Tây Hồ sự tích

Truyện Hồ Tinh trong Lĩnh Nam chích quái:

Thành Thăng Long ngày xưa gọi là đất Long Biên, đời Thượng cổ đã có người ở rồi. Đến đời vua Lý Thái Tổ chèo thuyền ở bến sông Nhị Hà, có hai con rồng dẫn thuyền đi, nhân đó mới đặt tên là Thăng Long và đóng đô ở đấy, tức là kinh thành ngày nay vậy.
Buổi đầu, chỗ đất này về phía Tây có một ngọn núi đá, dưới núi có một cái hang, có một con hồ chín đuôi sống hơn một nghìn năm thành ra yêu quái, biến hóa vạn trạng, có lúc hóa người, lúc hóa khỉ, đi khắp cả nhân gian.
Lúc bấy giờ ở dưới chân núi Tản Viên có giống người mọi gác cây kết cỏ mà ở; trên núi có một vị thần được người mọi phụng thờ. Vị thần ấy dạy cho người mọi cày ruộng, dệt vải, may áo trắng mà mặc, nhân đó gọi là Bạch y man. Hồ chín đuôi hóa ra người áo trắng nhập vào trong bọn mọi, cùng lũ mọi ca hát, dụ dỗ được người con trai con gái nào thì đem về nhốt ở hang đá; người mọi lấy làm khổ sở về việc ấy.
Long Quân mới sai bộ hạ Thủy phủ dâng nước lên đánh phá núi Tiểu Thạch Sơn, đào thành một cái đầm lớn, chính giữa thành có một chiếc vực sâu, gọi là Thi Hồ Trạch (nay là hồ Tây) rồi lập chùa quán để trấn yểm nữa (nay là Thiên Niên quán); bờ phía Tây bên đầm thì đồng nội bằng phẳng, ruộng ao cày cấy, gọi là Lỗ Hồ động. Chỗ nào cao ráo thì đều có dân cư, tục gọi là Hồ thôn. Còn cái hang nay gọi là Lỗ Hồ trạch vậy.
Câu chuyện Long Quân diệt con Cáo chín đuôi thành hồ Tây trên được xếp vào thời “thượng cổ” cùng với Lạc Long Quân. Tuy nhiên, trong chuyện không hề nói tới Lạc Long Quân mà chỉ nói “Long Quân”. Hồ Tây vốn là một nhánh sông Hồng, hình thành khá muộn về sau này, nên khó có thể thời Lạc Long Quân 4000 năm đã có hồ, có động, có thôn như vậy. Lịch sử gắn với huyền thoại hình thành và phát triển của Hồ Tây thực sự ra sao?

Bat Thap
Khu vực tháp trong chùa Thiên Niên – đàn trấn yểm của Huyền Nguyên đại đế.

Trong Truyện Hồ Tinh có cho biết Long Quân đã lập chùa quán để trấn yểm bên Hồ Tây là Thiên Niên quán. Thiên Niên quán ngày nay là chùa Thiên Niên ở Trích Sài ven hồ Tây. Ở chùa này có lưu sự tích về việc diệt con Cáo chín đuôi qua tấm bia Hoàn Long Trích Sài Thiên Niên tự bi ký (Bài ký trên bia chùa Thiên Niên, thôn Trích Sài, huyện Hoàn Long). Bài ký này được khắc trên tấm bia đá dựng vào đời vua Thành Thái năm thứ 13 (1901). Nội dung kể:
Khu vực Hồ Tây, trước kia là khu rừng rậm mọc toàn gỗ lim. Trong rừng có hòn núi nhỏ, có con cáo chín đuôi đã thành tinh ẩn náu trong hang núi đó, thường thường hiện hình làm hại người và vật, đã lâu ngày không trừ được.
Vua Tiền Lý Nam Đế lấy làm lo, sai hai công chúa đi học pháp thuật để trừ hại cho dân. Hai công chúa tu luyện ba năm, kết quả chưa thành, con cáo yêu quái càng quấy nhiễu dữ. Hai công chúa xin sang phương Bắc học Trung Quốc. Thuyền đi đến sông Nguyệt Đức, buổi chiều gặp một vị Đại tiên. Vị này nói:
– Ta nghe hai công chúa có chí trừ yêu quái mà con hồ tinh lọt lưới ẩn nấp chưa trừ được. Vậy ta đến giúp để cứu dân.
Hai công chúa mừng lắm, đón vị Đại tiên về và vào tâu với vua. Vua cho mời vị Đại tiên, hỏi tường tận về pháp thuật. Đại Tiên bảo hãy chuẩn bị lập đàn ở nơi cao ráo, sạch sẽ, dựng 8 cửa, 8 tháp như hình bát quái trận đồ và dạy hai công chúa tất cả những bí quyết phù chú.
Trong khoảng 100 ngày, việc học tập đã thành thạo. Bèn chọn ngày tốt, xem địa thế và lập đàn trừ yêu. Dùng cờ và lọng ngũ sắc mỗi thứ 100 cái. Rồi rước vị Huyền Chân Đại đế ở phương Bắc chủ trì đàn trấn yêu. Lại dựng miếu thờ vĩnh viễn, để con cáo yêu quái sau khi bắt được, không thể lại hiện hình, tác quái được nữa.
Vua theo lời lập 3 đàn, đàn giữa thờ Thiên, địa, thần kỳ do vị Đại tiên chủ trì, đàn tả thờ Dương thần, đàn hữu thờ Âm thần do hai công chúa phụng lễ.
Đến ngày lễ đàn, Đại tiên một tay cầm bùa, một tay cầm kiếm, chỉ vào trước núi đá. Bỗng thấy con cáo từ trong hang núi nhảy vọt ra, đá núi đổ xuống. sóng nước sôi lên, bắn tung tóe ra bốn phía, rừng lim sụt xuống, tất cả biến thành hồ nước, đất sụt tới tận bên cạnh đàn. Trong đàn lửa bốc lên, cờ lọng bị cháy hết. Phía trên đám lửa kết thành một đám mây đen bay lên lưng chừng trời, Đại tiên bắt trói con yêu quái bay lên không trung. Sau cùng không thấy nữa, chỉ còn hai công chúa bắt quyết ngồi ở đàn, lửa chẳng hề bén đến thân thể.
Quan quân báo tin về với vua Lý, vua theo như lời Đại tiên nói trước, sai dựng đền ở nơi lập đàn, để hai công chúa sớm chiều thờ phụng. Đền ở giáp bên hồ. Sát bờ bên kia hồ cũng lập miếu để thờ Huyền Chân Đại đế và chỗ dựng 8 tháp nơi đàn cũ, xây ngôi chùa để hai công chúa trụ trì. Sau một thời gian, hai công chúa cũng hóa theo Tiên Phật…
So sánh chuyện này với Truyện Hồ Tinh có thể thấy hai chuyện kể khác nhau nhưng cùng là một sự kiện. Người diệt Hồ Tinh ở đây được chép là Huyền Chân Đại Đế, tức là Huyền Thiên Trấn Vũ, người thờ ở đền Quan Thánh bên phía đối diện của Hồ Tây. Còn thời gian được chép là vào thời “Tiền Lý Nam Đế”. Tuy nhiên, Huyền Thiên Trấn Vũ là tên mà Đường Cao Tông phong cho Lão Tử là Thái Thượng Lão Quân Huyền Nguyên hoàng đế. Như thế, Huyền Thiên đại đế mới có từ sau thời nhà Đường. Trong khí đó thời “Tiền Lý Nam Đế” lại là trước thời Tùy Đường. Khả năng triều “Tiền Lý Nam Đế” ở đây là chỉ chính triều Đường vì các vua Đường mang họ Lý (Lý Đường).

Trich Sai
Cổng đình Trích Sài.

Ở trong đình Trích Sài có ban thờ Tam vị công chúa và am bên cạnh đó cũng thờ 3 vị này dưới tên Phúc Thọ Lộc. Sách Tây Hồ chí đã viết về am này như sau:
Đền ba vị chúa Phúc Lộc Thọ tại phường Trích Sài. Ba vị chúa là: Vạn Thọ phu nhân tức hóa thân của Kim Mẫu, Vạn Phúc công chúa và Vạn Lộc công chúa. Hai công chúa đều là con vua Tiền Lý Nam Đế do bà phi họ Đoàn sinh ra. Đến tuổi cài trâm, cả hai cô đều thông tuệ, yêu mến sông núi, thường cùng thả con thuyền dưới núi Mài, là khu vực gồm 5 ngọn núi đất, khi đó là rừng rậm. Nghe nói trong rừng có con cáo 9 đuôi làm hại người, hai cô quay chèo mong sao tìm cách học đạo trừ yêu. Đến cầu Khôi Lâm, gặp một bà tự xưng là họ Ma, vốn là Giác Hải Đại vương, có biết phép thuật, liền hỏi:
– Có thể trừ yêu quái không?
Đáp rằng:
– Được!
Hai công chúa mừng đón bà họ Ma lên thuyền đưa về tâu vua. Vua xuống chiếu chọn ngày lập đàn dưới núi, đảo cáo Thượng Đế rồi mời họ Ma đến làm phép. Giông gió sấm sét liền nổi lên dữ dội, cây rừng bị nhổ hết, đồi núi sạch không mà yêu ma tuyệt tích. Giữa đàn có đám mây đỏ rực bây lên, trông lại thì họ Ma đã biến đi đâu mất. Xa giá trở về, vua đem chuyện hỏi đình thần. Hoặc có kẻ nói Kim Mẫu hóa thân, vua liền phong là Vạn Thọ phu nhân Trấn Tĩnh Bà Vương, cho lập miếu thờ.

Có thể thấy vị Bà Vương họ Ma này cũng là vị Đại tiên trong sự tích chùa Thiên Niên và là Long Quân trong Truyện Hồ Tinh. Như vậy cả 3 chuyện về con Cáo chín đuôi ở hồ Tây đều là một sự kiện. Sự kiện này cụ thể là gì?
Đây hẳn là việc hình thành Hồ Tây khi một nhánh sông Hồng tách rời khỏi dòng chính, nước dâng, sụn lún được huyền thoại hóa thành trận hồng thủy của Long Quân hóa ra một vực sâu.
 
Tam Thanh
Điện thờ Tam Thánh Đế ở trước đình Phú Gia.
Bên cạnh đó con Cáo chín đuôi ở khu vực phía Tây hồ Tây này còn liên quan đến những sự kiện lịch sử và di tích khác. Không xa chùa Thiên Niên là khu vực Quán La nơi có chùa Khai Nguyên, thuộc xã Xuân La. Ngôi chùa này theo ghi chép từng là nơi thờ Huyền Nguyên Đế Quân. Sự tích trong Việt Điện u linh:
Trong thời Khai Nguyên nhà Đường, Thứ sử Quảng Châu tên là Lư Ngư sang làm đô hộ bên ta, đóng tại thôn An Viễn, khoảng giữa hai huyện Long Đỗ và Từ Liêm, thấy chỗ đất này bằng phẳng rộng rãi, cây cối tốt tươi, phía sau có sông Già La, địa thế càng đẹp. Ngư mới sai lập phủ lỵ và dựng đền thờ thần vị Huyền Nguyên Đế Quân.
Một đê, Ngư mộng thất một cụ già đầu bạc phơ đến bảo Ngư rằng:
– Quán này nên đặt tên là quán Khai Nguyên. Thôn này cũng nên đổi tên là thôn Khai Nguyên.
Ngư thức dậy theo lời mà đặt tên quán, thôn và dựng bia ghi, để nêu rõ cái công của vua Khai Nguyên nhà Đường. Rồi lại dựng một đền, đặt tượng thần thổ địa để nêu công đức. Đền ấy đặt tên là Gia La quán, cầu đảo thường linh ứng, hương khói quanh năm. Đến hồi đầu năm Thiệu Long (1258) nhà Trần, sư Văn Thảo sửa dựng lại đền, đổi làm chùa An Dưỡng. Từ đó, sứ các nơi đến họp, người ta gần như đến lễ và ngoạn cảnh rất đông, xe ngựa thường đi chật đường không ngớt. Sau vì lâu năm, khách qua lại vắng dần, chùa cũng gần đổ nát, nay đã dời về Quy Bộ Đầu.
Năm Trùng Hưng thứ nhất sắc phong “Khai Nguyên uy hiển đại vương”. Năm thứ 4 gia phong hai chữ “Long trứ”. Năm Hưng Long 21 gia phong hai chữ “Trung vũ”.
Cần chú ý là khu vực này cũng liên quan đến con Cáo, với những cái tên Cáo Đỉnh, Xuân Cảo. Đây mới là trung tâm của “hang Cáo”, nơi ẩn náu của con Cửu vĩ Hồ hồ Tây.
Hiện nay trong chùa Khai Nguyên vẫn còn một tượng vị vua được người dân cho là tượng của Đường Minh Hoàng (niên hiệu Khai Nguyên).
Duong Minh Hoang
Tượng Đường Minh Hoàng trong chùa Khai Nguyên.

