Vương quốc Lĩnh Nam

Khái niệm “Lĩnh Nam” trong lịch sử hiện nay đang được hiểu là phía Nam dãy núi Ngũ Lĩnh, là loạt dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc, ngăn cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía bắc của vùng Giang Nam. Ngũ Lĩnh ở đây là đường phân thủy giữa hai con sông lớn là Dương Tử và Châu Giang. Khái niệm này còn dùng chỉ khu vực nước Nam Việt của nhà Triệu trong các cuộc đối đầu thời Tần Hán.
Tuy nhiên, đọc kỹ lại cổ thư thì danh từ Lĩnh Nam không hề được sử dụng để nói về vùng này, cũng như không gặp trong thư tịch cổ nói về thời Tần Hán. Tác phẩm Lĩnh Nam chích quái là tập hợp những truyền thuyết Việt từ xa xưa, nhưng trong bộ sách này không có những chuyện ở Lưỡng Quảng mà chỉ có ở khu vực miền Bắc nước ta hiện nay. Vậy Lĩnh Nam đây đâu phải là phía Nam dãy Ngũ Lĩnh ở Quảng Đông Quảng Tây. Lĩnh Nam là chỉ khu vực miền Bắc Việt mới đúng.
Lĩnh Nam là địa danh gặp ở ngay dòng đầu tiên trong truyền thuyết dựng nước của người Việt. Truyện họ Hồng Bàng: Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam, đến núi Ngũ Lĩnh lấy được con gái của Vụ Tiên, rồi trở về sinh ra Lộc Tục.
Ngọc phả Hùng Vương  (bản năm Thiên Phúc nguyên niên, thời Lê Đại Hành) chép: Sử ký Việt Nam. Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích Quỷ. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.
Lĩnh Nam là nơi Kinh Dương Vương lên ngôi trị vì (Đế Minh phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam). Bản Ngọc phả Hùng Vương thời Hồng Phúc còn cho biết trong 15 bộ của nước Văn Lang thì bộ thứ 14 là “Ngũ Lĩnh sơn Vân Nam“.
Như thế danh từ “Lĩnh Nam” trong huyền sử Việt chính xác phải là Ngũ Lĩnh Vân Nam, chỉ khu vực vùng núi phía Bắc nước ta ngày nay. Vị trí của Ngũ Lĩnh Vân Nam này được mô tả đầy đủ trong Ngọc phả Hùng Vương (bản thời Hồng Phúc):
Vua [Kinh Dương Vương] bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam đại quốc, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức thủy hồng, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên…
Vùng Ngũ Lĩnh Vân Nam ở gần các dãy núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Tam Đảo, Thái Nguyên như thế là chỉ khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam ngày nay, chạy dọc theo dãy núi Hoàng Liên Sơn từ Vân Nam tới ngã ba Việt Trì, tức là quãng các tỉnh Phú Thọ, Lào Cai, Tuyên Quang ngày nay.
Việc định vị dãy Ngũ Lĩnh trong cổ sử Việt thành ra dải núi ở phía Bắc Quảng Đông Quảng Tây dẫn đến sai lệch hoàn toàn nguồn gốc xuất phát của người Việt. Với cách hiểu này người ta đã biến thời điểm lập quốc họ Hùng của Đế Minh và Kinh Dương Vương thành ra vương quốc Lĩnh Nam mới chỉ hình thành vào thời Tần Hán khi mà nhà Tần dẫn quân đánh phương Nam và Triệu Đà lập nước Nam Việt.

ngu-linh.png
Vị trí Lĩnh Nam trong sử Việt và các quận phía Nam thời Tần.

Xem xét tất cả các thư tịch về thời Tần Hán cũng đều không hề thấy nói tới từ Lĩnh Nam như sự gán ghép trên. Tư liệu thường được trích dẫn khi nói về cuộc tấn công của nhà Tần xuống phương Nam là đoạn chép trong sách Hoài Nam tử, phần Nhân gian huấn:
Vua Tần chiếm 6 nước, xem truyện này như sau: “Nhà Tần vong, tại sao vậy?”. Nguyên nhân là sai Mông Công và tướng Tương Ông Tử xây sửa thành. Phía Tây chiếm Lưu Sa, phía Bắc  đánh sông Liêu, phía Đông thì liên kết với Triều Tiên, các quận của trong nước phải kéo xe đi chinh chiến. Lại ham những món lợi như sừng tê giác, ngà voi, ngọc phỉ thúy, trân châu, nên sai quan úy Đồ Thư mang 50 vạn quân, chia làm 5 đạo. Một đạo đóng ở vùng Đàm Thành, một đạo phòng thủ ở chỗ hiểm yếu Cửu Nghi, một đạo đóng ở đô thành Phiên Ngung, một đạo đóng ở nơi biên giới Nam Dã, một đạo đóng ở sông Dư Can. Ba năm quân không cởi giáp giãn nỏ. Sử Giám Lộc không tìm được hướng đi mới sai lính đào kênh để chuyển binh lương đánh người Việt, giết thủ lĩnh Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Đoạn trích trên cho dù đã mô tả rất kỹ cuộc tấn công của Tần xuống phía Nam, nhưng không hề gọi vùng đó là Lĩnh Nam. Địa danh được nhắc tới ở đây là Tây Âu, với quân trưởng lúc đó là Dịch Hu Tống.
Một đoạn khác về việc Tần đánh phương Nam trong Sử ký Tư Mã Thiên, Tần Thủy Hoàng bản kỷ: Năm thứ 33, (Tần Thủy Hoàng) đưa những người thường trốn tránh, những người ở rể và những người đi buôn đánh lấy đất Lục Lương, lập thành Quế Lâm, Tượng Quận, Nam Hải cho những người bị đi đày đến đấy canh giữ.
Đoạn Sử ký này cũng không hề nói đến địa danh Lĩnh Nam. Khu vực Tần đánh chiếm ở đây được gọi là đất Lục Lương.
Có thể thấy, sự kiện Tần đánh Việt có tới 2 mô tả khác nhau như ở trên. Hoài Nam tử cho biết đây là cuộc tấn công quy mô lớn với 50 vạn quân, chia thành 5 đạo đi theo các hướng khác nhau, do một đại tướng của Tần là Đồ Thư cầm đầu, diệt được vùng Tây Âu. Trong khi đó Sử ký Tư Mã Thiên lại mô tả việc này như một “trò đùa”, Tần Thủy Hoàng dùng những người lưu vong, ở rể, thương gia, đến lấy đất lập 3 quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng. Sự thật thì không thể có việc chiếm một vùng đất đai rộng lớn như vậy lại dùng đám hỗn quân lộn xộn như thế.
Nam Việt Úy Đà liệt truyện thì chép: Thời Tần đã hợp nhất thiên hạ, chiếm lấy Dương Việt đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng, đưa những người bị đi đày đến ở cùng người Việt, được 13 năm.
Đọc kỹ đoạn này ta thấy việc Tần Thủy Hoàng đưa người bị đi đày đến 3 quận trên đất Việt là để “sống cùng với người Việt” bản địa, chứ không phải việc tiến quân đánh chiếm. Việc dời dân đến 3 quận này hoàn toàn khác với việc Đồ Thư dẫn 50 vạn quân đánh phương Nam ở trên.
Sự kiện Đồ Thư dẫn quân Tần đánh qua đất Tây Âu như thế phải là một sự kiện khác, xảy ra trước thời Tần Thủy Hoàng. Thực ra, nó xảy ra dưới thời Tần Chiêu Tương Vương, hay cuối thời Chu Noãn Vương.
Thiên Nam ngữ lục có đoạn thơ kể về chuyện của Lý Ông Trọng vào thời điểm như sau:

Kể từ Hùng tổ trị dân
Lên ngôi sánh với thánh nhân Đào Đường
Tới nay Chu mạt Noãn Vương
Ông cha con cháu giữ giàng trị dân…
Ấm bao nhiêu, rét bấy nhiêu
Vườn Chu ải giậu, Tần trèo đãng hoa.

