Từ thần tích làng Yên Phú bàn về khởi nghĩa Trưng Vương thời Tây Hán và các vị thủy thần dòng Lạc Long Quân ven sông Hồng

Bài tham luận trình bày tại hội thảo “Sư bà Phương Dung với đạo pháp và dân tộc” do Viện nghiên cứu tôn giáo tổ chức tại Hà Nội ngày 7/4/2021.

Làng Yên Phú, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội còn lưu giữ được một bản thần tích có nhan đề là: Phả chép về Một vị âm thần Thái hậu, Hai vị dương thần Đại vương triều Trưng Nữ Vương

Thần tích Yên Phú được Hàn lâm lễ viện Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính soạn dưới thời nhà Lê, niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572). Cuốn thần phả hiện lưu giữ tại chùa Yên Phú là bản chép tay trên giấy dó, được viết bởi một vị đạo sĩ trong xã vào năm Thánh Thái thứ 17 (1906), ghi theo bản chính lưu của bộ Lại nhà Lê năm Vĩnh Hựu thứ 6 (1740), chỉ sửa có 7 chữ.

Nghiên cứu kỹ lưỡng bản thần phả này và đối chiếu với các di tích, sự tích còn truyền tụng cho phép thu nhận thêm nhiều thông tin, đặc biệt về diễn biến lịch sử và văn hóa nước ta thời kỳ những năm trước Công nguyên. Bài viết sau tập trung tham luận về hai vấn đề: 

– Thứ nhất là thời điểm, thân thế và vai trò của Bà Phương Dung trước và trong cuộc khởi nghĩa Trưng Vương từ thần tích địa phương trong liên hệ với các thần tích nơi khác cùng thời. 

– Thứ hai là 2 vị thủy thần xuất thế Trung Vũ và Đài Liệu là những vị thần đã được thờ phụng tại khu vực Thanh Trì từ trước trong mối liên hệ với tín ngưỡng Thủy thần Lạc Long Quân của cả khu vực, mà cụ thể là dọc sông Hồng nơi đất Thăng Long xưa. 

I.    SƯ BÀ PHƯƠNG DUNG VÀ KHỞI NGHĨA TRƯNG VƯƠNG

Thời điểm của khởi nghĩa Trưng Vương qua thần tích ở Yên Phú

Thần tích làng Yên Phú chép về một vị thần nữ (âm thần) là bà Phương Dung, quê ở đạo Sơn Nam Hạ, năm 16 tuổi đã xuất gia đi tu cửa Phật tại chùa Thanh Vân, thuộc đất làng Yên Phú ngày nay. Khi Trưng Nữ Vương phất cờ khởi nghĩa, sư bà Phương Dung cùng 2 người con nuôi đã theo Trưng Vương làm tướng, đánh đuổi Tô Định, lập công trạng lớn.

Khám tượng thờ Hoàng bà Phương Dung tại đình Yên Phú

Thần tích Yên Phú ghi: Thời đó, có người Tô Định đem binh đến cõi, xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu tang thương không người cứu giúp. Đến khi có người cháu gái họ Hùng trước đây, tên là Trắc, vốn bậc hào kiệt trong giới nữ, là bậc đại thánh thần trên trần thế, dậy khởi oai hùng, dẫn binh đến đánh.

Đây là một thông tin hết sức lạ vì theo chính sử hiện nay, Trưng Vương khởi nghĩa đánh đuổi Tô Định vào năm 40 sau Công nguyên, dưới thời nhà Đông Hán. Còn thần tích ở Yên Phú lại kể Tô Định đem quân đến xâm chiếm nước Nam Việt của họ Triệu và Trưng Nữ Vương là dòng dõi các vua Hùng, đánh giặc Tô Định vào lúc này. Vị vua cuối cùng của nhà Triệu là Vệ Dương Vương, mất nước vào tay nhà Tây Hán năm 111 trước Công nguyên (TCN). Như thế thông tin của thần tích Yên Phú so với chính sử chênh lệch nhau tới 150 năm cho thời điểm của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương.

Thần tích của Yên Phú không phải là trường hợp duy nhất nói về khả năng khởi nghĩa của Trưng Vương nổ ra dưới thời Tây Hán. Một di tích được ghi nhận là nơi Trưng Vương chiêu quân tụ nghĩa là chùa Bối Linh ở làng Lâu Thượng, nay là xã Trưng Vương của thành phố Việt Trì. Bản Lâu Thượng thần tích ngọc phả cổ truyền chép:

Triệu Đà được quốc gia mà lên ngôi, cha truyền con nối được 5 đời thánh vương, trước sau cộng 149 năm. Tới khi Vệ Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Trăm họ điêu tàng, không người cứu giúp. Lúc bấy giờ có hai người cháu gái (thuộc chi trưởng đời thứ 24 của nhà Hùng), nàng cả là Ả Nương Công chúa, nàng hai là Bình Khôi Công chúa. Nàng cả húy là Trắc, nàng hai húy là Trong…

Còn cuốn ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh có tên Tản Lĩnh ngọc ký ở sách Tang Ma (Thanh Thủy, Phú Thọ) cũng có đoạn tương tự: [Triệu] Đà được quốc gia mà lên ngôi vào năm Bính Ngọ. Cha truyền con nối được 5 đời thánh vương. Trước sau cộng 149 năm. Tới khi Vệ Dương Vương nối truyền chính thống, ở ngôi được 1 năm thì có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm Trung Nguyên. Họ Triệu sớm bại vong, không người cứu giúp. Cho tới khi có người chắt gái của Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, bậc thánh thần trên trần thế, dấy nổi oai hùng, cất quân đến đánh.

Cũng như thần tích ở Yên Phú, ngọc phả về Tản Viên Sơn Thánh cho một thông tin tưởng chừng như không đúng: Trưng nữ, cháu gái cuar vua Hùng, khởi nghĩa ngay sau khi nhà Triệu nước Nam Việt bị diệt. Tuy nhiên, khi xem xét đầy đủ các di tích và ghi chép về cuộc khởi nghĩa của Trưng Vương thì thấy đây là một thông tin hết sức mới nhưng trung thực và chính xác.

Tóm tắt các sự kiện lịch sử nước ta thời kỳ Công nguyên như sau. Hùng Vương lập nước Văn Lang truyền quốc tới thời Hùng Duệ Vương thì nhường ngôi cho Thục Phán, hoặc bị quân Tần tấn công Lĩnh Nam chiếm đất nước. Một thời gian ngắn sau đó Triệu Đà, người Chân Định, nổi lên, đánh thắng vua Thục và quân Tần, lập ra nước Nam Việt. 

Nam Việt nhà Triệu truyền ngôi 5 đời đến Vệ Dương Vương lên kế vị mới được 1 năm thì nhà Tây Hán cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tấn công. Kinh đô Phiên Ngung thất thủ. Thừa tướng Lữ Gia đưa vua Vệ Dương Vương và cả hoàng tộc lên thuyền chạy về phía Tây. Lữ Gia tử nạn ở cửa biển thuộc đất Nam Định, hoặc chạy về đến vùng Trúc Viên (Sài Sơn) thì thất thủ. Nhà Triệu diệt vong, không người cứu giúp từ đó. Đó là năm 111 TCN.

