Vũ khí của Phù Đổng Thiên vương

Phù Đổng Thiên Vương khi ra trận đánh giặc Ân giúp nước đã dùng những loại thần binh lợi khí gì? Xin xem xét từng món bảo bối của Thần vương.

Ngựa sắt

Theo yêu cầu của Đổng Thiết, vua Hùng sai các tướng tìm các đồ sắt đủ 50 trăm cân, truyền cho trăm thợ rèn để rèn thành ngựa sắt cao mười tám thước, có đủ năm tạngThần Vương nhảy lên ngựa sắt, cầm roi sắt, đội nón sắt, thét vang như sấm chớp, rằng:
– Ta là Thần tướng, vâng sắc chỉ xuống giúp nước!
Ngựa sắt nhảy mạnh, bay lên không mà phi, lập tức tới nơi Vua ngự. Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh huyện Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi.
..
Còn trong tác phẩm Phong Thần diễn nghĩa kể, thừa tướng của nhà Chu là Lã Vọng Khương Tử Nha, người Đông Hải, đã phò giúp Chu Vũ Vương đánh Trụ diệt Ân. Khương Tử Nha cưỡi con kỳ thú là Tứ bất tướng. Con thú này sống từ thủa khai thiên lập địa đến nay. Hình dáng đầu kỳ lân, có sừng, đuôi hươu, vóc dáng như rồng. Có thơ rằng:
Ðầu lân đuôi trại vóc như rồng
Chân đạp hào quang thấu chín trùng
Bốn biển mười châu đi nhất khắc
Ba non năm núi đến như không.
So sánh ở đây thì thấy con Ngựa sắt của Thánh Dóng là con Tứ bất tướng của Lã Vọng.

IMG_8272.JPG
“Tứ bất tướng” trước cửa đền Thượng Sóc Sơn.

Roi sắt

Trước đây các bản dịch thần tích nói rằng Phù Đổng Thiên vương dùng cây gậy sắt. Nhưng đúng chữ gốc thì đây là “Thiết tiên”, tức là cây Roi sắt. Cây roi này dài mười thước.
Vũ khí tấn công của Khương thừa tướng là cây Roi đánh thần (Đả thần tiên), có thể đánh cho thần tiên hồn rời khỏi phách, mà bay lên đàn Phong Thần. Có thể thấy Roi đả thần và Thiết tiên của Phù Đổng là một.
Cùng với vũ khí này là tục chém tướng Ân trong lễ hội đền Sóc. Cũng như trong hội làng Phù Đổng, tướng Ân được thể hiện là các cô gái trẻ được trang điểm và được rước bằng kiệu. Hội Phù Đổng có bài hát Ải Lào:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ Nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Ở Sóc Sơn sau khi làm động tác chém tướng các cô gái được cõng chạy về làng. Chém tướng cũng là một lễ tế trong ngày Khương Thái Công đăng đàn Phong Thần, đã chém 2 tướng Ân làm lễ là Phi Liêm và Ác Lai.

ss7.jpeg
Tướng Ân trong hội đền Sóc (Ảnh: internet).

Áo giáp

Ngọc phả Hùng Vương cho biết Đổng Thiết chỉ yêu cầu nhà vua rèn một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, một chiếc nón sắt rộng 3 thước. Còn không có áo giáp bằng sắt.
Ngày hôm ấy mặt trời vừa đúng chính Ngọ, Đổng Thiết cười vang một tiếng, duỗi tay vươn vai, tiếng vang như sấm, ánh mắt loé sáng như chớp, thân mình cao hơn 18 thước. Vì chưa kịp may quần áo nên sai 10 vạn quân đi bẻ hoa lau đem về kết thành đồ mặc.
Đồ mặc của Phù Đổng là một chiếc áo hoa lau, có hàng ngàn bông hoa.
Bọn giặc còn lại chưa diệt hết, nhưng roi sắt đã bị rơi mất. Thần vương bèn nhổ lấy các bụi tre gai vung lên quét sạch quân Ân. Khi đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa, thần vương cởi bỏ bộ áo hoa lau, cưỡi ngựa bay lên không mà bay đi
Khương Thái Công có vật hộ thân là Hạnh Hoàng Kỳ, hay lá cờ của hành màu Vàng (trong Ngũ hành). Lá cờ này khi phất lên thì hàng ngàn bông hoa sen bay ra, ngăn cản tất cả binh khí của quân giặc đánh đến.
Hạnh Hoàng Kỳ như vậy chính là bộ áo hoa lau (hoa tre) của Phù Đổng hay cành tre đằng ngà được Thánh Dóng nhổ lên quét sạch giặc Ân. Trong lễ hội Dóng ở Sóc Sơn hiện còn tục ban lộc hoa tre. Hoa tre được làm bằng những thanh tre dài, đầu được vót thành xơ và nhuộm màu. Sau lễ dâng hoa, tre được tung ra trước sân đền cho người dự hội lấy để cầu may. Đây là tái hiện lại hình ảnh Phù Đổng cởi bỏ bộ áo “hoa lau” trước khi bay về trời ở núi Sóc.

Le-hoi-giong-2018-Bo-cuop-hoa-tre-lo-loc-ban-dai-tra-1.jpgHoa tre trong hội đền Sóc (Ảnh: internet).

Thiên thư

Một vũ khí “tinh thần” (mưu lược) quan trọng của Khương Tử Nha được nói tới là cuốn Thiên thư (Sách trời). Trong chuyện của Phù Đổng Thiên vương bảo bối tương ứng là chiếc Nón sắt. Chữ Sắt trong chuyện Thánh Dóng không nên hiểu ra thành “thời kỳ đồ sắt” Sắt ở đây nên hiểu tương đương với từ “Thần”. Ngựa sắt là con ngựa thần Tứ bất tướng. Roi sắt là Roi đả thần. Còn Nón sắt hẳn là chỉ Thiên thư.
Trong Ngọc phả Hùng Vương còn có chỗ nói tới Thiên thư:
Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói. Vua bèn thành tâm lập đàn trai giới, thắp hương cầu khấn. Các quan triều đến cầu niệm suốt trong ba ngày, trông mong lúc trời đất, tiền thánh tổ Long Quân âm phù cho tướng giúp yên. Được một tháng, trời ứng mưa to sấm gió nổi lên. Bỗng thấy một cụ già thân cao hơn 9 thước, mày râu bạc phơ ngồi ở ngoài đường, cười nói ca hát nhảy múa. Ai trông thấy cũng phải lấy làm lạ, cho là bậc kỳ nhân. Sứ giả vào tâu Vua. Vua đích thân ra đón, mời vào đàn tế, hỏi rằng:
– Nay quốc gia có việc, giặc tới xâm lăng, thắng thua chưa biết thế nào, xin lão ông cho chỉ giáo. Lão ông trầm ngâm hồi lâu rồi đáp:
– Ta từng đến khắp đáy bể cửa trời, biết tới sách thần phép ước trời đất. Sẽ thử vận mà bói một quẻ. Rồi nói với Vua:
– Ba năm sau, giặc xâm lăng nước này, sẽ có được người tới, giặc sẽ được dẹp!
Lão ông lại nói chuyện với Vua, chân tình giảng giải, rồi tặng cho Vua một cuốn sách thần. Nói xong cụ già vút lên không bay đi.

DSC05703.JPG
Phù điêu thể hiện trăm trai của mẹ Âu Cơ tại chùa Hoa Long, bến Việt Trì.

Ngọc phả không kể cuốn Thần thư này được dùng làm gì trong cuộc chiến chống giặc Ân. Tuy nhiên, cuốn Thiên thư được dùng ở một đoạn khác, là đoạn Âu Cơ sinh thai ngọc trăm trứng:
Khi đó, có một cụ già tướng mạo trượng phu, râu tóc bạc phơ, dáng điệu tiên ông, đầu đội mũ trời gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi giày cỏ, tay cầm gậy tre, ra chơi ở bến sông Bạch Hạc Việt Trì, tại chùa Hoa Long. Ông già rửa chân bên sông, trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà.
Hôm ấy có quan trong triều là Tướng quân nguyên soái tiết chế trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu ở bên sông Việt Trì. Quan Nguyên suý trông thấy ông Tiên đang xem phong thủy, mặt hướng nhìn các sông Bạch Hạc Hoàng Hà Manh Hà, chân đạp lên tảng đá hình lưng rùa. Triều quan sai sứ giả nghênh đón tiên ông lên lầu hỏi chuyện với Nguyên soái. Quan đem hết sự thể bộc bạch chân tình, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về cung điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua.
Vua thân hành ra mời cụ già vào cung, dùng đại lễ, mở tiệc chúc mừng. Vua hỏi cụ già rằng:
– Tiên sinh từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện, nhờ cụ chỉ giáo cho.
Tiên ông ha hả cười vang. Vua vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Cụ ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốnđặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần  trời đất trăng sao, gọi tên các phép tiên.
Vua nói: Nước đã có thành tâm cầu đảo, đúng là cầu tất ứng.
Tiên ông nói: Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai. Xem tướng trăm trai thì Vua sẽ cử được người tài lập làm con trưởng, phân định thứ bậc anh em
Tiên ông lấy bút viết ra, đặt tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc mâm vàng.
Ông lão cầm gậy trúc đứng trên Bàn Thạch bên sông Nhị rõ ràng là ông Lã Vọng câu cá, được Chu Văn Vương cầu về giúp nước. Cuốn Thiên thư ở đây có tác dụng là: bói biết được tinh thần trời đất trăng sao, gọi tên các phép tiên. Cuốn Sách trời tức Hà thư, dùng để đoán định về tinh thần, phân định lãnh thổ, đặt tên các quốc gia chư hầu.

Bảng phong thần

Thiên thư phối hợp với chiếc Mâm vàng dùng để đặt tên cho trăm người con trai Bách Việt trong chuyện Âu Cơ (Cơ Xương Văn Vương trong Phong Thần diễn nghĩa cũng có 100 người con). Như vậy chiếc Mâm vàng chính là Bảng phong thần của Khương Tử Nha. Chiếc Mâm vàng này cũng đã dùng để bảo giữ thai ngọc của Âu Cơ:
Thiên sứ báo cho Hiền vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi chùa cổ ở núi Viễn Sơn, tức là chùa Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng ở ngọn Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa.
Mâm vàng ở đây dùng đặt đồ tế lễ các tướng lĩnh tử trận và đặt định trăm quan, trăm chư hầu là một dạng tế đàn. Hình ảnh thật của nó là các bàn đá hay các cự thạch lớn tìm thấy nhiều ở vùng Sóc Sơn. Tế đàn lớn cho phong thần của Phù Đổng chính là đỉnh núi đá Sóc – Vệ Linh, trước đây còn có mấy dấu chân ngựa, nước không bao giờ cạn.

Cu thach.jpg
Cự thạch ở Minh Trí, Sóc Sơn (Ảnh: Nguyễn Huân).

Có lẽ “Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng“chính là Khương Thái Công, người đã tiến hành việc phong thần, tức là thiết lập chế độ lễ nhạc tín ngưỡng cho thiên hạ, và phong tước cho các công thần của nhà Chu sau cuộc chiến diệt Ân. Ngọc phả Hùng Vương viết, Lão tiên sau khi đặt tên cho trăm trai:
… Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui. Xếp đặt việc đặt tên đã xong, tự nhiên có một làn mây xanh bay đến trên không trung, Tiên ông biến hoá bay về Thượng giới.
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư…

IMG_5950.JPG
Tam quan chùa Thiên Quang ở Nghĩa Lĩnh.

Câu đối ở đền Thượng Sóc Sơn:
天上降神鉄馬鐵鞭朱粤動
水中顯聖金鎗金甲太原寒
Thiên thượng giáng thần, thiết mã thiết tiên Chu Việt động
Thủy trung hiển thánh, kim thương kim giáp Thái Nguyên hàn.
Dịch ý:
Thần giáng từ trời, Roi tiên Ngựa sắt rung Chu Việt
Nhân gian tỏ thánh, Giáp tre Mâm đá lạnh Thái Nguyên.
Khương Thái Công Lã Vọng, “từ trời thần giáng”, cưỡi ngựa sắt – Tứ Bất Tướng, dùng Roi sắt Đả Thần, làm kinh động miền đất Việt nhà Chu. Chiếc Mâm vàng – bàn đá dùng để phong thần, phong tước kiến địa. Áo giáp hoa tre – Hạnh Hoàng Kỳ làm vật hộ thân, làm cho quân giặc phương Bắc (Thái Nguyên) phải run sợ…
Truyền thuyết, tín ngưỡng và lễ tục của người Việt về cậu bé làng Phù Đổng – ông lão bên sông Nhị giúp Văn Lang Vũ Ninh đánh Trụ diệt Ân nay đã là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Câu chuyện lập quốc Văn Lang, tạo nên một thiên hạ thái bình thịnh trị của nhà Chu với hàng trăm chư hầu, tồn tại hàng trăm năm, không hề bị quên lãng trong tâm thức Việt.

Phong thần diễn Việt nghĩa

Phong Thần diễn nghĩa kể lại câu chuyện lập quốc của nhà Chu, từ lúc Trụ Vương suy đồi, Văn Vương cầu Khương Tử Nha, phò Vũ Vương hội chư hầu tiến đánh Triều Ca, dựng nên thiên hạ nhà Chu, phong hầu phong thần, đặt ra bách tính.
Trong  huyền sử Việt câu chuyện Phong Thần này được “diễn nghĩa” theo một góc nhìn khác, mà người Việt ai cũng thuộc nằm lòng, bởi đó là các truyền thuyết về thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, được kể chi tiết trong Ngọc phả Hùng Vương cùng các di tích hiện còn ở Việt Nam.

Hồi 1. Trụ Vương – Đát Kỷ

Trụ Vương là vị vua cuối cùng của nhà Ân Thương. Vua Trụ coi khinh quỷ thần, chọc ghẹo cả Nữ Oa, ham mê tửu sắc, bị con hồ ly tinh Đát Kỷ mê hoặc, giết hại hiền thần, dẫn đến triều chính rối loạn. Mệnh của nhà Ân Thương từ Thành Thang coi như sắp hết.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Quốc Vương chưa tỏ sự lý của trời đất nên trong cung còn nhiều thuyết hoang đường, lấy đó làm cách cảm. Quần thần tấu thỉnh lên bệ hạ nên dùng một kế, chế lập ra một đàn tràng. Vua nghe theo lời tâu. Có một bà mo xưng có tài như thần. Vua sai bắt bà mo giam trong cung.
Sau đó vua sai lập một đàn tế riêng, dùng các lễ dối, voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Trời. Vua bảo triều thần:
– Trẫm dùng kế ấy để xem người bà mo có biết giả trá hay không?
Hoàng thiên tuy cao, nhưng nghe xong không bằng lòng, xem đến các đồ lễ trên đàn thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo vua không có đức.
Vương mới nghiệm biết trời đất báo ứng ngay trước mắt. Đến năm Thân tháng Thân, thần khí âm dương rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần.
Vua mới cho sứ đưa bà mo đến bảo:
– Ngươi biết dò xét cơ trời. Nay trong nước có điềm chẳng lành. Ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào, về báo cho Trẫm biết.
Bà mo bèn làm phép, trong khoảng ba canh, tự nằm mộng đến trước cửa khuyết Ngọc Hoàng, quỳ tâu rằng:
– Tôi vâng mệnh quốc vương lên tâu thiên đình. Nay trần thế đang có biến. Xin cho biết nguyên do như thế nào?
Ngọc Hoàng phán rằng:
– Ngươi mau trở về báo cho Vua biết. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần hoàn lóc lóc, có cầu có nguyện tất được tòng tâm. Vua nay tự kiêu ngoa, truyền làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau tất sẽ có nạn giặc lớn!
Có thể thấy Hùng Vương ở đây là Trụ Vương. Bà mo là con yêu Đát Kỷ. Đã bày đặt ra những chuyện lừa dối cả Hoàng Thiên.
Mâu thuẫn giữa hai dòng Thương và Chu còn được kể đến trong cuộc chia tay Lạc Long – Âu Cơ trong huyền sử Việt.
Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc.
Và trong đoạn kể về Hùng Vương cuối cùng:
Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn còn say khướt chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục…

Hồi 2. Phượng gáy non Kỳ

Cơ Xương Văn Vương là Tây Bá Hầu, là vị hầu tước đứng đầu miền Tây của nhà Ân, cũng gọi là xứ Tây Kỳ. Tương truyền khi Văn Vương sinh ra có điềm phượng hoàng bay đến đậu trên núi Kỳ Sơn mà gáy, báo hiệu sự ra đời của bậc thiên tử, khởi đầu một triều đại mới thay cho nhà Ân đã tận số.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Khi ấy có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, là một thiếu nữ hiền đức, sống ở quê mẹ tại huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc của Giao Chỉ. Một hôm nàng Âu Cơ đi chơi ở châu Trường Sa, gặp khi vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, tư chất kiều diễm, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm chính phi hoàng hậu. Thề rồi tới khi Kinh Dương Vương hai trăm năm bảy tuổi, ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thì phong Lạc Long Quân lên nối ngôi chính thống ra ở tại núi Nghĩa Lĩnh, kinh thành đô ở núi Phong, triều đại quản lý việc nước nhà, lấy đức cai quản nhân dân.
Mẹ Âu Cơ là dòng tiên, biểu tượng là chim phượng, là hình ảnh thể hiện trên mặt trống đồng, văn vật đặc trưng cho người Việt ở thời kỳ này. Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, đô đóng Phong Châu, tức là Cơ Xương Văn Vương.

