BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, phiên bản thứ 10

Bản in cập nhật có bổ sung của cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI, Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian. Cập nhật tháng 5/2018. Tổng số 480 trang.

Tôi kể chuyện xưa sử nước Nam
Thái Bình tuấn kiệt nổi Lưu Bang 
Quân Thần Lý Lữ chia thiên hạ 
Tây Thổ Triệu Trưng rủ áo vàng 
Bi tráng một thời kìa Tích Đặng 
Hùng anh sáu kỷ đó Hà Nam 
Cao Vương Tĩnh Hải lưu thành cổ 
Đại Việt rồng bay kết vẻ vang.

Giới thiệu và tóm tắt nội dung sách xem tại đây.

P1210324 (2)

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
LỜI TỰA
BÁCH VIỆT TRÙNG CỬU DẪN LUẬN
ĐỐI CHIẾU TRUYỀN THUYẾT VÀ LỊCH SỬ

ÔNG TRỜI BÀ TRỜI
—-Viêm Giao Bàn Cổ
—-Ngọc Hoàng thượng đế
—-Quốc mẫu Tây Thiên
—-Hành trình nữ thần Việt – Hoa – Chăm
—-Thần châu Xích huyện

ĐẾ QUỐC LẠC HỒNG
—-Mở sử Hoa Việt
—-Kinh Dương Vương
—-Đi cày Lịch Sơn
—-Lên núi xuống biển

TẢN VIÊN SƠN THÁNH
—-Gậy thần sách ước
—-Ngũ hành cung
—-Sơn Tinh – Thủy Tinh
—-Ngũ Nhạc và Ba Vì

RỒNG BAY BIỂN BÁT
—-Mẫu Thoải
—-Bát Hải Động Đình
—-Bạch Hạc Tam Giang
—-Hùng Hải trị nước
—-Phủ Ứng Thiên

NON SÔNG BÁCH VIỆT
—-Đầm Nhất Dạ
—-Giếng Việt
—-Mẹ Âu Cơ
—-Sinh Bách Việt
—-Thần Bổng
—-Chim bạch trĩ

THẦN MINH VĂN LANG
—-Linh Lang đại vương
—-Cao Lỗ tướng quân
—-Đồng Cổ sơn thần
—-Họ Chu Việt Nam
—-Thủy tổ họ Phan

LÃO TỬ HÓA VIỆT KINH
—-Mưa gió Đông Chu
—-Huyền Thiên Trấn Vũ
—-Thiên Tôn và Độc Cước

NHÂN DUYÊN TẦN VIỆT
—-Mỵ Châu – Trọng Thủy
—-Biển Đông thà chết chẳng theo Tần
—-Tần An Dương Vương
—-Nước Tây Âu

THIÊN NAM ĐẾ THỦY
—-Người Tuấn kiệt
—-Nhâm Ngao
—-Thăng Long
—-Nam Việt Đế
—-Vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt

NAM QUỐC SƠN HÀ
—-Mũ đâu mâu
—-Thừa tướng Lữ Gia
—-Đỗ Động tướng quân
—-Bảy quận nước Nam
—-Chân Định linh thần

LỜI THỀ SÔNG HÁT
—-Tây Lý Vương
—-Mẫu vì Dương Vương
—-Ả Lã Nàng Đê
—-Nợ nước thù nhà
—-Tam Giang nhị thánh

NHỮNG ANH HÙNG THỜI LOẠN
—-Tiền nhân họ Phùng
—-Nam Giao học tổ
—-Giao Châu Đặng cư sĩ
—-Vị thần sông Tô

ĐẦU VOI PHẤT NGỌN CỜ VÀNG
—-Tiếp Lạc khai Đinh
—-Đô Dương Mã bất tiến
—-Thì chi Đông Hán dám hung hăng
—-Khu Linh người nước Nam ta
—-Tây Đồ Di

SÁU TRĂM NĂM LÂM ẤP
—-Mạnh Hoạch
—-Nam Triệu
—-Đào liệt hầu
—-Bia cổ nói
—-Lưu Phương và Lý Bát Lang

BỐ CÁI ĐẠI VƯƠNG
—-Tây Hưng đại vương
—-Khun Borom
—-Tộc người Thái
—-Tam vị chúa Mường

GIANG TÂY SỨ QUÂN
—-Bột Hải triều Nam
—-Dẹp Lâm Ấp
—-Gạch Giang Tây
—-Đằng Vương các tự

ĐẠI VIỆT ĐẠI HƯNG
—-Khúc tam vị chủ
—-Hạt Lý nảy năm cây
—-Thân thế Lý Công Uẩn
—-Giữa huyện Phù Hoa

TRUYỀN THUYẾT ĐINH LÊ
—-Mười hai sứ quân
—-Thủ lĩnh Đinh Bộ
—-Những bài sấm ký
—-Diễn Châu thái thú
—-Qua cửa Thần Phù

