Chu Vương tạo đỉnh, dùng tế lễ lớn

Cửu đỉnh ở Huế

Cửu đỉnh ở Thế miếu Huế

Dưới thời vua Minh Mạng, nước Đại Nam của nhà Nguyễn đã mở rộng lãnh thổ hơn bao giờ hết. Khu vực Tây Bắc và một phần của Lào trước đó thuộc nước Bồn Man đã được sát nhập vào lãnh thổ Đại Việt vào thời Lê, với tên gọi là Trấn Ninh. Nhờ công lao mở nước ở phương Nam của chúa Nguyễn Hoàng mà miền Nam Trung Bộ và Nam Bộ đã thuộc về nước Đại Nam. Một phần lớn đất ở Campuchia cũng thuần phục nhà Nguyễn, trở thành Trấn Tây Thành. Là một đế quốc bao trùm Đông Nam Á khi đó, Minh Mạng đã rất ý thức được vấn đề nguồn gốc người Việt. Vua nêu cao việc noi gương tổ tiên và các vị vua triều đại trước, mà việc đúc Cửu đỉnh để đặt làm tế lễ phụng sự ở Thế miếu là một điển hình, công khai với toàn thiên hạ về nguồn gốc và phạm vi lãnh thổ của triều đại.

Trong buổi lễ khánh thành cửu đỉnh, nhà vua cùng quần thần đến miếu tế cáo. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng: Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ [truyền lại] còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là [hình dạng] của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và Trấn Tây Thành đều được biết.

9 chiếc đỉnh to lớn sừng sững nay vẫn còn tại Thế miếu trong kinh thành Huế là một lời minh chứng cho thời kỳ huy hoàng của đế quốc Đại Namvà tư tưởng noi gương các đời Tam Đại của vua Minh Mạng.

Cao đỉnh trước Thế miếu ở Huế

Phỏng Chu Vương Bá đỉnh

Cũng thời vua Minh Mạng nhà Nguyễn, năm thứ 20, vua đã cho phỏng theo các đồ vật thời Tam Đại mà đúc nên 33 loại đồ vật, gọi là Cổ khí. Bài minh văn ngự chế đúc trên 1 chiếc đỉnh nói rõ chuyện này. Đỉnh này có tên ghi là đỉnh phỏng theo đỉnh của Chu Vương Bá, với chữ ngự đề:

惟明命二十年己亥予受天眷祐河順歲豐盜賊屏息年近知天爰法古鑄器凡三十三類此鼎其一也用傳來許我之子孫若能親賢遠侫愛民敬天卜年世遠勝周家可天下畏服大南日昌可永保用之可

Duy Minh Mạng nhị thập niên Kỷ Hợi, dư thụ thiên quyến hữu, hà thuận tuế phong, đạo tặc bính tức, niên cận tri thiên, viên pháp cổ chú khí, phàm tam thập tam loại, thử đỉnh kì nhất dã, dụng truyền lai hứa, ngã chi tử tôn, nhược năng thân hiền viễn nịnh, ái dân kính thiên, bốc niên thế viễn, thắng Chu gia khả, thiên hạ úy phục, Đại Nam nhật xương khả, vĩnh bảo dụng chi khả.

Dịch nghĩa: Năm Kỷ Hợi niên hiệu Minh Mạng thứ 20, ta được trời mến giúp, sông thuận, được mùa, trộm cắp trừ yên. Ta đã sắp đến tuổi biết mệnh trời (tuổi 50), bèn theo phép cổ mà đúc khí vật, tất cả 33 loại. Đỉnh này là một trong số 33 loại ấy, để truyền lại cho đời sau, sao cho biết gần gũi người hiền, tránh xa nịnh bợ, biết thương dân kính trời, thì đoán chừng là triều đại này bao năm có thể còn dài hơn cả nhà Chu, thiên hạ có thể sợ phục nước Đại Nam ngày càng thịnh vượng, mãi mãi có thể dùng bảo vật này.

Tên gọi Chu Vương Bá ở trên đỉnh khả năng là một vị vương thất thời Chu Vũ Vương. Vua Minh Mạng đặt bài minh khái quát các cổ khí ở chiếc đỉnh Chu Vương Bá vì có thể vua coi Gia Long là người lập nên nhà Nguyễn giống như Chu Văn Vương mở đầu nhà Chu. Còn bản thân Minh Mạng nối tiếp sự nghiệp, giống như Chu Vũ Vương nối tiếp Văn Vương. Trong Cửu đỉnh tại Huế có Cao đỉnh là dùng thờ Gia Long, và Nhân đỉnh dùng đặt đối diện ban thờ Minh Mạng.

Vị Vương Bá thời Chu Vũ Vương lập nhà Chu thì có khả năng là Bá Ấp Khảo, người con đầu của Văn Vương, anh của Vũ Vương. Bá Ấp Khảo đã hy sinh trong cuộc chiến chống lại Trụ Vương, để Vũ Vương sau đó hoàn thành đại nghiệp, phạt Trụ diệt Ân, lập nên vương triều thiên tử nhà Chu kéo dài hơn 800 năm.

Hình vẽ Phỏng Chu Văn Vương đỉnh

Chu Vương đỉnh

Một chiếc đại đỉnh lớn thật sự của thời Chu đúc bằng đồng, cao tổng cộng 53 cm, rộng tới 43 cm, nặng 12 kg. 2 quai đỉnh hình chữ U lớn, dày. Mặt ngoài mỗi quai có hình hai con rồng chầu mặt trời. Trên từng quai đỉnh có khắc 8 chữ Kim văn lớn: 周王作之子孫永用

Chu vương tác chi. Tử tôn vĩnh dụng

Dịch nghĩa: Chu Vương tạo vật này cho con cháu dùng mãi.

Chiếc đỉnh Chu Vương này có phần thân hình tròn, hơi dẹt. Thân đỉnh có 6 khía dọc chia đỉnh thành 6 múi. Mỗi múi có hình mặt thú thao thiết. 3 chân đỉnh lớn cũng có đúc nổi hình mặt thao thiết. Cả chiếc đỉnh nhìn trầm hùng, vững chắc, bề thế.

Đỉnh Chu Vương

Phần thân đỉnh có đúc chữ nổi xung quanh thân, là một bài minh chép bằng chữ kim văn. Chữ đúc lớn, nét chữ có phần giản lược. Bài minh này được lặp lại 3 lần (ba mặt một lời) và có một dòng 4 chữ như tiêu đề. Tất cả có 208 chữ đúc nổi trên thân đỉnh. Chia thành 52 dòng, mỗi dòng 4 chữ. Nội dung bài minh trên Chu Vương đỉnh như sau:

晳丕俎用

史戊寸公,作休子子門,休永寶對,賜旗吉待,匍正民初,曰盂玟有,

周命于若,胜又王宗,攸用佩帚,門生隹卑,邵宫名大,反吊夫死,

友君子師,厭永吉有, 考庚辟內,于其朋享,晳丕俎用

TÍCH PHI TRỞ DỤNG

Sử Mậu Thốn Công, tác hưu tử tử môn, hưu vĩnh bảo đối, tứ kỳ cát, đãi bồ chính dân, sơ viết Vu Mân, hữu Chu mệnh vu nhược, thắng hựu Vương tông, du dụng bội trửu, môn sinh chuy ti, thiệu cung danh đại, phản điếu phu tử, hữu quân tử sư, yếm vĩnh cát hữu, khảo canh tịch nội, vu kỳ bằng hưởng, tích phi trở dụng.

Chú giải:

Tích phi trở dụng: chữ Bất 不 ở đây đọc thông với chữ Phi 丕, nghĩa là to lớn. Trở là vật dùng tế lễ.

Sử Mậu Thốn Công: Chữ sử 史dùng thông với chữ 使. Mậu Thốn là tên một vị đại thần tước Công.

Tác hưu tử tử môn: làm ra khu nhà dùng cầu lành cho con cháu

Hưu vĩnh bảo: Bảo là đồ quý, ở đây chỉ chiếc đỉnh.

Bồ chính dân: Bồ nghĩa là vất vả. Ý nói việc cai quản dân nhiều khó nhọc.

Vu Mân: Nghĩa thường là đồ đựng bằng ngọc. Nhưng có thể ở đây chỉ Văn Vương, là vị vua khởi đầu nhà Chu. Vu Mân đọc thiết là Văn.

Dụng bội trựu: chữ “trựu” đọc không chắc chắn. Hiểu nghĩa chung là dùng đồ vật quý làm tín lễ.

Chuy ti: chữ đọc không chắc chắn. Suy theo nghĩa là chỉ việc phúc sinh được con cái.

Hữu quân tử sư:  chỉ bậc thầy của vua, có lẽ là chỉ các bậc tiên vương.

Khảo canh: đọc thông nghĩa với “thọ khang”.

Diễn nghĩa bài minh trên Chu Vương đỉnh:

Dùng tế lễ lớn

Sai Mậu Thốn Công làm chiếc đỉnh quý đặt ở cửa lành cho con cháu, cùng ban cờ cầu phúc, để gắng sức cai quản nhân dân. Trước đây vua Văn có được mệnh thắng của nhà Chu, Vương tông lại dùng đồ tín lễ mà trong nhà sinh được điều lành, rạng danh cung lớn, dùng cúng điếu người đã mất, để cho bạn, quân, con, thầy có điều tốt đầy mãi, luôn trong mạnh thọ mà hưởng dụng như vậy, dùng cho tế lễ lớn.

Phần đầu bài minh Tích phi trở dụng

Chiếc đỉnh tông Chu Vương này có hình dạng tương đồng với đỉnh Cận 堇鼎, là chiếc đỉnh lớn thời đầu Tây Chu tìm thấy ở Bắc Kinh, Trung Quốc. Đỉnh Cận là một trong những trọng khí quốc gia của Trung Quốc, kích thước cao 62 cm, chỉ cao hơn chiếc đỉnh Chu Vương trên 9 cm. Trên đỉnh Cận có khắc chữ kể về một vị hầu tước tên Cận đi cống lễ vua Chu. Chiếc đỉnh Chu Vương mô tả ở trên như vậy cũng có niên đại xấp xỉ vào đầu thời kỳ Tây Chu, cách nay gần 3.000 năm.

Nội dung bài minh trên đỉnh Chu Vương khá tương đồng với bài minh của vua Minh Mạng đúc trên Phỏng Chu Vương Bá đỉnh. Bài minh có ý nghĩa là đúc đỉnh để truyền lại cho con cháu làm vật quý sử dụng trong việc tế lễ, thờ cúng tổ tiên, tang lễ, để nhờ đó cầu phúc, cầu mệnh trời cho triều đại được lâu dài, cai quản nhân dân.

Pháp cổ

Dụ chỉ đúc đỉnh của vua Minh Mạng nêu: Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam Đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc.

Các minh vương thời Tam Đại đúc cửu đỉnh tượng trưng cho đất đai thiên hạ 9 châu bắt đầu từ Đại Vũ của nhà Hạ. Các cổ khí của vua Minh Mạng chủ yếu phỏng theo các đồ thời Thương và và Chu. Tam Đại Trung Hoa mà Minh Mạng noi theo là các triều đại Hạ, Thương và Chu của Trung Hoa cổ đại.

Từ thời vua Gia Long đầu triều Nguyễn đã đề ra xu hướng “Pháp cổ” – noi theo phép xưa có. Có 2 khái niệm pháp cổ:

  • Pháp tiên vương: tức là theo phép thời Nghiêu, Thuấn.
  • Pháp hậu vương: tức là theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu).

Thời Minh Mạng lại đề ra khái niệm “pháp tổ”, theo phép tổ tiên, cũng đều có thể gọi chung là pháp cổ. Tuy là phương châm “pháp tổ” (“kính thiên pháp tổ”) nhưng lại vua Minh Mạng lại mô phỏng theo thời Hạ Thương Chu, mà tiêu biểu là đúc Cửu đỉnh và Cổ khí. Nói cách khác, Minh Mạng công khai coi các vị tiên vương thời Ngũ Đế và hậu vương thời Tam Đại Trung Hoa là “tổ” của triều Nguyễn, mà noi theo.

Trang Ngọc phả Hùng Vương thời Minh Mạng có ghi “niên hiệu” Hùng Vương năm thứ 32

Vương triều Chu của Trung Hoa bắt đầu từ Văn Vương dựng nghiệp, Vũ Vương lập thiên hạ lên ngôi thiên tử, đều là những triều đại của người Việt, được sử sách Việt gọi là thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, phân phong trăm anh em thành Bách Việt. Chiếc đỉnh Chu Vương tạo đúc là biểu tượng của vương quyền thiên tử nhà Chu trước trăm tộc Bách Việt, cũng chính là tế vật của vua Hùng nước Văn Lang xưa. Lịch sử Trung Hoa cổ đại còn truyền tới triều Nguyễn nước Đại Nam, tự xưng mình là Hùng Vương như trong bản Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả được biên soạn dưới thời vua Minh Mạng. Báu vật bảo đỉnh Chu Vương còn lưu truyền đến nay qua gần 3000 năm, là chứng thực cho sự vững bền của quốc gia, của nền văn minh dân tộc Việt trải suốt chiều dài lịch sử. Liệu Việt Nam ngày nay có thể lại trở thành một “đế quốc” bao trùm rộng lớn với thiên hạ chín châu hay không phụ thuộc vào nhận thức của chính người Việt đối với những di sản cổ vật của tiên tổ để lại cho chúng ta ngày nay.

Lạc Hùng chính thống

Có rất nhiều học giả Tây có, ta có, Tàu có, cho đến nay vẫn cho rằng sách vở xưa các cụ chép đã nhầm chữ “Lạc” thành chữ “Hùng”, nên kết luận Hùng Vương là Lạc Vương, hay các vua Hùng mang họ Lạc… Bài viết này xin tổng quan lại nhận định về dòng giống Lạc Hùng của người Việt trong suốt tiến trình lịch sử là gì.

Tên gọi “Lạc” đầu tiên được nhắc đến trong sử Việt là Lộc Tục Kinh Dương Vương làm vua phương Nam, lấy tên nước là Xích Quỷ. Chữ “Lộc” ở đây chính là đọc sai của “Lạc”, mà bằng chứng trực tiếp là sau đó Kinh Dương Vương lấy Thần Long sinh ra Lạc – Long quân, thủ lĩnh của vùng Lạc và Long. Nếu mẹ Rồng Động Đình đã là Long thì hiển nhiên cha Tiên phải là Lạc.

Lộc Tục tức là Lạc tộc, chỉ dòng tộc ở vùng đất phương Nam xưa thời lập quốc Xích Quỷ. Phương Nam xưa là phương của cây kim chỉ Nam, vốn luôn chỉ về địa cực, chứ không phải phương Xích đạo như ngày nay. Phương này trong Ngũ hành thuộc về hành Thủy (nước). Do đó tên nước Xích Quỷ thực ra là cách phiên thiết của chữ Thủy = Sủy, chỉ phương Nước mà thôi. Lạc cũng vốn phát âm là Nác, mà tiếng Nghệ Tĩnh ngày nay vẫn đang nói để đọc từ Nước. Lạc nghĩa là Nước, là Thủy, là phương Nam xưa.

Chính điện đình Triệu Phú (Hùng Sơn, Phú Thọ)

Câu đối ở đền Hùng, Phú Thọ:

Khải ngã Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc

Hiển vu Tây Thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.

Dịch nghĩa:

Mở đất Nam Giao, Hồng Lạc nghìn thu xưng đế quốc

Sáng vùng Tây Thổ, Tản Lô một dải mãi lưu đền.

Dòng Lạc tộc của Kinh Dương Vương đã kết hợp với dòng Long tộc Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Con Rồng là biểu tượng của phương Đông trong Tứ linh, xuất xứ từ vùng ven biển Động Đình, tức biển Đông. 2 dòng Lạc ở vùng trung du Bắc Bộ và dòng Long ở ven biển Đông đã hợp nhất dưới thời vua cha Lạc Long Quân. Từ đó chữ Lạc cũng dùng chung với nghĩa Lạc Long, chỉ 2 vùng đất này ở miền Bắc Việt.

Phương hướng trong cổ sử Hoa Việt

Dòng Lạc Thị từ Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân được thờ tập trung ở vùng Thuận Thành, Gia Bình (Bắc Ninh) với những di tích tiêu biểu như lăng Kinh Dương Vương ở Á Lữ (Thuận Thành), đình Đại Bái thờ Lạc Long Quân, đền Bình Ngô thờ Hùng Vương…

Lạc Long Quân khi nhận ngôi của Kinh Dương Vương đã phải làm một cuộc “cách mạng”, giành quyền cai quản từ dòng phía Tây là Đế Lai. Nhờ dựa vào những người anh em “cùng một bọc trứng” rồng của mẹ Thần Long mà Lạc Long Quân đã trở thành đức Vua cha Bát Hải, đứng đầu Thủy phủ Động Đình.

Câu đối ở đền Đồng Bằng, nơi thờ đức Vua cha Bát Hải Động Đình:

Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu
Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu.

Dịch nghĩa:
Dẹp Thục nên công đầu, đẹp thay núi sông Lạc Hồng, bia kệ sáng dài Đào Động miếu
Trải triều thịnh điển lề, đến nơi phong hội Á Âu, uy sương còn mãi hải môn thu.

Hình Rồng ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình)

Những người anh em phò trợ Lạc Long Quân được kể dưới nhiều cái tên. Đó là Thổ Lệnh và Thạch Khanh, hai vị thần Tam Giang ở bến Việt Trì. Đó cũng là 5 anh em của Trung Thành Phổ Tế Đại vương được kể ở vùng Thường Tín, Phủ Lý. Bên Hồ Tây thì đó là Uy Linh Lang và Đoài Hồ Thất giáp, lục bộ thủy phủ đã diệt con Cửu vĩ Hồ (người Hồ ở hướng Tây). Trong tín ngưỡng Tứ phủ thì đó là Ngũ vị tôn quan, lập nên Ban công đồng của Tứ phủ.

