Bản dịch đăng trong sách Đình, đền tướng quốc “Quốc tướng linh từ” làng Mẫn Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, 2016.
Ngọc phả cổ về sự tích Vạn Hộ Đại vương và Lưu Thủ Đại vương anh em sinh ra từ một bọc nhà họ Trương là công thần triều vua Hùng Huy Vương họ Việt Thường
Bản chính của bộ Lễ quốc triều, bộ thứ 6, chi Ly, Nhân thần thượng đẳng
Nước Việt ta xưa, trời Nam mở vận, các bậc Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn 2000 năm, các vua Hùng dựng đặt tên hiệu gọi là tổ của Bách Việt. Các nhà Nho sau này có bài thơ ca ngợi rằng:
Thuở mới đầu nước Nam Việt từ vua Kinh Dương Vương
Thống nhất non sông được 18 đời vua
Trải trăm đời đế vương, ngàn xưa vẫn còn đó
Hơn 2000 năm rồi, hàng trăm năm hương khói.
Dịch thờ:
Khởi đầu Nam Việt tự Dương Vương
Mười tám vua Hùng một núi sông
Ngàn xưa còn đó, trăm đời đế
Hai nghìn năm lẻ mãi thơm hương.
Lại nói vào đời thứ 6 triều Kinh Dương Vương, thời gian ấy vua Hùng Huy Vương trị nước, đóng đô ở bên sông Bạch Hạc Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang, định quốc đô ở thành Phong Châu. Hùng Vương là ông vua nhân từ rộng lượng, chuyên lấy việc dưỡng dân làm gốc, rất yêu thích các vị thần tiên có thuật lạ. Đời lúc bấy giờ đều khen là bậc vua hiền.
Lại nói vào thuở ấy dân gian trong nước truyền rằng ở vùng đất trang Nham Lệnh huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có một người trưởng giả tài đức họ Trương tên húy là Thọ, lấy vợ là người trong trang là Hàn Thị Cúc. Ông họ Trương làm nghề thầy thuốc gia truyền, từng 5 đời làm lương y. Một nhà phúc hậu giàu có dư giả. Vợ chồng một lòng tích góp làm việc thiện, chỉ có điều tuổi đã cao mà điềm lành về đường con cháu chưa thấy ứng hiện. Khi ấy ông Trương đã hơn 50 tuổi, bà cũng đã hơn 40 tuổi mà vẫn chưa có dấu hiệu có con. Ông Trương nghĩ sâu xa đến công đức của tổ tông, ngày sau thờ phụng biết cậy nhờ ai? Năm tháng cứ trôi nhanh chẳng thể đợi chờ. Một hôm ông than thở với bà rằng:
- Con người ta sống ở trên đời chưa thấy ai được hoàn toàn vui sướng, vì thế mà lòng tôi lo buồn nên râu tóc bạc trắng, người ta sinh ở trên đời có 3 điều thì có con là điều lớn nhất. Vả lại tôi nghe nhà ta nối đời làm nghề y, chỉ một niềm khắc sâu trong lòng là tích góp làm việc, dốc hết sức làm điều nhân. Nay còn kém mà lòng trời chưa thấu đến cũng chẳng biết nữa. Chẳng bằng thành tâm cầu đảo, tận lực tìm thày xem đất để tu sửa phần mộ và nhà cửa. Hai việc ấy là cốt yếu hàng đầu, không bỏ quan được.
Nói xong, ông mới chọn ngày, dựng một đàn chay ở trước sân nhà làm lễ bái trời đất bách thần cầu con ba ngày. Làm lễ cầu xong, đêm hôm ấy ông mới vừa mơ màng chợp mắt, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, mũ áo tề chỉnh, đường hoàng đi thẳng vào lấy tay vẫy gọi ông dậy. Ông bèn đi theo sau cụ già. Cụ già trèo lên núi Hồng Lĩnh, ở bên cạnh có một huyệt đất giống hình cái nồi, phía trước có hình hai con cá chầu vào, mặt nước trong xanh. Hai bên trái phải có hình sư tử đá voi đá. Cụ già chỉ vào giữa huyệt đất bảo với ông rằng:
- Huyệt đất ở trong giữa nồi, trời đã ban cho người, ắt sẽ có hai người tài năng cùng xuất hiện, có thể giữ nước giúp dân. Hãy kính cẩn, kính cẩn, chớ để lộ.
Nói xong ông già bỗng nhiên biến mất. Ông bừng tỉnh mới hay là mình vẫn nằm mơ. Nhưng ông vẫn có cảm nghĩ trong lòng rằng mình thành tâm thì tất là do trời đưa thần nhân xuống báo mộng. Trong lòng rất cảm động. Ngay hôm ấy ông tìm đến núi Hồng Lĩnh, quả nhiên thấy hình thế phong cảnh giống hệt như đã thấy trong mơ, trong lòng vô cùng vui sướng. Ông bèn trở về nhà đem hài cốt của cha lên táng vào chính giữa huyệt. Lúc đang chôn cất trên núi thấy tiếng ầm ầm như sấm sét, mây mù che phủ mờ mọt, mọi người đều kinh sợ. Sau khi làm lễ mai táng xong, ngay hôm ấy ông trở về nhà. Ba ngày sau lại mộng thấy cụ già lần trước tay bê hai cây tùng đặt trong một cái tráp trao cho ông, ông nhận lấy. Cụ già lại giúp ông và đọc bài thơ rằng:
Song tùng tương hứa nhữ Trương gia
Phúc lưu trường cửu phối sơn hà
Hoàng thiên ứng hứa song tài giáng
Nhữ phúc lưu hề bách thế ca.