Hien Luong.jpg
Đền Hiền Lương ở Hạ Hòa, Phú Thọ, nơi Âu Cơ bay về trời (Ảnh: Nguyễn Huân).

Hồi 3. Văn Vương cầu hiền

Khởi đầu sự nghiệp Cơ Xương Văn Vương đã hết lòng chiêu mộ hiền tài. Văn Vương đã đích thân tìm đến Lã Vọng, là một ông lão ngoài 80 tuổi, ngồi câu cá trên Bàn Thạch ở sông Vị. Văn Vương đón Lã Vọng về lập làm tể tướng, tức Khương Tử Nha.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Hiền vương phán rằng:
– Chính sự lớn của triều đình cần có người anh tài. Trẫm vâng mệnh Trời gây dựng cơ đồ lớn lao, mở nước trị dân, theo mệnh trời sinh được trăm con trai. Trẫm cùng trăm quan thành tâm thiết lập đàn chay, kính cẩn cầu khấn tâu lên Hoàng Thiên, đấng ngự hội tụ của vạn linh, để đặt định trăm danh hiệu.
Bấy giờ vua lên đàn tràng khấn lễ cầu đảo lớn vừa xong, tự nhiên có cảm ứng, phương Tây có khí thần lại, mây rồng ngũ sắc, núi sông sáng rạng. Khi đó, có một cụ già tướng mạo trượng phu, râu tóc bạc phơ, dáng điệu tiên ông, đầu đội mũ trời gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi giày cỏ, tay cầm gậy tre, ra chơi ở bến sông Bạch Hạc Việt Trì, tại chùa Hoa Long. Ông già rửa chân bên sông, trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà. Hôm ấy có quan trong triều là Tướng quân nguyên soái tiết chế trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu ở bên sông Việt Trì. Quan Nguyên suý trông thấy ông tiên đang xem phong thủy, mặt hướng nhìn các sông Bạch Hạc, Hoàng Hà, Manh Hà, chân đạp lên tảng đá hình lưng rùa. Triều quan sai sứ giả nghênh đón tiên ông lên lầu hỏi chuyện với Nguyên soái. Quan đem hết sự thể bộc bạch chân tình, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về cung điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua. Vua thân hành ra mời cụ già vào cung, dùng đại lễ, mở tiệc chúc mừng. Vua hỏi cụ già rằng:

– Tiên sinh từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện, nhờ cụ chỉ giáo cho.
Tiên ông ha hả cười vang. Vua vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Cụ ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốnđặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần âm dương, gọi tên các phép tiên.
Vua nói: Nước đã có thành tâm cầu đảo, đúng là cầu tất ứng.
Tiên ông nói: Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai. Xem tướng trăm trai thì Vua sẽ cử được người tài lập làm con trưởng, phân định thứ bậc anh em. Tiên ông lấy bút viết ra, đặt tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc mâm vàng. Để phân định thứ bậc anh em, trăm trai đến hội ở chính điện. Mọi người đồng thanh cần phải có một huynh trưởng đứng đầu. Một người được gọi tên được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước mâm vàng nhận danh hiệu được ban. Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui.
Xếp đặt việc đặt tên đã xong, tự nhiên có một làn mây xanh bay đến trên không trung, Tiên ông biến hoá bay về Thượng giới.
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư. Ban bố cho trăm quan thường xuyên cầu khấn, cầu Phật ứng cho.
Ông lão cầm gậy trúc, đứng trên bàn đá bên sông Nhị, dùng Thiên thư (sách trời) để phân định thứ bậc họ Hùng, rõ ràng là chuyện của Lã Vọng câu cá ở Vị Thủy.

IMG_8494.JPG
Chùa Hoa Long ở ngã ba sông Việt Trì.

Hồi 4. Văn Thái sư đánh Tây Kỳ

Sau khi Cơ Xương đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá Hầu Sùng Hầu Hổ, Trụ Vương liên tiếp sai quân tiến đánh Tây Kỳ. Cầm đầu quân đội của Trụ Vương là Văn Thái sư, là một người tài giỏi, có nhiều phép thuật.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Thời Việp Vương, người giàu vật nhiều nên mới có sàm thần tấu lời, không tin bà mo, đùa lễ giả với trời. Thời này không có phong tục kính lễ. Vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói.
Tướng giặc Ân trong cách diễn nghĩa của người Việt là Thạch Linh thần tướng. Sau đó Phù Đổng Thiên Vương giáng xuất, đánh nhau với Thạch Linh thần tướng ở vùng Yên Việt.

Thach Linh
Đền thờ Thạch Linh thần tướng ở Hạ Lát, Tiên Sơn, Việt Yên, Bắc Giang (Ảnh: Nguyễn Huân).

Hồi 5. Vũ Vương khởi binh

Văn Vương mất, con là Vũ Vương nối nghiệp. Với sự giúp đỡ của Khương Tử Nha, Vũ Vương đã hiệu triệu 800 chư hầu, hẹn nhau hội quân ở Mạnh Tân, tiến đánh Trụ Vương.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Sứ giả đến làng Phù Đổng, huyện Tiên Du. Làng ấy có người nhà giàu tuổi đã 79. Trước nhà có mảnh vườn trồng các loại trà hoa. Bà lão cũng đã 59 tuổi. Sáng sớm ngày 6 tháng giêng năm Quý Hợi bà vào vườn hái hoa hái chè, thấy một dấu chân to lớn. Bà lấy làm lạ, bèn gọi chồng đến, quả nhiên thấy có dấu chân của thần nhân. Trưởng ông bảo vợ bước chân trái dẫm vào đó. Tự nhiên lúc đó khí trời của thần cảm ứng. Bà lão thấy cảm động trong người, mắt hoa, rồi mang thai. Đến ngày 8 tháng Tư năm Giáp Tí đầy tháng bà sinh một con trai. Con được đúng một tuổi thì Trưởng ông qua đời lúc 80 tuổi. Chỉ còn mẹ già sáu mươi bú mớm nuôi con. Lên ba tuổi đặt tên là Đổng Thiết, ăn uống lớn phổng, nhưng không biết nói cười. Ngày hôm ấy cậu bé đang nằm trong võng, mẹ cậu nghe sứ giả đi tìm người có đại tài dẹp loạn. Bà mẹ nói vui với sứ giả rằng:
– Lão sáu mươi tuổi mới sinh được một đứa con trai. Nay đã ba tuổi, chỉ biết ăn uống mà không biết đánh giặc để triều đình trọng thưởng quan tước mà trả ơn bú mớm cho mẹ.
Sứ giả đi qua. bỗng nhiên Đổng Thiệt ngồi dậy, mở miệng nói:
– Xin mẹ gọi sứ giả quay lại, con có việc cần nói. Mong mẹ đón lại sử giả về đây.
Thần vương nói với sứ giả rằng:
– Ta là Thiết Xung thần tướng đây! Trời sinh ra ta để giúp nước, dẹp loạn cứu dân. Ngươi về triều tâu với vua cho ta một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, một chiếc nón sắt rộng 3 thước, đưa mấy thứ ấy đến đây cho ta để đánh giặc Ân. Vua không phải lo gì nữa!
Sứ giả nghe lời nói của Đổng Thiết, trở về chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh tâu Vua mọi việc. Vua triệu tập quần thần trăm quan để bàn. Triều đình liền can ngăn rằng:
– Triều đình hiện nay oai trời rộng lớn, tướng mạnh tướng nhiều. Dù giặc Ân xâm chiếm phương Nam, cũng đã có người can đảm đối đầu. Huống hồ đứa trẻ ba tuổi sao có thể đánh giặc được. Vả lại việc binh là việc quốc gia đại sự, liên quan đến an nguy của hoàng gia, chớ nên xem nhẹ. Xin bệ hạ thận trọng lựa chọn người có đại tài, cử làm đại tướng. Không nên chỉ nghe lời nói bên ngoài mà không thấy tận mắt vậy.
Vua nói:
– Trẫm theo mệnh trời, trị nước yêu dân, tin việc thần nhân trước đây đã báo ứng. Đích thực là Tiền thánh Đế quân đã hiển linh về báo để giúp nước. Trẫm tin như lời đó thật không phải là sai, không nên nghi ngờ.
Vua sai các tướng tìm các đồ sắt đủ 50 trăm cân, truyền cho trăm thợ rèn để rèn thành ngựa sắt cao mười tám thước, có đủ năm tạng, roi sắt dài mười thước, nón sắt rộng ba thước. Đến giờ Mão ngày 7 tháng Giêng năm Bính Dần Vua sai quan Tiết chế dẫn 10 vạn hùng binh đem ngựa sắt roi sắt nón sắt đến làng Phù Đổng. Đổng Thiết cười rằng:
Vua theo đúng hẹn,
Vận nước lâu bền.
Quân giặc phải tan,
Một ngày giúp nước,
Thiên cổ danh vang.
Rồi Đổng Thiết nói với mẹ và họ hàng thân thích rằng: “Tính con hay ăn, xin soạn cho các món trâu rượu, hoa quả”. Dân làng nghe thế nhà nhà đem trâu rượu đến. Chỉ trong chốc lát cậu bé đã ăn xong để lên đường đi lập công giúp nước, đền đáp công ơn của cha mẹ, làng xóm và ơn Vua.
Ngày hôm ấy mặt trời vừa đúng chính Ngọ, Đổng Thiết cười vang một tiếng, duỗi tay vươn vai, tiếng vang như sấm, ánh mắt loé sáng như chớp, thân mình cao hơn 18 thước. Vì chưa kịp may quần áo nên sai 10 vạn quân đi bẻ hoa lau đem về kết thành đồ mặc. Đổng Thiết lạy tạ mẹ rằng:
– Mẹ là bậc thánh trên trời. Con là Thần vương. Một ngày lập công to lớn, vạn năm hương lửa vô cùng!
Thần Vương nhảy lên ngựa sắt, cầm roi sắt, đội nón sắt, thét vang như sấm chớp, rằng:
– Ta là Thần tướng, vâng sắc chỉ xuống giúp nước!
Phù Đổng Thiên vương ở đây cũng là Khương Tử Nha, người cầm đầu quân đội nhà Chu và các chư hầu, xông pha diệt Trụ.

Na Tra.jpg
Phù Đổng Thiên Vương và các thần tướng ở đền Thượng núi Sóc.

Hồi 6. Phá Ân diệt Trụ

Cuộc chiến giữa Trụ Vương và Vũ Vương diễn ra rất ác liệt. Phía quân Chu được nhiều thần linh đến trợ giúp. Sau nhiều trận đánh, quân nhà Chu đã chiếm được Triều Ca. Trụ Vương lên Lộc Đài phóng hỏa tự vẫn.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Ngựa sắt nhảy mạnh, bay lên không mà phi, lập tức tới nơi Vua ngự. Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh huyện Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi. Quân Ân thua to tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống rồi chém đầu. Bọn giặc còn lại chưa diệt hết, nhưng roi sắt đã bị rơi mất. Thần vương bèn nhổ lấy các bụi tre gai vung lên quét sạch quân Ân.

Tương truyền con ngựa đá của Thạch Linh thần tướng bị chém rơi đầu, nay còn dấu tích ở thôn Cựu Tự, núi Chu Sơn tại Quế Võ, Bắc Ninh, với hình một con rồng có cánh (Phi Liêm) bằng đá lớn.

Phi Liem
Tượng Phi Liêm bằng đá ở Chu Sơn.

Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Giếng Việt ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh; đời Hùng Vương thứ ba, Ân Vương cử binh Nam xâm, đóng quân ở núi Trâu Sơn; Hùng Vương cầu Long quân giúp, Long quân bao tìm khắp thiên hạ, nếu được người kỳ tài thì dẹp được giặc; đến kỳ cầu được Đổng Thiên Vương cỡi ngựa sắt đi đánh, tướng sĩ nhà Ân đều tan vỡ. Ân Vương chết ở dưới núi, làm Địa Phủ Quân; dân lập đền thờ, bốn mùa cúng tế nhưng lâu năm suy dần bỏ thành chùa hoang.
Trụ Vương chết, được phong làm Vua của Địa phủ. Rất có thể tục cúng cô hồn tháng 7, khi Diêm vương mở Quỷ Môn Quan cho các cô hồn đi ăn đồ lễ, chính là bắt đầu từ cuộc chiến Chu – Thương này. Đây là ngày lễ tưởng niệm đến những người đã mất trong cuộc chiến, mà không được siêu thoát hay phong thần. Có lẽ chính tháng 7 là tháng mà Trụ Vương đã chết cháy ở Lộc Đài.
Đoạn khác trong Truyện giếng Việt:
… hòn ngọc Long Tụy, nói đó là ngọc châu, từ thuở Trời Đất mới khai tịch, đã có một cặp Trống Mái từ đời Hoàng Đế trải đến đời Ân truyền làm thế bảo; trong trận đánh Trâu Sơn, Ân Vương đeo nó mà chết.
Vua Ân dùng ngọc rồng, đối lập hình ảnh với Văn Vương phượng gáy Kỳ Sơn. Ân Thương và nhà Chu là hình tượng của 2 dòng Tiên – Rồng, Âu Cơ – Lạc Long của huyền sử Việt.
Một cách kể khác trong Ngọc phả Hùng Vương là sự kiện Âu Cơ sinh trăm trứng, có Tứ đại thiên vương, Bát bộ kim cương đến phù giúp. Quá trình “mang nặng đẻ đau” trăm người con trai này là cuộc chiến diệt Trụ, lập ra thiên hạ trăm chư hầu.
Bấy giờ nàng Âu Cơ là chính phi, vào năm Nhâm Thân tháng Giêng ngày 4 có thai, điềm rồng đẹp ứng, mây lành năm sắc, hương trời đầy phòng. Trong 3 năm 3 tháng 10 ngày ở tại Ngũ Lĩnh. Trong cung điện hàng ngày thường có mây lành năm sắc, ánh rồng sáng lạn. Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 12 mặt trời chiếu đúng giờ Ngọ, cái thai trong bụng Âu Cơ chuyển động, mây rồng đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc trăm trứng, trong như ngọc châu, hương lạ thơm nức. Sơ sinh ở núi Nghĩa Lĩnh, đất tổ Phong Thứu, dưới lọng ngọc đầu núi bên đầm sen.
Hiền Vương thấy hoàng phi sinh tú bào hết sức dị thường, là điều lạ của quốc gia trước nay trong thiên hạ. Vua bèn triệu hội đồng bách quan văn võ triều thần đến chầu ở chính điện. Giờ Ngọ hôm ấy ở giữa thành nội Kính Thiên ba tiếng thiêng vang lên rung trời chuyển đất, núi sông cây cỏ muôn vật đều kinh hoàng, mây lành ngũ sắc sáng bừng khắp ba ngàn thế giới. Muôn chim bay chầu trên các lâu đài điện các. Dưới núi làn nước tung sóng cuộn dâng. Trăm kình nghê muông thú, muôn vật cá tôm đội gió mưa về chầu. Vua thấy quốc gia có điềm lành kỳ lạ, bèn xuống chiếu cho bá quan văn võ sửa sang áo mũ trai giới tịnh khiết đến tề tựu ở điện Kính Thiên, đèn hương phụng hầu chầu lạy Hoàng thiên Thượng đế, Tứ phủ vạn linh.
Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân Kính Long điện ngọc. Rồi bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ. Các vị tướng ấy cao hơn nửa trượng, đầu đội mũ hoa, mình mặc cẩm bào xanh, lưng thắt đai ngọc khăn rồng, chân đi hài sắt, nói cười đều loé hào quang lưỡi lửa, cùng cầm long đao, lệnh rằng: Ngọc Hoàng thượng đế xuống sắc cho Nam Miên, Hiền Vương quản nước, bọc rồng trăm trứng nở ra trăm trai trị nước. Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ. Vậy ban sắc này.
Hiền vương mới nhận long bài, truyền các quan văn võ ngước lên trời vái vọng, rồi dập đầu lạy tạ.
Thần vương nói: Bào ngọc trăm trứng, thần oai rạng thiêng, điềm rồng giáng sinh. Thiên sứ báo cho Hiền vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi chùa cổ ở núi Viễn Sơn, tức là chùa Từ Sơn Thiên Quang Hoà Thượng ở ngọn Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng. Hiền Vương hãy thành tâm cầu trời, tới tháng Giêng bào sẽ nở. Nói xong Tứ đại thần vương lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.
Hiền vương thành tâm cầu trời. Thế là vào ngày rằm tháng giêng, mây lành bay phủ khắp đất trời, núi sông rừng biển, nở ra trăm con trai. Trong khoảng một tháng các chàng trai không cần bú mớm mà lớn bật lên như người trưởng thành, tướng mạo phương phi, dáng hình kỳ tú, thân cao ba thước bảy tấc, cái thế anh hùng.
Hiền vương triệu phi tần sáu cung đến phát các tấm gấm lĩnh để khâu may 100 bộ áo mũ cấp cho các chàng trai. Một ngày ba lần làm các trò vui như du ngoạn hoa lá hồ sen, được một trăm ngày. Đầy trăm ngày vào ngày 20 tháng 7 cả trăm chàng trai đều cười vang, nói lớn:
Trời sinh bậc thánh
Trị nước sinh vua
Thanh bình bốn biển
Thiên hạ vững yên.
Thế là một trăm hoàng tử đều đến trước sân rồng. Hiền Vương đến ngự thấy các vị thần tướng nhà trời đầu đội mũ đồng, mình mặc áo bào giáp sắt, chân đi hia bạc, lưng thắt khăn rồng quá độ, tướng mạo sang quý sáng láng, mắt sáng như sao, miệng nhả hào quang hoả khí, tay cầm thần kiếm linh trượng, chày ngọc búa sắt, dàn hàng đứng hai bên tả hữu đối nhau. Bỗng không trung biến hoá, nhất thời mưa gió nổi lên, bay vây quanh núi Nghĩa Lĩnh, trên điện núi non mất hình, sông suối tràn dâng sóng vỗ, không ai biết được chuyện gì xẩy ra. Sau ba giờ bầu trời lại tạnh sáng. Đó là 8 vị tướng xưng là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Chư Phật Thượng Đế sai đến thăm nom 100 vị vương tử, nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một cặp ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển Sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện. Hiền Vương vâng mệnh vào điện đón nhận, coi đó là điềm lành lớn trời ứng ban để trị yên thiên hạ.
Hiền Vương thấy 100 con trai bỗng nhiên trở nên cao lớn, thân cao bảy thước ba tấc, tay cầm thần khí thiên bảo, chia hàng đứng hai bên phải trái, hầu triều lạy mừng vua cha. Hiền Vương nhận việc của Tám tướng tấu về, một trận mưa gió chấn động, sấm chớp sáng lòa, trên không biến hóa khải hoàn về Trời.