Quán Già La và chùa Khai Nguyên xưa ở Xuân La nay đã dời về khu vực Bộ Đầu, tức là bến Chèm ở sát sông Hồng, nay là đình làng Phú Gia và chùa Bà Già ở Phú Thượng, Từ Liêm. Bản xã thần tích của đình Phú Gia cũng chép chuyện này:
Đời Đường thứ sử Lư Ngư lập một đền thờ thổ thần gọi là Già La Quán, sau đổi thành chùa An Dưỡng ở thôn Bà Già cạnh đền Sóc thiên vương, giáp sông Già La. Sông này sau đổi là Thiên Phù.
Khai Nguyen Dich GiaoMột sắc phong ở đình Phú Gia: Khai Nguyên Địch giáo Long ân trứ Uy hiển Trung vũ…
Đình Phú Gia thờ một vị thành hoàng là Khai Nguyên Địch giáo Uy hiển Long trứ Trung vũ Đại vương, thời vua Hùng đánh giặc Ân. Tuy nhiên tên thần ở trên chính được nói tới trong Việt điện u linh, kể sự tích thần Khai Nguyên ở Quán La. Nói cách khác, vị thần ở đình Phú Gia cũng chính là Đường Minh Hoàng niên hiệu Khai Nguyên, mà tượng thờ nay còn ở chùa Khai Nguyên tại Xuân La.
Tới đây cần giải nghĩa các địa danh trong sự tích Hồ Tây. Đầu tiên là các chữ La trong tên địa danh cổ “Già La“, “Quán La“. Trong Truyện Hồ Tinh có “Lỗ Hồ động“, “Lỗ Hồ đàm“. Kết nối các chuyện có thể thấy La và Lỗ là cùng một từ. Thực ra từ này chỉ hướng Tây vì trong Dịch học phương Tây là phương của lý lẽ – la lỗ.
Bản thân cái tên Thi Hồ cũng có thể là âm khác của Tây vì Tây còn đọc là Xi – Thi. Rõ nhất chính là tên hồ Tây, chỉ hướng Tây, cho dù hồ này không hề nằm ở hướng Tây của thành Thăng Long.
Trong tên con Cáo chín đuôi – Cửu vĩ Hồ thì chữ Cửu cũng là con số chỉ hướng Tây trong Dịch học. Từ Cửu biến ra Cảo, rồi Cáo.
Ba Gia tu
Hoành phi Bà Già Tự ở chùa Phú Gia.
Chữ thứ hai cần giải nghĩa là chữ Hồ. So sánh các địa danh thì có thể đoán chữ Hồ này tương đương với chữ Già trong tên chùa Bà Già, Già La vì Lỗ Hồ = Già La. Chữ Hồ và Già này chỉ điều gì?
Hiện nay tên Già La đang được cho là âm tiếng Chăm Đà da li, cho dù người Chăm cũng chẳng hiểu Đà da li nghĩa là gì. Suy đoán này dựa vào dòng ghi chép chuyện Trần Nhật Duật trong Đại Việt sử ký toàn thư:
Nhật Duật thích chơi với người không nói cùng thứ tiếng, thường cưỡi voi đến chơi thôn Bà Già (thôn này có người Chiêm Thành ở tên là Đà-da-li, sau gọi chệch là Bà Già) có khi tới bốn ngày mới về.
Tuy nhiên, những địa danh Bà Già, Già La đã có ít nhất từ thời Đường thì làm sao mà lại do những tù nhân Chiêm Thành bị bắt thời Lý Trần đặt ra được? Đây đúng là những từ tiếng Chiêm, nhưng là thời trước đó nhiều.
Thời trước nữa người Chiêm còn được gọi là người Hồ hay người Di. Đây mới chính là gốc tích của chữ Hồ và chữ Già. Hồ là chỉ người Hồ (người Chiêm). “Hồ thôn” hiểu đơn giản là thôn của người Chiêm. Già – Dạ – Di cũng vậy.
Ba Gia tu bi ky
Bà Già tự bi ký.
Chữ thứ ba trong sự tích Tây Hồ là chữ . Vị thần ở đình Trích Sài được chép là Trấn Tĩnh Bà Vương. Nhưng vị thần tương ứng ở chùa Thiên Niên lại là một vị Đại tiên. Có thể thấy chữ Bà không có nghĩa là nữ mà nghĩa chỉ thần thánh hay thủ lĩnh. Bà Vương = Đại vương. Bà Già nghĩa là thủ lĩnh/thần người Di.
Lịch sử trung đại Việt có nước Tây Bà Dạ hoặc Tây Đồ Di từng liên kết với Nam Chiếu chính là tương ứng với sự tích này. Tây = La = Lỗ. Dạ = Di = Già = Hồ.
Bản thân khu vực Già La còn được gọi là Lâm Ấp. Lâm Ấp cũng là tên gọi chung của Nam Chiếu thời kỳ Lục triều.
Thời Tùy Đường thì phía Tây của sông Nhị Hà là đất của Nam Chiếu (theo Truyện Nam Chiếu trong Lĩnh Nam chích quái). Truyện Hồ Tinh kể con Cửu vĩ Hồ đã biến thành Bạch y man ở chân núi Tản để hại người. Hiểu một cách khác thì trong số những người ở vùng Sơn Tây (núi Tản) có những người nổi loạn được gọi là Cửu vĩ Hồ. Bản thân chữ Bạch là màu trắng chỉ hướng Tây. Bạch y Man cũng tương đương với Tây Di hay Lỗ Hồ, chỉ người Man ở phía Tây sông Nhị.
Truyện Nam Chiếu cho biết người Nam Chiếu từ thời Tấn đến tận thời Tùy liên tục quấy phá vùng Tây Nhị Hà. Đây chính là con Cửu vĩ Hồ được ám chỉ trong truyền thuyết hồ Tây. Phải đến đời Đường Khai Nguyên thì quân Nam Chiếu mới được bình định.
Khởi nghĩa của người Tây Di dưới thời Đường Khai Nguyên là khởi nghĩa của Mai Thúc Loan. Mai Hắc Đế đã tiến chiếm thành Tống Bình, đuổi tướng nhà Đường là Quang Sở Khách phải chạy về nước. Sau đó Mai Hắc Đế thất bại, thành Tống Bình lại về tay nhà Đường. Rất có thể chính sự kiện này là cái cốt của câu chuyện diệt con Cáo chín đuôi ở Hồ Tây dưới thời Đường Khai Nguyên.
Khu vực Phú Thượng – Xuân La là vùng đất cao nhất quanh hồ Tây. Nơi đây đã tìm thấy hàng loạt các mộ cổ thời Lục triều và giếng nước thời Tùy Đường. Hiện nay dưới đình Quán La vẫn còn có một khu mộ cổ xây bằng gạch thời Lục triều, được biết dưới tên Thông Thiền động. Cái hang Cáo chín đuôi vẫn còn di chỉ vật chất là đây.
Mo Luc Trieu
Một mộ cổ trong động Thông Thiền dưới đình Quán La.
Như thế vùng Tây Bắc của hồ Tây đã là khu dân cư tập trung từ thời Lục triều tới Tùy Đường. Rất có thể đây là vùng thành Ô Diên được nói tới thời Hậu Lý Nam Đế – Lý Phật Tử. Truyền thuyết cho biết Lý Phật Tử đã lấy bãi Quân Thần làm ranh giới phân chia Đông – Tây, phía Tây thuộc đất của Lý Phật Tử. Bãi Quân Thân chính là khu vực Chèm – Quy Bộ Đầu. Như thế Lý Phật Tử đã lấy vùng Tây Hồ Tây làm ranh giới với các triều đại Trung Hoa thời Lục triều và thời Tùy.
Hơn nữa, đây có thể là trị sở của Giao Châu theo như sự tích, thứ sử Lư Ngư đã xây trị sở ở đây và xây chùa quán thờ Huyền Thiên. Đối chiếu vào sử Việt, ta thấy đây có thể chính là thành Tống Bình, trị sở của quận Giao Chỉ sau thành Luy Lâu ở Long Biên. Thành Tống Bình là trị sở của quận Giao Chỉ từ năm Tùy Đại Nghiệp (605-616).
Dinh Quan La
Cổng đình Quán La.
Dẫn chứng khác cho vị trí của thành Tống Bình là chuyện quan đô hộ Triệu Xương thời Đường Trinh Nguyên đã gặp Lý Ông Trọng hiển mộng ở bến Chèm. Bến Chèm cạnh gò Quy Bộ Đầu nơi có chùa Bà Già và đình Phú Gia ở trên.
Việc Mai Hắc Đế và sau đó là Phùng Hưng tấn công thành Tống Bình là tấn công khu vực Tây Bắc của hồ Tây này, chứ không phải vùng Nam hồ Tây. Rất có thể Phùng Hưng đã đặt thành Tống Bình là thành Đại La, lấy từ tên nước La – Lỗ của mình. Thành Đại La thời Phùng Hưng còn được gọi là Phượng thành, rất tương ứng với tên thành Ô Diên (ô và diên đều là 2 loài chim).
Chỉ tới khi Cao Biền được cử sang đánh quân Nam Chiếu thì mới xây thành ở phía Nam hồ Tây, lập đô hộ phủ ở đó, xưng Tiết độ sứ Tĩnh Hải quân. Bằng chứng rõ ràng là lớp gạch dưới cùng ở Hoàng Thành nay là gạch Giang Tây quân của Cao Biền. Dưới Hoàng thành không hề phát hiện được các dấu vết kiến trúc thời Lục triều hay đầu thời Đường (khi chưa có chế độ Tiết độ sứ quân).
Chua Khai Nguyen
Chùa Khai Nguyên.
Việt điện u linh ở trên chép khu vực Lư Ngư lập quán nằm “giữa 2 huyện Long Đỗ và Từ Liêm“. Từ Liêm đọc thiết là Chiêm – Chăm, chỉ người Chiêm thì đã rõ. Long Đỗ là khu vực ở phía Đông Nam, gắn với sự tích của thần Bạch Mã – Sĩ Nhiếp.
Từ Cao Biền hồ Tây không gắn với con Cáo chín đuôi nữa (vì người Hồ – Nam Chiếu đã bị Cao Biền đánh bại, xây thành mới), mà gắn với truyền thuyết con Trâu Vàng. Truyện này được đánh dấu trong sự tích Truyện con trâu vàng ở huyện Tiên Du trong Lĩnh Nam chích quái. Con Kim Ngưu chạy từ núi Phật Tích ở Tiên Du Bắc Ninh về đã thành vị thần bảo hộ của hồ Tây từ thời Cao Biền. Cũng Cao Biền đã lấy thần Long Đỗ – Bạch Mã làm thành hoàng cho kinh thành này, đánh dấu việc dời vị trí từ bên Từ Liêm – Chiêm sang Long Đỗ ở phía Nam, từ sông Già La (Thiên Phù) sang sông Tô Lịch.
Kim Ngưu thiết Cừu, chính là con Cừu đá ở chùa Dâu hay con Bò thần Nandin trong đạo Bà la môn. Tiên Du Phật Tích là nơi tu hành của Khâu Đà La trong sự tích Man Nương – Sĩ Nhiếp, đánh dấu một vùng ảnh hưởng phía Đông của thần Long Đỗ – Bạch Mã tới vùng hồ Tây – Thăng Long.
Tây Hồ được hình thành khoảng thời Lục Triều, gắn với người Chiêm Hồ ở phía Tây, được truyền thuyết hóa thành con cáo Cửu vĩ Hồ. Cửu vĩ Hồ bị diệt dưới thời Đường Khai Nguyên. Nhà Đường dùng Huyền Thiên, vị thần của Đạo Giáo để trấn giữ vùng này. Thành Tống Bình được xây dựng tại vùng Tây Bắc hồ Tây. Đến thời Cao Biền dẹp Nam Chiếu đã xây thành mới ở vùng Đông Nam bên sông Tô Lịch, lấy hình ảnh Kim ngưu làm biểu tượng mới cho hồ Tây. Vùng hang Cáo xưa bị quên lãng như chính lịch sử Việt Nam vậy.
Cuu vi ho
Vòng đỏ là khu vực phát hiện các mộ cổ thời Lục Triều đến Tùy Đường.
Câu đối ở chùa Khai Nguyên:
前挹龍城稱勝景
後環牛渚引文闌
Tiền ấp Long thành xưng thắng cảnh
Hậu hoàn Ngưu chử dẫn văn lan.

