Văn tế Hùng Vương tiết Nguyên đán

Chính nguyệt sơ nhất nhật văn

Cung duy Thánh Vương!

Cựu tuế dĩ qua. Tân niên sơ đáo.

Thiên tằng hòa hảo. Hải diện ba trừng.

Dân chúng hân hoan. Hỉ xuân nghênh phúc.

Tăng thọ tăng đinh. Tăng tài tiến lộc.

Phong đăng hòa cốc. Mục dưỡng an ninh.

Sỹ nông công cổ. Bách nghệ giai tinh.

Tiết thuộc xuân sinh. Nhật phùng sơ nhất.

Hiệu Nguyên đán tiết. Khai mạc chung niên.

Hậu thế lưu truyền. Đệ niên kỳ trại.

Thánh tổ di lai. Niệm ân vạn cổ.

Thập bát thế truyền. Tồn tư phụ đạo.

Vương tổ từ tâm. Khuyến dân canh tác.

Đồng cư đồng thực. Nhật dạ dữ dân.

Đồng bào đồng chí. Chủng tộc tương thân.

Hữu nghĩa hữu nhân. Phú bần tương trợ.

Công tư đẳng sự. Thượng hạ thuần hòa.

Bách tính bách gia. Vạn nhân như nhất.

Giai đồng tác thực. Bất khả cạnh tranh.

Thượng lệnh hạ ban. Thi hành nghiêm chỉnh.

Dân quốc kỷ cương. Bất nghi khinh thị.

Quốc gia thịnh trị. Thiên hạ thái bình.

Quốc tặc hoành hành. Tác uy tác loạn.

Dục đắc an ninh. Tảo trừ quốc nạn.

An cư lạc nghiệp. Tác thực phồn vinh.

Di ngôn Thánh tổ. Tỉ kiến tồn sinh.

Vạn cổ anh linh. Truyền lưu bất diệt.

Thực lại

Thánh Vương âm phù chi đại huệ dã.

(Bản văn của thôn Trẹo, xã Vi Cương, trưởng tạo lệ Hùng Vương)

Thần tích phường Hồ Khẩu về 3 vị thủy thần

Thần tích phường Hồ Khẩu, huyện Hoàn Long, nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội. Bản dịch chép theo sách Thần tích Hà Nội do TS. Nguyễn Thị Oanh chủ biên.

Nghi môn đền Vệ Quốc

Hai vị dương thần (nam thần) và một vị âm thần (nữ thần).

Vị thứ nhất được sắc phong là Dực Thánh Đại vương.

Vị thứ hai được sắc phong là Vệ Quốc Đại vương.

Vị thứ ba được sắc phong là Thái Ngọc Quỳnh Dung Công chúa.

SỰ TÍCH NAM THẦN

Xưa, vào đời Hùng Vương, ở động Đản Thánh, châu Bố Chính có ông Lê Quốc Công húy là Tín Phệ, làm quan trong triều, vâng mệnh quản lãnh công việc trong lục bộ, được gả cho cháu gái trong hoàng tộc là công chúa Cẩn Nương. Sau công chúa mất sớmmà chưa có điềm mộng gấu (chưa có con trai), ông dâng sớ xin được đi du lãm phong thủy, chọn được đất lành thuộc địa phận ấp ta (tức phường Hồ Khẩu, huyện Hoàn Long, phủ Hoài Đức), dựng nhà để ở. Sau lại lấy thánh mẫu Thục Nương phu nhân làm vợ kế.

Ông cùng với phu nhân cầu tự ở đền Đông Hải Vương. Đêm nằm mơ thấy có ông lão đầu bạc đọc thơ rằng:

Lòng thành đã thấu tới trời xanh

Cho ứng rồng thần xuống thế gian

Họ Lê một bọc hai quý tử

Phù hộ quốc gia, giúp dân lành.

Một hôm phu nhân du chơi Hồ Tây, thấy một con cá chép vẩy đỏ lấp lánh, đùa rỡnsóng nước. Trong lòng cảm động mà có thai. Đến khi mang thai đủ tháng, nằm mơ thấy có hai người mũ áo chỉnh tề, tới chắp tay nói rằng:

–  Chúng thần là ở bộ Lễ Long cung, vâng sắc mệnh đầu thai.

Phu nhân giật mình tỉnh giấc, bỗng thấy trời đất mù mịt, mưa gió ập tới, trong phòng hương thơm tỏa khắp, mây lành rực rỡ, sinh hạ được một bọc hai người con trai.

Ông liền theo giấc mộng đặt tên cho người con trưởng là Cống Lễ, người con thứ là Cá Lễ. Cống Lễ sinh ra đã cao 9 thước, tướng mạo đường hoàng. Cá Lễ sinh ra hàm én râu hổ, tay dài quá gối. Đều là bậc anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, tài năng xuất chúng, sức nâng đỉnh bạt núi.

Duệ Vương lên ngôi, xuống chiếu tìm người có học vấn quảng bác, văn võ toàn tài. Hai ông liền ra ứng tuyển. Vua thấy nơi gần hai ông đứng có gió mát thổi quanh người. Vua biết là thủy thần xuất thế, bèn cùng cho nhận chức thị tòng.

Bấy giờ Vua mới gả Mỵ Nương cho Tản Viên Sơn Thánh và muốn nhường ngôi báu cho Sơn Thánh. Thục Vương bèn đem quân sang xâm chiếm. Vua bèn lệnh cho hai ông chỉ huy thủy quân (ông Cống Lễ làm Tả chưởng quản, ông Cá Lễ làm Hữu chưởng quản), lãnh ấn đại tướng quân ra sông Bạch Đằng nghênh địch. Ở đồn lớn Mộc Châu lệnh cho Tản Viên Sơn Thánh thống lãnh lục quân nghênh chiến. Thủy bộ cùng tiến. Đại phá được quân Thục, bắt sống không biết bao nhiêu tên.

Sau 2 năm Thục Vương lại tập hợp 100 vạn hùng binh, chia làm 5 đạo tiến vào làm loạn. Vua phong hai ông làm Thủy Tề hầu, lệnh thống lãnh thủy quân đến hợp lực cùng với Tản Viên Sơn Thánh đến đánh dẹp một trận. Quân Thục bỏ chạy tán loạn. Quan quân truy đuổi đến tận biên giới mới trở về. 

Ngày khải hoàn, thuyền đến bên sông Tô Lịch (tức nay là đoạn sông trước cửa đền Vệ Quốc), chợt trời đất tối sầm, gió thổi sóng cuồn cuộn, ánh cầu vồng đỏ như thép luyện từ trên trời chiếu thẳng vào thuyền. Hai ông bèn buộc lại mũ đai, hướng về cửa thành bái mệnh. Trong chốc lát, bay lên trời mà hóa.

Các tướng trong quân thuyền về triều tâu lên. Vua ban cho mũ áo, sắc phong làm Thượng đẳng phúc thần, cho phép phường Hồ Khẩu phụng thờ (giáp Bắc thờ Cống Lễ Đại vương, giáp Đông thờ Cá Lễ Đại vương). Xuân thu hai kỳ sai quan đến tế lễ mãi làm thường lệ.

Sau vua Lý Thái Tổ đi đánh Chiêm có mật đảo ở đền. Khi bình được Chiêm, gia phong thêm 2 chữ Linh ứng.

Thời vua Trần Thái Tông, Hưng Đạo Vương đánh Ô Mã có cầu đảo ở miếu Triệu Vũ Đế, mộng thấy Vũ Đế lệnh cho hai thần Hồ Khẩu theo hướng Tây Bắc nghênh địch, hai tướng họ Trương theo hướng Đông Nam nghênh địch. Trong chốc lát, giặc tan. Một đạo về Hồ Tây hóa thành đôi rồng. Một đạo ra sông Lục Đầu hóa thành hổ đen, rồi đều bay lên trời mà biến mất. Vương lấy làm lạ. Đến khi đánh giặc, quả được thần trợ giúp, một trận đã thành công. Vương bèn tâu lên triều tặng thêm hai chữ Phụ quốc Tế thế.

Vào những năm Vĩnh Thọ triều nhà Lê, vỡ đê phường Yên Phụ. Cứ đắp lại đến đâu lại bị nước đánh trôi đến đó. Triều đình sai quan đến đền của hai vương cầu đảo. Lũ lụt mới tạm dừng. Bèn gia phong hai chữ Hiển ứng Uy linh

SỰ TÍCH NỮ THẦN 

Thánh phụ là Bộ trưởng quân La Thành Lý Quốc Công, húy là Thành. Thánh mẫu họ Hồ, một hôm nằm mộng thấy mình đến bệ kiến ở điện Long cung, được Hoàng hậu Long cung cho ngọc quỳnh dao. Đến khi tỉnh lại thấy mình có thai, sinh hạ một cô con gái, môi đỏ như phấn, mắt phượng mày ngài, gọi là Quỳnh Nương.

Năm Quỳnh Nương 19 tuổi xuất giá lấy ông Cá Lễ. Mới được nửa năm Nương đi thuyền trở về thăm nhà (Đại La ở bên trái sông Tô Lịch). Đi đến giữa dòng thì gió to sóng lớn nổi lên, trời đất tối sầm. Trong chốc lát trời tạnh hửng thì Công chúa đã bay lên trời.

Ông Cá Lễ bèn lập đàn tế ở bên sông cầu khấn trong 7 ngày. Đến đêm bỗng nằm mơ thấy thuyền rồng bơi trên mặt nước. Phu nhân đoan trang ngồi trong thuyền, vái ông mà thưa rằng:

– Thiếp là con gái của vua Thủy Tinh. Còn chàng vốn ở thủy cung Đông Hải. Gặp nhau chỉ có hạn, chẳng dám trù trừ lưu lại. Nhưng nguyện cùng chàng như hình với bóng, âm phù cho đất nước, để tỏ rõ lòng trung trinh.

Dứt lời, không thấy đâu nữa. Ông bèn dâng tấu lên triều đình. Vua liền cho xây đền thờ ở nơi nàng hóa (nay là đền Chính Đức) để phụng thờ. Lại ban cho gỗ trầm hương để tạo tượng. Bao phong cho mỹ tự là Thái Ngọc Quỳnh Dung Công chúa Thủy Tinh Phu nhân.

Sau đến đời Lý Thái Tông đi đánh Chiêm, thuyền đi qua đền, thần hiển linh trợ giúp. Vua làm bài thơ rằng:

Ngọc Nương ơi hỡi Ngọc Nương

Nước sông Tô chảy mãi lưu hương

Thần tiên bất từ cùng non nước

Đền miếu huy hoàng vạn cổ trường. 

Về gốc tích tổ tiên Bố cái Đại vương Phùng Hưng

Thần tích làng Quảng Bá, nơi thờ Bố Cái Đại vương Phùng Hưng ghi:

Đường Lâm Phùng Đại Vương phổ lục

Vương tính Phùng, danh Công Phấn, Giao Châu Đường Lâm nhân dã. Kỳ tiên tổ Phùng Trí Cái ư Đường Võ Đức gian phụng chỉ nhập triều, thị Cao Tổ yến. Cao Tổ sử ngâm thi vịnh dữ Đột Quyết Khả Hãn, ca vũ đắc dự ngự tịch, hữu Hồ Việt nhất gia tán. Hậu ban hồi nguyên tịch thế tập Châu bổ sử Đường Lâm thổ tù, tục hiệu Lang Quan thị dã.唐林馮大王譜籙

王姓馮名公奮交州唐林人也其先祖馮智盖於唐武德間奉旨入朝侍高祖宴高祖使吟詩詠與突厥可汗歌舞得預御席有胡越一家贊後班回原籍世襲州庯史唐林土酋俗號郎官是也

Nghi môn đình Quảng Bá

Đoạn nói về vị tổ họ Phùng là Phùng Trí Cái này thường hay được dịch như sau (ví dụ từ trang của dòng họ Phùng Việt Nam):

Vua họ Phùng tự Công Phấn, người đất Đường Lâm thuộc Châu Giao. Tổ tiên vua là Phùng Trí Cái trong thời Vũ Đức nhà Đường, vâng chiếu chỉ vào chầu, hầu yến tiệc vua Đường Cao Tổ. Vua Cao Tổ sai vịnh thơ cùng với sứ Đột Quyết hầu tiệc để cho tiếng nói của người Hồi người Việt họp lại một nhà. Sau vua khen thưởng và ban lệnh cho trở về hưởng quyền thế tập, đời đời làm chức Lại ở phủ Đô Hộ trong bản châu, cũng là chức Thổ Tù đất Đường Lâm mà tục gọi là Quan lang. 

Tuy nhiên, đoạn phả lục trên về Phùng Trí Cái có mấy điểm phải bàn thêm.

1. “Đột Quyết Khả Hãn” không phải là sứ giả nước Đột Quyết. Khả Hãn là chỉ thủ lĩnh của người Đột Quyết. Như vậy Phùng Trí Cái được ngự yến và ngâm vịnh đối đáp với vua Đột Quyết trong triều Đường vào thời kỳ nhà Đường mới thành lập, tức là thời Đường Cao Tổ Lý Uyên.

2. Phùng Trí Cái có bài tán vịnh “Hồ Việt nhất gia“. Trong bối cảnh này thì “Hồ” rõ ràng là chỉ người Đột Quyết. Vậy tên “Việt” còn lại chỉ có thể là chỉ nhà Đường. Lúc đó không hề có nước “Việt” khác nào cả. Đây là một chỉ dẫn quan trọng, rằng triều Đường bắt đầu từ Lý Uyên là một triều đại của người Việt.

Dẫn chứng khác sau đó không lâu, Võ Tắc Thiên cũng lấy tên là Từ Thị Cổ Việt Kim Luân Thánh Thần Hoàng Đế, chỉ rõ ràng rằng thời Đường, người Việt đang làm chủ thiên hạ Trung Hoa. Những dân tộc khác bên ngoài như Đột Quyết, và Đường Lâm (nơi Phùng Trí Cái làm Quan Lang) được gọi là Hồ.