IMG_5954
Chùa Thiên Quang ở Nghĩa Lĩnh, nơi thai giữ bào ngọc trăm trứng.

Hồi 7. Trảm tướng phong thần

Tiêu diệt Trụ Vương xong, Khương Tử Nha về Tây Kỳ, lập đàn Phong Thần, chém những tên gian thần của triều Ân để tế lễ, rồi phong cho các tướng lĩnh tử trận của cả hai bên thành các vị thần. Tín ngưỡng thờ thần của Trung Hoa bắt đầu trở nên chính thống từ đó.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Khi đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa, thần vương cởi bỏ bộ áo hoa lau, cưỡi ngựa bay lên không mà bay đi. Nay nơi ấy vẫn còn dấu chân ngựa in trên lèn đá.
Núi Sóc Sơn chính là đỉnh Phong Thần của nhà Chu. Núi có tên Vệ Linh cũng hàm nghĩa này. Đây là nơi Khương Tử Nha đã đăng đàn trảm tướng phong thần, khởi đầu tín ngưỡng thờ thần cho cả thiên hạ Trung Hoa. Thôn Yên Tràng ở chân núi Vệ Linh còn có tục diễn cảnh chém 3 tướng Ân của Phù Đổng trước khi bay về trời.
Một cách kể khác về việc phong bách thần, đặt bách tính được kể trong đoạn:
Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù mà truyền dẫn. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ đất đai, xác định cương giới. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Người chủ gọi là Bô (bố), bố gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ theo phụ giúp, khi đó đều là những người tài giỏi. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Các họ tông của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời coi giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, giữ mãi phương Nam.

IMG_8279.JPGNhà bia bát giác đền Thượng ở Sóc Sơn.

Hồi 8. Phong hầu kiến địa

Chu Vũ Vương lên ngôi Thiên tử, đặt tên trăm họ, phong cho các anh em của mình, các vị khai quốc công thần các vùng đất đai phụ thuộc, phân chia chư hầu trấn giữ các nơi, sau thành các nước như Lỗ, Yên, Tề, Tấn, Tần, Ngô, Sở, …

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư. Ban bố cho trăm quan thường xuyên cầu khấn, cầu Phật ứng cho.
Trăm trai trăm tên. Con trưởng tên tục là Hùng Lân, sau đổi là Hùng Quốc Vương. Các con thứ có tên là Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Tĩnh Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, Yêu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tán Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hạn Lang, Khoán Lang, Trị Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Trâm Lang, Tróc Lang, Sát Lang, Lãng Lang, Sái Lang, Chiểu Lang, Kiềm Lang, Trường Lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Siêm Lang, Triệu Lang, Ích Lang, những người trên theo cha về biển.
Hương Lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Dị Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế Lang, Mã Lang, Thiệu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Miên Lang, Xuyến Lang, Kỹ Lang, Thỏa Lang, Phái Lang, Tài Lang, Trừng Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhị Lang, Tào Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Thập Lang, Triều Lang, Quán Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Tổ Lang, ? Lang, gồm những người theo mẹ lên núi.
Từ đó các hoàng tử đều đã có tên gọi, thành người chủ ở các phương, thông minh mẫn tiệp, trí dũng kiêm toàn, tài lạ đẹp đẽ, lòng hiếu mạnh mẽ, sức thần mắt rồng, thiên tư như mặt trời. Anh em đều có tài lớn, giúp nước ở chính triều đường, định vị thứ đứng đầu trăm quan.

DSC05695
Phù điêu những người con của Âu Cơ ở chùa Hoa Long.

Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Bắc, ba là Sơn Nam, bốn là Hải Dương, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Lạng Sơn Cao Bằng, mười ba là Quảng Đông Quảng Tây, mười bốn là núi Ngũ Lĩnh Vân Nam, mười lăm là Chiêm Thành. Bộ chủ các xứ. Nước 15 bộ, là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Trinh, Nhật Nam, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang.
Vua mới phân định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu quý, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc. Ơn hiếu nghĩa đức, sáng lòng nhân, trí tuệ, xuất thánh sinh hiền, không gian không ác, giúp đỡ mà trị, lấy đạo làm sáng, lấy giáo hóa làm đẹp. Vạn dân hân hoan, trăm họ ca hát, thiên hạ thái bình. Vua quân đổi đức, trị nước hưng thịnh, triều đình chuyên chính, dân theo cổ, lễ phục, tạo nhạc, mưa thuận gió hòa, nông tang lạc nghiệp. Nước có vua trưởng, là phúc của xã tắc. Dân coi triều đình là cha mẹ. Triều đình coi dân như con đỏ. Địa lợi nhân hòa, binh mạnh nước giàu, không động đao thương. Thiên hạ cùng hưởng niềm vui thái bình. Vua tôi cùng tốt, làm theo điều nghĩa, để tới vạn đời. Thế nước tăng thịnh, thật là to lớn, khó gì so bằng. Sau này có cung phi ở các bộ, sinh thêm hơn năm mươi người trai gái, tới lúc trưởng thành đều có tư chất tốt đẹp.
Sau đó Long Quân nhường ngôi, chọn con trưởng Thái tử tên Hùng Lân Lang, đổi thành Hùng Quốc Vương, nối ngôi thay triều, ra quản vạn dân, ngự chính ở cung kiền tại núi Nghĩa Lĩnh. Nay Hùng Vương xe sách thống nhất cai quản thiên hạ. Còn các người em vua 99 người…
Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng. Dân nhờ thế được đào giếng cấy ruộng, vui sống ở nơi thôn dã. Không một người dân nào bị xua đuổi không chốn sinh cư, không một vật nào không được yên bề nuôi dưỡng. Công thành trị định, vượt hơn các vua trước, dẫu là thời thái cổ cũng không bằng. Hưởng ngôi trị nước dài lâu. Đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Đó là Thuỷ tổ của Bách Việt.

Câu đối ở đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì:
數千年王佐始終父子君臣開拯點
十五部天分草埜山河日月共長存
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.
Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Bao Da.jpg

 

Châu trưởng Đặng Thiện Quang và di tích đình làng Lý Đỏ

Cuốn sách CHÂU TRƯỞNG ĐẶNG THIỆN QUANG VÀ DI TÍCH ĐÌNH LÀNG LÝ ĐỎ của 2 tác giả Vũ Đình Toàn, Nguyễn Đức Tố Lưu, xuất bản bởi NXB Dân trí, tháng 7/2019. Tổng số 150 trang. Sách được biên soạn và hỗ trợ xuất bản bởi Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt.

dang-thien-quang-1.jpg

LỜI NGỎ
Trên miền đồng bằng Bắc Bộ, mỗi làng quê Việt đều mang những nét cổ kính, đậm đà, sâu lắng, gắn bó với mỗi người dân làng. Làng Việt đã trải qua hàng ngàn năm gió mưa, dông tố của lịch sử dựng và giữ nước đầy gian nan, nhưng hình bóng của nó vẫn còn lưu đậm trong tâm khảm con dân Việt cho tới ngày nay.
Làm nên văn hiến của làng xã trước hết là bởi các vị thành hoàng làng, những người đã có công lao to lớn không chỉ đối với quê hương mà còn đối với đất nước. Công đức, sự nghiệp của các vị được dân làng ghi sâu, khắc đậm và các vị đã trở thành điểm dựa tinh thần cho mỗi người dân làng, trở thành biểu tượng cao đẹp, hội tụ dân làng qua những lễ tục đầy chất nhân văn và thấm đẫm tinh thần uống nước nhớ nguồn của người Việt.
Thành hoàng, linh hồn của làng trước hết an ngự trong đình làng. Đình làng cùng với những công trình kiến trúc tín ngưỡng khác trong làng như đền, chùa, miếu, mạo hợp thành một tổng thế tâm linh, tín ngưỡng dân gian, rất riêng của làng quê Bắc Bộ.
Làng Lý Đỏ ở xã Tân Việt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương là một ngôi làng cổ như vậy. Ngôi đình làng trải qua hàng trăm năm khắc nghiệt của chiến tranh, của thời cuộc, vẫn còn lưu giữ được nhiều kiến trúc và những minh văn cổ, nói về một truyền thống văn hóa, một vị nhân thần mang tầm vóc quốc gia: Châu trưởng Giao Châu Đặng Thiện Quang, vị Thái thú nước ta thời kỳ đầu Công nguyên.
Là con em trong làng, tác giả đã sưu tầm, tuyển chọn, biên dịch những tư liệu còn lưu giữ lại được ở quê hương Lý Đỏ. Khi tìm hiểu sâu hơn vào vị thành hoàng của làng, chúng tôi đã thấy đây là một vị tiền nhân danh tiếng trong lịch sử Việt Nam, được thờ phụng ở nhiều nơi. Để tiện đường so sánh, đối chiếu, chúng tôi đã sưu tầm các thần tích, văn bia, hoành phi câu đối từ những di tích thờ phụng này, tập hợp trình bày trong cuốn sách nhỏ mà các bạn đang có. Kết hợp các thông tin tư liệu từ những nguồn khác nhau, thu thập qua sử sách, qua di tích góp phần làm sáng tỏ rất nhiều điều trong thân thế và sự nghiệp của Châu trưởng Đặng Thiện Quang, khẳng định sự hợp lý của dân làng trong việc thờ phụng, tri ân tiền nhân có công có đức với làng xã, với đất nước.
Cuốn sách là tấm lòng của một người dân làng, một người dân Việt để tri ân cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Tác giả: Vũ Đình Toàn

dang-thien-quang-3.jpg

Vế đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á, Thuận Thành, Bắc Ninh ghi nhận chính xác công nghiệp của các cư sĩ – thái thú Giao Châu Đặng Nhượng – Tích Quang.
汶陽幾辰遷為軍將為州牧為教育師儒恩信遍蒼梧七郡外
龍编何日事此城郭此人民此江河運會文采傳武寧一部中
Vấn Dương kỉ thời thiên, vi quân tướng, vi châu mục, vi giáo dục sư Nho, ân tín biến Thương Ngô thất quận ngoại
Long Biên hà nhật sự, thử thành quách, thử nhân dân, thử giang hà vận hội, văn thái truyền Vũ Ninh nhất bộ trung.
Dịch nghĩa:
Vấn Dương mấy lúc dời, là quân tướng, là châu mục, là giáo dục Nho gia, bảy quận ngoài Thương Ngô ơn nghĩa trải khắp
Long Biên sự ngày nọ, đây thành quách, đây nhân dân, đây non sông vận hội, toàn bộ trong Vũ Ninh văn đức còn truyền.
Căn cứ vào hành trạng, rõ ràng Đặng Thiện Quang, Đặng Nhượng – Tích Quang là một anh hùng trong lãnh vực văn hóa, đồng thời cũng là anh hùng chống ngoại xâm của Việt tộc, nên việc thờ kính của người đời sau là hoàn toàn xứng đáng.

