Triệu Vũ Đế, vạn cổ vĩ nhân

Cuối thời Chu mạt, cường Tần xua quân tấn công vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Văn Lang. Tần Thủy Hoàng lên ngôi xưng đế, phân chia thiên hạ trăm nước của nhà Chu thành các quận huyện trực thuộc. Vùng đất Văn Lang được chia thành các quận Quế Lâm, Long Xuyên (Tam Xuyên) và Tượng. Một đại tướng Tần là Lý Thân, phò mã của Tần Thủy Hoàng, được cử trấn giữ vùng Tây Nam nhà Tần lúc này.
Truyện Giếng Việt cho biết Thôi Vĩ, con của vị ngự sử đại phu nhà Tần đã chữa bệnh cho Nhâm Ngao, rồi sau đó đi lạc ở núi Châu Sơn. Như thế ngay sau thời Tần là cuộc khởi nghĩa của Nhâm Ngao, Triệu Đà ở vùng núi Vũ Ninh. Hoàn toàn không hề nói tới An Dương Vương nào vào cuối thời Tần lúc này nữa.
Ngọc phả Hùng Vương cho biết, Nhâm Ngao và Triệu Đà dẫn quân đánh An Dương Vương ở vùng Tiên Du, sau đó Triệu Đà lui về núi Vũ Ninh đóng quân. Nũi Vũ Ninh là tên khác của Châu Sơn trong Truyện Giếng Việt.
So sánh 2 truyện thì thấy rõ, người được gọi là An Dương Vương ở đây thực ra là Tần đế. Triệu Đà mới là người đã diệt Tần, mở nước Nam Việt, đúng như Sử ký Tư Mã Thiên chép:
Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.”
Triệu Đà chứ không phải ai khác mới là người đã giành lại 3 quận mà Tần lập ra trên đất Việt. Người tuấn kiệt lãnh đạo nhân dân Việt giành thắng lợi trước quân Tần, lập quốc năm 206 TCN là Vũ Đế Triệu Đà. Còn An Dương Vương lúc này là tên gọi khác của vua Tần, vốn xuất phát đến từ vùng đất Thục Tứ Xuyên mà chiếm nước Văn Lang của Hùng Vương.

Tuong Huu Bang 2Tượng Triệu Vũ Đế ở Hữu Bằng, Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh.

Khu vực núi Vũ Ninh từng có tới 8 làng đã lập Triệu Vũ Đế làm thành hoàng. Một vị đế vương oanh liệt, khai cơ mở nền cho một quốc gia thống nhất, một triều đại kéo dài hàng trăm năm, nhưng nay lại bị lãng quên. Nhìn bức tượng Triệu Vũ Đế duy nhất còn lại của vùng Vũ Ninh không khỏi rơi nước mắt. Người Việt ngày nay sao lại bạc bẽo đến vậy với tiền nhân?
Con “ngựa đá” Phi Liêm rồng phượng kết giao, biểu tượng của thiên hạ một nhà, nay vẫn đang phải ngậm ngùi trên đỉnh núi Vũ Ninh. “Cháu con còn nhớ tới mồ ông“?

IMG_2714

Thời đại Hùng Vương kết thúc khi nào?

Bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện do Nguyễn Cố soạn thời Lê Hồng Đức (1470) là bản Ngọc phả Hùng Vương được lưu ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương và hiện được dùng làm bản Ngọc phả chính của di tích Đền Hùng ở Phú thọ. Bản ngọc phả này so ra thì tương ứng với phần Nam Việt Hùng Thị sử ký do Nguyễn Đình Chấn soạn năm Hùng Vương 32 (thời Minh Mạng), nhưng ở phần kết thúc còn có thêm một đoạn. Trong Nam Việt Hùng Thị Sử ký của Nguyễn Đình Chấn thời đại Hùng Vương kết thúc bằng sự kiện Thục An Dương Vươn lập cột đá thề ở Nghĩa Lĩnh và cho thờ cúng các thế hệ Hùng Vương. Còn trong cuốn Ngọc phả của Nguyễn Cố có thêm phần sau (dịch theo Ngô Đức Thọ):
Thục An vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú Nam Hải, Triệu Đà làm quan lệnh huyện Long Xuyên. Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ. Biền đề ở miếu: Khai vật tế nhân. Câu đối ở miếu như sau:
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biết Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An Vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết.
Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”.
Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thủa.
Ô hô! Thịnh thay!

IMG_5952
Đền Cổ Loa.

Như vậy, theo quan niệm của thời Nguyễn (bản Nam Việt Hùng Thị sử ký) thì thời đại Hùng Vương kết thúc vào khi An Dương Vương lên thế Hùng Vương. Nhưng theo quan niệm của thời Lê (bản Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyện), thời đại Hùng Vương lại kết thúc vào thời Triệu Đà.
Ngọc phả ghi: An Vương lấy nỏ ra bắn, nỏ gẫy, bèn lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất. Tức là cơ đồ họ Hùng kết thúc vào sau khi An Dương Vương mất ngôi. An Dương Vương được coi ở đây cũng là một triều Hùng.
Thậm chí câu đối ở đình Phân Thủy tại Hưng Yên nơi thờ Triệu Đà (có lẽ nay là đình Xuân Quan ở Văn Giang) còn ca ngợi thời Hùng Vương:
想越城輸粟誰使一泓碧水便挽運以啟洪圖
念義嶺開疆竟尔數里青山流膏澤而成都會
Tưởng Việt Thành thâu túc, thuỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận khởi hồng đồ
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cánh nhĩ sổ thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Dịch:
Nhớ thủa Việt Thành chở lúa, ai khiến một dòng nước biếc, thuận vận sau để tạo hồng đồ
Nghĩ khi Nghĩa Lĩnh mở nền, người qua bao dặm núi xanh, thấm ơn dày mà nên đô hội.

IMG_2269Nghi môn Long Hưng điện ở Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Lịch sử Việt phát triển trải qua các nấc thang. Đầu tiên là thời lập quốc của Đế Minh – Kinh Dương Vương, đi khai mở Nam Giao, dựng điện thành ở Nghĩa Lĩnh. Rồi qua thời kỳ phụ đạo cha truyền con nối của Lạc Long Quân. Nổi lên một xã hội phát triển rực rỡ của Hùng Quốc Vương nước Văn Lang với hàng trăm chư hầu phiên thuộc. Thời đại Hùng Vương được coi là kết thúc khi các nước chư hầu được thống nhất, hình thành chế độ quản lý bởi nhà nước trung ương (thời kỳ phong kiến tập quyền). Thời kỳ này như trên được lấy vào thời An Dương Vương hoặc Triệu Đà.
Thực chất, sự kiện năm 256 TCN nhà Tần diệt thiên tử Chu, xưng đế thống nhất thiên hạ, được sử Việt kể là chuyện An Dương Vương nhận ngôi từ Hùng Vương. An Dương Vương lập cột đá thề là chuyện Tần Thủy Hoàng lên núi Thái Sơn phong thiện (tế trời đất) lập bia ghi công đức của nhà Tần. Do đó mốc An Dương Vương kết thúc Hùng Vương cũng là lúc chế độ quận huyện, nhà nước tập quyền ra đời trên toàn lãnh thổ Trung Hoa.

IMG_2270
Tượng Triệu Vũ Đế ở Xuân Quan.

Còn sự kiện Triệu Đà diệt An Dương Vương là chuyện Lưu Bang từ vùng Bắc Việt khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi năm 206 TCN. Cũng vì thế mà Triệu Vũ Đế được coi là tiếp nối quốc thống từ Hùng Vương và có những câu đối ca ngợi về Nghĩa Lĩnh, Việt Thành cùng công đức Hùng Vương như trên ở đình Phân Thủy. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang là người đã dẹp loạn thời hậu Tần, thống nhất cục diện phân tranh Hán – Sở, đặt nền móng lâu dài cho chế độ phong kiến tập quyền, Trung Hoa nhất thống, nối tiếp bước phát triển của dòng họ Hùng từ Tam Hoàng Ngũ Đế…

Những kinh đô đất Việt thời Tần Hán

Dấu vết khảo cổ học ở miền Bắc Việt cho biết một cách chắc chắn là ít nhất thời kỳ đầu của sử Việt đã đóng đô với những thành quách ở những nơi sau:
– Việt Trì ở Phong Châu, Phú Thọ. Tương truyền là kinh đô nước Văn Lang thời Hùng Vương.
– Cổ Loa ở Đông Anh, Hà Nội: kinh đô nước Âu Lạc thời An Dương Vương.
– Luy Lâu ở Thuận Thành, Bắc Ninh: trị sở thời Tây Hán, cho tới thời Đường mới chuyển về thành Đại La.
Vấn đề khúc mắc đặt ra là tại sao An Dương Vương lại không đóng đô ở Việt Trì, nơi Hùng Vương trước đó định đô đã hàng trăm năm? Và nhất là, tại sao chỉ sau một thời gian rất ngắn (triều đại của An Dương Vương tương truyền được có 50 năm), trị sở của khu vực đã lại chuyển sang Luy Lâu, bên kia bờ sông Đuống? Nguyên nhân lịch sử gì dẫn đến việc thay đổi trị sở/kinh đô qua các thời đại như vậy?

Co Loa A3
Các giai đoạn đắp thành ở Cổ Loa (Ảnh: Lại Văn Tới).

Khảo cổ học ở Cổ Loa đã phát hiện tới 4 lớp đắp thành. Trong đó ở lớp thứ 2 niên đại đã xác định là giữa thế kỷ II và III TCN. Như thế lớp thành đất sớm ở bên dưới có niên đại còn sớm hơn thời gian này nhiều. Từ thông tin này có thể đi đến 2 nhận định:
–  Thành do An Dương Vương xây ở Cổ Loa vốn dựa trên vị trí một tòa thành từng tồn tại trước đó khá lâu. Đây có thể là cơ sở để Ngọc phả Hùng Vương cho biết, người đầu tiên xây thành Cổ Loa là Hùng Tuyền Vương, chứ không phải An Dương Vương. Nhận định này giải thích tại sao An Dương Vương sau khi thế ngôi Hùng Vương lại đóng đô ở Cổ Loa, vì  nơi đây vốn đã là một trị sở trung tâm của khu vực từ cuối thời Hùng Vương rồi.
– Các lớp thành do An Dương Vương xây dựng chủ yếu là vào thời điểm giữa thế kỷ thứ III TCN. Như thế, thời điểm An Dương Vương thay thế Hùng Vương vào quãng năm 257 TCN theo như Đại Việt sử ký toàn thư là phù hợp. Điều này cũng đồng nghĩa là An Dương Vương không phải mới xuất hiện trong cuộc chiến với quân Tần dưới thời Tần Thủy Hoàng (quãng 218 TCN).
Như những bài trước đã chỉ ra, thực chất triều Thục An Dương Vương trong truyền thuyết Việt chính là nhà Tần. Năm 257 TCN là năm Tần diệt vị vua cuối cùng của vương triều Chu là Chu Noãn Vương, chính thức bắt đầu một triều đại mới của thiên hạ Trung Hoa. Sau khi lên ngôi thiên tử thống nhất thiên hạ nhà Tần đã cho tiến hành những cuộc xây dựng quy mô lớn như phía Bắc xây Vạn lý trường thành, phía Nam đưa hàng chục vạn người đến đóng thú. Công trình xây dựng của nhà Tần còn lại ngày nay ở Việt Nam chính là thành Cổ Loa. Truyền thuyết Việt chép là An Dương Vương xây thành trên đất Việt Thường.
Câu đối ở đền Thượng Cổ Loa:
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà thượng cố cung.
Dịch:
Tùng bách lăng Chiêu giờ đâu nhỉ
Non sông nước Thục vẫn cung xưa.

Co LoaNghi môn đền Thượng Cổ Loa.

