Giải nghĩa bài thơ thần vua Hùng cầu tiên trên núi Tây Thiên

Trong bản Ngọc phả Hùng Vương do Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1470) có đoạn kể vua Hùng thứ bảy lên núi Tam Đảo lập Vọng Tiên đàn thành tâm cầu khấn được gặp tiên, nhưng sau ba ngày vẫn không thấy tung tích của thần tiên. Tối hôm đó Vua nằm mộng thấy có thần linh hiện lên đọc cho một bài thơ bốn câu…
Bài thơ này liên quan đến sự xuất hiện của vị tiên ở núi Tây Thiên. Tuy nhiên nó lại khá khó hiểu và ở các bản sao ngọc phả khác nhau chép có hơi khác nhau. Bản Ngọc phả ở xã Hy Cương (Phú Thọ) chép là:
西大山人上,
不見心下相,
會東足名人
尹 居上口旺
Tây đại sơn nhân thượng
Bất kiến tâm hạ tướng
Hội đông túc danh nhân
Doãn cư thượng khẩu vượng.
Taythien 2
Trang bản sao Ngọc phả ở Hy Cương có bài thơ thần trên núi Tây Thiên.
Bài thơ này xưa nay chưa thấy ai dịch và giải nghĩa vì câu từ của nó trúc trắc, khó hiểu. GS Ngô Đức Thọ khi dịch bản ngọc phả Hùng Vương của xã Hy Cương cũng đã không dịch bài thơ này.
Nay xin thử giải mã lời nhắn của thần linh cho vua Hùng trên núi Tây Thiên.
Ở câu thứ nhất, có bản sao ngọc phả khác chép là Tây Thiên 西天 chứ không phải Tây đại 西大. Tây Thiên là địa danh nơi vua Hùng gặp tiên nên khả năng dị bản Tây Thiên là đúng hơn.
Ở câu thứ ba, có bản chép là “túc các” 足各 chứ không phải “túc danh” 足名. “Túc các” mới là đúng, lý do xin xem giải thích ở dưới đây.
Tay Thien
Bản chép bài thơ với mở đầu Tây Thiên.
Ngoài chi tiết chỉ địa danh Tây Thiên thì bài thơ thần báo mộng này thực ra dùng phép “chiết tự” chữ Nho ở tất cả các câu. Chính vì thế nó trở nên đánh đố các bậc túc Nho xưa nay, bí hiểm như lời giáng xuất của thần linh. Các chữ chiết tự trong từng câu như sau:
 – Câu 1: “sơn nhân” 山人 là chiết tự của chữ Tiên 仙. Như thế ý câu đầu là: Tiên ở trên Tây Thiên.
– Câu 2: “tâm hạ tướng” 心下相 là chữ Tưởng 想. Ý câu 2 là: Không thấy được như mong tưởng.
– Câu 3: “túc các” 足各 là chiết tự chữ Lộ 路. Đông Lộ là nơi sau đó vua Hùng gặp bà Ngọc Tiêu.
– Câu 4: “doãn“尹 cư thượng (ở trên) “khẩu” 口 là chữ Quân 君 chỉ vua Hùng.
Như thế đã có thể dịch cả bài thơ này như sau:
Trên Tây Thiên tiên đó
Không thấy điều mong chờ
Gặp người nơi Đông Lộ
Vua sẽ được như mơ.

Vua Hùng thứ bảy sau khi được bài thơ thần này đã xuống núi Tây Thiên, tới chân núi thì gặp được một người con gái tuyệt đẹp tên là Ngọc Tiêu, nhà ở thôn Đông Lộ, là Tiên giáng thế đợi kết duyên với nhà vua. Vua cưới bà Ngọc Tiêu sinh được hoàng thái tử. Về sau vua Hùng thứ bảy cùng vương phi Ngọc Tiêu đã đắc đạo thành tiên, hóa sinh bất diệt…

IMG_1139.JPGBan thờ Tây Thiên quốc mẫu ở đền Sinh tại Đông Lộ, Đại Đình, Tam Đảo.

Những kinh đô đất Việt thời Tần Hán

Dấu vết khảo cổ học ở miền Bắc Việt cho biết một cách chắc chắn là ít nhất thời kỳ đầu của sử Việt đã đóng đô với những thành quách ở những nơi sau:
– Việt Trì ở Phong Châu, Phú Thọ. Tương truyền là kinh đô nước Văn Lang thời Hùng Vương.
– Cổ Loa ở Đông Anh, Hà Nội: kinh đô nước Âu Lạc thời An Dương Vương.
– Luy Lâu ở Thuận Thành, Bắc Ninh: trị sở thời Tây Hán, cho tới thời Đường mới chuyển về thành Đại La.
Vấn đề khúc mắc đặt ra là tại sao An Dương Vương lại không đóng đô ở Việt Trì, nơi Hùng Vương trước đó định đô đã hàng trăm năm? Và nhất là, tại sao chỉ sau một thời gian rất ngắn (triều đại của An Dương Vương tương truyền được có 50 năm), trị sở của khu vực đã lại chuyển sang Luy Lâu, bên kia bờ sông Đuống? Nguyên nhân lịch sử gì dẫn đến việc thay đổi trị sở/kinh đô qua các thời đại như vậy?

Co Loa A3
Các giai đoạn đắp thành ở Cổ Loa (Ảnh: Lại Văn Tới).

Khảo cổ học ở Cổ Loa đã phát hiện tới 4 lớp đắp thành. Trong đó ở lớp thứ 2 niên đại đã xác định là giữa thế kỷ II và III TCN. Như thế lớp thành đất sớm ở bên dưới có niên đại còn sớm hơn thời gian này nhiều. Từ thông tin này có thể đi đến 2 nhận định:
–  Thành do An Dương Vương xây ở Cổ Loa vốn dựa trên vị trí một tòa thành từng tồn tại trước đó khá lâu. Đây có thể là cơ sở để Ngọc phả Hùng Vương cho biết, người đầu tiên xây thành Cổ Loa là Hùng Tuyền Vương, chứ không phải An Dương Vương. Nhận định này giải thích tại sao An Dương Vương sau khi thế ngôi Hùng Vương lại đóng đô ở Cổ Loa, vì  nơi đây vốn đã là một trị sở trung tâm của khu vực từ cuối thời Hùng Vương rồi.
– Các lớp thành do An Dương Vương xây dựng chủ yếu là vào thời điểm giữa thế kỷ thứ III TCN. Như thế, thời điểm An Dương Vương thay thế Hùng Vương vào quãng năm 257 TCN theo như Đại Việt sử ký toàn thư là phù hợp. Điều này cũng đồng nghĩa là An Dương Vương không phải mới xuất hiện trong cuộc chiến với quân Tần dưới thời Tần Thủy Hoàng (quãng 218 TCN).
Như những bài trước đã chỉ ra, thực chất triều Thục An Dương Vương trong truyền thuyết Việt chính là nhà Tần. Năm 257 TCN là năm Tần diệt vị vua cuối cùng của vương triều Chu là Chu Noãn Vương, chính thức bắt đầu một triều đại mới của thiên hạ Trung Hoa. Sau khi lên ngôi thiên tử thống nhất thiên hạ nhà Tần đã cho tiến hành những cuộc xây dựng quy mô lớn như phía Bắc xây Vạn lý trường thành, phía Nam đưa hàng chục vạn người đến đóng thú. Công trình xây dựng của nhà Tần còn lại ngày nay ở Việt Nam chính là thành Cổ Loa. Truyền thuyết Việt chép là An Dương Vương xây thành trên đất Việt Thường.
Câu đối ở đền Thượng Cổ Loa:
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà thượng cố cung.
Dịch:
Tùng bách lăng Chiêu giờ đâu nhỉ
Non sông nước Thục vẫn cung xưa.

Co LoaNghi môn đền Thượng Cổ Loa.