Nguyễn Quang Nhật

logo-den-mieu-viet.jpg

Liên hệ đặt sách với tác giả:
Vũ Đình Toàn: vudinhtoan1982@gmail.com
Nguyễn Đức Tố Lưu:
 bachviet18@yahoo.com

MỤC LỤC
LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN VÙNG BẮC BỘ

Khái quát về làng Việt
Cổng làng
Đền chùa miếu mạo
Đình làng
Thành hoàng làng
Lễ hội làng

XỨ ĐÔNG – HẢI DƯƠNG VÀ TRẠI TRIỀN ĐỔ – THÔN LÝ ĐỎ

Xứ Đông, trấn Hải Đông, trấn Hải Dương
Phủ Bình Giang, huyện Đường An
Trại Triều Đổ – làng Lý Đỏ
Hương lệ xã Lý Đỏ

DI TÍCH ĐÌNH LÀNG LÝ ĐỎ

Lịch sử đình làng
Nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc
Di sản Hán Nôm

TỤC THỜ CHÂU TRƯỞNG ĐẶNG THIỆN QUANG Ở LÀNG LÝ ĐỎ

Thân thế và sự nghiệp đức Đặng Thiện Quang
Sắc phong thành hoàng làng Lý Đỏ
Lễ hội làng Lý Đỏ

THÁI THÚ GIAO CHÂU TRONG QUỐC SỬ

Giao Châu thời Hán
Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ thuộc Tây Hán
Nhâm Diên truyện
Thăng Long cổ tích khảo

CHÂU TRƯỞNG GIAO CHÂU QUA CÁC THẦN TÍCH

Gia Lâm thần tích bi ký
Thần tích làng Nga My Thượng
Thần tích ba thôn Liên Bạt
Thần tích thôn Yên Mỹ, Dương Quang, Gia Lâm
Thần phả về thánh Tam Trinh

HOÀNH PHI, CÂU ĐỐI VỀ CHÂU TRƯỞNG GIAO CHÂU

Thôn Gia Lâm, Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội
Đình Nga My Thượng, Thanh Mai, Thanh Oai, Hà Nội
Đình Áng Phao, Cao Dương, Thanh Oai, Hà Nội
Ba thôn Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Nội
Nghè Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội

KHẢO LUẬN VỀ CHÂU TRƯỞNG GIAO CHÂU ĐẶNG THIỆN QUANG

Nam Giao học tổ
Dẹp loạn Giao Châu
Bỏ mình vì nước
Châu trưởng Tam Trinh
Thay lời kết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Thánh bất tử Từ Đạo Hạnh

Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính kể về sự tích thánh Từ Đạo Hạnh như sau:
Từ Lộ tự Đạo Hạnh, người làng An Lãng huyện Vĩnh Thuận, làm thầy cúng ở chùa Tiên Phúc núi Phật Tích. Khi xưa thân phụ Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh làm Tăng quan đô sát triều nhà Lý, thường vào chơi làng An Lãng, mới làm nhà ở đấy, lấy con gái họ Lăng, sinh ra Đạo Hạnh.
Đạo Hạnh lúc còn bé hay chơi vời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phú Sĩ, Phan Ất, Lê Hoàn kết bạn, đêm thì cố công đọc sách, ngày thì đàn sáo đánh bạc làm vui…
Không bao lâu sau cha là Từ Vinh dùng tà thuật phản ông Diên thành hầu. Diên thành hầu nhờ thầy phù thủy là Đại Điên dùng phép đánh chết, quẳng xuống sông Tô Lịch…
Đạo Hạnh nghĩ lấy làm tức giận lắm muốn sang nước Ấn Độ học phép, nhưng đi qua núi Kim Sỉ, hiểm trở lắm mới trở về. Đạo Hạnh mới vào trong hang núi Phật Tích, kết thành hội Bạch Liên để học phép Ngũ giáo. Ngày nào cũng tụng kinh “Đại bi tâm” và niệm câu thần chú “Bà la ni”, cứ tung 18 vạn lần mới thôi.
Một hôm thấy thần báo mộng rằng:
– Đệ tử tức là Tứ trấn thiên vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh cho nên lại hầu, tùy thầy muốn sai khiến gì tôi xin vâng lệnh. Đạo Hạnh biết là đạo pháp của mình đã thành rồi…
Từ Đạo Hạnh sang phương Tây tìm đạo, nhưng mới đi được đến núi Kim Sỉ đã quay về. Vậy đạo pháp mà Từ Đạo Hạnh thành được là đạo pháp gì? Rõ ràng không phải là Phật pháp chính tông. Nhiều nhận định hiện nay cho rằng Từ Đạo Hạnh đã sang vùng Tam giác vàng ở giáp Vân Nam – Miến Điến và học theo Mật tông. Kinh Đà la ni mà ông trì tụng cũng là bộ kinh điển hình của Mật tông, như từng được khắc trên các cột kinh tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) trong thời nhà Đinh.

IMG_7594Cột kinh tràng Phật đỉnh tôn thắng Đà la ni tìm thấy ở Hoa Lư.

Khá đặc biệt là việc sau khi tụng 18 vạn lần kinh Đà la ni thì thấy xuất hiện Tứ trấn thiên vương, nhận theo sai khiến của Từ Đạo Hạnh. Tứ trấn thiên vương hay Tứ đại thiên vương là 4 vị thần của Bà La Môn, theo phục Đế Thích. Chi tiết này cho thấy, thực chất Từ Đạo Hạnh đã tu theo Bà La Môn hay Hindu giáo. Bản thân “mật tông” cũng là giáo phái chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Bà La Môn.
Theo Thiền uyển tập anh thì Từ Đạo Hạnh đã tìm đến chùa Pháp Vân thỉnh giáo thiền sư Sùng Phạm và ngộ thêm đạo. Từ đó pháp lực mạnh thêm, duyên thiền càng chín, pháp thuật của sư đã có thể khiến cho rắn rết, muông thú chầu phục. Các phép lạ như đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm.
Ghi chép này cho thấy Từ Đạo Hạnh có khả năng “cầu mưa”. Cần biết là Tứ đại thiên vương cũng là Tứ pháp Vân Vũ Lôi Điện ở vùng Luy Lâu. Sự việc Từ Đạo Hạnh biết phép cầu mưa chứng tỏ thêm mối liên quan giữa đạo pháp của ông với Hindu giáo như trong chuyện Khâu Đà La làm phép cầu mưa ở Luy Lâu trước đây.
Theo Việt điện u linh, khi Từ Đạo Hạnh chuẩn bị viên tịch có nói với các đệ tử:
Ta chưa hết nhân duyên với đời, lại phải thác sinh làm vua ở nhân gian, khi nào chết lại về làm chủ “Tam thập tam thiên”.
Sau đó ngài đã đầu thai làm vua Lý Thần Tông. Chính từ sự thác sinh đầu thai này mà Từ Đạo Hạnh được tôn là một trong các vị thánh bất tử của trời Nam.
Đặc biệt nhất trong đoạn trên Từ Đạo Hạnh cho biết mình sẽ lại về “làm chủ Tam thập tam thiên“. Vị thần chủ của “Tam thập tam thiên”, cõi trời 33, là Vua trời Đế Thích trong đạo Bà La Môn. Từ Đạo Hạnh như vậy chính là hóa thân của Đế Thích.
Khả năng “bất tử” của Đế Thích cũng từng được biết trong câu chuyện “Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt” khi mà Đế Thích đã triệu Tam phủ hoàn hồn cho kỳ thủ Trương Ba. Còn ở chùa Thầy, bên cạnh đó cũng có đền Tam phủ thờ ba vị vua Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ. Từ Đạo Hạnh là hóa thân của Đế Thích nên được xếp vào bậc thần bất tử là hoàn toàn hợp lý.

IMG_2497Cầu Nhật Tiên bắc sang đền Tam phủ ở cạnh chùa Thầy.

Hai bên chùa Thầy còn có 2 cây cầu gọi là Nhật Tiên và Nguyệt Tiên. Đây là hình tượng khá giống với các nơi thờ Đế Thích, có 2 vị thần là Nhật Thiên và Nguyệt Thiên theo cùng, như ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) hay đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên).
Đoạn cuối truyện Từ Đạo Hạnh trong Nam Hải dị nhân kể:
Khi xưa Từ Đạo Hạnh mới vào chùa Thiên Phúc, thấy có một vết chân người ở trong hang đá. Đạo Hạnh lấy bàn chân in vào thì vừa bằng nhau, tục truyền hang ấy tức là chỗ Đạo Hạnh lột xác… Thây Đạo Hạnh đến mãi lúc nhà Minh sang cướp quân sĩ đốt mất, về sau dân đấy lại tô tượng để thờ như xưa.

IMG_3754Phiến đá trấn trạch tại chùa Thầy.

Dấu chân đá và nhục thân không tan cũng là những đặc điểm của “Mật tông” cũng như Hindu giáo. Nay trong chùa Thầy vẫn còn thờ một phiến đá tương truyền là của Từ Đạo Hạnh dùng để trấn trạch không cho nước dâng cuốn gỗ ở chùa hay không cho kẻ trộm dòm ngó đồ của chùa.
Trong chùa còn có một khám thờ lớn có tượng bên trong. Nguyên trước đây là thân người thật của Thánh, nhưng khi quân Minh sang xâm lược đã đốt mất, dân dùng mây tre, bện lại mà thành, đặt trong 1 khám thờ cầu kỳ to như cả gian nhà, có dây cơ có thể đứng lên ngồi xuống, sau đó Tổng Đốc Sơn Tây Cao Xuân Dục cho cắt dây rối đi để tỏ lòng kính trọng nhà Thánh.
Câu đối ở chùa Thầy:
弌杖顯神機卓錫圓成柴石峝
再生承帝統鴻圖葉繫李蓮花
Nhất trượng hiển thần cơ, trác tích viên thành Sài thạch động
Tái sinh thừa đế thống, hồng đồ diệp hệ Lý liên hoa.
Dịch:
Tỏ cơ thần một gậy, tích lớn đủ thành động đá Sài
Nối dòng đế tái sinh, đất mênh cành tiếp hoa sen Lý.

IMG_3763.JPGKhám thờ ở chùa Thầy, bên trong có tượng xá lợi Từ Đạo Hạnh. 

Việt điện u linh còn kể về lần đầu thai khác của thần dưới thời Lê, cũng là vua:
Trong thời Quang Thuận đời vua Lê Thánh Tông, Trường Lạc hoàng hậu sai Thái úy Trinh quốc công lên động chùa Thiên Phúc cầu tự. Khi làm lễ có một phiến đá ở ngoài động bay vào. Trinh quốc công mang về trình hoàng hậu. Ít bữa sau hoàng hậu mộng thấy rồng vàng vào bên sườn, rồi có mang, sinh ra vua Lê Hiến Tông. Nhân thế mới dựng am Hiển thụy ở chùa Thiên Phúc, có khắc bia để ghi.
Trong chuyện về Từ Đạo Hạnh còn có một số chi tiết về thời gian khá lạ. Từ Đạo Hạnh được biết sống vào thời Lý Nhân Tông. Tuy nhiên, như trích dẫn trên của Nam Hải dị nhân, ông lúc nhỏ lại chơi với Lê Hoàn. Các sách khác chép là đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa. Có thể Toàn Nghĩa chỉ là từ phiên thiết của cái tên Hoàn.
Từ Đạo Hạnh từng đến học sư Sùng Phạm của chùa Pháp Vân. Thiền uyển tập anh cho biết về vị sư này:
Sư vân du khắp nơi trong nước Thiên Trúc rộng cầu hiểu biết. Chín năm sau sư trở về, gồm thông cả Giới và Định. Rồi sư đến chùa Pháp Vân giảng pháp. Học trò các nơi đến theo học rất đông. Vua Lê Đại Hành mấy lần thỉnh sư về kinh để hỏi han chuyền chỉ. Vua rất vừa ý, tiếp đãi long trọng.
Sư Sùng Phạm cùng thời với Từ Đạo Hạnh nhưng lại từng mấy lần được vua Lê Đại Hành mời vào kinh. Sau đó sư viên tịch dưới thời Lý Nhân Tông. Với các thông tin trên có thể thấy Lê Đại Hành chỉ có thể là triều đại ngay trước Lý Nhân Tông. Nói cách khác Lê Đại Hành chính là Lý Thái Tông. Chú ý là Lý Thái Tông cũng có hiệu là Đại Hành hoàng đế.
Từ câu chuyện của Từ Đạo Hạnh rút ra 2 kết luận quan trọng:
– Từ Đạo Hạnh tu theo Hindu giáo, là hóa thân của Vua trời Đế Thích.
– Triều đại của Lý Thái Tông cũng từng được gọi là Lê Đại Hành.

Nam quốc Anh Hoàng

Một điểm đặc biệt gắn liền với tục thờ ba vị vua Hùng thánh tổ ở Phú Thọ là luôn kèm theo thờ 2 vị công chúa. Như ở đền Thượng, đền Trung trên núi Nghĩa Lĩnh, bên cạnh 3 long ngai bài vị  của Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn ở chính cung thì còn có một cỗ ngai không bài vị để ở đầu đốc bên phải, trong văn tế được ghi là thờ hai công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung. Bản thân cụm di tích đền Hùng cũng mô phỏng cách thờ tương tự, bao gồm 3 ngôi đền thờ Hùng Vương (Thượng, Trung, Hạ) và thêm đền Giếng lập riêng thờ 2 vị công chúa này. Bộ thần điện cũng thấy ở các đình Cổ Tích, đình Việt Trì…

IMG_1978.JPG
3 ngai thờ Tam Sơn linh lang và 1 ngai không bài vị bên phải thờ Hoa Dung công chúa ở đình làng Việt Trì.

Theo Ngọc phả Hùng Vương thì công chúa Mỵ Châu Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử, còn công chúa Mỵ Nương Ngọc Hoa lấy Tản Viên Sơn Thánh. Câu chuyện Sơn Tinh thi tài, lấy được công chúa Mỵ Nương nổi tiếng, người Việt ai cũng biết. Tuy nhiên, xét kỹ thì thân thế của 2 công chúa được thờ ở đền Hùng không hẳn như vậy. Con rể vua Hùng ở Phú Thọ không phải là Tản Viên từ núi Ba Vì.
Điều khó hiểu là tại sao 2 công chúa của Hùng Vương cuối cùng (thứ 18) lại được thờ chung với 3 vị Thánh tổ dựng nước đầu tiên? Và tại sao các nơi lại thờ 2 vị này chung trong 1 ngai, không ghi tên bài vị rõ ràng?

IMG_1705
Đình Cả làng Trẹo.

Ở Nghĩa Lĩnh có 2 làng He (Vi Cương, nay thuộc xã Chu Hóa) và Trẹo (Triệu Phú, thuộc xã Hy Cương) là các thôn “tạo lệ” cho phụng sự của đền Hùng. Hai làng này thờ giống như ở đền Hùng gồm 3 vị Hùng vương và 2 công chúa. Đặc biệt 2 làng có tục “Rước chúa gái” trên cơ sở truyền thuyết công chúa Ngọc Hoa trên đường về nhà chồng đi qua đây buồn rầu nhớ cha mẹ nên không đi nữa. Dân làng phải diễn trò cho công chúa vui lên mà đi tiếp. Các trò diễn đó được gọi là “Bách nghệ khôi hài”, là những trò liên quan đến trồng lúa, cày ruộng và săn bắt.
Nhiều nơi trong Phú Thọ có truyền thuyết Sơn Tinh hoặc vua Hùng dạy dân đi săn. Như ở Vân Luông (xã Văn Phú, Việt Trì) là nơi thờ 3 vị Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn, Viễn Sơn nhưng lại có tục ném cài cướp bông, liên quan đến việc Sơn Tinh đưa Ngọc Hoa công chúa về thăm cha và đi săn lợn rừng. Hay ở xã Phú Lộc huyện Phù Ninh có tục múa gà phủ và nghi lễ mở cửa rừng, liên quan đến sự tích Sơn Tinh dạy dân làm cung nỏ, dùng dây thường bện lưới để đi săn.
Những tục lệ liên quan đến hoạt động tiền nông nghiệp cho thấy sự cổ xưa của sự tích, của nhân vật được thờ. Đi săn sẽ gắn với thời kỳ đầu của Hùng vương, hơn là thời kỳ cuối khi nghề luyện kim và nông nghiệp đã rất phát triển.
Trong các trò trình nghề ở Phú Thọ thường có đoạn diễn tích Đế Thuấn cày voi. Như trò tứ dân lập nghiệp ở Tứ Xã (Lâm Thao) có người đóng vua Thuấn dẫn voi đi cày và hát:
Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Phu Tho Hung VuongVị trí các địa danh trong bài.

Như đã xác định, vị vua Hùng thứ 3 được thờ ở Phú Thọ là Đế Thuấn. Vì Đế Thuấn cũng được ngọc phả và truyền thuyết gọi là Sơn Thánh tổ (Viễn Sơn hay Lịch Sơn) nên sự tích của vị này bị nhầm với Tản Viên Sơn Thánh. Những việc dạy dân cấy cày, săn bắn ở Phú Thọ là của Lịch Sơn Đế Thuấn, chứ không phải của Tản Viên Ba Vì. Công nghiệp chính của Tản Viên là trị thủy sông Đà, hơn là khai lập bách nghệ. Bản thân tổ của Bách nghệ là vị vua Hùng đầu tiên (Đột ngột Cao Sơn), tức Hoàng Đế Hiên Viên trong văn hóa phương Đông.
Từ nhận định rằng vị Sơn Thánh ở Phú Thọ là Viễn Sơn Đế Thuấn thì chợt nhận ra công chúa Ngọc Hoa lấy chồng không phải là lấy Tản Viên ở núi Ba Vì. Vua Hùng dựng lầu kén rể ở Bạch Hạc là đã chọn Đế Thuấn, người từ núi Lịch (Tuyên Quang). Điều này giúp giải thích tại sao Ngọc Hoa công chúa lại được thờ cùng với Tam Sơn Hùng Vương thánh tổ.

IMG_6117
Hoành phi Nam quốc Anh Hoàng ở đền Giếng.

