Hội thề trung hiếu Đồng Cổ

Đại Việt sử ký toàn thư đoạn chép về sự lên ngôi của thái tử Phật Mã nhà Lý:
Tháng 3, ngày mồng 1 Bính Thân, nhật thực. Ngày Mậu Tuất, vua [Lý Thái Tổ] băng ở điện Long An. Bề tôi đều đến cung Long Đức xin thái tử vâng di chiếu lên ngôi. Ba vương là Đông Chinh [Lực], Dực Thánh và Vũ Đức nghe tin đều đem quân ở phủ mình vào phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh Vương phục ở trong Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục trong cửa Quảng Phúc, đợi thái tử đến thì đánh úp. Một lát sau, thái tử từ cửa Tường Phù vào, đến điện Càn Nguyên, biết có biến, sai người hầu đóng hết các cửa điện và sai các vệ sĩ trong cung phòng giữ, nhân bảo tả hữu rằng: “Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế, mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”
Nội thị là Lý Nhân Nghĩa nói: “Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sứ bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay ba vương làm phản, thì là anh em hay là kẻ thù? Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua”. Thái tử nói: “Ta lấy làm xấu hổ là Tiên đế mới mất chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau, há chẳng để cho muôn đời chê cười sao?”
Nhân Nghĩa nói: “Thần nghe rằng muốn mưa xa thì phải quên công gần, giữ đạo công thì phải dứt tình riêng, đó là việc Đường Thái Tông và Chu Công Đán bất đắc dĩ phải làm. Nay điện hạ có cho Đường Thái và Chu Công là chăm mưu xa, giữ đạo công chăng? Hay là tham công gần, đắm tình riêng chăng? Điện hạ biết theo dấu cũ của Đường Thái, Chu Công thì đời sau ca tụng công đức còn chưa rỗi, còn rỗi đâu mà chê cười!”.
Nhân Nghĩa lại nói: “Tiên đế cho điện hạ là người hiền, đủ để nối được chí, tài đủ để làm nổi việc, nên đem thiên hạ phó thác cho điện hạ. Nay giặc đến vây bức cửa cung mà ẩn nhẫn như thế, thì đối với sự phó thác của Tiên đế ra sao?” Thái tử im lặng hồi lâu rồi bảo Nhân Nghĩa và bề tôi trong cung là bọn Dương Bình, Quách Thịch, Lý Huyền Sư, Lê Phụng Hiểu rằng: “Ta há lại không biết việc làm của Đường Thái, Chu Công hay sao? Chỉ vì ta muốn che giấu tội ác của ba vương, khiến họ tự ý rút quân chịu tội để được vẹn toàn tình cốt nhục là hơn”
Sự kiện Thái tử Phật Mã dẹp loạn Tam vương khi Lý Thái Tổ mất được ví với việc làm của Đường Thái Tông và Chu Công Đán. Khi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi gặp phải sự biến cửa Huyền Vũ, Trưởng Tôn Vô Kỵ và Uất Trì Kính Đức đã giết hai anh của Lý Thế Dân là Kiến Thành và Nguyên Cát để giữ ngôi vua cho Thế Dân.
Còn chuyện của Chu Công Đán nhà Chu là việc sau khi đánh bại Trụ Vương, Chu Vũ Vương phong cho 3 người em của mình là Quản Thúc, Hoắc Thúc và Sái Thúc các khu vực gần kinh đô Triều Ca của nhà Ân cũ để giám sát hậu duệ nhà Ân là Vũ Canh. Tuy nhiên, khi Vũ Vương mất, con là Thành Vương lên nối ngôi, ba vị “Thúc” (tức là 3 ông chú của Chu Thành Vương) này cùng với Vũ Canh đã làm phản, phao tin là Chu Công có âm mưu cướp ngôi vua. Chu Công lúc này phụ chính đã cất quân Đông chinh dẹp loạn, giết chế Vũ Canh và Quản Thúc, bắt Hoắc Thúc và Sái Thúc đi đày. Nhờ đó giữ vững ngôi vị cho Chu Thành Vương. Đây là việc làm của Chu Công mà được Thái tử Phật Mã nhắc đến trong loạn Tam vương khi Lý Thái Tổ mất.
Cũng Đại Việt sử ký toàn thư chép về Lý Thái Tông:
Phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề. Trước đây, một hôm trước khi ba vương làm phản, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, phải mau đem quân dẹp ngay. Tỉnh dậy liền sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm. Đến đây xuống chiếu giao cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu thành Đại La sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy, đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Các quan từ cửa đông đi vào, đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ, chuyển sang mồng 4 tháng 4.
Khi liên kết 2 đoạn ghi chép trên về sự kiện dẹp loạn Tam Vương của Lý Thái Tông thì chợt nhận ra ý nghĩa của thần Đồng Cổ và hội thề trung hiếu Thăng Long. Thần Đồng Cổ hay thần Trống đồng không phải ai khác chính là Chu Công Đán, người được nhắc đến ở đoạn trích trên. Người đã báo mộng cho Thái tử Phật Mã là Chu Công. Ý nghĩa thực ở đây là Lý Thái Tông muốn ra tay hành động nhưng sợ mang tiếng huynh đệ tương tàn. Vì thế mới lấy gương của Chu Công và sau đó noi theo đó mà lập hội thề trung hiếu để thuyết minh cho hành động này:
Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết“.
Trong cuốn Di huấn vua Hùng mới đây của tác giả Nguyễn Thiếu Dũng có nhận xét khá hợp lý rằng ngày lập hội thề trung hiếu là ngày mồng 4 tháng 4, ứng với quẻ Thuần Chấn trong Kinh Dịch. Quẻ Chấn có tượng là sấm hay trống nên dùng chỉ thần Đồng Cổ.
Hào ngũ của quẻ Chấn viết: Chấn vãng lai lệ, ức vô táng, hữu sự. Tức là: nghe tiếng sấm đã vội lo, biết lo trước thì tránh được mất mát thiệt hại. Ý hào này tương ứng với từ “đánh động”, nói đến sự cần thiết phải đề phòng, nhằm giảm thiệt hại. Tiếng trống đồng của Chu Công chính đã “đánh động” Thái tử Phật Mã đề phòng và ra tay kịp thời khi lên ngôi.

Cong den Dong Co

Cổng đá đền Đồng Cổ ở Đan Nê (Khả Lao), Thanh Hóa.

Thần Đồng Cổ gốc ở núi Khả Lao bên bờ sông Mã ở Thanh Hóa. Vậy tại sao Chu Công – thần Đồng Cổ lại ở sông Mã?
Con sông Mã là con sông chảy từ Lào đổ ra biển ở Thanh Hóa Việt Nam. Lưu vực sông Mã là nước Lỗ thời Chu. Lỗ biến âm thành Lào. Chu Công đươc phong ở nước Lỗ nên đền thờ Chu Công nằm ở sông Mã là hoàn toàn có căn cứ.
Thanh Hóa cũng là nơi tìm được chiếc trống đồng đầu tiên nổi tiếng mang tên Đông Sơn. Chu Công là người đã chế ra trống đồng nên được người Việt tôn thờ làm thần Đồng Cổ. Lưu vực sông Mã, gồm cả đất Lào là khu vực tìm được nhiều các trống đồng và tới nay vẫn còn tập tục sử dụng trống đồng.
Tên núi Khả Lao tức là Cả Lào, chỉ Chu Công, người được phong ở đất Lào – Lỗ. Chu Công trong sử Việt còn được gọi là Cao Lỗ, cũng cùng một nghĩa với Cả Lào – Khả Lao.

Den Dong Co

Chính điện đền Đồng Cổ ở Khả Lao, Thanh Hóa.

Câu đối đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê (Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa):
Thiên vi anh địa vi linh, tất Mã giang Tây thanh miếu cổ
Thần đương trung tử đương hiếu, Thăng Long thành Bắc thệ đàn cao.
Dịch:
Trời gây tài, đất kết thiêng, sông Mã dải Tây trong miếu cổ
Tôi giữ trung, con đảm hiếu, Thăng Long thành Bắc đàn thề cao.

Bia Dong Co

Mảnh bia đá ở đền Đồng Cổ tại Đan Nê, Thanh Hóa.

Đền Đồng Cổ ở Thăng Long nơi diễn ra hội thề trung hiếu thời Lý nay ở tại đường Thụy Khuê, Hà Nội. Đặc biệt đền này nằm ngay cạnh đền Voi Phục, nơi thờ Linh Lang đại vương, vị thần trấn Tây của Thăng Long. Trong các bài trước đã xác định Linh Lang đại vương cũng chính là Chu Công, đã dùng ngọn cờ chính nghĩa (trung hiếu) để dẹp phản loạn Vĩnh Trinh – loạn Tam giám và Vũ Canh ở vùng đất Trịnh (Hà Nam, Trung Quốc) thời đầu nhà Chu.

IMG_5098

Đền Đồng Cổ ở Thụy Khuê, Hà Nội.

Hội thề trung hiếu Đồng Cổ là một xác tích rằng thần Trống đồng chính là Chu Công Cơ Đán, vị trung thần hiếu nghĩa, công thần lập quốc của nhà Chu, người đã đúc kết những tinh hoa của Dịch học lên mặt trống đồng Việt.

Các hình tượng rồng trên đồ đồng Thương Chu

Tóm tắt các hình tượng con của rồng trên đồ đồng Thương Chu.