3. Sau yến tiệc Phùng Trí Cái được ban chức “Châu bổ sử Đường Lâm thổ tù, tục hiệu Lang Quan”. Như trang dòng họ Phùng dịch ở trên thì “Châu bổ sử” là một chức quan, chứ không phải là “người chép sử”. Chức quan này khá lớn, được quyền thế tập, tức là được phân phong một vùng đất riêng (Đường Lâm). Đường Lâm do vậy không thể là 1 cái làng như ở Sơn Tây hiện nay. “Lý trưởng” một làng Đường Lâm thì không thể có chuyện “phụng chỉ nhập triều” lại còn đối ẩm với Khả hãn của nước Đột Quyết.

Hộp xá lị vàng tìm thấy ở Nhạn Tháp. Ảnh Bảo tàng tỉnh Nghệ An.

4. Chức quan của Phùng Trí Cái đã ghi rõ ông ta là “Châu bổ sử”, tức là quan cấp “Châu”. Châu Đường Lâm đúng phải là vùng Tây Nghệ An, sau gọi thành Nam Đường, rồi Nam Đàn. Đây cũng chính là nơi mà sau đó dòng dõi Phùng Trí Cái là Phùng Hạp Khanh khởi nghĩa cùng với Mai Hắc Đế. Khởi nghĩa thất bại, Phùng Hạp Khanh quay về châu Đường Lâm nuôi dưỡng quân binh, để đến đời con là Phùng Hưng cùng với các anh em họ Phùng làm cuộc Tây tiến, xưng là Bố Cái Đại Vương.

Khu vực Nam Đàn có di tích Lam thành và Nhạn Tháp. Tại Nhạn Tháp đã tìm thấy một hộp xá lị vàng. Hộp xá lị này nay đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Tại Nhạn Tháp cũng đã thu thập được những viên gạch, trong đó có viên ghi “Trinh Quán lục niên“. Trinh Quán là niên hiệu của Đường Thái Tông Lý Thế Dân, người kế tục ngôi vị của Đường Cao Tổ Lý Uyên. Tức là di chỉ này khớp đúng với thời kỳ của Phùng Trí Cái đang là Châu bổ sử thổ tù Đường Lâm. Như thế Lam thành chính là trị sở của châu Đường Lâm thời sơ Đường, do Phùng Trí Cái làm Quan Lang cầm đầu.

Gạch thời Đường tìm thấy ở Nhạn Tháp, Nam Đàn. Ảnh Bảo tàng tỉnh Nghệ An.

Đoạn phả lục làng Quảng Bá có thể được dịch lại là:

Vương họ Phùng, tên Công Phấn, người Đường Lâm – Giao Châu (nay là Nam Đàn, Nghệ An). Tổ tiên của Vương là Phùng Trí Cái, thời Đường Võ Đức vâng chỉ vào triều hầu tiệc với Cao Tổ. Cao Tổ sai ngâm thơ vịnh cùng với khả hãn Đột Quyết. Những người ca múa cũng được dự vào tiệc ngự. Phùng Trí Cái có bài tán “Hồ Việt một nhà”. Sau trở về nguyên quán được nối đời làm Châu Bổ Sử – Thổ tù Đường Lâm, tục gọi chính là Quan Lang.

Như vậy Phùng Hưng vốn là dòng dõi thế tập Quan Lang một châu lớn Đường Lâm của người Hồ tại Nghệ An. Chỉ có như vậy, cuộc khởi nghĩa của Phùng Hưng mới có nền tảng đủ chống lại một triều đại thịnh trị như nhà Đường. Họ Phùng nên nhìn nhận lại tầm vóc của thế tổ họ Phùng và quê gốc dòng họ của mình.

AI VỀ BÊN BẾN SỐNG TƯƠNG – Mà nghe chuyện cũ Tiên Rồng ngàn năm

Truyện Họ Hồng Bàng kể rằng, Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước. Lạc Long Quân gặp được nàng Âu Cơ bên bãi Trường Sa, sinh ra bọc trăm trứng, nở thành trăm con trai. Khi các con trưởng thành Âu Cơ và Lạc Long Quân hội ngộ ở cánh đồng Tương rồi phân 50 người con theo cha về Thủy phủ chia trị các xứ, 50 người con theo mẹ lên núi, lập nước Văn Lang. Khi có việc thì cùng nhau tương trợ. Là thủy tổ của Bách Việt vậy.

1. Bãi Trường Sa bên hồ Động Đình nơi hai dòng Tiên và Rồng gặp nhau là ở đâu? Cánh đồng Tương, nơi trăm trai Bách Việt phân trị đất nước là ở đâu?

Thật hết sức sai lầm khi cho rằng cánh đồng Tương và hồ Động Đình trong truyền thuyết khởi sử Việt lại ở bên tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay. Bởi vì, đây là những địa danh nằm ngay trên đất Việt từ thủa cha sinh mẹ đẻ và những câu chuyện về các cuộc gặp gỡ rồi chia ly thời dựng nước vẫn còn lưu dấu đậm nét trong lòng nhân dân ở những nơi này.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả chép: “Khi ấy con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, là một thiếu nữ hiền đức, quay về sống ở quê mẹ tại huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc của Giao Chỉ (xưa là huyện Thanh Nguyên, động Lăng Sương, sau đổi thành huyện Bất Bạt, sách Lăng Sương). Một hôm nàng trinh nữ Âu Cơ đi chơi ở bãi Trường Sa, gặp khi Vua đi tuần thú ở sông Đà. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, tư chất kiều diễm, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm chính phi hoàng hậu.

Bãi Trường Sa nằm ở bên sông Đà, gần động Lăng Sương, nay thuộc huyện Thanh Thủy của tỉnh Phú Thọ. Đây cũng là nơi có cuộc hội ngộ giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh trong truyền thuyết về đức thánh Tản Viên. Tản Viên Sơn Thánh khi lên núi chặt cây đã thụ nhận được cây gậy thần đầu sinh đầu tử từ Thái Bạch Tử Vi Thần tướng, từ đó xưng là Thần sư. Thần sư xuống núi, thu phục voi hổ ở sách Thủ Pháp, rẽ nước sông Đà quay về quê mẹ Lăng Sương. Trên đường đi qua bãi Trường Sa đã dùng gậy thần cứu sống một con rắn đen, trên đầu có chữ Vương. Con rắn đó là con vua thủy quốc Động Đình Đế Quân. Đế Quân đã mời Tản Viên Sơn Thánh xuống thăm thủy phủ, tiếp đãi linh đình trong cung rồng tòa ngọc và tạ ơn bằng một cuốn sách ước diệu kỳ. Khi ra về, Thủy Tinh (tức con rắn con của Long Vương) tiễn Sơn Thánh tới tận bãi sông Trường Sa, lưu luyến chia tay. Có thơ rằng:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Bãi Trường Sa, nơi gặp gỡ và chia tay của Sơn Thánh và Thủy Tinh xưa thuộc trang Ma Xá châu Trung Độ bên bờ sông Đà. Nơi này còn có tên là bãi Tang Ma, nay thuộc xã La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ. Tại vùng đất Thanh Thủy còn có một câu chuyện về sự xuất hiện và gặp gỡ của Động Đình Thủy Tinh như sau. Ở xã La Phù có một gia đình họ Phan. Một hôm tiết xuân ông bà Phan lên núi Tản Viên lễ Phật, lúc quay về đến bên sông thấy một con rắn gió bị con rết cắn chết. Ông bà thương xót, bèn lo việc chôn cất con rắn đó. Rắn đã cảm ơn này mà đầu thai thành con gái nhà họ Phan. Năm 22 tuổi, Phan Nương gặp Thủy Đế Long Quân đi tuần du ở sông Đà tại động Tang Ma, kết duyên mà sinh ra một bầu trứng, nở thành năm người con, 2 nữ 3 nam. Long Quân hiện hình phân giao cho 5 người con thành 5 vị thủy quan, trấn nhậm các vùng sông nước Tam Giang. Phan Bà hóa ở La Phù, được lập đền thờ là “Động Đình Tang Ma Uy Linh Thánh Mẫu”.

Động Đình Thánh mẫu tức là vị Long Nữ, người đã lấy Kinh Dương Vương sinh ra Lạc Long Quân trong huyền sử Việt. Mẫu Thần Long được tôn thờ ở ngã ba sông Bạch Hạc tại đền Tiên Cát, Việt Trì, cách không xa xã La Phù. Sự tích đền Tiên Cát kể rằng Lạc Long Quân tưởng nhớ công ơn của mẹ, truyền cho dân lập đền tại cung Tiên Cát thờ Ngọc Nữ Thần Long cùng 2 chị em kết nghĩa của bà là Thủy Tinh Ngọc Nữ và Bạch Hoa Ngọc Nữ. Long Quân lại sai ba vị hoàng tử trong bọc trăm trứng là Cự Linh Lang, Ất Linh Lang và Linh Thông Thủy cai quản đầu sông và gìn giữ lăng miếu. Như vậy, chuyện về mẫu Thần Long Động Đình trùng khớp với sự tích Thánh mẫu Phan Bà và 5 người con trấn nhậm sông nước ở bãi Trường Sa động Tang Ma.

2. Truyện Họ Hồng Bàng kể Lạc Long Quân sau khi gặp gỡ Âu Cơ đã đón về ở “Long Trang Nham”. Hang Rồng Long Nham cũng là nơi Thánh mẫu Phan Bà gặp Thủy Đế Long Quân. Thần tích xã La Phù chép: “Nơi đó đất trang Tang Ma có một hang rồng đá hướng trăng, tên là cửa động Thạch Long. Trong động rồng có một cửa giếng thông tới Thủy phủ. Phía trên thân hang rồng có một ngôi chùa nhỏ, có tên là chùa Long Linh.

Động Thạch Long ở trang Tang Ma được chép vào Truyện Họ Hồng Bàng với tên là Long Trang Nham, chính là nơi cha Rồng mẹ Tiên gặp nhau. Ngôi chùa Long Linh xưa giờ là chùa Tăng Má, thuộc xã Thanh Lâm của huyện Thanh Thủy, Phú Thọ. Cửa hang rồng vẫn còn trong chùa và trước hang có ngôi miếu thờ Động Đình Thánh mẫu cùng với người con trai thứ hai là Hồng Xuyên Đại vương.

Còn cánh đồng Tương, nơi Lạc Long Quân và Âu Cơ phân chia trăm trai lên núi xuống biển không ở đâu xa, mà cũng tại chính vùng đất Thanh Thủy này. Tương và Tang là 2 âm hoán đổi cho nhau nên bãi dâu gai Tang Ma ở La Phù chính là cánh đồng Tương trong huyền sử Việt. Theo thần tích La Phù thì tại bãi Tang Ma bên dòng sông Đà dưới chân núi Tản Viên, Long Quân đã chia 5 người con đi trị nhậm các vùng sông nước, trở thành Ngũ Vị Tôn Quan của Động Đình Thủy phủ.

Tên gọi Động Đình Thánh mẫu của Phan Bà ở La Phù đã cho thấy, địa danh hồ Động Đình xưa thực ra là chỉ vùng biển Đông, nơi ngự trị của Long tộc Thủy phủ. Cách đây 4.000 năm thì biển Đông đang còn ăn sâu vào tới gần ngã ba Việt Trì. Đồng bằng Bắc Bộ khi đó đang là một vùng nước ngập mênh mang. Do đó Động Đình hồ tức là cái hồ lớn ở phía Đông, thời lập quốc chính là Vịnh Bắc Bộ.

Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương và Thần Long Động Đình, đã nối sự nghiệp của cha Lạc và mẹ Long, trở thành vị quân chủ đứng đầu đất nước và cai quản miền duyên hải Thủy phủ Động Đình. Khi lên nối ngôi, Lạc Long Quân đã phải trải qua một cuộc tranh giành ngôi vị với chính dòng bên cha mà được huyền sử Việt kể là cuộc chiến giữa Lạc Long Quân với Đế Lai để giành nàng Âu Cơ. Cuộc chiến này dẫn đến sự phân ly 2 dòng tộc, người lên rừng, kẻ xuống biển trong thiên hạ họ Hùng. Đây cũng là cốt lõi của truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh năm năm báo oán, đời đời đánh ghen được lưu truyền.

3. Trong cuộc phân ly Bách Việt, dòng Tiên theo mẹ Âu Cơ lên núi làm Sơn Tinh, còn được truyền thuyết Việt gọi là dòng Thục. Dòng Rồng theo cha Lạc Long xuống biển làm Linh Lang Thủy Tinh, truyền thuyết gọi là dòng Hùng. Lạc Long Quân nối ngôi cha là Kinh Dương Vương, bắt đầu thời kỳ cha truyền con nối hay khởi đầu chế độ công xã thị tộc. Thời kỳ này, do nước biển bắt đầu rút nên những vị Thủy Tinh theo cha Lạc Long đã xuống khai phá vùng đồng bằng ven biển Đông mới lộ ra, huyền sử gọi là vùng đầm Vân Mộng bên hồ Động Đình.

Thời lập quốc, 2 dòng Hùng – Thục hay Rồng – Tiên đều xuất phát từ cuộc gặp gỡ và chia ly nơi cánh đồng Tương – bãi Trường Sa bên bờ sông Đà, gần ngã ba Bạch Hạc Việt Trì. Lịch sử dựng nước của người Việt có thể kể bắt đầu từ 3 vị Hùng Vương Thánh tổ khai sáng hồng đồ, nối tiếp là Tản Viên Sơn Thánh – Kinh Dương Vương hợp nhất các tộc người ở 4 phương, đến Thủy Tinh Động Đình – Lạc Long Quân phân 2 dòng Tiên – Rồng, lên núi xuống biển, nối đời cha con thế tập. Sang thời Hùng Quốc Vương, người con trưởng theo mẹ Âu Cơ lên núi, lập ra nước Văn Lang, Bắc giáp Hồ Nam, Tây giáp Ba Thục, Đông giáp biển Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn Tinh. Quốc Vương xưng lập công hầu, đặt ra trăm họ. Thiên hạ họ Hùng chia thành trăm nơi đầu núi góc biển. Hùng Vương là thủy tổ của Bách Việt vậy.