Hoành phi ở đền Giếng trong quần thể di tích đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh: Nam quốc Anh Hoàng. Ý ở đây so sánh hai công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung với 2 bà Nga Hoàng và Nữ Anh, là con gái của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Thực tế thì đây không chỉ còn la sự so sánh mà ta có thể đặt dấu bằng giữa nhị vị công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung với Nga Hoàng và Nữ Anh.
Tên Ngọc Hoa đọc phiên thiên cho chữ Nga, là tên của Nga Hoàng.
Câu đối ở đền Giếng:
皇家衍出龍仙派
帝闕端門姊妹花
Hoàng gia diễn xuất long tiên phái
Đế khuyết đoan môn tỉ muội hoa.
Dịch:
Rồng tiên lại tiếp dòng vua chúa
Hoa ngọc chị em chính đế cung.
Ngọc phả Hùng Vương có một chi tiết thường hay bị bỏ qua: Lộc Tục… hóa tiên về biển cùng con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung. Lộc Tục ở đây không phải Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình ở đoạn sau đó. Chỉ có thế thì Lộc Tục mới có thể cùng công chúa Ngọc Dung “hóa tiên” được. Ngọc Dung là tên gọi tắt của 2 vị Ngọc Hoa – Tiên Dung, vốn được thờ chung trong 1 ngai. Cả hai đều được vua Hùng (tức là Ất Sơn – Đế Nghiêu) gả cho Đế Thuấn.
Cổ sử Trung Hoa kể rằng, nguyên Đế Thuấn là người bộ lạc Hữu Ngu, mẹ ông là người rất hiền đức mất sớm. Cha là Cổ Tẩu lấy vợ khác và sinh ra Tượng và một cô con gái khác. Dù bị mẹ con Tượng và cả Cổ Tẩu đối xử không tốt, Thuấn vẫn một mực hiếu thuận, giữ đúng đạo làm con. Danh tiếng Thuấn được người trong bộ lạc nể phục. Nhờ đó ông được Đế Nghiêu gả cho hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, đồng thời tặng cho lương thực và rất nhiều gia súc. Sau thời gian thử thách, Đế Nghiêu quyết định truyền ngôi lại cho Thuấn bất chấp lời can ngăn, vì Nghiêu có một người con trai đã đến tuổi trưởng thành là Đan Chu.
Chuyện Đế Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn chính là cốt truyện Vua Hùng kén rể ở Phú Thọ. Ngọc Dung công chúa ở đây là hai vị Nga Hoàng, Nữ Anh, con của Đế Nghiêu. Việc truyền hiền (thiện nhượng) này là thể hiện xã hội của thời kỳ mẫu hệ. Lấy con gái vua tức là được kế nhiệm ngôi vua, cai quản đất nước. Cuộc xung đột tranh giành ngôi vị lúc này là giữa Đế Thuấn và Đan Chu, con của Đế Nghiêu. Truyền thuyết Việt kể thành việc tranh chấp Mỵ Nương giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.

IMG_1842Ban thờ Ngọc Hoa – Tiên Dung trong sân chùa Hoa Long.

Ở cạnh chùa Hoa Long và đình làng Việt Trì từng có một lầu gác thờ Hoa – Dung công chúa, vốn còn dấu kê chân cột bằng đá ong. Nơi đây có thể là “lầu kén rể” của vua Hùng cho con gái. Nay ngôi đền thờ hai vị công chúa này được xây lại trong khuôn viên chùa Hoa Long, có tượng 2 vị bằng đá cẩm thạch.
Cổ kính hơn còn lưu lại được, ở xã Tiên Du, huyện Phù Ninh có ngôi đền Nhà Bà thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung. Tương truyền, trước đây hai nàng công chúa đã đến vùng quê này vừa để du xuân, vừa dạy nhân dân săn bắn, hái lượm và trồng cây… nên mảnh đất này được gọi là Tiên Du.

IMG_6227
Đền Nhà Bà ở Tiên Du.

Một vế đối còn lưu được bên cột hoa biểu ngoài đền:
君由白鶴來駙南越萬邦稱女傑
Quân do Bạch Hạc lai phò, Nam Việt vạn bang xưng nữ kiệt
Dịch:
Chúa đến giúp từ Bạch Hạc, Nam Việt muôn bang gọi gái tài.
Chữ “phò” 駙 ở đây còn có nghĩa là “phò mã”, chỉ con rể vua. Chữ “vạn bang” ở đây cũng như trong Ngọc phả Hùng Vương, nói tới nước Nam rộng lớn, cội nguồn của nhiều bang quốc (Thủa Hoàng Đế mở muôn nước).
Nếu như Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử ở vùng Khoái Châu thì làm sao có thể lại cùng Ngọc Hoa đi “tiên du” tới vùng đồi núi trung du ven sông Lô này mà dạy dân trồng cây, hái lượm được?
Hình tượng hai vị công chúa con vua Ngọc Hoa – Tiên Dung thể hiện ngôi vị thủ lĩnh đứng đầu quốc gia ở thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Đó là cái thủa “quốc sơ”, bách nghệ mới được khai sinh. Thời kỳ mà cuộc sống người Việt còn đang phải sống dựa vào rừng núi, săn bắn hái lượm. Sản xuất lúa nước mới được bắt đầu với việc sáng tạo ra cách cày ruộng sử dụng gia súc (Đế Thuấn cày voi). Một bước tiến từ xã hội nguyên thủy lên xã hội thị tộc, có nước, có vua. Đọc lại chuyện xưa, không thể không cảm cái ơn đức của tổ tiên khai mở từ thủa hồng hoang. Câu “Ẩm hà tư nguyên”, Uống nước nhớ nguồn, được treo ở đền Giếng, đền Nhà Bà, không thể không nhắc lại.

Triệu Cơ Vương tích

Hùng Vương ngọc phả là một bộ sử tóm tắt của thời xa xưa nhất, đã được cha ông ta lưu truyền được cho tới nay sau hàng ngàn năm lịch sử gian nan dựng và giữ nước của dân tộc Việt. Đoạn đầu của Ngọc phả chứa đựng những thông tin cơ bản nhất về thời kỳ Hùng Vương.

2019-05-01
Trang đầu của Ngọc phả Hùng vương R285.

Bản Ngọc phả Hùng Vương lưu tại Thư viện Quốc gia mang mã số R285 chép mở đầu như sau:
Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế ký truyền Ngọc phả Cổ Tích lưu lai.
Tích giả tự Hoàng Đế chi thời, Viêm Đế tam thế tôn Đế Minh sinh Đế Nghi, ký nhi Nam tuần Ngũ Lĩnh sơn. Đế Minh tiếp đắc Vụ Tiên nương thần nữ nhi sinh Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục. Tại vị nhị bách ngũ thập niên, thọ nhị bách ngũ thập thất tuế, hóa tiên quy hải, dữ Động Đình quân nữ Ngọc Dung, dung mạo đoan chính, thánh trí thông minh, trác xuất Đế Nghi chi lượng. Đế Minh dĩ trí tuệ vưu kỳ, sử chi tự vị, khâm truyền đại bảo thống ngự vạn bang. Dương Vương cố nhượng kỳ huynh. Ư thị Đế Minh lập Đế Nghi vi tự, dĩ lỵ Bắc phương, nhi phong Kinh Dương Vương vi Nam diện lý thiên hạ, cổ vân Giao Chỉ quận. Kinh Dương cải Xích Quỷ động, hiệu Xích quốc.
Dịch:
Ngọc phả chép truyện Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ, Tiền Thái tổ Cao Hoàng Đế, lưu tại Cổ Tích.
Xưa kia từ thời Hoàng Đế, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần phương Nam ở núi Ngũ Linh. Đế Minh gặp được con gái thần nương Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tại vị 250 năm, hưởng thọ 257 năm, hóa tiên về biển cùng con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung. Vương dung mạo đoan chính, thánh trí thông minh, vượt hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh lấy làm lạ, muốn lập làm kế tự, truyền mệnh ngôi báu thống trị vạn bang. Dương Vương cố nhường cho anh nên Đế Minh lập Đế Nghi kế tự, cai quản phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương ở mặt Nam quản lý thiên hạ, xưa là quận Giao Chỉ. Kinh Dương Vương đổi thành động Xích Quỷ, gọi là nước Xích.
Ngọc phả Hùng Vương này vốn được lưu ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương ở Phú Thọ, nơi có di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Thôn Cổ Tích là “trưởng tạo lệ” cho việc phụng sự Hùng Vương nên việc thờ cúng tại đình làng Cổ Tích hoàn toàn giống với việc thờ trên đền Hùng. Các bài vị của đền Hùng và bài vị thờ ở thôn Cổ Tích là được sao chép giống nhau. 3 cỗ long ngai thờ ở chính cung đền Thượng gồm các bài vị:

  • Đột ngột Cao Sơn Hiển Hùng ngao thống thủy điện an hoằng tế chiêu liệt ứng thuận phả hộ thần minh thọ quyết ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị.
  • Ất Sơn thánh vương vị
  • Viễn Sơn thánh vương vị.

IMG_1485
Long ngai bài vị ba vị Hùng Vương ở đình Cổ Tích. 

Việc thờ 3 vị vua Hùng Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn không chỉ gặp ở xã Hy Cương mà còn gặp ở nhiều nơi khác trong khu vực Phú Thọ như ở các thôn Việt Trì, An Thái, Vân Luông… 3 vị vua Hùng này như thế không phải là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ như vẫn nhầm tưởng, mà là 3 ngôi vua Hùng đầu tiên của thời dựng nước.
Sắc phong của thôn Cổ Tích dưới thời Quang Trung gọi là: Hùng Vương Sơn Thánh Tổ Nam Thiên đại bảo Tiền Hoàng Đế triệu tạo hồng đồ Việt Nam thuỷ tổ đại thánh Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát vị thánh vương. Ta thấy Hùng Vương Sơn Thánh Tổ, người đã tạo lập quốc gia “Nam Thiên đại bảo”, không phải là thần núi như kiểu giải thích vô nghĩa vô lối đang được phổ biến. Vị Đột ngột Cao Sơn theo sắc phong là Hùng Vương Sơn Thánh tổ, vị vua Hùng đầu tiên “triệu tạo hồng đồ, Việt Nam thủy tổ”.

IMG_1492
Sắc chỉ thời Quang Trung của thôn Cổ Tích về việc thờ phụng Hùng Vương.

Trong Ngọc phả Hùng Vương đã dẫn, Đột ngột Cao Sơn được nhắc đến ngay từ tên gọi của Ngọc phả: Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế. Thái tổ Cao hoàng đế Sơn thánh là tương đương với tên gọi Đột ngột Cao Sơn. “Đột ngột” nghĩa là đầu tiên, tương đương với danh hiệu Thái tổ. Ở Phú Thọ nhiều nơi vẫn thờ Đột ngột Cao Sơn là Thái tổ Hùng Vương, như ở xã Trạm Thản của huyện Phù Ninh (đền Tố hay đền Bình Thản).

IMG_6329.JPGCổng đền Tố ở xã Trạm Thản, Phù Ninh.

Vị Thái tổ Hùng vương đầu tiên mở đầu trong Ngọc phả Hùng Vương là Đế Minh. Ngọc phả ghi ngay từ dòng đầu “Tự Hoàng Đế thời”. Đế Minh là Hoàng Đế (Đế Hoàng) của Hữu Hùng thị trong cổ sử Trung Hoa. Danh hiệu “Hiển Hùng” trên bài vị chỉ rõ đó là Đế Minh vì Hiển nghĩa là sáng, là minh. Chữ Hiển này được đọc khác đi trong tên gọi Hiên Viên (Hiển Vương) của Hoàng Đế Hữu Hùng.
Đại Việt sử ký toàn thư mở đầu: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy Thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam.
Đế Minh trong Ngọc phả cũng là người “thống ngự vạn bang” (cai trị muôn nước), tức chính là Hoàng Đế. Còn chuyện Hy Thị định Giao Chỉ ở phương Nam xét rõ là chuyện Lộc Tục cai quản phương Nam, tên xưa là Giao Chỉ, được kể trong Ngọc phả.

IMG_6169.JPGHoành phi Vương tích triệu Cơ và Nam bang triệu tổ ở đình Cổ Tích. 

Thôn Cổ Tích, nơi có đền Hùng, vốn có tên là Lũng Cơ. Tức là nguyên tên gọi chữ Cổ là từ chữ Cơ. Hoành phi trong đình Cổ Tích cũng như trên đền Thượng của núi Hùng ghi Triệu Cơ Vương tích, là giải nghĩa cái tên Cổ Tích của khu vực này. Cơ cũng là họ của Hoàng Đế theo cổ sử Trung Hoa. Triệu Cơ Vương tích do đó có thể hiểu là dấu tích dựng nước của Vua Cơ – Hoàng Đế Hữu Hùng.
Hai ngôi Hùng Vương tiếp theo là Ất Sơn và Viễn Sơn, cũng được thờ ở nhiều nơi tại Phú Thọ. Ất là số đếm thứ 2 trong Thập can. Còn ở nhiều nơi Viễn Sơn được ghi thành Quý Minh, bởi vì Quý là thứ 3 trong thứ tự Mạnh Trọng Quý. Như thế Ất Sơn và Viễn Sơn nghĩa là các vị vua Hùng đời thứ 2 và 3, sau vị đời thứ nhất đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn. Tiếp sau Đế Minh theo Ngọc phả Hùng Vương là Đế Nghi và Lộc Tục. Vậy Ất Sơn là Đế Nghi, còn Viễn Sơn là Lộc Tục.
Truyền thuyết ở Phú Thọ kể về ba vị Quan Lang đi săn là chàng Cả, chàng Hai và chàng Út, đã hóa thành ba ngọn núi Hùng “Tam Sơn cấm địa”, cũng chính là 3 vị Hùng vương Sơn thánh được thờ tại đây. Ở đình Việt Trì thì gọi là “Tam Sơn linh lang”, cũng là chỉ các vị này.

IMG_1979
Gian tiền tế đình làng Việt Trì.

Theo thư tịch thời Nguyễn ở tổng Vân Nham phủ Đoan Hùng, vị Viễn Sơn còn được thờ dưới tên là Lịch Sơn. Ngọn núi ở phía xa (so với kinh đô tại ngã ba Việt Trì), mang tên Lịch Sơn là núi Lịch nằm bên kia dòng sông Lô, chỗ giáp ranh giữa Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Trên đỉnh núi này theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn có đền thờ Đế Thuấn và Đế Nghiêu và người xã Yên Lịch có tự điển để phụng thờ.
Đế Minh đã được xác định là Hoàng Đế Hiên Viên thì 2 ngôi tiếp theo sẽ phải là Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Tức là Ất Sơn – Đế Nghi là Đế Nghiêu, còn Viễn Sơn hay Lịch Sơn là Đế Thuấn của cổ sử Trung Hoa. Thời kỳ này được tôn vinh là thời Đường Ngu thịnh trị của Trung Hoa cổ đại. 3 vị thánh tổ Hùng Vương thờ trên ngôi đền quốc tổ ở Phú Thọ như vậy là Tam Đế: Đế Hoàng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, là những người đã khai lập vạn bang của quốc gia họ Hùng tại vùng Nghĩa Lĩnh – Phong Châu ngày nay.

IMG_5983
Nghi môn đền Thượng trên núi Hùng.

Câu đối của đền Hùng còn ghi:
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.
Dịch:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.
Từ đời Tam Hoàng đến đời Tam Vương truyền nối nhau, đều là tổ tiên, là lịch sử mở nước của Bách Việt.