Sử cũng chép tiếp rằng, ở vùng đất Phong Châu lúc này nổ ra một cuộc khởi nghĩa quy mô lớn, do một thủ lĩnh gọi là Tây Vu Vương cầm đầu, chống lại quân đội của Tây Hán. Tây Vu Vương ban đầu rõ ràng đã khởi nghĩa thành công, xưng là Vương vùng đất Tây Vu, đóng đô thành ở Cổ Loa. Khởi nghĩa Tây Vu Vương sau vài năm thì bị dập tắt. Nhà Tây Hán lấy đất Nam Việt cũ chia thành 9 quận, 7 quận trong đó sau lập thành Giao Châu. Thạch Đái, Nhâm Diên, Tích Quang, Đặng Nhượng là những thái thú, thứ sử Giao Châu đầu tiên được sử sách nhắc tới, với công đức tốt đẹp là giáo hóa nhân dân, truyền bá chữ viết.

Năm 9 sau Công nguyên, Tây Hán bị một ngoại thích là Vương Mãng soán ngôi, đổi thành nhà Tân. Các thái thú và thứ sử Giao Châu vẫn tiếp tục làm quan cho Vương Mãng. Khi Đông Hán là Lưu Tú diệt nhà Tân, chiếm Giao Châu thì từ đó chế độ cai trị của Hán Quang Vũ ở Giao Châu trở nên vô cùng hà khắc. Từ đó dẫn đến cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng vào năm 40. 

Điểm lại suốt các sự kiện của thời kỳ này thì rõ ràng thấy, cuộc khởi nghĩa do con cháu Hùng Vương dấy lên ngay sau khi nhà Triệu Nam Việt mất thì phải là khởi nghĩa của Tây Vu Vương. Chính sử có rất ít ghi chép về Tây Vu Vương, nhưng các thần tích đã có thể bổ sung nhiều thông tin cho cuộc khởi nghĩa này khi nhận ra khởi nghĩa của Trưng Vương được chép là thông tin về khởi nghĩa của Tây Vu Vương thời Tây Hán trước Tây lịch.

Tại xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên (Vĩnh Phúc) có tục thờ Thánh Mẫu và năm anh em chàng Vịt. Câu chuyện này tóm tắt như sau. Bà Triệu Thị Khoan Hòa là vợ của Triệu Vệ Dương Vương, chạy lánh nạn về ở chùa Quảng Hựu tại Thanh Lãng. Một đêm bà nằm mơ thấy một người kỳ dị, sau đó sinh được 5 quả trứng, nở ra 5 anh em trai có tài bơi lội, nên gọi là 5 chàng Vịt. Các chàng trai này lớn lên đầu quân cho Trưng Vương, tham gia đánh trận trên sông Nguyệt Đức, phá Tô Định. Khi Nhị Trưng Vương hy sinh, 5 anh em chàng Vịt đã xông pha đem được thi hài của các nữ vương về táng ở Hy Cương.

Đền Thánh Mẫu Triệu Thị Khoan Hòa ở Thanh Lãng

Câu đối ở đền Thánh Mẫu tại Thanh Lãng:

青朗寺生神北同簡狄南同粤
白藤江破賊母為陽王子為徵

Thanh Lãng tự sinh thần, Bắc đồng Giản Địch Nam đồng Việt
Bạch Đằng giang phá tặc, mẫu vị Dương Vương tử vị Trưng.

Dịch:

Chùa Thanh Lãng sinh thần, Bắc tựa Giản Địch, Nam tựa Việt
Sông Bạch Đằng phá giặc, mẹ vì Dương Vương, con vì Trưng.

Giản Địch là tổ của nhà Thương trong tích “chim huyền điểu sinh Thương”. Vế đối đầu muốn nói tới việc bà Triệu Thị Khoan Hòa sinh trứng nở ra 5 chàng Vịt như bà Giản Địch, hay như truyền thuyết Việt về Âu Cơ sinh bọc trăm trứng.

Chỗ khó hiểu của câu đối trên là ở vế thứ hai. Thời Trưng Vương thì phá giặc trên “sông Bạch Đằng” lúc nào? Vấn đề quan trọng hơn, bà Triệu Thị Khoan Hòa là cung phi hay hoàng hậu của Triệu Vệ Dương Vương từ năm 111 TCN. Còn khởi nghĩa Hai Bà Trưng lại nổ ra vào năm 40 sau Công nguyên. Tính ra giữa 2 việc này có đến trên 150 năm. Làm sao có thể “mẹ vì Dương Vương, con vì Trưng” được?

Truyền tích về Thánh mẫu Triệu Thị Khoan Hòa và năm anh em chàng Vịt mang đến một suy nghĩ bất ngờ. Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương không phải xảy ra vào những năm 40 dưới thời Đông Hán, mà là ngay sau thất bại của nhà Triệu Nam Việt, thời Tây Hán. Ý tưởng này nghe thật vô lý, nhưng có lẽ lại là hợp lý nhất trong chuyện về Trưng Vương, giải đáp và gắn kết được phần lớn những di tích, truyền thuyết còn lại trong dân gian với sử sách.

GS. Vũ Ngọc Khánh trong cuốn Đạo Thánh ở Việt Nam cho biết Thánh bà Ả Lã Nàng Đê là con gái của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu Nam Việt, đã giúp Trưng Vương đánh giặc Hán. Theo thần tích đình Đại Mỗ thuộc huyện Từ Liêm thì Ả Lã Nàng Đê là con gái tể tướng Lữ Gia quê ở Thiên Phúc, huyện An Sơn. Cuối thời Triệu, vua tôi nhà Hán muốn thôn tính Nam Việt, thừa tướng Lữ Gia đã chỉ huy quân sĩ giết giặc xâm lược là Hàn Thiên Thu. Mua chuộc không được, Hán Võ Đế sai tướng Bác Đức và Dương Phác đem quân xâm lược nước ta. Tướng Lữ Gia tổ chức kháng chiến chống lại, sau bị giặc bắt và sát hại. Ả Lã Nàng Đê đến tuổi trưởng thành, tiếp thu tinh thần của cha, đã đứng ra chiêu mộ dân binh, tụ nghĩa ở sông Hát cùng Hai Bà Trưng. Sau Ả Lã Nàng Đê được Hai Bà Trưng ban tước lộc và cho về lập ấp luyện quân ở cửa sông Đáy. Ba năm sau Mã Viện đem quân tiến đánh, Ả Lã Nàng Đê tham gia chiến đấu trận Lãng Bạc và Cấm Khê, cuối cùng bà trầm mình ở sông Hát.

