Thần phả làng Hiên Ngang, Tiên Du, Bắc Ninh

Theo bản dịch từ bia đá tại làng Ngang Kiều của Nguyễn Công Hảo trong sách Tìm hiểu về truyền thuyết ba làng Ngang ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh, NXB Mỹ thuậ, 2018.

Họ [Đất] Việt [ta] thường có 18 Thánh chủ ngự trị, đi tuần Ngũ Lĩnh phương Nam, khai sáng Hùng đô nước Việt. Mở đầu là ông Đế Minh [Thánh đế minh vương] xây dựng nên thành đô cung điện nhất [thống] 15 bộ.

Đến đời Kinh Dương Vương lập nước lấy tên là Xích Quỷ truyền ngôi cho Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ lập nên chính cung, sinh được bọc trứng trăm trai, đều là anh hùng cái thế, trí dũng song toàn. Lạc Long Quân – Âu Cơ chia 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên rừng. Người con cả Hùng Đoàn theo mẹ được kế tiếp làm vua gọi là Vua Hùng truyền 18 đời. Chuyện này đời Hậu Lê [Trần] có thơ rằng:

Mười tám chi vua vẫn nối truyền
Trăm trai một bọc giống Rồng Tiên
Trời Nam đất tổ muôn đời định
Đức rộng, tài cao bậc thánh hiền.

Đến đời vua Hùng Huy Vương thứ 6 ngự đô ở Việt Trì – Bạch Hạc giang. Kiến quốc gọi là nước Văn Lang, thủ đô hiệu là Phong thành (Phong Châu). Từ khi Hùng Huy Vương lên ngôi lấy khuôn phép để trị dân, đất nước hưng thịnh, thiên hạ thái bình an lạc.

Lúc bấy giờ trong triều chính có quan Bồ chính họ Hùng tên Chạc lấy vợ ở phủ Đà Giang, thôn Phượng Mao, tên nàng là Đinh Châu Hoa. Hai vợ chồng ở với nhau ý hợp, tâm đầu, thật là “cầm sắt duyên hài, phu thê hòa hợp, trượng phu thục nữ, quân tử thuyề quyên, tương hoan tương ái”. Đã hơn 5 năm chung sống mà hai vị “lan phòng chưa thấy sinh hương, quế hộ không thấy khai đà đóa hoa”. Một hôm Bồ chính Hùng Chạc tâm tình với phu nhân Châu Hoa:

  • Nhà ta vốn dòng hoàng gia phúc hậu, bách tử thiên tôn rất là đông đúc, hoặc thái quá mà bất cập, hoặc đầy quá mà lại nghiêng, hay thịnh rồi lại suy, lấy nhân nghĩa làm đại bản, đem thiện đức để cảm dân, không mảy may nào là làm điều ác. Thế mà trời lại phụ ta ư, hay là tổ tiên phần mộ bị khuyết khung, hay đoản thương long mạch thế nào mà đến nỗi khó bề sinh dưỡng. Nay ý tôi muốn đi các địa phương nào có những linh từ, linh tự nào linh thiêng để cầu tự. Đồng thời cũng là để tìm các danh sư, tướng địa để di chuyển mộ tổ xem sao.

Hai vợ chồng thành tâm sắm sửa lễ vật du ngoạn về Kinh Bắc vì nghe nói vùng này có nhiều linh từ, linh tự đẹp và linh thiêng. Một hôm đi đến Kinh Bắc nghe thấy ở Lãm Sơn Khê Nham có cổ tự Lãm hiện đang mở hội. Nhân dân xa gần đến lễ Phật, ngoạn cảnh rất đông. Hai vợ chồng quan Bồ chính cũng vào đó lễ Phật, ngoạn cảnh và cầu tự một thể. Khi hai vợ chồng đang đi xem phong cảnh, do cảnh đẹp quên cả thời gian, thì trời đã về chiều. Hai vợ chồng mới vào chùa lễ tạ, xin phép sư trưởng trụ trì để về nhà trọ trong dân. Khi ra đến bãi trước chùa, chợt trông thấy một ông lão mình mặc áo xanh, tay cầm một cành hoa hải đường, theo sau là một chú thanh đồng, tay cầm một cái La kinh, theo hướng từ cổng chùa đi lên. Quan Bồ chính trông thấy La kinh liền nghĩ:

  • Đây chắc là thầy địa lý.

Quan Bồ chính dừng bước và thi lễ vái chào ông lão:

  • Vợ chồng tôi rất hân hạnh được gặp tôn ông. Trộm nghĩ tôn ông là người Tướng địa, may lắm, may lắm. Tôn ông có thể giúp vợ chồng hèn mọn này một việc được chăng?

