Tục thờ tổ bách nghệ và đạo Hiếu của người Việt

Bài trình bày trong tọa đàm “Tục thờ tổ bách nghệ tại Việt Nam qua góc nhìn đạo Hiếu” tại đình Kim Ngân, Hà Nội nhân ngày di sản Việt Nam.

Kim Ngan

Nước ta có lịch sử phát triển hơn 4000 năm, là một trong những nước có nền văn hóa lâu đời nhất trên thế giới. Trong tiến trình lịch sử nhân dân ta đã trải qua nhiều nấc thang tiến bộ xã hội. Mỗi nấc thang là một bước tiến về khoa học công nghệ, tức là hiểu biết và cách thức chúng ta sử dụng các tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cuộc sống của con người. “Nghề” chính là những kiến thức khoa học kỹ thuật đó. Tổ nghề là những người đã khai sáng, phát kiến, giúp xã hội chúng ta bước đi những bước đi dài hơn, vững chắc hơn, tự chủ hơn trong lịch sử. Mỗi vị tổ nghề do đó đánh dấu một mốc phát triển quan trọng của xã hội Việt theo chiều dài lịch sử.

Hiên Viên Hoàng Đế, ông tổ bách nghệ
Hôm nay, trong ngày di sản Việt, chúng ta cùng nhau có mặt ở đình Kim Ngân này, một ngôi đình giữa lòng thủ đô văn hiến với tục thờ tổ nghề rất sâu sắc. Ngôi đình này thờ vị tổ bách nghệ với tên Hiên Viên. Tổ bách nghệ, tức là tổ của mọi nghề của xã hội, chứ không chỉ là tổ nghề kim hoàn. Hiên Viên là ai lại được thờ phụng như tổ các ngành nghề ở giữa 36 phố phường Hà Nội như vậy?
Không khó để thấy Hiên Viên là vị Hoàng Đế, người được coi là thủy tổ của người Trung Quốc. Hoàng Đế hay Đế Vàng là một vị đế trong Ngũ Đế của Trung Hoa cổ đại. Trong truyền thuyết Trung Hoa, Hoàng Đế đã có hàng loạt những phát minh mang tính chất khai mở cho các ngành nghề như làm nhà, đóng xe thuyền, may được quần áo ngũ sắc, y thuật (Hoàng Đế nội kinh). Lịch cổ Trung Quốc lấy mốc bắt đầu từ Hoàng Đế.
Nhưng Hiên Viên Hoàng Đế của Trung Hoa thì liên quan gì tới người Việt của chúng ta mà lại được cha ông ta thờ làm tổ của bách nghệ?  Liệu các cụ ngày xưa “thờ nhầm” hay do “ảnh hưởng” của văn hóa?
Xem sách Đại Việt sử ký toàn thư, ngay ở câu mở đầu: “Xét thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt…”. Như thế chính sử nước Đại Việt từ thời lê đã coi Hoàng Đế Hiên Viên là người đã khởi thủy cho sử Việt. Hoàng Đế của Trung Hoa lại là thủy tổ của sử Việt, vậy là thế nào?
Vua Minh Mạng nhà Nguyễn sau khi lên ngôi đã cho xây dựng miếu Lịch đại đế vương ở kinh thành Huế để thờ các bậc vua sáng và tôi hiền qua các triều đại. Miếu Lịch Đợi được xây dựng trên một ngọn đồi nay thuộc phường Phường Đúc tại Huế, là làng nghề đúc đồng nổi tiếng của kinh thành. Cách bài trí án thờ nơi miếu Lịch Đợi theo Đại Nam nhất thống chí như sau:
Gian giữa thờ Phục Hy tại chính trung. Vị tả nhất thờ Thần Nông. Vị hữu nhất thờ Hoàng Đế.
Một lần nữa lại có Hoàng Đế Hiên Viên của Trung Hoa được toàn thể triều đình nhà Nguyễn tôn thờ như bậc tiên tổ của dân tộc. Không chỉ vậy, ở gian chính giữa của miếu Lịch Đợi còn thờ các vị vua cổ đại Trung Hoa là Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, Hạ Vũ, Thương Thang, Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương. Tức là vua Minh Mạng cùng các quan thần triều Nguyễn chính thức coi các vị vua Tam Hoàng Ngũ Đế và các vị vua thời Tam Đại Trung Hoa là các vị tiền triều của mình, thường xuyên xuân thu cúng tế.
Theo truyền thuyết Trung Hoa, Hoàng Đế Hiên Viên là vua của nước Hữu Hùng Thị, đã đánh dẹp Xi Vưu, thống nhất các bộ tộc thời lập quốc, mở đầu thời kỳ “lịch sử” 5000 năm của Trung Quốc. Hiên Viên là vua nước Hữu Hùng thị tức chính là Vua Hùng trong sử Việt. Truyền thuyết Việt kể các vua Hùng là những người đã “có công dựng nước”, có công to lớn trong việc phát triển các nghề nghiệp ở buổi bình minh lịch sử dân tộc.
Thiên Nam ngữ lục, thiên trường thi sử thế kỷ 17 có đoạn:

Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Truyền thuyết Họ Hồng Bàng của người Việt kể: Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông…
Như vậy Hiên Viên Hoàng Đế Hữu Hùng chính là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của sử Việt.
Truyền thuyết Hùng Vương cho biết vua Hùng đã dậy dân cày cấy, trồng ngũ cốc (nghề nông), làm đồ gốm, xây dựng nhà cửa bằng gỗ thay cho ăn hang ở lỗ,…  Cũng vì thế mà vua Hùng – Hiên Viên Hoàng Đế đã được người Việt cũng như người Hoa tôn làm ông Trời, tức Ngọc Hoàng Thượng Đế. Vị tổ bách nghệ cũng là vị quốc tổ lâu đời nhất trong lịch sử dân tộc Việt.

