Kinh giỗ Quốc tổ Hùng Vương

Bản kinh chép trong Kinh nghi lễ của Tổ Tiên Chính Giáo Đại Đạo Sinh Tồn, một tôn giáo hình thành ở vùng Nam Tây Nguyên vào khoảng những năm 1960-1970 và vẫn còn tồn tại đến nay.

Trước Ngọc-Bệ Hồn-thiêng Tổ-Quốc
Khói hương linh phảng-phất trời Nam
Mây tuôn như dệt gấm vàng
Gió lồng bóng nguyệt vẻ càng thiên-nhiên
Nhớ nguồn-gốc Tổ-Tiên khai sáng
Đức Thần-Nông chiếu rạng phương Đông
Đế-Minh ngự giá bệ rồng
Truyền ngôi Lộc-tục nối giòng Nam-phương
Hiệu Xích-Quỷ Kinh-Dương-Vương quốc
Ly Tả-phù, Hữu bật Quỹ-Tinh
Xích-đạo hỏa vượng Thổ sinh
Da vàng máu đỏ trị bình khai nguyên
Lò tạo-hóa khí thiêng sáng-tạo
Máy âm-dương Đại-Đạo hoằng-khai
Rồng-Tiên chung đúc bầu-thai
Giống-nòi Hồng-lạc sáng khai lưu-truyền
Lạc-long-Quân đăng miền Thượng-giới
Cảnh Bồng-lai lui tới tháng ngày
Đền-Rồng Phượng-các chim ca
Rượu bầu thơ túi bốn mùa thiên nhiên
Mẹ Âu-cơ đăng miền tiên-cảnh
Động-đình-hồ ngự-đảnh cung mây
Xe-loan hạc-giá Đông, Tây
Sớm non chiều bể vui vầy thiên-hương
Truyền nhị-thập HÙNG-VƯƠNG tổ-phụ
Khai giang-sơn làm chủ trời Nam
Văn-lang Quốc-Hiệu Hồng-Bàng
Phong-châu đất Tổ thiên-bang trị vì
Núi Ngũ-lĩnh đến thì sông Mã
Ải phân mao hai ngã Bắc Nam
Trường-Sơn một giải núi Lam
Hương-sơn thạch-động thiên-hàm sử kinh
Thành Cổ-loa uy-linh vạn-cổ
Sông Nhị-Hà thủy lộ triều đông
Nam-hải tỏa ánh dương hồng
Hát-giang in bóng con Rồng cháu Tiên
Đất Thanh-hóa Tản-viên Tam-điệp
Hà-nội thành Vạn-Kiếp Thăng-long
Bút Tiên ghi-tạc những dòng
Son Thần in dấu lưu trong sử vàng
Ân TỔ-TIÊN mở đàng khai lối
Máu anh-hùng quyết đổi non sông
Trải bao bão-tố gió-giông
Cuộc đời thay đổi máu hồng chẳng phai
Trước miệng cọp không nài nguy-khốn
Trên nghìn năm Bắc cẩu xâm lăng
Trời Nam sóng dậy đất bằng
Bốn lần Bắc thuộc hung-hăng bạo-cường
Hán, Ngô, Tấn, Tề, Lương, đô-hộ
Tùy, Minh, Đường, Mông-cổ sài-lang
Đồng-trụ ghi dấu bạo-tàn
Cố diệt Giao-Chỉ Hán-bang hóa nòi
Dân lên rừng tìm ngà voi ngọc rết,
Xuống biển mò kiếm hết ngọc trai
Hận-thù chẳng biết kêu ai
Nằm gai nếm mật dồi-mài trí kiên
Phất Long-Kỳ chiêu Hiền triệu Thánh
Tuốt gươm thiêng vung cánh tay thần
Nam bình Lâm-ấp (Chiêm) Chân Lạp (Tần)
Mở bờ cõi bước chân Nam tiến
Khai sơn-hà vượt biển đèo cao
Nắng mưa sương-gió thét-gào
Sơn-hà một gánh đồng-bào hai vai
Bao anh-kiệt tài trai vùng vẫy
Bốn phương trời lừng-lẫy xông-pha
Một vai gánh-vác sơn hà
Một vai gánh nghĩa tình nhà Hiếu-Trung
Nữ anh hùng tay vung Thần-kiếm
Chém kình-ngư nguy hiểm không nao
Má-hồng mang giáp chiến-bào
Tình nhà, nợ nước ai nào thua ai?
Chẳng hổ mặt trai tài gái sắc
Bắc, Trung, Nam rõ mặt anh-hùng
Hận thù chẳng đội trời chung
Giữ-gìn Sông Núi Tổ-Hùng ghi sâu
Ơn Tổ-Quốc ngọn rau tấc đất
Nghĩa Đồng-bào gia-thất quê-hương
Cùng chung giọt máu tình thương
Da vàng máu đỏ Hùng-Vương Lạc-Hồng
Trước Ngọc-Bệ Tiên-Rồng Tổ-Việt
Toàn Quốc-Dân khẩn-thiết kính dâng
Tâm thành Hiếu-niệm Tiền-Nhân
Tri-ân Tổ-Quốc Tiên, Thần Anh-Linh
Hồn Sông Núi oai linh chứng-giám
Quốc-Tổ-Hùng thiêng cảm chứng tri
Long-Thần Hộ-Pháp Thiên-uy
Thần-Hoàng Bổn-Thổ Hộ-Trì Quốc-Dân.