Nút thắt thứ hai cần giải thích là tại sao ngay khi nhà Tần sụp đổ, kinh đô/trị sở của vùng Bắc Việt lại chuyển sang đất Luy Lâu? Tư liệu lịch sử cần đối chiếu cho sự kiện “dời đô” này chính là chuyện của Triệu Đà, vì diệt Tần trên đất Việt không phải An Dương Vương mà là Triệu Đà. Sử ký Tư Mã Thiên, Nam Việt Úy Đà liệt truyện chép rất rõ về việc này:
Rồi dần dần ông [Triệu Đà] dùng hình pháp giết các trưởng lại do nhà Tần đặt ra, dùng những người đồng đảng để thay thế. Khi nhà Tần đã bị tiêu diệt, Đà lập tức đánh chiếm lấy cả Quế Lâm, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vũ Vương.
Còn Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tần Thủy Hoàng mất ở Sa Khâu. Nhâm Ngao và Triệu Đà đem quân sang xâm lấn. Đà đóng quân ở núi Tiên Du, Bắc Giang đánh nhau với vua [An Dương Vương]. Vua đem nỏ thần ra bắn, Đà thua chạy. Bấy giờ Ngao đem thủy quân đóng ở Tiểu Giang (tức là [con sông] ở phủ Đô hộ, sau lầm là Đông Hồ, tức là bến Đông Hồ ngày nay), vì phạm thổ thần nên bị bệnh, phải rút về. Nhâm Ngao bảo Đà rằng: “Nhà Tần sắp mất, dùng mưu kế đánh Phán thì có thể dựng nước được”. Đà biết vua có nỏ thần, không thể địch nổi, bèn lui giữ núi Vũ Ninh, sai sứ đến giảng hòa. Vua mừng, bèn chia từ Bình Giang (nay là sông Thiên Đức ở huyện Đông Ngàn) trở lên phía Bắc thuộc quyền cai trị của Đà, trở về phía Nam thuộc quyền cai trị của vua.
Đoạn kể của truyền thuyết Việt trên cung cấp những thông tin quan trọng để xác định vị trí khởi điểm của Nhâm Ngao và Triệu Đà. Nhâm Ngao thực chất là một viên quan đóng trị sở ở vùng sông Tiểu Giang, tức là ở quãng bến Đông Hồ, hay Thuận Thành, Bắc Ninh ngày nay. Khu vực này được biết dưới tên “huyện Long Xuyên”, là nơi sau đó Triệu Đà tiếp vị của Nhâm Ngao.
Nhâm Ngao đã bị bệnh và chết ở vùng Bắc Ninh ngày nay, mà sự việc này còn được kể trong Truyện Giếng Việt, khi Thôi Vĩ chữa bệnh cho Nhâm Ngao rồi ngã xuống hang ở núi Châu Sơn. Núi Vũ Ninh hay núi Châu Sơn nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh, cũng là nơi Triệu Đà đóng quân khi đánh Tần (đánh An Dương Vương).
Đoạn trích của Đại Việt sử ký toàn thư đã dẫn ở trên cho biết, Triệu Đà và An Dương Vương đã lấy sông Thiên Đức, tức là sông Đuống, làm ranh giới phân chia khu vực quản lý. Triệu Đà giữ vùng bên này sông, tức là chiếm vùng phía Đông. An Dương Vương đóng ở thành Cổ Loa là phía Tây.
Như vậy, vùng Bắc Ninh là căn cứ ban đầu của cuộc khởi nghĩa Triệu Đà chống là nhà Tần (Thục) nên đây chính là lý do vì sao khi khởi nghĩa thành công, lập nước thì trị sở vùng Bắc Việt lại chuyển sang bên này sông Thiên Đức. Để rồi tồn tại ở đó với thành Luy Lâu kéo dài hơn 800 năm.
Dấu vết thờ Triệu Đà ở khu vực này tới nay còn khá dày đặc, với các di tích ở vùng Từ Sơn (Bắc Ninh), Xuân Quan (Hưng Yên) hay ở đầu sông Đuống là làng Văn Tinh (Xuân Canh, Đông Anh).

Van Tinh.jpg
Gian tiền tế đình làng Văn Tinh, Xuân Canh, Đông Anh (Ảnh: Nguyễn Huân).

Lý giải lịch sử cho việc dời trị sở này còn có thể đối chiếu với… Cao Tổ bản kỷ trong Sử ký Tư Mã Thiên. Cao Tổ Lưu Bang vốn là sinh ra ở vùng đất Phong, lớn lên làm đình trưởng rồi khởi nghĩa chống Tần ở đất Bái. Tuy nhiên, tướng được cử giữ đất Phong lúc đó là Ung Xỉ lại làm phản, không theo Lưu Bang, nên đã làm cho cuộc khởi nghĩa ban đầu trở nên rất gian nan. Lưu Bang đến khi thắng được Hạng Vũ rồi lên ngôi thiên tử, chỉ trở về thăm đất Bái và vẫn ghi nhớ mối thù với đất Phong, định không cho vùng đó được miễn thuế dù là nơi quê hương của ông.
Đất Phong hay Phong Châu, là vùng đất tổ từ thời Hùng Vương. Bản thân vùng Đông Ngàn Cổ Loa thời Hán gọi là Phong Khê. Còn đất Bái là vùng phía Đông, nơi Lưu Bang – Triệu Vũ Đế trảm xà khởi nghĩa. Cũng vì món nợ của đất Phong đó mà Lưu Bang đã không lấy Phong Khê – Cổ Loa làm trị sở cho vùng đất quê hương khởi nghiệp khai cơ của mình. Việc này dẫn đến xuất hiện trung tâm Luy Lâu phía bên này sông Thiên Đức thay thế cho vai trò của thành Cổ Loa thời Tần (An Dương Vương).
Câu đối ở đền Cổ Loa:
螺形險固天若或主之幾朝代幾桑滄甌貉神京終不改
龜爪靈光今無復見矣此人民此城郭封溪王烈恍然存
Loa hình hiểm cố thiên nhược vực chủ chi, kỷ triều đại kỷ tang thương, Âu Lạc thần kinh chung bất cải
Quy trảo linh quang kim vô phục kiến hỹ, thử nhân dân thử thành quách, Phong Khê vương liệt hoảng nhiên tồn.

Vương quốc Lĩnh Nam

Khái niệm “Lĩnh Nam” trong lịch sử hiện nay đang được hiểu là phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh, là loạt dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc, ngăn cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía bắc của vùng Giang Nam. Ngũ Lĩnh ở đây là đường phân thủy giữa hai con sông lớn là Dương Tử và Châu Giang. Khái niệm này còn dùng chỉ khu vực nước Nam Việt của nhà Triệu trong các cuộc đối đầu thời Tần Hán.
Tuy nhiên, đọc kỹ lại cổ thư thì danh từ Lĩnh Nam không hề được sử dụng để nói về vùng này, cũng như không gặp trong thư tịch cổ nói về thời Tần Hán. Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái là tập hợp những truyền thuyết Việt từ xa xưa, nhưng trong bộ sách này không có những chuyện ở Lưỡng Quảng mà chỉ có ở khu vực miền Bắc nước ta hiện nay. Vậy Lĩnh Nam đây đâu phải là phía Nam dãy Ngũ Lĩnh ở Quảng Đông Quảng Tây. Lĩnh Nam là chỉ khu vực miền Bắc Việt mới đúng.
Lĩnh Nam là địa danh gặp ở ngay dòng đầu tiên trong truyền thuyết dựng nước của người Việt. Truyện họ Hồng Bàng: Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái của Vụ Tiên, rồi trở về sinh ra Lộc Tục.
Ngọc phả Hùng Vương  (bản năm Thiên Phúc nguyên niên, thời Lê Đại Hành) chép: Sử ký Việt Nam. Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.
Lĩnh Nam là nơi Kinh Dương Vương lên ngôi trị vì (Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam). Bản Ngọc phả Hùng Vương thời Hồng Phúc còn cho biết trong 15 bộ của nước Văn Lang thì bộ thứ 14 là “Ngũ Lĩnh sơn Vân Nam“.
Như thế danh từ “Lĩnh Nam” trong huyền sử Việt chính xác phải là Ngũ Lĩnh Vân Nam, chỉ khu vực vùng núi phía Bắc nước ta ngày nay. Vị trí của Ngũ Lĩnh Vân Nam này được mô tả đầy đủ trong Ngọc phả Hùng Vương (bản thời Hồng Phúc):
Vua [Kinh Dương Vương] bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam đại quốc, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức thủy hồng, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên…
Vùng Ngũ Lĩnh Vân Nam ở gần các dãy núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Tam Đảo, Thái Nguyên như thế là chỉ khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam ngày nay, chạy dọc theo dãy núi Hoàng Liên Sơn từ Vân Nam tới ngã ba Việt Trì, tức là quãng các tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang ngày nay.
Việc định vị dãy Ngũ Lĩnh trong cổ sử Việt thành ra dải núi ở phía Bắc Quảng Đông Quảng Tây dẫn đến sai lệch hoàn toàn nguồn gốc xuất phát của người Việt. Với cách hiểu này người ta đã biến thời điểm lập quốc họ Hùng của Đế Minh và Kinh Dương Vương thành ra vương quốc Lĩnh Nam mới chỉ hình thành vào thời Tần Hán khi mà nhà Tần dẫn quân đánh phương Nam và Triệu Đà lập nước Nam Việt.

ngu-linh.png
Vị trí Lĩnh Nam trong sử Việt và các quận phía Nam thời Tần.

Xem xét tất cả các thư tịch về thời Tần Hán cũng đều không hề thấy nói tới từ Lĩnh Nam như sự gán ghép trên. Tư liệu thường được trích dẫn khi nói về cuộc tấn công của nhà Tần xuống phương Nam là đoạn chép trong sách Hoài Nam tử, phần Nhân gian huấn:
Vua Tần chiếm 6 nước, xem truyện này như sau: “Nhà Tần vong, tại sao vậy?”. Nguyên nhân là sai Mông Công và tướng Tương Ông Tử xây sửa thành. Phía Tây chiếm Lưu Sa, phía Bắc  đánh sông Liêu, phía Đông thì liên kết với Triều Tiên, các quận của trong nước phải kéo xe đi chinh chiến. Lại ham những món lợi như sừng tê giác, ngà voi, ngọc phỉ thúy, trân châu, nên sai quan úy Đồ Thư mang 50 vạn quân, chia làm 5 đạo. Một đạo đóng ở vùng Đàm Thành, một đạo phòng thủ ở chỗ hiểm yếu Cửu Nghi, một đạo đóng ở đô thành Phiên Ngung, một đạo đóng ở nơi biên giới Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can. Ba năm quân không cởi giáp giãn nỏ. Sử Giám Lộc không tìm được hướng đi mới sai lính đào kênh để chuyển binh lương đánh người Việt, giết thủ lĩnh Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Đoạn trích trên cho dù đã mô tả rất kỹ cuộc tấn công của Tần xuống phía Nam, nhưng không hề gọi vùng đó là Lĩnh Nam. Địa danh được nhắc tới ở đây là Tây Âu, với quân trưởng lúc đó là Dịch Hu Tống.
Một đoạn khác về việc Tần đánh phương Nam trong Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ: Năm thứ 33, (Tần Thủy Hoàng) đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Đoạn Sử ký này cũng không hề nói đến địa danh Lĩnh Nam. Khu vực Tần đánh chiếm ở đây được gọi là đất Lục Lương.
Có thể thấy, sự kiện Tần đánh Việt có tới 2 mô tả khác nhau như ở trên. Hoài Nam tử cho biết đây là cuộc tấn công quy mô lớn với 50 vạn quân, chia thành 5 đạo đi theo các hướng khác nhau, do một đại tướng của Tần là Đồ Thư cầm đầu, diệt được vùng Tây Âu. Trong khi đó Sử ký Tư Mã Thiên lại mô tả việc này như một “trò đùa”, Tần Thủy Hoàng dùng những người lưu vong, ở rể, thương gia, đến lấy đất lập 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Sự thật thì không thể có việc chiếm một vùng đất đai rộng lớn như vậy lại dùng đám hỗn quân lộn xộn như thế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì chép: Thời Tần đã hợp nhất thiên hạ, chiếm lấy Dương Việt đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng, đưa những người bị đi đày đến ở cùng người Việt, được 13 năm.
Đọc kỹ đoạn này ta thấy việc Tần Thủy Hoàng đưa người bị đi đày đến 3 quận trên đất Việt là để “sống cùng với người Việt” bản địa, chứ không phải việc tiến quân đánh chiếm. Việc dời dân đến 3 quận này hoàn toàn khác với việc Đồ Thư dẫn 50 vạn quân đánh phương Nam ở trên.
Sự kiện Đồ Thư dẫn quân Tần đánh qua đất Tây Âu như thế phải là một sự kiện khác, xảy ra trước thời Tần Thủy Hoàng. Thực ra, nó xảy ra dưới thời Tần Chiêu Tương Vương, hay cuối thời Chu Noãn Vương.
Thiên Nam ngữ lục có đoạn thơ kể về chuyện của Lý Ông Trọng vào thời điểm như sau:

Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Chu Noãn Vương bị Tần diệt năm 256 TCN, cũng là lúc có Lý Ông Trọng là người Việt làm quan cho nhà Tần. Như thế Tần chiếm đất Việt đã là từ lúc này, chứ không phải tới mấy chục năm sau khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi.
Sự kiện Tần đánh Việt được huyền sử Việt chép bằng câu chuyện Thục An Dương Vương đánh và nhận ngôi vị của Hùng Vương. Tần lúc này đã chiếm vùng đất Thục, hoặc chính gốc Tần là ở đất Thục nên Thục cũng chính là Tần. Thục tiếng Việt nghĩa là Chín (đồ chín). Còn Tần cũng được đọc là Chin(a) trong tên gọi tiếng Anh cho Trung Quốc ngày nay.
Miền đất Việt đã bị quân Tần do Đồ Thư, Sử Lộc xâm chiếm vào năm 256 TCN. Tới thời Tần Thủy Hoàng, thống nhất các nước chư hầu, cho thiết lập chế độ quận huyện trên toàn quốc thì mới có sự việc di dân đến 3 quận ở phía Đông đất Việt (Dương Việt). Khả năng những người dân được di cư đi từ vùng đất Âu Lạc mà Tần đã chiếm trước đó, sang vùng đất cảu 3 quận bên cạnh.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 34, đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành cùng với đất Nam Việt.
Rõ ràng mục đích di dân ở đây là để xây dựng cho nhà Tần, chứ không phải đánh chiếm đất đai của nước khác. Cũng chính trong việc đưa ly dân đi làm xây thành đắp đường này mà đã làm nảy sinh cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà như được kể tới trong thần tích về Triệu Vũ Đế ở Chân Định – Kiến Xương:
Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi).
Triệu Đà là một huyện lệnh nhỏ ở Long Xuyên đã đưa dân phu đi xây dựng ở vùng Ngũ Lĩnh, tức là vùng núi Hoàng Liên Sơn ngày nay. Sau đó Triệu Đà cùng dân phu bỏ trốn, lên núi Vũ Ninh (Châu Sơn) ở Bắc Ninh, để ẩn náu, chống lại nhà Tần.
Hoài Nam tử kể: … Vì vậy người Việt vào rừng rậm sống chung cùng muông thú, không chịu để quân Tần bắt làm tù binh. Họ chọn người tài trí và kiệt tuấn làm tướng, cứ đến đêm tối tấn công quân Tần, đạt được chiến thắng lớn, giết quan úy Đồ Thư, quân Tần chết cả chục vạn. (Tần) Bèn cử người đến đóng giữ.
Người tuấn kiệt được chọn làm thủ lĩnh kháng Tần lúc này chính là Triệu Đà, người mà ngay sau khi Tần Thủy Hoàng mất đã chiếm lại toàn bộ vùng đất phương Nam gồm quận Long Xuyên và 3 quận Tần đã lập ra trên đất Việt là Quế Lâm, Nam Hải và Tượng.
Có một điểm liên quan đến sự kiện di dân dưới thời Tần Thủy Hoàng trên đất Việt là câu cuối trong đoạn trên. Nguyên văn trong Hoài Nam tử là: 乃發適戍以備之 Nãi phát trích thú dĩ bị chi. Tương tự, Tần Thủy Hoàng bản kỷ đoạn này cũng viết: 以適遣戍 Dĩ thích khiển thú. Hiện câu này đang được dịch nghĩa là: đưa những người bị biếm trích đến đóng giữ.
Tuy nhiên chữ dùng ở đây không phải là Trích 謫 (trong “biếm trích”), mà là Thích 適. Chữ Thích 適 này có nghĩa chính là: Con gái xuất giá. Như: “thích nhân” nghĩa là con gái về nhà chồng. Hay nghĩa như trong từ “thân thích”.
Dĩ thích khiển thú do đó có thể hiểu là: dùng người bên nhà rể để đóng giữ.
Thật bất ngờ khi hiểu tư liệu theo nghĩa dịch này lại trùng khớp với sự tích Lý Ông Trọng ở Việt Nam. Lý Thân được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh Cung công chúa cho. Sau đó Lý Thân được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Lâm Thao có thể tương đương nghĩa với Lâm Ấp hay Lĩnh Nam. Trị sở của khu vực mà Lý Ông Trọng trấn thủ là tại vùng đất Bắc Việt ngày nay.

IMG_3663
Nghi môn trong đền Cổ Loa.

Khi đã xác định Thục chính là Tần thì suy ra thành Cổ Loa của Thục An Dương Vương là trị sở được nhà Tần xác lập trên vùng đất Việt. Người cầm đầu khu vực phương Nam lúc đó là Lý Thân, con rể của Tần Thủy Hoàng. Hiện trong đền Cổ Loa vẫn còn tượng và tục thờ Lý Ông Trọng, xác chứng thêm cho nhận định này.
Câu đối ở đình Chèm, là đền thờ Lý Ông Trọng còn nói tới liên quan giữa Lý Ông Trọng và nhà Tần sau khi thống nhất lục quốc:
六合銷兵想見雄威驚絶域
千秋遺廟疑然正氣障狂瀾
Lục hợp tiêu binh, tưởng kiến hùng uy kinh tuyệt vực
Thiên thu di miếu, nghi nhiên chính khí chướng cuồng lan.
Dịch:
Sáu nước tan binh, oai hùng nhớ thấy khiếp biên cõi
Nghìn thu để miếu, chính khí như còn chặn sóng hung.

Thục An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng và Thạch Sanh

18 triều Hùng nước Nam, thần truyền thánh kế hơn 2000 năm, dựng lập một thiên hạ họ Hùng mênh mông, gồm cả trăm chư hầu đầu non góc biển, là phên dậu bình phong, phân trăm quan, đặt trăm họ, phong trăm thần… Thời kỳ dựng nước của các vùa Hùng được kết thúc bởi sự chuyển nhượng ngôi vị từ Hùng Vương sang cho nhà Thục. Nhưng câu hỏi đặt ra: Thục là ai? Ngọc phả Hùng Vương một lần nữa lại cung cấp những thông tin cực kỳ xác đáng, giúp nhận diện triều đại tiếp nối 18 Hùng triều này.
Ngọc phả Hùng Vương của xã Hy Cương (Việt Trì, Phú Thọ) chép về đời Hùng Vương thứ 17 có sự kiện sau:
Hùng Nghị Vương thừa hưởng nhiều đời thiên hạ thái bình. Vua sinh ra đam mê tửu sắc, ham thích du chơi, không lo sửa sang võ bị. Vua nước Thục từ xa nghe tin Trung Quốc không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ phương Nam có cây kiếm thần nên còn do dự chưa quyết.
Bấy giờ chúa phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái của Hùng Vương. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa phụ đạo. Bộ Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Hùng Nghị Vương thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Hùng Nghị Vương, nói: “Quân Thục từ phía Tây đến, chỉ muốn bộ chủ [Ai Lao] truyền lại cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà vua”.
Hùng Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục vương bắt được bộ chủ phụ đạo [Ai Lao] đem về Thục, gả công chúa cho, rồi bắt nhường ngôi cho mình. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi triều Nam là anh, triều Tây là em, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó triều Tây ngừng việc binh.
Đoạn ngọc phả này cung cấp thông tin mà trước giờ ít được chú ý. Trước khi Thục Vương thay thế Hùng Vương ở đời Hùng Vương 18, thì từ đời Hùng Vương 17 đầu tiên Thục Vương đã chiếm bộ Ai Lao, tiếm vị “bộ chủ phụ đạo“. Thục Vương thậm chí còn viết thư tỏ ý “đe dọa” tới Hùng Vương để Hùng Vương không can thiệp vào chuyện đoạt vị ở bộ Ai Lao.
Nên biết rằng chức “bộ chủ phụ đạo” vốn được lập ra dưới thời Hùng Quốc Vương khi phân chia lãnh thổ. Đứng đầu một chư hầu phiên dậu (một bộ) là một bộ chủ phụ đạo. Chức vị này được phép “phụ truyền tử kế“, cha truyền con nối. Nói cách khác, bộ chủ phụ đạo chính là vua của một nước chư hầu trong thiên hạ họ Hùng. Thục Vương tranh đoạt chức vị này ở bộ Ai Lao nghĩa là đã chiếm nước chư hầu vào hàng lớn nhất, thân cận nhất của Hùng Vương.
Đoạn ngọc phả trên cũng cho biết Thục nghĩa là Tây, nhà Thục tương đương với triều đại phía Tây. Tây Thục xưng Hùng Vương Văn Lang phía Nam là anh.
Sang đời Hùng Vương thứ 18 là Hùng Tuyền Vương (hay có bản chép là Hùng Duệ Vương), Ngọc phả kể chuyện Hùng Tuyền Vương xây thành Cổ Loa, được thần Kim Quy trợ giúp diệt trừ yêu quỷ và trao cho móng rùa làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần và thành Cổ Loa vững chắc, quân Thục không làm gì được triều Hùng.
Như vậy theo Ngọc phả Hùng Vương, người xây thành Cổ Loa không phải là Thục An Dương Vương. Nói cách khác, thành Cổ Loa đã được xây trước khi Thục chiếm được Văn Lang.
Tới chỗ này lại có một chuyện khó hiểu. Đang có sức mạnh quân sự như vậy nhưng Hùng Vương lại theo lời Tản Viên Sơn Thánh, quyết định nhường ngôi cho Thục Vương, tặng thêm cả nỏ thần. Còn mình thì đi tìm tiên thuật, hóa sinh bất diệt…
Sự thực hẳn phải là khác. Thục Vương đã từng cầu hôn con gái Hùng Vương 18, nhưng không thành. Sau đó thực chất là vừa ép vừa dụ để Hùng Vương nhường lại ngôi cho mình. Đây là ý đồ của nhà Thục đã có từ thời Hùng Vương thứ 17 ở trên.
Với những sự kiện trên về Thục Vương chiếm ngôi của Hùng Vương, chấm dứt Hùng triều trong Ngọc phả, thì chợt nhận ra: Thục trong chuyện này chính là nhà Tần. Tần vốn là một chư hầu của thiên hạ Trung Hoa, vào cuối thời Chu trở nên hùng mạnh. Một trong những cuộc đánh chiếm mở rộng đất Tần là đánh vào Tây Chu. Sử gọi vùng này là Tây Âu.
Sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Tây Âu là vùng đất Vân Nam, xưa là vùng Ai Lao di. Bộ chủ Ai Lao bị Tần Thục đánh chiếm ngôi vị như thế chính là Dịch Hu Tống, một dòng dõi của Hùng Vương Văn Lang, vì:
– Dịch chỉ người đã tác Dịch, tức là Văn Vương (Văn Lang).
– Hu hay Hậu.
– Tống hay Tông.
Dịch Hu Tống = Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi của vua Dịch học Văn Vương, tức là dòng dõi vua Hùng Văn Lang.
Chỉ có Tần mới dám ngang nhiên đánh chiếm đất đai của dòng dõi Thiên tử (Tây Chu), thậm chí viết thư đe dọa vua Chu (Hùng Vương) không được can thiệp. Sau đó, còn xưng làm anh em với thiên tử Chu thay cho lễ quân thần.

bach-viet-13Vị trí các địa danh trong bài.

Tới đời tiếp theo, như đã biết với chuyện con tin của Tần là Dị Nhân Tử Sở ở rể tại nước Châu – Triệu hay trong chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy, Hùng Vương – thiên tử Chu mất thành, mất nước, mất bảo vật nỏ thần theo kiểu vừa bị chiếm vừa bị ép nhường ngôi. Thiên tử Chu Noãn Vương năm 256 TCN đã “hóa sinh bất diệt” bằng cách cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển theo thần Kim Quy. Đây cũng là năm mà Tần chính thức xóa sổ nhà Chu theo ghi chép của chính sử.
Ngọc phả Hùng Vương kể:
Thục An Vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn đức trời biển của Hùng Tuyền vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trên núi, chỉ lên trời thề rằng:
– Nguyện trời cao mây xám lồng lộng xét soi, nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng vương nơi đây nếu vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.
Nhà Tần khi diệt Chu đã không tận diệt con cháu vua Chu, mà cho họ được an trí ở một vùng đất nhỏ, cũng gọi là Đông Chu. Đây hẳn là vì giao tình giữa vua Tần với nhà Chu trong cuộc thông gia dẫn đến việc nhường ngôi nói trên.

Picture3Đá cổ (cự thạch) ở Xín Mần, Hà Giang (gần Tây Côn lĩnh).

