, xây dựng quán Linh Hựu tại đầu phường Linh Thái xưa, nằm ở phía bắc sông Ngự Hà trong Kinh thành. Bên trong quán dựng điện Trùng Tiêu. Gian giữa bày 1 cái khám phụng thờ tượng đồng Cửu Thiên Thánh Tổ và 2 tượng đồng Kim đồng, Ngọc nữ. Án thứ nhất bên tả, bày tượng đồng Lục Giáp; án thứ nhì bên tả, bày tượng tổ 72 bộ Địa Sát, do viên đạo lục phụng thờ.
Cửu Thiên Thánh Tổ” là cách viết tắt của “Cửu Thiên Huyền Nữ Thánh Tổ Đạo Mẫu Nguyên Quân”. Vị thần chủ chính của Đạo Giáo được đúc tượng lập quán trong kinh thành của triều đình nhà Nguyễn không phải là Thái Thượng Lão Quân (Lão Tử), mà là Cửu Thiên Huyền Nữ, bà mẹ trời của Trung Hoa cổ đại.
Ở khu vực miền Trung và miền Nam tục thờ Cửu Thiên Huyền Nữ rất phổ biến, từ cấp quốc gia đến trong từng nhà dân vì Cửu Thiên Huyền Nữ được thờ làm thần bản mệnh của các bà vợ trong gia đình. Nhiều nhà ở vùng Phong Điền hay Quảng Trị đặt ban thờ Cửu Thiên Huyền Nữ gọi là Tran Bà.
Thiên Mụ hay Bà mẹ trời, tức là Mẫu Thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ của miền Bắc. Mẫu Thượng thiên mặc áo màu đỏ, trùng khớp với sự tích ở chùa Thiên Mụ. Mẫu Thượng thiên còn gọi là Mẫu Cửu trùng, là hình ảnh của Cửu Thiên Huyền Nữ.
Như thế, chùa Nguyễn Hoàng khi bắt đầu mở nước ở phía Nam đã lấy tích Cửu Thiên Huyền Nữ (Linh Mụ – Thiên Mụ) để làm nền tảng tâm linh cho sự nghiệp của mình. Các phủ chúa Nguyễn thường lập ở vùng Kim Long, tức là khu vực chùa Thiên Mụ.
Cũng chính thời gian này xuất hiện cái tên Huế để chỉ vùng này. Tới đây ta có liên hệ quan trọng: tên gọi Huế khả năng bắt đầu từ chữ “Huệ”, nghĩa là ơn huệ. Người Huế thường nói vui phát âm Huế thành Huệ. Thừa Thiên Huế là Thừa Thiên Huệ, nghĩa là nhận ơn huệ của Trời. Có thể thấy nếu chỉ có tên Thừa Thiên thì sẽ cụt ý. Nhưng nếu thêm Thừa Thiên Huế thì ý nghĩa rất rõ ràng. Đây cũng chính là nghĩa của sự tích chùa Thiên Mụ đã kể trên. Chúa Nguyễn Hoàng đã nhận ơn ban theo Thiên mệnh để mở nước lập quốc ở phương Nam.
Mỗi triều đại khi lập quốc thường xây dựng một huyền thoại để khẳng định tính “chân mệnh thiên tử” của mình. Nhà Lý khi dời đô đã lấy tích rồng vàng bay lên trên sông Nhị mà đặt tên đô thành là Thăng Long. Lê Lợi với cây Ỷ Thiên kiếm trả lại cho Rùa vàng hồ Gươm cũng là ý khẳng định mệnh trời cho nhà Lê. Nhà Nguyễn khi xây dựng một nền độc lập ở phía Nam, dứt bỏ nhà Lê, đã có chuyện nhận ơn mệnh của Thiên Mụ – Cửu Thiên Huyền Nữ mà lập nên xứ Huệ (Huế).

IMG_0660.jpg
Huệ Nam điện.