Dịch:
Ấp trước thành Rồng gọi cảnh đẹp
Vòng sau Trâu bãi dẫn đường văn.

Tam Giáo thánh thần

Trong Nam Việt Hùng Vương sử ký (Ngọc phả Hùng Vương viết thời Lê Hồng Đức) có sự hiện diện không phải chỉ của một tín ngưỡng hay tôn giáo, mà có ít nhất tới 3 tôn giáo. Trước hết là khi nàng Âu Cơ sinh được một bào ngọc thì:
Bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ cùng cầm long bài, tâu rằng: Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ Nam Miên. Vậy ban sắc này!Thiên sứ báo cho Hiền Vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng, lệnh cho triều đình các tướng đến tề tựu ở ngôi chùa cổ ở Viễn Sơn, tức Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng Thiền Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng.
Hiền Vương tuân theo. Tứ đại thần vương lập tức lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.

Tu dai thien vuong.png
Tứ đại thiên vương, khắc gỗ chùa Khải Đoan (Buôn Mê Thuật, Đăk Lăk).

Bốn vị Thiên vương đã giáng xuống để hộ giúp thai ngọc nở ra trăm trai. Đây là hình ảnh của Tứ đại Thiên vương, là bốn Thiên thần trong đạo Bà Là Môn.
Trong văn hóa Trung Hoa Tứ đại Thiên vương được gọi là “Phong Điều Vũ Thuận”. Ở nước ta, Tứ đại Thiên vương được thờ dưới tên gọi là Tứ pháp gồm Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, những vị thần chuyên làm “mây mưa sấm chớp”, đúng như trong Ngọc phả Hùng Vương kể ở trên.
Hình ảnh bào ngọc cũng có thể là xuất phát từ đạo Bà La Môn. Đó là hình ảnh của Linga, vật tượng trưng cho Shiva, là vị thần tối cao trong Tam thần Tạo hóa – Bảo hộ – Hủy diệt của đạo Bà La Môn. Hình ảnh này trong chuyện Tứ pháp là Thạch Quang Phật, được thờ cùng với bộ Tứ pháp.
Tiếp theo trong Ngọc phả Hùng Vương, khi các hoàng tử lớn lên thì: … thấy tám vị thần tướng nhà trời xưng là Bát bộ Kim Cương, vâng sắc chỉ của Thượng Thiên Chư Phật Ngọc Đế sai xuống trợ giúp. Trăm vị vương tử nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền Vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một viên ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện.
Hình ảnh bồ tát Kim Cương là của Phật giáo nhưng “Bát bộ” lại có thể là tượng trưng cho Bát quái, tức là triết lý Đạo giáo.

IMG_5373.JPG
Các vị Kim Cương ở đền Bộ Đầu (Thường Tín, Hà Nội).

Sự xuất hiện của đạo Phật được kể rõ ràng hơn trong Ngọc phả ở đời Hùng Huy Vương:
Một ngày tốt có hương trời, Vua đang ngự ở trong điện, bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay đến. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong chùa ở chính điện. Lão ông nói:
– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây.
Vua mừng thầm: Người có lòng thanh tịnh, ý trời sẽ thông.
Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho Vua. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi. Vua mới biết đó là đức Phật trên trời giáng ngự. Vua bèn quỳ vọng bái.
Với những dữ kiện “Tây Vực”, “Giác Hải”, “Bát Nhã”, “Niết Bàn” thì có thể thấy Lão ông gặp Hùng Huy Vương là đức Phật Thích Ca. Phật tổ ban cho Vua một khối ngọc và một chiếc móng rồng, sau đó được dùng để làm ấn và kiếm, là hai bảo vật trấn quốc của triều Hùng, truyền cho nhiều đời sau.
Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo trời vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng.
Đây là cách kể của sự kiện đạo Phật được truyền vào nước ta dưới thời Hùng Vương, đã được sùng chuộng và có tác dụng rõ rệt với xã tắc, triều đình.
Một khám phá bất ngờ khác từ Ngọc phả Hùng Vương là sự khai sinh của đạo Giáo tại nước ta qua việc vua Hùng xây thành Cổ Loa. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng vào thời Hùng Duệ Vương (Hùng Vương thứ 18) nhờ sự giúp đỡ của thần Kim Quy:
Duệ Vương cùng với triều thần trăm quan dời xe vạn thặng đến ở xứ Kinh Bắc, xây thành tên là Cổ Loa. Đô thành rộng nghìn trượng, khoanh tròn như hình con ốc, nay ở tại xã Cổ Loa, huyện Đông Ngạn, nên gọi là thành Cổ Loa. Mới đầu thành xây toàn bị đổ. Bỗng thấy một con rùa vàng trên sông từ phía Đông bơi đến, xưng là Kim Quy giang sứ.
Ngọc phả cung cấp thông tin là Hùng Duệ Vương bị nhà Thục đánh nên đã rời đô về Đông Ngạn. Như thế thời kỳ này đã có sự rời kinh đô, cho dù triều đại không thay đổi. Theo Ngọc phả thì thành Cổ Loa được xây dựng dưới thời Hùng Vương chứ không phải thời Thục An Dương Vương.
Truyện Rùa Vàng trong Lĩnh Nam chích quái cung cấp thêm chi tiết:
… Đắp thành ở đất Việt Thường, thành đắp xong lại sập. Vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo ba tháng. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một ông già từ phương Tây mà đến thẳng trước cửa thành, vừa đi vừa than rằng:
– Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong!
Vua rước vào trong điện, lạy và khóc rằng:
– Ta đắp thành này đã xong lại đổ, hao tổn công sức rồi mà không thành, thế là tại làm sao?
Ông già thưa:
– Ngày nào có sứ giả Thanh Giang cùng đắp với Vua thì thành ấy mới xong.
Như thế Thanh Giang sứ giả Kim Quy được một Lão ông cử đến giúp vua Hùng. Lão ông này là ai?
Di tích ở chính thành Cổ Loa cho biết đó là Huyền Thiên Trấn Vũ (đền Sái, Đông Anh, Hà Nội). Còn ở đình làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang), cách đền Sái không xa, thì cho biết chính Lão Tử – Thái Thượng Lão Quân là người đã cử thần Kim Quy đến giúp xây thành Cổ Loa.

P1320064.JPG
Tượng thờ Lão Tử ở chùa Bổ Đà (Việt Yên, Bắc Giang).

Câu đối ở đình Thổ Hà:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Sách Lão Tử minh chép: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Từ đó có thể thấy, theo Ngọc phả dưới thời Hùng Vương Trị Bình Kiến Phu (đọc lướt là Tru – Chu), khi dời từ Tây sang Đông thì vùng đất xây kinh đô là Tam Xuyên bị động đất, làm cho thành Đông Đô cứ xây là đổ. Lão Tử lúc đó đã đăng đàn cúng tế, lấy lẽ trời đất mà khuyên nhủ vua Chu – Hùng Vương. Sự xuất hiện của Lão Tử thời này đánh dấu sự hình thành của đạo Giáo dưới thời Hùng Vương.
Tam Giáo – ba tôn giáo lớn đều được xuất hiện trong Ngọc phả Hùng Vương là đạo Bà La Môn, đạo Phật và đạo Lão.

Lịch sử qua những lớp thành ở Cổ Loa

Theo bài công bố của các chuyên gia khảo cổ đăng trên báo Tia Sáng về kết quả khai quật tại thành Cổ Loa gần đây thì có những phát hiện mới về tòa thành sớm nhất và quy mô nhất Đông Nam Á này như sau:
Thứ nhất là phát hiện lớp văn hóa Đông Sơn nằm dưới thành do An Dương Vương đắp, trong hố khai quật thành Trung năm 2007-2008. Trong lớp văn hóa Đông Sơn ở đây, cùng với đồ gốm, hiện vật sắt, đã phát hiện được di tích phòng thủ có quy mô nhỏ hơn và khác phương vị với thành Cổ Loa của An Dương Vương. Di tích có cấu trúc (từ ngoài vào trong) là: Hào -Tường thành – Hào – Vọng gác + tường chắn. Trong nền của vọng gác còn phát hiện được di tích bếp lửa, hiện vật sắt và gốm Đông Sơn.
Phát hiện thứ hai là nền gia cố bằng đất gốc trước khi đắp thành trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012.
Phát hiện thứ ba trong hố khai quật thành Ngoại năm 2012 tại xóm Thượng. Theo các chuyên gia khảo cổ học Nhật Bản, có một số hiện tượng lạ trong cấu trúc của đất đắp thành có thể là dấu vết của hiện tượng động đất. Vấn đề này đang tiếp tục được nghiên cứu. Nếu hiện tượng động đất được xác nhận, cũng đồng thời xác nhận cốt lõi của truyền thuyết thần Kim Quy/ Thanh Giang xứ được Huyền Thiên Trấn Vũ sai xuống giúp An Dương Vương khắc phục hiện tượng “thành cứ xây xong lại đổ”.
Phát hiện thứ tư gần đây nhất (2014) trong hố cắt thành Nội và ụ hỏa hồi tại thôn Hương đã phát hiện được di tích gốc của thành Nội và ụ hỏa hồi trong cùng bình diện xuất lộ, nằm dưới mặt thành Nội hiện nay khoảng trên 2m. Đây là phát hiện quan trọng khẳng định An Dương Vương đã đắp cả 3 vòng thành và hệ thống ụ hỏa hồi trong hệ thống thành Nội cũng được An Dương Vương đắp cùng với thành Nội.

Co Loa A3

Các giai đoạn đắp thành Trung và công trình phòng thủ sớm. Ảnh: Lại Văn Tới.