Thiên Đế bảo lục

Phiên âm bản thần tích Thiên Đế bảo lục của đền Thiên Đế ở Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Thien De bao luc

Phụ Khoái Châu phủ Thiên Thi huyện La Trừng trang Trì La trại

Thiên Đế bảo lục

Tích Nam Việt Hùng Vương khai sáng, thế tổ triệu cơ, thập bát thế truyền, nhị thiên dư tải, thái bình ngọc chúc, quốc thế kim âu. Hậu Trần tiên sinh hữu thi vân:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thánh kế thần truyền thiên cổ tại
Nhị thiên dư tải ức niên hương.
Cái Bách Việt chi tổ, thái hoà chi thịnh hội dã.
Kinh Dương Vương tôn Chiêu Vương, đô vu Việt Trì Bạch Hạc giang, quốc hiệu Văn Lang. Chiêu Vương khoan nhân trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thần chi, chuyên vụ dưỡng dân vi bản, thế xưng vi hiền quân dã. Thị thần hải nội thăng bình, phủ trung vô sự, nhân dân ngu cấp túc chi quản huyền, thiên hạ ngưỡng thái bình chi cảnh tượng. Đế tử chính tông nhàn du thiên hạ, thần Sơn Nam quận Khoái Châu phủ Thiên Thi huyện La Trừng trang Trì La trại chi địa, nhất nhật kiến phong vũ tiêu tiêu, thiên địa hối minh, nhật trung dĩ dạ. Trì La dân khiếp cụ, bất cảm xuất môn. Khoảnh khắc thiên địa tình quang, hốt đại thụ phi lai lập tại long đầu thổ ấn chính cục, trường nhất trượng dư. Thụ hương phức uất, chi diệp tinh thông. Trì La dân dị chi phụng tấu đế đình. Chiêu Vương loan giá đế quan nãi tri tử bạch đàn chi linh mộc dã . Vương ám hỷ quốc thế hưng long, thiên sinh linh mộc, thử đại cát triệu dã. Tức truyền Trì La dân lập lộ thiên bệ, trí nhất hương lô tuế thần hương đăng phụng tự yên. Dân phụng mệnh tu lý.
Vương hành lễ tế thiên, loan giá hồi điện. Tự thử quốc đảo dân cầu, trai giới chí thành, tựu linh mộc hạ khẩn nguyện quốc gia kỳ tình đảo vũ, dân gian nhương bệnh cầu thai, linh ưng như hưởng hỹ.
Đãi chí Hùng Vương thập thế truyền Tạo Vương ngự cực. Linh mộc tại Trì La kinh thất bách dư niên, chi diệp y nhiên. Mậu thịnh xuân thiên nhị nguyệt sơ nhất nhật linh mộc xứ thiên địa hôn hoàng, vân đằng ngũ sắc, hoả thằng toàn nhiễu, linh mộc tam tạp hào quang, thiểm thước phong vũ hôn mê. Trì La dân kinh phục, tu hoán, thiên địa tình quang. Nhân dân tụ quan nãi kiến cự nhân tích tam bộ ấn nhập mộc trung. Kỳ lộ thiên bệ chú hương giai tự băng vấn. Trì La dân kinh dị tái phụng tấu đế đình. Tạo Vương loan giá quan chi dĩ vi hoàng gia đức thịnh, tất hữu thánh nhân xuất thế, dĩ bảo quốc gia quyết phi tầm thường thuỵ dã. Tức truyền sở tại dân lập tự phụng tự. Tỉ quốc gia nhân dân đảo kỳ hữu sở tự thành, Vương hành lễ sự, cật loan giá hồi điện. Tự thử quốc đảo dân cầu, hương đăng bất tuyệt.
Khước thuyết: Vương hữu nhất thân (tức Hy Vương nữ ) hiệu Minh Hoa công chúa, quốc sắc thanh kỳ, phong tư tuyệt thế, hồng thần phấn kiếm, phượng nhãn nhung my, bản lãng uyển chi hoa, kiều bất nhiễm trần ai tục, vị sơ sinh chỉ thực trai, luyến hương hoa chi vị. Cửu tuế đế đình tự nguyện xuất gia quy Phật. Hy Vương kiến nữ tử thành tâm mộ Phật, truyền lập tự vu điện trung tỷ thích kỳ nguyện. Tự thử công chúa phụng Phật trưởng trai, tinh thông Phật pháp.
Cập Tạo Vương tức vị, công chúa đăng vi thế tôn bồ tát. Niên thất thập nhất văn Trì La hữu linh mộc, trung hữu cự nhân, tích vương truyền lập tự phụng tự, phương tâm luyến cảnh, mệnh giá xuân du, tựu xứ quan chi hồng nhật dĩ tà. Công chúa ngưỡng quan linh mộc, kiến không (âm không, tân thoát xác dã) xà tự thiên hữu vẫn nhiễu Minh Hoa công chúa tam tạp. Công chúa khiếp phục bàng hoàng, tự mộng, hốt kiến nhật nguyệt tịnh truỵ nhập khẩu trung, tịnh thôn chi, siếp thần, không xà đằng không nhi khứ. Công chúa sạ tỉnh, giá hồi vương phủ. Bách nhật hậu công chúa cảm nhi hữu thần, quan linh mộc cự nhân tích xứ diệc giai tự dựng, nhật nguyệt tiệm đại, thường hữu tản vân ngũ sắc, phúc linh mộc thượng. Nhân giai kỳ chi. Minh Hoa công chúa dựng kinh thất bát nguyệt. Tạo Vương truyền nhập long đình, vị viết: cửu tuế quy Phật, chí tư niên thất thập dư dĩ đăng bồ tát. Hà sự đam tình hoa nguyệt, di tiếu nhân gian. Công chúa tự trần tựu quan linh mộc không xà triền thân chân tính cụ tấu. Vương bất tín, biếm nhập Ô Lý chi địa (tức Chiêm Thành địa).
Kinh sổ nguyệt Trì La dân kiến linh mộc xứ, dạ văn phong thanh phất phất như lôi quán nhĩ, mộc thượng xán lạn, giai như hoả diễm, mộc trung tự dựng giả ích đại. Trại dân tấu kỳ sự. Vương dĩ vi quái, tức truyền lập kỷ cấp đàn tại long đình trung, tế giới mộc dục. Tam nhật kiền thành, triệu các tăng ni, dữ bách quan hành lễ kỳ đảo. Chúc viết: quả nhân kiến thử quái mộc, cập thất tuần công chúa hữu thần, bất tri hoạ phúc như hà, vi thử tấu cáo Hoàng Thiên, bách thần chư phật, khẩn nguyện cát hung ưng mộng, tỷ trần tâm đắc ngộ huyền cơ. Thị tịch nhị canh bán, Vương mông lung thuỵ khứ, kiến tường vân ngũ sắc, ngọc điện lưu ly, long cung xán lạn, phượng các huy hoàng, Ngọc Hoàng chính ngự, bách quan sâm liệt. Hốt văn Ngọc Hoàng truyền thiên đình điển bạ phán quan, xuất triệu Tạo vương chí đình.
Ngọc Hoàng mạ viết: kim thế vận nhất cực hội dã, tam thập tam thiên thế giới chi hạ, đa tai ương kỳ dị, tật bệnh cơ khát, tử vong tải lộ, âm dương hỗn tạp, yêu quỷ tặc đồ, Nam Châu dũ thậm. Thiên đình mẫn thử hạ dân trì mệnh Đế Thích đề hoàn thiên vương ưng thai ư bạch đàn linh mộc. Tái mệnh Đông quang chủ bộ, Tây quang chủ bộ, nhị vị đầu thai ư Minh Hoa công chúa, giáng sinh nhân thế, tá hữu Đế Thích Thiên Vương, trừ quỷ tặc ư Nam Châu, cứu nhân gian chi tật khổ, dĩ diễn quốc gia chi mệnh mạch. Quân vương an đắc biếm giáng công chúa giả gia. Kim dĩ tri quá chí thành kỳ đảo, tức nghinh công chúa hồi cung, thứ miễn kỳ tội. Vương tỉnh giác, hoàng cụ, hành lễ bái tạ, tức mệnh đình thần nghinh Minh Hoa công chúa tái hồi phủ điện. Vương thân tạ quá, kính lễ sự chi, tái khiển Thuỷ tào phán quan Diêm La bộ suý

(Án Diêm La bộ suý, diệc Hùng Vương chi miêu duệ, Long Vương bách noãn chi tôn, kỳ phụ Hùng Độ vi đế thủ bộ chủ. Kỳ mẫu Vũ Thị Đoan mộng kiến giao long nhi hữu thần thần. Chí Quý Tỵ niên thập nguyệt sơ thập nhật sinh Diêm La công, mệnh danh viết Đà. Niên thập tứ, văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược quá nhân, lập tại ba đào, như lý bình địa. Vương triệu hồi triều thụ chức, đa triển kỳ tài, trạc vi chưởng quản long chu Lạc Long tướng quân. Niên thập cửu Vương mệnh tướng binh thảo Diêm La tặc ư Nam Hải ngoại. Công phụng mệnh bình Diêm La chủ, tái triệu hồi triều vi chưởng bình Diêm La nguyên suý, thuỷ đạo đại tướng quân, tái mệnh phó nhậm trấn hải môn, vi thuỷ đạo chủ bộ)