Một dẫn chứng khác về khả năng Huế vốn là Huệ là tên của điện Hòn Chén. Điện Hòn Chén có tên là điện Huệ Nam, thường được giải thích là “ban ơn huệ cho nước Nam”. Nhưng cũng có thể Huệ Nam nghĩa là vùng Nam Huế, tức là còn có vùng mang tên Huệ ở phía Bắc. Phía Bắc của điện Hòn Chén theo dòng sông Hương chính là khu vực Kim Long của các phủ chúa Nguyễn và chùa Thiên Mụ.
Một truyền thuyết khác ở chùa Thiên Mụ kể:
Đồi Hà Khê rất thiêng, khoảng đời nhà Đường có viên đại tướng tên là Cao Biền từng đi khắp các nơi núi non sông biển nước ta xem nơi nào có khí linh thiêng thì tìm cách yểm đi. Cao Biền thấy trên đồi Hà Khê có khí thiêng, bèn đào sau chân đồi để cách mạch đi, khiến cho linh thiêng về sau không cư tụ được. Đêm hôm đó bỗng có một người đàn bà thể sắc trông thì còn trẻ nhưng mái tóc bạc phơ, mình vận áo đỏ ngồi dưới chân đồi than vãn, rồi cất tiếng nói to: “Đời sau nếu có bậc quốc chủ muốn bồi đắp mạch núi để làm mạch cho Nam triều thì nên lập chùa thờ Phật, thỉnh cầu linh khí trở về nơi núi này để phúc dân giúp nước, tất không có gì phải lo”. Người đàn bà ấy nói xong biến mất. Từ đó gò đất được gọi là núi Thiên Mụ.

IMG_9562Cổng đình Dương Xuân Hạ ở chân dãy Hàm Rồng, nơi thờ Cao Các đại vương.

Ở truyền thuyết này ta thấy hiện diện nhân vật Cao Biền từ thời Đường ở Huế. Các nhà nghiên cứu hiện cho rằng Cao Biền lúc này “chưa đủ thăm quyền” để vào sâu phía Nam như vậy. Nhưng thực tế, chuyện Cao Biền ở miền Trung và Nam Trung bộ là hoàn toàn có thể nếu biết rằng Cao Biền đánh dẹp quân Nam Chiếu chính là ở vùng miền Trung Việt, chứ không phải ở bên Vân Nam.
Có thể ý nghĩa của nhân vật Cao Biền ở đây là chúa Nguyễn nhận ơn mệnh trời đã tiếp tục công cuộc Nam chinh mà Cao Vương đã khởi xướng.
Dấu vết của Cao Biền, thầy địa lý phong thủy nổi tiếng này ở Huế thực ra có rất nhiều, nhưng được lưu truyền dưới một tên gọi khác là Cao Các đại vương. Rất nhiều làng xã ở Huế khi mới hình thành đều lập am thờ Cao Các đại vương. Một loạt các làng ở Huế có tục thờ Cao Các như thôn Vỹ Dạ, Nguyệt Biểu, Dương Xuân…

IMG_9878.jpgAm thờ bài vị: Bổn vi Cao Các tôn thần nguyên phong tặng hoằng mô vĩ lược đôn hậu phu hữu trạc dương trác vĩ mông gia tặng dực bảo trung hưng thượng đẳng thần ở thôn Vỹ Dạ, Huế.

Các nhà nghiên cứu cho rằng tục thờ Cao Các ở miền Trung là do người dân di cư từ vùng Thanh Nghệ vào mang theo. Dù là vậy, nhưng bản thân Cao Các Mạc Sơn ở Thanh Hóa, Nghệ An cũng chính là Cao Vương Biền, người đã tiến quân vào sào huyệt của Nam Chiếu ở Tây Thanh Nghệ, lưu dấu ấn sâu đậm vào tiềm thức dân gian của vùng này.
Khu vực thờ Cao Các (Cao Biền) ở Huế nằm ở phía bên này sông Hương, đối diện với chùa Thiên Mụ. Đây cũng chính là khu vực của dãy núi Long Thọ, nơi có giếng Hàm Rồng linh thiêng.
Trên đỉnh đồi trong dãy Hàm Rồng thời Minh Mạng đã từng dựng miếu Lịch Đại Đế Vương, hay miếu Lịch Đợi. Miếu là nơi triều Nguyễn thờ các vị tiền tổ từ thời thượng cổ tới thời Lê. Đặc biệt gian giữa chính thờ của miếu Lịch Đợi thờ Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế. Hai gian bên thờ các vị vua thời Tam Đại Trung Hoa là Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn, Chu Vũ.
Cũng như việc coi Cửu Thiên Huyền Nữ là người ban thiên mệnh của chúa Nguyễn Hoàng, một lần nữa ở miếu Lịch Đợi ta lại thấy các vua Nguyễn đã nhận các vị vua Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa cổ đại làm tiền nhân của mình, đoàng hoàng công bố với bàn dân thiên hạ rằng mình được nhận ơn huệ của Trời, tiếp ngôi Cửu trùng, xứng danh một quốc gia độc lập, hùng mạnh trên vùng đất Đại Việt Nam.