Nghĩa là:
Ta đem cho nhà họ Trương hai cây tùng
Phúc lộc sẽ trường tồn mãi mãi cùng với núi sông
Ngọc Hoàng đã chấp thuận hứa cho hai người tài giởi giáng xuống trần thế
Nhà ngươi được ban phúc hãy giữ lấy, muôn đời sẽ được ca tụng (công đức).
Dịch thơ:
Đôi tùng ta hứa tặng Trương gia
Phúc lớn trường tồn với sơn hà
Trời cao giáng xuống hai người giỏi
Phúc giữ trăm đời mãi ngợi ca.
Ông nghe đọc xong bài thơ bỗng bừng tỉnh dậy mới biết là mình vừa nằm mơ, nhưng vẫn cảm tưởng giấc mơ báo điềm lành cho nhà mình. Từ đấy quả nhiên bà có thai. Đến ngày 10 tháng 3 năm Đinh Mùi, bỗng nhiên khi ấy trời đất tối sầm. Cụ bà đẻ ra một bọc, sinh đôi con trai, hình dung tướng mạo khôi ngô, thân hình cao lớn, vẻ lẫm liệt thần uy khác với người thường.
Một trăm ngày sau, đặt tên cho người anh là ông Chiêu, người em là ông Tuấn. Đấy là tên cha mẹ đặt cho. Đến năm lên 6 tuổi, cụ bà mất (tức ngày 18 tháng 10). Ông Trương bèn làm lễ an táng. Năm con lên tám tuổi, ông Trương thầm nghĩ, thân mình đơn chiếc, tóc thì đã bạc, con còn ấu thơ nhỏ bé không có người giúp việc nội trợ. Ông bèn lấy con gái một nhà danh gia họ Phạm. Bốn năm sau sinh được một trai, một gái. Người vợ bé là người tính rất điêu ngoa, lại có lòng ghen ghét đố kỵ, bức bách nghiệt ngã với con riêng của chồng, tình cảnh không thể nói hết. Thanh ôi đạo trời khiến ra như thế, bậc trượng phu quân tử gặp nhiều khó khăn khắc trở là sự thường. Thời gian ấy hai ông đã 13 tuổi, thiên bẩm anh tài, cực kỳ thông minh, trí tuệ, lại là người chính trực, cương cường, nhân tâm trong ấp đều nể sợ. Vì là bậc anh hùng chí khí, đều có nhiều thuật lạ, mưu kỳ. Người dì ghẻ thấy hai ông khí khái khác người, lại càng đố kỵ thêm, muốn mưu hại hai ông để thu lấy cơ nghiệp cho mình và con. Năm ấy vào ngày 12 tháng 9 ông Trương tạ thế. Người dì cùng hai ông làm lễ mai táng. Làm tang lễ an táng xong chưa đầy 100 ngày, người dì manh tâm bàn bạc với những người thân trong họ ngoại mưu hại hai ông, để chiếm cơ nghiệp cho con mình. Hai ông biết ý, từ đấy, không nằm ngủ ở trong nhà. Nửa đêm hai ông mỗi người cầm một cây gậy tre dài nằm phục ở ngoài nhà. Đêm ấy, những người họ ngoại của người dì độ mươi người kéo đến. Hai ông trông ra đúng bọn người ấy, bèn nhẩy vọt ra phóng gậy tre đánh giết. Sau khi giết chết đám người ấy, hai ông bèn trốn đi. Trong thời gian trốn tránh hai ông hay tin có người chú họ, sinh sống lưu trú nương nhờ quê vợ ở trang Mẫn Xá huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc. Hai ông bèn tìm đến. Trong thời gian hai ông còn trên đường đi đến Mẫn Xá, mới được nửa đường, thì cũng vào thời gian này dân trang Mẫn Xá ban đêm mơ thấy có hai vị quan nhân cùng binh sĩ tiến thẳng vào trang. Hai vị quan dừng quân trú lại ngồi nghỉ ở quán sở (thời kỳ ấy trang Mẫn Xá có một ngôi quán lợp cỏ ở giữa trang ấp) truyền hô triệu người. NHân dân đều ra, có đủ các họ (khi ấy ở Mẫn Xá có các họ Nguyễn, Phạm, Vũ, Lê, Trần, Đặng, Lý, Dương, Đỗ, Hà) đều ra bái kiến. Hai vị quan hình dáng tướng mạo khôi kỳ, tuổi còn niên thiếu. Nhân dân bèn làm lễ, bái mừng và hỏi rằng:
- Dám xin hỏi tên họ và phẩm tước của hai vị quan đây và đến trang dân Mẫn Xá có việc gì sai bảo?
Hai ông đáp:
- Chúng ta phụng mệnh Tào quan ở Thiên đình, người họ Trương, vì nghe biết người chú họ lấy vợ và ở lại quê của dân trang, vì thế mới đến thăm người chú.
Nhân dân nghe xong bèn dẫn hai vị quan đến nhà họ Trương (tức người chú họ của hai ông có tên là ông Trạch lấy vợ người trang Mẫn Xá tên là Thị Thủy). Nhân dân tỉnh dậy mới biết là mộng báo. Đến ngày hôm sau nhân dân tụ họp ở ngôi quán cỏ đều nói chuyện nằm mơ, mọi người trong các họ đều nói là cũng mơ thấy như thế. Mọi người cho là sự việc kỳ lạ. Đến đêm hôm ấy nhân dân lại mơ thấy âm hồn gia tiên cha mẹ của các họ cùng báo rằng:
- Ngày mai có hai vị chúa tể Thiên đình đến ở với dân ta. Cần nhanh chóng dựng một doanh cung ở bên cạnh đường đầu trang, truyền quét dọn đường xá và các nơi dân cư.
