Sự tích thờ phụng Đế Thích

Tích xưa phụng sự

Xã Cầu Bảo huyện Văn Giang phụng sự

Thiên Đế ngự ba ngàn thế giới, là Đại Phạm Thiên vương, Thiên chủ Trung tôn cai quản lục dục. Đế Thích là uy cảm của Linh Hữu Bột Hải Hoàng hậu, vua nước Thiền Tiên. Sự tích này của Ngọc bê hạ xưa có văn bia, tới nay mưa vùi gió dập, không còn dấu vết để xem xét. Kể rằng ở địa phận xã Ngu, lộ Quán Triền, trong một ngôi nhà cỏ có một bà lão bán tương. Bỗng một ngày thấy một vị trượng phu từ trên không hạ xuống, dung mạo đường đường, phi phàm. Người đó đi đến và ngồi tọa định. Rồi thấy một phụ nữ kiều diễm mặc áo trắng tươi tắn vượt lại. Chưa kịp trả lời thì thấy bên bờ Tây của sông có nhiều người dân xã Ngu cúi lạy. Đế nói: Ta là vua Đế Thích của 33 cõi trời xuống diệt trừ Càn Xát Bà Vương và 15 loại quỷ trừ hại cho dân. Nói xong thì bay lên không mà về. Nhân dân lập đền tại chỗ đó để thờ phụng, hàng năm có tế lễ. Sau này gặp khi cần chống hạn thì cầu thánh giá về nơi Quán Triền thì được ứng nghiệm, cầu mưa được mưa, nhân dân thường đến cầu đảo nhiều. Triều trước từ khi vua mới lên ngôi các vị bách thần được khai hiệu bởi quan lễ. Quan lễ bàn rằng Thiên Đế vô cùng cao quý, không dám phong tặng nên không có văn sắc.

IMG_4912
Thiên Đế điện ở Cầu Váu, Văn Giang, Hưng Yên.

Xã La Bật huyện Thiên Thi phụng thờ Thánh đế Đế Thích

Theo như lời truyền lại, xưa có một cái cây có ba nhánh khi trôi đến địa phận của bản xã thì có thánh hiển hiện nói rằng đó là Đế Thích giáng hạ. Người trong ấp nhân đó mới lấy cây gỗ để khắc tượng lập quán mà thờ, rất linh ứng. Xã Liễu Cầu ở cạnh đó có hai chị em cho gặp loạn mà sang nước Ai Lao, đã ngầm khấn đươc bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi được như bay. Khi quay về đến quê vào quán bái tạ thì bỗng chốc hình hài biến mất, chỉ còn lưu lại chỏm tóm trên đầu. Sau Đế Thích lại có biến thân thành một lão ông đến xã Liêu Hạ huyên Đường Hào cùng với Trương Ba đấu cờ. Sau đó Trương Ba mắc bệnh mà chết. Vợ Trương Ba lấy hương thắp khấn, lại thấy Đế Thích xuất hiện, thu hồn phách của Trương Ba nhập vào thân xác người đồ tể. Trương Ba được phục sinh gặp lại vợ. Nay ở đền Liêu Hạ từ ở chính giữa có lập tượng, bên trái đặt tượng Trương Ba, phía trước đặt một bàn cờ lớn. Sự tích được kể trong sách Lĩnh Nam trích quái. Từ đó về sau ở địa phương nếu gặp hạn muốn chống thì đón tượng để cầu đảo, đều có mưa ngay. Có nhiều công đức đối với nhân dân. Nhưng sắc phong cho tới nay nhất thiết đều không.

IMG_5807
Bức chạm cõi Thiên ở đền Xá, Ân Thi, Hưng Yên.

Xã Liêu Hạ huyện Đường Hào vâng sao sự tích

Miếu vua Đế Thích xưa từ triều Lý năm Long Thụy thứ tư giáng hạ ở xã Liêu Hạ, tại thôn Thượng ở phương Càn, thử tài cờ cùng với người bản xã tên là Trương Ba. Trương Ba biết là tiên ông trên trời xuống thành người phàm trần nên chắp tay bái tạ. Đến khi Trương Ba mất, đã giáng xuống cải tử hoàn hồn cho kéo dài thêm hơn 800 năm. Nhân dân lập miếu thờ phụng. Thái tể Vinh quận công triều Lê đã cho chép việc này thành sách.

Năm Canh Ngọ tháng Giêng ngày lành.

IMG_0397
Đền thờ Đế Thích ở Liêu Hạ, Yên Mỹ, Hưng Yên.

奉事舊跡

文江縣求保社奉事

天帝御三千界内大𣑽天王統六欲中尊天主帝釋威感靈祐渤海皇后禪僊國王玉陛下其事跡古有碑文至今雨打苔封無痕可攷傳聞愚社地分舘㕓路旁草舍古有老婦沽漿忽於日見一丈夫從空而下容貌堂堂非凢人比入來憇息坐定曰見嫗嬌婦女身著白服皂檽過否答曰未也言江之西岸那時愚社先民羅拜帝曰我是三十三天帝釋王也爲汝下民滅除乾𩴳婆王十五類鬼以祛民害言罷騰空而去因立祠于伊處以奉之歲時享用齋禮嗣後歲或亢旱奉迎聖駕于舘㕓處至誠祈之屡得澍雨之應處人民多來祈禱前朝嗣王新政豋秩百神間有承開𥈠號在禮畨官禮畨官議以天帝至尊不敢封贈無有勅文

天施縣羅払社奉祀帝釋聖帝

由舊傳言一木三枝流至本社地分顯聖言言帝釋降下邑人因取此木刻像立觀而祀之稔著靈應旁接柳梂社有妤妹二娘遭亂入哀牢國宻懇保護忽然行步如飛囬至本觀拜謝形骸一時變了只留頭髮在焉再有變身為老人就唐豪縣遼下社與張巴闘碁後巴以病終其妻取香焚懇俄見前來收巴𩲉魄入屠人就屍巴遂更生復與其妻作合今遼下祠正中塑像左立張巴前置一大碁局事跡具在嶺南摘怪籙嗣後本地方或遇亢旱迎像祈擣輙獲澍雨多有功德及民其敕封從來一切並無

唐豪縣遼下社承抄事跡

帝釋王廟昔自李朝龍瑞四年天帝降下遼下社上村之乾方試碁與本社人名張巴張巴知其天上僊翁下是凢人因拱手拜謝及張巴卒後降臨改死還魂許延八百餘年立廟宇奉事黎朝太宰榮郡公有為之語記以録其事
歲在庚午年正月吉日

Bản sự tích được chép trên giấy sắc, lưu tại điện Thiên Đế ở thôn Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Chiêm quan chữ nghĩa Đền Hùng

Hàng trăm con chữ rờ rỡ uẩn súc, bao ngữ nghĩa lấp lánh tâm thức Việt trên những hoành phi câu đối giăng từ Đền Hạ Đền Trung Đền Thượng Đền Giếng… trong khu Di tích Đền Hùng. Chữ mới nhất cũng tròm trèm gần thế kỷ. Bao bận được kính cẩn quan chiêm như thế mà vẫn thấy khó dứt mắt…

Cao Son Canh HanhNgôi Đền thiêng kết cấu hình chữ Vương tọa lạc trên Nghĩa Lĩnh ở độ cao vừa phải 175 mét gồm các quần thể Đền Hạ, Trung, Thượng đã được bao năm rồi nhỉ? Thời vua Đinh Tiên Hoàng thế kỷ thứ X cho viết thần tích Đền Hùng nhưng nơi thờ tự vua Hùng đã có từ lẩu lâu.
Và thời gian nào Hùng Vương Cơ Miếu (miếu thờ cơ nghiệp Vua Hùng) từ làng Trẹo (đọc chệch từ Triệu) ở chân núi Hy Cương được ai, triều nào dời sang bên Nghĩa Lĩnh?
Tôi nghĩ đến cái lần giặc Minh hung bạo triệt phá Đại Việt trong đó có việc làm cỏ Đền Hùng. Thần tích rõ là bị hủy. Nhưng còn bao câu đối hoành phi? Chắc cũng cùng chung số phận?
May mà thời Lê Trịnh, Đền lại được phục dựng, lại nguy nga! Nhưng xôm tụ bàn thờ Quốc Tổ được như bây giờ phải tính đến công sức của dân 18 tỉnh thành miền Bắc đâu như năm 1917 hay 1918 chi đó, đã có một cuộc lạc quyên lớn góp được hơn 6.000 đồng bạc Đông Dương để sửa sang tu bổ Đền Hùng.