Trong truyền thuyết về Tản Viên Sơn thì Lạc Long Quân và những bộ tướng Thủy phủ được kể bằng các tên là Quý Minh như ở Ghềnh Bợ (Ba = Quan Đệ tam Thoải phủ) hay 5 vị thủy thần ở La Phù bên bãi Trường Sa của Đà giang. Đây cũng là các “Lạc tướng” dưới trướng của Lạc Vương (Long Quân), vì hiển nhiên các vị này cùng họ với Lạc Long Quân. Công nghiệp lớn nhất của họ là “phù Hùng đánh Thục”, tức là giúp Lạc Long Quân (vua cha Hùng Vương) đánh dòng phía Tây (Thục) của Đế Lai, lập nên nước Hồng Bàng hay Việt Thường.

Lạc triều từ Lạc Long Quân (hoặc từ Lộc Tục Kinh Dương vương) trải 18 đời (con số ước lệ) đều gọi là Hùng Vương, lấy theo tên của Thái tổ Hữu Hùng Đế Minh. Đến đời Hùng Vương thứ 18 là Duệ Vương thì thiên hạ họ Hùng đã trải rộng vượt bờ Hoàng Hà. Trên vùng đất Lạc lúc này có thủ lĩnh là Lạc tướng Cao Sơn mà truyền thuyết chép mang tên Sùng Lãm. Sùng có nghĩa là Cao. Truyền thuyết Trung Hoa gọi là Bắc Bá hầu Sùng Hổ của thời Ân Thương.

Chính điện đình La Phù (Thanh Thủy, Phú Thọ)

Hậu duệ của dòng theo Đế Lai đi về phía Tây (lên núi) lúc này là Âu Cơ hay Cơ Xương, là Tây Bá hầu của nhà Ân. Cơ Xương phát động cuộc đại chiến, tiến đánh Sùng Hầu Hổ ở đất Lạc, truyền thuyết gọi là Thục đánh Hùng Duệ Vương. Lạc tướng Cao Sơn cùng với những dòng tộc khác trên đất Lạc là Tản Viên Nguyễn Tuấn và Quý Minh Nguyễn Hiển chống lại sự tấn công của quân Thục ở vùng thượng du sông Đà, sông Thao (Mộc Châu, Quỳnh Nhai). Quân Thục của Cơ Xương giành phần thắng, đất Lạc bị dòng Âu Cơ chiếm. Cơ Xương dời đô từ Kỳ Sơn về Phong Châu (Phú Thọ), hợp nhất 2 vùng đất Âu (tức Ai Lao, hay vùng cao nguyên Vân Quý) và đất Lạc (tức vùng Nam Giao – Giao Chỉ thời Nghiêu Thuấn Vũ), gọi là nước Âu Lạc.

Cơ Xương băng, con trai là Cơ Phát đã phát động các chư hầu làm cuộc tổng tấn công nhằm vào Trụ Vương. Vua Ân chết ở Lộc Đài vào mùa thu, hóa thành Vua Địa phủ. Ngày vua Ân chết trở thành ngày Xá tội vong nhân, khi mà cánh cửa Dương gian và Địa phủ mở ra để Âm Dương có thể quy về hòa hợp.

Thục Vương Cơ Phát (Thục Phán) lên ngôi Thiên tử, xưng là Vũ Vương, truy phong cho cha là Văn Vương, nên lấy tên nước là Văn Lang. Cơ Phát dời lại đô về phía Tây ở Cảo kinh. Vùng đất Lạc ở phía Đông trở thành nơi tế tự tổ tiên họ Hùng và Văn Vương trên núi Nghĩa Lĩnh.

Vũ Vương băng, Thành Vương nối ngôi còn nhỏ, Chu Công Đán cùng Thiệu Công Thích nhiếp chính. Hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh cùng với ba vị giám thúc nổi loạn. Chu Công xuất thân Đông chinh, bắt đám “ngoan dân” của nhà Ân về an trí tại đất Lạc. Thượng thư có mấy thiên nói về viên việc này:

Thiệu cáo (lời của Thiệu Công với Thành Vương và Chu Công): Qua bảy ngày, Giáp tí, Chu Công bén sớm ra dùng thư để ra lệnh cho dân Ân… Dân Ân đều tới làm. Sau đó Thiệu Công đã trình bày sự việc và xin vua (Thành Vương) xá tội cho dân Ân ở đất Lạc.

Lạc cáo (lời đối thoại giữa Chu Công và Thành Vương): Duy thánh ba ngày rằm, Chu Công bắt đầu dựng nền, làm ấp lớn ở nước miền Đông là đất Lạc… Hỡi người do vua sai khiến! Dân Ân chịu lời dạy dỗ, muôn năm cũng vẫn xem mãi ông vua, cháu ta mà mến đức. Ngày Mậu Thìn nhà vua ở ấp mới làm lễ tế chưng hàng năm, tế Văn Vương 1 trâu, Vũ Vương 1 trâu…

Đa sĩ (lời Chu Công nói với các quan nhà Ân):Duy tháng ba, Chu Công bắt đầu ở ấp mới là Lạc, bèn bá cáo với các quan của vua Thương cũ… Bảo cho các ngươi, các quan nhà Ân được hay! Ta không giết các ngươi. Lúc này ta chỉ lại ra lệnh. Nay ta làm ấp lớn ở đất Lạc này. Ấy là ta vì không có chỗ tiếp đãi bốn phương. Và cũng vì các quan các ngươi chạy bạy làm việc, gần vớ nhiều kẻ biết nhường nhịn của ta… Các ngươi hãy nhận lấy ruộng đất của các ngươi! Các ngươi hãy yên ổn ở lại mà làm việc!…

Vùng đất Lạc lúc này ngoài dòng tộc của Lạc Long Quân xưa (Cao Sơn và Quý Minh) đã có thêm dòng tộc của Âu Cơ Văn Vương và của dòng nhà Ân Thương (Việt Thường) đến lập Lạc ấp. Việc yên định hậu duệ của nhà Ân ở đất Lạc là mối lo của các đời vua Chu từ Thành Vương đến Khang Vương, tới Tất Cônghọ Phan mới thành toàn được vùng Đông đô này:

Tất mệnh (lời Khang Vương truyền cho Tất Công): Than ôi! Cha Thái sư! Vì Văn Vương, Vũ Vương ra đức lớn với thiên hạ nên được nhận ngôi của nhà Ân. Nhờ Chu Công giúp đỡ vua trước, yên định được việc nhà. Khó nhọc với đám dân ngoan ngạnh của nhà Ân, dời họ sang ấp Lạc gần kề nhà vua, họa hóa theo lời dạy bảo. Trải qua ba kỷ (mỗi kỷ 12 năm), đời đổi, thói dời… Sự yên nguy của nước chỉ là trông bọn dân Ân ấy. Không cương, không như đức mới thực tu! Duy Chu Công cẩn thận được ban đầu. Duy Quân Trần thỏa hiệp được khoảng giữa. Duy ông thành toàn được đoạn cuối.

Vế đối có chữ Lạc Đô ở đình Tân Khai

Câu đối ở đình Tân Khai ở trung tâm Hà Nội gọi đích xác nơi này là “Lạc Đô”:

Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích

Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.

Dịch nghĩa:

Thành Đại La một dải núi sông, Long Đỗ tới nay còn thắng tích

Bốn đền trấn các triều hương lửa, Lạc Đô tự cổ dậy tiếng thơm.

Thời Chu U Vương vùng Tam Xuyên (tức là vùng Tam Giang trên đất Lạc) gặp trận động đất lớn là điềm âm thịnh dương suy. Thái sử nhà Chu là Lão Tử Lý Bá Dương đã đăng đàn trên núi Thất Diệu, nhắc lại ân oán của 2 nhà Hạ và Thương (cùng là dòng Lạc Long) ở đây để răn dạy vua Chu. U Vương sủng ái Bao Tự, hóa thân của dãi rồng từ thời Hạ, dẫn đến mất nước. Nhà Chu buộc phải dời đô về Đông, tức là về vùng đất Lạc của tổ tiên họ Hùng xưa, đóng đô ở Đông Ngàn Cổ Loa, gọi là Lạc Dương. Dương là hướng mặt trời lên, chỉ phương Đông.

Câu đối ở nghi môn đền mẫu Bạch Kê trên núi Thất Diệu:

Hồng Lạc di phong trang thể thế

Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Dịch nghĩa:

Di tích Lạc Hồng đẹp hình thế

Dòng dõi Tiên Long mở cơ đồ.

Câu đối ở miếu Bạch Kê

Cuối thời Chiến Quốc, nước Tần ở phía Tây trên đất Ba Thục trở nên hùng mạnh. Tần Vương (cũng gọi là Thục Vương) đánh chiếm đất Chu của họ Hùng, sát nhập vùng đất Lạc với lãnh thổ phía Tây của nhà Tần nên cũng được gọi là nước Âu Lạc. Tần Thủy Hoàng xưng Đế, thống nhất thiên hạ Trung Hoa.

Chế độ hà khắc của Tần không được lâu. Một người từ vùng đất Phong Bái, tức là đất Lạc, là Lưu Bang đã dựng cờ khởi nghĩa ở vùng núi Châu Sơn Vũ Ninh. Nước Vạn Xuân lập ra rồi lại tách làm 2 phần sau khi Lữ Hậu mất. Nước Nam Việt có địa bàn nằm trên vùng đất Lạc Long xưa, nên Triệu Vũ Đế được coi là dòng Lạc Hùng như câu đối ở điện Xuân Quan bên sông Hồng:

Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ

Xung thiên để trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai. 

Dịch là:

Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán

Động trời cột trụ, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Nhà Triệu truyền 5 đời tới Triệu Vệ Dương Vương thì thất thủ bởi cuộc tấn công của nhà Hiếu vào Phiên Ngung. Vua Triệu cùng với thừa tướng Lữ Gia đem gia quyến lên lâu thuyền chạy về phía Tây, về đất Lạc xưa ở cửa biển Đại Ác. Không may, vua và Lữ Gia đều bị bắt giết. Nhưng các vị hoàng phi nhà Triệu mang họ Lữ tiếp tục ngược sông Đáy, chạy về vùng Phong Châu, làm nên cuộc khởi nghĩa Trưng Vương. Trưng Vương là dòng “Lạc Hùng chính thống“, khởi nghĩa trả thù cho chồng là “Lạc tướng Chu Diên“, đọc lời thề ở Hát Môn.

Câu đối ở đền Đồng Nhân thờ nhị vị Trưng Vương, nói rõ Trưng Vương đã tiếp nối dòng Lạc, dựng nước Đinh:

Tiếp Lạc, khai Đinh, quan miện xưng vương tam tải sử

Khu Tô, kháng Mã, sơn hà hoàn ngã vạn niên phương.

Dịch là:

Tiếp Lạc Hồng mở Đinh Tây, áo mũ xưng vua ba mùa lưu sử sách

Đuổi Tô Định chống Mã Viện, núi sông thu lại vạn xuân truyền danh thơm.

Câu đối trên đá ở đền Đồng Nhân

Câu đối ở đình Nôm, thờ thánh Tam Giang, một vị đại tướng của Trưng Vương, lấy cháu gái của Triệu Vũ Đế là Triệu Mỵ Nương, nói tới Trưng Vương thu được 65 thành và đóng đô ở “Đông Lạc”:

Lục thập thành Đông Lạc đại đô, Hán thị sơn hà ki khả chuyển

Bách thiên tải Nam triều danh tích, Trưng gia nghĩa liệt khải năng ma.

Dịch nghĩa:

Sáu mươi thành đô lớn Đông Lạc, thời Hán núi sông mà lay chuyển

Trăm ngàn năm tích nổi Nam triều, nhà Trưng công nghĩa chẳng từ.

Khởi nghĩa Trưng nữ Vương thất bại, nhưng hậu quân của Nam Việt nhà Triệu vẫn tiếp tục duy trì ở vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ dưới tên Nam Triệu (Nam Chiếu) của Triệu Ông Lý. Lạc Dương thời Chu Thục trở thành Giao Chỉ với thủ phủ ở Long Biên. 

Tới thời Đường, Lạc Điêu ngự sử Cao Biền được cử sang An Nam bình định Nam Chiếu. Chữ “Lạc Điêu” thực ra là Lạc Diên mới đúng, là đọc chệch của từ Lạc Dương. Cao Biền đuổi quân Nam Chiếu ra khỏi vùng đất Lạc Dương, xây thành Đại La.

Hội đình Kim Lan

Câu đối ở đình Kim Lan, thờ Cao Vương Biền:

Châu lĩnh ngật đồi ba, Hồng Lạc sơn hà lưu thắng tích 

Nhị hà bồi xuân sắc, Thăng Long cố chỉ ánh Đại La.

Dịch nghĩa:

Đất ngọc sóng vờn vun, non nước Lạc Hồng lưu thắng tích

Sông Nhị đắp xuân sắc, nền cổ Thăng Long sáng Đại La.

Dòng dõi Lạc Vương, Lạc Hầu, Lạc Tướngsau khởi nghĩa Trưng Vương còn chưa dứt, bởi tới khi chúa Nguyễn Hoàng dựng nghiệp, Gia Long, Minh Mệnh lập lại đế quốc Đại Nam thì vẫn nhận mình là dòng dõi Hùng Vương, như được ghi trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả.Chúa Nguyễn Hoàng nay được thờ là ông Hoàng Mười với sự tích cho rằng là con của Vua cha Bát Hải giáng thế. Vua cha Bát Hải là Lạc Long Quân nên sự tích này ý chỉ họ Nguyễn là dòng dõi của Lạc triều xưa.

Trang ngọc phả đề Hùng Vương năm 32

Nhà thờ họ Nguyễn ở Kẻ Xốm (Vân Nội, Phú Lương, Thanh Oai), nơi lưu giữ Cổ Lôi ngọc phả truyền thưBách Việt triệu tổ cổ lục, luôn coi mình là dòng dõi Kinh Dương Vương. Đình Bình Đà thờ thủy tổ Lạc Long Quân với bức giá tượng cổ Hùng Vương Sơn Nguyên Thánh Tổ. Khu vực Thanh Oai này cũng là “quê mẹ” Bồng Lai của hoàng tử Linh Lang, tức là Lạc Long Quân trong truyền thuyết. Như thế 2 cuốn phả tộc họ Nguyễn trên thực chất là ghi chép lịch sử người Việt từ góc độ của dòng Lạc theo cha, khác với những truyền thuyết chép từ góc độ của dòng lên núi theo mẹ Âu Cơ nước Văn Lang xưa.

Có thể họ Nguyễn = Nguyên, là số 1, chỉ phương Nam xưa trong Hà thư, hành Thủy. Tức là Nguyễn cũng tương đương với Lạc.

Cấm cung đình nội Bình Đà

Lịch sử hơn 4.000 năm, từ khi Lạc tộc khai phá phương Nam, Lạc Long Quân mở nước về miền biển Đông, Thục Vương dời đô về Lạc ấp, Tần Vương thống nhất Âu Lạc, Triệu Vũ Đế khởi binh, Trưng Vương nêu cao ngọn cờ Lạc Hùng chính thống, Cao Vương xây thành Đại La, cho tới các vua Nguyễn hưng thịnh nước Đại Nam. Dòng máu Lạc Hồng chưa hề ngừng chảy trong con tim mỗi người dân Việt.

Vì sao nước Tần lại trở nên hùng mạnh và thâu tóm được thiên hạ Trung Hoa?

Nhà Chu kể từ lúc dời đô về phía Đông thì đã suy. Thậm chí, quyền lực của Thiên tử Chu từ lúc này đã bị coi là đã mất. Các chư hầu lần lượt xưng Bá vào thời Xuân Thu. Sang thời Chiến Quốc thì danh xưng Vương đã không còn là độc quyền của Thiên tử Chu mà hàng loạt nước mạnh đã lần lượt xưng Vương như Sở, Tề, Ngụy…

Nước Tần vốn là vùng đất xa xôi hẻo lánh, đầy rẫy Nhung Địch, khác xa với các cường quốc Sơn Đông. Vây tại sao nước Tần lại có thể nhanh chóng trở nên hùng mạnh, thôn tính cả nhà Chu rồi lần lượt diệt lục quốc, mà xưng Đế thiên hạ?Vào thời Chiến Quốc, phong trào Bách gia chư tử nở rộ, nhân tài như long vân tụ hội, quyết cùng nhau tranh giành… công chúa Mỵ Nương trong cuộc đua tài bên lầu kén rể ở bến Việt Trì. Các nước đồng loạt thực hiện những chính sách cai trị mới, với đặc điểm chung là dần dà bỏ những quy định về Lễ đã đặt ra từ thời Chu Công. Thế nhưng, nước thực hiện biến pháp thành công nhất lại là nước Tần? Vì sao vậy?

Chế độ phong kiến – phong tước kiến địa, thế tập cha truyền con nối được xác lập vào thời Hùng Quốc Vương, người con cả trong Bách Việt, đã phân cho trăm anh em ở các nơi đầu núi góc biển làm phiên thần, thổ tù, quan lang, phụ đạo, hình thành nên trăm nước chư hầu của nhà Chu. Các chư hầu được phong phần lớn đều là tông thất nhà Chu và những công thần lập quốc, tham gia phạt Trụ diệt Ân cùng Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương. Chế độ phong kiến phân quyền của nhà Chu đã tạo thành nếp gấp sâu đậm trong xã hội của thiên hạ Trung Hoa. Lễ nhạc do Chu Công đặt ra trở thành tiêu chuẩn mẫu mực cho trăm nước noi theo.

Nước Tần lại không giống các chư hầu khác của nhà Chu, nó được hình thành muộn hơn nhiều. Thời Chu Mục Vương, Tạo Phụ là người đánh xe cho Mục Vương có công được phong đất ở Triệu Thành, lấy đó làm họ. Đến đời Chu Hiếu Vương, có Thân hầu, có tổ tiên là ông Bá Ế thời Đại Vũ giỏi việc chăn nuôi, nên Chu Vương đã cho Thân hầu lập đất Tần, lấy họ Doanh của Bá Ế để… chăn ngựa với người Khuyển Khưu. Mãi đến thời Chu Bình Vương, họ Doanh có công phò vua Chu đánh Khuyển Nhung mới được phong ở đất Kỳ Phong, bắt đầu hình thành nước Tần.