Cửu Thiên Huyền Nữ, vị mẫu tổ bách nghệ
Văn tế tiên tằm ngày 15 tháng Giêng của làng Đại Lan (Kim Lan) bên bãi sông Hồng (Văn Giang, Hưng Yên):
Cảm chiêu cáo vu:
Thánh đế Tiên sư Hoàng đế Hữu Hùng thị vị tiền
Tiên tàm Thánh đế Nguyên phi Tây Lăng thị Loa tổ vị tiền…
Bách nghệ tiên sư như đã nói ở trên là Hữu Hùng Hoàng Đế, tức là tổ Hiên Viên của đình Kim Ngân này. Còn bà tổ nghề tằm tang “Tây Lăng Thị Loa tổ” ở đây là ai?
Sử ký Tư Mã Thiên, Ngũ đế bản kỷ cho biết “Hoàng Đế ở gò Hiên Viên, cưới vợ là người con gái của Tây Lăng”. Bà Loa tổ là vợ của Hiên Viên Hoàng Đế, là tổ nghề chăn tằm dệt vải.
Ở đây cha ông chúng ta không chọn “nhầm” người Trung Quốc để thờ làm tổ nghề. Tây Lăng Thị cũng chính là Quốc mẫu Lăng Thị Tiêu ở núi Tây Thiên trên dãy Tam Đảo. Vị nữ thần núi Tam Đảo tương truyền đã giúp vua Hùng diệt giặc, cùng gây dựng đất nước lúc mới khai sinh lập quốc. Quốc mẫu ở Tây Thiên còn được thờ như Mẫu Thượng Thiên, người đứng đầu Thiên phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ của người Việt.
Mẫu Thượng thiên hay Mẫu Cửu trùng cũng là Cửu Thiên Huyền Nữ của Đạo Giáo Trung Hoa. Công trạng của Cửu Thiên Huyền Nữ không chỉ chế ra nghề nuôi tằm dệt lụa mà bà còn có một loạt những đóng góp khác cùng với Hiên Viên Hoàng Đế trong công cuộc dựng nước.
Bà đã giúp ông Dung Thành chế ra máy Cai Thiên để xem thiên tượng, giúp ông Thương Hiệt chế ra chữ viết tượng hình để thay cho việc thắt nút ghi nhớ các sự việc. Ngoài ra Cửu Thiên Huyền Nữ truyền khoa Lục Nhâm Ðộn Giáp. Như thế Cửu Thiên Huyền Nữ là người đầu tiên khai mở nền Dịch học (triết học phương Đông).
Ở Hà Nội từng có đền thờ Cửu Thiên Huyền Nữ. Theo sách Tây Hồ chí thì đền này nằm ở ấp Trích Sài, có tên là đền Huyền Nữ. Vị thần ở đây cũng được gọi là Công chúa Loa. Rõ ràng vị Loa tổ của nghề tơ tằm cũng là Cửu Thiên Huyền Nữ.
Ở kinh thành Huế, vua Minh Mạng từng cho xây dựng một Đạo quán mang tên là Linh Hựu, mà tượng thờ ở gian chính là Cửu Thiên Huyền Nữ. Trong tín ngưỡng ở miền Trung thì Cửu Thiên Huyền Nữ là tổ của nghề mộc, nghề nề và nhà trò. Bản thân chùa Thiên Mụ có thể cũng chính là một di tích gắn với Cửu Thiên Huyền Nữ.
Trong các văn khấn như văn Thượng Lương thì Cửu Thiên Huyền Nữ được nhắc tới đầu tiên, còn trước cả tổ sư nghề xây dựng Lỗ Ban. Trên thước và bùa Lỗ Ban cũng thường đề câu chú “Cấp cấp như Cửu Thiên Huyền Nữ luật lệnh”.
Hai vị tổ sư bách nghệ Hiên Viên Hoàng Đế và Cửu Thiên Huyền Nữ là 2 vị quốc tổ của người Việt, là những người đã đánh dấu nấc thang phát triển của xã hội công xã nguyên thủy, mở đầu lịch sử quốc gia và dân tộc họ Hùng.
Ta thường khấn “Hoàng thiên Hậu thổ” chính là nói tới 2 vị này trong quan hệ âm – dương, trời – đất:

  • Hoàng là Hoàng Đế Hiên Viên, với vai trò ở vị trí Thiên.
  • Hậu là hoàng hậu Tây Lăng thị ở vị trí Địa (thổ) trong Tam tài.

Có Vua trời và Mẹ đất mới sản sinh ra bách nghệ, giúp con cháu có cuộc sống no đủ, lâu dài. Hoàng thiên và Hậu thổ cũng là 2 vị thần bản mệnh được thờ cúng trong các gia đình (tục thờ này nay vẫn còn ở miền Trung). Như thế đạo thờ tổ nghề – tổ tiên đã ăn sâu vào tâm thức con dân Việt, tới từng ngóc ngách của cuộc sống.

Thần Đồng Cổ và hội thề trung hiếu
Thời kỳ của Hoàng Đế Hiên Viên và Cửu Thiên Huyền Nữ là thời kỳ tiền sử, ứng với giai đoạn đồ đá mới trong khảo cổ học. Bước nhảy vọt tiếp theo trong phát triển xã hội là việc phát minh ra nghề luyện kim, trước hết là nghề đúc đồng. Cùng với sự xuất hiện và tiến bộ của nghề đúc đồng xã hội Việt đã tiến lên chế độ quân chủ phong kiến trên bình diện rộng của toàn cõi Đông Nam Á và Hoa Nam, tức là vùng đất Bách Việt xưa. Trong tục thờ tổ nghề, sự kiện này được đánh dấu bởi thần trống đồng hay thần Đồng Cổ.
Trống đồng Đông Sơn của nước ta đã được biết tới như biểu tượng của văn hóa, của dân tộc. Thần trống đồng hay thần Đồng Cổ là vị thần được tôn thờ dưới thời Lý Thánh Tông, gắn với việc thần đã báo giúp Thái tử Phật Mã phòng bị sự ám hại của ba người anh em (loạn Tam Vương) khi lên ngôi. Lý Thánh Tông đã cho rước thần từ Thanh Hóa về thờ miếu Đồng Cổ nằm ở phía Tây kinh thành Thăng Long và lập hội thề trung hiếu tại đây. Hàng năm vua quan nhà Lý đến miếu Đồng Cổ cùng nhau uống máu ăn thề giữ trọn đạo hiếu trung trước tiền nhân.
Câu đối ở miếu Đồng Cổ tại Thanh Hóa:
Thiên vi anh địa vi linh, tất Mã giang Tây thanh miếu cổ
Thần đương trung tử đương hiếu, Thăng Long thành Bắc thệ đàn cao.
Dịch:
Trời gây tài, đất kết thiêng, sông Mã dải Tây trong miếu cổ
Tôi giữ trung, con đảm hiếu, Thăng Long thành Bắc đàn thề cao.
Đối chiếu truyền thuyết và tư liệu ta nhận ra rằng thần Đồng Cổ chính là vị Chu Công Đán mà Lý Thánh Tông đã đề cập tới như một tấm gương trung hiếu, giúp vua, giúp nước. Chu Công có đất phong là ở nước Lỗ nên được truyền thuyết Việt gọi là Cao Lỗ, người đã phát minh ra nỏ thần diệt giặc dưới thời Thục An Dương Vương. Bí kíp lẫy nỏ này chính là Dịch lý được thể hiện trên trống đồng (Đồng Cổ Dịch).
Cao Lỗ hay Lư Cao Sơn cũng là vị tổ nghề rèn, thờ ở nhiều nơi.
Nghề luyện kim đồ đồng đã đạt đỉnh cao dưới thời Thương Chu mà các thủ lĩnh luyện kim cũng là các thủ lĩnh quốc gia ở thời này. Mẫu hình của Chu Công – Đồng Cổ là tấm gương sáng về đạo hiếu, gây được nhân đức, cải được thiên mệnh về cho nhà Chu dựng nước Văn Lang thịnh trị trong gần 1000 năm văn hiến.

