Đợi tuần tháng Tám cá ăn thề

Truyền thuyết cổ đại kể rằng, thời Đường Nghiêu hồng thủy mênh mông, nước ngập tới lưng trời. Vua Đại Vũ đi xem xét các nơi rồi đến đoạn hiểm trở nhất của sông Hắc Thủy, đục đá phá mỏm núi chắn ngang sông, khơi thông nước lũ. Thiên Vũ Cống của Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”. Nơi Đại Vũ phá đá trị thủy gọi là Vũ Môn. Vũ Môn có nước chảy xiết, hằng năm cá chép tập trung đến đây, con nào vượt qua được Vũ Môn thì hóa rồng. Nên nơi đây còn gọi là Long Môn hay Vũ Long Môn.

Đối với người Việt, Cá vượt Vũ Môn là hình tượng rất thân thuộc, đã đi vào thơ văn, vào tranh dân gian, vào các mảng chạm khắc trang trí trong các đình làng quê lối xóm. Người Việt có câu ca dao:

Mồng bốn cá đi ăn thề

Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Vũ Môn là nơi nào mà ca dao người Việt lại nói tới rõ ràng cả ngày tháng như một phong tục lâu đời vậy?

Chạm khắc cá hóa rồng ở đình Đông Viên, xã Đông Quang, huyện Ba Vì

Cuốn sách thờ cổ lưu truyền ở vùng chân núi Ba Vì là “Tản Viên Sơn từ di tích” có đoạn sau: “Thời Đường Nghiêu, hồng thủy bao trùm. Lạc Long Quân sai trăm người con trai cùng nhau trị thủy. Khi đó chỉ có Tản Viên đại vương có oai anh võ dũng, đức cao đạo lớn, có thuật thần tiên, bèn đọc ước chú làm cho đá vỡ tung, hiện thành cây gậy sắt, lấy gậy đó mà chỉ vào nước thì nạn thủy tai liền hết.”

So sánh đoạn sự tích này với truyền thuyết Trung Hoa cổ đại thì bất ngờ nhận ra rằng vua Đại Vũ trị thủy thời Đường Nghiêu chính là Tản Viên Sơn Thánh ở vùng núi Ba Vì. Sông Hắc Thủy, nơi Đại Vũ dùng “thuật thần tiên” bạt đá trừ thủy hoạn, vốn là tên của dòng sông Đà. Nhà bác học Lê Quý Đôn trong sách “Kiến văn tiểu lục” đã ghi:

Dòng chính có một nhánh chảy xuống thành sông Hắc Thủy vào nước ta… đến sông Kim Tử thì nhập lại thành sông Đà. Sông này nước rất trong… Đường thủy khó đi với 83 ghềnh thác có tiếng hiểm trở mà Vạn Bờ là khó khăn hiểm trở nhất.

Còn nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, người mà quê hương và bút danh gắn với vùng núi Tản sông Đà có bài thơ “Tự thuật” như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy (sông Đen) của dòng sông Đà:

Văn chương thời nôm na,

Thú chơi có sơn hà,

Ba Vì ở trước mặt,

Hắc Giang bên cạnh nhà.”

Một đoạn sông Đà ở khu vực Vạn Bờ.

Long Môn, nơi vua Vũ đã đục thông lòng sông Hắc Thủy, khơi dòng dẫn nước qua núi Tam Nguy về Nam Hải, là đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi vòng qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển. Sách “Đại Nam nhất thống chí” đã chép như sau: “Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội. Đầu đời Lý, quân đi đánh Ma Sa đóng ở mỏm Long Thuỷ. Hồi đầu đời Lê đi đánh Đèo Cát Hãn, đường qua bờ Long Thuỷ, tức là chỗ này. Ngay giữa ghềnh đá có một chỗ rộng chừng 5-6 trượng, người ta gọi là Ao Vua, tức là bến sông Vạn Bờ xưa, thuộc xã Hào Tráng, châu Đà Bắc.”

Mỏm đá có bài thơ “Chinh Đèo Cát Hãn hoàn quá Long Thủy đê” (Chinh phạt Đèo Cát Hãn về qua bờ Long Thủy) của Lê Thái Tổ đề khắc tháng ba năm Nhâm Tý (1432) nay vẫn còn lưu trong khu di tích đền Thác Bờ. Đây là những minh chứng rõ ràng cho tên gọi Long Môn xưa của Thác Bờ trên sông Đà.

Sách “Kiến văn tiểu lục” của Lê Quý Đôn còn chép: “Thác Bờ ở địa phận động Dĩ Lý và Hào Trang thuộc Mộc Châu. Một ngọn núi đứng sững giữa dòng sông Đà. Đá lớn lởm chởm. Mỗi năm đến ngày 8 tháng 4 từng đàn cá ngược dòng bơi lên những chỉ có vài con cá chép là lên được. Sách Giao Châu ký viết rằng: Có Long Môn nước sâu đến trăm tầm, cá lớn vượt lên đến đấy sẽ hóa thành rồng. Sách Sơn Đường dị khảo viết: Sông Long Môn ở huyện Mông, phủ Gia Hưng, nước An Nam. Nước sông chảy đến đấy thì hai bên bờ đá lớn chắn ngang, nguy hiểm. Ở giữa mở ra ba đường, nước tung tóe, bay xa đến mấy trượng, ầm ầm như sấm dội trống vang, xa hơn trăm dặm mà vẫn còn nghe được. Đến đây thuyền phải kéo lên bờ mới đi được. Bên cạnh có hang lắm cá Anh Vũ. [Chỗ các sách trên nói tới] chính là đây… Hạ lưu của Vạn Bờ… có núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Vũ Long Môn là Thác Bờ trên sông Đà, nơi Tản Viên Sơn Thánh đã khơi dòng trị thủy. Xứ Ngòi Lạt là quê hương của Sơn Thánh, nằm 2 bên bờ sông Đà ở đoạn giáp núi Ba Vì, thời Nguyễn thuộc tổng Tu Vũ. Ngày nay con ngòi này vẫn còn mang tên Ngòi Lạt chảy từ ở địa phận huyện Đà Bắc của tỉnh Hòa Bình sang huyện Thanh Thủy tỉnh Phú Thọ.

Truyền thuyết ở Ba Vì kể Ngòi Lạt là đường nước mà Thủy Tinh đã mở để đánh tập hậu vào mặt Tây núi Tản. Nơi đây Sơn Tinh dùng lạt hóa ra lũy tre, cắm chông đá (Đá Chông) để chặn quân của Thủy Tinh. Cửa Ngòi Lạt chảy từ núi Tản ra sông Đà nay là Xóm Lặt, nơi có đền Hạ thờ Tản Viên Sơn Thánh ở xã Minh Quang, huyện Ba Vì. 

Núi Tản nhìn từ sông Đà.

Núi Tản như thế là ngọn núi có cây ngải tiên, hoa rơi xuống ngòi, cá đớp được vượt Thác Bờ sẽ hóa rồng. Ở khúc sông Đà này có nhiều cá Anh Vũ, là loài cá có hình dáng tựa như cá chép nhưng có chiếc mõm rất dày, cong, có màu sắc như mỏ vẹt. Cá Anh Vũ dùng chiếc mõm dày khỏe này để bám vào vách đá, ăn rêu nơi nước chảy xiết. Đến mùa sinh sản tháng 3-4, loài cá này bơi ngược dòng để tìm những hốc đá nước sâu mà đẻ trứng. Hình ảnh những con cá Anh Vũ vượt ghềnh Thác Bờ đã được điển tích hóa thành cá hóa rồng ở Vũ Môn.

Cá đi ăn thề còn là hình tượng của việc Sơn Tinh cùng hẹn với Thủy Tinh đến Phong Châu nơi vua Hùng kén rể để thi tài. Cá vượt Vũ Môn cũng là việc vua Đại Vũ trị thủy, khơi thông dòng sông, vượt qua được nạn hồng thủy, chiến thắng Thủy Tinh.