Chu Noãn Vương bị Tần diệt năm 256 TCN, cũng là lúc có Lý Ông Trọng là người Việt làm quan cho nhà Tần. Như thế Tần chiếm đất Việt đã là từ lúc này, chứ không phải tới mấy chục năm sau khi Tần Thủy Hoàng lên ngôi.
Sự kiện Tần đánh Việt được huyền sử Việt chép bằng câu chuyện Thục An Dương Vương đánh và nhận ngôi vị của Hùng Vương. Tần lúc này đã chiếm vùng đất Thục, hoặc chính gốc Tần là ở đất Thục nên Thục cũng chính là Tần. Thục tiếng Việt nghĩa là Chín (đồ chín). Còn Tần cũng được đọc là Chin(a) trong tên gọi tiếng Anh cho Trung Quốc ngày nay.
Miền đất Việt đã bị quân Tần do Đồ Thư, Sử Lộc xâm chiếm vào năm 256 TCN. Tới thời Tần Thủy Hoàng, thống nhất các nước chư hầu, cho thiết lập chế độ quận huyện trên toàn quốc thì mới có sự việc di dân đến 3 quận ở phía Đông đất Việt (Dương Việt). Khả năng những người dân được di cư đi từ vùng đất Âu Lạc mà Tần đã chiếm trước đó, sang vùng đất cảu 3 quận bên cạnh.
Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 34, đem đày những quan coi ngục không thanh liêm đi xây Trường Thành cùng với đất Nam Việt.
Rõ ràng mục đích di dân ở đây là để xây dựng cho nhà Tần, chứ không phải đánh chiếm đất đai của nước khác. Cũng chính trong việc đưa ly dân đi làm xây thành đắp đường này mà đã làm nảy sinh cuộc khởi nghĩa của Triệu Đà như được kể tới trong thần tích về Triệu Vũ Đế ở Chân Định – Kiến Xương:
Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi).
Triệu Đà là một huyện lệnh nhỏ ở Long Xuyên đã đưa dân phu đi xây dựng ở vùng Ngũ Lĩnh, tức là vùng núi Hoàng Liên Sơn ngày nay. Sau đó Triệu Đà cùng dân phu bỏ trốn, lên núi Vũ Ninh (Châu Sơn) ở Bắc Ninh, để ẩn náu, chống lại nhà Tần.
Hoài Nam tử kể: … Vì vậy người Việt vào rừng rậm sống chung cùng muông thú, không chịu để quân Tần bắt làm tù binh. Họ chọn người tài trí và kiệt tuấn làm tướng, cứ đến đêm tối tấn công quân Tần, đạt được chiến thắng lớn, giết quan úy Đồ Thư, quân Tần chết cả chục vạn. (Tần) Bèn cử người đến đóng giữ.
Người tuấn kiệt được chọn làm thủ lĩnh kháng Tần lúc này chính là Triệu Đà, người mà ngay sau khi Tần Thủy Hoàng mất đã chiếm lại toàn bộ vùng đất phương Nam gồm quận Long Xuyên và 3 quận Tần đã lập ra trên đất Việt là Quế Lâm, Nam Hải và Tượng.
Có một điểm liên quan đến sự kiện di dân dưới thời Tần Thủy Hoàng trên đất Việt là câu cuối trong đoạn trên. Nguyên văn trong Hoài Nam tử là: 乃發適戍以備之 Nãi phát trích thú dĩ bị chi. Tương tự, Tần Thủy Hoàng bản kỷ đoạn này cũng viết: 以適遣戍 Dĩ thích khiển thú. Hiện câu này đang được dịch nghĩa là: đưa những người bị biếm trích đến đóng giữ.
Tuy nhiên chữ dùng ở đây không phải là Trích 謫 (trong “biếm trích”), mà là Thích 適. Chữ Thích 適 này có nghĩa chính là: Con gái xuất giá. Như: “thích nhân” nghĩa là con gái về nhà chồng. Hay nghĩa như trong từ “thân thích”.
Dĩ thích khiển thú do đó có thể hiểu là: dùng người bên nhà rể để đóng giữ.
Thật bất ngờ khi hiểu tư liệu theo nghĩa dịch này lại trùng khớp với sự tích Lý Ông Trọng ở Việt Nam. Lý Thân được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh Cung công chúa cho. Sau đó Lý Thân được cử đi trấn thủ người Hồ ở đất Lâm Thao. Lâm Thao có thể tương đương nghĩa với Lâm Ấp hay Lĩnh Nam. Trị sở của khu vực mà Lý Ông Trọng trấn thủ là tại vùng đất Bắc Việt ngày nay.

IMG_3663
Nghi môn trong đền Cổ Loa.

Khi đã xác định Thục chính là Tần thì suy ra thành Cổ Loa của Thục An Dương Vương là trị sở được nhà Tần xác lập trên vùng đất Việt. Người cầm đầu khu vực phương Nam lúc đó là Lý Thân, con rể của Tần Thủy Hoàng. Hiện trong đền Cổ Loa vẫn còn tượng và tục thờ Lý Ông Trọng, xác chứng thêm cho nhận định này.
Câu đối ở đình Chèm, là đền thờ Lý Ông Trọng còn nói tới liên quan giữa Lý Ông Trọng và nhà Tần sau khi thống nhất lục quốc:
六合銷兵想見雄威驚絶域
千秋遺廟疑然正氣障狂瀾
Lục hợp tiêu binh, tưởng kiến hùng uy kinh tuyệt vực
Thiên thu di miếu, nghi nhiên chính khí chướng cuồng lan.
Dịch:
Sáu nước tan binh, oai hùng nhớ thấy khiếp biên cõi
Nghìn thu để miếu, chính khí như còn chặn sóng hung.

Bí ẩn cột kinh chùa Nhất Trụ: Đại Thánh Minh hoàng đế Lê tổ là ai?

Chùa Nhất Trụ ở Ninh Bình, ngôi chùa cổ nằm cạnh khu di tích Hoa Lư, nơi có đền thờ các vua Đinh, vua Lê. Chùa này có cái tên nổi bật bởi cây cột kinh phật đá lớn cao hơn 8 m. Chiếc cột kinh chùa Nhất Trụ này được được công nhận là bảo vật quốc gia.
Trên tám mặt của thân cột khắc đầy chữ Hán, nhưng trải qua thời gian hơn 1.000 năm, nửa dưới và ba mặt nửa trên cột đã bị mờ hoàn toàn. Năm mặt nửa trên còn lại cũng không đọc được nguyên vẹn. Nếu còn nguyên vẹn, ước khoảng 2.500 chữ, giờ đây số chữ có thể khổ tâm đọc được hoặc nhận dạng là 1.200 chữ. Theo TS. Đặng Công Nga, nội dung văn tự có 3 phần: kệ, kinh, lạc khoản. Nội dung văn tự là kinh Thủ Lăng Nghiêm, ca ngợi sự bền vững của Đức Phật, sự to lớn bao trùm của tài năng Phật Như Lai…

IMG_9208.JPG
Cột kinh chùa Nhất Trụ.

Tìm hiểu niên đại của cột bia này dựa trên dòng lạc khoản ở mặt cột phía Tây Nam còn đọc được là: Đệ tử Thăng Bình hoàng đế tả tạo…
Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Lê, Đại Hành hoàng đế chép:
Tân Tị, năm thứ 2 (981). Mùa xuân tháng 3, Hầu Nhân Bảo và Tôn Toàn Hưng đến Lạng Sơn, Trần Khâm Tộ đến Tây Kết, Lưu Trừng đến sông Bạch Đằng. Vua tự làm tướng chống giữ, sai binh sĩ đóng cọc ngăn sông, quân Tống rút lui. Lại tiến đến sông Chi Lăng. Vua sai binh sĩ giả hàng để dụ Nhân Bảo, bắt được chém đi. Bọn Khâm Tộ nghe tin thủy quân thua đem quân về. Vua đem các tướng đuổi đánh, quân Khâm Tộ thua to, chết quá nửa, thây chất đầy đồng, bắt được tướng là Quách Quân Biện, Triệu Phụng Huân đem về Hoa Lư. Từ đấy trong nước yên tĩnh.
Bầy tôi dâng tôn hiệu là Minh càn Ứng vận Thần vũ Thăng bình Chí nhân Quảng Hiếu Hoàng đế.

Với tôn hiệu lầ Minh Càn Ứng Vận Thần Vũ Thăng Bình Chí Nhân Quảng Hiếu Hoàng đế này thì có thể xác định người đã cho dựng cột kinh chùa Nhất Trụ là vua Lê Đại Hành.
Tuy nhiên, ở m
ặt hướng về phía Tây của cột, là mặt chữ còn khá rõ, ghi:
Bát Nhã tiền việt hải chi ba huề hương … Đại Thánh Minh hoàng đế Lê tổ tự thừa thiên mệnh đại định sơn hà thập lục niên lai…
GS. Hà Văn Tấn dịch là: Thuyền Bát Nhã trước vượt sóng biển mang về bản hương, Đại Thánh Minh hoàng đế tổ họ Lê tự mình kế tiếp mệnh trời, cả định non sông đến nay là 16 năm…
Dịch như thế có chỗ không hợp lý. Đã là “thiên mệnh” thì làm sao có thể “tự mình” kế tiếp được? Chữ “tự” ở đây đúng hơn cần hiểu là “từ lúc”. Đoạn bia trên dịch lại là: Thuyền Bát Nhã trước vượt sóng biển mang về bản hương, Đại Thánh Minh hoàng đế tổ họ Lê từ lúc kế tiếp mệnh trời, cả định non sông đến nay là 16 năm…
Như vậy thời điểm dựng cột bia này là 16 năm tính từ lúc một vị vua “tổ họ Lê” là Đại Thánh Minh hoàng đế lên ngôi, mở triều đại mới. Các nhà nghiên cứu hiện nay dựa vào chữ “tổ họ Lê” ở đây mà cho rằng Đại Thánh Minh hoàng đế cũng là Lê Đại Hành. Nhưng như vậy thật rối rắm và vô nghĩa khi mà Lê Đại Hành trên xưng mình là “Thăng Bình hoàng đế”, dưới lại là “Đại Thánh Minh hoàng đế”. Hơn nữa Lê Đại Hành còn đang sống thì làm sao tự gọi mình là “tổ” được?
Đại Thánh Minh hoàng đế theo cách dễ hiểu nhất phải là vị vua trước Lê Đại Hành. Người trước Lê Đại Hành đã “cả định non sông” thì rõ ràng là Đinh Tiên Hoàng. Vua Đinh lên ngôi năm 968, tính đến năm Lê Đại Hành sau khi phá Tống xưng là Thăng Bình hoàng đế (981) là 14 năm. Cột bia được dựng sau đó khoảng 2 năm là phù hợp với tôn hiệu Thăng Bình hoàng đế.
Đinh Tiên Hoàng được sử sách chép có danh xưng là Đại Thắng Minh hoàng đế, rất gần với tên Đại Thánh Minh hoàng đế trên cột bia. Rất có thể sử sách đã chép lầm chữ Thánh thành Thắng.
Khả năng khác: Thánh Minh đọc thiết là Thinh hay Đinh. Thắng Minh cũng đọc thiết là Đinh. Đây là 2 cách phiên thiết của cùng một chữ Đinh, tên hiệu của Đinh Tiên Hoàng.
Vấn đề quan trọng nhất, theo cột bia chùa Nhất Trụ thì Lê Đại Hành không phải là vị vua khai triều và tổ của các vua Lê. Vị “Lê tổ” là Đại Thánh Minh hoàng đế, tức Đinh Tiên Hoàng. Đây là một bí mật được bộc lộ từ văn bia. Vua Đinh thực chất có họ Lê, là vị vua khai triều của nhà Tiền Lê trước Lê Hoàn.
Vì Đinh Tiên Hoàng và Lê Hoàn đều mang họ Lê nên cuộc chuyển giao vương quyền giữa 2 vị vua này là một việc truyền ngôi bình thường, không có chuyện Lê Hoàn đoạt vị của nhà Đinh. Họ Đinh của Đinh Tiên Hoàng do đó là một dạng tên xưng, chứ không phải họ thật. Đinh là từ chỉ hướng Tây, tương đương với từ Tĩnh trong Tĩnh Hải quân thời kỳ này. Vua Đinh lấy chữ Đinh làm họ vì là người cai quản Tĩnh Hải quân (Tiết độ sứ).
Như vậy, cột kinh chùa Nhất Trụ được lập nên vào năm 983 khi sau khi Lê Đại Hành phá Tống. Cột kinh như một cột mốc lịch sử cho 16 năm của triều Tiền Lê, giữ vững đất nước trước giặc ngoại xâm kể từ vị Lê tổ Đinh Tiên Hoàng tới Thăng Bình hoàng đế Lê Hoàn.