Cao Biền, vị tổ nghề gốm và địa lý phong thủy
Một vị tổ nghề quan trọng là Cao Vương Biền, tiết độ sứ khu vực nước ta dưới thời nhà Đường. Làng Kim Lan bên bờ sông Hồng là nơi thờ Cao Vương Biền làm thành hoàng và như vị tổ nghề gốm. Làng này cùng với Bát Tràng là làng gốm sứ lâu đời. Kim Lan chuyên về gốm xây dựng như gạch ngói,…  Kim Lan cũng là nơi có di chỉ khảo cổ Hàm Rồng với việc phát hiện các loại gạch từ thời Đường là gạch mang dòng chữ Giang Tây quân.
Câu đối ở đình Kim Lan:
Tĩnh Hải chân truyền từ đào nghiệp
Giang Tây chuyên trúc Đại La thành.
Dịch:
Thầy Tĩnh Hải truyền nghề gốm sứ
Gạch Giang Tây đắp Đại La thành.
Gạch Giang Tây quân là loại được phát hiện ở lớp xây dựng dưới cùng trong di tích Hoàng thành Thăng Long trong những năm gần đây. Vậy mà làng Kim Lan từ lâu đã biết tới điều này, còn sớm hơn cả những nghiên cứu khảo cổ học chính thống. Bởi vì họ duy trì được tục thờ tổ nghề là thờ Cao Biền từ thời Đường.
Phải nói thêm là chính Cao Biền chứ không phải ai khác được thờ làm Trấn Nam thành Thăng Long dưới tên Cao Sơn Đại Vương. Cao Vương không chỉ là tổ nghề gốm mà còn là một tổ nghề về địa lý phong thủy, trấn trạch nổi tiếng của nước ta.
Tiết độ sứ Cao Biền còn được thờ ở rất nhiều nơi suốt dọc từ Bắc và Nam dưới tên Cao Các đại vương. Đây là vị thành hoàng gặp phổ biến ở Thanh Hóa, Nghệ An, thậm chí các vùng Thừa Thiên Huế, tới tận Khánh Hòa. Tín ngưỡng thờ Cao Vương bắt nguồn từ công nghiệp an dân, trị quốc của Tiết độ sứ Cao Biền.

Không Lộ và Từ Đạo Hạnh thiền sư
Sang thời kỳ độc lập của nước Đại Việt dưới triều Lý, tục thờ tổ nghề gắn liền với tín ngưỡng dân gian, cụ thể là đạo Giáo hay đạo phù thủy ở nước ta. Thời này nổi lên các vị tổ nghề như Không Lộ thiền sư (nghề đúc đồng), Từ Đạo Hạnh (nghề múa rối nước và hát chèo). Thánh tổ Không Lộ thiền sư nổi tiếng bởi phép thuật thần thông, sang phương Bắc dùng một chiếc túi mà thu hết đồng mang về nước Nam, đúc nên Tứ đại khí An Nam.
Không Lộ thiền sư còn là 1 trong 4 vị Tứ bất tử của nước ta. Mỗi vị thần bất tử là một vị đạo trưởng một đạo phái trong lịch sử phát triển tín ngưỡng của người Việt. Không Lộ là tổ không chỉ của nghề đúc đồng mà còn là thánh tổ của đạo Giáo dân gian, rất phát triển và có đóng góp lớn trong công cuộc dựng nước thời nhà Lý.
Tục thờ Không Lộ còn gắn với tục diễn trò rối đầu gỗ hay trò Ổi Lỗi. Đây là một hình thức diễn tấu thờ thánh, tái hiện lại sự nghiệp diệt thần Xương Cuồng (thần Hổ) của thánh tổ Không Lộ. Nhưng trò diễn này cũng là loại hình diễn xướng dân gian, mà trong lĩnh vực này thiền sư Từ Đạo Hạnh được coi là vị thánh tổ của nghề hát chèo và múa rối.

IMG_9081
Đình Kim Ngân ở phố Hàng Bạc, nơi thờ bách nghệ tổ sư Hiên Viên Công Tôn Thần.

Thay cho lời kết
Ta thấy, vấn đề thường “mắc” khi nói tới các tổ nghề nước ta là không hiểu vì sao người Việt  lại toàn thờ các nhân vật Trung Hoa làm tổ nghề, như Hiên Viên Hoàng Đế, Cửu Thiên Huyền Nữ, Lỗ Ban, Cao Biền,… Dưới một góc nhìn mới và thông qua các tư liệu dân gian, cùng các di tích, di vật còn lưu lại tới nay đã có thể nhận ra, đây hoàn toàn không phải là các làng nghề “thờ nhầm” hay do ảnh hưởng văn hóa ngoại lai, mà thực chất các vị tổ nghề đó chính là tổ tiên người Việt trong mỗi thang bậc phát triển của khoa học kỹ thuật và văn hóa xã hội Việt. Thờ tổ nghề do đó đi liền với đạo Hiếu – đạo thờ các vị tiền nhân có công trong tiến trình lịch sử dựng và giữ nước.
Ta thấy các vị tổ bách nghệ cũng là những vị quốc tổ, quốc mẫu của dân tộc. Ngày nay, có biết “tôn sư” thì mới “trọng đạo”. Muốn làm nghề tốt (“đạo”) thì cần tôn thờ những người có công khai mở nghề nghiệp. Đó cũng là Hiếu đạo.
Cây có cội, nước có nguồn. Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vững chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới. Thờ tổ nghề, thờ tổ tiên là tìm lại di sản tinh thần và trí tuệ của cha ông để lại cho chúng ta hôm nay.

 