ĐÔI LỜI CHIA SẺ CÙNG TÁC GIẢ

PHỤ LỤC
—-Dịch tượng và ngôn ngữ
—-Thơ Sử thuyết họ Hùng
—-Chỉ dẫn di tích và địa danh
—-Tài liệu tham khảo

VĂN MINH HÙNG VIỆT

Nước Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến… Bốn ngàn năm, con số không hề nhỏ đối với lịch sử của một quốc gia trên thế giới này. Bốn ngàn năm lịch sử đã kết tụ thành một nền văn hóa Việt phong phú, đặc sắc, giàu giá trị nhân văn. Lịch sử và văn hóa luôn gắn liền với nhau. Dòng chảy lịch sử làm nên văn hóa tộc người và văn hóa đến lượt mình định hướng cho hành vi của con người trong cuộc sống hiện tại mà làm nên tương lai.
Văn hóa Việt có một lịch sử lâu đời như vậy nhưng còn có biết bao câu hỏi về nguồn gốc, về lịch sử văn hóa Việt chưa được giải đáp thỏa đáng. Suy nghĩ hiện nay của đại bộ phận người Việt, kể cả các nhà nghiên cứu chuyên môn, cho rằng văn hóa Việt được hình thành chủ yếu mới từ thời Lý cách đây ngàn năm, vì trước đó là ngàn năm chịu sự đô hộ của phương Bắc và trước nữa là thời “khuyết sử”, không biết đã có “ta” hay chưa nữa. Và rằng văn hóa Việt là sự vay mượn, không phải của Trung Quốc thì là Ấn Độ, thậm chí còn là của Chămpa…
Có thực như vậy không? Di sản văn hóa Việt có gì đáng giá? Liệu văn hóa Việt có đóng góp đáng kể gì cho nhân loại? Tại sao Việt Nam sau ngàn năm Bắc thuộc lại vẫn thoát ra một cách độc lập, không bị đồng hóa? Bản lĩnh văn hóa của người Việt là do đâu mà có? Rất, rất nhiều câu hỏi cần tìm câu trả lời…
Từ những hiểu biết mới về lịch sử và nền tảng Dịch học của văn hóa phương Đông cuốn sách này tập hợp những bài viết nhằm giải mã nguồn gốc văn hóa Việt qua các di vật văn hóa để lại, các hình tượng nghệ thuật truyền thống, qua thần điện Việt, qua di sản ngôn ngữ và chữ viết của người Việt. Cuốn sách muốn gửi tới bạn đọc một sự góp nhặt mới, dù là rất nhỏ nhoi trong biển văn minh kỳ vĩ mà nhân dân Việt đã sáng tạo ra qua hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Bia-truoc-709x1024

Sách dày 376 trang. Liên hệ đặt sách: bachviet18@yahoo.com.

MỤC LỤC

LỜI TỰA
Phần I. DI VẬT VÀ BIỂU TƯỢNG

Trống đồng bức thông điệp ngàn năm
Mặt trời, trống đồng và đạo Hiếu
Vua Dịch học, vua trống đồng
Con Rồng cháu Tiên ở Myanmar
Kinh Dịch và mái nhà Việt
Quê gốc người Hakka
Tứ Tạng – Tứ Linh
Kỳ Lân và nước Lỗ
Cổ vật Thương Chu
Cửu đỉnh Huế
Ngự chế minh văn cổ khí đồ
Những đứa con của Rồng
Bốn con Nghê
Anh là thợ mộc Thanh Hoa
Những đồng tiền kể chuyện mình
Rượu và sử Hùng Việt

Phần II. VIỆT ĐIỆN U LINH

Kính nhi viễn chi
Tứ linh, những vị tướng tài
Tứ bất tử và đạo thần tiên
Tứ phủ, đạo thờ tổ tiên
Tứ trấn, các pháp sư của kinh đô
Tứ pháp và đạo Bà La Môn
Lịch đại đế vương

Phần III. CHỮ NGHĨA HÙNG VIỆT

Hai chữ Giang, Hà và bài thơ Hán quảng
Bài thơ Thử ly và nhà Chu
Thấy bóng Cam đường nhớ Thiệu Công
Nam phục nhất Đường Ngu
Bài thơ Hành quận
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng
Chữ viết Hùng Việt
Nòng nọc đứt đuôi
Ngôn ngữ Việt
Kim chỉ Nam
Những con số thiêng của người Việt
Thủ lĩnh Việt và Hà thư
Từ Việt, văn minh Việt
Những vị lang trong tiếng Việt
Đạo Hiếu và nhà Chu

Phần IV. HÙNG VIỆT SỬ CA

Vạn Xuân
Hùng Việt sử ca. Mở đầu
Thời thần thoại
Thời dã sử
Lịch sử Hùng Vương
Thời mất nước
Thời phục hưng
Đại Việt
Đoạn kết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dịch học Hùng Việt