Nút thắt thứ hai cần giải thích là tại sao ngay khi nhà Tần sụp đổ, kinh đô/trị sở của vùng Bắc Việt lại chuyển sang đất Luy Lâu? Tư liệu lịch sử cần đối chiếu cho sự kiện “dời đô” này chính là chuyện của Triệu Đà, vì diệt Tần trên đất Việt không phải An Dương Vương mà là Triệu Đà. Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép rất rõ về việc này:
Rồi dần dần ông [Triệu Đà] dùng hình pháp giết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra, dùng những người đồng đảng để thay thế. Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua [An Dương Vương]. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy. Bấy giờ Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang (tức là [con sông] ở phủ Đô hộ, sau lầm là Đông Hồ, tức là bến Đông Hồ ngày nay), vì phạm thổ thần nên bị bệnh, phải rút về. Nhâm Ngao bảo Đà rằng: “Nhà Tần sắp mất, dùng mưu kế đánh Phán thì có thể dựng nước được”. Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông Ngàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phía Nam thuộc quyền cai trị của vua.
Đoạn kể của truyền thuyết Việt trên cung cấp những thông tin quan trọng để xác định vị trí khởi điểm của Nhâm Ngao và Triệu Đà. Nhâm Ngao thực chất là một viên quan đóng trị sở ở vùng sông Tiểu Giang, tức là ở quãng bến Đông Hồ, hay Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay. Khu vực này được biết dưới tên “huyện Long Xuyên”, là nơi sau đó Triệu Đà tiếp vị của Nhâm Ngao.
Nhâm Ngao đã bị bệnh và chết ở vùng Bắc Ninh ngày nay, mà sự việc này còn được kể trong Truyện Giếng Việt, khi Thôi Vĩ chữa bệnh cho Nhâm Ngao rồi ngã xuống hang ở núi Châu Sơn. Núi Vũ Ninh hay núi Châu Sơn nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh, cũng là nơi Triệu Đà đóng quân khi đánh Tần (đánh An Dương Vương).
Đoạn trích của Đại Việt sử ký toàn thư đã dẫn ở trên cho biết, Triệu Đà và An Dương Vương đã lấy sông Thiên Đức, tức là sông Đuống, làm ranh giới phân chia khu vực quản lý. Triệu Đà giữ vùng bên này sông, tức là chiếm vùng phía Đông. An Dương Vương đóng ở thành Cổ Loa là phía Tây.
Như vậy, vùng Bắc Ninh là căn cứ ban đầu của cuộc khởi nghĩa Triệu Đà chống là nhà Tần (Thục) nên đây chính là lý do vì sao khi khởi nghĩa thành công, lập nước thì trị sở vùng Bắc Việt lại chuyển sang bên này sông Thiên Đức. Để rồi tồn tại ở đó với thành Luy Lâu kéo dài hơn 800 năm.
Dấu vết thờ Triệu Đà ở khu vực này tới nay còn khá dày đặc, với các di tích ở vùng Từ Sơn (Bắc Ninh), Xuân Quan (Hưng Yên) hay ở đầu sông Đuống là làng Văn Tinh (Xuân Canh, Đông Anh).

Van Tinh.jpg
Gian tiền tế đình làng Văn Tinh, Xuân Canh, Đông Anh (Ảnh: Nguyễn Huân).

Lý giải lịch sử cho việc dời trị sở này còn có thể đối chiếu với… Cao Tổ bản kỷ trong Sử ký Tư Mã Thiên. Cao Tổ Lưu Bang vốn là sinh ra ở vùng đất Phong, lớn lên làm đình trưởng rồi khởi nghĩa chống Tần ở đất Bái. Tuy nhiên, tướng được cử giữ đất Phong lúc đó là Ung Xỉ lại làm phản, không theo Lưu Bang, nên đã làm cho cuộc khởi nghĩa ban đầu trở nên rất gian nan. Lưu Bang đến khi thắng được Hạng Vũ rồi lên ngôi thiên tử, chỉ trở về thăm đất Bái và vẫn ghi nhớ mối thù với đất Phong, định không cho vùng đó được miễn thuế dù là nơi quê hương của ông.
Đất Phong hay Phong Châu, là vùng đất tổ từ thời Hùng Vương. Bản thân vùng Đông Ngàn Cổ Loa thời Hán gọi là Phong Khê. Còn đất Bái là vùng phía Đông, nơi Lưu Bang – Triệu Vũ Đế trảm xà khởi nghĩa. Cũng vì món nợ của đất Phong đó mà Lưu Bang đã không lấy Phong Khê – Cổ Loa làm trị sở cho vùng đất quê hương khởi nghiệp khai cơ của mình. Việc này dẫn đến xuất hiện trung tâm Luy Lâu phía bên này sông Thiên Đức thay thế cho vai trò của thành Cổ Loa thời Tần (An Dương Vương).
Câu đối ở đền Cổ Loa:
螺形險固天若或主之幾朝代幾桑滄甌貉神京終不改
龜爪靈光今無復見矣此人民此城郭封溪王烈恍然存
Loa hình hiểm cố thiên nhược vực chủ chi, kỷ triều đại kỷ tang thương, Âu Lạc thần kinh chung bất cải
Quy trảo linh quang kim vô phục kiến hỹ, thử nhân dân thử thành quách, Phong Khê vương liệt hoảng nhiên tồn.

Vương quốc Lĩnh Nam

Khái niệm “Lĩnh Nam” trong lịch sử hiện nay đang được hiểu là phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh, là loạt dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc, ngăn cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía bắc của vùng Giang Nam. Ngũ Lĩnh ở đây là đường phân thủy giữa hai con sông lớn là Dương Tử và Châu Giang. Khái niệm này còn dùng chỉ khu vực nước Nam Việt của nhà Triệu trong các cuộc đối đầu thời Tần Hán.
Tuy nhiên, đọc kỹ lại cổ thư thì danh từ Lĩnh Nam không hề được sử dụng để nói về vùng này, cũng như không gặp trong thư tịch cổ nói về thời Tần Hán. Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái là tập hợp những truyền thuyết Việt từ xa xưa, nhưng trong bộ sách này không có những chuyện ở Lưỡng Quảng mà chỉ có ở khu vực miền Bắc nước ta hiện nay. Vậy Lĩnh Nam đây đâu phải là phía Nam dãy Ngũ Lĩnh ở Quảng Đông Quảng Tây. Lĩnh Nam là chỉ khu vực miền Bắc Việt mới đúng.
Lĩnh Nam là địa danh gặp ở ngay dòng đầu tiên trong truyền thuyết dựng nước của người Việt. Truyện họ Hồng Bàng: Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái của Vụ Tiên, rồi trở về sinh ra Lộc Tục.
Ngọc phả Hùng Vương  (bản năm Thiên Phúc nguyên niên, thời Lê Đại Hành) chép: Sử ký Việt Nam. Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.
Lĩnh Nam là nơi Kinh Dương Vương lên ngôi trị vì (Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam). Bản Ngọc phả Hùng Vương thời Hồng Phúc còn cho biết trong 15 bộ của nước Văn Lang thì bộ thứ 14 là “Ngũ Lĩnh sơn Vân Nam“.
Như thế danh từ “Lĩnh Nam” trong huyền sử Việt chính xác phải là Ngũ Lĩnh Vân Nam, chỉ khu vực vùng núi phía Bắc nước ta ngày nay. Vị trí của Ngũ Lĩnh Vân Nam này được mô tả đầy đủ trong Ngọc phả Hùng Vương (bản thời Hồng Phúc):
Vua [Kinh Dương Vương] bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam đại quốc, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức thủy hồng, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên…
Vùng Ngũ Lĩnh Vân Nam ở gần các dãy núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Tam Đảo, Thái Nguyên như thế là chỉ khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam ngày nay, chạy dọc theo dãy núi Hoàng Liên Sơn từ Vân Nam tới ngã ba Việt Trì, tức là quãng các tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang ngày nay.
Việc định vị dãy Ngũ Lĩnh trong cổ sử Việt thành ra dải núi ở phía Bắc Quảng Đông Quảng Tây dẫn đến sai lệch hoàn toàn nguồn gốc xuất phát của người Việt. Với cách hiểu này người ta đã biến thời điểm lập quốc họ Hùng của Đế Minh và Kinh Dương Vương thành ra vương quốc Lĩnh Nam mới chỉ hình thành vào thời Tần Hán khi mà nhà Tần dẫn quân đánh phương Nam và Triệu Đà lập nước Nam Việt.

ngu-linh.png
Vị trí Lĩnh Nam trong sử Việt và các quận phía Nam thời Tần.