Bi hi

1. Bí hí hay Bá hạ nghĩa là gắng sức đỡ từ bên dưới, chỉ hình con rùa.

Phu hi

2. Phụ hí là con vật gánh, vác phía trên.

Thao thiet

3. Thao thiết là mặt sắt hay rắn mặt. Ý nghĩa thần quyền.

Tieu do

4. Tiêu đồ hay Phô thủ là đầu nhô ra. Chỉ đầu hình thú ngậm vòng.

Be ngan

5. Bệ ngạn là con hổ giữ ngục hay ở chốn công đường.

Kim nghe

6. Kim nghê là hổ kim loại, thích lửa trên nắp đồ đựng nóng và lư hương.

Bo lao

7. Bồ lao là con vật hiến tế, kêu to khi bị giết, dùng trên chuông.

 

Nhai ti

8. Nhai tí là trợn mắt, biểu thị sự uy mãnh trên vũ khí.

Si van

9. Si vẫn hay Ly thủ là đầu thú ở chỗ mép ly hợp tiếp giáp.

Trao phong

10. Trào phong là đón gió, chỉ cả con thú đứng chỗ cao ngẩng đầu.

Cong phuc 2

11. Công phúc là loại rắn dẫn nước.

10 đứa con của rồng trong văn hóa Hoa Việt

Truyền thuyết “Long sinh cửu tử” xuất hiện dưới thời Tống – Minh đã tập hợp lại một số hình tượng thú giống rồng có vai trò trang trí trong kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật truyền thống như thao thiết, bồ lao, nhai tí, bí hí, si vẫn,… Số lượng những đứa con rồng theo các tài liệu khác nhau lên tới hơn 10 loại. Những hình tượng này có vai trò khá quan trọng trong văn hóa truyền thống vì chúng làm nên nét riêng biệt của các di tích đền đài và các đồ vật thờ liên quan.
Tuy nhiên, câu hỏi về nguồn gốc nguyên mẫu ban đầu và ý nghĩa sơ khởi của những biểu tượng các đứa con của rồng là gì thì hiện vẫn chưa được giải đáp thỏa đáng. Những khảo sát gần đây của các học giả Việt Nam mới dừng lại ở các văn vật từ thời Đinh Lý, chưa đủ để trả lời cho câu hỏi này. Truy nguyên nguồn gốc các đứa con của rồng phải lùi xa hơn nữa, vào lúc và ở nơi mà hình tượng rồng ban đầu xuất hiện thì mới có thể biết những đứa con của rồng được “sinh ra” và “lớn lên” như thế nào. Đồng thời qua đó cũng có thể hiểu được vai trò của văn hóa Việt Nam trong việc hình thành các hình tượng này.
Hình tượng Rồng trong văn hóa Trung Hoa xuất hiện khá sớm, ngay từ thời kỳ đồ đá mới đã có hình rồng bằng đá ngọc trong văn hóa Hồng Sơn hay trên tông ngọc của văn hóa Lương Chử. Sang tới thời Thương, thiên hạ Trung Hoa bước vào giai đoạn đồ đồng thì con rồng trở thành biểu tượng hoa văn mỹ thuật rất phổ biến trên các vật dụng. Trên hầu hết các đồ đồng thời kỳ này đều có thể bắt gặp hình rồng với những biến thể khác nhau, rất đa dạng. Đồ đồng Trung Hoa đạt đỉnh cao rực rỡ vào thời Thương Chu, tương ứng thời gian với văn hóa trống đồng Đông Sơn, một nền văn hóa cũng không kém phần huy hoàng ở phía Nam.
Trong truyền thuyết Việt thì sự phát triển của hình tượng Rồng được thể hiện qua Truyện Họ Hồng Bàng. Dòng dõi theo cha Rồng Lạc Long Quân đi xuống biển về phía Đông Nam xưa, tức là Đông Bắc nay, hình thành nên khu vực văn hóa khảo cổ Ân Thương. Dòng theo mẹ đi lên núi về phía Tây Bắc được nhấn mạnh hơn với các hình tượng chim hạc và hươu (Hà và Lạc) trên trống đồng Đông Sơn, chính là văn hóa Chu. Trên thực tế, có thể gặp những hiện vật giao thoa giữa cả 2 dòng văn hóa cha Rồng mẹ Tiên này như hình tượng giao long trong văn hóa Đông Sơn hay chim hạc trên đồ đồng Thương.
Ở Việt Nam tồn tại cả 2 dòng đồ đồng nói trên. Dòng đồ đồng Đông Sơn có mặt ở nước ta thì đã rõ. Còn dòng đồ đồng Thương Chu thường được gọi là đồ đồng Hán, cho dù niên đại của những đồ đồng này có trước thời Hán.
Nghệ thuật thời Thương Chu cũng như Đông Sơn mang tính chất biểu tượng cao. Giai đoạn càng cổ xưa thì tính biểu tượng lại càng cao. Tới cuối thời Chu các hoa văn, hình trang trí trên đồ vật bắt đầu dần trở nên “tả thực” hơn. Sang thời Hán đồ đồng làm dưới dạng các tượng người, thú giống như thật. Cũng chính vì tính biểu tượng cao này mà đồ đồng cổ Thương Chu đóng vai trò nguồn gốc cho các hình tượng văn hóa sau này của phương Đông.
Hình tượng Rồng trong văn hóa phương Đông đạt đỉnh cao đầu tiên là trên các đồ đồng thời Thương Chu – Đông Sơn. Do đó đây cũng là lúc mà “rồng sinh con”, hay là lúc hình thành các biến thể của hình tượng rồng, phù hợp và đáp ứng các yêu cầu khác nhau của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng. Vì vậy, muốn tìm nguồn gốc những đứa con của rồng cần khảo sát hình tượng rồng trong các đồ đồng của thời kỳ này.
Ý nghĩa và nguồn gốc của những hình tượng thường được thể hiện qua ngay tên gọi. Nên việc tìm hiểu các hình tượng con của rồng cần đi sâu phân tích tên gọi của chúng. Nhiều khi tên gọi đọc lên nghe tưởng là tiếng Hán, tên chữ lạ hoắc, nhưng thực ra đó chỉ là cách ghi âm tiếng Nôm mà thôi, vì thực tế các hình tượng này là hình tượng của văn hóa Việt (Bách Việt). Áp dụng “Nôm na pháp” giúp cung cấp thêm thông tin xác thực về ý nghĩa và nguồn gốc của các hình tượng con của rồng.

1. Bí hí
Bí hí 贔屭 theo nghĩa của chữ là “gắng sức làm”. Hình tượng này có hình dáng của con rùa, dùng để đỡ các vật nặng. Các tác giả hiện nay liên hệ nó với truyền thuyết Nữ Oa chặt chân con Ngao ngoài biển để chống trời hay so sánh với con rùa vũ trụ trong Ấn Độ giáo. Tuy nhiên, Rùa đội bia hay đội vật nặng trong văn hóa phương Đông không thiếu gì khả năng từ những nguồn gốc khác thuyết phục hơn.
Truyền thuyết Việt cho biết người Việt cổ theo hình dáng của con Rùa mà làm ra nhà sàn với các cột lớn chống đỡ cho ngôi nhà. Vậy biểu tượng rùa mang vật nặng hoàn toàn có thể xuất phát ngay từ khi người Việt biết làm nhà sàn, một loại nhà phổ biển trên toàn cõi Đông Nam Á. Hình ảnh Nữ Oa chống trời cũng chỉ là biểu tượng hóa của cách bắt chước rùa làm nhà sàn, chống mái (trời) bằng cột mà thôi. Người Hán ở vùng sông Hoàng Hà không có “bản quyền” về truyền thuyết này vì họ không hề làm nhà sàn mà chỉ có các loại nhà đắp đất. Đồng thời họ cũng không có các loài rùa lớn hay ba ba. Xuất phát điểm của người Hán ở Thiểm Tây thậm chí không hề giáp biển để mà có con Ngao cho Nữ Oa chặt chân. Con rùa chống vật nặng như vậy vốn xuất phát từ vùng ven biển Đông trong lịch sử tộc Việt.
Trên đồ đồng Thương Chu nét biểu tượng của Rùa – Bí hí nằm ở những cái chân của các đồ vật. Chân đỉnh, chân vạc, chân ấm… của các đồ đồng thời kỳ này đều làm to, ngắn, trông giống như chân voi. Bí hí còn có tên là Bá hạ, có thể cùng nghĩa là chống đỡ từ phía dưới. Vậy là có thể thấy chân Rùa hay yếu tố Bí hí trong các đồ đồng cổ bởi người Việt đã theo hình con rùa mà làm nhà, làm chân cột chống đỡ các đồ vật.

IMG_5465
Phần chân của chiếc hủy quang tê giác thời Tây Chu.

Con Rùa còn liên quan trực tiếp tới văn chương chữ nghĩa qua một số truyền thuyết. Đó là việc Việt Thường cống vua Ðường Nghiêu rùa thần nghìn tuổi, rộng hơn 3 thước, trên lưng có chữ khoa đẩu, chép việc từ lúc khai thiên lập địa đến nay. Vua Nghiêu sai chép lấy, gọi là lịch rùa. Rồi từ trên lưng con rùa thần mà Đại Vũ đã ghi lại Lạc thư. Hay Phục Hy chép Bát quái cũng từ lưng rùa. Hiển hiện hơn, loại chữ cổ xưa của Trung Hoa từng được phát hiện cũng là chữ viết trên mu rùa, gọi là chữ Giáp cốt. Chính vì những sự tích này mà con Rùa mới gắn với chữ nghĩa, mới đội văn bia nơi đền miếu.
Cái tên gọi Bí hí như vậy chỉ nên dùng để chỉ Rùa khi nó đội các vật nặng (tháp, công trình kiến trúc), hoặc chỉ các chân đỡ giống như chân Rùa. Những con rùa đội bia nên vẫn gọi là Rùa thì hơn vì nó không có tính chất “gắng sức làm” của từ bí hí mà mang tính chở văn chương.