IMG_9188
Đình Yên Thành, cạnh chùa Nhất Trụ.

Câu đối ở đình Yên Thành, nơi thờ vua Đinh Tiên Hoàng và Lê Đại Hành ở cạnh chùa Nhất Trụ:
桑劍蘆旗芳跡古
金臺銀地故宮春
Tang kiếm lô kỳ phương tích cổ
Kim đài ngân địa cố cung xuân.
Dịch:
Kiếm dâu cờ lau, còn thơm dấu cũ
Đài vàng đất bạc, xuân mãi cung xưa.

Những điều mới biết về Triệu Đà

Những tranh cãi về Triệu Đà vị vua đầu tiên của nước Nam Việt từ bao thế kỷ này chưa bao giờ dứt.  Người thì tôn là vị đế vương oai hùng khởi đầu sử Việt. Kẻ lại bảo là tội đồ làm người Việt chịu cảnh Bắc thuộc ngàn năm. Tranh cãi bởi vì chân tướng sự thực về Triệu Đà chưa được nhận ra. Một khi bản chất công trạng sự nghiệp lịch sử của vị vua này được hiểu đúng thì không cần phải tranh cãi nữa, vì lịch sử là sự thực, không cần biện luận đúng hay sai, tốt hay xấu.
Những sự thực mới biết về Triệu Đà có thể nhìn nhận ra được bằng cách so sánh giữa 2 nguồn tư liệu. Một là của chính người Việt tức là các truyền thuyết Việt lưu truyền về Triệu Đà ở các nơi thờ phụng trên đất Việt. Một là những ghi chép của người Trung Hoa về thời kỳ lịch sử này trong các thư tịch cổ, mà điển hình là Sử ký Tư Mã Thiên. So sánh 2 hướng nhìn, 2 cách ghi chép cho cùng một thời kỳ đem lại những thông tin thật bất ngờ về vị vua vĩ đại nhưng lại nhiều nỗi oan khuất mang tên Triệu Đà.

Thủa đầu trên quê hương
Thần tích làng Đồng Xâm, nơi có đền thờ Triệu Vũ Đế ở xã Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình kể:
Năm thứ 44 thời An Dương Vương, kỷ nhà Thục (Tần Thủy Hoàng năm 33) nhà Tần sai Hiệu úy Sử Lộc đem thuyền chở quân sĩ đào ngòi vận chuyển lương thực thâm nhập vùng Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải, Tượng Quận, cho Nhâm Hiêu làm Nam Hải úy, Đế [Triệu Đà] làm Long Xuyên lệnh (tức huyện Nam Hải), đem bọn bị biếm trích đến đóng ở Ngũ Lĩnh (năm ấy Đế 31 tuổi).
Tiếp đó thần tích kể Triệu Đà đi đến trang Đường Sâm, lấy nàng Lan con gái họ Trình, sinh ra Trọng Thủy. Triệu Đà cho lập hành cung tại Đường Sâm, sau này là nơi thờ tự Triệu Đà và hoàng hậu Trình Thị.

IMG_4212.JPGĐền thờ Hoàng hậu Trình Thị ở gần Đồng Xâm (Kiến Xương, Thái Bình).

Nguyên văn chữ Nho của đoạn kể trên về Triệu Đà: “Đế vi Long Xuyên lệnh (tức Nam Hải huyện), lĩnh trích đồ thú Ngũ Lĩnh“.
Đoạn thông tin này bị hiểu là Triệu Đà dẫn đám dân đi lính thú của nhà Tần tấn công nước Việt. Nhưng đọc kỹ thì không phải vậy. Hiểu chính xác phải là Triệu Đà được cử làm huyện lệnh Long Xuyên, cũng là huyện Nam Hải. Triệu Đà nhận lĩnh việc đưa những người phu dịch (“đồ“) đến vùng Ngũ Lĩnh.
Làm gì có chuyện những người có tội bị biếm trích lại là quân lính để tấn công phương Nam. Đây là việc nhà Tần tăng cường nhân công cho việc xây dựng ở nước Nam, tương tự việc phu dịch xây Vạn lý trường thành ở phía Bắc. Triệu Đà là một lệnh trưởng chịu trách nhiệm dẫn dân phu đến vùng núi Ngũ Lĩnh.
Đoạn trích trên cũng cho biết, Triệu Đà đi đến vùng đất Thái Bình (Đồng Xâm), rồi lấy vợ, sinh con, còn lập cả hành cung (dựng nhà để ở) tại đó. Vậy là Thái Bình hay vùng Bắc Việt lúc này rõ ràng đã nằm trong lãnh thổ của nhà Tần thì Triệu Đà mới có thể ngụ cư, làm huyện lệnh và dẫn dân phu đi đến đó.
Đoạn kể về Triệu Đà này so với ghi chép trong Sử ký Tư Mã Thiên thì giống y hệt chuyện của Lưu Bang. Cao Tổ bản kỷ chép: “Cao Tổ dĩ đình trưởng vi huyện tống đồ Lịch Sơn“. Dịch: Cao Tổ làm đình trưởng trong huyện dẫn lính đồ thú đi Lịch Sơn.
Cần biết rằng “Ngũ Lĩnh” trong các thần tích Việt là chỉ dãy Hoàng Liên Sơn, nơi mà Kinh Dương Vương được phong cai quản vùng đất “Ngũ Lĩnh Vân Nam” ở phương Nam (theo Ngọc phả Hùng Vương). Còn “Lịch Sơn” chẳng ở đâu xa, là ngọn núi Lịch của Viễn Sơn, vị vua Hùng thứ 3, nay vẫn còn nguyên tên gọi, nằm giữa 2 tỉnh Tuyên Quang và Phú Thọ bây giờ.
Thần tích Đồng Xâm kể tiếp: Năm thứ 48 thời Thục An Dương Vương (năm thứ 37 Tần Thủy Hoàng, năm ấy Thủy Hoàng băng hà). Nhân đấy Nhâm Hiêu bàn mưu cùng Đế xâm chiếm Thục, thế rồi liền dẫn quân tiến đánh. Đế đóng quân ở vùng núi Tiên Du Bắc Giang, đại chiến với An Dương Vương. An Dương Vương lấy nỏ thần ra bắn, Đế thua chạy. Khi ấy, Nhâm Hiêu đem thuyền quân đóng ở Tiểu Giang (nay là bến Đông Hồ), xâm phạm phải thổ thần, nên bị nhiễm bệnh phải quay về.
Vùng gần thành Cổ Loa có sự tích Triệu Đà theo sông Hồng dẫn quân đến đánh Thục như ở các làng Văn Tinh, Lực Canh ở xã Xuân Canh, Đông Anh, Hà Nội. Di tích về Triệu Vũ Đế còn có là điện Long Hưng ở xã Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên với sự tích Triệu Vũ Đế đi dọc sông Hồng và thấy rồng bay lên, đặt tên vùng này là Thăng Long.
Câu đối ở điện Long Hưng:
一指已無秦萬里開先閩貉絶
两立何難漢億年倡始帝王基
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.
Dịch:
Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.
Thần tích Đồng Xâm kể tiếp: Nhâm Hiêu nói với Đế rằng: Nhà Tần mất rồi. Hãy dùng kế mà tấn công Phán (tên của An Dương Vương) thì có thể lập nước được. Đế biết An Dương Vương có nỏ thần, không thể địch nổi, nên lui về phòng thủ ở núi Vũ Ninh. Sau đó sai sứ giảng hòa, chia đất. Bình Giang trở lên phía Bắc Đế cai trị. Bình Giang trở về Nam An Dương Vương cai trị.
Triệu Đà khi đánh Thục đã lui về phòng thủ ở núi Vũ Ninh. Vũ Ninh là núi Châu Sơn ở Quế Võ, Bắc Ninh, nay còn tục thờ Triệu Đà tại 8 làng của vùng này. Đây cũng hoàn toàn giống chuyện Lưu Bang sau khi dẫn dân phu đi Lịch Sơn, dân phu trốn nhiều quá buộc Lưu Bang sợ trách nhiệm phải cùng bỏ vào vùng núi Mang Đường, từ đó chống lại nhà Tần.
Cao Tổ bản kỷ chép: Tần Thủy Hoàng Đế thường nói: 
– Phía Đông Nam có khí thiên tử. 
Bèn đi chơi về phía đông để trấn áp. 
Cao Tổ nghi rằng đó là vì mình, bèn trốn tránh giữa miền đầm và núi giữa hai huyện Mang Đường.