Xem xét tất cả các thư tịch về thời Tần Hán cũng đều không hề thấy nói tới từ Lĩnh Nam như sự gán ghép trên. Tư liệu thường được trích dẫn khi nói về cuộc tấn công của nhà Tần xuống phương Nam là đoạn chép trong sách Hoài Nam tử, phần Nhân gian huấn:
Vua Tần chiếm 6 nước, xem truyện này như sau: “Nhà Tần vong, tại sao vậy?”. Nguyên nhân là sai Mông Công và tướng Tương Ông Tử xây sửa thành. Phía Tây chiếm Lưu Sa, phía Bắc  đánh sông Liêu, phía Đông thì liên kết với Triều Tiên, các quận của trong nước phải kéo xe đi chinh chiến. Lại ham những món lợi như sừng tê giác, ngà voi, ngọc phỉ thúy, trân châu, nên sai quan úy Đồ Thư mang 50 vạn quân, chia làm 5 đạo. Một đạo đóng ở vùng Đàm Thành, một đạo phòng thủ ở chỗ hiểm yếu Cửu Nghi, một đạo đóng ở đô thành Phiên Ngung, một đạo đóng ở nơi biên giới Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can. Ba năm quân không cởi giáp giãn nỏ. Sử Giám Lộc không tìm được hướng đi mới sai lính đào kênh để chuyển binh lương đánh người Việt, giết thủ lĩnh Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Đoạn trích trên cho dù đã mô tả rất kỹ cuộc tấn công của Tần xuống phía Nam, nhưng không hề gọi vùng đó là Lĩnh Nam. Địa danh được nhắc tới ở đây là Tây Âu, với quân trưởng lúc đó là Dịch Hu Tống.
Một đoạn khác về việc Tần đánh phương Nam trong Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ: Năm thứ 33, (Tần Thủy Hoàng) đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Đoạn Sử ký này cũng không hề nói đến địa danh Lĩnh Nam. Khu vực Tần đánh chiếm ở đây được gọi là đất Lục Lương.
Có thể thấy, sự kiện Tần đánh Việt có tới 2 mô tả khác nhau như ở trên. Hoài Nam tử cho biết đây là cuộc tấn công quy mô lớn với 50 vạn quân, chia thành 5 đạo đi theo các hướng khác nhau, do một đại tướng của Tần là Đồ Thư cầm đầu, diệt được vùng Tây Âu. Trong khi đó Sử ký Tư Mã Thiên lại mô tả việc này như một “trò đùa”, Tần Thủy Hoàng dùng những người lưu vong, ở rể, thương gia, đến lấy đất lập 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Sự thật thì không thể có việc chiếm một vùng đất đai rộng lớn như vậy lại dùng đám hỗn quân lộn xộn như thế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì chép: Thời Tần đã hợp nhất thiên hạ, chiếm lấy Dương Việt đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng, đưa những người bị đi đày đến ở cùng người Việt, được 13 năm.
Đọc kỹ đoạn này ta thấy việc Tần Thủy Hoàng đưa người bị đi đày đến 3 quận trên đất Việt là để “sống cùng với người Việt” bản địa, chứ không phải việc tiến quân đánh chiếm. Việc dời dân đến 3 quận này hoàn toàn khác với việc Đồ Thư dẫn 50 vạn quân đánh phương Nam ở trên.
Sự kiện Đồ Thư dẫn quân Tần đánh qua đất Tây Âu như thế phải là một sự kiện khác, xảy ra trước thời Tần Thủy Hoàng. Thực ra, nó xảy ra dưới thời Tần Chiêu Tương Vương, hay cuối thời Chu Noãn Vương.
Thiên Nam ngữ lục có đoạn thơ kể về chuyện của Lý Ông Trọng vào thời điểm như sau:

Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Chu Noãn Vương bị Tần diệt năm 256 TCN, cũng là lúc có Lý Ông Trọng là người Việt làm quan cho nhà Tần. Như thế Tần chiếm đất Việt đã là từ lúc này, chứ không phải tới mấy chục năm sau khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi.
Sự kiện Tần đánh Việt được huyền sử Việt chép bằng câu chuyện Thục An Dương Vương đánh và nhận ngôi vị của Hùng Vương. Tần lúc này đã chiếm vùng đất Thục, hoặc chính gốc Tần là ở đất Thục nên Thục cũng chính là Tần. Thục tiếng Việt nghĩa là Chín (đồ chín). Còn Tần cũng được đọc là Chin(a) trong tên gọi tiếng Anh cho Trung Quốc ngày nay.
Miền đất Việt đã bị quân Tần do Đồ Thư, Sử Lộc xâm chiếm vào năm 256 TCN. Tới thời Tần Thủy Hoàng, thống nhất các nước chư hầu, cho thiết lập chế độ quận huyện trên toàn quốc thì mới có sự việc di dân đến 3 quận ở phía Đông đất Việt (Dương Việt). Khả năng những người dân được di cư đi từ vùng đất Âu Lạc mà Tần đã chiếm trước đó, sang vùng đất cảu 3 quận bên cạnh.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 34, đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành cùng với đất Nam Việt.
Rõ ràng mục đích di dân ở đây là để xây dựng cho nhà Tần, chứ không phải đánh chiếm đất đai của nước khác. Cũng chính trong việc đưa ly dân đi làm xây thành đắp đường này mà đã làm nảy sinh cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà như được kể tới trong thần tích về Triệu Vũ Đế ở Chân Định – Kiến Xương:
Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi).
Triệu Đà là một huyện lệnh nhỏ ở Long Xuyên đã đưa dân phu đi xây dựng ở vùng Ngũ Lĩnh, tức là vùng núi Hoàng Liên Sơn ngày nay. Sau đó Triệu Đà cùng dân phu bỏ trốn, lên núi Vũ Ninh (Châu Sơn) ở Bắc Ninh, để ẩn náu, chống lại nhà Tần.
Hoài Nam tử kể: … Vì vậy người Việt vào rừng rậm sống chung cùng muông thú, không chịu để quân Tần bắt làm tù binh. Họ chọn người tài trí và kiệt tuấn làm tướng, cứ đến đêm tối tấn công quân Tần, đạt được chiến thắng lớn, giết quan úy Đồ Thư, quân Tần chết cả chục vạn. (Tần) Bèn cử người đến đóng giữ.
Người tuấn kiệt được chọn làm thủ lĩnh kháng Tần lúc này chính là Triệu Đà, người mà ngay sau khi Tần Thủy Hoàng mất đã chiếm lại toàn bộ vùng đất phương Nam gồm quận Long Xuyên và 3 quận Tần đã lập ra trên đất Việt là Quế Lâm, Nam Hải và Tượng.
Có một điểm liên quan đến sự kiện di dân dưới thời Tần Thủy Hoàng trên đất Việt là câu cuối trong đoạn trên. Nguyên văn trong Hoài Nam tử là: 乃發適戍以備之 Nãi phát trích thú dĩ bị chi. Tương tự, Tần Thủy Hoàng bản kỷ đoạn này cũng viết: 以適遣戍 Dĩ thích khiển thú. Hiện câu này đang được dịch nghĩa là: đưa những người bị biếm trích đến đóng giữ.
Tuy nhiên chữ dùng ở đây không phải là Trích 謫 (trong “biếm trích”), mà là Thích 適. Chữ Thích 適 này có nghĩa chính là: Con gái xuất giá. Như: “thích nhân” nghĩa là con gái về nhà chồng. Hay nghĩa như trong từ “thân thích”.
Dĩ thích khiển thú do đó có thể hiểu là: dùng người bên nhà rể để đóng giữ.
Thật bất ngờ khi hiểu tư liệu theo nghĩa dịch này lại trùng khớp với sự tích Lý Ông Trọng ở Việt Nam. Lý Thân được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh Cung công chúa cho. Sau đó Lý Thân được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Lâm Thao có thể tương đương nghĩa với Lâm Ấp hay Lĩnh Nam. Trị sở của khu vực mà Lý Ông Trọng trấn thủ là tại vùng đất Bắc Việt ngày nay.