Như vậy nước Tần được thành lập rất muộn, mãi tới thời Đông Chu mới chính thức được ban phong. Đất Tần lại vốn là nơi người Khuyển Nhung chăn ngựa, nên dân Tần thực ra chủ yếu là người Nhung Địch. Mãi sau này cả đến khi Tần xưng Vương thì một nước của người Rợ là Nghĩa Cừ vẫn thường xuyên quấy phá và là mối họa của nước Tần.

Chính vì xuất xứ của nước Tần không từ việc phân phong công thần của thời Chu Vũ Vương diệt Trụ, người Tần lại không phải công hầu quý tộc thân vương của nhà Chu, dân Rợ, Nhung chiếm phần nhiều, đã tạo ra một xã hội “kém phát triển” nhất về chế độ quý tộc thế tập so với các nước chư hầu lớn khác. Đây lại là điều kiện tuyệt vời cho việc thực hành Pháp trị, bởi theo tư tưởng của Pháp gia: “Chúng sinh bình đẳng“. Ai có công được thưởng, có tội phải xử, không phân biệt tầng lớp, thân thế. 

Lệnh bài Tần Vương với dòng chữ: Giáp Ngọ trung hưng, Hành tẩu biến địa, Chúng sinh bình đẳng

Chế độ Pháp trị do Thương Ưởng thực hành ở Tần là nơi dễ thành công nhất, do tầng lớp quý tộc của Tần vốn ít và yếu, chế độ Tông pháp của nhà Chu hầu như chưa thực hành ở Tần được bao nhiêu. Trong khi đó, Pháp gia ở các nước chư hầu đều không được hoan nghênh, hay thực hiện không thành công như trường hợp Thân Bất Hại ở nước Hàn. Nguyên nhân chủ yếu là do chế độ Tông pháp thế tộc đã ăn sâu ở các nước này.

Biến Pháp của Thương Quân tiếp tục được duy trì tại Tần quốc ngay cả khi Thương Ưởng bị Tần Huệ Văn Vương xử ngũ mã phanh thây. Với sức mạnh của biến pháp Huệ Văn Vương đã chính thức xưng Vương ngang hàng với các chư hầu lớn, đánh chiếm Ba Thục, đất gốc tổ của nhà Chu.

Sang thời Tần Võ Vương, rồi Tần Chiêu Tương Vương với Tuyên Thái hậu nhiếp chính, Pháp trị tiếp tục được duy trì, là nền tảng để tạo nên sức mạnh của nước Tần mà thâu tóm toàn thiên hạ. Tần Chiêu Tương Vương nhanh chóng diệt Tây Chu, rồi Đông Chu, chính thức trở thành Thiên tử thay thế cho nhà Chu. Để rồi đời sau, Tần Thủy Hoàng diệt lục quốc, thống nhất thiên hạ, xưng Đế, xóa bỏ chế độ thế tập phân phong của nhà Chu, lập nên chế độ trung ương tập quyền, quản lý theo quan chế quận huyện.Xã hội Trung Hoa vào thời Tần đã tiến thêm một bước, từ chế độ phong kiến phân quyền 1 nhà 100 nước, trở thành một nước thống nhất từ trên xuống dưới.

Mặt trống đồng với vòng chữ Đại triện và hình ảnh đạo quân Tần hùng mạnh

Sách sử Trung Quốc ngày nay một mặt thì chê bai nước Tần hung bạo, hoang dại, man di, mặt khác lại đề cao công nghiệp thống nhất của Tần Thủy Hoàng. Ngay cái tên China ngày nay cũng là từ tên gọi nước Tần mà ra.Còn người Việt, một mặt không thể bác bỏ những chứng cứ hiển nhiên trên các hiện vật khảo cổ về sự có mặt của nhà Tần tại Bắc Việt, cũng như những ghi chép lịch sử về sự chiếm đóng, lập quận huyện của Tần tại Lĩnh Nam, nhưng mặt khác lại luôn khăng khăng là Thục An Dương Vương đã đánh bại 50 vạn quân Tần của Đồ Thư. Đúng là một sự gán ghép vô căn cứ về mọi mặt, hiện vật khảo cổ cũng như sử sách.

Sự có mặt của Tần Thủy Hoàng trên đất Việt ít nhất được biết đến trong 3 di sản còn lại đến ngày nay:

1. Lý Thân, là Tư lệ hiệu úy của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh công chúa, rồi sai làm đại tướng trấn thủ người Hồ ở Lâm Thao.

2. Ngự sử đại phu của Tần là Thôi Lượng, người đã cho sửa sang miếu thờ Ân Vương trên núi Châu Sơn (Quế Võ, Bắc Ninh) trong Truyện Giếng Việt.

3. Đạo sĩ Yên Kỳ Sinh, người đã gặp Tần Thủy Hoàng trong các cuộc Đông du ven bờ biển Nam Hải, dưới chân ngọn núi Yên Tử ở Quảng Ninh ngày nay.

Tượng Lý Ông Trọng và Bạch Tĩnh Công chúa ở đình Chèm

Còn có nhiều tướng lĩnh thời Tần, hay chống Tần khác được thờ phụng trên đất Việt, trong các di tích đền miếu trải khắp ở Bắc Bộ. Chưa kể đến khả năng vị Nam Hải Đại vương được thờ ven biển Thái Bình, Nam Định chính là Tần An Dương Vương trong các cuộc Đông du Nam Hải vậy.

Chế độ Tông pháp có thể là chiếc “móng rùa” mà thần Cao Lỗ (Chu Công) đã dùng để chế ra chiếc nỏ thần của Thục Vương. Triệu Trọng Thủy là tôn thất nước Tần, đã phá bỏ chế độ Tông pháp, xác lập một “nỏ thần” khác là chế độ Pháp trị. Chính vì thế mà Thục Vương mất nước, nhà Tần lên làm thiên tử, lấy đất hai nhà Chu chia thành các quận Tượng, Tam Xuyên, Quế Lâm.

Tiếp theo thời Tần, thiên hạ Trung Hoa được thống nhất bởi một “đình trưởng” vô danh tiểu tốt là Lưu Bang, chứ không phải bởi một đại tướng quân dòng dõi nước Sở như Hạng Vũ. Thời thế đã rất rõ. Chế độ thế tập đã cáo chung. Nhường chỗ cho sự công bình giữa người với người. Tiêu chuẩn của xã hội lúc này là Pháp luật, chứ không phải là Thân tộc. Chính nhờ đó mà Trung Hoa mới trở nên thống nhất và mạnh mẽ dưới thời Triệu Vũ Đế Lưu Bang.

Lang Liêu bản kỷ

Hậu Tắc Cơ Khí

Truyện Bánh chưng kể, Lang Liêu nằm mơ thấy thần nhân bảo rằng: “Trong trời đất không có vật gì quý bằng gạo, vì gạo là vật để nuôi dân khỏe mạnh, ăn mãi không chán, không có vật gì hơn được. Nếu giã gạo nếp gói thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, hoặc lấy lá gói thành hình vuông để tượng trưng cho Đất, ở trong làm nhân ngon, bắt chước hình trạng trời đất bao hàm vạn vật, ngụ ý công ơn dưỡng dục của cha mẹ, như thế thì lòng cha sẽ vui, nhà ngươi chắc được ngôi quý”.

Vị thần nhân đã giúp Lang Liêu dùng gạo làm lễ vật là Hậu Tắc, người được Đế Nghiêu gọi là Nông sư. Hậu Tắc là tổ của nhà Chu, được Đế Thuấn đặt tên và ban họ Cơ. Tắc nghĩa là lúa tẻ, tức là lúa nước, chứ không phải lúa nếp (thử) trồng trên nương. Cũng như sự tích Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, chuyện Hậu Tắc trồng lúa nước cho thấy đây chắc chắn là một nhân vật lịch sử thời kỳ Hùng Vương Thánh tổ dựng “xã tắc” họ Hùng ở khu vực đất tổ Phong Châu.

Mẹ của Hậu Tắc là bà Khương Nguyên, vào rừng thấy vết chân người khổng lồ bèn dẫm vào rồi mang thai. Cho rằng đó là điềm không lành, khi sinh nở, Khương Nguyên bỏ đứa trẻ ra ngõ hẹp. Nhưng trâu ngựa đi qua đều tránh không dẫm vào đứa trẻ. Khương Nguyên bèn mang bỏ vào rừng, nhưng đúng lúc rừng lại đông người, nên bỏ vào lạch. Đứa trẻ được loài chim lấy cánh ủ cho. Khương Nguyên thấy lạ bèn mang con về nuôi và đặt tên là Khí (弃; nghĩa là bỏ).

Sự tích của ông Hậu Tắc giống một trong những truyền thuyết về Tản Viên Sơn Thánh. Mẹ Tản Viên là bà Đinh Thị Nguộc, người rất xấu, không ai lấy. Một hôm, bà vào rừng kiếm củi, giẫm phải một vết chân lạ, trở về nhà thụ thai. Vì hoang thai nên khi sắp sinh nở bà bị người làng ghét bỏ, đuổi ra khỏi làng. Bà phải vào rừng để ở và sinh ra Nguyễn Tuấn. Người làng bèn kéo nhau lên rừng bắt vạ. Hùm beo ra đuổi những người bắt vạ và hàng ngày mang thịt hươu nai về nuôi mẹ con Nguyễn Tuấn.

Lại có truyền thuyết khác kể rằng thần núi Tản Viên thuở lọt lòng bị bỏ rơi trong rừng, được một người tiều phu gặp đem về nuôi, đặt tên là Kỳ Mạng. Sở dĩ thần có tên nầy là vì trước khi gặp cha nuôi, đứa bé mới lọt lòng đã được dê rừng cho bú, chim chóc ấp ủ cho khỏi chết. 

Chữ Kỳ với Khí cùng một âm. Truyền thuyết này cho thấy ông Hậu Tắc, tổ của nhà Chu, được truyền thuyết Việt ghi vào dòng Tản Viên Sơn Thánh, tức là dòng lên núi theo mẹ về phía Tây.

Chu bản kỷ trong Sử ký Tư Mã Thiên cho biết: Hậu Tắc mất, con là Bất Truất nối dõi. Cuối đời Bất Truất, chính sự nhà Hạ Hậu suy, bỏ dùng chức Tắc. Bất Truất vì vậy mất chức quan, chạy vào vùng Nhung địch.

Hạ Hậu” ở đây là chỉ Hạ Khải, người nối tiếp Hạ Vũ, vì ông Hậu Tắc là người cùng thời với Hạ Vũ từ đời Nghiêu Thuấn. Hạ Khải trong truyền thuyết Việt là Lạc Long Quân. Hạ Khải “bỏ chức Tắc” tức là phế đi quyền nối dõi của con ông Hậu Tắc và đánh đuổi Bất Truất chạy vào vùng Nhung địch. Chính sự kiện này khởi đầu cho sự chia tay 2 dòng lên núi và xuống biển mà dòng ông Hậu Tắc là đại diện của Sơn Tinh, còn dòng Hạ Hậu là đại diện của Thủy Tinh. Dòng họ Cơ của Hậu Tắc bị dòng phía Đông tranh giành quyền lực, phải bỏ đất gốc mà chạy về phía Tây, để sau 14 đời mới lại phục hưng.

Chiếc mâm thời Tây Chu

Văn Vương Cơ Xương

Truyện Bánh chưng kể: Công tử thứ 9 là Lang Liêu… bèn lựa nếp hạt trắng tinh, không sứt mẻ, đem vo cho sạch, rồi lấy lá xanh gói thành hình vuông, bỏ nhân ngon vào giữa, đem nấu chín tượng trưng cho Đất, gọi là bánh chưng. Lại lấy nếp nấu xôi đem quết cho nhuyễn, nhào thành hình tròn để tượng trưng cho Trời, gọi là bánh dày…

Vua khen ngợi hồi lâu, rồi cho Lang Liêu được giải nhất. Vua dùng thứ bánh ấy để cung phụng cha mẹ trong các dịp lễ tết cuối năm. Thiên hạ mọi người đều bắt chước theo. Lấy tên là bánh Lang Liêu và gọi là Tiết Liệu.

Con số 9 là số chỉ phương Tây trong Hà thư. Lang Liêu nghĩa là thủ lĩnh của người Liêu Lão ở phía Tây Trung Hoa. Vị thủ lĩnh người Liêu Lão xuất phát từ phía Tây là Tây Bá Hầu Cơ Xương. Cơ Xương cũng là người đã viết ra Kinh Dịch, bao hàm đạo Âm Dương, Trời Đất, nên được truyền thuyết Việt kể là Lang Liêu chế ra bánh chưng vuông tượng trưng cho Đất, bánh dày tròn tượng trưng cho Trời.

Cơ Xương là hậu duệ 14 đời của Hậu Tắc. Truyền thuyết Việt chép chung 14 đời này vào thành chuyện Âu Cơ chia đôi đàn con Bách Việt, dẫn một nửa lên núi đi về phía Tây mà lập nước Văn Lang.

Người Liêu Lão được nhắc đến tại phần Phong Tục, Cổ Nam Việt, chương Châu Quận Thập Tứ, sách Thông Điển, thời Đường, nói về nước Nam Việt của nhà Triệu như sau:

Phía Nam Ngũ Lĩnh, các bộ lạc người Di người Liêu cư trú lẫn lộn… Thủ lĩnh ở đây đều dùng đồng đúc thành trống lớn, trống vừa đúc xong thì treo giữa sân, bày rượu để đón mời đồng loại (ăn mừng). Họ lại thường hay gây thù chuốc oán với nhau, hay đánh nhau, khi đó sẽ gõ trống, người khắp nơi liền tụ về (tham chiến) đông nghịt như mây. Kẻ có trống đồng tự xưng là Đô Lão, dân chúng sẽ tôn phục.

Theo đó, người Liêu Lão là tộc người sử dụng trống đồng làm nhạc khí quy tập cộng đồng (đón mời đồng loại), dùng trong quân đội (khi đánh nhau) và là biểu tượng của thủ lĩnh (Đô Lão). Tộc người trước thời Hán dùng trống đồng để hiệu lệnh thì rõ ràng là thuộc về nước Văn Lang của Hùng Vương. Thủ lĩnh lập nước của nước Văn Lang là Lang Liêu Cơ Xương, hay bà Âu Cơ. Tên nước Văn Lang là lấy theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương.

Âu đồng thời Tây Chu

Võ Vương Cơ Phát

Truyện Bánh chưng mở đầu: Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”.

Thời vua Hùng phá giặc Ân là thời của Văn Vương Cơ Xương khởi nghiệp, đến Võ Vương Cơ Phát đại thành diệt Trụ, lên ngôi của Thiên tử.

Con số 22 vị quan lang công tử của vua Hùng khá khó giải thích ý nghĩa vì có vẻ nó không hợp với con số biểu tượng nào trong Dịch học. Tuy nhiên nếu liên hệ với lời mở đầu: “Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân”, thì chợt nhớ tới câu hát của phường Ải Lao trong hội Phù Đổng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương

Ân sai hai tám tướng cường nữ Nhung

Xâm cương cậy thế khoe hùng

Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Người đánh giặc Ân cùng với Phù Đổng Thiên vương là Lang Liêu Cơ Phát. Do đó mới có phường Ải Lao (Lao = Lão = Liêu) là đội quân chính của Thánh Dóng. Bên phía giặc Ân là 28 “nữ tướng”. Như vậy, phía Lang Liêu sẽ có 50 người con trừ đi 28 nữ nhà Ân thành ra 22 người anh em. Con số 50 này cũng như số 100, là con số chỉ sự tổng hợp của 2 dòng theo Cha Lạc Long Quân xuống biển và theo Mẹ Âu Cơ lên núi. 28 nữ đại diện của nhà Ân là dòng Lạc Long. 22 nam của Âu Cơ Xương là dòng Liêu (Ải Lao) phía Tây nhà Chu.

Truyện Bánh chưng ghi: Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu; hai mươi hai anh em đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở.

Còn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể là khi người con trưởng của Âu Cơ là Hùng Quốc Vương lên ngôi, Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương… Vua mới phân quan lại, định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu trời, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc.

Lang Liêu Cơ Phát sau khi diệt Ân đã lên ngôi thiên tử, phân phong cho các anh em và công thần ở nơi làm chư hầu, gọi là phiên trấn, để quản lý các vùng đất. Đây là khởi đầu của chế độ phong kiến (phong tước kiến địa) trong lịch sử.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể tiếp: Thái tử là Hùng Quốc Vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn. Quốc Vương sau khi nối ngôi chính thống, chuyên lo giáo hóa đạo đức, khuyến khích nông tang, khiến dân không lo nghèo thiếu, nước có tích luỹ của dư. Bốn biển yên bình, không ai gian xảo giả dối, phong tục hồn thuần chất phác. Xét xem xuyên suốt cho đến bấy giờ, vua là bậc có nhiều công hưng trị, càng sáng tỏ hơn các đời trước, được người đời tôn xưng là bậc hiền quân.

Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm trăm vương, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, cùng là các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ. Đất đai 15 bộ này được xác định cương giới, định người trưởng quân gọi là Bô (bố), cha gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con).

Nam nữ đều xem theo dòng cha mà xưng. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù, phụ đạo. Cháu chắt của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời nối giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của các bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, truyền mãi nước Nam.

Thời kỳ này cũng được Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả gọi là thời Trị bình kiến phu, tức là trị quốc bình thiên hạ, kiến lập các nước chư hầu.

Thành Vương Cơ Tụng

Võ Vương băng, con là Cơ Tụng nối ngôi, còn nhỏ. Chu Công Đán là chú, nhiếp chính. Chu Công đặt ra các lễ chế là Chu Lễ, viết hào từ cho Chu Dịch. Hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh cùng với 3 vị giám thúc nổi loạn. Chu Công Đông chinh, dẹp được loạn Vũ Canh và Tam Giám, an trí đám ngoan dân nhà Ân ở Lạc Dương. Truyền thuyết Việt kể là tướng Cao Lỗ giúp Thục Phán bảo vệ thành Cổ Loa. Chu Công cũng là thần Đồng Cổ, chủ minh thệ trung với nước với vua.