Nhân dân chợt nghe các âm hồn đại hội, bỗng nhiên tỉnh dậy. Sáng ngày hôm sau lại tụ họp báo về giấc mộng. Lại thấy hơn trăm con chim thước quần tụ thành đàn bay đến đậu đầy vùng đất của trang ấp Mẫn Xá. Dân trang không thể đếm được số lượng chim, mọi người rất kinh ngạc. Dân trang bèn lập một đàn tế ở quán sở làm lễ cầu an tống tiễn, chỉ trong chốc lát bầy chim thước lại tự bay đi, đồng thời thấy hai ông đi đến quán. Nhân dân đang tập trung làm lễ, lại thấy hai ông hỏi ông họ Trương lấy vợ người trong ấp không rõ nhà ở xứ nào. Nhân dân (tức trang Mẫn Xá) thấy hai ông thân hình mặt mũi y như hai vị quan, thầm nghĩ lấy làm kỳ lạ mới hỏi rằng:
- Hai ông đây với nhà ông họ Trương quan hệ thân thuộc như thế nào mà tự báo nhân dân vào lúc này?
Hai ông đáp:
- Nhà họ Trương vốn là chú họ, lấy vợ người ấp ta. Nay anh em tôi tìm đến nhờ vả người chú.
Nhân dân Mẫn Xá nghe lời giải thích, cho là đã ứng đúng như trong mộng, mới tôn kính cùng nhau hướng dẫn vào nhà ông Trương. Ông Trương thấy hai ông đi đến thì rất mừng nói:
- Ta từ khi lấy vợ sinh sống ở ấp này đã lâu rồi. Đêm hôm trước bỗng mơ thấy hai người cháu cùng quân sĩ đi đến. Nay quả nhiên đúng thực như vậy, việc này chắc do trời định vậy?
Nhân dân nghe chuyện rất tin sợ.
Lại nói từ đấy ông Chiêu và ông Tuấn, hai anh em ở lại nương nhờ ông chú họ Trương. Tình tuy là chú cháu nhưng thân yêu như tình cha con, rất là quý trọng. Nhân dân trong trang ấp, đã thấy điềm lành chim thước và giấc mơ báo ứng, tất cả đều tôn kính, không dám coi thường. Hai ông vốn là thiên tài giáng thế, tư chất là bậc thánh, sinh ở trần gian, vốn rất thông minh trí dũng, tình cảm tuy là những người lưu lạc, nhưng mà khí độ vượt hẳn người thường, không dưới một ai. Hai ông ở lại đất này (tức trang Mẫn Xá) được một hai năm thì thiên hạ gặp thiên tai, hạn hán. Lúa mạ trồng cấy bị cháy khô, bệnh dịch lở ngứa khá nhiều. Trang Mẫn Xá bị nặng nhất trong quận huyện. Khi ấy nhân dân trang Mẫn Xá lập đàn cầu mưa, làm lễ cầu an, đến ba bốn lần không có kết quả. Mấy tháng sau nhân dân nhiều người bị ốm đau lại thêm tai hạn, đói khát, nhân dân hết sức lo lắng. Sau đó lại lập đàn làm lễ. Làm lễ xong đêm ấy nhân dân đều mơ thấy một cụ già râu tíc bạc phơ, đi theo sau là các âm hồn gia tiên của các họ có đến hơn ba bốn trăm người. Cụ già cùng các âm hồn đi theo trước hết vào nhà ông Trương. Nhân dân đi theo sau quan sát. Nhân dân nhìn thấy đều là các vị qua nhân, cùng ngồi, hai ông ngồi ở hai bên trái và bên phải, có quân sĩ đứng hầu. Lại nghe thấy hai ông hỏi cụ già:
- Cụ là ai có việc gì mà đến đây?
Cụ già đáp:
- Thần là quan bản thổ ở đất Mẫn Xá, nay nhân dân bị thiên tai hạn hán lại bị thêm bệnh ôn và lở ngứa, nay có hai vị chủ quan, quyền cai quản dân chúng, nay xin hai vị quan cứu giúp trị bệnh cho dân được yên lành.
Nghe nói xong mọi người ai nấy làm lễ, đương khi ấy lại thấy các âm hồn cùng bái lễ. Nhân dân đều bừng tỉnh dậy khi ấy trời đã sáng. Họ Nguyễn theo mộng bèn ra quán ở trước tiên, tập họp cùng nhân dân các họ và các vị chức sắc trong làng, mọi người nói đều mơ như thế. Các họ cũng mơ như vậy. Mọi người đều nói nguyên do như nhau. Nhân dân trong Mẫn Xá thấy sự việc trong mơ quả nhiên là như thế lấy làm kinh sợ. Ngay ngày hôm ấy (tức là ngày 12 tháng 8) nhân dân sắm sửa lễ vật cùng nhau đến nhà ông Trương làm lễ nhận làm thần dân. Khi ấy hai ông mới hỏi, nhân dân đáp:
- Hai anh em vốn là khách phương xã đến, ăn ở tại nhà người chú, nương nhờ vào đất của dân chúng tôi, nếu có tài năng gì, cứu giúp dân trong tai hạn này, dân sẽ làm lễ tôn nhượn làm thần.