Tựu Trì La trại linh mộc xứ, phụng thủ hương đăng, đãi quan thuỵ ứng như hà tài đắc nhất niên. Thần thiên hạ nhân dân tai ách, tật bệnh hạ thắng, tà yêu tác loạn, xuất một nhân gian, thiên địa hối minh, bất phân trú dạ, giang hải giao long, sơn lâm hổ báo, nhiễu hại nam nữ. Tái hữu Xích Tỵ quỷ, cẩu ma thần, khởi binh tác loạn, năng thực nhân nhục, ẩm nhân huyết, nhập hoả bất phần, nhập thuỷ bất nịch, hoặc đằng không nghinh chiến, hoặc tiềm thuỷ giáp công, binh tam thập vạn, dư biến hiện vô cùng, lược thủ Đông Tây Lưỡng Quảng, thập lục châu, tận thị quỷ tặc địa. Triều đình phấn kích, bị hại giả đa, tướng thần thứ thủ vô sách. Vương thâm ưu chi, hồi ức Hoàng Thiên báo mộng, tam niên hậu, quốc hữu quỷ tặc, quả nghiệm, nhi thiên vương giáng thế, phụ quốc cứu dân, vị đắc kiến dã.
Tái lập nhất đàn tề trai giới, đảo tế thiên địa tam nhật. Giáp Tí niên xuân thiên chính nguyệt sơ cửu nhật, Trì La linh mộc tự dựng, kinh dĩ tam niên, hốt văn tích lịch (nhất thanh tam niên) kinh thiên động địa, phong vũ hối hôn mê, nhật trung tự dạ. Trì La dân khiếp cụ, thiết phục quán chi, kiến tản vân ngũ sắc, phúc linh mộc thượng, hào quang xán lạn, thuỵ khí huy hoàng, thiên tinh cộng hội, long phượng nhiễu bàng, câu thiên hưởng lượng, nhã nhạc hoà hài, nga nhi đại phá nhất thanh, hoả quang tứ phóng. Mộc phá chi lạc, phi thiên đằng không, kỳ mộc phúc phá xuất nhị bào, thủy thành cam thuỷ, duy tồn nhất giả tam tứ xích, cương như thiết thạch, thuỷ phúc nhất bào, ngũ thải vân phúc kỳ thượng. Diêm La vương kinh dị, phụng tấu đế đình. Vương thân lai trí bào long giá, nghinh hồi bảo điện, truyền lập long lâu ư đình tiền, trí bào ngọc tử, diệc thường hữu ngũ sắc vân phúc kỳ thượng. Vương dữ bách quan trai giới hành lễ, khẩn nguyện thiên vương xuất thế, dĩ tá quốc gia, dĩ tiêu tai biến.
Chính nguyệt thập ngũ nhật hốt kiến thiên địa âm mai, lâu thượng bào hào quang tứ phóng, thuỵ khí hỗn hoàng, bào trung tự phá nhất thanh, kinh động thiên địa. Vương dữ bách quan khiếp phục lâu tiền, ngưỡng quan chi kiến Đế Thích Thiên Vương ngự lâu tiền long đầu, tường vân ngũ sắc, đầu đới bình thiên mạo, thân phi long cổn, thủ chấp kim bài.
Minh Hoa công chúa hoài thai tam tải, đại phá nhất thanh, nhị nhân tòng công chúa đầu thượng đột xuất, thể mạo khôi kỳ, ngũ nhạc triều thiên, tam đình bình đẳng, diện như hồng nhật, thạc đại đường đường, ngũ thái tinh huy, ngọc cân xán lạn, thủ chấp long đao, thị lập Đế Thích Thiên Vương tả hữu.
Công chúa hóa thân, duy tồn lưỡng thứ phát, nhất thứ tại Đông quang biên, nhất thứ tại Tây quang biên. Tu du, vân âm tứ tán. Thiên địa tình quang. Vương dữ bách quan bái hạ, hốt văn Đế Thích Thiên Vương truyền tả hữu nhị công viết: Thiên đình mệnh ngã giáng sinh Nam Châu, tá thần quân, trừ quỷ loại, nghi cấp tuyển tướng khiển binh, tuỳ ngô thảo tặc, bất khả hoãn dã. Nhị công phụng mệnh tức triệu Diêm La bộ suý đề nhất thiên binh thảo tặc. Nhị công lệ thanh nhất hô, lưỡng thứ phát hốt biến. Nhất thứ phát biến vi hoả mã, thân trường cửu xích, Tả công kỵ chi. Nhất thứ phát biến vi ngọc lân, Hữu công kỵ chi. Tam vị (Thiên Đế cập nhị công dã) tiến hành không trung, Diêm La tiến hành thuỷ đạo, tấn chí tặc cảnh. Nhị công huy đao lệ thanh, đại sất lôi đình lẫm liệt, hào quang tứ phóng, thiên binh hoán khởi giáp công. Hoả mã Ngọc lân phún hoả. Thuỷ đạo Diêm La tiếp chiến, vân vũ hôn mê, quỷ tặc kinh tán, tận biến vi trần. Duy Xích Tỵ quỷ bất năng tự biến, trảm nhất thiên đầu, tống hồi kinh quốc. Hổ báo giao long yêu quái chi vật, nhất giai ninh tức.
Lục nguyệt sơ thập nhật Đế Thích cập nhị công đăng ngũ tằng vân nhi hoá. Diêm La bộ suý tức nhật hồi triều, biểu tấu kỳ sự. Vương văn chi, đại thán tức viết: nhân dân chuyển hoạ vi phúc, chuyển tai vi tường, ngưỡng thánh đức tường vân thuỵ nhật, thố lưỡng gian hoà khí xuân phong vạn hạ Thiên Đế cập nhị vị toàn càn chuyển khôn chi đại pháp lực dã, toại truyền tạo điện ư long đình, phụng tự tam vị, đáp tạ thần hưu.
Lục nguyệt nhị thập cửu nhật Diêm La công hạ long chu, du Phong Châu, chí Tam Kỳ thuỷ, phong đào âm ế. Diêm La công thân biến vi xà, trường thập trượng dư, trực hạ Tam Kỳ, hoá sinh bất diệt. Tướng sĩ tức hồi đế đình, phụng tấu kỳ sự. Vương tức mệnh đình thần chí Tam Kỳ hành lễ, lập từ phụng sự yên. Tái truyền tu tam vị thần tượng, cập Diêm La công tượng, nghinh nhập bảo điện, tuế thần phụng sự, kỳ đảo linh nghiệm. Vương mệnh giá tựu Trì La trại, tiên lập hành cung, ngưỡng quán địa hình, long như yển đình chi hình, thuỷ thế oanh hồi, dương long loan bão, ngự chí linh mộc xứ, kiến nhất phiến chân long, thất tinh đới ấn, ngọc mạo hậu đầu, tả hữu phiến phiến hồi đầu củng hướng. Tả hữu long nhãn tỉnh, ngư truy hồi triều, kim tinh trữ lập, ngân đới chu hồi, thiên mã củng, liên hoa khai, đường tâm tam tinh lưỡng diệu đột khởi, thành thiên tạo chi quý địa dã.
Vương truyền lập từ ư long đầu chính cục, toạ Quý hướng Đinh, thuỷ thế nội triều, tinh phong ngoại ưng. Tái truyền tướng tử bạch đàn linh mộc giả (cung tạo) Đế Thích Thiên Vương thần tượng phụng tự. Hựu truyền lập tự ư long hình xứ, sự cật, chuẩn hứa Trì La trại Đông Tây lưỡng giáp, tuế thần hương đăng, tịnh miễn binh lương. Xuân (tam nguyệt sơ thập nhật) thu (cửu nguyệt thập nhị nhật) quốc tế. Ban tiền tam thập quán, trí tự điền thập nhị mẫu, phụng sự như nghi. Nhất trại lục trang (An Canh, Liễu Cầu, La Trừng, Trại Thung, Cổ Lễ, Lưu Xá) diệc miễn binh lương, tuế thần phụ tế ư Trì La Thiên Đế từ.
Vương đề thi vân:
Trì La thắng địa tối chung linh
Xứ xứ triều quy củng đế đình
Thiên Đế giáng sinh di tích tại
Quốc gia hương hoả ức niên hinh.
Vương phản giá hồi điện, tặng phong Tam thiên thiên Giới nội Đế Thích Đề Hoàn Đại phu Ngọc bệ hạ, Nhật quang Thiên tử Thánh vương, Nguyệt quang Thiên tử Thánh vương -Tam vị thượng đẳng thiên thần. Diêm La bộ suý môn tiền tôn thần.
Khước thuyết: Hùng Vương thập bát truyền chí Tình Vương vô tự, tốn vị ư Thục An Dương Vương. Thế truyền Ái Châu (tức kim Thanh Hoá) Thuận Thiên phủ Lôi Dương huyện Biện Sơn xã Phạm Đạt vi Sơn Nam quận điển binh, thú Trì La trại Đinh gia nữ Lục Nương. Phụ tạ tam tứ niên, phu phụ lực hành thiện sự. Tứ tuần dư vị chiêm hùng huỷ chi tường. Nhất nhật vị phu nhân viết: Ngã tiên tổ tố xưng thiện chi gia, đôn ngũ luân, chẩn cùng phạp, ngã dữ nhĩ, hành nhân tu đức, bất cảm ích kỷ hại nhân, tự phạm nhất hào tội ác, cửu bồi thiện quả. Vị vãn, kiến quế phương, hoặc nhân đạo do khuy, cố thiên tâm anh quyến. Ngã văn Thiên Đế điện, quốc gia dân độ, đảo chi tất thông, vạn sự như ý. Ngã dữ nhĩ, thành tâm cầu tự, phi yến kỹ hoài, khởi bất thích bình sinh chi nguyện ư thị chí từ cầu tự. Dạ mộng thần nhân báo viết: Ngã hiếu đấu kỳ, nhữ tri kỳ hồ. Phạm đối viết thần bản bất tri kỳ dã.
Thần nhân viết: kỳ giả hoạ phúc chi cơ, thiên địa huyền vi, nhân gian nan thức, nhữ chí thành cầu tự, Ngô sát nhữ gia chi phúc, hậu tai hậu tai. Ứng hứa kỳ thạch xa tử tướng hồi dĩ vi gia bảo. Ngôn ngật, tức thụ chi. Phạm thai kính thụ bái tạ. Tỉnh, mặc tưởng Ngô gia phúc hậu, Hoàng Thiên dĩ tứ tự hỹ. Phu phụ hành lễ bái tạ nhi hồi. Tài sổ nguyệt Đinh Thị hữu thần, kinh lục thất nguyệt, Phạm văn thúc phụ quyên trần, phu phụ tái tựu từ hành lễ. Sự cật hồi Biện Sơn trợ táng. Kỷ Mùi niên tam nguyệt sơ cửu nhật, Biện Sơn xã tường quang phức uất, phu nhân sinh nhị nam, đô thị thể mạo khôi kỳ, anh tư lẫm liệt, tàm my yến hạm, phượng nhãn long nhan, thủ thuỳ quá tất, túc để thất mao, mệnh danh viết Đá Công, Dũng Công. Phương bát tuế, trí dũng siêu quần, thụ nghiệp Ngô tiên sinh. Tài sổ niên, bách gia chư tử tam lược lục thao (Hoàng Thạch thụ Trương Lương binh thư thượng trung hạ tam lược, Thái Công binh thư hữu Long hổ văn vũ báo khuyển lục thao), vô bất quán triệt, văn võ kiêm toàn, bằng đồ kinh phục. Nhị công anh niên, song thân tảo một, ấp nội Võ cự tộc nhân, kiến nhị công kỳ tài, dục cứu dưỡng chi. Tịnh giá kỳ nữ, nhị công bất tòng. Võ gia kiến nhị công cương dũng, đạo kiếp luỹ phiên, tầm nã bất chích. Nhị công tòng gian đạo chí Thiên Thi huyện Trì La ngoại quán, thần nhật dĩ mộ, lý hạng bế môn. Nhị công vọng kiến dã ngoại cung quán (tức Tạo Vương hành cung giá ngự) nãi khế tức yên. Thị dạ Trì La dân các tộc, nhất giai mộng kiến nhất đại quan y mạo chỉnh tề, thân kỵ hồng mã, thị tòng sổ thập nhân, trực nhập ấp nội, triệu hào kiệt vị viết: ngã phụng Đế Thích Thiên Vương chi mệnh, vi thử địa long thần, kim hữu nhị vị quý nhân, Thiên đình mệnh lị thử địa, vi phúc thần, hiện trú dã ngoại hành cung. Nhĩ ấp dân nghi tức bái hạ, nghinh hồi, thảng trì, hữu cữu, nga nhi ấp nhân mộng tỉnh, văn dã ngoại hành cung, phảng phất nhân thanh, binh mã đại hội giả thậm chúng. Nhất giai kinh cụ, tụ thủ cáo ngữ, cụ thuật kỳ mộng, bất ước nhi đồng, khai môn xuất quan cung sở, kiến nhị công thục thuỵ, đồng thanh vấn viết: nhị công hà xứ đắc lai.
Nhị công khởi đáp viết: ngã bản Phạm gia tử, thám vấn ngoại gia thân thuộc. Ấp nhân tri thị Đinh nương tử, vị khẳng xu bái thần phục duy nhất tâm phụng dưỡng tôn kính. Từ quan thiên đạo như hà. Nhị công cư ngoại quán sổ nguyệt, ấp dân tật dịch, hành lễ đảo thiên địa, tái mộng kiến quan quân nhập dân cư, vị viết: Hoàng thiên mệnh long thần báo mộng nhĩ ấp nghinh quý nhân vi phúc thần, cảm nhĩ trì nghi, Thiên đình thanh phạt nhĩ ấp bất ninh dã. Ấp dân tỉnh lai tỉnh cụ, tức nghinh nhị công, tường thuật nhị chiêm, hành lễ bái hạ. Tứ ngũ niên gian, sự vi thần minh, nhị công niên phương thập thất, thân trưởng thập xích, anh hùng kiêu dũng, thủ cử thiên tạ thiết thạch, hành viễn bách lý chí tự hồng mao. Thần Thục Vương hữu Đại Man tặc, sổ thập vạn chúng, lược thủ Tuyên Quang, Cao Bình, Hưng Hoá. Triều đình thảo chi bất khắc. Vương truyền hịch mộ kỳ tài. Nhị công ứng thí, văn võ chi tài vô địch. Vương tức bái huynh vi Bình Man đô nguyên suý đại tướng quân, đệ vi Thiên quan nguyên suý đại tướng quân, tổng cấp tinh binh ngũ thập vạn thảo tặc. Nhị công phụng mệnh, mộ hào gia tử đệ vi nội đao, thủ, túc, cộng đắc nhất thiên tam bách nhân (Trì La các tộc tòng Nhị công thảo tặc như Nguyễn Hào, Nguyễn Tá, Đinh Vãn, Đinh Tấn, Đinh Sĩ, Đinh Giảo, Phạm Mai, Phạm Vị, Hà Thưởng, Đỗ Bân, Đỗ Đán, Trần Kế, Đào Quý, Lê Thưởng, Đặng Hoàn, Đặng Tố, Giả Đoan tự giai vi điển binh bì tướng). Tức nhật phân đạo, trì nhập tặc cảnh, đại chiến nhất trận. Man binh đại bại, trảm Man tướng tam danh, nhất thiên dư thủ cấp, tận thu kỳ cổ khí giới, tống hồi kinh quốc. Vương văn chi, đại hỷ, triệu nhị công hồi văn yến hạ. Nhị công thỉnh quy yết nội ngoại tiên đường. Vương hứa chi, ban tứ kim ngân châu bảo cẩm tú, các sổ thập thăng, tượng mã binh sĩ, tống quy hồi gia quán.
Nhị công yết gia từ, khai yến hạ, tái hồi Trì La ngoại quán. Tam nguyệt thập ngũ nhật, yết ngoại từ, truyền tu lý cung sở (tức tạc dạ tạm trú), dĩ vi hội đồng du yến chi sở. Tựu hành cung khai yến hạ, tự xuất tiền ngũ thiên quán, tu lý Thiên Đế từ tự. Vị Trì La dân viết: ngô dữ phụ lão, dĩ ngoại quán chi tình, kiêm sư đệ chi nghĩa, thân hựu gia thân, thiên sử nhiên dã. Tư hữu hoàng kim thập hốt, phó ấp dân vi công bản, đa mãi điền trì, chí như hành cung. Cựu ngô khế dã, kim nhật du yến, tha nhật tức vi tự sở dã phụ lão giai ưng viết nặc. Nhị công tác thi vân:
Thiên địa sinh ngô dã hữu tình
Danh lưu nhân thế tử như sinh
Trì La hương hỏa thiên xuân tại
Sinh dã vinh hề tử dã vinh.
Hựu thi vân:
Phù chi ư quốc ỷ ư dân
Vạn cổ cương thường hệ thử thân
Đáo xứ sơn hà đô ngã cảnh
Nhất đường ngư thuỷ ức niên xuân.
Toại bái tạ Thiên Đế từ, hồi triều yết Vương, thỉnh Trì La trại vi thang mộc ấp. Vương hứa chi. Trạc huynh vi Thái Bảo Quốc, cải đệ vi Thiên Cung Bảo Điện tướng quân. Trì La ngoại quán, hách dịch nhất thần Thiên Đế từ vũ huy hoàng. Thần thường hiển linh, dữ Trương Ba (Đường Hào huyện Liêu Hạ xã nhân bản thị thần tiên giáng thế) đấu kỳ ư thử địa, cái do nhị công chí thành phụng sự, thần giáng chi phúc dã.
Nhị công bỉnh chính, kinh thập niên dư, thần Sơn Nam Triệu Uý Đà công Thục Vương. Vương mệnh nhị công thảo chi, dữ Đà giao chiến, tam tứ niên. Đà binh đa bại, đãn vị phân thắng phụ. Đà trá hoà, Vương hứa chi. Nhị công cố gián, dĩ vi dưỡng hổ di hoạn. Vương bất cha. Nhị công thỉnh quy điền, Vương hứa chi. Nhị công từ quy, thán viết: quốc thế nguy hỹ. Nãi giá hồi Trì La địa. Thập nhị nguyệt nhị thập ngũ nhật yết Thiên Đế từ. Tựu từ hậu quy hoá yên. Thị nhật nhân vọng kiến từ biên, hữu hoả mẫn trường thập trượng, đằng không nhi khứ. Dĩ nhi trại dân nghinh táng, thổ trùng bồi phúc, nhân giai kỳ chi. Vương ái tích lương tả, truyền tu lý hành cung phụng tự, bao phong mỹ tự, dữ quốc đồng hưu.
Nhất phong hiển thánh linh thông đại vương.
Nhất phong đại quan bảo điện đại vương.
Khước thuyết: Uý Đà văn nhị công dĩ hoá, dũng cầu Thục Vương nữ, giá kỳ tử Trọng Thuỷ. Vương hứa chi. Trọng Thuỷ tiềm thiết linh quy thần nỗ huỷ chi. Vương dữ Đà chiến đại bại. Đà khóa hữu Nam Bang, thâm oán nhị công, huỷ kỳ từ, thu sắc chỉ, ấp dân lưu tán yên. Triệu truyền tứ thế, chí Tập Vương, quốc thế suy nhược. Đông Hán Quang Võ lược thủ Nam địa, khiển kỳ thần Tô Định vi Nam Châu thái thú. Định vi nhân tham nhũng, sát Thi Sách huyện lệnh thị Trưng nữ vương phu (Trưng Trắc, Trưng Nhị bản Hùng Vương nữ, trú Phong Châu kim chi, nữ tỷ muội giai phụ kỳ tài). Trưng nữ khởi binh, công Tô Định, báo phu thù. Đại tướng Huệ Lực phấn dũng tòng chinh, dĩ báo phụ cừu (Huệ Lực bản Đường Hào huyện lệnh chi tử, kỳ phụ vi Tô Định sở sát, mẫu phương hữu thần, tẩu cư La Trừng tự, sinh Huệ Lực, tòng Trưng nữ báo phụ cừu), tiên thiết dinh ngũ sở ư Trì La trại, mật đảo Thiên Đế từ, nguyện đắc âm phong trợ thuận, thủ bỉ hung tàn, dạ mộng Nhị Thiên tử thủ chấp long đao, vị viết: “Ngã phụng Thiên Đế mệnh, trợ quốc quân thảo tặc”. Cập tiến binh, tức trảm Tô Định. Nam Châu ngũ thập dư thành phục yên. Trưng Vương tức vị, yến hỷ thưởng công. Huệ Lực sức Trì La dân tạo Nhị công từ ư Thiên Đế từ trắc. Nhất tịch, Huệ Lực cập Trì La dân giai mộng thần nhân báo Thiên giáng tang mộc vu từ tiền, nghi tức trang tạo Nhật Quang, Nguyệt Quang Thiên tử tượng. Cập chí từ, quan chi, quả kiến tang mộc trí từ môn, nhập từ trung. Tái kiến nhị xà trường nhất trượng dư, ngũ sắc lân toàn nhiễu vu Thiên tử nhị tượng chi hạ. Huệ Lực truyền tướng tang mộc khắc thánh vương nhị vị tượng. Đại khai yến hạ, tức mệnh La Trừng trang dữ Trì La trại hợp nhất, Tây giáp phù Nhật quang Thiên tử giá, Đông giáp phù Nguyệt quang Thiên tử giá. Sự cật, phụng tấu. Trưng Vương tái bao tặng tam vị thượng đẳng thiên thần, tam thập tam thiên Đế Thích Đề hoàn Thánh đế Bệ hạ, Nhật quang Thiên tử Thánh vương, Nguyệt quang Thiên tử Thánh vương.
Cập Đá Công, Dũng Công, Diêm La công, giai phong vi bản thổ thành hoàng. Cập các tộc bì tướng, vi bộ hạ thủ điện chi thần, chuẩn hứa Trì La hương đăng phụng tự yên. Lịch Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, phàm tam bách tứ thập cửu niên, Nam Bang hữu Đinh, Lê, Lý, Trần, tứ tính, khai sáng hồng đồ, đế đức hộ quốc tý dân, đại hữu linh nghiệm.
Trần Thái Tôn hữu nữ Huyền Trân công chúa, giá Chiêm Thành chủ, dĩ báo cựu ân. Chiêm chủ một, kỳ thần dục tướng công chúa nhập hoả đàn thiêu chi. Trần Thái Tôn văn chi, tức đảo Đế từ, hành lễ cầu phong. Công chúa hạ long chu, xuất hải tế. Đại phong sử phàm, tị nan tẩu thoát. Hậu Thiều Ninh công chúa tái nghệ từ cầu tự, hốt kiến lưỡng thúc phát, trí từ tả hữu. Nhân dân sự biểu tấu kỳ sự. Thái Tôn mệnh đình thần chí từ hành lễ, truyền trí thúc phát vu lưỡng hạp, mai tại thánh chủ nhị vị chi hạ. Cái mặc tưởng tức tiền nhật Minh Hoa công chúa (sinh Thiên tử Nhị vị) lưỡng thúc phát chi cát triệu dã, tức truy tặng tam vị thượng đẳng mỹ tự, cập các bản thổ tôn thần. Lịch Trần triều thập nhị thế, chí Lê Thái Tổ Tiền Lê Hậu Lê, giai hữu hộ quốc tí dân, cố lịch đại đế vương, truy tặng mỹ tự, hương hoả thiên thu đức kỳ hoặc hỹ.
Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn.
Hựu Thiên Thi huyện Liễu Cầu xã, hữu tỷ muội nhị nhân, tao loạn, nhập Ai Lao quốc, mật đảo Thiên Đế bảo hộ. Hốt nhiên hành bộ như phi, hồi chí bản quán, cung hành tạ lễ, sự cật hình hài đô biến liễu, chỉ lưu lưỡng thúc phát tại yên (kiến Lĩnh Nam trích quái).
Lục nguyệt thập nhị nhật (thập tứ xã đại hội hành lễ ca xướng).