Như thế kết quả khảo cổ ở Cổ Loa cho thấy tòa thành này đã qua 2 lần xây dựng khác biệt. Lần sớm nhất là một công trình phòng thủ gồm Hào – Tường thành – Vọng gác có quy mô nhỏ. Lần thứ hai mới là lần xây thành có 3 lớp như còn thấy tới nay. Ở lần thứ hai này việc xây thành được tiến hành tới 4 giai đoạn đắp đất khác nhau. Và đặc biệt có dấu hiệu về sự xáo trộn các địa tầng, nhiều khả năng là do động đất khá mạnh trong thời gian xây thành.
Những dữ kiện khảo cổ trên là minh chứng cho nhận định Cổ Loa chính là Lạc Ấp – Đông Đô của nhà Chu. Thành Lạc Ấp của nhà Chu đầu tiên do Chu Công xây dựng làm nơi an trí đám ngoan dân của nhà Ân sau khi ông dẹp loạn Vũ Canh. Truyền thuyết Việt chép là sau khi Thánh Dóng diệt giặc Ân thì có Linh Lang đại vương đánh giặc Vĩnh Trinh, yên ổn đất nước. Chu Công cũng là tướng Cao Lỗ của truyền thuyết Việt, tương truyền là người đã xây thành Cổ Loa.
Tới khi nhà Chu dời đô từ Hạo Kinh về Lạc Dương thì Cổ Loa trở thành kinh đô của thời Đông Chu. Truyền thuyết Việt chép là An Dương Vương dời đô về đất Lạc, xây kinh thành ở đây.
Các nhà khảo cổ đã nhận định chính xác rằng trận động đất là cốt lõi của chuyện Huyền Thiên Trấn Vũ cử thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương khắc phục việc “thành cứ xây xong lại đổ”. Nguyên nhân thành đổ là do động đất, dẫn đến việc phải đắp thành tới 4 lần như khảo cổ địa tầng thành Cổ Loa cho thấy.
Cụ thể hơn, Huyền Thiên Trấn Vũ ở Cổ Loa chính là Lão Tử như thần tích ở làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang) ghi nhận, là người đã giúp An Dương Vương diệt Bạch Kê tinh đắp thành. Câu đối ở cửa võng đình Thổ Hà, nơi thờ Lão Tử (Thái Thượng Lão Quân):
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Sách Lão Tử minh chép về hành trạng của Lão Tử như sau:
Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Cơn địa chấn thời Chu U Vương – Chu Bình Vương ở vùng Tam Xuyên chính là nguyên nhân làm cho thành Lạc Dương – Đông Đô ở Cổ Loa “cứ xây xong lại đổ”. Vì Chu U Vương say mê Bao Tự, gây chuyện đốt lửa Ly Sơn hiệu triệu chư hầu làm trò đùa, mua tiếng cười cho Bao Tự mà nhà Chu đi vào chỗ suy thoái, buộc phải dời đô từ phía Tây sang Đông. Lão Tử là một vị “pháp sư” của triều đình nhà Chu lúc đó, đã nhân thành Đông Đô cứ xây lại đổ do động đất, bày đàn tế trời, lấy sự việc các vua đời trước (Hạ, Thương) để khuyên răn vua Chu (lúc này là Chu Bình Vương) biết làm theo lẽ trời, tôn trọng ý dân, giữ gìn sức nước. Đây mới là công nghiệp chính của Lão Tử đối với quốc gia.
Đoạn dữ liệu trên của Lão Tử minh cũng cho một thông tin quan trọng: khu vực Lạc Dương của nhà Chu còn gọi là vùng Tam Xuyên. Tam Xuyên là tên quận thời Tần, lập ra trên đất của nhà Chu. Điều này thêm một lần nữa xác nhận vùng Bắc Việt ngày nay chính là đất Đông Chu thời trước Công nguyên.

Tứ pháp và Thái Thượng Lão Quân ở Hà Nam

IMG_4586

Chùa Bà Đanh nằm bên dòng sông Đáy cạnh hòn núi Ngọc là một thắng cảnh có tiếng của đất Hà Nam. Chùa còn có tên là Bảo Sơn tự, tương truyền rằng vào thế kỷ thứ VII, đây là một ngôi đền nhỏ thờ Tứ pháp, đến thời Lê chùa được xây dựng đàng hoàng và to đẹp hơn. Câu đối trong chùa ca ngợi cảnh đẹp và sự linh thiêng của ngôi chùa độc đáo này:
神界寂空水鏡山鬟層閣外
靈蹤彷彿竹響松濤半天来
Thần giới tịch không, thủy kính sơn hoàn tằng các ngoại
Linh tung phảng phất, tùng đào trúc hưởng bán thiên lai.
Dịch:
Cõi thần lặng không, núi bọc nước soi tầng gác trước
Dấu thiêng phảng phất, trúc reo thông vẫy nửa trời qua.

IMG_4581 (2)Chùa Bà Đanh – núi Ngọc.

Trong cung cấm của chùa ngoài một pho tượng Tứ pháp còn có tượng Phật Tam Thế cùng với Thái Thượng Lão quân và Nam Tào, Bắc Đẩu. Câu đối trong chùa nói về Tứ pháp:
榕化靈光儕四法
梅修品格遇三乘
Dong hóa linh quang sài tứ pháp
Mai tu phẩm cách ngộ tam thừa.
Dịch:
Cây dung hóa thiêng cùng Tứ pháp
Cốt mai tu phẩm rõ Tam thừa.
Câu đối này nói tới sự tích bà Man Nương thời Sĩ Nhiếp ở thành Luy Lâu, theo thầy Khâu Đà La tu hành, sau đó sinh một đứa con gái, được thầy làm phép gửi vào trong một cây dung thụ bên sông. Về sau cây dung thụ được dùng để tạc tượng Tứ pháp, là các vị thần cầu mưa linh ứng ở khu vực này.
Tứ pháp gồm 4 vị nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện. Dân gian gọi là các Bà Dâu, Bà Dàn, Bà Đậu, Bà Nành, … tùy từng địa phương. Có nhiều ý kiến cho rằng các “bà” ở đây là ảnh hưởng tín ngưỡng thờ thần của người Chăm, do các tù binh Chăm thời Lý Trần Lê lập nên…
Mây Mưa Sấm Chớp thực ra là 4 tính chất của Đế Thích hay thần dông tố Indra, một vị thần tối cao của đạo Bà Là Môn. Có thể chữ “Bà” trong tên “Bà Đanh” ở đây chính là chỉ đạo Bà – La Môn. Chữ “Bà” này không phải là yếu tố ảnh hưởng của người Chăm từ Trung Bộ Việt như thường nghĩ. Khu vực Trung Bộ Việt vào đầu Công nguyên đang thuộc cai quản của Sĩ Nhiếp ở miền Bắc. Khâu Đà La, Sĩ Nhiếp thực chất là các tu sĩ của đạo Bà La Môn. Do đó, nếu đạo Bà La Môn phổ biến ở Giao Chỉ thì cũng phổ biến ở miền Trung. “Người Chăm” miền Trung như vậy chịu ảnh hưởng tín ngưỡng của người Việt ở miền Bắc trong trường hợp này.

Một chút bàn luận về nhân vật Sĩ Nhiếp trong sử Việt của tác giả Văn Nhân Nguyễn Quang Nhật: Sử hiện nay cho Sĩ Nhiếp có tên khác là Sĩ Tiếp. Suy nghĩ theo hướng khác thì Sĩ không phải là họ mà chỉ kẻ Sĩ hay người có học. Sĩ Tiếp là quan triều Lý Bôn (Lưu Bang) và Vương Mãn. Cuối thời Vương Mãn bọn Lục Lâm thảo khấu nổi loạn chiếm kinh đô Tràng An, giết vua Vương Mãn. Không còn vua và triều đình trung ương, khắp nơi các quan đầu mục nổi lên xưng tướng, xưng vương. Riêng Sĩ Tiếp chỉ đóng cửa giữ thành, bảo an dân chúng… Phải chăng chính vì thế mà sử gọi là Sĩ Tiếp? Chữ “tiếp” là tiếp tục – tiếp nối…
Thời Hai Bà Trưng sử hiện nay bỏ qua hẳn chi tiết Mã Viện sau khi diệt Đô Dương bộ tướng của Trưng Vương thì nghị hoà… 2 nước Hán – Trưng nhà ai nấy ở. Biên giới được đánh dấu bằng cột đồng ở động Cổ Sâm – Khâm Châu, nay thuộc Quảng Tây. Tư liệu viết trên cột đồng khắc câu … trụ đồng gãy thì Giao Chỉ… tiêu đời… tức rất rõ ràng lúc cắm cột đồng phân ranh thì Giao Chỉ còn nguyên…
Do bỏ hẳn đoạn sử này nên sử cả ta và Tàu quên luôn không nói gì đến “nước” và bộ máy lãnh đạo quốc gia trên đất Giao Chỉ thời hậu Trưng này.
Sử thuyết Hùng Việt cho rằng thủ lãnh nước hậu Trưng chính là Sĩ Nhiếp – Ngạn Uy được chép trong sử.
Sĩ Nhiếp tức kẻ sĩ nhiếp quyền, đặt kinh đô nước hậu Trưng ở Luy Lâu, sau theo về với Tôn Quyền. Luy Lâu trở thành thủ phủ của Giao Châu như chép trong sử.
Quan điểm của Sử thuyết Hùng Việt là: lịch sử Thiên hạ không có thời Tam quốc, chỉ có thời Lưỡng quốc kháng Ngụy. 2 nước Thục và Ngô của người Trung Hoa vừa đánh lẫn nhau vì thù trong, vừa cùng nhau chống lại nước Ngụy của Hán tộc, tức giặc ngoài.
Gần đây việc khai quật thành Luy Lâu lần 2 đã phát hiện tới 900 mảnh khuôn đúc trống đồng với đủ loại hoa văn đặc trưng của trống đồng Đông Sơn. Niên đại của lò đúc trống đồng này ước định quãng thế kỷ 3-4.
Luy Lâu, thủ phủ Giao Châu thời Sĩ Nhiếp là đất của người Việt, nên ở đấy đúc trống đồng theo tục Việt là hoàn toàn hợp lẽ. Còn theo sử hiện nay đấy là thời Hán thuộc thì sự việc Luy Lâu đúc trống cũng giống như nước Hồi giáo chế mõ tụng kinh Phật vậy… Làm gì có việc như thế.

Vi keo

Bộ vì kèo ở chùa Bà Đanh.

Đôi câu đối ở khu tiền tế bên ngoài chùa Bà Đanh:
地湧寒江傳妙決
天移蓬島在人間
Địa dũng hàn giang truyền diệu quyết
Thiên di bồng đảo tại nhân gian.
Dịch:
Đất phun sông mát truyền phép lạ
Trời chuyển đảo bồng chốn nhân gian.
Câu đầu chỉ phép màu của Tứ pháp tạo nguồn nước cứu hạn cho nhân dân. Vế đối sau ca ngợi cảnh đẹp ở đây như chốn Bồng Lai tiên cảnh. Có thể câu này ứng với tục thờ Thái Thượng Lão Quân trong chùa, là một nơi tiên tích của đạo Giáo.

Bao Son tu

Chính điện Bảo Sơn tự.

Câu đối ở gian giữa chùa Bà Đanh:
化鼓两間司橐籥
功高四法凜靈聲
Hóa cổ lưỡng gian tư thác thược
Công cao tứ pháp lẫm linh thanh.

Vế đối sau thì ý tứ khá rõ ràng, công của Tứ pháp to lớn, vang vọng mãi tiếng thiêng. Còn vế đối đầu tương đối khó hiểu. Vế này sử dụng từ ngữ trong Đạo Đức Kinh, chương 5 – Thiên Thượng:
Thiên địa chi gian, kì do thác thược hồ
Tạm dịch là Trời đất là không gian, giống như cái ống bễ vậy.
“Hóa cổ” là cái trống Tạo hóa. Cả vế này “Hóa cổ lưỡng gian tư thạc thược” hiểu nôm na là: Trống Hóa Công có 2 gian (Trời và Đất) thì (ngài) cai quản cái ống bễ nối chúng.
Đối tượng được nói đến ở đây là người cai quản sự liên thông giữa trời và đất chính là Thái Thượng Lão Quân. Vế đối này như vậy ca ngợi vai trò, quyền lực của Thái Thượng Lão Quân.
Câu đối trên là dẫn chứng một cách rõ ràng rằng chùa Bà Đanh thờ Thái Thượng Lão Quân như một đối tượng thờ chính, sánh ngang cùng với Tứ pháp, chứ không phải phối thờ.
Chùa Ba Đanh như vậy thờ tới 3 tôn giáo:

  • Tứ pháp là đạo Bà La Môn.
  • Đạo Phật, và
  • Đạo Lão.