Khi ấy nhân dân kể lại đầy đủ rõ ràng sự việc thấy trong mơ như thế, dám xin hai vị cứu giúp, cho dân được sinh sống lập nghiệp qua khởi nạn đói khát, tất cả đều trông đợi hậu phúc của hai vị. Hai ông nghe sự việc, trong lòng còn do dự chưa quyết bèn bảo với nhân dân rằng:
- Sự việc này xảy ra là do đạo trời báo ứng, như mọi người quả là đã thấy rõ ràng. Trong lòng chúng tôi còn phân vân vì thế chưa dám quyết. Dân làng lại nhờ cậy chúng tôi, mà chịu làm bề tôi chúng tôi sao dám nhận? Nếu như quả đúng như như lời cam kết thi ngay ngày hôm nay chúng tôi lập đàn trai giới, dân chúng đều cùng tập trung làm lễ. Anh em chúng tôi sẽ cáo với trời đất. Nếu quả đúng là anh em chúng tôi được thừa mệnh trời, cho quyền cai quản dân ở vùng đất này, nguyện xin báo mộng cho chúng tôi biết. Chúng tôi sẽ nhận dân chúng làm thần tử.
Nhân dân nghe lời mới sắm sửa thức chay, lập một đàn tế tại trước sân nhà của người chú họ của hai ông. Đêm hôm ấy hai ông vào đàn làm lễ, khấn xong, bèn nằm chờ báo mông ở bên đàn. Đến chừng quá nửa đêm, hai ông mơ màng ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên thấy một vị đại tướng từ trên trời giáng thẳng xuống, đầu đội mũ rồng, phượng sáng lấp lánh, dõng dạc truyền rằng:
- Ta vốn là sứ giả của Thiên đình sai xuống, vâng mệnh Hoàng thiên giao cho một đạo sắc “long chương” cho phép hai người mở ra xem.
Hai ông bèn vâng mệnh bái nhận, mở ra xem thấy trong đề 4 câu thơ như sau:
Lưỡng khanh sắc phó phụ Dương quân
Quyền chưởng sơn hà bá liệt huân
Họa phúc nhân dân quyền tại chủ
Khuông phù xã tắc chưởng ư dân.
Nghĩa là:
Hai người được sắc ban cho phụ giúp vua Dương vương,
Quyền cai quản núi sông và gây dựng nên công lao
Họa, phúc của dân là do các người nắm giữ,
Hãy giúp nước và bảo vệ nhân dân.
Dịch thơ:
Ban sắc hai khanh giúp thánh quân
Núi sông cai quản lập công huân
Dân gian họa, phúc hai khanh quyết
Sao cho nước mạnh với an dân.
Hai ông đọc xong bỗng tỉnh dậy, biết là quả đúng như mộng báo (cho dân), bèn mới báo cho dân nhận dân làm thần tử. Thế là truyền nhân dân lập đàn cầu mưa và cầu an. Trời bỗng nhiên mưa xuống, lúa màu tươi tốt trở lại, ruộng ao đầy nước. Những người bị bệnh lở ngứa đều khỏi. Nhân dân từ đấy mừng vui cười cười nói nói cùng bảo:
- Ngày nay dân ta được trời giáng xuống hai vị thánh cứu giúp, không phải lo gì nữa.
Khi ấy viên huyện lệnh huyện Đông Ngàn nghe biết có hai vị thần tài giỏi cứu giúp dân được yên ổn, cầu mưa mưa xuống hết sức kỳ lạ, bèn làm biểu tâu lên vua và triều đình. Vua được tin bèn sai đình thần đem xe đến triệu hai ông về triều để vua cho thi tài và trao chức vụ. Thời gian này, sứ thần vâng mệnh đến nơi hai ông trú ngụ (tức nhà ông chú Trương trang Mẫn Xá) triệu hai ông về triều. Hai ông nghe lệnh bèn nhận lệnh theo sứ thần về triều, vào điện làm lễ bái kiến dưới thềm. Khi ấy hai ông mới vừa 18 tuổi, cả hai đều thân cao 10 thước. Nhà vua xem xét hình thể, tướng mạo khôi ngô lạ kỳ bèn thử hỏi tài năng. Hai ông tâu đối trả lời lưu loát, tinh thông văn võ, không điều gì là không biết. Vua cho là rất xứng đáng, ban chỉ truyền phong ông Chiêu làm Tham nghị triều chính, ông Tuấn làm Thái học sĩ vương. Lại chuẩn y cho trang Mẫn Xá là ấp hộ nhi sở tại. Từ đấy dân phong thịnh vượng, ấp trang giàu có no đủ, tất cả từ người đến vật đều được sống yên vui, lương binh được miễn, nhà cửa khang trang, ruộng vườn rộng rãi, đều cũng nhờ ơn đức to lớn của hai ông.