Ông lão dừng bước:

  • Cầm ta giúp việc gì cứ nói rõ.

Hai vợ chồng quan Bồ chính tiếp tục quỳ vái:

  • Xin tôn ông dạy bảo, chỉ cho ngôi đất tốt, giúp vợ chồng hèn mọn này đặt ngôi sinh phần tránh được tiệt phúc.

Ông lão cười và nói rằng:

  • Việc tuy là đạo Trời, nhưng phải là người có phúc mới thành đạt. Mọi việc căn bản ở Phúc – Đức. Phúc chỉ đãi những người có thiện tâm. Thấy vợ chồng ông thi lễ và xem qua là người ăn ở có phúc, có đức. Thôi đã xin thì ta chỉ cho. Còn được hay không là tùy đạo Trời.

Nói rồi ông lão lấy gậy vạch ở đường một bài thơ:
Muốn tìm ngôi đất tốt
Thì lên núi Tản Viên
Phúc ông Trời ưu đãi
Mạch đất chẳng khó tìm
Ngôi ở nơi Trung cấp
Huyệt chính tại Tả biên
Một bọc hai quý tử
Long – Sơn tài cái thế.

Lão ông vạch xong bài thơ, tự nhiên hóa thành một con hổ chạy vào núi biến mất. Vợ chồng Bồ chính Hùng Chạc – Đinh Châu Hoa cả sợ thất kinh, biết là có Trời giúp đỡ. Sáng hôm sau về đến gia phủ tiến hành dời ngôi mộ tổ lên Tản Lĩnh Linh sơn. Khi còn đang ngơ ngác tìm kiếm vị trí như bài thơ ứng bá “Trung cấp, Tả biên” ở đâu thì bỗng thấy một con hổ miệng cầm hòn đất chạy đến đặt trước mặt, rồi phóng chạy mất. Quan Bồ chính biết là thần đã dẫn bảo, liền đặt mộ tổ tại vị trí hòn đất lưu lại của hổ, làm lễ an táng chu toàn rồi ra về.

Được 100 ngày thì một đêm Hùng công đang mơ màng nhìn thấy ông lão Tướng địa mà hai vợ chồng gặp ở Kinh Bắc trước đây đi vào nhà. Ông vội vàng quỳ xuống thưa hỏi:

  • Thưa thầy, từ khi vợ chồng tôi được gặp thầy, được thầy chỉ bảo chỗ đất thiêng, chưa biết thầy ở đâu để báo đáp. Ơn thầy sao quên. Thầy cho biết quê hương, bản quán để vợ chồng chúng tôi được đến để tạ ân.

Ông lão cười ha hả và nói rằng:

  • Ta là Khổng Lồ Tổ giáo Thiền sư. Ta thấy vợ chồng ông có lòng thành kính và sống có lương tâm phúc hậu, cho nên ta hiện xuất để báo cho ông ngôi đất tốt, chứ ta có phải ông thầy Tướng địa trên nhân gian đâu.

Nói xong ông lão ngoảnh lại bảo chú thanh đồng lấy ở trong túi ra một bài thơ đưa cho quan Bồ chính Hùng Chạc, đại ý bài thơ ghi:
Dòng dõi nhà Hùng đức hậu dài
Được đất sinh thành quý tử hai
Bao gồm sông núi ngàn năm vững
Tiếng thơm rực rỡ chẳng bao phai.

Hùng công xem xong chưa kịp nói gì thì tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng. Từ dấy bà Đinh Châu Hoa có mang. Khoảng 7 tháng sau, bấy giờ là mùa đông, Hùng công được vua mời vào thế sự. Khi về đến gia phủ thì tạ thế. Hôm ấy ngày 10 tháng Chạp năm Bính Ngọ. Nhà vua cho tổ chức lễ an táng tại gia phủ.

Đến ngày mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mùi, thái bà Châu Hoa mãn nguyệt khai hoa sinh một bọc hai người con trai. Mới sinh đã có tướng lạ, thân hình cao lớn khác thường, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Lúc Thái bà sinh tự nhiên có mây ngũ sắc đầy trời, chim chóc kéo đến hót vang. Có cả đàn hổ con kéo đến quanh phủ, làm mọi người trong phủ vừa kinh sợ, vừa thấy lạ.

