Sự tích Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương ở Vụ Bản, Nam Định

Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Hổ Sơn, tổng Hổ Sơn, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, ký hiệu TTTS006832.

Sự tích bách thần tôn phái trăm trứng triều Hùng Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn
Do bộ Lễ quốc triều quan Thượng thư vâng soạn. Chi Càn.

Xưa nước Việt ta trời Nam mở vận, thánh đế ứng đồ, nước Bắc ban đầu phong thẳng theo hướng sao Đẩu, sao Ngưu. Mãi giữ dòng dõi vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương, ngự vạn năm ở thánh điện núi Hùng. Trời Nam đất tổ. Hoàng triều nước nhà mãi tôn dòng dõi, lưu truyền hương khói vạn đời không ngừng.

Xét tích Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình Quân tên là Âu Cơ, lập làm chính cung, về ở đầu núi Nghĩa Lĩnh. Thấy có mây lành năm sắc bốn phương rực rỡ. Thế rồi bà có mang thai. Qua ba năm ba tháng bao mươi ngày bỗng thấy mùi hương thơm đầy phòng, khí lành bao phủ, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai. Đều là có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời, khí độ hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Nước lửa tương khắc, chủng loại không cùng, nên vì thể phải chia cách.

Chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, trấn ở các đầu sông góc biển. Chia 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, trấn yên các nơi đầu núi. Gọi là trăm vương, đều phong là quan Bộ chủ. Khi ấy Vua mới phong làm 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính châu, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở trang Hoằng Hóa huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên đạo Ái Châu có một quan Bộ chủ họ Hùng, tên là Tuệ công, lấy con gái vị quan địa phương ở châu tên là Nguyễn Thị Quế làm chính phu nhân. Quan Bộ chủ thông minh sáng trí, sức mạnh tài cao, võ nghệ tinh thông, có khí dũng trăm người khó địch. Vua bèn phong làm quan Bộ chủ đạo Sơn Nam Hạ. Khi ấy quan Bộ chủ mới lên xe nhàn du ngắm cảnh sông núi. Phàm là ở trời Nam phong cảnh không chỗ nào không tới. Một hôm Chủ quan đi đến trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng, thấy một mảnh đất có sông núi uốn quanh, rồng hổ ôm lấy, mọi bề đều quay chầu vào chính cục. Chủ quản bèn truyền nhân dân cùng quân sĩ xây dựng một du cung tại bên nơi dân, dựa hướng Càn hướng về hướng Tốn, giao phó cho Phu nhân ở đó, khuyến khích nhân dân lấy nghề nông tang làm gốc, mở mang tiện lợi, trừ bỏ điều hại. Công đức như núi cao bể rộng. Không ai là người dân mà không thể sinh sống, không vật nào bị bệnh mà không được chăm sóc. Trải qua khoảng mười năm, khi đó quan Bộ chủ tuổi đã ngoài 50, Phu nhân tuổi cũng hơn 40 mà điều lan quế chưa được ứng nghiệm. Một hôm Chủ quan cùng Phu nhân nói nhau rằng:

  • Ý trời chưa đạt, liệu có phải là do việc người còn thiếu khuyết. Chi bằng thử một lần đi tìm đền thiêng chùa phật mà cầu con nối dõi xem.

Nói xong, lại nghe tiếng ở đạo Hải Dương có chùa Yên Tử có nhiều linh ứng, nước cầu dân nguyện đều ứng. Ngay hôm đó ngày mồng 8 tháng Tư chuẩn bị trai giới đi đến núi Yên Tử, tự làm sớ cúng Phật. Mặt trời đã xuống núi, Chủ quan cùng Phu nhân bèn nằm ở bên phải trước án, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy trong điện rực sáng, ánh hào quang rực rõ. Thấy một tượng thân vàng ở bên trên nói rằng:

  • Một bên là tài vật, một bên là thanh đồng. Vợ chồng ông muốn lấy vật nào?

Trong mộng Chủ quan nhìn thấy thanh đồng rất tốt, trong lòng vui mừng, xin được lấy thanh đồng. Tượng thân vàng bèn trao cho Chủ quan. Quan để vào trong tay áo, biến ảo thành nhỏ sau một tiếng kêu. Lại nghe trên trời có một tiếng sấm lớn, vang đến bên tai. Ông mới tỉnh dậy, mới biết là Phật đã báo mộng như vậy.

Đến sáng ngày ông bà làm lễ bái tạ trước điện Phật rồi lên xe trở về nơi du sở (tức là trang Hổ Sơn tổng Hổ Sơn). Từ đó uyên ương chung gối, loan phượng thành bầy, nhạc chiêng chống cùng kêu vui, hứng đàn thơ hảo hợp. Phu nhân thế rồi có mang thai. Đến năm Bính [Ngọ] mùa hè ngày 24 tháng Sáu Phu nhân sinh được một người con trai, mặt giống như sắt, trên bụng có dòng chữ lớn rằng: “Hổ Sơn Thái Sơn Đại vương”. Đến năm lên ba tuổi Chủ quan mới đặt tên là Sơn Hổ, hiệu là Thái Sơn công. Ngày qua tháng lại tuổi đã lên 7, thân cao 7 thước, sức mạnh trăm cân, bèn cho nhập học với tiên sinh Trần Giản. Khi ấy ông học được 6 năm, văn chương quát triệt, võ nghệ tinh thông, có thể đọc xem thuyết của Khổng Mạnh, bốn khoa ba chuyện không nhường thao lược của Tôn Ngô. Ông đang khi đi học, Tiên sinh thường nói rằng:

  • Rất hay cho một nhà có phúc như vậy sinh được người con trai tốt. Ngày sau tất là người con làm rạng danh gia đình.

Khi ấy Chủ quan cùng Phu nhân bị cảm gió độc, trong thời gian ngắn cùng mất (tức là ngày mùng 10 tháng Mười). Ông khóc lóc động trời nhưng tình thế không thể thay đổi. Ông chọn ngày tốt, chọn quan tài lớn để an táng, mổ trâu, làm lễ chôn cất. Ba năm chịu tang phụng thờ theo nghi lễ. 49 ngày đến tuần chịu tang tận báo đức cù lao.

Khi đó Hùng Huy Vương đang ở ngôi, đóng đô tại sông Bạch Hạc Việt Trì, mới lệnh cho sứ thần gọi ông vào triều, liền bái phong là quan huyện Thiên Bản, ban cho họ tộc Hoàng, nối chức của thân phụ. Ngay hôm đó ông làm lễ bái tạ trước bệ, dẫn lính trở về huyện Thiên Bản nhận chức. Qua 10 năm sau nước nhà có giặc Ân phương Bắc là Thạch Linh Thần tướng khởi binh đạo Bắc, đem sáu vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời. Bỗng thấy quan địa phương báo gấp, một ngày tới 5 lần. Hùng Huy Vương vô cùng lo lắng, ngay hôm đó truyền trăm quan văn võ đến triều bàn việc chống giặc. Hôm ấy Vua truyền dựng một tế đàn cầu đảo bách thần trời đất. Đến ba ngày sau bỗng thấy mưa gió nổi lên, thấy một ông lão cao hơn 9 thước, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người thấy vậy bèn vào tâu lên Vua. Vua nghe vậy cho là sự lạ. Vua thân ra bái chào, đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc Ân quân phương Bắc đến cướp nước đã tới gần.

Ông lão chần chừ hồi lâu, bấm tay vận đoán, lập một quẻ rồi nói với Vua rằng:

  • Nếu cầu được người thì giặc Ân không lâu sẽ dẹp yên.

Nói xong ông lão bay lên không mà đi. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện về báo cho việc này. Ngay hôm đó bèn lệnh cho Xá nhân đi tìm mộ người, đi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh, có một gia đình phú ông tên là Liên công, sinh được một người con trai, tuổi đã lên ba, ăn uống to lớn, không biết nói cười. Một hôm Xá nhân đi cầu mộ đến nơi. Bà mẹ nghe Xá nhân đến, đùa nói rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để có chức tước của triều đình, để báo ơn sâu nuôi mớm.

Đứa trẻ nghe thấy mẹ nói vậy, bỗng nhiên mở miệng rằng:

  • Mẹ mời sứ giả đến đây.

Thần Vương liền nói với sứ giả  rằng:

  • Mau trở về báo với Vua, đúc thành ngựa sắt cao 18 thước, roi sắt dài 10 trượng đem đến. Việc quân nhung Vua không cần lo lắng nữa.

Ngay hôm đó sứ giả nhanh chóng trở về tâu với Vua. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn lệnh cho thơ đúc thành ngựa sắt, roi sắt, đem đến giao cho Thần Vương. Lại lệnh cho 50 bộ Sơn thần, tên là Hổ Sơn Hoàng tộc Đại tướng quân theo cùng với Thiết Xung Thần Vương dẹp giặc

Lại nói, nhân dân trên đời đến dâng rượu và cỗ mang đến. Thần Vương ăn một lúc hết cỗ, đứng thẳng người lên. Bỗng nhiên thân thể dài ra 16 thước. Nhảy lên cưỡi ngựa. Ngựa chạy như bay thẳng đến trước điện nhà vua bái yết, rồi tiến thẳng đến dưới chân núi Chu Sơn quân Vũ Ninh. Ngựa miệng phun lửa, thiêu cháy hết quân Ân. Trận đó Hổ Sơn Đại tướng quân múa long đao chém được Thạch Linh Thần tướng cùng với quân sĩ hơn 500 đầu. Khí giới vứt chất như núi. Một xe không quay được, một ngựa cũng không thoát. Giặc Ân thua to chạy toán loạn. Còn lại dư đảng chạy về nước Bắc. Khi ấy Thần Vương trở về đến tranng tổng Phù Xá huyện Kim Hoa lên núi Sóc Sơn cưỡi ngựa xông lên trời mây mà đi. Vua bèn bao phong làm Xung Thiên Phù Đổng Thiên Vương Thượng đẳng Phúc thần, có tích riêng.

Còn Hổ Sơn Đại tướng quân dẫn binh mã trở về triều bái Vua. Vua rất vui mừng bèn truyền trăm quan mổ trâu mở tiệc mừng, phong thêm các tướng sĩ công thần lớn nhỏ, việc bao phong các vị này có tích riêng.

Phong thêm là Hổ Sơn Lân hầu Hoàng tộc Đại vương. Thăng chức trị nhậm đạo Ái Châu, được ngoài mười năm. Từ đó đất nước thanh bình, trong phủ vô sự, vạn dân được no đủ, vui vẻ hát ca. Bốn biển đều một cảnh tượng thái bình. Ông đi du chơi bốn bể, trải xem núi sông. Hễ chỗ nào có danh sơn thắng cảnh ông đều đến nơi. Hoặc đàn sáo reo vui, thơ sách đối đáp đất trời, phượng hát loan ca, thanh sắc du dưa, tình tang bồng theo cảnh tam diệp, gió trăng năm hồ câu cá in dấu tiên, truy tìm cảnh hội sương khói, vạn nhà xe mây trở bước, nước xanh non cao, thánh Nam thần Bắc quanh năm cùng đất trời, ra vào phong cảnh trời Nam.

Khi ấy ông Hổ Sơn  đi đến đạo Hoan Châu, bèn lên dãy núi tên là Thái Công [Sơn] Hùng Lĩnh. Ông ngồi trên một chiếc bàn đá. Rồi thấy trời đất mù mịt, mư gió kéo đến. Bốn vật linh đều xuống thẳng đến chầu nơi ông. Lại thấy trăm thí đều chầu hai bên. Ông không bệnh mà tự hóa (tức là ngày mồng 6 tháng Hai). Được một lúc mưa gió tự yên, trời đất quang tạnh lại thì thấy mối gỗ xây thành một mộ lớn. Ngay hôm đó nhân dân ở nơi hóa cùng với nhân dân trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản theo ông Hổ Sơn thấy ông đã hóa lấy làm sự lạ, trở về báo cho phụ lão nhân dân, xây sửa chốn miếu ở nơi cung cũ, lại làm biểu dâng tấu lên Vua. Vua nghe vậy rất thương xót vị đại thần, truyền quan đến nới hóa dựng đền chính ở trang Thái Sơn, lệnh cho nhân dân thờ.

Lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ trở về trang Hổ Sơn tu sửa đền, lệnh cho nhân dân làm làng hộ nhi phụng thờ. Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương.

Lại nói, từ sau khi hóa, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, có nhiều anh linh hiển ứng nên trải các đời đế vương Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê có bao phong mỹ tự Thượng đẳng Phúc thần, hưởng lễ vạn đời, hương khói không ngừng. Cho phép xã Hổ Sơn tổng Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng thờ.

Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Anh uy Tế huệ An trấn Hoàng tộc Đại vương.

Vâng khai các chữ húy cấm: Hổ Sơn, Thái Sơn các chữ nhất thiết cấm.

Các màu đỏ, màu vàng nếu nhân dân khi làm lễ không được mặc.

Ngày sinh thần của Đại vương là ngày 24 tháng Sáu. Chính lệ lễ dùng lễ tam sinh, rượu vàng, bánh dày, ca hát cho đến ngày 15 tháng bảy thì ngừng.

Ngày hóa thần của Đại vương là ngày mồng 8 tháng Hai. Chính lệ dùng lễ lợn đen, làm lễ, đánh cờ 3 ngày thì ngừng.

Ngày phong sắc là mồng 10 tháng Giêng. Lễ dùng tam sinh, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày lệ Khánh hạ  là mồng 10 tháng Mười. Lễ dùng trâu đen, bánh dày.

Hoàng triều niên hiệu Hồng Đức đầu xuân ngày tốt Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 13 ngày mùng 6 tháng Ba Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền vâng chép.

Thần tích đền Quốc tướng ở làng Mẫn Xá, Yên Phong, Bắc Ninh

Bản dịch đăng trong sách Đình, đền tướng quốc “Quốc tướng linh từ” làng Mẫn Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, 2016.

Ngọc phả cổ về sự tích Vạn Hộ Đại vương và Lưu Thủ Đại vương anh em sinh ra từ một bọc nhà họ Trương là công thần triều vua Hùng Huy Vương họ Việt Thường
Bản chính của bộ Lễ quốc triều, bộ thứ 6, chi Ly, Nhân thần thượng đẳng

Nước Việt ta xưa, trời Nam mở vận, các bậc Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn 2000 năm, các vua Hùng dựng đặt tên hiệu gọi là tổ của Bách Việt. Các nhà Nho sau này có bài thơ ca ngợi rằng:
Thuở mới đầu nước Nam Việt từ vua Kinh Dương Vương
Thống nhất non sông được 18 đời vua
Trải trăm đời đế vương, ngàn xưa vẫn còn đó
Hơn 2000 năm rồi, hàng trăm năm hương khói.

Dịch thờ:
Khởi đầu Nam Việt tự Dương Vương
Mười tám vua Hùng một núi sông
Ngàn xưa còn đó, trăm đời đế
Hai nghìn năm lẻ mãi thơm hương.

Lại nói vào đời thứ 6 triều Kinh Dương Vương, thời gian ấy vua Hùng Huy Vương trị nước, đóng đô ở bên sông Bạch Hạc Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang, định quốc đô ở thành Phong Châu. Hùng Vương là ông vua nhân từ rộng lượng, chuyên lấy việc dưỡng dân làm gốc, rất yêu thích các vị thần tiên có thuật lạ. Đời lúc bấy giờ đều khen là bậc vua hiền.

Lại nói vào thuở ấy dân gian trong nước truyền rằng ở vùng đất trang Nham Lệnh huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có một người trưởng giả tài đức họ Trương tên húy là Thọ, lấy vợ là người trong trang là Hàn Thị Cúc. Ông họ Trương làm nghề thầy thuốc gia truyền, từng 5 đời làm lương y. Một nhà phúc hậu giàu có dư giả. Vợ chồng một lòng tích góp làm việc thiện, chỉ có điều tuổi đã cao mà điềm lành về đường con cháu chưa thấy ứng hiện. Khi ấy ông Trương đã hơn 50 tuổi, bà cũng đã hơn 40 tuổi mà vẫn chưa có dấu hiệu có con. Ông Trương nghĩ sâu xa đến công đức của tổ tông, ngày sau thờ phụng biết cậy nhờ ai? Năm tháng cứ trôi nhanh chẳng thể đợi chờ. Một hôm ông than thở với bà rằng:

  • Con người ta sống ở trên đời chưa thấy ai được hoàn toàn vui sướng, vì thế mà lòng tôi lo buồn nên râu tóc bạc trắng, người ta sinh ở trên đời có 3 điều thì có con là điều lớn nhất. Vả lại tôi nghe nhà ta nối đời làm nghề y, chỉ một niềm khắc sâu trong lòng là tích góp làm việc, dốc hết sức làm điều nhân. Nay còn kém mà lòng trời chưa thấu đến cũng chẳng biết nữa. Chẳng bằng thành tâm cầu đảo, tận lực tìm thày xem đất để tu sửa phần mộ và nhà cửa. Hai việc ấy là cốt yếu hàng đầu, không bỏ quan được.

Nói xong, ông mới chọn ngày, dựng một đàn chay ở trước sân nhà làm lễ bái trời đất bách thần cầu con ba ngày. Làm lễ cầu xong, đêm hôm ấy ông mới vừa mơ màng chợp mắt, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, mũ áo tề chỉnh, đường hoàng đi thẳng vào lấy tay vẫy gọi ông dậy. Ông bèn đi theo sau cụ già. Cụ già trèo lên núi Hồng Lĩnh, ở bên cạnh có một huyệt đất giống hình cái nồi, phía trước có hình hai con cá chầu vào, mặt nước trong xanh. Hai bên trái phải có hình sư tử đá voi đá. Cụ già chỉ vào giữa huyệt đất bảo với ông rằng:

  • Huyệt đất ở trong giữa nồi, trời đã ban cho người, ắt sẽ có hai người tài năng cùng xuất hiện, có thể giữ nước giúp dân. Hãy kính cẩn, kính cẩn, chớ để lộ.