IMG_3663
Nghi môn trong đền Cổ Loa.

Khi đã xác định Thục chính là Tần thì suy ra thành Cổ Loa của Thục An Dương Vương là trị sở được nhà Tần xác lập trên vùng đất Việt. Người cầm đầu khu vực phương Nam lúc đó là Lý Thân, con rể của Tần Thủy Hoàng. Hiện trong đền Cổ Loa vẫn còn tượng và tục thờ Lý Ông Trọng, xác chứng thêm cho nhận định này.
Câu đối ở đình Chèm, là đền thờ Lý Ông Trọng còn nói tới liên quan giữa Lý Ông Trọng và nhà Tần sau khi thống nhất lục quốc:
六合銷兵想見雄威驚絶域
千秋遺廟疑然正氣障狂瀾
Lục hợp tiêu binh, tưởng kiến hùng uy kinh tuyệt vực
Thiên thu di miếu, nghi nhiên chính khí chướng cuồng lan.
Dịch:
Sáu nước tan binh, oai hùng nhớ thấy khiếp biên cõi
Nghìn thu để miếu, chính khí như còn chặn sóng hung.

Long Đỗ là ở chỗ nào?

Nói tới Thăng Long Hà Nội ai cũng biết chuyện thần Long Đỗ hiển linh trước Cao Biền và được lập làm thành hoàng của thành Thăng Long. Long Đỗ là “rốn rồng”, tức là huyệt mạch chính của “kinh đô rồng”. Vậy cái “rốn rồng” ấy nằm ở đâu?
Nhiều người nghĩ rằng thần Long Đỗ hiển linh ở sông Tô Lịch thì cái long mạch của đất Thăng Long phải nằm ở đâu đó quãng đầu sông Tô Lịch và sông Hồng, có thể là hồ Tây. Thậm chí có học giả cho rằng Long Đỗ là ở núi Nùng. Nhưng thực tế ở cả ở hồ Tây hay núi Nùng đều không có di tích nào nói về Rồng hay Long Đỗ cả.
Nếu nói tới “kinh đô Rồng” thì Long Đỗ phải là nơi có Rồng xuất hiện, tức là có Rồng bay lên. Ở Hà Nội nơi có Rồng bay lên phải là… Long Biên. Ngay cái tên cũng đã cho biết đây mới là chỗ có Rồng xuất hiện.
Rồng bay lên từ nước, điều này quá rõ. Rồng làm sao mà lại ẩn ở trên núi (như núi Nùng) được. Mặt nước của vùng Long Biên thì rõ là sông Hồng. Xét các làng dọc khúc dòng sông Hồng ở vùng Long Biên (Gia Lâm) ta thấy ở đây còn đậm đặc các di tích và sự tích về sự xuất hiện của Rồng.
Xa nhất là đình làng Xuân Quan, còn gọi là điện Long Hưng, nơi thờ Triệu Vũ Đế, ở Văn Giang, Hưng Yên. Sự tích ở đây ghi:
Triệu Đà người huyện Chân Định, đầu thời Tần làm quan lệnh Long Châu, sau làm Nam Hải úy… Tương truyền Triệu Đà đi tuần phương Nam qua xã Nam Quan thấy có rồng vàng hiện ra, cho là đất lành bèn dựng hành cung, gọi là điện Long Hưng. Về sau dân dựng đền thờ trên nền điện cũ.

Long Hung dien
Long Hưng điện (đình Xuân Quan).

Theo Thiên Nam ngữ lục thì Triệu Đà khi tiến quân từ Quảng Đông đánh An Dương Vương đã thấy rồng xuất hiện trên sông Nhị Hà:

Binh phân chi dực hữu chi
Triệu thuyền thẳng tới đỗ kề bên sông
Bỗng đâu thấy rồng nổi lên
Dự mừng thánh chúa lập nên cơ đồ.

Khi họ Triệu diệt được An Dương Vương, xưng vua thì do đó mà đổi tên thành Thăng Long:

Hiệu xưng là Triệu Vũ Hoàng
Chín lần xem trị bốn phương đẹp lòng
Long Biên thành hiệu Thăng Long
Vì xưa rồng dậy dưới sông Nhị Hà.

Tên gọi Thăng Long đầu tiên là dành cho khu vực Long Biên từ thời Triệu Vũ Đế, tức là còn trước thời Lý hơn ngàn năm.
Thăng Long hay Long Hưng là lấy ý trong hào ngũ của quẻ Càn: Phi long tại thiên, Rồng bay lên trời. Hào ngũ quẻ Càn chỉ điềm thành nghiệp của bậc đế vương.
Bên cạnh Xuân Quan, ngoài bãi ven sông là làng Kim Lan (thuộc Gia Lâm, Hà Nội nay), nơi thờ Cao Vương Biền. Đây cũng là nơi có di chỉ khảo cổ Hàm Rồng với những hiện vật từ thời Đường. Thiên Nam ngữ lục cho biết, Hàm Rồng là nơi được “Phong thủy vương” Cao Biền chọn làm nơi táng mả:

Dân làm cự cứu bảo nhau
Tôn Biền làm chủ giữ âu Long thành
Đến Kim Lan cơ đầu ghềnh
Lục nơi cải tử hoàn sinh chẳng cùng
Mạch tòng Tản Lĩnh giáng long
Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu
Biền già ở cõi Nam Châu
Người nhà bèn táng ở đầu Kim Lan.

Bên cạnh chỗ rồng bay lên (Long Hưng) ở Xuân Quan là miệng rồng (Hàm Rồng) ở Kim Lan. Rõ ràng đây là một huyệt mạch quan trọng, nơi Cao Biền đã lựa chọn. Chú ý theo Thiên Nam ngữ lục thì đây là chỗ “Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu”. Ý nghĩa của “ba sông” sẽ còn gặp ở dưới đây.
Dọc sông tiếp theo gần hơn về phía Bắc là làng Bát Tràng. Đình làng Bát Tràng thờ các thành hoàng là Lưu thiên tử, Lữ hoàng hậu, Bạch Mã tôn thần, cùng 3 vị khác. Thần Bạch Mã cũng là thần Long Đỗ, liên quan tới Rồng thì đã rõ. Còn Lưu Thiên Tử hay Lưu Bang thì chả phải ai khác chính là Triệu Vũ Đế ở Xuân Quan. Lữ Hoàng Hậu là Lữ Hậu, vợ và người đã cùng khởi nghĩa với Lưu Bang từ thủa hàn vi.

Hoi Bat TrangHội đình làng Bát Tràng.

Phía trên làng Bát Tràng về phía Bắc là làng Đông Dư. Nơi đây có chùa Nội Long nằm bên bờ sông Hồng ở Đông Dư Thượng. Nội Long tự nghĩa là “chùa trong mắt rồng”. Vậy đây cũng là đất thiêng nơi, con Rồng Long Biên lộ đầu.
Làng Đông Dư thờ các thần Cao Sơn và Linh Lang đại vương. Cao Sơn là Cao Vương Biền (như thờ ở Kim Lan). Cách Đông Dư không xa là đền Trấn Vũ ở làng Ngọc Trì, Gia Lâm, nơi thờ Huyền Thiên Trấn Vũ. Vậy là ở khu vực này đã hội tụ đủ 4 vị thần của Thăng Long Tứ trấn: Huyền Thiên, Cao Sơn, Bạch Mã và Linh Lang.
Ấn tượng hơn nữa cũng ở khúc sông này, phía bên bờ Tây của sông Hồng là vùng đất Lĩnh Nam của quận Hoàng Mai (trước là huyện Thanh Trì). Các làng ở Lĩnh Nam đều có sự tích gắn với Rồng.
Làng Thúy Lĩnh ở ven sông Hồng, đối diện với Kim Lan qua sông, thờ Linh Lang đại vương, tương tự như bên làng Đông Dư. Sự tích Linh Lang cũng là Rồng, vì khi sinh ra đã liên quan đến Rồng (bà mẹ đi tắm ở hồ Tây thì gặp giao long), rồi sau khi thần dẹp yên quân giặc đã hóa thành con rắn lớn (tức là Rồng) bơi xuống hồ Tây.
Câu đối ở đình Thúy Lĩnh:
氣鎮龍都歷代褒崇隆祀典
霛扶鴻越弌方康阜仰神庥
Khí trấn Long Đô lịch đại bao sùng long tự điển
Linh phù Hồng Việt nhất phương khang phụ ngưỡng thần hưu.
Dịch:
Khí trấn Đô Rồng, các đời ca tôn điển tế hậu
Thiêng phò Hồng Việt, một phương đông đúc ngưỡng điềm thần.