Một ban thờ theo nghi lễ của Tổ Tiên Chính Giáo Đại Đạo Sinh Tồn ở Đăk Lăk

Thần tích xã Hạ Mạo

Thần tích xã Hạ Mạo

Xưa Hùng Vương đời thứ 17 là Hùng Huy Vương sinh người con trai thứ tên là Hùng Ánh. Hùng Ánh thiên tư dũng lược, diện mạo lạ thường, thông minh nhanh hiểu biết, vượt trội hơn người anh. Huy Vương yêu quý muôn lập làm người nối ngôi. Chàng Ánh cố gắng nhường cho anh. Khi ấy phong tục còn chất phác. Các con vua đều gọi là quan chàng, cho nên có tên là quan Chàng Ánh. Đến khi Duệ Vương nối ngôi, phong Chàng Ánh làm Vương tử, ban cho họ Lê.
Khi giặc Thục đến xâm lăng, Chàng Ánh chỉ huy quân binh, có công chống Thục. Từ đó Chàng Ánh nắm quyền triều chính. Duệ Vương về sau trở nên biếng nhác, chìm đắm trong hoan lạc, không quan tâm đến chính sự, việc binh quốc gia buông lỏng. Chàng Ánh hết sức can ngăn nhưng Duệ Vương không nghe. Chán ngán, Chàng Ánh đi ra bộ ngoài, không muốn tham dự vào chính sự quốc gia. Sau giặc Thục đánh Duệ Vương, thế nước nhà Hùng mất. Chàng Ánh rất hận mới luyện binh tuyển tướng, cẩn thận giữ gìn cương giới, bèn tự xưng là Hậu Hùng Vương, không thần phục An Dương Vương. Xưng là nước Việt Tây, nay là Quảng Tây.
Vợ vương là con gái Đông Chu Quân có mang 3 năm, sinh một bầu năm con trai vào giờ Ngọ ngày 14 tháng 3 năm Mậu Thân. Đến khi trưởng thành đều có tướng mạo khác thường, mũi cao, mắt xếch. Một người trên đầu có 7 chấm đỏ, sau lưng có 27 nốt ruồi đen. Một người một tay dài quá gối, mắt xếch tới tai. Một người mắt phượng mũi rồng. Một người mặt vuông tai to, râu đen, tóc xanh, thân dài 10 thước. Năm chàng đều là những người phi thường. Hùng Vương rất vui mừng, hoàng hậu chưa đặt tên nên nhân theo cổ tục khi đó đặt là Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Chàng Tư, Chàng Út mà gọi.
Gặp lúc có tướng Tần Triệu Đà dẫn quân chiếm phương Nam. An Dương Vương có nỏ thần, quân Triệu gặp nhiều thất bại. Hùng Vương (tức là Chàng Ánh, Hậu Hùng Vương ở Việt Tây) sai Chàng Hai đến quân Tần nói với Triệu Đà rằng:
–    An Dương có thù với chúng tôi. Nay phụng nghe đại quân đánh Thục, nước tôi tuy nhỏ cũng xin dẫn ba ngàn quân trợ giúp. Tôi vì báo thù mà trợ giúp ngài định quốc. Tôi lại có mưu này có thể phá được nỏ thần, muốn được tâu với ngài để trù liệu.
Triệu Đà nghe có quân giúp định quốc rất vui mừng, liền nói:
–    Cách nào có thể phá được nỏ thần?
Chàng Hai nói:
–    Nếu thông hôn cho con với ái nữ Mị Châu thì có thể phá được.
Đà bèn cử sứ về nước sai con trai Trọng đến thông hiếu kết nghĩa, sau lại cầu hôn với An Dương để cho Trọng làm con rể, ở đó trộm lấy phá hủy lẫy nỏ. Trọng về báo, phát sứ sang Việt. HùngVương bèn lệnh Chàng Út dẫn ba ngàn quân giúp Triệu Đà đánh Thục chiếm nước thành công. Triệu Đà lên ngôi là Vũ Đế, nhưng vẫn cắt Quảng Tây cho Việt.
Sau 6 năm Hùng Ánh Vương lâm bệnh. Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Chàng Tư cùng nhau nói rằng:
–    Báo thù và mở rộng đất nước đều là công của Chàng Út. Có thể nhường lại nước cho Chàng Út. Chúng ta tạm tìm chỗ không xa mà đến lánh.
Bèn cùng 4 người làm đồ đệ để đi. Bốn tiểu hầu phao lên rằng muốn tìm thuốc, đi tới Triệu. Trong nước họ Triệu thấy có một nơi sông uốn khúc, núi dựng lại quanh co, gặp lúc trời sắp tối. Bỗng thấy năm đám mây nổi lên, trong có Rồng vàng ẩn hiện. Nhân lấy đó là điềm lành để ở, dựng một lầu cao. Bốn Chàng cùng với các đồ đệ cùng đi là Lưu Chính Hoà, Nguyễn Văn Nhân, Đỗ Khắc Cần, Đặng Văn Dư đều xây nhà rồi dẫn con cái đến ở đó, mở ruộng vườn, lập cơ nghiệp lâu dài.
Đến khi Hùng Ánh Vương lâm chung, bốn Chàng đã đi, bèn ban tên Chàng Út Lôi Mao, cho tự cai quản. Ngày 15 tháng 8 Hùng Vương băng hà, Chàng Út phát tang, kế vị, xưng là Việt Tây Út Ngọ Lôi Mao Đại vương. Vũ Đế cho lệnh sách phong. Ba năm tang lễ xong, Vương cho hoàng hậu họ Triệu giám quản đất nước, còn tự thân đi cầu tìm bốn người anh. Vương đi khắp thiên hạ đến nơi dòng sông uốn khúc thì gặp được các anh. Gặp nhau rất vui mừng bèn cho mở đãi tiệc lớn ở trên lầu gác. Sau này thôn có lầu được gọi là thôn Thượng Minh. Lại sai các thủ hạ đến làng đó để đón bốn anh về Việt Tây. Các anh cùng muốn nhường nên bất đắc dĩ báo với vua Triệu. Vũ Đế mới ban sắc rằng:
–    Cha truyền con nối là lễ thế tập. Không quên gốc nước, quân dân quyến luyến là đáng trách. Ngôi trời rất trọng yếu, đâu chỉ là việc lập ra như đồ giả chơi. Quan trọng là phải trở về. Quốc vương Việt Tây tạ thế, có để lại 5 con đều là đức hiền minh. Khi Út Ngọ Lôi Mao thừa cảnh tốt trên có bốn anh đều là bậc thánh trí. Huynh đệ cùng nhường nhau, không nên như Thái Bá bỏ đi. Đàn sáo tương ứng, cùng hòa phép chính, người và vua cùng hưởng, cùng quản việc nước, cùng các vua tướng, theo như sách mệnh là Chàng Cả Đại vương, Chàng Hai Đại vương, Chàng Tam Đại vương, Chàng Tứ Đại vương, Chàng Út Ngọ Lôi Mao Đại vương. Tuân sắc ban.
Từ đó năm vương cùng nhau quản lý việc nước. Được mười năm hoàng hậu họ Triệu sinh được con trai là Chàng Uyên, thông minh sáng suốt. Tới khi trưởng thành năm vương được cử đi sứ trong nước. Năm vương cùng đi đến nơi chốn cũ ở thôn Thượng Minh, tới chỗ nhà cửa trước kia là còn là nơi gà chó trâu bò nay đã thành làng xóm. Bèn lên lầu mà xem cảnh ngày mai tươi sáng. Ở đó được ba năm các thủ hạ cứ cuối mỗi năm ngày 10 tháng 12 đem một con gà cùng với bánh chưng, trầu cau, rượu ngon, năm cặp đũa trúc làm lễ.
Năm vương ở lầu thường thường như vậy. Đến tháng 4 năm Giáp Dần, các vương cùng nhau đi thăm lại nền cũ đất họ Hùng, quay về thấy buồn thảm. Bèn cùng nhau lên núi đi tuần dạo. Đến núi Toàn Dương bỗng thấy có một hang lớn mở ra, mây khói bốc lên. Năm vương đồng thời nhập vào hang không ra nữa. Đó là ngày 15 tháng 5. Do vậy Nguyễn Văn Nhân trở về. Từ ấy lấy làm lệ thường, cứ đúng ngày làm giỗ kỵ, gọi là thánh kỵ. Vào cuối năm thì dâng gà lên lầu như xưa vậy.
Ban đầu Chàng Uyên tiếp ngôi, hiệu xưng là Minh Vương. Khi Hán bình định Nam Việt cùng với Việt Tây, Minh Vương thất thủ mà chết. Con trưởng tên là Hùng Tuấn với Vương hậu cùng chết theo. Con trai thứ Hùng Hòa không chịu nhục, cõng thi thể của cha chạy về chôn ở núi Toàn Dương. Sau ba năm chôn cất xong, dẫn con cái đến thôn Thượng Minh cùng với nhân dân bốn họ cùng sống. Nhưng vì tránh tên Minh Vương nên đã đổi thành xã Hạ Mạo, đổi thôn thành xã từ đó. Bởi vậy cho tu sửa lầu đãi tiệc thành miếu thờ năm vương, hàng tháng ngày rằm mồng một đều có lễ dâng. Thường không có quy định lệ tế như thế nào, chỉ có ngày giỗ và ngày cuối năm thì cúng gà.
Cho đến triều Lý Thái Ninh năm thứ hai ngày 30 tháng 12, cháu 24 đời họ Lê là Tôn Hưng cùng với các họ Nguyễn Trọng Chính, Đỗ Văn Khả, Lưu Đình Côn, Đặng Ngọc Câu lên miếu làm lễ tiết, bỗng thấy một trận mưa to gió lớn khói đen bốc lên không rõ dài ngắn. Ở trong miếu mùi hương lạ phát ra ngào ngạt, sáng như ban ngày. Tôn Hưng cùng các hương trưởng sợ hãi, không dám quay về, mà sai người giữ miếu làm 5 kiện oản cùng các thức hương, trầu cau để dâng lên ban trên. Đến khoảng quá nửa đêm bỗng trên miếu có ánh sáng thần chiếu rực, bỗng nhiên xuất hiện năm người đều có mũi rồng mắt xếch, mặt đỏ như mặt trời mới mọc, đầu đội mũ ngọc, thân khoác áo bào xanh, người đeo đai đỏ, người đeo đai xanh lam, dàn thàng hàng cao phía Tây ngồi trên ban thượng. Khi ấy các hương trưởng đều cùng phủ phục dưới đất, không dám ngửng lên nhìn. Bỗng nghe thấy lời trên miếu nói:
–    Chúng ta phụng sắc của Thượng Đế cai quản dân chúng.
Phút chốc hóa thành năm con rồng vàng bay lên không biến mất. Mây mưa tùy theo mà nổi lên. Mọi người đều sợ hãi, không biết từ đất nào hiện ra. Khi đó thấy người giữ miếu bước lên cao ngồi mà nói:
–    Ta cùng năm tướng nhà nuôi là Lê Hùng Hòa, thường đi theo tùy giá các vương. Khi các thiên tướng giáng loạn, tà mà quấy nhiễu nhân dân, Thượng Đế sắc năm vương hàng năm đi khắp thiên hạ, quản thúc trăm thần, để yên dân cư. Vốn các ngươi là con cháu người xưa, ta cố thỉnh giáng lâm. Năm vương đã giáng lâm, đó là nhờ sức ta cố thỉnh, là phúc vạn đời của các ngươi vậy. Từ nay, phải lập chỗ cho năm vị thần vương cẩn thận. Sự việc đầu năm đi thám xét thiên hạ, tất muốn quay lại nơi đây. Há chẳng là việc phúc lành lớn sao?
Cuối triều Trần thiên hạ đại loạn, quân Ngô xâm lược, chiếm kinh ký. Chúng biết nước Nam khó cai trị nên những nơi xưa đều phá sạch thành đất bằng. Ở Thăng Long người ta thường chôn vàng đắp đất để làm mộ cổ, nên chúng sai người sở tại đến khai quật, được nhiều vàng. Những nơi cũ và nhân dân đều giết sạch, các mộ phần bị phá sạch. Khi đó những người dân trong xã chạy lưu vong hết, họ Lê tập hợp được 200 người, đem hết các phần mộ tổ tiên đi. Tộc trưởng Phúc Kiến muốn lấy trống rồng của năm vị, gieo quẻ xin 5 lần không được, bèn sắp xếp đưa người trong tộc cùng với các gia phả, sự tích chạy vào trong rừng núi. Khi giặc đến nơi thì hương ấp không còn ai theo phục.
Lần đó Thái tổ thua ở chân núi Tiên Du, chạy về phía Tây đến đền thần của bản xã thì trời tối. Chỉ còn có 1 đệ tử đi theo, bèn than lớn rằng:
–    Trời làm ta vong, ta chạy làm gì.
Bèn vào trong đền thần để tạm trú. Thấy một người lạ quần áo thật lớn, theo cửa giữa của miếu ra nghênh đón Thái tổ, theo vào ngồi trên miếu. Người này nhường cho Thái tổ ngồi bàn trên, tự mình ngồi bàn dưới. Thái tổ trong tâm biết là thần vậy.
Người này dâng lời rằng:
–    Trời sinh ra Chân nhân chính vì sinh linh mà trừ giặc tàn bạo. Sao lại tự chịu khuất nhục vậy?
Thái tổ nói:
–    Trẫm đoán là Trời không giúp Trẫm để an dân. Nay khi thiên hạ đại loạn, Trẫm cùng với các tướng tảo trừ loạn, đã tận lực đánh ngoài trăm trận, diệt trừ loài ác để an thiên hạ. Nhưng lại sinh ra Liễu Thăng cường tráng như vậy. Nếu trời định giúp Trẫm, đã sinh ra Trẫm sao lại còn sinh ra Liễu Thăng? Thiên hạ làm sao có thể bình, yên được dân sinh. Nên mới thốt ra lời than thở.
Đại vương nói:
–    Đó là Trời sở dĩ cùng Chân nhân cầu cho Nam Việt, không phải tự tiện mà sinh Liễu Thăng, nên nước Nam chưa được yên ngưng. Thăng là con của thần tiên phong của Thượng Đế, giáng sinh sau, thân dài mười thước, oai trấn vạn người. Người Minh còn phải nhường oai hùng đó. Đó là một chớp cánh phục sinh.
Lại xâm lược phương Nam sáu lần, quân hơn trăm vạn, đều là vì tìm diệt Chân nhân. Vua Minh còn chưa yên tâm, vội vã lệnh cho triều đình nhà Minh mà không có ai đối lại được. Một lần đến mà không được không phải do tự tiện, từ đó mà tăng quân. Chúng có 40 vạn tinh binh. Còn Chân nhân chỉ có 500 người, nay bại cũng không phải là lạ.
Vua nói:
–    Như lời Đại vương thì Trời sẽ giúp Trẫm diệt chúng phải không?
Đáp rằng: – Tất nhiên.
Vua nói: – Có kế gì tốt để làm?
Đáp rằng:
–    Quân của chúng chạy không dừng. Một ngày đi ba bốn dăm. Nay đóng quân ở bờ Nam sông Đà. Đến ngày nọ sẽ qua sông. Đó là khi có thể nhờ vào chỗ hiểm của sông sâu, một trận chiến có thể diệt hết giặc. Xin Chân nhân chớ lo lắng, sau có thể được thỏa chí.
Vua nói:
–    Ta được Trời giúp vậy. Xin Đại vương hãy giúp cho Trẫm.
Vương nói: – Vâng vâng.
Đại vương bèn cho sứ đến núi Tản Viên truyền thông điệp xin được cùng đồng lòng giúp nước,
cho xuất các loại hổ báo, rắn rồng vào trận. Thần núi Tản Viên phát sứ đến hẹn đến ngày 12 trong tháng cùng chiến. Vương đồng ý. Lại cử sứ đến đền Ma Y tướng quân nhờ Ma Y giúp nước. Việc xong, Ma Y tướng quân sai sứ mang một chiếc áo đến cho vua Lê mặc. Đại vương dâng kiếm thần mà nói:
–    Liễu Thăng cưỡi hai con phượng cao 5-6 trượng. Ở chỗ trú ẩn đó có một cây Đường lệ lớn. Chân nhân tới đó thì lên đứng ở phía đầu cành. Liễu Thăng sẽ không thấy. Khi xe phượng đi qua, Chân nhân hãy chém đầu Liễu Thăng. Thần sẽ dẫn quân cùng với thần núi Tản Viên đánh phía sau. Một trận có thể diệt sạch.
Vua Lê lo lắng. Đại vương nói:
–    Chân nhân chớ lo. Mặc chiếc áo này vào thì không ai nhìn thấy cả. Chém được tướng đó thì quân đó thành không đầu. Thần sẽ cùng đến giúp đánh quyết thắng, không lo.
Khi đó các tướng bại trước đó đã động lòng dẫn quân đến hội tập được hơn ba ngàn người. Vua Lê bèn mặc áo Ma Y, cầm kiếm thần đến bờ bắc sông Đà, lên đứng ở trên đầu cây gỗ lớn. Đến quá trưa, quân Ngô vượt sông, bỗng thấy đầu Liễu Thăng rơi xuống đất. Quân giặc đại loạn. Bỗng gió lớn nổi lên ở phía Nam từ núi Tản Viên thổi xuống. Lại thấy rắn lớn hổ mạnh cùng trăm thú trong núi rất nhiều không đếm xuể tiến thẳng tới. Quân Ngô bỏ chạy. Trong một lúc đều rơi xuống sông Đà. Nước sông do thế tắc không chảy được.  Quân Lê thấy một tướng lạ mặc áo xanh đốc chiến, giết quân Ngô không còn một tên. Đến khi Vương toàn thắng, thì không thấy vị tướng áo xanh ở đó nữa.
Vua trở về Thăng Long lên ngôi Hoàng đế, lập hiệu Thuận Thiên, bèn lệnh cho quận công Trần Hãn dẫn quân đến tu sửa miếu điện, dựng nên ba tầng thượng, trung, hạ điện, đều có ba gian. Tháng 5 thì làm xong, phụng mệnh làm lễ tam sinh đến tạ, ban một đạo sắc cho bản xã thờ phụng. Cứ mỗi năm tháng Giêng phát tiền công làm ca xướng một bữa, lệ thường trong năm như vậy. Do đó về sau ngày 18 tháng Giêng là ngày lệ thờ từ đó.
Năm Hồng Đức thứ 4, thiên hạ gặp hạn hán lớn từ tháng 6 đến tháng 8 không có mưa. Triều đình sai sứ đi cầu mưa ở núi Hùng, Tản Viên cùng các đền thờ thần thượng đẳng, tuy có được một chút mưa nhưng không đủ để tưới hết mùa màng. Tháng 8 ngày mồng 2 sai sứ quan đến đền thần ở xã cầu đảo. Bỗng thấy một trận mưa lớn mù mịt như cầu mong, trên từ sông Hạc dưới đến cửa biển Tô Lịch dài ngàn dặm. Lúa ngô tự mọc. Đến mồng 10 sai quan theo lệnh chỉ đến tế ở điện, ca hát một bữa mừng lúa thóc được mùa. Đến mồng 6 tháng 11 sai sứ quan mang lễ vật tam sinh cùng một đạo sắc đến bài trí ở miếu điện tại xã. Đến mồng 10 thì tế tạ cầu mùa được thành, ca hát một bữa. Từ đó bản xã lại có ngày mồng 10 tháng 8 cùng với tháng 11 có ca hát hai lệ phỏng theo đó.
Năm Chính Hòa thứ 8, Đình quân công vâng mệnh xây dựng đường thị đi qua nơi miếu, thấy có một cây Kim giao rất lớn, cao 6-7 tầm, mới gọi đến hương trưởng và rằng:
–    Lầu Kính Thiên của triều đình có một cây cột lớn, hôm trước bị cháy mất. Bộ Công cầu tìm chưa được. Nay đây có một cây có thể dùng được, ta muốn lấy khoảng 10 tiền công phát để các người mua đồ thờ phụng thần, mà triều đình cũng được tiện dùng.
Khi đó chánh tổng Lê Đức Sổ đáp rằng:
–    Xã hèn chúng tôi từ khi có cây gỗ này đến nay qua đã không biết bao đời không dám dùng tới đao búa. Lũ hèn chúng tôi sợ không bán cho Đại quan được.
Quận công nói:
–    Các ngươi không bán thì ta cũng lấy để dùng cho triều đình, không phải để cho riêng ta thì sao lại không thể được.
Bèn lệnh cho đồ đệ chặt cây gỗ, nhưng cây gỗ tuyệt nhiên không suy chuyển gì. Quận công sợ hãi, mổ lợn bày việc tế, lại khấn rằng triều đình tha thiết muốn dùng, xin Đại vương đừng từ chối. Bỗng thấy cây gỗ tự ngả xuống. Bèn đem về đến bến kinh thành. Hoàng đế đích thân ra cầu chú rằng:
–    Đại vương sinh là Thiên tử, mất làm phúc thần. Nay lầu Kính Thiên của Trẫm thiếu một cây cột lớn, cầu tìm không được. Nay Quận công thấy miếu của Đại vương có một cây Kim giao thích hợp. Tuy tự tiện nhưng không thiếu thiện tâm. Xin Đại vương có thể tự hiến để giúp triều đình.
Bỗng thấy cây gỗ chuyển động ba lần. Vua sai Quận công gọi một người dẫn tới tòa hồng, nhẹ như lá vậy. Đế lệnh Quận công bố trí lễ lớn tam sinh cùng một đạo sắc đến miếu thần ở bản xã để tế tạ, nói với hương trưởng ngọn ngành như vậy.
Tích của xã Hạ Mạo.
Vâng sao nguyên bản.
Lý trưởng Lê Văn Kính.