Bat quaiDịch học phương Đông gắn liền với dòng chảy lịch sử của nền văn minh cổ đại được gọi dưới tên là “Trung Hoa”: Vua Phục Hy tìm thấy Hà đồ trên lưng con Long Mã; Đại Vũ trị thủy đã nghĩ ra Lạc thư; Hoàng Đế bàn về y thuật đã vận dụng Ngũ hành; Văn Vương tác dịch khi bị giam cầm ở Dĩu Lý… Rõ ràng, trên con đường trở về cội nguồn văn minh phương Đông, Dịch lý không thể không được tìm hiểu thấu đáo.
Dịch lý là lẽ sống, là nền tảng văn hóa, ngôn ngữ, là sự tích tụ tinh hoa và trí tuệ qua nhiều đời của tiền nhân. Dịch đã từng là ngọn đuốc soi đường cho cả thiên hạ Trung Hoa đi lên văn minh, tiến bộ trong suốt đêm dài quá khứ, khi xã hội con người chập chững những bước đi đầu tiên của lịch sử. Thế nhưng, nền Dịch học trải qua bao thăng trầm của lịch sử đến ngày nay đã bị biến dạng, khác rất xa với Dịch học xưa kia. Dịch bị biến thành một thứ quỷ quái, không thể hiểu nổi, hay trở thành công cụ của đám buôn thần bán thánh.
Việc cải biến, làm lệch lạc Dịch lý được truyền thuyết Việt lưu lại trong câu chuyện lẫy nỏ thần của An Dương Vương bị kẻ thù đánh tráo, dẫn đến cảnh nước mất nhà tan, vô cùng đau xót. Tìm lại chiếc lẫy nỏ thần, khôi phục được nguồn gốc sức mạnh của người Việt là mục đích sâu xa của việc khảo cứu Dịch.
Khôi phục Dịch học, nền tảng tinh thần, trí tuệ cho người Việt, là việc làm hết sức khó. Tác phẩm Dịch học Hùng Việt do tác giả Nguyễn Quang Nhật biên khảo là một bước đột phá mới trong lĩnh vực này. Qua tác phẩm những thông tin trong Dịch học đã trở nên trong sáng, rõ ràng và đầy ý nghĩa khi được ứng chiếu với văn hóa, ngôn ngữ, địa lý và lịch sử của Việt Nam.
Tiếng Việt, phải chăng đó là ngôn ngữ của những người đã làm nên Dịch học? Tam thánh Dịch học là Chu Văn Vương, Chu Công và Khổng Tử vốn đều là những người Việt nên Dịch học chỉ có thể hiểu sáng rõ khi vận dụng ngôn ngữ Việt. Dịch học Hùng Việt được tác giả phục dựng trước hết dựa trên tiếng Việt. Điều này làm cho những khái niệm Dịch học như tên của can chi, tên các quẻ trùng… trở nên rất gần gũi và dễ hiểu với ngưới Việt.
Tác phẩm Dịch học Hùng Việt ra đời cách đây đúng 10 năm và đã được giới thiệu trên các trang mạng trực tuyến. Ở lần biên tập này tác phẩm được bổ sung bằng các chứng lý vật thể phong phú hơn. Những hoa văn trống đồng, sản phẩm mang đầy “Dịch tính” của người Việt được dẫn lại. Những hình ảnh đồ dùng bằng đồng xanh của thời kỳ Thương Chu tìm thấy ở phương Nam được trình bày một cách tương ứng và phù hợp.
Đây là hình ảnh của những hiện vật thực, rất độc đáo, lấy từ bộ sưu tầm riêng của cá nhân. Những tuyệt phẩm đồ đồng này giúp đưa người đọc trở về với khung cảnh tác Dịch của người xưa, để từ đó có thể hiểu đúng hơn những thông điệp của quá khứ. Một quá khứ mà đã bị lớp bụi thời gian dày đặc che phủ và bị bao kẻ thù bằng mọi cách muốn xóa sạch các vết tích. Về lịch sử của con dân họ Hùng được phục dựng lại nhờ vận dụng Dịch lý xin đọc thêm trong cuốn Sử thuyết Hùng Việt của cùng tác giả.
Điểm cốt yếu của Dịch là con người phải biết sống hòa hợp với môi trường, cụ thể là với thực tế địa lý – khí hậu tự nhiên. Thông qua các cặp quẻ Dịch, các quy luật tương tác xã hội (khoa học, công nghệ, kinh tế, chính trị) dung hợp với các quy luật tương tác của các yếu tố tự nhiên (núi, biển, gió, …). Nhìn nhận Dịch lý từ góc độ minh triết tự nhiên và quản trị thực tiễn cũng là điểm mới, đã được thể hiện một cách rất logic và thích hợp trong tác phẩm Dịch học Hùng Việt.
Nền Dịch học khớp với thực tế địa lý – khí hậu mà nó hình thành chính là kim chỉ nam mà tổ tiên để lại cho con cháu vững bước đi tới tương lai, ngay cả trong thời đại công nghệ số hóa 4.0 ngày nay. Những đúc kết đó, nhân sinh quan và thế giới quan đó, có thể soi tỏ nhu cầu bức thiết về chất lượng cuộc sống, một nền kinh tế xanh phát triển bền vững của thế giới, mà trong đó Việt Nam có những lợi thế tiềm năng.
Đóng góp của Dịch lý trong sự tiến bộ của nền văn hóa phương Đông và của nền văn minh nhân loại là không thể phủ nhận, trên mọi lĩnh vực (triết học, y học, ẩm thực…). Chưa bao giờ như lúc này, người Việt cần một nền Dịch học chân chính. Dịch học Hùng Việt chính là chìa khóa để phát huy giá trị và linh lực vô tận mà tiền nhân để lại cho con dân Việt.
Nhóm biên tập Hùng Việt sử quán xin trân trọng đưa tới tay bạn đọc bản in tác phẩm khảo cứu sẽ trở thành kinh điển về Dịch lý – nền tảng văn hóa phương Đông này.
Bia truoc