Tương truyền vua Đại Vũ khi trị thủy đã nhìn hình vẽ trên lưng một con Long mã mà sáng tạo ra Hà đồ. Theo đồ hình này thì số 4 là con số chỉ hướng Tây, số 8 chỉ hướng Đông, số 5 chỉ trung cung. Trong câu ca dao, cá tụ họp ăn thề vào ngày mồng 4 ở hướng Tây (Sơn Tây), để đi sang hướng Đông (mồng 8), vượt qua trung cung (số 5 – ngũ – Vũ môn) mà ra biển lớn mà hóa rồng. 

Long mã cõng Hà đồ.

Trong Ngũ hành, cá thuộc về hành Thủy (nước), Rồng thuộc về hành Mộc. Thủy sinh Mộc là một giai đoạn trong Ngũ hành tương sinh, nói về sự phát triển từ những nền tảng vật chất (hành Thủy) mà đạt được sự thăng hoa trong xã hội (hành Mộc). Đại Vũ Sơn Tinh thật sự là “cá hóa rồng” khi khơi dòng Hắc Thủy Đà Giang ở Long Môn Thác Bờ, rồi lên làm chủ thiên hạ họ Hùng của người Việt.

Hình tượng cá vượt Vũ Môn là một lời thề, là tấm gương ngàn năm của Tản Viên Sơn Thánh, vị vua lớn thời lập quốc, đã tìm tòi sáng tạo ra những tri thức về thế giới và nhân sinh (Hà đồ, Ngũ hành), nhờ đó nỗ lực vượt qua thiên tai, xây dựng cuộc sống ấm no cho nhân dân, đưa xã hội người Việt ở thủa hồng hoang phát triển lên một nấc thang mới.

Một lần nữa xin dẫn lời của Tản Đà, người được nhà văn Hoài Thanh xếp hàng đầu trong “Thi nhân Việt Nam”. Bài thơ “Thề non nước” với lời nguyện nước thề non lấy từ điển tích cá đi ăn thề và truyền thuyết Sơn Tinh – Thủy Tinh ở vùng núi Tản sông Đà.

Nước non nặng một lời thề

Nước đi, đi mãi, không về cùng non

Nhớ lời “nguyện nước thề non”

Nước đi chưa lại, non còn đứng không…

Bài viết đăng báo Lao động cuối tuần ngày 27/9/2020.

https://laodong.vn/lao-dong-cuoi-tuan/doi-tuan-thang-tam-ca-an-the-839005.ldo

Rồng bay biển Bát – Phượng gáy non Kỳ

Thời đại Hùng Vương theo huyền sử Việt có thể được chia thành 3 giai đoạn:1. Sơ kỳ họ Hùng: 5.000 năm – 4.000 năm trước. Thời kỳ có thủ lĩnh. Bắt đầu từ Đế Minh, cháu ba đời của Thần Nông cho đến Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình. Khởi đầu của thời kỳ này là việc Thái tổ Đế Minh lên núi Thái Sơn mở nước. Biểu tượng của thời này là Nhật nguyệt tinh thần (khai mở Càn Khôn). Trung tâm của thời này là vùng đất tổ Phong Châu.2. Trung kỳ Hùng Vương: 4.000 năm – 3.000 năm trước. Thời phụ đạo.Từ Lạc Long Quân đến Hùng Duệ Vương. Khởi đầu thời kỳ này là Vua cha Lạc Long Quân xuất thế ở Bát Hải. Thời kỳ này người Việt phát triển về phía Đông (Động Đình). Biểu tượng là con Rồng.3. Hậu kỳ Hùng Vương: 3.000 năm trước đến năm 258 TCN. Thời kỳ phong kiến phân quyềnTừ khi Thục Chủ Âu Cơ lên ngôi ở Phong Châu cho đến khi An Dương Vương cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển. Thời kỳ này là dòng Âu – Thục ở phía Tây (Ai Lao) làm Thiên tử. Biểu tượng là hình chim Phượng trên trống đồng, gắn với điềm báo “Phượng gáy non Kỳ”.
Thời đại Hùng Vương theo huyền sử kết thúc khi nhà Tần diệt An Dương Vương thống nhất thiên hạ, lập chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Biểu tượng thời thống nhất là hình tượng Phi Liêm, kết hợp giữa Rồng và Phượng.
Lược đồ thời đại Hùng Vương kèm theo với những hình màu xanh là những truyền thuyết (sự kiện) xảy ra trong mỗi thời kỳ.Hình Long Phượng chầu Nguyệt thực chất là biểu tượng cho lịch sử dựng nước họ Hùng, gồm cả 3 thời kỳ trên.

Lược đồ sơ và trung kỳ của thời đại Hùng Vương

Lược đồ sơ và trung kỳ của thời đại Hùng Vương đối chiếu và sắp xếp theo 3 nguồn tư liệu:

1. HUYỀN SỬ VIỆT như Lĩnh Nam chích quáiTrong mỗi truyện của huyền sử mỗi hình tượng nhân vật là một triều đại truyền nhiều đời, có thể kéo dài vài trăm tới hàng nghìn năm. Ví dụ, Kinh Dương Vương không phải chỉ có 1 người mà Kinh Dương Vương là một danh xưng của thủ lĩnh vùng Bắc Việt (đất Kinh hay Lạc). Do đó có Kinh Dương Vương Lộc Tục lấy 2 công chúa Ngọc Hoa Tiên Dung, có Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình.

2. TÍN NGƯỠNG VIỆT qua các thần phả thần tích ở các di tích tín ngưỡngĐiểm đặc biệt của loại thông tin này là mang tính địa phương cao. Cùng một hình tượng trong huyền sử nhưng được cụ thể hóa bởi công đức sự nghiệp tại địa phương có di tích. Nhờ đó có thể định vị, xác định được những chi tiết trong lịch sử.

3. HOA SỬ như ghi chép của Tứ thư Ngũ kinhĐặc điểm của những tư liệu này là rất chính xác… từ góc nhìn của người Hoa. Trong đó 90% những lời chú giải về vị trí của các nhân danh, địa danh là sai hoàn toàn do hệ tọa độ địa văn hóa bị dùng nhầm một cách vô tình hay cố ý.

Ghi chú về các ký hiệu trong hình:

– Dấu cộng: Sự kết hợp 2 dòng (2 cộng đồng) một cách hòa bình qua hình thức kết hôn hoặc nhường ngôi.

– Dấu mũi tên một chiều: Ngôi vị được truyền qua các đời.

– Dấu mũi tên 2 chiều: Sự đối kháng của 2 cộng đồng qua chiến tranh giành quyền lực.

Nước Sùng và Tản Viên Sơn Thánh

Thông tin về nước Sùng, một nước thời Tam Đại Trung Hoa, theo wikipedia:

Tương truyền vào thời Hạ, cha của vua Vũ là Cổn được phong là Sùng Bá đã lập nên thành trì nước Sùng, sau khi Cổn bị giết thì đất ấy từ đó liên tục không có vua.

Nước Sùng thời Ân Thương dời đô sang chỗ khác… Quốc quân nước này trong giáp cốt văn được gọi là “Tông hầu”, người trong họ từng giữ chức khuyển quan nên gọi là “khuyển tông”… Dưới thời Đế Tân, Sùng Hầu Hổ mật báo việc Chu Văn Vương mưu đồ tạo phản với vương thất nhà Thương. Văn Vương về sau liền khởi binh diệt luôn nước Sùng, lấy đô thành của nước này dựng nên Phong Kinh. 

Theo đó, nước Sùng trong thư tịch cổ là:

– Nơi Đại Vũ trị thủy, tức là kinh đô Trung Hoa thời Hạ Vũ.