Dưới thời Chu Thành Vương, nước Việt Thường ở vùng cửa sông Trường Giang mang lễ vật là chim bạch trĩ qua 3 lần sứ dịch vào đến Cảo kinh gặp Chu Công. Chu Công nhận lễ, nhận sự chầu phục của nước Việt Thường trong thiên hạ Trung Hoa. Lại ban cho sứ Việt Thường xe chỉ Nam để về nước. Sứ Việt Thường đi dọc sông Mê Kong, qua đất Lâm Ấp và Phù Nam rồi men theo biển mà về.

Con của Thành Vương nối ngôi là Chu Khang Vương. Người nối nghiệp Chu Công, hoàn thành việc xây dựng, yên định vùng đất Lạc Đông Đô là Tất Công. Truyền thuyết Việt gọi là Phan Tây Nhạc. Thời Thành Khang chi trị nhà Chu đã thâu tóm, thuần phục được toàn bộ thiên hạ Trung Hoa, gồm cả vùng đất cũ của nhà Ân ở Trịnh, Vệ, quý tộc nhà Ân ở Lạc Dương, dân nhà Hạ ở Việt Thường.

Dòng chữ “Mục Vương quyết chính” trên mâm đồng

Mục Vương Cơ Mãn

Chu Mục Vương là người đã củng cổ lại triều chính nhà Tây Chu, đánh dẹp Khuyển Nhung, chinh phạt Kinh Sở. Dấu chân của ông đã rải khắp thiên hạ. Ông cũng là người theo truyền thuyết được kể đã lên núi Côn Lôn thấy cung điện ngọc của Hoàng Đế và gặp bà Tây Vương Mẫu.

Ngọc phả Hùng Vương thì kể, vị vua Hùng thứ bảy, sau thời vua Hùng thứ sáu đánh giặc Ân, là Hùng Chiêu Vương, cũng gọi là Lang Liêu. “Hùng Chiêu Vương, buổi đầu tiên nối ngôi nghiêm khắc, chuyên về chính trị. Bãi bỏ khí giới, không dùng việc quân binh. Chăm lo sức dân, chăm sóc nền giáo hóa để mở mang trí tuệ. Ðúc kiếm báu (Thiên linh kiếm), ấn báu (Thiên linh ấn) làm báu vật của quốc gia để giữ yên xã tắc vững bền mãi mãi. Lập đàn ở núi Tam Ðảo, đến chùa Tây Thiên mở hội 7 ngày, 7 đêm để cho trai gái bốn phương dự hội vui. Lại đến chùa Phù Nghì lập vọng Tiên đàn cầu trời đất, mong được gặp Tiên. Trên đường trở về, gặp được nàng Ngọc Tiêu, con gái nuôi của vị Trưởng ông thôn Ðông Lộ rồi kết duyên, sinh ra Hùng Vĩ Vương, lập làm con trưởng.”

Hùng Chiêu Vương chỉ một vị vua của nhà Tây Chu vì chữ Chiêu = chiều, chỉ hướng mặt trời lặn. Sự tích Lang Liêu lên núi Tam Đảo cầu tiên chính là sự kiện Chu Mục Vương lên núi Côn Lôn gặp Tây Vương Mẫu.

Các vị Lang Liêu nối tiếp Chu Mục Vương là Cung Vương, Ý Vương, Hiếu Vương và Di Vương. 

Lai lôi thời Tây Chu

Lệ Vương Cơ Hồ

Truyện Bánh chưng kể: Về sau, anh em tranh giành nhau làm trưởng, mỗi người dựng “mộc sách” (hàng rào cây bằng gỗ) để che kín, phòng vệ. Vì thế, mới gọi là Sách, hay là Trại, là Trang, là Phường. Sách, hay Trại, Trang, Phường bắt đầu có từ đây vậy.

Nhà Tây Chu truyền đến Chu Lệ Vương thì bắt đầu suy. Lệ Vương sống xa xỉ, làm nhiều điều bạo ngược khiến nhân dân oán hận, dẫn đến loạn Quốc dân bạo động. Lệ Vương phải bỏ chạy đến đất Trệ. Trệ là đọc khác của Trại. Đất Trệ, có sách chép là đất Di (Di Lão?), nơi Lệ Vương nương náu có thể là địa danh Thạch Trại Sơn ở Vân Nam ngày nay, nơi có tộc người Di (Lô Lô).

Tên của các vị Lang Liêu từ Văn Vương đến Lệ Vương trong bài minh văn 340 chữ được đúc trên chiếc Lai lôi cổ bằng đồng.

Khi Lệ Vương lưu vong ở đất Trại, triều đình do 2 tướng quốc là Chu Công và Triệu Công quản lý, gọi là thời Chu Triệu cộng hòa. Lệ Vương mất, con là Chu Tuyên Vương lên nối ngôi, chấn hưng lại nhà Chu.

Những chữ: Cung Vương, Ý Vương, Hiếu Vương, Di Vương trên chiếc Lai lôi.

U Vương Cơ Cung Sinh

Cuối thời Tuyên vương, có đứa trẻ hát bài ca:

“Mặt trăng sẽ lên. Mặt trời sẽ lặn.

Cung dâu áo cỏ. Đồ vong nhà Chu.”

Theo Chu bản kỷ thì đây là khi xuất hiện Bao Tự. Bao Tự được Sử ký Tư Mã Thiên chép là từ nước dãi rồng của thời nhà Hạ, truyền qua nhà Ân Thương tới thời Lệ Vương mở ra, hóa thành con thằn lăn đen mà nhập cung. Tới thời Chu U Vương, vùng Tam Xuyên có động đất lớn. Thái sử nhà Chu là Bá Dương viết:

Nhà Chu sẽ mất. Khí của trời đất không để mất trật tự; nếu mất trật tự thì dân sẽ loạn. Khí dương ẩn náu mà không thể phát xuất, khí âm bị chèn ép không thể bốc lên, vậy nên có động đất.

Nay Ba Sông đã chấn động là do khí dương mất chỗ, mà khí âm dồn đầy. Dương mất là do âm, nguồn ắt bị tắc. Nguồn bị tắc, quốc gia ắt mất. Đất có nước tưới nhuần thì dân mới sử dụng được. Đất không có nước chảy, dân thiếu vật dụng, không vong sao được!

Xưa sông Lạc cạn mà nhà Hạ mất. sông Hà cạn mà nhà Thương mất. Nay đức của nhà Chu giống như buổi cuối của hai nhà kia rồi. Nguồn sông lại tắc, tắc tất cạn. Ôi, quốc gia dựa vào sông núi. Sông cạn núi lở, là điềm mất nước vậy. Sông cạn thì núi tất lở. Không quá mười năm nữa nước sẽ mất thôi. Sự ruồng bỏ của Trời không quá số này.

Thái sử Bá Dương, người đã lấy nhị khí âm dương hai thời Hạ Thương để khuyên răn Chu U Vương, là Lão Tử. Vùng Tam Xuyên là đất Bắc Việt ngày nay, nơi có đình làng Thổ Hà lưu dấu tích về Lão Tử đã đăng Chiên đàn Thất Diệu ở Cổ Loa, nhắc lại sự việc Đát Kỷ thời Trụ Vương nhà Ân qua chuyện Bạch Kê tinh. Chu U Vương không nghe theo. Lão Tử biết nhà Chu sắp vong nên rời bỏ thành Lạc Dương mà đi về phía Tây, chắc hẳn là đi gặp các vị Lang Liêu khai triều Tây – Chu thời Văn Vương, Võ Vương.

Chu U Vương sủng ái Bao Tự, đánh mất đạo lý trời đất âm dương của bánh chưng bánh dày từ Hậu Tắc, khinh thường các anh em chư hầu Bách Việt. Nhà Chu (triều Tây – Lang Liêu) vong. Hai mươi hai người anh em tranh giành nhau làm trưởng, mỗi người dựng hàng rào bằng gỗ để che kín, phòng vệ. Thiên hạ chuyển sang thời các liệt quốc Xuân Thu xưng bá chư hầu. “Cung dâu áo cỏ” là chỉ âm thịnh dương suy hay chư hầu lấn át thiên tử?

Thái sử Lý Bá Dương ký

Chiếc bình Lang Liêu

Chiếc bình cổ thời Tây Chu, gọi là Lai Lôi 逨罍, do có đúc một bài minh của một vị đại thần nhà Chu tên là Lai, ca tụng tổ tiên các đời đã phò tá các vua Chu từ Văn Vương, Võ Vương cho tới Lệ Vương. Hiện vật sưu tầm của Nhóm Nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt.

Bình là đồ đựng rượu, phần miệng tròn hẹp, có nắp. Phần vai tròn rộng, có 2 tai quai hình đầu thú ngậm vòng. Phần thân tròn như hình trống, phần thân dưới có 1 tai quai hình đầu thú (trâu). Phần chân vành tròn. Phần nắp, phần vai và phần thân trên trang trí bằng các hoa văn chấm, vạch, xoáy, hoa văn trám lồng. Đặc biệt nhất là trên phần thân có đúc chìm tới 340 chữ chia thành 42 dòng xung quanh thân chiếc bình. 

Bài văn trên chiếc Lôi tên Lai có tất cả 340 ký tự chữ Kim văn, đúc sâu, thư pháp đẹp. Tuy nhiên có 3 chữ bị quai đầu thú phần dưới che mất. 1 chữ Lai bị mất một nửa chữ ở vạch đoạn ghép phía dưới của thân bình. Thứ tự các dòng chữ không theo thông thường, mà một dòng ở bên này đọc tiếp sang một dòng ở phía đối diện. Do đó cần căn cứ theo minh văn trên chiếc Lai bàn, là vật cùng thời, cùng nội dung, để sắp xếp lại thứ tự các dòng chữ.

Nội dung của bài minh do một người là Lai kể. Đầu tiên ca ngợi các vị tiên tổ của mình là các Ông (công), Bác (bá), Thúc (chú) và Cha (khảo) đã phò tá 10 đời các vua Chu từ Văn Vương, Võ Vương, Thành Vương, Khang Vương, Mục Vương, Cung Vương, Ý Vương, Hiếu Vương, Di Vương cho đến Lệ Vương.

Lai là người phò tá cho Thiên tử đương thời, được giao nhiệm vụ cai quản cống phẩm các nơi, được vua ban cho các đồ màu đỏ và đen vàng để kết dây cho xe ngựa. Lai nhân đó tạo ra bảo vật này (chiếc Lôi) để kính chúc Thiên tử, tế hiếu tổ tiên, cầu phúc cho gia đình, bản thân và con cháu.

Với số lượng chữ nhiều, nhiều hơn cả trên bảo vật có tiếng của Trung Quốc là Sử Tường bàn, đề cập đến 10 đời các vị vua của vương triều Chu, chiếc bình Lai là minh chứng lịch sử có giá trị cao đối với những ghi chép về thế thứ nhà Tây Chu trong phần Chu bản kỷ của Sử ký Tư Mã Thiên. Đồng thời đây cũng là minh chứng cho đạo thờ tổ tiên trong các dòng họ quý tộc xưa, của thời gian cách đây trên 2.800 năm.

Giai đoạn Tây Chu của Trung Hoa tương ứng với thời kỳ Văn Lang từ khi Âu Cơ lập nước, Hùng Quốc Vương thắng Ân, phân phong chư hầu, đặt ra trăm quan. Nước Văn Lang trải qua các đời vua, gọi chung là các Lang Liêu, chỉ thủ lĩnh của người Liêu – Lão. Hiện vật của giai đoạn này trước trống đồng chính là những đồ đồng thời Tây Chu, đặc biệt là các đồ đồng có minh văn.

Nguyên văn bài minh văn đó như sau:

公考克明悊-?夾
朕皇享祖公弔克逨
幽明氒心夒遠能對
王穆王趪趩政四方扑
皇亞祖懿中殶諫克
朕弔穆穆趪趩龢訇于政
多賜逨休天子兑奠
匍有四分則繇隹乃
榮兑冢辭四方吳楚
考寶尊般休享孝
又逋彔永令會終逨
文王武王逨敢寶考
成王成受大令方惰狄
召康王方懷不廷雩
對荊雩朕皇高祖零
保氒辟考王𢕌王又
夕高朕用辟顯天子
不顯文武隹受大令
祖耆𤕌就乃令女足
魯或冢用作用皇祖
壽猶綰受余康無公

Trong đó có 3 chữ bị phần quai dưới của bình đúc đè lên che mất.

So sánh với bài minh văn trên chiếc mâm Lai (逨盤) cùng thời thì bài minh văn trên được sắp xếp và đọc như sau:

Viết:

 Phi hiển trẫm Hoàng Cao tổ Đan Công khảo, khắc minh thận quyết đức, giáp Văn Vương Võ Vương, đạt Ân, ưng thụ thiên kỳ mệnh, bồ hữu tứ phương, tịnh quyết cận cương thổ, dụng phối thượng đế.

Ư trẫm Hoàng Cao tổ Công Thúc, khắc lai Thành Vương, thành thụ đại mệnh, phương địch bất hưởng, dụng điện tứ quốc.

Ư trẫm Hoàng Cao tổ Tân Thất Trung, khắc u minh quyết tâm,du viễn năng đối, triệu Khang Vương, phương hoài bất đình.

Ư trẫm Hoàng Cao tổ Huệ Trung Lễ Phụ, hoà vu chính, hữu thành vu du, dụng hội Chiêu Vương, Mục Vương, hoàng hoàng chính tứ phương, phác đối Kinh.

Ư trẫm Hoàng Cao tổ Linh Bá, lân minh quyết tâm, bất đọa phi dụng tịch Cung Vương, Ý Vương.

Ư trẫm Hoàng Á TổÝ Trung Chú, gián khắc bảo quyết tịch Hiếu Vương, Di Vương, hữu thành vu Chu mệnh.

Ư trẫm Hoàng Khảo Cung Thúc, mục mục hoàng hoàng, hòa hoanh (tuân/vận) vu chính, tế vu Lai thất, phục Lệ Vương.

Lai tư toản trẫm Hoàng tổ khảo phục, kiền tịch cao, trẫm dụng tịch hiển Thiên tử, đa tứ Lai hưu,

Thiên tử đoài điện vô cương, củ huệ thụ chính, điện Chu hoàng, gián tiếttứ phương.

Vương nhược viết:

Phi hiển Văn Võ, ưng thu đại mệnh, bồ hữu tứ phương, tắc chựu duy nãi thánh tổ khảo giáp triệu Tiên Vương, lỗ cận đại mệnh. Kim dư duy kinh nãi tiên tổ khảo, thân tựu nãi lệnh, nhữ tư vinh đoài, nhiếp tư tứ phương, Ngô Sở cung Lai, tứ nhữ xích khang, u hoàng du lặc.

Lai cảm đối: Thiên tử phi lỗ hoặc nhiếp, dụng tác trẫm Hoàng tổ khảo bảo tôn ban, bảo hưởng hiếu tiền văn. Tiềnvăn chiêu phong tại thượng, hiển tại chính phong bột, tế Lai lỗ đa phúc, thọ do oản, thụ dư khang vô, công hữu, thông lộc, vĩnh mệnh, hội chung. Lai thần Thiên tử vương, Lai vĩnh dụng hưởng.

(Những chữ gạch chân là những chữ đã được hiệu chỉnh)

Dịch nghĩa bài minh văn:

Rằng:

Hiển hách quang vinh đức Cao tổ Đan Công của ta, có trí tuệ quang minh, đức sáng giúp Văn Vương, Võ Vương chinh phạt triều Ân, thừa mệnh lớn của trời, mở rộng bốn phương, an định lãnh thổ, kính thờ Thượng đế.

Kìa đức Cao tổ Công Thúc của ta, phò giúp Thành Vương hoàn thành đại mệnh, đánh đuổi các bang tộc không phục tùng, yên định bốn phương các nước.

Kìa đức Cao tổ Tân Thất Trung của ta, có tâm thâm trầm minh trí, khiến người xã gần đều thuận tòng, phù trợ Khang Vương thuần phục các bang tộc không vào triều.

Kìa đức Cao tổ Huệ Trung Lễ Phụ của ta, yên hợp chính sự, mưu lược thành công, phụ tác Chiêu Vương, Mục Vương chinh phạt bốn phương, đánh dẹp đất Kinh.

Kìa đức Cao tổ Linh Bá của ta, có tâm nhân từ sáng suốt, không dùng hình phép, phò tá Cung (Cộng) Vương, Ý Vương.

Kìa đức Cao tổ Ý Trung Chú, là người chính trực, phụ bảo Khảo (Hiếu) Vương, Di Vương, giúp thành cho mệnh nhà Chu.

Kìa phụ thân Cung Thúc, uy nghiêm rạng rỡ, hòa hợp đề cao chính sự, đem nhà Lai mà phụ tá Lệ Vương.

Lai kế thừa phụ thân tổ khảo, cần mẫn ngày đêm phụ tá Thiên tử. Thiên tử ban thưởng hậu cho Lai. Lai chúc Thiên tử mãi mãi vững bền, giữ đức triều chính, giữ yên nhà Chu, chỉnh trị bốn phương.

Vua lại nói:

Hiển hách Văn Vương, Võ Vương, thừa thu mệnh trời, ban khắp bốn phương. Trước đây các bậc thánh tổ khảo nhà ngươi đã giúp phò các tiên vương, phát huy mệnh lớn. Nay noi gương các bậc tiên tổ, lệnh nhà ngươi giúp cho công việc, quản lý đồ tiến cống của bốn phương Ngô Sở. Ban cho ngươi các vật màu đỏ và đen vàng để chế cương xe ngựa.

Lai cung kính xưng tụng Thiên tử vĩ đại hiển hách, bèn tạo tác ra vật đựng báu của các vị tổ khảo, giữ để dùng việc hiếu với tiên tổ. Tiên tổ mênh mang tại thượng, hiển linh mạnh mẽ, phù trì cho Lai được nhiều phúc, trường thọ, khỏe mạnh, có chức tước, có lộc, mệnh lâu dài, có kết cục tốt. Lai thần mong Thiên Tử, vương tôn. Lai mãi dùng vật này đế tế lễ.