Thuy Linh
Chính điện đình Thúy Lĩnh.

Một làng khác của vùng Lĩnh Nam là làng Nam Dư Hạ khá đặc biệt. Đình làng này thờ luôn Rồng, được gọi dưới tên Tam đầu Cửu vĩ Long vương. Tam đầu Cửu vĩ cũng là một vị thần quen biết trong đạo Mẫu Tứ phủ, đại diện cho Thủy thần Hà bá.
Theo thần tích còn lưu lại, có vị sư tổ Từ Phong thường du ngoạn ở ven kinh thành Thăng Long, có lần đi qua đất Nam Dư thấy cảnh sắc đậm đà, bến thuyền xuôi ngược quyến rũ lòng người, ngài bỗng thấy có một con rồng từ đất bay lên nhào lượn trên không trung rồi biến vào vòm trời xanh. Đức tổ cho đây là chốn tiềm long (nơi rồng ẩn) nên quyết định xây phủ đệ ở lại Nam Dư, đồng thời, ngôi chùa lấy tên là Thiên Phúc, mở một con đường rất thẳng từ cung điện nhà vua tới chùa và xây ngôi đình làng cho dân thờ Long Vương thần.
Câu đối ở đình Nam Dư Hạ:
勝景南天黎帝殿
威風畬地水王宫
Thắng cảnh Nam thiên Lê đế điện
Uy phong Dư địa thủy vương cung.
Thậm chí trong đình còn có bức biển (hoành phi) đề: Long Đỗ Nam Dư 龍肚南畬.
Vậy Long Đỗ là ở đây chứ đâu nữa.
Chữ Dư 畬 trong tiếng Nho nghĩa là ruộng tốt. Liên hệ với quẻ Càn, hào nhị: Hiện long tại điền, gặp Rồng tại ruộng. Như thế khu vực Đông Dư – Nam Dư ý chỉ là nơi Rồng bắt đầu xuất hiện.

IMG_3880
Hoành phi “Long Đỗ Nam Dư” ở đình Nam Dư Hạ.

Đình Nam Dư Hạ còn có đình còn 3 cổ hiệu bát cống nguyên vẹn, sơn son thếp vàng, chạm khắc tỉ mỉ, cầu kì, trau chuốt đầu rồng, thân rồng, đuôi rồng, tương truyền được các thợ của Long cung một đêm đã tạo ra.
Đình Nam Dư Thượng thờ các vị thành hoàng là Minh Hoa An Quốc đại vương cùng phu nhân Hoàng Phi Trân và Đương Thống đại vương cùng phu nhân Nguyệt Thái. Tương truyền, Minh Hoa An Quốc Đại vương là con vua Hùng Vương thứ 17, có công trong việc trị quốc an dân. Đương Thống đại vương còn gọi là Thống Công, em Sơn Thánh, sống dưới triều Hùng Duệ Vương. Sơn Thánh lấy công chúa Mị Nương còn Thống Công lấy công chúa Nguyệt Thái.

Kieu Nam Du Thuong
Kiệu rồng ở Nam Dư Thượng.

Câu đối ở chính điện đình Nam Dư Thượng:
南上屹灵祠鴻貉遺徧傳五嶺
西茶餘勝地清潭舊跡儼三江
Nam Thượng ngật linh từ, Hồng Lạc di biên truyền Ngũ Lĩnh 
Tây Trà dư thắng địa, Thanh Đàm cựu tích nghiễm Tam Giang.
Dịch:
Nam Thượng cao đền thiêng, Hồng Lạc để lan truyền Ngũ Lĩnh
Tây Trà tốt lành đất, Thanh Đàm vết cũ oai Tam Giang.

Câu đối nói tới những địa danh khá lạ. Tây Trà là tên gọi cũ của Nam Dư. Còn Ngũ Lĩnh thời Hùng Vương liệu có phải đây là gốc của tên Lĩnh Nam (Ngũ Lĩnh – Nam Dư?) cho khu vực này? Tên gọi Ngũ Lĩnh cùng với sự tích các vị thần thời Hùng Vương cho thấy khu vực này là một trọng điểm cư dân của thời kỳ này.
Câu đối nhắc tới tên Tam Giang, chỉ một vùng đất ở quanh Long Biên. Tam là số 3, con số chỉ phương Đông trong Hà thư. Phương Đông cũng có tượng là Rồng nên Tam tương ứng với Long. Tam Giang do đó tương đương với Long Xuyên hay Long Biên. Thiên Nam ngữ lục như trên đã nói khu vực này là: Sáu rồng phun ngọc, ba sông nước chầu, cũng là ý này.
Hội làng Nam Dư Hạ và Nam Dư Thượng đều có làng Bát Tràng và Đông Dư bên kia sông sang giao lưu, cúng tế. Trong lễ hội rước nước chung của 3 làng này thì khi ra sông lấy nước cũng đều có bái vọng đình Bát Tràng. Tục kết chạ giữa Nam Dư và Bát Tràng là một tục xưa còn lưu giữ được.

Ban do
Bản đồ các khu vực ven bờ sông Hồng ở đoạn Lĩnh Nam – Gia Lâm.

Huyện Thanh Trì vốn có tên là Long Đàm, tức là đầm Rồng, tương truyền là đầm nước có Rồng ở. Sau này Long Đàm mới đổi thành Thanh Đàm, rồi Thanh Trì. Trong câu đối nói tới Thanh Đàm là địa danh này.
Tên Tam Giang còn ẩn ý trong tên Tam đầu Cửu vĩ Long vương. Tam là hướng Đông, Cửu là hướng Tây trong Hà thư. Tam đầu Cửu vĩ Long vương nghĩa là con Rồng đầu ở phía Đông, đuôi ở phía Tây. Xét ở khúc sông này thì đúng vậy. Đầu Rồng ở bờ Đông nơi có Hàm Rồng (tại Kim Lan), mắt Rồng (ở Đông Dư) và nơi rồng bay lên (ở Xuân Quan). Còn đuôi Rồng ẩn trong Long Đàm (Thanh Trì) ở phía bên bờ Tây.
Long Đàm chính là Long Đỗ, cái rốn của kinh đô Rồng xưa, mà dấu vết vẫn còn lưu lại trong các sự tích và địa danh ở đây.

Muốn lên Côn Lôn tìm Huyền Phố

Bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng của Phạm Sư Mạnh ở thế kỷ 14:
Thiên khai địa tịch Tam Giang lộ
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng
Giang vi trì tiệm thạch thành bích
Ốc tự tăng sào tháp đậu đăng
Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố
Đoàn phong vạn lý khoái phi bằng.
Bài thơ rất hào hùng kể về những sự tích xung quanh vùng châu Chân Đăng, thời Lý Trần là khu vực Phú Thọ. Bài thơ đặc biệt ở chỗ dùng rất nhiều những địa danh của cổ sử nên nó như một bức thông điệp ẩn của quá khứ Việt.
Bốn câu đầu của bài thơ đã từng được lý giải bởi tác giả Nguyễn Quang Nhật, nói về những sự kiện của nhà Chu từ việc lập quốc trên vùng đất Phong Châu – Tam Xuyên, rồi dời đô từ Kiểu kinh của Tây Chu về thành Cổ Loa bắt đầu thời Đông Chu cho tới thất bại của Quốc Tây – nước Chu trước cường Tần – Chân Đăng.
Bốn câu thơ tiếp theo xem qua tưởng chỉ là tán tụng, nhà cao sông sâu, nhưng đặc biệt câu thơ thứ bảy: Dục thướng Côn Lôn phỏng Huyền Phố, Muốn lên núi Côn Lôn tìm hỏi Huyền Phố, lại tiếp tục chứa đựng những ẩn ngữ của quá khứ cần được xem xét.
Núi Côn Lôn, ngọn núi huyền thoại nơi thần tiên Trung Hoa ngự trị ở đâu mà Phạm Sư Mạnh đang ở châu Chân Đăng (Phú Thọ) lại nổi hứng muốn lên tận đó để tìm hỏi phố tiên (Huyền Phố)?