2018-11-11Bản đồ các di tích vùng Thiên Mụ – Long Cương.

Nếu hình dung miếu Lịch Đợi trên dãy núi Hàm Rồng như một dạng “mả táng hàm rồng” thì chùa Thiên Mụ với ngôi tháp trên đồi cao ở đối diện bên kia sông Hương giống như một chiếc cột hoa biểu tượng trưng thường gặp trong các di tích sơn lăng nhà Nguyễn ở Huế.
Đáng tiếc là miếu Lịch Đợi ở dãy đồi Long Cương này nay không còn nữa. Việc phục dựng miếu Lịch Đợi trong tương quan với chùa Thiên Mụ có ý nghĩa phong thủy lớn đối với cả quốc gia chứ không chỉ cho kinh thành hay cho nhà Nguyễn.

Gió đưa cành trúc la đà
Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Cương
Mịt mù khói tỏa ngàn sương
Lắng nghe tâm sự đôi đường đắng cay.

 

 

 

Truyền thuyết Chín chúa tranh vua với các nước Chu, Tần

Truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày ở vùng Đông Bắc Việt và Quảng Tây kể tóm tắt như sau (theo wikipedia):
Cha của Thục Phán là Thục Chế làm vua nước Nam Cương được 60 năm thì qua đời, khiến cho gia đình họ Thục rơi vào cảnh chia rẽ tranh giành quyền lực. Khi ấy Thục Phán mới tròn 10 tuổi, cháu của Thục Chế là Thục Mô lợi dụng và đưa Thục Phán lên ngôi. Thục Mô nhiếp chính lộng quyền, muốn nhiều lần muốn giết Phán đoạt ngôi vua, khiến chư hầu bất mãn. Nhưng Thục Phán thì vẫn luôn nhẫn nại mong hàn gắn lại gia tộc họ Thục vốn đã bị chia rẽ từ khi cha mình mất. Chín chúa mường (bao gồm 3 Nùng chủ, 2 Dao chủ, 1 Mán chủ, 1 Sán chủ, 1 Tày chủ, 1 Miêu Chủ) không phục kéo quân về bắt Thục Phán đòi chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi “vua”. Thục Phán tuy ít tuổi, nhưng từ bé đã thể hiện phẩm chất thông minh hơn người, bày kế cho Thục Mô lừa 9 chúa mường đua sức, đấu đá lẫn nhau.. còn họ Thục thì giải quyết tranh chấp nội bộ và củng cố lực lượng ở kinh đô Thành Bản Phủ, đến khi các phe cánh đấu đá đến sức cùng lực kiệt, Thục Phán mới thâu tóm toàn cục khiến 9 chúa mường quy phục ông. Từ đó, nước Nam Cương dưới tay Thục Phán trở nên cường thịnh… Thục Phán đem quân thôn tính nhiều lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt trên phương Bắc và cả Văn Lang ở phương Nam…