Truyền thuyết Chín chúa tranh vua với các nước Chu, Tần

Truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày ở vùng Đông Bắc Việt và Quảng Tây kể tóm tắt như sau (theo wikipedia):
Cha của Thục Phán là Thục Chế làm vua nước Nam Cương được 60 năm thì qua đời, khiến cho gia đình họ Thục rơi vào cảnh chia rẽ tranh giành quyền lực. Khi ấy Thục Phán mới tròn 10 tuổi, cháu của Thục Chế là Thục Mô lợi dụng và đưa Thục Phán lên ngôi. Thục Mô nhiếp chính lộng quyền, muốn nhiều lần muốn giết Phán đoạt ngôi vua, khiến chư hầu bất mãn. Nhưng Thục Phán thì vẫn luôn nhẫn nại mong hàn gắn lại gia tộc họ Thục vốn đã bị chia rẽ từ khi cha mình mất. Chín chúa mường (bao gồm 3 Nùng chủ, 2 Dao chủ, 1 Mán chủ, 1 Sán chủ, 1 Tày chủ, 1 Miêu Chủ) không phục kéo quân về bắt Thục Phán đòi chia nhỏ đất ra cho các chúa cai quản và đòi nhường ngôi “vua”. Thục Phán tuy ít tuổi, nhưng từ bé đã thể hiện phẩm chất thông minh hơn người, bày kế cho Thục Mô lừa 9 chúa mường đua sức, đấu đá lẫn nhau.. còn họ Thục thì giải quyết tranh chấp nội bộ và củng cố lực lượng ở kinh đô Thành Bản Phủ, đến khi các phe cánh đấu đá đến sức cùng lực kiệt, Thục Phán mới thâu tóm toàn cục khiến 9 chúa mường quy phục ông. Từ đó, nước Nam Cương dưới tay Thục Phán trở nên cường thịnh… Thục Phán đem quân thôn tính nhiều lãnh thổ của các bộ tộc Bách Việt trên phương Bắc và cả Văn Lang ở phương Nam…
Sau khi tạm yên mặt Bắc, ông ra lệnh cho 2 vị chúa mường đứng đầu 2 bộ tộc là Miêu Chủ và Dao Chủ đem quân của tiến về biên giới các bộ tộc Nam Chiếu cổ (phía Tây Hà Giang), còn mình đem quân đánh thẳng xuống Phong Châu. Khi ấy Văn Lang đã suy tàn, Hùng Vương đời 18 tính háo sắc, thường gian dâm với vợ các tù trưởng dưới trướng mình, tính tình lại độc ác bạo ngược khiến quân dân bất mãn tột độ. Quân đội tinh nhuệ của Thành Bản Phủ chẳng tốn nhiều hơi sức đã hạ được Văn Lang. Chỉ trong vòng 1 tuần, Thục Phán đã giết được Nguyễn Tuấn (phò mã của Văn Lang), vây hãm Phong Châu khiến Hùng Vương phải sợ hãi tự tử. Cùng lúc, các tù trưởng Nam Chiếu ở phía Tây nghe tin Tày Chủ Thục Phán bỏ kinh đô xuống Nam, cùng hợp lực đông tiến thì bị phục binh của Miêu Chủ và Dao Chủ phục sẵn ở Xín Mần đánh cho thua liểng xiểng phải rút chạy về tận địa phận Lào Cai bây giờ.
Dựa vào câu chuyện này mà các nhà sử học hiện nay cho rằng Thục Phán là người Tày ở đâu đó khu vực Đông Bắc Bộ và biên giới Quảng Tây. Người ta gán câu chuyện của người Tày này với Truyện Rùa vàng của người Việt theo Lĩnh Nam chích quái dẫn đến đoạn tiếp theo về Thục An Dương Vương rời đô đến Cổ Loa, xây thành,…
Tuy nhiên xét kỹ truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày kể trên ta thấy nó không liên quan gì đến việc An Dương Vương xây thành Cổ Loa hay Mỵ Châu – Trọng Thủy cả. Rõ ràng đây là một vị An Dương Vương khác, ở một giai đoạn bối cảnh khác.
Trong truyền thuyết người Tày kể Thục Phán đã thâu tóm được 9 Mường do 9 thủ lĩnh Nùng chủ, Tày chủ, Sán chủ, Mán chủ, Miêu chủ, Dao chủ. Sau đó nước Nam Cương của Thục lại còn đụng độ với các tù trưởng Nam Chiếu cổ và cuộc tấn công diệt nước Văn Lang ở phương Nam. Với từng đó dân tộc và đất nước, ta thấy ngay phạm vi của câu chuyện Chín chúa tranh vua không thể chỉ quanh quẩn ở vùng biên giới Bắc Bộ và Quảng Tây như vẫn nghĩ. Câu chuyện này kể về một cuộc đại thống nhất thời trước Công nguyên với quy mô và phạm vi lớn hơn nhiều.
Khi xác định quy mô của câu chuyện này ta sẽ nhận ra đây chính là cách kể ngắn gọn của cuộc chiến giữa các nước thời Chiến Quốc, được thống nhất bởi nước Tần. Mỗi nước thời Chiến Quốc là một tộc người trong Bách Việt. Điển hình Miêu Dao là thành phần chính của nước Sở, nước có diện tích rộng nhất thời này. Người Tày Nùng là thành phần của nước Tống, ở quãng Quảng Đông ngày nay.
9 chúa mường như thế thực chất là 9 nước. Khái niệm “mường” ở đây tương đương với “quốc gia”, tương tự người Lào gọi là Mường Lào, Mường Việt vậy. Họ Thục trong truyện đã thống nhất các mường, hay các quốc gia thời Chiến Quốc, do đó phải là nước Tần. Đất đai nhà Tần nằm ở phía Tây của thiên hạ Trung Hoa nên còn được gọi là Thục, tức là phía mặt trời lặn (thụt).

Chu sang TanVị trí các nước cuối thời Chiến Quốc.

Đoạn sau của truyền thuyết Chín chúa tranh vua kể Thục Phán đánh nước Văn Lang của Hùng Vương. Nếu Thục ở đây là nhà Tần thì rõ ràng đoạn này kể về cuộc chinh phạt của Tần đánh vua Đông Chu ở đất Phong Châu. Vùng Bắc Việt vốn là đất định đô ban đầu của Chu Văn Vương, được gọi là nước Văn Lang. Khi Chu Vũ Vương diệt Trụ, đã dời đô về Kiểu kinh ở phía Tây, bắt đầu thời kỳ Tây Chu. Tới thời Đông Chu kinh đô nhà Chu lại quay trở về vùng đất Văn Lang – Phong Châu cũ, nơi có thành Cổ Loa – Đông Đô.
Vị trí “Nam Chiếu cổ”, tức là vùng Vân Nam là đất Kiểu kinh của Tây Chu. Cuối thời Chiến Quốc vùng đất này do một vị tướng của nhà Chu nắm giữ, được biết dưới tên Trang Kiểu. Trang = T’lang = Lang chỉ thủ lĩnh. Kiểu là tên của kinh đô Tây Chu. Trang Kiểu nghĩa là thủ lĩnh vùng Kiểu kinh.
Miền Bắc Việt lúc đó là đất Lạc (Lạc Dương – Đông Chu). Còn Vân Nam là đất Tây Âu của phần Âu trong nước Âu – Lạc. Phần Đông Âu là khu vực Quý Châu hay đất Kiềm. Quý Châu lúc này là điểm nằm giữa Tần (từ đất Thục – Tứ Xuyên), Sở (Hồ Nam), Đông Chu (Bắc Việt) và Tây Chu (Điền – Vân Nam).
Sách Hoài Nam tử cho biết nhà Tần khi dẫn đại quân đánh Việt đã giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống. Dịch Hu Tống đọc khác đi là Dịch Hậu Tông, tức là con cháu của vua Dịch học. Tướng Trang Kiểu là vốn là dòng dõi nhà Chu từ Chu Văn Vương. Văn Vương là người được tôn làm vua Dịch học vì đã viết Kinh Dịch (Chu Dịch). Do đó Trang Kiểu cũng chính là Dịch Hu Tống đã đụng độ với quân Tần lúc này.
Truyện Chín chúa tranh vua kể các tù trưởng Nam Chiếu cổ đã bị Miêu chủ và Dao chủ  phục đánh. Miêu và Dao là 2 sắc tộc chính của nước Sở thời này. Đoạn truyện này có nghĩa là quân Tây Chu ở Vân Nam đã đụng độ với cánh quân người Sở của Tần.
Cái tên Nam Cương trong truyện có thể hiểu là vùng đất ở phía Nam xưa, tức là phía Bắc nay (phương Nam Bắc nay đã đảo ngược). Nhà Tần lấy mệnh Thủy, dùng màu đen của Ngũ hành, định vị ở phương Bắc nay, cho nên tên gọi của Tần mới là Nam Cương.
Về đất Điền ở Vân Nam tác giả Nguyễn Quang Nhật đã có nhận xét rất xác đáng khi phân tích phiên thiết Di Yên = Điền. Người Điền là người của xứ nóng (yên = ơn là số 2 chỉ phương Xích đạo) di cư tới trong cuộc chia tách Đông Tây của Hùng và Thục, Lạc Long và Âu Cơ hay Hoa và Di.