Lịch sử người Việt còn in đậm trong từng di tích, từng ngọn núi, con sông trên đất Việt. Núi Tản sông Đà, nơi Sơn – Thủy gặp nhau, mãi là chứng tích buổi khởi đầu gian nan của trời Đông.

Sự tích Cao Vương Biền

Bản khai thần tích năm 1938 của làng Phương Nhị, tổng Ninh Xá, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông.

Đình Phương Nhị

Ngài hiệu là Cao Vương, tự là Thiên Lý thần, tên húy là Cao Biền.

Ngài là Nhân thần.

Ngài là người Châu U, về đời nhà Đường bên Tầu, cháu nội ông Cao Sùng Văn. Ông Sùng Văn vốn là bực tướng tài đời nhà Đường. Đức Cao Vương, lúc còn bé đã có tài lạ. Ngài hấy 2 con chim điêu đang bay lưng chừng giời (trời). Ngài dương cung khấn rằng:

“Nếu ngày sau được vẻ vang thì xin bắn một phát tên này, tin (trúng) cả hai con”.

Quả nhiên một phát tên, tin (trúng) cả hai con chim diều rơi xuống. Người đời bấy giờ điều (đều) khen là tài giỏi.

Sau, ngài càng lưu trí đến việc mở mang, cố sức học hành, nào là Kinh, Chuyện, Từ, Sử; nào là Thiên văn địa lý, các sách binh thư và lục thao tam lược, chẳng sách nào là ngài chẳng nghiên cứu. Ngài lại hay xem xét việc đời xưa đời nay. Ngài là một bực can thành vỹ khí, mà khí độ lại nhân yêu rộng rãi, không khá siết kể.

Ngài đỗ Tiến sỹ, làm quan thị ngự. Trong chiều (triều) đều gọi là “Lạc điêu thị ngự”. Sau ngài lại đánh giặc Đẳng, giặc Hạng, làm quan Thú châu Tần, nhiều công giẹp (dẹp) giặc, các tướng sỹ ai ai cũng điều (đều) khen ngợi.

Khi bấy giờ, nước Nam ta, gọi là Châu Giao, chính trị vẫn còn nội thuộc bên Tầu; có giặc Vân Chiếu nổi lên, thường hay quấy rối. Chúng kéo đến vây phủ Đô hộ, cướp bóc mọi nơi, trước sau bắt mất mười lăm vạn người, chúng nhiễu loạn tới gần 10 năm.

Khi bấy giờ, vua Ý Tôn nhà Đường, thấy ngài là bực văn võ toàn tài, thì các chiều (triều) thần điều (đều) tâu vua:

“Ngài là bực tài rỏi (giỏi), nên sai sang trấn Châu Giao ta”.

Khi ngài mới sang làm quan Đô hộ, lại phải quan Chung Sứ đem lòng ghen ghét, ngăn trở các công việc, chỉ chia cho ngài có năm ngàn quân, ngài phải hợp với 7 ngàn quân của quan Giám trân Sứ. Ngài thật là một người thao lược, chỉ có một số quân ít ỏi, mà phá tan được giặcVân Chiếu vừa nhiều quân, vừa thế mạnh. Ngài lại bắt sống được hơn 3 vạn người và chém được chủ súy của giặc.

Vua nhà Đường, thấy ngài có công giẹp (dẹp) giặc, phong tước: “Kiểm hiệu công bộ thượng thư Tĩnh Hải quân tiết độ, An Nam đô hộ kiêm chư hành doanh chiêu thảo sứ”

Khi ngài đã bình song (xong) giặc Vân Chiếu, thì nhân dân trong các quận nước Nam ta, mới được yên ổn. Ngài lại đi xem xét các cửa bể, để tiện đường vận tải lương. Thấy một cửa bể, có khối đá to ngăn lấp, ngang dọc và (vài) trượng; thuyền tải lương thường nhiều khi va phải bị đắm. Ngài bèn sai quân đào phá, thì thuổng đào không chuyển, búa đập không tan, không thể làm gì được. Ngài làm lễ Thiên địa thần minh. Ngài khấn rằng:

“Đạo giời giúp người thẳng, thần minh chứng lòng ngay, xin mở rộng cửa bể, để cứu giúp sinh dân, soi xét lòng rất công, mở rộng có khó gì”.

Tự nhiên, giời (trời) sầm tối, gió mưa mờ mịt, sấm sét vang lừng, ở nơi tảng đá ấy, nổ luôn và (vài) chăm (trăm) tiếng; vút (phút) chốc giời quang mưa tạnh, thì thấy những khối đá điều (đều) vỡ tan, thuyền bè đi lại, không bị chìm đắm, vì thế mới gọi là cửa bể Thiên Uy. Ngài lại sửa sang đường bộ để tiện vận lương, đường ấy cũng lại nhiều đá sanh (xanh) nổi lên, mà xưa kia, về đời nhà Hán, có quan Phục Ba tướng quân họ Mã, cũng đã sửa sang, những không thể được. Ngài lại lấy lòng thành khấn nguyện trời đất, tự nhiên lại thấy gió mưa sấm sét như bận trước, thì những khối đá xanh ấy cũng điều vỡ tan, vì thế mà đường bộ lại được bằng phẳng rộng rãi.

Ngài có công mở mang đường xá, vua nhà Đường lại phong chức “Kiểm hiệu thượng thư hữu bộc sạ”. Ngài xem xét các địa thế núi sông, để đắp thành Đại La, bên tả có sông Nhị Hà, bên hữu có sông lầy nghìn dặm, phía Bắc có Hồ Tây, phía Nam có sông Tô Lịch. Sau này nhà Lý mới đổi là thành Thăng Long, tức là dinh quan Đô hộ đời bấy giờ.

Sự tích ngài chép ở trong quốc sử, ngài lưu trấn ở Châu Giao ta 7 năm; dảm (giảm) sưu thuế, bớt tạp dịch, yêu dân như con, cho nên người trong nước điều (đều) kính trọng, mà tôn người là Cao Vương, cũng ví như ông Sĩ Vương về đời Đông Hán, sang làm quan thú Châu Giao ta thuở xưa. Mà dân điều (đều) tôn ngài là Vương. Sau ngài lại đổi về trấn đất Thiên Bình. Ngài có người cháu là ông Cao Tầm, từng theo ngài có công giẹp (dẹp) giặc. Ngài dưng (dâng) sớ về tâu vua, để lấy ông Cao Tầm thay ngài, 10 năm.

Ngài về Tầu, trấn đất Kiếm Nam, đất Tây Suyên (Xuyên), người nhà Đường rất lấy làm trọng, lại phong ngài tước Bột Hải quận Vương. Sau ngài yếu rồi mất.

Sau này, nước Nam ta, tưởng nhớ công đức ngài, có tới 3,4 chăm (trăm) xã lập đền thờ ngài; ở hạt tỉnh Bắc Ninh có hơn chăm (trăm) xã thờ ngài, cờ (cầu) đảo việc gì điều (đều) linh nghiệm cả. Chải (Trải) các chiều (triều) vua điều (đều) có sắc phong tặng là Thượng đẳng phúc thần.

Xem như sách sử đời nhà Lý có chép rằng: đức Cao Vương ngài đóng đô ở thành Đại La, dân trong nước nêu một chữ Vương, để tỏ lòng tôn trọng, suốt đời ấy đời khác không quên.

Ngài rất tinh thông về địa đạo, có vẽ các kiểu đất nước Nam ta để lưu chuyền (truyền) về sau. Cách và (vài) chăm (trăm) năm về sau này, có quan Thượng Thư nhà Minh là ông Hoàng Phúc, thầy Tả Ao nhà Lê là Nguyễn Huyền, lần lượt giấy (dấy) lên. Địa đạo của Ngài càng ngày càng rộng, tự đấy trở về sau này, nước Nam ta mới biết địa lý mà tôn địa đạo.

Kể từ khi ngài mất về cuối đời nhà Đường đến nhà Tống cách nhau độ 50 năm, thì vua Đinh Tiên Hoàng dấy lên, mới nhất thống được. Chải (Trải) qua nhà Lý, nhà Lê đến bây giờ không phải nội thuộc nước Tầu nữa. Bờ cõi nước ta, mỗi ngày càng rộng, các quan văn võ, đời nào cũng có người rỏi (giỏi), so sánh với nước Tầu, không khác nhau mấy. Kể từ đấy đến nay có tới nghìn năm, mà muôn đời về sau, không biết thế nào là cùng.

Suy từ nguyên đến gốc, việc địa học nước Nam ta, người đời sau mới biết xem cơ trời, xét nhẽ đất, điều (đều) là nhờ ơn Ngài mở mang trước nhất, để mà gây dựng những người anh kiệt.

Xem như sách Kiến văn lục của quan Bảng Nhợn (Nhãn) đất Duyên Hà là ông Lê Quý Đôn, có chép và (vài) mười bài thơ của Ngài ở tập Đường thi, nhời nhẽ (lời lẽ) rất là Thanh tao trung hậu, có phong chí giống đời xưa. Lúc nào Ngài cũng săn sóc về việc quốc dân, để làm gương cho các biên thần đời ấy.

Những công việc của Ngài làm, trước sau điều (đều) đã chép ở Đường sử và Việt sử, công lao rất nhiều, ơn trạch rất rộng, nói ra không siết.

Nay chỉ lược chép mấy nhời (lời), trong lịch sử sự tích của Ngài mà thôi.

Thừa phụng sao sự tích. Chánh hương hội Nguyễn Châu Tuệ.

Bình phong đình Phương Nhị

Ngọc phả Quốc mẫu Vua Bà của tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn

Xã Đào Lãng, tổng Bằng Lộ, châu Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình, vâng tuyển thừa sao sự tích thần hoàng như sau.

Ngọc phả cổ chép về Tản Viên Thánh mẫu Quốc mẫu Vua Bà Tam vị Đại vương triều Hùng Nam Việt

Chính bản bộ Lễ quốc triều, Đệ nhất âm thần thượng đẳng

Nước Việt xưa trời Nam khởi thánh tổ, trải hơn hai ngàn năm, lấy tên là Hùng Vương, là thủy tổ của Bách Việt vậy. Nho sĩ đời sau là Trần tiên sinh có thơ khen rằng:

Trời Nam khai mở từ triều Kinh

Đế đức nguy nga công tối linh

Chính thống nối truyền mười tám nhánh

Trị nước hơn nghìn năm thái bình.

Lại kể rằng nước ta tương truyền ở động Lăng Sương, huyện Thanh Xuyên, phủ Gia Hưng, đạo Hưng Hóa, xứ Sơn Tây có một một Bộ chủ họ Đinh, quyền trị đất đai một châu, tên là Cán Công, lấy trưởng nữ của một gia đình địa phương ở động Đào Lãng, huyện Mỹ Lương, phủ Quảng Oai, tên là Châu Nương, làm phu nhân chính thất. Một hôm phu nhân đang dạo chơi, bỗng nhiên thấy có một người con gái áo xanh đến nói:

– Tôi vốn là con gái vua trên thiên đình, nay vâng mệnh Thượng đế xuống nhập làm con của phu nhân.

Phu nhân trong lòng rất vui mừng, liền trở về nhà. Được trăm ngày sau thấy tự nhiên có thai. Mang thai được 12 tháng tới năm Bính Thìn ngày 18 tháng 1 Phu nhân trở về quê mẹ. Khi đi đến Gò Đảng bỗng thấy gió thơm tràn ngập, khí lành rạng trời. Lúc đó Phu nhân sinh hạ được một người con gái, thật là tiên nữ Bồng Doanh, hoa kiều Lãng Uyển, người thường trên đời không thể có sắc vẻ ấy được. Lên ba tuổi cha mẹ đặt tên là Điên Nương. Năm ấy ngày 12 tháng 8 Bộ chủ ông không bệnh mà mất. Khi lên 15 tuổi, Nương có vẻ hoa đào lá trầu tuyệt sắc, mọi người đều thán phục. Tuổi 20 lời nói ra như có thần. Năm 22 tuổi có Bộ trưởng ông là Nguyễn Cao Hành, vốn là con cháu dòng dõi miêu duệ họ Hùng, nghe tiếng Điên Nương, mới trầu cau mối mai đến đưa sính lễ, loan phượng kết tình nồng, duyên ý hòa hợp, hương hỏa ba sinh, một bức phong lưu vậy. Qua hơn mười năm mà chưa thấy có thai. Đến năm Đinh Tỵ ngày 7 tháng 1 sinh được một người con trai, khác xa người thường… Nhận từ sơn thần cây gậy thiêng, lấy sách ước từ Vua thủy, bèn xưng là Tản Viên Sơn Thánh. Rồi lấy công chúa con vua Duệ Vương, từ đó cùng giúp việc trị nước.

Lại nói, vua Duệ Vương phong cho Điên Nương làm Quốc mẫu Phu nhân, ban cho hưởng các xứ nhân dân cộng là 180 nơi. Quốc mẫu Điên Nương tuổi thọ được 89 năm. Đến giờ Mão ngày 18 tháng 11 Quốc mẫu Điên Nương mắc bệnh, rồi hóa. Nhân dân bèn tâu lên triều đình, cho chôn cất ở động Lăng Sương. Truyền cho 2 quê lập miếu đền, xuân thu hai kỳ quốc tế. Lại ban thêm cho mỗi nơi 3000 quan tiền để phụng thờ. Việc binh lương đều được miễn. Vua còn phong tặng mỹ tự Thương đẳng Quốc mẫu Vua Bà, vạn năm hưởng lộc cùng hưởng với đất nước, mãi mãi theo lễ điển vậy. Theo mệnh Duệ Vương phong mỹ tự như vậy.

Khi đó Vua cùng phong tôn Sơn Trụ, Sơn Giai làm tả hữu Ba vị.