Thần tích Đại Mỗ một lần nữa cho thấy mối liên quan trực tiếp giữa khởi nghĩa Trưng Vương với nhà Triệu Nam Việt, mà con gái của Thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu là Ả Lã, là một trong những người cầm đầu của cuộc nổi dậy ở Phong Châu thời Tây Hán. Ả Lã là vị thần được thờ ở nhiều nơi nhất trong số các nữ tướng thời Trưng Vương. Thậm chí ở làng Nại Xá (xã Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Nội), là miếu thờ ông Thi Sách, thần tích còn cho biết Trưng Vương có tên thời con gái là Ả Lã Nàng Đê.

Ban thờ Triệu Mỵ Nương và bà Phạm Tĩnh ở chùa Nôm

Ở Hưng Yên có đình Đại Đồng (Văn Lâm) hay còn gọi là đình Nôm, thờ vị thành hoàng là đức thánh Tam Giang thời Hai Bà Trưng. Đặc biệt là vị đại tướng của Trưng Vương này theo thần tích lại lấy vợ là cháu gái Triệu Đà. Hiện đình Nôm thờ đức thánh Tam Giang, còn bà mẹ Phạm Tĩnh và vợ ông là Triệu Mỵ Nương được thờ tại chùa Nôm.

Ở Hưng Yên còn một di tích là đình và đền thôn Thượng Bùi ở xã Trung Hòa, Yên Mỹ. Thần tích kể về vị tướng thống lĩnh nội vệ của Trưng Vương là Nguyệt Nga công chúa, nhưng bố của Nguyệt Nga là Phạm Cầu, làm đến chức Thái phó ở đời Triệu Ai Vương. 

Một trong những nữ tướng nổi danh nhất của Hai Bà Trưng là Thánh Thiên công chúa, nay còn đền thờ ở thôn Ngọc Lâm (Tân Mỹ, TP. Bắc Giang). Thần tích đền Ngọc Lâm cho biết thân phụ của Thánh Thiên là Nguyễn Huyến, vốn là một vị quan nhà Triệu ở Kinh Môn, Hải Dương. Sau khi cha mất Thánh Thiên đã cùng với cậu của mình khởi nghĩa ở vùng Yên Dũng – Bắc Giang, sau đó về tụ nghĩa với Hai Bà Trưng.

Chưa thể khảo sát hết các thần tích về các vị tướng thời Hai Bà Trưng mà lại có liên quan trực tiếp đến nhà Triệu Nam Việt, nhưng vài ví dụ ở trên cũng đã đủ để khẳng định, tại miền Bắc Việt đã có một cuộc khởi nghĩa nổ ra dưới thời Tây Hán, mà người cầm đầu là con cháu của họ Lữ của thừa tướng Lữ Gia nhà Triệu. Thư tịch Trung Hoa gọi là khởi nghĩa của Tây Vu Vương. Còn các thần tích ngọc phả của Việt Nam gọi là khởi nghĩa của Trưng Vương. Thời điểm nổ ra cuộc khởi nghĩa này khoảng năm 110 trước Công nguyên và kéo dài nhiều năm sau đó.

Vai trò của Hoàng bà Phương Dung trong khởi nghĩa Trưng Vương

Làng Yên Phú còn lưu giữ được 23 sắc phong của thời Hậu Lê và thời Nguyễn. Trong đó có 18 sắc phong thời Lê từ niên hiệu Dương Hòa thứ 5 (1639) đến niên hiệu Cảnh Hưng thứ 44 (1783) sắc cho Hoàng bà Phương Dung.5 sắc phong thời Nguyễn từ niên hiệu Tự Đức thứ 6 (1853) đến niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) cho 2 vị tôn thần Trung Vũ và Đài Liệu.

Theo sắc phong sớm nhất là sắc phong năm Dương Hòa thứ 5 (1639) thì nguyên tên gọi của bà Phương Dung là: Khâm từ Hoàng Thái hậu Hoàng bà Thái phó Tả giai dự hiến Vương thượng vị. Tên gọi này được duy trì trong tất cả các sắc phong về sau cho đến hết thời Lê. Điều rõ ràng rằng tên gọi trên không phải là những “mĩ tự” được sắc phong gia tặng cho thần sau khi hóa, mà là chức vị của bà Phương Dung lúc còn sống.

Thần tích Yên Phú chỉ ghi bà Phương Dung tham gia khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, được phong là Công chúa. Sau khi đánh đuổi được giặc thì bà cùng với 2 người con nuôi được ban phong trở về nơi cư trú. Tuy nhiên, sắc phong lưu giữ tại Yên Phú cho biết bà Phương Dung là Hoàng Thái hậu – Hoàng bà Thái phó – Tả giai dự hiến – Vương thượng vị. Cụ thể về ý nghĩa của những chức sắc này xin được bàn dưới đây.

Hàng loạt từ “Hoàng Thái hậu”, “Hoàng bà”, “Vương thượng vị” trong sắc phong cho thấy bà Phương Dung là người trong hoàng tộc của cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Như phần trên đã phân tích, hoàng tộc của Trưng Vương lúc này là người của 2 họ Triệu (của vua Nam Việt) và họ Lữ (của thừa tướng Lữ Gia). Thần tích Yên Phú cũng có nhan đề: “Phả chép về Một vị âm thần Thái hậu”, càng khẳng định hơn vị trí trong hoàng tộc Trưng Vương của bà Phương Dung.

Sắc phong ở Yên Phú cho bà Phương Dung cho biết bà là Thái phó, Tả giai dự hiến, Vương thượng vị. Thái phó là chức vị thứ nhì trong hàng Tam công, gồm Thái sư, Thái phó, Thái bảo thời phong kiến. “Tả giai dự hiến” cũng là một chức vụ rất cao trong triều đình, tương đương với Tả thừa tướng, là một trong những rường cột của nước nhà (ý của chữ “giai”) và tham dự vào chính sự quốc gia (dự hiến). Vị trí “tả giai” là vị trí còn quan trọng hơn “hữu giai”, vì theo thứ tự xưa tả là vị trí cao hơn “hữu”. “Vương thượng vị” có thể cũng chỉ chức vụ đứng vào hàng đầu trong triều đình, như chức Thượng công.

Theo sử sách thì Trưng Vương sau khi đánh đuổi được Tô Định thì lên ngôi xưng vương, cai quản đất nước trong ba năm. Khi đã lên ngôi xưng vương thì chắc chắn đã phải thiết lập triều đình một cách quy củ có trên dưới. Với thân phận là người trong hoàng thất, có công lớn trong cuộc khởi nghĩa dẹp giặc, bà Phương Dung đã giữ một vị trí tương đương với Tướng quốc, đứng đầu văn võ bá quan trong triều đình Trưng Vương.

Điều đặc biệt khác rút ra được khi nghiên cứu các sắc phong cho Thái hậu Phương Dung là trong tên phong trên sắc ngoài bà Phương Dung còn có 2 người nữa. Đó là:

–    Trương thị công hầu Thượng phẩm phán thú hầu Điều Quý Công 

–    Điều Quý Nương.