2. Thao thiết
Xuất hiện sớm nhất trong số các đứa con của rồng trên văn vật cổ là hình tượng Thao thiết. Chữ ghi âm này hiện dùng là 饕餮, gắn với bộ thực 食 là ăn uống. Tuy nhiên hình tượng Thao thiết ban đầu không phải chỉ xuất hiện trên các đồ đựng thức ăn. Nó xuất hiện đầu tiên trên tông ngọc của văn hóa Lương Chử dưới dạng một bộ mặt có mắt, mũi to, miệng rộng. Sau đó Thao thiết phát triển gặp phổ biến trên các đồ đồng thời Thương có hình mặt thú mắt to, mũi lớn, có sừng. Thao thiết là bằng chứng trực tiếp cho thấy rằng hình tượng những đứa con của rồng trong truyền thuyết Long sinh cửu tử chính là bắt nguồn từ các hình trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu.

download (1)Ống tông có mặt Thao thiết của văn hóa Lương Chử.

8b434-lich20ba20cu
Lịch đồng thời Tây Chu với hình Thao thiết ở 3 mặt.

Tông ngọc cũng như các đồ đồng đỉnh, lịch, bình rượu,… thời Thương có mục đích sử dụng chính không phải để đựng thức ăn mà là đồ tế khí. Vì vậy bộ mặt Thao thiết thực chất ban đầu mang nghĩa thần quyền, tạo cảm giác kỳ bí cho hiện vật. Về sau Thao thiết thể hiện tính uy nghiêm, sự cứng rắn của vương quyền.
Thao thiết còn gọi là Thú diện văn. Gốc của từ này đơn giản có thể là dạng tiếng Việt “đầu cứng”, thể hiện trong các thành ngữ “mặt sắt đen sì” hay “rắn mặt”. Thao là biến âm của từ Đầu. Thiết là cứng, là kim loại.
Thao thiết thường có hình dạng một mặt thú, có sừng như sừng trâu. Vị thần đầu trâu trong văn hóa phương Đông là Viêm Đế Thần Nông. Cũng vị thần này đã dạy dân trồng lúa, có cái ăn cái mặc. Có thể vì vậy mà chữ Thao thiết được viết với bộ thực 食 (lương thực). Thao thiết như thế là biểu tượng của Thần Nông hay của sự no đủ.

IMG_1879Ấm đồng thời Tây Chu trang trí toàn bằng Thao thiết ở cả phần thân và nắp.

3. Tiêu đồ
Tiêu đồ 椒啚 thường có hình mặt thú, nhưng kích thước nhỏ hơn Thao thiết (trong tương quan so với đồ vật có hình tượng này). Đặc điểm nữa là Tiêu đồ có ngậm vòng hay tay nắm với ý nghĩa đóng kín, nắm chắc, khác với Thao thiết có miệng mở rộng.
Tiêu đồ còn có tên là Phô thủ. Phân tích có thể thấy, cả 2 tên này đều cùng một nghĩa. Tiêu tương đương với Phô, nghĩa là nhô lên, nhô ra. Đồ là âm đọc khác của Đầu. Như thế hiểu đơn giản đây là hình cái đầu thú nhô ra. Truyền thuyết kể Tiêu đồ là loài trai ốc. Điều đó có nghĩa là hình Tiêu đồ không có thân, chỉ có đầu nhô ra.
Hình đầu thú nhỏ ngậm vòng hay ngậm tay cầm gặp nhiều trên đồ đồng Thương Chu. Ví dụ trên các chiếc bình có vòng bên hông. Hay thậm chí ở quai các chiếc tước đồng có hình đầu thú ngậm quai cũng có thể coi là tiền thân của biểu tượng Tiêu đồ.

IMG_7247 (2)Hình đầu thú ngậm vòng trên chiếc bình thời đầu Chiến Quốc (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

IMG_5408
Tay cầm chiếc tước thời Thương có hình đầu thú.

Hình Tiêu đồ tương tự còn gặp cả trên các đồ đồng Đông Sơn, như trên thố đồng hay tay nắm cửa.

P1170134Tay nắm hình mặt thú (Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng lịch sử).

P1170135Thố đồng Đông Sơn có hình mặt thú ngậm vòng (Ảnh chụp hiện vật của Bảo tàng lịch sử).

4. Kim nghê
Cho dù cụm từ Toan nghê 狻猊 tiếng Hán dịch là sư tử nhưng chắc chắn nguồn gốc Kim nghê không phải lấy nguyên mẫu của sư tử vì phạm vi phương Đông chưa bao giờ có sư tử sinh sống. Kim nghê lại càng không bao giờ đi đỡ tượng hay làm thú cưỡi cho Phật.
Hình tượng một con vật như loài thú móng vuốt trên nắp đồ vật thực ra đã gặp từ thời Chiến Quốc. Như trên nắp một chiếc liễn đồng thời này, hình dáng hoàn toàn giống Kim nghê ngày nay.

IMG_7255Phủ đựng thức ăn thời Xuân Thu (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

Hay một hình ảnh khác là như trên chiếc nồi hổ ba chân cũng khoảng thời Chiến Quốc. Chức năng của nó là làm tay cầm cho phần nắp (vung nồi).

IMG_1473

Như vậy ban đầu Kim nghê vốn là hình con hổ trên nắp các đồ dùng. Vì Hổ cũng là Hỏa, là lửa, nên Kim nghê dùng biểu trưng cho các vật nóng, sau thành ra loại thích khói lửa để trên nắp các lư hương hay chỗ hóa vàng.
Cần phân biệt hình tượng Kim nghê (nghê trên đồ kim loại) với con Nghê chầu ở các di tích thờ cúng, thường bằng gỗ, đá, sành sứ. Con Nghê ở các di tích mang ý nghĩa là con vật đứng chầu ngay ngắn (ngô – nghê – ngay, thực ra đều là tiếng Việt cả), nghiêm trang. Do đó có rất nhiều loại Nghê khác nhau cùng chức năng đứng chầu từ nghê chó, nghê rồng, nghê sư tử, nghê kỳ lân, đến cả nghê cá.

5. Bồ lao
Bồ lao 蒲牢 là biểu tượng có hình rồng hai đầu, thường dùng làm quai treo chuông. Theo truyền thuyết thì đó là một loài thú hoặc chim ở biển, khi gặp cá kình thì kêu rất to. Chi tiết loài Bồ lao sống ở biển cũng đủ thấy đây là hình tượng của văn hóa Bách Việt vì địa bàn của Hán tộc vốn không giáp biển. Chưa kể một vài tài liệu nói Bồ lao ở biển Nam Hải hay biển Đông. Biển Đông thì chỉ có thể là ở giáp vùng đất Việt ngày nay.
Chữ Lao nghĩa là vật hiến tế. Chữ Bồ không có nghĩa, có thể đơn giản là từ chỉ định “con”, “cái”. Bồ lao hiểu nghĩa đen là con vật dùng để hiến tế. Có thể con vật hiến tế cho thủy thần (cá kình) xưa khi bị giết hay bị ném xuống nước kêu rất to. Người ta mới lấy đó làm truyền tích cho hình tượng Bồ lao.
Hình tượng rồng 2 đầu hay 2 con rồng đấu đuôi vào nhau gặp trên các não bạt, bác (dạng chuông nhỏ) từ thời Chiến Quốc. Những con rồng này được thể hiện với phần miệng đang há to như đang kêu. Rõ ràng rồng hai đầu trên nhạc khí đồng thời Chiến Quốc là tiền thân của hình tượng Bồ lao trên các chuông đồng sau này.

hien_vat 8_kienthuc_cxeoChuông đồng thời Xuân Thu (Ảnh internet).

Bac Son 042
Chuông đồng Chiến Quốc có hình rồng đấu đuôi.

6. Nhai tí
Nhai tí hay Nhai xải có chữ là 睚眥. Chữ này nghĩa thường là nhìn một cách khinh bỉ. Hình tượng Nhai tí dùng đúc tạc ở chuôi cán vũ khí.
Hình rồng trên cán vũ khí đã xuất hiện từ thời Chiến Quốc trong cả đồ đồng Thương Chu cũng như đồ Đông Sơn. Ban đầu là cả một cụm rồng nối nhau như trên chuôi kiếm. Cũng có những chiếc qua đồng của thời này với phần chuôi là hình cả con rồng. Như vậy hình tượng Nhai tí cũng có nguồn gốc là trang trí rồng trên vũ khí đồng từ thời Chiến Quốc.

IMG_7244 (2)Qua đồng thời Chiến Quốc (Ảnh chụp theo Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

img_4597-e1508257236855.jpg
Chuôi kiếm có hình hủy long.

7. Si vẫn
Si vẫn 螭吻 còn gọi là Ly đầu hay Ly thủ, nghĩa là đầu con Ly. Hình tượng này dùng trên nóc nhà ở nơi tiếp giáp của mái. Dân gian gọi là con Kìm (ở đỉnh mái) hay con Sô (biến âm của Si) ở góc mái.
Gợi ý về nguồn gốc của Ly đầu là chiếc bình Phỏng Chu Ly thủ phương hồ của vua Minh Mạng làm phỏng theo đồ đồng thời Chu năm 1838. Trên hình mộc bản có thể thấy rõ “Ly thủ” là đầu một loài thú như con hươu, có sừng ở vị trí phía trên nắp của bình.