Khi hai chàng trai 3 tuổi, một đêm Thái bà nằm mộng thấy phu quân Hùng Chạc hiện về báo mộng đặt tên con: Một là Hùng Long, một là Hùng Sơn. Đến năm 16 tuổi thì hai người đều cao lớn, vạm vỡ trở thành anh hùng cái thế, dũng lược quả nhiên. Long công có tài xuống bể, đi trên mặt nước như đi trên mặt đất. Đi đến đâu thì các loài thủy tộc đều bơi đến hướng chầu. Các loài thủy tộc hại người đều lùi xa vạn dặm ngoài biển khơi. Sơn công có tài đi bộ leo núi nhẹ như đi đường bằng, đi vào rừng các loài muông thú đều tụ tập đến hướng chầu. Các loài thú dữ hại dân thì sợ một phép, lui dần về rừng sâu.

Cả hai vị đều thông minh, trí tuệ, đức trọng, tài cao, kỳ mưu dị thuật. Các tướng sĩ trong triều đều nể phục. Vua Hùng Huy Vương biết tài hai vị liền triệu vào cung phong chức:
– Hùng Long công làm Trướng long chu Thủy đạo Tướng quân.
– Hùng Sơn công làm Nhạc phủ Tướng quân.

Bấy giờ có giặc nhà Ân sang xâm lược nước Văn Lang. Thủ lĩnh giặc Ân là Thạch Linh thần tướng cầm đầu, đem quân từ phương Bắc sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất hùng mạnh, cờ quạt, giáo mác, ngựa chiến hành quân mù mịt cả đất trời. Đi đến đâu chúng cướp phá của cải, đánh giết dân lành. Các vị quan trấn thủy biên thùy thua trận, cấp báo về triều đình, cũng là lúc giặc Ân đã tiến đến vùng Kinh Bắc, lập trú đồn trại, củng cố binh mã để tiến đánh Phong thành. Vua Hùng Huy Vương liền triệu hai vị Hùng Long, Hùng Sơn về triều, cấp binh mã, lương thực, tấn phong làm tướng ra trận đánh giặc Ân. Hùng Long là Thủy đạo quân Thống lĩnh binh mã. Hùng Sơn là Nhạc hầu phó tướng lĩnh quân. Một thuộc 50 thủy bộ. Một thuộc 50 sơn bộ.

Hai vị tuân lệnh, đem 2000 quân binh hành quân gấp đến Kinh Bắc. Một mặt huy động các anh hùng hào kiệt ở các phủ, trang, ấp, đồng thời động viên dân binh xây dựng các đồn lũy để chuẩn bị cuộc chiến với giặc Ân. Một mặt Long công lập doanh trại ở hai chi nhánh: sông Nguyệt Đức và sông Nhị Hà để trấn giữ đường thủy. Một mặt Sơn công lập đồn trại từ Phong thành đến Kinh Bắc để trấn giữ đường bộ.

Một hôm hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiến quân đến khu núi tại trại Hiên Đường, thuộc huyên Tiên Du. Hai vị vốn có thiên bẩm anh tài, thông hiểu địa lý, nhìn thấy dải núi ở đây hình thù như một con rồng nằm uốn khúc, xung quanh có nước bao bọc. Thật là khí đất thiêng. Hai vị quyết định lập đồn trại tại đây. Khi khảo sát địa hình tìm thấy một khu đất nổi lên hình thế “chân long quý cục”, hai bên có hai gò đất chầu lại. Tiếp đến là khu đất có hình thế “long cảnh”, nghĩa là cổ rồng, phong thủy gọi là “Tả hữu hội tụ”. Trước mặt có “khai hoa minh đường thủy tụ”. Lại có con đường cái nhỏ chạy qua trước mặt. Hai bên có hai giếng tựa mắt rồng. Tiếp xuống chân núi lại có khu đất hình thế “chân long chi vĩ” như cái đuôi con rồng. Phong thủy gọi là “Vĩ long chính cục”. Trước mặt có ba cánh đồng nước hợp lại, thật đúng là “hội đáo minh đường, kim quy chấn trạch”. Đằng trước lại thấy một khu đất nổi lên như hình con phượng nằm ẩn mình. Hai bên có hai dải đất, một bên hình nghiên bút, một bên hình quyển sách, thực là “thiên địa bài, chung linh đại địa”. Hai vị quyết định lập bản doanh tại ba vị trí đắc địa trên.

Hôm ấy là ngày mùng 4 tháng Giêng, đẹp ngày, hai vị tiến quân đến vùng đất này. Nhân dân trang ấp Hiên Đường đón tiếp nồng nhiệt và tổ chức lễ ăn mừng khao quân sĩ. Đất đắc địa, lòng dân thuận, hai vị quyết định làm lễ lập đồn trại cùng ăn ừng với nhân dân.