Tay Thien.jpgTây Thiên Tam Đảo.

Ngọc phả Hùng Vương khi chép về Kinh Dương Vương mở nước có đoạn:
Vua lại đi tuần thú, trải khắp núi sông, xa giá đến xứ Sơn Tây, thấy địa hình trùng điệp, núi đẹp sông hay. Vua bèn tìm địa mạch, nhận thấy từ núi Côn Lôn giáng xuống qua cửa ải, tựa như cầu vồng thoát mạch, rồng vút đi xa…
Như vậy núi Côn Lôn ở gần Phú Thọ – Phong Châu phải là ngọn núi Tam Đảo cao ngút. Đây cũng là nơi ngự trị của Tây Thiên Quốc Mẫu mà truyền thuyết Trung Hoa gọi là Tây Vương Mẫu. Tây Vương Mẫu còn có tên là Dao Trì Kim Mẫu, thực ra chính xác phải là Giao Chỉ Kim Mẫu, tức là vị Quốc Mẫu ở vùng Giao Chỉ. Vườn đào tiên của Tây Vương Mẫu không đâu xa mà là trên núi Tam Đảo.
Ở Tam Đảo còn lưu dấu vết sự tích về Tây Vương Mẫu và núi Côn Lôn. 3 hòn đảo trong biển mây phủ của Tam Đảo theo địa chí cổ đó là Phù Nghì cao 1.250m; Thiên Thị (Kim Thiên) cao 1.585m; Thạch Bàn cao 1.585m.
Trong câu thơ của Phạm Sư Mạnh có nói trên núi Côn Lôn có khu Huyền Phố, nơi thần tiên tụ hội. Còn trên núi Tam Đảo có đỉnh Thiên Thị, nghĩa là Chợ Trời vì nơi đây đỉnh núi bằng phẳng với nhiều viên đá lô nhô như những vị tiên đang đi hội chợ. Đỉnh này cũng gọi là Kim Thiên, tức là “giữa trời”, chính nơi Thiên phủ vì Kim là màu của trung tâm trong Ngũ hành. Sự trùng khớp về địa danh Huyền Phố và Thiên Thị thêm một lần nữa khẳng định núi Tam Đảo chính là núi Côn Lôn trong truyền thuyết thần tiên Trung Hoa.

Thach Ban.jpgThạch Bàn trên đỉnh Tây Thiên (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn có tên gọi là do trên đỉnh có một tảng đá lớn, rộng bằng phẳng, được gọi là bàn cờ tiên. Tuy nhiên thực chất tảng đá này là một di tích cự thạch (dolmen) của thời kỳ tiền sử. Những cự thạch có hình dạng tương tự, là những phiến đá phẳng, hình nhọn đầu, được xếp trên những chân trụ đá (thường là 3 chân) cũng gặp ở khu vực quanh núi Tam Đảo như ở Đại Đình (Tam Đảo, Vĩnh Phú).
Cự thạch được cho là nơi người xưa dùng để cúng tế, hay nói cách khác đó là những đàn tế cổ.

Cu thach Dai Dinh.jpgCự thạch ở Đại Đình, Tam Đảo, Vĩnh Phú (Ảnh: Nguyễn Huân).

Đỉnh Thạch Bàn cũng là nơi từng có ngôi chùa mang tên Đồng Cổ. Trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn đã cho biết: “Sườn núi có chùa Tây Thiên Cổ Tự, tre xanh, thông tốt, cảnh sắc thanh nhã, rộng rãi. Trên đỉnh núi cao lại có chùa Đồng Cổ, vừa lên vừa xuống phải mất hai ngày“.
Đồng Cổ là trống đồng. Ý nghĩa của việc dùng trống đồng đã từng được khám phá qua quẻ Dự trong Kinh Dịch. Quẻ Dự có lời tượng là: Lôi xuất địa phấn Dự, tiên vương dĩ tác nhạc sùng đức, ân tiến chi thượng đế, dĩ phối tổ khảo.
Dịch giải: Sấm vang trên mặt đất là tượng quẻ Dự, các bậc tiên vương làm ra nhạc đề cao đao đức, long trọng dân lên thượng đế cùng với anh linh tiên tổ.
Sấm nổ trên mặt đất là chỉ cách đánh trống đồng. Lời tượng này cho biết trống đồng được dùng làm nhạc khí khi tiến hành tế lễ thượng đế và tổ tiên.
Phối hợp các thông tin đàn tế cự thạch và đền Đồng Cổ trên đỉnh Thạch Bàn ta chợt nhận ra đây chính là đàn tế trời của thời Hùng Vương. Trên đỉnh núi cao, nơi xuất xứ của bà mẹ trời Tây Thiên Quốc Mẫu mà đặt đàn tế bằng đá và dùng trống đồng để tế thì chỉ có thể là tế trời, xưa gọi là tế Giao.
Đàn tế của thời kỳ này có thể liên quan đến sự tích của Hùng Chiêu Vương Lang Liêu. Ngọc phả cổ truyền về 18 chi đời Thánh vương triều Hùng chép như sau:
… Vua bèn khởi hành xa giá đi xem phong cảnh. Xe loan tới nơi, vua thấy núi non như gấm vóc, lâu đài thiên tầm trùng điệp, khe biếc ngòi xanh, sóng nước nhè nhẹ nối nhau, cảnh trí phong quang, có hoa ngào ngạt, đầu núi lô nhô, có bạch long giáng khí, xưa lập chùa gọi là Tây Thiên.
Vua cho dựng đàn, rồi chỉnh biện lễ chay, sau quần thần dâng lễ đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở trường công đức ở chùa, sớm đảo tối cầu, qua bảy ngày bảy đêm, nam nữ bốn phương tập hợp cùng vui vẻ đến đây chiêm ngưỡng, chim trong rừng nghe đến kinh, cá dưới nước đến nghe giảng kệ.
Công đức viên thành. Vua ngự trên suối Thạch Bàn để xem cảnh tiên, bỗng thấy điện vũ huy hoàng, khói mây óng ánh, mây rồng bốn phía tựa như lâu đài Tây Trúc mênh mang, một bầu sơn thủy, bèn mật khấn với trời, sai bách quan văn võ đứng chầu trang nghiêm. Vua yết lễ, khấn rằng:
– Xin trời giáng thần tiên để được gặp gỡ, thực vui sướng ba đời!…
Như vậy có thể thấy rõ đỉnh Thạch Bàn là đàn tế trời đất và cầu tiên dưới thời Hùng Chiêu Vương – Lang Liêu. Truyền thuyết Trung Hoa chép sự kiện này trong chuyện Chu Mục Vương cưỡi cỗ xe bát mã lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu. Chiêu cũng là Chu. Hùng Chiêu Vương chỉ một vị vua nhà Chu.
Thạch Bàn như vậy là một đàn tế trời cầu tiên của nhà Chu nước Văn Lang. Còn Tam Đảo là ngọn Côn Lôn nơi thần tiên Thiên phủ ngự trị.

Núi Nhồi xứ Thanh và Mạnh Hoạch

Núi Nhồi, ngọn núi đá nổi tiếng ở thành phố Thanh Hóa có tên chữ là An Hoạch. An Hoạch liệu có phải là nơi đánh dấu chiến công thu phục Mạnh Hoạch không?

img_2443
Hòn Vọng Phu trên đỉnh núi An Hoạch.