Một hôm hai ông xin vua cho về quê cũ thăm viếng gia tiên. Vua hứa cho, lại ban cho vàng bạc, gấm vóc các thứ đến hơn nghìn cân. Hai ông từ tạ trước thêm lên xe tiến quân đi thẳng về quê Ái Châu. Ngay hôm về đến quê, làm lễ bái yết gia tiên cha mẹ. Nhân dân cử hàng lễ đón mừng. Hai ông mở tiệc lớn, tu sửa nhà thờ, dừng binh ở lại chừng và mươi ngày. Việc xong, hai ông lại cất quân lên xe trở về thăm người chú họ, thăm thú tình hình đất gia thần (tức trang Mẫn Xá). Hôm ấy (tức ngày 10 tháng 3) dân làm lễ đón mừng. Hai ông truyền làm lễ bái yết vợ chồng ông chú họ. Mọi việc xong, hai ông nhân rảnh rỗi đi xem xét địa thế dân cư để dựng lại cung sở, để sau này có thời gian về tụ họp vui chơi yến ẩm, và lưu binh ở lại. Hai ông xem xét địa thế dân cư đều là mảnh đất hình rồng, phượng ôm ấp, rùa rắn bao quanh. Phía Tây Nam có gò hình sao Mộc phù giúp. Phía Đông Bắc có sao Thất Diệu chầu về. Tức là có ba sao cùng chiếu, phía sau có ao nước. Phía trước có một huyệt đất hình cái nồi khai mở. Thật là chín mặt có bãi rồng lại có ngòi nước chảy từ xa bên ngoài ấp. Một dải sông Thiên Đức chảy vòng xa bên cạnh ngoài địa giớ, đều chầu về và đối ứng. Hai ông bèn dựng cung Hội đồng và đóng quân thường trú ở đó. Năm tháng đi về làm năm yến ẩm du chơi. Ở phía bên cạnh địa giới, phía trước trang ấp, trên đó có thế đất rồng uốn quanh, phía trước lại có vùng nước hình cái nồi mở ra có hai dòng nước giao nhau. Phía sau có sao Kim mang hỏa. Phía trước có sao Mộc án ngữ phù trợ. Tựa hướng Đông Đông Bắc, nhìn hướng Tây Tây Nam. Hai bên trái phải như có hai cánh cửa đóng mở đều cùng ôm quanh và chầu về đất ấy. Hai ông truyền dựng cung sở. Khi hoàn thành, mở tiệc mừng, cho mời các cụ già và nhân giân các họ cùng đến ăn tiệc mừng. Trong khi yến tiệc vui vẻ ông Chiêu nói với nhân dân rằng:
- Nay đã kết thành tình thày trò và đại nghĩa vua tôi, việc này là do trời định, không phải di ta mong ước, cũng như chẳng phải do dân cầu mong. Hơn nữa anh em tôi từ khi sinh ra đã biết mệnh trời, sức khỏe có thể nhấc đỉnh, bạt núi, tài năng vượt hẳn người thường. Ắt là núi sông không phụ anh em chúng tôi, quả nhiên được dự vào hàng quan chức của triều đình, thật là như ý mà dân tình cũng được nhờ cậy. Nay ta hưởng ơn đức của vua dồi dào, lộc nước cũng nhiều, nên ban tặng cho dân 10 nén vàng để làm vốn chung, mua thêm ao ruộng, lưu lại về sau. Đạo do trời định. Nghĩa vua tôi, không thể mua danh để đời sau tôn thờ được, chớ có cho là khác thường.
Nhân dân nghe thấy lời nói, bèn làm lễ hết lo sợ và nhận lễ. Yến tiệc xong, ông Chiêu mới làm bài thơ rằng:
Thiên địa sinh lai hữu thử thân
Tiên tri bẩm mệnh việt hồ nhân
Nam thiên đáo xứ giai thần tử
Phi thị hữu duy Mẫn Xá dân.
Nghĩa là:
Có thân ta là do trời đất sinh ra,
Biết trước rằng bẩm sinh tài đức vượt hẳn người thường.
Dưới trời nước Nam, nơi nào cũng là tôi con của ta
Không chỉ có duy nhất dân trang Mẫn Xá mà thôi.
Dịch thơ:
Trời đất sinh ra mới có thân,
Trước hay tài đức vượt thường nhân
Trời Nam khắp chốn đền che chở
Chẳng riêng Mẫn Xá mới ban ân.
Ông Tuấn họa lại bài thơ rằng:
Càn khôn tú khí tự thành thân,
Tại thượng nhân hề bất hạ nhân.
Phối dữ sơn hà danh bất tử
Phù chi ư quốc bảo ư dân.
Nghĩa là:
Khí thiêng của trời đát chung đúc nên thân ta
Nên ở trên tất cả mọi người thường
Tên tuổi chúng ta bất tử cùng sông núi
Luôn luôn giúp nước và bảo vệ dân.
Dịch thơ:
Khí thiêng trời đất đúc nên thân
Vượt trên tất cả đấng thường nhân
Tên tuổi núi sông lưu bất tử,
Giúp dân cứu nước mãi thi ân.
Hai ông làm thơ yến tiệc xong bèn lên xe đem quân về triều, làm lễ bái yết vua. Vua lại phong cho ông Chiêu là Thái bảo Đại tướng quân, ông Tuấn làm Tham tri bộ Binh. Thời gian ấy trời lại ra tai ương gây hạn hán. Vua sai ông Chiêu đi tuần sát tình hình trong thiên hạ và cầu trời mưa. Ông vâng mệnh cất quân đi tuần sát thiên hạ. Được chừng một năm ông tiến quân đến vùng đất nào, truyền vùng đất ấy dựng đàn cầu mưa, tất cả đều thấy mưa xuống trút nước, ruộng ao đầy nước, lúa màu hồi sinh xanh tốt. Thiên hạ tất cả đều nhở vào công đức của ông, dân được no đủ yên vui. Các nơi nhân dân đều làm biểu tâu về triều. Vua nghe tin rất mừng bèn triệu ông về triều. Ông Chiêu vâng lệnh về triều, làm lễ bái tạ. Vua mở tiệc mừng và phong thưởng. Lại phong cho ông làm Vạn hộ hầu. Từ đấy vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh bình, không phải lo đến các việc như đói kém bệnh tật.