Thêm một chi tiết là Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất thiên hạ các nước đã lên núi Thái Sơn để phong thiện tế cáo trời đất. Nên biết là núi Thái của thời kỳ này không phải là ở vùng Sơn Đông bên Tàu. Thái Sơn của thiên hạ họ Hùng là ngọn Côn Lôn, nơi vị Thái tổ Hùng Vương là Đế Minh đã khởi dựng cơ nghiệp hồng đồ. Dãy Côn Lôn này chính là dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Việt, mà được ghi rõ ràng trong Ngọc phả Hùng Vương của đền Vân Luông (Việt Trì):
Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường, ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.
Sự kiện Thục Vương lên núi Nghĩa Lĩnh lập cột đá thề là việc Tần Thủy Hoàng phong thiện ở núi Thái Sơn. Cột đá thề của Tần Thục do đó khả dĩ nhất là nằm trong khu vực… bãi đá cổ Sa Pa ở gần đỉnh Phan Xi Phăng của dãy núi tổ Hoàng Liên. Bãi đá có khắc những hình ruộng bậc thang, vuông tròn này vốn là khu vực tế đàn của thời Hùng Vương, nên sẽ hợp lý nhất đó cũng là nơi phong thiện trên núi Thái của Tần Thủy Hoàng. Suy luận hơn nữa, cũng chính vùng núi Sa Pa này có các mộ của các vị vua Hùng mà “trời táng ở núi Côn Lôn” như Ngọc phả đã ghi.
Việc Tần diệt Chu hay Thục thay Hùng, thống nhất Trung Hoa, chuyển từ chế độ phong kiến phân quyền (thiên tử – chư hầu) sang phong kiến tập quyền trung ương (chế độ quận huyện), còn được truyền thuyết Việt kể dưới góc độ khác. Đó là chuyện Chín chúa tranh vua của người Tày ở Cao Bằng, khi mà Thục Phán đã đánh bại các chúa (các nước chư hầu) rồi thôn tính luôn nước Văn Lang.

Thạch SanhTượng Thạch Sanh thờ ở chùa Đống Lân ở TP Cao Bằng.

Liên hệ xa hơn nữa, cũng ở Cao Bằng, nơi xuất xứ của truyện Thạch Sanh, lấy công chúa rồi dùng niêu cơm tiếng đàn của mình dẹp tan quân sĩ của mười tám nước. “Thạch” hay Thổ là hành chỉ hướng Tây trong Ngũ hành, tương đương với Tây Thục, hay Tần. Truyện cổ tích Thạch Sanh ghi rõ: “Về sau vua không có con trai nên nhường ngôi cho Thạch Sanh“, tức là y chang truyện vùa Hùng 18 nhường ngôi cho Thục.
Thục Vương – Tần Vương – Thạch Sanh là một. Nhận định này thật khó tin, nhưng khó có gì hợp lý hơn khi so sánh những thông tin từ Ngọc phả Hùng Vương.

Thục An Vương

Phần dịch Ngọc phả Hùng Vương của GS Ngô Đức Thọ về thời Thục Vương (đoạn cuối):

Hùng Nghị Vương thừa hưởng nhiều đời thiên hạ thái bình. Vua sinh ra đam mê tửu sắc, ham thích du chơi, không lo sửa sang võ bị. Vua nước Thục từ xa nghe tin Trung Quốc không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ phương Nam có cây kiếm thần nên còn do dự chưa quyết.
Bấy giờ chúa phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái của Hùng Vương. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa phụ đạo. Bộ Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Hùng Nghị Vương thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Hùng Nghị Vương, nói: “Quân Thục từ phía Tây đến, chỉ muốn bộ chủ [Ai Lao] truyền lại cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà vua”.
Hùng Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục vương bắt được bộ chủ phụ đạo [Ai Lao] đem về Thục, gả công chúa cho, rồi bắt nhường ngôi cho mình. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi triều Nam là anh, triều Tây là em, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó triều Tây ngừng việc binh…

Thục Vương (là chúa Phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương) từ xa nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho Tản Viên, bèn đem quân sang đánh Hùng Tuyền Vương để xâm chiếm nước Nam. Vua (Tuyền Vương) binh hùng tướng mạnh, Thục Vương mấy lần bị đánh bại. Vương bảo với Thục Vương: “Ta có sức thần, Thục Vương không sợ sao?”
Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn còn say khướt chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục. Hùng Vương bèn đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng khoanh tròn như hình con ốc, gọi là Loa Thành. Mới đầu thành đắp đến đâu đổ đến đấy. Bỗng thấy một con rùa vàng trên sông từ phía đông bơi đến, xưng là Giang sứ. Hùng Vương lấy mâm vàng đặt rùa lên đấy rồi hỏi rùa vì cớ gì mà thành đắp cứ đổ mãi? Rùa vàng đáp:
– Đó là do quỷ hại. Phải trừ tinh khí của nó đi thì thành tự nhiên đắp xong.
Tuyền Vương đem rùa vàng đến một ngôi quán gần bên núi Thất Diệu giả làm khách đi đường vào ngủ trọ. Đêm ấy tinh quỷ ở bên ngoài gọi mở cửa. Rùa vàng hét to một tiếng, quỷ không vào được, đến khoảng gà gáy quỷ binh tan chạy cả. Rùa vàng bảo vua theo vết chân quỷ mà đuổi, đến núi Thất Diệu thì tinh khí của chúng bị thu nhốt hết. Tuyền Vương sai đào núi lên, thu đựoc một cỗ nhạc khí cổ và mấy bộ xương người. Vương sai đốt huỷ, đổ tro xuống sông, đến khi ấy yêu khí của ma quỷ mới trừ hết.
Từ đó việc đắp thành của Tuyền Vương không quá nửa tháng là xong. Rùa vàng từ tạ ra đi, rút một chiếc móng đưa cho Thục Vương mà dặn rằng:
– Quốc gia yên nguy có số trời, nhung người cũng phải có phòng bị. Nếu thấy giặc đến thì dùng móng thiêng này làm cái lẫy nỏ mà bắn thì vương không có gì phải lo!
Hùng Tuyền Vương bèn sai bề tôi là Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy cái vuốt thiêng làm máy, đặt tên là “Linh hoa kim trảo thần nỗ”. Sau khi đã có nỏ thần, Hùng Tuyền Vương thu họp tàn quân, tuyển thêm dân binh, rồi sai người đưa thư cho Tản Viên, nói: “Thục Vương đem quân sang đánh, đã chiếm đô thành của ta, khanh mau đem quân đến cứu viện”
Tản Viên bèn dẫn binh mã thẳng đến Loa Thành, dàn quân đối trận với Thục Vương để khuếch trương thanh thế. Mấy hôm sau Tản Viên khuyên Hùng Tuyền Vương:
– Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm lấn nước ta. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của tiền Hoàng Đế. Nay quốc thế không được bình thường, cũng là chuyện do tiền định. Vua có yêu riêng gì một cõi đất phương nam mà cưỡng lại ý trời, làm hại sinh linh? Vả lại bệ hạ và thần đã có phép thần tiên, không gì hơn là quay về chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển, tiêu dao ở làng quê bất lão, thanh nhàn nơi gác phượng lầu rồng, há phải nhiễm bẩn bụi trần, vàng ngọc châu báu cũng chẳng bằng mảy lông, ngọc nữ tiên đồng cũng chỉ mát mắt chốc lát. Trí lực như thế mới thật là cao!
Tuyền Vương cho là phải. Rồi Tuyền Vương sai đưa thư nhường nước cho Thục Vương. Thục Vương sai sứ đến tạ ơn. Tuyền Vương nhân đó tặng cho Thục vương chiếc nỏ thần, rồi trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng với Tản Viên Sơn Tinh biến hoá vào cõi hoá sinh bất diệt.
Thục An Vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn đức trời biển của Hùng Tuyền Vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trong núi, chỉ tay lên trời thề rằng:
– Nguyện trời cao mây xám lồng lộng xét soi: nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng Vương nơi đây nếu vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.
Đọc lời khấn xong, Thục Vương lạy tạ rồi lên xe trở về kinh đô Phong Châu, cho triệu các dòng phái cành vàng lá ngọc của dòng họ Hùng ban cho danh hiệu Trung Nghĩa hương (làng Trung Nghĩa), cấp cho dân tạo lệ hưởng dụng lâu dài, cấp 500 mẫu ruộng ở gò Nghĩa Lĩnh thuộc bản thôn. Lại cấp cho các cánh ruộng ở nhiều địa phương để thu tô thuế: trên từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, dưới đến các xã ở Việt Trì hàng năm nộp hoa lợi để dùng vào việc đèn hương phụng thờ 18 đời vua Hùng từ Thánh tổ Cao hoàng đế đến các vua kế đời truyền nối.
Thục An Vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú quận Nam Hải, Triệu Đà làm lệnh doãn huyện Long Xuyên (Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ). Câu đối ở miếu:
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cạnh nhĩ sổ lý thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Khai vật tế nhân, tưởng Việt thành thâu túc, t
huỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận dĩ khải hồng đồ.
Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biêt Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết. Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, không hiệu nghiệm. An Vương bẻ nỏ vứt đi rồi lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thủa.
Ô hô! Thịnh thay!

Năm Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470), mùa xuân, tháng Ba, ngày tốt.
Hàn lâm viện trực học sĩ NGUYỄN CỐ phụng soạn.

Những phò mã của An Dương Vương chống Tần kháng Triệu

Sách Việt sử những chuyện hay tích lạ của Lê Thái Dũng có dẫn truyện về một vị tướng thời Thục An Dương Vương như sau:
Theo một tài liệu dã sử “Tình sử Mỵ Châu” thì người con gái cả của An Dương Vương là công chúa Quỳnh Anh. Trong cuộc kháng chiến chống quân Tần xâm lược, rất nhiều vị tướng đã lập công lớn, trong đó có tổng binh Võ Quốc.
Bấy giờ thấy con gái đã trưởng thành, “xuân xanh tới tuổi, đến tuần cập kê”, An Dương Vương liền tổ chức cuộc thi võ để kén chồng cho công chúa, rất nhiều anh tài võ tướng trẻ tuổi hứng khởi tham gia đua tranh thi đấu quyền cước, đao kiếm, cưỡi ngựa bắn cung. Cuối cùng, người giành chiến thắng trong đám quần kiệt ấy chính là Võ Quốc.
Sách “Tây Hồ chí” cũng có phần nhắc đến sự tích của tướng Võ Quốc, theo đó ông người ở bến Lâm Ấp, trang Long Đỗ, võ nghệ siêu quần lại có tài dụng binh. Nhờ có công dẹp phản loạn ở động Nghê Trà, bộ Dương Tuyền), lại có công đánh giặc Tần nên được vua gả công chúa Quỳnh Anh cho làm vợ.
… Khi Trọng Thủy được ở rể, mua chuộc chia rẽ các Lạc hầu, Lạc tướng và đã nắm hết nội tình triều chính Cổ Loa, phá bỏ được vũ khí thần diệu của nước Âu Lạc là nỏ Liên châu (Linh quang kim trảo thần nỏ) rồi lấy cớ trở về nước thăm cha thì lập tức, Triệu Đà đem quân tấn công Âu Lạc; vì chủ quan, An Dương Vương thua trận. Nghe tin cấp báo, phò mã tổng binh Võ Quốc cùng công chúa Quỳnh Anh dẫn quân về cứu thành Loa nhưng không kịp.
Trong trận chiến ác liệt dưới chân thành, Võ Quốc cùng người em kết nghĩa là dũng tướng Võ Trung tử trận, công chúa Quỳnh Anh được các tùy tướng hộ vệ phá vây chạy về làng Cháy ở đất Đông Ngàn (nay là làng Phù Chẩn, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh).
Giặc kéo đến vây kín, chống không nổi các tướng chỉ huy là ông Đống, ông Vực, bà chúa Quả Cảm… đã tuẫn tiết; công chúa Quỳnh Anh bị giặc bắt nhưng nàng đã dùng cây kim thoa bằng đồng tự sát để giữ lòng trung trinh, tiết hạnh.
Chuyện về vị tướng Võ Quốc (hay Võ Trung) thời An Dương Vương cũng được cuốn Thăng Long cổ tích khảo tịnh hội đồ của cụ Đăng Xuân Khanh (soạn năm 1956) nhắc tới:
Võ Trung người động Lâm Ấp đất Long Đỗ. Ông võ nghệ cao cường làm quan dưới triều Thục Vương đến chức Chưởng lĩnh tiền quân nguyên soái. Dẹp loạn Phí Công Nguyên được vua gia tặng chức Đô Thống thái bảo, lại gả cho công chúa Quỳnh Anh. Đến năm thứ 41 Triệu Đà sang xâm lược, ông phụng mệnh ra trận…
Địa danh Lâm Ấp như thế có từ thời An Dương Vương.
Trong các chuyện trên có một điểm lạ. Tướng quân Võ Quốc (hoặc Võ Trung) có công đánh quân Tần và lấy con gái An Dương Vương là công chúa Quỳnh Anh. Nhưng sau đó An Dương Vương mắc kế của Triệu Đà khi gả công chúa Mỵ Châu cho Trọng Thủy, dẫn đến mất nước.
Các nhà sử học Việt Nam hiện nay đang nghiêng về giả thuyết cho rằng Triệu Đà nổi lên ở Nam Hải (Quảng Đông), rồi tới sau khi Cao Hậu nhà Tây Hán mất (năm 180 TCN) mới đánh chiếm nước Âu Lạc của An Dương Vương. Nhưng nếu vậy tính từ lúc quân Tần đánh Việt, muộn lắm là năm 218 TCN, tới năm Cao Hậu mất có tới gần 40 năm. Hai công chúa Quỳnh Anh và Mỵ Châu hẳn có độ tuổi xấp xỉ nhau, mà công chúa Quỳnh Anh lấy chồng vào thời Tần (phò mã Võ Quốc chống Tần) cho tới thời Hán sau đó 40 năm thì công chúa Mỵ Châu tuổi đã ngoài 50, còn lấy chồng làm sao? Rõ ràng câu chuyện Trọng Thủy – Mỵ Châu phải xảy ra vào thời Tần, cùng thời với tướng Võ Quốc – công chúa Quỳnh Anh.
Một vị phò mã khác của An Dương Vương là Cao Tứ. Thần tích về Cao Tứ vẫn còn lưu giữ ở làng Hương Nghĩa (nay là khu vực đầu phố Đào Duy Từ, Hà Nội) được kể như sau:
Thời An Dương Vương ở châu Vũ Ninh có một dòng họ lớn là Cao Giai lấy bà Mãn người trong huyện… sinh ra Cao Tứ… Thời đó An Dương Vương mở khoa thi, Cao Tứ ứng tuyển, ứng đối lưu loát được sắc chỉ cho làm tham mưu. Ba năm sau làm thập đạo thống lĩnh trông coi thành Đại La. Thấy Kiên Nghĩa và Hương Bài có khí thiêng tốt đẹp ông lấy làm đồn binh hành cung. Năm đó ông 38 tuổi mà vẫn chưa đẹp duyên cùng ai. Vua bèn gả công chúa Phương Minh cho ông (công chúa Phương Minh là em gái công chúa Mỵ Châu), phong tước Tứ dương hầu. Được sau bảy năm quốc gia vô sự.
Sau Triệu Đà sai hiệu úy Đồ Thư đánh Lĩnh Nam. Vua sai phò mã thống lĩnh thủy đạo lãnh 5 vạn quân… chống cự với Triệu bảy tám năm, Quân Triệu thua trận chết vô số. Lần đó Triệu Đà đem đại quân đến Bắc Giang. Ông vâng mệnh vua đến thẳng Bắc Giang đánh một trận lớn. Quân Triệu đại bại chạy về núi Vũ Ninh. Chúng lập mưu gian, giảng hòa xin cho Trọng Thủy làm rể vua. Y dụ dỗ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần ngầm làm hỏng lẫy nỏ rồi lấy cớ trở về nước, bàn mưu với Triệu Đà đem quân đến đánh…