Phong Quốc mẫu Vua Bà Đinh Thị Điên Tam vị Thượng đẳng Tôn thần Đại vương (đồng ý cho quê ngoại ở động Đào Lãng nơi sinh phụng thờ. Miễn hết việc binh lương. Xuân thu có mệnh quan đến tế)

Lại nói, trải các đời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề Lương cộng 349 năm, tới nước Nam có 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần mở dựng cơ đồ, thường có công giúp nước cứu dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa. Thật có linh thiêng hiển ứng lớn. Nên các triều đại đều phong thêm mỹ tự Thượng đẳng Tôn thần Nhụ nhân, vạn năm hưởng lộc, cùng vui với đất nước, mãi theo lệ vậy.

Phong Quốc mẫu Vua Bà Đinh Thị Điên Tam vị Đại vương. Phong thêm Tuyên đức Huệ hòa Từ hạnh Anh linh Phương dung ? ? Thánh mẫu, Phù vận Hiển ứng Ý đức Đoan trang Chỉnh túc Hoằng nhân Tế thế Phong tư Yểu điệu Thượng đẳng Tôn thần Nhụ nhân Đại vương.

Ngày sinh thần là 18 tháng 1, làm lễ trước một ngày, quét dọn từ nơi sinh thần Gò Đảng đến nơi chỗ đình sở, làm việc quét dọn nghênh đón thần về đình làm lễ. Cùng với tế lợn đen, xôi, rượu. Rượu dùng là rượu ngọt. Bánh dày trăm chiếc. Ngày chính trên dùng mâm chay hoa quả, tế lợn hoặc trâu, xôi, rượu ngọt, hát ca, đấu vật, chọi gà 3 ngày.

Ngày hóa thần là 18 tháng 11 (làm lễ ngày hôm trước cáo tế bằng lợn, xôi, rượu. Ngày chính trên dùng mâm chay, lợn, xôi, rượu, cơm, ?)

Ngày đại khánh hạ là 18 tháng 4 (làm lễ đón thần cáo tế giống như lệ ngày sinh thần, ca hát 10 ngày, làm lễ tạ)

 Ngày khánh hạ 12 tháng 8 (làm lễ ngày trước đó cáo tế, gà hoặc lơn. Ngày chính dùng lợn, xôi, rượu, ca hát 3 ngày)

Ngày khánh hạ ngày 10 tháng 10 (làm lễ tế cáo hôm trước dùng lợn, xôi, rượu. Ngày chính dùng lợn hoặc trâu, ca hát 1 ngày. Đến ngày hôm sau thì mở tiệc cơm rượu, làm lễ với bộ hạ hổ thần)

Ngày khánh hạ 15 tháng 12 (làm lễ ca hát tùy nghi)

Các chữ húy Điên, Tôn, Trụ, Viễn, Tùng đều cấm. Ba màu vàng, tím, đen khi làm lế đều cấm.

Tên của thánh phụ, thánh mẫu trong các ngày hóa, ngày xem sự tích và khi làm lễ đều cấm.

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ nhất, ngày 10 tháng 1.

Niên hiệu Tự Đức năm thứ 19, ngày 10 tháng 10 xã Đào Lãng vâng sao.

Sử tích Thủy Tinh: Trường Sa ngày ấy mà không gặp…

Muốn hiểu sử tích Thủy Tinh cần bắt đầu từ… Sơn Tinh. 

Tản Viên Sơn Thánh khi lên núi chặt cây đã thụ nhận được cây gậy thần đầu sinh đầu tử từ Thái Bạch Tử Vi Thần tướng, xưng là Thần sư. Thần sư xuống núi, thu phục voi hổ ở Thủ Pháp, rẽ nước sông Đà quay về quê mẹ Lăng Sương. Trên đường đi đến bãi Trường Sa cứu sống được một con rắn đen, trên đầu có chữ Vương. Con rắn đó là con của vua thủy quốc Động Đình Đế Quân, đã mời Tản Viên Sơn Thánh xuống thăm thủy phủ, tiếp đãi linh đình trong cung rồng tòa ngọc và tạ ơn bằng một cuốn sách ước diệu kỳ. Khi ra về, Thủy Tinh (tức con rắn con của Long Vương) tiễn Sơn Thánh tới tận bãi Trường Sa, lưu luyến chia tay. Có thơ rằng:

Không gặp làm sao có kiếp sinh
Khi đi là nghĩa, về là tình
Quay lên đỉnh Thứu, người còn vọng
Trở lại cung Rồng, khách chẳng đành
Một dải âm dương đôi tách ngả
Chín trời mây nước mộng ba canh
Tạm biệt cửa sông hai mắt dõi
Tương tư chốn ấy bởi xa tình.

Bãi Trường Sa (Tang Ma) ở La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ

Bãi Trường Sa nơi gặp gỡ và chia tay của Sơn Tinh – Thủy Tinh thuộc trang Ma Xá châu Trung Độ bên bờ sông Đà. Đây là bãi Tang Ma, nay thuộc La Phù, Thanh Thủy, Phú Thọ. Nơi đây cũng có một câu chuyện tương tự về sự xuất hiện và gặp gỡ của Động Đình Thủy Tinh như sau.

Ở La Phù có một gia đình họ Phan. Một hôm tiết xuân ông bà Phan lên núi Tản Viên lễ Phật, lúc quay về đến bên sông thấy một con rắn gió bị con rết cắn chết. Ông bà chôn cất con rắn đó nên rắn đã cảm ơn mà đầu thai thành con gái nhà họ Phan. Sau đó Phan Nương gặp Thủy Đế Long Quân đi tuần du ở sông Đà tại động Tang Ma, kết duyên mà sinh ra một bầu năm người con, 2 nữ 3 nam. Long Quân hiện hình giao cho 5 con thành 5 vị thủy quan, trấn nhậm các vùng sông nước Tam Giang. Phan Bà hóa ở La Phù, được lập đền thờ là Động Đình Tang Ma Uy Linh Thánh Mẫu.

So sánh 2 câu chuyện trên có thể thấy Thủy Tinh Động Đình chính là vị Thánh mẫu ở bãi Trường Sa (Tang Ma). Câu chuyện bắt đầu từ Tản Viên Sơn cứu rắn đến khi chia các con thành các vị thủy quan trị nhậm các vùng sông nước.

Động Đình Thánh mẫu cũng là mẫu Thần Long, con của Động Đình Đế quân, người đã kết duyên cùng Kinh Dương Vương. Câu chuyện về cha Tiên mẹ Rồng này là một trong những huyền sử khai sáng của người Việt. Kinh Dương Vương do vậy cũng là Tản Viên Sơn Thánh.

Không xa bãi Trường Sa, Thánh mẫu Thần Long nay được thờ chính đền ở ngã ba sông Bạch Hạc tại đền Tiên Cát. Sự tích đền Tiên Cát  kể, Mẫu Thần Long được hai người chị em kết nghĩa là Thủy Tinh Ngọc Nữ và Bạch Hoa Ngọc Nữ đón về trời. Lạc Long Quân tưởng nhớ công ơn của mẹ, truyền cho dân lập đền thờ ngay tại cung Tiên Cát để thờ Ngọc Nữ Thần Long cùng Thủy Tinh Ngọc Nữ và Bạch Hoa Ngọc Nữ; sai ba vị hoàng tử trong bọc trăm trứng là Cự Linh Lang, Ất Linh Lang và Linh Thông Thủy cai quản đầu sông và gìn giữ lăng miếu. Như vậy chuyện về Thần Long Động Đình cũng trùng khớp với sự tích Phan Bà và 5 người con trấn nhậm sông nước ở Tang Ma.

Ban thờ Thần Long và 5 vị ở đền Tiên Cát, Viêt Trì, Phú Thọ.

Lạc Long Quân là con của Kinh Dương Vương và Thần Long, cũng tức là con của Tản Viên Sơn Thánh và Động Đình Thủy Tinh Thánh mẫu. Lạc Long Quân nối sự nghiệp của cha và mẹ, trở thành vị quân chủ đứng đầu Thủy phủ, nên Lạc Long Quân sau đó cũng được gọi là Thủy Tinh. Khi lên nối ngôi, Lạc Long Quân đã phải tranh giành ngôi vị với chính dòng bên cha mà huyền sử kể là cuộc chiến với Đế Lai để giành nàng Âu Cơ. Cuộc chiến này dẫn đến sự phân ly 2 dòng tộc, người lên rừng, kẻ xuống biển trong thiên hạ họ Hùng. Đây cũng là cốt lõi của truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh năm năm báo oán, đời đời đánh ghen được lưu truyền.

Tương tranh sự đó Thủy – Sơn thần
Muốn viết thơ này để hậu nhân
Bể ái gương treo đôi mắt gửi
Ham tình động sóng giữa thu phân
Sách ước đủ rồi đền nợ trước?
Má hồng sao chịu ganh phu quân
Trường Sa ngày ấy mà không gặp
Còn Sắc hay Không, Thủy Tinh thần?

Dòng Âu Cơ theo mẹ lên núi, làm Sơn Tinh, còn gọi là dòng Thục. Dòng Lạc Long theo cha xuống biển làm Linh Lang Thủy Tinh, truyền thuyết gọi là dòng Hùng. Lạc Long Quân nối ngôi cha là Kinh Dương Vương, bắt đầu thời kỳ cha truyền con nối hay chế độ công xã thị tộc. Thời kỳ này, do nước biển bắt đầu rút nên những vị Thủy Tinh theo cha Lạc Long đã đi khai phá vùng đồng bằng ven biển Đông mới lộ ra, xưa gọi là vùng đầm Vân Mộng bên hồ Động Đình.

Lịch sử Trung Hoa kể, Đại Vũ lấy người con gái là Đồ Sơn Thị, rồi nhờ tri thức trong Hà đồ Lạc thư mà trị thủy thành công, trở thành vị Vua Cả (Đại Vũ) của Thiên hạ. Trước khi mất, Đại Vũ muốn theo phép thiện nhượng của Nghiêu Thuấn mà truyền ngôi cho ông Cao Giao. Nhưng ông Cao Giao lại qua đời trước, nên Đại Vũ định truyền ngôi lại cho con ông Cao Giao là Bá Ích. Con trai của Đại Vũ và Đồ Sơn Thị là Khải không đồng ý, đã làm cuộc đại chiến đánh đuổi bộ tộc của Bá Ích, giành quyền cai quản thiên hạ. Vua Khải từ đó lập nên nhà Hạ, vương triều thế tộc truyền ngôi đầu tiên của Trung Hoa.

So sánh truyền thuyết Việt với Hoa sử có: Tản Viên Sơn Thánh hay Kinh Dương Vương trị thủy chính là Đại Vũ. Thủy Tinh Thánh mẫu Thần Long là người con gái Đồ Sơn Thị. Hạ Khải là vua cha Lạc Long Quân. Cuộc chiến khởi lập nhà Hạ cũng là cuộc chiến Hùng đánh Thục của Ngũ vị tôn quan Động Đình Thoải phủ, phò trợ đức vua cha Bát Hải (tức Lạc Long Quân) lên thống lĩnh thiên hạ. Bộ tộc của Bá Ích đã buộc phải di rời ra khỏi vùng đất tổ Giao Chỉ, được huyền sử Việt gọi là Thục, hay dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi làm Sơn thần.

Khám và tượng thờ Linh Lang ở đình Xâm Dương, Thường Tín, Hà Nội.

Triều đại của Lạc Long Quân được kể trong truyền thuyết là Hùng triều hay Kinh triều (lấy theo Kinh Dương Vương), cha truyền con nối đời đời là thế tộc. Cho đến Hùng Duệ Vương được coi là vị “Thủy Tinh” cuối cùng của dòng xuống biển. Dòng Thục Sơn Tinh lúc này mới quay lại đánh dòng Thủy Tinh, chiếm lại đất Giao Chỉ, lập đô ở Phong Châu, kiến quốc lấy hiệu là Văn Lang, khởi đầu chế độ phong ấp kiến hầu.

2 dòng Hùng – Thục hay Rồng – Tiên do đó đều xuất phát từ cuộc gặp gỡ nơi bãi Trường Sa bên bờ sông Đà, gần ngã ba Bạch Hạc. Lịch sử người Việt có thể kể điểm, từ 3 vị Hùng Vương Thánh tổ khai sáng hồng đồ. Nối tiếp là Tản Viên Sơn Thánh hợp nhất 4 tộc người ở 4 phương. Đến Thủy Tinh Động Đình Lạc Long Quân phân 2 dòng Tiên – Rồng, lên núi xuống biển, nối đời cha con thế tập. Sang khi Hùng Quốc Vương, người con trưởng theo mẹ Âu Cơ lên núi, lập ra nước Văn Lang, phân chia thiên hạ, xưng lập công hầu. 

Lịch sử người Việt còn in đậm trong từng di tích, từng ngọn núi, con sông trên đất Việt. Dòng sông Đà, nơi Sơn – Thủy gặp nhau, mãi là chứng tích buổi khởi đầu gian nan của thiên hạ phương Đông.

Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường thức đủ năm canh
Tiết trời thu lạnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bống bồng bông, bống bồng bông
Võng Đào mẹ bế con Rồng cháu Tiên.

Động Đình Thánh Mẫu và Ngũ vị Tôn Quan (Thần tích làng La Phù)

Bản dịch thần tích làng La Phù, tổng La Phù, huyện Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ

Ngọc phả cổ chép về Thần nương họ Phan thời Việt Thường Thị sinh một bầu năm vị thủy quan.