Phần minh văn có tên 4 vị vua đầu Tây Chu: Văn Vương, Võ Vương, Thành Vương, Khang Vương

Thái sử Lão Tử Lý Bá Dương và học thuyết Âm Dương

Sử ký Tư Mã Thiên cung cấp một tiểu sử của Lão Tử với đầy rối rắm, không rõ ràng:

Lão Tử là người thôn Khúc Nhân, làng Lệ, huyện Khổ, nước Sở. Ông họ Lý, tên Nhĩ, tự là Đam. Làm quản thủ thư viện nhà Chu. Khổng Tử đến Chu, hỏi Lão Tử về lễ, Lão tử nói: «Những người mà ông đề cập tới, đã hóa ra người thiên cổ từ lâu. Nay chỉ còn lại những lời nói của họ…».

Lão Tử tu đạo đức. Cái học của ngài trọng ẩn dật, vô danh. Ở Chu lâu năm, sau thấy nhà Chu suy, liền ra đi. Tới quan ải, quan lệnh là Doãn Hỉ nói: «Ngài sắp đi ẩn, xin cố vì tôi viết sách.» Lão tử bèn viết Đạo Đức Kinh chia thành hai thiên gồm hơn năm nghìn chữ, đoạn đi, không biết sau ra sao.

Có người nói rằng: Lão Lai tử cũng là người nước Sở, viết sách mười lăm thiên, nói về chuyện đạo gia, đồng thời Khổng Tử. Có người cho rằng Lão Tử biết cách tu dưỡng nên đã thọ 160 hay 200 tuổi.

Khổng Tử mất, 129 năm sau sử ghi rằng: Thái tử Đam nhà Chu gặp Tần Hiến Công, nói: “Hồi đầu Tần và Chu hợp làm một, hợp năm trăm năm thì tách, tách bảy mươi năm thì bá vương xuất hiện.” Có người cho rằng Đam tức Lão Tử. Có người nói không phải. Người đời chẳng biết ai nói đúng, ai nói sai. Lão tử là một vị quân tử ẩn cư vậy.

Đọc thông tin về Lão Tử của Tư Mã Thiên thì không rõ công nghiệp của Lão Tử là gì, vì sao người đời lại tôn sùng ông như vậy? Ngoài việc bàn luận với Khổng Tử ra thì không thấy ghi gì thêm những việc mà Lão Tử đã làm để thành danh. Đoạn nói chuyện giữa Khổng và Lão có vẻ như là một cách tranh luận giữa 2 học thuyết Nho và Đạo hơn là một sự kiện lịch sử có thật.

Bản thân Tư Mã Thiên cũng đặt nghi ngờ, vì chỗ thì Lão Tử là Lão Lai cùng thời với Khổng Tử, chỗ khác lại là Thái tử Đam nhà Chu sau khi Khổng Tử mất tới 129 năm. Rồi thêm chuyện Lão Tử thọ 160 hay 200 tuổi vì… biết cách tu dưỡng (?). Người đời chẳng biết ai nói đúng, ai nói sai.

Tượng Lão Tử ở chùa Bổ Đà (Việt Yên, Bắc Giang)

Lão Tử minh, là bài minh trên tấm bia do Biên Thiều, quan cai xứ Trần khắc ngày Giáp tí năm Diên Hi thứ 8 (24/9/165) đời vua Hán Hoàn đế, ngoài những thông tin về cuộc tranh luận giữa Lão Tử với Khổng Tử và tuối thọ ngoài 200 của ngài còn một chi tiết đáng chú ý về hành trạng đương thời của Lão Tử:

Lão Tử tính Lý, tự Bá Dương, người huyện Tương nước Sở. Sau thời Xuân thu, Chu triều chia làm hai gọi là Đông quân, Tây quân… Lão tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Ba Sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.”

Thông tin về việc Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo Chu U Vương hết sức lạ. Lạ vì nếu vậy, đối với các “học trò” của Khổng Tử thì Lão Tử thành ra thọ trên 200 tuổi, để có thể gặp Khổng Tử. Rõ ràng là Lão Tử có hành trạng và sự nghiệp riêng từ thời Tây Chu chứ không phải trở nên nổi tiếng chỉ vì mấy câu nói của Khổng Tử. Chỉ vì các “Nho gia” không muốn chấp nhận điều này nên không ai xem xét Lão Tử ở thời Chu U Vương là ai.

U Vương là vị vua cuối cùng của thời Tây Chu. Chu bản kỷ trong chính Sử ký Tư Mã Thiên chép:

Tuyên Vương băng, con là U Vương Cung Sinh lên ngôi. U Vương năm thứ hai, Ba Sông Tây Chu có động đất. Bá Dương Phủ nói:

Nhà Chu sẽ mất. Khí của trời đất không để mất trật tự; nếu mất trật tự thì dân sẽ loạn. Khí dương ẩn náu mà không thể phát xuất, khí âm bị chèn ép không thể bốc lên, vậy nên có động đất.

Nay Ba Sông đã chấn động là do khí dương mất chỗ, mà khí âm dồn đầy. Dương mất là do âm, nguồn ắt bị tắc. Nguồn bị tắc, quốc gia ắt mất. Đất có nước tưới nhuần thì dân mới sử dụng được. Đất không có nước chảy, dân thiếu vật dụng, không vong sao được!

Xưa sông Lạc cạn mà nhà Hạ mất. sông Hà cạn mà nhà Thương mất. Nay đức của nhà Chu giống như buổi cuối của hai nhà kia rồi. Nguồn sông lại tắc, tắc tất cạn. Ôi, quốc gia dựa vào sông núi. Sông cạn núi lở, là điềm mất nước vậy. Sông cạn thì núi tất lở. Không quá mười năm nữa nước sẽ mất thôi. Sự ruồng bỏ của Trời không quá số này.”

Năm ấy Ba Sông cạn, núi Kỳ lở.

Vùng Ba Sông hay Tam Xuyên là đất Phong, nơi Văn Vương khởi nghiệp. Núi Kỳ cũng là đất gốc tổ của nhà Chu.

So sánh sự kiện của Bá Dương Phủ thời Chu U Vương nói đến với ghi chép của Lão Tử minh thì thấy rõ ràng 2 chuyện là một. “Thời U vương, vùng Ba Sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.” Tức là, Lão Tử chính là Thái sử Bá Dương của thời Chu U Vương. Bản thân Lão Tử minh cho biết Lão Tử có tên là Bá Dương.

Bia Cung sao thánh tích ở đình Thổ Hà với tên Lý Bá Dương của Lão Tử

Kỳ lạ hơn nữa, câu chuyện về Lão Tử bàn chuyện nhị khí âm dương mà khuyên răn vua còn có ở Việt Nam. Đình làng Thổ Hà ở Việt Yên, Bắc Giang là nơi có sự tích về Lão Tử tu hành tại đây. Bia “Cung sao thánh tích” làng Thổ Hà cho biết, Lão Tử nói: Họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng. Bá Dương chính là tên của Lão Tử

Tiếp theo Chu bản kỷ kể, U Vương sủng ái Bao Tự, phế Thân hậu, lập con của Bao Tự làm thái tử. Quan Thái sử nhà Chu là Bá Dương đọc sử ký: Nhà Chu mất rồi!… Thái sử Bá Dương nói: Gây nên họa rồi! Còn làm được gì.

Việc Chu bản kỷ đến 3 lần dẫn lời của Thái sử Bá Dương đời Chu U Vương như một dấu mốc cho việc chấm dứt thời Tây Chu cho thấy vai trò của vị Thái sử này không hề nhỏ. Cả Sử kýLão Tử minh đều cho biết Lão Tử là quan thủ tàng thất sử của nhà Chu. Rõ ràng gọi Lão Tử là chức Thái sử, tên Bá Dương là hoàn toàn khớp giữa các tư liệu về Lão Tử.

Lão Tử minh có đoạn kệ từ:

Trời làm chấn động Ba Sông,

Can vua, vả khiến cho lòng dân an.

Nếu Âm chẳng lăng loàn lấn át,

Át Dương kia, tan tác sao sinh?

Vùng Ba Sông hay Tam Xuyên thực ra chính là Tam Giang, chỉ nơi hội tụ ba con sông Đà, Lô, Thao ở Việt Trì. Tam Xuyên là quận mà sau này Tần lấy đất Đông Chu để lập quận. Tam Xuyên là vùng Bắc Việt ngày nay. Nên vùng Ba Sông bị động đất thời Chu U Vương chính là khi Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa trong truyền thuyết Việt.

Việc Âm lấn át Dương ở thời này còn là chỉ việc Bao Tự trong cung của Chu U Vương. Sử ký Tư Mã Thiên chép Bao Tự xuất xứ từ việc nước dãi rồng truyền từ thời Hạ, qua Thương sang Chu. Tới Chu Lệ Vương mở vải đựng dãi rồng ra xem thì hóa thành một con thằn lằn đen chạy vào hậu cung, nhập vào đứa nô tỳ mà sinh ra Bao Tự. Chu U Vương yêu mến Bao Tự, đã đốt lửa Ly Sơn lấy các chư hầu làm trò cười mà gây ra họa mất nước.

So sánh với sự tích Lão Tử ở Thổ Hà thì chợt nhận ra, truyền thuyết Lão Tử đăng đàn ở núi Sái Cổ Loa trừ diệt Bạch Kê tinh cũng chính là ám chỉ cảnh Âm thịnh Dương suy từ đời Hạ Thương tới Chu. Bạch Kê là Ân Hậu hay Đát Kỷ thời Trụ Vương, đã tái hiện trong hình của Bao Tự thời Chu U Vương. Thái sử Bá Dương Lão Tử đã lấy câu chuyện Đát Kỷ – Trụ Vương xưa để răn Chu U Vương qua việc đăng đàn ở Cổ Loa, nơi chiến trường xưa thời Ân – Chu (Hùng – Thục).

Vế đối Đông Chu phong vũ… ở đình Thổ Hà

Câu đối bất hủ ở đình Thổ Hà về Lão Tử Lý Bá Dương thời Chu ở non sông Nam Việt:

Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo giáo

Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác thần tiên.

Dịch nghĩa:

Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ thanh hư, mở Đạo Giáo

Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Thần tích ở Thổ Hà không kể gì đến việc Lão Tử gặp Khổng Tử cả. Có thể thấy đây là chuyện thêu dệt của các Nho gia đời sau khi muốn tôn sùng Khổng Tử. Hoặc thời Khổng Tử có một vị khác, là Lão Lai ở nước Sở mà Khổng Tử đã đến “tư vấn”. Nhưng Lão Lai tử hay cả Thái tử Đam sau này đều không phải là Lão Tử, người đã phát triển học thuyết Thái cực Âm Dương và Đạo Đức kinh dưới thời Chu U Vương.

Lão Tử là vị Thái sử của nhà Chu, một trong những sử gia đầu tiên của Trung Hoa, còn trước cả Tư Mã Thiên đến hơn nửa thiên niên kỷ. Cuốn sử thực sự đầu tiên của Trung Hoa chính là… huyền sử Việt, như Truyện Rùa Vàng, An Dương Vương xây thành Cổ Loa vậy.

Tết Đoan Ngọ kể chuyện Âu vàng ngàn thủa lễ non sông

Vua Trần Nhân Tông sau chiến thắng Bạch Đằng đã làm hai câu thơ bất hủ: “Xã tắc hai phen chồn ngựa đá. Non sông ngàn thủa vững âu vàng”. Âu vàng đã trở thành hình ảnh tượng trưng cho non sông đất nước từ hàng ngàn năm trước. Cùng với câu thơ “Rành rành định phận tại sách trời” trong bài thơ Nam Quốc sơn hà của thời Lý thì đây là những bản tuyên ngôn lịch sử hào hùng của dân tộc ta. Nhưng âu vàng và sách trời là gì mà lại có ý nghĩa to lớn như vậy?

1. Người Việt có câu ca dao: “Tháng năm là tết Đoan Dương. Nhớ ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang.” Như thế, ngày Tết Đoan Ngọ không chỉ là ngày diệt sâu bọ mà đó là một ngày lễ trọng đại trong lịch sử của người Việt, là ngày tế lễ tổ tiên và non sông đất nước.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể về sự ra đời của trăm người con trai của mẹ Âu Cơ: “Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 5, đúng ban ngày giờ Ngọ, mặt trời chiếu thẳng. Cái thai thần của Âu Cơ chuyển động, rồng mây đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc ánh như ngọc trắng, hương lạ thơm nức…

Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân rồng điện ngọc. Rồi bốn vị thiên tướng hiện ra… báo cho Hiền Vương đặt bào ngọc lên chiếc âu vàng, lệnh cho triều đình các tướng đến tề tựu ở ngôi chùa cổ ở Viễn Sơn, tức Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt.

Đầy 100 ngày sau khi bào ngọc nở ra trăm trai, có 8 vị tướng xưng là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Thượng Thiên Chư Phật Ngọc Đế sai xuống trợ giúp… Trời ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một viên ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển sách trời, một chiếc thước ngọc, để trên âu vàng, tất cả đều đặt trong chính điện.”

Chùa Thiên Quang trên núi Nghĩa Lĩnh

Theo như ngọc phả Hùng Vương thì ngày Đoan Ngọ 5 tháng 5 là ngày mẹ Âu Cơ sinh ra trăm người con trai ở Phong Châu. Người con trưởng là Hùng Quốc Vương lên ngôi vua, lập nên nước Văn Lang. Số 5 là con số trung tâm của Hà Lạc, chỉ thủ lĩnh. 5 là Ngũ, cũng là Ngọ. Do đó giờ Ngọ, ngày Ngọ, tháng Ngọ, năm Canh Ngọ đều có ý chỉ vua, chỉ thủ lĩnh của cộng đồng dân tộc Việt. Đoan nghĩa là bắt đầu. Đoan Ngọ là ngày ra đời vị vua của đất nước, hay ngày lập quốc. Ngày tết Đoan Ngọ như thế là ngày tế lễ nhớ đến tổ tiên và cầu chúc cho non sông vững bền, một tục lệ đã có từ hàng ngàn năm nay trong phong tục của người Việt.

2. Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể tiếp rằng, các hoàng tử đã thành những người lớn, nhưng trong triều không có ai có thể phân biệt được trưởng thứ và tên gọi. Hiền Vương lập đàn cầu trời thì có một vị Tiên ông xuất hiện, cầm gậy trúc, rửa chân trên bàn đá ở cạnh chùa Hoa Long bên bến sông Việt Trì. Vua cho mời Tiên ông vào hỏi chuyện và nhờ giúp cho việc đặt tên trăm người con trai.

Tiên ông lấy bút viết ra, đặt trăm tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc âu vàng, phân định thứ bậc anh em. Trăm hoàng tử đến hội ở chính điện, mà nhận chữ đề tên, trong tên có cùng một tiếng. Một người là con trưởng, theo như lời định được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước âu vàng nhận danh hiệu được ban.”

Trong sự tích bào ngọc của mẹ Âu Cơ nở ra trăm người con trai, trưởng thành và được phân thứ bậc thì luôn nhắc tới một chiếc “âu vàng” (nguyên văn là “kim bàn”). Chiếc âu này đã đựng bào ngọc đặt ở trên núi Nghĩa Lĩnh, rồi lại dùng để đựng các bảo khí trời ban, và sau đó dùng để ghi tên và thứ tự cho trăm hoàng tử. Chiếc âu vàng là thứ gì mà lại quan trọng đến vậy trong huyền sử lập quốc của người Việt?

3. Thật vô cùng bất ngờ khi nhận ra rằng, chiếc âu vàng của Hiền Vương Âu Cơ là hình ảnh của một vật hoàn toàn có thật, mang ý nghĩa lớn lao như những dòng sử đầu tiên khi cha sinh mẹ đẻ, khai mở nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Một chiếc âu vàng như vậy là một cổ vật từ thời Tây Chu, cách đây khoảng 3.000 năm, tương đương với thời lập quốc Văn Lang. 

Âu đồng thời Tây Chu

Chiếc âu cổ đúc bằng đồng, có 3 chân là hình 3 tượng người đang ngồi quỳ như hành lễ. Thành phía bên ngoài của âu được trang trí bằng các hoa văn rồng và họa tiết vân lôi tinh tế. Trong lòng âu, trên nền vàng óng ánh của đồng cổ, là một bài minh văn đúc chìm, gồm 12 dòng, cộng tất cả là 144 chữ. Khoảng giữa thành của âu có 2 dòng chữ chạy xung quanh mâm, mỗi dòng gồm 10 chữ Kim văn. Đây là dạng chữ Kim văn, được đúc chìm, sâu, còn khá sắc nét, thể hiện thư pháp tiêu biểu của thể chữ này vào thời kỳ Tây Chu.

Bài minh văn trong lòng chiếc âu này có thể được đọc dịch như sau:

Minh rằng: Khi [Chu] Văn Vương lên nắm chính sự, gian nan để có được trên dưới. [Chu] Võ Vương chinh chiến khắp nơi, khuyến dân được lâu bền tốt đẹp, liên tục phạt Di. Khi lập con nối ngôi [Chu Thành Vương], có các đại thần tả hữu giúp trị, thi hành khuôn phép của Vương.

Thiên tử là một người cao cả. Trời ban cho các bậc văn võ xử lý công việc trên dưới.

Tông thất của Hạo bang [chỉ nhà Thương] mất, sau nhờ giữ mệnh phúc nên nhánh Kinh vẫn còn. Lại sinh ra việc dấy quân. Các quan Thiệu Chu chinh phạt Kinh.

Tốt đẹp thay tổ ở đất Vi. Võ Vương chiếm đất Vi, sai liệt tổ của nước đã mất đến gặp, [Võ Vương] lệnh cho Chu Công ân xá, cho dời đến vùng đất thờ của Ất Vương [Thiên Ất, tức Thành Thang]

Đến Tổ Tân có nhiều con cháu, duy giữ việc tế tự. Văn Công nối nghiệp, ông vất vả ngày tháng, tìm hiểu học sử, phép tắc đầy đủ, kế nối điều lành. Sau đó Tổ Văn ghi chép lại, quyết vì dân sinh, làm thành phép tắc, năm đó bền lòng quyết hợp, lấy đó mà dùng để cai quản.