4
Bản rập Phỏng Chu Ly thủ phương hồ (Ảnh theo Trung tâm lưu trữ quốc gia IV).

Hay thường gặp trên đồ đồng thời Thương như trên dữu (loại bình có nắp và quai) ở chỗ tiếp giáp là hình đầu trâu. Tương tự ở vị trí đó trên các loại đôn vuông hoặc tròn là hình đầu dê với sừng cong, thậm chí cả đầu voi.

duu-e1508257492201.jpg
Dữu đồng đựng rượu thời Thương.

DonĐôn tứ dương thời Thương.

Như thế, nguyên mẫu Ly đầu là hình trang trí đầu thú ở phần tiếp giáp các bộ phận. Có thể chữ Ly này đồng âm với từ ly rời, chỉ chỗ mà các bộ phận có thể tách nhau. Hoặc Ly = lề, chỉ chỗ tiếp giáp. Từ “vẫn” cũng có nghĩa là mép, chỉ nơi tiếp giáp. Không quan trọng hình đầu thú này có ngậm vật hay không. Thời kỳ đầu Thương Chu thể hiện ở vị trí tiếp giáp trên là các loài hươu, dê hay trâu. Về sau hình tượng này được “long hóa” thành ra hình đầu rồng, trong khi tên gọi vẫn là Ly hay Si.

8. Trào phong
Trào phong 嘲風 là biểu tượng hình một con thú dáng như con hổ đang ngẩng đầu (đón gió). Hình tượng này thường đặt trên bờ dải các công trình kiến trúc. Dân gian gọi là con Náp. Xét trên đồ đồng Thương Chu thì hình tượng tạo nổi ở bên hông các vật dụng chính là tiền thân của Trào phong sau này trên các công trình kiến trúc.
Ví dụ trên chiếc bình thời Xuân Thu, một dạng bình tiêu biểu của thời kỳ này có 2 con vật nửa hổ nửa rồng đang ngoảnh đầu ra ngoài. So sánh thì thấy vị trí và hình tượng của nó rất giống với Trào phong trên đền đài. Hoặc trên chiếc bình thời Chiến Quốc có 4 con rồng được tạo bám 4 góc bình. Nhưng hình rồng hổ ở thành bình đồng Thương Chu chính là tiền thân của con Trào phong sau này trên đền đài.
Hình con Náp hay Trào phong phân biệt với con Kìm hay Si vẫn (con Sô) ở chỗ hình này gồm nguyên cả con thú, đầu ngẩng và đặt ở vị trí lưng chừng, chứ không phải vị trí tiếp hợp các bộ phận.

Binh Xuan thuBình thời Xuân Thu.

Binh Chien quoc
Bình thời Chiến Quốc.

9. Bệ ngạn
Chữ Ngạn trong Bệ ngạn 狴犴 nghĩa là tù ngục. Chữ Bệ có bộ Khuyển, chỉ một loài vật. Loài vật hình như con hổ, hung dữ dùng bày nơi công đường và nhà ngục cũng đã có từ thời Chiến Quốc. Dưới đây là hình một loài hổ cũng tương đối “long hóa” của thời này.

Bac Son 069

10. Công phúc
Công phúc 蚣蝮 là hình tượng được dùng trang trí cầu cống vì tương truyền loài này thích uống nước. Có thể Công là đọc sai của từ Cống. Còn Phúc nghĩa là con rắn. Loài rắn ưa nước gọi là Công phúc.
Rồng uống nước thì cũng có nhiều mô típ trên đồ đồng Thương Chu. Ban đầu là hình rồng có chức năng làm vòi các ấm rượu, như hình rồng trên ấm đồng Tây Chu sau.

IMG_1855

Tới thời Đường rồng hút nước biến thành 2 tay cầm của chiếc bình.

IMG_1435

Thêm một hình tượng nữa là Phụ hí. Chữ phụ 負 có nghĩa là vác, cõng. Chữ hí 屭 có lẽ cũng như trong tên Bí hí, chỉ việc nặng. Phụ hí là hình tượng sử dụng trên các bia, mộ, được dùng thành cặp đôi. Hình dáng hoàn toàn giống rồng. Tiền thân của Phụ hí trên đồ đồng Thương Chu có thể là hoa văn trang trí các quai vạc, quai đỉnh, thông thường cũng là 2 con rồng đầy đủ. Ví dụ như hoa văn 2 con quỳ long trên quai của chiếc lịch thời Tây Chu sau. Vị trí trang trí này cũng phù hợp với cái tên Phụ hí vì nó mang nghĩa mang vác của tay quai đồ vật.

IMG_7292

Như vậy, các hình tượng con của rồng khác nhau đều có nguyên mẫu từ các hình trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu. Điều này hoàn toàn hợp lý vì đồ đồng Thương Chu là một trong những nấc thang đỉnh cao của nghệ thuật tạo hình và mỹ thuật ứng dụng đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, làm nền tảng cho sự phát triển các biểu tượng nghệ thuật sau này trên các công trình kiến trúc và vật dụng truyền thống. Cho dù tên chữ Nho của những hình tượng này đọc nghe lạ tai nhưng bản chất các hình tượng đó vẫn là văn hóa Bách Việt, là dòng giống của cha Rồng xưa xuống khai phá vùng ven biển Đông Bắc.

Vài điều qua Ngự chế minh văn cổ khí đồ của vua Minh Mạng

Năm 1838 Vua Minh Mạng cho đúc 33 đồ đồng phỏng theo hình dáng đồ vật của các triều đại Thương, Chu tới Hán. Ban đầu gọi là “bác cổ đồ” (tức chế tạo những đồ vật đã xem xét kỹ của thời xưa), sau đó (năm 1839) đổi làm “cổ khí”. Nhà vua đã tự tay viết đề các bài minh văn trên từng “cổ khí” đó. Hình vẽ các cổ khí này và các bài minh văn được các quan đương thời tập hợp lại thành một cuốn sách có tên là Ngự chế minh văn cổ khí đồ. Mộc bản của cuốn sách này cùng các hình vẽ cổ khí nay vẫn còn được lưu ở Trung tâm lưu trữ quốc gia IV tại Đà Lạt. Một số các cổ khí này được giữ và trưng bày tại Bảo tàng lịch sử thành phố Hồ Chí Minh.
33 cổ khí này gồm chủ yếu là các vật đựng như Đỉnh 鼎, Lịch 鬲, Đôn 敦, Quỹ 簋, Tôn 尊, Dữu 卣, Cô 觚, Hòa 盉, Giả 斝, Hồ 壺, Di 彝, Bôi 杯 và Xa 車. Các nhân vật cổ đại có đồ dùng được phỏng theo là gồm:
– Thời Thương có: Phụ Ất, Phụ Kỷ, Phụ Tân, Tổ Mậu, Phụ Phụ Đinh, Hợp Tôn Tổ Đinh. Chữ 父 thời Thương nghĩa chỉ thủ lĩnh (xưa gọi thủ lĩnh là Cha, Bố), nên phải đọc là Phụ chứ không phải Phủ. Các vua nhà Thương lấy thập can làm tên nên có các tên Ất, Kỷ, Tân, Mậu, Đinh. Như Hợp Tôn Tổ Đinh có thể là vua Ân Vũ Đinh và người vợ tên là Phụ Hảo (mộ Phụ Hảo đã được phát hiện ở Ân Khư, Hà Nam).
– Thời Chu có: Văn Vương, Vương Bá, Ung Công Giám, Tử Phụ Cử, Trọng Câu Phụ, Thúc Bang Phụ, Thái Sư Vọng, Kỷ Dậu, Tử Ất. Các vị tiền bối thời nhà Chu ngoài Văn Vương là vua, còn lại có một số anh em của vua (bậc chú bác – Bá, Thúc). Chu Vương Bá có thể là vị bác của Chu Vũ Vương, làm thủ lĩnh nước Ngô (Ngô Thái Bá). Tương tự, Trọng Câu Phụ có thể là Trọng Ung, bác của Chu Vũ Vương, sau kế nghiệp anh là Thái Bá cai quản nước Ngô. Thúc Bang Phụ là người chú vua, có thể chỉ Chu Công, phụ chính cho cháu là Chu Thành Vương. Nói chung đây đều là các công thần lập quốc của nhà Chu, được phân phong ở các nước chư hầu.
Những nhân vật được chọn đều là những vị vua, những danh nhân thời Thương Chu có công trong việc kiến tạo và phát triển Trung Hoa cổ đại. Đây hoàn toàn không phải tư tưởng Nho giáo vì không hề thấy có thờ (phỏng theo) ông tổ Nho học là Khổng Tử.
Một số cổ khí không có tên người mà gọi theo hình dáng và hoa văn như Miệt ngạo (蔑敖 với nghĩa miệt thị – ngạo mạn, có hình mặt thú mắt lớn), Hủy (兕 tê giác), Tượng (象 con voi), Hồ (壺 hình cái bầu rượu), Quỳ long (夔龍 rồng một chân), Bàn quỳ trực văn (蟠夔直文 hình rồng một chân cuộn tròn và hoa văn thẳng), Ngữ (敔hình một loại nhạc cụ)Sơn lôi (山雷 có hoa văn núi và sấm), Lôi văn (雷文 hoa văn sấm chớp), Thao thiết (饕餮 hoa văn mặt thú), Ly thủ phương (螭首方 đầu con Ly, có hình vuông), Giao ly (蛟螭 hình con Giao Ly), Sơn long ôn (山龍溫 bình giữ ấm có hoa văn rồng, núi), Hy thủ (犧首 đầu con Hy – giống như con trâu), Cưu (鳩 chim tu hú).
Những loại đồ vật, hoa văn cùng tên gọi các nhân vật trên hoàn toàn phù hợp, giống với các hiện vật được biết ngày nay về đồ đồng thời Thương Chu. Rõ ràng vua Minh Mạng rất thạo các đồ vật cổ thời Thương Chu và để “phỏng cổ” theo các mẫu vật này chắc chắn nhà vua đã phải có sách hoặc hiện vật của thời đại tương ứng. Đây là một công việc làm mang tính chất “bác học” (“bác cổ”) xem xét tra cứu cẩn thận, chứ không phải tùy hứng. Những sách và những cổ vật Thương Chu đó nhà vua lấy ở đâu ra? Tại sao cổ vật Thương Chu lại được biết rõ vậy ở nước Đại Nam? Nên nhớ rằng thời Minh Mạng còn chưa có ngành “khảo cổ học” ở phương Đông và di chỉ Ân Khư ở Hà Nam, Trung Quốc còn chưa được biết đến.