Nơi đóng đô của Sùng Hầu Hổ, Bắc Bá Hầu dưới thời Ân Trụ Vương. Tông hầu nghĩa là nước của “tổ tông” Trung Hoa, tức còn là đất gốc từ thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.

Là Phong kinh của thời Chu Văn Vương.

Các học giả Tàu hiện lúng túng không biết nước Sùng như thế thì nằm ở đâu, đành đưa ra lý thuyết… nước này có chân, chạy từ nơi này sang nơi khác… vì nhà Hạ họ xác định đâu đó quãng Sơn Tây – Hà Bắc, Phong kinh của nhà Chu lại ở Thiểm Tây, cách nhau một giời một vực, làm sao ra thành một địa điểm được?

Thời Hạ Vũ, nước lũ ngập trời… Vậy làm sao chỗ nước ngập trời ấy lại ở vùng sa mạc Thiểm Tây?

Những ghi chép về nước Sùng thời Tam Đại đã cho thấy… định vị Hạ Thương Chu của sử Tàu hiện nay là sai hoàn toàn. Sự thực nước Sùng không hề nằm ở lưu vực sông Hoàng Hà nên tìm khắp ở đó không có chỗ nào đáp ứng được những mô tả của cổ thư về nước này.

Để xác định vị trí nước Sùng, trước tiên xin xem thiên Vũ Cống của Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”.

Sông Hắc Thủy đổ ra biển Nam Hải, nơi Đại Vũ khơi dòng trị thủy, thì không thể ở tận bên Hoàng Hà được. Hắc Thủy thực ra là tên của sông Đà (sông Đen), tới ngày nay vẫn còn lưu tên. Nhà thơ Tản Đà, quê hương và bút danh ở vùng núi Tản sông Đà có bài thơ Tự thuật như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy của sông Đà:

Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà,
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc Giang bên cạnh nhà. 

Chạm khắc cá hóa long đình Tây Đằng.

Sông Đà cũng là nơi “cá vượt Vũ Môn hóa rồng” vì Vũ Môn hay Long Môn là khu vực Thác Bờ hiểm trở trước đây của dòng sông này. Đại Nam nhất thống chí ghi“Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội”…

Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn thì ghi: “… Núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Long Môn là nơi vua Vũ đã  đục thông lòng sông, khơi dòng dẫn nước qua Tam Nguy về Nam Hải, là ở đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển.Như vậy khu vực nước Sùng, nơi 2 vị Cổn và Vũ lao tâm khổ tứ hàng chục năm trời trị thủy cũng chính là vùng sông nước mêng manh thời cổ này ở đồng bằng miền Bắc Việt. Vị vua trị thủy bên dòng sông Đà thì không còn ai khác ngoài Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Thánh chính là Đại Vũ trong cổ sử Trung Hoa.

Câu ca dao Việt:

Mồng bốn cá đi ăn thề

Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Theo Hà thư thì số 4 là con số chỉ hướng Tây, số 8 là chỉ hướng Đông. Cá tụ họp ăn thề đi từ hướng Tây sang hướng Đông, theo sông Đà vượt qua Vũ Môn ở Thác Bờ mà hóa Rồng ở vùng sông Nhị (đền Và) rồi ra biển. 

Ban văn võ ở đền Và và hoành phi Nam Thiên thánh tổ.

Cá thuộc về hành Thủy (nước). Rồng thuộc về hành Mộc. Thủy sinh Mộc là một giai đoạn trong Ngũ hành tương sinh, nói về sự phát triển từ những nền tảng vật chất (hành Thủy) mà đạt được sự thăng hoa trong xã hội (hành Mộc). Đại Vũ Sơn Tinh thật sự là “cá hóa rồng” khi khơi dòng Hắc Thủy, rồi lên làm chủ thiên hạ họ Hùng người Việt.

Thư tịch cổ cho thông tin hết sức quan trọng. Cha của Đại Vũ là Cổn, là thủ lĩnh vùng đất Sùng. Do vậy, nước Sùng của Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương cũng chính là nơi Đại Vũ trị thủy, tức là miền Bắc Việt ngày nay. Hình ảnh Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt bao gồm những sự tích của cả thời Đại Vũ trị thủy và Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương. 

Nước Sùng còn in dấu ấn trong sử Việt với tên Sùng Lãm của cha Lạc Long Quân. Còn ở Bình Đà, nơi thờ Lạc Long Quân thì có ghi chép 4 đời chúa họ Sùng có là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm. Lạc Long Quân được coi là người khởi đầu triều Hùng nên các chúa họ Sùng sau đó cũng thuộc về các đời Hùng Vương, mà Hùng triều kết thúc bằng sự kiện Thục Vương đánh Hùng Duệ Vương. 

Sùng Công còn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Vị Tả kiên thần Cao Sơn của Thánh Tản có tên là Nguyễn Sùng. Đây hẳn cũng là một vị chúa họ Sùng đã cùng Sùng Hầu Hổ chống giặc Thục. 

Câu chuyện Sơn Thánh đánh Thục trong sử Việt là việc Sùng Hầu Hổ chống lại Chu Văn Vương, mà kết thúc là Văn Vương chiếm được đất Sùng, lập Phong kinh ở đó. Truyền thuyết Việt kể thành Thục Vương được vua Hùng nhường ngôi liền về Phong Châu đóng đô, lập đền miếu thờ các vua Hùng. Nước Sùng – Phong Châu chính là đất gốc tổ của Trung Hoa, mà giáp cốt văn gọi là “Tông hầu”, là nơi khởi phát của dòng họ Hùng từ thời Đế Minh Hữu Hùng Hoàng Đế Hiên Viên thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ.

Dòng họ Hùng truyền qua thời Nghiêu Thuấn, qua thời Hạ từ Đại Vũ, rồi Thương Ân, được ngọc phả Hùng Vương chép là 18 đời vua Hùng. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất tổ họ Hùng và được kể dưới tên Sơn Thánh trong cuộc chiến chống Thục Vương (Chu Văn Vương). Kinh đô của nước Sùng thời Sùng Hầu Hổ có thể là vùng xứ Đoài Sơn Tây, nơi có dày đặc các di tích thờ Sơn Thánh, có cả cung điện thiết triều của Sơn Thánh như đền Và. Ở đây Sơn Thánh đã hóa thành một vị thần bất tử, đứng đầu linh thần trong Việt điện, cũng bởi vì vị trí thiêng liêng của mảnh đất Sùng đối với dòng giống Việt.

Đất Sùng là đất gốc tổ “Tông hầu” nơi Thái tổ Đế Minh mở nước bên dãy Thái Sơn, Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, Đại Vũ trị thủy ở Long Môn núi Tản, Sơn Thánh Sùng Hầu phò giúp Duệ Vương, cũng là nơi Thục Vương Cơ Xương khởi đầu nước Văn Lang trên vùng Tây Thổ Phong Châu.

Tục cúng xá tội vong nhân, một đạo lý từ thời Hùng Vương

Từ bao đời nay, cứ vào đầu tháng Bảy người Việt lại có tục cúng ngày Xá tội vong nhân. Theo quan niệm dân gian vào ngày 2/7 âm lịch hằng năm, Diêm Vương mở cửa Quỷ Môn Quan để cô hồn dạ quỷ được trở về nhân gian. Rồi đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, ma quỷ sẽ bị gọi trở lại địa ngục. Đây được coi là ngày “âm khí xung thiên”, nên người ở trần gian sẽ phải cúng cháo, gạo hay muối cho các vong linh, gọi là cúng cô hồn… Nguồn gốc của lệ tục này bắt đầu từ khi nào và liệu có liên quan gì đến lịch sử của người Việt?