Ban do Trieu Da
Các địa danh liên quan đến Triệu Đà.

Khởi nghĩa trên đất Việt
Thần tích Đồng Xâm kể: Năm thứ 50 đời An Dương Vương (Tần Nhị Thế năm thứ 2), Nhâm Hiêu bệnh nguy kịch nói với Đế rằng: “Nghe nói bọn Trần Thắng làm loạn, lòng dân chưa biết theo ai. Đất này là nơi hẻo lánh, ta sợ bọn giặc xâm phạm đến đây nên muốn cắt đường mà tự phòng bị (là nơi Tần mở đường qua Việt), đợi xem các nước chư hầu biến động ra sao”.
Như thế nhà Tần đã mở một con đường độc đạo để đi sang Việt. Tần Thủy Hoàng bản kỷ chép: Năm thứ 35, sai làm con đường thông từ huyện Cửu Nguyên đến đất Vân Dương, đục núi, lấp các khe núi, nhờ vậy đường đi suốt và thẳng. Đây cũng là con đường mà Tần Thủy Hoàng thường “Đông du”, đến vùng đất có Lưu Bang như kể trên.
Thần tích Đồng Xâm kể tiếp: Đến khi bệnh nguy cấp Nhâm Hiêu nói: “Đất Phiên Ngung dựa núi cách sông, Đông Tây mỗi chiều dài mấy nghìn dặm, lại có người Tần giúp đỡ, nên cũng đủ để dựng nước hưng vương, làm chủ một phương. Các vị trưởng sử trong quận không ai có thể bàn được, chi nên phải triệu ông đến bảo”. Nhân đó cho Đế thay mình.
Nhâm Hiêu mất, Đế lập tức truyền hịch đến các cửa ải Hoành Bồ, Dương Sơn, Hoàng Khê rằng: “Quân giặc đã đến. Các quân binh cắt đường tự thủ”. Hịch truyền đến các châu huyện đều hưởng ứng theo. Thế rồi giết hết các trưởng sử do Tần cắt đặt, thay bằng những người bạn bè thân thích của mình cai quản. Rồi phát binh đánh Thục Vương.
Đoạn thần tích này nói Triệu Đà đã tiếp ý của Nhâm Hiêu, loại bỏ các quan của Tần ở trong quận, nhưng lại “phát binh đánh Thục Vương“. Đã giết các trưởng sử của Tần thì phải phát binh đánh Tần mới đúng. Tất cả sự trùng hợp về không gian, sự kiện nêu trên cho thấy Thục Vương chính là nhà Tần trong chuyện Triệu Đà. Người đã khởi nghĩa kháng Tần trên đất Việt không phải ai khác chính là Lưu Bang. Triệu Đà là một tên gọi từ góc nhìn của truyền thuyết Việt cho Lưu Bang, vị vua khởi lập nhà Hiếu (Hán) sau khi lật đổ nhà Tần.

IMG_2270Tượng Triệu Vũ Đế ở điện Long Hưng, Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên.

Trọng Thủy – Lý Thân
Có một chi tiết cần làm rõ trong chuyện Triệu Đà, đó là nhân vật Trọng Thủy. Thần tích Đồng Xâm kể:
Đế sai con trai là Trọng Thủy vào làm thị vệ và cầu hôn với con gái An Dương Vương là Mỵ Châu. Vua Thục chấp nhận. Trọng Thủy cùng công chúa ở nước Thục được ba năm, liền dỗ Mỵ Châu cho xem trộm nỏ thần, rồi ngấm ngầm phá lẫy, đánh đổi đi…
Một khi đã xác định Thục chính là Tần, thì Trọng Thủy là phò mã của nhà Tần. Truyền thuyết Việt có một người là phò mã của Tần Thủy Hoàng, đó là Lý Ông Trọng, đức thánh Chèm. Cùng tên là Trọng. Họ Lý cũng chính là họ của Triệu Đà vì Triệu Đà là Lưu Bang hay Lý Bôn.
Theo sự tích ở đình Chèm (Từ Liêm, Hà Nội) thì Lý Ông Trọng là Tư lệ hiệu úy của nhà Tần, được Tần Thủy Hoàng gả con gái là Bạch Tĩnh công chúa cho. Còn Trọng Thủy thì theo đúng ghi chép của thần tích, đã vào cung nhà Thục làm “thị vệ” rồi cầu hôn công chúa của Thục Vương.

P1000409.JPG
Đình Ninh Sơn, nơi thờ Lý Thân ở Chương Mỹ, Hà Nội.

Đặc biệt hơn, sự tích ở vùng Hà Tây kể Triệu Đà vốn tên là Nguyễn Thận ( = Lý Thân vì họ Lý đổi ra họ Nguyễn dưới thời Trần), sau làm con nuôi của Triệu Cao, nên đổi sang họ Triệu. Triệu Cao ở đây như vậy là ông tổ của nhà Triệu, có thể gọi là Triệu Cao Tổ. Cao Tổ nhà Triệu thì rõ ràng là Hiếu Cao Lưu Bang. Lý Ông Trọng là con (nuôi) của Cao Tổ, tương đương với Trọng Thủy, con Triệu Cao Tổ Lưu Bang.
Gia phả Phạm Công tộc tại Mộ Đức – Quảng Ngãi ghi: Cuối đời Hùng Duệ Vương  con trai trưởng của Phạm Duy Minh ở xứ Đằng Châu, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên ngày nay là Đại lang Phạm Duy Hinh cùng Lý Thành (con Lý Thân – Lý Ông Trọng) trấn thủ đất Nam Hà gồm 2 châu là Ái châu (Bình Trị Thiên) và Trung châu (gọi là xứ Lâm Ấp).
Thần tích Đồng Xâm cũng kể: Đến năm thứ nhất nhà Triệu (Đế 50 tuổi, Tần Nhị Thế năm thứ 3) Đế đã thắng quân Thục chiếm được Lâm Ấp, Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương, đóng đô ở Phiên Ngung (nay là Quảng Đông).
Lý Ông Trọng như vậy là là vị thủ lĩnh khởi đầu của nước Lâm Ấp hay Nam Chiếu. Nước Nam Chiếu ban đầu gọi là Nam Triệu như trong Truyện Nam Chiếu, Lĩnh Nam chích quái đã chép:
Người Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế…
Con cháu họ Triệu tản mát bốn phương, sau trở về Thần Phù, Hoành Sơn, là những xứ vắng vẻ không người. Khi bộ hạ đông đúc họ bèn đóng tàu thuyền thỉnh thoảng ra bể đột nhập vào nội địa cướp người ven bể, giết các quan lệnh của nhà Hán. Dân đều sợ phục, gọi là Nam Triệu, sau gọi sai là Nam Chiếu.
Người Nam Chiếu là dòng dõi Triệu Đà. Kết nối các thông tin trên càng khẳng định thêm rằng Lý Thân – Lý Ông Trọng chính là Trọng Thủy, con (dòng dõi) của Triệu Đà trong truyền thuyết.
Câu đối về Lý Ông Trọng ở đình Chèm:
秦關莅止中華將
越甸巍然尚等神
Tần quan lỵ chỉ Trung Hoa tướng
Việt điện nguy nhiên thượng đẳng thần.
Dịch:
Ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa
Điện Việt còn đây thần thượng đẳng.