IMG_0512Trống đồng trong bảo tàng Hà Giang.

Khu vực Vân Nam có dân tộc Di, hay là người Lô Lô, một dân tộc tới nay vẫn còn dùng trống đồng trong đời sống văn hóa. Có thể thấy tên Lô Lô hay La La, Lu là từ chữ Lửa mà ra, chỉ tộc người phương nóng (Bắc xưa), dòng dõi Thần Nông Viêm Đế. Chữ Lô này do đó đồng nghĩa với chữ Yên. Người Lô Lô – Di = Di Yên thiết Điền.
Người Lô Lô theo truyến thuyết có nguồn gốc từ người Khương cổ. Người Khương này không phải ở Tây Tạng như các chú dẫn hay gặp vì rõ ràng Tây Tạng chẳng có bộ tộc nào dùng trống đồng cả. Khương là họ của Viêm Đế Thần Nông, cho thấy người Lô Lô là dòng Thần Nông. Viêm Đế khởi phát từ vùng sông Khương hay Khung Giang, tức là sông Mê Kong ngày nay.
Liên hệ khác, Thục An Dương Vương được các tư liệu truyền thuyết chép là đến từ Ai Lao – Vân Nam. Người Ai Lao Di = La Di, tức là người Lô Lô. Người Di Lô Lô như thế là dân tộc đã theo ông tổ của nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ di cư lên núi do cuộc tranh giành quyền lực với Hạ Khải. Truyền thuyết Việt kể là cuộc chia tách Âu Cơ với Lạc Long Quân, mẹ Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi. Đất Vân Nam Quý Châu là vùng đất khởi nghiệp của nhà Chu, gọi là đất Âu. Ai Lao thiết Âu.
Theo wikipedia: người Lô Lô vốn có chữ viết riêng. Chữ viết của người Lô Lô trước kia là chữ tượng hình, nhưng hiện nay không dùng nữa. Khoảng thế kỷ 14 người Lô Lô đã có chữ tượng hình với 140 bộ thủ. Người ta dùng phương pháp ghép bộ thủ để diễn đạt nghĩa. Chữ được ghi trên các tấm gỗ mỏng, trên da thú hoặc loại giấy dày, thô. Tới nay chỉ có một số gia đình còn giữ lại được một vài mảnh có ghi lại loại chữ đó mà ít ai đọc được.
Như thế chữ viết của người Lô Lô là dạng chữ tượng hình như chữ Nho cổ, chứ không phải bộ chữ hoàn toàn khác. Vì người Lô Lô là hậu duệ nhà Chu nên hiển nhiên chữ viết đó cũng là chữ dùng thời Chu. Có thể đó là chữ Đại triện thời Chu hay chữ Khoa đẩu mà người Việt thường nói tới.

P1100140Chiếc chuông đồng có chữ thời Đông Sơn tìm thấy ở Lào Cai.

Lịch sử qua những lớp thành ở Cổ Loa

Theo bài công bố của các chuyên gia khảo cổ đăng trên báo Tia Sáng về kết quả khai quật tại thành Cổ Loa gần đây thì có những phát hiện mới về tòa thành sớm nhất và quy mô nhất Đông Nam Á này như sau:
Thứ nhất là phát hiện lớp văn hóa Đông Sơn nằm dưới thành do An Dương Vương đắp, trong hố khai quật thành Trung năm 2007-2008. Trong lớp văn hóa Đông Sơn ở đây, cùng với đồ gốm, hiện vật sắt, đã phát hiện được di tích phòng thủ có quy mô nhỏ hơn và khác phương vị với thành Cổ Loa của An Dương Vương. Di tích có cấu trúc (từ ngoài vào trong) là: Hào -Tường thành – Hào – Vọng gác + tường chắn. Trong nền của vọng gác còn phát hiện được di tích bếp lửa, hiện vật sắt và gốm Đông Sơn.
Phát hiện thứ hai là nền gia cố bằng đất gốc trước khi đắp thành trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012.
Phát hiện thứ ba trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012 tại xóm Thượng. Theo các chuyên gia khảo cổ học Nhật Bản, có một số hiện tượng lạ trong cấu trúc của đất đắp thành có thể là dấu vết của hiện tượng động đất. Vấn đề này đang tiếp tục được nghiên cứu. Nếu hiện tượng động đất được xác nhận, cũng đồng thời xác nhận cốt lõi của truyền thuyết thần Kim Quy/ Thanh Giang xứ được Huyền Thiên Trấn Vũ sai xuống giúp An Dương Vương khắc phục hiện tượng “thành cứ xây xong lại đổ”.
Phát hiện thứ tư gần đây nhất (2014) trong hố cắt thành Nội và ụ hỏa hồi tại thôn Hương đã phát hiện được di tích gốc của thành Nội và ụ hỏa hồi trong cùng bình diện xuất lộ, nằm dưới mặt thành Nội hiện nay khoảng trên 2m. Đây là phát hiện quan trọng khẳng định An Dương Vương đã đắp cả 3 vòng thành và hệ thống ụ hỏa hồi trong hệ thống thành Nội cũng được An Dương Vương đắp cùng với thành Nội.

Co Loa A3

Các giai đoạn đắp thành Trung và công trình phòng thủ sớm. Ảnh: Lại Văn Tới.

Như thế kết quả khảo cổ ở Cổ Loa cho thấy tòa thành này đã qua 2 lần xây dựng khác biệt. Lần sớm nhất là một công trình phòng thủ gồm Hào – Tường thành – Vọng gác có quy mô nhỏ. Lần thứ hai mới là lần xây thành có 3 lớp như còn thấy tới nay. Ở lần thứ hai này việc xây thành được tiến hành tới 4 giai đoạn đắp đất khác nhau. Và đặc biệt có dấu hiệu về sự xáo trộn các địa tầng, nhiều khả năng là do động đất khá mạnh trong thời gian xây thành.
Những dữ kiện khảo cổ trên là minh chứng cho nhận định Cổ Loa chính là Lạc Ấp – Đông Đô của nhà Chu. Thành Lạc Ấp của nhà Chu đầu tiên do Chu Công xây dựng làm nơi an trí đám ngoan dân của nhà Ân sau khi ông dẹp loạn Vũ Canh. Truyền thuyết Việt chép là sau khi Thánh Dóng diệt giặc Ân thì có Linh Lang đại vương đánh giặc Vĩnh Trinh, yên ổn đất nước. Chu Công cũng là tướng Cao Lỗ của truyền thuyết Việt, tương truyền là người đã xây thành Cổ Loa.
Tới khi nhà Chu dời đô từ Hạo Kinh về Lạc Dương thì Cổ Loa trở thành kinh đô của thời Đông Chu. Truyền thuyết Việt chép là An Dương Vương dời đô về đất Lạc, xây kinh thành ở đây.
Các nhà khảo cổ đã nhận định chính xác rằng trận động đất là cốt lõi của chuyện Huyền Thiên Trấn Vũ cử thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương khắc phục việc “thành cứ xây xong lại đổ”. Nguyên nhân thành đổ là do động đất, dẫn đến việc phải đắp thành tới 4 lần như khảo cổ địa tầng thành Cổ Loa cho thấy.
Cụ thể hơn, Huyền Thiên Trấn Vũ ở Cổ Loa chính là Lão Tử như thần tích ở làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang) ghi nhận, là người đã giúp An Dương Vương diệt Bạch Kê tinh đắp thành. Câu đối ở cửa võng đình Thổ Hà, nơi thờ Lão Tử (Thái Thượng Lão Quân):
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Sách Lão Tử minh chép về hành trạng của Lão Tử như sau:
Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Cơn địa chấn thời Chu U Vương – Chu Bình Vương ở vùng Tam Xuyên chính là nguyên nhân làm cho thành Lạc Dương – Đông Đô ở Cổ Loa “cứ xây xong lại đổ”. Vì Chu U Vương say mê Bao Tự, gây chuyện đốt lửa Ly Sơn hiệu triệu chư hầu làm trò đùa, mua tiếng cười cho Bao Tự mà nhà Chu đi vào chỗ suy thoái, buộc phải dời đô từ phía Tây sang Đông. Lão Tử là một vị “pháp sư” của triều đình nhà Chu lúc đó, đã nhân thành Đông Đô cứ xây lại đổ do động đất, bày đàn tế trời, lấy sự việc các vua đời trước (Hạ, Thương) để khuyên răn vua Chu (lúc này là Chu Bình Vương) biết làm theo lẽ trời, tôn trọng ý dân, giữ gìn sức nước. Đây mới là công nghiệp chính của Lão Tử đối với quốc gia.
Đoạn dữ liệu trên của Lão Tử minh cũng cho một thông tin quan trọng: khu vực Lạc Dương của nhà Chu còn gọi là vùng Tam Xuyên. Tam Xuyên là tên quận thời Tần, lập ra trên đất của nhà Chu. Điều này thêm một lần nữa xác nhận vùng Bắc Việt ngày nay chính là đất Đông Chu thời trước Công nguyên.