Cụm từ “Trương thị” – họ Trương cho thấy đây không phải là tên gọi hay mĩ tự được phong, mà là tên riêng chỉ người. Trong khi đó, thần tích Yên Phú cho biết: 

Ở làng Lưu Hàm, huyện Thượng Hiền, phủ Nghĩa Hưng, đạo Sơn Nam Hạ có ông Trương Công Điều (tên húy là Điều) là người được kế thừa tập ấm, lấy vợ là Phùng Thị, tên húy là Huệ, vốn là người cùng quận, dòng dõi trâm anh nức tiếng đã lâu, cũng là chỗ môn đăng hậu đối. Ông bà đã sinh mấy người con trai, sau này sinh thêm con gái đặt tên là Phương Dung.”

Theo thần tích bố của bà Phương Dung có tên là Trương công Điều, mẹ là Phùng thị Huệ. Rõ ràng, tên trên sắc phong chính là tên bố và mẹ của bà Phương Dung. Trong đó ông Trương công Điều có tước phong là “Thượng phẩm phán thú hầu”. Tước “hầu” là một tước vị khá lớn, chỉ sau tước “công” trong bộ máy phong kiến xưa. Chữ phán 判 chỉ sự xét xử. Chữ thú ở sắc phong ghi là 獸. Tuy nhiên, khả năng phải là chữ 守với nghĩa là coi giữ thì mới hợp lý. “Thượng phẩm phán thú hầu” có thể hiểu là vị hầu tước đứng đầu phụ trách việc xét xử trong triều đình, hay ngày nay nôm na gọi là “Thẩm phán tòa án tối cao”.

Sắc phong thời Lê ở Yên Phú như vậy phong tặng mĩ tự không chỉ cho Hoàng bà Phương Dung mà còn cho bố và mẹ của bà. Mĩ tự dài nhất phong cho ông Trương công là trong sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783): Trương thị công hầu Thượng phẩm Phán thú Anh hùng Vũ dũng Cương nghị Trung chính Linh thông Bác đạt Điều Quý Công. Mĩ tự này là những mĩ tự dùng phong tặng cho một vị quan võ.

Mẹ của bà Phương Dung được sắc phong gọi theo tên của chồng là Điều Quý Nương. Mĩ tự dài nhất được phong cho bà mẹ là trong sắc phong niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 44 (1783): Phù tộ Hợp nghi Đoan mục Gia huệ Thuận mỹ Điều Quý Nương.

Việc sắc phong cho cả bố và mẹ của Hoàng bà Phương Dung càng củng cố thêm giả thuyết rằng bà Phương Dung có xuất thân là người trong hoàng tộc. Rất có thể ông Trương công Điều, một vị quan lớn trong triều đình, là người trong họ với Trưng Vương (có liên hệ Trương – Trưng).

Về nơi thờ Hoàng bà Phương Dung, ở Yên Phú trong đình làng có khám thờ và tượng của bà. Bên cạnh đình còn có một phủ bà, trong cung thờ Hoàng bà Phương Dung với tượng khá đẹp. Phủ này tuy nhiên đã bị “tứ phủ hóa” thành miếu Hai cô.

Cung thờ Thánh mẫu Phương Dung ở Phủ Bà (miếu Hai cô)

Như vậy, qua phân tích các tên gọi trong sắc phong ở Yên Phú có thể nhận định Thái hậu Phương Dung vốn là người trong vương thất của nhà Triệu nước Nam Việt. Khi Nam Việt bị nhà Tây Hán tấn công, bà Phương Dung đã về vùng đất Thanh Trì đi tu ẩn mình ở ngôi chùa cổ Thanh Vân, chờ cơ hội báo quốc. Đến khi Trưng nữ phất cờ khởi nghĩa ở đất Tây Vu – Phong Châu, bà Phương Dung lại hội quân tham gia cùng với Trưng Vương và trở thành một trong những đại thần bậc nhất của Trưng triều. Lịch sử thật sự của cuộc khởi nghĩa của hậu quân nước Nam Việt đã được ẩn giấu trong các di tích, sắc phong, tín ngưỡng của người dân Việt trên khắp vùng miền Bắc Việt ngày nay.

II.    HAI VỊ THỦY THẦN Ở YÊN PHÚ TRONG MỐI LIÊN HỆ VỚI TÍN NGƯỠNG THỜ THẦN RỒNG LINH LANG 

Thần tích Yên Phú kể, sư bà Phương Dung lúc tu ở chùa Thanh Vân (Yên Phú, Thanh Trì) đêm nằm mơ thấy có Thủy quan báo mộng, sáng ra sông Tô Lịch nhặt được 2 quả trứng, đem về chùa nở thành 2 vị thủy thần đầu người thân rắn. Hai vị thủy thần nói với các phụ lão trong làng rằng:

Anh em chúng ta vốn là thủy thần mà các ông thờ phụng lâu nay, một người tên là Trung Vũ, một người tên là Đài Liệu. Nay phụng mệnh Thiên đình giáng sinh để giúp đỡ cho đất nước.

2 vị thủy thần xuất thế Trung Vũ và Đài Liệu là những vị thần đã được thờ phụng tại khu vực Thanh Trì từ lâu, trước thời Trưng Vương. Trước thời Trưng Vương tức là thời kỳ Hùng Vương, mà bản thân Trưng nữ là cháu gái dòng dõi của của vua Hùng. 

Khám tượng thờ Trung Vũ và Đài Liệu

Ở phần mở đầu của thần tích Yên Phú, cũng như trong các ngọc phả thời Hùng Vương, đều ghi chuyện Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra trăm trai, rồi chia 50 con theo cha xuống biển là Thủy thần, cai quản nguồn sông, góc biển. 50 con theo mẹ về núi làm Sơn thần, cai quản các ngọn núi và ruộng đồng. Như vậy, các vị “thủy thần” trong các thần tích thực ra chính là những người con đất Việt đã theo cha Rồng Lạc Long Quân xuống khai phá, cai quản vùng sông biển. Đây hoàn toàn không phải là các “nhiên thần” (thần có nguồn gốc từ các vật thể tự nhiên), mà là nhân vật lịch sử thực sự đã được “thần thánh hóa” hoặc là những hình tượng đại diện cho bộ phận người Việt đã tiến ra miền ven biển Đông của thời mở nước.

Đình Yên Phú

Trưng Nữ Vương khi phất cờ khởi nghĩa đã lập tế đàn cầu khấn bách thần tại cửa sông Hát Môn, đọc lời thề trừ tàn diệt giặc, khôi phục tông miếu, cứu vớt nhân dân, nguyện mong thần linh chứng giám. Khi đó, hai vị thủy thần Trung Vũ và Đài Liệu cùng với mẹ nuôi là sư bà Phương Dung đã đến tụ quân với Trưng Vương như một sự ứng nghiệm của thần linh. Hai vị được phong là Tả, Hữu tướng quân, dẫn binh đánh đuổi Tô Định. Đại công cáo thành, hai thần trở về bản quán ở Thanh Trì, xây sửa lại miếu điện…

Đôi câu đối ở nghi môn đình Yên Phú:

二氣良能扶國攻勳千古仰
一誠可格庇民事業萬年芳

Nhị khí lương năng, phù quốc công huân thiên cổ ngưỡng
Nhất thành khả cách, tí dân sự nghiệp vạn niên phương.