ĐỌC LẠI VIỆT SỬ LƯỢC

Đại Việt sử lược là cuốn sử sớm do một tác giả không biết tên (khuyết danh) viết ở bên… Tàu thời nhà Nguyên và được phát hiện trong đống 4 kho hàng Tứ khố toàn thư của nhà Thanh sau khi Càn Long cho hàng trăm “bác sĩ” thu gom sách sử, bản đồ về “chỉnh lý”…
Về mở sử Việt, tác phẩm này viết như sau:
Xưa, Hoàng Đế dựng nên muôn nước thấy Giao Chỉ xa xôi ở ngoài cõi Bách Việt, không thể thống thuộc được, bèn phân giới hạn ở góc Tât Nam, có 15 bộ lạc là:… Những bộ lạc này đều không thấy đề cập đến trong thiên Vũ cống.
Đến đời Thành Vương nhà Chu, Việt Thường Thị mới đem dâng chim bạch trĩ, sách Xuân Thu gọi là khuyết địa, sách Đái ký gọi là Điêu đề.
Đến đời Trang Vương nhà Chu ở bộ Gia Ninh có người lạ, dùng ảo thuật quy phục được các bộ lạc, tự xưng là Hùng Vương đóng đô ở Văn Lang, đặt quốc hiệu là Văn Lang, phong tục thuần lương chân chất, chính sự dùng lối thắt gút. Truyền được 18 đời đều xưng là Hùng Vương
.”
Tạm thời gác lại vấn đề văn bản của tác phẩm này, mà thử xem nội dung của Việt sử lược nói về thời đại Hùng Vương như thế nào.

  • Thứ nhất, Đại Việt sử lược ghi rõ Giao Chỉ có từ thời “Hoàng Đế mở muôn nước“. Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên được coi là thủy tổ của Trung Hoa, cách nay 5000 năm. Vậy sử Việt cũng bắt đầu từ thời Hoàng Đế, mà Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả gọi là “Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ“.
  • Thứ hai, 15 bộ (bộ lạc) của đất Việt đúng ra là vào thời Văn Lang sau đó, chứ thời Giao Chỉ của Hoàng Đế đâu đã phân ra 15 bộ. Cho nên các bộ này mới “không có trong thiên Vũ cống“, tức là trong lịch sử thời Hạ Vũ.
    Truyện Việt Thường Thị cống chim trĩ cho Chu Thành Vương, tức vị vua thứ 3 của nhà Chu, cho thấy giai đoạn từ Hoàng Đế Hữu Hùng đến thời Chu, ở đất Việt vẫn tồn tại các chế độ xã hội. Thậm chí đã có họ (“Thị”) hay chế độ cha truyền con nối. Hình tượng “khuyết địa” với “điêu đề” chỉ vùng đất miền ven sông biển, nơi có nhiều thuồng luồng nên người dân xăm mình để xuống nước bắt tôm cá. Tương tự trong sách Quảng Châu ký ghi là các Lạc dân làm ruộng theo nước triều lên xuống. Như vậy đây là chỉ giai đoạn của các Lạc vương, Lạc hầu trên đất Việt, những người con theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền biển Đông.
  • Thứ ba, đến thời Trang Vương nhà Chu, có người lạ ở bộ Gia Ninh dùng ảo thuật quy phục các bộ lạc khác, lập nước Văn Lang, xưng Hùng Vương. Tiếp theo giai đoạn xuống biển là giai đoạn của dòng lên núi (bộ Gia Ninh ở phía Tây trên núi) đã dùng những tri thức “vượt thời đại” (ảo thuật) để quy phục các bộ lạc mà lập nước Văn Lang. Đây là chuyện Cơ Xương Văn Vương tác dịch (dùng lối thắt gút – các dịch tượng trong Hà đồ Lạc thư), dựng nên nước của vua Văn, đến Cơ Phát xưng thiên tử trăm nước. Thiên tử tức là con Trời, con cháu của dòng Hữu Hùng Hoàng Đế, vì nhà Chu mang họ Cơ của Hoàng Đế. Đây là lý do mà thiên tử Chu xưng là Hùng Vương, nối tiếp các đời Hùng Vương từ Hữu Hùng Hoàng Đế.
    Sử Việt gọi sự kiện này là Thục Vương đánh chiếm đất Lạc hầu, lập nước Âu Lạc. Lạc là đất của Lạc Vương thì hiển nhiên Thục chính là Âu. Nhà Thục tính từ Âu Cơ lập người con trưởng là Hùng Quốc Vương lên ngôi thiên tử ở Phong Châu (Gia Ninh), phân ra 15 “bộ lạc”, tức là 15 bang quốc chư hầu lớn. Số chư hầu nhỏ thì lên đến hàng trăm, nên gọi là Âu Cơ sinh trăm con Bách Việt. Nếu so với thời “Hoàng Đế mở muôn nước” hay “Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ” thì các chư hầu thời Âu Cơ – Thục Vương có con số hàng trăm là còn ít.
    Thư tịch lịch sử về cổ sử Việt không hề sai, mà sai ở cách đọc, cách nhìn nhận những thông tin ở trong đó. Thời đại Hùng Vương mở sử có 3 giai đoạn:
  1. Hùng Vương Thánh Tổ bắt đầu ngang thời Hoàng Đế dựng muôn nước cách nay 5000 năm.
  2. Lạc triều với con số 4000 năm lịch sử từ cha Rồng Lạc Long Quân khai phá đồng bằng ven biển trải nhiều đời các Lạc vương, phân chia các Lạc hầu cai quản các đầu sông góc bể, xăm mình lội nước đắp đê, gây dựng cơ đồ.
  3. Thục triều với lịch sử bắt đầu ngang với thời nhà Chu, từ mẹ Âu Cơ tác dịch, Hùng Quốc Vương thề trung thành với họ Hữu Hùng, xưng mình là Hùng Vương, lập nước Văn Lang, đứng đầu trong trăm nước Việt chư hầu.