Những đồng tiền cổ của thiên hạ Trung Hoa trên đất Việt

PGS. TS. NGND. Hoàng Văn Khoán, chuyên gia hàng đầu Việt Nam hiện nay về cổ tiền học, đã giới thiệu “một số đồng tiền Trung Quốc thường gặp ở Việt Nam” trong cuốn sách Thức dậy từ quá khứ mới in của mình (2018), gồm các loại như sau:

Bố tiền (tiền hình thuổng – xẻng):
Không thủ bố. Hai mặt có chữ Tam xuyên cân 三川釿. Niên đại: Xuân Thu – Chiến Quốc, Sở đến Chu, Tấn.
Kiều túc bố. Hai mặt có chữ Ngu nhất cân 虞一釿. Niên đại: Xuân Thu trung kỳ, đúc trên đất Ngụy.
Trường bố. Mặt trước có chữ Thù bổ dương cân 殊布當釿. Mặt sau có chữ Thập hóa 十貨. Phát hiện trên đất Sở.
Kiều túc bố. Mặt trước có chữ An ấp nhất cân 安邑一釿. Mặt sau có chữ An 安. Phát hiện trên đất Ngụy.
Tam khổng bố. Mặt trước có chữ Dư 余. Mặt sau có chữ Nhất lạng 一两. Phát hiện trên đất Lỗ, Tề, Tấn, Sở, Tống, Vệ, Trần, Thái, Tào, Trịnh, Yên thời Chiến Quốc (Xuân Thu?) Đông Chu, 841-756 TCN, Tống 765 – 476 TCN.
Tam khổng bố. Mặt trước có chữ Nam hành đường 南行唐. Mặt sau có chữ Thập nhị chu 十二朱. Tiền đúc trên đất Triệu thời Chiến Quốc 442 – 111 TCN.

Đao tiền (tiền hình dao):
Tề quan hóa 齊官化. Tiền chỉ lưu thông ở thành Lâm Chung, kinh đô nước Tề.
Tam tự đaoTriệu đao. Tiền nước Triệu.
Yên Minh đao. Một mặt có chữ Minh 明. Tiền nước Yên.
Đao tiền. Thời kỳ Chiến Quốc (trong mộ Việt Khê, Hải Phòng).
Lục tự đao. Tiêm thư đao. Chiết khánh đao. Tiêm đao.

Hoàn tiền (tiền tròn có lỗ tròn):
Thử viên nhất cân 黍垣一釿. Tiền nước Ngụy.
Tiền tròn có chữ Viên 垣. Tiền nước Ngụy.
Tiền tròn có chữ Cộng Tiền nước Ngụy.


Vài hình ảnh cho các đồng tiền có tên trên (ảnh của trang bachviet18.com):

Tam khổng bố Dư Nhất lạng
Tam khổng bố có chữ Dư và Nhất lạng.
Te quan hoa
Tề quan hóa.
FullSizeRender
Yên Minh đao.

Thử viên nhất cân
Thử viên nhất cân.

Dao tien Viet KheĐao tiền trong mộ Việt Khê, Hải Phòng.

Vấn đề nổi lên là: Tại sao những bố tiền, đao tiền, hoàn tiền của các nước Triệu, Tề, Yên, Sở, Ngụy lại có “thường gặp” trên đất Việt Nam? Theo chính sử thì mãi tới thời Tần nước ta mới bị Tần chiếm đánh. Còn sau khi Tần thống nhất thiên hạ đã thực hành “xa đồng trục, thư đồng văn”, loại bỏ tiền của các nước cũ, dùng tiền tệ thống nhất là đồng tiền Bán Lạng. Vậy làm thế nào mà các nước Triệu, Ngụy, Yên, Tề ở tận Bắc sông Hoàng Hà từ 300-500 năm TCN lại đã có “giao lưu” tiền tệ với vùng Bắc Việt? Sự “giao lưu” của vùng Bắc Việt với các nước chư hầu thời Xuân Thu Chiến Quốc là như thế nào?
Sự hiện diện của những hiện vật khảo cổ – tiền cổ ở Việt Nam cho thấy, không có cách giải thích nào khác là: vùng Bắc Việt thời Xuân Thu Chiến Quốc nằm cùng trong một khu vực “giao thương” chung của cả Trung Hoa. Tức đây là một trong các nước thời Đông Chu. “Nước ta” đã biết dùng tiền trong thương mại, tức là đã dùng văn tự (chữ trên tiền). Vậy “nước ta” lúc đó là nước nào trong số các chư hầu của nhà Chu?

Ngoài những đồng tiền “thường gặp” trên, ở Việt Nam còn phát hiện một số đồng tiền sau:
Bo tien Dong Chu
Bố tiền mặt trước có chữ Đông Chu 東周, mặt sau có chữ Vương cát 王吉.

Hoàn tiền Đông Chu 東周 và Tây Chu 西周
Nếu nước ta lúc đó không phải Tần, Triệu, Ngụy, Yên, Tề,… thì phải chăng khu vực Việt Nam ngày nay chính là nước của nhà Chu thời kỳ này?

Những đồng tiền cổ tìm thấy ở Việt Nam chứng tỏ một cách rõ ràng rằng khu vực Việt Nam thời Xuân Thu Chiến Quốc nằm cùng trong một thiên hạ Trung Hoa, cùng chung một loại tiền tệ, chữ viết. Hơn nữa, khu vực Bắc Việt có thể chính là nước Chu, thiên tử của cả thiên hạ phương Đông.