Đây không phải mô hình Tam giáo đồng lưu thông thường vì không có yếu tố “Nho giáo” trong chùa này. Chắc chắn tục thờ cúng này có nguồn gốc, có lịch sử hình thành riêng của nó. Tại sao Thái Thượng Lão Quân lại được thờ cùng Tứ pháp ở chùa Bà Đanh?
Thần tích vùng Phủ Lý, Hà Nam giải đáp câu hỏi này. Theo thần tích của xã Phù Đạm thì Thái Thượng Lão Quân, hiệu là Lý Bá Hoành, tự là Lão Đam, húy là Thái Ông. Ngài giáng sinh đầu thai ở thôn Kim Chân, xã Thúc Lực…
Ngài vốn tính thông minh, thông hiểu thiên văn địa lý. Ngài đem đạo phù thủy truyền bá cho nhân dân. Ngài đến xã Phù Khê (tức Phù Đạm) thấy nhân dân trong xã bị dịch chết quá nửa. Ngài bèn đóng giả một cụ già viết 1 đạo bùa thổi vào trong xã, bao nhiêu người bị bệnh trong xã đều khỏi…

P1210273Đình Phù Vân ở Phủ Lý.

Thôn Phù Vân của xã Phù Đạm xưa nay thuộc thành phố Phủ Lý. Đình Phù Vân vẫn còn lưu giữ được tục thờ Thái Thượng Lão Quân ở đây. Theo thần tích trên Thái Thượng Lão Quân chính là Lão Tử, vị tổ sư của Đạo Giáo. Lão Tử giáng sinh ở ngay khu vực Hà Nam của nước ta, từng chữa dịch bệnh cho nhân dân trong vùng. Đó là lý do tại sao khu vực Hà Nam lại thờ Thái Thượng Lão Quân như ở chùa Bà Đanh. Các di tích và truyền tích ở Hà Nam là minh chứng về quê hương bản quán của Lão Tử ở Việt Nam, ngay trên đất Hà Nam.
Câu đối khác ở chùa Bà Đanh:
一息蓬蓬八表遊行天地使
層臺屹屹萬家欹頌海山僊
Nhất tức bồng bồng, bát biểu du hành thiên địa sử
Tằng đài ngật ngật, vạn gia y tụng hải sơn tiên.
Dịch:
Một thoáng bồng bồng, tám phương du hành khiển trời đất
Hai tầng ngân ngất, vạn nhà khen tụng thần núi sông.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ trấn Thăng Long

Trước hết thử bàn về khái niệm Tứ trấn. Khái niệm này chỉ áp dụng cho một khu vực nhất định mà mỗi “trấn” chiếm một phương vị của 4 phương xung quanh khu vực đó. Trong khi Tứ linh cũng theo 4 phương nhưng vì không có khu vực trung tâm cố định nên phương vị của Tứ linh không rõ ràng như Tứ trấn.
Điểm thứ hai cần bàn là khu vực được trấn giữ này là khu vực có tầm quan trọng, thường là kinh đô của quốc gia. Có là kinh đô thì mới cần đến 4 vị thần trấn 4 hướng. Trong dân gian có 2 nơi có bộ thần Tứ trấn là cố đô Hoa Lư và kinh thành Thăng Long, cho thấy khái niệm Tứ trấn đi liền với khu vực kinh thành.
Điểm thứ ba là khái niệm thần “trấn” phương của kinh thành thì phải là những vị thần có khả năng “trấn” áp tà ma, bảo vệ vượng khí cho kinh đô. Những vị võ tướng dù đánh giặc rất giỏi cũng không thể đóng vai trò “trấn trạch” được vì đánh giặc và trấn tà là 2 lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Các vị tướng đánh giặc do đó chủ yếu sẽ nằm ở bộ Tứ linh, chứ không phải Tứ trấn.
Như vậy, các vị thần trấn phương phải là những… Pháp sư, tức là những người có “phép” trừ yêu dẹp quỷ, thông thạo phong thủy địa lý, có khả năng trấn trạch,…  Như vậy thì mới có thể là thần bảo hộ một phương của kinh thành. Đây là khái niệm quan trọng, mang tính phát hiện khi xét tới các bộ Tứ trấn trong 2 kinh đô xưa của nước Việt.

THĂNG LONG TỨ TRẤN
Dễ nhận ra lai lịch nhất là thần Trấn Bắc – Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền thờ vị này là đền Quán Thánh nằm ở đầu phố Thụy Khuê bên Hồ Tây. Như đã từng xác định, Huyền Thiên đại thánh là Lão Tử, vị tổ của Đạo Giáo. Thời Đường Lão Tử được phong là Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế, liên quan tới sự kiện lên ngôi của Lý Thế Dân Đường Thái Tông ở cửa Huyền Vũ. Huyền Vũ là phía Bắc.
Lão Tử tất nhiên rất giỏi công việc của một “pháp sư”, trừ yêu dẹp quỷ. Lão Tử vốn là quan thủ thư của nhà Chu, khi Tây Chu suy, chuyển dời sang phía Đông, vùng Đông Đô gặp một trận động đất lớn. Quan thủ thư lúc này có thể có vai trò như một thầy cúng của triều đình. Lão Tử nhân cơ hội động đất đã bày đặt chuyện quỷ thần lập đàn cúng tế, khai quật xương cốt trên núi, nói là của các đời Hạ Thương, nhằm răn dạy vua Chu về lẽ trời và đạo lý.

Chua Kim Quy

Thần chúa Kim Quy làm lễ bái Huyền Thiên đại thánh trong lễ hội tại đền Sái (Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội).

Truyền thuyết Việt chép chuyện Lão Tử thành việc Huyền Thiên đại thánh (cụ già – Lão Tử) đã cử thần Kim Quy giúp An Dương Vương trừ Bạch Kê Tinh ở núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa. Câu đối ở nghi môn Miếu Bạch Kê ở Yên Phong, Bắc Ninh:
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩
Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân
.
Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.

Miếu Bạch Kê là nơi thờ tinh gà trắng trong truyền thuyết về An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Miếu nằm trên núi Thất Diệu, tương truyền là nơi xưa kia An Dương Vương đã diệt Bạch Kê tinh ở đây.

Mieu Bach Ke

Nghi môn miếu Bạch Kê.

Câu đối trên nói chuyện Bạch Kê là chuyện của cả Bách Việt và Bạch Kê là “tiền vương” của An Dương Vương. “Tiền vương” hay vua đời trước của An Dương Vương, tức là Hùng Vương. Câu đối như thế nói Hùng Vương là vua chủ của Bách Việt.
Theo truyền thuyết thì Bạch Kê tinh là linh khí của các vua đời trước đã hiện lên ngăn cản An Dương Vương xây thành. Cũng trong truyền thuyết kể rằng An Dương Vương “liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt“.
Miếu Bạch Kê nằm ở thị trấn Sọ với sự tích trước đây ma quỷ thường ám hại người qua lại, nên để lại rất nhiều xương cốt và đầu lâu. Do đó nơi này có tên là Sọ. Sự tích này ứng với việc An Dương Vương đã đào được xương cốt của các vua đời trước tại núi Thất Diệu. Nói theo ngôn ngữ khảo cổ là đã khai quật được các mộ cổ ở núi này.

IMG_1631 (2)

Hoàn tiền có chữ Đông Chu tìm thấy ở vùng Cổ Loa.

Hai chữ Hỏa điền viết ở bộ Kim 金, chỉ đồ dùng bằng kim loại. Trong số các “hiện vật khảo cổ” đã tìm được ở Cổ Loa có những đồ tế khí bằng đồng từ thời Thương Chu và cả những đồng hoàn tiền (Điền 鈿 nghĩa là tiền) đúc nổi 2 chữ Đông Chu rõ ràng.
Chính vì năng lực trấn quỷ trừ tinh ở thành Cổ Loa mà Huyền Thiên đại thánh được đặt làm thần Trấn Bắc của kinh thành Thăng Long. Nhà Lý đã rước Huyền Thiên từ núi Sái (Thụy Lôi, Đông Anh) về lập đền thờ ở Thụy Khuê, trấn Bắc kinh thành Thăng Long là vậy.

Vị thần Trấn Tây là Linh Lang đại vương được thờ ở đền Thủ Lệ và đền Voi Phục ở cuối Thụy Khuê bên Hồ Tây. Vị thần này được truyền thuyết kể là hoàng tử nhà Lý có công đánh giặc Vĩnh Trinh. Nhưng thời Lý (dù là Tiền hay Hậu Lý) của nước ta không hề thấy sách sử ghi có hoàng tử nào như vậy và có loại giặc nào là giặc Vĩnh Trinh cả. Đây là một nhân thần hoàn toàn ở một thời điểm khác, sớm hơn nhiều so với nhà Lý sau này.
Cách đánh giặc của Linh Lang đại vương mới thật kỳ lạ. Ông dùng một lá cờ lớn, cưỡi voi bay ra trận là giặc tan. Đánh giặc bằng cờ thì chỉ có là đánh ma quỷ, dùng cờ như pháp bảo của một pháp sư để diệt.
Linh Lang đại vương chính xác là Ninh Lang, hay Chu Công, nghĩa là vị Công tước của phía Tây (Chu = Chiêu; Ninh là tính chất tĩnh, định của hướng Tây). Chu Công là người đã xây thành Đông Đô nên được chọn làm người bảo hộ cho kinh thành Thăng Long, rất hợp lý. Chu Công cũng là một trong tứ thánh của Dịch học, có những đóng góp vào việc hoàn thiện Dịch lý. Ông dẹp giặc (cuộc nổi loạn của hậu duệ nhà Ân) chủ yếu nhờ ân đức, chứ không phải võ lực. Do đó cũng có thể coi ông là một Pháp sư. Chí ít thì ông cũng đã là Thái sư dưới triều Chu Thành Vương.

Thu Le

Nghị môn ngoại đền Thủ Lệ – Tây Trấn từ.

Vị thần Trấn Đông là thần Long Đỗ thờ ở đền Bạch Mã trên phố Hàng Buồm. Vị thần này là ai mà lại được tôn làm thần trấn Đông của kinh thành?
Câu đối ở đền Bạch Mã:
南國上神四鎭升龍傳越史
東城顯聖壹威馬跡正光天
Nam quốc thượng thần, tứ trấn Thăng Long truyền Việt sử
Đông thành hiển thánh, nhất uy mã tích chính quang thiên.
Dịch
Thượng thần nước Nam, Thăng Long tứ trấn truyền sử Việt
Hiển thánh thành Đông, dấu ngựa một uy tại trời xanh.
Long Đỗ cũng là Long Độ vì chữ Đỗ là viết kiêng húy Trần Thủ Độ từ thời Trần. Long Độ đình hầu chính là Sĩ Nhiếp. Sĩ Vương là người đã gìn giữ thành Luy Lâu – Long Biên (Bắc Ninh) trong thời loạn lạc hàng chục năm, nên được lấy làm thần bảo hộ hướng Đông cho thành Thăng Long là hợp lý. Sĩ Vương là một tu sĩ đạo Bà Là Môn, liên quan đến việc hô mây gọi gió của Tứ pháp.
Sĩ Vương “khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người”. Hình ảnh này cho thấy Sĩ Nhiếp từng là một tu sĩ hay pháp sư, có người Hồ đi theo đốt hương phục vụ. Những truyện thần kỳ khác cũng được kể về Sĩ Nhiếp như truyện ông đã chết đi 3 ngày lại còn sống lại sau khi được Đổng Thừa cho uống thuốc tiên…

Bach Ma

Đền Bạch Mã.