IMG_4635Đền Hương Nghĩa.

Đền thờ Cao Tứ nay vẫn còn, là đền Hương Nghĩa (2 làng Kiên Nghĩa và Hương Bài xưa sát nhập thành làng Hương Nghĩa) ở số 13B Đào Duy Từ, gần Ô Quan Chưởng. Tư liệu khác của đền Hương Nghĩa kể:
Cao Tứ là em Cao Lỗ – người sáng chế ra nỏ thần giúp vua Thục An Dương Vương. Cao Tứ sinh ngày 10 tháng giêng năm Đinh Hợi thời vua Hùng Vương thứ 18. Ông là người tinh tú, sức khoẻ hơn người. Khi vua An Dương Vương mở khoa thi tại Cổ Loa ông đã ứng thí. Văn võ toàn tài được vua phong: “Trấn thủ Đại La thành” sau đổi thành Thăng Long.Cao Tứ giỏi võ nghệ, làm tướng dưới thời vua Thục, đóng quân ở khu Hương Bài, Hương Nghĩa trên bờ sông Tô Lịch và được vua gả con gái là Phượng Minh công chúa. Cao Tứ lập hành cung ở Hương Nghĩa, ông chỉ huy quân thuỷ chống lại quân Tần và đã chiến thắng vẻ vang. Khi Triệu Đà xâm lược nước ta, Cao Tứ đã được phong làm Thuỷ đạo tướng quân lập 5 đồn trên sông Tô Lịch chống lại quân Triệu Đà trong suốt 7, 8 năm trời, quân Triệu Đà đã bị thua. Khi ấy, Trọng Thuỷ lợi dụng việc hoà hiếu gửi rể An Dương Vương rồi đánh cắp nỏ thần đem về nước, sau đó lại đem quân sang cướp nước ta. Cao Tứ được lệnh dàn quân trên sông Tô Lịch, chống lại quyết liệt và tử trận. Công chúa Phượng Minh sau khi biết tin chồng mình hy sinh, tự trẫm mình ở sông Bắc Giang để giữ trọn khí tiết, chung thuỷ với chồng.
Trong đền Hương Nghĩa còn câu đối nói về công nghiệp của Cao Tứ như sau:
閲我南前通鑑遺編水化孤忠標節義
建螺城三名祠峙立地靈勝蹟對馨香
Duyệt ngã Nam tiền thông giám di biên, thuỷ hoá cô trung tiêu tiết nghĩa
Kiến La Thành tam danh từ trĩ lập, địa linh thánh tích đối hinh hương
Dịch:
Xem nước Nam gương sáng xưa còn ghi, sông hóa lòng trung nêu tiết nghĩa
Dựng La Thành ba đền cao sừng sững, đất thiêng vết thánh đượm hương thơm

IMG_4659
Bốn chữ Tứ Dương linh ứng 賜陽靈應 trên mái đền Hương Nghĩa.

Thần tích Hương Bài về Tứ dương hầu Cao Tứ đặc biệt có câu: “Triệu Đà sai hiệu úy Đồ Thư đánh Lĩnh Nam”. Các nhà nghiên cứu (Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Duy Hinh) khi dịch thần tích này đã chú thích rằng chi tiết này không đúng với chính sử. Không đúng với chính sử không có nghĩa là sai. Chi tiết này, trái lại, là một chỉ định lịch sử rất chính xác. Triệu Đà trong cuộc chiến với An Dương Vương là người đã sai Đồ Thư đánh Lĩnh Nam. Nói cách khác, Triệu Đà chính là vua Tần vì Đồ Thư là tướng Tần.
2 vị tướng, 2 phò mã của An Dương Vương là Võ Quốc và Cao Tứ đều chống quân Tần rồi sau “vụ án” Mỵ Châu – Trọng Thủy đã hy sinh khi kháng quân Triệu. Không thể nói khác, chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy phải xảy ra vào thời Tần và Triệu Đà – bố của Trọng Thủy chính là vua Tần. Chính sử Việt ngày nay đã nhầm lẫn khi lấy Triệu Đà trong truyền thuyết Việt ghép với Triệu Đà nổi lên vào thời Tây Hán của Sử ký Tư Mã Thiên. Sự chắp nối râu ông nọ cắm cằm bà kia này đã dẫn đến những sự lộn xộn, vô lý về tuổi tác, thời gian của các nhân vật, như tính ra công chúa Mỵ Châu ngoài 50 tuổi mới lấy chồng hay Triệu Đà có tuổi thọ đến 121 tuổi!?
Bản chất của việc Trọng Thủy ở rể là âm mưu chiếm nước Âu Lạc của nước Tần. Nhìn nhận lại thời điểm của mối nhân duyên Tần – Việt Mỵ Châu – Trọng Thủy cho phép sắp xếp lại chính xác chân thực hơn những sự kiện và nhân vật của giai đoạn bản lề khá ngắn ngủi này khi chuyển tiếp giữa các triều đại: Hùng – Thục – Tần – Hán – Triệu và cho đầu mối rõ hơn về bí mật đã mất của chiếc nỏ thần Âu Lạc.

Những đồng tiền Đông Chu

Tiền lỗ tròn còn gọi là “hoàn tiền”, là loại tiền xuất hiện sớm ở Trung Hoa, được dùng vào cuối thời Chu. Ví dụ một số đồng hoàn tiền sau (là những hiện vật thu thập ở Việt Nam).

IMG_1423Có hai đồng hoàn tiền được thu thập từ khu vực Đông Anh (Hà Nội) có đúc nổi rất rõ hai chữ ĐÔNG CHU 東周 theo thể chữ triện ở mặt trước. IMG_1631 (2)

Mặt sau tiền nhẵn, không có chữ:

Dong Chu mat sau

Việc phát hiện những đồng hoàn tiền ở khu vực Đông Anh mang chữ Đông Chu thêm một lần nữa xác nhận khu vực miền Bắc Việt chính là phần đất Đông của nhà Chu, nơi có thành Đông Đô – Lạc Dương, hay là Đông Ngàn Cổ Loa ngày nay.
Sự kiện xây thành Cổ Loa thời Đông Chu đã từng được xác nhận trong đôi câu đối thờ Lão Tử tại đình làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang). Lão Tử là người đã giúp vua Chu (Thục An Dương Vương) dời đô về Lạc Dương – Đông Đô tại Cổ Loa (xem bài Lão Tử hóa Việt kinh):
東周風雨是何辰別把清虚開道教
南越山河惟此地獨傳幻化作神僊
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng nắm chốn thanh hư, mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.
Tiền cổ có chữ ĐÔNG CHU 東周 ở dạng đại triện còn từng được thấy ở Lào như trong đồng tiền hình xẻng sau.

Dao tien

Mặt sau đồng tiền này có chữ Vượng Cát 王吉:

Dao tien sau

Những đồng tiền có minh văn, ghi rõ ràng chữ ĐÔNG CHU 東周 tìm thấy ở Việt Nam và Lào là những bằng chứng khảo cổ trực tiếp cho nhận định thiên tử Chu của Trung Hoa có vùng đất Đông Chu là khu vực Bắc Việt ngày nay, đô thành đóng tại Cổ Loa. Vua Chu được truyền thuyết Việt chép là Thục An Dương Vương hay Vua Chủ ở Cổ Loa.
An DuongBản thân chữ AN DƯƠNG 安陽 cũng là chữ thường gặp trên các xẻng tiền cổ, khá phổ biến. An Dương này không phải là thành phố An Dương ở Hà Nam vì thành phố đó thời Tiên Tần có tên khác. Đây là tên gọi của phần đất phía Đông nhà Chu. An Dương là phía Đông yên bình, an lạc (Lạc Dương). Địa danh An Dương cũng từng tìm thấy trên những thẻ ngọc An Dương phát hiện ở Quảng Đông từ đầu thế kỷ 20.

 

 

 

Vài điều bàn về Cao Lỗ tướng quân

Về Cao Lỗ tướng quân của Thục An Dương Vương, người đã chế tạo nỏ thần chống giặc, có ý kiến cho rằng đây chẳng qua nguyên là tục “thờ đá” vì Cao Lỗ còn được gọi là Thạch thần. Di tích lăng mộ và đền thờ Cao Lỗ ở Gia Bình, Bắc Ninh bị cho là “nhầm” vì Cao Lỗ là người từ đất Thục sang nước ta, không phải quê hương bản quán ở đây và không đúng là thủy tổ họ Cao. Những ý kiến này thực ra không có cơ sở, chỉ là lấy cách nhìn “ngày nay” để bài bác chuyện xưa chứ chưa hiểu đúng bản chất của nhân vật Cao Lỗ trong bối cảnh lịch sử của thời nhà Thục.

IMG_9266Lăng mộ Cao Lỗ ở Đại Than.