Lại nói triều Nội Minh có viên đại tướng giặc người nước Hàn tên là giặc Lân, làm loạn có đến trăm vạn quân tinh nhuệ. Nội Minh thế khó chống cự được, bèn cầu viện nước Nam giúp đánh giặc Hàn. Khi ấy vua bèn sai ông Tuấn, phong làm Thái thú lĩnh 20 vạn quân giúp Nội Minh trợ chiến. Ông Tuấn vâng mệnh trước sân đình làm lễ bái tạ, từ biệt nhà vua, đem quân đến giúp Nội Minh cùng Nội Minh chống cự với giặc Hàn. Ba năm đóng quân lưu trú ở hai đất Quảng Đông, Quảng Tây phòng thủ vững chắc cự chiến với quân giặc Hàn. Về sau dẹp được giặc Hàn, vua và triều đình Nội Minh (Vua Hùng là con của Đế Nghi, em của Đế Minh, chia cho Kinh Dương Vương lúc đầu ở Nam Man xưng hiệu là họ Hùng. Người anh là Đế Minh trị vì nước Nội Minh – đều là anh em) thấy ông Tuấn là bậc anh tài thu được đất Lưỡng Quảng (tức Quảng Đông, Quảng Tây), cho trở về đất Nam Man phong ông Tuấn làm Lưu thủ Nội Minh Đại vương, trấn thủ Lưỡng Quảng.
Ba năm sau, khi ấy Nam Man nước ta có giặc Ân, tướng giặc tên là Thạch Linh thần tướng, tiến quân đến Bắc Giang, có trăm vạn quân mạnh, cờ hiệu, binh khí rợp đất, tiếng chiêng trống vang trời. Biên giới có thư báo về gấp, có ngày 5 lần thư đến. Vua sai đình thần cử tướng đi đánh dẹp nhưng đều bị thua và bị giặc giết khá nhiều, khó tìm người chống cự lại được chúng. Khi ấy vua mới triệu tập ông Tuấn về triều đánh giặc. Ông vâng mệnh trở về triều làm lễ bái yết. Vua bèn lệnh cho cả hai ông Chiêu và ông Tuấn, phong ông Chiêu làm Chiêu ứng đại vương, ông Tuấn là, Nội Minh đại vương đem quân chống giặc Ân. Khi ấy hai ông bái biệt vua vâng mệnh đem quân tiến thẳng đến Bắc Giang. Hai ống đóng quân tại phủ Từ Sơn huyện Đông Ngàn. Hai ông tuyển mộ thêm các nghĩa quân và gia thân được 822 người (gia thần thủ túc ở trang Mẫn Xá cùng các họ tập trung được 237 người đi theo hai ông đánh giặc Ân).
Hai ông xây dựng doanh nghiệp đồn lũy tại huyện Kim Hoa đóng quân cố thủ chống cự giặc Ân. Trải qua một tháng đánh nhau ba bốn trận không phân thắng bại. Hai ông thấy quân giặc Ân càng tăng viện đông đảo mà thiên hạ đều hướng về nhà Ân, bèn làm biểu tâu về triều. Vua vô cùng lo lắng, triều đình đành chịu bó tay (trước giặc mạnh). Ngay hôm đó vua cho dựng một đàn, tự thân trai giới hành lễ cầu bách thần trời đất âm phù giúp nước, mời trăm quan của triều về tập hợp tại đàn làm lễ. Sau ba ngày bỗng nhiên trời đất tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên, trên đàn mây khói cuồn cuộn, đúng lúc ấy thấy một ông lão, tóc mi bạc phơ, áo mũ chỉnh tề, thân cao 9 thước, ngồi ở ngã ba đường vừa dẫm chân múa vừa hát. Mọi người cho là rất kỳ dị bèn vào tâu với vua. Vua tự mình ra đón ông lão mời vào trong điện. Vua mời ông lão ngồi lên trên và hỏi ông lão rằng:
- Nay nước nhà đang có giặc mạnh nhà Ân làm loạn, dám hỏi tôn lão việc thắng thua như thế nào, xin tôn lão chỉ giáo.
Tôn lão gieo tiền được quẻ “lương cửu”. Tôn lão bảo:
- Hãy đi mộ tìm trong thiên hạ sẽ được người, không mấy chốc sẽ dẹp yên được giặc Ân.
Ông lão nói xong tự biến mất. Vua thầm nghĩ ông lão này ắt là hiện hình của vua Lạc Long Quân về báo ứng, bèn sai sứ giả đi mộ tìm trong thiên hạ. Thời gian ấy sứ giả đi tìm đến làng Phù Đổng huyện Tiên Du. Lúc ấy ở làng Phù Đổng có một nhà ông bà sinh được một con trai tên là Thiết Xung thần tướng, tuổi mới lên ba, ăn uống khỏe, to béo, chỉ có điều là chưa biết nói. Lúc ấy bà mẹ nghe sứ giả rao đến mới nói đùa với con rằng:
- Nay nước nhà có giặc mạnh, sứ giả đi chiêu mộ người tài giỏi trong thiên hạ để dẹp giặc. Vua ắt sẽ ban thưởng công lao. Nay con mẹ chỉ biết ăn uống mà không biết đi đán giặc để được triều đình ban cho tước trọng, báo đáp công ơn sâu nặng của mẹ bú mớm nuôi nấng.
Nghe mẹ nói, người con bỗng thốt lên lời bảo mẹ:
- Mẹ phải mời sứ giả vào đây.
Bà mẹ cho là sự việc rất lạ bèn mời sứ giả vào cho gặp. Người con vẫn nằm và bảo sứ giả rằng:
- Ngài hãy trở về và báo gấp, chế tạo một con ngựa sắt cao 30 thước, dài 10 trượng, một cây roi sắt trăm cân mang đến cho ta, để mặc ta đối phó với giặc Ân, vua không phải lo gì nữa.