Uẩn súc ngữ nghĩa
Khá khen cho cái lần trùng tu năm 1917 quy mô ấy. Việc đầu tiên phải tính đến cái cổng chính Đền Hùng? Xây mới hay trùng tu? Đau cái nỗi, cận gần là thế mà chưa tìm ra những biên chép cụ thể. Nhưng có lẽ từ thời điểm đó, con dân nước Việt hành hương, mới đến cổng thôi, chưa nhịp bước leo những Hạ, Trung, Thượng mà có cảm giác như đương chạm mặt trước Bàn thờ Quốc Tổ?
Ngước lên sừng sững bức hoành là 4 chữ trên nóc cổng Cao sơn cảnh hành (Núi cao, ngẩng trông. Đường rộng ta bước). Vế đối hai bên như lời diễn giải ý nghĩa của bức đại tự:
Thác thủy khai cơ, tứ cố sơn hà qui bản tịch
Đăng cao viễn vọng quần phong la liệt tự nhi tô
n
(Mở lối đắp nền, bốn phía non sông qui một mối
Lên cao nhìn rộng, núi non trùng điệp tựa đàn con
)
Khéo là thứ đại tự ấy. Núi cao ta ngẩng đầu trông/ Đường rộng ta bước đất thiêng Đền Hùng. Có người đã mạo muội diễn nôm 4 chữ ấy. Mạo muội bởi 4 chữ này lấy từ Kinh Thi. Cao sơn ngưỡng chi, cảnh hành hành chi. Duyên do ông Nhan Hồi học trò Khổng Tử, ca ngợi đạo của Thày mình:
Ngưỡng chi di cao, toàn chi di kiên, chiêm di tại tiền, hốt yên tại hậu
(Càng ngẩng trông, càng thấy cao, đục đẽo vào càng thấy cứng, vừa thấy đằng trước, thoắt đã đằng sau).
Thôi thì những cao thâm này khác của tích Tàu, nếu tán ra thì còn dài. Nhưng lần sửa sang xây cất ấy, những hiệp thợ Việt tuân người mách bảo, chỉ chăm chút có 4 chữ mà thôi. Cao sơn cảnh hành. Ngẩng trông lên là ân đức của Vua Hùng. Dưới chân là đường rộng như cơ đồ cơ nghiệp vua Hùng đã mở mang cho tộc Việt!
Nhớ bận ấy lên Đền, tình cờ đụng được một vị áo chùng, khăn đóng, giọng hào sảng đương cắt nghĩa cho các người cùng đi ngữ nghĩa uyên thâm của đôi câu đối mà nhằm vào hai chữ “thác thủy” khởi đầu vế đối. “Thác” nghĩa là nâng lên, là tạo dựng. Rõ rồi. Còn “thủy” có bộ “nữ ” bên trái và chữ “thai” bên phải tượng trưng cho phụ nữ nghĩa là sinh nở.
Như vậy, thác – sức lực tạo dựng nên hiểu đó là Cha. Thủy – sinh nở, tức là Mẹ! “Thác thủy” là lấy tích Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ sinh trăm con tỏa khắp nơi nhưng đều quy về một mối tức gốc tổ!
Lại cũng khá khen cho tác giả câu đối! Dùng chữ nghĩa sao đó khiến hậu thế nổi… hứng có thể sáng tạo ra những ngữ nghĩa không ngờ? Đã đành Thủy do hai chữ “nữ” và “thai” hợp thành. Nhưng oái oăm, Thai ở đây không phải là… thai sản.
Thủy càng chả phải là sinh nở mà vẫn ngữ nghĩa của nó là mới. Thác thủy khai cơ là dựng nền mở lối mới vậy! Nhưng vị nọ với tâm thế luôn đăm đắm hướng về nguồn cội, cắt nghĩa như thế cho đám con Lạc cháu Hồng nghe, áng chừng thú vị và cũng lọt tai đấy chứ nhỉ?
Cũng như bức hoành Triệu Tổ Nam Bang hoặc Nam Việt Triệu Tổ (thứ khắc thứ đắp) người thuyết minh hướng dẫn đã dõng dạc như trong vài ba cuốn sách hẳn hoi là Tổ muôn đời của nước Nam.
Nghe có vẻ thuận và lọt tai? Nhưng chuẩn vẫn phải gọi đúng cái tên là Tổ đầu tiên của nước Nam! Bởi chữ Triệu được khắc được đắp có một nghĩa duy nhất là bắt đầu là ngay mới. Triệu ở đây không phải là số đếm để mà muôn hay vạn chi cả!

Về một chữ lạChữ trên mặt tiền, Hùng Vương Cơ Miếu.

Lần ấy ghé Hùng Vương Cơ Miếu, tôi chợt thấy một chữ lạ trong đôi câu đối.
Thiên thư định phận, chính thống triệu minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành túy miếu, tam giang khâm đới thượng triều tôn
(Sách trời đã định, chính thống dựng kinh đô Bách Việt non sông có Tổ
Núi sáng khí thiêng, cố cung thành miếu mạo, ba sông quanh quất hướng chầu vua
).
Ba sông ở đây là sông Lô, sông Thao, sông Đà.
Chữ lạ ấy là chữ Bách!
Đã đành chữ, ngữ nghĩa của câu đối uẩn súc, thâm hậu. Tác giả đã hào sảng cái mạch chủ quyền độc lập quốc gia bất khả xâm phạm trong bài thơ Thần của Lý Thường Kiệt khi rinh hẳn tổ hợp từ định phận thiên thư về cho một vế đối ở bàn thờ Quốc Tổ. Nhưng trong câu đối, chữ Bách viết khá lạ. Cứ băn khoăn mãi cái nỗi, không hiểu sao tác giả câu đối lẫn người thợ khắc chữ lại không dùng chữ Bách mà người thạo tiếng Hán ai cũng rành?
Chữ bách ở đây được viết, có thể nói là cường điệu và ở dạng tháu. Tháu đây không có nghĩa là lối viết thảo, giản lược. Mà chữ bách nom từa tựa như chiếc rìu Việt cổ. Hình rìu Việt lại có đầu rìu cuộn lại hình sóng nước, hình rắn và có đầu rắn. Kiểu viết như thế này khiến ta liên tưởng ngay tới Bách Việt. Chao ôi, nội đôi câu đối này thôi, và cũng nội một kiểu viết chữ Bách rờ rỡ nghiêm ngắn đĩnh đạc trên bàn thờ Quốc Tổ kia đã toát lên âm hưởng hùng khí chủ quyền quốc gia bao đời của giống nòi Lạc Việt.
Hình như chữ Bách này khi chuyển câu đối từ Hùng Vương Cơ Miếu sang Đền Thượng ở Nghĩa Lĩnh đã được kíp thợ khắc bằng chữ bách thường thấy, thường viết?
(Một dịp thích hợp, chúng tôi sẽ trở lại chữ Bách này trong một bài viết về hòn đá lạ – thực chất là một đạo bùa đang đặt ở Đền Thượng từng xôn xao cư dân mạng lâu nay. Đó là chữ Bách trong hàng chữ Bách Giải Tiêu Tai Phù – bùa giải tai ách – viết trên một mặt hòn đá)
Một dạo người viết bài này lấy làm tâm đắc ngữ nghĩa đôi câu đối tại Đền Thượng do chính nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Xương, người trai trưởng thi sĩ Tản Đà trực tiếp cắt nghĩa. Câu ấy là:
Thử địa thử sơn, Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô thổ, Bắc thần tôn
(Đất này núi này nước Nam dấy nghiệp
Vua ta nước ta khiến phương Bắc cũng phải nể
).
Lần ấy trong buổi trà dư tửu hậu với mấy ông thạo chữ ở Hà Thành, mạo muội hé ra cái điều sở đắc ấy, một ông cười đại ý, cụ Nguyễn Khắc Xương nghĩ thế cũng là được! Nhưng cái sự thể nó không hẳn thế…
Không hẳn là thế nghĩa là cứ chăm chắm nghĩa của Bắc thần tôn thì dễ lạc sang nghĩa khác. Bắc thần tôn thường hiểu và dịch là phương Bắc, Bắc quốc. Bởi phải hiểu và dịch như thế thì mới đối được với vế bên là Nam quốc. Phải quá đi rồi!
Hơn nữa, chữ Thần ở đây (khác chữ thần trong thánh thần buổi sớm, thần chỉ các quan…) gồm bộ Miên, dưới là chữ Thìn. Thần cư là nơi vua ở. Thần chương là văn chương của vua. Chữ Tôn ở đây là tôn trọng nể vì!
Nhưng Bắc thần tôn ở đây phải lấy Luận Ngữ ra mà giải. Đó là câu trong chương Vi Chính. Có câu “Tử viết: Vi chính dĩ đức. Thí như Bắc thần cư kỳ sở nhi chúng tinh củng chi
(Khổng Tử nói rằng, người làm chính trị, cầm quyền trị dân mà dùng Đức để thi hành chính sự thì dân chúng đều tuân phục tựa như ngôi sao Bắc thần, ở một chỗ mà mọi vì sao khác đều phải tuân chầu!)
Vậy đôi câu đối nên hiểu:
Đất này núi này đã được ghi chép là của nước Nam
Vua ta trị vì bằng Đức nên dân ta tôn kính như muôn sao hướng về Bắc Đẩu
.

Hiếm hoi tác giả

Chữ Hùng Vương Tổ Miếu ở Đền Trung. Ảnh: Xuân Ba.