Mạnh Hoạch thực ra là Mường Hoàng, chỉ thủ lĩnh người Thái Mường ở phía Tây và Bắc Trung Bộ nước ta. Vì thế trong lịch sử không phải chỉ có 1 vị Mạnh Hoạch. Xét ở khu vực núi Nhồi và Thanh Hóa có thể có khả năng liên quan tới 3 vị thủ lĩnh xứ Mường Mạnh Hoạch sau:
1. Mạnh Hoạch đầu tiên là thời Tam Quốc, do Gia Cát Khổng Minh thu phục. Dấu vết ở khu vực núi Nhồi là chùa Hinh Sơn nơi có tạc tượng Lưu Bị, Quan Công và Khổng Minh vào vách đá để thờ cúng.

quan cong
Tượng Quan Công khắc trên vách đá ở chùa Hinh Sơn (ảnh internet).

Nên biết là Mạnh Hoạch vào thời này là thủ lĩnh khu vực Tây Bắc Việt và Bắc Trung Bộ mà Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái chép là nước Nam Triệu, chiếm cứ một dải từ Thần Phù đến Hoành Sơn:
Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu”.
2. Mạnh Hoạch khác là ở thời Đường, tức nước Nam Chiếu. Người đánh dẹp Nam Chiếu ở Thanh Hóa chính là Cao Vương Biền, di tích thờ còn lại là đền Cao Sơn trên núi An Hoạch.

img_2354
Đền Cao Sơn ở chân núi Nhồi.

Thủ lĩnh người Thái Mường dưới thời Đường là họ Phùng từ Phùng Hưng. Bản thân tên Bố Cái cũng là từ chỉ thủ lĩnh của người Thái Mường, nên Bố Cái có nghĩa tương đương với Mạnh Hoạch.
tư liệu cho biết vùng núi này có nhóm dân cư khá đông mang họ Lôi, tức là từ chữ Lồi chỉ người Chăm. Lồi thực ra không phải chỉ chỉ người Chăm mà là chỉ người Nam Chiếu.

img_2352
Tượng phỗng ở sân đền Cao Sơn bên chân núi Nhồi.

3. Mạnh Hoạch khác là thủ lĩnh người Thái Mường đã được Thái úy Lý Thường Kiệt thu phục như văn bia chùa Báo Ân ở chân núi Nhồi ghi lại. Thông tin từ wikipedia về Lý Thường Kiệt cho biết:
Năm 1061, người Mường ở biên giới quấy rối. Lý Thánh Tông sai ông làm Kinh phỏng sứ vào thanh tra vùng Thanh Hóa, Nghệ An, được toàn quyền hành sự. Ông phủ dụ dân chúng, lấy được lòng người. Tất cả năm châu 6 huyện, 3 nguồn, 24 động đều quy phục.
Đây chính là kể về sự kiện mà Thái úy Lý Thường Kiệt đã lập tuyên thệ được ghi trên bia An Hoạch sơn Báo Ân Tự bi:
Quyết hậu nãi thệ vu sư, Bắc chinh lân quốc; Tây thảo bất đình. Thiện thất túng thất cầm chi thắng địch.
Dịch: Rồi đó ông thề trước ba quân: phía Bắc đánh quân Tống xâm lược, phía Tây đánh bọn không lại chầu, giỏi thắng địch bằng sách lược bảy lần bắt bảy lần đều thả.

img_2373Tượng thần khắc trên vách núi ở đền Cao Sơn.

Đại Việt sử ký toàn thư chép: Mùa đông (năm 1103) người Diễn Châu là Lý Giác mưu làm phản. Giác trước học thuật lạ có thể biến cây cỏ thành người, bèn chiêu tập những kẻ vô lại chiếm giữ châu ấy, đắp thành làm loạn. Việc tâu lên, vua sai bọn Lý Thường Kiệt đi đánh. Giác thua trốn sang Chiêm Thành, dư đảng đều bị dẹp yên.
Lý Thường Kiệt được phong thái ấp ở Thanh Hóa chính là gắn liền với sự dẹp loạn người Mường ở phía Tây. Mà thủ lĩnh người Thái Mường ở phía Tây được gọi là Mạnh Hoạch hay Mường Hoàng.

 

Thần tiên Địa phủ ở Châu Sơn

Đây là một bài khó viết vì nó động đến một lịch sử linh thiêng lâu đời của người Việt và vì nó rất thật, thật như có thể giơ tay là chạm được vào quá khứ…

Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái (dịch giả Lê Hữu Mục):
Việt Tỉnh ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh; đời Hùng Vương thứ ba, Ân Vương cử binh Nam xâm, đóng quân ở núi Trâu Sơn; Hùng Vương cầu Long quân giúp, Long quân bao tìm khắp thiên hạ, nếu được người kỳ tài thì dẹp được giặc; đến kỳ cầu được Đổng Thiên Vương cỡi ngựa sắt đi đánh, tướng sĩ nhà Ân đều tan vỡ. Ân Vương chết ở dưới núi, làm Địa Phủ Quân; dân lập đền thờ, bốn mùa cúng tế nhưng lâu năm suy dần bỏ thành chùa hoang.
Núi Trâu Sơn được nói tới, nơi có Giếng Việt, nay ở huyện Quế Võ, Bắc Ninh. Đoạn đầu truyện cho biết Ân Vương sau khi chết đã được làm vua Địa phủ, có đền thờ ở núi Trâu Sơn. Đây là thông tin quan trọng đối với tín ngưỡng Tứ phủ nước ta, vì hiện trong Tứ phủ chưa rõ vị vua cha của Địa phủ là ai.
Trâu Sơn chính xác phải là núi Châu hay Chu. Vết tích ngôn ngữ còn lưu trong tên làng Châu Cầu và xã Châu Phong. Châu hay Chu ở đây chỉ nhà Chu, là triều đại mà nhờ Sóc thiên vương Thánh Dóng đã diệt được nhà Ân.