Nói xong ông già bỗng nhiên biến mất. Ông bừng tỉnh mới hay là mình vẫn nằm mơ. Nhưng ông vẫn có cảm nghĩ trong lòng rằng mình thành tâm thì tất là do trời đưa thần nhân xuống báo mộng. Trong lòng rất cảm động. Ngay hôm ấy ông tìm đến núi Hồng Lĩnh, quả nhiên thấy hình thế phong cảnh giống hệt như đã thấy trong mơ, trong lòng vô cùng vui sướng. Ông bèn trở về nhà đem hài cốt của cha lên táng vào chính giữa huyệt. Lúc đang chôn cất trên núi thấy tiếng ầm ầm như sấm sét, mây mù che phủ mờ mọt, mọi người đều kinh sợ. Sau khi làm lễ mai táng xong, ngay hôm ấy ông trở về nhà. Ba ngày sau lại mộng thấy cụ già lần trước tay bê hai cây tùng đặt trong một cái tráp trao cho ông, ông nhận lấy. Cụ già lại giúp ông và đọc bài thơ rằng:

Song tùng tương hứa nhữ Trương gia
Phúc lưu trường cửu phối sơn hà
Hoàng thiên ứng hứa song tài giáng
Nhữ phúc lưu hề bách thế ca.

Nghĩa là:
Ta đem cho nhà họ Trương hai cây tùng
Phúc lộc sẽ trường tồn mãi mãi cùng với núi sông
Ngọc Hoàng đã chấp thuận hứa cho hai người tài giởi giáng xuống trần thế
Nhà ngươi được ban phúc hãy giữ lấy, muôn đời sẽ được ca tụng (công đức).

Dịch thơ:
Đôi tùng ta hứa tặng Trương gia
Phúc lớn trường tồn với sơn hà
Trời cao giáng xuống hai người giỏi
Phúc giữ trăm đời mãi ngợi ca.

Ông nghe đọc xong bài thơ bỗng bừng tỉnh dậy mới biết là mình vừa nằm mơ, nhưng vẫn cảm tưởng giấc mơ báo điềm lành cho nhà mình. Từ đấy quả nhiên bà có thai. Đến ngày 10 tháng 3 năm Đinh Mùi, bỗng nhiên khi ấy trời đất tối sầm. Cụ bà đẻ ra một bọc, sinh đôi con trai, hình dung tướng mạo khôi ngô, thân hình cao lớn, vẻ lẫm liệt thần uy khác với người thường.

Một trăm ngày sau, đặt tên cho người anh là ông Chiêu, người em là ông Tuấn. Đấy là tên cha mẹ đặt cho. Đến năm lên 6 tuổi, cụ bà mất (tức ngày 18 tháng 10). Ông Trương bèn làm lễ an táng. Năm con lên tám tuổi, ông Trương thầm nghĩ, thân mình đơn chiếc, tóc thì đã bạc, con còn ấu thơ nhỏ bé không có người giúp việc nội trợ. Ông bèn lấy con gái một nhà danh gia họ Phạm. Bốn năm sau sinh được một trai, một gái. Người vợ bé là người tính rất điêu ngoa, lại có lòng ghen ghét đố kỵ, bức bách nghiệt ngã với con riêng của chồng, tình cảnh không thể nói hết. Thanh ôi đạo trời khiến ra như thế, bậc trượng phu quân tử gặp nhiều khó khăn khắc trở là sự thường. Thời gian ấy hai ông đã 13 tuổi, thiên bẩm anh tài, cực kỳ thông minh, trí tuệ, lại là người chính trực, cương cường, nhân tâm trong ấp đều nể sợ. Vì là bậc anh hùng chí khí, đều có nhiều thuật lạ, mưu kỳ. Người dì ghẻ thấy hai ông khí khái khác người, lại càng đố kỵ thêm, muốn mưu hại hai ông để thu lấy cơ nghiệp cho mình và con. Năm ấy vào ngày 12 tháng 9 ông Trương tạ thế. Người dì cùng hai ông làm lễ mai táng. Làm tang lễ an táng xong chưa đầy 100 ngày, người dì manh tâm bàn bạc với những người thân trong họ ngoại mưu hại hai ông, để chiếm cơ nghiệp cho con mình. Hai ông biết ý, từ đấy, không nằm ngủ ở trong nhà. Nửa đêm hai ông mỗi người cầm một cây gậy tre dài nằm phục ở ngoài nhà. Đêm ấy, những người họ ngoại của người dì độ mươi người kéo đến. Hai ông trông ra đúng bọn người ấy, bèn nhẩy vọt ra phóng gậy tre đánh giết. Sau khi giết chết đám người ấy, hai ông bèn trốn đi. Trong thời gian trốn tránh hai ông hay tin có người chú họ, sinh sống lưu trú nương nhờ quê vợ ở trang Mẫn Xá huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc. Hai ông bèn tìm đến. Trong thời gian hai ông còn trên đường đi đến Mẫn Xá, mới được nửa đường, thì cũng vào thời gian này dân trang Mẫn Xá ban đêm mơ thấy có hai vị quan nhân cùng binh sĩ tiến thẳng vào trang. Hai vị quan dừng quân trú lại ngồi nghỉ ở quán sở (thời kỳ ấy trang Mẫn Xá có một ngôi quán lợp cỏ ở giữa trang ấp) truyền hô triệu người. Nhân dân đều ra, có đủ các họ (khi ấy ở Mẫn Xá có các họ Nguyễn, Phạm, Vũ, Lê, Trần, Đặng, Lý, Dương, Đỗ, Hà) đều ra bái kiến. Hai vị quan hình dáng tướng mạo khôi kỳ, tuổi còn niên thiếu. Nhân dân bèn làm lễ, bái mừng và hỏi rằng:

  • Dám xin hỏi tên họ và phẩm tước của hai vị quan đây và đến trang dân Mẫn Xá có việc gì sai bảo?

Hai ông đáp:

  • Chúng ta phụng mệnh Tào quan ở Thiên đình, người họ Trương, vì nghe biết người chú họ lấy vợ và ở lại quê của dân trang, vì thế mới đến thăm người chú.

Nhân dân nghe xong bèn dẫn hai vị quan đến nhà họ Trương (tức người chú họ của hai ông có tên là ông Trạch lấy vợ người trang Mẫn Xá tên là Thị Thủy). Nhân dân tỉnh dậy mới biết là mộng báo. Đến ngày hôm sau nhân dân tụ họp ở ngôi quán cỏ đều nói chuyện nằm mơ, mọi người trong các họ đều nói là cũng mơ thấy như thế. Mọi người cho là sự việc kỳ lạ. Đến đêm hôm ấy nhân dân lại mơ thấy âm hồn gia tiên cha mẹ của các họ cùng báo rằng:

  • Ngày mai có hai vị chúa tể Thiên đình đến ở với dân ta. Cần nhanh chóng dựng một doanh cung ở bên cạnh đường đầu trang, truyền quét dọn đường xá và các nơi dân cư.

Nhân dân chợt nghe các âm hồn đại hội, bỗng nhiên tỉnh dậy. Sáng ngày hôm sau lại tụ họp báo về giấc mộng. Lại thấy hơn trăm con chim thước quần tụ thành đàn bay đến đậu đầy vùng đất của trang ấp Mẫn Xá. Dân trang không thể đếm được số lượng chim, mọi người rất kinh ngạc. Dân trang bèn lập một đàn tế ở quán sở làm lễ cầu an tống tiễn, chỉ trong chốc lát bầy chim thước lại tự bay đi, đồng thời thấy hai ông đi đến quán. Nhân dân đang tập trung làm lễ, lại thấy hai ông hỏi ông họ Trương lấy vợ người trong ấp không rõ nhà ở xứ nào. Nhân dân (tức trang Mẫn Xá) thấy hai ông thân hình mặt mũi y như hai vị quan, thầm nghĩ lấy làm kỳ lạ mới hỏi rằng:

  • Hai ông đây với nhà ông họ Trương quan hệ thân thuộc như thế nào mà tự báo nhân dân vào lúc này?

Hai ông đáp:

  • Nhà họ Trương vốn là chú họ, lấy vợ người ấp ta. Nay anh em tôi tìm đến nhờ vả người chú.

Nhân dân Mẫn Xá nghe lời giải thích, cho là đã ứng đúng như trong mộng, mới tôn kính cùng nhau hướng dẫn vào nhà ông Trương. Ông Trương thấy hai ông đi đến thì rất mừng nói:

  • Ta từ khi lấy vợ sinh sống ở ấp này đã lâu rồi. Đêm hôm trước bỗng mơ thấy hai người cháu cùng quân sĩ đi đến. Nay quả nhiên đúng thực như vậy, việc này chắc do trời định vậy?

Nhân dân nghe chuyện rất tin sợ.
Lại nói từ đấy ông Chiêu và ông Tuấn, hai anh em ở lại nương nhờ ông chú họ Trương. Tình tuy là chú cháu nhưng thân yêu như tình cha con, rất là quý trọng. Nhân dân trong trang ấp, đã thấy điềm lành chim thước và giấc mơ báo ứng, tất cả đều tôn kính, không dám coi thường. Hai ông vốn là thiên tài giáng thế, tư chất là bậc thánh, sinh ở trần gian, vốn rất thông minh trí dũng, tình cảm tuy là những người lưu lạc, nhưng mà khí độ vượt hẳn người thường, không dưới một ai. Hai ông ở lại đất này (tức trang Mẫn Xá) được một hai năm thì thiên hạ gặp thiên tai, hạn hán. Lúa mạ trồng cấy bị cháy khô, bệnh dịch lở ngứa khá nhiều. Trang Mẫn Xá bị nặng nhất trong quận huyện. Khi ấy nhân dân trang Mẫn Xá lập đàn cầu mưa, làm lễ cầu an, đến ba bốn lần không có kết quả. Mấy tháng sau nhân dân nhiều người bị ốm đau lại thêm tai hạn, đói khát, nhân dân hết sức lo lắng. Sau đó lại lập đàn làm lễ. Làm lễ xong đêm ấy nhân dân đều mơ thấy một cụ già râu tíc bạc phơ, đi theo sau là các âm hồn gia tiên của các họ có đến hơn ba bốn trăm người. Cụ già cùng các âm hồn đi theo trước hết vào nhà ông Trương. Nhân dân đi theo sau quan sát. Nhân dân nhìn thấy đều là các vị qua nhân, cùng ngồi, hai ông ngồi ở hai bên trái và bên phải, có quân sĩ đứng hầu. Lại nghe thấy hai ông hỏi cụ già:

  • Cụ là ai có việc gì mà đến đây?

Cụ già đáp:

  • Thần là quan bản thổ ở đất Mẫn Xá, nay nhân dân bị thiên tai hạn hán lại bị thêm bệnh ôn và lở ngứa, nay có hai vị chủ quan, quyền cai quản dân chúng, nay xin hai vị quan cứu giúp trị bệnh cho dân được yên lành.

Nghe nói xong mọi người ai nấy làm lễ, đương khi ấy lại thấy các âm hồn cùng bái lễ. Nhân dân đều bừng tỉnh dậy khi ấy trời đã sáng. Họ Nguyễn theo mộng bèn ra quán ở trước tiên, tập họp cùng nhân dân các họ và các vị chức sắc trong làng, mọi người nói đều mơ như thế. Các họ cũng mơ như vậy. Mọi người đều nói nguyên do như nhau. Nhân dân trong Mẫn Xá thấy sự việc trong mơ quả nhiên là như thế lấy làm kinh sợ. Ngay ngày hôm ấy (tức là ngày 12 tháng 8) nhân dân sắm sửa lễ vật cùng nhau đến nhà ông Trương làm lễ nhận làm thần dân. Khi ấy hai ông mới hỏi, nhân dân đáp:

  • Hai anh em vốn là khách phương xã đến, ăn ở tại nhà người chú, nương nhờ vào đất của dân chúng tôi, nếu có tài năng gì, cứu giúp dân trong tai hạn này, dân sẽ làm lễ tôn nhượn làm thần.

Khi ấy nhân dân kể lại đầy đủ rõ ràng sự việc thấy trong mơ như thế, dám xin hai vị cứu giúp, cho dân được sinh sống lập nghiệp qua khởi nạn đói khát, tất cả đều trông đợi hậu phúc của hai vị. Hai ông nghe sự việc, trong lòng còn do dự chưa quyết bèn bảo với nhân dân rằng:

  • Sự việc này xảy ra là do đạo trời báo ứng, như mọi người quả là đã thấy rõ ràng. Trong lòng chúng tôi còn phân vân vì thế chưa dám quyết. Dân làng lại nhờ cậy chúng tôi, mà chịu làm bề tôi chúng tôi sao dám nhận? Nếu như quả đúng như như lời cam kết thi ngay ngày hôm nay chúng tôi lập đàn trai giới, dân chúng đều cùng tập trung làm lễ. Anh em chúng tôi sẽ cáo với trời đất. Nếu quả đúng là anh em chúng tôi được thừa mệnh trời, cho quyền cai quản dân ở vùng đất này, nguyện xin báo mộng cho chúng tôi biết. Chúng tôi sẽ nhận dân chúng làm thần tử.

Nhân dân nghe lời mới sắm sửa thức chay, lập một đàn tế tại trước sân nhà của người chú họ của hai ông. Đêm hôm ấy hai ông vào đàn làm lễ, khấn xong, bèn nằm chờ báo mông ở bên đàn. Đến chừng quá nửa đêm, hai ông mơ màng ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên thấy một vị đại tướng từ trên trời giáng thẳng xuống, đầu đội mũ rồng, phượng sáng lấp lánh, dõng dạc truyền rằng:

  • Ta vốn là sứ giả của Thiên đình sai xuống, vâng mệnh Hoàng thiên giao cho một đạo sắc “long chương” cho phép hai người mở ra xem.

Hai ông bèn vâng mệnh bái nhận, mở ra xem thấy trong đề 4 câu thơ như sau:
Lưỡng khanh sắc phó phụ Dương quân
Quyền chưởng sơn hà bá liệt huân
Họa phúc nhân dân quyền tại chủ
Khuông phù xã tắc chưởng ư dân.

Nghĩa là:
Hai người được sắc ban cho phụ giúp vua Dương vương,
Quyền cai quản núi sông và gây dựng nên công lao
Họa, phúc của dân là do các người nắm giữ,
Hãy giúp nước và bảo vệ nhân dân.

Dịch thơ:
Ban sắc hai khanh giúp thánh quân
Núi sông cai quản lập công huân
Dân gian họa, phúc hai khanh quyết
Sao cho nước mạnh với an dân.

Hai ông đọc xong bỗng tỉnh dậy, biết là quả đúng như mộng báo [cho dân], bèn mới báo cho dân nhận dân làm thần tử. Thế là truyền nhân dân lập đàn cầu mưa và cầu an. Trời bỗng nhiên mưa xuống, lúa màu tươi tốt trở lại, ruộng ao đầy nước. Những người bị bệnh lở ngứa đều khỏi. Nhân dân từ đấy mừng vui cười cười nói nói cùng bảo:

  • Ngày nay dân ta được trời giáng xuống hai vị thánh cứu giúp, không phải lo gì nữa.

Khi ấy viên huyện lệnh huyện Đông Ngàn nghe biết có hai vị thần tài giỏi cứu giúp dân được yên ổn, cầu mưa mưa xuống hết sức kỳ lạ, bèn làm biểu tâu lên vua và triều đình. Vua được tin bèn sai đình thần đem xe đến triệu hai ông về triều để vua cho thi tài và trao chức vụ. Thời gian này, sứ thần vâng mệnh đến nơi hai ông trú ngụ (tức nhà ông chú Trương trang Mẫn Xá) triệu hai ông về triều. Hai ông nghe lệnh bèn nhận lệnh theo sứ thần về triều, vào điện làm lễ bái kiến dưới thềm. Khi ấy hai ông mới vừa 18 tuổi, cả hai đều thân cao 10 thước. Nhà vua xem xét hình thể, tướng mạo khôi ngô lạ kỳ bèn thử hỏi tài năng. Hai ông tâu đối trả lời lưu loát, tinh thông văn võ, không điều gì là không biết. Vua cho là rất xứng đáng, ban chỉ truyền phong ông Chiêu làm Tham nghị triều chính, ông Tuấn làm Thái học sĩ vương. Lại chuẩn y cho trang Mẫn Xá là ấp hộ nhi sở tại. Từ đấy dân phong thịnh vượng, ấp trang giàu có no đủ, tất cả từ người đến vật đều được sống yên vui, lương binh được miễn, nhà cửa khang trang, ruộng vườn rộng rãi, đều cũng nhờ ơn đức to lớn của hai ông.

Một hôm hai ông xin vua cho về quê cũ thăm viếng gia tiên. Vua hứa cho, lại ban cho vàng bạc, gấm vóc các thứ đến hơn nghìn cân. Hai ông từ tạ trước thêm lên xe tiến quân đi thẳng về quê Ái Châu. Ngay hôm về đến quê, làm lễ bái yết gia tiên cha mẹ. Nhân dân cử hàng lễ đón mừng. Hai ông mở tiệc lớn, tu sửa nhà thờ, dừng binh ở lại chừng và mươi ngày. Việc xong, hai ông lại cất quân lên xe trở về thăm người chú họ, thăm thú tình hình đất gia thần (tức trang Mẫn Xá). Hôm ấy (tức ngày 10 tháng 3) dân làm lễ đón mừng. Hai ông truyền làm lễ bái yết vợ chồng ông chú họ. Mọi việc xong, hai ông nhân rảnh rỗi đi xem xét địa thế dân cư để dựng lại cung sở, để sau này có thời gian về tụ họp vui chơi yến ẩm, và lưu binh ở lại. Hai ông xem xét địa thế dân cư đều là mảnh đất hình rồng, phượng ôm ấp, rùa rắn bao quanh. Phía Tây Nam có gò hình sao Mộc phù giúp. Phía Đông Bắc có sao Thất Diệu chầu về. Tức là có ba sao cùng chiếu, phía sau có ao nước. Phía trước có một huyệt đất hình cái nồi khai mở. Thật là chín mặt có bãi rồng lại có ngòi nước chảy từ xa bên ngoài ấp. Một dải sông Thiên Đức chảy vòng xa bên cạnh ngoài địa giớ, đều chầu về và đối ứng. Hai ông bèn dựng cung Hội đồng và đóng quân thường trú ở đó. Năm tháng đi về làm năm yến ẩm du chơi. Ở phía bên cạnh địa giới, phía trước trang ấp, trên đó có thế đất rồng uốn quanh, phía trước lại có vùng nước hình cái nồi mở ra có hai dòng nước giao nhau. Phía sau có sao Kim mang hỏa. Phía trước có sao Mộc án ngữ phù trợ. Tựa hướng Đông Đông Bắc, nhìn hướng Tây Tây Nam. Hai bên trái phải như có hai cánh cửa đóng mở đều cùng ôm quanh và chầu về đất ấy. Hai ông truyền dựng cung sở. Khi hoàn thành, mở tiệc mừng, cho mời các cụ già và nhân giân các họ cùng đến ăn tiệc mừng. Trong khi yến tiệc vui vẻ ông Chiêu nói với nhân dân rằng:

  • Nay đã kết thành tình thày trò và đại nghĩa vua tôi, việc này là do trời định, không phải di ta mong ước, cũng như chẳng phải do dân cầu mong. Hơn nữa anh em tôi từ khi sinh ra đã biết mệnh trời, sức khỏe có thể nhấc đỉnh, bạt núi, tài năng vượt hẳn người thường. Ắt là núi sông không phụ anh em chúng tôi, quả nhiên được dự vào hàng quan chức của triều đình, thật là như ý mà dân tình cũng được nhờ cậy. Nay ta hưởng ơn đức của vua dồi dào, lộc nước cũng nhiều, nên ban tặng cho dân 10 nén vàng để làm vốn chung, mua thêm ao ruộng, lưu lại về sau. Đạo do trời định. Nghĩa vua tôi, không thể mua danh để đời sau tôn thờ được, chớ có cho là khác thường.