Trong kho tàng huyền sử Việt có một câu chuyện vô cùng kỳ dị nói tới Diêm Vương và các hồn ma bóng quỷ. Đó là Truyện Giếng Việt, bắt đầu như sau:

Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua Địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.”

Truyện Giếng Việt cung cấp một thông tin hết sức quan trọng, Ân Vương chết biến thành vua Địa phủ. Như thế, vua Ân chính là Diêm Vương, người cho mở Quỷ Môn Quan thả các vong hồn lên Dương thế vào tháng 7 hàng năm. Tục cúng cô hồn vào tháng 7 do đó liên quan tới cái chết của vua Ân trong cuộc chiến với Phù Đổng Thiên Vương.

Truyện Giếng Việt kể tiếp, đến đời Tần, có quan Ngự sử là Thôi Vĩ đã cho trùng tu lại miếu Ân Vương. Con trai của Thôi Vĩ là Thôi Lượng, sau đó đã đi lạc đường trên núi Trâu Sơn, đến được Ân Vương Thành và gặp mặt Ân Hậu. Ân Hậu tiếp đãi Thôi Vĩ một cách ân cần rồi cho Dương Quan dẫn Thôi Vĩ về. Sau đó Dương Quan nhân biến thành một con dê đá, đứng sau đền Việt Vương trên núi Trâu.

Núi Trâu Sơn nay thuộc địa phận huyện Quế Võ. Trên núi từng có đền thờ Ân Vương rất cổ xưa. Con “dê đá” ở đền Ân Vương là một bức tượng hình nửa thân của một con linh thú kỳ dị nằm trên núi ở thôn Cựu Tự thuộc xã Ngọc Xá. Bức tượng thú bằng đá sa thạch, rất lớn, cao khoảng hơn 1,5m, khắc hình con thú có cổ dài, thân có vảy như rồng, có 2 sừng cong như sừng dê, nhưng lại có mỏ như mỏ phượng và trên thân có 2 cánh và có chân.

Phi LiemTượng Phi Liêm ở thôn Cựu Tự trên núi Trâu Sơn.

Đây là tượng con thần thú Phi Liêm, loại thú kết hợp giữa Rồng và Phượng. Dạng tượng Phi Liêm bằng đá lớn như thế này thường được thấy từ thời Tần Hán, đặt cạnh các lăng mộ hay miếu thờ các vương tôn quý tộc. Phi Liêm cũng là tên một vị trọng thần của vua Ân trong Phong thần diễn nghĩa. Thần thú Phi Liêm là tiền thân cho hình tượng Thiên Lộc, Tỳ Hưu, những linh vật cát tường phổ biến về sau này.

Truyện Giếng Việt còn kể, Ân Vương đã sai vị Ma Cô Tiên đến trao cho Thôi Lượng thuốc ngải chuyên chữa bệnh u bướu và ban cho một người con gái để kết làm vợ, lại ban cho một viên ngọc Long Tụy, trong cặp ngọc báu thư hùng mà vua Ân mang theo người khi chết ở Trâu Sơn. Ma Cô Tiên được biết là một vị thọ thần và phúc thần trong văn hóa phương Đông, là từ câu chuyện Giếng Việt này.

Vùng núi Trâu Sơn nay còn có một ngôi chùa cổ khá lớn mang tên chùa Ma Cô Tiên, nằm ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong. Chùa còn lưu được nhiều bia ký từ thời Lê, nhưng đặc biệt các chữ Ma có trên bia đều bị đục bỏ. Rải rác ở các thôn quanh núi Trâu như ở Phùng Dị, Hữu Bằng có những ngôi miếu nhỏ thờ Ma Cô Tiên.

IMG_4000

Tượng Ma Cô Tiên ở Phùng Dị, xã Ngọc Xá.

Liên quan đến các âm hồn tác quái, truyền thuyết Việt còn có truyện Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, thì có Rùa Vàng hiện lên xưng là sứ giả Thanh Giang. Thanh sứ cho biết, đây là bởi vong hồn của Vương tử đời trước báo thù. Vong hồn này ẩn náu trong núi, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng (Bạch Kê Tinh) hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi, tụ tập gây hại. An Dương Vương cùng thần Kim Qui đi đánh yêu quái, bắt được Bạch Kê Tinh đem giết đi.

Ở núi Thất Diệu, nay thuộc khu vực xã Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh, có ngôi miếu Bạch Kê, trong đó thờ một vị “Mẫu Nghi Thiên Hạ” gọi là Mẫu Bạch Kê. Cùng trên núi đó có đình làng Yên Phụ và ngôi đền Núi cùng thờ đức Vua Bà Ma Vương. Ở đây còn có một cái ao được gọi là Giếng Cô Tiên, gắn với truyền thuyết Bạch Kê và việc xây thành Cổ Loa.

Từ những di tích tín ngưỡng ở núi Yên Phụ có thể thấy Bạch Kê Tinh ở Cổ Loa chính là Ma Cô Tiên, một phi nhân của Ân Vương hay của “Vương tử đời trước” đã báo oán Thục Vương khi xây thành. Làng Ma Lôi có quỷ tinh gà trắng hiện hình vào người con gái chủ quán cũng chính là nói đến vị Ma Cô Tiên.

Truyền thuyết kể, An Dương Vương sau khi diệt được Bạch Kê Tinh liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Xương người chết xưa kia chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng, nên mới hình tượng thành Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh gây hại. Những địa danh như ngã ba Sọ, chợ Chờ, đò Lo ở vùng Yên Phong cũng gắn nỗi ám ảnh của người dân xưa kia khi phải đi qua vùng núi này.

Lịch sử Trung Hoa kể, khi bị quân đội của Vũ Vương nhà Chu, cầm đầu bởi đại tướng là Khương Tử Nha tấn công vào kinh đô Triều Ca, Ân Trụ Vương đã đốt cháy Lộc Đài và nhảy vào biển lửa tự vẫn, chấm dứt thời kỳ nhà Ân Thương kéo dài khoảng 600 năm và đồng thời chấm dứt cuộc chiến giành giật thiên hạ hàng chục năm giữa 2 nhà Ân và Chu với bao nhiêu đổ máu cho cả 2 bên.

Kết thúc cuộc chiến này, các tướng lĩnh đã hy sinh của cả 2 bên đã được vào đưa vào bảng phong thần, trở thành các vị thần có thờ tự. Còn bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng trong cuộc chiến, mà bi thảm nhất chính là cái chết của Trụ Vương, thì được cúng tế trong tục cúng cô hồn. Ngày cúng cô hồn là ngày kinh thành của Ân Vương thất thủ, nước mất, nhà vong.

Tháng 7 là tháng đầu mùa thu theo Âm lịch. Thục Vương hay Chu Vương là thủ lĩnh khu vực phía Tây thiên hạ, lấy mùa thu làm tháng biểu tượng cho triều đại. Khởi đầu mùa thu cũng nghĩa là khởi đầu triều đại phía Tây của nhà Thục hay nhà Chu trong lịch sử.

Cúng cô hồn tháng Bảy hàng năm thực chất là ngày cầu siêu cho nhân dân đói khổ vì chiến tranh loạn lạc, binh sĩ nơi sa trường, đã chết trong cuộc chiến khốc liệt giữa nhà Chu và nhà Ân hay Thục Vương và Hùng Vương của 3000 năm trước. Cũng vì lẽ đó mà nó được gọi là ngày xá tội vong nhân. Sau chiến tranh, những tử sĩ dù là của bên nào cũng đều được xá tội, được hương khói cho siêu thoát các vong hồn. Việc xá tội cho cả kẻ thù bên kia chiến tuyến để có được lòng người, có được sự đại đoàn kết của toàn dân là cái đức của người làm vua, là thiên mệnh giúp quốc gia bền vững. Thiên hạ đại xá để bắt đầu một triều đại mới.