IMG_0008
Chùa Hữu Bằng ở xã Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Truyện kể tiếp: Người bản quốc tên là Thôi Lạng làm quan nhà Tần đến chức Ngự Sử Đại Phu thường đi ngang qua đấy, thương cảnh điêu tàn mới trùng tu miếu vũ lại, nhân đó có đề một bài thơ…
Sau đến đời Nhâm Ngao, Triệu Đà Nam xâm lại đóng quân ở núi này, lại trùng tu miếu mạo, cúng tế hậu hĩnh; Ân vương cảm đức, muốn đền công cho Thôi Lạng mới sai Ma Cô Tiên đi tìm khắp nơi. Lúc bấy giờ Thôi Lạng đã chết, chỉ còn con là Thôi Vỹ.
Sau khi kể qua thời Chu, đến thời Tần thì ta thấy xuất hiện nhân vật Ma Cô Tiên. Ma Cô Tiên tức là tiên nữ tên Ma Cô, là người của Địa phủ Ân Vương.
Tiết Thượng nguyên tháng Giêng, phương dân đi lễ đền, có người cúng một cặp bình pha lê. Ma Cô cầm lên tay ngắm nghía, bỗng bình rơi xuống đất, vỡ sứt một mảnh; người ta bắt Ma Cô lại đòi bồi thường; Ma Cô mặc áo rách, không ai biết là người tiên; họ mới lấy roi đánh. Thôi Vỹ thấy thế thương hại, cổi áo đền hộ nàng; Ma Cô được khỏi đánh, nhân đó hỏi đến chỗ ở của Thôi Vỹ; Thôi Vỹ nói đến tên cha thì nàng mới hay là con Thôi Lạng. Nàng mừng bảo rằng:
– Ta bây giờ không có lấy gì để đền ơn, sau này chàng sẽ được hậu báo.
Bèn đưa cho Thôi Vỹ một tấm lá ngài và dặn rằng:
– Hãy giữ lấy vật này cho cẩn thận, lúc nào cũng để trong mình, gặp bệnh nhục ảnh (thịt thừa) mà đem cứu tất khỏi, rồi thế nào cũng được giàu sang phú quý.
Tiên Ma Cô tìm gặp được Thôi Vỹ và bày cho anh ta phép thuật để được giàu sang phú quý. Phép thuật của Ma Cô Tiên giao cho Thôi Vỹ ở đây là phép chữa bệnh u bướu.
Ứng Huyền đem Thôi Vỹ sang nhà Nhâm Ngao; Thôi Vỹ lấy ngải ra cứu, cái nhọt lập tức lành ngay. Nhâm Ngao rất mừng, nuôi Vỹ làm con, mở trường để dạy Vỹ; tính Vỹ thông minh, ưa thích đàn cầm, thấy con gái Nhâm Ngao là Phương Dung mới đem lòng yêu dấu, nhân cùng nàng tư thông, tình ý quyến luyến; con Ngao là Nhâm Phu biết được, muốn làm cho Vỹ chết.
Nhờ có phép thuật của Ma Cô Tiên Thôi Vỹ đã được Nhâm Ngao nuôi dạy và còn tư thông với con gái của Nhâm Ngao.
Đoạn tiếp theo truyện kể việc Thôi Vỹ rơi xuống hang, gặp Ân Hậu rồi quay trở về.
… Bỗng thấy có một người râu dài, bụng to tiến lên dâng biểu, quỳ xuống mà tâu rằng: “Ngày mồng 3 tháng giêng, người phương Bắc là Nhâm Ngao đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”. Tâu xong, Hậu bèn nói: “Dương quan nhân hãy đưa Thôi công tử trở về trần thế”. Ân hậu tiễn khách quay vào. Dương quan nhân bèn bảo Vỹ nhắm mắt, ngồi lên vai mình. Hơn một khắc sau đã đến tới đỉnh núi. Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trên núi, nay con dê ấy còn ở sau đền Việt Vương trên núi Trâu.
Sau Vỹ về đến nhà Ứng Huyền thuật chuyện cho Ứng Huyền nghe. Đến ngày mồng một tháng Tám, Vỹ cùng với Huyền đi chơi thì gặp Ma Cô Tiên dắt một người con gái đem cho Vỹ, bảo đem về làm vợ chồng, lại cho hòn ngọc Long Toại, nói đó là ngọc châu, từ thuở trời đất mới khai tịch đã có một cặp trống mái từ đời Hoàng Đế trải đến đời Ân truyền làm thế bảo
Đây là lần thứ hai Ma Cô Tiên đã dắt gái đem cho Thôi Vỹ. Có lẽ chính từ sự tích này mà trong dân gian đã hình thành tên “ma cô” chỉ những người làm nghề mối lái, dắt gái.
Câu chuyện trên đầy màu sắc thần bí, tưởng như là hoang đường nhưng ở chính miền Trâu Sơn ấy nay vẫn còn những di tích lưu lại được, cho dù các vết tích đã bị tàn phá, hủy hoại rất nhiều.

Trieu Vu De o Huu Bang 2
Tượng Triệu Vũ Đế ở chùa Hữu Bằng.

Trước hết là ở chùa Hữu Bằng ở xã Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh hiện còn lưu giữ được một pho tượng gỗ Triệu Vũ Đế. Theo các sắc phong hiện còn lại ở bảo tàng Bắc Ninh thì toàn bộ khu vực xung quanh núi Trâu Sơn đều tôn Triệu Vũ Đế làm thành hoàng. Đây là bằng chứng hiện hữu về tục thờ Triệu Vũ Đế ở vùng núi Trâu Sơn, xác nhận chi tiết trong Truyện Giếng Việt về việc Triệu Đà và Nhâm Ngao đóng quân ở Trâu Sơn. Tượng Triệu Vũ Đế (và hoàng hậu) ở đây có thể chính là di vật còn lại từ ngôi đền thờ Triệu Việt Vương ở Trâu Sơn mà Truyện Giếng Việt nhắc đến.

IMG_9592Đình Châu Cầu.

Theo tư liệu của Bảo tàng Bắc Ninh, ở làng Châu Cầu của xã Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh hiện còn 12 trang thần tích về Triệu Đà và và nội dung 09 đạo sắc phong cho Thiên tiên Thánh mẫu đệ nhất cửu trùng công chúa. Trong làng Châu Cầu có một di tích cổ là chùa Cô Tiên. Ngôi chùa tuy mang cái tên rất “Nôm” na, nhưng đây lại từng là một ngôi chùa lớn có 99 gian, là một danh lam cổ tích, hiện còn lưu được những tấm bia từ thế kỷ 17-18.
Đặc biệt, theo tư liệu của Viện Hán Nôm thì chùa này có tên đầy đủ là Ma Cô Tiên 麻姑仙. Tên Ma Cô Tiên của chùa này xác nhận đây chính là di tích liên quan tới Truyện Giếng Việt về tiên nữ Ma Cô đã giúp Thôi Vỹ được vinh hoa phú quý thời Triệu Vũ Đế. Chùa này vốn là nơi thờ tiên Ma Cô, có từ rất lâu. Rất có thể Thiên tiên thánh mẫu ở làng Châu Cầu là vị Ma Cô Tiên này, vì rất hiếm khi gặp Mẫu Cửu trùng là thành hoàng một làng như ở đây và sự tích của làng không liên quan gì tới Mẫu Cửu trùng.

IMG_9634
Bia cổ ở chùa Cô Tiên.

Ma Cô là nhân vật trong thần thoại của Đạo giáo, sự tích về bà sớm xuất hiện trong tác phẩm Thần tiên kỷ của Cát Hồng. Điển tích về tiên nữ Ma Cô kể thời Hán Hoàn đế thần tiên Vương Viễn tự Phương Bình có hẹn cùng tiên nữ Ma Cô xuống nhà Thái Kinh dưới hạ giới để uống rượu. Trong bữa tiệc, Ma Cô tự mình nói với Phương Bình rằng: “Từ lần gặp gỡ trước đến nay, đã thấy Đông Hải ba lần biến thành đồng dâu, hướng đến đảo Bồng Lai thì lại thấy nước cạn đi so với trước, xem thời gian thì ước đoán đã cạn đi một nửa, lẽ nào lại sắp biến thành gò đống, lục địa ư?”. Phương Bình cười nói: “Thánh nhân đều nói, Đông Hải sắp sửa nổi lên thành cồn đất rồi đó!”.
Vì Ma Cô “đã thấy Đông Hải ba lần biến thành đồng dâu” cho nên người ta thường lấy Ma Cô ví với sự trường thọ.
Thành ngữ “bãi bể nương dâu” là từ câu nói trên của Ma Cô. So với sự tích về Ma Cô trong Truyện Giếng Việt thì ý nghĩa của thành ngữ này nay có thể hiểu khác. Đông Hải thời cổ của Trung Hoa chắc chắn chỉ biển Đông – vịnh Bắc Bộ ở Việt Nam. Còn hướng ra Bồng Lai tức là hướng ra vịnh Hạ Long, chốn tiên cảnh Bồng Lai của hạ giới. Đông Hải tương đương với Hải Dương, chỉ khu vực ven biển xưa của đồng bằng Bắc Bộ. Núi Trâu Sơn nằm giáp ngay với Chí Linh của tỉnh Hải Dương là chỗ này.
Tiên Ma Cô có từ thời Ân và xuất hiện lại vào thời nhà Hán. 3 lần “bãi bể thành nương dâu” như thế thực ra là chỉ 3 lần thay đổi triều đại trong lịch sử Trung Hoa: Ân Thương sang Chu, Chu sang Tần và Tần sang Hán (Triệu), như được nhắc tới đầy đủ trong Truyện Giếng Việt. Còn câu nói của Phật Phương Bình thời Hán Hoàn Đế: “Đông Hải sắp sửa nổi lên thành cồn đất rồi đó” ý chỉ triều đại lại sắp thay đổi một lần nữa.

IMG_9616
? Cô Tiên tự hậu phật bi ký.

Tiên Ma Cô không chỉ là biểu tượng của trường thọ mà còn là của sự phú quý, hạnh phúc mang đến những thứ quý giá như ngọc Long Tụy và hôn nhân hỷ sự. Tiên Ma Cô cũng là nhân chứng cho sự thay đổi, tiến hóa của lịch sử Việt – Trung Hoa trên miền đất ven biển Đông.