Thư tịch và phân kỳ thời đại Hùng Vương

Sách Quảng Châu ký viết:
Giao Chỉ có ruộng Lạc, theo nước thủy triều lên xuống, dân dựa vào đó trồng trọt để hưởng hoa lợi, dân có tên là Lạc dân, có Lạc vương, Lạc hầu, các huyện tự gọi là Lạc tướng, có ấn đồng thao xanh, tức là chức Lệnh trưởng ngày nay. Sau Thục Vương Tử đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương, đặt trị sở ở huyện Phong Khê. Sau này, Nam Việt vương Úy Đà đánh phá An Dương Vương, lệnh cho hai Điển sứ trong coi dân hai huyện Giao Chỉ, Cửu Chân.”
Đoạn tư liệu này thường được trích dẫn để nói rằng chỉ có Lạc vương, chứ không có Hùng vương… Rồi Thục An Dương Vương sống ngang với thời Triệu Đà…

Thực ra đây là đoạn sử tóm tắt cả thời đại Hùng Vương trên đất Giao Chỉ, mà nay dưới ánh sáng Sử thuyết Hùng Việt, mọi thứ đã trở nên sáng tỏ:

1. Mở đầu thời đại Hùng Vương là các Lạc Vương. Chữ Lạc lấy theo nghĩa của từ Nước (nước triều lên xuống trong ruộng Lạc). Trong truyền thuyết Việt đây là thời kỳ những người con đất Việt theo cha Lạc Long Quân đi khai phá miền đồng bằng ven biển. Giai đoạn này kéo dài từ 4000 năm trước tới quãng 3000 năm trước.
2. Thục Vương Tử đem quân đánh Lạc hầu, tự xưng là An Dương Vương. Chi tiết này rất chính xác. Thục Vương Tử là dòng Thục, tức là dòng theo mẹ Âu Cơ lên núi. Hậu duệ của dòng Thục đầu tiên đánh Lạc hầu ở đất Giao Chỉ. Đánh Lạc hầu chứ không phải Lạc vương vì khi đó đứng đầu vùng đất Giao Chỉ là một vị hầu của Lạc triều. Đây chính là chuyện Cơ Xương (Âu Cơ) đánh Sùng Hầu Hổ, mà sử Việt gọi là Sùng Lãm, dòng Lạc Long Quân.Dòng Thục chiếm được Giao Chỉ, về đóng đô ở Phong Châu (Phong Khê). Sau đó xưng là An Dương Vương. An Dương Vương cũng như Lạc Vương là danh hiệu của một triều đại, chứ không phải chỉ của 1 người. Thục triều An Dương Vương kéo dài hơn 800 năm.
3. Úy Đà đánh phá An Dương Vương, lệnh cho 2 điển sứ coi dân 2 huyện Giao Chỉ, Cửu Chân. Úy Đà trong chuyện này là tướng của Tần. Nói cách khác An Dương Vương đã bị quân Tần diệt vào năm 257 TCN. Nhà Tần bỏ chế độ chư hầu trước đó và lập ra chế độ quận huyện. 2 huyện Giao Chỉ, Cửu Chân có quan trông coi có thể được lập dưới thời Tần. Giai đoạn phong kiến tập quyền trung ương bắt đầu từ Tần Thủy Hoàng, hoàn chỉnh thêm qua thời nhà Hiếu (Tây Hán) và nhà Triệu (Nam Việt).
Như thế, thư tịch cổ đã ghi tóm lược chính xác về thời đại Hùng Vương, chỉ thiếu phần mở nước của các vị Hùng Vương Thánh Tổ ban đầu. Nhìn nhận lại tư liệu lịch sử từ góc độ mới cho phép giải đoán được chân tướng lịch sử Việt.

Lịch sử mạt kỳ Hùng Vương và thời Bắc thuộc

Thời đại Hùng Vương bước sang một trang mới khi Tần Thủy Hoàng hoàn thành đại nghiệp thống nhất lục quốc, lập nên đất nước Trung Hoa, xưng Đế như thời Thái cổ. Tuy nhiên, từ chế độ phong kiến phân quyền, kiến hầu lập bình để chuyển sang chế độ Trung Hoa thống nhất không hề nhanh gọn như vậy. Ngay sau khi Thủy Hoàng mất, thiên hạ nhà Tần lại chia năm xẻ bảy, các chư hầu xưa lại nổi lên. Nhưng bánh xe lịch sử không ngừng tiến lên. Lưu Bang, một đình trưởng nhỏ ở đất Thái Bình (Bái), nhân thời thế tạo anh hùng, đã hoàn thành được việc thống nhất lại thiên hạ, vượt qua đối thủ lớn nhất là Sở Bá Vương Hạng Vũ. Lưu Bang được truyền thuyết Việt gọi là Triệu Vũ Đế hay dã sử gọi là Nam Đế Lý Bôn.

Vấn đề xưng vương cát cứ của các chư hầu dưới thời nhà Hiếu vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Ngay sau khi Lữ Hậu mất, vị Vua Bà nắm đại quyền nhà Hiếu sau Lưu Bang, Trung Hoa lại rạch đôi Nam Bắc. Bắc quốc do chính dòng của Lưu Bang nắm giữ. Nam quốc do một nhánh của họ Lưu với sự trợ giúp của nhà họ Lữ đã xưng Đế nước Nam Việt. Dã sử Việt gọi là Triệu Việt Vương, nối nghiệp Lý Nam Đế ở nước Nam Việt.

Phải tới khi Lưu Triệt, một vị quân vương hiển hách của nhà Hiếu trị vì thì nước Nam Việt mới bị diệt. Vua Triệu cùng thừa tướng Lữ Gia bỏ kinh đô Phiên Ngung thất thủ, lên lâu thuyền chạy về phương Nam, tới vùng cửa biển Đại Ác ở Nam Định thì bị quân của nhà Hiếu truy sát. Vua Triệu bị bắt giết. Nhưng gia quyến nhà Triệu là các hoàng phi họ Lữ ngược dòng sông Đáy về đất tổ Phong Châu ẩn náu. Để rồi một thời gian ngắn sau đó, tại cửa sông Hát, Trưng nữ Vương lập tế đàn cầu khấn tiên tổ Long Quân, thề đền nợ nước trả thù nhà, dẫn quân chiếm lại Long Biên.

Khởi nghĩa của Trưng Vương họ Lã làm chủ được đất Bắc Việt trong vài năm. Nhà Hiếu một lần nữa cử Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức kéo sang, dập tắt cuộc khởi nghĩa, lập lại chế độ quận huyện ở miền Bắc Việt. Vùng đất này trở thành Giao Châu 7 quận, với trị sở ở Luy Lâu. Nối tiếp cai trị tại đây là các Thái thú, Châu mục người địa phương, rất có học thức và có lòng với non sông đất nước là Đặng Nhượng và Tích Quang. Những vị cư sĩ họ Đặng được người Việt tôn làm Nam Giao học tổ, và khắc ghi công đức giáo dân hóa lý trên miền đất này.

Cuối thời Hùng Vương, Vương Mãn là một ngoại thích đã tiếm ngôi nhà Hiếu và thực hiện một loạt cải cách sâu rộng trên cả nước. Tiếc thay, cải cách tiến hành quá vội vã đã làm lung lay cơ tầng toàn xã hội, dẫn đến thế nước suy vong. Nhân thời Trung Hoa suy yếu, lũ thảo khấu Lục Lâm đắc thế chiếm được kinh đô Trường An, rồi dần thôn tính các vùng đất, trong đó có cả trận tử chiến của các cư sĩ họ Đặng ở Long Biên. Trung Hoa rơi vào thời Bắc thuộc bởi Hán quân từ Hán Quang Vũ.

Những cuộc khởi nghĩa giải phóng đất nước chống lại sự cai trị của Hán tộc từ đó chưa bao giờ ngừng, lớp trước nối tiếp lớp sau, lấy máu xương đắp đổi núi sông. Trền miền đất Việt, thủ lĩnh khởi nghĩa lúc này là Lý Bí, mà được sử chép là Khu Liên, đánh phá châu quận, giết được thứ sử Giao Châu là Chu Phù. Khu Liên có lẽ đã lên ngôi vua, mở ra nước Lâm Ấp ở phương Nam nên được gọi là Lý Nam Đế.

Khởi nghĩa của Lý Bí – Khu Liên bị giặc Hán đàn áp. Khu Liên mất, hoặc hy sinh. Lâm Ấp bấy giờ bị chia thành 2 phần. Phần phía Đông với trị sở ở Long Biên (Luy Lâu) do bên ngoại của Khu Liên mang họ Phạm cai quản. Sử chép là Sĩ Nhiếp. Phần phía Tây với trị sở ở vùng đất Ô Diên (Sơn Tây) do chính dòng họ Lý nắm giữ, sử gọi là Lý Phật Tử. Họ Lý vốn có nguồn gốc từ Lý Bôn – Triệu Vũ Đế nên xưng là Nam Chiếu. Người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế.

Trong khi đó, Hán tộc ở phương Bắc bị một loạt các cuộc khởi nghĩa của người Trung Hoa làm lung lay, mà lớn nhất là khởi nghĩa Hoàng Cân của anh em họ Trương. Từ đó dẫn đến hình thành thế chân vạc ba nước Ngụy Thục Ngô mà Thục và Ngô là 2 nước của người Hoa Việt, Ngụy là đám giặc ngoài Hán tộc. Bởi vậy mà Phạm Tu – Sĩ Nhiếp sau đó đã theo về với Đông Ngô, được phong là Long Biên Hầu. Còn Lý Phật Tử được biết dưới tên Man Vương Mạnh Hoạch, nhờ sự chiêu dụ của Võ Hầu Gia Cát đã thuần phục nhà Thục. Cả 2 vùng Đông và Tây Bắc Việt lúc này đều ở chế độ tự trị với nhà Ngô và Thục.