8b434-lich20ba20cu
Một chiếc lịch thời Tây Chu tìm thấy ở Việt Nam, rất giống với chiếc Miệt ngạo lịch của vua Minh Mạng.

Cổ khí đầu tiên trong số này là chiếc đỉnh phỏng theo đỉnh Sách mệnh thời Thương. Đỉnh Sách mệnh 册命 nhà Thương là chiếc đỉnh làm khi vua Thương (Thành Thang) lên ngôi (sách mệnh = nhận mệnh trời), được lấy làm cổ khí đầu tiên. Ngự chế đề (bản dịch của Trương Sỹ Hùng, Thái Trung Sử): Ta nhận mệnh sáng của trời và của vua cha, ngự trị nước Đại Nam. Noi theo nhân nghĩa để mong được sánh với Ngũ Đế Tam vương. Việc chính trị chưa được cực trị thì lòng ta vẫn cảm thấy hổ thẹn. Con cháu ta phải gần gũi với người hiền, tránh xa kẻ nịnh bợ, chớ có ham mê tửu sắc, để có thể sửa trị được nước nhà, ngôi báu đời đời bền vững.
Ngay trong bài minh đầu tiên vua Minh Mạng đã nhấn mạnh việc làm của mình là muốn sánh cùng thời Tam Hoàng Ngũ Đế của Trung Hoa. Đây hoàn toàn không phải kiểu “chơi trội”, đúc phỏng cổ vật của Tàu để sau này người Tàu có cái mà xem (?!). Việc làm của vua Minh Mạng hoàn toàn có ý thức tự tôn dân tộc rất cao, ý thức được nước Đại Nam là dòng dõi Trung Hoa chính thống, tiếp nối sự nghiệp huy hoàng từ thời Tam Hoàng Ngũ Đế.
Tương tự, trong bài minh của chiếc phỏng Thương Phủ Kỳ đỉnh ngự chế đề: Cổ xưng Tam Đại, truyền chi vĩnh niên, lương pháp thi hiệu, ái dân kính thiên. Dịch nghĩa: Thời cổ ca ngợi thời Tam Đại, truyền tụng đến muôn đời. Noi theo khuôn phép tốt, phải yêu mến dân và tôn kính trời.
Đặc biệt, trên chiếc đỉnh phỏng theo đỉnh của Chu Văn Vương ngự chế đề: Phỏng kỳ khí, pháp kỳ nhân. Bang tuy cựu, mệnh duy tân. Bách thế tử tôn, vạn tải tuân tuần. Dịch nghĩa: Phỏng theo đồ vật ấy, noi theo con người ấy, nước tuy là nước cũ (nhưng) mệnh trời ban cho thì lại mới. Con cháu trăm đời của ta, hãy muôn năm noi theo.
Câu “Bang tuy cựu, mệnh duy tân” lấy ở Văn Vương – Đại NhãChu tuy cựu bang, kỳ mệnh duy tân” của Kinh Thi. Tuy nhiên trong bối cảnh này thì có thể thấy vua Minh Mạng đã cho rằng mình là nối mệnh trời trên đất đai bang quốc xưa của nhà Chu. Bang xưa của nhà Chu, mệnh mới của nhà Nguyễn. Đây là một trong những câu văn chứng tỏ quan điểm của vua Minh Mạng về nguồn gốc của nước Đại Nam nối tiếp nhà Chu Trung Hoa.
Trên chiếc di phỏng Chu với hoa văn “bàn quỳ trực” ngự chế đề: Phỏng cổ khí, tư sở trọng. Tử tử tôn tôn, vĩnh bảo dụng. Dịch nghĩa: Phỏng theo đồ vật xa mà nghĩ đến điều trọng yếu. Con con cháu cháu ta hãy mãi mãi trân trọng giữ gìn mà sử dụng.
Những chữ “tử, tôn, vĩnh, bảo, dụng” là những chữ Kim văn thường gặp trên đồng khí Thương Chu. Ở đây cho thấy vua Minh Mạng là người rất am hiểu các minh văn trên đồ đồng cổ từ thời Thương Chu.

IMG_0881Cửu đỉnh ở trước thế miếu nhà Nguyễn tại Huế.

Cũng vua Minh Mạng là người đã cho đúc Cửu đỉnh nay ở Thế miếu tại thành nội Huế trước khi đúc đồ phỏng cổ ngự chế vài năm (1836). Bài thơ Phỏng cổ chú thành Cửu Đỉnh an thiết vu Thế miếu đình tiền cung nghệ tế cáo lễ thành thi dĩ chí sự do vua đề như sau (theo phiên âm của Nguyễn Huy Khuyến):
Viên dụng cống kim phỏng cổ tiên
Chú thành Cửu Đỉnh trí đình tiền
Tam tài cự tế giai thành tượng
Vạn vật hình dung tận thủ yên
Ký pháp Hạ hoàng tăng thức khuếch
Khởi phương Tống chủ phí đào chân
Nguy nga ngật lập an bàn thái
Tử tử tôn tôn vĩnh bảo truyền.
Dịch thơ:
Đồng cống nay dùng phỏng cổ nhân
Đúc thành chín đỉnh đặt trước sân
Tam tài lớn nhỏ đều nên mẫu
Vạn vật dáng hình chọn hết lần
Theo phép Hạ vương mà phóng đại
Chẳng so Tống chủ phí rèn hun
Sừng sững đứng đây như Bàn Thái
Cháu con mãi giữ báu truyền chân.
Một lần nữa ta lại thấy cụm từ “Tử tử tôn tôn vĩnh bảo”, là cụm từ thường dùng trong kim văn thời Thương Chu. Cũng một lần nữa bài thơ trên nhấn mạnh ý của vua Minh Mạng “noi gương các vị vua Tam đại” như những tiền nhân (cổ tiên) của mình trong việc trị nước an dân.

IMG_7262 (2)Kim văn khắc trên một chiếc liễn đồng thời Tây Chu mang dòng chữ Kỳ vạn niên tử tử tôn tôn vĩnh bảo dụng (ảnh chụp của Bảo tàng cố cung Đài Bắc).

Cửu đỉnh Huế, 33 cổ khí có minh văn ngự chế cùng với miếu Lịch đại tại Huế là những chứng tích rõ ràng về quan niệm của nhà Nguyễn tiếp nối truyền thống Trung Hoa từ Hạ Thương Chu cho nước Đại Nam.

Văn nhân thêm ý:
Theo quan niệm và rõ rệt hơn nữa là lễ chếcổ điển Thiên hạ xưa thì ai nắm Cửu đỉnh người ấy là vua của muôn dân Thiên hạ.
Điều quan trong trong việc làm của vua Minh Mạng là tuân giữ lễ chế ngàn xưa để lại. Ý nghĩa sâu xa của việc này là khẳng định chính thức tiếp nối quốc thống Hữu Hùng quốc khởi từ thời đế Hoàng hay đế Minh xuyên qua vua Vũ đúc Cửu đỉnh mà ngày nay người ta quen miệng gọi là Trung Hoa.
Việc làm động trờ như thế mà sao các Đại Hãn nhà Mãn Thanh lại dửng dưng như không biết?
… Thưa… rất dễ hiểu vì họ là khan – hãn của Đại hãn quốc, tức nước của giống Hung Nô, có biết gì về lễ chế truyền từ Tam hoàng Ngũ đế đâu… Với họ thì cái ngai vàng có đầu rồng chẳng khác gì cái yên ngữa… Gọi Khan – Hãn Hung Nô là đế này, đế nọ… chỉ là sự múa vút vung vít của đám gia nô về sau viết sử Đại Hãn quốc mà thôi. Không tin xin bạn nhìn cái ấn “hoàng đế” của (Quý Do) hãn, khả hãn thứ 3 của đế quốc Mông Cổ.

guyuk_khans_stamp_1246(Hình lấy từ Internẻt)

Và bức thư mà ông ta gửi cho giáo hoàng Innôcentê IV năm 1256.

letterguyugtoinnocence.jpg
(Hình lấy từ Internet)

Có chữ “Tàu” nào đâu?
Vậy mà bỗng chốc biến một cái… ông ta hóa thành “Nguyên Đinh Tông” của nhà Nguyên Trung Hoa mới hay chứ…
Lưu truyền trong dân gian Việt có những tích xưa chứa đựng thông tin ít ai ngờ đến, hoặc… không dám tin… vì quả thật quá rõ, như tích “cá vượt Vũ môn hóa rồng”. Quả thật, quá rõ ở ngay tên “Vũ môn”. Môn là cửa thì biết rồi, nhưng Vũ là gì thì không nghĩ đến hoặc không dám nhận đó chính là chỉ vua Vũ trong cổ sử Trung Hoa. Xưa vua Vũ chống lụt đã cho đục bạt cả 1 phần quả núi tên là Long Môn sơn để khai thông dòng chảy. Vũ môn cũng gọi là Long Vũ môn, chính là nơi cá vượt để hóa rồng trong cổ tích. Long môn là địa danh có thật mà theo nhà nghiên cứu Bách Việt trùng cửu thì Long Môn chính là thác Vạn Bờ chắn ngang dòng sông Đà ngày nay.