Sang vị thần cuối cùng của Tứ trấn Thăng Long là thần Trấn Nam – Cao Sơn đại vương. Đền thờ chính của vị này là đình Kim Liên ở quận Đống Đa ngày nay. Nhận xét rằng các thần Tứ trấn kinh thành là các pháp sư, thầy cúng hay thầy địa lý, một lần nữa xác nhận rằng Cao Sơn đại vương ở Kim Liên là thầy phong thủy nổi tiếng Cao Biền thời Đường. Tài trấn yểm của Cao Vương thì chắc chẳng phải bàn.
Cao Vương là người đã xây thành Đại La nên được tôn thờ làm thần bảo hộ kinh thành Thăng Long hoàn toàn hợp đạo và hợp lý. Cao Vương là thần Trấn Nam vì thành tích chính của ông là dẹp giặc Nam Chiếu. Vùng phía Nam Hà Nội (Thường Tín), Ninh Bình (Phụng Hóa, Nho Quan), Thanh Hóa (Thọ Xuân), tới tận Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đều có các đền thờ Cao Biền, thờ đúng tên Cao Biền hoặc dưới tên Cao Sơn Cao Các đại vương.

Khe Hoi

Nghi môn đình Khê Hồi (Thường Tín, Hà Nội), nơi thờ Cao Sơn đại vương.

Lão Tử hóa … Cao Sơn Độc Cước

Tóm tắt lại những gì đã biết về thân thế và sự nghiệp của Lão Tử. Lão Tử, vị giáo chủ của Đạo giáo, tác giả của cuốn triết học Đạo Đức kinh nổi tiếng, xuất xứ không ở đâu xa. Những di tích, sự tích ở Việt Nam cho thấy quê hương của Lão Tử chính là ở miền Bắc Việt.
Làng Thổ Hà (Vân Hà, Việt Yên, Bắc Giang) là nơi Lão Tử từng tu luyện, cứu chữa dân lành và hóa về trời. Thái Thượng Lão Quân, thành hoàng làng Thổ Hà, được biết là người đã cử thần Kim Quy tới giúp vua An Dương Vương trừ yêu diệt quỷ trên núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa trong huyền sử Việt. Câu đối ở cửa võng đình Thổ Hà kể lại những sự tích này của Lão Tử:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.
Người đã giúp An Dương Vương diệt tinh gà trắng trên núi Thất Diệu còn là Huyền Thiên Trấn Vũ, có đền thờ chính nằm ở núi Sái (Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội). Huyền Thiên là Lão Tử vì thời nhà Đường coi Lão Tử là tổ tiên họ Lý nên tôn là Thái thượng Huyền Nguyên hoàng đế. Núi Sái ở Đông Anh còn có tên là núi Vũ Đương, ngọn núi thánh của Đạo Giáo.
Huyền Thiên đại thánh còn có đền thờ ở khu vực ven sông Hồng. Tại đền Bộ Đầu (xã Thống Nhất, Thường Tín, Hà Nội) Huyền Thiên được thể hiện là một vị thần to lớn, diệt trừ giao long ở đoạn sông này. Ở đền Bộ Đầu, Huyền Thiên được gọi là Đổng Thiên vương. Tức là Huyền Thiên Lão Tử là một trong Tứ linh thần “Hương Bổng Đổng Đằng” và trong Tứ bất tử của nước Nam. Đổng là ghi âm Đùng của tiếng Nôm, chỉ người khổng lồ cao lớn. Hình tượng của Huyền Thiên là một vị thần to lớn kỳ dị, có khả năng điểu khiển rắn rùa và trấn phương Bắc (Huyền phương, Trấn Vũ).
Trong Đạo Giáo Lão Tử được tôn là Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn, một trong ba ngôi chí tôn Tam thanh. Ở Ninh Bình có đức Thiên Tôn trong Hoa Lư tứ trấn cũng chính là Lão Tử. Lão Tử còn có thể ở ngôi Ngọc Hoàng Thượng Đế, thần chủ của Thiên phủ trong tín ngưỡng Tam tứ phủ.
Theo sự tích ở Hoa Lư thì Ninh Bình là quê hương chôn rau cắt rốn của Lão Tử. Lão Tử là người sinh ở vùng Ninh Bình, tu luyện cứu thế ở Thổ Hà (Bắc Giang), khiển rắn rùa ở ven sông Hồng, thành nghiệp trên núi Vũ Đương qua việc trừ yêu quỷ giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Là thần chủ của Đạo giáo và là một trong Tứ bất tử nước Nam nên các ngôi của Lão Tử gặp rất đa dạng. Mỗi địa phương lại kể về Lão Tử dưới một cái tên khác nhau. Chỉ khi so sánh sự tích thì mới nhận ra đó đều là một nhân vật.

P1240973Đền Núi ở Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh.

Ở Yên Phụ (Yên Phong, Băc Ninh) có ngôi đền Núi nằm trên một gò đồi, có tên là núi Thất Diệu. Đền Núi thờ 3 vị thần gồm Cao Sơn đại vương, đức vua bà Ngọc Hậu phi và một vị thần bản thổ. Ngọn đồi này cũng là nơi đóng đại bản doanh của Lý Thường Kiệt trong trận chiến chống Tống trên sông Như Nguyệt.
Đôi câu đối cổ còn lưu lại qua năm tháng ở đền Núi:
龍御臨辰曜嶺草花増氣色
鸞車止 處德江波浪弄清光
Long ngự lâm thời Diệu Lĩnh thảo hoa tăng khí sắc
Loan xa chỉ xứ Đức Giang ba lãng lộng thanh quang.
Dịch:
Rồng ngự kíp thời, Diệu Lĩnh cỏ hoa thêm khí sắc
Xe loan tới chốn, Đức Giang sóng nước ánh hào quang.
Vế đầu câu đối nói tới một vị vua đã từng ngự giá đến núi Thất Diệu. Còn vế sau nói tới xe loan của vị nữ thần (đức Hậu phi?) trên sông Nguyệt Đức (sông Cầu). Tuy nhiên, điều lạ là xét trong số 3 vị thần được thờ ở đền Núi thì không có vị nào là vua mà lại hiển linh ở núi Thất Diệu cả. Vế đối trước chỉ có thể nói tới sự tích liên quan tới thần Cao Sơn đại vương được thờ ở đây. Đây là chuyện thần đã giúp An Dương Vương thân ngự diệt quỷ ở núi Thất Diệu.
Một câu đối cổ khác ở chính điện đền Núi:
退虜助奇功李將驚囬秋夜夣
除妖揚正氣曜山全現北辰光
Thoái lỗ trợ kỳ công, Lý tướng kinh hồi thu dạ mộng
Trừ yêu dương chính khí, Diệu sơn toàn hiện bắc thần quang.
Dịch:
Trợ giúp kỳ công lui giặc, tướng Lý bàng hoàng mộng đêm thu
Nêu cao chính khí trừ yêu, núi Diệu tỏ tường ánh thần Bắc.
Vế đối đầu nói tới thần được thờ ở đền Núi đã trợ giúp Lý Thường Kiệt phá Tống. Còn vế đối sau nói rõ hơn chuyện trừ yêu diệt quỷ ở núi Thất Diệu. Rõ ràng những câu đối này đang kể về sự tích thần được thờ tại đây giúp vua diệt yêu quái trên núi Thất Diệu. Thần ở đây là Cao Sơn đại vương. Đặc biệt thông tin về “Bắc thần quang” đã chỉ rõ thần Cao Sơn ở đây là vị thần trấn phương Bắc. Với những thông tin này thì có thể thấy chắc chắn vị Cao Sơn đại vương ở đền Núi chính là Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền Núi nằm không xa núi Sái, nơi thờ chính của Huyền Thiên.

Gieng Co TienGiếng Cô Tiên trên núi Thất Diệu (Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh).

Đền Núi ở Yên Phụ như vậy liên quan trực tiếp tới sự tích Huyền Thiên giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Trong cụm di tích ở đây còn có miếu Bạch Kê thờ vị tiên cô Bạch Kê đã gánh đất đắp thành Cổ Loa. Trên núi có giếng Cô Tiên, tương truyền là dấu vết tiên ở núi Thất Diệu. Rất có thể, vị thần thổ địa hay vị Ngọ hậu phi được thờ ở đền Núi chính là Mẫu Bạch Kê.
Trong câu đối trên kể về việc thần ở đền Núi trợ giúp Lý Thường Kiệt đánh lui quân Tống. Đây cũng là một trong những chuyện kể về sự hiển linh của đức Huyền Thiên ở đền Sái. Dưới chân đền Sái về phía Đông có đền Thượng, là nơi làm lễ bái vọng Huyền Thiên trong ngày hội đền Sái. Tuy nhiên đền Thượng này lại thờ Cao Sơn đại vương. Đặc biệt chính trong đền Thượng ở chân núi Sái cũng có một đôi câu đối như đôi câu đối đã dẫn của đền Núi Yên Phụ. Thông tin này một lần nữa cho thấy Huyền Thiên đại thánh còn được gọi là Cao Sơn ở khu vực này.
Việc xác định Huyền Thiên Lão Tử còn được gọi là Cao Sơn dẫn đến một phát hiện khác. Cao Sơn hay Tiêu Sơn cũng là tên của thần Độc Cước, vị thần được thờ phổ biến ở Thanh Hóa. So sánh giữa thần Độc Cước và Huyền Thiên cho thấy 2 vị thần này thực chất là một. Cả hai đều là dạng thiên thần hay nửa nhân thân nửa thiên thần. Thần Độc Cước được kể dưới hình ảnh vị thần chỉ có 1 bên thân.

P1240193.jpgTượng thần Độc Cước ở Linh Tiên Quán (Hoài Đức, Hà Nội).

Độc Cước chân nhân và Huyền Thiên đại thánh đều là đạo sĩ, có phép trừ yêu diệt quỷ. Thần Độc Cước ở Thanh Hóa được kể là dẹp quỷ Đỏ (thần tích làng Núi phường Trường Sơn, Sầm Sơn) hoặc Ma Nhung (truyền thuyết làng Vân Trai, Cẩm Vân, Cẩm Thủy). Còn Lão Tử theo thần tích ở làng Thổ Hà thì từng dẹp giặc Xích Tỵ (giặc Mũi đỏ). Thực ra đây là việc Lão Tử đã chữa bệnh giúp nhân dân. Bệnh dịch hạch xưa kia rất phổ biến, người bệnh nổi các nốt hạch đỏ. Truyền thuyết gọi thành quỷ Đỏ hay giặc Xích Tỵ. Nhờ việc chữa trị bệnh dịch này mà Lão Tử đã được nhân dân tôn thờ khắp nơi.
Tên của thần Độc Cước là Cao Sơn hay Tiêu Sơn. Những nơi thờ thần thường gọi địa danh là Núi. Như đã thấy ở trên Cao Sơn cũng là tên của Huyền Thiên. Đây không phải là những vị thần núi như nhầm tưởng. Tên gọi Núi hay Sơn là quẻ Cấn, chỉ hướng Bắc trong Bát quái. Tiêu Sơn nghĩa là hướng chính Bắc, là hướng của Huyền Thiên Trấn Vũ.
Bản thân hình ảnh Độc Cước về một vị thần chỉ có nửa người, một chân cũng là xuất phát từ nghĩa này. Độc là số 1, con số chỉ phương Bắc trong Hà thư. Thánh Độc tương đương với Tiêu Sơn hay Huyền Thiên, là vị thần trấn phương Bắc.
Hình ảnh của dấu chân to lớn như của thần Độc Cước để lại như ở núi Cổ Giải tại Sầm Sơn cũng gặp trong sự tích Huyền Thiên ở đền Bộ Đầu. Cổ Giải là núi rùa. Còn ở nghè Hạ làng Nhân Cao (Thiệu Hóa, Thanh Hóa) có tượng thần Độc Cước cưỡi trên một con rắn lớn, tay cầm búa bắt nó phải khuất phục. Hình ảnh này liên tưởng tới biểu trưng của Huyền Thiên Trấn Vũ với tài khiển rắn rùa.
Ở núi Sái khi thần Kim Quy dẫn An Dương Vương đi dẹp yêu quỷ, lúc về thấy có một hốc đá lớn trên núi Sái, thần Kim Quy nói đó là dấu chân của đức Huyền Thiên Trấn Vũ, vì thế An Dương Vương cho lập đền thờ thần trên núi Vũ Đương này. Hình ảnh một dấu chân lớn của thần Huyền Thiên tương tự như của Cao Sơn Độc Cước.
Theo sách Bắc Ninh địa dư chí thì ở trại Bông Thắng, phường Phú Thứ, làng Yên Sơn, huyện Phong Phú (Yên Phong) cũng có sự tích thần Tiêu Sơn Độc Cước. Đây là khu vực gần núi Thất Diệu tại Yên Phong.
Ở Việt Yên, Bắc Giang, ngay gần làng Thổ Hà còn có ngôi đền nhỏ gọi là đền Núi Lùn (thôn Lát Thượng, xã Tiên Sơn). Đền thờ Tiêu Sơn Độc Cước. Đền thờ này nằm cạnh chùa Tư Ân (Bổ Đà), nơi còn tượng thờ Lão Tử và Khổng Tử. Câu đối ở chùa Tư Ân về Khổng – Lão:
楚邦鹿梦地鍾靈萬年僊主
魯邑鱗書天瑞表千載素王
Sở bang lộc mộng địa chung linh, vạn niên tiên chủ
Lỗ ấp lân thư thiên thụy biểu, thiên tải tố vương.
Dịch:
Nước Sở mộng hươu đất đúc linh thiêng, vạn năm tiên chủ
Ấp Lỗ sách lân trời soi áng rạng, ngàn thu tố vương.