Khi nhà Tấn diệt Thục, vùng đất Tây Bắc của Lý Phật Tử – Mạnh Hoạch vẫn độc lập. Còn vùng đất phía Đông đã sát nhập vào Đông Ngô sau khi Sĩ Nhiếp qua đời, rồi tới thời Đào Hoàng đã phải hàng nhà Tấn. Chỉ còn lại mảnh đất phía Nam Trung Bộ do con cháu họ Phạm nắm giữ, vẫn xưng là Lâm Ấp, không phụ thuộc vào nhà Ngô hay Tấn.

Trải qua các đời Tấn, Tề, Lương, Trần, vùng Tây Bắc Việt vẫn độc lập dưới tên nước Nam (Nam Chiếu) do họ Lý làm vua. Gần đây Thiền sư Lê Mạnh Thát đã phát hiện vào thời này có những bức thư của một vị thủ lĩnh Giao Châu là Lý Miễu gửi cho các vị sư ở đất Bắc. Lý Miễu chính là dòng dõi Lý Phật Tử, nối đời cai quản vùng Tây Bắc Việt.

Tới thời Tùy, khi Giao Châu đạo hành quân tổng quản Lưu Phương áp sát vùng Tây Bắc, hậu duệ của họ Lý là Lý Bát Lang đã chiến đấu chống trả, rồi cuối cùng cũng hàng nhà Tùy. Từ đó Trung Hoa trở lại thống nhất toàn lãnh thổ như thời Triệu Vũ Đế – Lý Bôn xưa. Mảnh đất ở cực Nam là Lâm Ấp, cũng đã bị Lưu Phương tấn công và xóa sổ các vua họ Phạm. Lâm Ấp chấm dứt, thay vào đó là thời kỳ Hoàn Vương của người Chăm từ miền Nam Trung Bộ nắm giữ.

Đình Giang ở Viên Nội, Ứng Hòa, thờ Lý Nam Đế, người đã khai mở Lâm Ấp.

Điểm mới của “tường thuật” lịch sử trên đây là ở nhận định: Hậu Lý Nam Đế Lý Bí được thờ ở Việt Nam ngày nay không phải là Lưu Bị nhà Tây Thục, mà là Lý Khu Kiên (Khu Liên) của Lâm Ấp. Lưu Bị chưa từng tới đất Việt nên khó có khả năng ở Việt Nam thờ ông một cách dày đặc như thờ Lý Bí. Hơn nữa, có một số dẫn chứng cho thấy sự liên quan giữa Lý Bí và Lâm Ấp, như câu đối ở đình Giang tại Viên Nội, huyện Ứng Hòa, Hà Nội, nơi thờ Lý Bí:

Nam diện ung dung, thác thủy tương truyền Lâm Ấp địa
Giang đình nghiễm nhã, cận quang trường chúc Vạn Xuân thiên.

Dịch:

Phương Nam ung dung, khởi đầu truyền đó đất Lâm Ấp
Đình Giang nghiêm nhã, rực sáng mãi còn trời Vạn Xuân. 

Nam Thiên cổ miếu thờ Triệu Việt Vương ở Hoằng Trung, Hoằng Hóa, Thanh Hóa

Hay ở Hoằng Hóa, Thanh Hóa có đền thờ Triệu Việt Vương với sự tích vua Việt họ Triệu đi đánh dẹp Lâm Ấp ở Cửu Đức, Nhật Nam, là sự kiện không có đối với Triệu Quang Phục. Triệu Việt Vương đánh Lâm Ấp ở đây là vua Việt họ Lý thời nhà Triệu, tức là thời kỳ Nam Triệu của Lý Bí hay Lý Phật Tử.

Bảng sau tóm tắt lịch sử Việt vào cuối thời Hùng Vương và thời Bắc thuộc:

Thần chính khí Long Đỗ là ai?

Hai cuốn sách cổ Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh tập đã ghi chép lại sự tích về thần Long Độ (Long Đỗ), trong đó nhắc đến đoạn với Cao Biền như sau:

Khi xưa, Cao Biền đời nhà Đường được cử sang cai trị Giao Châu, cho đắp thành Đại La. Một hôm, Biền đang vẩn vơ dạo ngoài cửa đông thành, bỗng thấy mưa to gió lớn, rồi một đám mây ngũ sắc bốc lên từ mặt đất, tụ lại ở trên không, tia sáng bốc lên chói mắt, khí trời trở nên lạnh lẽo. Giữa đám mây, thấy hiện ra một người “đầu đội mão xích hoa, thân mặc áo tử hà, xiêm là, giày đỏ, bay lượn ở trong mây mù, hương lạ thơm lừng, đàn sáo hợp tấu, lững lờ uyển chuyển, lúc thấp lúc cao, lâu ước độ hai khắc rồi bỗng nhiên tan mất”. Cao Biền kinh dị, cho là yêu quái. Đêm hôm ấy, Biền mộng thấy người gặp lúc ban ngày, đến bảo rằng: “Ta là Long Độ vương khí quân, thấy ông mở rộng kinh thành thì đến xem chơi, chớ có ngờ”. Biền tỉnh dậy than: “Ta không biết làm chính trị nên quỷ thần vượt mặt ta, sự này là điềm lành hay điểm gở?”. Có người khuyên Cao Biền dựng đền, đắp tượng thờ rồi lấy một nghìn cân sắt, đồng làm bùa trấn yểm, Biền làm y như vậy. Bỗng một trận cuồng phong nổi lên quật đổi cây to, tung đất, làm tất cả đồng sắt trấn yếm đều biến thành tro bụi. Biền than thở: “Ta phải về Bắc thôi”, sau quả nhiên như thế.

Trong Lĩnh Nam chích quái cũng như trong tín ngưỡng dân gian từ lâu, thường đồng hóa hai vị thần Long Đỗ và vị thần của sông Tô Lịch  lại làm một. Trong Tô Lịch giang thần truyện của Lĩnh Nam chích quái đã chép lại truyện thần sông Tô Lịch, trong đó có đoạn sau kể về việc Cao Biền gặp thần sông Tô Lịch không khác gì truyện kể ở trên về thần Long Đỗ.

Đền Bạch Mã

Thần Long Đỗ cũng được chép chung với thần Bạch Mã trong các sự tích, nhưng thần Bạch Mã hiển linh dưới thời Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, chứ không phải thời Đường Cao Biền. Vậy thần Long Đỗ là nhân vật lịch sử nào?

Một gợi ý hết sức hay về thần Long Đỗ là cuốn Bách Việt triệu tổ cổ lục của họ Nguyễn ở Bình Đà chép về bà Đỗ Quý Thị, húy là Ngoan, có tên tự là Đoan Trang. Tục truyền bà là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch vùng Nghi Tàm. Bà còn có 8 người em trai được tôn là Bát bộ kim cương, có công phù giúp người cháu là Lộc Tục…

Vị thần sông Tô Lịch hay thần hồ Dâm Đàm (hay hồ Mây Mù như từ dùng của Bách Việt triệu tổ cổ lục) không ai khác chính là Lạc Long Quân, còn được thờ là Uy Linh Lang ở dọc bờ hồ Tây. Hồ Tây là “đầm rồng của thủy quốc Động Đình”, tức là kinh đô của Lạc Long Quân. Kinh đô này có tên là An Ấp, nay còn lưu trong địa danh Yên Phụ (Yên Hoa, An Trì, Yên Thành, Yên Ninh…), nơi thờ chính của Uy Đô Linh Lang Đại vương (xem thần tích đền An Trì).

Bách Việt triệu tổ cổ lục còn đề cập đến việc dòng họ Nguyễn Đỗ đến bên bờ hồ Mây mù sinh sống, trồng cây hoa gạo để đánh dấu nơi ở của mình. Trong tiếng Việt cổ “gạo” còn được gọi là “kháo”. Vì thế hồ Mây mù (dâm Đàm hay Hồ Tây) lúc đầu được gọi là “hồ xác kháo”, tức là để chỉ ở ven bờ và cả mắt nước hồ rụng đầy hoa gạo. Lâu dần chữ “kháo” đọc biến âm đi thành chữ “cáo”… (theo Lã Duy Lan).

Việc hồ Tây liên quan đến cây Gạo cũng gặp trong sự tích về Uy Linh Lang, rằng bà phi họ Lạc của Diệu Đế sinh ra một bọc trứng, cho là điềm quái lạ bèn đem vứt ở bên bờ sông Hồng chỗ bãi Nhật Chiêu. Bọc trứng nở ra 7 con rồng bay lên. Đời sau trồng ở chỗ đó 7 cây gạo (mộc miên) để tưởng nhớ chuyện này… (Tây Hồ chí).

Nói cách khác, cây Gạo là biểu tượng của các vị thủy thần trong hình rồng. Uy Linh Lang cùng với “Đoài hồ Thất Giáp” là Lạc Long Quân và “Lục bộ Thủy phủ” đã dâng nước tiêu diệt Cửu vĩ Hồ ở đầm Xác Cáo (Truyện Hồ tinh).

Bà Đỗ Quý Thị tương đương với bà phi Diệu Đế, là mẹ của Lạc Long Quân, tức Quý Nương sinh Hoàng Xà ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình), hay Phan Nương Thánh mẫu Động Đình ở đình La Phù (Thanh Thủy, Phú Thọ), tức chính là Mẫu Thoải… 8 người anh em họ Đỗ tương đương với Lục bộ thủy phủ hay Đoài hồ Thất giáp hay Ngũ vị Tôn quan trong Tứ phủ.

Hoành phi Long Đỗ Đại vương và Linh Lang Đại vương ở đình Cổ Vũ (phố Hàng Gai, Hà Nội)

Thần Tô Lịch và thần Bạch Mã như vậy hiển linh ở 2 thời gian khác nhau (thời Đường Cao Biền xây thành Đại La và thời Lý Thái Tổ xây Thăng Long) nên chưa chắc đây là cùng một vị thần. Thần Long Đỗ thực sự là Long – Rồng, là Long Quân mà được thần xưng danh ngay trong truyện: Ta là Long độ vương khí Quân… Còn thần Bạch Mã có thể là một vị thần khác, gắn liền với vùng Long Biên, do ở đó còn nhiều di tích thờ thần Bạch Mã. Bạch Mã như vậy là Long Biên hầu Sĩ Nhiếp, không phải vị cổ thần từ thời quốc sơ.

Một trong những bằng chứng về sự phân biệt giữa thần Tô Lịch và thần Bạch Mã là đình Tân Khai ở khu phố cổ Hà Nội, thờ 2 vị thần này riêng biệt cùng với thần Thiết Lâm. Tới đây đã có thể kết luận về lai lịch của 3 vị thần của thành Đại La – Thăng Long là:

– Thần Tô Lịch, cũng là thần Long Đỗ, chính là Long Quân hay Linh Lang Đại vương.