Người sứ giả nghe nói, bèn vái chào chạy về tâu đầy đủ lên vua. Vua nghe chuyện rất mừng, sai chế ngựa sắt roi sắt. Đồng thời sai ông Chiêu và ông Tuấn, cưỡi tuấn mã, cầm theo long đao cùng các tướng sơn bộ, thủy bộ đem quân đi theo hai bên tả hữu trợ chiến cùng Thần vương. Ngay hôm ấy hai ông vâng mệnh trước sân triều đình đem ngựa sắt, roi sắt đến trước sân nhà, (Thần vương) bỗng vươn mình lớn mạnh, cao ngoài 30 thước, sức khỏe kinh thiên, lập tức cầm roi nhảy lên ngựa, hét vang bảo rằng:
- Ta là tướng nhà trời.
Ngựa phi nhanh như bay. Kh ấy ông Chiêu và ông Tuấn phi ngựa theo hai bên tả hữu. Chỉ trong khoảnh khắc tiến thẳng đến núi Sơn Việt, bắt được tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng chém làm ba đoạn. Quân giặc Ân bỗng thấy vậy sợ kinh hồn bỏ chạy tán loạn đại bại. Ông Chiêu, ông Tuấn cùng Thần vương đem quân truy đuổi, chém được hơn 3000 đầu giặc. Sau một chốc rơi mất roi sắt, Thần vương bèn nhổ tre đâm vào quân giặc. Giặc chết rất nhiều. Giặc Ân bị quét sạch, đất nước thanh bình. Hai ông trở về kinh đô làm biểu tâu lên. Vua được tin rất vui mừng. Khi ấy Thiết Xung thần vương đánh xong giặc Ân bèn phi ngựa thẳng tới núi Ninh Sóc, cưỡi ngựa phi thẳng lên trười (đến nay dấu chân ngựa vẫn còn). Vua bèn truyền lệnh cho nhân dân địa phương lập đền thờ phụng.
Lại nói, về hai ông, Vua có chiếu triệu hai ông về triều. Hai ông vâng mệnh đem quân về triều làm lễ bái yết. Vua mở đại tiệc khao thưởng quân sĩ ba quân. Từ đấy hai ông ở trong triều làm việc, chức đến hàng Tam công tước tòng nhị phẩm. Được nửa năm lại có giặc Ô Lý nổi lên. Vua lại sai hai ông đem quân dẹp giặc. Hai ông vâng mệnh làm lễ cất quân. Đem quân tiến đánh một trận, giặc Ô Lý đại bại tan tác, hai ông truy sát được rất nhiều quân giặc, thu lấy toàn bộ khí giới đem về kinh, làm biểu tâu lên.
Vua bèn triệu hai ông về. Hai ông vâng mệnh đem quân trở về đến núi Dũng Quyết huyện Nghi Xuân châu Hoan bỗng thấy mưa to gió bão nổi lên, trời đất tối sầm, lại thấy hai mảnh cầu vồng xuất hiện ở thân người hai ông. Hai ông bay thẳng lên trời đi mất, mầu sắc rực rỡ huy hoàng cũng đột nhiên tan biến. Hôm đó là ngày 5 tháng 10, hai ông cùng hóa. Lúc ấy quân sĩ tán loạn khiếp sợ, trong chốc lát, trời tạnh mây quang. Quân sĩ và nhân dân nghe tin đều tập trung đến đã thấy hai ông hóa rồi. Mối đất đã đùng thành ngôi mộ lớn, chỉ còn thấy đai lưng và mũ của hai ông trên mặt đất. Quân sĩ và nhân dân thấy thế cho là kỳ lạ mới làm biểu tâu về triều. Vua biết tin vô cùng thương tiếc hai vị bề tôi hiền tài có nhiều công lao đối với nước, nên sai quan triều đình về nơi hóa, truyền sai dân địa phương dựng đền thờ phụng. Lại truyền trang Mẫn Xá vốn là dân hộ nhi tu sửa cung sở thờ phụng, được miễn trừ khoản đóng góp binh lương. Hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế. ngay hôm ấy vua khen phong mỹ tự được vào bậc Thượng đẳng phúc thần trường tồn cùng trời đất, mãi mãi được ghi nhớ tôn thờ.
Thời gian ấy các quan triều đình được sai về các cung sở của hai ông truyền dân lập bàn thờ thờ phụng.
– Phong (ông Chiêu) là Vạn hộ Chiêu ứng đại vương
– Phong (ông Tuấn) là Lưu thủ Nội Minh đại vương.
Chuẩn y cho 8 giáp thuộc trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ, hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế.
Lại nói đến các thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 349 năm đến nước Nam ta trải bốn triều Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ (thần) giúp nước cứu dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, dẹp giặc thành công. Cho nên các vị đế vương các triều khen phong là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, rất sùng kính, thịnh vượng vậy.
Lại nói vào thời Triệu Việt Vương phò giúp Lý Nam Đế đánh dẹp giặc Lương. Thời gian ấy quan đại thần của Triệu Việt Vương là Trương tướng quân Hống Hát Phục Man đại vương đem quân đi đánh giặc Lương, đi qua cung sở, đền thờ ở Mẫn Xá. Thấy đền trang nghiêm rực rỡ, tướng quân họ Trương bèn cầu đảo khấn xin âm phù giúp nước dẹp giặc, thành công ắt sẽ tâu lên vua khen phong làm Thượng đẳng phúc thần, muôn đời thờ phụng. Khấn xong thấy chân hương bỗng hóa cháy nghi ngút, trong đền có tiếng vang ầm ầm như tiếng sấm. Quan quân thấy sự hiển linh thật lạ kỳ, bèn làm lễ cảm tạ. Về sau dẹp được giặc Lương, bèn truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.