Tại bộ Long Vương

Nước Việt xưa trời Nam khởi vận, thánh tổ dựng đồ, trải 18 đời tương truyền, hơn 2 ngàn năm thịnh trị. Thời triều Kinh tới cháu ba đời là Hùng Quốc Vương lên ngôi (Tổ của Vương là Kinh Dương Vương, cha là Lạc Long Quân, mẹ là Âu Cơ. Xem thấy rằng Lạc Long Quân xuất ở núi Nghĩa Lĩnh, ở tại Bắc thành Phong Châu. Thành Phong Châu nay là xã Việt Trì bên sông Bạch Hạc. Vua ở đất Bắc. Âu Cơ có mang được 3 năm 30 ngày thì đầu núi Nghĩa Lĩnh có mây lành năm sắc rực rỡ, mới sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm nam, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt thế. Đến khi trưởng thành mới tạo dựng bình phong, phân chia đất nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Mã Châu, chín là châu Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Phân 50 người con theo cha về biển làm thủy thần, 50 người con theo mẹ lên núi làm sơn thần. Lại chia làm trăm họ như vậy. Hùng Quốc Vương chính là con trưởng), đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên Văn Lang, quốc đô tên thành Phong.

Quốc quân tuân theo nghiệp lớn, chăm lo hóa đức, miễn giảm nông tang, khiến cho người dân không lo thiếu thốn, đất nước có nhiều dự trữ. Sông biển yên bình. Người không gian dối, thuần hậu chân thật. Lại có thấy chép gốc của việc hưng công chế trị đương thời tăng hơn các đời trước. Người đời khen là bậc hiền quân. Khi ấy Vua truy ơn tiền thánh, lấy đất chia cờ, lập các bộ sơn tinh, thủy tinh làm trăm vương, đổi thành trăm họ, phân ra đầu non góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên họ trấn các đầu núi, cùng gọi là phiên thần, phụ đạo. 50 tên họ trấn các góc biển, cùng gọi là linh thần thượng thủy. Tiện để giúp bảo dân sinh, khuông phù tôn xã.

Khi ấy ở xã La Phù, huyện Bất Bạt, phủ Đà Dương, đạo Sơn Tây có một nhà trưởng ông (họ Phan tên Trọng) cưới vợ người bản tổng xã Tang Ma (tên là Lỗ Thị Đam). Vợ chồng một nhà trung hậu, gia tộc thế lớn giàu đủ. Vào đương lúc mùa xuân tháng Giêng, khắp nơi hoa nở tràn mặt đất, người người nô nức đi vãn cảnh. Khi đó Phan Công đã ngoài tuổi 60, Lỗ Thị vừa đến tuổi 50. Nhờ ơn phúc hòe đình che rủ, sớm đầu đã có hai người con trai, đều đã thành bậc hùng trưởng ở một phương, yên bề gia thất. Cho đến lúc đó, vợ chồng Phan Công tuổi tác đã cao. Vào lúc ngày xuân, vợ chồng đem tiền hương đi cúng Phật. Đi tới núi thiêng Ngọc Tản, nhàn ngắm núi sông, rồi vào cửa thiền cảnh Phật làm lễ.

Đương khi đó Thủy quốc Long Vương thường hay du ngoạm cõi dương gian trần thế, thích tìm nữ sắc trên trần gian.

Chính điện đình La Phù

Hôm đó khi quay về đi đến chân núi, bỗng thấy một con rết dài hơn 2 thước đuổi theo một con rắn gió dài ngoài mười trượng, chạy lên đầu ngọn sông. Vợ chồng Phan Công không dám đi qua, dừng chân lại ở dưới một gốc cây để xem sự việc như thế nào. Được một lúc lại thấy con rết chạy lại mà đi mất. Tự nhiên nghe thấy một tiếng kêu lớn vọng về vùng đất dưới. Vợ chồng ông mới đến nơi đó xem thì thấy con rắn gió đã bị con rết cắn chết. Vợ chồng ông vốn có lòng lành, thấy con rắn bị chết rất là thương xót, liền gọi lũ trẻ chăn trâu ở trong khu rừng đó nói rằng:

– Các cháu nếu có thể chôn cất con rắn này thì ta sẽ có báo đáp trọng hậu.

Trong người ông lúc đó chỉ có 7 mạch tiền đồng, liền đem đưa cho lũ trẻ chăn trâu để thu xếp việc chôn cất con rắn. Sự viêc xong ông bà trở về. Tối hôm đó mơ màng như nằm mộng, bỗng thấy một con rắn vảy năm màu đi thẳng vào trước sân, dập đầu mà bái. Ông mới hỏi con rắn từ đầu mà tới. Dứt lời thì rắn biến ảo thành một người con gái nhỏ đáp rằng:

– Bữa ban ngày bị con rết làm hại, may gặp được tôn ông chôn cất mới bảo toàn được tính mạng. Ơn này phải biết báo đáp làm sao. Nay Hoàng thiên thấy tôn ông có đức, lệnh cho thiếp đầu thai nhập làm con trong gia đình ông để báo đáp ơn sâu.

Dứt lời thì ông tỉnh lại, đem sự việc trong mộng mà kể. Lỗ nương nghe vậy nói rằng:

– Đấy là rắn báo ơn.

Ban thờ Tản Viên Sơn Thánh với những cây bông dùng trong lễ hội ở La Phù

Sau lại thấy Lỗ nương có mang. Đến năm Ất Tỵ ngày 2 tháng Giêng thì sinh hạ được một con gái. Khi sinh trên trán có một vệt sẹo đỏ, hai bên má có 2 vết sẹo xanh, diện mạo khác hẳn người thường. Đến khi lên 3 tuổi, rất hiếu thuận với cha mẹ, mới được đặt tên là Thị Cù. Khi lên 19 tuổi hình dáng yểu điệu, nhan sắc khó sánh. Nhưng chỉ có khuôn mặt lại rất xấu, trán thấp, răng vẩu, mắt to không có lông mày. Người thường không ai dám nhìn. Năm 22 tuổi những người gia đình bình thường không dám tỏ tình. Anh hùng hào kiệt cũng không có ai cầu hôn.

Đến tiết trời mùa hè ngày 6 tháng 6, Phan Nương cùng với hơn 7-8 người con gái trong làng đi lên núi Tang Ma lấy củi. Trên núi có một ngôi chùa nhỏ. Phan Nương đi vào chùa xem, lại đến một hang đá (hang có tên Hàm Rồng. Trong động có một lỗ huyệt thông thiên. Lại có một cái giếng ở trong động). Bèn mới vào bên trong hang chơi, thì thấy một miệng giếng. Nương mới ngồi xuống xem cái giếng, thấy nước bên trong giếng động mạnh. Bỗng nhiên thấy một đôi rắn xanh và rắn vàng nổi lên trên mặt nước một lúc, rồi lại lặn xuống nước mà biến mất. Sau một lúc bỗng thấy đáy giếng có tiếng vọng ù ù như tiếng sấm. Từ đáy giếng sóng nổi lên ầm ầm. Phan Nương cả sợ vội chạy ra khỏi động, đem gánh củi trở về.

Chùa Tăng Má nơi có Thạch động Tang Ma, nay thuộc Thanh Lâm, Thanh Thủy, Phú Thọ

Tối hôm ấy thấy có hai người tướng mạo đường đường, thân mặc áo đen. Đi trước có thanh đồng cầm bưng một chiếc mâm vàng, trên có đặt một buồng cau vàng cùng với trầu vàng năm cánh, tiến vào đến trước mặt Phan Công, nói với ông rằng:

– Vâng lệnh Thủy đế Long quân của thủy quốc, chủ quản sông Thao, nay thấy nhà Phan Công trên dương thế có một hiền nữ, nên nguyện kết hôn nhân. Sai thần khiển tướng đến làm lễ sính hỏi. Lại có một bài thơ, xin trình trước để Ông xem. Ngày sau Thủy quân sẽ đích thân đại giá đến nơi.

Vợ chồng Phan Công nghe lời vậy, cả sợ, mới cầm lấy thư mở ra xem, bên trong có 4 câu rằng:

Thủy quốc nay tìm người cõi trần

Một lòng chỉ ước muốn cầu thân

Anh hùng đâu để rơi người ngọc

Tấc lễ trước đem báo tin dâng.

Ông xem xong thì bỗng không thấy ba người đâu nữa. Vợ chồng Phan Công rất sợ hãi mới dẫn Phan Nương về ở trốn ở nhà người cậu (người cậu tên là Lỗ Đình Bản) tại xã Báo Triệu. Phan Nương sống ở nhà cậu được vài ngày. Một hôm Phan Nương đi ra ngoài bãi ghềnh bên bờ sông (tức là ghềnh Ba Triệu) mà tắm gội. Lại thấy toàn thân dính nhớt dãi, gột đi không được. Bỗng thấy có một con ba ba màu vàng nổi trên mặt nước. Nương sợ hãi vội chạy về. Đến nửa đêm Phan Nương nằm mơ màng như mộng, thấy một quan nhân đội mũ hoa sặc sỡ, mang đai gấm sáng láng. Mình mặc áo rồng, giáp vàng nổi mây năm màu, cưỡi một con long mã đen, theo sau hầu hơn mấy trăm tinh binh, khí giới đầy đủ, đều là mắt rồng, đuôi cá, vảy lân, áo ráng, đường đường tiến vào. Phan Nương thấy binh mã quan nhân đến thì muốn chạy trốn. Quan nhân bèn dắt nàng lại mà nói rằng:

– Ta chính là Thủy Đế Động Đình, quyền cai quản Tam Giang. Nay thấy nàng đúng là vật báu chốn thanh cung, ở nơi Bồng Đảo, Linh Tiêu, là người của điện nguyệt tiên nga, không phải là mệnh tính phàm trần. Nay ta thiếu người nâng khăn sửa túi, nên nguyện kết hòa hợp cầm sắt, duyên vui loan phượng, trần gian thủy giới tuy âm dương hai ngả nhưng phong thủy đều chung. Cõi người thì trăm năm là hạn. Thủy quốc lại trường thiên bất lão. Xin nàng, xin nàng đừng đóng lòng mà phụ ta vậy!

Dứt lời, Phan Nương đáp rằng:

– Thủy quân có lòng thương đến, tiện nữ đâu dám phụ chàng. Thiếp nguyện một lòng nghe theo mệnh lớn, như hoa quỳ hướng về mặt trời, thuận như dòng nước sông dài chảy vậy. Chỉ xin được ở lại trên trần thế để dưỡng ơn cha mẹ, báo đức lớn cù lao. Do còn nghĩa chăm nuôi, là người con đâu thể thờ ơ. Tuy là phận nữ phân theo tam tòng, nhưng cũng còn nghĩa tạo hóa sinh thành da tóc.  Vả lại thủy quốc trần gian, hai đường xa cách. Phận làm con, cha mẹ còn đang tuổi cao, mà lại xa rời đỡ gối, sao gọi là hiếu được. Xin trần tình trước sau, mong được như lời. Thiếp một lòng xin lắng nghe theo.

Thủy quân lại nói rằng:

– Lòng nàng không muốn về thủy quốc, ta cũng để nàng sống ở trần gian để báo đáp ơn sâu dưỡng dục, sớm tối thăm hỏi mẹ cha. Nhưng duyên sự thủy quốc đã đến, xin nàng đừng để lộ ra nhân gian. Xin hãy giữ gìn cẩn thận. Không thể tiết lộ!

Phan Nương rằng:

– Xin vâng.

Nói đoạn xong, uyên ương chắp cánh, loan phượng sánh đôi, ngân tiếng thanh âm chiêng trống, hứng đọc vần nhã đàn thơ, mê tình xuân ong bướm, vui vầy vận đẹp thư cưu. Từ đó náu thần xuất thánh, biến hóa vô cùng. Ban ngày thì ở trên mái nhà, biến thành hình con thằn lằn. Hoặc hiện thành con rắn rồng nằm trên xà thượng. Tối đến hóa thành một chàng trai tướng mạo đường đường, đai gấm, khăn đỏ rực rỡ, từ trên không hạ xuống, cùng với Nương thông tình, vui mối nhân duyên trời định, khó mà giãi bày cho được.

Cù Nương về lại quê ấp (tức La Phù), nội tình này không dám để lộ ra. Hôm đó buổi tối lại thấy binh mã quan nhân tiến đến địa phương. Một vùng mưa to gió lớn, trời đất tối sầm. Nhân dân và cha mẹ đều không thấy gì. Duy chỉ có Nương là thấy.  Đêm đến mộng mị thấy hoặc hiện thành một chàng trai cao to, quần áo chỉnh tề, cùng nhau ân ái. Hoặc biến thành một con rồng vàng quấn quanh bụng nàng. Rạng sáng thì ra bay lên không mà đi. Không ai biết mối tình riêng này.

Được quãng một năm Cù Nương có mang. Nhân dân trong làng xóm bàn tán. Hội đồng hương chức tìm Nương tra hỏi để trừng phạt. Khắp nơi người dân bàn luận, muốn gọi Nương ra để hỏi. Đến khi thấy Nương đến, nhân dân tự nhiên đều sợ, không người nào dám hỏi. Cha mẹ Nương thấy mọi người có nhiều lời chê cười, chỉ trích, lấy làm xấu hổ. Sau do vậy mà sinh ra bệnh nặng rồi cùng nhau qua đời. Các anh em làm lễ an táng. Sự việc xong, một hôm hương chức họp nhau lại, gọi Nương ra lấy tiền nộp phạt cho dân. Nương mới trình bày với hương chức rằng:

– Thiếp xin được khất tới kỳ sinh nở, mẹ tròn con vuông, sẽ ra nộp cho hương chức đầy đủ. Không dám không nộp.

Hương chức đồng ý. Cù Nương có mang 19 tháng, một ngày (tức ngày 12 tháng 4) nhân dân bỗng thấy mây sấm nổi lên, gió mưa kéo đến. Bốn hướng mù mịt. Kinh trời động đất. Trên sông sóng lớn vạn khoảnh, cá rùa ngàn trùng, nổi lên trên mặt nước. Lại thấy một đội binh mã hơn 500 người tiến vào chỗ dân cư, truyền cho nhân dân lấy một chiếc thuyền lớn mang ra bãi sông, thả xuống đầu dòng sông.