– Thần Thiết Lâm chỉ vùng đất ở phía Tây của hồ, ứng với Cửu vĩ Hồ, là dòng lên núi đã bị Long Quân cùng những vị thủy thần khác đánh đuổi.

– Thần Bạch Mã là “cụ già” làm quan trưởng lại ở địa phương thời đầu Công nguyên, tức là Long Biên hầu Sĩ Nhiếp.

Biển đề Long Đỗ chung linh tại đình Tân Khai

Câu đối ở chính điện đình Tân Khai:

Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích

Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.

Câu đối khẳng định đất Đại La chính là kinh đô của thời Lạc Long Quân xưa.

Nguồn gốc người Việt và chân tướng lịch sử thời đại Hùng Vương

Những giá trị mới trong cuốn Thiên thư: HÙNG VƯƠNG THÁNH TỔ NGỌC PHẢ sưu khảo, tái bản lần thứ nhất

Cuốn Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả sưu khảo do Nhóm Nghiên cứu Di sản văn hóa Đền Miếu Việt vừa mới được tái bản sau 1 năm ra mắt lần đầu, với 5000 ấn bản khổ lớn, bìa cứng, in màu 392 trang. Khác so với với bản in lần đầu, bên cạnh các bản Ngọc phả Hùng Vương trong lần tái bản thứ 1 này cuốn sách đã được bổ sung nhiều bài viết và tư liệu mới nhằm làm sáng tỏ lịch sử thời đại Hùng Vương của người Việt từ những góc độ tôn giáo, lễ hội văn hóa, di tích tín ngưỡng và di vật khảo cổ. Đây là những thông tin vô giá như chìa khóa để mở ra cánh cửa về với cội nguồn lịch sử thật sự hơn 4000 năm của người Việt.

1. Những đóng góp của Phật giáo

Điểm nổi bật của lần xuất bản này là có sự góp sức của các Thượng tọa Phật giáo. Mở đầu giới thiệu là thầy Thích Thọ Lạc, Trụ trì chùa Yên Phú, Trưởng Ban văn hóa trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã có Đôi lời về Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, trân trọng giới thiệu cuốn kinh sách này tới những người dân đất Việt có lòng yêu đất nước và mộ đạo pháp. Lời bạt của cuốn sách được Thượng tọa Thích Minh Thuận, Phó trưởng ban trị sự Phật giáo tỉnh Phú Thọ, nơi đất tổ Hùng Vương viết, nêu bật Giá trị của sự tri ân báo ân tiên tổ đối với con người và xã hội Việt Nam hiện tại.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả đã cung cấp những dẫn chứng cụ thể về Đạo Phật du nhập rất sớm vào nước ta từ thời Hùng Vương, như việc Phật giáng dưới thời Hùng Chiêu Vương, tặng cho vua Hùng 2 bảo bối chế thành Thiên Linh kiếm và Vương Linh ấn. Bản thân bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền là bản được biên soạn bới Thư ký của Lê Đại Hành, tức là bởi vị Thiền sư Pháp Thuận nổi tiếng.

2. Tập hợp các ngọc phả Hùng Vương

Bản ngọc phả lưu tại đền Vân Luông với tên Hùng Vương kim ngọc bảo giám thực lục là sự tổng hợp các bản ngọc phả Hùng Vương được biên soạn qua các thời, bao gồm:

– Bản thời Lê Đại Hành là Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền với tên hiệu và các thông tin về 18 chi Hùng Vương.

– Bản thời Hậu Lê là Nam Việt sử ký là những câu chuyện thời Hùng Vương được ghi chép theo dòng lịch sử.

– Bản thời Minh Mạng bổ sung phần Hùng Vương tự lệ và lịch kỷ là những điển thờ, huyệt mộ và tục thờ Hùng Vương qua các triều đại.

Toàn bộ các bản ngọc phả này đã được dịch và cung cấp bản chụp gốc trong cuốn sách.

Cuốn sách cũng giới thiệu bản dịch cho Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ, là bản ngọc phả được lưu tại đền Hóa Đại Đình Tây Thiên, là chính bản thần tích cho việc phụng thờ Tây Thiên Quốc Mẫu, vị Mẫu đầu tiên của người Việt thời Hùng Vương.

3. Đối chiếu ngọc phả và di tích tín ngưỡng Hùng Vương

Ngọc phả Hùng Vương vốn là sách báu dùng trong việc thờ cúng các vị vua Hùng nên khảo cứu ngọc phả Hùng Vương không thể tách rời khỏi những di tích tín ngưỡng và văn hóa gắn với miền đất Tổ. Đối chiếu Ngọc phả với các di tích và các vùng văn hóa Hùng Vương cho phép xác tín những thông tin trong Ngọc phả về các vua Hùng, cũng đồng thời giúp chúng ta có được một góc nhìn và sự hiểu biết sâu sắc chính xác hơn đối với Ngọc phả, với từng nhân vật, sự kiện được quốc phả ghi lại và lưu truyền.

Mỗi một vùng di tích gắn với những nhân vật và câu chuyện cụ thể. Vùng di tích đền Hùng gắn với tục thờ Tam Sơn Thánh Tổ Hùng Vương. Vùng Phú Thọ và phía Bắc đền Hùng nổi bật là các di tích thờ Thái tổ Hùng Vương Đột Ngột Cao Sơn. Vùng hữu ngạn sông Lô ở phía Đông đền Hùng là phạm vi thờ 2 vị Viễn Sơn Thánh Vương, Ất Sơn Thánh Vương cùng 2 vị công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung. Vùng núi Lịch ở Sơn Dương, Tuyên Quang là bằng chứng rất rõ ràng về sự tích Ất Sơn Đế Thuấn lập nghiệp…

4. Văn tự thờ Hùng Vương

Ngoài việc cung cấp các tư liệu Hán Nôm của đền Vân Luông (Vân Phú, Việt Trì) lần xuất bản này còn cung cấp toàn bộ tư liệu của đình làng Triệu Phú hay đình Trẹo. Làng Trẹo vốn là dân trưởng tạo lệ của đền Hùng nên việc thờ cúng ở đền Hùng đều do dân làng Trẹo đảm trách. Khi đền Hùng được tu sửa thành di tích quốc gia như hiện nay thì các hoành phi câu đối cổ đã được đưa về để trong đình làng Trẹo. Những bức hoành phi và câu đối này là vật chứng rõ ràng cho tục thờ cúng Hùng Vương như tổ của Bách Việt.

Làng Trẹo cũng là nơi có tục đón vua Hùng về ăn Tết với dân làng nên nơi đây còn có một bộ văn tế Hùng Vương theo các kỳ lễ tiết rất đặc sắc, từ văn tế ngày 26 tháng Chạp, tế Nguyên đán, mồng 2, mồng 4, mồng 6, mồng 7 tháng Giêng tới văn tế ngày mồng 1, mồng 2 tháng 8.

5. Lịch đồ 18 triều Hùng Vương

Phần đặc biệt giá trị trong cuốn sách trong lần xuất bản này là việc khảo cứu và lập nên phả đồ kết nối toàn bộ lịch sử 18 triều đại Hùng Vương, với 4 giai đoạn phát triển của xã hội Việt từ thấp đến cao. 5000 trước Đế Minh đã khởi đầu dòng họ Hùng, lập nên triều đại các Hùng Vương Sơn Thánh Tổ. Sơn triều truyền tới Kinh Dương Vương – Lạc Long Quân thì bắt đầu thời kỳ thị tộc phụ đạo, cha truyền con nối. Kinh triều trải qua các đời, tới Hùng Duệ Vương thì nhường lại vị trí thiên tử của thiên hạ cho dòng Thục Âu Cơ, bắt đầu thời kỳ phong kiến phân quyền, 1 thiên quốc và trăm chư hầu Bách Việt. Thời kỳ Thục triều này kéo dài hơn 800 năm thì được thống nhất bởi nhà Triệu, xã hội Việt bước sang chế độ phong kiến tập quyền.

Đi xa hơn những bản ngọc phả trước đây khi chỉ nêu tên hiệu các vua Hùng, phả đồ lịch sử Hùng Vương trong sách đã nêu rõ chi tiết các tên gọi, quốc hiệu, niên đại, vị trí kinh đô, các truyền thuyết và di tích liên quan tới từng tên hiệu trong 18 Hùng triều. Cuốn sách cũng cung cấp một bảng đối chiếu các giai đoạn Hùng Vương với các nền văn hóa khảo cổ trên đất Việt qua các thời Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun tới Đông Sơn.

6. Thời đại Hùng Vương trên báo Lao Động

Cuốn sách công bố một loạt các bài đã đăng trên báo Lao Động trong năm 2021 với những chủ đề khác nhau trả lời cho các câu hỏi thường gặp về thời đại Hùng Vương. Đó là về 3 vị vua Hùng thờ ở đất tổ, về núi Thái công cha và suối Nguồn nghĩa mẹ, về Tản Viên Sơn Thánh trị thủy sông Đà, về bãi Trường Sa nơi Tiên Rồng gặp gỡ, về kinh đô đầu tiên của nước Việt Thường bên bờ hồ Dâm Đàm, về chiếc Âu vàng đựng bào ngọc trăm trứng của mẹ Âu Cơ, về nguồn gốc các dòng họ người Việt… Đây là những bài báo ngắn gọn nhưng nội dung rất đặc sắc, như lần lượt hé mở từng cánh cửa tìm về với cội nguồn người Việt.

Cuốn sách Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả sưu khảo là sự giải đáp cho các thắc mắc của người đọc từ việc thờ cúng các vị thánh tổ Hùng Vương, là nguồn tư liệu quý báu của cha ông để lại về lịch sử người Việt đến những bảng biểu, sơ đồ khái quát được lịch sử hàng ngàn năm với những phương pháp và góc nhìn nghiên cứu độc đáo. Tất cả đặt trong một tâm thức hướng về nguồn cội và tri ân công đức tổ tiên.

Đây là cuốn Thiên thư về cội nguồn của người Việt, nước Việt, mà bất cứ ai là con cháu vua Hùng không thể không tìm đọc.

Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ

Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đới thượng triều tôn.

Sách ebook VIỆT ĐIỆN TỨ LINH Tứ phủ, Tứ linh, Tứ bất tử, Tứ trấn, Tứ pháp

Lời nói đầu

Thường nghe: nước Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến… Bốn ngàn năm, con số không hề nhỏ đối với lịch sử của một quốc gia trên thế giới này. Bốn ngàn năm lịch sử đã kết tụ thành một nền văn hóa Việt phong phú, đặc sắc, giàu giá trị nhân văn. Lịch sử và văn hóa luôn gắn liền với nhau. Dòng chảy lịch sử làm nên văn hóa tộc người và văn hóa đến lượt mình định hướng cho hành vi của con người trong cuộc sống hiện tại mà làm nên tương lai.