Dịch nghĩa:

Hai khí tốt lành, công danh giúp nước nghìn năm ngưỡng
Một lòng cảm cách, sự nghiệp hộ dân vạn thế thơm.

Bên cạnh công lao đánh giặc, đúng với vai trò của “Thủy thần”, hai vị Trung Vũ và Đài Liệu còn có công cầu mưa cứu hạn, được nhân dân trong vùng Thanh Trì hết sức kính phục. Sự tích truyền khẩu ở Yên Phú (được chép trong bản khai thần tích – thần sắc năm 1938 của làng Yên Phú) còn kể, khi đê ở Giầy Kẻ bị sạt vỡ, 2 vị đã hóa thân thành 2 ông rắn nằm ngăn nước để dân đắp, hộ được đê. Lúc hộ đê 1 ông bị đứt một tí đuôi, nên có hèm là Cụt.

Đê Kẻ Giầy được truyền khẩu là đê sông Hồng ở vùng Yên Phụ. Thông tin này là một đầu mối quan trọng để lần lại gốc tích và ý nghĩa lịch sử của nhị vị thủy thần của làng Yên Phú.

Khảo sát khu vực Yên Phụ thì những vị thủy thần đã hộ đê Yên Phụ là những vị thần được phong xung quanh hồ Tây. Trong số đó, có sự tích 2 vị thủy thần ở làng Hồ Khẩu là rất tương đồng với thần tích ở Yên Phú. Thần tích các vị nam thần làng Hồ Khẩu như sau:

“Xưa, vào đời Hùng Vương, ở động Đản Thánh, châu Bố Chính có ông Lê Quốc Công húy là Tín Phệ, làm quan trong triều…Ông cùng với phu nhân cầu tự ở đền Đông Hải Vương. Một hôm phu nhân du chơi Hồ Tây, thấy một con cá chép vẩy đỏ lấp lánh, đùa rỡn sóng nước. Trong lòng cảm động mà có thai. Đến khi mang thai đủ tháng, nằm mơ thấy có hai người mũ áo chỉnh tề, tới chắp tay nói rằng:

–  Chúng thần là ở bộ Lễ Long cung, vâng sắc mệnh đầu thai.

Phu nhân giật mình tỉnh giấc, bỗng thấy trời đất mù mịt, mưa gió ập tới, trong phòng hương thơm tỏa khắp, mây lành rực rỡ, sinh hạ được một bọc hai người con trai.

Ông liền theo giấc mộng đặt tên cho người con trưởng là Cống Lễ, người con thứ là Cá Lễ. Cống Lễ sinh ra đã cao 9 thước, tướng mạo đường hoàng. Cá Lễ sinh ra hàm én râu hổ, tay dài quá gối. Đều là bậc anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, tài năng xuất chúng, sức nâng đỉnh bạt núi.

Duệ Vương lên ngôi, xuống chiếu tìm người có học vấn quảng bác, văn võ toàn tài. Hai ông liền ra ứng tuyển. Vua thấy nơi gần hai ông đứng có gió mát thổi quanh người. Vua biết là thủy thần xuất thế, bèn cùng cho nhận chức thị tòng.

Bấy giờ… Thục Vương bèn đem quân sang xâm chiếm. Vua bèn lệnh cho hai ông chỉ huy thủy quân (ông Cống Lễ làm Tả chưởng quản, ông Cá Lễ làm Hữu chưởng quản), lãnh ấn đại tướng quân ra sông Bạch Đằng nghênh địch…

Ngày khải hoàn, thuyền đến bên sông Tô Lịch, chợt trời đất tối sầm, gió thổi sóng cuồn cuộn, ánh cầu vồng đỏ như thép luyện từ trên trời chiếu thẳng vào thuyền. Hai ông bèn buộc lại mũ đai, hướng về cửa thành bái mệnh. Trong chốc lát, bay lên trời mà hóa…

Vào những năm Vĩnh Thọ triều nhà Lê, vỡ đê phường Yên Phụ. Cứ đắp lại đến đâu lại bị nước đánh trôi đến đó. Triều đình sai quan đến đền của hai vương cầu đảo. Lũ lụt mới tạm dừng. Bèn gia phong hai chữ Hiển ứng Uy linh.” 

2 vị thủy thần sinh ra có báo mộng hình cá chép đỏ, sinh cùng một bọc trứng, tướng mạo dị thường, khi đánh giặc được phong làm Tả Hữu chưởng quản, khi hóa về sông Tô Lịch, hiển linh thời Lê hộ đê Yên Phụ. Những chi tiết này hoàn toàn khớp với 2 vị thủy thần Trung Vũ và Đài Liệu ở làng Yên Phú.

Các vị thủy thần Hồ Tây theo ghi chép của các thần tích từng làng ven hồ thì đã có nhiều lần giáng thế. Như tại đình Tây Hồ, địa phương đã có nhận định: Uy Linh Lang là thủy thần là con trưởng của Lạc Long Quân theo cha xuống biển trấn trị khai thác sông biển lãnh đạo muôn dân xây dựng cuộc sống phồn thịnh. Ngay từ đầu thời Hùng Vương, Thần đã hóa thành bảy con rồng bay lên trời; làng Nhật Chiêu đã trồng bảy cây gạo để ghi dấu sự kiện này. Đình ấp Tây Hồ xưa kia chính là đền thờ Ngài.

Đến thời Hùng Vương thứ 18, Thần lại đầu thai làm con Lạc Hầu Lê Quốc Tín và bà Thục Nương, người phường Hồ Khẩu là Cống Lễ và Cá Lễ. Hai ông được vua Hùng thứ 18 phong là Tả Hữu chưởng quan chỉ huy giúp nhà vua dẹp giặc. Sau đó hóa đi về Thủy Quốc, nhà vua nhớ công ơn hai ông ban cho sắc phong, lập đền thờ nay là đền Vệ Quốc và đền Dực Thánh thuộc phường Bưởi.

Đến thời Lý Nam Đế thần nhân hóa thành Bảo Trung, Minh Khiết để giúp vua chống giặc ngoại xâm, trồng dâu, nuôi tằm, dệt lụa nên Châu Xuyên Bảo gồm các làng: Nội Châu, Ngoại Châu, Vạn Châu, Xuyên Châu thuộc phường Tứ Liên đều có đình để phụng thờ.

Thời Lý thần nhân hóa thành Thái tử Hoàng Lang con vua Lý Thái Tông giúp vua đánh giặc Chiêm Thành. Năm Đinh Tỵ Thái tử lại giúp vua Lý Thánh Tông đánh bại quân Tống tại sông Phả Lại và sông Cầu, đất nước trở lại thanh bình, Quốc gia hưng thịnh.Ngày 12 tháng 2 âm lịch, Thái tử không bệnh mà hóa, có thuyết lại nói Thái Tử bị bệnh đậu mùa rồi hóa thành con rắn khổng lồ chui xuống hồ Tây. Nhà vua biết tin vô cùng thương tiếc phong là Linh Lang đại vương cho lập đền thờ ở Voi Phục.