Cù Nương đi ra sông xuống thuyền, sai lấy nước sông lên đầy thuyền. Rồi sinh hạ một bầu năm con, hai nữ ba nam. Tất cả đều kỳ dị khác thường. Khi đang sinh có mây năm sắc bay ở trên không trung, che lấy nơi có chiếc thuyền. Năm bộ tiên nương ca múa, âm nhạc đàn sáo reo vang nơi đó. Hương thơm ngào ngạt, sắc hồng tím sáng láng. Sinh được một lúc thì dần dần biến mất.

Sinh được 3 ngày lại có mưa gió động trời, sấm sét chuyển đất. Nhân dân đều khiếp phục, mới làm lễ khánh hạ. Ngày hôm đó (tức 14 tháng 4) nhân dân địa phương (tức La Phù) bèn đón mẹ con trở về nhà. Đến lúc ban đêm lại có ba chiếc thuyền rồng đỗ tại bên bãi sông (tức bãi ghềnh La Phù). Bỗng thấy có một quan nhân từ trên thuyền rồng bước ra lên trên bãi sông, quần áo rực rỡ, binh mã uy nghi tiến vào chỗ dân cư. Bèn triệu tập người dân lại.

Hôm đó (15 tháng 4) người dân làm lễ bái hạ, hỏi rằng:

– Dám xin hỏi quan nhân từ đâu đến?

Quan nhân đó nói rằng:

– Ta vốn là quyền Thủy đế, cai quản sông Thao. Trước có đến vùng sông nước thuộc cai quản của sông Đà, may mắn gặp được Phan Thị ở đó (tức là đất La Phù), kết được duyên lành với trần thế. Trước đây chưa thể để lộ ra nhân gian. Nay đã sinh được 5 người con nên mới đến nơi dân cư thăm gặp các con trong nhà. Lại sắp xếp các con chia về các nơi, ngự trấn thế nước hai bên bờ sông để bảo vệ yên dân. Nay mới nói với nhân dân biết được việc này vậy.

Nhân dân rất kinh sợ, dập đầu bái lạy. Bỗng thấy hô triệu các con. Lúc ấy 5 người con đang nằm trên giường, nghe quan nhân hô gọi, liền đó 5 người con đều ngồi dậy. Thấy quan nhân nói rằng:

– Năm con hãy cùng phân chia trấn ở 5 nơi bên sông. Một người con là Long nương Công chúa phân trấn ở xã An Tập, sông Thao làm chính sở. Một người con Trưởng nam Đệ Nhất, tên là Côn Long Vương Thủy hầu, giao đóng trấn ở cửa Tam Giang sông Thao, lấy xã Báo Triệu (cũng từ đó viết là Bảo Triệu) làm chính sở (tức là ghềnh Ba Triệu), kiêm quản hai nơi Đồng Nương, Phong Thành. Một là Đệ Nhị Chàng Hai Long Vương, tên là Hồng Thủy hầu, phân trấn thủ một dải sông Bờ, lấy Bảo Khang làm chính sở, kiêm trị hai nơi cửa động Tang Ma, Khê Nguyên. Còn một người con trai thứ Đệ Tam Long hầu, tên Trì, ở lại cùng với quê mẹ, trấn trị tại La Phù làm chính sở, đều sống ở cửa sông (xã dân hai bên bờ sông phụng thờ ở các di tích sau đó), phân trị các nơi.

Từ đền Quốc Tế nhìn ra ghềnh Bợ bên sông Đà ở Thạch Đồng, Thanh Thủy

Sự việc xong, giây lát binh mã quan nhân đều cùng biến mất. Được một lúc, năm người con bỗng hóa thành năm con rắn, đầu có mào hoa năm sắc, thân dài mười trượng. Bỗng thấy nước sông mở ra một con đường thẳng, hình như dải lụa trắng, chạy thẳng đến nơi ở. Giao long, cá, ba ba, rùa, rắn hơn vài trăm bầy đều cùng theo đường nước đến nghênh đón. Lại thấy bốn con rắn dập đầu cùng nhau bái trước mẹ, rồi trườn xuống đường nước mà đi ra sông lớn. Bầy cá, ba ba, giao long đều đi theo. Nhân dân hai bên bờ sông đều kinh hãi, cúi phục mà nhìn. Lại thấy đại hội ở giữa sông chia làm 4 đạo. Trên trời mây mưa dầm dề. Đáy sông tiếng sấm vù vù nổi lên. Mây theo mưa đuổi. Bốn đạo chia ra mà đi.

Khi ấy quan địa phương nghe được mới báo lên triều đình, tấu đến bệ hạ. Vua bèn sai các đình thần và quan địa phương dẫn binh mã đến theo hai bên bờ sông để xem đi đến nơi đâu. Truyền cho dân cư địa phương lập các đền để phụng thờ.

Một đạo đi thẳng đến sông Đáy, đến bến Hội Giữ. Một phương trời đất u ám, trên sông sóng to gió lớn nổi tới. Khu đất dân cư sắp lở. Nhân dân thấy đó rất sợ hãi. Triều đình đến nơi nói với nhân dân rằng:

– Thủy quan tới cai trị. Người dân ta ở đất này mau lập đàn cầu đảo, sửa tạo miếu đền phụng thờ thì dân mới yên.

Ngày hôm đó 10 tháng 5, dân liền lập miếu, làm lễ phụng thờ. Dân đều được yên lành từ đó.

Lại nói, một đạo tiến thẳng đến cửa sông Ma Khê, xã An Khê sông Thao. Một đạo đến thẳng xã Báo Triệu, cùng với bến sông Đồng Nương, Phong Thành. Xứ ấy đều thấy nước dâng sóng cả, xô tới ngọn sông, phá lở vùng đất có dân. Mưa gió động trời. Nhân dân bị bệnh tật rất khổ. Quan triều đình tiến quân đến nơi, thúc giục sai khiến nhân dân rằng:

– Thủy quan đến cai trị. Nhân dân các người hãy mau lập đền thờ phụng.

Hôm ấy (ngày 12 tháng 4) dân địa phương (tức xứ ghềnh ba Triệu, xã Bảo Triệu) làm lễ cầu đảo, lập đền phụng thờ. Cũng khi đó Phong Thành, Đồng Nương cũng đều lập đền thờ (thờ phụng người anh cả Đệ Nhất Long hầu). Quan triều đình lại đến xã An Tập truyền lập đền phụng thờ (ở xứ Ngoi Ma) Đệ Nhị Long Nương Hoa Tinh Công chúa (hai bên bờ sông Thao, sông Đáy các xã Báo Triệu, Phong Thành, Đồng Nương, Hội Giữ phụng thờ, đều còn di tích).

Lại nói đến Đệ Nhị Công Thủy hầu, một đạo tiến thẳng đến bến Bảo Khang. Khi ấy dân xã Bảo Khang đi ra bến sông bỗng thấy ba chiếc thuyền rồng dừng ở chỗ bến. Mặt trời lúc đó đã đổ bóng chiều. Nhân dân hỏi rằng:

– Thuyền quan nào mà đến bến đây?

Người dân hỏi nhưng đều không thấy tiếng đáp. Nhân dân mới đi ra đến thuyền, ghé xem. Bỗng thấy giao long, rắn, ba ba nằm đầy trong ba chiếc thuyền. Những người dân đó cả sợ, bỏ chạy về dân cư, hô hoán mọi người cùng ra đường lớn. Bỗng gặp một đạo quân lớn hơn 500 người tiến đến thẳng vào nơi dân cư, tụ họp các gia đình ở đó. Nhân dân mới chạy ra, đến bến sông thì không thấy đâu. Lại trở về gia ấp thì thấy binh mã quan nhân đi đến, liền mới làm lễ bái hạ (đây là quan địa phương đến). Quan địa phương mới nói với nhân dân (tức xã Bảo Khang) rằng:

– Thủy quan đến nhận trị nơi dân. Các người mau mau làm lễ nghi lễ nghênh đón, lập đền phụng thờ.

Quan nhân còn đang nói thì bỗng thấy mưa gió nổi lên trên sông, sóng cả, sấm sét đùng đùng, gẫy cây đổ nhà, cát bụi, đá bay. Lại thấy hơn vài trăm con rắn, giao long, đầu có mào hoa ở dưới sông chia nước thành đường mà đi, lên trên bờ sông, trèo thẳng lên trên một cây lớn (nơi ấy có một cây cổ thụ to lớn có ba thân ở tại nơi đường bên sông trong vùng đất dân cư). Nhân dân đều cả sợ. Hôm đó (ngày 12 tháng 6) làm lễ cầu đảo lập đền phụng thờ. Tự nhiên bỗng thấy mưa gió nổi lên vù vù. Một đám mây đen kéo thẳng đến cửa động Tang Ma (nơi đó đất trang Tang Ma có một hang rồng đá hướng trăng, tên là cửa động Thạch Long. Trong động rồng có một cửa giếng thông tới Thủy phủ. Phía trên thân hang rồng có một ngôi chùa nhỏ, có tên là chùa Long Linh). Bỗng nhiên đến đó thì mưa gió mây sấm, giao long, rắn đều cùng biến mất. Sau này trang Tang Ma bèn lập miếu Đệ Nhị Công ở tại động Thạch Long thờ phụng. Từ đó nhân dân đều được yên ổn.

Đình làng La Phù

Lại nói, khi ấy còn lại ông út Đệ Tam Thủy hầu, trị tại quê mẹ (tức xã La Phù) cùng ở với Phan Bà. Công lúc đó có nhiều biến hiện, đi du ngoạm ở vùng đất đai dân cư. Nhân dân hay gặp thấy. Hoặc biến thành hình rắn có mào hoa năm màu, thân vảy rực rỡ. Hoặc hiện thành một quan nhân tướng mạo đường đường, lẫm lẫm oai phong, đầu đội mũ ngọc, thân mặc áo gấm, giáp vàng. Hoặc gọi mưa đến, hoặc kêu gió tới. Nhân dân thường bị hại nhiều nên rất sợ. Hôm ấy (ngày 14 tháng 6) nhân dân làm lễ xin làm thần tử. Phan Bà đồng ý. Người dân bèn dựng lập một cung sở ở bên bờ sông, mời Phan Bà cùng ông đến ở trong cung đó.

Khi ấy chỗ Phan Bà có bãi Trường Sa ở giữa sông. Ngày tháng qua Phan Bà thường đến trồng dâu gai để sinh sống. Phan Bà thường ngày qua sông đến bãi Tang Ma làm cỏ. Ông Rắn bèn theo mẹ cùng đi. Khi đi về qua sông không thấy có người đưa đò, bèn tự rẽ nước mà đi sang bãi. Một hôm ông biến thành một con rắn nhỏ nằm trong đám cỏ ở nơi bãi dâu gai. Phan Bà làm cỏ đúng nơi ông nằm, mới làm đứt mất một đoạn đuôi. Sau khi ông bị đứt mất đuôi, mẹ mới đặt tên là Cộc Công. Nhân dân thường dùng gọi tên vậy.

Bãi Trường Sa, nay là khu Đảo ngọc xanh ở Thanh Thủy

Đến năm Đinh Tỵ, giờ Sửu ngày 8 tháng 2, Phan Bà tự nhiên không bệnh mà mất (Phan Bà húy là Cù, sinh năm Ất Tỵ giờ Hợi ngày 3 tháng 1. Sau kết với Thủy quốc Long Quân, đến tuổi 27 năm Tân Mùi giờ Thân ngày 12 tháng 4 thì sinh được một bầu năm con, hai nữ ba nam. Được 5 ngày thì đều hóa thành rắn. Bốn con đều trị ở 4 nơi. Còn một người con út, tính theo con trai là Đệ Tam Công, tính cả con gái là Đệ Ngũ Công. Trên là tính theo con trai, còn dưới là theo cả con gái. Phan Bà thọ được 86 năm. Đến năm Đinh Tỵ ngày 8 tháng 12 thì hóa).

Ngày bà Phan hóa trời đất mù mịt, sét nổ ầm ầm, mưa gió vù vù. Nhân dân đi trên đường đều mê mệt. Khi ấy dân các xã phụng thờ các vị (tức các xã La Phù, Báo Triệu, Phong Thành, Đồng Nương, An Tập, Hội Giữ, Bảo Khang, Tang Ma cùng đến làm lễ) cùng đến hội ở La Phù làm lễ an táng bà Phan ở nơi đó (tức là chôn cất sau khu dân cư, tên là xứ Khu Lâm, nơi ấy có hình chim phượng. Sau đổi tên thành khu xứ Am Lăng. Nơi đó ngàn núi thắt dựa phía sau, vạn sông lại chầu phía trước). Khi đang chôn cất, nhân dân bỗng thấy năm con rắn dài hơn 10 trượng tiến thẳng đến nơi mộ. Nhân dân sợ hãi phục xuống. Lại thấy năm con rắn nằm ngẩng đầu lên mà nhìn, trong khoảnh khắc tự biến mất.

Lăng mộ Phan Bà ở La Phù

Nhân dân an táng xong quay về khu dân cư lại làm lễ ở chính cung (tức là cung nơi ngày trước sinh ra và bà Phan cùng ông Út ở đó). Tối đó cùng nằm ở nơi ấy, mờ mờ ảo ảo, bỗng thấy năm vị thủy quan cùng Phan Bà và binh sĩ voi ngựa tiến đến cung. Phan Bà ngồi ở chính giữa, còn năm vị nam nữ ngồi chầu hai bên trái phải. Phan Bà cùng hai vị công chúa đều có các nữ sĩ đi theo nâng khăn lược, tay cầm gương ngọc, đầu đội mũ hoa, trâm vàng, chân đi giày phượng, có hơn trăm trinh đồng theo chầu đi bên cạnh, có hình dung chim sa cá lặn, sắc vẻ nguyệt thẹn hoa nhường, môi son mặt sáng, mắt phượng mày ngài, đều là sắc đẹp tuyệt trần. Ba vị quan ngồi trong cung, quân sĩ đứng chầu đầu đội mũ ngọc rực rỡ, thắt lưng khăn gấm sáng ngời, thân mặc áo bào gấm và giáp sắt, đầu lân mặt cá, mũi rồng mày hổ, có hơn ngàn người, đường đường đứng chầu, đầy vẻ thần oai. Xe rồng kiệu phượng cùng voi ngựa đứng thành hai hàng.