Sách dày 446 trang. Liên hệ mua sách theo địa chỉ: bachviet18@yahoo.com

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU

ĐÔI LỜI NÓI TRƯỚC

Phần I DẪN NHẬP

Nôm na là cha mách qué
Điểu thú văn
Dịch học và đồ đồng Đông Sơn
Dịch học hình tượng
12 con giáp của người Việt
Tên gọi Địa chi
Liên hệ về nghĩa của các Địa chi

Phần II DỊCH HỌC TỔNG QUÁT

Dịch học tượng số hay nút thừng

Chục con
Hà thư và Chục con
Tổng quan về Lạc đồ
Tổng luận về Hà – Lạc

Dịch học tượng vạch hay vạch quẻ

Đôi ngôi Âm Dương
4 dạng hay Tứ tạng
8 Quả hay Bát quái

Dịch học tượng số lẻ

Tam tòa hay Tam tài
Ngũ hành hay 5 hình
9 chỗ hay Cửu trù

Dịch học và tiến hóa xã hội

Tri thức, khoa học – quẻ Đoài
Công cụ kỹ thuật – quẻ Chấn
Kinh tế – quẻ Cấn
Chế độ chính trị – quẻ Tốn

Phần III 64 QUẺ TRÙNG

Cặp quẻ Lớn – Khôn

Quẻ Lớn mạnh hay Cường: Thiên/Thiên = Kiền
Quẻ Khôn ngoan: Địa/Địa = Khôn

Cặp quẻ Mờ – Mịt

Quẻ Mờ tối: Thủy/Lôi = Mông
Quẻ Mệt: Sơn/Thủy = Truân

Cặp quẻ Cầu – Cạnh

Quẻ Cầu: Thủy/Thiên = Nhu
Quẻ Cạnh: Thiên/Thủy = Tụng

Cặp quẻ Kết – Đoàn

Quẻ Kết, Gắn kết: Thủy/Địa = Tỷ
Quẻ Đoàn, Đàn: Địa/Thủy = Gia nhân

Cặp quẻ Lý – Nhí

Quẻ Lý, Lẽ: Phong/Thiên = Lý
Quẻ Nhí, Nhỏ: Thiên/Trạch = Tiểu súc

Cặp quẻ Xuôi – Ngược

Quẻ Phù hợp, Xuôi: Địa/Thiên = Thái
Quẻ Ngược ngạo: Thiên/Địa = Bĩ

Cặp quẻ Cùng – Chung

Quẻ Cùng: Thiên/Hỏa = Đồng nhân
Quẻ Chung: Hỏa/Thiên = Đại hữu

Cặp quẻ Khiêm nhượng – Dự phần

Quẻ Khiêm nhường, Nhún nhường: Địa/Sơn = Khiêm
Quẻ Dự phần: Lôi/Địa = Dự

Cặp quẻ Tùy theo – Cải, Sửa

Quẻ Tùy theo: Trạch/Lôi = Tùy
Quẻ Cải, Sửa: Sơn/Phong = Cổ

Cặp quẻ Độn – Đáo (Đôn – Đáo)

Quẻ Độn: Địa/Trạch = Độn
Quẻ Đáo: Phong/Địa = Lâm

Cặp quẻ Cưỡng – Bức (Bế, Bí)

Quẻ Cưỡng: Hỏa/Lôi = Phệ hạp
Quẻ Bức, Bít, Bách: Sơn/Hỏa = Bí

Cặp quẻ Bái – Phục

Quẻ Bá: Sơn/Địa = Bác
Quẻ Phụt: Địa/Lôi = Phục

Cặp quẻ Tụ – Thăng hay Tựu – Thành (Tề – Tựu)