Thần tích làng Vũ Dương Vũ (Hưng Hà, Thái Bình) kể (trích theo Đặng Đình Hùng, Họ Đinh thời Hùng Vương trên đất Thái Bình):
Đức Không Thuyền đại vương tên là Phẩm họ Đinh quê ở Bạch Hạc, Thành Phong Châu, tỉnh Sơn Tây, bà vợ là Trần Thị Anh. Ngài là người thi thư quán thế, hiếu đễ thuyền gia. Rất giỏi việc dùng binh, giỏi cả thi thư xạ ngự, bói toán. Khi ấy ở đời vua Hùng Duệ Vương, nghe tiếng của ngài nhà vua đã mời ngài ra giúp việc và cho ngài làm tri huyện nhưng ngài có tính khăng khái cương trực, từng không kiêng sợ. Đương thời ngài nhận chức tri huyện, có lập doanh cừ ở làng Vũ Xá, gặp năm đói kém ngài thương dân đói khát, bèn lấy tiền thuế phát chẩn cho dân. Có kẻ dèm pha tố giác với triều đình: ngài tiêu tiền thuế để làm phúc riêng cho mình. Vua bèn phế người xuống làm thứ dân, bắt ngài đi chèo đò ở bến Thần Vũ ngài không giám chối mệnh. Từ khi ngài phải về chèo đò, nhân dân đều tôn kính, thường xưng hiệu là Không Thuyền Ông.
Thời ấy ở đất Ai Lao bộ có họ Thục tên Ban (Bạn) là Thục Chúa, nghe tin vua Duệ Vương định nhường ngôi cho con rể là ông Tản Viên Sơn, bèn đem quân đánh họ Hùng. Vua sai Tản Viên Sơn đem quân ra nghênh chiến. Quân Thục bị thua, Thục Chúa chạy đến bến Hồng Vũ thì đã gần sáng, đương hồi tháng 6, tháng 7. Nước của sông to, quân của đức Tản Viên đã đuổi gần tới nơi. Trong lúc cấp bách đường cùng, Thục Chúa trông thấy ở mé sông có thuyền của Không Thuyền liền gọi cầu cứu chở qua sông. Không Thuyền cũng nghĩ thầm hẳn Thục Chúa thua trận chạy trốn, ta mà bắt được đem nộp thì được công to. Nhưng lại nghĩ rằng: “Chấp nhân ư nguy cấp chi trung, khởi vô nghĩa hồ cứu nhân ư hoạn nạn, chi chính thị nhân dã”. Ngài bảo rằng ngày nay quân của Hùng gia còn đương canh hàng nghiêm ngặt, Minh Công tạm trú gia thôn sở nguyệt. Thục Chúa còn nghi ngại chẳng giám nghe lời, ngài phải chỉ trời mà thề rằng: nếu tôi có lòng bất chính thì trời sẽ hại tôi. Thục Chúa thấy ngài quả có lòng thành thực, liền theo ngài về nhà, ngài để Thục Chúa ở chùa Vũ Xá hơn một tháng. Thấy quân Hùng gia không còn truy lùng nữa, hai ba lần Thục Chúa mời ngài cùng về bản quốc, để báo đại ân. Ngài từ chối không chịu đi, nói rằng tôi đã ăn lộc Hùng gia mà nay lại về với Minh Quân là vô đạo. Một đêm ngài nằm mộng thấy thần báo một bài thơ rằng:
Hữu thời quân tất hữu thời thần
Hà tất phu phu tác đạo nhân
Nghi giữ Thục Vương hồi Thục quốc
Công danh tái đắc ức liên thân.
Khi ấy ngài mới vui lòng về Ai Lao. Thục Chúa phong ngài là Bảo Hựu Không Thuyền đại đô đốc, thực ấp vạn hộ. Thục Chúa gọi em là bà Phượng Hoa công chúa gả cho ngài. Được 5 đến 6 tháng bà nằm mộng thấy 3 con lân nhập hoài mà có thai, đến ngày 10 tháng 2 năm Giáp Dần sinh ra một bọc, phá ra 3 người con trai. Khi đang sinh thấy hương hoa thơm ngát ở phòng sinh. Sinh được hơn trăm ngày, ngài đặt tên con trưởng là Nam Công, con thứ là Chiều Công, thứ ba là Hàn Công, đến năm 14 tuổi, bà mẹ hốt nhiên không ốm mà chết.
Đến khi Tam Công 18 tuổi, thiên kinh vạn quyển qua tay thuộc lòng. Thục Chúa đều phong tước cho. Khi ấy cha con ngài đều khuyên Thục Chúa cầu hòa cùng Duệ vương. Duệ vương được tin Thục Chúa xin cầu hòa, bèn triệu Thục Chúa lại nhường ngôi cho. Thục Chúa lên ngôi đóng đô ở thành Cổ Loa, phong Bảo Hựu làm Bảo Hựu Không Thuyền đại tướng, trưởng tử Nam Công làm quản Nam Đô phụng sự, thứ tử Chiều Công làm Phụng thị tả hữu. Quý tử Hàn công làm Chính hàn giáo thiên hạ tứ phương trí sĩ.
Từ khi ấy cha con ngài thường đi lại làng Vũ Xá. Ngài sai làm một nhà hội đồng cung để cho 3 con cùng ở. Một ngày 3 cha con cùng ngồi ở hội đồng cung chợt thấy một người đầu râu tóc bạc, đầu đội mũ hoa từ ngoài đi vào, cha con trông thấy mời vào cùng ngồi chơi nói chuyện thiên văn địa lý, văn chương thi phú thấy rất hợp liền kết làm nhất bái huynh đệ. Lão nhân đến tối thì đi, sáng sớm lại đến, đã ba, bốn ngày vẫn như thế. Đến hôm ấy lão nhân đi ra thì cha con ngài cùng đi theo, thấy lão nhân rẽ nước mà xuống sông, đến sáng sớm hôm sau cha con đi ra thì lại trông thấy lão nhân rẽ nước mà đi lên, rồi vào hội đồng cung. Thấy mọi người ngạc nhiên, lão nhân cười mà nói rằng, ta trước là con nhà Hùng gia cai trị ở Giang Khẩu, nay thấy cha con nhà ngươi là người anh tài đạo đức khí cao chí trung cho nên không lấy âm dương làm cách biệt mà đến chơi. Cha con ngài nói rằng tôn nhân đã không lấy âm dương làm cách biệt giám kết làm chi lan, có việc gì nguy cấp thì xin cấp cứu, lão nhân vâng dạ bảo rằng ta từ nay có việc triều đình không hay đi lại như trước, ngươi có việc gì muốn cầu cứu thì ta cho thần hiệu. Khi có việc gì thì hô thần hiệu ta sẽ tới, nói rồi viết hai chữ “Giang Khẩu” đưa cho cha con ngài, rồi đi.
Thời Thục Chúa tại vị đã được 32 năm có người ở Chân Định tên là Triệu Đà cử binh lại xâm chiếm, đồn trú ở Bắc Ninh Thiên Đức Giang. Thục Chúa sai sứ triệu cha con ngài về triều rồi đem quân đánh giặc. Khi ấy ngài đang thiết ban ở hội đồng cung để cầu Giang Khẩu đại vương, nghe thấy sứ triệu, ngài bèn gọi nhân dân ở làng Vũ Xá cắt cử coi giữ cung sở lập tức ngài xuất bản bộ binh mã và chọn những người tráng kiện ở làng Vũ Xá được 35 người để làm gia nô thủ túc. Thục Vương kíp sai đem một trăm nghìn quân ra đánh Triệu Đà, cha con ngài bái tạ Thục Vương rồi đem quân đường đường trực tuyến đến thiên đức giang thiết đầu sở rồi cùng Triệu Đà kháng cự. Cha con ngài cùng cha con Triệu Đà đánh nhau vài mươi trận, cha con ngài đều toàn thắng bắt được nhiều lương thực khí giới. Triệu Đà thấy cha con ngài uy dũng không dám ra đánh, đem quân về danh sở cố thủ không xuất chiến nữa.
Than ôi số mệnh tại thiên, Không Thuyền ở chốn chiến trường chợt bị bệnh nặng rồi chết vào ngày 19 tháng chạp. Ba vị Tam Công sai gia nhân về tâu Thục Vương. Vua Thục nghe tâu rất là thương tiếc, gấp sai xa giá ra chỗ quân trung đem Không Thuyền về thành đô. Khi ấy Triệu Đà gọi con cùng chư tướng bàn rằng nay Thục Vương đã mất một viên chúa tướng, Thục Vương xa giá đến đây, ta cố đánh một trận toàn thắng. Ngay đêm ấy chia làm bốn phía cùng tấn công. Đương khi 3 vị Tam Công còn đang sầu lão cùng với vua Thục và Quách Quàn thân phụ ở trong trại chợt thấy quân Triệu Đà vây bốn mặt giáp chiến. Quân Thục bị chết vô số, ba vị Tam Công ra đánh khi ấy quân Triệu phấn dũng, Tam Công không địch nổi lại chạy về trại cố thủ. Chúa Thục cả sợ, Tam Công nói rằng bệ hạ đừng lo, tôi đã có Giang Khẩu thần cấp cứu, nói rồi rồi đốt hương cầu Giang Khẩu xin lại cấp cứu ta. Vừa cầu xong chợt nổi: một trận gió to gẫy cây tốc nhà, bay sỏi đá, có tiếng gọi to rằng ta đã lại cứu lũ ngươi sao không đem quân ra đánh. Tam Công nghe thấy lập tức đem quân ra đánh. Triệu binh thất điên bát đảo bị chết vê số, Triệu Đà chạy về doanh sở.
Ba vị Tam Công mời Đức Giang Khẩu về lầu Thục Vương. Đức Giang Khẩu nói rằng ta muốn lại thăm Không Thuyền Vương rồi cùng về lầu bái yết Thục Vương. Đức Giang Khẩu thăm vị Không Thuyền Vương đã khuất rồi từ tạ mà đi, Thục Vương sai rước Không Thuyền Vương về táng ở thành Cổ Loa, lại gia tăng ở mỹ tự 6 chữ “bảo hộ, dục vận, chiến lưu”, sắc chỉ về làng Vũ Xá lập miếu ở hành cung bên chùa để thờ cúng. Thục Vương lại sai sứ đem Kim Quy thần cung giao cho ba vị Tam Công khiến lui quân Triệu Đà. Tam Quân được thần cung ấy liền thắng vài mươi trận. Triệu Đà từ ấy chạy về Chân Định, ba vị Tam Công bái tạ Thục Vương xin về làng Vũ Xá, túc trực tại nhà hội đồng cung ở làng Vũ Xá, chúc thỉnh Đức Giang Khẩu tới để mở tiệc khánh hạ.
Đương khoảng tháng 6, tháng 7, trong một ngày 3 vị Tam Công đương ngồi ở hội đồng cung sở thấy Đức Giang Khẩu rẽ nước đi lên cười mà tụng rằng:
Ngũ thập nhiên gian tại Thục Vương
Hựu quy Triệu thị khá tuy tường
Kim nai đặc thỉnh tam công đảng
Hồi thủy vân vương kết nghĩa trường.
Đương khoảng giời đất yên tĩnh ba vị Tam Công cùng hóa cả.
Câu chuyện về Không Thuyền đại vương và Giang Khẩu thần giúp Thục Vương đánh giặc đọc kỹ thấy có rất nhiều tư liệu mới mẻ đối với giai đoạn khúc mắc này của sử Việt. Tên của Thục Vương ở đây chép là Thục Ban (Bạn). Vì 2 phụ âm B và P đổi cho nhau nên Thục Bạn là tương đương với tên Thục Phán trong chính sử.
Thần tích chép Không Thuyền đại vương đánh giặc ở Thiên Đức giang. Thiên Đức là tên cổ của sông Đuống. Vị Giang thần sông Đuống ở đây gọi là Giang Khẩu hoặc Đức Giang Khẩu. Cửa sông Đuống là cửa Lục Đầu ở Bắc Ninh. Vị thần Giang Khẩu như vậy tương đương với Thanh Giang sứ giả trong truyền thuyết Kim Quy. Thanh Giang sứ là thần sông chứ không phải thần biển.
Khi nhận ra thần Giang Khẩu là thần Kim Quy thì Không Thuyền đại vương được kể phải là Cao Lỗ, vị tướng giúp vua Thục đánh giặc và chế tác nỏ thần. Cao Lỗ còn gọi là Cao Thông. Không Thuyền đọc thiết âm là Thông, trùng với tên của Cao Lỗ.
Tướng Cao Lỗ có đền thờ chính và lăng mộ tại thôn Đại Trung (Cao Đức, Gia Bình, Bắc Ninh). Khu vực này chính là nơi sông Đuống đổ vào Lục Đầu, gọi là bãi Đại Than. Sự trùng khớp vị trí của lăng Cao Lỗ và bến đò trên cửa sông Đuống trong thần tích Không Thuyền đại vương khẳng định thêm Không Thuyền chính là tướng Cao Lỗ.
Câu đối ở lăng Cao Lỗ tại Đại Than
愼密弩機萬代時君皆倚重
艱難農事千秋上帝憫精忠
Thận mật nỗ cơ vạn đại thời quân giai ỷ trọng
Gian nan nông sự thiên thu thượng đế mẫn tinh trung.
Dịch:
Cẩn mật nỏ thần, vạn đời các vua đều coi trọng
Gian nan nông nghiệp, nghìn thu thượng đế cảm lòng trung.
Cao Lỗ được biết đến là một vị tướng tài giỏi và là một nghệ nhân về các nghề thủ công, nông nghiệp. Ông là người chế tạo ra nỏ thần của nhà Thục, được coi là “ông tổ chế tạo vũ khí” của nước Nam.
Để nhận rõ Cao Lỗ là ai cần điểm lại lịch sử nhà Thục ở nước ta. Truyền thuyết về Thục An Dương Vương kể về cả một thời đại nhà Thục từ lúc dựng nước tới lúc mất nước. Đoạn đầu Thục Phán đánh Hùng Vương và lên ngôi đã được biết là chuyện Cơ Phát đánh giặc Ân, lập nên nhà Chu trong Hoa sử. Đoạn An Dương Vương xây thành Cổ Loa là sự kiện Chu Bình Vương dời đô từ Tây Kinh về Đông Kinh ở Đông Ngàn Cổ Loa. Đoạn cuối về Mỵ Châu – Trọng Thủy là việc nhà Tần diệt Chu Noãn Vương, kết thúc vương triều Chu kéo dài gần 1000 năm.
Xét trên một giai đoạn lịch sử dài như vậy, thật khó xác định Cao Lỗ là vị tướng ở thời gian nào. Chắc chắn một điều là tướng Cao Lỗ không liên quan tới việc trừ yêu diệt quỷ xây thành Cổ Loa như vẫn nhiều người lầm tưởng vì việc xây thành Cổ Loa là công tích của Huyền Thiên Lão Tử ở Đông Anh. Như vậy Cao Lỗ chỉ có thể là vị tướng ở thời kỳ đầu hoặc ở giai đoạn cuối của nhà Chu Thục.
Cao Lỗ chỉ một vị tướng người nước … Lỗ. Lỗ là nước chư hầu nằm ở phía Tây của nhà Chu. Lỗ hay Lẽ, Lý là tính chất lý lẽ của phương Tây, đối lập với tính chất tình thương, từ ái của phương Đông trong Dịch học. Cao là từ dùng để chỉ người lãnh đạo. Như thế Cao Lỗ tức là vị thủ lĩnh phía Tây.
Một loạt các tên gọi khác của Cao Lỗ khẳng định điểm này. Cao Lỗ còn gọi là Thạch thần. Hay trong thần tích ở Thái Bình Cao Lỗ trở thành Không Thuyền đại vương mang họ Đinh. Thạch hay Đinh đều là những dịch tượng chỉ hướng Tây, với tính chất tĩnh lặng, cương định.
Thần tích đền Đại Than cho biết Cao Lỗ khi sinh ra trên người có chữ Cao Lỗ Thiên, được đặt tên là Lỗ Công. Cao Lỗ Thiên không phải là “ông trời họ Cao tên Lỗ” mà là vị thủ lĩnh của trời Tây (Lỗ).
Giả thuyết như vậy thì Cao Lỗ có thể là vị tướng ở một trong 2 thời điểm. Ở thời lập quốc nhà Chu thì Cao Lỗ là Chu Công Đán, người em của Chu Vũ Vương được phong ở đất Lỗ. Chu Công hay Lỗ Công đã không về đất phong mà ở lại kinh thành nhà Chu phò tá cháu còn nhỏ là Chu Thành Vương. Sau khi dẹp loạn Vũ Canh và Tam Thúc, Chu Công đã đưa đám quý tộc nhà Ân cũ về an trí tại thành Lạc Dương, tức là ở thành Cổ Loa.
Thần tích ở Đại Than cho biết Cao Lỗ khi giúp Thục Vương đã dẫn quân như sau:
Chỉ đạo theo đường từ châu Minh Linh Bố Cánh đi ra, một đạo theo đường núi từ Quỳnh Nhai Hoàng Tùng thập châu đi ra, một đạo theo đường Tuyên Tiên Tụ Long đi ra, một đạo theo đường núi Tam Điệp Ái Châu đi ra, một đạo theo đường Hoan Châu hội quân ở cửa biển, dựng cờ lớn ở đất Mộc Châu.
Tất cả những địa danh trên cho thấy khu vực cai quản của Cao Lỗ là vùng rừng núi Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay. Đây chính là địa phận nước Lỗ, đất phong của đại công thần Chu Công Đán của nhà Chu.
Giả thuyết thứ hai nếu Cao Lỗ ở vào cuối thời Chu Thục, đã từng giúp Thục kháng Tần (Triệu), thì khả dĩ nhất Cao Lỗ là ông Lỗ Ban. Cao Lỗ được thờ là tổ nghề rèn (dưới tên Lư Cao Sơn). Lỗ Ban cũng là người nước Lỗ và được tôn là ông tổ nghề xây dựng, nghề mộc. Truyện kể về Lỗ Ban từng chế tạo các máy móc dùng trong chiến trận, như truyện Công Thâu Ban và Mặc Gia bày sa bàn đấu với nhau chín ngày đêm.
Không Thuyền đại vương ở Thái Bình họ Đinh tên Phẩm. Rất có thể chữ Phẩm là biến âm của chữ Ban, tương tự trường hợp tên Thục Ban trong thần tích so với tên Thục Phán. Đinh là hướng Tây, giống như Lỗ. Như thế Đinh Phẩm tương đương với Lỗ Ban.