Bài Kim văn trong chiếc âu cổ kể về giai đoạn lập triều của nhà Chu, từ khi Văn Vương khởi dựng, Võ Vương chinh phạt, yên định thiên hạ, đến Thành Vương cùng các đại thần Thiệu Công, Chu Công phụ tá, lập ra khuôn phép chế độ, bình định Kinh phương (quân Kinh thời Chu Thành Vương là chỉ cuộc nổi loạn của Vũ Canh, có Canh = Kinh). Người tạo ra chiếc âu này là con cháu của nhà Ân Thương, xưng là họ Vi. Khi Chu Võ Vương phạt Ân, đã triệu kiến Liệt tổ họ Vi (tức Vi Tử Khải, là anh cùng cha khác mẹ của Trụ Vương) đến gặp, rồi cho hưởng phong ở vùng đất nơi Thiên Ất Thành Thang đã khởi nghiệp lập Thương. Đến vị tổ tiếp theo của họ Vi tên là Tân, tiếp tục giữ gìn việc tế tự. Sau đó vị tổ Văn ra sức học tập, ghi lại những dòng sử này vào chiếc âu, dùng để cúng tế hiếu lễ với thiên tử Chu và truyền đời đời cho con cháu.

4. Những thông tin được ghi lại trên chiếc âu vàng là nỗ lực ghi chép lịch sử rất sớm về thời kỳ nhà Chu lập quốc, phân phong chư hầu cho các đại công thần và cho con cháu các triều đại trước đó. Trong bài sử này, vị vua Chu cuối cùng được nhắc đến là Chu Thành Vương, nên ước đoán, chiếc âu có bài minh văn này được tạo ra dưới thời vị vua Chu tiếp theo là Khang Vương (1020 TCN – 996 TCN), cách nay khoảng 3.000 năm.

Ở Trung Quốc, một chiếc âu có chữ Kim văn tương tự đã được phát hiện, có tên là “Sử Tường bàn” và được xếp là 1 trong số 64 bảo vật cấm mang ra khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, bài Kim văn trên âu Sử Tường dài hơn, kể sự việc tới thời Chu Mục Vương, nên niên đại của nó sau chiếc âu mô tả ở trên khoảng 60 năm.

Những bài minh văn trên âu vàng đúng là những cuốn “sách trời”, chứa đựng lịch sử 3.000 năm trước, từ khi Hiền Vương Âu Cơ (tức Chu Văn Vương) mang nặng đẻ đau, gian nan khởi dựng nước Văn Lang, đến Hùng Quốc Vương (tức Chu Võ Vương) lên ngôi thiên tử, phân định thiên hạ, chia các anh em ở trăm nơi đầu núi góc biển làm chư hầu, cha con nối tiếp nhau, đời đời thế tập dòng họ và đất đai. Những dòng Kim văn đúc trên các đồng khí Thương Chu là những tấm bia hàng ngàn năm của lịch sử cổ đại, chứng tích cho thời kỳ xã hội người Việt chuyển mình từ chế độ thị tộc sang chế độ phong kiến, lập nên một thiên hạ rộng lớn bao trùm toàn cõi trời Đông.

Phần chữ Vạn đại tử tử tôn tôn vĩnh dụng bảo đậu

5. Nguyên văn câu thơ của vua Trần Nhân Tông là “Sơn hà thiên cổ điện kim âu”, trong đó chữ “điện” nghĩa là bày đặt tế lễ. Vua Trần viết bài thơ này khi đang làm lễ tế mừng non sông chiến thắng ở Chiêu Lăng, do đó mới nhắc đến việc “điện kim âu” (đặt tế lễ trên âu vàng). Chiếc âu vàng thời Tây Chu ở trên ngoài việc xác nhận việc phân phong chư hầu (họ Vi) thì đồng thời cũng dùng cho mục đích tế tổ tiên và thiên tử. Dòng chữ Kim văn ở hai bên thành chiếc âu dịch nghĩa như sau: “Vua sớm tối dùng cho con cháu nhà Chu hiếu lễ tế tự. Trước tạo ra chiếc âu làm vật quý dùng lâu dài cho con cháu vạn đời.”

Câu thơ hào hùng của vua Trần “Non sông ngàn thủa vững âu vàng” có cùng ý nghĩa “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước” như lời Bác Hồ đã từng căn dặn bên đền Giếng ở núi Hy Cương. Nhân ngày giỗ mẹ Việt Thường, Văn Lang, xin dâng một nén hương lên ngôi chùa Thiên Quang linh thiêng trên núi Nghĩa Lĩnh để nhớ lại công sức của các bậc tiền nhân đã gian nan dựng và giữ non sông ngàn thủa trước âu vàng.

Bài đăng trên báo Lao Đông cuối tuần số 24 ngày 11-13/6/2021

Chim cú núi Thất Diệu và lá thư của Mẫu Bạch Kê

Người Việt ai cũng biết câu chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây xong lại đổ. Vua lập đàn cầu khấn thì được một Lão ông đến chỉ cách đón thần Kim Quy về giúp đỡ, trừ diệt con Gà trắng tu luyện ngàn năm thành tinh, đã tụ tập yêu quỷ trong núi phá thành. Truyện về Ma gà và Quỷ núi ở Cổ Loa là một trong những câu chuyện thần bí đáng sợ nhất trong kho tàng truyền thuyết Việt. Nhưng liệu đằng sau truyền thuyết này ẩn chứa sự thực nào trong lịch sử người Việt?
Truyện Rùa Vàng của Lĩnh Nam chích quái kể: “Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có quỷ. Có người nhạc công triều trước chôn ở đây, hóa thành quỷ. Ở bên cạnh, có một quán trọ cho khách vãng lai, chủ quán tên là Ngộ Không, có một người con gái và một con gà trắng, vốn là dư khí của quỷ thần, phàm có khách qua đường nghỉ đêm ở quán, thì quỷ tinh lại biến hóa muôn hình vạn trạng, làm hại người chết rất nhiều. Nay giết được con gà trống trắng và con gái chủ quán ấy thì trấn áp được yêu tinh. Con tinh ấy sẽ hóa ra một lá thư của yêu, cho con chim cú mèo ngậm bay đậu lên trên cây chiên đàn, tâu cùng Thượng đế để xin phá thành”.
Tìm hiểu bản chất của đoạn truyện trên, xin đi sâu vào từng nhân vật được nói tới trong sự tích là Ma gà, Quỷ núi, Chim cú và Lão ông.

Mẫu Bạch Kê – Vua bà Ma Lôi

Trong truyện Rùa vàng, Bạch Kê tinh ẩn hình trong người con gái của quán trọ ở chân núi tại làng Ma Lôi. Nói cách khác Bạch Kê là tinh nữ và có tên là Ma Lôi. Chữ Ma thực ra là âm đọc sai của Má – Mụ – Mẫu.
Ở núi Thất Diệu nay là xã Yên Phụ, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, có đền Bạch Kê thờ một vị Mẫu, tương truyền là công chúa con vua Hùng. Cổng đền có đôi câu đối:
鴻 貉 遺 風 粧 體 勢
僊 龍 餘 裔 啟 洪 基
Hồng Lạc di phong trang thể thế
Tiên Long dư duệ khải hồng cơ.

Dịch nghĩa:
Phong tục Lạc Hồng hình thể đẹp
Dòng dõi Rồng Tiên mở cơ đồ.

Nghi môn miếu Bạch Kê

Trong cấm cung của đền có bức tượng chính bằng gỗ thể hiện một vị Mẫu, xưa đội mũ hình đầu gà, gọi là Mẫu Bạch Kê. Như vậy Bạch Kê là dòng dõi Lạc Hồng, miêu duệ Rồng Tiên của vua Hùng. Điều này tương ứng với câu nói của thần Kim Quy: Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước. Thục An Dương Vương đã đánh dẹp triều Hùng rồi xây thành. Bạch Kê là một vị nữ, dòng dõi của nhà Hùng, hiện lên báo oán ở núi Thất Diệu, làm cho thành cứ xây lại đổ.
Ở Yên Phụ mẫu Bạch Kê được gọi là Bà chúa Núi và cũng được thờ ở đình và đền Yên Phụ trên núi Thất Diệu. Ở đình và đền Yên Phụ thờ vị đức Vua bà Ma Vương, là tên thần hiệu sùng kính mà dân gian vùng Yên Phụ thường tôn xưng. Sắc phong, mỹ từ của Vua bà được chép trong Hương ước của Tứ Yên (Yên Phụ, Yên Hậu, Yên Tân, Yên Vĩ) như sau:
“Phương Dung trinh liệt, Nhân hiếu từ thuận đoan trang, Trinh tiết u nhàn, Khoan hoà ý đức, Thuận tắc thận hạnh, Khắc cẩn ôn hoà, Gia huệ cẩn tiết, Hậu đức chí nhân, Phổ tế trinh thục, Tuy lộc diên tường, Thuần nhất huy nhu, Diên phúc long khánh, Túc nghi gia phạm, Hồng từ thục chất, Trinh thuận hiển linh, Huy gia trinh nhất Ngọc chất nương Hậu phi Phu nhân Đại vương“.
Tài liệu ở Yên Phụ cho thấy, Mẫu Bạch Kê là một vị Hậu phi họ Ma (Ma Lôi). Đối chiếu với truyền thuyết về Ma Cô Tiên trong Truyện Giếng Việt ở núi Châu Sơn thì Mẫu Bạch Kê chính là Ân Hậu, vợ của vua Ân trong cuộc chiến với Thánh Dóng. Ân Hậu cũng là tướng cầm đầu quân đội nhà Ân sang đánh nước Văn Lang, được ngọc phả Hùng Vương gọi là Thạch Linh thần tướng.
Cuộc chiến giữa Hùng và Thục ở đây như thế là nói tới sự kiện nước Văn Lang với Phù Đổng Thiên Vương chống lại giặc Ân. Khu vực núi Thất Diệu nằm ở giữa của Sóc Sơn, là căn cứ của Thánh Dóng, và Châu Sơn, là căn cứ của tướng Ân. Hẳn vùng Yên Phong này đã là chiến trường chính trong cuộc đụng độ giữa nước Thục Văn Lang và Hùng Ân Vương. Kết quả như đã biết trong Truyện Giếng Việt: “Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở Địa phủ”. Người tử trận không phải là Ân Vương, mà là Ân Hậu, tức Vua bà họ Ma hay Mẫu Bạch Kê.

Mẫu Bạch Kê

Vua Chờ – Lạc Công Quý Minh

Truyện Rùa Vàng kể: Trong núi có quỷ, có người nhạc công triều trước chôn ở đây, hóa thành quỷ.
Khu vực núi Thất Diệu từng có nhiều hài cốt, nhiều đến mức nơi đó có tên là phố Sọ. Những cái tên có chữ Yên/An (Yên Phụ, Yên Phong, An Ninh) cho thấy đây là nơi an táng yên nghỉ những binh sĩ, tướng lĩnh của một thời. Vị “nhạc công” triều trước ở trong núi là ai mà lại hóa thành quỷ chống phá Thục Vương xây thành?
Nằm không xa núi Thất Diệu tại thị trấn Chờ có ngôi đền rất cổ là đền Hàm Sơn, hay còn gọi là đền Chờ Cả. Đền này thờ một vị Đại vương có tên trong quốc tự điển là Quý Minh. Người dân địa phương gọi thần là Vua Chờ. Trong đền có mộ của Quý Minh. Thần tích kể rằng Quý Minh là một trong 3 người anh em của Tản Viên Sơn Thánh. Cùng với Cao Sơn, Quý Minh đã được bà mẹ nuôi là Ma Thị Cao Sơn Thần nữ gửi cho em là Ma Lôi nuôi dưỡng. Sau này Quý Minh tham gia trận chiến chống lại quân Thục.
Có thể nhận ra, vị “nhạc công” ở trong núi chính là Quý Minh. Từ “nhạc” còn có phát âm là “Lạc”. Nhạc công tức là Lạc Công, chỉ vị thủ lĩnh đất Lạc lúc đó. Sách Đại Nam nhất thống chí chép rằng: Đền thần Quý Minh ở đỉnh núi Hàm Sơn, thuộc xã Nội Trà, huyện Yên Phong. Tương truyền thần là con của của Lạc Long Quân”. Đây chính là lý do mà Quý Minh đã được gọi là Lạc Công, rồi đọc thành “nhạc công” ở núi Thất Diệu.
Quý Minh là một trong Tam vị Tản Viên Sơn tinh nên mới được truyện Rùa Vàng kể là “quỷ trong núi”. Thần tích cũng cho thấy mối liên quan trực tiếp giữa Quý Minh Đại vương và Ma Lôi, tức mẫu Bạch Kê ở núi Thất Diệu. Quý Minh là một đại tướng của Hùng Vương chống lại Thục Vương, cũng giống như mẫu Ma Lôi Bạch Kê đã nói ở trên.
Truyện Rùa Vàng kể An Dương Vương xây thành ở đất Việt Thường. Việt Thường là tên triều đại do Lạc Long Quân khai sáng mà Quý Minh Đại vương là thủ lĩnh cuối cùng ở vùng đất Lạc. Bản thân nhà Ân Thương cũng được gọi là Việt Thường, như bài thơ đề miếu Ân Vương trong Truyện Giếng Việt:
Thắng thua một cuộc không Ân đức
Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường.

Cổng sau đền Hàm Sơn

Chim Cú mèo

Truyện Rùa Vàng kể sau khi An Dương Vương cùng thần Kim Quy giết con Gà trắng trong quán Ma Lôi, Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Trời gần tối, Vua và Rùa Vàng leo lên núi Việt Thường thấy quỷ tinh đã biến thành con chim cú, ngậm lá thư bay lên chiên đàn.
Việc Thục Vương đào được nhiều nhạc khí cổ ở núi Việt Thường, rồi thấy chim Cú mèo (Si – hưu) ngậm lá thư bay lên chiên đàn không ngờ lại là một hình ảnh rất thật của thời đại nhà Ân Thương cách nay hơn 3.000 năm. Trên nhiều đồ đồng tế khí của nhà Ân thường dùng hình chim Cú trong tạo hình. Một đôi bình đồng có hình chim Cú như vậy được thấy ở Việt Nam.

Chiếc bình chim Cú thời Ân Thương (Hiện vật Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

Mỗi chiếc bình có tiết diện hình trứng, chiều ngang chỗ rộng nhất 10 cm, chiều rộng chỗ rộng nhất 9cm, chiều cao cả nắp 20 cm. Mỗi một mặt bình được đúc nổi ở giữa là mặt một con chim Cú với 2 mắt tròn to, có mi mắt, mỏ nhọn. Phía trên có 2 tai to nhọn (tai mèo). Phần thân Cú có cánh và chân ở 2 bên. Xung quanh con Cú được trang trí bằng những hình rồng quỳ nhỏ.
Nắp của chiếc bình có hình 4 con rắn với đầu to, đang há miệng, lộ cả 2 chiếc răng nanh. Thân rắn ngắn, được trang trí bằng các họa tiết tạo bởi 2 hình thoi lồng vào nhau, một dạng họa tiết rất đặc trưng ở đồ đồng thời Ân Thương. Ở đỉnh nắp có núm cầm hình thang chóp nhọn.
Toàn bộ chiếc bình được trang trí nền bằng hoa văn vân lôi vuông hoặc tròn, phủ một màu đồng cổ xanh lam độc đáo và đẹp mắt. Đôi mắt Cú mèo tròn to đúc nổi ở giữa thân bình tạo một ấn tượng rất trang nghiêm. Nhìn tổng thể chiếc bình có cảm tưởng như hình một chiến binh đang đứng thẳng, rất dũng mãnh với đầy đủ mũ giáp, áo giáp, mắt to tai lớn, có nanh có mỏ.

Phần thân của chiếc bình Cú thời Ân Thương thứ hai (Hiện vật Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

Ở nghi môn miếu Bạch Kê tại Yên Phụ có đôi câu đối nói tới những đồ đồng từng được khai quật tại đây:
Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân.

Dịch nghĩa:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.

Trong đó, 2 chữ “hỏa điền” 鈥鈿 dùng bộ Kim 金, chỉ các vật dụng bằng kim loại (đồng).
Những đồ dùng hình chim Cú mèo của nhà Ân có dáng vẻ của một tướng quân hùng dũng. Rất có thể đây là những đồ “nhạc khí” hay “hỏa điền” của Quý Minh Đại vương, vị Lạc tướng của nhà Ân đã chống Thục trên miền đất Việt Thường vào thời hơn 3.000 năm trước.

Lá thư của yêu tinh

Truyện Rùa Vàng kể, Bạch Kê tinh sau khi bị giết hóa thành một lá thư. Rùa vàng liền biến thành con chuột theo sau, cắn vào chân Cú, lá thư rơi xuống đất. Vua vội nhặt lấy, lá thư đã bị mọt ăn quá nửa.
Điều hết sức bất ngờ là dưới chân chim Cú trên đôi bình thời Thương lại cũng có một “lá thư”. Đó là những chữ tượng hình cổ được khắc lớn và sâu. Dưới đáy mỗi bình có 10 chữ dạng Kim văn, loại chữ của thời Ân Thương dùng trên đồ đồng. Đây chính là lá thư mà chim Cú đã ngậm khi bay lên chiên đàn ở Cổ Loa.
Những chiếc bình đồng hình chim Cú cho phép hiểu ý nghĩa câu kể: khi chim Cú bị cắn rơi lá thư, lá thư đã bị “mọt ăn” (đổ thực) mất quá nửa. Ý nói là mảnh đáy bình có khắc chữ đã bị rỉ mất phân nửa, nên có nhiều chữ không đọc được.