Bao bận ghé Đền mà vẫn cứ bẵng đi cái việc hỏi ông thủ từ Nguyễn Xuân Các, Trưởng Ban Khu Di tích Đền Hùng, sơ bộ thống kê thì Khu Di tích Đền Hùng có bao nhiêu hoành phi câu đối, bao nhiêu là Hán? là Nôm? Là quốc ngữ? Lại nữa, tác giả những bức hoành phi câu đối ấy là ai vậy?
Quả là một điều khiếm khuyết lẫn tiếc xót, như nét mặt rầu rĩ của ông thủ từ khi ắng lặng đi một hồi rồi mới khẽ khàng rằng, đến tận bây giờ, mặc dầu đã hết sức cố gắng bươn bả này khác nhưng nhà Đền vẫn chưa biết tác giả những chữ nghĩa ấy là ai? Được viết và dâng cúng vào Đền Hùng thời gian nào?
Khiếm khuyết ấy ở thời nào vậy? Cứ lẩn thẩn, khi chế tác, các hiệp thợ tiếc chi một dòng lạc khoản (tác giả, triều nào ngày lành trọng đông hay trọng xuân hoặc sơ hạ) thì hậu thế tường ngay! Hoặc giả có một cuốn giấy bổi hay xuyến chỉ chép lại tường tận rồi giao cho thủ từ.
Hay là có những cuốn ấy nhưng qua bao tao loạn biến cố, nó mất đi rồi? Than ôi, bây chừ hậu sinh con cháu về Giỗ Tổ đành ngậm ngùi cảm nhận ngữ nghĩa qua người thuyết minh hoặc các bảng biểu treo trên tường.
Không biết tác giả nhưng thầm đoán phải là những đấng văn chương, các bậc túc nho hay chữ hoặc cao sang hơn phải là chữ nghĩa của các đấng quân vương. Thêm nữa, việc tuyển chọn chữ nghĩa để dâng bàn thờ Quốc Tổ phải từng được tiến hành rất cẩn trọng thì mới chất lượng thế!
Nói vô danh, khuyết danh cả cũng chả phải! Có đấy. Nhưng hiếm hoi làm sao, nghển ngó mỏi cổ cũng chỉ được biết ở Hùng Vương Cơ Miếu có ba bức hoành. Một của vua Duy Tân (Nam quốc sơn hà), hai bức của vua Khải Định (Quyết sơ sinh dânDân sinh là điều tiên quyếtTử tôn bảo chi Con cháu nhớ giữ gìn).
Và cũng hiếm hoi ở Đền Trung có đôi câu đối của Chúa Trịnh Sâm:
Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục mệnh thi
(Hỏi lại việc xưa nên chép sử
Ngắm xem phong cảnh muốn đề thơ
).
Sở dĩ biết tác giả là Trịnh Sâm bởi hậu thế căn cứ vào Bản dập thủ cảo của Tĩnh vương Trịnh Sâm trên núi Hùng được treo ở Bảo tàng Viễn Đông Bác cổ trước 1945, và chụp đăng trên tạp chí BEFFO,1937.
Chúa có câu đối, vua cũng chả kém. Thơ của vua Lê Hiển Tông (bố vợ của Quang Trung) về Đền Hùng:
Mộ cũ ở lưng đồi
Đền thờ trên sườn núi
Muôn dân tới phụng thờ
Khói hương còn mãi mãi…
Nhưng thơ vua chỉ lưu trong sách, trên Đền không thấy ghi!
Cũng cần nói thêm, chính sử còn chép rõ giai đoạn vua Lê chúa Trịnh đã có sự quan tâm đặc biệt và vương triều này đã góp phần lớn xây dựng lại đền Hùng. Năm 1407 nhà Minh phá trụi thùi lụi Đền Hùng. Khi nước độc lập, triều Lê sơ chiêu dân lập lại làng.
Vua Lê Thánh Tông xây lại đền Trung, đền Hạ, như vậy hầu như hoàn thành xây dựng lại ba đền có từ thời Lý Trần, Tiếp đó xây lại đền Giếng. Năm 1600, thời vua Lê Kính Tông, chúa Trịnh Tùng sai quan thị độc Nguyễn Trọng sao lại tài liệu về đền Hùng. Năm 1727, chúa Trịnh Cương sai Hoàng Nghĩa Chử xây dựng ở Hy Cương tức đền Hùng. Cuối thế kỷ XVIII, vua Lê, chúa Trịnh đề thơ ca ngợi sự nghiệp vua Hùng và cảnh đẹp núi Hùng.
Và cũng hiếm hoi câu đối Nôm? Hiện tạc ở Lăng Vua Hùng:
Lăng tẩm tự năm nào, núi Tản sông Đà non nước vẫn quay về Đất Tổ
Văn minh đương buổi mới, con Hồng cháu Lạc giống nòi còn biết nhớ Mồ Ông.
Khá hay. Nghe nói của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu không biết có phải? Còn quốc ngữ, hình như hiếm hoi mỗi câu. Mà cũng phải trước năm 1945 bởi hồi ấy còn Xứ Bắc Kỳ, Trung và Nam Kỳ?
Con cháu ba kỳ thăm mộ tổ
Non sông muôn thuở rạng nòi Tiên.
Biên ra như thế không có nghĩa là khuyến khích việc cần khẩn trương cúng thêm chữ nghĩa Hán Nôm lẫn quốc ngữ lên bàn thờ Quốc Tổ! Hoàng phi lẫn câu đối Đền Hùng chừng như cũng đã rậm đã dày?
Thôi cứ để tiếp tục lẫn trường tồn cái mạch uẩn súc thoang thoáng như hiện trạng cho thuận mắt! Bởi cứ nghĩ đến những chữ nghĩa trên các hoành các câu đối chăng giăng khắc in một cách tùy tiện, sai be bét, lòe loẹt và ngây ngô ở không ít các đình chùa di tích đã thấy hai hãi!
Sao lại tài liệu về Đền Hùng! Gặp được dòng này trong sử cứ ngỡ như đang vớ được cuốn vở ghi danh tên các tác gia cúng tiến chữ nghĩa vào Đền Hùng mà thời Lê Trịnh từng làm!
Và không phải chỉ thời ấy làm việc đó? Xa hơn cũng như gần hơn? Dẫu thất tán nhưng người nhà Đền lẫn các nhà chức việc hình như chưa ráo riết và siêng năng thực thi cái việc chắp nối sưu tra từ ký ức trong dân gian lẫn việc nối mạng với giới nghiên cứu cùng các nhà bảo tàng trong ngoài nước?
Phập phồng một ngày đẹp giời, hậu thế hành hương Đền Hùng khi chiêm quan chữ nghĩa trên các hoành phi câu đối có được cảm khoái biết thêm được các tác giả cùng lý lịch trích ngang và hoàn cảnh ra đời của những chữ nghĩa ấy!

Đêm Mồng Mười tháng Ba năm Tỵ
Xuân Ba

Ngước lên sừng sững bức hoành là 4 chữ trên nóc cổng chính Đền Hùng “Cao sơn cảnh hành” (Núi cao, ngẩng trông. Đường rộng ta bước). “Cao sơn cảnh hành”. Ngẩng trông lên là ân đức của Vua Hùng. Dưới chân là đường rộng như cơ đồ cơ nghiệp vua Hùng đã mở mang cho tộc Việt!

Bài và ảnh theo báo giấy Tiền phong

NGÀY GIỖ TỔ THÁNG 3 LÀ NGÀY GIỖ AI?

Câu trả lời về nguồn gốc ngày Giỗ tổ Hùng Vương 10/3 sẽ rất đơn giản nếu… đọc cuốn Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả sưu khảo vừa mới ra mắt. Bởi vì trong Ngọc phả này có ghi chép cụ thể ngày sinh ngày hóa từng đời vua Hùng.
Hiện nay, căn cứ theo bia đá năm Bảo Đại thứ 15 lưu ở đền Hùng thì:
Trước đây, ngày Quốc tế lấy vào mùa thu làm định kỳ. Đến năm Khải Định thứ hai (dương lịch là năm 1917), Tuần phủ Phú Thọ là Lê Trung Ngọc có công văn xin bộ Lễ ấn định ngày mồng Mười tháng Ba hằng năm làm ngày Quốc tế, tức trước ngày giỗ tổ Hùng Vương đời thứ 18 một ngày. Còn ngày giỗ (11 tháng Ba) do dân sở tại làm lễ.
IMG_6039
Tấm bia Hùng Vương từ khảo năm Bảo Đại thứ 15 ở đền Hùng.
Trong một văn bia khác sớm hơn, vào năm Khải Định thứ 8 nói rõ hơn việc này, có khắc nguyên công văn trả lời của Bộ lễ cho tỉnh Phú Thọ về việc định ngày 10 tháng 3 làm quốc tế:
… xã Hy Cươnng, phủ Lâm Thao của quý hạt có lăng miếu phụng thờ Hùng Vương ở núi Hùng, trải các năm cả nước đến tế, thường lấy kỳ mùa thu, chọn vào ngày tốt làm lễ, chưa có việc định rõ ngày, mà tục lệ của dân xã đó lấy ngày 11 tháng 3, kết hợp với thờ thổ kỳ làm lễ riêng…
Từ nay về sau lấy ngày mồng 10 tháng 3, lĩnh tiền chi vào việc công, phụng mệnh kính tế trước một ngày so với ngày hội tế của bản hạt, khiến nhân sĩ mọi miền đến đây có nơi chiêm bái…
IMG_6029
 Hùng miếu điển lệ bi năm Khải Định thứ 8.
Theo đó thì ngày giỗ tháng 3 là ngày giỗ của Hùng Vương thứ 18. Tuy nhiên, đền Hùng vốn dĩ không thờ Hùng Vương thứ 18 mà thờ 3 vị vua Hùng đầu tiên. Trong đó vị đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn Cổ Việt Hùng Thị thập bát thế Thánh vương, bài vị giữa. Rất có thể, tuần phủ Phú Thọ đã nhầm ngày kỵ của Đột ngột Cao Sơn, vị thánh vương của 18 đời Hùng, với Hùng Vương thứ 18.
Tra cuốn Ngọc phả Hùng Vương Thánh tổ cho kết quả:
  • Hùng Duệ Vương, vị vua Hùng cuối cùng hóa ngày 5 tháng 5. Hoàn toàn không phải tháng 3.
  • Trong khi đó, Hùng Quốc Vương (Đột ngột Cao Sơn): cùng sinh với trăm vương năm Canh Ngọ. Sau trăm vương cùng hóa vào giờ Thìn ngày 12 tháng 3.
Hung Quoc Vuong
Trang Ngọc phả có ngày sinh và hóa của Hùng Quốc Vương cùng trăm trai.
Đây mới thực sự là nguồn gốc của ngày giỗ tháng Ba. Nhân dân ở Phú Thọ không phải lấy ngày cúng “thổ kỳ” làm ngày giỗ đền Hùng, mà “thổ kỳ” ở đây chính là vua Hùng. Họ làm tế lễ vào ngày 11 tháng 3, trước ngày hóa của Hùng Quốc Vương 1 ngày. Sau này, đến thời Khải Định, nhà nước phong kiến mới theo đó định ngày 10 tháng 3 làm quốc tế, trước ngày lễ của dân tạo lệ 1 ngày.
Hùng Quốc Vương, vị Thái tử (con trưởng) của Lạc Long Quân đã cùng sinh và cùng hóa với 99 người anh em khác. Ngày giỗ tháng 3 là ngày giỗ của vị vua Hùng đầu tiên trong 18 đời Hùng Vương, cũng là ngày giỗ của cả 100 người con trai sinh ra cùng bọc trứng, là thủy tổ của Bách Việt. Vì thế ngày này không chỉ là ngày giỗ của người Việt Nam, mà có thể lấy làm ngày giỗ của cả cộng đồng Bách Việt, vốn cùng một bọc đồng bào.