P1240478

Đền Phnom Bakheng, nơi có truyền thuyết về Lỗ Ban ở Angkor.

Không rõ làm sao, trong sách Chân Lạp phong thổ ký của viên công sứ nhà Nguyên là Châu Đạt Quan ở thế kỷ 13 lại kể ở Angkor Wat trên đất Cămpuchia có mộ của Lỗ Ban:
Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angkor Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, trong một vòng thành gần mười dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Bậc thầy về xây dựng Lỗ Ban của Trung Hoa lại ở Cămpuchia. Nước Lỗ rõ ràng không ở đâu xa tận bán đảo Sơn Đông, mà là khu vực nước Lào ngày nay. Có vậy thì mộ của Lỗ Ban mới nằm trong quần thể Angkor.
Bản thân trong cách bố trí số các ngọn tháp ở Angkor đều dùng số 5 với khái niệm tương tự như Ngũ hành. Ví dụ như ở ngôi đền Phnom Bakheng được nói đến có 5 bậc tháp khi đi lên.

P1240483

5 bậc tháp ở đền Phnom Bakheng.

Trong truyện kể về Lỗ Ban (Nghiên cứu của Lỗ Ban) có thể thấy ông đã rất ủng hộ nhà Chu. Thậm chí có chỗ kể ông có người chị ở đất Chu. Lỗ Ban chế tạo ra con chim gỗ để đi tìm chị ở nước Chu. Bố của ông không biết dùng chim gỗ nên bị rơi ở nước Vũ, sau đó bị giết ở đây…
Nước Lỗ vốn là nước của Chu Công, vị đại công thần của hoàng tộc nhà Chu nên với nước Chu có quan hệ đặc biệt, luôn luôn ủng hộ nhà Chu. Tới tận cuối thời Chiến Quốc nước Lỗ vẫn còn kẻ sĩ như Lỗ Trọng Liên, thà nhảy xuống biển Đông mà chết chứ không chịu theo Tần.
Quay lại vấn đề về Cao Lỗ, người mà danh tích và sự nghiệp gắn với việc chế tạo chiếc nỏ thần. Câu đối về Cao Lỗ ở đình Đại Trung:
名振螺城昭聖跡
靈揚龟弩赫神威
Danh chấn Loa thành chiêu thánh tích
Linh dương quy nỗ hách thần uy.
Dịch:
Danh dội Loa thành rạng thánh tích
Linh thiêng Quy nỏ tỏ uy thần.
Nỏ thần của Cao Lỗ thật sự là gì thật khó biết nhưng bí quyết của nỏ nằm ở chiếc lẫy nỏ do thần Kim Quy trao tặng. Lẫy nỏ thần này được gọi thần cơ. Chữ Cơ 機 còn có nghĩa là điều then chốt, cốt yếu, chứ không nhất thiết chỉ nghĩa là chiếc lẫy để bắn nỏ. Xét về ý nghĩa của bí quyết “móng rùa” này chắc chắn phải liên quan tới Dịch học. Rùa là loài vật có mai giáp dùng để chép Dịch thời cổ (Quy tàng dịch).

IMG_9258Đình Đại Trung ở Gia Bình, Bắc Ninh.

Ngay xem trong thần tích về Không Thuyền đại vương ở Thái Bình, 3 vị con của Không Thuyền (Cao Lỗ) là Chiều Công, Nam Công và Hàn Công cùng với Giang Khẩu thần dùng nỏ thần Kim Quy thắng giặc. Tên của các vị này xếp thành đủ 4 phương. Nam Công là hướng Nam. Chiều Công là hướng Tây, hướng buổi chiều mặt trời lặn. Hàn Công là hướng Bắc, hướng của xứ lạnh (hàn). Còn Giang Khẩu thần hay Thanh Giang sứ là hướng Đông (Thanh là màu xanh, màu của phương Đông). Cùng với Không Thuyền đại vương 4 phương này hợp thành Ngũ hành.
Lỗ Ban cũng là một bậc thầy về phong thủy (Dịch học). Tới ngày nay còn truyền lại dụng cụ “thước Lỗ Ban” được sử dụng rộng rãi trong thuật phong thủy. Phải chăng bí kíp móng rùa của Cao Lỗ chính là nằm ở chiếc “thước Lỗ Ban” này? Hiểu một cách rộng hơn thì Cao Lỗ đã tạo ra một mực thước tốt nhờ vận dụng Dịch học để thiết kế các công cụ tác chiến, nhờ đó giúp cho Thục An Dương Vương chống giặc.
Thay cho lời kết bài viết, xin dẫn thêm đôi câu đối ở cổng lăng mộ Cao Lỗ tại Đại Than:
文武兼全神機妙造無雙將
龍韜虎畧却趙抗秦第壹功
Văn vũ kiêm toàn, thần cơ diệu tạo vô song tướng
Long thao hổ lược khước Triệu kháng Tần đệ nhất công.
Dịch:
Đủ gồm văn võ, sáng tạo lẫy thần kỳ diệu, vị tướng có một không hai
Tài trí hổ rồng, đánh đuổi Triệu chống giữ Tần, công lao đứng hàng thứ nhất.

Chân Định tứ linh thần

Nếu ở Nam Định có Thiên Bản lục kỳ kể về 6 sự lạ đất Thiên Bản thì ở Thái Bình cũng có Chân Định tứ linh từ, hay 4 ngôi đền thiêng của đất Chân Định. Chân Định là tên cũ của khu vực Kiến Xương. Tứ linh từ của Chân Định là nơi thờ “tứ linh thần”, 4 vị thần thiêng trên đất Thái Bình.
Ngôi đền thiêng đầu tiên được nhắc đến là đền Vua Rộc tại thôn An Điềm,  xã Vũ An của huyện Kiến Xương. Trước kia, đền nằm trong khu rừng nguyên sinh hiếm hoi của đất Thái Bình, được bao quanh bởi cây cối tươi tốt và hồ nước mát lạnh, quang cảnh rất bình yên. Theo thần tích của đền thì đây là nơi thờ 2 vị Đông Hải đại vương và Tây Hải đại vương. Tuy nhiên, thần tích không cho biết những “đại vương” này là ai, ở thời kỳ nào. Những nghiên cứu trước đây “đoán” Đông Hải đại vương là Đoàn Thượng, còn Tây Hải đại vương thì… không biết…

Den Vua Roc

Đền Vua Rộc ở Vũ An, Kiến Xương.