Văn hóa Việt có một lịch sử lâu đời như vậy nhưng còn có biết bao câu hỏi về nguồn gốc, về lịch sử văn hóa Việt chưa được giải đáp thỏa đáng. Suy nghĩ hiện nay của đại bộ phận người Việt, kể cả các nhà nghiên cứu chuyên môn, cho rằng văn hóa Việt được hình thành chủ yếu mới từ thời Lý cách đây ngàn năm, vì trước đó là ngàn năm chịu sự đô hộ của phương Bắc và trước nữa là thời “khuyết sử”, không biết đã có “ta” hay chưa nữa. Và rằng văn hóa Việt là sự vay mượn, không phải của Trung Quốc thì là Ấn Độ, thậm chí còn là của Chămpa…

Có thực như vậy không? Di sản văn hóa Việt có gì đáng giá? Liệu văn hóa Việt có đóng góp đáng kể gì cho nhân loại? Tại sao Việt Nam sau ngàn năm Bắc thuộc lại vẫn thoát ra một cách độc lập, không bị đồng hóa? Bản lĩnh văn hóa của người Việt là do đâu mà có? Rất, rất nhiều câu hỏi cần tìm câu trả lời.

Thế hệ người Việt Nam hiện tại đang phải hứng chịu hậu quả của một thời kỳ đứt gãy hàng trăm năm về văn hóa, khi những nền tảng truyền thống kết tinh hàng ngàn năm bỗng nhiên bị gạt bỏ, thay bằng lối sống, văn hóa xa lạ của phương Tây. Trước hết là chữ Nho, thứ chữ tượng hình vốn là sản phẩm sáng tạo của người Việt đã bị thay bằng chữ quốc ngữ, dẫn đến nhiều từ, nhiều ngữ của tiếng Việt không còn được hiểu đúng, dùng đúng. Di sản văn hiến Việt được lưu giữ bằng chữ Nho trở nên “không đọc được” với đại bộ phận người Việt hiện nay.

Mỹ thuật, kiến trúc truyền thống cũng đã thay đổi hoàn toàn, thiếu sự tiếp nối hài hòa. Những mái đình, mái đền cong vút, tương trưng cho bầu trời bao la của phương Đông, bị thay bằng những nhà mái bằng khô cứng. Các nghề thủ công truyền thống như chạm khắc, đúc đồng, làm gốm, vẽ tranh… phần nhiều bị thất truyền hay mai một, khiến những sản phẩm ngày nay làm ra không thể nào có được nét tinh tế và sự sáng tạo của thời xưa. Giá trị thẩm mỹ trong văn hóa Việt như thế đã “tiến lùi” rất nhiều so với trước đây.

Các lễ hội truyền thống xưa kia làng nào cũng có, nay phần nhiều đã bị mai một sau thời gian chiến tranh loạn lạc kéo dài hàng trăm năm vừa qua. Tục thờ thần của người Việt vốn rất phong phú, ẩn chứa trong nó những giá trị tinh thần to lớn, cũng bị biến dạng, nhiều khi trở thành tệ nạn mê tín dị đoan vì không mấy ai hiểu đúng bản chất của những tín ngưỡng này.

Trong một hoàn cảnh khó khăn như vậy, cái gì để có thể chứng minh “Có một nền văn hóa Việt Nam” bản sắc và đáng giá? Nhận diện lại nguồn gốc văn hóa truyền thống do đó là việc làm hơn lúc nào hết cần thiết cho phát triển tương lai văn hóa Việt.

Nhà văn Hoài Thanh từng viết: Văn hóa phải khơi nguồn từ đại chúng: đó là điều nhất định. Một khi văn hóa đi xa đại chúng ắt sẽ mất dần sức sáng tạo, sẽ khô héo dần đi. Văn hóa cũng như một cái cây, không thể sống lơ lửng giữa trời. Muốn cho nó đâm chồi nảy lộc, phải cho gốc rễ nó ăn vào đất, nước. Khôi phục các giá trị văn hóa văn minh như vậy trước hết phải dựa vào đại chúng, vào như những di sản của dân gian còn lưu truyền lại được. Văn hóa dân gian thực sự còn nhiều khi “bác học” hơn cả văn hóa bác học ngày nay vì nó được cô đọng cả hàng ngàn năm lịch sử trong nội tại của mình.

Thành tựu của khoa học lịch sử gần đây đã sang một trang mới cho việc tìm hiểu văn hóa Việt. Phát hiện về nguồn gốc lịch sử Việt cũng đồng thời với việc xác định nguồn gốc và tiến trình văn hóa Việt. Nền văn minh Việt đã từng là ánh đuốc soi đường cho cả phương Đông đi lên trong suốt hàng ngàn năm của quá khứ. Di sản vật chất Việt trước hết phải kể đến là trống đồng, siêu phẩm trí tuệ và kỹ nghệ của người Việt. Trên trống đồng có ghi đầy đủ những khái niệm Dịch học, nền tảng của văn hóa của phương Đông. Những truyền thuyết Việt lại chép rất đầy đủ về công tích các thánh nhân, các lãnh tụ, các anh hùng nghĩa sĩ của lịch sử Trung Hoa. Những hình tượng mỹ thuật thường thức nhất, gặp trong các chốn đình đền Việt lại mang đậm tính Dịch lý và nét văn hóa của Trung Hoa cổ. Tại sao văn hóa Việt lại chứa đựng cả triết lý và nguồn gốc của Trung Hoa cổ đại?

Đạo thờ tổ tiên hay Đạo Hiếu ở người Việt đã làm nên một di sản văn hóa Việt bất hủ với hàng trăm các vị thần đủ mọi mặt của đời sống xã hội. Nổi lên hơn hết là những vị anh hùng, những thủ lĩnh của quốc gia đã có công dựng nước, giữ nước, phát triển văn hóa xã hội. Tất cả được lồng ghép vào một hệ thống tín ngưỡng mang tên là Công đồng Tứ phủ, với đầy đủ thứ bậc vua, quan, mẫu,…

Từ những hiểu biết mới về lịch sử và nền tảng Dịch học của văn hóa phương Đông cuốn sách này tập hợp những bài viết nhằm giải mã nguồn gốc văn hóa Việt qua phân tích những nhân vật được thờ trong thần điện Việt. Cuốn sách muốn gửi tới bạn đọc một sự góp nhặt mới, dù là rất nhỏ nhoi trong biển văn minh kỳ vĩ mà nhân dân Việt đã sáng tạo ra qua hơn bốn ngàn năm lịch sử.

Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu

Sách phát hành online bởi Hùng Việt sử quán.

Bất kỳ sự sao chép, in ấn nào từ tác phẩm với mục đích thương mại đều phải được phép của tác giả.

Link tải sách:

https://drive.google.com/file/d/1cGNYy9di78ACcQ3qhi_Epq0HoFH5oOAH/view?usp=sharing

Liên hệ để nhận mật khẩu theo:

    Facebook: https://www.facebook.com/hungvietsuquan

    Email: bachviet18@yahoo.com, 

    Phone, Zalo: 0559551003.

Thượng Nguyên giữa lòng Hà Nội

Ngày Rằm tháng Giêng là ngày Tết Nguyên Tiêu hay Tết Thượng Nguyên, là một lễ tiết lớn theo  truyền thống của người Việt trong dịp đầu xuân. Vào tiết Thượng Nguyên người ta thường làm lễ cầu an, cầu phúc, ước nguyện điều lành trong năm mới. Điều mà ít người biết đến là Tết Thượng nguyên vốn là ngày lễ vị Thiên Quan, là người ban phúc trời cho nhân gian. Đây không chỉ là tục thờ và cầu phúc của người Hoa ở Sài thành, mà ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội từ lâu đã có một ngôi đền cổ thờ Thiên Quan Tứ phúc.

Đền Vũ Thạch ở số 13B phố Bà Triệu, nằm cách bờ hồ Gươm chỉ vài bước đi bộ. Đây là một ngôi đền cổ, rất may mắn đã không bị phá hủy trong thời gian chiến tranh và còn bảo tồn được nguyên vẹn  tới ngày nay. Ngoài cổng đền có đắp vòng bích tròn đề dòng chữ Nho “Đại Thiên hành hóa”, dịch là: “Thay Trời làm phép”. Đôi câu đối ở 2 bên cột ngôi đền nêu bật thêm ý nghĩa của ngôi đền: “Dữ Phật vi lân, từ chúc quang khai thành bất dạ/ Đại Thiên hành hóa, đức phong phổ phiến hải vô ba”. Nghĩa là: “Làm phép thay Trời, gió Đức thổi tràn yên sóng bể/ Kế bên cùng Phật, đuốc Từ soi rạng sáng đêm thành”.

Bước vào tòa chính đường của ngôi đền ta có thể chiêm ngưỡng bức cửa võng chạm khắc rồng chầu mặt trời rất tinh xảo, được sơn son thiếp vàng rực rỡ, ngăn tạo không gian thờ cúng linh thiêng bên trong. Phía trên cửa võng là bức hoành phi: “Đức lớn vô cùng”. Bên phải có bức hoành phi đề: “Giáo hóa vạn dân”. Bức hoành phi bên trái đề: “Che trùm bốn biển”. Tất cả đều nêu ý nghĩa đức hóa của thần bao trùm khắp muôn dân.

Hai bên ban thờ chính điện có 2 vị quan hầu khoác áo vàng đang chắp tay quỳ chầu. Bên cạnh là một đôi nghê gỗ, được chạm khắc quanh thân với những lớp vẩy và các đao lửa, tuy hình khối mộc mạc nhưng toát lên vẻ trang nghiêm và cổ kính.

Sâu trong nội điện là tượng một vị thần ngồi trên ngai rồng, khoác áo vàng có thêu rồng, đầu đội mũ cánh chuồn. Tay phải thần cầm một thẻ bài. Tay trái xòe ra như đang ban phúc lộc. Phía trên bức tượng có hoành phi đề: “Khắc tương Thượng Đế”, dịch là “Gánh vác, trợ giúp Thượng Đế”.

Không hiểu tại sao các tài liệu ngày nay về đền Vũ Thạch lại nói nơi đây thờ một vị tướng thời Trưng Vương, trong khi thần tượng hoàn toàn không thể hiện đây là võ tướng, mà là hình một vị tôn quan khá rõ nét. Chính xác hơn nữa, bản sắc phong năm Tự Đức thứ sáu (1852) của đền Vũ Thạch ghi: “Sắc cho thần Thiên Quan, nguyên tặng là thần Tứ phúc Diên hi Công chính”. Thiên Quan Tứ Phúc là tên phong hiệu của vị thần ở đền Vũ Thạch.