Nhân dân bèn làm lễ bái lạy. Bỗng thấy Phan Bà nói với nhân dân rằng:

– Ta vốn ở chốn cung tiên cửa đế bị giáng xuống núi thiêng Tản Viên, lại được sinh ra trên trần thế đầu thai nhập làm con trong gia đình họ Phan, găp gỡ được nhân duyên với thủy quốc, sinh thành một bầu năm con, vâng theo lệnh vua phân ban nơi thờ cúng ở trong dân, quyền quản các sông suối. Tới nay người con trưởng đi theo về với đức vua cha cai quản cung Báo Triệu ở sông Thao, kiêm là lị sở của Phong Thành, Đồng Nương. Người con trai thứ hai vâng về bên quê ngoại, nơi gia đường đất Tang Ma, Bảo Khang, trấn giữ chính sở Bảo Khang, Thạch Xá. Còn người con út cùng trị cư với ta một chỗ, yên trấn quê nhà, cai quản sông Đà là linh thần sông nước, trấn giữ hai bên bờ sông là đất thờ cúng. Vị công chúa thứ hai cai quản sông nơi có dân, quyền quản về sông Thao. Còn như sông Đáy hai dải phân theo về nơi bên vua cha. Còn lại một dải sông Đà theo hướng về cung của ta. Các nơi trị ở một phương chia theo hai chỗ.

Dứt lời bỗng nghe một tiếng tiếng nổ lớn từ giữa đáy sông mà vọng vào trong tai. Nhân dân mới tỉnh lại và biết đó là mộng. Mọi người đều cả sợ, lập tức làm lễ bái lạy, trình lên quan địa phương, làm biểu tấu vào triều đình báo cáo sự lạ đó.

Vua nghe vậy mới sai quan triều đình đến nơi cầu mưa gọi gió. Khi đang làm lễ thì gió mây nổi lên ùn ùn. Giữa ban ngày mà như đêm. Trên sông sóng dâng cuồn cuồn. Cá, ba ba nổi lên hướng chầu về nơi lễ tế. Việc xong trời lại trở nên sáng tỏ, núi sông bốn mặt quang đãng. Mưa gió đều yên. Mới biết là có sự hiển ứng linh thiêng to lớn. Vua bèn ban sắc chỉ phong thêm mỹ tự về các nơi thờ. Lại cho các dân ở đó làm hộ nhi phụng thờ.

Ban thờ Động Đình Uy Linh Thánh mẫu ở đình La Phù

Phong Động Đình Thánh mẫu Uy linh Công chúa.

Phong Đệ Tam Chàng Ba Long vương Trì Uyên Đại Xuyên Hiển ứng Đại vương (xã La Phù làm dân hộ nhi thờ phụng chính).

Phong Đệ Nhị Chàng Hai Long vương Hồng Xuyên Hiển ứng Đại vương (Thánh mẫu và Đệ Nhị công xã Tang Ma thờ phụng).

Phong Đệ Nhất Chàng Cả Long vương Xung Đổ Hiển Định Đại vương (Bảo Triệu, Phong Thành làm dân hộ nhi thờ phụng).

Phong Đệ Nhị Chàng Hai Long vương Hồng Xuyên Hiển Ứng Đại vương (Bảo Khang là dân hộ nhi thờ phụng chính).

Phong Chúa Cả Long Nương Thần nữ Công chúa (trang Hội Giữ là nơi thờ phụng chính).

Phong Chúa Hai Ngọc Tinh nương Công chúa (An Tập là nơi thờ phụng chính).

Từ triều Hùng trải các đời đế vương có nhiều linh thiêng hiển ứng, giữ nước giúp dân, được phong nhiều mỹ tự, hương lửa không ngừng vậy.

Lại nói, đến khi triều Hùng suy mạt, thế nước báo lúc kết hồi. Vua Duệ Vương không có con trai, mới nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. Vương ở ngôi được 50 năm. Khi ấy thường hay có nạn hạn hán lớn, cây cỏ khô cháy, nhân dân đói khát. Vua bèn sai các đình thần đi cầu đảo tế trăm thần ở các nơi. Một hôm sứ thần đi đến đền Thánh mẫu (tức đền Tang Ma, gọi là quán Thánh mẫu. Từ khi Thánh mẫu hóa đến sau ngày 12 tháng 6 trang Tang Ma đương làm lễ quan Đệ Nhị, bỗng thấy gió mạnh nổi tới mù mịt. Lại thấy một con rắn đầu có mào hoa dài hơn mười thước từ trong miệng giếng của hang đá trườn ra, tiến vào trong giữa nơi tế thờ. Nhân dân sợ hãi, chia thành hai bên trái phải mà đi đi. Rắn đi vào được một lúc thì đi ra mà tự biến mất. Lại thấy binh mã với Thánh mẫu và Đệ Nhị thủy quan xa giá tiến đến đi vào trong cung mà ngồi. Rồi thấy Thánh nói với nhân dân rằng:

– Thật đáng trách nhân dân ngu muội. Đất Tang Ma vốn là quê mẹ của ta. Ta thường xuyên đi về qua lại thăm hỏi. Vì sao không lập một hành cung để cho binh mã của ta có chỗ trú trong những ngày này.

Dân lại làm lễ bái lạy. Thánh mẫu nói xong đều cùng tự biến mất hút. Thế là ngay trong hôm đó nhân dân lại làm một ngôi miếu tranh ở chính ngay nơi cửa động đá để thờ phụng Thánh mẫu và Đệ Nhị Công cùng ở một nơi ấy).

Miếu thờ Động Đình Thánh mẫu và Quan Đệ Nhị ở miệng hang Tang Ma.

Khi đó quan sứ giả đến làm lễ tế cầu đảo. Được khoảng một tuần hương bỗng thấy mưa từ trên trời đổ như trút nước, bốn phía mờ mịt, trời u ám, mưa tối tăm. Sứ thần lưu lại ở trong đền. Một đêm bỗng thấy có một con rắn vảy năm sắc, tọa ở trên chính điện trong đền. Lại nghe thấy tiếng ngâm:

Năm mươi năm triều Thục Vương đình

Sách Trời đã định biết điềm lành

Nước Nam lại về tay vua Triệu

Bảy quận núi sông thống nhất thành.

Ngâm xong thì rắn tự biến mất. Sứ quan lấy đó làm sự lạ, quay về mà tâu. Vua thấy có sự linh ứng lớn bèn phong thêm mĩ tự, cùng với đất nước vui hưởng không cùng.

Phong Động Đình Tang Ma Thánh mẫu Uy linh Thần nữ

Nhất phong Hồng Xuyên Uy minh Hiển ứng Đại vương (xã Tang Ma phụng thờ).

Phong Động Đình Tang Ma Thánh mẫu Uy linh nhất Thần nữ. Phong Đệ Tam Ông Ba Trì Uyên Đại Xuyên Trung minh Thuỷ đế Long Đại vương (xã La Phù phụng thờ hai vị).

Phong Ông Cả Long Vương Xung Đổ Hiển Định Đại vương (Báo Triệu, Bồng Lãng, Phong Thành, Đồng Nương, Thọ Xuyên cùng phụng thờ).

Phong Đệ Nhị Ông Hai Hồng Xuyên Uy minh Hiển ứng Đại vương. Phong Đệ Nhất Nương Thái trưởng Long Nương Công chúa (xã Bảo Khang phụng thờ hai vị).

Phong Đệ Nhị Ngọc Tinh Thần nữ Công chúa (hai xã Hội Giữ, An Tập phụng thờ).

Lại nói, thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, gộp lại là 340 năm, đến nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Trần, Lý khai sáng cơ đồ, thường có công giúp nước cứu dân, trải các đời đế vương phong thêm mỹ tự, vạn năm phụng thờ hương lửa không ngừng. Đến thời Trần Thái Tông, tháng 8 trời thu, một hôm Vua đang dạo chơi ngắm trăng trên lầu gác, thấy một mây đen nổi lên ở phía Tây Bắc, từng đám từng đám đều như sắc nhọn bay nhập vào sao Tử Vi Tinh Quân. Được 3 ngày sau nước lớn dâng tràn chảy vào Tây Hồ. Mưa lớn, gió to, nước cả ngập trời. Núi Tản Viên sạt lở ngoài trăm trượng. Sét đánh thình thình rung chuyển liên tục một hồi ở 10 xứ, làm gãy cột cờ trong kinh thành, đánh cả vào cung Thiên An và cung Thái Thanh cùng với tượng Thiên Tôn, tất cả đều bị phá gãy. Nhân dân mắc bệnh tật rất khổ sở. Vua mới sai quan Đình Nguyên làm lễ cầu đảo tế bách thần ở các đền miếu.

Một hôm sứ quan đi đến xã La Phù làm lễ tế ở đền Thánh mẫu và Đệ Tam thủy quan. Sứ quan nằm ở trong đền. Đến đêm hôm đó đang ngủ bỗng thấy xe giá voi ngựa binh sĩ của một vị phu nhân cùng với ba ông đường đường đi vào. Thánh mẫu ngồi ở chính đường, hai bên trái phải là ba ông. Các binh mã nghiêm chỉnh đứng chầu thành hai hàng. Sứ quan mới đến chỗ bên phải ở dưới. Lại thấy một người áo mũ chỉnh tề, quỳ trước điện, cầm một bài thơ đọc:

Trời răn vậy, Trời răn thay!

Nhà Trần mê muội tới linh đài

Núi lở đất rơi, cần biết việc

Giặc Nguyên Mông Cổ khởi binh rồi.

Ngâm xong thì sứ quan tỉnh lai, biết là mộng lạ. Bèn làm lễ bái lạy, trở về tâu lên Vua biết. Ngày hôm đó, sứ giả Mông Cổ đến. Vua thầm nhớ đến giấc mộng thần đã báo, bèn xuống chiếu cho các tả hữu tướng quân dẫn quân thủy bộ đến đóng ở biên giới để tính việc chống giặc. Thế rồi tháng Hai, Mông Cổ khởi binh đến xâm chiếm nước ta. Vua tự thân ngự đến đại hội tướng sĩ ở sông Lô. Đại quân của giặc Nguyên Mông Cổ tiến đến sông Thao. Vua bèn lệnh cho Quốc Tuấn là Đô Tĩnh Tiết Chế, dẫn quân đóng ở sông Đà. Trần Quốc Tuấn Đô Tĩnh Tiết Chế tiến quân đến nơi đền (tức La Phù), mật cầu:

– Xin thần phù hộ nhà vua, âm phù dẹp giặc, bình định quân Nguyên. Sau này khi yên bình sẽ cùng hưởng phúc thái bình. Ngày thắng trận trở về sẽ dâng biểu lên vua, tất có phong thêm mỹ tự, vạn năm phụng thờ hương lửa, muôn năm bền vững như trời đất vậy.

Chúc xong, ngày hôm đó bèn phân binh thủy bộ cùng tiến, hội với quân đội của Vua. Khi ấy Vua cùng với Thái tử và các tướng cùng nhau cưỡi thuyền đi theo đường thủy. Lúc đó, mưa gió mù mịt, sấm nổ đùng đùng. Thuyền lướt ào ào, đến thẳng Đông Bộ Đầu. Mưa gió vù vù, nghiêng ngả trời đất, tối tăm mắt mũi. Quân của Vua đại chiến. Quân Mông Cổ bạt vía kinh hồn thua chạy. Đến trại Quy Hóa, tướng Hà Bổng dẫn quân Man lại đến đánh quân Nguyên, cũng thắng lớn, đuổi về nước Bắc. Từ ấy quân Nguyên không dám đến xâm chiếm nước ta. Thiên hạ thái bình, quốc gia vô sự. Đô Tĩnh Tiết Chế dâng biểu tấu với Vua, kể lại sự việc, khao thưởng quân sĩ. Lại truy phong cho bách thần đã âm phù giúp nước, vạn năm cùng với quốc gia vui hưởng. Tốt thay!

Phong Động Đình Tang Ma Thánh mẫu Uy linh Thần nữ Phu nhân;

Phong Đệ Nhất Long vương Xung Đổ Hiển Định Linh ứng Đại vương;

Phong Đệ Nhất Thái trưởng Long Nương Thần nữ;

Phong Đệ Nhị Long Hồng Xuyên Long thái Hiển ứng Đại vương

Nhất phong Đệ Nhị Ngọc Tinh Công chủ;

Phong Đệ Tam Đê Uyên Đại Xuyên Trung minh Hiển ứng Thuỷ đế Long quân Đại vương;

Các nơi La Phù, Báo Triệu, Tang Ma, Bảo Khang, Hội Giữ, An Tập, Bồng Lãng đều là nơi đóng quản chính, cùng là dân hộ nhi phụng thờ. Còn như các vùng đất sông ngòi, các châu, trang, động, sách, nhân dân các xứ ghềnh, bãi, bờ sông, các vùng đất gần đó, cùng lập hành cung để phụng thờ, đều xếp là những di tích sau, không đưa vào chính bản.

Phù điêu múa cây bông ở La Phù

Các kỳ sinh hóa, ngày chính lệ mâm bàn cùng với các tên húy cấm của các vị đại vương được khai chép như sau.