Xã hội phương Đông phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ (thời Ân Thương hay Hùng Vương) sang chế độ phong kiến (nhà Chu hay nhà Thục nước Âu Lạc) đã phải trải qua một cuộc “cách cổ đỉnh tân”, thay cũ đổi mới, thật đắt giá với hàng vạn người đã đầu rơi máu chảy. Tục cúng xá tội vong nhân tháng Bảy thể hiện đạo lý nhân bản, vị tha, cầu sinh, chán ghét chiến tranh. Nó nhắc nhở mọi người không quên những người nghèo khổ đã khuất, những binh sĩ bỏ mình vì nước, bởi không có sự hy sinh của họ thì xã hội đã không thể tiến lên phía trước, chúng ta cũng không thể có cuộc sống an lành ngày hôm nay.

IMG_5360

Chiếc Dữu đựng rượu thời Ân Thương.

Đạo lý này cũng thể hiện qua bài thơ mà Ngự sử đại phu Thôi Vĩ đã đề ở miếu Ân Vương trên núi Trâu:

Thắng thua một cuộc không Ân đức

Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường

Trăm họ một lòng cùng thờ phụng

Xin phù tổ quốc mãi yên phương.

Xa toi vong nhan

Văn tế Hùng Vương ngày 1 tháng 8

Văn tế Hùng Vương ngày 1 tháng 8 của làng Triệu Phú (Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ).

Bát nguyệt sơ nhất nhật văn
Cung duy Thánh vương
Nhật nguyệt chung quang, càn khôn dựng tú.
Thiên khởi Viêm Bang, sơ đầu thánh tổ.
Trị quốc an dân, kiến nghi xã tắc.
Thiết lập kỷ cương, bảo vệ sơn hà.
Lịch kiến quốc tự Xích Quỷ Nam Giao, chí Văn Lang kế tục.
Chí kim sơn hà thượng địa, chư di tích đắc bảo tồn Nghĩa Lĩnh sơn thượng.
Bách tính tử tôn, nhật thiêm đa thịnh vượng.
Dân phú quốc cường, địa bàn thiêm quảng đại.
Hùng Thị thập bát thế tương truyền.
Di dân hương hoả tôn phụng tổ tiên.
Bảo toàn di tích, bảo vệ giang sơn.
Dân tư di chúc, tẩm hiện ngôn truyền, thiên vạn niên bất dị.
Đệ niên dĩ kỳ tái vi lệ.
Thích trị thu thiên, nhật phùng sơ nhất.
Nhân Vương tổ thân chinh thám vấn chư phương thắng trận.
Dân hân hoan tác tịch nghinh vương.
Bài loan nghinh loan giá.
Xướng ca vi lạc, phụng sự Thánh Vương.
Lai nhật quân thần thượng lộ.
Dân hoan hỷ hợp đồng tái tịch.
Kim nhật cáo lễ, kỳ phúc kỳ an, kỳ ủng hộ nhân khang vật thịnh.
Thiên hạ thái bình, thiên tĩnh hải trừng.
Phù hộ quốc điền phong đăng hoà cốc,
Chư nhân đắc an khang trường thọ.
Tư Thánh tổ công ân thiên hải,
Tử tôn nguyện vạn đại bất vong.
Tẩm lại.

Nho văn

八月初一日文
恭惟聖王,日月鍾光,乾坤孕秀.
天啟炎邦,初頭聖祖.
治國安民,建宜社稷.
設立紀綱,保衛山河.
歷建國自赤鬼南交, 至文郎繼續.
至今山河尚地,諸遺跡得保存義嶺山上.
百姓子孫,日添多盛旺.
民富國強,地盤添廣大.
雄氏十八世相傳.
貽民香火尊奉祖先.
保全遺跡,保衛江山.
民思貽嘱,寔現言傳,千万年不易.
遞年以祈賽為例.
適值秋天,日逢初一.
因王祖親征探問諸方勝陣.
民訢歡作席迎王.
排鸞迎鵉 駕.
唱歌為樂,奉事聖王.
來日君臣上路.
民歡喜合仝再席.
今日告礼,祈福祈安,祈擁護人康物盛.
天下太平,天靜海澄.
扶護國田丰登禾穀,
諸人得安康長壽.
思聖祖功恩天海子孫願萬代不忘.
寔賴

Thủa vua Hùng Vương thứ 18…

Sự kiện kết thúc thời đại Hùng Vương thường được kể trong các thần tích tóm tắt như sau:

Hùng Duệ Vương là người có hùng tài đại lược, tư chất thánh minh, kế nghiệp 17 đời Hùng, yên định Trung Quốc. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt về chầu tiên tổ. Chỉ còn 2 công chúa là Tiên Dung được gả cho Chử Đồng Tử và Ngọc Hoa kén được rể là Tản Viên Sơn Thánh.

Khi ấy Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, thừa cơ phát binh từ phương Tây đến tấn công. Sơn Thánh lĩnh mệnh cầm quân, phục kích đánh tan quân Thục ở châu Quỳnh Nhai (Mạn Nhai), khải hoàn trở về.

Mấy năm sau, Thục Vương lại phát 5 đạo quân thủy bộ theo các đường châu Quỳnh Nhai Hoàng Tế, Lạng Sơn Văn Giản, Đại Man, Bố Chính Minh Linh, Hoan Châu Hội Thống tiến đánh Hùng Vương. Lần này Sơn Thánh cùng với 2 vị tả hữu kiên thần là Cao Sơn và Quý Minh dẫn quân đánh vào chính binh quân Thục. Sơn Thánh giả ấn của Thục Vương viết thư gửi tướng Thục lệnh án binh cố thủ. Nhân đó Sơn Thánh đem quân đến thẳng kinh đô Thục tập kích, đại phá được cánh quân chính.

Sau trận thắng này, Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ và khuyên Duệ Vương:

Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của hoàng đế trước đây. Nay thế nước kém thường cũng là chuyện do tiền định. Vua không nên vì yêu một cõi phương Nam mà đối địch với ý trời vậy, làm hại đến sinh linh.

Duệ Vương nghe theo, nhường ngôi lại cho Thục Vương, còn nhân đó đem tặng cả nỏ thần linh quang làm vật bảo quốc. Thục Vương nhận vị, mới về Nghĩa Lĩnh lập miếu đền thờ Hùng Vương… Đồng thời cũng phong thờ cho một loạt các tướng lĩnh công thần của Hùng Duệ Vương, đặc biệt nhiều là ở vùng 2 bên bờ sông Lô như:

– Ở Quế Nham (Đồng Quế, Sông Lô, Vĩnh Phúc): 4 vị đại vương là danh tướng theo Sơn Thánh đánh Thục.

– Ở Hương Lan (Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ): 3 vị Chàng Chấu Linh Lang đại vương, là tùy tòng hầu kiệu của Duệ Vương.

– Ở Bảo Đà (Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ): Tả hữu kiên thần Cao Sơn, Quý Minh và Cương Trực tướng quân…

Que NhamĐình Quế Nham ở Đồng Quế, Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Câu đối ở đình Quế Nham:

Kháng Thục phù Hùng sinh dũng tướng
Tòng Trưng phạt Hán tử linh thần. 

Hiện nay, sự kiện Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương được cho là xảy ra vào quãng năm 257 TCN. Tuy nhiên, đây là sự lẫn lộn với việc nhà Tần (Triệu) đánh phương Nam, diệt Thục vào cùng năm (thời Tần Chiêu Tương Vương). Sự kiện Hùng nhường ngôi cho Thục trên phải xảy ra vào đầu thời kỳ nhà Thục, chứ không phải lúc cuối.

Nhận định như vậy thì chợt nhận ra, việc Thục Vương thay thế Hùng Vương đời cuối chính là sự kiện Chu Văn Vương bắt đầu cuộc chiến đánh giặc Ân ở vùng Bắc Việt. Cụ thể như sau.