Câu đối cổ trong đền Vua Rộc chép:
不記何年跡扥南交雙顯聖
相傳此地名髙真定四靈神
Bất ký hà niên, tích thác Nam Giao song hiển thánh
Tương truyền thử địa, danh cao Chân Định tứ linh thần.
Dịch:
Không biết tự năm nào, dấu thác Nam Giao hai hiển thánh
Lưu truyền nơi đất nọ, danh cao Chân Định bốn linh thần.
Vế đối đầu cho biết đền Vua Rộc thờ 2 vị thần đã “hiển thánh” ở Nam Giao từ thời lâu lắm rồi, không biết năm nào nữa. Vế đối sau cho biết hai vị thần đó được xếp vào bộ “Tứ linh thần” của Chân Định. Với thông tin này thì người được thờ ở đây không thể là tướng quân Đoàn Thượng, một nhân vật khá rõ ràng vào cuối thời nhà Lý ở thế kỷ 13.
Một số tác giả cho biết chữ Lạc có thể phục nguyên âm là Rộc, chỉ ruộng lúa. Tới nay người Mường vẫn gọi ruộng là rộc. Vua Rộc như vậy có thể là Vua Lạc hay Lạc Vương, phù hợp với thời Nam Giao mở nước.
Vết tích của 2 vị thần Nam Giao ở đền Vua Rộc có thể được xác định trong một câu đối khác tại đây:
瑞應金龜神爪依依留井上
威揚木馬健蹄隠隠仰橋邊
Thụy ứng Kim Quy, thần trảo y y lưu tỉnh thượng
Uy dương mộc mã, kiện đề ẩn ẩn ngưỡng kiều biên.
Dịch:
Linh ứng Rùa Vàng, móng thần y nhiên nơi giếng cũ
Oai dương Ngựa Gỗ, vó hùng thấp thoáng chốn cầu biên.
2 vế đối của câu đối này nói tới 2 sự kiện của 2 nhân vật. Vế đối đầu khá rõ, chỉ chuyện chiếc móng mà vua An Dương Vương nhận từ thần Kim Quy và chiếc giếng nơi Trọng Thủy trẫm mình. Vế đối thứ hai nói về một con chiến mã bằng gỗ xuất chinh nơi biên ải.
Tại Thái Bình, vua An Dương Vương được thờ ở khá nhiều nơi với tên xưng phong Nam Hải đại vương. Ở làng Thao Bồi (nay thuộc xã Phương Công, huyện Tiền Hải) thần tích kể về người vợ của An Dương Vương là bà Trần Thị Chân, còn gọi là Châu Nương hay Thục Nương. Châu Nương sinh ra công chúa Mỵ Châu. Sau khi Mỵ Châu chết làng Thao Bồi lập miếu “Nhị vị mẫu tử” thờ mẹ con Châu Nương, Mỵ Châu…
Nam Hải đại vương An Dương Vương còn thờ ở nhiều nơi khác tại Thái Bình như ở làng Kênh Xuyên (Đông Xuyên, Tiền Hải), làng Cọi (Vũ Hội, Vũ Thư). Ở đây An Dương Vương được kể như một vị vua từng có công giúp an định và phát triển đời sống dân tình vùng ven biển. Như vậy, có thể thấy An Dương Vương là vị linh thần thứ nhất được thờ tại đền Vua Rộc. Nam Hải đại vương đã hiển thánh ở Nam Giao cũng hoàn toàn hợp lý.
Ngôi đền thiêng thứ hai của đất Chân Định là đền Sóc Lang ở xã Vũ Vinh, huyện Vũ Thư. Đền này thờ Mộc đức tinh quân, rất thiêng nhưng cũng không rõ sự tích ra sao. Chỉ biết có một cây gỗ trôi từ thượng nguồn về, nhân dân vớt đục thành tượng mà thờ. Nay nếu so sánh với câu đối trong đền Vua Rộc thì Mộc đức tinh quân phải là Thánh Gióng với con “ngựa gỗ” xuất chinh chốn “kiều biên”. Cái tên đền “Sóc Lang” hay Sóc Vương cũng cho thấy vị linh thần ở đây là Thánh Gióng đã bay về trời nơi núi Sóc. Nhị vị đại vương ở đền Vua Rộc như thế là An Dương Vương và Sóc Vương Thánh Gióng, rất phù hợp về không gian (Nam Giao) và thời gian.

Chua Keo

Phương đình trước Chùa Keo Thái Bình.

Ngôi đền thiêng thứ ba của đất Chân Định là đền Lại Trì ở xã Vũ Tây, huyện Kiến Xương. Theo thần tích và văn bia lưu tại di tích, đây là nơi thờ Đại pháp thiền sư Không Lộ, họ Dương, húy là Minh Nghiêm, là người làng Giao Thuỷ, phủ Thanh Hà (tỉnh Nam Định), nối đời làm nghề đánh cá. Thân mẫu họ Nguyễn, người ở ấp Hán Lý, huyện Vĩnh Lại, phủ Ninh Giang (tỉnh Hải Dương). Năm 1060 Không Lộ cùng Đạo Hạnh và Giác Hải đã sang Tây Trúc để tu luyện về đạo Phật. Năm 1061 thời vua Lý Thánh Tông, sư về nước và dựng chùa Nghiêm Quang (sau đổi tên là Thần Quang Tự) ở làng Dũng Nghĩa (xã Duy Nhât, Vũ Thư, Thái Bình) để truyền bá đạo Phật, hoằng dương Phật pháp. Chùa này được biết đến với tên chùa Keo Thái Bình.
Thời đó đạo Phật được nhà Lý coi là quốc giáo. Đức Dương Không Lộ là người hiểu về đạo Phật sâu sắc, là giáo chủ của cả vùng, ngoài việc truyền bá đạo phật, nhà sư còn có công lớn trong việc mở mang các công trình trị thuỷ nhằm đẩy mạnh phát triển kinh tế, đưa nhân dân lao động thoát khỏi đói khổ. Ông còn là người am hiểu về y thuật có công chữa bệnh cho vua Lý Thánh Tông được phong làm quốc sư. Sau Dương Không Lộ sang Trung Quốc chữa bệnh cho thái tử nhà Tống rồi xin đồng về đúc chuông, tạc tượng.
Đền Lại Trì là nơi bà Nguyễn Thị, mẹ của Không Lộ đã tu hành và hóa. Còn Chùa Keo Thái Bình là nơi Không Lộ trụ trì. Câu đối ở khu thờ thiền sư Không Lộ tại chùa Keo:
法手濟群方李代特生之聖
靈丹扶九鼎南邦不死之神
Pháp thủ tế quần phương, Lý đại đặc sinh chi thánh
Linh đan phù cửu đỉnh, Nam bang bất tử chi thần.
Dịch:
Làm phép cứu chúng phương, đời Lý riêng sinh là thánh
Thuốc thiêng chữa cửu đỉnh, bang Nam bất tử là thần.
Cửu đỉnh là 9 chiếc đỉnh, hình tượng chỉ vương quyền, chỉ Vua. Câu đối nhắc đến chuyện thiền sư Không Lộ đã chữa bệnh cho vua Lý và cứu giúp nhân dân trong vùng. Thiền sư Không Lộ do đó đã được phong làm quốc sư thời Lý (Lý triều quốc sư).
Câu đối trên cũng xác định Không Lộ là một trong những thần bất tử nước Nam. Khái niệm thần bất tử không giống với linh thần. Ngoài việc là một linh thần (thần thiêng), thần bất tử phải là người có phép thuật, có khả năng “bất tử”, tức là khả năng cải tử hoàn sinh, trường sinh bất lão hay đầu thai chuyển thế. Thường thì đó phải là những người tu hành đắc đạo thần tiên.
Trước khi Thánh Mẫu Liễu Hạnh được xếp là một trong Nam thiên Tứ bất tử thì Không Lộ thiền sư và Từ Đạo Hạnh đã được coi là các thần bất tử. Tuy nhiên, tư liệu ở đền Lại Trì trên chép Không Lộ làm Quốc sư và chữa bệnh cho vua dưới triều Lý Thánh Tông. Trong khi chuyện Từ Đạo Hạnh đầu thai lại vào thời Lý Thần Tông. Đồng thời thiền sư Không Lộ ở đây mang họ Dương, không phải họ Nguyễn (Nguyễn Minh Không) như trong những truyện của Từ Đạo Hạnh. Những chi tiết này cho thấy truyền thuyết về việc hóa thân đầu thai của Từ Đạo Hạnh thành vua Lý Thần Tông cần được xem xét thêm cho đúng với sự việc thật sự đã xảy ra.
Ngôi đền thiêng thứ tư của đất Chân Định là đền Đồng Xâm ở xã Hồng Thái, Kiến Xương. Đền này thờ đức Khai Cơ Triệu Vũ Đế, người đã lập nên nước Nam Việt thời trước Công nguyên. Đền Đồng Xâm là chứng tích rành rành về “những nỗi oan” của vua Triệu Đà. Sử sách chép Triệu Đà người Chân Định… Chân Định đây là đất Kiến Xương, Thái Bình ở Việt Nam, hoàn toàn không phải ở đâu xa lắc xa lơ tận Hà Bắc, Trung Quốc. Bản thân tên huyện Kiến Xương cũng có thể liên quan tới công nghiệp của Triệu Vũ Đế vì Kiến Xương nghĩa là kiến thiết nên nền tảng ban đầu, tương ứng với danh hiệu Khai Cơ của Triệu Vũ Đế tại đây.
Về thời nhà Triệu, ở Kiến Xương còn có nhiều chuyện lạ. Ở đình Luật Nội và Luật Ngoại (xã Quang Lịch, Kiến Xương) thờ 2 mẹ con bà Phương Dung và Thạch Công đã tận trung báo quốc, giúp Triệu Việt Vương đánh giặc Lương và hy sinh ở quãng sông Lịch Bài tại Kiến Xương. Điều lạ là cha của Thạch Công lại là ông Hùng Tuệ Công, dòng dõi vua Hùng, từng làm phủ doãn Chân Định. Câu đối ở đình Luật Ngoại:
壹門義烈雄母子
萬古山河趙越王
Nhất môn nghĩa liệt Hùng mẫu tử
Vạn cổ sơn hà Triệu Việt vương.
Dịch:
Một nhà nghĩa liệt mẹ con họ Hùng
Vạn năm sông núi đức vua Triệu Việt.
Từ thời Hùng Vương trước Công nguyên tới thời của Triệu Việt Vương chống giặc Lương theo sử sách ngày nay có dư 500 năm. Làm sao bố làm quan thời Hùng mà con lại có thể giúp vua Triệu đánh giặc? Truyền thuyết nhầm lẫn hay chính sử đã sai?

Luat NgoaiNghi môn đình Luật Ngoại.

Câu đối khác ở đình Luật Ngoại:
浩氣塞滄溟節烈一門皇趙日
芳名傳國母頡頏天古二徵間
Hạo khí tắc thương minh, tiết liệt nhất môn Hoàng Triệu nhật
Phương danh truyền quốc mẫu, hiệt hàng thiên cổ Nhị Trưng gian.
Dịch:
Khí lớn chất biển khơi, một nhà tiết nghĩa khi Vua Triệu
Danh thơm truyền quốc mẫu, ngàn năm bay bổng đất Hai Trưng.
Sử sách đã có sự nhầm lẫn. Triệu Việt Vương không phải vị vua ở thế kỷ thứ 6. Triệu Việt Vương gần thời Hùng Vương và thời Hai Bà Trưng phải là vua Triệu của nước Nam Việt. Nước Nam Việt được Triệu Vũ Đế lập từ những năm 200 trước Công nguyên. Có vậy thì những quan lại, công tướng của Triệu Việt Vương mới có thể mang họ Hùng.
Những cái tên Chân Định, Kiến Xương hay cả Thái Bình đều liên quan đến vị khai cơ Triệu Vũ Đế. “Ai đặt tên cho đất Thái Bình” thì không rõ, nhưng tên này chí ít đã có từ thời Triệu Vũ Đế vì Thái Bình là từ phản thiết của chữ Bái. Triệu Vũ Đế ở Chân Định là Bái Công đã lãnh đạo nhân dân Việt khởi nghĩa kháng Tần thắng lợi, lập ra quốc gia Nam Việt độc lập, xưng đế, là một thiên tử thực sự của thiên hạ.

Luat Noi

Gác mái đình Luật Nội.

Thử sắp xếp Chân Định Tứ linh thần theo các phương vị (Tứ trấn):
– Thục An Dương Vương nên xếp ở hướng Tây, vì Thục nghĩa là hướng Tây. Thục Phán đến từ hướng Tây. An Dương Vương có danh Tây Hải đại vương trong đền Vua Rộc.
– Sóc Vương Thánh Gióng ở đền Sóc Lang với tên Mộc đức tinh quân xếp ở hướng Đông vì hành Mộc là hành của phương Đông, ứng với tên Đông Hải đại vương ở đền Vua Rộc.
– Đồng Xâm Triệu Vũ Đế hợp lý nhất xếp ở hướng Bắc vì công nghiệp “Bắc tiến” của vị vua này. Xâm hay Thâm đều là màu xám, tối của hướng Bắc.
– Không Lộ thiền sư ở đền Lại Trì và chùa Keo có thể xếp ở trấn Nam vì vị thiền sư này gốc Nam Định.
Tứ linh từ, Tứ linh thần, Tứ trấn của đất Chân Định như vậy đã hội tụ đầy đủ cả.