Thần tích Lão Tử ở làng Thổ Hà

Ha Bac
Theo ghi chép của Ty văn hóa Hà Bắc năm 1973 thì thần tích làng Thổ Hà ở Việt Yên được kể theo 2 truyện:
  1. Thành hoàng làng Thổ Hà tên húy là Lão Đam, tên chữ là Lý Bá Dươnng, vốn là người nhà trời. Thượng Hoàng sai Lão Đam đầu thai vaof bà lão Mậu Huyền Diệu Mông để giúp dân dẹp bọn Xích Quỷ. Vì đầu thai sớm quá nên Lão Đam phải ở trong bụng mẹ 81 năm, rồi ra đời dưới gốc cây mận. Lão Đam sau khi dẹp hết bọn Xích Quỷ thì hóa ở chùa Đoan Minh (chùa làng Thổ Hà) và được phong là Thái Thượng Lão Quân.
  2. Cuối đời Chu, Lão Tử đã đi xuống miền Nam du ngoạn. Khi Lão Tử tới tả ngạn sông Nguyệt Đức thấy một khu đất rông hơn 50 mẫu, ba mặt liền sông, sau có hồ sen thiên tạo rộng hơn 6 mẫu. Lúc này đang mùa sen nở, hoa thắm lá xanh, hương bay ngàn dặm. Lão Tử thấy phong cảnh đẹp bèn cắm trang ở đây, đặt tên là Thổ Hà trang. Sau khi lập trang ông ta còn mở trường truyền đạo cho các đồ đệ, nhà trường nay là chùa Đoan Minh. Lão Tử có nhiều phép màu trừ hung sát quỷ. Đương khi Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, nhưng thành cứ xây lên, sáng dậy lại bị đổ, bởi thần Kim Kê ở núi Thất Diệu trêu cợt. Vua nghe thấy ở trang Thổ Hà có người biết trừ hung sát quỷ bèn cử sứ giả lại mời. Lão Tử nhận lời, rồi đi đến núi Thất Diệu sai Thanh Giang sứ hiện thành rùa vàng vào rừng trừ yêu quái, lại thư phù vào lá trúc thả xuống sông cho trôi khắp mọi nơi xua yêu quái. Nhờ vậy, nửa tháng đã xây xong thành Cổ Loa, Lão Tử có từ ra về, được An Dương Vương ban thưởng rất hậu. Về đến trang Thổ Hà bèn mở tiệc khao toàn thể dân làng. Đang lúc đó trên trời xuất hiện một đám mây ngũ sắc bay đến. Lão Tử liền bay lên trời, ẩn vào mây biến mất. Hôm đó là ngày 22 tháng 2 âm lịch.
    Nhân dân làm sớ tấu, vua truyền cho dân Thổ Hà lập đình phụng sự.
    (Theo Bắc Giang tỉnh chí, Trịnh Như Tấu).

IMG_7320
Chùa Đoan Minh, trường giảng đạo của Lão Tử.

Sự tích 1 chép Lão Đam dẹp bọn Xích Quỷ, có lẽ bị nhầm chữ. Đúng là Xích Tỵ (Mũi Đỏ). Đây là chuyện Lão Tử chữa bệnh dịch hạch hoặc đậu mùa (bệnh có biểu hiện nổi mụn đỏ trên da) cho người dân. Trong tín ngưỡng dân gian, Lão Tử được tôn như một vị thánh cứu thế chính là vì công nghiệp chữa bệnh dịch cứu nhân gian này.
Chi tiết Lão Tử đã thư phù vào lá trúc thả xuống sông cho trôi khắp mọi nơi xua yêu quái. Hẳn là ông đã biết dùng loại thảo dược gì đó (“lá trúc”) để sát khuẩn cho nước ăn, triệt tận gốc nguồn dịch bệnh.
So sánh sự tích 2 với tiểu sử của lão Tử trong Lão Tử minh (bài minh văn soạn thời Hán Hoàn Đế):
Lão Tử vi Chu tàng thất sử. Đương U Vương thời Tam Xuyên thật chấn dĩ Hạ Ân chi quý, âm dương chi sự giám dụ thời vương.
Dịch:
Lão Tử làm quan coi sử sách của nhà Chu. Thời Chu U Vương, vùng Tam Xuyên xảy ra động đất, đã lấy sự biến động của âm dương mà răn dụ Vua.

IMG_7258
Bia “Thủy tạo đình miếu bi” ở trước đình làng Thổ Hà.

Đoạn văn ngắn ngủi nhưng đã cung cấp thông tin rất quan trọng về thời gian, công nghiệp thực sự của Lão Tử:
Thời gian: Lão Tử là quan thủ thư của nhà Chu dưới thời Chu U Vương, tức là vị vua cuối cùng của thời Tây Chu. U Vương là vị vua tàn bạo, nổi tiếng với câu chuyện đốt lửa Ly Sơn mua nụ cười của Bao Tự. Cũng vì thế mà sau đó, Chu Bình Vương đã phải dời đô nhà Chu sang phía Đông, mở đầu thời kỳ Đông Chu liệt quốc.
Công nghiệp của Lão Tử: vùng Tam Xuyên bị động đất. Lão Tử nhân đó dựa sự quỷ thần, lấy tấm gương của các nhà Hạ, Ân mất nước để khuyên răn Chu U Vương.
Đây cũng là cốt truyện của việc An Dương Vương (vua Chủ) xây thành Cổ Loa ở vùng Đông Ngàn, bị hồn ma các vua đời trước biến thành con Bạch Kê tinh quấy phá, thành xây xong là đổ do… động đất. Huyền Thiên Trấn Vũ, tức Lão Tử, đã cử thần Kim Quy đến đăng đàn trên núi Thất Diệu, giúp vua An Dương Vương diệt yêu trừ quỷ dựng thành.
Câu đối ở đình Thổ Hà:
龜解効靈七燿山中傳役鬼
龍能承化五雲庄下記豋僊
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, Ngũ Vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỷ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả sưu khảo

“Vạn phái nguồn gốc sâu xa như biển lớn chảy mãi. Tiên vương ân nghĩa đắp bồi vạn thế, đức trạch cao dày khắp chốn, sự lành còn đó muôn năm, đất nước yên bình, quốc gia thịnh vượng sao!
Nên Ta tuân theo Trời, nối tiếp đức lớn, ngưỡng tổ tông tích đức qua các đời, sáng lòng nhân, yên trời đất núi sông khắp chốn vậy. Ấy là gây dựng nước Nam Việt ta cơ đồ bao la, công nghiệp đế vương to lớn. Trời theo cùng, người quy về, các chư hầu cùng phục, lập thứ tự trăm quan trong triều đình, yên định vạn dân, xưng tên nước, đặt trăm quan, chia trăm họ, phân các quan lập các xứ, dựng nước xây thành, vững mạnh 15 bộ giữ mỗi phương phân định, thiết lập các chức vị, phủ huyện, xã, châu, trang, động, sách.
Sự trọng yếu của quốc gia, căn bản gốc rễ của thiên hạ là giúp thành cho người dân cày ruộng, đào giếng, làm nghề trồng dâu nuôi tằm, nước giàu quân mạnh, trị vạn dân, biết lấy trọng dưỡng sức dân làm nền tảng.
Cho nên quốc triều mới tiến hành soạn sách Nam Thiên bảo lục, để mãi ban cho hậu thế, con cháu dòng dõi lưu truyền muôn đời. Chỉ truyền cho người hiền, không truyền cho người thiếu phép tắc. Sự tích này không thể đem cho người ngoài. Còn nếu kém nhận thức mà coi thường sự tiết lộ định ước của Sách trời thì cũng không thể là người được trao truyền.
Xưa Tiền Hoàng đế Thánh tổ Cõi lớn trời Nam, Hùng Vương Sơn Nguyên, đã gây dựng cơ đồ, thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Hùng Thị, mười tám đời thánh vương ngự trị Cõi lớn trời Nam, mở mang hùng đồ nước Việt, nước biếc một dòng, bắt đầu vận vua sáng đế thánh. Núi xanh vạn dặm, lập nền đô thành điện báu, mở vật giúp người, thống trị mười lăm bộ, giữ thế mạnh trước phiên thần, nối tiếp phát huy cõi đất lớn thành Viêm Hồng, do vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giúp cho dòng giống vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương ngự ở Việt thành, muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam, gốc nước cơ đồ, vạn xuân tôn kính, ngàn xưa chảy mãi.”