Vị vua Hùng đời cuối của dòng theo cha Lạc Long Quân ra biển là vua Trụ nhà Ân Thương. Đế Tân là người có trí lược, dũng mãnh, từng chinh phạt nhiều nơi, nhưng do có tính tình tàn ác, lại chìm đắm trong tửu sắc, giết hại các đại thần nên đã làm cho “Hùng đồ mạt tạo, vận nước cáo chung“.

Tây Bá hầu Cơ Xương là thủ lĩnh đứng đầu các chư hầu miền Tây của nhà Ân. Truyền thuyết Việt gọi là Thục chúa, Bộ chủ Ai Lao. Thục là hướng Tây. Ai Lao là vùng cao nguyên Vân Nam Quý Châu, mà nay vẫn còn dãy núi Ai Lao Sơn ở đó.

Cơ Xương khởi sự không đánh trực tiếp vào kinh đô của Trụ Vương ở An Huy mà đầu tiên đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất phía Bắc xưa của nhà Ân. Vùng này tương ứng với đất Lạc (Lạc = nước là tượng của phương Bắc). Sùng Hầu Hổ trong truyền thuyết Việt được gọi dưới tên Tản Viên Sơn Thánh. Sơn là quẻ Cấn trong Tiên thiên Bát quái, chỉ hướng Bắc. Sùng Hầu Hổ như thế là tiếp nối dòng dõi Lạc Long Quân, có thể gọi là một Lạc Vương ở vùng đất này. Sùng Hầu Hổ được chép thành ra tên của Lạc Long Quân là Sùng Lãm.

IMG_8571Nghi môn đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ.

Là 2 đại thủ lĩnh 2 miền lớn của thiên hạ nên cuộc chiến giữa Tây Bá hầu Cơ Xương và Bắc Bá hầu Sùng Lãm diễn ra một cách ác liệt, với nhiều binh lính, nhiều trận chiến khó khăn, nhiều mưu mẹo như mô tả việc Sơn Thánh đánh Thục trong các thần tích. Chiến trường chính là mạn ngược giữa Bắc Việt và Vân Nam nên thần tích ghi là các châu Quỳnh Nhai, Đại Man, Mộc Châu… Không ít lần quân của Cơ Xương (Thục chúa) đại bại, thậm chí kinh đô Thục ở Ai Lao (Vân Nam) cũng bị đánh phá. Nhưng cuối cùng, sức người không bằng ý trời, Cơ Xương nhờ có lòng nhân đức, bao dung, đã thu phục được nhân tâm và giành thắng lợi. Truyền thuyết kể là Sơn Thánh đã theo mệnh trời mà khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương.

Tin Cơ Xương chiếm được nước Sùng, làm rung chuyển cả kinh đô Triều Ca của Trụ Vương như Kinh Thư kể. Cơ Xương cho dời đô từ miền Tây về đất Phong Châu, tức là vùng Việt Trì ngày nay. Đây là kinh đô của họ Hùng từ thời mở nước của Đế Minh và hẳn cũng là nơi đóng đô của Sơn Thánh – Sùng Hầu Hổ khi đó. Truyền thuyết kể thành việc Thục Vương xây thành ở Việt Trì, lên núi Nghĩa Lĩnh lập miếu điện thờ cúng Hùng Vương…

Như vậy, tục thờ Hùng Vương đã bắt đầu từ thời nhà Thục cách nay 3000 năm. Đền miếu ở Nghĩa Lĩnh là nơi thờ các vị Hùng Vương Thánh tổ đầu tiên gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, chứ không phải thờ Hùng Duệ Vương. Vì “Thục Vương cũng là tông phái của Hoàng đế họ Hùng” nên mới thờ những vị Thánh tổ đầu tiên của họ Hùng. Cơ Xương cũng là người mang họ Cơ, là họ của Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên.

Trieu CoHoành phi Triệu Cơ Vương Tích của đền Hùng (nay để ở đình làng Trẹo, Hy Cương). 

Hoành phi “Triệu Cơ vương tích” ở các nơi thờ vua Hùng tại Nghĩa Lĩnh có nghĩa là: Dấu tích khai mở của vua họ Cơ. Chính chữ Cơ Tích này mà đã đổi thành Cổ Tích, là làng tạo lệ của Hùng Sơn.

Cùng với việc lập miếu thờ Thánh tổ Hùng Vương, Thục Vương Cơ Xương còn chiêu mộ các cựu thần của Hùng Vương (nhà Ân) trước đây. Đối với những người không theo Thục mà trung nghĩa tử tiết, Cơ Xương đều “phong thần”, cho lập miếu thờ tự như những ví dụ ở trên. Chính do có tấm lòng nhân đức này của Cơ Xương mà cơ trời lòng người đã từ Hùng (nhà Ân) sang tay Thục (nhà Chu).

Sự kiện Cơ Xương thu phục được Sùng Hầu Hổ và dời đô về đất Phong, lập nước Âu Lạc, còn được kể trong truyền thuyết Việt với việc Âu Cơ (Cơ Xương) chia tay với Sùng Lãm, về Phong Châu lập ra nước Văn Lang. Văn Lang là gọi theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương. Còn Âu Lạc chỉ việc sát nhập 2 khu vực Âu của Thục Chúa và Lạc của Sơn Thánh.

Nhờ có được nửa thiên hạ 2 miền Tây và Bắc (hướng Nam nay) Trung Hoa mà sau đó con của Cơ Xương là Vũ Vương Cơ Phát đã phát động cuộc chiến quyết tử phá Trụ diệt Ân. Cuộc chiến thần thánh này được sử Việt mô tả trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Cơ Phát được Hùng Vương ngọc phả chép là con trưởng Hùng Quốc Vương, đã lên ngôi thiên tử, tiến hành việc phân chia đất đai trăm họ chư hầu, đặt ra lễ chế trăm quan, phong cho trăm thần, là những tướng lĩnh đã tử trận trong cuộc chiến Hùng – Thục / Ân – Chu kéo dài hàng chục năm. Nước Văn Lang – Âu Lạc trở thành Trung Nguyên của Thiên hạ Trung Hoa, bắt đầu một Hùng triều tiếp theo của dòng họ Hùng, kéo dài hơn 800 năm.

Câu đối ở đình Bảo Đà:

Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch:

Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Tê giác, loài Kỳ lân của cổ văn hóa sử phương Đông

Kỳ lân là biểu tượng của văn hóa và lịch sử cổ truyền ở Việt Nam cũng như Trung Quốc. Tương truyền, khi Khổng Tử sinh ra ở nước Lỗ thì thấy Kỳ lân xuất hiện, báo hiệu thánh nhân ra đời. Khổng Tử chép Kinh Thư từ thời thượng cổ đến khi Lỗ Ai Công săn được Kỳ lân thì dừng lại. Vì thế Kinh Thư còn được gọi là Lân Kinh, là cuốn sách về lịch sử Trung Hoa cổ đại. Thế nhưng, liệu ai có thể ngờ được rằng, nguyên mẫu của Kỳ Lân, con vật đứng đầu trong Tứ linh, lại là con Tê giác, một loài vật chỉ gặp ở xứ nhiệt đới phương Nam.

Trong Kinh Thi phần Chu Nam có bài thơ Quyển nhĩ như sau:

Trèo lên trái núi
Ngựa ta mệt rồi
Bình ta rót rượu hủy quang
Để mà tránh khỏi đau thương lâu dài.”

Bà Chu hậu nhớ chồng đi xa, lên núi cao, uống rượu trong một chiếc “hủy quang” để mong quên đi nỗi nhớ thương.

Hủy quang là một loại đồ vật bằng đồng, mô phỏng hình dáng con Tê giác, dùng để đựng rượu, thịnh hành ở thời Tây Chu. Một chiếc Hủy quang bằng đồng xanh của thời kỳ này được thấy ở Lào.