Nhân dân nghe thấy lời nói, bèn làm lễ hết lo sợ và nhận lễ. Yến tiệc xong, ông Chiêu mới làm bài thơ rằng:
Thiên địa sinh lai hữu thử thân
Tiên tri bẩm mệnh việt hồ nhân
Nam thiên đáo xứ giai thần tử
Phi thị hữu duy Mẫn Xá dân.

Nghĩa là:
Có thân ta là do trời đất sinh ra,
Biết trước rằng bẩm sinh tài đức vượt hẳn người thường.
Dưới trời nước Nam, nơi nào cũng là tôi con của ta
Không chỉ có duy nhất dân trang Mẫn Xá mà thôi.

Dịch thơ:
Trời đất sinh ra mới có thân,
Trước hay tài đức vượt thường nhân
Trời Nam khắp chốn đền che chở
Chẳng riêng Mẫn Xá mới ban ân.

Ông Tuấn họa lại bài thơ rằng:
Càn khôn tú khí tự thành thân,
Tại thượng nhân hề bất hạ nhân.
Phối dữ sơn hà danh bất tử
Phù chi ư quốc bảo ư dân.

Nghĩa là:
Khí thiêng của trời đất chung đúc nên thân ta
Nên ở trên tất cả mọi người thường
Tên tuổi chúng ta bất tử cùng sông núi
Luôn luôn giúp nước và bảo vệ dân.

Dịch thơ:
Khí thiêng trời đất đúc nên thân
Vượt trên tất cả đấng thường nhân
Tên tuổi núi sông lưu bất tử,
Giúp dân cứu nước mãi thi ân.

Hai ông làm thơ yến tiệc xong bèn lên xe đem quân về triều, làm lễ bái yết vua. Vua lại phong cho ông Chiêu là Thái bảo Đại tướng quân, ông Tuấn làm Tham tri bộ Binh. Thời gian ấy trời lại ra tai ương gây hạn hán. Vua sai ông Chiêu đi tuần sát tình hình trong thiên hạ và cầu trời mưa. Ông vâng mệnh cất quân đi tuần sát thiên hạ. Được chừng một năm ông tiến quân đến vùng đất nào, truyền vùng đất ấy dựng đàn cầu mưa, tất cả đều thấy mưa xuống trút nước, ruộng ao đầy nước, lúa màu hồi sinh xanh tốt. Thiên hạ tất cả đều nhở vào công đức của ông, dân được no đủ yên vui. Các nơi nhân dân đều làm biểu tâu về triều. Vua nghe tin rất mừng bèn triệu ông về triều. Ông Chiêu vâng lệnh về triều, làm lễ bái tạ. Vua mở tiệc mừng và phong thưởng. Lại phong cho ông làm Vạn hộ hầu. Từ đấy vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh bình, không phải lo đến các việc như đói kém bệnh tật.

Lại nói triều Nội Minh có viên đại tướng giặc người nước Hàn tên là giặc Lân, làm loạn có đến trăm vạn quân tinh nhuệ. Nội Minh thế khó chống cự được, bèn cầu viện nước Nam giúp đánh giặc Hàn. Khi ấy vua bèn sai ông Tuấn, phong làm Thái thú lĩnh 20 vạn quân giúp Nội Minh trợ chiến. Ông Tuấn vâng mệnh trước sân đình làm lễ bái tạ, từ biệt nhà vua, đem quân đến giúp Nội Minh cùng Nội Minh chống cự với giặc Hàn. Ba năm đóng quân lưu trú ở hai đất Quảng Đông, Quảng Tây phòng thủ vững chắc cự chiến với quân giặc Hàn. Về sau dẹp được giặc Hàn, vua và triều đình Nội Minh (Vua Hùng là con của Đế Nghi, em của Đế Minh, chia cho Kinh Dương Vương lúc đầu ở Nam Man xưng hiệu là họ Hùng. Người anh là Đế Minh trị vì nước Nội Minh – đều là anh em) thấy ông Tuấn là bậc anh tài thu được đất Lưỡng Quảng (tức Quảng Đông, Quảng Tây), cho trở về đất Nam Man phong ông Tuấn làm Lưu thủ Nội Minh Đại vương, trấn thủ Lưỡng Quảng.

Ba năm sau, khi ấy Nam Man nước ta có giặc Ân, tướng giặc tên là Thạch Linh thần tướng, tiến quân đến Bắc Giang, có trăm vạn quân mạnh, cờ hiệu, binh khí rợp đất, tiếng chiêng trống vang trời. Biên giới có thư báo về gấp, có ngày 5 lần thư đến. Vua sai đình thần cử tướng đi đánh dẹp nhưng đều bị thua và bị giặc giết khá nhiều, khó tìm người chống cự lại được chúng. Khi ấy vua mới triệu tập ông Tuấn về triều đánh giặc. Ông vâng mệnh trở về triều làm lễ bái yết. Vua bèn lệnh cho cả hai ông Chiêu và ông Tuấn, phong ông Chiêu làm Chiêu ứng đại vương, ông Tuấn là, Nội Minh đại vương đem quân chống giặc Ân. Khi ấy hai ông bái biệt vua vâng mệnh đem quân tiến thẳng đến Bắc Giang. Hai ống đóng quân tại phủ Từ Sơn huyện Đông Ngàn. Hai ông tuyển mộ thêm các nghĩa quân và gia thân được 822 người (gia thần thủ túc ở trang Mẫn Xá cùng các họ tập trung được 237 người đi theo hai ông đánh giặc Ân).

Hai ông xây dựng doanh nghiệp đồn lũy tại huyện Kim Hoa đóng quân cố thủ chống cự giặc Ân. Trải qua một tháng đánh nhau ba bốn trận không phân thắng bại. Hai ông thấy quân giặc Ân càng tăng viện đông đảo mà thiên hạ đều hướng về nhà Ân, bèn làm biểu tâu về triều. Vua vô cùng lo lắng, triều đình đành chịu bó tay [trước giặc mạnh]. Ngay hôm đó vua cho dựng một đàn, tự thân trai giới hành lễ cầu bách thần trời đất âm phù giúp nước, mời trăm quan của triều về tập hợp tại đàn làm lễ. Sau ba ngày bỗng nhiên trời đất tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên, trên đàn mây khói cuồn cuộn, đúng lúc ấy thấy một ông lão, tóc mi bạc phơ, áo mũ chỉnh tề, thân cao 9 thước, ngồi ở ngã ba đường vừa dẫm chân múa vừa hát. Mọi người cho là rất kỳ dị bèn vào tâu với vua. Vua tự mình ra đón ông lão mời vào trong điện. Vua mời ông lão ngồi lên trên và hỏi ông lão rằng:

  • Nay nước nhà đang có giặc mạnh nhà Ân làm loạn, dám hỏi tôn lão việc thắng thua như thế nào, xin tôn lão chỉ giáo.

Tôn lão gieo tiền được quẻ “lương cửu”. Tôn lão bảo:

  • Hãy đi mộ tìm trong thiên hạ sẽ được người, không mấy chốc sẽ dẹp yên được giặc Ân.

Ông lão nói xong tự biến mất. Vua thầm nghĩ ông lão này ắt là hiện hình của vua Lạc Long Quân về báo ứng, bèn sai sứ giả đi mộ tìm trong thiên hạ. Thời gian ấy sứ giả đi tìm đến làng Phù Đổng huyện Tiên Du. Lúc ấy ở làng Phù Đổng có một nhà ông bà sinh được một con trai tên là Thiết Xung thần tướng, tuổi mới lên ba, ăn uống khỏe, to béo, chỉ có điều là chưa biết nói. Lúc ấy bà mẹ nghe sứ giả rao đến mới nói đùa với con rằng:

  • Nay nước nhà có giặc mạnh, sứ giả đi chiêu mộ người tài giỏi trong thiên hạ để dẹp giặc. Vua ắt sẽ ban thưởng công lao. Nay con mẹ chỉ biết ăn uống mà không biết đi đán giặc để được triều đình ban cho tước trọng, báo đáp công ơn sâu nặng của mẹ bú mớm nuôi nấng.

Nghe mẹ nói, người con bỗng thốt lên lời bảo mẹ:

  • Mẹ phải mời sứ giả vào đây.

Bà mẹ cho là sự việc rất lạ bèn mời sứ giả vào cho gặp. Người con vẫn nằm và bảo sứ giả rằng:

  • Ngài hãy trở về và báo gấp, chế tạo một con ngựa sắt cao 30 thước, dài 10 trượng, một cây roi sắt trăm cân mang đến cho ta, để mặc ta đối phó với giặc Ân, vua không phải lo gì nữa.

Người sứ giả nghe nói, bèn vái chào chạy về tâu đầy đủ lên vua. Vua nghe chuyện rất mừng, sai chế ngựa sắt roi sắt. Đồng thời sai ông Chiêu và ông Tuấn, cưỡi tuấn mã, cầm theo long đao cùng các tướng sơn bộ, thủy bộ đem quân đi theo hai bên tả hữu trợ chiến cùng Thần vương. Ngay hôm ấy hai ông vâng mệnh trước sân triều đình đem ngựa sắt, roi sắt đến trước sân nhà, [Thần vương] bỗng vươn mình lớn mạnh, cao ngoài 30 thước, sức khỏe kinh thiên, lập tức cầm roi nhảy lên ngựa, hét vang bảo rằng:

  • Ta là tướng nhà trời.

Ngựa phi nhanh như bay. Kh ấy ông Chiêu và ông Tuấn phi ngựa theo hai bên tả hữu. Chỉ trong khoảnh khắc tiến thẳng đến núi Sơn Việt, bắt được tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng chém làm ba đoạn. Quân giặc Ân bỗng thấy vậy sợ kinh hồn bỏ chạy tán loạn đại bại. Ông Chiêu, ông Tuấn cùng Thần vương đem quân truy đuổi, chém được hơn 3000 đầu giặc. Sau một chốc rơi mất roi sắt, Thần vương bèn nhổ tre đâm vào quân giặc. Giặc chết rất nhiều. Giặc Ân bị quét sạch, đất nước thanh bình. Hai ông trở về kinh đô làm biểu tâu lên. Vua được tin rất vui mừng. Khi ấy Thiết Xung thần vương đánh xong giặc Ân bèn phi ngựa thẳng tới núi Ninh Sóc, cưỡi ngựa phi thẳng lên trười (đến nay dấu chân ngựa vẫn còn). Vua bèn truyền lệnh cho nhân dân địa phương lập đền thờ phụng.

Lại nói, về hai ông, Vua có chiếu triệu hai ông về triều. Hai ông vâng mệnh đem quân về triều làm lễ bái yết. Vua mở đại tiệc khao thưởng quân sĩ ba quân. Từ đấy hai ông ở trong triều làm việc, chức đến hàng Tam công tước tòng nhị phẩm. Được nửa năm lại có giặc Ô Lý nổi lên. Vua lại sai hai ông đem quân dẹp giặc. Hai ông vâng mệnh làm lễ cất quân. Đem quân tiến đánh một trận, giặc Ô Lý đại bại tan tác, hai ông truy sát được rất nhiều quân giặc, thu lấy toàn bộ khí giới đem về kinh, làm biểu tâu lên.

Vua bèn triệu hai ông về. Hai ông vâng mệnh đem quân trở về đến núi Dũng Quyết huyện Nghi Xuân châu Hoan bỗng thấy mưa to gió bão nổi lên, trời đất tối sầm, lại thấy hai mảnh cầu vồng xuất hiện ở thân người hai ông. Hai ông bay thẳng lên trời đi mất, mầu sắc rực rỡ huy hoàng cũng đột nhiên tan biến. Hôm đó là ngày 5 tháng 10, hai ông cùng hóa. Lúc ấy quân sĩ tán loạn khiếp sợ, trong chốc lát, trời tạnh mây quang. Quân sĩ và nhân dân nghe tin đều tập trung đến đã thấy hai ông hóa rồi. Mối đất đã đùng thành ngôi mộ lớn, chỉ còn thấy đai lưng và mũ của hai ông trên mặt đất. Quân sĩ và nhân dân thấy thế cho là kỳ lạ mới làm biểu tâu về triều. Vua biết tin vô cùng thương tiếc hai vị bề tôi hiền tài có nhiều công lao đối với nước, nên sai quan triều đình về nơi hóa, truyền sai dân địa phương dựng đền thờ phụng. Lại truyền trang Mẫn Xá vốn là dân hộ nhi tu sửa cung sở thờ phụng, được miễn trừ khoản đóng góp binh lương. Hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế. ngay hôm ấy vua khen phong mỹ tự được vào bậc Thượng đẳng phúc thần trường tồn cùng trời đất, mãi mãi được ghi nhớ tôn thờ.

Thời gian ấy các quan triều đình được sai về các cung sở của hai ông truyền dân lập bàn thờ thờ phụng.
– Phong [ông Chiêu] là Vạn hộ Chiêu ứng đại vương
– Phong [ông Tuấn] là Lưu thủ Nội Minh đại vương.

Chuẩn y cho 8 giáp thuộc trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ, hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế.

Lại nói đến các thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 349 năm đến nước Nam ta trải bốn triều Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ [thần] giúp nước cứu dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, dẹp giặc thành công. Cho nên các vị đế vương các triều khen phong là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, rất sùng kính, thịnh vượng vậy.

Lại nói vào thời Triệu Việt Vương phò giúp Lý Nam Đế đánh dẹp giặc Lương. Thời gian ấy quan đại thần của Triệu Việt Vương là Trương tướng quân Hống Hát Phục Man đại vương đem quân đi đánh giặc Lương, đi qua cung sở, đền thờ ở Mẫn Xá. Thấy đền trang nghiêm rực rỡ, tướng quân họ Trương bèn cầu đảo khấn xin âm phù giúp nước dẹp giặc, thành công ắt sẽ tâu lên vua khen phong làm Thượng đẳng phúc thần, muôn đời thờ phụng. Khấn xong thấy chân hương bỗng hóa cháy nghi ngút, trong đền có tiếng vang ầm ầm như tiếng sấm. Quan quân thấy sự hiển linh thật lạ kỳ, bèn làm lễ cảm tạ. Về sau dẹp được giặc Lương, bèn truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.

Đến triều nhà Lý sau này được 8 đời, vua Lý Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, lại cũng tiến đến qua cung sở đền thờ ở trang Mẫn Xá, bỗng thấy hai con rắn hoa mày ngũ sắc rực rỡ dài hơn 1 trượng, nằm cuộn tròn ở ngoài cửa đền thờ. Đến khi vua tiến quân đến bèn ngóc đầu dậy trước xe cúi đầu như bái lạy nhà vua, rồi bỗng bò vào trong đền biến mất. Vua thấy thế cho là đền rất linh thiêng bèn hỏi các cụ già trong dân:

  • Đền thờ vị thần nào vậy?

Các cụ trả lời:

  • Đền thờ danh tướng triều Hùng Vương.

Vua nghe xong bèn cho dừng xe, và dừng quân một lát. Truyền cùng quân sĩ vào đền làm lễ mật đảo âm phù giúp nước đánh dẹp giặc. Chỉ một trận dẹp được giặc Chiêm. Vua lại phong là “Thượng đẳng tối linh [Thần thiêng bậc thượng đẳng].

Vào cuối thời nhà Trần họ Hồ tranh quyền (tức Hồ Quý Ly). Quân nhà Minh nhân thế chiếm lấy nước ta. Lúc bấy gờ ở núi Lôi Dương huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có người họ Lê tên Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, có đến 3000 quân mạnh trừ họ Hồ, bình định giặc Minh. Bấy giờ Lê Thái Úy vâng mệnh Lê Lợi đem quân đánh họ Hồ và quân Minh, hành quân qua cung sở đền thờ ở Mẫn Xá, thấy miếu đền trang nghiêm rực rỡ, bèn cho dừng xe, đem quân vào đền, nghỉ lại đó một đêm. Làm lễ mật đảo cầu đọc văn xin âm phù giúp nước trừ giặc thành công, đợi khi thanh bình cùng hưởng cảnh thái bình thịnh vượng. Đọc chúc xong chỉ trong khoảnh khắc thấy một đàn ong mật bay vào tụ họp đầy cả cung đền, tiếng kêu vo vo không dứt. Đến nửa đêm hôm đó Thái Úy thiu thiu mơ màng, bỗng thấy hai vị quan cao lớn đường hoàng, mũ rồng giáp ngọc rực rỡ, đai phượng, áo bào gấm sáng chói, tay cầm long đao cùng bảo:

  • Nay thấy vua Lê mở vận, xin được âm phù trừ giặc thành công.