Quẻ Tụ, Tựu: Thiên/Lôi = Tụy
Quẻ Thăng: Sơn/Thiên = Thăng

Cặp quẻ Đông – Đủ

Quẻ Đủ, Đầy: Trạch/Phong = Di
Quẻ Đông: Sơn/Lôi = Đại quá

Cặp quẻ Khổng – Lồ

Quẻ Khảm hay Khổng: Khảm/Khảm = Khảm
Quẻ Lồ, Lửa: Ly/Ly = Ly

Cặp quẻ Hợp – Hằng (Họp – Hành)

Quẻ Hợp thời, Đúng lúc: Trạch/Sơn = Hàm
Quẻ Hằng: Lôi/Phong = Hằng

Cặp quẻ Ranh – Mãnh (Rành – Mạnh)

Quẻ Rành, Ranh: Lôi/Thiên = Quán
Quẻ Mãnh, Mạnh: Thiên/Sơn = Đại tráng

Cặp quẻ Mọc – Lặn

Quẻ Mọc: Hỏa/Địa = Tấn
Quẻ Lặn: Địa/Hỏa = Minh di

Cặp quẻ Chống – Đánh

Quẻ Chống: Hỏa/Trạch = Khuê
Quẻ Đánh: Phong/Hỏa = Sư

Cặp quẻ Nạn (Nan) – Giải

Quẻ Nạn: Thủy/Sơn = Kiển
Quẻ Giải, Giải nạn: Lôi/Thủy = Giải

Cặp quẻ Bớt – Thêm

Quẻ Bớt: Sơn/Trạch = Tổn
Quẻ Thêm: Phong/Lôi = Ích

Cặp quẻ Kể, Cả – Quyết

Quẻ Kể, Cả: Thiên/Phong = Cấu
Quẻ Quyết: Trạch/Thiên = Quải

Cặp quẻ Lỏng – Khỏng (Khoảng)

Quẻ Lỏng: Địa/Phong = Vô vọng
Quẻ Khoảng, Quảng: Trạch/Địa = Đại súc

Cặp quẻ Tu (Tù) – Tỉnh

Quẻ Tù: Trạch/Thủy = Khốn
Quẻ Tỉnh: Thủy/Phong = Tỉnh

Cặp quẻ Thay cũ – Đổi mới

Quẻ Thay cũ: Hỏa/Phong = Cách
Quẻ Đổi mới: Trạch/Hỏa = Đỉnh

Cặp quẻ Lôi – Cản

Quẻ Lôi: Chấn/Chấn = Chấn
Quẻ Cản: Cấn/Cấn = Cấn

Cặp quẻ Tùng – Tiệm

Quẻ Chậm: Phong/Sơn = Tiệm
Quẻ Tùng: Lôi/Trạch = Quy muội

Cặp quẻ Phong – Lưu

Quẻ Giam: Hỏa/Sơn = Phong
Quẻ Lưu, Giữ: Lôi/Hỏa = Lữ

Cặp quẻ Chứa – Chan

Quẻ Chứa hay Đoài: Đoài/Đoài = Đoài
Quẻ Tán, Chan, San: Tốn/Tốn = Tốn

Cặp quẻ Trao (Giao) – Đổi

Quẻ Giao, Trao: Thủy/Trạch = Tiết
Quẻ Đổi hay Chuyển biến: Phong/Thủy = Hoán

Cặp quẻ Trung phu – Tiểu quá

Quẻ Tiểu quá: Lôi/Sơn = Tiểu quá
Quẻ Trung phu: Phong/Trạch = Trung phu

Cặp quẻ Khép (Khấp) – Khởi

Quẻ Khép: Hỏa/Thủy = Ký tế
Quẻ Khởi: Thủy/Hỏa = Vị tế

LỜI KẾT

SÁCH THAM KHẢO

Duu 3

Sử thuyết Hùng Việt, 10 năm ra đời

Trang chủ Hùng Việt sử quán xin trân trọng giới thiệu ấn phẩm Sử thuyết Hùng Việt nhân 10 năm ra đời của công trình nghiên cứu có tầm ảnh hưởng to lớn đến văn hóa lịch sử phương Đông này.