Te giac

Chiếc quang đựng rượu hình Tê giác thời Tây Chu.

Chiếc quang hình con Tê giác này có phần đầu rất lớn, một sừng to, cong, vươn ra phía trước. Sừng khác nhỏ hơn ở trên trán. Tai Tê giác nhọn. Phần sau của nắp quang là hình mặt lợn, mõm rộng, tai cong. Con mắt của chú Tê giác này to tròn, rất sống động. Phần thân chiếc quang Tê giác được trang trí bằng những hoa văn nổi. Dài theo thân quang ở mỗi bên là hình một con chim lớn, cách điệu, mỏ tù, đuôi dài, mào cong như con chim phượng trên chiếc quang chim thú ở trên. Phần ngực Tê giác hai bên có hình con quỳ long nhỏ, có sừng, đang há miệng, quay đầu về phía con chim phượng.

Tê giác vốn là một loài thú lớn, chỉ sống ở vùng nhiệt đới nóng ẩm. Vậy mà hình tượng Tê giác đã đi vào trong kinh sách và hiện vật văn hóa Trung Hoa hàng ngàn năm trước. Suy xét sâu hơn nữa thì Tê giác còn hiện hữu trong văn hóa phương Đông ở trong bộ linh vật là Tứ linh.

Sách Lễ ký của Khổng Tử, tài liệu sớm nhất nói về Tứ linh, cho một trật tự 4 con vật này như sau: “Lân, Phụng, Quy, Long”. Theo đó, con Lân hay Kỳ Lân là loài linh vật đứng đầu Tứ linh.

Khái niệm Tứ linh liên quan trực tiếp đến học thuyết Ngũ hành trong văn hóa phương Đông. Bảng kê đầy đủ về Ngũ hành được tóm tắt thấy trong sách Lã Thị Xuân Thu của Lã Bất Vi đời Tần như sau:

– Mộc đức: mùa Xuân, phương Đông, màu xanh. Động vật tiêu biểu là loài có vảy, tức là chỉ con Rồng (Long)

– Hỏa đức: mùa Hè, phương Nam, màu đỏ. Động vật tiêu biểu là loài chim có lông vũ, chỉ chim Phượng hoàng (Phụng).

– Kim đức: mùa Thu, phương Tây, màu trắng. Động vật tiêu biểu là loài thú có lông mao, tức là chỉ Kỳ lân (Ly).

– Thủy đức: mùa Đông, phương Bắc, màu đen. Động vật tiêu biểu là loài giáp giới, chỉ con Rùa (Quy).

Theo bản kê trên, Lân là con thần thú đứng đầu các loài có lông mao và là biểu tượng của hướng Tây. Điều này trùng khớp với tên của loài Tê giác vì bản thân chữ Tê còn có âm đọc là Tây.

Một câu hỏi là trong Tứ linh tên gọi đúng là con Ly hay là con Lân? Phép phiên thiết Hán Nôm giúp giải đáp câu hỏi này. Kỳ lân đọc phản thiết là Ly. Tức là “Kỳ lân” là từ ghi âm của chữ Ly. Gọi là Lân hay Ly đều là về một con vật, một hình tượng.

Bàn về nguyên mẫu và ý nghĩa của con Lân có thể xem bài phong dao Lân chi chỉ (Chân con Lân) trong Kinh Thi (phần Chu Nam):

Kìa là chân của Kỳ lân. Con Văn Vương cũng hậu nhân rõ là. Ôi, như Kỳ lân thật mà!
Kìa là trán của Kỳ lân. Cháu Văn Vương cũng hậu nhân vô cùng. Ôi, như Kỳ lân, một lòng!
Kìa là sừng của Kỳ lân. Họ Văn Vương cũng hậu nhân xiết nào. Ôi, như Kỳ lân làm sao!

Về con Lân trong bài thơ này tác giả Chu Hy (thế kỷ 12 thời Nam Tống) đã chú giải như sau: “Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con Lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống.

Ngày nay cả ở Việt Nam và Trung Quốc đều thể hiện Kỳ lân ở dạng loài động vật bốn chân móng guốc, đầu rồng, thân có vảy. Nhưng như vậy hóa ra Kỳ lân là con Long mã (đầu rồng chân ngựa). Điều này hoàn toàn không phù hợp vì trong bộ Tứ linh đã có riêng con rồng (Long) là loài có vảy. Ở vị trí con Lân phải là loài có lông mao.

Bài Lân chi chỉ trong Kinh Thi ca ngợi dòng dõi Chu Văn Vương, có lòng nhân hậu, có thánh đức như con Lân không dẫm lên côn trùng, không ăn sinh vật… Con Lân hay con Ly là con thần thú biểu tượng của nhà Chu, cho lòng nhân đức của Văn Vương, người khởi dựng nhà Chu trong lịch sử.

Gom Cay Mai Tượng Kỳ lân trong dòng gốm Cây Mai Nam Bộ.

Ở miền Nam Việt Nam trước đây có dòng gốm Cây Mai cũng thường tạo hình Kỳ lân dưới dạng con thú có râu dài, có một sừng và có hai bông hoa lớn, ý chỉ là loài không ăn thịt, cũng là có nghĩa ca ngợi tính nhân hậu của Kỳ lân. Con vật có lông mao, hình dáng như con hươu lớn, có móng guốc như ngựa, đuôi như đuôi bò, ăn hoa lá, có một sừng, lại biểu tượng cho hướng Tây thì chắc chắn phải là con Tê giác.

Trong cuốn Hoa văn Việt Nam, tác giả Nguyễn Du Chi có bàn như sau: Ở Việt Nam hình tượng Kỳ lân cũng được du nhập vào rất sớm. Từ thời Lý đã được chú ý đến loại đề tài này. Tuy nhiên, đọc sách vở thấy Kỳ lân có nhiều nét giống Tê giác, nên năm 1057 triều đình nhà Lý đã mang hai con này qua Quảng Châu định cống vua Tống và nói là Kỳ lân. Vì người Trung Quốc tin rằng chỉ có thánh nhân ra đời mới có Kỳ lân xuất hiện nên các quan nhà Tống đã cãi nhau sôi nổi về việc con vật được cống nạp này. Sách Tục tư trị thông giám trường hiện của Lý Đảo đời Tống còn chép rõ hình dáng con vật: “Hình như trâu, mình có da dày từng mảnh như giáp, đầu mũi có sừng, hay ăn cỏ, quả, dưa, cho ăn phải lấy gậy đanh nó mới ăn”.

Có thể nhận ra rằng vì các loài Tê giác chỉ có ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới nên những người phương Bắc (Trung Quốc) không biết nguyên mẫu con Lân là con Tê giác. Do đó đã biến con Lân trong văn hóa Trung Hoa thành một con vật hoàn toàn tưởng tượng (Long mã), không phù hợp với những mô tả về Kỳ lân trong thư tịch cổ.

Te giac chua Phat Tich 2Tượng Tê giác thời Lý ở chùa Phật Tích, Bắc Ninh.

Tê giác là loài vật vốn rất được tôn trọng ở nước ta không chỉ bởi sừng Tê là vật quý. Với ý nghĩa cát tường, hình Kỳ lân – Tê giác một sừng đã được vẽ màu trên những chiếc đĩa gốm Chu Đậu nổi tiếng khắp thế giới. Tê giác cũng bắt gặp trong những cặp tượng linh thú thời Lý đặt trước sân chùa Phật Tích ở Bắc Ninh, hay chầu bên lăng mộ các vua Lê ở Lam Kinh, Thanh Hóa.