Phù Đổng Thiên Vương và nhà Chu

Lời tiếm bình Việt Điện u linh của tiến sĩ thời Lê là Cao Huy Diệu chép “Hương, Bổng, Đổng, Đằng là bốn vị tối linh của nước ta”
Câu đối ở chính điện đền thờ Thánh Dóng tại làng Phù Đổng (Gia Lâm, Hà Nội):
神威古及今文郎國四最靈之右
壯烈南而北武寧部一大定之功
Thần uy cổ cập kim, Văn Lang quốc tứ tối linh chi hữu
Tráng liệt Nam nhi Bắc, Vũ Ninh bộ nhất đại định chi công.
Dịch:
Oai thần từ trước tới nay, nước Văn Lang tứ linh chưng giúp
Oanh liệt trong Nam ngoài Bắc, bộ Vũ Ninh nhất định đây công.
Câu đối này cho biết Phù Đổng thiên vương là một trong Tứ linh của nước Văn Lang. Đây là ghi chép thứ 2 ít ỏi về bộ Tứ linh thần nước Nam còn lưu lại tới nay. Phù Đổng thiên vương là 1 trong Tứ linh chứ không phải trong bộ Tứ bất tử. Ở các nơi thờ Thánh Dóng đều không hề có tư liệu cổ nào nói Thánh Dóng là thần bất tử.

p1060322Thủy đình ở đền Phù Đổng.

Câu hát phường Ải Lao trong lễ hội Phù Đổng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ Nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Vào ngày lễ hội này 28 cô gái trẻ đóng làm 28 tướng Ân, đối địch với Thánh Dóng. Thông tin từ sự tích của làng Phù Đổng hoàn toàn phù hợp với thời Ân Thương. Thời kỳ này nhà Ân còn đang trong giai đoạn chế độ mẫu hệ. Phụ nữ làm tướng chỉ huy quân đội nhà Ân điển hình như trường hợp nữ tướng Phụ Hảo dưới thời Ân Vũ Đinh đã cầm quân đánh nước Quỷ Phương.

phuong-dong-thoi-an
Một chiếc phương di đồng thời Ân Thương có minh văn tìm thấy ở Việt Nam.

Sự xuất hiện của phường hát Ải Lao trong lễ hội Phù Đổng đánh đố các nhà nghiên cứu, vì không ai hiểu Thánh Dóng đánh giặc Ân thì liên quan gì tới nước Lào hay nước Chăm ở đây. Ý kiến cho rằng đây là phường hát do Lào hoặc Chăm cống tiến xem ra không hợp lý vì cần biết rằng các bố trí, lễ tục trong hội Phù Đổng đều mang tính biểu trưng rất cao. Không thể có chuyện cả một “đạo quân” lớn của Thánh Dóng trong lễ hội lại chỉ là hàng “nhập khẩu” để hát cho hay.
“Đạo quân” Ải Lao là biểu tượng hoàn toàn xác thực cho quá khứ lịch sử khi nhận ra rằng Ai Lao Di là tộc người ở Vân Nam, Quý Châu. Ai Lao thiết Âu, là phần đất Âu trong nước Âu – Lạc đã cùng tham gia với Thánh Dóng đánh giặc Ân. Biểu tượng của phường Ải Lao là ông Hổ. Hổ cũng là con vật thiêng được người Ai Lao Di ở Vân Nam Quý Châu thờ.
Đền Thượng ở xã Phù Linh, Sóc Sơn, nơi tương truyền Thánh Dóng cởi áo giáp bay lên trời trong hậu cung có 7 bức tượng thờ.  Có tài liệu chép rằng 7 bức tượng này là gồm: Phù Đổng Thiên Vương, Vu Điền Quốc Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Nữ Oa Bộ Thiên, Na Tra Thiên Tử, Tả Xiên Xiên Lực Sĩ, Hữu Vạn Vạn Tinh Binh.
Vu Điền quốc vương phải chăng là vua đất Điền? Điền quốc là một nước từng tồn tại ở vùng Vân Nam, chính của người Ai Lao Di hay Di Lão xưa.
Đặc biệt tư liệu trên nói tới Na Tra thiên tử. Na Tra là nhân vật được biết đến trong truyện Phong Thần, là nhân vật đã theo Khương Thái Công và Chu Vũ Vương diệt Trụ.
Phù Đổng Thiên Vương sự tích diễn âm cũng chép lời của Thánh Dóng:
Vốn ta nay thái tử Na Tra
Vị Hùng Vương loạn quốc gia
Khâm sai đế mệnh dẹp trừ Ân binh.
Na Tra cùng với Thánh Dóng đánh giặc Ân. Vậy đây phải là cuộc chiến lịch sử của Trung Hoa khi nhà Chu diệt Ân Trụ Vương.
Thần tích đền Phù Đổng có đoạn:
Thiên Vương thao trận khiến quan quân giặc Ân toán loạn, bèn giết Ân Vương ở dưới Chu Sơn…
Thiên vương đánh tan giặc Ân, vứt tre trên ruộng tại xã Nghiêm Xá, huyện Quế Dương. Tre ở đây sau này rất xanh tốt, có thần miếu gọi là miếu Tam Giang đại vương.
Làng Nghiêm Xá nay ở thị trấn Phố Mới (Quế Võ, Băc Ninh) là nơi thờ đức thánh Tam Giang. Đức thánh là người ở xứ Ngõ Đông, thôn Đống Cải. Cha mẹ sinh được hai anh em… Khi hai người đang đập đất trên đồng thấy Thánh Dóng đuổi giặc chạy qua liền vác vồ đi theo và lập công lớn…
Ta chú ý tên thánh là Tam Giang đại vương.
Cùng với làng Phù Đổng mở hội còn có làng Lệ Chi Nam (Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội). Hội ở làng Lệ Chi Nam gọi là hội Phù Dóng. Theo thần tích thì làng Lệ Chi Nam thờ một vị tướng quân thời Hùng Vương tên là Bùi Duy Trí. Ông là người giỏi võ nghệ nên được vua cho chỉ huy một đạo quân lớn. Khi giặc Ân kéo quân vào chiếm đất Châu Sơn thuộc bộ Vũ Ninh vua Hùng phong cho Bùi tướng công chức Đô Thống, thống lĩnh đại quân đi đánh giặc Ân. Sau nhiều trận đánh ác liệt, quân của vị tướng họ Bùi vẫn không thắng nổi quân giặc hung ác… Khi Thánh Dóng ra trận, tướng Đô Thống cho tập trung tất cả binh mã tại làng Lệ Chi rồi tiến về phía núi Châu Sơn cùng Phù Đổng tham chiến… Sau khi mất vị tướng này được phong là Tam Giang đại vương, hiệu Châu Đô Thống.
Các thần tích trên đã cho những cái tên quan trọng trong chuyện này là Châu Đô Thống, Châu Sơn và Tam Giang. Châu đây là chỉ nhà Châu hay Chu, triều đại đã đánh diệt nhà Ân. Châu Đô Thống nghĩa là tướng thống lĩnh quân đội nhà Chu. Châu Sơn ở bộ Vũ Ninh ghép thành Chu Vũ Vương. Cơ Phát trước khi lên ngôi thiên tử có tên là Ninh Vương. Nhân danh Châu Đô Thống và địa danh Châu Sơn chính là tên gọi của nhà Chu còn lưu lại mãi tới ngày nay trong truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương.
Tam Giang ở đây là vùng đất của nhà Chu vì khi Tần Thủy Hoàng lập quận huyện đã lấy đất của Đông Chu lập thành quận Tam Xuyên. Tam Xuyên = Tam Giang. Tam Giang là nơi 3 con sông lớn hội tụ Đà, Lô, Thao tại ngã ba Việt Trì. Tam Giang xưa chỉ vùng Bắc Bộ Việt, là phần Lạc trong nước Âu – Lạc.
Như thế trong truyền thuyết về Phù Đổng thiên vương có đủ Ải Lao – Tam Giang hay Âu – Lạc, là 2 khu vực khởi phát chính của nhà Châu – Chu khi Ninh Vương Cơ Phát phát động các chư hầu làm cuộc tổng tấn công Trụ vương.
Câu đối ở đình Chi Nam (Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội):
鐵馬出神威朱粵山頭天古頌
金旗揚將略白騰海口萬年聲
Thiết mã xuất thần uy, Chu Việt sơn đầu thiên cổ tụng
Kim kỳ dương tướng lược, Bạch Đằng hải khẩu vạn niên thanh.
Dịch:
Ngựa sắt tỏ thần oai, đầu non Chu Việt khen ngàn thủa
Cờ vàng nêu mưu tướng, cửa biển Bạch Đằng vọng vạn năm.
“Chu Việt sơn đầu” ở đây nói tới núi Chu – Châu Sơn, là nơi Châu Đô Thống đánh giặc Ân. Núi Châu Sơn là ngọn núi đã được kể trong Truyện Giếng Việt của Lĩnh Nam chích quái, nơi vua Ân tử trận, có miếu thờ, cột đá buộc ngựa… Cuộc chiến mà vua Ân tử trận thì chỉ có cuộc chiến của Vũ Vương Cơ Phát nhà Chu dẹp Trụ Vương mà thôi.

img_0043
Núi Châu Sơn nhìn từ hồ Phùng Dị.