LỜI NÓI ĐẦU (Trích)
Các bạn thân!
Sử thuyết Hùng Việt không phải là cuốn sử ký mà là tập hợp những bài nghiên cứu về nước Hùng Việt. Người viết đã sắp xếp thứ tự bài viết bám sát tiến trình lịch sử hầu tạo nên cái nhìn mới, dù chỉ là những nét sơ phác về một đất nước đã bị xóa tên trong ký ức nhân loại. Vì thế Sử thuyết Hùng Việt chỉ đề cập đến những sự kiện cần làm sáng tỏ, cần sửa đổi để trả lại sự chân xác cho lịch sử, không dám coi là viết lại cuốn sử mới cho dân tộc văn minh và quốc gia lâu đời bậc nhất trên hành tinh này.
Sự nhìn nhận của Sử thuyết Hùng Việt về Trung Hoa rất rõ ràng. Trên mảnh đất gọi là Trung Quốc ngày nay có 2 thành phần dân cư chính là Hoa và Hán. Hai thành phần này khác nhau hoàn toàn từ nhân chủng đến văn hóa và lịch sử. Mãi đến thời Nguyên vua Mông Cổ vẫn chia dân Trung Hoa thành người Hán và người Nam. Thực ra từ Hán chỉ là biến âm của “Hãn”, có nghĩa là vua theo ngôn ngữ của người Mongoloid. Người Hán là người gọi vua là Hãn thuộc chủng Mongoloid. Người Nam thuộc dòng Mongoloid phương Nam, gọi vua là Lang, ký âm hán tự sai thành Nam.
Người Nam chính là phần lớn người Bách Việt xưa, còn gọi là người Hoa, cùng với người Việt là chủ nhân đích thực của nền văn hóa văn minh Trung Hoa cổ xưa. Hán tộc chỉ là kẻ xâm lăng và chiếm đoạt.
Mục đích của Sử thuyết Hùng Việt là làm sáng tỏ nguồn gốc lịch sử và nền văn minh Bách Việt trong đó tiền nhân người Việt Nam xưa thuộc chi Lạc Việt có vai trò suối nguồn.
Ngày nay hầu như mọi người đều tưởng dân tộc và văn minh Trung Hoa xuất phát từ bờ Hoàng Hà. Như thế đương nhiên công nhận chủ thể lịch sử và văn minh Trung Hoa là Hán tộc. Sử thuyết Hùng Việt đưa ra quan điểm ngược lại. Người Hoa và người Việt, gọi chung là người họ Hùng, mới là chủ thể đích thực của lịch sử và văn minh Trung Hoa. Nơi xuất phát của dân tộc và nền văn minh ấy là miền Bắc – Trung Việt ngày nay, vùng đất có núi Đọ, sông Cả, sông Chu và sông Mã. Từ căn cứ xuất phát này dần dà qua từng triều đại người họ Hùng mở rộng lãnh thổ. Hướng Bắc (ngày nay) là hướng tiến chính, tới đời Ân lãnh thổ đã vượt bờ Hoàng Hà ở Bắc tỉnh Hà Nam Trung Quốc ngày nay, nơi có kinh đô đã được khảo cổ học khám phá. Đời Tần mở rộng tới Vạn lý trường thành… 

Bản in lần thứ nhất cuốn SỬ THUYẾT HÙNG VIỆT tháng 1/2017. Tổng số 568 trang.

Xin liên hệ đặt sách qua địa chỉ: bachviet18@yahoo.com.

Bia-truoc

 

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU

Phần I. TRƯỚC KHI VÀO SỬ THUYẾT
—-Đông Nam Á và cổ sử
—-Cổ sử Trung Hoa và những dấu hỏi
—-Đôi điều về Hán sử
—-Lộn ngược
—-Cây cầu Hoa Hán
—-Vài hàng về dòng giống Hùng
—-Sự biến âm trong tiếng Việt, tiếng Hoa
—-Việt và China

Phần II. DỊCH HỌC VÀ LỊCH SỬ HÙNG VIỆT
—-Dịch học và đồ đồng Đông Sơn
—-Trống đồng và quê hương Dịch lý
—-Dịch học và thời lập quốc họ Hùng
—-Ngũ hành và lịch sử Hữu Hùng quốc
—-Bát quái và địa lý Việt
—-Hà thư và văn minh Việt
—-Kim chỉ Nam và ngũ sắc địa lý

Phần III. THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG
Thời thần thoại
—-Thời Bản Cả – Tựu Nhân
—-Thời Vũ Võng – Đế họ Sào

Thời dã sử
—-Đời Hùng Vương thứ 1
—-Đời Hùng Vương thứ 2
—-Đời Hùng Vương thứ 3
—-Đời Hùng Vương thứ 4
—-Đời Hùng Vương thứ 5

Thời sơ sử
—-Đời Hùng Vương thứ 6
—-Đời Hùng Vương thứ 7
—-Đời Hùng Vương thứ 8

Thời lịch sử Hùng Vương
—-Đời Hùng Vương thứ 9
—-Đời Hùng Vương thứ 10
—-Đời Hùng Vương thứ 11
—-Đời Hùng Vương thứ 12
—-Đời Hùng Vương thứ 13
—-Đời Hùng Vương thứ 14
—-Đời Hùng Vương thứ 15
—-Các cuộc khởi nghĩa chống lang Sói
—-Đời Hùng Vương thứ 16
—-Đời Hùng Vương thứ 17
—-Đời Hùng Vương thứ 18

Phần IV. HỌ HÙNG VONG QUỐC VÀ PHỤC HƯNG
Vong quốc họ Hùng
—-Thời nô lệ Hãn quốc (25 – 220)
—-Kẻ sĩ nhiếp chính
—-Cuộc khởi nghĩa của hai nữ vương
—-Lưỡng triều kháng Ngụy
—-Thời nô lệ nước Tấn
—-Tây – Nam sử