P1320071
Tượng Lão Tử ở chùa Tư Ân.

Từ sự đồng nhất về sự tích, vai trò tín ngưỡng, tên gọi, địa điểm di tích, hình ảnh thể hiện trong truyền thuyết có thể thấy rõ Tiêu Sơn Độc Cước chính là Huyền Thiên, là một ngôi, một cách gọi, cách thờ khác của Lão Tử. Nguồn gốc của Lão Tử ở nước Nam lại thêm lần nữa được xác quyết với hình ảnh Cao Sơn – Độc Cước.
Tài liệu tham khảo:
1. Tục thờ thần Độc Cước ở một số làng ven sông biển tỉnh Thanh Hóa. Hoàng Minh Tường. NXB KHXH, 2015.
2. Các vị thần làng thờ ở Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh. Thông báo Hán Nôm học 2001, tr.209-223.

Khảo cứu mới về Hoa Lư tứ trấn

Cố đô Hoa Lư của thời Đinh Lê tại Ninh Bình có 4 vị thần được tôn là Tứ trấn, tương tự như ở đất Thăng Long. Hiện nay việc sắp xếp trấn phương của các vị thần này như sau: Trấn Đông là thần Thiên Tôn, Trấn Tây là thần Cao Sơn, Trấn Bắc là thần Không Lộ, Trấn Nam là thần Quý Minh. Người ta cho rằng như vậy trong tứ trấn thì có 3 thiên thần và 1 nhân thần.
Thực sự thì những vị thần này là ai và phương vị của họ nêu trên có đúng không? Khảo cứu những tư liệu dân gian ở đây cho hiểu biết thêm về thời kỳ cổ sử ở khu vực Ninh Bình cũng như cho toàn miền Bắc Việt Nam.

Hoa_Lu_tu_tran-ModelBản đồ Hoa Lư tứ trấn (theo Wikipedia).

Trấn Bắc: Thiên Tôn
Thần Thiên Tôn ở Hoa Lư có nơi thờ chính là bản quán của thần tại thôn Đa Giá (Ninh Mỹ, Hoa Lư). Tại đây có động Thiên Tôn và đền Đa Giá thờ thần. Thiên Tôn là Huyền Thiên Trấn Vũ với sự tích tương tự như ở Trấn Vũ Quán của thôn Ngọc Trì (Thạch Bàn, Gia Lâm, Hà Nội). Thần là Huyền Thiên Thượng Đế Đăng Ma Thiên Tôn, bị Ngọc Hoàng đày xuống trần gian. Thần đã đầu thai nhiều kiếp, sau đó làm hoàng tử ở Tĩnh Lạc Quốc, rồi đi vào Vũ Đương Sơn tu luyện…

Cong chua Thien TonCổng chùa Thiên Tôn.

Thực ra Huyền Thiên Trấn Vũ chẳng phải ai khác chính là Lão Tử, vị giáo chủ của Đạo Giáo. Trong Đạo Giáo Lão Tử được tôn làm Thái Thanh Đạo Đức Thiên Tôn. Còn Tĩnh Lạc quốc của Huyền Thiên là Tĩnh Hải Lạc Việt, tức là khu vực nước Nam thời nhà Đường.
Điều đáng ghi nhận là truyền thuyết ở Hoa Lư cho biết làng Đa Giá chính là quê hương của thần Thiên Tôn. Rất có thể đây chính là quê hương của Lão Tử. Một số thần tích ở Hà Nam (đình Phù Vân, Phủ Lý) cũng cho biết Thái Thượng Lão Quân (tức Lão Tử) cũng là người ở vùng này.
Trong đền Đa Giá có bức hoàng phi cổ: “Bắc phương chính khí”. Huyền Thiên là phương trời phía Bắc, có màu đen. Do đó thần Thiên Tôn ở Hoa Lư phải là trấn Bắc chứ không phải trấn Đông.
Động Thiên Tôn là di tích cổ, tương truyền do “Cao Đô Đường Thái sư” cho xây dựng. Cao Đô Đường thái sư tức là Cao Biền. Cũng ở khu vực động Thiên Tôn khảo cổ đã tìm thấy 2 loại gạch: Giang Tây quânĐại Việt quốc quân thành chuyên. Giang Tây quân là gạch của Tĩnh Hải quân nhà Đường, điều này khẳng định truyền thuyết về Cao Biền xây di tích này thờ thần Thiên Tôn.

Bac phuong chinh khiHoành phi “Bắc phương chính khí” ở đền Đa Giá.

Tấm bia đá ở ngoài cửa động khắc bài ký của Hoàng giáp Phạm Văn Nghị (1805-1881) có đoạn:
Nước Nam ta thờ thần (Thiên Tôn) từ thời An Dương Vương. Thần trừ diệt yêu ma, được xếp vào bậc nhất danh thần. Tại động núi Vũ Đương xã Đa Giá, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình trước đây có tượng đế quân bằng gỗ, tay chống lên kiếm, chân đạp lên rùa và rắn. Phía Đông có ngôi đền thờ rất linh ứng.”
Động Thiên Tôn nằm ở chân núi Dũng Đương. Chữ Dũng hẳn là lấy từ từ ghép “vũ dũng”. Dũng Đương cũng là Vũ Đương. Ngọn Vũ Đương hay Võ Đang của Lão Tử lại nằm ở Ninh Bình.
Câu đối ở chùa Thiên Tôn:
Thiên Tôn động cổ lưu danh thần Trấn Vũ
Hoa Lư thành ngoại điển tích núi Dũng Đương.

Nha bia Thien Ton
Nhà bia động Thiên Tôn và sử tử đá thời Lý.

Bài thơ khắc trên vách núi ở bên trái cửa động Thiên Tôn do Đoan trai Lương Quy Chính đề năm Thành Thái thứ 12 (1900):
Cửu du trùng phỏng Thiên Tôn động
Linh tích cung chiêm Trấn Võ thần
Thục đế sơn hà kim tạc mộng
Hà Nam thủ kiếm diệt yêu phân.
Dịch (Trần Lâm Bình):
Thiên Tôn động cổ trở về thăm
Dấu thiêng Trấn Vũ bái vọng thần
Thục đế non sông qua giấc mộng
Tay kiếm trừ yêu mấy khó khăn.
Cả trong văn bia và bài thơ vách núi đều nói tới chuyện thần Thiên Tôn Trấn Vũ đã giúp Thục An Dương trừ yêu diệt quỷ. Bởi vì Huyền Thiên Trấn Vũ cũng là người được thờ ở đền Sái (Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội) với công trạng là giúp An Dương Vương trừ Bạch Kê Tinh xây thành Cổ Loa.
Như vậy sự hiện diện của Huyền Thiên hay Lão Tử trong chuyện thời An Dương Vương không phải chỉ có ở Cổ Loa. Đây là chứng tích cho thấy Lão Tử là người đã giúp An Dương Vương xây thành. Vua Chủ An Dương Vương không phải ai khác ngoài thiên tử Chu của thời Lão Tử. Lão Tử quê ở Ninh Bình, tu luyện ở núi Sái, là vị thầy thuốc chữa dịch bệnh cho nhân dân và giúp vua Chu dời đô về Cổ Loa.

Den Da GiaĐền Đa Giá và những chạm trổ cầu kỳ trên gỗ, đá.

Trấn Đông: Quý Minh
Nơi thờ chính của Quý Minh ở Hoa Lư là đền Trần hay đền Nội Lâm trong khu danh thắng Tràng An. Đức Thánh Quý Minh Đại Vương ở Hoa Lư được coi là một vị thủy thần, là người có công trấn giữ vùng chiêm trũng ải Sơn Nam, bảo vệ đất nước thời vua Hùng 18.
Theo thần tích làng Ngâm Mạc (Gia Bình, Bắc Ninh): vào đời Hùng Duệ Vương có hai vợ chồng người Hồng Châu đến chùa Thiên Thai cầu tự. Từ đấy sinh ra một bọc hai con trai, đặt tên là Cao Sơn và Quý Minh. Khi Hùng Duệ Vương cho tìm người tài, cả hai bèn đến chầu, Vua phong cho làm Đô chỉ huy sứ Tướng quân. Thục Phán dấy quân, vua sai hai người đem quân đi bình giặc. Hai người cùng đem quân đến núi Sóc Sơn, đạo Kinh Bắc, mới đánh một trận giặc Thục thua chạy…
Hội đền Trần được tổ chức với hàng trăm chiếc thuyền bơi dọc sông, rước nước tế thần.
Câu đối ở cột đá đền Nội Lâm:
Khuông phù Hùng quý trung hưng tướng
Tĩnh trấn Nam thiên thượng đẳng thần.
Dịch:
Phù giúp thời Hùng trung hưng tướng
Yên trấn trời Nam thượng đẳng thần.
Chuyện Quý Minh sinh ra trong bọc trứng và là thủy thần có công đánh Thục cho thấy đây là chuyện thời vua cha Bát Hải Động Đình hay Lạc Long Quân của Thoải phủ (Thủy phủ). Ngay trong đền Nội Lâm còn có tượng thờ Hoàng phi Quý Nương. Quý Nương là tên của bà mẹ đã sinh 3 con Hoàng xà, sau là Vĩnh Công Bát Hải và 2 người em.
Quý Minh nghĩa là người con thứ 3 vì Quý là thứ ba trong thứ tự Mạnh, Trọng, Quý. Nói cách khác thần Quý Minh ở Hoa Lư là vị Quan lớn đệ Tam ở đền Lảnh (Duy Tiên, Hà Nam), cũng là thần Thổ Lệnh trong truyện Bạch Hạc Tam Giang và là Trung thành phổ tế đại vương của vùng Phú Xuyên – Hà Nam.
Khi đã xác định như vậy thì phương vị trấn của Quý Minh không thể là trấn phương Nam. Quan đệ Tam là trấn Đông vì 3 là con số chỉ hướng Đông trong Hà thư. Ngay bản thân cái tên của đền thờ Quý Minh là đền Trần (trong khi không hề thờ vua Trần) cho thấy đây là thần trấn Đông vì Trần là Đông A, tức là vùng đất phía Đông.

Den Noi LamKhu vực Tràng An.