Thời Trần thần nhân hóa thành Hoàng tử thứ 7 con vua Trần Nhân Tông để giúp vua đánh giặc Chiêm Thành và giặc Nguyên xâm lược. Sau khi khải hoàn trở về Hoàng tử không nhận tước thưởng lui về tu thiền ở chùa Vân Hồ. Triều đình luận công phong thưởng phong là Dâm Đàm Đại Vương được thờ ở đình Tây Hồ, sau đó là các đình Nhật Tân, Yên Phụ, Yên Trì.

Vị trí một số nơi thờ thủy thần Uy Linh Lang ven Thăng Long – Hà Nội

Vị thần Dâm Đàm Đại vương (thủy thần Hồ Tây) là Uy Linh Lang, được thờ ở các làng Yên Phụ, Nghi Tàm, Quảng Bá, Nhật Tân, là vị thủy thần trong dòng Lạc Long Quân đã có công đánh giặc và hộ đê Yên Phụ. Sự tích kể Uy Linh Lang sinh ra trong bọc trứng, nở thành 7 con rồng bay trên sông Nhị ở điện Nhật Chiêu, đánh giặc rồi hóa thần ở làng Yên Phụ.

Ngoài khu vực hồ Tây, cả dải sông Hồng từ Nhật Tân đến Lý Nhân (Hà Nam) rải rác có nhiều đền thờ Uy Linh Lang. Đình Thanh Trì là đình của làng Thanh Trì, trung tâm của huyện Thanh Trì xưa, cũng thờ Uy Linh Lang. Hay đình đền Lưu Phái (xã Ngũ Hiệp) cùng huyện Thanh Trì cũng là nơi thờ Uy Linh Lang. Thanh Trì xưa vốn có tên là Thanh Đàm, hay từ xa xưa là Long Đàm. Đây là đầm rồng, nơi có vị Rồng Uy Linh Lang làm thần chủ.

Nơi thờ Uy Linh Lang bên sông Hồng gần với làng Yên Phú là làng Xâm Dương (xã Đại Lộ) và làng Xâm Hồ (xã Vân Tảo) nay thuộc huyện Thường Tín. Đây là những di tích nằm trong khu vực tín ngưỡng thờ của Thoải phủ với đền Dầm là trung tâm thờ Mẫu Thoải nằm ở Xâm Dương. Mẫu Thoải được biết là vợ của vua Kinh Dương Vương, có tên là Xích Lân Long Nữ Động Đình Thủy Tinh Công chúa. Bà là người sinh ra Lạc Long Quân. 

Có thể thấy hệ thống thờ các thủy thần gắn với sự tích của Uy Linh Lang từ thời Lạc Long Quân và Long Nữ Động Đình nằm ven sông Hồng ở đoạn qua Thăng Long (Hà Nội). Đây là một dẫn chứng khác bổ sung cho lời chép trong các thần tích và ngọc phả rằng, các Thủy thần là dòng những người con đã theo Lạc Long Quân đi cai quản vùng sông biển. Những vị thủy thần này do đó được hình tượng hóa trong hình dáng của Rồng (thân rắn có vảy…) với nhiều lần giáng sinh ở các triều đại khác nhau.
Đôi câu đối cổ ở đình Yên Phú ca ngợi các vị thần thờ tại đây:

降生持近玄王蹟
掃患相傳夏禹功

Giáng sinh trì cận Huyền Vương tích
Tảo hoạn tương truyền Hạ Vũ công.

Dịch nghĩa:

Giáng sinh gần với tích Huyền Vương
Trừ nạn tương truyền công Hạ Vũ.
 

Tiền tế đình Yên Phú và đôi câu đối cổ

Vế đối đầu so sánh chuyện 2 vị Trung Vũ và Đài Liệu giáng sinh trong trứng, có đầu người thân rắn, mình có vảy, giống như sự tích Huyền Đế Chuyên Húc hóa thành “ngư phụ” được ghi trong Sơn Hải Kinh – Đại Hoang Tây Kinh. Vế đối sau nói tới công lao hộ đê giúp dân, sánh với công nghiệp của vua Đại Vũ nhà Hạ trong cổ sử Trung Hoa.

Như vậy, hai vị là Thủy thần tức là dòng dõi Lạc Long Quân, mở cõi nơi đất Thăng Long vùng ven bờ sông Nhị xưa, qua ngàn năm vẫn được phản ánh trong tín ngưỡng văn hóa, cũng như ghi chép lại trong các thần tích, hương khói thờ phụng ở đình chùa đền miếu. Hai vị là thần bản thổ linh ứng chống ngoại xâm và lũ lụt đi cùng chiều dài lịch sử dân tộc hàng ngàn năm. Cũng như rất nhiều vị thần thành hoàng làng khác trên cả miền đất cổ, họ đều là những bậc tiền nhân có công lao mở đất, phù trợ muôn đời cho con cháu, bao đời nay vẫn được ngưỡng vọng phụng thờ./.

Linh thần của kim thạch

Hùng Vương Thánh tổ ngọc phả kể người cầm đầu quân đội nhà Ân kéo sang nước ta là Thạch Linh thần tướng. Trận chiến giữa Thánh Dóng với Thạch Linh thần tướng diễn ra dưới chân núi Châu Sơn (núi Vũ Ninh) và tướng Ân đã tử trận.

Trong hội Dóng làng Phù Đổng, có bài hát:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương

Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung

Xâm cương cậy thế khoe hùng

Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Bài ca dao và lễ hội Phù Đổng cho biết, tướng Ân là nữ. Vậy Thạch Linh thần tướng ở núi Vũ Ninh cũng chính là nữ tướng Ân. 

Thời nhà Ân các nữ tướng cầm quân ra trận cũng thường cũng là vợ vua Ân. Điển hình là nữ tướng Phụ Hảo nổi tiếng dưới thời Ân Vũ Đinh đã cầm quân đánh các nước như Khương Phương, Ba Phương, Thổ Phương…

(Nhân đây bàn thêm, sử ghi Vũ Đinh đánh nước Quỷ Phương, nhưng lại ghi Phụ Hảo đánh nước Khương Phương. Như thế Khương và Quỷ là 2 từ cùng dùng để chỉ 1 phương hướng. Ở đây là hướng Tây vì ta biết người Khương ở phía Tây. Thực ra Khương hay Khăng là tính chất của phương Tây. Quỷ là đọc sai của Cửu, con số chỉ hướng Tây của Hà thư. Vũ Đinh đánh nước Quỷ Phương là nước của người Khương ở hướng Tây nhà Ân, chứ không có nước “Xích Quỷ” nào vào thời này cả.)

Mộ Phụ Hảo là ngôi mộ lớn của thời Ân Thương, được phát hiện ở thôn Tiểu Đồn, huyện An Dương tỉnh Hà Nam, Trung Quốc. Ngôi mộ của vị nữ chúa này có một lượng đồ tùy táng lớn gồm các đồ đồng, ngọc, gốm, xương ngà, mã não, pha lê. Các hiện vật đồ đồng rất phong phú trong mộ cho biết Phụ Hảo còn có “miếu hiệu” là Mẫu Tân, căn cứ vào dòng chữ khắc trên một chiếc đỉnh và các đồ minh khí bồi táng kèm theo.