Quan Thái Úy đang nghe nói chưa hết bỗng bừng tỉnh thì khi ấy trời đã sáng rõ. Thái úy cho là hiển ứng lạ kỳ bèn làm lễ cảm tạ, rồi ngay hôm ấy đem quân đi đánh giặc, chẳng bao lâu quét sạch cả giặc nhà Hồ lẫn nhà Minh. Trăm quan phò nhà Lê lên làm vua ở Lam Sơn, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, tức Lê Thái Tổ Cao Hoàng đế. Từ đấy các triều vua nhà Lê đều khen tặng mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, làm mẫu mực tôn thờ mãi mãi. Chuẩn cho trang Mẫn Xá làm hộ nhi sở thờ phụng, mỗi năm vào hai kỳ xuân, thu sai quan triều đình đến làm lễ tế.

Phong Vạn hộ Tối linh Đại vương
Phong Lưu thủ Tối linh Đại vương.

Chuẩn cho trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ. Các điều lệ quy định nghi lễ ngày sinh ngày mất, ngày chúc mừng của thần và các màu sắc cấm kỵ, cũng như tên húy của thần kê khai như sau:

Ngày sinh của hai vị đại vương: ngày 10 tháng 3, đến 12 tháng 3 là lễ chính tế. Làm lễ nhập tịch 10 ngày, trước đó 3 ngày thì chuẩn bị mâm bàn, các thức chay như trà, hoa, oản, chuối, các thức mặn thì mổ lợn gà làm cỗ. Các trò vui có đấu vật, cờ, ca hát sau 10 ngày thì làm lễ tạ.

Ngày hóa của hai vị đại vương: ngày 5 tháng 10, đến 10 tháng 10 là lễ chính tạ. Lễ vật hành lễ có cỗ chay, trà, hoa quả, thịt lợn, bánh dày, xôi rượu, vàng mã.

Lễ Khánh hạ [lễ mừng]: ngày 4 tháng Giêng. Lễ dùng cỗ chay, cũng có thể dùng thịt lợn, gà xôi, rượu và ca hát được.
Lễ Đại khánh hạ [đại tiệc mừng]:ngày 10 tháng 8, làm lễ tế rước như ngày lễ sinh nhật, ca hát 3 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 5, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 11, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.

Các chữ kiêng húy: Chiêu, Tuấn, Minh ba chữ cùng tên cha mẹ của thánh nhất thiết cấm không được dùng.
Ba màu: vàng, tía, hồng đỏ, khi làm lễ cấm dùng.

Ngày 10 tháng Giêng niên hiệu Hồng Phúc thứ nhất [1577 – triều Lê Anh Tông] Đông các Đại học sĩ Viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn [ngọc phả]

Ngày 1 tháng 5 niên hiệu Tự Đức thứ 11 [1858] bản xã đến xã Bằng Đắng huyện Bạch Hạc phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây vâng sao lại từ bản chính.

Vâng sao lại lần nữa ngày 24 tháng 3 niên hiệu Bảo Đại thứ 7 [1933].

Thần tích Hiệp Phù, tổng Hạ Dương, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Hiệp Phù tổng Hạ Dương huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 1938, lưu tại Viện thông tin Khoa học xã hội, số hiệu TTTS3240.

Ghi chép về đền thần ở bản xã

Tích thần hiển tỏ từ thời thượng cổ. Truyền rằng thời Hồng Bàng Thị đời vua Hùng thứ 6 nước Văn Lang có vị khanh triều Hùng là Bạch Sam, có tài lược văn võ, trung trinh. Khi quân Ân đánh vào bộ Vũ Ninh, một vùng khổ sở vì can qua. Vua sai sứ đi khắp thiên hạ để cầu người có dũng lược, thiện chiến có thể phá được giặc, được một người con nhà ông Đổng giàu có tự xin được giúp đánh giặc. Vua bèn bái làm Thượng tướng, ban cho gươm ngựa, lệnh cho Bạch Sam là Đốc chiến. Đổng Thượng tướng lên ngựa, múa kiếm, chưa đến một ngày phá tan quân Ân ở dưới núi Vũ Ninh. Chúng đều quỳ lại, xưng là Thiên tướng.

Thế rồi Đổng Thượng tướng cưỡi ngựa đến thẳng núi Sóc Sơn, bay lên trời giữa ban ngày. Còn Đốc tướng Bạch Sam khải hoàn về Văn Lang tâu báo tin chiến thắng. Vua khen công lao to lớn đó, lệnh cho Bạch Sam mang cờ tiết đến phong Đổng Thượng tướng là Đổng Thiên Vương, lập đền ở đất cũ làng Đổng, năm tháng truy thờ. Phong Đốc tướng là Hùng hầu, lấy vùng sông Thiên Đức làm thực ấp.

Một hôm ông đóng quân ở thôn Tố xã Phù Ninh, duyên may gặp Lý Nương. Nương tuổi mới 15, có vẻ mạo đoan trang. Ông thích thú mà đón về kết phối. Một nhà hòa hợp, cầm sắt đàn vui. Từ sau lễ truy thờ Thiên Vương một vùng trở thành 5 huyện dân, đều rất yêu mến ông. Đến tuổi 83 thì ông mất, chôn cất ở nơi đất phúc trong vùng, lập đền thờ ở thôn Tố. 10 nơi xứ năm tháng đều tế thờ. Đền thờ này linh thiêng tỏ rõ, có thể giữ đất giúp dân, ngăn tai ương, trừ hoạn nan, gặp hạn cầu đảo được mưa, có sự việc cầu tất được, qua các thời đều anh linh bất hủ. Thời Sĩ Vương phong Hùng Hầu Bạch Sam là Linh ứng Hiển thông Phúc thần. Lý Nương là Phương tư Nương nương. Trải các đời hưởng thờ, dân cầu đều quả được ứng nghiệm…

(Phần sau là sự hiển ứng và gia phong các đời, không dịch)

Thần phả làng Hiên Ngang, Tiên Du, Bắc Ninh

Theo bản dịch từ bia đá tại làng Ngang Kiều của Nguyễn Công Hảo trong sách Tìm hiểu về truyền thuyết ba làng Ngang ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh, NXB Mỹ thuậ, 2018.

Họ [Đất] Việt [ta] thường có 18 Thánh chủ ngự trị, đi tuần Ngũ Lĩnh phương Nam, khai sáng Hùng đô nước Việt. Mở đầu là ông Đế Minh [Thánh đế minh vương] xây dựng nên thành đô cung điện nhất [thống] 15 bộ.

Đến đời Kinh Dương Vương lập nước lấy tên là Xích Quỷ truyền ngôi cho Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ lập nên chính cung, sinh được bọc trứng trăm trai, đều là anh hùng cái thế, trí dũng song toàn. Lạc Long Quân – Âu Cơ chia 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên rừng. Người con cả Hùng Đoàn theo mẹ được kế tiếp làm vua gọi là Vua Hùng truyền 18 đời. Chuyện này đời Hậu Lê [Trần] có thơ rằng:

Mười tám chi vua vẫn nối truyền
Trăm trai một bọc giống Rồng Tiên
Trời Nam đất tổ muôn đời định
Đức rộng, tài cao bậc thánh hiền.

Đến đời vua Hùng Huy Vương thứ 6 ngự đô ở Việt Trì – Bạch Hạc giang. Kiến quốc gọi là nước Văn Lang, thủ đô hiệu là Phong thành (Phong Châu). Từ khi Hùng Huy Vương lên ngôi lấy khuôn phép để trị dân, đất nước hưng thịnh, thiên hạ thái bình an lạc.

Lúc bấy giờ trong triều chính có quan Bồ chính họ Hùng tên Chạc lấy vợ ở phủ Đà Giang, thôn Phượng Mao, tên nàng là Đinh Châu Hoa. Hai vợ chồng ở với nhau ý hợp, tâm đầu, thật là “cầm sắt duyên hài, phu thê hòa hợp, trượng phu thục nữ, quân tử thuyề quyên, tương hoan tương ái”. Đã hơn 5 năm chung sống mà hai vị “lan phòng chưa thấy sinh hương, quế hộ không thấy khai đà đóa hoa”. Một hôm Bồ chính Hùng Chạc tâm tình với phu nhân Châu Hoa:

  • Nhà ta vốn dòng hoàng gia phúc hậu, bách tử thiên tôn rất là đông đúc, hoặc thái quá mà bất cập, hoặc đầy quá mà lại nghiêng, hay thịnh rồi lại suy, lấy nhân nghĩa làm đại bản, đem thiện đức để cảm dân, không mảy may nào là làm điều ác. Thế mà trời lại phụ ta ư, hay là tổ tiên phần mộ bị khuyết khung, hay đoản thương long mạch thế nào mà đến nỗi khó bề sinh dưỡng. Nay ý tôi muốn đi các địa phương nào có những linh từ, linh tự nào linh thiêng để cầu tự. Đồng thời cũng là để tìm các danh sư, tướng địa để di chuyển mộ tổ xem sao.

Hai vợ chồng thành tâm sắm sửa lễ vật du ngoạn về Kinh Bắc vì nghe nói vùng này có nhiều linh từ, linh tự đẹp và linh thiêng. Một hôm đi đến Kinh Bắc nghe thấy ở Lãm Sơn Khê Nham có cổ tự Lãm hiện đang mở hội. Nhân dân xa gần đến lễ Phật, ngoạn cảnh rất đông. Hai vợ chồng quan Bồ chính cũng vào đó lễ Phật, ngoạn cảnh và cầu tự một thể. Khi hai vợ chồng đang đi xem phong cảnh, do cảnh đẹp quên cả thời gian, thì trời đã về chiều. Hai vợ chồng mới vào chùa lễ tạ, xin phép sư trưởng trụ trì để về nhà trọ trong dân. Khi ra đến bãi trước chùa, chợt trông thấy một ông lão mình mặc áo xanh, tay cầm một cành hoa hải đường, theo sau là một chú thanh đồng, tay cầm một cái La kinh, theo hướng từ cổng chùa đi lên. Quan Bồ chính trông thấy La kinh liền nghĩ:

  • Đây chắc là thầy địa lý.

Quan Bồ chính dừng bước và thi lễ vái chào ông lão:

  • Vợ chồng tôi rất hân hạnh được gặp tôn ông. Trộm nghĩ tôn ông là người Tướng địa, may lắm, may lắm. Tôn ông có thể giúp vợ chồng hèn mọn này một việc được chăng?

Ông lão dừng bước:

  • Cầm ta giúp việc gì cứ nói rõ.

Hai vợ chồng quan Bồ chính tiếp tục quỳ vái:

  • Xin tôn ông dạy bảo, chỉ cho ngôi đất tốt, giúp vợ chồng hèn mọn này đặt ngôi sinh phần tránh được tiệt phúc.

Ông lão cười và nói rằng:

  • Việc tuy là đạo Trời, nhưng phải là người có phúc mới thành đạt. Mọi việc căn bản ở Phúc – Đức. Phúc chỉ đãi những người có thiện tâm. Thấy vợ chồng ông thi lễ và xem qua là người ăn ở có phúc, có đức. Thôi đã xin thì ta chỉ cho. Còn được hay không là tùy đạo Trời.

Nói rồi ông lão lấy gậy vạch ở đường một bài thơ:
Muốn tìm ngôi đất tốt
Thì lên núi Tản Viên
Phúc ông Trời ưu đãi
Mạch đất chẳng khó tìm
Ngôi ở nơi Trung cấp
Huyệt chính tại Tả biên
Một bọc hai quý tử
Long – Sơn tài cái thế.

Lão ông vạch xong bài thơ, tự nhiên hóa thành một con hổ chạy vào núi biến mất. Vợ chồng Bồ chính Hùng Chạc – Đinh Châu Hoa cả sợ thất kinh, biết là có Trời giúp đỡ. Sáng hôm sau về đến gia phủ tiến hành dời ngôi mộ tổ lên Tản Lĩnh Linh sơn. Khi còn đang ngơ ngác tìm kiếm vị trí như bài thơ ứng bá “Trung cấp, Tả biên” ở đâu thì bỗng thấy một con hổ miệng cầm hòn đất chạy đến đặt trước mặt, rồi phóng chạy mất. Quan Bồ chính biết là thần đã dẫn bảo, liền đặt mộ tổ tại vị trí hòn đất lưu lại của hổ, làm lễ an táng chu toàn rồi ra về.

Được 100 ngày thì một đêm Hùng công đang mơ màng nhìn thấy ông lão Tướng địa mà hai vợ chồng gặp ở Kinh Bắc trước đây đi vào nhà. Ông vội vàng quỳ xuống thưa hỏi:

  • Thưa thầy, từ khi vợ chồng tôi được gặp thầy, được thầy chỉ bảo chỗ đất thiêng, chưa biết thầy ở đâu để báo đáp. Ơn thầy sao quên. Thầy cho biết quê hương, bản quán để vợ chồng chúng tôi được đến để tạ ân.

Ông lão cười ha hả và nói rằng:

  • Ta là Khổng Lồ Tổ giáo Thiền sư. Ta thấy vợ chồng ông có lòng thành kính và sống có lương tâm phúc hậu, cho nên ta hiện xuất để báo cho ông ngôi đất tốt, chứ ta có phải ông thầy Tướng địa trên nhân gian đâu.

Nói xong ông lão ngoảnh lại bảo chú thanh đồng lấy ở trong túi ra một bài thơ đưa cho quan Bồ chính Hùng Chạc, đại ý bài thơ ghi:
Dòng dõi nhà Hùng đức hậu dài
Được đất sinh thành quý tử hai
Bao gồm sông núi ngàn năm vững
Tiếng thơm rực rỡ chẳng bao phai.

Hùng công xem xong chưa kịp nói gì thì tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng. Từ dấy bà Đinh Châu Hoa có mang. Khoảng 7 tháng sau, bấy giờ là mùa đông, Hùng công được vua mời vào thế sự. Khi về đến gia phủ thì tạ thế. Hôm ấy ngày 10 tháng Chạp năm Bính Ngọ. Nhà vua cho tổ chức lễ an táng tại gia phủ.

Đến ngày mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mùi, thái bà Châu Hoa mãn nguyệt khai hoa sinh một bọc hai người con trai. Mới sinh đã có tướng lạ, thân hình cao lớn khác thường, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Lúc Thái bà sinh tự nhiên có mây ngũ sắc đầy trời, chim chóc kéo đến hót vang. Có cả đàn hổ con kéo đến quanh phủ, làm mọi người trong phủ vừa kinh sợ, vừa thấy lạ.

Khi hai chàng trai 3 tuổi, một đêm Thái bà nằm mộng thấy phu quân Hùng Chạc hiện về báo mộng đặt tên con: Một là Hùng Long, một là Hùng Sơn. Đến năm 16 tuổi thì hai người đều cao lớn, vạm vỡ trở thành anh hùng cái thế, dũng lược quả nhiên. Long công có tài xuống bể, đi trên mặt nước như đi trên mặt đất. Đi đến đâu thì các loài thủy tộc đều bơi đến hướng chầu. Các loài thủy tộc hại người đều lùi xa vạn dặm ngoài biển khơi. Sơn công có tài đi bộ leo núi nhẹ như đi đường bằng, đi vào rừng các loài muông thú đều tụ tập đến hướng chầu. Các loài thú dữ hại dân thì sợ một phép, lui dần về rừng sâu.

Cả hai vị đều thông minh, trí tuệ, đức trọng, tài cao, kỳ mưu dị thuật. Các tướng sĩ trong triều đều nể phục. Vua Hùng Huy Vương biết tài hai vị liền triệu vào cung phong chức:
– Hùng Long công làm Trướng long chu Thủy đạo Tướng quân.
– Hùng Sơn công làm Nhạc phủ Tướng quân.

Bấy giờ có giặc nhà Ân sang xâm lược nước Văn Lang. Thủ lĩnh giặc Ân là Thạch Linh thần tướng cầm đầu, đem quân từ phương Bắc sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất hùng mạnh, cờ quạt, giáo mác, ngựa chiến hành quân mù mịt cả đất trời. Đi đến đâu chúng cướp phá của cải, đánh giết dân lành. Các vị quan trấn thủy biên thùy thua trận, cấp báo về triều đình, cũng là lúc giặc Ân đã tiến đến vùng Kinh Bắc, lập trú đồn trại, củng cố binh mã để tiến đánh Phong thành. Vua Hùng Huy Vương liền triệu hai vị Hùng Long, Hùng Sơn về triều, cấp binh mã, lương thực, tấn phong làm tướng ra trận đánh giặc Ân. Hùng Long là Thủy đạo quân Thống lĩnh binh mã. Hùng Sơn là Nhạc hầu phó tướng lĩnh quân. Một thuộc 50 thủy bộ. Một thuộc 50 sơn bộ.

Hai vị tuân lệnh, đem 2000 quân binh hành quân gấp đến Kinh Bắc. Một mặt huy động các anh hùng hào kiệt ở các phủ, trang, ấp, đồng thời động viên dân binh xây dựng các đồn lũy để chuẩn bị cuộc chiến với giặc Ân. Một mặt Long công lập doanh trại ở hai chi nhánh: sông Nguyệt Đức và sông Nhị Hà để trấn giữ đường thủy. Một mặt Sơn công lập đồn trại từ Phong thành đến Kinh Bắc để trấn giữ đường bộ.

Một hôm hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiến quân đến khu núi tại trại Hiên Đường, thuộc huyên Tiên Du. Hai vị vốn có thiên bẩm anh tài, thông hiểu địa lý, nhìn thấy dải núi ở đây hình thù như một con rồng nằm uốn khúc, xung quanh có nước bao bọc. Thật là khí đất thiêng. Hai vị quyết định lập đồn trại tại đây. Khi khảo sát địa hình tìm thấy một khu đất nổi lên hình thế “chân long quý cục”, hai bên có hai gò đất chầu lại. Tiếp đến là khu đất có hình thế “long cảnh”, nghĩa là cổ rồng, phong thủy gọi là “Tả hữu hội tụ”. Trước mặt có “khai hoa minh đường thủy tụ”. Lại có con đường cái nhỏ chạy qua trước mặt. Hai bên có hai giếng tựa mắt rồng. Tiếp xuống chân núi lại có khu đất hình thế “chân long chi vĩ” như cái đuôi con rồng. Phong thủy gọi là “Vĩ long chính cục”. Trước mặt có ba cánh đồng nước hợp lại, thật đúng là “hội đáo minh đường, kim quy chấn trạch”. Đằng trước lại thấy một khu đất nổi lên như hình con phượng nằm ẩn mình. Hai bên có hai dải đất, một bên hình nghiên bút, một bên hình quyển sách, thực là “thiên địa bài, chung linh đại địa”. Hai vị quyết định lập bản doanh tại ba vị trí đắc địa trên.