Lạc Đô, Long Đỗ, Thăng Long

Đình Tân Khai hay Thái Cam ở phố Hàng Vải Hà Nội là nơi thờ 3 vị thần của kinh thành Thăng Long, gồm Bạch Mã, Tô Lịch và Thiết Lâm.

IMG_4532Đôi câu đối tại chính điện của đình:
大羅城弌帶江山龍肚至今猶勝蹟
四望祀累朝香火貉都終古獨英聲
Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích
Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.
Dịch:
Thành Đại La một dải núi sông, Long Đỗ tới nay còn thắng tích
Bốn đền trấn các triều hương lửa, Lạc Đô tự cổ dậy tiếng thơm.

Publication3Câu đối trên sử dụng tên Lạc Đô để chỉ kinh thành Thăng Long. Đây là một bằng chứng về vùng đất Lạc ở vùng Bắc Việt. Vùng đất này liên quan tới các triều đại:
– Lạc đô hay Lạc Ấp, Lạc Dương là kinh đô của Đông Chu, nơi Chu Công an trí đám ngoan dân nhà Ân sau khi dẹp loạn Vũ Canh và Tam Giám.
– Lạc đô là thành Đại La thời Cao Biền. Cao Biền do đó được gọi là Lạc tướng, hay Lạc Điêu ngự sử (Lạc Giao – đất Lạc ở Giao Chỉ), là vị Cao Sơn đại vương, trấn Nam của kinh thành Thăng Long.

IMG_4505 (2)

Ban thờ Tam vị thành hoàng Thăng Long ở đình Tân Khai.

Một số câu đối khác ca ngợi các vị thành hoàng Thăng Long ở đình Tân Khai:
四化齊名北地易窮金壓術
歷朝顯贈南天長播馬飛聲
Tứ hóa tề danh, Bắc địa dịch cùng kim áp thuật
Lịch triều hiển tặng, Nam thiên trường bá mã phi thanh.
Dịch:
Danh sánh tứ trấn, đất Bắc phá tan thuật yểm đồng
Phong tặng các triều, trời Nam truyền rộng tiếng phi ngựa
.
Câu đối này nói tới các thần Long Đỗ – Tô Lịch được xếp trong Thăng Long tứ trấn và chuyện thần Tô Lịch đã phá phép trấn yểm bằng kim đồng thiết phủ của Cao Biền.
Câu khác:
單駕自天來城郭以前開李帝
一聲從地奮山河依舊笑髙王
Đan giá tự thiên lai, thành quách dĩ tiền khai Lý đế
Nhất thanh tòng địa phấn, sơn hà y cựu tiếu Cao vương.
Dịch:
Một ngựa từ trời qua, thành quách trước kia mở Lý Đế
Một tiếng rung mặt đất, núi sông cũ mới nhạo Cao Vương. 

P1150102Một dẫn chứng khác từ đình Nôm (Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên) với chữ “Lạc đô”. Đình Nôm thờ đức thánh Tam Giang, một tướng của Trưng Vương đã kết hôn với cháu gái của… Triệu Đà là Trương Mỵ Nương tại địa phương (Đại Đồng, Văn Lâm, Hưng Yên.
Câu đối ở nghi môn đình Nôm.
六十城東洛大都漢氏山河幾可轉
百千載南朝名蹟徵家義烈豈能磨
Lục thập thành Đông Lạc đại đô, Hán thị sơn hà ki khả chuyển
Bách thiên tải Nam triều danh tích, Trưng gia nghĩa liệt khải năng ma.
Dịch:
Sáu mươi thành đô lớn Đông Lạc, thời Hán núi sông mà lay chuyển
Trăm ngàn năm tích nổi Nam triều, nhà Trưng công nghĩa chẳng từ nan.
Đông Lạc đại đô nơi Trưng Vương đóng đô là vùng Đông Đô – Lạc Ấp từ thời nhà Chu.

Hội thề trung hiếu Đồng Cổ

Đại Việt sử ký toàn thư đoạn chép về sự lên ngôi của thái tử Phật Mã nhà Lý:
Tháng 3, ngày mồng 1 Bính Thân, nhật thực. Ngày Mậu Tuất, vua [Lý Thái Tổ] băng ở điện Long An. Bề tôi đều đến cung Long Đức xin thái tử vâng di chiếu lên ngôi. Ba vương là Đông Chinh [Lực], Dực Thánh và Vũ Đức nghe tin đều đem quân ở phủ mình vào phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh Vương phục ở trong Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục trong cửa Quảng Phúc, đợi thái tử đến thì đánh úp. Một lát sau, thái tử từ cửa Tường Phù vào, đến điện Càn Nguyên, biết có biến, sai người hầu đóng hết các cửa điện và sai các vệ sĩ trong cung phòng giữ, nhân bảo tả hữu rằng: “Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế, mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”
Nội thị là Lý Nhân Nghĩa nói: “Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sứ bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay ba vương làm phản, thì là anh em hay là kẻ thù? Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua”. Thái tử nói: “Ta lấy làm xấu hổ là Tiên đế mới mất chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau, há chẳng để cho muôn đời chê cười sao?”
Nhân Nghĩa nói: “Thần nghe rằng muốn mưa xa thì phải quên công gần, giữ đạo công thì phải dứt tình riêng, đó là việc Đường Thái Tông và Chu Công Đán bất đắc dĩ phải làm. Nay điện hạ có cho Đường Thái và Chu Công là chăm mưu xa, giữ đạo công chăng? Hay là tham công gần, đắm tình riêng chăng? Điện hạ biết theo dấu cũ của Đường Thái, Chu Công thì đời sau ca tụng công đức còn chưa rỗi, còn rỗi đâu mà chê cười!”.
Nhân Nghĩa lại nói: “Tiên đế cho điện hạ là người hiền, đủ để nối được chí, tài đủ để làm nổi việc, nên đem thiên hạ phó thác cho điện hạ. Nay giặc đến vây bức cửa cung mà ẩn nhẫn như thế, thì đối với sự phó thác của Tiên đế ra sao?” Thái tử im lặng hồi lâu rồi bảo Nhân Nghĩa và bề tôi trong cung là bọn Dương Bình, Quách Thịch, Lý Huyền Sư, Lê Phụng Hiểu rằng: “Ta há lại không biết việc làm của Đường Thái, Chu Công hay sao? Chỉ vì ta muốn che giấu tội ác của ba vương, khiến họ tự ý rút quân chịu tội để được vẹn toàn tình cốt nhục là hơn”
Sự kiện Thái tử Phật Mã dẹp loạn Tam vương khi Lý Thái Tổ mất được ví với việc làm của Đường Thái Tông và Chu Công Đán. Khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi gặp phải sự biến cửa Huyền Vũ, Trưởng Tôn Vô Kỵ và Uất Trì Kính Đức đã giết hai anh của Lý Thế Dân là Kiến Thành và Nguyên Cát để giữ ngôi vua cho Thế Dân.
Còn chuyện của Chu Công Đán nhà Chu là việc sau khi đánh bại Trụ Vương, Chu Vũ Vương phong cho 3 người em của mình là Quản Thúc, Hoắc Thúc và Sái Thúc các khu vực gần kinh đô Triều Ca của nhà Ân cũ để giám sát hậu duệ nhà Ân là Vũ Canh. Tuy nhiên, khi Vũ Vương mất, con là Thành Vương lên nối ngôi, ba vị “Thúc” (tức là 3 ông chú của Chu Thành Vương) này cùng với Vũ Canh đã làm phản, phao tin là Chu Công có âm mưu cướp ngôi vua. Chu Công lúc này phụ chính đã cất quân Đông chinh dẹp loạn, giết chế Vũ Canh và Quản Thúc, bắt Hoắc Thúc và Sái Thúc đi đày. Nhờ đó giữ vững ngôi vị cho Chu Thành Vương. Đây là việc làm của Chu Công mà được Thái tử Phật Mã nhắc đến trong loạn Tam vương khi Lý Thái Tổ mất.
Cũng Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Thái Tông:
Phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề. Trước đây, một hôm trước khi ba vương làm phản, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, phải mau đem quân dẹp ngay. Tỉnh dậy liền sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm. Đến đây xuống chiếu giao cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu thành Đại La sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy, đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Các quan từ cửa đông đi vào, đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ, chuyển sang mồng 4 tháng 4.
Khi liên kết 2 đoạn ghi chép trên về sự kiện dẹp loạn Tam Vương của Lý Thái Tông thì chợt nhận ra ý nghĩa của thần Đồng Cổ và hội thề trung hiếu Thăng Long. Thần Đồng Cổ hay thần Trống đồng không phải ai khác chính là Chu Công Đán, người được nhắc đến ở đoạn trích trên. Người đã báo mộng cho Thái tử Phật Mã là Chu Công. Ý nghĩa thực ở đây là Lý Thái Tông muốn ra tay hành động nhưng sợ mang tiếng huynh đệ tương tàn. Vì thế mới lấy gương của Chu Công và sau đó noi theo đó mà lập hội thề trung hiếu để thuyết minh cho hành động này:
Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết“.
Trong cuốn Di huấn vua Hùng mới đây của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng có nhận xét khá hợp lý rằng ngày lập hội thề trung hiếu là ngày mồng 4 tháng 4, ứng với quẻ Thuần Chấn trong Kinh Dịch. Quẻ Chấn có tượng là sấm hay trống nên dùng chỉ thần Đồng Cổ.
Hào ngũ của quẻ Chấn viết: Chấn vãng lai lệ, ức vô táng, hữu sự. Tức là: nghe tiếng sấm đã vội lo, biết lo trước thì tránh được mất mát thiệt hại. Ý hào này tương ứng với từ “đánh động”, nói đến sự cần thiết phải đề phòng, nhằm giảm thiệt hại. Tiếng trống đồng của Chu Công chính đã “đánh động” Thái tử Phật Mã đề phòng và ra tay kịp thời khi lên ngôi.