Bài tựa trong Hùng Vương Thánh tổ Ngọc phả

Lời mở đầu

Nước Nam ta có sử từ bao giờ? Câu trả lời tưởng như đơn giản, lịch sử nước Nam bắt đầu bằng các vua Hùng dựng nước. Lịch sử đó được ghi chép một cách chính thống dưới tên gọi “Ngọc phả Hùng Vương” và lưu giữ ở nơi đền thờ quốc tổ Hùng Vương tại miền đất tổ Vĩnh Phú.
Thế nhưng, thời gian qua đi, không mấy người Việt ngày nay có thể tiếp xúc và đọc được những ghi chép quý báu của cha ông về thời kỳ hình thành đất nước, hình thành dân tộc. Không đọc tộc phả làm sao biết cha ông là ai? Không đọc ngọc phả làm sao biết tổ tiên là ai?
Lớp bụi mờ của thời gian, sự khốc liệt của các cuộc chiến tranh trong quá khứ, cùng những biến động của xã hội qua hàng ngàn năm đã làm cho lịch sử xa xưa của cha ông người Việt bị khuất lấp. Vì thế việc đọc Ngọc phả Hùng Vương nguyên bản, đúng nghĩa là điều nhất thiết phải làm với bất kỳ con dân Việt nào khi muốn tìm về nguồn cội, để hiểu quá khứ, để tự tin vững bước trong tương lai.
Theo ghi chép của Ngọc phả Hùng Vương, từ thời Thục An Dương đã giao cho thôn Cổ Tích, nay ở xã Hy Cương, Việt Trì, làm “trưởng tạo lệ”, lo việc hương hỏa, phụng sự cho đền thờ Hùng Vương thánh tổ trên núi Nghĩa Lĩnh. Các huyện, các châu khác có trách nhiệm đóng góp công điền, sưu thuế hàng năm phục vụ việc thờ các vua Hùng. Ngọc phả về Hùng Vương thánh tổ đã được các vị học sĩ Hàn lâm viện của nhà nước phong kiến biên soạn qua một số lần và được lưu giữ tại thôn Cổ Tích và đền Hùng. Các cuốn Ngọc phả của đền Hùng cũng đã được các thôn xã khác của vùng đất tổ Phong Châu sao chép, lưu giữ và thờ cúng. Thôn Vân Luông nay ở phường Vân Phú, thành phố Việt Trì là một trong những nơi thờ Hùng Vương như vậy và rất may mắn là ở đây còn lưu giữ được đầy đủ các bản văn về Hùng Vương thánh tổ.
Tập sách này cung cấp các tư liệu ngọc phả về Hùng Vương được lưu truyền ở ngôi đền cổ “Hùng Vương từ” tại thôn Vân Luông của thành phố Việt Trì. Các tư liệu được nghiên cứu khảo sát trên các bản gốc chép tay trên giấy dó lưu giữ tại ban quản lý di tích đền Vân Luông, kết hợp đối chiếu với bản sao năm Bảo Đại thứ 33 (1938) được lưu trong Thư viện Khoa học xã hội Việt Nam. Bộ tư liệu đầy đủ của đền Vân Luông bao gồm các phần sau:

  1. Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền. Soạn năm Thiên Phúc nguyên niên thuộc Lê Đại Hành. Bản chữ Nho ghi chép 18 chi Hùng Vương gồm đầy đủ từ tên hiệu, tên truy phong, ngày sinh, ngày mất, số đời vua kế truyền, số cung phi, con trai, con gái, hoàng tôn và cháu chắt. Đồng thời cũng ghi chép mức thuế mỗi suất đinh phải đóng vào thời này.
  2. Ghi chép về các huyệt mộ và lệ thờ Hùng Vương, tạm gọi là Hùng Vương tự lệ. Bản chữ Nho, không rõ niên đại. Dựa trên nội dung bản này gọi chúa Trịnh Khang Vương là tổ, có thể nhận định bản này được soạn dưới thời vua Lê chúa Trịnh, tức là quãng năm 1570 -1787.
  3. Nam Việt Hùng Thị sử ký. Bản chữ Nho ghi soạn năm 32 đời Hùng Vương, do Hàn lâm học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn soạn. Đây là một tập hợp các câu chuyện xảy ra dưới thời Hùng Vương, đã được sắp xếp vào những thời Hùng Vương nhất định, từ Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ tới khi Hùng Duệ Vương nhường ngôi và Thục An Dương Vương lập cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh.
  4. Văn chào, dùng để cúng ở lăng thờ Sơn Tinh trước đền. Bản chữ Nôm kèm phiên âm chữ quốc ngữ.
  5. Các sắc phong của đền Vân Luông.

Trong cuốn sách này chúng tôi đã tiến hành dịch và giới thiệu với bạn đọc nội dung các ngọc phả trên. Đặc biệt bản dịch này được làm trên cơ sở tôn trọng văn bản gốc nên các tên địa danh, nhân danh được đề cập đến đều được ghi đúng nguyên gốc. Những chỗ cần thiết chúng tôi có chú thích thêm cho các tên riêng này, do cách đọc và cách hiểu nhân danh, địa danh trước đây khi soạn ngọc phả có thể không tương đồng với quan niệm chung hiện nay.
Để tiện cho việc theo dõi và tìm hiểu, khi dịch cuốn Nam Việt Hùng Thị sử ký chúng tôi chia văn bản thành từng truyện và đặt tên mỗi truyện, nhưng vẫn giữ nguyên thứ tự của mỗi truyện như trong nguyên bản. Trong quá trình dịch, chúng tôi có tham khảo bản dịch đã công bố của GS. Ngô Đức Thọ cho bản Hùng đồ thập bát diệp thánh vương ngọc phả cổ truyền của thôn Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ. Bản Ngọc phả của thôn Hy Cương do Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố phụng soạn vào năm Hồng Đức nguyên niên (1470).
Theo thông tin từ trang của Lưu tộc Việt Nam, một bộ ngọc phả tương tự mang tên Hùng Vương Kim ngọc Bảo giám Thực lục cũng đã được sao lưu ở Lâu Thượng, Việt Trì, Phú Thọ. Tác giả của bản Ngọc phả này là quan Hàn lâm Học sỹ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn. Ban giám khảo bản Ngọc phả này là ông Lễ bộ Tả Thị lang Phạm Quỹ, Hình bộ Tả Thị lang Nguyễn Hanh, Binh bộ Tả Thị lang Trương Quốc Hoa, Binh bộ Hữu Thị lang Phạm Quĩ, Hình bộ Tả Thị lang Vũ Hồn, Quang Lộc tự khanh Biện lý Lễ bộ sự vụ Lê Thiện, Hồng Lô tự kiêm Biện lý Hộ bộ sự vụ Mai Đức Thường, Lễ bộ lang Trung biên Lý bộ sự vụ Nguyễn Đức Tân. Như vậy, đây là một cuốn sách quý được triều đình nhà Nguyễn biên soạn một cách chính thức để lưu truyền.
Bản Văn chào được dùng để đọc tế lễ tại miếu Sơn Tinh trước sân đền Vân Luông trong ngày lễ hội cướp bông ném chài (ngày mồng 3 tháng Giêng hàng năm). Mặc dù bản văn này đã được phiên âm bởi người địa phương nhưng có nhiều âm đọc không sát, nên ở đây bản văn này đã được phiên chú lại âm Nôm bởi tác giả Thuận Hóa Phan Anh Dũng. Theo các từ cổ và các chữ Nôm viết dạng cổ thì bản cúng này chép lại một bản gốc xưa hơn khoảng thế kỷ 15, đầu đời Hậu Lê.
Qua khảo sát thực tế trong các kho tư liệu của Viện Hán Nôm và Thư viện Khoa học xã hội Việt Nam thì những bản ngọc phả của các di tích thờ Hùng Vương tại Phú Thọ về nội dung đều là các bản sao chép từ 3 phần ngọc phả như ở đền Vân Luông. Thời san sao chép có thể khác nhau, nhưng nội dung cơ bản đều đồng nhất. Vì thế các tư liệu ở đền Vân Luông đã bao gồm được hết các thông tin ngọc phả về Hùng Vương còn lưu lại được qua các di tích tại Phú Thọ. Ngọc phả của đền Vân Luông do vậy có thể dùng cho việc thờ cúng cũng như tìm hiểu về Hùng Vương trên vùng đất tổ Phong Châu.
Đền Vân Luông cũng là ngôi đền thờ Hùng Vương còn lưu được kiến trúc cổ từ thời Nguyễn, chưa trùng tu, xây mới. Cách bài trí ban thờ trong cấm cung ở đây gồm ban chính thờ 3 vị vua Hùng là Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn và Ất Sơn. Ban bên phải thờ 2 ngai vị, tuy cùng ghi là Bản thổ đại vương, nhưng có thể đây là bài vị cho 2 công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung tương tự như cách thờ ở đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh và nhiều nơi khác thờ Hùng Vương ở Phú Thọ.
Cuốn sách là một sự gửi gắm của các tác giả Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền Miếu Việt tới bạn đọc, như một nén hương thành kính dâng lên anh linh các vị tiên tổ vua Hùng, nhắc lại câu Uống nước nhớ nguồn, khắc ghi công cha nghĩa mẹ, những bậc tiền nhân đã làm nên dân tộc Việt, quốc gia Việt ngàn đời bền vững.