Thục An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng và Thạch Sanh

18 triều Hùng nước Nam, thần truyền thánh kế hơn 2000 năm, dựng lập một thiên hạ họ Hùng mênh mông, gồm cả trăm chư hầu đầu non góc biển, là phên dậu bình phong, phân trăm quan, đặt trăm họ, phong trăm thần… Thời kỳ dựng nước của các vùa Hùng được kết thúc bởi sự chuyển nhượng ngôi vị từ Hùng Vương sang cho nhà Thục. Nhưng câu hỏi đặt ra: Thục là ai? Ngọc phả Hùng Vương một lần nữa lại cung cấp những thông tin cực kỳ xác đáng, giúp nhận diện triều đại tiếp nối 18 Hùng triều này.
Ngọc phả Hùng Vương của xã Hy Cương (Việt Trì, Phú Thọ) chép về đời Hùng Vương thứ 17 có sự kiện sau:
Hùng Nghị Vương thừa hưởng nhiều đời thiên hạ thái bình. Vua sinh ra đam mê tửu sắc, ham thích du chơi, không lo sửa sang võ bị. Vua nước Thục từ xa nghe tin Trung Quốc không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ phương Nam có cây kiếm thần nên còn do dự chưa quyết.
Bấy giờ chúa phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái của Hùng Vương. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa phụ đạo. Bộ Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Hùng Nghị Vương thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Hùng Nghị Vương, nói: “Quân Thục từ phía Tây đến, chỉ muốn bộ chủ [Ai Lao] truyền lại cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà vua”.
Hùng Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục vương bắt được bộ chủ phụ đạo [Ai Lao] đem về Thục, gả công chúa cho, rồi bắt nhường ngôi cho mình. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi triều Nam là anh, triều Tây là em, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó triều Tây ngừng việc binh.
Đoạn ngọc phả này cung cấp thông tin mà trước giờ ít được chú ý. Trước khi Thục Vương thay thế Hùng Vương ở đời Hùng Vương 18, thì từ đời Hùng Vương 17 đầu tiên Thục Vương đã chiếm bộ Ai Lao, tiếm vị “bộ chủ phụ đạo“. Thục Vương thậm chí còn viết thư tỏ ý “đe dọa” tới Hùng Vương để Hùng Vương không can thiệp vào chuyện đoạt vị ở bộ Ai Lao.
Nên biết rằng chức “bộ chủ phụ đạo” vốn được lập ra dưới thời Hùng Quốc Vương khi phân chia lãnh thổ. Đứng đầu một chư hầu phiên dậu (một bộ) là một bộ chủ phụ đạo. Chức vị này được phép “phụ truyền tử kế“, cha truyền con nối. Nói cách khác, bộ chủ phụ đạo chính là vua của một nước chư hầu trong thiên hạ họ Hùng. Thục Vương tranh đoạt chức vị này ở bộ Ai Lao nghĩa là đã chiếm nước chư hầu vào hàng lớn nhất, thân cận nhất của Hùng Vương.
Đoạn ngọc phả trên cũng cho biết Thục nghĩa là Tây, nhà Thục tương đương với triều đại phía Tây. Tây Thục xưng Hùng Vương Văn Lang phía Nam là anh.
Sang đời Hùng Vương thứ 18 là Hùng Tuyền Vương (hay có bản chép là Hùng Duệ Vương), Ngọc phả kể chuyện Hùng Tuyền Vương xây thành Cổ Loa, được thần Kim Quy trợ giúp diệt trừ yêu quỷ và trao cho móng rùa làm lẫy nỏ thần. Nhờ có nỏ thần và thành Cổ Loa vững chắc, quân Thục không làm gì được triều Hùng.
Như vậy theo Ngọc phả Hùng Vương, người xây thành Cổ Loa không phải là Thục An Dương Vương. Nói cách khác, thành Cổ Loa đã được xây trước khi Thục chiếm được Văn Lang.
Tới chỗ này lại có một chuyện khó hiểu. Đang có sức mạnh quân sự như vậy nhưng Hùng Vương lại theo lời Tản Viên Sơn Thánh, quyết định nhường ngôi cho Thục Vương, tặng thêm cả nỏ thần. Còn mình thì đi tìm tiên thuật, hóa sinh bất diệt…
Sự thực hẳn phải là khác. Thục Vương đã từng cầu hôn con gái Hùng Vương 18, nhưng không thành. Sau đó thực chất là vừa ép vừa dụ để Hùng Vương nhường lại ngôi cho mình. Đây là ý đồ của nhà Thục đã có từ thời Hùng Vương thứ 17 ở trên.
Với những sự kiện trên về Thục Vương chiếm ngôi của Hùng Vương, chấm dứt Hùng triều trong Ngọc phả, thì chợt nhận ra: Thục trong chuyện này chính là nhà Tần. Tần vốn là một chư hầu của thiên hạ Trung Hoa, vào cuối thời Chu trở nên hùng mạnh. Một trong những cuộc đánh chiếm mở rộng đất Tần là đánh vào Tây Chu. Sử gọi vùng này là Tây Âu.
Sách Hoài Nam tử cho biết: Trong 3 năm, [quân Tần] không cởi giáp dãn nỏ. Giám Lộc không có đường chở lương, lại lấy binh sĩ đào cừ cho thông đường lương để đánh nhau với người Việt. Giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống.
Tây Âu là vùng đất Vân Nam, xưa là vùng Ai Lao di. Bộ chủ Ai Lao bị Tần Thục đánh chiếm ngôi vị như thế chính là Dịch Hu Tống, một dòng dõi của Hùng Vương Văn Lang, vì:
– Dịch chỉ người đã tác Dịch, tức là Văn Vương (Văn Lang).
– Hu hay Hậu.
– Tống hay Tông.
Dịch Hu Tống = Dịch Hậu Tông, nghĩa là dòng dõi của vua Dịch học Văn Vương, tức là dòng dõi vua Hùng Văn Lang.
Chỉ có Tần mới dám ngang nhiên đánh chiếm đất đai của dòng dõi Thiên tử (Tây Chu), thậm chí viết thư đe dọa vua Chu (Hùng Vương) không được can thiệp. Sau đó, còn xưng làm anh em với thiên tử Chu thay cho lễ quân thần.

bach-viet-13Vị trí các địa danh trong bài.

Tới đời tiếp theo, như đã biết với chuyện con tin của Tần là Dị Nhân Tử Sở ở rể tại nước Châu – Triệu hay trong chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy, Hùng Vương – thiên tử Chu mất thành, mất nước, mất bảo vật nỏ thần theo kiểu vừa bị chiếm vừa bị ép nhường ngôi. Thiên tử Chu Noãn Vương năm 256 TCN đã “hóa sinh bất diệt” bằng cách cầm sừng văn tê bảy tấc đi ra biển theo thần Kim Quy. Đây cũng là năm mà Tần chính thức xóa sổ nhà Chu theo ghi chép của chính sử.
Ngọc phả Hùng Vương kể:
Thục An Vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn đức trời biển của Hùng Tuyền vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trên núi, chỉ lên trời thề rằng:
– Nguyện trời cao mây xám lồng lộng xét soi, nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng vương nơi đây nếu vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.
Nhà Tần khi diệt Chu đã không tận diệt con cháu vua Chu, mà cho họ được an trí ở một vùng đất nhỏ, cũng gọi là Đông Chu. Đây hẳn là vì giao tình giữa vua Tần với nhà Chu trong cuộc thông gia dẫn đến việc nhường ngôi nói trên.

Picture3Đá cổ (cự thạch) ở Xín Mần, Hà Giang (gần Tây Côn lĩnh).

Thêm một chi tiết là Tần Thủy Hoàng sau khi thống nhất thiên hạ các nước đã lên núi Thái Sơn để phong thiện tế cáo trời đất. Nên biết là núi Thái của thời kỳ này không phải là ở vùng Sơn Đông bên Tàu. Thái Sơn của thiên hạ họ Hùng là ngọn Côn Lôn, nơi vị Thái tổ Hùng Vương là Đế Minh đã khởi dựng cơ nghiệp hồng đồ. Dãy Côn Lôn này chính là dãy Hoàng Liên Sơn ở Bắc Việt, mà được ghi rõ ràng trong Ngọc phả Hùng Vương của đền Vân Luông (Việt Trì):
Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường, ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.
Sự kiện Thục Vương lên núi Nghĩa Lĩnh lập cột đá thề là việc Tần Thủy Hoàng phong thiện ở núi Thái Sơn. Cột đá thề của Tần Thục do đó khả dĩ nhất là nằm trong khu vực… bãi đá cổ Sa Pa ở gần đỉnh Phan Xi Phăng của dãy núi tổ Hoàng Liên. Bãi đá có khắc những hình ruộng bậc thang, vuông tròn này vốn là khu vực tế đàn của thời Hùng Vương, nên sẽ hợp lý nhất đó cũng là nơi phong thiện trên núi Thái của Tần Thủy Hoàng. Suy luận hơn nữa, cũng chính vùng núi Sa Pa này có các mộ của các vị vua Hùng mà “trời táng ở núi Côn Lôn” như Ngọc phả đã ghi.
Việc Tần diệt Chu hay Thục thay Hùng, thống nhất Trung Hoa, chuyển từ chế độ phong kiến phân quyền (thiên tử – chư hầu) sang phong kiến tập quyền trung ương (chế độ quận huyện), còn được truyền thuyết Việt kể dưới góc độ khác. Đó là chuyện Chín chúa tranh vua của người Tày ở Cao Bằng, khi mà Thục Phán đã đánh bại các chúa (các nước chư hầu) rồi thôn tính luôn nước Văn Lang.

Thạch SanhTượng Thạch Sanh thờ ở chùa Đống Lân ở TP Cao Bằng.

Liên hệ xa hơn nữa, cũng ở Cao Bằng, nơi xuất xứ của truyện Thạch Sanh, lấy công chúa rồi dùng niêu cơm tiếng đàn của mình dẹp tan quân sĩ của mười tám nước. “Thạch” hay Thổ là hành chỉ hướng Tây trong Ngũ hành, tương đương với Tây Thục, hay Tần. Truyện cổ tích Thạch Sanh ghi rõ: “Về sau vua không có con trai nên nhường ngôi cho Thạch Sanh“, tức là y chang truyện vùa Hùng 18 nhường ngôi cho Thục.
Thục Vương – Tần Vương – Thạch Sanh là một. Nhận định này thật khó tin, nhưng khó có gì hợp lý hơn khi so sánh những thông tin từ Ngọc phả Hùng Vương.

Thần núi Tam Đảo Lăng Thị Tiêu

Ngọc phả và thần tích về Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu kể về vị mẫu chúa tên là Thẩm, húy Nhược Cảm, xuất xứ ở vùng núi Tây Thiên. Vị mẫu này từng tập hợp quân đội, giúp vua Hùng dẹp giặc Thục, sau đó dựng các hành cung ở chân núi Tam Đảo, rồi hóa về trời. Quốc mẫu Tây Thiên đã được xác định là con gái bà Vụ Tiên trong truyền thuyết họ Hồng Bàng, là Mẫu Thượng Thiên trong Tứ phủ, là Tây Vương Mẫu trong Đạo Giáo, là Hậu Thổ Nguyên Quân, Cửu Thiên Huyền Nữ, bà Lụy Tổ nghề dâu tằm… Tuy nhiên ở Tam Đảo còn một truyền tích về nhân vật nữ tiên khác cũng từ núi Tây Thiên.