Kim văn trên đáy bình Cú thứ nhất (Hiện vật Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

Những chữ Kim văn trên đáy một chiếc bình Cú có thể đọc được như sau:
亡宗兵西士宫追? 民?
Vong tông binh Tây sĩ cung truy ? dân ?
Cho dù không đọc được hết những dòng chữ này nhưng rõ ràng là nội dung viết về hành động của quan (sĩ) binh. Như thế có thể liên hệ chiếc bình này với Quý Minh đại vương, thủ lĩnh cầm quân vùng đất Lạc chống lại Thục Vương.
Lá thư thứ hai dưới đáy chiếc bình Cú có các chữ:
女行享金至王?毛? ?
Nữ hành hưởng kim chí vương ? mao ?  ?

Kim văn trên đáy chiếc bình Cú thứ hai (Hiện vật Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

Trong đó chữ đầu tiên là chữ Nữ 女, chỉ phụ nữ. Còn có chữ Vương 王 ở dạng tượng hình sớm (nét ngang dưới cùng được cách điệu). Đặc biệt “lá thư” này có chữ Mao 毛 chỉ lông của động vật và một chữ không đọc được nhưng rất đẹp, có tượng hình đầu chim. Có thể nói “lá thư” này do một Vương nữ (Hậu phi) dưới hình một loài chim biến thành cũng không phải là so sánh vô lý.
Hình tượng chim là tín ngưỡng thờ vật tổ của nhà Thương, bắt nguồn từ sự tích bà Giản Địch nuốt trứng chim Huyền điểu mà sinh ra Tử Tiết, là ông tổ của nhà Thương. Kinh Thi có câu: “Thiên mệnh Huyền Điểu, giáng nhi sinh Thương“, nghĩa là: Trời cho chim đen giáng hạ thành Thương. Huyền điểu không phải là con chim màu đen mà là con chim tượng trưng cho phương Bắc nay. Huyền điểu theo một số tác giả cũng có thể chính là chim Cú, loài chim hoạt động trong bóng tối.
Những nghiên cứu trước đây như của GS. Trần Quốc Vượng cho rằng Truyện Rùa Vàng nói tới sự xung đột giữa bộ tộc Núi thờ Chim và bộ tộc Nước thờ Rùa của người Việt. Nhưng thật bất ngờ khi biết rằng “bộ tộc thờ Gà trắng” trong truyền thuyết ấy là nhà Thương Ân. Và như thế, “bộ tộc thờ Rùa vàng” của Thục An Dương Vương phải là nhà Chu, triều đại đã lật đổ nhà Ân mà lên ngôi thiên tử của thiên hạ.

Huyền Thiên Lão Tử

Còn một nhân vật nữa trong sự tích Sát quỷ ở thành Côn Lôn (cách gọi thành Cổ Loa thời nhà Đường) là vị Lão ông đã cử thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương. Vị Lão ông này không phải ai khác mà chính là Lão Tử, người được thờ ở làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang), cách núi Thất Diệu không xa.
Bia “Cung sao sự tích thánh” ở đình Thổ Hà cho biết, vị thần ở đây thờ có họ là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng. Thời An Dương Vương, Vua xây thành có những u hồn và tà ma quấy nhiễu. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo Vua rằng: xin Vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi ngay hôm đó Người sai Thanh giang sứ, hiệu là Thần Quy, đến giúp trừ phép quỷ, giết Bạch Kê. Lại đào trong núi Thất Diệu được nhạc khí thời cổ cùng hài cốt, đem đốt đi. Từ đó yêu ma tan hết.

Bia Cung sao thánh tích ở đình Thổ Hà

Như vậy, Lão ông trong Truyện Rùa Vàng chính là Lão Tử hay Thái Thượng Lão quân, sau được truyền thuyết hóa thành Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần bảo hộ của thành Cổ Loa. Tiểu sử của Lão Tử được ghi trong bài Lão Tử minh như sau: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U Vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Đoạn trích “nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương” đã ghi rất đúng câu chuyện ở núi Thất Diệu. “Âm khí thời Thương” là Mẫu Bạch Kê hay Ân Hậu Ma Lôi. Còn “Dương khí thời Hạ” là Lạc tướng Quý Minh, vốn gốc là dòng dõi nhà Hạ từ Lạc Long Quân.
Để hiểu được dòng chảy lịch sử Việt trong câu chuyện này có thể điểm lại những sự kiện thời Tam đại Hạ Thương Chu trên đất Việt. Sơ khai Nam Việt hữu Kinh Dương Vương, Hoa sử ghi là ông Đại Vũ. Khi Kinh Dương Vương mất, quyền hành định giao lại cho Đế Lai, là dòng dõi từ Viêm Đế – Đế Nghi. Thế nhưng, con của Kinh Dương Vương là Lạc Long Quân đã làm cuộc đảo chính đuổi Đế Lai, giành lấy quyền hành (chiếm nàng Âu Cơ). Đế Lai được Hoa sử gọi là ông Bá Ích, đã phải bỏ vùng đất Lạc mà đi về phía Tây, gây dựng đất Âu.

Sơ đồ Tam đại Hạ Thương Chu ở đất Việt

Lạc Long Quân được Hoa sử gọi là Hạ Khải, bắt đầu nhà Hạ với chế độ cha truyền con nối. Dòng Lạc Long Quân phát triển mở mang đất đai về phía Đông, truyền tới Hạ Kiệt vô đạo, bị Thành Thang, thủ lĩnh bộ tộc phương Bắc nay (với biểu tượng là chim “Huyền điểu”) lật đổ. Thành Thang dựng nên nhà Thương.
Nhà Thương là chế độ phụ đạo chiếm hữu nô lệ nên các vua Thương được gọi là Phụ (cha), các hậu phi được gọi là Ma/ Mẫu/ Phụ (mẹ). Giai đoạn cuối của nhà Thương gọi là nhà Ân. Vị vua cuối cùng của dòng theo cha Lạc Long này được gọi là Hùng Duệ Vương, hay Ân Trụ Vương.
Dòng Đế Lai đi về phía Tây lập nên vùng đất Âu. Tới thời Ân dòng này trở thành một trong những chư hầu lớn nhất miền Tây khi đó, là Tây Bá Hầu Cơ Xương. Sử Việt gọi là Thục Vương hay Âu Cơ. Trụ Vương thất đức, thiên hạ oán hận. Thục hầu Cơ Xương dưỡng đức trước thiên hạ, theo thiên mệnh mà khởi binh chống Ân. Nhưng đầu tiên ông tiến đánh nước ở phía Bắc xưa (phía Nam nay) của Bắc Bá Hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất Sùng hay đất Lạc, vùng đất tổ của Kinh Dương Vương xưa. Các anh em họ Sùng lúc này được gọi là các Lạc tướng (Lạc công) mà Quý Minh là một trong số đó. Đây là điều giải thích vì sao Quý Minh lại là dòng dõi của nhà Hạ (do Hạ Khải – Lạc Long Quân khởi dựng).
Họ Sùng của các Lạc tướng Cao Sơn, Quý Minh thất bại. Cơ Xương dời đô về Phong Châu, lập nên nước Văn Lang, lấy theo tên hiệu của Cơ Xương là Văn Vương. Hiền Vương Cơ Xương mất ở đất Hiền Lương, nơi Âu Cơ đã hóa tại vùng Hạ Hòa, Phú Thọ ngày nay. Con trai của Cơ Xương là Cơ Phát lên nắm quyền. Trụ Vương bị mất đất Lạc (Sùng) bèn cử đại tướng, cũng là vợ của mình, là Ân Hậu Ma Lôi dẫn quân tấn công nước Văn Lang. Quân Ân đóng ở vùng núi Châu Sơn bên Lục Đầu giang.
Thục Phán Cơ Phát cùng Lã Vọng Thánh Dóng lập căn cứ ở Sóc Sơn, giao chiến với Ma Bà ở vùng Vũ Ninh (Bắc Ninh), cuối cùng toàn thắng. Vùng Vũ Ninh mà Yên Phong là đất chính, là chiến trường ác liệt xưa của cuộc chiến này. Lạc tướng Quý Minh chống Thục mất ở đây. Ân Hậu hóa thành Mẫu Bạch Kê, ẩn mình trong vùng đất Vũ Ninh.
Thục Phán lên ngôi thiên tử, lập ra nước Âu Lạc, là sự kết hợp của 2 vùng đất Âu và Lạc trước đây. Chu Võ Vương dời đô về Cảo Kinh ở Vân Nam, bắt đầu thời kỳ Tây Chu. Nhà Tây Chu trải mấy đời tới Chu U Vương vô đạo, bị Khuyển Nhung tấn công Cảo kinh, buộc phải dời đô về lại vùng đất Lạc (Dương) ở phía Đông. Khi xây thành ở vùng đất Tam Xuyên (Tam Giang) này gặp những trận động đất lớn. Lão Tử khi đó đang là “thủ thư” và là quốc sư của nhà Chu đã nhân đó bày chuyện tế trời, lấy tấm gương của hai nhà Hạ và Thương để khuyên răn vua Chu.

Ban thờ miếu Bạch Kê trên núi Thất Diệu với đôi bình chim Cú thời Ân

“Chiên đàn” 旃壇 theo đúng nghĩa là đàn tế có cắm cờ. Huyền Thiên Lão Tử đã đăng đàn ở núi Thất Diệu, nơi chiến trường xưa của 2 dòng Đông (Hạ Thương) và Tây (Chu Thục) khi Văn Vương và Vũ Vương dựng nghiệp nhà Chu. Mẫu Bạch Kê Ma Lôi và Lạc Công Quý Minh được tái xuất trên đàn tế qua những đồ tế khí đồng thau cổ của thời Ân Thương như những chiếc bình hình chim Cú mèo và những dòng chữ Kim văn khắc sâu dưới chân chim. “Lá thư” của Mẫu Bạch Kê được chim Cú ngậm dâng tấu trên chiên đàn là lời nhắc nhở đấng quân vương không được thất đức, bỏ dân, coi thường các nước chư hầu anh em của Bách Việt mà đánh mất mệnh trời. Nếu không sẽ mất nước và phải chịu hậu quả thảm khốc với sự giày vò của Ma Quỷ. Ma Gà là Mẫu Địa phủ. Còn Quỷ Núi là Sơn tinh Quý Minh. Thần thánh luôn ở trên hai vai. Lời nhắc của Lão Tử đã ghi vào Đạo Đức kinh, gửi trong chiếc móng của thần Kim Quy để làm phép cai quản đất nước ngàn năm.

Những thẻ ngọc quân lệnh của Trọng Thủy

Theo quan niệm hiện nay, vào khoảng năm 217 TCN Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất lục quốc mới phát 50 vạn quân đánh chiếm Lĩnh Nam, đặt ra các quận Nam Hải, Quế Lâm và Tượng quận. Chữ viết theo lối tượng hình của văn hóa Trung Hoa từ đó mới được truyền vào đất Việt… Tuy nhiên, những khám phá khảo cổ gần đây lại cho những thông tin hoàn toàn khác về thời điểm có mặt của nhà Tần, cũng như sự xuất hiện của chữ viết sớm ở miền đất Bắc Việt ngày nay.

Chuông đồng Cốc Lếu

Một loạt các hiện vật đồ đồng Đông Sơn được tìm thấy ở vùng Bắc Việt có những dòng chữ tượng hình như trống đồng Cổ Loa, bình đồng Nghi Vệ, chuông đồng Cốc Lếu… Những chữ triện này cổ hơn loại chữ Tiểu triện mà Tần Thủy Hoàng đã cho dùng thống nhất văn tự trên toàn đế quốc. Các nhà khảo cổ học buộc phải thừa nhận rằng người Việt thời Đông Sơn đã có chữ viết và gọi đó là chữ “Nam Việt”, cho dù các hiện vật này có trước thời Nam Việt của nhà Triệu rất nhiều.

Cách đây vài năm, ở khu vực Sóc Sơn, Mê Linh khi đào móng nhà người dân địa phương đã phát hiện được hàng chục thanh đá ngọc màu nâu cam (cẩm thạch), màu xanh lục (ngọc bích) hay màu đen. Những tấm ngọc này có kích thước 28,5 x 8,5 cm. Bên trên những thanh ngọc có chạm hoa văn rồng, phượng, hổ phù và ghi những chữ tượng hình. Trên các thanh đều có đục 1 lỗ. Đây là dạng lệnh bài cổ vì ngay trên đó đã khắc chữ Lệnh 令 ở thể chữ tiểu triện. 

Bộ ngọc giản Tần Vương (Hiện vật Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

Cụ thể hơn nữa, có thanh ngọc giản màu đen (chất liệu bằng đá thạch anh) chạm nổi chữ Lệnh 令 và 2 dòng chữ tiểu triện là:

Xuất kỳ bất dụng 出 其 不 用

Bảo vệ binh hoang 保 衛 兵 荒

Dịch là: Xuất kỳ bất ý, bảo vệ binh lực.

Những dòng chữ này cho thấy rõ ràng đây là lệnh bài dùng trong quân đội.

Về niên đại của những thanh ngọc giản này rõ nhất là loại ở một mặt có dòng chữ: Lễ tín Tần Vương chi chủ 禮 信 秦 王 之 主, cũng được khắc bằng thể chữ Tiểu triện của thời Tần. Tức là những thanh ngọc giản này có niên đại tương đương với những tượng đất nung được phát hiện trong các lăng mộ của thời Tần bên Trung Quốc ngày nay.

Mặt sau của thanh ngọc giản được trang trí bằng một hình tròn biểu tượng của Ngũ hành và một mặt hổ phù. Bên dưới có 3 dòng chữ tiểu triện là:

Giáp Ngọ trung hưng 甲 午 中 興

Hành tẩu biến địa 行 走 徧 地

Chúng sinh bình đẳng 眾 生 平 等 

Ngọc giản có chữ: Giáp Ngọ trung hưng…

Đến đây cần giải thích ý nghĩa của những dòng chữ trên thanh ngọc giản này. Trước hết là về danh xưng “Tần Vương”. Danh xưng Vương bắt đầu được Chu Vũ Vương sử dụng khi thắng Trụ diệt Ân, lên ngôi thiên tử. Ý nghĩa của chữ Vương 王 là người làm chủ Tam tài: Trời Đất và Người. Chỉ có Thiên tử Chu mới được gọi là Vương. Còn những tên gọi Công, Hầu, Bá, Tử, Nam được dùng để phong cho các chư hầu của nhà Chu.

Tổ tiên nước Tần thời Tây Chu có thể kể từ Tạo Phụ, là người đánh xe cho Chu Mục Vương rong ruổi khắp nơi, sau nhờ giúp Chu Mục Vương lúc loạn mà được phong ở đất Triệu. Tới thời Chu Tuyên Vương lấy Tần Trọng làm đại phu để đánh dẹp Khuyển Nhung thì con cháu Tần bắt đầu được phong là tước Công. Tần Tương Công hộ tống Chu Bình Vương dời đô về Lạc Ấp, khởi đầu thời Đông Chu. Con cháu của Tần được phong các vùng đất phía Tây Kỳ Sơn và những nơi dẹp được Khuyển Nhung. Dưới thời Đông Chu, Tần Mục Công nổi lên là một trong số Xuân Thu Ngũ bá.

Tuy nhiên, suốt thời Tây Chu sang Xuân Thu, chưa hề có danh xưng “Tần Vương”. Sang thời Chiến Quốc, nhờ có biến pháp của Thương Ưởng mà nước Tần trở nên hùng mạnh. Vị vua Tần đầu tiên xưng Vương là Tần Huệ Văn Vương vào năm 325 TCN. Năm 325 TCN gọi theo can chi là năm Giáp Ngọ. Như vậy, câu Giáp Ngọ trung hưng trên chiếc ngọc giản Lễ tín Tần Vương là chỉ sự kiện Tần Huệ Văn xưng Vương, khởi đầu một thời đại mới mà Tần là chủ.

Tiếp sau đó Tần Huệ Văn Vương và Tần Võ Vương đã “hành tẩu biến địa”, tức là tung hoành quân đội đánh chiếm khắp nơi, từ giao chiến với Hàn, Triệu, Ngụy, Sở, chiếm Thục, Nghĩa Cừ… Sang tới thời Tần Chiêu Tương Vương thì Tần trở thành nước mạnh nhất trong số thất hùng của thời Chiến Quốc. Sau khi tướng Tần là Bạch Khởi thắng nước Triệu ở trận Trường Bình thì thiên hạ đã sớm định về tay Tần Vương. Năm 256 TCN Tần Chiêu Tương Vương chiếm Tây Chu, thu cửu đỉnh mang về Tần. Còn Đông Chu sau đó bị diệt dưới thời Tần Trang Tương Vương bởi tướng quốc Lã Bất Vi.

Phả đồ Chu – Tần

Điểm qua lịch sử nước Tần ta thấy danh xưng Tần Vương chỉ có thể có từ năm 325 TCN đến năm 221 TCN là năm Tần Thủy Hoàng xưng đế. Đây cũng là niên đại cho những thanh Tần giản phát hiện được ở miền Bắc Việt Nam. Điều ngạc nhiên là những thanh ngọc giản Lễ tín Tần Vương chi chủ đã cho thấy rằng sự hiện diện trên đất Việt của nước Tần có trước khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi xưng đế. Nhà Tần đánh chiếm Việt rõ ràng không phải vào năm 217 TCN mà trước đó một quãng thời gian vài chục năm, vào thời Tần Chiêu Tương Vương hoặc Tần Trang Tương Vương. Chuyện này phải giải thích thế nào?