Hôm ấy là ngày mùng 4 tháng Giêng, đẹp ngày, hai vị tiến quân đến vùng đất này. Nhân dân trang ấp Hiên Đường đón tiếp nồng nhiệt và tổ chức lễ ăn mừng khao quân sĩ. Đất đắc địa, lòng dân thuận, hai vị quyết định làm lễ lập đồn trại cùng ăn ừng với nhân dân.

Khu đất “chân long quý cục” thuộc trang Kiều là chính trại chỉ huy. Trung trại ở khu đất “chung linh đại địa” thuộc trang Na. Tiền tiêu ở khu đất “chân long chi vĩ” thuộc trang Nội. Đồn trại được lập theo thế liên hoàn hình chữ Vương để chuẩn bị đối phó và dàn trận chống lại giặc Ân. Lúc nào nhân dân ở trang ấp Hiên Đường có 7 họ: Lê, Nguyễn, Trần, Trương, Mai, Cao, Trịnh. Các trưởng họ đều được hai vị bổ nhiệm chức “tộc trưởng”. Các trai tráng được bổ sung vào quân sĩ và lập các đội dân binh. Dân số Hiên Đường lúc này có khoảng gần 300 nhân khẩu.

Từ đấy hai vị Hùng Long, Hùng Sơn đã an cư ở đồn trại, ngày đêm luyện tập quân sĩ và tiến đánh giặc Ân ở núi Vệ Linh. Gần nửa năm đã đánh đến 30 trận đều thắng trận, bắt trên 30 tên tướng giặc Ân nộp về triều đình, đuổi được giặc Ân về nước.

Thua trận, giặc Ân củng cố lực lượng, tăng thêm quân sĩ tiếp tục tiến đánh Văn Lang, thế giặc mạnh gấp nhiều lần. Được tin báo giặc lại vào xâm lược, hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiếp tục củng cố lực lượng ở các trại Hiên Đường và hai đường thủy bộ trên sông Cầu, Nhị Hà và đường bộ lên phương Bắc. Nhưng thế giặc mạnh, hai vị không chặn được, đành lui về cố thủ ở trại Hiên Đường và cấp báo về triều đình.

Hùng Huy Vương lập tức triệu tập quần thần để bàn việc đánh giặc. Đã qua 3 ngày nhưng chưa tìm được kế đánh giặc. Đến ngày thứ tư bỗng xuất hiện một ông lão mình cao 9 thước, cứ ngồi ở cổng thành cười, múa, hát vang. Nhân dân trông thấy lấy làm lạ, vào bẩm báo với vua. Hùng Huy Vương thân chinh ra đón vào dự hội nghị quần thần và hỏi:

  • Trông tướng mạo tiên sinh chắc không phải người thường. Vậy tiên sinh có kế sách nào hay để giúp dân ta đánh đuổi giặc Ân, xin tiên sinh chỉ giáo cho?

Lão ông nghĩ một lát rồi lấy một vật gì đó trong tay nải gieo quẻ, xong rồi nói:

  • Phải cầu lấy một người có tài “thần vũ” đến hỗ trợ cho Long – Sơn tướng quân, ắt giặc phải tan và từ bỏ dã tâm xâm lược.

Nói xong đi thẳng ra cổng biến mất. Hùng Huy Vương và quần thần thấy lạ, nhưng vẫn quyết định cử quân sĩ đi loan báo cầu người tài khắp đất nước để tìm được tướng “thần vũ”. Đêm ấy, Hùng Huy Vương lại có giấc mơ gặp ông lão ban ngày. Ông lão xưng là Lạc Long Quân và cho biết thêm việc tìm người tài đánh giặc:

  • Cứ đến làng Phù Đổng, ắt tìm được.

Tỉnh dậy, vua liền cho quân lính về làng Phù Đổng để tìm “thần vũ”. Quân lính đến Phù Đổng loan báo thì được cậu bé lên 3 tự xưng là Thiết Xung ở với một bà mẹ nhà rất nghèo mời vào và nhận lời giúp vua đánh giặc. Bà mẹ Thiết Xung cho là con mình đùa cợt, vì từ khi bà dẫm vào vết chân lạ ở vườn cà, rồi có mang sinh ra cậu bé, lên 3 vẫn chưa biết nói, biết cười. Tự dưng nghe sứ giả loan báo, cậu bảo mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc. Thiết Xung nói với sứ giả:

  • Về tâu với vua cấp cho tôi một con ngựa sắt 10 thước, một áo giáp sắt và một chiếc đĩnh dài 10 thước, tự khắc tôi sẽ đánh thắng giặc.

Sứ giả đem những lời tâu đó về bẩm với vua. Hùng Huy Vương vui mừng cấp tốc cho đúc ngựa, rèn thiết đĩnh đưa về làng Phù Đổng và phong chức cho cậu bé là Thiết Xung Thần Vương, lệnh cấp tốc về Hiên Đường cùng Hùng Long, Hùng Sơn đánh giặc.

Ngày 10 tháng 8 hai vị Hùng Long, Hùng Sơn thiết yến hội binh cùng Thiết Xung Thần Vương ở Hiên Đường và ra lệnh xuất quân. Thiết Xung Thần Vương lĩnh đội kỵ binh, tiền quân. Hùng Long lĩnh đội thủy quân, trung quân. Hùng Sơn lĩnh đội bộ binh, hậu quân.

Ba đạo quân tiến thế liên hoàn đại chiến với giặc Ân ở núi Vệ Linh sơn, mới đánh một trận giặc Ân thua to, thi nhau tháo chạy. Quân Văn Lang thừa thắng truy quét. Mải truy quét giặc và đánh quá hăng tự nhiên thiết đĩnh của Thần Xung bị gãy. Thần Vương liền nhổ các bụi tre quật, kẻ bị cháy khiếp vía kinh hồn, chết như ngả rạ. Thắng trận về đến núi Sóc Sơn, Thần Vương cưỡi ngựa sắt bay về trời. Sau được vua Hùng Huy Vương phong là Phù Đổg Thiên Vương.

Hùng Long bên đường thủy cũng tiếp sức đánh tan các chiến thuyền của giặc Ân. Trên bộ Hùng Sơn chỉ còn việc bắt sống những tên giặc còn sống sót đưa về báo công với triều đình. Thắng trận trở về Long công đi dọc bờ sông Nguyệt Đức, tự nhiên có một trận mưa to gió lớn, trời mây mù mịt. Long công tự hóa trên dòng sông. Sơn công rút quân về đến doanh trại Hiên Đường. Nhân dân nô nức đổ ra đón mừng. Đêm ấy tự nhiên có một đám mây ngũ sắc bay về, sấm sét nổ ầm ầm, mây mù tối tăm. Sơn công cũng tự hóa, mối đùn thành mộ.

Nhân dân và quân sĩ cho là điềm lạ, cấp tốc tâu về triều đình. Vua Hùng Huy Vương vô cùng thương tiếc và giao đình thần đem sắc chỉ tặng phong và ban thưởng cho nhân dân Hiên Đường. Miễn tô thuế, thiết lập hội đồng tại sở thờ phụng lập đền thờ để cả nước cùng thờ phụng. Đồng thời phong tước cho hai vị tướng:
– Long công được phong là Uy Long Đại vương.
– Sơn công được phong là Uy Sơn Đại vương.

Ban sắc chỉ cho nhân dân Hiên Đường thờ cúng hai vị ở chính lăng từ sở tại. Cứ mỗi năm xuân thu nhị kỳ khiển quan tế lễ. Các nơi thờ cúng hai vị trong cả nước có tất cả 42 đền thờ.

Lại nói đến thời Đông Hán, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm 349 năm cho đến nước Nam trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần 4 họ đã khai sáng ra cơ đồ lớn đều ban thưởng người có công. Khi triều Lê Trang Tông có quan đại thần Thái úy cũng khởi nghĩa quân diệt nhà Mạc. Quan Thái úy có yết kiến đền thờ hai vị Uy Long Đại vương, Uy Sơn Đại vương ở Hiên Đường và xin cầu giúp nước. Trận đó Thái úy diệt xong nhà Mạc.

Đến hiệu Lê Vương Bình, khi đó còn nhà Mạc lên ngôi hoàng đế đã phong 4 chữ “Vạn cổ Phúc thần” cho hai vị tướng quân ở đền thờ Hiên Đường. Xuân thu nhị kỳ cả nước hương hỏa lâu dài thịnh vượng.

Các ngày lễ. Các ngày sinh, hóa, khánh tiết tế lễ:
Ngày 8 tháng 2 là ngày sinh hai vị Hùng Long, Hùng Sơn.
Ngày 12 tháng 9 là ngày kỵ nhật.
Ngày mồng 4 tháng Giêng là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 5 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 7 tháng 7 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 8 là ngày Khánh hạ.
Ngày 10 tháng 12 là ngày Khánh hạ (khai sắc), ngày kỵ nhật quan Bồ chính Hùng Trạc.

Các tên húy: Long, Sơn, Chạc, Châu (bốn chữ).

Chi phí làm bia: mua bia đá hết 53 quan. Thuê mang về hết 15 quan. Thuê khắc chữ hết 45 quan.

Kính soạn Thần tích ngày 10 tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ nhất. Người phụng soạn Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn …

Thần tích làng Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Trích bản khai năm 1938 của làng Đại Lâm, tổng Phong Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, ký hiệu TTTS3649 lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Tên làng: xã Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 大林社豊舍縂安豊縣北寧省

Thần thành hoàng:
1 vị duệ hiệu là 輔國公嚴大王 [Phụ quốc Công Nghiêm Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 海國濟治大王 [Hải Quốc Tế trị Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 佐治明天大王[Tá Trị Minh Thiên Đại vương]
Các ngài là Thủy thần, đức Minh Thiên là Thiên thần.

Sự tích các ngài: Thế truyền về đời vua Hùng Vương, ở xã An Khang, huyện Yên Mô có 1 phú ông họ Phạm, tên là Đài, vốn nhà hào phú, dòng dõi phong lưu, lý số nho y mọi nghề tinh thạo. Ông lấy vợ người họ Hán, đến năm ngoài 30 tuổi, không may bà vợ mất sớ, sinh hạ 1 người con gái tuổi vừa 16. Ông muốn gả chồng cho con. Người cùng làng, sắp toan định ngày nghi thất nghi gia. Lại gặp lúc trong địa hạt mình xảy ra nhiều trộm giặc, đua nhau cướp bóc của cải thôn dân. Vù thế lòng ông chán nản, muốn tìm nơi cảnh vắng mà an dưỡng tuổi già. Ông bèn thu xếp cửa nhà cùng với con gái thẳng ra miền Kinh Bắc lánh nạn. Khi đi có mang 1 giỏ thuốc Nam để giữ mình. 1 ngày kia đi đến làng Đông Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, ông trú cư ở đấy vài tháng để tiện việc làm thuốc. Nhân dân ở làng ấy nhiều người được nhờ vả nên ai cũng đem lòng yêu mến. Bất giờ trong tổng nội có người mắc bệnh khó chữa, nghe tiếng ông là danh sư bèn đón ông về chữ giúp. Quả nhiên người ấy khỏi bệnh. 1 ngày ông đến vãn cảnh chùa làng Đại Lâm. Khi trở về vừa gặp cơn mưa gió, ông đành phải trở lại chùa ngủ trọ 1 tối. Đêm ông nằm mộng thấy 1 vị sư đến bảo rằng:

  • Nhà ngươi tốt phúc, ngày mai sẽ có tin mừng.

Nói xong đọc 1 bài thơ rằng:
詢之以报喜于君
汝福從茲日日新
天定降家來見日
必然相配自成親

Tuân chi dĩ báo hỉ vu quân
Nhữ phúc tòng tư nhật nhật tân
Thiên định giáng gia lai kiến nhật
Tất nhiên tương phối tự thành thân.

Nghe mấy câu thơ ấy ông chợt tỉnh dậy, tự nghĩ trong bụng lấy làm lạ. Sớm ngày mai ông lễ Phật trở ra về, đi qua làng Đại Lâm, thấy 1 người con gái nằm trong lều cỏ kêu khóc. Ông chạy vào hỏi duyên cớ. Người con gái thưa rằng:

  • Thiếp là con gái họ Trần, tên là Tố Nương. Cha mẹ mất sớm, khi còn tuổi trẻ. Anh em chẳng có ai, không người nương tựa. Đem mình đi ở với cậu ruột, ngày tháng dung thân. Thiếp lại hay có cứng đau bụng vặt. Cậu đem lòng ghét bỏ, đuổi đi. Vì thế thiếp phải ra nằm ở quán này.

Ông thấy tình cảnh lấy làm ái ngại, bèn mở túi lấy thuốc cho uống. Lúc lâu nàng Trần khỏi bệnh. nàng bèn mời về nhà, đem tình trạng kể với cậu và xin cho mình được hầu hạ chăn gối để báo đáp ân sâu. Cậu vui lòng gả. Sau khi đã thành gia thất, ông bèn đến xã Đại Lâm, ngày thường đi chữa thuốc cứu dân. Dân làng thấy ông là người hiên fhoaf thuần hậu, thỉnh ông coi giữ cảnh chùa. Được mấy năm ông làm thuốc rất là phát đạt giầu thịnh. Ông xuất gia sản dựng thành 1 ngôi chùa nữa. 1 hôm ông nằm mộng thấy 1 vị thần tự xưng là Nam Tào, [vâng] sứ mệnh đức Thượng Đế đến báo cho các vị thần văn võ biết rằng:

  • Đây có nhà họ Phạm giữ chùa vốn là người phúc hậu. Lai hay mộ về đạo Phật. Nay đức Ngọc Hoàng cho 1 viên Thiên tào Điển lại và 2 viên Thủy tế Long hầu, xuống Dương gian đầu thai làm con nhà họ Trần để sau này giúp nước cứu dân.

Nói rồi biết mất. Đến khi ông tỉnh dậy, biết thế nào cũng có điềm hay. Một ngày đức bà Trần Thị ra bến sông ở trước làng tắm gội. Đương lúc tắm, chợt thấy con giảo long nổi lên quấn quanh mình ba 3 vòng. Bà sợ hãi chạy lên bờ, thấy có mùi hương thơm ngào ngạt. Khi về đến chùa trời đã xế bóng. Lại thấy 1 ngôi sao tự trên trời sa xuống trước mặt. Hào quang chói lọi. Phút chốc biến mất. Tự đấy trong mình bà có thai.

Đến ngày mồng 6 tháng 8 bà sinh hạ 1 bọc 3 người con trai, thân thể cao lớn, hình dung kỳ dị. Ông bà mới đặt tên ông thứ nhất là Nghiêm công, thứ 2 là Minh công, thứ 3 là Trị công. Kịp lúc tuổi trưởng thành, ông nào cũng học hành sáng suốt, và có tài văn cõ. Đến ngày 13 tháng 7 đức than phụ là đức Phạm công tạ thế. Bấy giờ nhân dân trong làng thấy các ông có tính trí dị thường, lại có tài văn võ mới rủ nhau đến làm thần tử. Ông bèn chọn đinh tráng xã ấy, cùng các xã lân bàng như Đại Bàng, Thọ Đức, Thiểm Xuyên, Đông Xá được hơn 1000 người, thiết lập 1 cái doanh trại ở địa giới đầu làng. Chọn ngày mồng 1, 2, 3 tháng Giêng để khao thưởng quân sĩ. Việc ấy nghe đến tai các quan địa phương làm biểu tâu Vua. Vua toan sai đình thần đi đánh dẹp, nhưng đêm Vua nằm mộng thấy sứ mệnh Thiên đình đến báo rằng:

  • 3 ông ấy vốn là người trời sai xuống giúp nước, thì nhà vua nên dụ chứ không nên đánh.

Nói rồi đằng không biến mất. Vua tỉnh dậy biết là mộng báo, mới sai sứ thần đem chiếu chỉ đến phủ dụ. 3 ông được chiếu chỉ cùng theo sứ thần về yết kiến Vua. Vua xem thấy thể diện khác thường, nói thử tài văn võ, rồi phong cho ông Nghiêm là Thống lĩnh long chu Thủy đại Lạc tướng quân. Ông Minh là Cứ thiên Bố chính Tướng quân. Ông Trị là Thủy tào Tả điển lại Lạc Long tướng quân. Từ đấy vua tôi hiệp đức, trong nước yên hòa. 3 ông tâu vua xin về bái yết gia đường. Vua ban cho vàng bạc gấm vóc rất nhiều. 3 ông lạy tạ trở về nguyên quan sở Ái châu. Nhân dân kéo đến mừng rỡ vui vẻ. Sau khi thám tỉnh mẫu thân, ông bèn tu sửa từ đường, làm lễ tạ gia tiên. Được ít lâu đến ngày mồng 2 tháng 9 đức Thái bà thân mẫu tạ thế. Ông sửa lễ tìm nơi an táng. Mọi việc xong xuôi, 3 ông lại trở về triều yết chúa. Vua gia phong quan tước rồi bổ dụng cho đi trị nhậm các nơi.

Thời bấy giờ có giặc nhà Ân là Thạch Linh thần tướng, đem 300000 hùng binh sang làm loạn. Được tin, Vua sai 3 ông đi chống cự. Chống nhau với giặc nhà Ân hơn 10 trận, thế giặc ngày ngày một mạnh. Ông phải sai người đem tờ biểu về tâu vua, lấy thêm quân cứu viện. Bấy giờ trong triều các đình thần thấy đều thúc thủ. Vua lấy làm lo sợ, lập đàn cầu đảo thiên địa bách thần, rồi sai sứ thần đi chiêu mộ các người hiền tài trong thiên hạ để giúp nước. Bấy giờ ở xã Phù Đổng thuộc huyện Vũ Ninh có 1 nhà hào phú sinh được 1 người con trai đặt tên là Thiết Xung thần tướng, lên 3 tuổi ăn uống rất khỏe mà không biết nói. 1 hôm nghe tiếng sứ giả nhà vua đến, ngài bật ra tiếng nói mà bảo mẹ gọi sứ thần lại. Khi sứ thần đến, ngài bảo về tâu với nhà vua đánh cho 1 con ngựa sắt, 1 thanh gươm sắt, ngài sẽ đi dẹp giặc giúp nước. Nhà vua không phải lo gì.