Trấn Nam: Cao Sơn
Thần Cao Sơn được thờ trong khu vực chùa Bái Đính. Nhưng chính đền thì phải ở đất Nho Quan. Thần tích của đền Kim Liên, trấn Nam của Thăng Long cho biết quê của Cao Sơn ở Phụng Hóa (Nho Quan, Ninh Bình). Nay là đền Láo tại xã Văn Phú của huyện Nho Quan.
Theo thần phả đình làng Lỗi Sơn (Gia Phong, Gia Viễn, Ninh Bình), thì Tản Viên Sơn Thánh đã đưa quân về vùng Tràng An lập đồn. Tản Viên Sơn Thánh truyền binh sĩ chia làm ba chủ: Sùng Công đóng đồn ở khu Ðồi Khoai (thuộc xã Yên Lão, Phụng Hóa, Nho Quan). Hiền Công lập đồn ở xã Vân Cái làm phòng tuyến, còn Sơn Thánh lập đồn ở xã Sơn Dược.
Sùng Công là Cao Sơn vì chữ Sùng là dịch Nho của chữ Cao. Hiển Công là Quý Minh vì Hiển là dịch Nho của chữ Minh.
Trong các thần tích thì Cao Sơn được gọi là Lạc tướng Vũ Lâm. Tên này có thể giải nghĩa như sau. Sơn là quẻ Cấn trong Bát quái, chỉ hướng Nam xưa, nay là hướng Bắc. Cao nghĩa là thủ lĩnh, vua. Vì thế Cao Sơn tương đương với một loạt các từ Lạc Vương, Nam vương. Vũ Lâm như vậy là ghi âm của từ “vua Nam”.
Truyền tích Cao Sơn ở Ninh Bình còn gắn với loài cây búng báng là loài cây được Cao Sơn phát hiện có thể dùng làm bột bánh thay bột gạo cho nhân dân ở đây. Vì thế loài cây này được gọi là Quang Lang… Thực ra Quang Lang hay Quan Lang nghĩa là vua Nom (Quan là nhìn, là nom), cũng là Nam vương ở trên.
Những cái tên Vũ Lâm, Quan Lang trong truyền tích Cao Sơn khẳng định thêm nhận định Cao Sơn là thủ lĩnh phương Nam. Vì thế phương trấn của Cao Sơn phải là phía Nam, không phải phía Tây như vẫn nghĩ.

Trấn Tây: Không Lộ
Đền thờ Không Lộ thiền sư Nguyễn Minh Không là đền đức thánh Nguyễn ở xã Gia Thắng (Gia Viễn). Nguyễn Minh Không có tên là Chí Thành, đã được phong là Lý Triều Quốc Sư với sự tích chữa bệnh cho Lý Thần Tông. Các văn bia tại đền đức thánh Nguyễn đều gọi là Minh Không Quốc Sư. Tuy nhiên có vấn đề là Hoa Lư là kinh đô của hai nhà Đinh và Tiền Lê, tới Lý Thái Tổ đã dời đô về Thăng Long. Vậy tại sao một “Lý triều quốc sư” lại thành một trấn của Hoa Lư được?

Nghi mon thanh NguyenNgoại môn đền đức thánh Nguyễn “Lý triều quốc sư” ở Đàm Xá.

Câu đối ở nghi môn đền đức thánh Nguyễn:
海笠囊銅奇事傳聞南以北
象山龍水靈臺屹對古而今
Hải lạp nang đồng, kỳ sự truyền văn Nam dĩ Bắc
Tượng sơn long thủy, linh đài ngật đối cổ nhi kim.
Dịch:
Biển nón túi đồng, kỳ sự truyền lan Nam đến Bắc
Núi Tượng sông Long, đài thiêng cao đối cổ tới nay.
Sự tích về Nguyễn Minh Không còn có nhiều điều kỳ lạ và lẫn lộn. Rất khó phân biệt Nguyễn Minh Không ở Hoa Lư và Dương Không Lộ ở Thái Bình – Nam Định. Cả hai đều là những nhà sư thời Lý, chữa bệnh cho vua Lý. Cả hai đều được thờ là ông tổ của nghề đúc đồng vì chuyện ông Khổng Lồ sang phương Bắc, thu đồng đen trong túi mang về, đúc chuông. Khi chuông đánh lên Trâu Vàng nghe tiếng chạy theo về, thành đầm Kim Ngưu (Hồ Tây)… An Nam tứ đại khí đồ đồng cũng liên quan tới Không Lộ thiền sư.
Câu đối khác ở chính điện đền đức thánh Nguyễn
瞿越降生覺海心如海
太平出世通玄道亦玄
Cồ Việt giáng sinh, Giác Hải tâm như hải
Thái Bình xuất thế, Thông Huyền đạo diệc huyền.
Theo câu đối này thì Nguyễn Minh Không đã giáng sinh từ thời nước Cồ Việt, tức là nước của Đinh Bộ Lĩnh lập và đóng đô ở Hoa Lư. Đoạn nói về Giác Hải và Thông Huyền là theo bài thơ của vua Lý Nhân Tông được chép trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải.
Cần nói thêm là khái niệm Tứ trấn chỉ áp dụng cho kinh thành vì 4 trấn là 4 vị tướng ở 4 hướng, còn ở trung tâm phải là nơi có vua ngự, khi kết hợp lại thì mới thành 5 phương vị của Ngũ hành. Vì thể không thể có một thần trấn phương mà lại xuất hiện khi nơi chính không còn là kinh đô nữa.
Như vậy Lý triều quốc sư Nguyễn Minh Không phải là một nhân vật ít nhất là từ thời Đinh Lê. Điều này chỉ có thể hiểu từ nhận định mới về lịch sử của giai đoạn này. Hai nhà Đinh Lê là hai vị vua Lý đầu tiên, còn đang ẩn họ Lê tại Hoa Lư. Lý Thái Tổ – Đinh Tiên Hoàng và Lý Thái Tông – Lê Hoàn vẫn nhận chức Tiết độ sứ của nhà Tống. Đến vị vua Lý thứ ba là Lý Thánh Tông mới dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long và xưng nước Đại Việt độc lập.
Tham khảo thêm bài thơ Trường An thành hoài cổ của Nguyễn Trung Ngạn thời nhà Trần:
Mộc lạc hòa đao đế nghiệp di,
Lý gia thu đắc bản đồ quy.
Sơn vi cố quốc quy mô tiểu,
Thảo ám hoang thành cảnh vật phi.
Cổ tự tăng chung xao lạc nhật,
Đoạn khê ngưu địch lộng tà huy.
Anh hùng cựu sự vô tầm xứ,
Độc ỷ giang đình khán thúy vi.
Bản dịch của Nguyễn Huệ Chi như sau:
Cơ nghiệp Tiền Lê đã đổi thay,
Bản đồ, nhà Lý nắm vào tay.
Đô xưa bé nhỏ non vây kín,
Thành bỏ hoang vu cỏ lấp đầy.
Chùa cổ chuông khua vầng ác lặn,
Ngòi ngăn, sáo giỡn bóng chiều rây.
Anh hùng dấu cũ tìm đâu thấy,
Đứng tựa đình sông ngắm núi mây.
Mộc lạc hòa đao” là chiết tự của họ Lê 梨. Hai câu đầu chỉ Hoa Lư là kinh đô của nhà Tiền Lê, sau chuyển sang nhà Lý.
Câu “Sơn vi cố quốc quy mô tiểu” cho giải thích về cái tên nước Cồ Việt của thời Đinh Lê. Cồ hay Cù thực ra nghĩa Nôm là Cổ, Cũ. Đại Cồ Việt nghĩa là nước Đại Việt cũ, vì đó là nước Đại Việt được lập bởi Lưu Cung, với bằng chứng là những viên gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên ở Hoa Lư và ở Hoàng thành Thăng Long.
Câu thơ:
Cổ tự tăng chung xao lạc nhật,
Đoạn khê ngưu địch lộng tà huy.
Là nói tới chùa Địch Lộng. Chùa này cũng là nơi chính thờ Nguyễn Minh Không ở đất Hoa Lư.

Den thanh NguyenĐền đức thánh Nguyễn.

Sau khi xét phương vị của 3 vị thần trong Hoa Lư tứ trấn đều phải xoay lại một góc 90 độ thì phương vị của thần Không Lộ cũng phải chỉnh lại. Vị thần này phải là Trấn Tây. Nguyễn Minh Không cùng quê với Đinh Bộ Lĩnh ở Gia Viễn (Ninh Bình). Có câu: “Đại Hữu sinh vương, Đàm gia sinh thánh”. Đại Hữu là quê của Đinh Bộ Lĩnh. Đàm Xá là quê của Nguyễn Minh Không. Lý triều quốc sư thời Đinh Lê trên đất Tĩnh Hải. Đinh và Tĩnh đều chỉ hướng Tây.
Khi xác định Đinh Bộ Lĩnh là Lý Thái Tổ thì Lý triều quốc sư cùng quê cùng thời với Đinh Bộ Lĩnh thì phải là thiền sư Vạn Hạnh, người đã phò tá Lý Thái Tổ lên ngôi. Thiền sư Vạn Hạnh theo truyền tích ở Cổ Pháp cũng mang họ Nguyễn. Liên hệ giữa Nguyễn Minh Không và Nguyễn Vạn Hạnh cho phép hiểu thêm, tại sao Nguyễn Minh Không lại được các triều đại Đinh Lê Lý coi trọng như vậy. Hợp lý mà nói thì Vạn Hạnh mới xứng đáng tôn là Lý triều quốc sư vì là công thần khởi lập của triều Lý. Vạn Hạnh là vị thiền sư từ thời Lê Đại Hành nên chắc chắn ở Hoa Lư phải có di tích thờ ông. Thời gian đã làm lu mờ sự tích, dẫn đến thiền sư Vạn Hạnh được thờ dưới tên Đức thánh Nguyễn ở Hoa Lư.
Câu đối ở đền đức thánh Nguyễn:
神遊天上三靈化
福在人間四寳傳
Thần du thiên thượng tam linh hóa
Phúc tại nhân gian tứ bảo truyền.

Gac chuong thanh NguyenGác chuông ở đền đức thánh Nguyễn.

Các vị thánh được nói đến đều có phép bay trên trời như chuyện Nguyễn Minh Không đưa thuyền của quân lính từ Hoa Lư về kinh thành chầu vua trong 1 đêm. Không Lộ nghĩa là con đường trên không, là sự giác ngộ đạt đến cảnh giới, thân hình tự nhiên nhẹ nhàng, có thể bay lên không (chuyện về Dương Không Lộ). Có thể đó cũng là hình ảnh của một vị thiền sư đã “mở đường” cho sự lên ngôi của một triều đại.
Nguyễn Minh Không còn là một vị thần trong Tứ bất tử. Thần bất tử nghĩa là một nhân vật có phép, có khả năng “bất tử”, tái sinh chuyển thể. Chữ “tam linh hóa” ở câu đối không rõ chỉ những hóa thân nào của thần (có thể là Nguyễn Minh Không – Dương Không Lộ – Vạn Hạnh). Nhưng rõ ràng sự tích của Nguyễn Minh Không không phải chỉ ở một thân, trong một thời.
Tóm tắt lại, Tứ trấn là khái niệm các thần trấn phương của kinh thành. Hoa Lư tứ trấn chỉ 4 vị thần trấn 4 phương của kinh thành Hoa Lư thời Đinh Lê, bao gồm:
Trấn Bắc: Thiên Tôn Huyền Thiên Lão Tử, người đã khiển quy xà, giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa thời Chu. Quê hương của Lão Tử ở làng Đa Giá, nay gần thị trấn Thiên Tôn, Hoa Lư.
Trấn Đông: Quý Minh Đại Vương, người anh em của Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình thời nhà Hạ, là Quan lớn đệ Tam của Thoải phủ.
Trấn Nam: Cao Sơn Lạc tướng Vũ Lâm, là Sùng Công, cai quản vùng đất Cao – Sùng thời Thương.
Trấn Tây: Lý triều quốc sư Nguyễn Minh Không thời Đinh Lê, có thể chính là thiền sư Vạn Hạnh, công thần lập quốc của nhà Lý.