Bia sach cuoi

Mục lục sách

Lời giới thiệu
Lời mở đầu 
  

NAM VIỆT HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢ VĨNH TRUYỀN

  • Kỷ Hồng Bàng Thị
    Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ
  • Sử ký Việt Nam
  • Kinh Dương Vương
  • Hùng Hiền Vương
  • Hùng Quốc Vương
  • Hùng Hy Vương
  • Hùng Hi Vương
  • Hùng Diệp Vương
  • Hùng Huy Vương
  • Hùng Ninh Vương
  • Hùng Chiêu Vương
  • Hùng Uy Vương
  • Hùng Trinh Vương
  • Hùng Võ Vương
  • Hùng Việt Vương
  • Hùng Định Vương
  • Hùng Triều Vương
  • Hùng Tạo Vương   Hùng Nghị Vương
  • Hùng Duệ Vương

HÙNG VƯƠNG TỰ LỆ   

 NAM VIỆT HÙNG THỊ SỬ KÝ  

  • Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ
  • Kinh Dương Vương lấy Động Đình Quân nữ và chọn đất đóng đô ở Nghĩa Lĩnh
  • Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh bào ngọc, nở trăm trai
  • Lạc Long Quân đặt tên, phân định thứ vị cho trăm hoàng tử
  • Hùng Quốc Vương phân chư hầu, chia thiên hạ, đặt trăm quan, định trăm họ, phong trăm thần
  • Hùng Hy Vương
  • Hùng Hi Vương
  • Hùng Diệp Vương dùng lễ dối tế trời
  • Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân
  • Hùng Huy Vương gặp Phật, có được linh bảo
  • Hùng Huy Vương cầu Tiên ở Tam Đảo
  • Các đời Hùng Trị Bình Kiến Phu
  • Hùng Nghị Vương kết hòa với Thục Vương, bộ chủ Ai Lao
  • Hùng Duệ Vương kén rể Sơn Tinh – Thủy Tinh
  • Hùng Duệ Vương xây thành Cổ Loa
  • Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương
  • Thục An Dương Vương dựng cột đá thề ở Nghĩa Lĩnh
  • Lịch kỷ Hùng Vương từ thời Thái cổ

VĂN CHÀO, SẮC PHONG, HOÀNH PHI, CÂU ĐỐI ĐỀN VÂN LUÔNG  

  • Văn chào
  • Sắc phong
  • Hoành phi, câu đối

KHẢO LUẬN NGỌC PHẢ VÀ TỤC THỜ HÙNG VƯƠNG TRÊN MIỀN ĐẤT TỔ  

  • Tục thờ Hùng Vương qua các di tích trên miền đất tổ
  • Khái luận lịch sử qua Ngọc phả Hùng Vương
  • Mốc lịch sử Việt thứ nhất: Thủ lĩnh cộng đồng
  • Mốc lịch sử Việt thứ hai: Chế độ thế tập
  • Mốc lịch sử Việt thứ ba: Chế độ phong kiến
  • Mốc lịch sử Việt thứ tư: Quốc gia thống nhất

BẢN CHỤP TƯ LIỆU HÁN NÔM VỀ HÙNG VƯƠNG Ở ĐỀN VÂN LUÔNG   

  • Bản chụp Văn chào
  • Bản chụp Nam Việt Hùng Thị sử ký và Hùng Vương tự lệ
  • Bản chụp Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền

Tổng số 240 trang, khổ 15×23 cm, in 4 màu toàn bộ.

Lữ Nam Đế và Quốc Oai

Ngày mồng 6 tháng 3 năm Quý Mão được truyền là ngày Hai Bà Trưng tuẫn tiết trên sông Hát. Cũng những ngày này là ngày lễ hội ở chùa Thầy, nơi có đền Tam Xã thờ vị tướng của vùng Quốc Oai là Đỗ Động tướng quân Đỗ Cảnh Thạc. Tam xã Sài Sơn gồm các làng Thụy Khê, Sài Khê và Đa Phúc. Liệu cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và tướng quân Đỗ Cảnh Thạc có quan hệ gì với nhau?
Mối quan hệ giữa 2 ngày lễ của 2 sự kiện lịch sử này lại được tìm thấy qua nhân vật thừa tướng Lữ Gia của nhà Triệu nước Nam Việt. Câu chuyện về Lữ Gia, tể tướng ba đời nhà Triệu được ghi chép khá kỹ trong Nam Việt Úy Đà liệt truyện bởi Tư Mã Thiên, nhưng ở nước ta, chuyện về Lữ Gia được lưu truyền trong thần tích về vị tướng này. Một trong những bản thần tích như thế là ngọc phả của làng Đa Phúc ở Sài Sơn, mang tên Lữ Nam Đế sự tích. Bản ngọc phả giống như vậy cũng được chép ở làng Ước Lễ, xã Tân Ước, huyện Thanh Oai. Sự tích Lữ Nam Đế có một số chi tiết cụ thể hơn so với Sử ký của Tư Mã Thiên. Xin xem và xét những chi tiết mới này theo dòng lịch sử.
Sự tích Lữ Nam Đế mở đầu: Thần họ Lữ húy Gia, người xã Thiên Phúc (nay đổi là Đa Phúc) huyện Ninh Sơn (đời Lê Trang Tôn đổi là Yên Sơn), làm quan triều Triệu Văn Vương, đến khi Minh Vương lên ngôi, ông được ban chức Thái phó.
Thần tích này cho biết Lữ Gia là người quê ở vùng Quốc Oai (xã Thiên Phúc, huyện Ninh Sơn). Lữ Gia làm quan bắt đầu từ Triệu Văn Vương. Tới thời Triệu Minh Vương thì được ban chức Thái phó.
Lúc đầu, khi Minh Vương còn là Thái tử, vào làm con tin bên nhà Hán sống ở Trường An, lấy bà Cù Thị ở Hàm Đan, sinh được một người con trai tên là Hưng. Đến khi Minh Vương lên ngôi, nhân giấu ấn của Tiên đế, đã dâng thư cho nhà Hán xin lập bà họ Cù làm hoàng hậu, con trai Hưng làm Thái tử.
Chi tiết Triệu Anh Tề đã giấu ấn khi lên ngôi cũng được Sử ký Tư Mã Thiên kể:
Thái tử Anh Tề xin về nước. Hồ mất, thụy là Văn Vương. Anh Tề lên ngôi thay, lập tức giấu ngay ấn Vũ Đế của Triệu Đà.
Chi tiết này thật khó hiểu vì nó có vẻ không ăn nhập gì với những chuyện xảy ra. Anh Tề ở Hán về thì đã lấy ấn Vũ Đế ở đâu để giấu đi? Tại sao lại phải giấu? Việc giấu ấn Vũ Đế liên quan thế nào đến việc Anh Tề lên ngôi? Tại sao nhờ giấu ấn này mà Anh Tề xin được nhà Hán cho lập Cù Thị làm hoàng hậu? Đằng sau chiếc ấn Vũ Đế này là một bí ẩn của lịch sử giữa 2 triều Hán và Triệu.

Van De hanh ti
Ấn Văn Đế hành tỉ từ mộ Triệu Mạt ở Quảng Châu (ảnh wikipedia).

Rất có thể khi Anh Tề ở Trường An nhà Hán đã lấy được ấn Vũ Đế, rồi mang về nước Nam Việt mà xưng vua, lập hoàng hậu, thái tử. Cũng có thể ấn Vũ Đế đã có ở Nam Việt từ Triệu Văn Vương. Nhưng chiếc ấn này có ý nghĩa đặc biệt không chỉ với nhà Triệu mà còn với nhà Hán, vì đó mà Anh Tề có thể dùng để đòi quyền với nhà Hán (đòi người – Cù Thị và thái tử Hưng). Điều này cho thấy, ấn Vũ Đế thực chất là bảo tỉ khai quốc của Triệu Đà – Lưu Bang, ông tổ của cả 2 nước Hán (Hiếu) và Triệu. Người giữ ấn có quyền khẳng định ngôi vị chính truyền của mình từ vị Cao Tổ – Vũ Đế này.
Sau đó, khi Cù Hậu và Triệu Ai Vương (tên Hưng) định nội phụ vào chầu nhà Hán, nhà Hán ban cho Hưng và Lữ Gia “ấn bạc”. Điều này cho thấy, ấn Vũ Đế ban đầu là ấn vàng, tức là ấn của Hoàng đế, với nghĩa sánh ngang với nhà Hán.
Câu chuyện Triệu Anh Tề làm con tin ở Hán, lấy Cù Thị, rồi lúc về giấu ấn Vũ Đế để xưng vương là cốt của câu chuyện Nhã Lang lấy Cảo Nương rồi đánh tráo móng rồng trong truyền thuyết về Triệu Quang Phục. Cù và Cảo là cận âm. Nhã Lang là Anh Tề cận nghĩa.