Đến triều nhà Lý sau này được 8 đời, vua Lý Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, lại cũng tiến đến qua cung sở đền thờ ở trang Mẫn Xá, bỗng thấy hai con rắn hoa mày ngũ sắc rực rỡ dài hơn 1 trượng, nằm cuộn tròn ở ngoài cửa đền thờ. Đến khi vua tiến quân đến bèn ngóc đầu dậy trước xe cúi đầu như bái lạy nhà vua, rồi bỗng bò vào trong đền biến mất. Vua thấy thế cho là đền rất linh thiêng bèn hỏi các cụ già trong dân:
- Đền thờ vị thần nào vậy?
Các cụ trả lời:
- Đền thờ danh tướng triều Hùng Vương.
Vua nghe xong bèn cho dừng xe, và dừng quân một lát. Truyền cùng quân sĩ vào đền làm lễ mật đảo âm phù giúp nước đánh dẹp giặc. Chỉ một trận dẹp được giặc Chiêm. Vua lại phong là “Thượng đẳng tối linh (Thần thiêng bậc thượng đẳng).
Vào cuối thời nhà Trần họ Hồ tranh quyền (tức Hồ Quý Ly). Quân nhà Minh nhân thế chiếm lấy nước ta. Lúc bấy gờ ở núi Lôi Dương huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có người họ Lê tên Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, có đến 3000 quân mạnh trừ họ Hồ, bình định giặc Minh. Bấy giờ Lê Thái Úy vâng mệnh Lê Lợi đem quân đánh họ Hồ và quân Minh, hành quân qua cung sở đền thờ ở Mẫn Xá, thấy miếu đền trang nghiêm rực rỡ, bèn cho dừng xe, đem quân vào đền, nghỉ lại đó một đêm. Làm lễ mật đảo cầu đọc văn xin âm phù giúp nước trừ giặc thành công, đợi khi thanh bình cùng hưởng cảnh thái bình thịnh vượng. Đọc chúc xong chỉ trong khoảnh khắc thấy một đàn ong mật bay vào tụ họp đầy cả cung đền, tiếng kêu vo vo không dứt. Đến nửa đêm hôm đó Thái Úy thịu thiu mơ màng, bỗng thấy hai vị quan cao lớn đường hoàng, mũ rồng giáp ngọc rực rỡ, đai phượng, áo bào gấm sáng chói, tay cầm long đao cùng bảo:
- Nay thấy vua Lê mở vận, xin được âm phù trừ giặc thành công.
Quan Thái Úy đang nghe nói chưa hết bỗng bừng tỉnh thì khi ấy trời đã sáng rõ. Thái úy cho là hiển ứng lạ kỳ bèn làm lễ cảm tạ, rồi ngay hôm ấy đem quân đi đánh giặc, chẳng bao lâu quét sạch cả giặc nhà Hồ lẫn nhà Minh. Trăm quan phò nhà Lê lên làm vua ở Lam Sơn, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, tức Lê Thái Tổ Cao Hoàng đế. Từ đấy các triều vua nhà Lê đều khen tặng mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, làm mẫu mực tôn thờ mãi mãi. Chuẩn cho trang Mẫn Xá làm hộ nhi sở thờ phụng, mỗi năm vào hai kỳ xuân, thu sai quan triều đình đến làm lễ tế.
Phong Vạn hộ Tối linh Đại vương
Phong Lưu thủ Tối linh Đại vương.
Chuẩn cho trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ. Các điều lệ quy định nghi lễ ngày sinh ngày mất, ngày chúc mừng của thần và các màu sắc cấm kỵ, cũng như tên húy của thần kê khai như sau:
Ngày sinh của hai vị đại vương: ngày 10 tháng 3, đến 12 tháng 3 là lễ chính tế. Làm lễ nhập tịch 10 ngày, trước đó 3 ngày thì chuẩn bị mâm bàn, các thức chay như trà, hoa, oản, chuối, các thức mặn thì mổ lợn gà làm cỗ. Các trò vui có đấu vật, cờ, ca hát sau 10 ngày thì làm lễ tạ.
Ngày hóa của hai vị đại vương: ngày 5 tháng 10, đến 10 tháng 10 là lễ chính tạ. Lễ vật hành lễ có cỗ chay, trà, hoa quả, thịt lợn, bánh dày, xôi rượu, vàng mã.
Lễ Khánh hạ (lễ mừng): ngày 4 tháng Giêng. Lễ dùng cỗ chay, cũng có thể dùng thịt lợn, gà xôi, rượu và ca hát được.
Lễ Đại khánh hạ (đại tiệc mừng):ngày 10 tháng 8, làm lễ tế rước như ngày lễ sinh nhật, ca hát 3 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 5, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 11, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.
Các chữ kiêng húy: Chiêu, Tuấn, Minh ba chữ cùng tên cha mẹ của thánh nhất thiết cấm không được dùng.
Ba màu: vàng, tía, hồng đỏ, khi làm lễ cấm dùng.
Ngày 10 tháng Giêng niên hiệu Hồng Phúc thứ nhất (1577 – triều Lê Anh Tông) Đông các Đại học sĩ Viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn (ngọc phả)
Ngày 1 tháng 5 niên hiệu Tự Đức thứ 11 (1858) bản xã đến xã Bằng Đắng huyện Bạch Hạc phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây vâng sao lại từ bản chính.
Vâng sao lại lần nữa ngày 24 tháng 3 niên hiệu Bảo Đại thứ 7 (1933).