Một đồ đồng bồi táng mang tên Mẫu Tân cũng được thấy ở Việt Nam. Đó là một chiếc quang (dạng cốc đựng rượu có 4 chân) có hình con Dê với cặp sừng cong cuộn. Xung quanh chiếc quang được đúc trang trí bằng những hoa văn rồng phượng kỳ lạ, đặc trưng của văn hóa thời Ân Thương.

Chiếc Dương quang thời Ân Thương. Hiện vật sưu tầm của Nhóm Đền miếu Việt

Bên dưới chiếc “dương quang” này có dòng chữ đúc chìm, mà thường được đọc là Tư Mẫu Tân 司母辛 và được giải nghĩa là “Dành tế Mẫu Tân”. Cách đọc này tương tự như trên chiếc đỉnh lớn nhất thời Thương đã được phát hiện, với chữ Tư Mẫu Mậu 司母戊. Trong đó chữ cuối cùng là tên một trong thập can, là cách dùng thời Ân Thương để gọi các vị vua (như các tên của Vũ Đinh, Đế Tân).

Tuy nhiên thứ tự đọc này không đúng với nguyên tắc đọc của chữ Nho, từ phải sang trái, từ trên xuống dưới. Thứ tự đọc theo nguyên tắc này phải là Mẫu Tư Mậu hoặc Mẫu Tư Tân. Vấn đề là khi đó chữ Tư (nghĩa là quản lý) sẽ trở nên vô nghĩa khi ghép với tên của một can.

Ở vùng Vĩnh Phú từng đã phát hiện được 2 chiếc di đồng khá lớn, có hình dạng rất giống với những hiện vật trong mộ Phụ Hảo ở An Dương. Trong lòng 2 chiếc di đồng này có khảm 2 dòng gồm 8 chữ, được đọc là:  

Tôn thủ tác vĩnh bảo Mẫu hậu Dậu 尊守作永寶母后酉

3 chữ cuối cùng của chiếc phương di này cũng như hình chữ trên các đồ bồi táng ở mộ Phụ Hảo và đỉnh Tư Mẫu Mậu cho thấy thứ tự đọc đúng cách viết tên thời Thương ở đây là:

  • Chữ đầu tiên là chữ Mẫu 母 hoặc chữ Phụ 婦.
  • Chữ thứ hai là chữ Tư 司 hoặc chữ Hậu 后 do trong văn tự thời Ân Thương 2 chữ này viết giống nhau.
  • Chữ thứ ba là tên gọi một trong thập can, cũng là tên người được cúng tế.

Với thứ tự đọc này thì chữ thứ 2 phải đọc là Hậu 后 (nghĩa là hoàng hậu) mới có nghĩa, vì chữ Tư 司 (nghĩa là quản lý) không thể ghép được với tên gọi của thập can.

Chữ Mẫu Hậu Tân ở đáy chiếc Dương quang (Hiện vật sưu tầm của nhóm Đền miếu Việt)

Như vậy chữ ở chiếc quang hình dê và ở mộ Phụ Hảo đọc là Mẫu Hậu Tân 母后辛. Chữ trên chiếc phương di ở Vĩnh Phú đọc là Mẫu Hậu Dậu 母后酉. Còn chữ trên chiếc đỉnh trọng khí đồ đồng lớn nhất thời Ân Thương phải đọc là Mẫu Hậu Mậu 母后戊.

Tới đây ta thấy, các vị hoàng hậu của nhà Ân đều được gọi là Mẫu 母. Như đã biết, các vua Ân được gọi là Phụ 父, như Phụ Ất, Phụ Đinh… Phụ và Mẫu vào thời đó không phải là chỉ cha, mẹ đẻ, mà là chỉ các thủ lĩnh của quốc gia gồm vua và hoàng hậu.

Thường là chính các vị Mẫu Hậu này là tướng thống lĩnh quân đội của nhà Ân đi viễn chinh như trường hợp của Phụ Hảo (Mẫu Hậu Tân). Do đó, vị tướng Ân đã dẫn quân đánh sang nước Văn Lang của vua Hùng cũng có thể đúng là “nữ nhung” như trong câu ca dao và đây là một trong các vị Mẫu của nhà Ân được nhắc tới.

Thạch Linh thần tướng chết dưới chân núi Vũ Ninh là hoàng hậu nhà Ân hay Ân Hậu. Đây là một nhận định rất mới, cho phép hiểu rõ hơn truyền thuyết ở vùng núi Vũ Ninh. Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể:

Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới chân núi Trâu (Trâu Sơn). Hùng Vương cầu cứu với Long Quân, Long Quân hóa thành Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, quân nhà Ân đều thua chạy. Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, bốn mùa đều phải hương khói.”

Sau đó tới thời Tần, có người là Thôi Vĩ đi lạc vào núi Trâu Sơn, gặp được Ân Hậu và một vị thần nữ là Ma Cô Tiên…

Như trên đã phân tích, người chết trận dưới chân núi không phải vua Ân mà là Ân Hậu – Thạch Linh thần tướng. Cũng vì thế mà Thôi Vĩ chỉ gặp Ân Hậu chứ không gặp Ân Vương. Ân Hậu “hiển linh” và được thờ phụng tại vùng núi Châu Sơn này dưới tên Ma Cô Tiên, như một loạt các di tích còn ở đây. Rõ nhất là ngôi chùa mang tên Ma Cô Tiên ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong (huyện Quế Võ, Bắc Ninh). Đây là khám phá hết sức bất ngờ, giải thích được vấn đề “Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi” Châu Sơn và truyền tích ở Bắc Ninh.

Suy xét xa hơn, từ Ma Cô đọc thiết âm là , là cách phát âm khác của từ Mẫu 母. Nói cách khác, Ma Cô cũng là một vị Mẫu như được đúc rõ trên các hiện vật thời Ân Thương.

Cũng Truyện Giếng Việt kể, Thôi Vĩ sau khi gặp Ân Hậu và Ma Cô Tiên đã được một người là Dương quan dẫn đường trở về. “Dương quan nhân biến thành một con dê đá đứng ở trong núi, nay con dê ấy còn ở sau chùa Việt Vương trên núi Trâu.” Con “dê đá” này ngày nay vẫn còn, là một bức tượng bằng đá cổ hình nửa thân một con thần thú trông có dáng dấp của con Dê do có cặp sừng cong.

Con “Dê đá” ở núi Vũ Ninh

Thật trùng khớp khi chiếc quang hình dê thời Ân Thương được thấy có chữ “Mẫu Hậu Tân” lại khớp với tên gọi của “Dương quan” trong truyện Giếng Việt. Chiếc quang này là bằng chứng hiển hiện cho sự tham gia của Ân Hậu trong cuộc chiến với Thánh Dóng ở nước ta.