Khu đất “chân long quý cục” thuộc trang Kiều là chính trại chỉ huy. Trung trại ở khu đất “chung linh đại địa” thuộc trang Na. Tiền tiêu ở khu đất “chân long chi vĩ” thuộc trang Nội. Đồn trại được lập theo thế liên hoàn hình chữ Vương để chuẩn bị đối phó và dàn trận chống lại giặc Ân. Lúc nào nhân dân ở trang ấp Hiên Đường có 7 họ: Lê, Nguyễn, Trần, Trương, Mai, Cao, Trịnh. Các trưởng họ đều được hai vị bổ nhiệm chức “tộc trưởng”. Các trai tráng được bổ sung vào quân sĩ và lập các đội dân binh. Dân số Hiên Đường lúc này có khoảng gần 300 nhân khẩu.

Từ đấy hai vị Hùng Long, Hùng Sơn đã an cư ở đồn trại, ngày đêm luyện tập quân sĩ và tiến đánh giặc Ân ở núi Vệ Linh. Gần nửa năm đã đánh đến 30 trận đều thắng trận, bắt trên 30 tên tướng giặc Ân nộp về triều đình, đuổi được giặc Ân về nước.

Thua trận, giặc Ân củng cố lực lượng, tăng thêm quân sĩ tiếp tục tiến đánh Văn Lang, thế giặc mạnh gấp nhiều lần. Được tin báo giặc lại vào xâm lược, hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiếp tục củng cố lực lượng ở các trại Hiên Đường và hai đường thủy bộ trên sông Cầu, Nhị Hà và đường bộ lên phương Bắc. Nhưng thế giặc mạnh, hai vị không chặn được, đành lui về cố thủ ở trại Hiên Đường và cấp báo về triều đình.

Hùng Huy Vương lập tức triệu tập quần thần để bàn việc đánh giặc. Đã qua 3 ngày nhưng chưa tìm được kế đánh giặc. Đến ngày thứ tư bỗng xuất hiện một ông lão mình cao 9 thước, cứ ngồi ở cổng thành cười, múa, hát vang. Nhân dân trông thấy lấy làm lạ, vào bẩm báo với vua. Hùng Huy Vương thân chinh ra đón vào dự hội nghị quần thần và hỏi:

  • Trông tướng mạo tiên sinh chắc không phải người thường. Vậy tiên sinh có kế sách nào hay để giúp dân ta đánh đuổi giặc Ân, xin tiên sinh chỉ giáo cho?

Lão ông nghĩ một lát rồi lấy một vật gì đó trong tay nải gieo quẻ, xong rồi nói:

  • Phải cầu lấy một người có tài “thần vũ” đến hỗ trợ cho Long – Sơn tướng quân, ắt giặc phải tan và từ bỏ dã tâm xâm lược.

Nói xong đi thẳng ra cổng biến mất. Hùng Huy Vương và quần thần thấy lạ, nhưng vẫn quyết định cử quân sĩ đi loan báo cầu người tài khắp đất nước để tìm được tướng “thần vũ”. Đêm ấy, Hùng Huy Vương lại có giấc mơ gặp ông lão ban ngày. Ông lão xưng là Lạc Long Quân và cho biết thêm việc tìm người tài đánh giặc:

  • Cứ đến làng Phù Đổng, ắt tìm được.

Tỉnh dậy, vua liền cho quân lính về làng Phù Đổng để tìm “thần vũ”. Quân lính đến Phù Đổng loan báo thì được cậu bé lên 3 tự xưng là Thiết Xung ở với một bà mẹ nhà rất nghèo mời vào và nhận lời giúp vua đánh giặc. Bà mẹ Thiết Xung cho là con mình đùa cợt, vì từ khi bà dẫm vào vết chân lạ ở vườn cà, rồi có mang sinh ra cậu bé, lên 3 vẫn chưa biết nói, biết cười. Tự dưng nghe sứ giả loan báo, cậu bảo mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc. Thiết Xung nói với sứ giả:

  • Về tâu với vua cấp cho tôi một con ngựa sắt 10 thước, một áo giáp sắt và một chiếc đĩnh dài 10 thước, tự khắc tôi sẽ đánh thắng giặc.

Sứ giả đem những lời tâu đó về bẩm với vua. Hùng Huy Vương vui mừng cấp tốc cho đúc ngựa, rèn thiết đĩnh đưa về làng Phù Đổng và phong chức cho cậu bé là Thiết Xung Thần Vương, lệnh cấp tốc về Hiên Đường cùng Hùng Long, Hùng Sơn đánh giặc.