Trên một loại ngọc giản khác tìm thấy cùng với thanh Tần giản trên, có cùng kích thước, có đề 4 chữ tiểu triện: Đồ báo nhi thuyết 圖 報 而 說.  Dịch nghĩa là “Có ơn tất báo”. Một lần nữa, đây cũng là chuyện của nhà Tần. Đó là chuyện dưới thời Tần Mục Công, được chép trong Sử ký Tư Mã Thiên như sau:

Quân Tấn đánh Mục Công, Mục Công bị thương. Lúc đó ba trăm người từng ăn thịt ngựa tốt dưới núi Kỳ Sơn ruổi ngựa xông vào quân Tấn. Quân Tấn bỏ vây, nên khiến Mục Công thoát hiểm, lại còn bắt sống vua Tấn. Ban đầu, Mục Công để mất con ngựa tốt, hơn ba trăm thổ dân dưới chân núi Kỳ Sơn cùng bắt được, giết ăn. Quan quân đuổi bắt, định xử theo luật. Mục Công nói: “Người quân tử không vì súc vật mà hại người. Ta nghe nói ăn thịt ngựa tốt mà không uống rượu sẽ tổn thương người”. Đoan ban rượu mà tha cho. Ba tră người nghe tin Tần đánh Tấn, đều xin theo. Họ đi theo, thấy Mục Công bị vây khốn, ai nấy đều xung phong cảm tử, để đền ơn tha tội ăn thịt ngựa vậy.

Ngọc giản có chữ:
Đồ báo nhi thuyết

Những tấm ngọc quân lệnh của Tần Vương tìm được ở miền Bắc Việt Nam đã hé lộ về một sự thật khác cho cuộc chiến Tần Việt trong thế kỷ 3 trước Công nguyên. Người đánh chiếm vùng đất Lạc ở miền Bắc Việt không phải là Tần Thủy Hoàng, mà là Tần Vương. Sử Việt gọi người này là Thục Vương, người đã chấm dứt nước Văn Lang của Hùng Vương năm 257 TCN. Đối chiếu với các sự kiện của nước Tần thì đây chính là thời điểm Tần Chiêu Tương Vương diệt nhà Chu, với vị vua cuối cùng là Chu Noãn Vương.

Sự kiện Tần (Thục) đánh Văn Lang được kể trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả vào đời Hùng Nghị Vương như sau:

Vua nước Thục từ xa nghe tin Trung Quốc không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ nước Nam có phép thần nên còn do dự chưa quyết. Bấy giờ chúa Phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái họ Hùng. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa Phụ đạo. Chúa Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Vua thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Nghị Vương, nói: 

– Quân Thục từ phía Tây đến chỉ muốn bắt bộ chủ để truyền cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà vua.

Hùng Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục vương bắt được bộ chủ phụ đạo đem về Thục, gả công chúa cho, rồi nhường ngôi cho. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi triều Nam là anh, triều Tây là em, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó triều Tây ngừng việc binh. 

Trang ngọc phả về Hùng Nghị Vương

Đây là chuyện Tần Chiêu Tương Vương chiếm đất Tây Chu, là vùng đất Âu (Ai Lao thiết Âu), uy hiếp Chu Noãn Vương, đoạt lấy đồ tế tự của thiên tử Chu (cửu đỉnh) mang về Tần năm 256 TCN. Còn sách Hoài Nam Tử ghi là chuyện Tần đánh Việt, giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Phần đất Đông Chu (đất Lạc) ở miền Bắc Việt sau đó cũng bị Tần chiếm nốt dưới thời Tần Trang Tương Vương năm 249 TCN. Như vậy bộ ngọc Tần giản là quân lệnh bài của nhà Tần từ quãng năm 249 TCN đến 221 TCN khi Tần Thủy Hoàng xưng đế.

Khảo cổ ở Bắc Việt đã cho thấy “Thục Vương” thực sự là từ vùng đất Tứ Xuyên mà đánh chiếm Hùng Vương ở Bắc Việt, do sự tương đồng các hiện vật (chủ yếu là kiếm trận) của 2 khu vực này. Thục Vương ở đây không phải là con cháu của nước Thục ở Tứ Xuyên, nước đã bị Tần diệt từ hàng chục năm trước (316 TCN). Thục Vương trong truyền thuyết Việt ở giai đoạn này là chỉ vua Tần.

Xem kỹ về cội nguồn thì nhà Tần vốn là con cháu của Bá Ích dưới thời Hạ Vũ, tức là cùng gốc với các vua Chu. Thậm chí tới thời Chu Hiển Vương khi nước Tần trở nên hùng mạnh, vua Chu còn trao cả việc tế tự Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương cho Tần Huệ Văn Công. Điều này chứng tỏ vua Chu và Tần có cùng nguồn gốc tổ tiên. Còn truyền thuyết Việt thì gọi Thục Vương, bộ chủ Ai Lao là dòng dõi hoàng đế đời trước của vua Hùng.

Rồng trên lệnh bài thời Tần

Vào thời Chu Mục Vương, tổ nhà Tần là Tạo Phụ được phân phong ở Triệu thành nên Tần có họ Triệu. Đây là một dữ kiện mới giúp giải mã vấn đề “Triệu Đà”, bố của Trọng Thủy trong truyền thuyết Việt. Nàng Mỵ Châu theo tên gọi là con gái vua Châu – Chu thì đã rõ. Còn Trọng Thủy mang họ Triệu, họ từ vị tổ nước Tần là Tạo Phụ. “Triệu Đà”, bố của Trọng Thủy, không phải là nhà Triệu nước Nam Việt lập ra sau khi nhà Tần sụp đổ. Trọng Thủy là Doanh Tử Sở – Tần Trang Tương Vương, nên những chiếc thẻ ngọc này chính là thẻ ngọc Trọng Thủy.

Những tấm ngọc giản của Tần Vương phát hiện trên vùng đất Việt đã đem lại một cách nhìn mới về giai đoạn bản lề trong sử Việt, đó là sự thực về nhà nước Văn Lang của vua Chu, nhà Thục họ Triệu của vua Tần Trọng Thủy.

Mâm vàng Âu Cơ và sách trời định phân thiên hạ

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể về sự ra đời của trăm người con trai của đức Hiền vương Lạc Long Quân và Âu Cơ:
Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 5, đúng ban ngày giờ Ngọ, mặt trời chiếu thẳng. Cái thai thần của Âu Cơ chuyển động, rồng mây đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc ánh như ngọc trắng, hương lạ thơm nức. Sơ sinh ở núi Nghĩa Lĩnh, đất tổ Phong Thứu, dưới lọng ngọc ở khu núi đá bên đầm sen… Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân rồng điện ngọc. Rồi bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ… nói rằng:
– Bào ngọc trăm trứng, thần khí rạng thiêng, điềm rồng giáng sinh.
Thiên sứ báo cho Hiền Vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng, lệnh cho triều đình các tướng đến tề tựu ở ngôi chùa cổ ở Viễn Sơn, tức Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt.

Chùa Thiên Quang trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh, nơi mâm vàng đựng bào ngọc nở ra trăm trai

Đầy 100 ngày sau khi bào ngọc nở ra trăm trai, có 8 vị tướng xưng là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Thượng Thiên Chư Phật Ngọc Đế sai xuống trợ giúp… Trời ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một viên ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển sách trời, một chiếc thước ngọc, để trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện.
Các hoàng tử đã thành những người lớn, nhưng trong triều không có ai có thể phân biệt được trưởng thứ và tên gọi. Hiền Vương lập đàn cầu trời thì có một vị Tiên ông xuất hiện, cầm gậy trúc, rửa chân trên bàn đá ở bến sông Việt Trì. Vua cho mời Tiên ông vào hỏi chuyện và nhờ giúp cho việc đặt tên trăm người con trai.
Tiên ông nói: Vua có thành tâm, Lão bốc một quẻ trong Sách trời tính xem tiền định thế nào, để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm người con, xem tướng trăm trai thì Vua sẽ cử được người tài lập làm con trưởng, phân định thứ bậc anh em, vị trí trái phải.
Tiên ông lấy bút viết ra, đặt trăm tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc mâm vàng, phân định thứ bậc anh em. Trăm hoàng tử đến hội ở chính điện, mà nhận chữ đề tên, trong tên có cùng một tiếng. Một người là con trưởng, theo như lời định được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước mâm vàng nhận danh hiệu được ban.

Tranh vẽ Lão tiên ông bên bến Việt Trì

Trong sự tích bào ngọc của mẹ Âu Cơ nở ra trăm người con trai, trưởng thành và được phân thứ bậc thì luôn nhắc tới một chiếc “mâm vàng” (nguyên văn là “kim bàn”). Chiếc mâm này đã đựng bào ngọc đặt ở trên núi Nghĩa Lĩnh, rồi lại dùng để đựng các bảo khí trời ban, và sau đó dùng để ghi tên và thứ tự cho trăm hoàng tử. Chiếc mâm vàng này là thứ gì mà lại quan trọng đến vậy trong huyền sử lập quốc của người Việt?
Thật vô cùng bất ngờ khi nhận ra rằng, chiếc mâm vàng của Hiền Vương Âu Cơ là hình ảnh của một vật hoàn toàn có thật, mang ý nghĩa lớn lao như những dòng sử đầu tiên khi cha sinh mẹ đẻ, khai mở nhà nước Văn Lang của các vua Hùng. Một chiếc mâm vàng như vậy là một cổ vật từ thời Tây Chu, cách đây khoảng 3000 năm, tương đương với thời lập quốc Văn Lang.
Chiếc mâm bồng đúc bằng đồng, có 3 chân là hình 3 tượng người đang ngồi quỳ như hành lễ. Thành mâm phía bên ngoài được trang trí bằng các hoa văn rồng và họa tiết vân lôi tinh tế. Trong lòng mâm, trên nền vàng óng ánh của đồng cổ, là một bài minh văn đúc chìm, gồm 12 dòng, cộng tất cả là 144 chữ. Khoảng giữa thành của mâm có 2 dòng chữ chạy xung quanh mâm, mỗi dòng gồm 10 chữ Kim văn. Đây là dạng chữ Kim văn, được đúc chìm, sâu, còn khá sắc nét, thể hiện thư pháp tiêu biểu của thể chữ này vào thời kỳ Tây Chu.

Mâm vàng Âu Cơ (Hiện vật sưu tầm của Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt)

Bài minh văn trên mâm vàng này có thể được đọc như sau:
照曰乍文王初于政匍右上下武
右王征上下畯民永丕長伐 夷于
嗣憲左右用邦行王井宇天子
卲子文武天丐子祁上下 亟昊邦
宗亡司保命福年方亡不見荊
生高帥尹卲周兮荊惟征祁
揚祖在微武王哉微 使烈祖天
亡乃來見令周公舍寓于乙王
休祖辛子多光其祀文公得宇
公屯日曆弗抯習史夜 辟戊永
襲休命用乍祖文弋录生厥民
抯辟其年永心厥匹啖所用尹

王蚤壽用子子周孝单祀之
先作豆寶用永孫孫子子庀萬
Phiên âm và ngắt câu:
Chiếu viết: sạ Văn Vương sơ vu chính, bồ hữu thượng hạ. Võ hữu Vương chinh thượng hạ, tuấn dân vĩnh phi, trường phạt Di. Ư tự hiến, tả hữu dụng bang, hành vương tỉnh vũ. Thiên tử thiệu tử, văn võ thiên cái tử, kỳ thượng hạ cức. Hạo bang tông vong, ty bảo mệnh phúc niên, phương vong bất kiến, Kinh sinh cao suý, doãn Thiệu Chu hề Kinh duy chinh. Kỳ dương tổ tại Vi. Võ Vương tai Vi, sử liệt tổ thiên vong, nãi lai kiến, lệnh Chu Công xá ngụ, ư Ất Vương hưu. Tổ Tân tử đa, quang kỳ tự. Văn Công đắc vũ. Công truân nhật lịch, phất tra tập sử, dạ tịch mậu vĩnh, tập hưu mệnh dụng, sạ Tổ Văn dặc lục, sinh quyết dân, tra tịch kỳ niên, vĩnh tâm quyết thất, đạm sở dụng doãn.
Vương tảo thọ dụng, tử tử Chu hiếu đan tự chi.
Tiên tác đậu, bảo dụng vĩnh, tôn tôn tử tử phỉ vạn.

Dòng chữ Kim văn: Tiên tác đậu bảo dụng vĩnh tử tử tôn tôn phỉ vạn.

Dịch nghĩa:
Minh rằng: khi [Chu] Văn Vương lên nắm chính sự, gian nan để có được trên dưới. [Chu] Võ Vương chinh chiến khắp nơi, khuyến dân được lâu bền tốt đẹp, liên tục phạt Di. Khi lập con nối ngôi [Chu Thành Vương], có các đại thần tả hữu giúp trị, thi hành khuôn phép của Vương.
Thiên tử là một người cao cả. Trời ban cho các bậc văn võ xử lý công việc trên dưới.
Tông thất của Hạo bang [Thiếu Hạo là tổ của nhà Thương] mất, sau nhờ giữ mệnh phúc nên nhánh Kinh vẫn còn. Lại sinh ra việc dấy quân. Các quan Thiệu Chu chinh phạt Kinh.
Tốt đẹp thay tổ ở đất Vi. Võ Vương chiếm đất Vi, sai liệt tổ của nước đã mất đến gặp, [Võ Vương] lệnh cho Chu Công ân xá, cho dời đến vùng đất thờ của Ất Vương [Thiên Ất, tức Thành Thang]. Tổ Tân có nhiều con cháu, duy giữ việc tế tự. Văn Công nối nghiệp, ông vất vả ngày tháng, tìm hiểu học sử, phép tắc đầy đủ, kế nối điều lành. Sau đó Tổ Văn ghi chép lại, quyết vì dân sinh, làm thành phép tắc, năm đó bền lòng quyết hợp, lấy đó mà dùng để cai quản.
Vua sớm thọ. Con cháu nhà Chu dùng hiếu lễ tế tự.
Những chuyện trên được dùng để tạo ra chiếc mâm, làm đồ quý dùng lâu dài, cho con cháu vạn đời.

Bài Kim văn trong chiếc mâm vàng kể về giai đoạn lập triều của nhà Chu, từ khi Văn Vương khởi dựng, Võ Vương chinh phạt, yên định thiên hạ, đến Thành Vương cùng các đại thần Thiệu Công, Chu Công phụ tá, lập ra khuôn phép chế độ, bình định Kinh phương. 
Quân Kinh thời Chu Thành Vương thì không phải là Kinh Sở, mà là chỉ cuộc nổi loạn của Vũ Canh. Có Canh = Kinh. Đây cũng là dẫn chứng cho thấy, nước Sở vốn là địa bàn chính của nhà Ân Thương. Cuộc đụng độ giữa Chu và Ân được huyền sử Việt kể trong sự tích Thánh Dóng đánh giặc Ân. Nước Văn Lang, phía Bắc giáp Hồ Nam, chính là địa bàn của Kinh – Ân. Còn Thánh Dóng, không phải ai khác, là lão tiên ông “câu cá” bên sông Nhị, đã đăng đàn dùng sách trời và mâm vàng đặt tên cho trăm trai như Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả đã kể.
Người tạo ra chiếc mâm này là con cháu của nhà Ân Thương, được gọi là họ Vi. Khi Chu Võ Vương phạt Ân, đã triệu kiến Liệt tổ họ Vi đến gặp, rồi cho hưởng phong ở vùng đất nơi Thiên Ất Thành Thang đã khởi nghiệp lập Thương. Đến vị tổ tiếp theo của họ Vi tên là Tân, có nhiều con, giữ gìn việc tế tự. Sau đó vị tổ Văn (có lẽ là cha của người làm ra chiếc mâm này) ra sức học tập, ghi lại những dòng sử này vào chiếc mâm, dùng để cúng tế hiếu lễ với thiên tử Chu và truyền đời đời cho con cháu.
Lịch sử cho biếtt, Vi Tử Khải là anh em ruột của Trụ Vương. Chu Võ Vương diệt Trụ, vẫn tôn trọng các vị vua của triều đại trước, nên phong cho Vi Tử Khải ở đất Tống. Điều đáng nói là thông tin trên chiếc mâm cho biết rằng, vùng đất phong của họ Vi là vùng đất khởi nghiệp ban đầu của Thành Thang nhà Thương (“Ất Vương hưu”). Đất Tống do đó không phải ở miền Bắc Dương Tử, mà ở phía Nam, quãng tỉnh Quảng Đông ngày nay.
Những thông tin được ghi lại trên chiếc mâm vàng là nỗ lực ghi chép lịch sử rất sớm về thời kỳ nhà Chu lập quốc, phân phong chư hầu cho các đại công thần và cho con cháu các triều đại trước đó. Trong bài sử này, vị vua Chu cuối cùng được nhắc đến là Chu Thành Vương, nên ước đoán, chiếc mâm có bài minh văn này được tạo ra dưới thời vị vua Chu tiếp theo là Khang Vương (1020 TCN – 996 TCN).
Ở Trung Quốc, một chiếc mâm có chữ Kim văn tương tự đã được phát hiện, có tên là “Sử Tường bàn” (mâm Sử Tường) và được xếp là 1 trong số 64 bảo vật cấm mang ra khỏi Trung Quốc. Tuy nhiên, bài Kim văn trên mâm Sử Tường dài hơn, kể sự việc tới thời Chu Mục Vương, nên niên đại của nó sau chiếc mâm mô tả ở trên khoảng 60 năm. Ngoài ra, khác với mâm Sử Tường, chiếc mâm được mô tả ở đây có 3 chân hình tượng người, nên trong bài minh văn được thể hiện là chữ Đậu 豆 (mâm bồng), có vẽ nguyên cả 2 quai của mâm.

Hình người quỳ lễ là chân của chiếc mâm

Những bài minh văn trên mâm vàng đúng là những cuốn “sách trời”, chứa đựng lịch sử 3.000 năm trước, từ khi Hiền Vương Âu Cơ (Chu Văn Vương) mang nặng đẻ đau, gian nan khởi dựng nước Văn Lang, đến Hùng Quốc Vương (Chu Võ Vương) lên ngôi thiên tử, phân định thiên hạ, chia các anh em ở trăm nơi đầu núi góc biển làm chư hầu, cha con nối tiếp nhau, đời đời thế tập dòng họ và đất đai. Những dòng Kim văn đúc trên các đồng khí Thương Chu là những tấm bia hàng ngàn năm của lịch sử cổ đại, chứng tích cho thời kỳ xã hội người Việt chuyển mình từ chế độ thị tộc sang chế độ phong kiến, lập nên một thiên hạ rộng lớn bao trùm toàn cõi trời Đông.