Phần Nho văn:

附快 州府天施縣羅澄庄池羅寨
天帝寳籙

昔南粤雄王開創世祖肇基十八世傳二天餘載太平玉燭國勢金甌後陳先生有詩云
初開南粤自涇陽
一統山河十八王
聖繼神傳千古在
二千餘載億年香
盖百粤之祖泰和之盛會也
涇陽王孫昭王都于越池白鶴江國號文郎.昭王寬仁智慧尊崇佛法敬事神祗専務養民爲本世稱爲賢君也.是辰海内昇平府中無事人民娛給足之管絃天下仰太平之景象帝子正宗閒遊天下辰山南郡快州府天施縣羅澄庄池羅寨之地一日見風雨瀟瀟天地晦冥日中以夜池羅民怯懼不敢出門頃刻天地晴光忽大樹飛来立在龍頭土印正局長一丈餘樹香馥郁枝葉菁葱池羅民異之奉奏帝庭
昭王鸞駕諦觀乃知紫白檀之靈木也.王暗喜國勢興隆天生靈木此大吉兆也卽傳池羅民立露天陛置一香爐嵗辰香燈奉祀焉民奉命修理
王行禮祭天鸞駕囬殿.自此國擣民求齋戒至誠就灵木下懇願國家祈晴禱雨民間禳病求胎灵應如響矣迨至雄王十世傳造王御極灵木在池羅經七百餘年枝葉依然茂盛春天二月初一日灵木處天地昏黃雲騰五色火繩旋繞灵木三匝毫光闪爍風雨昏迷池羅民驚伏湏奐天地晴光人民聚觀乃見巨人跡三步印入木中其露天陛炷香皆自崩汶池羅民驚異再奉奏帝廷造王鸞駕觀之以爲皇家德盛必有聖人出世以保國家决非尋常瑞也卽傳所在民立寺奉祀俾國家人民禱祈有所寺成王行礼事訖鸾駕囬殿自此國禱民求香燈不絶
却説王有一親(卽羲王女)號明花公主國色清奇丰姿絶世紅唇粉臉鳳眼𧊕眉本閬苑之花嬌不染塵埃俗味初生只食齋戀香花之味玖歲帝庭自願出家皈佛羲王見女子誠心慕佛傳立寺于殿中俾適其願自此公主奉佛長齋精通佛法
及造王即位公主登爲世尊菩薩.年已七十一聞池羅有靈木中有巨人跡王傳立寺奉祀芳心戀景命駕春遊就𩂜觀之紅日已斜公主仰觀靈木見崆?(音空新脱壳也)蛇自天有隕遶明花公主三匝公主怯伏徬徨似夢忽見日月並墜入口中并吞之霎辰崆蛇騰空而去公主乍醒駕囬王府百日後公主感而有娠觀靈木巨人跡處亦皆似孕日月漸大常有傘雲五色覆靈木上人皆奇之明花公主孕經七八月造王傳入龍庭謂曰九歲皈佛至兹年七十餘已登菩薩何事躭情花月貽笑人間公主自陳就觀靈木崆蛇纒身眞性具奏王不信貶入烏里之地卽占城地
經数月池羅民見靈木處夜聞風聲拂拂如雷貫耳木上燦爛皆如火焰 木中似孕者益大寨民奏其事王以爲怪卽傳立几級壇在龍庭中漈戒沐浴三日虔誠召各僧尼與百官行禮祈禱祝曰寡人見此怪木及七旬公主有娠不知禍福如何爲此奏告皇天百神諸佛懇願吉匈應夢俾塵心得悟玄機是夕二更半王矇矓睡去見祥雲五色玉殿琉璃龍宫燦爛鳳閣輝煌玉皇正御百官森列忽聞玉皇傳天庭典簿判官出召造王至庭
玉皇罵曰今世運一極會也三十三天世界之下多災殃奇異疾病饑渴死亡載路陰陽混雜妖鬼賊徒南州愈葚天庭憫此下民持 命帝释提桓天王應胎於白檀靈木再命東光主部西光主部二位投胎於明花公主降生人世佐佑帝釋天王除鬼賊於南州救人間之疾苦以衍國家之命脉君王安得貶降公主者耶今已 知𨓺至誠祈禱卽迎公主囬宫庶免其罪王醒覺惶懼行礼拜謝卽命廷臣迎明花公主再囬府殿王親謝過敬礼事之再遣水曹判官閻羅部帥
桉閻羅部帥亦雄王之苗裔龍王百卵之孫其父雄度 爲帝取部主其母武氏端夢見蛟竜而有神娠至癸巳年十月初十日生閻羅公命名曰沱年十四文武兼全英雄盖世勇畧過人立在波濤如履平地王召囬朝授聀多展奇才擢爲掌管龍舟貉龍将軍年十九王命将兵討閻羅賊於南海外公奉命平閻羅主再召囬朝爲掌平閻羅元帥水道大将軍再命赴任鎭海門爲水道主部
就池羅寨靈木處奉守香燈待觀瑞應如何纔得一年辰天下人民災厄疾病下勝邪妖作亂出没人間天地晦冥不分晝夜江海蛟龍山林虎豹擾害男女再有赤鼻鬼狗魔神起兵作亂能食人肉飲人血入火不焚入水不溺或騰空迎戰或潛水夾攻兵三十萬餘變現無窮掠取東西两廣十六州盡是鬼賊地朝廷奋撃被害者多將臣朿手無策王深憂之回憶皇天報夢三年後國有鬼賊果驗而天王降世輔國救民未得見也
再立一壇蠐齋戒禱祭天地三日甲子年春天正月初九日池羅靈木似孕經已三年忽聞霹靂(一声三年)經天動地風雨晦昬迷日中似夜池羅民怯懼窃伏觀之見傘雲五色覆靈木上毫光燦爛瑞氣輝煌天星共會龍鳳遶旁鈎天响喨雅樂和諧俄而大破一聲火光四放木破枝落飛天騰空其木腹破出二胞水成甘水惟存一叚三四尺剛如鐵石水腹一胞五彩雲覆其上閻羅王經異奉奏帝庭王親来置胞龍駕迎回寶殿傳立龍楼於庭前置胞玉紫亦常有五色雲覆其上王與百官齋戒行禮懇願天王出世以佐國家以消災變
正月十五日忽見天地隂霾楼上胞毫光四放瑞氣焜煌胞中自破一聲驚動天地王與百官怯伏楼前仰觀之見帝釋天王御楼前龍頭祥雲五色頭戴平天帽身披龍衮手執金牌
明花公主懷胎三載大破一聲二人從公主頭上突出體貌魁奇五岳朝天三亭平等靣如紅日碩大堂堂五采星輝玉巾燦爛手執龍刀侍立帝釋天王左右
公主化身惟存两朿髮一朿在東光邊一朿在西光邊須臾雲隂四散天地晴光王與百官拜賀忽聞帝釋天王傳左右二公曰天庭命我降生南州佐辰君除鬼類宜急選将遣兵随吾討賊不可緩也二公奉命卽召閻羅部帥提一千兵討賊二公厲聲一呼两朿髮忽变一朿髮变爲火馬身長九尺左公騎之一朿髮变爲玉麟右公騎之三位(天帝及二公也)進行空中閻羅進行水道迅至賊境二公揮刀厲聲大叱雷霆凜烈毫光四放天兵喚起夾攻火馬玉麟噴火水道閻羅接戰雲雨昏迷鬼賊驚散盡变爲薼惟赤鼻鬼不能自變斬一千頭送回京國虎豹蛟龍妖怪之物一皆寧息
六月初十日帝釋及二公登 五層雲而化閻羅部帥卽日囬朝表奏其事王聞之大嘆息曰人民轉禍爲福轉災爲祥仰聖德祥雲瑞日措两間和氣春風萬荷天帝及二位旋乾轉坤之大法力也遂傳造殿於龍庭奉祀三位荅謝神休
六月二十九日閻羅公下龍舟遊峰州至三岐水風濤隂翳閻羅公身變爲蛇長十丈餘直下三岐化生不滅将士卽回帝庭奉奏其事王卽命廷臣至三岐行禮立祠奉事焉再傳修三位神像及閻羅公像迎入寶殿歲辰奉事祈禱靈驗王命駕就池羅寨先立行宫仰觀地形龍如蝘蜓之形水势萦迴陽龍彎抱御至靈木處見一片真龍七星带印玉帽後頭左右片片回頭拱向左有龍眼井魚𨾬囬朝金星佇 立銀帶周囬天馬拱蓮花開堂心三星两曜突起誠天造之貴地也
王傳立祠於龍頭正局坐癸向丁水勢内朝星峯外應再傳將紫白檀靈木叚(㳟造)帝釋天王神像奉祀又傳立寺於竜形處事訖準許池羅寨東西两甲歲辰香燈並免兵糧春(三月初十日)秋(九月十二日)國祭班錢三十貫置祀田十二畆奉事如儀一寨六庄(安耕柳梂羅澄寨桩古禮劉舍)亦免兵糧歲辰附祭於池羅天帝祠
王題詩云
池羅勝地最鍾靈
處處朝歸拱帝廷
天帝降生遺跡在
國家香火億年馨
王返駕囬殿贈封三千天界内帝釋提桓大夫玉陛下
日光天子聖王
月光天子聖王
三位上等天神
閻羅部帥門前尊神
却説雄王十八傳至晴王無嗣遜位於蜀安陽王世傳愛州(即今清化)順天府雷陽縣卞山社范達爲山南郡典兵娶池羅寨丁家女綠娘附藉三四年夫婦力行善事四旬餘未占熊虺之祥一日謂夫人曰我先祖素稱善之家敦五倫賑窮乏我與爾行仁修德不敢益己害人自犯一毫罪堊乆培善果未晚見桂芳或人道猶虧故天心英眷我聞天帝殿國家民度禱之必通萬事如意我與爾誠心求嗣飛燕技懷豈不適平生之願於是至祠求嗣夜夢神人報曰我好鬪碁汝知碁乎范對曰臣本不知碁也
神人曰碁者禍福之機天地玄微人間難識汝至誠求嗣吾察汝家之福厚哉厚哉應許碁石車子将囬以爲家寶言訖卽授之范台敬受拜謝醒默想吾家福厚皇天已賜嗣矣夫婦行禮拜謝而回纔数月丁氏有娠經六七月范聞叔父捐塵夫婦再就祠行禮事訖囬卞山助䘮己未年三月初九日卞山社祥光馥郁夫人生二男都是體貌魁奇英姿凜烈蠶眉燕頷鳳眼龍顔手垂過膝足底七毛命名曰𥒥公勇公方八歲智勇超羣受業呉先生纔数年百家諸子三畧六韜(黃石授張良兵書上中下三畧太公兵書有竜虎文武豹犬六韜)無不貫徹文武兼全朋徒驚服二公英年雙親早沒邑內武巨族人見二公奇才欲救養之并嫁其女二公不從武家見二公剛勇盗刼累番尋拿不𫉬二公從閒道至天施縣池羅外舘辰日已暮里巷閉門二公望見野外宫舘(卽造王行宫駕御)乃憇息焉是夜池逻民各族一皆夢見一大官衣帽整齊身騎紅馬侍從数十人直入邑內召豪傑謂曰我奉帝釋天王之命爲此地龍神今有二位貴人天庭命蒞此地為福神現駐野外行宫爾邑民宜卽拜賀迎囬倘遲有咎俄而邑人梦醒聞野外行宫彷彿人聲兵馬大會者葚衆一皆驚懼聚首告語具述其梦不約而同開門出觀宫所見二公熟睡同聲問曰二公何處得来
二公起荅曰我本范家子探問外家親屬邑人知是丁娘子未肯趍拜臣服惟一心奉養尊敬徐觀天道如何二公居外舘数月邑民疾疫行禮禱天地再夢見官軍入民居謂曰皇天命龍神報梦爾邑迎貴人爲福神敢耳遲疑天庭青罰爾邑不寧也邑民醒来惺懼卽迎二公詳述二占行禮拜賀四五年間事爲神明二公年方十七身長十尺英雄驕勇手擧千謝鉄石行逺百里輊似鴻毛辰蜀王有大蠻賊数十萬衆掠取宣光髙平興化朝廷討之不克王傳檄募奇才二公應試文武之才無敵王卽拜兄為平蛮都元帥大将軍弟為天官元帥大将軍总給精兵五十萬討賊二公奉命募豪家子弟為内刀手足共得一千三百人(池羅各族從二公討賊如阮豪阮佐丁𣆛丁晋丁仕丁佼范梅范渭何賞杜邠杜旦陳計陶貴黎賞鄧完鄧素叚端寺皆為典兵裨将)卽日分道馳入賊境大戰一陣蛮兵大敗斬蛮将三名一千餘首級盡收旗鼓噐械送回京國王聞之大喜召二公回聞宴賀二公請歸謁內外先堂王許之班賜金銀珠宝錦繡各数十升象馬兵士送歸回家舘
二公謁家祠開宴賀再回池羅外舘三月十五日謁外祠傳修理宫所(即昨亱暫駐)以為會同遊宴之所就行宫開宴賀自出錢五千貫修理天帝祠寺謂池羅民曰吾與父老以外舘之晴兼師弟之義親又加親天使然也茲有黄金十笏付邑民爲公本多買田池至如行宫舊吾憇也今日遊宴他日即為祀所也父老皆應曰諾二公作詩云
天地生吾也有情
名𪽋人世死如生
池羅香火千春在
生也荣兮死也荣
又詩云
扶之於國倚於民
萬古綱常係此身
到處山河都我景
一堂魚水億年春
遂拜謝天帝祠囬朝謁王請池羅寨爲湯沐邑王許之擢兄爲太保國改弟爲天宫保殿將軍池羅外舘赫奕一辰天帝祠宇輝煌辰常顯靈與張巴(唐豪縣遼下社人本是神仙降世)鬪碁於此地葢由二公至誠奉事神降之福也
二公秉政𦀰十年餘辰山南趙尉佗攻蜀王王命二公討之與佗交戰三四年佗兵多敗但未分勝負佗詐和王許之二公固諫以爲養虎遺患王不咱二公請歸田王許之二公辞歸嘆曰國势危矣乃駕回池羅地十二月二十五日謁天帝祠就祠後歸化焉是日人望見祠邊有火䋲長十丈騰空而去已而寨民迎塟土虫培覆人皆奇之王愛惜良左傳修俚行宫奉祀褒封美字與國同休
一封顯聖靈通大王
一封大官保殿大王
却説尉佗聞二公已化甬求蜀王女嫁其子仲始王許之仲始潛窃靈龟神弩毁之王與佗戰大敗佗𨂍有南邦深怨二公毁其祠收敕旨邑民流散焉趙傳四世至襲王國势衰弱東漢光武畧取南地遣其臣蘇定爲南州太守定爲人貪冗殺施策縣令是徴女王夫(徴側徴貳本雄王女住風州今之女姊妹皆負奇才)徴女起兵攻蘇定报夫讎大将惠力奋勇從征以报父仇(惠力本唐豪縣令之子其父爲蘇定所殺母方有娠走居羅澄寺生惠力從徴女报父仇)先設营五所於池羅寨密禱天帝祠願得隂風助順取彼凶殘夜梦二天子手执竜刀謂曰我奉天帝命助國君討賊及進兵即斬蘇定南州五十餘城復焉徴王即位燕喜賞功惠力飭池羅民造二公祠於天帝祠側一夕惠力及池羅民皆夢神人报天降桑木于祠前宜即裝造日光月光天子像及至祠觀之果見桑木置祠門入祠中再見二蛇長一丈餘五色𧸍旋繞于天子二像之下惠力傳将桑木刻聖王二位像大開晏賀即命羅澄庄與池羅寨合一西甲扶日光天子駕東甲扶月光天子駕事訖奉奏徴王再褒贈三位上等天神三十三天帝釋提桓聖帝陛下日光天子聖王月光天子聖王及𥒥公勇公閻羅公皆封爲本土城隍及各族裨将爲部下守殿之神準許池羅香燈奉祀焉歷東漢呉晋宋齊粱凢三百四十九年南邦有丁黎李陳四姓開創洪圖帝德護國庇民大有靈驗
陳太尊有女玄珍公主嫁占城主以报舊恩占主没其臣欲將公主入火𡊨燒之陳太尊聞之即禱帝祠行禮求風公主下龍舟出海際大風駛帆避難走脫後韶寧公主再詣祠求嗣忽見两束髮置祠左有人民事表奏其事太尊命廷臣至詞行禮傳置束髮于两匣埋在聖主二位之下葢默想即前日明花公主(生天子二位)两束髮之吉兆也即追贈三位上等美字及各本土尊神歷陳朝十二世至黎太祖前黎後黎皆有護國庇民故歷代帝王追贈美字香火千秋德其或矣
大學士阮炳奉撰
又天施縣柳捄社有姊妹二人遭乱入哀牢國宻禱天帝保護忽然行步如飛囬至本貫恭行謝禮事訖形骸都变了只留两束髮在焉(見領南摘怪)
六月十二日(十四社大會行禮歌唱)