Dien mau Hoa Long.jpgĐiện thờ với Hoành phi “Tây Thiên thánh mẫu” tại chùa Hoa Long, Việt Trì.

Ngọc phả Hùng Vương (soạn bởi Nguyễn Cố thời Lê Đại Hành) lưu tại Phú Thọ kể, vào đời Hùng Chiêu Vương (đời Hùng Vương thứ bảy), vua Hùng lên núi Tam Đảo, đến ngôi chùa cổ tên là chùa Tây Thiên. Vua cho dựng đàn tràng, làm lễ bái yết, khấn lời cầu nguyện Hoàng Thiên cho các vị thần tiên giáng xuống cho được có dịp hạnh ngộ, thoả lòng mong ước…. Khi về đến dưới núi Vua gặp một mỹ nhân phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh cao, biết là thần tiên sai đưa tiên nữ đến cho mình. Vua đón về trở về thành Phong Đô, lập tiên nương làm vương phi chính nhất….
Chưa đầy năm Ngọc Tiêu mang thai, rồi sinh một con trai tư chất bẩm sinh thông minh, anh tài trác việt. Đến tuổi trưởng thành được vua cha lập làm Thái tử nối quốc thống…
Về sau, Vua cùng hoàng phi học được tiên thuật, hưởng nước được 200 năm, Vua truyền cho con lên ngôi trị vì. Vua thọ sánh ngang tuế nguyệt Kiều Bành, hoá sinh bất diệt.
Ở xã Dữu Lâu của Việt Trì, Phú Thọ, từng có đền thờ Lang Liêu và vợ là nàng Lăng Thị Tiêu với sự tích tương tự về việc Lang Liêu đi cầu được tiên ở núi Tam Đảo. Lang Liêu cũng là vị vua Hùng thứ 7 sau khi nối ngôi vua cha. Điện thờ mẫu Lăng Thị Tiêu còn có ở trong chùa Hoa Long tại phường Bến Gót ở Việt Trì.
Như vậy, vị tiên mẫu thứ hai xuất phát ở núi Tam Đảo là bà Ngọc Tiêu hay Lăng Thị Tiêu, lấy vua Hùng đời thứ 7 là Hùng Chiêu Vương hay Lang Liêu. Vị thánh mẫu này đã cùng vua Hùng học được tiên thuật, hóa sinh bất diệt nên được tôn thờ từ thời Hùng Vương. Rõ ràng đây là một nhân vật thần nữ khác so với Tây Thiên Quốc Mẫu được kể ở trên. Ngay sự tích được kể cũng cho biết, khi vua Hùng lên núi Tam Đảo thì nơi đây đã có một ngôi chùa cổ Tây Thiên.
Tại khu di tích Tây Thiên còn dấu vết của của việc vua Hùng cầu tiên là là chùa Phù Nghì. Chùa này tương truyền được xây trên nền Vọng Tiên đài, nơi Hùng Vương thứ 7 đã lập đàn cầu tiên.

IMG_2418.jpgBia ma nhai do Lê Khắc Phục lập khi lên cầu đảo ở núi Tam Đảo.

Sự tích khác liên quan đến vị thần nữ núi Tam Đảo là truyện Thanh sơn đại vương được chép trong Việt điện u linh. Truyện như sau:
Núi Tam Đảo là một danh sơn ở nước ta, dãy núi vòng quanh phương Bắc, dài tới nghìn dặm. Đời Lý, Trần trước có ghi tên núi vào trong tự điển, nhưng chưa được rõ rệt, sau gặp nhiều lần binh lửa nên bỏ mất. Đến đời vua Nhân Tông nhà Lê, trong hai năm Kỷ Tị và Canh Ngọ (1449 – 1450) bị đại hạn luôn, cầu đảo khắp các thần, đều không thấy mưa. Triều đình họp bàn: Tam Đảo là núi có tiếng mà sự thờ cúng lại quá chểnh mảng, nay nên cho lên sửa sang và tế lễ để cầu đảo. Vua liền sai soạn văn, phong thần núi là Thanh Sơn đại vương và cho lên làm lễ cầu mưa. Hôm ấy mây nổi, khắp trời tối trăm, sáng hôm sau mưa xuống như trút, rồi năm ấy được mùa. Từ ấy về sau, hễ gặp đại hạn, lên đền cầu mưa đều ứng nghiệm. Thần núi được tôn làm phúc thần một phương và núi được ghi vào tự điển từ đấy.
Dấu vết của việc cầu đảo này còn lưu trên là tấm bia ma nhai khắc trên vách đá ven suối có tên Bát Nhã tuyền do quan đại thần Lê Khắc Phục lập. 
Ngày nay, vị thần núi Tam Đảo này được lập thành một ngôi đền riêng, gần với đền Thượng Tây Thiên. Trong đền có tượng thần hình dáng một mỹ nhân tuyệt sắc.

IMG_6495Điện thờ Thanh Sơn đại vương ở Tây Thiên.

Câu đối ở điện thờ Thanh Sơn đại vương trên núi Tây Thiên:
Vạn cổ càn khôn hưng tái tạo
Cửu tiêu nhật nguyệt ánh trùng quang.
Đáng chú ý ở câu này dùng chữ “Cửu Tiêu”, chỉ chốn trời cao.
Với những thông tin về vị nữ thần chốn Cửu Tiêu, đẹp như một mỹ nhân này thì có thể nhận định: thần núi Tam Đảo chính là bà Ngọc Tiêu (Lăng Thị Tiêu), vị tiên nữ giáng trần người lấy vua Hùng thứ bảy trong Ngọc phả Hùng Vương ở Phú Thọ. Một số sự tích hiển linh khác ở Tây Thiên – Tam Đảo được kể như việc báo mộng cho Trần Nguyên Hãn về khởi nghĩa của Lê Lợi hẳn cũng thuộc về vị nữ thần này.
Hiện tượng ở một nơi nhưng có 2 vị thần thuộc 2 thời kỳ khác nhau là thường gặp trong tín ngưỡng thờ thần ở miền Bắc. Ví dụ, ở Sóc Sơn, trong khi vị thần thờ chính là Phù Đổng Thiên Vương (thánh Dóng), nhưng lại có thờ cả thần núi Vệ Linh là Na Tra thái tử. Sự tích kể Na Tra từng hiển linh trước giặc Tống trên sông Đà ở Thái Nguyên. Trong quần thể đền Dóng Sóc Sơn, có riêng đền Hạ là để thờ vị thần núi Sóc này.
Hay cũng ở núi Sóc còn có chuyện Tỳ Sa Môn thiên vương hiển linh trước nhà sư Khuông Việt. Trong đền Thượng Sóc Sơn ngoài Thánh Dóng được thờ chính còn có cả tượng thờ Na Tra thái tử và Tỳ Sa Môn thiên vương. Những chuyện này làm cho các nhận định về Thánh Dóng khá lẫn lôn, quy kết thành Tỳ Sa Môn thiên vương. Thực tế, Thánh Dóng vẫn là Thánh Dóng, còn cùng nơi đó có những vị thần khác hiển linh, tuy có liên quan, nhưng không phải là hình tượng gốc của Thánh Dóng.
Qua những tư liệu và di tích ở trên, có thể nhận định, ở Tây Thiên có 2 vị nữ thần được thờ phụng:
– Một là Tây Thiên quốc mẫu hay Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu, vị mẫu thời Hùng Vương thứ nhất, giúp vua Hùng dẹp giặc, dựng nước. Đây là vị quốc mẫu tối cao, chiếm nhiều ngôi vị quan trọng trong Đạo Mẫu và Đạo Giáo, cũng như các tín ngưỡng thờ tổ tiên của dân gian.
– Hai là Thanh Sơn đại vương Ngọc Tiêu (Lăng Thị Tiêu), người lấy Hùng Vương thứ 7, là vị thần núi Tam Đảo, thường được cầu đảo làm mưa và hiển ứng báo mộng qua các thời.
Câu đối ở đền Thỏng (Hữu thần cung), tại xã Đại Đình, Tam Đảo:
石路赴西天靈地存名仙降
高山豋扶議古臺記位母儀
Thạch lộ phó Tây Thiên, linh địa tồn danh tiên giáng
Cao sơn đăng Phù Nghị, cổ đài ký vị mẫu nghi.
Dịch:
Đường đá tới Tây Thiên, đất thiêng còn danh tiên hạ thế
Núi cao lên Phù Nghị, đài xưa ghi ngôi mẫu oai nghiêm.