Cong den Dong Co

Cổng đá đền Đồng Cổ ở Đan Nê (Khả Lao), Thanh Hóa.

Thần Đồng Cổ gốc ở núi Khả Lao bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa. Vậy tại sao Chu Công – thần Đồng Cổ lại ở sông Mã?
Con sông Mã là con sông chảy từ Lào đổ ra biển ở Thanh Hóa Việt Nam. Lưu vực sông Mã là nước Lỗ thời Chu. Lỗ biến âm thành Lào. Chu Công đươc phong ở nước Lỗ nên đền thờ Chu Công nằm ở sông Mã là hoàn toàn có căn cứ.
Thanh Hóa cũng là nơi tìm được chiếc trống đồng đầu tiên nổi tiếng mang tên Đông Sơn. Chu Công là người đã chế ra trống đồng nên được người Việt tôn thờ làm thần Đồng Cổ. Lưu vực sông Mã, gồm cả đất Lào là khu vực tìm được nhiều các trống đồng và tới nay vẫn còn tập tục sử dụng trống đồng.
Tên núi Khả Lao tức là Cả Lào, chỉ Chu Công, người được phong ở đất Lào – Lỗ. Chu Công trong sử Việt còn được gọi là Cao Lỗ, cũng cùng một nghĩa với Cả Lào – Khả Lao.

Den Dong Co

Chính điện đền Đồng Cổ ở Khả Lao, Thanh Hóa.

Câu đối đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê (Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa):
Thiên vi anh địa vi linh, tất Mã giang Tây thanh miếu cổ
Thần đương trung tử đương hiếu, Thăng Long thành Bắc thệ đàn cao.
Dịch:
Trời gây tài, đất kết thiêng, sông Mã dải Tây trong miếu cổ
Tôi giữ trung, con đảm hiếu, Thăng Long thành Bắc đàn thề cao.

Bia Dong Co

Mảnh bia đá ở đền Đồng Cổ tại Đan Nê, Thanh Hóa.

Đền Đồng Cổ ở Thăng Long nơi diễn ra hội thề trung hiếu thời Lý nay ở tại đường Thụy Khuê, Hà Nội. Đặc biệt đền này nằm ngay cạnh đền Voi Phục, nơi thờ Linh Lang đại vương, vị thần trấn Tây của Thăng Long. Trong các bài trước đã xác định Linh Lang đại vương cũng chính là Chu Công, đã dùng ngọn cờ chính nghĩa (trung hiếu) để dẹp phản loạn Vĩnh Trinh – loạn Tam giám và Vũ Canh ở vùng đất Trịnh (Hà Nam, Trung Quốc) thời đầu nhà Chu.

IMG_5098

Đền Đồng Cổ ở Thụy Khuê, Hà Nội.

Hội thề trung hiếu Đồng Cổ là một xác tích rằng thần Trống đồng chính là Chu Công Cơ Đán, vị trung thần hiếu nghĩa, công thần lập quốc của nhà Chu, người đã đúc kết những tinh hoa của Dịch học lên mặt trống đồng Việt.

Các hình tượng rồng trên đồ đồng Thương Chu

Tóm tắt các hình tượng con của rồng trên đồ đồng Thương Chu.

Bi hi

1. Bí hí hay Bá hạ nghĩa là gắng sức đỡ từ bên dưới, chỉ hình con rùa.

Phu hi

2. Phụ hí là con vật gánh, vác phía trên.

Thao thiet

3. Thao thiết là mặt sắt hay rắn mặt. Ý nghĩa thần quyền.

Tieu do

4. Tiêu đồ hay Phô thủ là đầu nhô ra. Chỉ đầu hình thú ngậm vòng.

Be ngan

5. Bệ ngạn là con hổ giữ ngục hay ở chốn công đường.

Kim nghe

6. Kim nghê là hổ kim loại, thích lửa trên nắp đồ đựng nóng và lư hương.

Bo lao

7. Bồ lao là con vật hiến tế, kêu to khi bị giết, dùng trên chuông.

 

Nhai ti

8. Nhai tí là trợn mắt, biểu thị sự uy mãnh trên vũ khí.

Si van

9. Si vẫn hay Ly thủ là đầu thú ở chỗ mép ly hợp tiếp giáp.

Trao phong

10. Trào phong là đón gió, chỉ cả con thú đứng chỗ cao ngẩng đầu.

Cong phuc 2

11. Công phúc là loại rắn dẫn nước.