Sứ giả về tâu Vua. Vua truyền đánh gươm sắt, ngựa sắt đem lại để cùng với 3 vị (Nghiêm Công, Minh Công, Trị Công) đem quân đi đánh giặc. Bấy giờ ngài nhảy lên mình ngựa sắt chạy như bay đến dưới núi Vũ Ninh, đánh nhau 1 trận. Ngài chém được tướng giặc là Thạch Linh thần tướng. Khi giặc đã tan ngài đi đến núi Sóc Sơn, đằng không mà biến hóa.

Lại nói đến đức Nghiêm Công và Trị Công sau khi bình được giặc rồi 2 ngài bơi thuyền đến sông Bạch Đằng, biến ra thần rắn gieo mình xuống sông mà hóa. Ngày ấy là ngày mồng 2 tháng 9. Vua sau đình thần đến địa phương ấy truyền cho dân gian lập miếu thờ phụng. Còn đức Minh Công khi phụng mệnh hồi triều bái tạ, ngài đứng giữa sân rồng rồi đằng không mà hóa. Vua truyền lập đền thờ ở trong cung phủ phụng sự. Lại truyền cho xã An Khang và xã Đại Lâm lập đền phụng sự và bao phong là Vạn cổ Phúc thần…

Bạn có biết: Vua Hùng đã cùng với Lão Tử trừ yêu quỷ và dời đô về thành Cổ Loa

Vua Chủ trong lễ hội Thụy Lôi – đền Sái năm 2026.

Truyện Rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái chép: “(An Dương Vương) xây thành ở đất Việt Thường, nhưng hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy, vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một cụ già từ phương đông tới trước cửa thành, than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong được!”. Vua đón vào trong điện, vái và hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần nhưng cứ bị sập đổ, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới, cùng nhà vua xây dựng mới thành công”, nói xong từ biệt ra về…”.
An Dương Vương trong truyện này là một vị vua Hùng thời kỳ nước Văn Lang từ Âu Cơ lập quốc ở Phong Châu, nay chuyển dời kinh đô về phía Đông tại Đông Ngàn Cổ Loa mà xây thành.

Dấu tích của sự kiện chém Bạch Kê tinh xây thành Cổ Loa là lễ hội làng Thụy Lôi (Đông Anh, Hà Nội) hàng năm tổ chức vào ngày 11/1 âm lịch với tục rước “Vua sống” (An Dương Vương) và “Chúa” (Thanh Giang sứ giả) cùng các quan quân từ đình Thụy Lôi đến bái yết Huyền Thiên Trấn Vũ ở trên núi Võ Đang (núi Sái) và làm phép chém Bạch Kê tinh ở dưới chân núi.
Câu đối ở đình Thụy Lôi:
Hà nhạc an dân, Kê sùng tận Quỉ tinh trừ, bái Giang sứ
Thục Ngô kiến quốc, Loa thành thụ xuân hội trí, tạ Sơn thần.
Dịch:
Núi sông yên dân, Gà trắng chết, Quỉ tinh trừ, bái Thanh Giang sứ
Thục Ngô dựng nước, Loa thành đắp, hội xuân bày, tạ Cao Sơn thần.
Như vậy “cụ già” mà Truyện Rùa vàng nói đến chính là vị thần trên núi Sái – Huyền Thiên Trấn Vũ, người đã cử thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa.

Đình Thổ Hà (phường Vân Hà, Bắc Ninh nay) nằm cách không xa núi Sái. Cụm di tích quốc gia đặc biệt Thổ Hà thờ Lão Tử Lý Nhĩ Đam làm thành hoàng. Bia Cung sao sự tích thánh tại đình Thổ Hà ghi: Đời vua Thục An Dương Vương phả lục chép rằng có một vị đại vương cấp bậc Thượng đẳng thần thuộc bộ Càn Hào. Sau khi Hùng Vương thứ 18 mất ngôi, vua An Dương Vương nối ngôi. Có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học.
Một hôm Người bảo học trò rằng: ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.
Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông.

Đặc biệt là đoạn thông tin từ bia Cung sao sự tích thánh ở Thổ Hà kể về việc Lão Tử đã giúp An Dương Vương trừ yêu quỷ xây thành Cổ Loa: Vua (Thục An Dương Vương) xây thành (Cổ Loa) có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh Giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng trống đồng).

Câu đối treo hai bên bức cửa võng – bảo vật quốc gia của đình Thổ Hà:
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

So sánh 2 sự tích ở đình Thổ Hà và đền Sái có thể thấy rõ vị thần Huyền Thiên Trấn Vũ chính là Lão Tử, người tu hành tại Thổ Hà và đắc đạo lập nghiệp ở núi Võ Đang (núi Sái). Sự kiện Lão Tử giúp vua Hùng (An Dương Vương) trừ yêu quỷ xây thành khi dời đô về Cổ Loa còn được nhắc đến ở nhiều di tích khác thờ Huyền Thiên Trấn Vũ như ở đền Quán Thánh bên hồ Tây (Hà Nội), quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai (Hà Nội) hay thậm chỉ cả ở động Thiên Tôn ở Hoa Lư – Ninh Bình.

Về hàng trạng của Lão Tử tấm bia cổ đời Hán Hoàn đế (146-167) có tên “Lão Tử minh” chép: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng ba sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Có thể thấy truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa và cơn “địa chấn” lúc giao thời Tây – Đông Chu chỉ là một. Diễn biến việc này có thể như sau: Lão Tử sống vào cuối thời Tây Chu (Chu U Vương) sang tới đầu thời Đông Chu. Khi nhà Chu chuyển về phía Đông, tới vùng Tam Xuyên – Tam Giang, thì gặp trận động đất lớn. Thành Lạc Dương (Cổ Loa) bị rung chuyển. Lão Tử là vị quan thủ thư, cũng là vị “vu sư” của nhà Chu khi đó, nhân việc này mà nói là âm khí của thời Hạ Thương phát hại, nhằm răn khuyên thiên tử Chu. Truyền thuyết Việt chép thành vua Thục xây thành Cổ Loa bị đổ, phải nhờ Lão Tử phái Thanh Giang sứ giả tới giúp dẹp yêu quỷ thì thành mới xây được.

Câu đối ở tại đình Thổ Hà khẳng định việc Lão Tử đã thành nghiệp ở chính đất Việt dưới thời nhà Chu – Văn Lang của vua Hùng:
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch nghĩa:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ thanh hư mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền màu nhiệm tạo Thần Tiên.

Thanh Giang sứ giả (thần Kim Quy) trong lễ hội Thụy Lôi năm 2026.
Bức Cửa võng đình Thổ Hà được công nhận là bảo vật Quốc gia với đôi câu đối về việc Lão Tử trừ yêu quỷ trên núi Thất Diệu.
Các quan tướng trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà 2025.
Tượng Lão Tử ở chùa Bổ Đà, phường Vân Hà, Bắc Ninh.

Bạn có biết: Thục Phán là vị vua Hùng đặt ra trăm họ người Việt

Tượng Hùng Linh Công đánh giặc Ân ở Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Người Việt nào cũng biết câu chuyện về mẹ Âu Cơ cùng 50 người con trai về Phong Châu lập nước Văn Lang nhưng nếu đọc kỹ hơn đoạn truyện này trong Lĩnh Nam chích quái lại thấy còn có nhiều điều mà người xưa đã truyền lại về thời lập quốc của nước ta: Âu Cơ cùng 50 con sống ở Phong Châu (Nay là huyện Bạch Hạc) cùng nhau suy tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới hồ Động Đình, Nam tới nước Hồ Tôn Tinh (nay là Chiêm Thành). Chia nước ra làm 15 bộChia cho các em cùng nhau chia trị các nơi đó. Lại đặt các thứ tự tướng văn, tướng võ, tướng Văn gọi Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan gọi là Bồ Chính, người hầu trai gái gọi là Sảo – Nhỏ (còn gọi nô tỳ). Bề tôi của vua gọi là Côi, đời đời cha truyền cho con, gọi là Phụ đạo, đều xưng là Hùng Vương, không hề thay đổi.

Người lập nên nước Văn Lang là người con trưởng của Âu Cơ, xưng là Hùng Vương. Thiên hạ của Hùng Vương rộng mênh mông, được chia thành 15 bộ và giao cho các em cùng nhau chia trị các nơi, đời đời cha truyền con nối (phụ đạo). Như vậy vị Hùng Quốc Vương con trưởng là người đã mở đầu chế độ “phong kiến”, phong đất và kiến lập các chư hầu. Mỗi một người anh em được phong một vùng đất, được quyền phụ đạo cha truyền con nối qua các đời. Chính việc phong đất và phụ đạo này đã hình thành các dòng họ Việt, bởi dòng họ nghĩa là có quan hệ phụ đạo thế tập quyền quản lý vùng đất phong. Trăm họ người Việt hình thành dưới thời Hùng Quốc Vương qua sự phân phong thế tập các nước chư hầu, các vùng đất trong thiên hạ họ Hùng.

Hệ thống chính quyền “nhà nước” phong kiến cũng đã hình thành dưới thời Hùng Quốc Vương mà được Truyện họ Hồng Bàng nêu rõ: người đứng đầu xưng là Hùng Vương, tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, các quan gọi là Bồ Chính, người hầu là Nô tỳ, bề tôi xưng là “Côi” (Tôi?).

Sự kiện phân phong chư hầu, đặt ra trăm họ này còn được kể ở nhiều câu chuyện khác. Như trong Truyện Bánh chưng sau khi Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu thì Hai mươi mốt anh em kia đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở. Đáng chú ý là sự kiện này được kể xảy ra vào thời đánh giặc Ân: Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”. “Vua Hùng” đánh giặc Ân trong Truyện Bánh chưng như vậy là chỉ Âu Cơ Văn Lang. Còn vị Lang Liêu kế ngôi chính thống là Thừa Văn Lang, tức Hùng Quốc Vương, người con trưởng của Âu Cơ.

Trong bài trước đã xác định Âu Cơ là Thục Vương, người đánh thắng Sùng Hầu nhà Ân Thương ở trên đất Lạc, rồi dời đô về Phong Châu, lập nước Văn Lang. Như thế, người nối ngôi Văn Lang của Âu Cơ là Thục Phán, tức Thục Vương tử. Âu Cơ Văn Lang là Văn Vương Cơ Xương thì người diệt Ân lên ngôi thiên tử là Vũ Vương Cơ Phát. Có thể thấy tên gọi Phán và Phát cận âm.

Vũ Vương Cơ Phát – Thục Phán sau khi nhận ngôi của “vua Hùng” Văn Lang (Văn Vương Cơ Xương) đã lên núi Hùng dựng cột đá, thề trung thành với Quốc tổ họ Hùng. Sự kiện này thực ra mang ý nghĩa là là Thục Phán xưng mình là Thiên tử của cả Thiên hạ, bởi ông Trời Trung Hoa là vị quốc tổ họ Hùng Hiên Viên Hoàng Đế, vốn mang họ Cơ. Cơ Phát lập cột đá thề là muốn khẳng định mình là chính dòng Hoàng Đế, tức là Thiên tử. Các truyền thuyền cũng chép Thục chủ là con cháu của Hoàng Đế họ Hùng.

Dấu tích của sự kiện lập Thiên hạ, đặt ra trăm quan, phân chia trăm họ thời kỳ này không chỉ có cột đá thề trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh, mà còn là những chiếc nha chương (những thẻ lệnh bằng ngọc) có niên đại thời Ân Thương được phát hiện tại Phùng Nguyên và Xóm Rền ở Phú Thọ. Những chiếc nha chương quyền uy này nay đã được công nhận là bảo vật quốc gia, khẳng định tính chất lịch sử của sự hình thành chế độ nhà nước phong kiến vào cuối thời Ân, sang thời Chu Văn Lang.

Việc hình thành các dòng họ qua phong tước thế tập còn lưu truyền ở vùng Đan Nê (Thanh Hóa), nơi có đền Đồng Cổ thờ thần trống đồng. Tại đây còn lưu được một vế đối đặc biệt về việc 3 dòng họ Trịnh, Lưu, Hà đã kiến lập đất đai dưới thời Hùng Quốc Vương:
Vật lưu Bách Việt tổ
Kiến ấp Trịnh, Lưu, Hà. 
Trống đồng là vật phẩm được dùng khi phong tước kiến địa nên nó gắn liền với việc hình thành các dòng họ.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể rằng, trăm người con trai khi đã trưởng thành, nhưng trong triều không có ai có thể phân biệt được trưởng thứ và tên gọi. Hiền Vương lập đàn cầu trời thì có một vị Tiên ông xuất hiện, cầm gậy trúc, rửa chân trên bàn đá ở cạnh chùa Hoa Long bên bến sông Việt Trì. Vua cho mời Tiên ông vào hỏi chuyện và nhờ giúp cho việc đặt tên trăm người con trai. “Tiên ông lấy bút viết ra, đặt trăm tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc âu vàng, phân định thứ bậc anh em. Trăm hoàng tử đến hội ở chính điện, mà nhận chữ đề tên, trong tên có cùng một tiếng. Một người là con trưởng, theo như lời định được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước âu vàng nhận danh hiệu được ban”.

Việc phân định trưởng thứ cũng tương tự như truyện Lang Liêu, tức là chọn ra người nối ngôi. Còn những người anh em khác thì được phân phong làm bách vương ở các nước chư hầu. Việc đặt tên cho trăm người con trai chính là việc đặt ra trăm họ người Việt bởi mỗi cái tên phong đó được cha truyền con nối, là họ của các quý tộc dòng dõi Hùng Vương. Chiếc Âu vàng ghi tên bách vương trăm họ đã trở thành biểu tượng của đất nước như trong câu thơ của vua Trần Nhân Tông: Non sông ngàn thủa vững âu vàng.

Nha chương thời Ân – bảo vật quốc gia ở Phú Thọ.
Khu vực đền Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hóa.
Một chiếc âu có đúc chữ đề tên các vị vua thời kỳ Văn Lang.

Thần tích trang Bất Phí, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Ngọc phả cổ chép về hai vị đại vương khai quốc công thần triều Hùng có nhiều công lao, đáng tôn tước thần, đáng phong linh ứng

Sơn thần Chi Cấn. Bản chính bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ ứng đồ hơn hai ngàn năm, mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế mạnh phục các chư phiên. Nối tiếp ngôi báu cơ đồ to lớn. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giữ dòng dõi bền vững như bàn đá. Hiển linh ở núi Nghĩa Lĩnh. Phàm là những vị công thần giúp nước có nhiều công lao, những người trung nghĩa với triều đình và đất nước, thì tuy hóa mất nhưng dấu tích vẫn còn, tên tuổi còn với núi sông, sự nghiệp gắn với năm tháng mãi mãi trường tồn.

Lại nói, các đời trước truyền đến Kinh Dương Vương lấy người con gái Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Long Quân có tư chất phi thường, vốn có khí tượng của bậc đế vương. Khi ấy có người con gái của Đế Lai là Âu Cơ về ở tại quê mẹ tại động Lăng Sương, ra chơi ở Trường Sa. Long Quân gặp được, rất yêu mến nhan sắc đó nên cưới về, lập làm Hoàng thái hậu. Đến khi Kinh Dương Vương tuổi đã cao, Long Quân nhận nối ngôi vua, đổi tên là Hiền Đặc. Âu Cơ qua hai năm sau có mang, được đủ qua ba năm ba mươi ngày mới đến kỳ mãn nguyệt, sinh hạ một bầu, nở ra trăm trứng, thành điềm trăm trai (tức là năm Giáp Dần giờ Dần ngày mùng 6 tháng Giêng thì sinh). Đang lúc sinh bỗng thấy trên trờ có mây lành năm sắc rực rỡ, khí tốt huy hoàng, không phải như người thường sinh ra. Trải qua trăm ngày, trăm người con trai đều có diện mạo đường đường, vẻ uy lẫm liệt, hàm hổ dáng rồng, thân hình cao lớn, thực là những người con trai khác lạ, dị thường. Đến khi trưởng thành khí chất thông minh, tài cao mưu dũng, hô mưa gọi gió, vượt núi qua sông, biến hổ hiện rồng, ra thần vào thánh, biến hóa vô cùng.

Khi ấy Long Quân cho đặt tên gọi. Mới đặt tên người con trai thứ ba là Uy công, người con trai thứ tư là Tuấn công. Còn lại 98 người con trai khác được ghi ở tích riêng. Đặt tên xong Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là loài tiên. Tuy là cùng thân thiết nhưng nước lửa tương khắc, nhân đó mà chia biệt.

Chia tước hầu mà lập các nước chư hầu, lập làm trăm vương, cải thành trăm họ, lệnh trấn giữ các đầu núi góc biển, hùng cứ ở các phương mà trị nước. Bèn đặt 50 người con theo cha về biển là Thủy thần. 50 người con theo mẹ đặt là Sơn thần. Là tổ của Bách Việt vậy.

Lại nói, vào thời Hùng Vương trị vì thiên hạ thái bình, dân giàu vật khỏe, đương thời đều gọi là thịnh trị vậy. Khi ấy vua Ân thấy nước Nam không vào chầu làm lễ nên tự dẫn quân giả là đi tuần thú, muốn đến đánh chiếm. Hùng Vương nghe tin liện triệu gấp các vị sơn thần, thủy thần về triều đình để giúp nước. Khi đó chỉ có hai ông theo cùng với Đổng Thiên Vương tiến quân, cưỡi ngựa sắt thẳng đến đất Chu Sơn huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh), lập trận chia các đồn để đánh quân Ân. Lúc ấy hai ông mới chia nhau lập đồn trại ở tại địa giới trang Bất Phí. Tuấn công lập đồn ở hướng Tây. Uy công lập đồn ở hướng Đông. Đến kỳ định thì bày trận đánh lớn một trận. Quân Ân đều bị phá tan, sợ hãi quay giáo chống cự, chết tại chân núi Chu Sơn.