Uoc LeMảng chạm đầu hồi đình Ước Lễ, Thanh Oai.

Thần tích Lữ Nam Đế kể tiếp đoạn Cù Hậu âm mưu hại Lữ Gia trong tiệc rượu:
Sứ giả ngồi phía Đông, Cù Hậu ngồi ở phía Nam, Hưng và các tướng đều ngồi ở phía Tây. Em trai Lữ Gia là Lữ Cường làm tướng, đem binh sĩ đến ở ngoài cung. Khi rót rượu, Cù Hậu nói với Lữ Gia rằng: “Nam Việt nội phục nhà Hán là có lợi, tướng quân không muốn là cớ làm sao?”. Nói vậy là có ý khích sứ giả nhà Hán, nhưng sứ giả hồ nghi không dám chống cự.
Lữ Gia thấy xung quanh không có tai mắt của mình liền bỏ ra ngoài. Cù Hậu tức giận muốn cầm mâu đâm Lữ Gia, nhưng Hưng cản lại. Lữ Gia đi ra, sai em trai mang quân đến phủ đệ riêng ở Trúc Viên Sài Sơn, cáo bệnh không gặp sứ giả.

Đoạn kể này cung cấp thông tin đặc biệt quan trọng mà Sử ký Tư Mã Thiên không đề cập tới. Em trai của thừa tướng Lữ Gia tên là Lữ Cường. Lữ Cường làm tướng võ, cầm đầu quân đội. Sau khi nội bộ nhà Triệu mâu thuẫn về việc nội phụ nhà Hán thì họ Lữ chia nhau ra. Lữ Gia ở lại Phiên Ngung. Lữ Cường dẫn quân về đóng ở quê họ Lữ ở Sài Sơn.
Thông tin này cho phép hiểu hơn diễn biến sau đó và việc thờ Lữ Gia ở vùng Quốc Oai. Lữ Gia sau khi giết Cù Hậu và Triệu Ai Vương, đã lập con trưởng của Minh Vương là Kiến Đức lên làm vua, tên hiệu là Triệu Vệ Dương Vương. Khi Lộ Bác Đức nhà Hán dẫn quân chiếm Phiên Ngung, Lữ Gia cùng hàng trăm gia quyến lên thuyền đi về phía Tây, trở về quê hương ở vùng Bắc Việt. Lộ Bác Đức đuổi theo và bắt giết được Lữ Gia ở vùng Nam Định (núi Gôi, Vụ Bản). Đây cũng là vùng cửa sông Hát (sông Đáy) đổ ra biển, xưa gọi là cửa Đại Ác.
Lữ Gia hy sinh ở vùng cuối sông Hát. Ông được tôn làm Lữ Nam Đế cho dù ông chưa hề làm vua bao giờ. Rất có thể cái tên Lữ Nam Đế này là tên kép chỉ Lữ Gia và Triệu Vệ Dương Vương, 2 người đã cùng lập vị và cùng vong ở cửa Đại Ác.
Vậy còn Lữ Gia nào tiếp tục chống quân Hán ở vùng đầu sông Hát – Quốc Oai? Hang Cắc Cớ trong núi Sài tương truyền là nơi nghĩa quân Lữ Gia tử tiết. Miếu thờ Lữ Gia ở làng Thụy Khê dưới chân núi Sài nay vẫn còn.

IMG_3842Điện thờ ở đền Lữ Gia tại làng Thụy Khê, Sài Sơn.

Thông tin từ thần tích cho thấy, vị họ Lữ chống quân Hán ở vùng Sài Sơn không phải là thừa tướng Lữ Gia mà là Lữ Cường, tướng chỉ huy quân đội đã dẫn quân về Sài Sơn trước khi nổ ra cuộc chiến giữa Nam Việt và nhà Hán. Vị “Lữ gia” được thờ ở vùng Thanh Oai – Quốc Oai như thế thực ra là Lữ Cường.
Vùng Thanh Oai – Quốc Oai xưa được gọi là Đỗ Động. Nơi đây có thành Quèn với các hiện vật khảo cổ của thời Tây Hán như các mảnh sành sứ, hay rõ ràng hơn nữa là các đồng tiền Ngũ Thù của thời Tây Hán đã được tìm thấy ở đây. Rất có thể thành Quèn chính là địa danh “Trúc Viên” được nói tới trong thần tích. Phép phiên thiết cho ta kết quả:
Trúc Viên thiết Triên – Chiên – Quyên – Quèn.
Tên gọi khác của thành Quèn là Cổ Hiền, cũng là tên phiên thiết, cho chữ Quyền – Quèn. Tên thành có thể thực sự là Quyền, chỉ trị sở trung tâm nắm quyền cai quản của khu vực “Quốc Oai” – oai nước, lúc này.
Sự kiện Lữ Cường dẫn quân Nam Việt lui về Quốc Oai, xây thành phòng thủ chống Hán được truyền thuyết Việt kể tiếp bằng sự tích về Đỗ Động tướng quân Đỗ Cảnh Thạc, đóng ở thành Quèn, hy sinh ở Tam Xã Sài Sơn. Chỉ có điều, sự kiện này đã bị chép gán vào thời kỳ 12 sứ quân, là thời kỳ vốn không hề xảy ra ở Việt Nam sau này.

IMG_3724
Hũ tiền Ngũ thù được tìm thấy ở thành Quèn.

Thừa tướng Lữ Gia cùng vua Triệu Vệ Dương Vương hy sinh ở cửa Đại Ác nhưng cuộc chiến chống Hán nước Nam Việt chưa dừng lại đó. Em trai của Lữ Gia là Lữ Cường trước đó đã chia quân về quê hương bản quán, xây dựng tuyến phòng thủ Đỗ Động Sài Sơn (Đỗ  có nghĩa là chặn, dừng). Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức tiếp tục đánh vào Bắc Việt. Thành Quèn thất thủ, Đỗ Động tướng quân hy sinh ở chân núi Sài…
Nhưng mối nợ nước thù nhà đó chưa hết. Mấy năm sau, cũng ở vùng đất nơi đầu sông Hát đã nổ ra cuộc khởi nghĩa mạnh mẽ của Ả Lã Trưng Vương. Ả Lã tức là con gái nhà họ Lã, là một trong các hoàng phi của vua Triệu đã chạy về vùng Mê Linh. Vua Triệu Vệ Dương Vương – ông Thi Sách hy sinh ở cửa Đại Ác. Ả Lã vì thù cha (Lữ Gia) thù chồng (Nam Đế) đã tập hợp lại người dân nước Nam Việt cũ làm nên cuộc khởi nghĩa tiếp theo…
Câu đối ở đền thờ Lữ Gia tại Sài Sơn:
一點精忠存趙社
千秋正氣峻柴岩
Nhất điểm tinh trung tồn Triệu xã
Thiên thu chính khí tuấn Sài nham.
Dịch:
Lòng trung một điểm gìn nhà Triệu
Chính khí ngàn thu hiểm núi Sài.

P1200460Đình Ngô Sài ở Quốc Oai, nơi thờ Đỗ Cảnh Thạc và Ả Lã Nàng Đê.

 

Lữ Nam Đế sự tích

Thần tích lưu ở làng Ước Lễ (xã Tân Ước, huyện Thanh Oai) và Đa Phúc (Sài Sơn, Quốc Oai).
Sơn Tây tỉnh, Quốc Oai phủ, Lật Sài tổng, Đa Phúc xã ngọc phả cổ lục.

Bản dịch:

SỰ TÍCH LỮ NAM ĐẾ
Thần họ Lữ húy Gia, người xã Thiên Phúc (nay đổi là Đa Phúc) huyện Ninh Sơn (đời Lê Trang Tôn đổi là Yên Sơn), làm quan triều Triệu Văn Vương, đến khi Minh Vương lên ngôi, ông được ban chức Thái phó.
Lúc đầu, khi Minh Vương còn là Thái tử, vào làm con tin bên nhà Hán sống ở Trường An, lấy bà Cù Thị ở Hàm Đan, sinh được một người con trai tên là Hưng. Đến khi Minh Vương lên ngôi, nhân giấu ấn của Tiên đế, đã dâng thư cho nhà Hán xin lập bà họ Cù làm hoàng hậu, con trai Hưng làm Thái tử. Nhà Hán nhiều lần sai sứ giả dụ Minh Vương vào triều. Minh Vương đã cáo bệnh không chịu nghe theo. Đến khi con trai Hưng đã lập tôn bà họ Cù làm hoàng hậu.
Nguyên khi bà họ Cù chưa lấy Minh Vương, bà thường đi lại với Thiếu Quý An Quốc người Bá Lăng. Năm Nguyên Đỉnh thứ 4 đời Vũ Đế nhà Hán đã sai Thiếu Quý đến dụ Hưng và hoàng hậu Cù Thị vào triều. Đến khi sang nước Việt, Thiếu Quý lại tư thông với bà. Người trong nước biết chuyện đó, nhiều người không ủng hộ. Cù Hậu tức giận, muốn dựa vào thế nhà Hán, nhiều lần khuyên Hưng và các quần thần quy phục. Thế rồi nhân sứ giả nhà Hán đến, liền dâng thư xin được theo qui chế đối với các nước chư hầu ba năm một lần triều cống, vua nhà Hán chấp thuận, liền ban ấn bạc cho Hưng và Thừa tướng Lữ Gia. Năm sau, Hưng và và Cù Hậu đã sắm sửa hành trang của cải châu báu đầy đủ để nhập triều.
Lúc đó, Thừa tướng Lữ Gia tuổi đã cao, làm Thừa tướng trải qua ba triều, tôn tộc đều làm trưởng lại đại thần, tất cả hơn 70 người. Con trai thì lấy công chúa, con gái đều gả cho con em các nhà vương gia. Ngày ấy, họ Lữ giữ quyền rất lớn, người trong nước tin theo, còn lớn hơn cả người theo vua Triệu. Lữ Gia đã nhiều lần can ngăn Hưng không nên qui phục nhà Hán, nhưng Hưng không nghe, nên đã nhiều lần cáo bệnh không muốn gặp sứ giả.
Sứ giả nhà Hán đều để ý đến Lữ Gia. Cù Hậu bèn bầy tiệc rượu mời sứ giả nhà Hán đến, âm mưu trừ khử Lữ Gia. Sứ giả đến uống rượu, các đại thần đều đến uống rượu. Sứ giả ngồi phía đông, Cù Hậu ngồi ở phía Nam, Hưng và các tướng đều ngồi ở phía Tây. Em trai Lữ Gia là Lữ Cường làm tướng, đem binh sĩ đến ở ngoài cung.
Khi rót rượu, Cù Hậu nói với Lữ Gia rằng: “Nam Việt nội phục nhà Hán là có lợi, tướng quân không muốn là cớ làm sao?”. Nói vậy là có ý khích sứ giả nhà Hán, nhưng sứ giả hồ nghi nhìn nhau không dám chống cự.
Lữ Gia thấy xung quanh không có tai mắt của mình liền bỏ ra ngoài. Cù Hậu tức giận muốn cầm mâu đâm Lữ Gia, nhưng Hưng cản lại. Lữ Gia đi ra, sai em trai mang quân đến phủ đệ riêng ở Trúc Viên Sài Sơn, cáo bệnh không gặp sứ giả.
Cù Hậu muốn giết Lữ Gia nhưng không giết nổi. Hán Vũ Đế cho rằng: “Hưng và Cù Hậu đã quy phục, chỉ còn Lữ Gia là không chịu nghe theo, nên không muốn mang quân sang đánh, muốn sai tướng là Trang Sâm mang 2000 quân đi sứ.
Trang Sâm nói: “Nếu có ý tốt thì mang vài người là đủ, còn nếu dùng vũ lực mà đem 2000 người thì chẳng làm gì được”. Tướng ở Tế Bắc là Hàn Thiên Thu hăng hái nói rằng: “Chỉ có nước Nam Việt bé tí tẹo thế, lại có thêm Hưng và Cù Hậu làm nội ứng rồi, thì thần chỉ xin đem theo 300 dũng sĩ sang sẽ bắt được Lữ Gia đem về đền ơn vua”. Thế là nhà Hán liền cử Hàn Thiên Thu và em trai Cù Hậu là Cù Lạc đem 2000 quân sang đất Việt.
Thừa tướng Lữ Gia liền ban lệnh cho dân cả nước rằng: “Vua Triệu nhỏ tuổi, Cù Hậu vốn là người Hán, đã từng dâm loạn với sứ nhà Hán, chỉ muốn nội phụ nhà Hán, lại mang tất cả bảo khí của Tiên Đế để sang cống vua Hán để lấy lòng, lại sai tôi tớ đem vàng bạc đến Trường An bán kiếm lời. Họ chỉ giữ mối lợi nhất thời, chẳng đoái hoài đến giang sơn xã tắc nhà Triệu”. Thế rồi sai tướng đến đánh, giết chết cả Hưng, Cù Hậu và sứ giả nhà Hán. Lại cho người đến nói với Tần Vương ở Thương Ngô, xin cho lập con cả của Triệu Minh Vương là Kiến Đức làm vua Nam Việt.
Kiến Đức lên ngôi thì Hàn Thiên Thu đem quân đến xâm phạm bờ cõi, phá tan mấy làng ấp. Lữ Gia liền mở đường, cấp lương cho binh sĩ, đặt đồn lũy đến tận Phiên Ngung dài 40 dặm, đem quân đánh giết chết Hàn Thiên Thu, treo cờ tiết nhà Hán lên trên ải. Sau đó lại chất đá làm cửa, chống lại quân Hán. Nhà Hán sai Lâu Thuyền tướng quân đến chặn giữ các nơi hiểm yếu, lại sai bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc đem mấy vạn quân đến công phá cửa đá, đánh bại quân Việt. Kiến Đức và Lữ Gia đem mấy trăm quân đi thuyền chạy ra biển. Thế là nhà Triệu đã bị bọn Lộ Bác Đức, Dương Bộc dẹp yên.
Tương truyền, Lữ Gia đánh nhau với quân Hán, bị thua lại bị quân Hán chém cụt đầu. Ngài vẫn ngồi trên lưng ngựa, chạy mãi đến địa giới xã Đăng Khôi huyện Thiên Bản (nay là huyện Vụ Bản), gặp đám phụ nữ đi qua, họ đều nói: “Xưa nay người không có đầu lại có thể sống được chẳng?”. Thế là Người liền ngã ngựa mà hóa. Ngài rất linh thiêng, các đời vua đều phong tặng, trong đó có ý tán thán rằng: “Lữ Nam Đế đã tỏ rõ tài năng dám chống lại nhà Hán”.
Người đời sau từng ca ngợi: “Riêng một mình chẳng coi được ấn tín nhà Hán làm vinh hạnh, nên rõ ràng không thuận tiện cho kẻ quy phụ, thế thì há bảo là không trí được chăng? Chém Thiếu Quý diệt Thiên Thu bỏ cờ tiết nhà Hán, chiếm cứ nơi hiểm yếu, như thế há bảo rằng không dũng mãnh hay sao? Phế một vua lập một vua, chỉ biết thờ con cháu Vũ Đế, giữ gìn xã tắc nhà Triệu, sống chết vì đất nước, như thế há bảo rằng không có nghĩa được hay sao?”.
Từ xưa đến nay nhân dân các nơi thờ phụng rất là tôn kính, hễ có cầu khấn điều gì đều rất linh nghiệm.

Nguyên văn:

山西省國威府栗柴總多福社玉譜古籙

呂南帝事跡

神姓呂諱嘉寧山(黎莊尊時改為安山縣)天福人(今改多福)仕趙文王朝至明王即位拜太傅初明王為太子時入質於漢居長安娶邯郸樛氏女生子興及明王即位因藏先帝璽上書於漢請立樛氏為皇后興為世子漢数遣使者誘明王入朝王稱病不朝從子興立尊樛氏為皇后原樛氏未嫁明王時常與伯陵人安國少季通漢武帝元鼎四年使少季来誘興及樛后入朝少季至後與後私通國人知之多不附樛后后怒欲倚漢威数勸興群臣求內附即因使者上言請此內諸侯三歲一朝漢帝許之錫興與丞相呂嘉銀印次年興及樛后知飭治行装重宝為入朝
其时丞相呂嘉年老歷相三朝尊族仕官為長史者七十餘人男皆尚公主女皆嫁王之子弟及槍梧秦王有連親壻也其㞐國中甚重國人信之多為耳目者得眾心愈於王嘉数諌興勿內附弗咱因称病不見漢使者使者皆注意嘉樛后乃置酒介漢使隂謀欲誅嘉使者飲大臣皆視坐飲使者東鄉樛南鄉興與将相皆西鄉嘉弟呂強為将将卒居宮外行酒后謂嘉曰
南越內附國之利也而相君不更者何也以意激漢使使者弧疑相顧遂莫敢抗嘉見耳目非是即出后怒欲縦嘉以矛興止之嘉遂出分其弟兵仍就柴山竹園私第称病不見使者后欲誅嘉而力不能
漢武帝以為興及樛氏已內附獨嘉不咱命不足興兵欲使将莊参以弍千兵往使莊参曰以好往数人足矣以武往二千人無以為也濟北将韓千秋奮曰以一區區之越又有興及樛后內為應願得勇士三百人必蒦嘉以报於是漢使韓千秋興樛后弟樛樂以弍千人往入境丞相嘉遂不令國中趙王年少樛后本漢人又與漢使乱專欲內附尽持先帝器入献于漢以自媚多縱人行至長安慮賣以為重僕自守一時之利無願趙氏社稷為萬世計慮之意乃與其弟将卒攻興遂殺興及樛后尽殺漢使者遣人先說槍梧秦王及諸郡邑立明王長子衛陽侯建德為王建德即立而韓千秋引兵入境破数小邑嘉乃開道給良未至番禺四十里出兵撃韓千秋等滅之使亟封漢使節置塞上人積石為門以抗漢楼船發兵守要害處漢使博德楊僕等将𢼂萬進兵破石門敗之建德及嘉興𢼂百人夜奔入海以船西去而趙已為博德楊僕等所平矣
世傳以為嘉與戰漢不利䘮其首猶騎馬奔至天本縣(今務本縣)登灰社諸村婦女皆言古今豈有無首而生者遂墜馬為死稔著靈異歷代封曰呂南帝盖表其能與北敵抗也後人称之曰獨不漢印為荣確然求內附為不便不可謂非智誅少季滅千秋亟封漢印㨿守要害攄先王之忄憤於九泉不可謂非勇癈一君立一君惟知事武帝子孫趙氏社稷死生以之遑悔其他不可謂非義從来北方之民歲時奉祀祈禳無不靈驗焉