Những mốc lịch sử thời Hùng Vương dựng nước

Các vua Hùng đã có công dựng nước“, câu nói của cụ Hồ bên đền Hùng là một đánh giá lịch sử chính xác. Nhưng lịch sử thời dựng nước của các vua Hùng tính từ lúc nào. 4000 năm lịch sử như cha ông ta từng lưu truyền? Hay 5000 năm ngang với Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa? Hay chỉ “vài ngàn năm” như hội thảo gần đây về thời Hùng Vương mới “kết luận”?…
Lịch sử dựng nước tính từ đâu phụ thuộc vào mốc tính, thế nào là “bắt đầu lịch sử”. Lịch sử hoàn toàn không phải bắt đầu từ khi có chữ viết vì không thiếu gì dân tộc cho tới tận ngày nay không hề có chữ viết riêng. Chả nhẽ họ cũng bị coi là không có “lịch sử”?
Lịch sử được tính bằng những mốc, những nấc thang phát triển của thể chế xã hội. Đối với người Việt, những nấc thang lịch sử ban đầu đích thực là do các vua Hùng đã gây dựng nên. Những cuốn ngọc phả Hùng Vương còn lưu truyền lại cho tới ngày nay cung cấp chính xác những mốc phát triển của xã hội Việt thời dựng nước.

Mốc lịch sử Việt thứ nhất: Thủ lĩnh cộng đồng
Mốc lịch sử đầu tiên của người Việt được đánh dấu bằng Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Ngọc phả đền Hùng Phú Thọ gọi ông là Thái tổ Đế Minh. Hàng loạt di tích ở Thanh Ba, Phù Ninh, Phú Thọ thờ vị Thái tổ Hùng Vương này.

Den Thai to
Đền Thái Tổ ở Trạm Thản, Phù Ninh, Phú Thọ.

Vị vua Hùng đầu tiên, đứng đầu 18 đời Hùng Vương là Đế Minh, được các nơi thờ dưới tên Đột Ngột Cao Sơn, hay tên đầy đủ như trong Ngọc phả đền Vân Luông là Thánh tổ Hùng Vương Nam Thiên thượng thánh Tiền hoàng đế khai quốc hồng đồ Đột Ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương.
Từ “đột ngột” hiểu nôm na là “bất ngờ xuất hiện”, cũng nghĩa là trước đó chưa có ai, chỉ vị vua đầu tiên. Rõ ràng chỉ có Đế Minh mới thích hợp ở vị trí “tiền hoàng đế khai quốc” này.
Ngọc phả đền Vân Luông còn cho biết: Đế Minh chính thống vạn bang chư hầu thiên hạ. Đế Minh như thế là người đã khai thống toàn thiên hạ, ngang với thời “Hoàng Đế mở muôn nước“, tức là cách đây khoảng 5000 năm. Bắt đầu từ Đế Minh xã hội Việt đã có vua, có thủ lĩnh cộng đồng. Bước tiến lịch sử đầu tiên của người Việt phải tính từ Thái tổ Hùng Vương 5000 năm. Tên gọi cho thời kỳ này là kỷ Hồng Bàng.

IMG_0394.JPG
Hùng Vương miếu ở Đình Chu, Lập Thạch, Phú Thọ, nơi thờ Đột Ngột Cao Sơn.

Câu đối ở đền Hùng về mốc lịch sử đầu tiên này:
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Dịch:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Mốc lịch sử Việt thứ hai: Chế độ thế tập
Sau Đế Minh, mặc dù đã có thủ lĩnh của cộng đồng thiên hạ vạn bang nhưng chế độ vẫn đang là truyền hiền. Cụ thể là chuyện 2 vị công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung được gả cho Sơn Tinh, dẫn đến vị hiền tế phò mã này được tiếp ngôi chính thống. Vế đối còn lưu ở đền Nhà Bà, Tiên Du, Phú Thọ nơi thờ 2 vị công chúa này ghi:
Quân do Bạch Hạc lai phò, Nam Việt vạn bang xưng nữ kiệt
Dịch:
Chúa đến giúp từ Bạch Hạc, Nam Việt muôn bang gọi gái tài.

Nha Ba
Vế đối đền Nhà Bà ở Tiên Du, Phù Ninh, Phú Thọ.

Những dấu vết khác của thời kỳ truyền hiền còn thấy ở Phú Thọ như lầu kén rể bên bến Việt Trì, hay tục rước chúa gái của 2 làng Vi Trẹo dưới chân núi Hùng.
Thời kỳ truyền hiền kết thúc bởi sự kiện Lạc Long Quân kế vị Kinh Dương Vương, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Chế độ thế tập xuất hiện ở thời điểm này cách nay khoảng 4000 năm. Đây chính là mốc lịch sử trước đây thường được nhắc tới, gắn liền với tên tuổi của “cha” Lạc Long Quân. Tên gọi thời kỳ này là Xích Quỷ hoặc Việt Thường.

Tam quan
Nghi môn đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình.

Câu đối ở đền Đồng Bằng, nơi thờ vua cha Bát Hải Động Đình (tức Lạc Long Quân):
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.

Mốc lịch sử Việt thứ ba: Chế độ phong kiến
Thời kỳ bộ lạc thế tập, gọi vua là cha (“phụ”), kéo khá dài như chuyện nàng Âu Cơ mang nặng đẻ đau sinh ra bào ngọc trăm trứng… Phải đến khi xuất hiện Hùng Quốc Vương, người con trưởng đích trong trăm trai, với kỳ công hiệu triệu chư hầu, tiêu diệt nhà Ân Thương, thì xã hội Việt mới tiến lên một bước quan trọng.
Ngọc phả Hùng Vương kể: Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn… Bấy giờ Vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương.
Bắt đầu từ Hùng Quốc Vương bờ cõi đất đai trong thiên hạ được chia phân thành các chư hầu phiên dậu bình phong. Mỗi chư hầu có người chủ trì gọi là “phụ đạo” và chức chư hầu này được thế tập nối nhau. Vua xưng là thiên tử. Đặt ra lễ chễ trăm quan. Nhân dân được định tộc họ. Những vị tiên tổ có công lao được phong làm thần mà thờ phụng.

IMG_8547.JPG
Đình Hương Trầm, Việt Trì, nơi có sự tích thờ Lang Liêu.

Đây cũng là thời điểm đời Hùng thứ 6 với vị Lang Liêu, người có công hoàn tác Dịch học âm dương vuông tròn, khai mở lễ tiết (Tết). Truyện Bánh chưng bánh dày kể rõ, Lang Liêu nối ngôi đã phân chia cho các anh em làm phiên dậu bình phong…
Bản chất là xã hội Việt lúc này bước sang chế độ phong tước kiến địa hay chế độ phong kiến điển hình. Vua Hùng đứng đầu Bách Việt (là tổ của Bách Việt), vì mỗi “Việt” là một chư hầu trong thiên hạ họ Hùng. Thời điểm của mốc lịch sử này được ghi nhận sau khi Hùng Vương thứ 6 đánh thắng giặc Ân, tức vào quãng hơn 3000 năm trước. Tên gọi đất nước của Lang Liêu thì như đã rõ, là Văn Lang.

IMG_8595.JPG
Đình Bảo Đà, Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ.

Câu đối ở đình Bảo Đà tại Việt Trì:
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Mốc lịch sử Việt thứ tư: Quốc gia thống nhất
Mô hình Thiên tử – Chư hầu, vua Hùng – Bách Việt kéo dài qua các thời kỳ thịnh rồi suy, dẫn tới xung đột khốc liệt giữa các chư hầu. Để rồi nổi lên 1 chư hầu lớn thôn tính toàn bộ các chư hầu khác là Thục An Dương Vương như trong truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày. Vị vua đã thống nhất các nước chư hầu đến từ phía Tây – Thục này chính là nhà Tần. Truyền thuyết chép vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán.
Tuy nhiên, với sự tàn ác của Tần đế, truyền thuyết Việt không chấp nhận vai trò thống nhất thiên hạ của nhà Thục. Người được coi người khởi thủy nước Nam lại là Vũ Đế Triệu Đà. Xét kỹ thì với vai trò là bố của Trọng Thủy, Triệu Đà cũng chính là vua Tần, người đã diệt con cháu hậu duệ của Hùng Quốc Vương Lang Liêu.
Mặt khác, Triệu Đà thứ hai là Lưu Bang Hiếu Cao Tổ, người Tuấn kiệt đã lãnh đạo dân Việt kháng Tần thắng lợi, lập nên một triều đại Hảo Hán (Hiếu Hán), thống nhất. Chế độ quận huyện từ trung ương xuống địa phương được áp dụng trên toàn lãnh thổ. Xã hội Việt bước vào giai đoạn quốc gia thống nhất.
Thời điểm cho mốc thống nhất toàn lãnh thổ hay phong kiến tập quyền này rơi vào quãng năm 256 TCN (thời điểm Tần diệt Chu) hoặc 207 TCN (thời điểm Lưu Bang diệt Tần), tức là cách nay trên 2200 năm.
Câu đối ở điện Hưng Long, nơi thờ Triệu Vũ Đế tại Xuân Quan, Hưng Yên:
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch:
Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.

Từ thời điểm này xã hội người Việt đã thống nhất chế độ, thống nhất lãnh thổ nên lịch sử Việt chấm dứt thời Hùng Vương dựng nước, bước sai thời kỳ con cháu “giữ lấy nước”. Hơn 3000 năm dựng nước đầy gian nan, từng bước, từng bước một cha ông đổ mồ hôi nước mắt mới có được những thành tựu to lớn để lại cho con cháu. Đọc lại ngọc phả Hùng Vương xin chớ quên câu Uống nước nhớ nguồn.

 

 

 

 

 

Sự sinh thành Bách Việt qua Ngọc phả Hùng Vương

Bài viết trong Tọa đàm TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT do Trung tâm Minh triết và Trung tâm Lý học phương Đông tổ chức ngày 7/9/2019.