Ngày 10 tháng 8 hai vị Hùng Long, Hùng Sơn thiết yến hội binh cùng Thiết Xung Thần Vương ở Hiên Đường và ra lệnh xuất quân. Thiết Xung Thần Vương lĩnh đội kỵ binh, tiền quân. Hùng Long lĩnh đội thủy quân, trung quân. Hùng Sơn lĩnh đội bộ binh, hậu quân.

Ba đạo quân tiến thế liên hoàn đại chiến với giặc Ân ở núi Vệ Linh sơn, mới đánh một trận giặc Ân thua to, thi nhau tháo chạy. Quân Văn Lang thừa thắng truy quét. Mải truy quét giặc và đánh quá hăng tự nhiên thiết đĩnh của Thần Xung bị gãy. Thần Vương liền nhổ các bụi tre quật, kẻ bị cháy khiếp vía kinh hồn, chết như ngả rạ. Thắng trận về đến núi Sóc Sơn, Thần Vương cưỡi ngựa sắt bay về trời. Sau được vua Hùng Huy Vương phong là Phù Đổg Thiên Vương.

Hùng Long bên đường thủy cũng tiếp sức đánh tan các chiến thuyền của giặc Ân. Trên bộ Hùng Sơn chỉ còn việc bắt sống những tên giặc còn sống sót đưa về báo công với triều đình. Thắng trận trở về Long công đi dọc bờ sông Nguyệt Đức, tự nhiên có một trận mưa to gió lớn, trời mây mù mịt. Long công tự hóa trên dòng sông. Sơn công rút quân về đến doanh trại Hiên Đường. Nhân dân nô nức đổ ra đón mừng. Đêm ấy tự nhiên có một đám mây ngũ sắc bay về, sấm sét nổ ầm ầm, mây mù tối tăm. Sơn công cũng tự hóa, mối đùn thành mộ.

Nhân dân và quân sĩ cho là điềm lạ, cấp tốc tâu về triều đình. Vua Hùng Huy Vương vô cùng thương tiếc và giao đình thần đem sắc chỉ tặng phong và ban thưởng cho nhân dân Hiên Đường. Miễn tô thuế, thiết lập hội đồng tại sở thờ phụng lập đền thờ để cả nước cùng thờ phụng. Đồng thời phong tước cho hai vị tướng:
– Long công được phong là Uy Long Đại vương.
– Sơn công được phong là Uy Sơn Đại vương.

Ban sắc chỉ cho nhân dân Hiên Đường thờ cúng hai vị ở chính lăng từ sở tại. Cứ mỗi năm xuân thu nhị kỳ khiển quan tế lễ. Các nơi thờ cúng hai vị trong cả nước có tất cả 42 đền thờ.

Lại nói đến thời Đông Hán, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm 349 năm cho đến nước Nam trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần 4 họ đã khai sáng ra cơ đồ lớn đều ban thưởng người có công. Khi triều Lê Trang Tông có quan đại thần Thái úy cũng khởi nghĩa quân diệt nhà Mạc. Quan Thái úy có yết kiến đền thờ hai vị Uy Long Đại vương, Uy Sơn Đại vương ở Hiên Đường và xin cầu giúp nước. Trận đó Thái úy diệt xong nhà Mạc.

Đến hiệu Lê Vương Bình, khi đó còn nhà Mạc lên ngôi hoàng đế đã phong 4 chữ “Vạn cổ Phúc thần” cho hai vị tướng quân ở đền thờ Hiên Đường. Xuân thu nhị kỳ cả nước hương hỏa lâu dài thịnh vượng.

Các ngày lễ. Các ngày sinh, hóa, khánh tiết tế lễ:
Ngày 8 tháng 2 là ngày sinh hai vị Hùng Long, Hùng Sơn.
Ngày 12 tháng 9 là ngày kỵ nhật.
Ngày mồng 4 tháng Giêng là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 5 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 7 tháng 7 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 8 là ngày Khánh hạ.
Ngày 10 tháng 12 là ngày Khánh hạ (khai sắc), ngày kỵ nhật quan Bồ chính Hùng Trạc.

Các tên húy: Long, Sơn, Chạc, Châu (bốn chữ).

Chi phí làm bia: mua bia đá hết 53 quan. Thuê mang về hết 15 quan. Thuê khắc chữ hết 45 quan.

Kính soạn Thần tích ngày 10 tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ nhất. Người phụng soạn Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn …

Leave a comment