Khi ấy quan quân đều bái lạy trước mặt, đến xin hàng phục, vì thế mà yên giặc vậy (Đổng Thiên Vương có sự tích ở phả chép riêng). Từ sau khi dẹp được quân Ân hai ông tiến quân trở về triều đình, bái yết trước vua. Hai ông sau đề quay về núi mà hóa mất (tức ngày 12 tháng Tám ở đất núi Ngọc Chúc).

Từ sau khi hóa mất trời đất mù mịt, mưa gió lớn nổi lên, mây mù che phủ ở nơi ấy. Nhân dân thấy vậy bèn làm biểu tâu lên nhà vua. Vua nghe vậy, rất thương tiếc công thần có công với nước, bèn ban tặng cho là họ Cao, lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ về tại nơi cung đồn trang ấp, truyền nhân dân sửa sang lập hai ngôi đền thiêng tại hai cung nơi đồn sở đó để phụng thờ. Lại ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 70 quan để tiền chung, dùng làm quốc tế xuân thu, phong thêm mỹ tự Thượng đẳng Tối linh thần, vạn năm hưởng lộc cùng với đất nước, mãi mãi là quy thức không đổi. Thịnh thay!

Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Hiển hữu, tặng Hưng Phúc Thượng đẳng thần Đại vương.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Phổ quốc, tặng Quý Minh Thượng đẳng thần Đại vương.

Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi cho đền thiêng thứ năm, hương lửa phụng thờ.

Lại nói, đến về sau qua các đời đế vương đến khi triều Lý Thái Tổ làm vua. Bỗng có Chiêm Thành dẫn quân đến xâm chiến đất nước. Vua mới cất giá dẫn quân đi dẹp giặc Chiêm. Bỗng thấy khi qua địa giới của trang thì trời đã xế chiều, bóng dương đã ngả. Vua bèn cho lập đồn đóng quân ở đất đó. Đến nửa đêm vua bỗng nhìn xa thấy ở hướng Đông và hướng Tây có hai khối lửa đỏ

Hình dáng như đèn lồng bay thẳng đến trước mặt. Vua thấy thế cho là lạ liền gọi nhân dân trong trang đến hỏi:

  • Ở phía Đông và Tây có đền thần linh thiêng nào không mà thấy có điềm kỳ lạ như vậy?

Nhân dân, phụ lão tâu lại rõ ràng mọi chuyện trước sau. Nên vua liền truyền cho nhân dân làm lễ chay giới vào trong đền mà cầu khấn. Đang lúc tế khấn bỗng thấy trời đất có mưa to gió lớn nổi lên, bạt cây tung cát, sấm sét vang rền. Vua thấy linh ứng như vậy nên đích thân đến tế chúc rằng:

  • Nay nước gia có việc giặc Chiêm đến xâm phạm. Ta đích thân đi đánh giặc, lập đồn đóng quân ở đây, làm lễ tự mình cầu đảo trời đất thần linh cùng đến tương trợ, cho giúp được lực âm phù vậy.

Khấn xong bỗng thấy trời đất sáng tạnh, mưa gió yên lặng. Vua bèn làm lễ tạ rồi trở về nơi đồn quân. Đến cuối canh ba vua bàng hoàng nằm mộng thấy có hai vị thần nhân, áo mũ rực rỡ, tay cầm thẻ ngọc, tiếp đến đứng ở hai bên. Vua bèn hỏi rằng:

  • Các vị ở đâu mà đến đứng ở đây?

Hai thần nhân cùng tâu rằng:

  • Chúng tôi đều là anh em của tản Viên Sơn triều Hùng, em thứ ba và thứ tư. Nay Thiên đình giao cho trấn giữ nhân địa phương nơi đất này. Nghe được là Hoàng đế đích thân đi chinh chiến nên đến bái mừng. Xin được ra sức âm phù thánh giúp nước, làm rạng công chuyện của mình.

Tâu xong bỗng thấy hai vị thần nhân bay lên mây mà đi. Đến sáng ngày hôm sau vua tỉnh lại biết là thần ứng mộng. Vua bèn cất quân thẳng đến đồn trại quân Chiêm, đánh một trận lớn. Đang ở trận tiền bỗng mưa gió lớn nổi lên, sấm động vang rền, mây bay mù mịt. Giữa ban ngày mà như đêm. Xuất hiện hai vị thần nhân đứng giữa quân giặc, tay chân múa lên, hô to ba tiếng như sấm rền. Quân giặc thấy vậy đều sợ hãi, bỏ chạy mà được dẹp yên. Đến sau khi dẹp xong giặc vua dẫn quân khải hoàn về triều, liền lệnh cho đình thần mang sắc chỉ về trang truyền cho nhân dân tu sửa đền thiêng phụng thờ. Ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 31 quan để làm lễ quốc tế xuân thu. Truy phong mỹ tự là Thượng thượng Tối linh thần, vạn đời hưởng lộc, hương lửa không ngừng.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Cảm ứng Hiển hữu, tặng tên Hưng Phúc Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Cảm linh Phổ quốc, tặng tên Quý Minh Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.

Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi chính của đền thiêng thứ năm, thờ cúng hương lửa.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc ngày tốt mùa xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Năm thứ ba niên hiệu Vĩnh Hựu ngày tốt mùa đông, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo bản chính trước đây mà sao chép.

Bạn có biết: Âu Cơ là vị vua Hùng đã mở nước Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu

Lạc Long Quân và Âu Cơ ở đền Đoan Bái, Gia Bình, Bắc Ninh

Về việc hình thành nước Văn Lang của các vua Hùng, các thần tích thường kể như sau: Từ triều Hùng Kinh Dương Vương tuân mệnh vua cha phân phong, làm dòng đế vương nước Việt ta. Đất đẹp Hoan Châu xây dựng kinh đô. Hình nơi Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền quốc đến đời sau xưng là  Lạc Long Quân, cưới tiên nữ Động Đình, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh, mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó có mang, đến khi sinh hạ được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai…

Khi ấy Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí âm dương hợp lại mà có con nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống được.

Thế là chia tách nhau, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi sông, ngòi, khe, lạch. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, chia trị các chốn gò đồi, rừng núi. Lập người con cả làm vua...

Lại nói, họ Hùng truyền nối sáu đời thì đến thời Huy Vương. Vua nối tiếp vận tốt hanh thông sáu đời, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên Văn Lang. 

Như thế, kinh đô thời nước Xích Quỷ của Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân gồm Hoan Châu và Nghĩa Lĩnh. Nhưng không biết từ lúc nào truyền đời tới Hùng Huy Vương thì lại đã có nước tên Văn Lang, đóng đô ở Phong Châu.

Hùng Vương Thánh Tổ ngọc phả thì sắp xếp chuyện này thành Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, lập con trưởng là Hùng Quốc Vương, dựng nước Văn Lang, đóng đô ở Việt Trì. Theo đó, người dựng nước Văn Lang, xây thành Phong Châu không phải ai khác mà chính là dòng tiên theo mẹ Âu Cơ, sau khi “thủy hỏa xung khắc” với giống rồng của Lạc Long Quân. Cuộc chia tay lập quốc này không nhẹ nhàng như vẫn nghĩ, mà nó kéo dài cả nghìn năm, từ khi Kinh triều Lạc Thị đánh thắng Thục lần thứ nhất, mở ra thời đại xuống biển của các Lạc Vương, cho tới khi Thục Vương được Sơn Thánh khuyên vua Hùng nhường ngôi mà về Phong Châu lập đô. Trong nhiều sự tích đều nói tới những cuộc chiến Hùng – Thục này, có thể kể tóm tắt như sau.

Khi ấy Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, thừa cơ phát binh từ phương Tây đến tấn công. Sơn Thánh lĩnh mệnh cầm quân, phục kích đánh tan quân Thục ở châu Quỳnh Nhai, khải hoàn trở về. Mấy năm sau, Thục Vương lại phát 5 đạo quân thủy bộ theo các đường châu Quỳnh Nhai Hoàng Tế, Lạng Sơn Văn Giản, Đại Man, Bố Chính Minh Linh, Hoan Châu Hội Thống tiến đánh Hùng Vương. Lần này Sơn Thánh cùng với 2 vị tả hữu kiên thần là Cao Sơn và Quý Minh dẫn quân đánh vào chính binh quân Thục. Sơn Thánh giả ấn của Thục Vương viết thư gửi tướng Thục lệnh án binh cố thủ. Nhân đó Sơn Thánh đem quân đến thẳng kinh đô Thục tập kích, đại phá được cánh quân chính.

Sau trận thắng này, Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ và khuyên Duệ Vương:

  • Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của hoàng đế trước đây. Nay thế nước kém thường cũng là chuyện do tiền định. Vua không nên vì yêu một cõi phương Nam mà đối địch với ý trời vậy, làm hại đến sinh linh.

Duệ Vương nghe theo, nhường ngôi lại cho Thục Vương, còn nhân đó đem tặng cả nỏ thần linh quang làm vật bảo quốc. Thục Vương nhận vị, mới về Nghĩa Lĩnh lập miếu đền thờ Hùng Vương…

Một cách kể khác về cái kết của Hùng Duệ Vương và khởi đầu của Thục Vương như thần tích Hương Lan (Phú Thọ): … Đến lúc lòng Trời có hạn, cơ nhà Hùng kết thúc. Duệ Vương tự vì giàu mạnh mà không tu chính đức, lấy ấn kiếm làm đồ giữ nước, lấy tửu sắc làm nền móng cho việc thủ thành, việc võ bị phế buông. Ngày đêm yến ẩm ở trong cung đình. Thục Vương thừa cơ đến xâm lấn. Tướng sĩ đều cùng tử nạn. Thư từ biên thùy báo gấp mà Vua không nghe. Đến khi quân Thục đã đến gần, Vua còn đang say chưa tỉnh. Tướng sĩ trong nước hàng Thục nên cơ đồ họ Hùng đã hết. Than ôi, không có điều gì để nói về sự này nữa. Bể dâu đổi thay. Thế cuộc xoay vần. Thế này cũng đã không còn như vậy được nữa... Được năm sáu tháng khi Thục Vương lấy được nước, cho xây thành ở Việt Trì, rộng hơn ngàn trượng, cuốn quanh như vỏ ốc, tên gọi là Loa thành.

Về việc chuyển giao triều đại từ Hùng Duệ Vương sang Thục Vương như vậy có 2 cách kể. Một là Hùng Duệ Vương theo lời Tản Viên Sơn Thánh nhường ngôi cho Thục Vương. Hai là Thục Vương sau nhiều lần tấn cống đất của Hùng Duệ Vương đã chiếm được nước rồi dời đô xây thành ở Việt Trì. Cả 2 cách kể… đều đúng, bởi nó kể đến 2 giai đoạn khác nhau của thời đại Hùng Vương. Giai đoạn mà vua Hùng nhường ngôi cho Thục Vương xảy ra vào cuối thời Hùng Vương. Còn giai đoạn mà Thục Vương chiếm đất Phong Châu mới là sự kiện lập quốc Văn Lang. Tóm tắt lại sự kiện Âu Cơ đánh thắng Cao Sơn họ Sùng lập nên nước Văn Lang – Âu Lạc như sau:

Vị vua Hùng đời cuối của dòng theo cha Lạc Long Quân ra biển là vua Trụ nhà Ân Thương. Đế Tân là người có trí lược, dũng mãnh, từng chinh phạt nhiều nơi, nhưng do có tính tình tàn ác, lại chìm đắm trong tửu sắc, giết hại các đại thần nên đã làm cho “Hùng đồ mạt tạo, vận nước cáo chung”.

Tây Bá hầu Cơ Xương là thủ lĩnh đứng đầu các chư hầu miền Tây của nhà Ân. Truyền thuyết Việt gọi là Thục chúa, Bộ chủ Ai Lao. Thục là hướng Tây. Ai Lao là vùng cao nguyên Vân Nam Quý Châu, mà nay vẫn còn dãy núi Ai Lao Sơn ở đó.

Cơ Xương khởi sự không đánh trực tiếp vào kinh đô của Trụ Vương ở An Huy mà đầu tiên đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất phía Bắc xưa của nhà Ân. Vùng này tương ứng với đất Lạc (Lạc = nước là tượng của phương Bắc). Sùng Hầu Hổ trong truyền thuyết Việt được gọi dưới tên Tản Viên Sơn Thánh. Sơn là quẻ Cấn trong Tiên thiên Bát quái, chỉ hướng Bắc. Sùng Hầu Hổ như thế là tiếp nối dòng dõi Lạc Long Quân, có thể gọi là một Lạc Vương ở vùng đất này. Sùng Hầu Hổ được chép thành ra tên của Lạc Long Quân là Sùng Lãm.

Là 2 đại thủ lĩnh 2 miền lớn của thiên hạ nên cuộc chiến giữa Tây Bá hầu Cơ Xương và Bắc Bá hầu Sùng Lãm diễn ra một cách ác liệt, với nhiều binh lính, nhiều trận chiến khó khăn, nhiều mưu mẹo như mô tả việc Sơn Thánh đánh Thục trong các thần tích. Chiến trường chính là mạn ngược giữa Bắc Việt và Vân Nam nên thần tích ghi là các châu Quỳnh Nhai, Đại Man, Mộc Châu… Không ít lần quân của Cơ Xương (Thục chúa) đại bại, thậm chí kinh đô Thục ở Ai Lao (Vân Nam) cũng bị đánh phá. Nhưng cuối cùng, sức người không bằng ý trời, Cơ Xương nhờ có lòng nhân đức, bao dung, đã thu phục được nhân tâm và giành thắng lợi. Truyền thuyết kể là Sơn Thánh đã theo mệnh trời mà khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương.

Tin Cơ Xương chiếm được nước Sùng, làm rung chuyển cả kinh đô Triều Ca của Trụ Vương như Kinh Thư kể. Cơ Xương cho dời đô từ miền Tây về đất Phong Châu, tức là vùng Việt Trì ngày nay. Đây là kinh đô của họ Hùng từ thời mở nước của Đế Minh và hẳn cũng là nơi đóng đô của Sơn Thánh – Sùng Hầu Hổ khi đó. Truyền thuyết kể thành việc Thục Vương xây thành ở Việt Trì, lên núi Nghĩa Lĩnh lập miếu điện thờ cúng Hùng Vương…

Như vậy, tục thờ Hùng Vương đã bắt đầu từ thời nhà Thục cách nay 3.000 năm. Đền miếu ở Nghĩa Lĩnh là nơi thờ các vị Hùng Vương Thánh tổ đầu tiên gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, chứ không phải thờ Hùng Duệ Vương. Vì “Thục Vương cũng là tông phái của Hoàng đế họ Hùng” nên mới thờ những vị Thánh tổ đầu tiên của họ Hùng. Cơ Xương cũng là người mang họ Cơ, là họ của Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên.

Cùng với việc lập miếu thờ Thánh tổ Hùng Vương, Thục Vương Cơ Xương còn chiêu mộ các cựu thần của Hùng Vương (nhà Ân) trước đây. Đối với những người không theo Thục mà trung nghĩa tử tiết, Cơ Xương đều “phong thần”, cho lập miếu thờ tự như những ví dụ ở trên. Chính do có tấm lòng nhân đức này của Cơ Xương mà cơ trời lòng người đã từ Hùng (nhà Ân) sang tay Thục (nhà Chu).

Sự kiện Cơ Xương thu phục được Sùng Hầu Hổ và dời đô về đất Phong, lập nước Âu Lạc, còn được kể trong truyền thuyết Việt với việc Âu Cơ (Cơ Xương) chia tay với Sùng Lãm, về Phong Châu lập ra nước Văn Lang. Văn Lang là gọi theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương. Còn Âu Lạc chỉ việc sát nhập 2 khu vực Âu của Thục Chúa và Lạc của Sơn Thánh.

Nhờ có được nửa thiên hạ 2 miền Tây và Bắc (hướng Nam nay) Trung Hoa mà sau đó con của Cơ Xương là Vũ Vương Cơ Phát đã phát động cuộc chiến quyết tử phá Trụ diệt Ân. Cuộc chiến thần thánh này được sử Việt mô tả trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Cơ Phát được Hùng Vương ngọc phả chép là con trưởng Hùng Quốc Vương, đã lên ngôi thiên tử, tiến hành việc phân chia đất đai trăm họ chư hầu, đặt ra lễ chế trăm quan, phong cho trăm thần, là những tướng lĩnh đã tử trận trong cuộc chiến Hùng – Thục / Ân – Chu kéo dài hàng chục năm. Nước Văn Lang – Âu Lạc trở thành Trung Nguyên của Thiên hạ Trung Hoa, bắt đầu một Hùng triều tiếp theo của dòng họ Hùng, kéo dài hơn 800 năm.

Câu đối ở đền thờ Âu Cơ tại Hiền Lương, Hạ Hòa, Phú Thọ:
Tố Hồng Bàng đế kết dĩ lai, tiên chủng vĩnh truyền lưu quốc tổ
Lịch Tượng Quận triệu tu nhi hậu, nhân quần miên mộ bá Viêm bang.

Nghĩa là:
Nhớ thủa Hồng Bàng gắn kết tới nay, nòi tiên mãi lưu truyền là Quốc tổ
Trải đất Tượng quận dựng sửa sau về, bầy dân luôn ngưỡng mộ khắp Viêm bang.

Trang đầu ngọc phả Hương Lan (Việt Trì, Phú Thọ).

Ngọc phả cổ chép về vị Cao Sơn Hiển Ứng Đại vương là công thần triều Hùng Huy Vương họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Yến Vỹ, tổng Phù Lưu Thượng, phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Bộ Thượng đẳng, thứ Sáu.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng đế ngôi báu trời Nam mở tạo cơ đồ là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng Cổ Việt Thường 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, lập nên cơ đề to lớn của nước Việt. Nước biếc một dòng khởi đầu vận vua sáng thánh đế. Núi xanh vạn dặm dựng nền móng cung điện đô thành. Nuôi vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế lớn trấn áp các chư phiên. Kế nối ngôi báu ở đất Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giúp tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương ngự trị, muôn năm điện thánh núi Hùng, đất tổ trời Nam. Cơ đồ của đất nước mãi giữ muôn năm, vạn thế bền lâu. Lập miếu điện, cung lăng, con cháu dòng dõi hoàng gia tông phái, công thần lớn nhỏ phân đóng ở các nơi, giữ 15 bộ.