Họ Hùng phục hưng
—-Nhà Đinh
—-Nhà Tiền Lê
—-Triều Lý 1 – Lý Công Uẩn
—-Họ Hùng – Tam Quốc
—-Đại Việt khai quốc
—-Nam Chiếu 1 – Mai Hắc Đế
—-Nam Chiếu 2 – Bố Cái Đại Vương

Phần V. THÊM VÀO SỬ THUYẾT
—-Vài hàng về sử Việt
—-Miên man sử Việt
—-Sử thuyết Hùng Việt, những điều mới biết
—-Sử thuyết Hùng Việt nhìn lại
—-Xứ Nam – Hà
—-Nước có thủ đô là Lâm Ấp
—-Hướng nhìn mới về cuộc Nam tiến
—-Cái nhìn mới về nước Phù Nam
—-Chuyện khởi nghĩa núi Cham
—-Lý thú… tên vua

PHỤ CHƯƠNG
—-Huyền sử và truyện cổ tích Việt
—-Hùng triều ngọc phả
—-Tóm tắt một số truyện cổ tích Việt
—-Thơ sử
—-Những dòng sông lịch sử
—-Phân kỳ lịch sử Hùng Việt
—-Chú dẫn địa danh
—-Sách tham khảo

Bước ra từ huyền thoại. Lịch sử nước Nam qua truyền thuyết và tín ngưỡng dân gian

Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vứng chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới.
Văn nhân Nguyễn Quang Nhật.

Tác giả Minh Xuân có một cuốn sách, giải mã các vấn đề lịch sử thông qua các truyền thuyết, huyền thoại dân gian. Căn cứ vào kết quả điền dã, khảo cứu các thần phả của các đền miếu cổ, Minh Xuân đã lý giải lại toàn bộ quá trình cổ sử của Việt Nam. Tôi tạm coi đó là những giả thuyết, mà khi đọc các giả thuyết này, tôi tin rằng đại đa số bạn đọc sẽ như bị ong đốt, nếu như bấy lâu nay chúng ta được dạy sử một cách một chiều, tiếp nhận văn bản kiểu tuyên truyền…
Nhà văn Nguyễn Xuân Hưng.

cover_l

Bách Việt trùng cửu

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử,… còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi những sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các danh nhân địa phương…
Lượm lặt, sắp xếp những thông tin từ văn thơ cổ, những truyền thuyết từ nơi đền miếu, chốn dân dã, tập sách nhỏ này có tham vọng lớn đi tìm sự thật cho giai đoạn lịch sử nước Nam từ thời khai thiên lập địa tới khi nước Đại Việt xứng tên độc lập. 18 bài viết về huyền thoại lịch sử, đúng hơn là về những con người đã làm nên huyền thoại, muốn góp phần nào chút ánh sáng soi tìm lịch sử chân xác của dân tộc đã chìm đắm sau hàng ngàn năm tăm tối. Người viết không sợ nêu lên những nhận định, suy đoán, mà muốn đưa những vấn đề lịch sử khúc mắc ra bàn dân thiên hạ cùng suy ngẫm. Mỗi cánh cửa hé mở thì sự thật lại càng gần hơn, tỏ hơn. Như vậy cũng là tâm nguyện của người viết đã thành.

Bạn đọc có quan tâm xin liên hệ mua sách theo địa chỉ bachviet18@yahoo.com.
Phiên bản lần thứ 10 dày 480 trang. Mục lục chi tiết xin xem ở đây. Bản số hóa có tại sách điện tử Alezaa.