Tấm bia “Vũ Thạch bi ký” khắc năm Khải Định thứ chín (1924) có đoạn: “Thọ Xương huyện Vũ Thạch thôn … Thiên Quan bảo điện, di tượng thanh cao, thần ư Phật tự chi tiền, hách hách quyết thanh, dương dương tại thượng, cầu tất ứng…”. Dịch là: “Thôn Vũ Thạch huyện Thọ Xương… có điện báu Thiên Quan, di tượng thanh cao, thời ở trước chùa Phật, tiếng thiêng hiển hách, rờ rỡ nơi trên, cầu tất ứng…”. Như thế, bức tượng thần ở đền Vũ Thạch là tượng cổ thờ Thiên Quan.

Thiên Quan là một trong Tam Quan Đại đế của Đạo Giáo gồm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Thiên Quan chủ về đường Sinh nên có ý nghĩa “Tứ phúc”, đem điều may mắn đến cho nhân gian. Ngày “Quan Trời ban phúc” là ngày Rằm tháng Giêng, hay còn gọi là Tết Thượng Nguyên. Còn Địa Quan xá tội vào ngày Trung Nguyên Rằm tháng Bảy. Thủy Quan giải ách vào ngày Hạ Nguyên Rằm tháng Mười.

Tín ngưỡng thờ Tam Quan khởi đầu từ thời Đông Hán bởi giáo chủ Trương Đạo Lăng và truyền xa mãi tới nay. Ở nước ta, Tam Quan là đối tượng thờ chính của Đạo Giáo Tam Phủ, từng rất phổ biến trước đây. Đền thờ Tam Quan được xây dựng ở nhiều nơi như trong quần thể di tích chùa Thầy ở Sài Sơn (Quốc Oai) hay ở thành phố Bắc Ninh, ở xã Cao Đức huyện Gia Bình… Một loạt các đình làng ở Thanh Hóa cũng thờ các vị Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan làm thành hoàng làng.

Trong đền Vũ Thạch, ngoài chính điện thờ Thiên Quan thì điện bên trái là nơi thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh cùng với các vị thần tiên trong Công đồng Tứ phủ. Đặc biệt ở đây có bức hoành phi đề: “Hồi đầu thị ngạn”, nghĩa là “Quay đầu lại là bờ”. Bức hoành phi này không chỉ là lời cảnh tỉnh giác ngộ con người hướng thiện, mà  trong bối cảnh của đền Vũ Thạch thì nó có thể hàm ý nói tới cuộc đại chiến Sòng Sơn giữa Mẫu Liễu với Tam Quan Nội đạo tràng. Trong cuộc chiến này Mẫu Liễu đã bị bại bởi 3 vị quan – 3 đạo sĩ của phái Nội đạo, sau nhờ Phật Tổ hiện lên giải cứu mới thoát khỏi kiếp nạn và từ đó được tôn sùng là Thánh mẫu.

Bia ký Vũ Thạch có đoạn: “Mẫu đức bao hàm trạch biến Cửu thiên chi vũ. Tiên dung yểu điệu diễm khai Tam phủ chi hoa.” Nghĩa là: “Sự bao hàm đức của Mẫu như mưa từ Cửu thiên. Vẻ yểu điệu hình tiên như hoa nở đẹp của Tam phủ”. Từ sau cuộc đại chiến Sòng Sơn, Tam phủ của Đạo Giáo vốn chỉ thờ Tam Quan đã mở rộng ra thờ các nữ thần và trở thành Đạo Mẫu Tứ phủ như ngày nay.

Nằm ở phía sau đền Vũ Thạch là ngôi  chùa Quang Minh, cũng là một di tích cổ hiếm hoi còn bảo tồn được khá nguyên vẹn trong lòng Hà Nội. Làm lễ cầu phúc nơi điện Thiên Quan, dâng hương tới Thánh mẫu Liễu Hạnh ở đền Vũ Thạch xong có thể ghé chùa cổ trong ngày Thượng nguyên đầu xuân năm mới. Đôi câu đối ở nhà thờ tổ chùa Quang Minh như nhắc lại ký ức về một Hà thành hào hoa nhưng rất tâm thành tín lễ:

“Ngọc Đảo hương phong, cách phượng thải hoa hàm khẩu kệ/ Kiếm Hồ thu nguyệt, kim long xuất thủy phủng tâm kinh”.

Nghĩa là: “Hương gió Ngọc Sơn, phượng cách hoa tô ngâm lời kệ/ Trăng thu Hồ Kiếm, rồng vàng phun nước đỡ tâm kinh.”

Bài đăng báo Lao Động cuối tuần số 7-9 từ 13 đến 27 tháng 2 năm 2022

Sách ebook HÙNG VƯƠNG TRUYỀN SỬ DIỄN NGHĨA

Lời nói đầu

Lịch sử của quốc gia, của dân tộc không thuộc về riêng ai. Các sử gia chép sử, các nhà văn hóa mô tả sử…, còn nhân dân mới là những người làm nên lịch sử. Trong khi những sử gia thận trọng biên chép các sự kiện lịch sử theo quan niệm chính thống mỗi thời đại thì còn một dòng sử khác tồn tại song song, với sức lan tỏa rộng hơn, sinh động hơn. Đó là dòng sử trong dân gian, được lưu truyền qua các câu chuyện kể, các di tích, các di vật, các danh nhân địa phương…

Cuốn sách Hùng Vương truyền sử diễn nghĩa nêu lên tiến trình hơn 2000 năm lịch sử của thời kỳ Hùng Vương từ một góc độ hoàn toàn mới. Phần chính của cuốn sách gồm 9 bài viết theo dòng lịch sử từ khi Thái tổ Đế Minh đi tuần thú dựng kinh đô Nghĩa Lĩnh, Kinh Dương Vương lấy Thần Long bên bờ Thủy quốc Động Đình, Lạc Long Quân mở nước về phía Đông Nam, Thánh Dóng đánh giặc Ân, Lang Liêu phân phong các anh em làm phiên dậu bình phong, An Dương Vương xây thành Cổ Loa cho đến Triệu Vũ Đế trảm xà khởi nghĩa ở núi Vũ Ninh, Trưng Vương đọc lời thề sông Hát quyết đền nợ nước trả thù nhà.

Cuốn sách được viết dưới dạng sử ký, tức là ghi chép các sự kiện theo dòng lịch sử, trên cơ sở tổng hợp, đối chiếu và sắp xếp từ các nguồn tư liệu thư tịch, văn hóa dân gian, di tích và di vật khảo cổ. Đây không phải một cuốn sách khảo cứu lịch sử, mà là một cách tái hiện lại lịch sử xa xưa của người Việt từ góc nhìn đối chiếu Hoa – Việt và các tư liệu mới. Bằng cách như vậy cuốn sách nhỏ này có tham vọng lớn đi tìm sự thật cho lịch sử nước Nam từ thời khai thiên lập địa tới đầu Công nguyên. Những bài sử ký Hùng Vương muốn góp phần nào chút ánh sáng soi tìm lịch sử chân xác của dân tộc đã chìm đắm sau hàng ngàn năm tăm tối. Người viết không sợ nêu lên những nhận định, suy đoán, mà muốn đưa những vấn đề lịch sử khúc mắc ra bàn dân thiên hạ cùng suy ngẫm. Mỗi cánh cửa hé mở thì sự thật lại càng gần hơn, tỏ hơn. Như vậy cũng là tâm nguyện của người viết đã thành.

Bách Việt trùng cửu Nguyễn Đức Tố Lưu

Sách phát hành online bởi Hùng Việt sử quán.

Link tải sách:

https://drive.google.com/file/d/1310gFYK3kTOH0ZQ5KcK-MUXWE4af3Y7I/view?usp=sharing

Liên hệ để nhận mật khẩu:

Facebook: https://www.facebook.com/hungvietsuquan
Email: bachviet18@bachviet18
Phone, Zalo: 0559551003.

MỤC LỤC 104 trang

Lời nói đầu

HÙNG VƯƠNG TAM THÁNH TỔ

    Lịch kỷ họ Hùng

    Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ

    Hồng Lạc Đế Nghi

    Lộc Tục Kinh Dương Vương

KINH TRIỀU BẢN KỶ

    Kinh Dương Vương

    Lạc Long Quân

    Hùng Duệ Vương

VIẾT NÊN SỬ DAO

    Trúc thư kỷ niên

    Thành Thang mở nhà Thương

    Bàn Canh lập Ân

    Trung Nguyên xá tội

PHONG THẦN DIỄN VIỆT NGHĨA

    Trụ Vương – Đát Kỷ

    Phượng gáy non Kỳ

    Văn Vương cầu hiền

    Thạch Linh thần tướng

    Vũ Vương khởi binh

    Phá Ân diệt Trụ

    Trảm tướng phong thần

    Phong hầu kiến địa

LANG LIÊU VÀ NƯỚC VĂN LANG

    Thần nông Hậu Tắc

    Âu Cơ lập nước Văn Lang

    Hùng Quốc Vương phân phong chư hầu

    Hùng Chiêu Vương gặp Tiên

    Văn Lang liệt quốc

AN DƯƠNG VƯƠNG, LOA THÀNH VÀ LẠC QUỐC

    An Dương Vương rời đô về Lạc Ấp

    An Dương Vương xây Loa thành

    Tần Thủy Hoàng Đông du

    Tây Vu Vương chống Hán

KHỞI NGHĨA CỦA TRIỆU ĐÀ

    Thuở đầu khởi nghĩa

    Chiếm Long Xuyên

    Xuất Thái Bình

    Kiến quốc Nam Việt

BỐN NHÀ TRIỆU TRONG SỬ VIỆT

    Triệu Đà – Trọng Thủy

    Long Hưng Triệu Vũ Đế

    Nhà Triệu – Lữ Gia

    Nam Triệu – Tây Lý Vương

Phụ khảo

NHỮNG CUỘC CHIẾN MỞ SỬ TRONG THỜI ĐẠI HÙNG VƯƠNG

    Cuộc chiến mở nước của Hữu Hùng Đế Minh

    Cuộc tranh đoạt giữa Lạc Long Quân và Đế Lai

    Cuộc chiến về lại đất Lạc của Âu Cơ

    Cuộc chiến khởi dựng chế độ phong kiến nước Văn Lang

    Cuộc chiến thống nhất thiên hạ của Triệu Trọng Thủy

    Khởi nghĩa kháng Tần của Triệu Vũ Đế

    Khởi nghĩa Trưng Vương dòng Lạc Hùng chính thống

CHỮ KHOA ĐẨU TRÊN CÁC CỔ VẬT THỜI NƯỚC VĂN LANG

    Chữ Khoa đẩu thời Tây Chu

    Chữ Đại triện thời Xuân Thu Chiến Quốc

THẾ THỨ VÀ NIÊN BIỂU 18 TRIỀU HÙNG

    Thời thủ lĩnh cộng đồng

    Thời chế độ thị tộc phụ đạo

    Thời chế độ phong kiến phân quyền

    Thời chế độ phong kiến tập quyền