Ngày sinh Thánh mẫu là ngày mồng 2, mồng 3 tháng 1 (cỗ chay 3 mâm, cỗ trâu, lợn, rượu ngọt, lắc hoa, ca hát mở ngày);

Thánh mẫu hóa ngày 8 tháng 12 (cỗ chay ba mâm, cỗ trâu, lợn, các vật);

Ngày sinh năm vị thủy quân là ngày 12 tháng 4 (cỗ chay 3 mâ, cỗ trâu, lợn, rượu ngọt, ca hát, đấu vật, bơi thuyền trong ngày chính lệ);

Năm vị phân trị mà hóa là ngày 15 tháng 5 (lợn đen, cỗ chay 3 mâm, rượu ngọt các vật);

Lễ khánh hạ là ngày 14 tháng 4;

Ngày thưởng xuân khánh hạ là ngày 12 tháng Giêng (cỗ chay 3 mâm, lợn đen, trứng gà 5 quả, múa hoa, rượu ngọt);

Ngày mở sắc khánh hạ là ngày 14 tháng 6 (gà, lợn, rượu ngọt một bàn, ca hát một đêm);

Ngày chính khánh hạ là ngày 10 tháng 9 (cỗ lợn, bàn chay, rượu ngọt, bánh dày, hát một đêm);

Chính ngày khánh hạ mừng Đệ Tam Công là ngày 16 tháng 4 (lợn đen, gà, xôi, mâm chay, rượu ngọt);

Vào ngày sinh hóa của thánh mẫu và ngày sinh của năm vị thủy quân, quét dọn đường từ chỗ lăng đến miếu bên ghềnh bến sông. Tế lễ ở đó như trong chính miếu. Các xã Tang Ma, Bảo Khang cùng xã La Phù đến miếu để giúp việc tế. Còn các ngày lệ khác xã La Phù tế riêng tại đình (vào ngày tế các anh em cùng giúp mâm cúng);

Ngày 12 tháng 4 là ngày chính lệ Thánh mẫu hiển thần cùng với các ngày lập đền khánh hạ của các thủy quan (riêng trang Tang Ma dùng cỗ lợn, rượu ngọt, 3 mâm chay, ca hát một đêm);

Ngày 12 tháng 4 là ngày mở đền khánh hạ của Đệ Nhị Công thủy quan (chính lệ xã Bảo Khang làm cỗ trâu, rượu ngọt, lợn đen, cỗ chay, ca hát, chèo thuyền hai ngày, cùng dâng các anh em và Thánh mẫu thêm mâm cúng. Trong 2 lần cỗ này 2 xã quét dọn đường từ lăng Thánh mẫu ở bên bãi sông cho đến chỗ miếu tế. Đem trầu đến chỗ lăng Thánh mẫu nghênh đón về chỗ cùng tế cúng với các con);

Ngày chính lệ mở sắc khánh hạ là ngày 4 tháng Giêng (Tang Ma, Bảo Khang cùng ngày dùng cỗ trâu, rượu ngọt, mâm chay, ca hát một ngày. Riêng hai xã này cùng ngày làm lễ);

Ngày chính lệ khánh hạ hiển thần của Đệ Nhất Công là ngày 12 tháng 4 (cỗ trâu, lợn, rượt ngọt, cỗ chay 3 mâm, ca hát);

Ngày chính hiển thần của Thứ Nương Công chúa là ngày 15 tháng 4 (cỗ lợn, mâm chay, ca hát);

Ngày chính hiển thần của Trưởng Nương Công chúa là ngày 10 tháng 5 (cỗ lợn, rượu ngọt, cỗ chay 3 mâm, ca hát một đêm);

Ngày chính khánh hạ ngày 12 tháng 2 (cỗ lợn, rượu ngọt, cỗ chay 3 mâm, ca hát 1 đêm);

Ngày chính khánh hạ ngày 2 tháng 3 (lợn đen, rượu ngọt, mâm chay);

Ngày khánh hạ 12 tháng 9 (cỗ lợn, mâm chay, rượu ngọt, bánh chưng, ca hát);

Ngày khánh hạ 15 tháng 11 (lợn đen, rượu ngọt, mâm chay);

Vào các ngày khánh hạ các xã đều cùng làm lễ như vậy.

Phù điêu rước kiệu phượng ở đình La Phù

Các chữ húy là Cù, Côn, Hồng, Trì, Long, Ngọc, Ba, Lâm, cùng cấm. Các sắc phục màu vàng trắng đều cấm.

Vạn năm sông núi, bất tử mãi còn. Trời đất nhân gian, người vật bốn cõi, đều đến cùng hưởng càn khôn thượng thế như vậy. 

Niên hiệu Hồng Phúc năm thứ 3 ngày 10 tháng 3, Hàn Lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính vâng soạn.

Niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 40 ngày tốt tháng 8, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, lại theo đúng như bản cũ vâng chép.

Đọc giải những chiếc gương đồng cổ

Gương đồng xuất hiện trong văn hóa Trung Hoa từ khá sớm, bắt đầu gặp nhiều từ thời Chiến Quốc. Tới thời Hán gương đồng rất thịnh hành với nhiều hoa văn, họa tiết và minh văn. Nghệ thuật chế tác gương đồng thịnh nhất vào thời nhà Đường, với những chiếc gương rất đẹp, nhiều chủ đề khác nhau. Trong đó dạng gương “la bàn”, dùng trong thuật phong thủy (đúng hơn là trong Dịch lý) là những hiện vật giúp khám phá quan niệm triết học (Dịch học) của người xưa. Bài viết này dựa trên phân tích các hoa văn và hình vẽ trên mặt một số chiếc gương đồng cổ tiêu biểu qua các thời kỳ và liên hệ với Dịch học người Việt, xin đưa ra một số nhận định mới về ý nghĩa của những chiếc gương đồng.

Những gương la bàn ở thời kỳ muộn hơn thì sẽ dễ đọc giải hơn các gương cổ. Một dạng gương phong thủy khá tiêu biểu của thời nhà Đường (thế kỷ 7-9) là chiếc gương có hình vuông sau. Một chiếc gương như vậy cũng từng được tìm thấy trong di chỉ khảo cổ ở Duy Xuyên, Quảng Nam. 

Chính giữa gương có núm nổi với lỗ xuyên để treo gương. Xung quanh núm là hình Tứ linh: Thanh long, Bạch hổ, Chu tước, Huyền vũ. Lớp tiếp theo là đồ hình Hậu thiên Bát quái. Khung vuông bên ngoài là 12 địa chi.

Gương vuông thời Đường

Vì Tứ linh cũng có ý nghĩa tương thông với Ngũ hành và Ngũ sắc nên phần trung tâm của gương như vậy là thể hiện Thái cực đồ (gồm Tứ tượng), là phần nhân, phần cốt lõi của vũ trụ. Hình Bát quái là bầu trời tròn. 12 con giáp là mặt đất vuông. Trời tròn trên Đất vuông. Tổng hợp những điều trên có thể đọc được chiếc gương này như trong hình sau.

Giải đọc gương vuông thời Đường

Từ cách đọc của gương vuông thời Đường, ta xem xét loại gương cổ hơn của thời đầu Công nguyên. Những chiếc gương đồng thời Tây Hán và đặc biệt là vào thời nhà Tân của Vương Mãng (năm 45 TCN – 23 SCN) thường được gọi là loại gương TLV do đặc điểm có hình gấp khúc như các chữ T – L – V ở các hướng trên mặt gương. Ý nghĩa của các hình này tới nay có nhiều giải thích khác nhau. Sau đây xin đưa ra một cách giải thích mới cho những hình tượng này.

Gương TLV thời nhà Tân

Nhìn loại gương TLV này ta thấy rõ nhất là phần hình vuông có 12 chấm và có chữ ghi 12 Địa chi: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Rõ ràng đây là thể hiện nghĩa “Đất vuông” bằng các địa chi tương tự như trên gương vuông thời Đường. Mặt đất được chia làm 12 phần, gọi tên bằng các chi. Mỗi chi trên gương do đó ứng với một khoảng của hình vuông, chứ không phải ứng với các chấm nổi.

Bên ngoài hình vuông là hình tròn của gương. Nếu hình vuông bên trong đã là “Đất vuông” thì hiển nhiên vòng tròn bên ngoài phải là “Trời tròn”, úp lên trên mặt đất. Trời ở đây được thể hiện bằng 8 chấm nổi. Điểm chú ý nữa là ứng với mỗi chấm nổi có vẽ hình một con linh thú. Nếu 12 địa chi đã dùng để thể hiện mặt đất thì dễ dàng suy ra 8 quẻ của Bát quái sẽ dùng để biểu thị bầu trời. Tương tự như trường hợp dùng Bát quái trên gương vuông ở trên. Đặc biệt ở gương đồng thời này là người ta không dùng vạch quẻ để thể hiện Bát quái mà dùng các chấm nổi và linh thú tương ứng. Bát quái được sử dụng vào thời gian sớm trước Công nguyên thì khả năng lớn là Bát quái tiên khởi hay Tiên thiên Bát quái.

Sau khi đã xác định được trời tròn đất vuông ở bên ngoài thì ta để ý phần ở trung tâm. Ở giữa gương có một chấm nổi lớn, là núm để treo gương. Xung quanh có các cánh như hình mũi tên chỉ vào 4 góc. Đọc theo ngôn ngữ Dịch học thì đây là biểu tượng của Ngũ hành: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Cách thể hiện này cũng tương ứng với cách thể hiện bằng Tứ linh trong gương vuông. Hành Kim được đặt vào chính giữa vì hành này có màu biểu trưng là màu vàng, tiếng Hán gọi là Kim. Kim cũng nghĩa là nay, bây giờ, tức là thời điểm hiện tại, chính giữa tương lai và quá khứ. Ngũ hành nằm ở trung tâm Trời và Đất, thể hiện phần cốt lõi, “nguyên thần” của vũ trụ.

Vấn đề ý nghĩa 3 hình TLV trên cơ sở đó có thể suy đoán như sau. 4 chữ V ở 4 góc, tương ứng với nơi hình vuông và hình tròn giao nhau, tức là nơi gặp nhau giữa Trời và Đất. Có thể coi đây là tiêu điểm của 4 phương Đông, Tây, Nam, Bắc, cũng tương ứng với 4 phương theo mũi tên chỉ của hình Ngũ hành ở bên trong trung tâm.

Các chữ T và L xếp thành cặp đối mặt có cạnh dài vào nhau và sắp xếp ở 4 phía của hình vuông. Như vậy đây không phải để chỉ phương hương, vì phương hướng thì cần chính xác ở một điểm. Cặp T – L này thể hiện một quá trình kéo dài, phải là chỉ thời gian. Như vậy 4 cặp T – L trên gương phù hợp nhất là chỉ Tứ thời: Xuân, Hạ, Thu, Đông.

Phối hợp tất cả những phân tích trên, nay có thể đọc hoa văn trên gương đồng thời Vương Mãng như trong hình sau.

Giải đọc gương TLV

Những chiếc gương đồng cổ đã gói gọn cả Trời tròn Đất vuông qua những hoa văn họa tiết của nó. Gương không chỉ là để soi hình ngắm cảnh, mà là để “soi xét” việc trong nhân gian. Bộ đồ hình trên gương là những tiêu chuẩn về thế giới quan, nhân sinh quan của người xưa, để qua đó mà quán chiếu việc đời.

TRIỆU ĐÀ, NHỮNG ĐIỀU CÒN ÍT BIẾT

1. Triệu Đà có quê gốc ở đất Phong Châu – Mê Linh, tức là vùng đất gốc tổ của các vua Hùng. Cổ Lôi ngọc phả cũng ghi nhận như vậy. Triệu Đà là dòng “Lạc Hùng chính thống” hay “Nam Thiên chính thống thủy”, không hề có chuyện ông là người Tàu.

Tượng Triệu Vũ Đế ở Châu Sơn

2. Dưới thời Tần, Triệu Đà làm một đình trưởng nhỏ ở Chân Định, nay là đất Thái Bình – Nam Định. Tại đây ông lấy vợ là bà Nhữ Nương Trình Thị (đọc phiên thiết là Lữ – Trĩ). Ông được coi là người khai cơ lập nền cho vùng đất này nên có tên huyện Kiến Xương. Cũng vì là người ở Thái Bình nên ông còn có tên là Bái Công do Thái Bình đọc thiết là Bái. 

3. Trong một lần dẫn dân phu đi lao động về núi Lịch (sử đọc thành Triệu Đà dẫn những người ở rể… đi đánh chiếm…), do dân phu bỏ trốn nhiều nên Triệu Đà đã cùng nhân dân ẩn vào vùng rừng núi Châu Sơn nương náu chống Tần. Sách Hoài Nam Tử gọi Triệu Đà là “người tuấn kiệt” đã lãnh đạo người Việt kháng Tần. Trên núi Châu Sơn nay vẫn còn vật chứng là tượng con “dê đá” có niên đại cổ nhất Việt Nam từ thời Tần Hán, còn đang đứng “sau chùa Triệu Việt Vương”.

Con Phi liêm ở Châu Sơn

4. Tần Thủy Hoàng mất, chư hầu các nơi nổi dậy. Triệu Đà từ vùng núi Châu Sơn dẫn quân vào đánh chiếm Long Biên, quận trị của quận Long Xuyên lúc này. Khi dẫn quân đi qua sông Nhị Hà đã thấy rồng bay lên, nên gọi nơi đây là Thăng Long. Di tích nay còn là Long Hưng điện ở Văn Giang. Con Xích Xà Triệu Đà chém con Bạch Xà nhà Tần bắt đầu từ đây mà dựng nghiệp thiên thu.

Long Hưng điện ở Văn Giang, Hưng Yên

5. Triệu Đà chiếm 3 quận Quế Lâm, Tượng và Nam Hải, tiến quân vào kinh đô nhà Tần, lập nên cơ đồ một triều đại mới của Viêm Việt. Do đó ông được gọi là … Triệu Cao… Tổ. Lập quốc rồi, ông cho các nơi đã từng đóng quân trước đây dựng làm hành cung, sau thành nơi thờ tự. Một trong những hành cung Triệu Đà là khu vực Tri Hối Thần Thiệu ở Gia Viễn Ninh Bình, nay vẫn còn các làng thờ ông.

Đình Thần Thiệu ở Gia Viễn, Ninh Bình

Câu đối về Long Hưng Triệu Vũ Đế ở Hưng Yên:

Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch nghĩa:

Một lệnh sạch không Tần, vạn dặm mở đầu khắp Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, muôn năm dựng nền vững đế vương.