Sau khi tạm yên mặt Bắc, ông ra lệnh cho 2 vị chúa mường đứng đầu 2 bộ tộc là Miêu Chủ và Dao Chủ đem quân của tiến về biên giới các bộ tộc Nam Chiếu cổ (phía Tây Hà Giang), còn mình đem quân đánh thẳng xuống Phong Châu. Khi ấy Văn Lang đã suy tàn, Hùng Vương đời 18 tính háo sắc, thường gian dâm với vợ các tù trưởng dưới trướng mình, tính tình lại độc ác bạo ngược khiến quân dân bất mãn tột độ. Quân đội tinh nhuệ của Thành Bản Phủ chẳng tốn nhiều hơi sức đã hạ được Văn Lang. Chỉ trong vòng 1 tuần, Thục Phán đã giết được Nguyễn Tuấn (phò mã của Văn Lang), vây hãm Phong Châu khiến Hùng Vương phải sợ hãi tự tử. Cùng lúc, các tù trưởng Nam Chiếu ở phía Tây nghe tin Tày Chủ Thục Phán bỏ kinh đô xuống Nam, cùng hợp lực đông tiến thì bị phục binh của Miêu Chủ và Dao Chủ phục sẵn ở Xín Mần đánh cho thua liểng xiểng phải rút chạy về tận địa phận Lào Cai bây giờ.
Dựa vào câu chuyện này mà các nhà sử học hiện nay cho rằng Thục Phán là người Tày ở đâu đó khu vực Đông Bắc Bộ và biên giới Quảng Tây. Người ta gán câu chuyện của người Tày này với Truyện Rùa vàng của người Việt theo Lĩnh Nam chích quái dẫn đến đoạn tiếp theo về Thục An Dương Vương rời đô đến Cổ Loa, xây thành,…
Tuy nhiên xét kỹ truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày kể trên ta thấy nó không liên quan gì đến việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa hay Mỵ Châu – Trọng Thủy cả. Rõ ràng đây là một vị An Dương Vương khác, ở một giai đoạn bối cảnh khác.
Trong truyền thuyết người Tày kể Thục Phán đã thâu tóm được 9 Mường do 9 thủ lĩnh Nùng chủ, Tày chủ, Sán chủ, Mán chủ, Miêu chủ, Dao chủ. Sau đó nước Nam Cương của Thục lại còn đụng độ với các tù trưởng Nam Chiếu cổ và cuộc tấn công diệt nước Văn Lang ở phương Nam. Với từng đó dân tộc và đất nước, ta thấy ngay phạm vi của câu chuyện Chín chúa tranh vua không thể chỉ quanh quẩn ở vùng biên giới Bắc Bộ và Quảng Tây như vẫn nghĩ. Câu chuyện này kể về một cuộc đại thống nhất thời trước Công nguyên với quy mô và phạm vi lớn hơn nhiều.
Khi xác định quy mô của câu chuyện này ta sẽ nhận ra đây chính là cách kể ngắn gọn của cuộc chiến giữa các nước thời Chiến Quốc, được thống nhất bởi nước Tần. Mỗi nước thời Chiến Quốc là một tộc người trong Bách Việt. Điển hình Miêu Dao là thành phần chính của nước Sở, nước có diện tích rộng nhất thời này. Người Tày Nùng là thành phần của nước Tống, ở quãng Quảng Đông ngày nay.
9 chúa mường như thế thực chất là 9 nước. Khái niệm “mường” ở đây tương đương với “quốc gia”, tương tự người Lào gọi là Mường Lào, Mường Việt vậy. Họ Thục trong truyện đã thống nhất các mường, hay các quốc gia thời Chiến Quốc, do đó phải là nước Tần. Đất đai nhà Tần nằm ở phía Tây của thiên hạ Trung Hoa nên còn được gọi là Thục, tức là phía mặt trời lặn (thụt).