Tê giác trong văn hóa phương Đông là tượng trưng cho sức mạnh tinh thần, trí tuệ và văn hóa. Vua Minh Mạng khi lên ngôi, cho đúc Cửu đỉnh đặt ở Thái miếu tại Hoàng thành Huế, cũng đã cho khắc hình con Tê lên Chương đỉnh, như một biểu tượng của văn chương.

Con Tê giác cuối cùng ở Đông Dương đã tuyệt chủng năm 2010 tại Vườn quốc gia Cát Tiên (Đồng Nai), nhưng hình tượng Tê giác – Kỳ lân sẽ không thể mất trong văn hóa Việt vì nó đã hóa thành loài vật linh thiêng bất diệt trong Tứ linh, biểu tượng cho một nền văn minh sớm, đầy rực rỡ của người Việt.

IMG_5027Hình con Tê trên Chương đỉnh ở Huế.

Với việc phục hồi nguyên mẫu của Kỳ lân là loài Tê giác, linh vật của hướng Tây, thì định vị của Trung Nguyên thời kỳ nhà Chu chắc chắn phải dời xa hơn về phương Nam, nơi có loài thú này sinh sống. Bởi Trung Nguyên có nghĩa là chỗ giữa của thiên hạ bốn phương. Thần thú Kỳ lân nay đã hiện nguyên hình là con Tê giác thì lịch sử phương Đông cổ đại, gắn liền với sự khởi lập thiên hạ của nhà Chu, với triết lý Âm dương Ngũ hành, với biểu tượng Tứ tượng Tứ linh… rồi cũng sẽ trở nên sáng tỏ, trở về bản căn vốn có của sự thật lịch sử.

MINH THI

(Báo Lao động cuối tuần số 35 từ 28.8 đến 30.8.2020. Trang 4-5.)

Tháng Bảy cô hồn là sự kiện gì trong lịch sử?

Theo quan niệm dân gian cứ vào ngày 2/7 âm lịch hằng năm, Diêm Vương sẽ cho mở cửa Quỷ môn quan để cô hồn dạ quỷ được trở về nhân gian. Rồi đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, ma quỷ sẽ bị gọi trở lại địa ngục. Đây cũng là ngày “âm khí xung thiên”. Người ở trần gian sẽ phải cúng cháo, gạo hay muối cho các vong linh…
Còn Truyện giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái cho biết: Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới chân núi Trâu. Hùng Vương cầu cứu với Long Quân, Long Quân hóa thành Đổng Thiên Vương cưỡi ngựa sắt đi đánh giặc, quân nhà Ân đều thua chạy. Vua nhà Ân chết trận dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, bốn mùa đều phải hương khói.
Theo đó, vua Ân chết biến thành vua Địa phủ, tức chính là Diêm Vương, người cho mở Quỷ Môn quan thả các vong hồn lên dương thế vào tháng 7 hàng năm. Từ dữ liệu này có thể nhận định rằng tục cúng cô hồn vào tháng 7 liên quan tới cái chết của vua Ân trong cuộc chiến với Phù Đổng Thiên Vương.
Ở núi Trâu Sơn, hay núi Vũ Ninh nay thuộc Quế Võ, Bắc Ninh vẫn còn những dấu vết trực tiếp của câu chuyện Giếng Việt, với những “hang nhà Ân” như những cung điện ngang dọc trong lòng đất (các mộ gạch cổ). Khu vực núi Vũ Ninh thờ Triệu Vũ Đế, nhưng nhiều khi tượng thờ vua Triệu lại được dân địa phương gọi là “tượng người Ân”.
20191124_092438 (2)
Tượng Triệu Vũ Đế xưa thờ ở Trâu Sơn.
Liên quan đến các âm hồn, truyền thuyết Việt còn có truyện Bạch Kê tinh ở Cổ Loa: Cái tinh khí ở núi này là con vua đời trước, muốn báo thù cho nước. Lại có con gà trắng sống lâu ngàn năm, hóa thành yêu tinh ẩn ở núi Thất Diệu. Trong núi có ma, đó là hồn người nhạc công triều trước chôn ở đây.
Tinh Gà trắng hại người ở quán bên chân núi, hàng đêm lại hóa thành con cú bay đậu lên cây chiên đàn, ngậm lá thư kêu Trời, làm cho thành Cổ Loa cứ xây xong lại đổ. Nhờ có Huyền Thiên Lão Tử cử thần Kim Quy đến diệt trừ thì mới dẹp yên.
Miếu Bạch Kê ở núi Thất Diệu nay vẫn còn. Câu đối ở cổng miếu:
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩
Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân.
Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.
Câu đối này coi Bạch Kê là “tiền vương” của Bách Việt.
Bach Ke
Miếu Bạch Kê ở thị trấn Sọ, Yên Phong, Bắc Ninh.  
Đền Bạch Kê nằm ở thị trấn Sọ, cho thấy xương người chết xưa kia ở đây đã chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng… Lĩnh Nam chích quái kể lại việc “khai quật” này khi Thục An Dương Vương xây Cổ Loa: Vua liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông.
Trong lễ tục mở cửa mả, siêu thoát cho người đã khuất cũng có dùng một con gà trống kêu quanh mộ người chết. Kê tinh như thế là biểu tượng cho âm hồn. Mà cụ thể trong truyện ở Cổ Loa, là hiện thân của “con vua đời trước” muốn báo thù cho nước.
Môt liên hệ nữa là bản thân gà trống là chữ Hùng 雄 trong tên Hùng Vương. Kê tinh như thế chỉ oan hồn của vị vua Hùng “đời trước”, đã bị mất nước bởi Thục Vương. Thục An Dương Vương ở Cổ Loa là triều đại mà đã đánh dẹp nhà Ân. Như thế Bạch Kê tinh tức chính là âm hồn của Ân Vương.
Lịch sử kể, khi bị quân đội của Vũ Vương nhà Chu, cầm đầu bởi Khương Tử Nha tấn công vào kinh đô Triều Ca, thì Ân Trụ Vương đã đốt cháy Lộc Đài và nhảy vào biển lửa tự vẫn, chấm dứt thời kỳ nhà Ân Thương kéo dài khoảng 600 năm, chấm dứt cuộc chiến giành thiên hạ hàng chục năm giữa Ân và Chu, với bao nhiêu đổ máu cho cả 2 bên.
Kết thúc cuộc chiến này, các tướng lĩnh đã hy sinh của cả 2 bên đã được vào đưa vào bảng phong thần, trở thành các vị thần có thờ tự. Còn bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng trong cuộc chiến, mà bi thảm nhất chính là cái chết của Trụ Vương, thì được cúng tế trong tục cúng cô hồn.
Ngày rằm tháng 7 theo Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả là ngày hóa của Hùng Huy Vương, húy là Long Tiên Lang. Triều đại tiếp theo là Hùng Ninh Vương, húy là Thừa Văn Lang. Thông tin này khẳng định thêm nhận định về Thương – Chu ở trên. Long Tiên Lang là dòng vua Hùng theo cha Lạc Long Quân ở phía Đông, tức là nhà Ân Thương. Còn Ninh Vương chính là tên của Cơ Phát hay Chu Vũ Vương, người kế thừa nước Văn Lang của Chu Văn Vương, nên có tên là Thừa Văn Lang.
Cúng cô hồn tháng Bảy hàng năm thực chất chính là ngày cầu siêu cho nhân dân đói khổ vì chiến tranh loạn lạc, binh sĩ nơi sa trường, đã chết trong cuộc chiến khốc liệt giữa Chu – Thục Vương và Ân – Hùng Vương của 3000 năm trước.
Xã hội phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ (thời Ân Thương) sang chế độ phong kiến (Chu Văn Lang) đã phải trải qua một cuộc “cách cổ đỉnh tân”, thay cũ đổi mới, thật đắt giá với hàng vạn người đã đầu rơi máu chảy, sọ chất thành núi như ở Cổ Loa.