Khi ấy Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là chính cung, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là anh hùng trùm đời, trí dũng vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu, lập phiên thuộc. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Ai Lao, tám là Ô Châu, chính là Bố Chính châu, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Dấu tích đều không thể mất. Người đời sau có thơ khen rằng:

Nam thiên triệu tạo lập Hùng gia
Công đối càn khôn triệt hải hà
Thập bộ sơn thần giai đế tử
Diệc đồng miêu duệ thử vương gia.

Lại nói, triều Kinh thứ sáu truyền đến Huy Vương tại vị, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Huy Vương mới lên ngôi trong nước còn thiếu thốn, nên cái đức của vua lấy việc chuyên lo giáo dưỡng nhân dân làm gốc. Việc giao du tửu sắc, mê cảm tin vào thần tiên sao không phải là đức mất nước của hôn quân. Nên chăm lo bồi đức, giúp người, trợ nghèo, dưỡng lão. Đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở xã Vĩnh Thế huyện Siêu Lại phủ Thuận An xứ Kinh Bắc có một vị chủ trưởng một phương, họ Hùng tên Ân (cũng là dòng dõi Hùng Vương, kế nối quan lang, lấy vợ người cùng xã họ Nguyễn tên Liễu, đều là thuộc bộ Sơn thần). Qua được năm năm, loan phượng hòa hợp, sớm có điềm ứng thẻ ngọc. Nàng Liễu từ đó có mang. Đến khoảng tháng Ba một hôm đi đến chùa trên núi Phật Tích, bỗng thấy trên trời có ba đám mây, bên trong sáng rực rỡ. Được một lúc lại thấy có hổ vàng hai tay ôm lấy nàng Liễu chạy thẳng lên núi.

Từ  đó ông Ân nhớ nhung người vợ, buồn bã đi lên đỉnh núi, trong lòng tưởng nhớ, mắt nhìn ngang dọc tìm kiếm. Bỗng nhiên thấy có hổ vàng nằm ở trên gò đất dưới gốc cây to, cây cỏ um tùm. Nơi đó có tiếng người cất lên như tiếng vợ của ông, nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Sơn thần, kết duyên cùng với lang quân làm vợ chồng thật vui mừng. Hình hổ sớm ứng điềm đến lúc phải trở về. Than ôi! Đạo trời như vậy không thể thay đổi. Thiếp xin từ biệt. Nay Thiên đình và Dương gian hai ngả, ơn sâu chưa báo, nhân duyên như vậy tình không nên lời. Nay thiếp đã đến kỳ mang thai, sinh được một người con cốt hổ, cũng là khí chung đúc của thiếp và chàng, xin được đưa về Dương thế cùng với chàng cho chàng được vui lòng, ghi khắc một điều tình thâm với chàng, sao không phải là thứ quý báu của gia đình vậy. Xin chàng hãy biết cho.

Ông Hùng nghe vậy đưa mắt nhìn vào trong thân cây lớn, không thấy có ai, chỉ có một con hổ vàng, lông 5 màu phủ khắp người nằm đó. Ông Hùng cúi đầu đi đến thì hổ biến mất. Ông đến nơi hổ nằm thấy có một bọc bầu lớn. Ông nhớ lại lời vừa nghe được liền hai tay ôm lấy bọc đó cất vào trong tay áo. Lại thấy có một phong thư trên giấy hồng. Ông bèn mở ra xem, thấy có bốn câu rằng:

Phong thư hảo tín giáng nhân gian
Lang quân đắc tự khán sơn thần
Xuất thế dĩ phù an xã? tắc?
Giao hồi nguyện báo dĩ thừa hoan.

Ông xem xong thì biết là người vợ đã ứng hiện, bèn đem bọc bầu trở về. Qua được 3 tháng 25 ngày, hôm đó trời đất tối tăm, sấm chớp rầm rì. Trên sông sóng nước cuộn dâng. Cây lớn trên rừng đều gãy đổ. Ông lấy làm sự lạ mà bọc bầu lớn không thấy nở. Ông bèn dùng gậy đập vào cũng không nứt ra. Ông Hùng ngạc nhiên bèn đặt bọc bầu đó ở nơi ven núi để chờ xem. Qua được khoảng 14 ngày đến giờ Ngọ ngày mùng 6 tháng Ba năm Canh Tuất bọc bầu vỡ nở ra một người con trai, mặt vuông tai to, lưng rộng vai dài, tay dài quá gối, dưới chân có dải lông, sau lưng lại có 28 điểm tinh tú. Vào ngày khi sinh hương thơm bay ngào ngạt. Lại thấy có hổ vàng từ trên núi chạy đến nơi sinh. Lại thấy trăm muôn thú đều đến chầu nơi đó. Bỗng thấy trời đất mờ mịt, mây xanh giăng giăng, mưa gió thổi đến. Được một lúc thì trời đất trong sáng trở lại. Xuất hiện người con trai có tướng mạo đường đường, dáng vẻ lẫm liệt.

Lại nói, ông Hùng lấy làm lạ, quả nhiên trời đã báo phúc. Ngay hôm đó (là mùng 5 tháng Năm) truyền cho gia thần cùng quân lính mổ trâu làm lễ tế trời đất, bách thần. Đang khi khấn tế bỗng thấy có một vị thần tướng cao lớn từ trên trời hạ xuống đàn, đầu đội mũ hoa, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một đôi kiếm báu, đứng tại trong mây mà nói với ông Hùng rằng;

  • Nay Thiên đình cử ta xuống để báo cho ông biết. Vợ chồng ông tích đức thật là đã nhiều năm. Hoàng thiên soi tỏ. Hôm nay ta đem kiếm báu đến giao cho con của Hùng Vương. Đợi đến ngày sau tất sẽ làm được việc giúp nước cứu dân.

Nói chưa dứt lời thì đem kiếm báu, cung thần trao cho ông. Ông đang muốn hỏi thì thần tướng bỗng nhiên biến mất. Ông chợt tỉnh lại, biết quả là Thiên thần xuống báo. Khi đó trong lòng bàng hoàng, sợ hãi, nói với các gia thần binh sĩ rằng:

  • Nay Thiên đình đã cho Sơn thần xuất thế, đầu thai vào làm con nhà ta, không phải người thường trên nhân gian. Chi bằng tìm riêng lấy một nơi đất tốt để nuôi dưỡng tới lớn. Từng nghe nói rằng nơi thắng cảnh trời Nam (tức động Hương Tích) là nơi mà Quan Âm đã xuất thế tại đó, là chốn quần tiên mở hội đánh cờ vây.

Dứt lời bèn truyền gia thần sắm sửa ba mâm cỗ chay cùng hương hoa các đồ (hôm đó là ngày 16 tháng Hai) đi đến xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên làm lễ cúng Phật. Giao phó người con cho vị sư tên là Đạo Quang Hòa thượng. Hòa thượng thấy thể mạo phi thường như sơn thần xuất thế, nên xem như anh em sinh cùng bọc. Khi ấy gia thần cùng nhân dân xây nhà và ở ấp đó để phụng dưỡng. Qua được 5 năm nhà sư cùng với ông Hùng đặt tên cho người con là Hiển Quan.

Đến khi trưởng thành tuổi khoảng 15, khi đi ngoài đường hay lên núi thì trên đỉnh đầu có đám mây che trùm phúc, đều giống như hình chiếc ô mây vậy. Khắp một vùng trong sáng, mây bay mưa rơi, sấm động mây theo. Nhân dân thấy vậy đều sợ phục. Hiển Quan vốn thông minh, thiên tư trí tuệ, văn võ toàn tài, lòng nhân đức to lớn.

Khi ấu do vua có đức không tốt nên Thiên đình giáng tai ương. Thiên hạ hạn hạn lớn, hoa màu khô héo. Nhân dân ốm đau, khắp nơi trong nước đều thiếu thốn. Khi đó Vua bèn ban chiếu mở khoa thi tuyển tìm người hiền lương phương chính, hiếu đễ cùng với văn chương quảng bác, văn võ toàn tài. Hôm đó Hiển Quan đi thi tuyển cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ, người ở vùng biển, cùng đến ứng tuyển. Lúc đó Vua nằm mộng lên trên chốn Thiên đình. Thượng Đế hạ chiếu cho Hiển Quan thuộc Sơn bộ cùng với Đông Hải Quan chính ở Thủy bộ để giúp cho công đức của Vua, để bảo vệ nhân dân.

 Vua nghe vậy mới tỉnh lại thì biết là mộng báo. Đến sớm ngày có hai vị quan đến trước bệ rồng ứng tuyển. Vua thân hỏi xét, thấy tâu đáp trôi chảy, không gì là không hiểu. Vua trong lòng rất vui mừng, nhớ tới điềm báo trong mộng thấy đúng là những người này. Vua bèn nói rằng:

  • Đúng là Sơn thần đã giáng thế để giúp nước cứu dân. Trẫm sẽ cho dựng một đàn trai giới, lệnh cho ông cầu đảo xin trời cho được mưa xuống để tưới cho hoa màu được tươi tốt, cứu nhân dân khỏi đói khát. Nếu quả được như trong giấc mộng của Trẫm thì khanh đúng là vị Sơn thần đó vậy.

Vua bèn cho lập đàn, sai Hiển Quan cầu đảo. Được một lúc thì mưa từ trên trời tuôn rơi, mây mù mù mịt, gió sấm cùng nổi lên. Vua sợ hãi, biết ông đúng là Sơn thần giáng đến để giúp nước. Bèn bái ông là Tư Mã quan, kiêm cả Thủy bộ. Được vài năm thì bái làm Đại tướng quân thống lĩnh cả Thủy đạo và Sơn bộ. Lại cho Yến Vĩ làm ấp thang mộc, lĩnh quản ba vùng Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương, trấn giữ các đầu non góc biển, đều giao cho Hiển Quan nắm giữ.

Qua hơn mười năm. Lại nói, khi đó có Thạch Linh Thần tướng khởi binh phương Bắc đến xâm phạm nước Nam. Chiêng trống động trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn sai sơn thần Hiển Quan dẫn quân đến chống cự ở đạo Sơn Nam. Lại sai Đông Hải Quan dẫn quân đến cự chiến ở miền duyên hải. Ông bèn lĩnh binh tiến thẳng đến Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, lập một đồn doanh ở nơi gò đá hình con rùa (trước có 3 ngọn tam thai, bên trái có dòng nước nhỏ uốn quan, phía sau có 5 ngọn núi nhỏ chầu về chính cung, hai bên đều quay về chầu). Ông nói với nhân dân (tức là ấp thang mộc của ông xã Yến Vĩ) đến làm lễ bái mừng (là ngày mùng 6 tháng Giêng). Khi đó ông đang giữ trận chống giặc ở đất này đã được 3 năm. Ông thường sắp sửa cỗ chay, hương hoa ngũ vị, dâng hương làm lễ ở chùa Thiên Trù, cầu khẩn trời đất, núi sông, tinh tú cùng đến giúp nước, hỗ trợ cho được thành công dụng.

Khấn xong bỗng thấy trên trời vang lên ba tiếng sấm, ánh chớp khắp nơi. Ông bèn dẫn quân ra đánh giặc. Tất cả hơn mười hiệp mà không phân thắng bại. Ông bèn lên ngựa, tay cầm một đôi kiếm báu xông vào đồn chính của giặc. Quân Ân chạy tan tác, không dám xâm phạm nữa. Chỉ có đồn doanh của ông ở huyện (tức huyện Hoài An) đều được yên ninh, nhân dân yên lành. Còn các nơi khác đều nổi loạn. Vua vô cùng lo lắng bèn lập đàn cầu đảo trời đất. Quần thần hội chầu ở đàn ba ngày. Mưa gió nổi lên. Bỗng thấy có một lão nhân cao hơn 10 trượng, râu tóc bạc trắng (tức là Lạc Long Quân hiện xuống), giáng đàn giúp nước. Vua thân ra đón vào, mới hỏi kế sách dẹp giặc. Lão nhân bèn nói:

  • Nếu như cầu được người này thì giặc Ân tất sẽ dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu ở nơi nào?

Lão ông bốc một quẻ bói, hồi lâu mới nói:

  • Hãy đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh hô rằng: Quốc gia gặp nạn, giặc Ân đến xâm chiếm.

Thiết Xung Thần tự nhiên sẽ mở miệng nói với sứ giả rằng:

  • Xin về báo với vua đúc cho một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt. Đem đến đây cho ta. Vua sẽ không phải lo về giặc Ân nữa.

Sứ giả nghe vậy liền vội về triều tâu lại với Vua. Vua rất vui mừng bèn cho đúc ngựa sắt, roi sắt cùng với 10 bộ Sơn thần và 10 bộ Thủy thần. Hôm đó vua bái Hiển Quan là Cao Sơn Đại vương thống lĩnh 16 châu động cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ theo Thần Vương đi dẹp giặc. Ngày đó vua đem ngựa sắt, roi sắt ban cho Thần Vương. Thần Vương (tức Phù Đổng Thiên Vương) liên nhảy lên ngựa. Ngựa chạy như bay. Sai quan quân đi theo sau. Thần Vương mới hô to một tiếng rằng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Chốc lát đã tới chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, cùng với cá bộ sơn thủy đánh một trận. Bỗng thấy trời đất mù mịt, sông núi tinh tú đều sa xuống, thủy phủ đều nổi lên. Thiết Xung Thần Vương đầu tiên bắt sống được Thạch Linh Thần tướng, chém tại chỗ. Hai bộ sơn thủy truy sát quân Ân, hơn năm ngàn các tướng cùng quân sĩ đều tận trừ. Một trận quét sạch. Quân giặc tự được dẹp yên. Thần Vương cưỡi ngựa sắt về thẳng đến núi Sóc huyện Kim Hoa thì bỏ áo, xuống ngựa, theo mây mà bay đi. Nay hiện vẫn còn dấu tích. Vua bèn phong là Phù Đổng Thiên Vương, có sự tích riêng.

Lại nói, Hiển Quan dẹp giặc thanh bình, dẫn quân mã trở về triều phụng chầu. Vua bèn bái là Chưởng nội các quân sự. Qua 6 năm sau khi đó Hiển Quan dập đầu bái tạ trước vua, thỉnh xin được về cung ấp để nghỉ ngơi, không dám tham gia vào quốc sự nữa. Vua bèn ban cho năm trăm nén vàng bạc, một chiếc áo gấm. Lại cho xã Yến Vĩ làm ấp thang mộc. (Hôm đó là mùng 6 tháng Mười) Hiển Quan lĩnh mệnh đường đường trở về cung ấp. Lại nói, khi ấy Hiển Quan ngồi thuyền rồng về đến cung ấp (tức là cung trước đây ở xã Yến Vĩ) bèn mở tiệc mừng. Qua một tháng sau mới nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Dân với ta tất đã thành nghĩa cũ, không phải tình ngày một ngày hai.

Nói xong, nhân dân tâu rằng:

  • Ơn như núi cao biển rộng.

Nhân dân tâu xong, ông lại cho 5 nén vàng. Nhân dân đều nhận mệnh đó. Hiển Quan bèn ngâm một bài thơ luật rằng:

Nhất đường tụ hội hoán tinh thần
Vạn cổ hương yên tại xã dân
Tuy thị tuý trung hoan ẩm ngữ
Tình lưu Yến Vĩ ức niên xuân.

Ngâm xong bỗng thấy trên trời có 7 tiếng sấm rền, trời đất mờ mịt, ban ngày mà như đêm. Lại thấy từ trong thân ông có hổ vàng nhảy ra, bay thẳng lên trời. Hiển Quan biến mất. Binh sĩ và nhân dân làm biểu dâng tấu lên vua (tức giờ Thân ngày mùng 6 tháng Mười một năm Giáp Thìn thì ông hóa). Vua nghe vậy liền sai sứ thần đem sắc chỉ về dân, sửa sang lại cung sở đền thờ. (Tức ngày mùng 6 tháng Giêng) nhân dân đón sắc chỉ về dân làm lễ khánh hạ để phụng thờ. Đáng phong thêm 4 chữ.

– Truy phong Cao Sơn Hộ quốc Tế thế Đại vương, cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Truy phong Cao Sơn Đại thánh Sơn Hổ Đại vương cùng các nơi 72 đền có tích riêng.

Lại nói đến bốn triều Đinh Lê Lý trần khai sáng hồng đồ thường có giúp nước cứu dân anh linh hiển ứng nên các đời đế vương phong thêm mỹ tự, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ, sự tích không thể mất đi.

Phụ khai các ngày sinh hóa cùng các tiết lễ lệ khai như sau:

– Triều Lê phong ba chữ mỹ tự, đáng phong thêm, nhất thiết cấm màu vàng, cùng với các chữ húy nhất thiết cấm là Hổ, Hiển. Phong là Cao Sơn Đại Thánh Sơn Hổ Tế thế Đại vương

– Phong là Cao Sơn Hộ quốc Cứu dân Cương đoạn Thông minh Chính trực Đại vương. Cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày lện chính phong sắc. Lễ dùng lợn gà, xôi rượu, hương hoa các thứ.

– Ngày 16 tháng Hai là ngày khánh hạ chính. Trước làm lỗ cỗ chay mười mâm. Sau làm lễ cỗ trâu, xôi rượu, ca hát ba ngày đêm.

– Ngày 12 tháng Sáu là lệ chính. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, bánh dày các thứ.

– Ngày mùng 6 tháng Ba là ngày lệ chính sinh thần. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu các thứ.

– Ngày mùng 5 tháng Năm là chính lệ xuất chinh. Lễ dùng cỗ tam sinh.

– Ngày mùng 6 tháng tám là ngày quốc tế. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, ca hát đến ngày 15 thì ngừng.

– Ngày mùng 6 tháng Mười một là ngày chính hóa nhật. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, bánh dày, cùng với rượu vàng các thứ.

Hồng Phúc năm đầu ngày 29 tháng Tám, Bệ phẩm Thượng thư kiêm Lễ bộ quan Nguyễn Đăng Huy vâng soạn.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 5 ngày tốt tháng Mười Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, tiểu chức, tuân đúng theo chính bản của tiền triều chính bản vâng chép.