Chu sang TanVị trí các nước cuối thời Chiến Quốc.

Đoạn sau của truyền thuyết Chín chúa tranh vua kể Thục Phán đánh nước Văn Lang của Hùng Vương. Nếu Thục ở đây là nhà Tần thì rõ ràng đoạn này kể về cuộc chinh phạt của Tần đánh vua Đông Chu ở đất Phong Châu. Vùng Bắc Việt vốn là đất định đô ban đầu của Chu Văn Vương, được gọi là nước Văn Lang. Khi Chu Vũ Vương diệt Trụ, đã dời đô về Kiểu kinh ở phía Tây, bắt đầu thời kỳ Tây Chu. Tới thời Đông Chu kinh đô nhà Chu lại quay trở về vùng đất Văn Lang – Phong Châu cũ, nơi có thành Cổ Loa – Đông Đô.
Vị trí “Nam Chiếu cổ”, tức là vùng Vân Nam là đất Kiểu kinh của Tây Chu. Cuối thời Chiến Quốc vùng đất này do một vị tướng của nhà Chu nắm giữ, được biết dưới tên Trang Kiểu. Trang = T’lang = Lang chỉ thủ lĩnh. Kiểu là tên của kinh đô Tây Chu. Trang Kiểu nghĩa là thủ lĩnh vùng Kiểu kinh.
Miền Bắc Việt lúc đó là đất Lạc (Lạc Dương – Đông Chu). Còn Vân Nam là đất Tây Âu của phần Âu trong nước Âu – Lạc. Phần Đông Âu là khu vực Quý Châu hay đất Kiềm. Quý Châu lúc này là điểm nằm giữa Tần (từ đất Thục – Tứ Xuyên), Sở (Hồ Nam), Đông Chu (Bắc Việt) và Tây Chu (Điền – Vân Nam).
Sách Hoài Nam tử cho biết nhà Tần khi dẫn đại quân đánh Việt đã giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Dịch Hu Tống đọc khác đi là Dịch Hậu Tông, tức là con cháu của vua Dịch học. Tướng Trang Kiểu là vốn là dòng dõi nhà Chu từ Chu Văn Vương. Văn Vương là người được tôn làm vua Dịch học vì đã viết Kinh Dịch (Chu Dịch). Do đó Trang Kiểu cũng chính là Dịch Hu Tống đã đụng độ với quân Tần lúc này.
Truyện Chín chúa tranh vua kể các tù trưởng Nam Chiếu cổ đã bị Miêu chủ và Dao chủ  phục đánh. Miêu và Dao là 2 sắc tộc chính của nước Sở thời này. Đoạn truyện này có nghĩa là quân Tây Chu ở Vân Nam đã đụng độ với cánh quân người Sở của Tần.
Cái tên Nam Cương trong truyện có thể hiểu là vùng đất ở phía Nam xưa, tức là phía Bắc nay (phương Nam Bắc nay đã đảo ngược). Nhà Tần lấy mệnh Thủy, dùng màu đen của Ngũ hành, định vị ở phương Bắc nay, cho nên tên gọi của Tần mới là Nam Cương.
Về đất Điền ở Vân Nam tác giả Nguyễn Quang Nhật đã có nhận xét rất xác đáng khi phân tích phiên thiết Di Yên = Điền. Người Điền là người của xứ nóng (yên = ơn là số 2 chỉ phương Xích đạo) di cư tới trong cuộc chia tách Đông Tây của Hùng và Thục, Lạc Long và Âu Cơ hay Hoa và Di.

IMG_0512Trống đồng trong bảo tàng Hà Giang.

Khu vực Vân Nam có dân tộc Di, hay là người Lô Lô, một dân tộc tới nay vẫn còn dùng trống đồng trong đời sống văn hóa. Có thể thấy tên Lô Lô hay La La, Lu là từ chữ Lửa mà ra, chỉ tộc người phương nóng (Bắc xưa), dòng dõi Thần Nông Viêm Đế. Chữ Lô này do đó đồng nghĩa với chữ Yên. Người Lô Lô – Di = Di Yên thiết Điền.
Người Lô Lô theo truyến thuyết có nguồn gốc từ người Khương cổ. Người Khương này không phải ở Tây Tạng như các chú dẫn hay gặp vì rõ ràng Tây Tạng chẳng có bộ tộc nào dùng trống đồng cả. Khương là họ của Viêm Đế Thần Nông, cho thấy người Lô Lô là dòng Thần Nông. Viêm Đế khởi phát từ vùng sông Khương hay Khung Giang, tức là sông Mê Kong ngày nay.
Liên hệ khác, Thục An Dương Vương được các tư liệu truyền thuyết chép là đến từ Ai Lao – Vân Nam. Người Ai Lao Di = La Di, tức là người Lô Lô. Người Di Lô Lô như thế là dân tộc đã theo ông tổ của nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ di cư lên núi do cuộc tranh giành quyền lực với Hạ Khải. Truyền thuyết Việt kể là cuộc chia tách Âu Cơ với Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi. Đất Vân Nam Quý Châu là vùng đất khởi nghiệp của nhà Chu, gọi là đất Âu. Ai Lao thiết Âu.
Theo wikipedia: người Lô Lô vốn có chữ viết riêng. Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay không dùng nữa. Khoảng thế kỷ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
Như thế chữ viết của người Lô Lô là dạng chữ tượng hình như chữ Nho cổ, chứ không phải bộ chữ hoàn toàn khác. Vì người Lô Lô là hậu duệ nhà Chu nên hiển nhiên chữ viết đó cũng là chữ dùng thời Chu. Có thể đó là chữ Đại triện thời Chu hay chữ Khoa đẩu mà người Việt thường nói tới.

P1100140Chiếc chuông đồng có chữ thời Đông Sơn tìm thấy ở Lào Cai.