Ân Hậu – Ma Cô Tiên không chỉ hiển linh ở núi Châu Sơn. Truyền thuyết Việt còn kể, khi An Dương Vương xây thành Cổ Loa thì có oan hồn của các vua đời trước nhập vào người con gái chủ quán trọ ở chân núi Ma Lôi, đến đêm hiện hình thành con gà trắng mà phá hoại. Hoặc sự tích ở núi Thất Diệu, nơi có đền Bạch Kê thờ Mẫu là dòng dõi vua Hùng, đã biến thành cô tiên gánh đất giúp An Dương vương xây thành…

Một lần nữa ta lại thấy, nhân vật hiển linh báo oán cho đời trước là nữ, chứ không phải nam. Người con gái ở núi Ma Lôi và Mẫu Bạch Kê ở núi Thất Diệu chính là Ma Cô Tiên hay Ân Hậu được nhắc tới tại Vũ Ninh.

Miếu Bạch Kê ở núi Thất Diệu tại Yên Phong, Bắc Ninh có đôi câu đối ở nghi môn
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩

Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân.

Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.

Câu đối nói rất rõ, Mẫu Bạch Kê hay Ma Cô Tiên chính dòng dõi Bách Việt của “cố quốc” xưa và các đồ vật kim thạch tế khí của vua đời trước này vẫn còn lưu truyền ngàn năm. 

Phù điêu bên giếng Cô Tiên trên núi Thất Diệu

Cái tên “Thạch Linh thần tướng” của Ma Cô Tiên cho một liên hệ sau. Thạch Linh nghĩa là linh khí của đá. Ma Cô Tiên cũng được biết là vị phúc thần mang lại tài phúc cho nhân gian, như Thôi Vĩ đã được Ma Cô Tiên cho viên ngọc Long Tụy của Hoàng Đế mà trở nên giàu có. Còn ở núi Thất Diệu, sau khi An Dương Vương diệt được Bạch Kê tinh đã cho đào núi, lấy được nhạc khí và xương cốt cổ. “Nhạc khí” thời này là chuông, trống làm bằng đồng, dùng trong việc tế lễ. Ma Cô Tiên là chủ thần về môn “kim thạch học”, tức là tên gọi của ngành Khảo cổ học xưa. Chiếc cốc hình dê (dương quang) và con dê đá ở núi Vũ Ninh đúng là “kim thạch”, là con thần thú chở tài vật của Thạch Linh thần tướng Ma Cô Tiên.

Chữ viết của người Việt thời Hùng Vương

Tiến sĩ Nguyễn Việt (Trung tâm tiền sử Đông Nam Á) từng khảo sát các chữ viết trên các trống đồng, thạp đồng, bình đồng thời Đông Sơn và có đưa ra nhận định như sau:

Logic thông thường thì chữ Hán được coi như đã theo chân đoàn quân xâm lược Tần xuống vùng đất phía bắc Giao Châu từ khoảng cuối thế kỷ 3 trước Công nguyên. Với sự ra đời và tồn tại hơn một thế kỷ của nhà nước Nam Việt, chữ Hán đã chính thức trở thành văn tự chính thống của vùng này, mặc dầu trong một phạm vi rất hạn hẹp của triều đình Nam Việt mà thôi.

Bằng chứng khảo cổ cho thấy ba loại văn tự chữ Hán cùng tồn tại trong phạm vi nước Nam Việt:

1- Minh văn phương hình chuẩn thường thấy ở những đồ lễ khí chính thức của nhà nước Nam Việt hoặc trên những đồ được dâng tặng có nguồn gốc phía bắc,

2- Văn tự thẻ tre mang phong cách văn tự Hán Sở,

3- Minh văn Nam Việt thường thấy trên đồ đồng Đông Sơn bản địa với lối khắc dài, phương hình không chuẩn và sai hoặc thiếu nét.”

Chữ trên trống đồng Trạch Bái (ảnh theo TS Nguyễn Việt)

Chữ viết trên trống đồng thì hiển nhiên người dùng là người Việt bản địa, cho nên đầu tiên phải khẳng định rằng thời Tần người Việt đã có chữ viết.

TS Nguyễn Việt còn phát biểu rằng, theo nghiên cứu khảo cổ thì người Việt khi đó “chưa có nhu cầu dùng chữ viết”. Ở phía Bắc như vùng Lưỡng Quảng thì có thể “đã có nhu cầu” này (???)

Không rõ dựa vào khảo cổ nào mà lại nghĩ ra như vậy? Trong khi ngay sau đó TS. Nguyễn Việt cho biết, Giao Chỉ và Cửu Chân là nơi đông đúc dân cư nhất thời đó với dân số vượt xa ở các quận khác trên đất Lưỡng Quảng sau này. Nơi mật độ dân số lớn thì “không cần chữ viết”, còn nơi vắng người hơn thì lại có? Đây gọi là kết luận của “khảo cổ học thật” hay sao?

Điều lạ là loại chữ này được TS. Nguyễn Việt gọi là chữ “Nam Việt” với hình thức thô sơ hơn thể chữ Triện thời Tần Hán. Thậm chí trong số các chữ đó còn có những chữ ghi theo “lối cổ”:

– “chữ “lục” (sáu) vẫn giữ lối viết cổ”

– “chữ Cửu Chân trên trống Trạch Bái cho thấy một kiểu chữ cổ hơn”. 

Tới đây nảy sinh ra vấn đề. Nếu theo quan niệm của TS Nguyễn Việt, loại chữ này mới theo chân quân Tần mà xâm nhập vào đất Việt, thì tại sao lại có những chữ cổ như trên? Cần nhớ rằng Tần Thủy Hoàng đã cho thống nhất văn tự trên toàn quốc, lấy chữ Tiểu triện do Lý Tư tu chỉnh làm “quốc tự”. “Thư đồng văn” được thực hiện trên toàn cõi Trung Hoa. Vậy nếu đội quân Tần đến dạy chữ cho người Nam Việt thì họ phải dạy chữ Tiểu triện, chứ sao lại dùng những chữ cổ hơn của Đại triện Kim văn?

Điều này cho thấy thứ chữ mà TS Nguyễn Việt gọi là chữ Nam Việt ấy thực ra đã tồn tại ở đất Nam Việt từ trước khi Tần xâm lược rất lâu. Người Nam Việt đã dùng thứ chữ này một cách thành thạo và phổ biến trên các đồ vật của họ như trống đồng, thạp đồng. Còn chữ mới mang vào là chữ Tiểu triện như dùng để khắc trên các văn bản bằng thẻ tre và trên ấn tín.

Chữ viết của người Việt thực không cần tìm đâu xa. Nó vốn được ghi rất rõ trên các hiện vật. Chẳng qua chúng ta không chịu nhìn nhận nó là chữ mà người Việt đã dùng trước thời Tần mà thôi. Trước thời Tần trên đất Nam Việt là thời Hùng Vương. Nói cách khác loại chữ Nam Việt ấy là chữ mà các vua Hùng nước Văn Lang đã dùng.