Núi Châu Sơn ở Vũ Ninh rất có thể như vậy là nơi hội quân ban đầu của Vũ Vương trong cuộc chiến phạt Ân Trụ Vương, đánh dấu sự thay đổi triều đại Trung Hoa từ Thương sang Chu. Nhà Chu được gọi chính xác trong câu đối trên là Chu Việt. Người đời sau không hiểu gọi thành núi Trâu Sơn, mất đi danh hiệu gốc của quốc gia thời Văn Lang – Âu Lạc trong đị danh này.
Câu đối khác ở đền Sóc Sơn:
天上降神鐵馬鐵韉朱粵動
水中顯聖金鎗金甲太原寒
Thiên thượng giáng thần, thiết mã thiết tiên Chu Việt động
Thủy trung hiển thánh, kim thương kim giáp Thái Nguyên hàn.
Dịch:
Thần xuống từ trời, ngựa sắt yên đồng rung Chu Việt
Thánh tỏ trong nước, giáo vàng giáp bạc lạnh Thái Nguyên.
Một lần nữa lại có cụm từ Chu Việt. Chu Việt chỉ rõ quốc danh nước Việt thời Thánh Dóng là Chu. Nước Văn Lang của Vũ Vương nhà Chu (Vũ Ninh) ban đầu như vậy gồm 2 phần Âu và Lạc, được gọi trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương là Ải Lao và Tam Giang.

Đồng Cổ Sơn thần là ai?

Bài của tác giả Hoàng Tuấn Công cho rằng các đền Đồng Cổ ở Thanh Hóa không phải là thờ thần trống đồng mà là thờ thần núi Tam Thai hay núi Khả Lao.
http://nongnghiep.vn/den-dong-co-tho-ai-post159518.html
Xin bàn thêm về ý kiến này.

IMG_9156Đền Đồng Cổ ở phố Thụy Khê, Hà Nội.

Trong thần điện Việt không có “thần núi” với nghĩa là quả núi được tôn lên thành thần. Người Việt không thờ những vật thiên nhiên làm thần, mà chỉ tôn thờ những nhân vật có thật làm thần. Những cái tên gọi kiểu Thần núi, Thần sông… là chỉ “chức danh” của các vị thần, hay của các nhân vật có thật được tôn vinh. Nó tương tự như có ông Chủ tịch phường nhưng ông ta là người thật chứ không phải là “cái phường” được tôn làm Chủ tịch.
Hiểu như vậy thì Đồng Cổ Sơn thần đúng là một vị thần núi, nhưng là một nhân vật lịch sử được đảm nhận vai trò làm thần ở núi Đồng Cổ. Nhân vật đó là ai?
Trong bài trên có dẫn sách Thanh Hóa kỷ thắng:
“…Trong đền thờ thần có trống đồng (…). Nguyên thần là tinh khí của trái núi, rất linh ứng. Xưa Hùng vương đi đánh Chiêm Thành trú binh dưới chân núi Khả Lao, đêm mộng thấy thần nhân nói rằng:
– Nguyện được đem trống đồng đi phù trợ vương chiến thắng.”
Như thế vị thần Đồng Cổ này đã có từ thời Hùng Vương, dùng trống đống trợ vua đánh giặc Chiêm Thành.
Câu đối ở đền Đồng Cổ (Thụy Khê, Hà Nội):
可牢山毓秀鍾英萬古灵聲長不泯
蘇瀝水营祠勒石前朝御墨尚留香
Khả Lao sơn dục tú chung anh, vạn cổ linh thanh trường bất miến
Tô Lịch thủy doanh từ lặc thạch, tiền triều ngự mặc thướng lưu hương.
Dịch:
Núi Khả Lao sinh tú đúc anh, vạn cổ tiếng thiêng dài bất tận
Nước Tô Lịch lập đền khắc đá, tiền triều đề ngự lưu tôn hương.
Chiếu theo dòng sử mới thì vị thần trồng đống chính là Cao Lỗ. Phân tích từ ngữ ta thấy Khả Lao và Cao Lỗ là tương đồng:
– Khả = Cả = Cao
– Lao = Lão = Lỗ, vốn là từ chỉ nước Lào hay nước Lỗ xưa.
Còn có Khả Lao đọc phản thiết là Khao Lả = Cao Lỗ.
Khả Lao hay Cao Lỗ nghĩa là vị thủ lĩnh đứng đầu nước Lỗ hay nước Lào.
Vị trí nước Lỗ xưa là vùng lưu vực sông Mã, tức là phần Bắc Lào và vùng Thanh Hóa ngày nay. Đó cũng là nơi có thần Đồng Cổ và có những nơi sản xuất trống đồng từ xa xưa ở Đông Sơn.
Như vậy Đồng Cổ Sơn Thần chính tướng quân Cao Lỗ hay vị thái sư Chu Công của nhà Chu.
Sự tích Cao Lỗ chế nỏ thần từ chiếc móng rùa của thần Kim Quy chỉ việc Chu Công viết hào từ để hoàn thiện bộ Kinh Dịch, và cũng là chỉ việc Cao Lỗ chế tạo trống đồng, một pho sách Dịch khắc trên đồng. Nhà Hạ có Liên Sơn Dịch, là Dịch khắc trên đá núi. Nhà Thương có Quy Tàng Dịch, là Dịch khắc trên mai rùa (trong hình tượng Thanh Giang – Thương sứ Kim Quy). Còn nhà Chu nay với phát hiện Trống đồng là chiếc nỏ thần của Chu Công – Cao Lỗ thì có thể gọi là Đồng Cổ Dịch – Dịch đúc trên trống đồng. Trống đồng – Dịch lý là ánh sáng soi đường cho người Việt trong đời sống cũng như trong việc chống ngoại xâm.
Đồng Cổ Dịch hay Dịch trống đồng một lần nữa xác định chủ nhân của Kinh Dịch là người Việt và lịch sử văn hoá phương Đông buộc phải viết lại.

Đạo hiếu và nhà Chu

Sách Luận ngữ có câu: Tử viết: Đệ tử, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

Câu này về sau được một tác giả thời Thanh quảng diễn thành bài thơ Đệ tử quy:
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, kế cẩn tín.
Yêu bình đẳng, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn…

Sách về Đệ tử quy của TS Thái Lễ Húc ngày nay giảng đoạn kinh “nhập môn” này như sau:
Chúng ta hồi tưởng lại lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc triều đại nào có lịch sử lâu nhất, quốc vận hưng thịnh nhất. Đó là triều nhà Chu. Bao nhiêu năm vậy? 800 năm. Vậy xin hỏi: Tại vì sao triều nhà Chu có thể kéo dài đến được 800 năm? Dựa vào cái gì vậy? “Hiếu” và “Đễ”. Chúng ta chỉ đọc qua “Triều nhà Chu 800 năm”, biết được lẽ đương nhiên mà không biết được sở dĩ nhiên…
Triều nhà Chu, khai quốc là Chu Văn Vương, Chu Võ Vương. Ông nội của Chu Văn Vương là Thái Vương. Thái Vương sinh ra ba người con trai, anh cả là Thái Bá, anh thứ hai là Trung Dung, người thứ ba là Vương Quý. Vương Quý sinh ra Chu Văn Vương. Chu Văn Vương lại sinh ra Chu Võ Vương và Chu Công. Khi Chu Văn Vương mới được sinh ra, Thái Vương vừa nhìn thấy đã cảm thấy Chu Văn Vương có tướng Đế Vương, có tướng Thánh Chủ. Thế nhưng phụ thân của Chu Văn Vương xếp ở hàng thứ ba. Kết quả là bác lớn và bác kế của ông nhận ra khi phụ thân thấy cháu nội thì trên mặt vui vẻ, họ hiểu rõ phụ thân của họ muốn đem ngôi vua truyền cho đứa cháu nội này. Các bác rất hiểu tâm cảnh của phụ thân, cho nên họ không nói không rằng, dựa vào lý do giúp phụ thân đi hái thuốc, liền cùng hẹn nhau với em kế của ông là Trung Dung cùng nhau đi lên núi. Sau khi đi rồi thì họ không trở lại nữa. Bởi vì họ hy vọng phụ thân có thể làm tốt được ý nguyện của mình, không cần phải bận lòng bởi họ là con lớn, để có thể trực tiếp truyền ngôi cho Vương Quý là con trai thứ ba, sau đó Vương Quý truyền ngôi cho Chu Văn Vương.

Ở đoạn này TS Thái Lễ Húc nói chưa hết thông tin. Thái Vương nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ có 3 người con: Thái Bá, Trọng Ung và Quý Lịch (Vương Quý). Trong cách gọi tên xưa thì con cả là Thái (Mạnh), con thứ là Trọng, con thứ ba là Quý. Thái Bá và Trọng Ung đã hiểu ý cha, cùng nhau rời đi, nhưng không phải lên núi mà là đi về vùng đất Kinh. Về sau Thái Bá là vị vua khởi đầu của nước Ngô là Ngô Thái Bá. Thái Bá mất, không có con nên em là Trọng Ung lên tiếp ngôi.