Tóm tắt 18 bài viết trong cuốn BƯỚC RA TỪ HUYỀN THOẠI:
1. Ông trời Bà trời
Ông Trời là Hoàng Đế Hiên Viên, cũng là Đế Minh, vị vua Hùng đầu tiên của người Việt. Bà Trời hay Mẫu Thượng thiên là Tây Thiên quốc mẫu – Tây Vương Mẫu, cầm đầu bộ tộc Cao Sơn ở núi Côn Lôn – Tam Đảo.
2. Đế quốc Lạc Hồng
Lạc Hồng là hai vùng đất Đào – Đường thời Đế Nghiêu – Đế Nghi. Đế Nghi làm vua phương Bắc (Hồng), Lộc Tục làm vua phương Nam (Lạc), là thời kỳ Nam Giao mở nước của người Việt.
3. Tản Viên Sơn Thánh
Vị thần đứng đầu trong các thần linh Việt là Sơn Tinh – Đại Vũ, người đã phát huy ứng dụng Hà Lạc trong công cuộc trị thủy và tập hợp các bộ tộc ở bốn phương, dựng nên nước Việt thời sơ sử.
4. Rồng bay biển Bát
Cha rồng Lạc Long Quân xuất thế nơi biển Động Đình – biển Đông là vua cha của Thoải phủ, là Hạ Khải, người mở đầu Hoa Hạ của 4.000 năm trước. Chử Đồng Tử, vị thần bất tử thứ hai của người Việt là Tông Bố Hậu Nghệ, người đã làm gián đoạn nhà Hạ thời Hạ Thái Khang.
5. Non sông Bách Việt
Mẹ Âu Cơ dựng nước Văn Lang ở đất Phong là Văn Vương Cơ Xương. Người sinh Bách Việt là Chu Vũ Vương sau khi diệt Ân Trụ Vương với sự phò tá của thần Phù Đổng. Những cổ vật đồ đồng thời Thương Chu hiện hữu ở vùng Đông Dương minh chứng cho những sự kiện này.
6. Thần minh Văn Lang
Những vị công thần lập quốc của nhà Chu như Chu Công, Tất Công được truyền thuyết Việt lưu truyền, nhân dân tôn thờ dưới tên Cao Lỗ, Phan Tây Nhạc.
7. Lão Tử hóa Việt kinh
Vị giáo chủ Đạo Giáo Lão Tử không ai khác là Huyền Thiên Trấn Vũ, vị thần đã sai khiến Rùa Vàng giúp vua Chu An Dương Vương dời đô từ Tây sang Đông, xây thành ở Cổ Loa.
8. Nhân duyên Tần Việt
Câu chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy là mối lương duyên Chu – Tần, sinh ra đại đế Tần Thủy Hoàng, thống nhất Trung Hoa thời cổ đại.
9. Thiên Nam đế thủy
Người khởi đầu nước Nam Việt là Triệu Vũ Đế, cũng là Cao Tổ Lưu Bang và là Long Hưng Lý Bôn, xuất Thái Bình, khởi nghĩa ở Long Biên mà nên nghiệp đế vương.
10. Nam quốc sơn hà
Nước Nam Việt của nhà Triệu là chuyện Triệu Quang Phục trong truyền thuyết. 4 đời vua Triệu gắn liền với tên họ của Lữ Gia, hay Lữ tộc từ Lữ Hậu.
11. Lời thề sông Hát
Khởi nghĩa của Nhị Trưng Vương hay Trương Hống Trương Hát nối tiếp ý chí Phục Man của Lữ Gia, lấy sông Hát làm nơi dựng cờ đền nợ nước Nam Việt, trả thù nhà cho Triệu Việt Vương.
12. Những anh hùng thời loạn
Tiền nhân họ Phùng là Phàn Sùng đánh đuổi Lục Lâm Hán quân xâm lược. Huynh đệ Sĩ Vương 40 năm tự quản Giao Châu, chống giặc giữ là các châu mục thái thú Đặng Nhượng, Tích Quang. Sĩ Nhiếp thứ hai là Đô Hồ Phạm Tu, cũng là thần Long Đỗ, thành hoàng Thăng Long.
13. Đầu voi phất ngọn cờ vàng
Ngọn cờ của khởi nghĩa Khăn Vàng trên đất Tượng Lâm của anh em Triệu Quốc Đạt và Triệu Thị Trinh đã chặn đứng bước tiến của Hán quân Mã Viện xuống phương Nam, làm tiền đề cho Lý Bí dựng nên nước Tây Đồ Di – Tây Thục.
14. Sáu trăm năm Lâm Ấp
Thục Ngô mất nhưng Lâm Ấp của Mạnh Hoạch vẫn còn. 600 năm độc lập của con cháu Triệu Vũ Đế tính đến khi Lý Phật Tử về với nhà Tùy. Tấm bia cổ phát hiện ở Bắc Ninh xác nhận chùa Dâu là chùa Thiền Chúng, nơi Tùy Văn Đế xây tháp xá lợi ngay trên kinh đô của Lý Phật Tử.
15. Bố Cái đại vương
Lâm Ấp – Nam Chiếu lại phục hưng từ Bố Cái đại vương họ Phùng, là Khun Borom, tổ của người Thái ở Tây Bắc, Lào, Thái Lan và Vân Nam.
16. Giang Tây sứ quân
Cao Vương Biền người Bột Hải – biển Đông đã dẹp được quân Lâm Ấp khỏi miền Đông Giao Chỉ, trở thành Tiết độ sứ Giang Tây – Tĩnh Hải đầu tiên. Những viên gạch Giang Tây xây La Thành là gạch của Tĩnh Hải quân.
17. Đại Việt Đại Hưng
Tam vị chủ họ Khúc kiến lập nước Đại Việt đầu tiên, từ Long Thành chiếm Nghiễm Châu, đóng đô ở Hưng Vương phủ, thống nhất 2 vùng Thanh Hải và Tĩnh Hải. Đồng tiền Đại Hưng bình bảo là vật chứng rõ ràng của thời đại này.
18. Truyền thuyết Đinh Lê
12 sứ quân là các tiết độ sứ thời Mạt Đường, là Thập quốc thời Ngũ quý. Họ Lý ẩn họ Lê, âm thầm phục quốc trên đất Đinh bộ – Tĩnh Hải, tới Lý Thánh Tông dời đô về Thăng Long và xưng Đại Việt ngàn năm độc lập.