Thời đại Hùng Vương được biết tới trong các ngọc phả, thần tích và truyền thuyết nên việc nghiên cứu về thời kỳ dựng nước của vua Hùng không thể không khảo sát một cách đầy đủ các ghi chép này. Ngọc phả Hùng vương là bản văn được những người có tâm đủ tầm thu thập trong dân gian và biên tập lại để lưu truyền. Đây là trường hợp đặc biệt của Việt Nam sau cả ngàn năm mất nước tức thời kỳ đứt đoạn không liên thông với quá khứ, Ngọc phả là những thông tin cô đọng, khách quan nhất mà tổ tiên người Việt muốn truyền đạt lại cho thế hệ sau.
Với sự trân trọng yêu quý vô cùng quá khứ gian khó mà tiền nhân đã trải qua, trong thời văn minh hiện đại chỉ với chút thông tin lịch sử lưu truyền quý giá ngày nay có thể so chiếu với nhiều thành tựu trong những lĩnh vực khoa học liên quan mà hiệu chỉnh. Rồi đây chắc chắn có ngày con cháu sẽ có được bộ sử chân xác của nòi giống.
Bản Ngọc phả Hùng Vương có ký hiệu R.285 do GS. Ngô Đức Thọ nộp lưu tại Thư viện quốc gia có tựa đề: Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế ký truyn ngọc phổ cổ tích lưu lai. Dịch là: Tích xưa lưu lại của Ngọc phả chép truyền Tiền Thái tổ Cao Hoàng đế Hùng Vương Sơn Thánh tổ nước Đại Nam.
Đây là một bản sao của cuốn Ngọc phả được lưu ở đền Hùng, soạn bởi Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố vào năm Hồng Đức thứ nhất (1470). Ngay trang đầu tiên của Ngọc phả đã đề đôi câu đối tương truyền của chúa Trịnh viết:
Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục ngâm thi.
Dịch:
Hỏi chuyện đã qua nên đọc sử
Tinh tường như vẽ muốn ngâm thơ.
Ý của câu đối rất rõ, bản Ngọc phả này chính là “sử”, muốn biết về quá khứ người Việt thì phải đọc cuốn “sử” này, mọi chi tiết đều tinh tường cả.

van-lai.png

Ngọc phả Hùng vương kể, sau khi Lạc Long Quân (gọi là Hiền Vương) lấy nàng Âu Cơ đã sinh ra một bào ngọc, được đặt trên mâm vàng tại núi Thứu Lĩnh. Lúc bào thai nở thành một trăm người con trai có Tứ đại Thiên vương hóa gió mưa sấm chớp tới bảo hộ. Khi các hoàng tử lớn lên lại được Bát bộ Kim cương các thần tướng tới giúp, tặng cho các bảo vật. Trăm hoàng tử đều có thần tài thánh trí. Các quan triều đình lúc ấy cũng không ai có thể phân biệt được người anh minh quyết đoán hơn, khó đặt được danh thần tên xưng. Nhà vua bèn lập đàn cầu trời thì được ứng nghiệm, có một lão tiên ông giáng hạ ở bến sông Việt Trì.
Vua hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Lão ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốn đặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần âm dương, gọi tên các phép tiên…
Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai.
Nhờ cuốn Thiên thư (Sách trời) này mà Vua đã xác định được vị hoàng tử trưởng, lập làm thái tử. Còn lại 99 người anh em đều được đặt tên xưng danh là các vị Lang.
Xem tới đây ta mới hiểu ý nghĩa của “Thiên thư” – Sách trời trong cổ văn xưa. Sách trời phân định ở đây không phải là sách sử của Trung Quốc như vẫn nghĩ. Một đôi câu đối tại đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh nói về Thiên thư và Bách Việt:
天書定分正統肇明都百粵山河知有祖
光岳協靈故宮成萃廟三江襟帶尚朝尊
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.
Dịch:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Theo Ngọc phả Hùng Vương, sau khi sắp đặt xong việc đặt tên cho các hoàng tử, Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Bắc, ba là Sơn Nam, bốn là Hải Dương, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Lạng Sơn Cao Bằng, mười ba là Quảng Đông Quảng Tây, mười bốn là núi Ngũ Lĩnh Vân Nam, mười lăm là Chiêm Thành, bộ chủ các xứ.
Nước 15 bộ, là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Trinh, Nhật Nam, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang.
Thông tin về cương vực quốc gia lúc này thật đặc biệt. Phạm vi quốc gia gồm 15 xứ, trong đó ngoài những khu vực ở miền Bắc (Sơn Tây, Sơn Bắc, Sơn Nam, Hải Dương, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng Lạng Sơn) và Bắc Việt (Ái Châu, Hoan Châu, Bố Chính, Ô Châu) ngày nay, lại còn có các vùng phụ thuộc:

  • Quảng Đông Quảng Tây
  • Ngũ Lĩnh Vân Nam
  • Ai Lao
  • Chiêm Thành.

Như thế cương vực quốc gia lúc này đã bao trùm toàn cõi Đông Nam Á (Ai Lao, Chiêm Thành) và kể cả vùng phía Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây). Dễ nhận thấy cương vực trên cũng trùng khớp với phạm vi bắt gặp của trống đồng thời Đông Sơn. Trống đồng là bằng chứng rõ ràng về một quốc gia tập hợp nhiều khu vực, đều do Hùng Vương làm chủ.
Ngọc phả Hùng Vương kể tiếp:
Vua mới phân định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu quý, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc…
Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc. Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng. Các vương tử gọi là Quan Lang. Các vương nữ gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính.
Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng… Đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Đó là thuỷ tổ của Bách Việt.
Ngọc phả Hùng Vương cũng như Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái đều nói rõ, trăm người con trai Hùng Vương ấy là thủy tổ của trăm giống Việt – Bách Việt. Bách Việt theo đó chia làm 2 dòng. Một dòng 50 người con theo cha về biển làm Thủy Tinh. Một dòng 50 người con theo mẹ về núi là Sơn Tinh. Điều này rất quan trọng khi xét nền văn hóa khảo cổ thời kỳ này ta thấy có 2 dòng văn hóa song song. Một là văn hóa đồ đồng đỉnh vạc, với đặc trưng trang trí Rồng của vùng phía Đông Bắc. Hai là văn hóa trống đồng, với họa tiết Chim là chủ đạo, của khu vực Tây Nam.
Ngọc phả Hùng Vương kể tiếp:
Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn…
Bấy giờ Vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương.
[Nguyên văn: Truy ân tiền liệt thổ phân đệ, nãi lập các bộ, Sơn tinh Thủy tinh, định vi tộc, cải vi bách tính, xưng vi bách quan, hiệu phong bách thần, phân liệt sơn đầu hải giác, hùng cứ nhất phương]

nhat-nguyet-tinh-than.png
Tiếp theo:
50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù mà truyền dẫn. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ đất đai, xác định cương giới. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Người chủ gọi là Bô (bố), bố gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ theo phụ giúp, khi đó đều là những người tài giỏi. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Các họ tông của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời coi giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, giữ mãi phương Nam.
Đoạn Ngọc phả này cho những thông tin cực kỳ quan trọng về thiên hạ Bách Việt từ Hùng Quốc Vương:

  • Cương vực của Bách Việt được chia phân thành các cõi, là các vùng đất ”bình phong”, chư hầu phiên thuộc. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Các vùng đất này được giao cho các anh em của Hùng Vương, các họ tông của các công thần khai quốc. Vùng nhỏ hơn thì cho các quan lang, thổ tù cai quản. Áp dụng hình thức thế tập cha truyền con nối để cai trị qua các đời. Nói cách khác đây chính là lúc bắt đầu hình thức phong tước kiến địa hay khởi đầu chế độ phong kiến trong lịch sử nước ta.
  • Vua Hùng ”định làm các tộc, đổi làm trăm họ”. Như vậy, cùng với việc đặt tên cho trăm hoàng tử, việc xác lập các dòng tộc và đặt họ theo cha cũng bắt đầu từ lúc này. Người Việt có trăm họ cũng là từ đây.
  • Vua Hùng ”đặt ra chức vụ trăm quan”. Tức là chế độ triều đình, lễ chế nhà nước được thiết lập, với hệ thống quan lại đầy đủ.
  • Vua Hùng ”phong tên cho trăm thần”. Cùng với thể chế triều đình, chư hầu, thời kỳ này còn khởi lập tín ngưỡng chính thức, xác lập những người có công, có đức mà phong làm thần để thờ phụng.

Ngọc phả Hùng Vương là bộ sử tóm tắt về thời kỳ dựng nước của người Việt. Những thông tin tiền nhân người Việt ghi nhận rõ ràng trong sử và sách lưu truyền lại đã xác định: Vào khoảng giữa thời kỳ Hùng Vương, nước ta đã bước sang chế độ phong kiến với mô hình vua Hùng làm chủ cả thiên hạ trăm cõi núi sông cùng hàng trăm các chư hầu phụ thuộc làm phiên dậu bình phong. Chế độ thế tập cha truyền con nối được áp dụng ở chính quyền trung ương cũng như ở các xứ chư hầu. Triều đình được tổ chức quy củ, có lễ nhạc với hệ thống trăm quan hoàn chỉnh. Nhân dân được đặt tên trăm họ. Xã hội được xác lập về tư tưởng – tín ngưỡng bởi tục thờ cúng tổ tiên. Cũng từ đó mà thiên hạ thái bình thịnh vượng. Đất đai Bách Việt bao trùm Đông Nam Á và Hoa Nam.
Thay cho lời kết, xin đọc đôi câu đối ở đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ:
數千年王佐始終父子君臣開拯點
十五部天分草埜山河日月共長存
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.
Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.