Chu Văn Vương đối với phụ thân của ông là Vương Quý đều là sáng sớm, buổi trưa, buổi tối, một ngày ba lần thăm hỏi, nên gọi là “thần hôn định tỉnh” (sáng thăm tối viếng). Ba lần thăm viếng phụ thân, vừa đến thì xem thần sắc của phụ thân, tiếp theo là xem tình hình ăn uống của phụ thân. Nếu như phụ thân ăn uống được rất tốt, ông liền cảm thấy rất là an tâm. Nếu như phụ thân ăn được rất ít thì ông rất lo lắng. Do bởi có được thân giáo như vậy, cho nên con trai của ông là Võ Vương và Chu Công cũng học được rất tốt. Chu Võ Vương cũng rất là hiếu kính đối với Chu Văn Vương. Có một lần Chu Văn Vương bị bệnh, Chu Võ Vương hầu ở bên cạnh mười hai ngày không hề cởi áo giải đãi, mũ trên đầu cũng không lấy xuống, hầu hạ phụ thân ông mười hai ngày nghiêm túc. Do bởi hiếu tâm như vậy, phụ thân ông rất mau khỏi bệnh…
Có một lần Chu Võ Vương bị bệnh, Chu Công liền ở ngay trước mặt của tổ tông họ, vào lúc đó gọi là Thái miếu, viết ra một văn kỳ thọ, mong cầu giảm bớt đi thọ mạng của chính mình để cho huynh trưởng của ông có thể trường thọ… Cho nên khi Chu Công đọc xong văn kỳ thọ, chí thành có thể cảm thông, vì vậy sức khỏe của Chu Võ Vương liền được hồi phục. Bài văn cầu thọ này còn để ở trong Thái miếu.
Trải qua một khoảng thời gian, Chu Võ Vương qua đời, tiếp theo là Chu Thành Vương kế vị. Chu Công giúp đỡ ông. Bởi vì Thành Vương vẫn còn trẻ, kết quả Chu Võ Vương giúp Chu Thành Vương chọn được mấy vị thầy giáo, Thái sư là Khương Thái Công, Thái Bảo chính là Chu Công.

Chỗ này cần chỉnh lại thông tin một chút. Thái sư của Chu Thành Vương là Chu Công. Còn Thái bảo là Thiệu Công. Khương Thái Công Lã Vọng không làm thầy vua Chu Thành Vương vì có lẽ ông đã quá già sau cuộc chiến với Trụ Vương (lúc Văn Vương gặp Lã Vọng thì ông đã 80 tuổi) và ông đã về cai quản đất phong của mình là nước Tề, không ở trong triều đình Chu nữa.

Vào lúc đó quốc gia có những lời giảo ngôn, đều nói là: “Có phải Chu Công muốn đoạt lấy thiên hạ hay không?”. Có rất nhiều lời đồn đại như vậy. Chu Công không đợi cháu của ông lên tiếng. Chính ông tự mình dời đến Sơn Đông, để cho cháu ông dễ làm người, không nên bị những lời sàm ngôn này ảnh hưởng… Sau này Thành Vương xem được sắc thư của ông trong chiếc rương quý mới hiểu rõ lòng trung thành và nhiệt tình của ông, rất hối hận và sai người đi đón ông về.

Đoạn này cũng có điều cần bàn. Các tư liệu khác nói rằng khi bị tiếng oan Chu Công đã dời đến nước Sở, chứ không phải Sơn Đông. Các sử gia sau nay cho rằng vì Chu Công được phong ở nước Lỗ nên ông lui về ở nước Lỗ ở vùng bán đảo Sơn Đông mới hợp lý. Thực ra Chu Công không về nước Lỗ vì nước Lỗ đã có con của ông là Lỗ Bá Cầm cai quản. Nơi Chu Công lui về chỉ có thể là Lạc Ấp – Đông Đô của nhà Chu, nơi an trí đám ngoan dân của nhà Thương sau cuộc nổi loạn của Vũ Canh. Lạc Ấp thì tất nhiên không phải ở Sơn Đông. Nhưng tại sao các sách lại chép thành Chu Công lui về nước Sở?
Chu Công không có liên quan gì đến nước Sở của Sở Hùng ở vùng sông Dương Tử cả. Gọi là Sở bởi Sở = Sủy = Thủy = Nước = Nác = Lạc. Nước Sở ở đây tức là đất Lạc hay Lạc Ấp, Lạc Việt. Nơi Chu Công lui về là vùng Lạc Việt, hay Bắc Việt ngày nay.
Các sách giảng về câu của Khổng Tử trong Luận ngữ đã lấy chuyện khởi đầu của nhà Chu làm gương về hiếu đễ. Có lẽ Khổng Tử còn sống cũng sẽ lấy chuyện này mà giảng vì ông đánh giá rất cao nhà Chu, thường nói mình “nằm mộng gặp Chu Công”. Cách ứng xử của các vị vua đầu triều Chu thực sự là tấm gương sáng ngàn đời về đạo hiếu đễ.

Ngoc tong

Ngọc tông, vật dùng thờ cúng có từ thời Hạ (văn hóa Lương Chử).
Ống tông cùng với đĩa bích ngọc là hình ảnh vuông tròn, bánh chưng bánh dày, âm dương.

Thật trùng khớp khi câu chuyện về đạo hiếu này cũng in đậm trong truyền thuyết Việt. Đó là câu chuyện chàng Lang Liêu, không phải là con cả của vua Hùng, nhưng nhờ có tấm lòng hiếu thảo động tới trời nên đã làm ra bánh chưng bánh dày, thành kính dâng lên thờ cúng cha mẹ và tiên tổ và được truyền ngôi báu của nước Văn Lang.
Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh dày không ai khác chính là Chu Văn Vương. Văn Vương là người đã viết ra Kinh Dịch, được truyện Việt Nam kể hình tượng hóa bằng bánh chưng bánh dày – bánh trăng bánh giời hay đạo Âm Dương. Chi tiết Lang Liêu được nhận ngôi mà không phải là con cả tương tự chuyện Thái Bá và Trọng Ung nhường lại ngôi cho Vương Quý.
Tác giả Đệ tử quy đã hơi quá khi sửa câu nói của Khổng Tử từ “Nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ” thành “Thủ hiếu đễ”. Khổng Tử không nói lấy Hiếu làm đầu, làm căn bản, vì mô hình con người quân tử của Khổng Tử rộng hơn, bao trùm hơn đạo Hiếu. Hiếu đễ là quan trọng hàng đầu đối với nhân sinh hạnh phúc. Nhưng để thành nghiệp cho một vương triều 800 năm thì không thể thiếu những phẩm chất được kể sau: “Cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn”.
Chu Văn Vương khi là Tây Bá hầu của nhà Ân đã được biết là người rất có “thánh đức”, được lòng nhân dân và các chư hầu. Trong khi đó Trụ Vương ngày càng bạo ngược, lòng người ngày càng nghiêng về hướng Tây. Thánh đức của Văn vương chính là từ đức tính “phiếm ái chúng” (yêu tất cả), thể hiện ví dụ như bằng hình tượng con Lân, biểu tượng của nhà Chu: Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống. Hình tượng này rất đúng với tư tưởng “phiếm ái chúng” của Khổng Tử.
Chu Văn Vương cũng là điển hình cho đức “nhi thân nhân” (gần người nhân) trong câu chuyện Văn Vương gặp Lã Vọng. Lã Vọng vốn là một ông lão cao tuổi, đóng vai một người câu cá ven đường khi gặp Văn Vương. Thế mà Văn Vương đã mời ông về giúp sức, gây dựng cơ nghiệp cho nhà Chu. Lã Vọng sau được phong là Khương Thái Công, người cầm đầu quân đội nhà Chu tiến đánh, tiêu diệt Trụ Vương. Sự tích Văn Vương gặp Lã Vọng là một điển hình về tinh thần “cầu hiền” xưa.

La VongTích Văn Vương gặp Lã Vọng trên một ngôi đình ở xứ Huế.

Truyền thuyết Việt cũng có chuyện “cầu hiền” tương tự. Đó là khi giặc Ân tấn công nước ta (cũng là Ân – Trụ Vương), vua Hùng cho sứ giả đi loan tin khắp nơi tìm người tài giỏi giúp nước. Ở làng Phù Đổng có cậu bé ba tuổi xung phong ra diệt giặc được vua cho đúc gậy sắt, ngựa sắt, nón sắt… Tinh thần cầu hiền ở chỗ không nề hà gì việc là cậu bé hay ông lão. Cứ có tài năng là được giao trọng trách.
Chuyện Thánh Dóng và Lã Vọng đánh giặc Ân là cùng một chuyện. Dóng = Vọng. Có lẽ Thánh Dóng thọ 103 tuổi như Lã Vọng mới đúng, bỏ đi 100 thành còn 3 tuổi. Thánh Dóng đánh giặc Ân ở Vũ Ninh là chuyện Khương Thái Công Lã Vọng giúp Vũ Vương phạt Trụ diệt Ân.
Câu “hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” ở đây có thể hiểu là tùy theo năng lực mà học lấy tri thức. “Văn” ở đây không phải là văn nghệ, văn hóa. Hiểu vậy thì tư tưởng của Khổng Tử thành tầm thường quá: Có thời gian rảnh thì đi xem văn nghệ?!
Văn của thời kỳ này là kiến thức khoa học, mà thời này được đúc kết trong Dịch học. Chính Dịch lý là ánh sáng soi đường cho gia tộc Chu có được thiên hạ từ tay Trụ Vương và dẫn dắt cả thiên hạ Trung Hoa đi lên văn minh. Chu Văn Vương – Lang Liêu là người đã viết nên Kinh Dịch nên mới có danh hiệu là Văn Vương, mở ra nước Văn Lang huy hoàng kéo dài trong 800 năm.

Xin ghi lại chuyện này với bài thơ Hiếu với trời đất:

Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Lang Liêu dâng cha chẳng bạc vàng
Mà tấm lòng thành gói trời đất
Vuông tròn đúc đủ tình thế gian.

Âm dương một đạo để ngàn đời
Rọi sáng đường đi cả tộc người
Bánh chưng bánh dày vui ngày Tết
Tưởng nhớ Lang xưa với sách trời.