Nước Sùng và Tản Viên Sơn Thánh

Thông tin về nước Sùng, một nước thời Tam Đại Trung Hoa, theo wikipedia:

Tương truyền vào thời Hạ, cha của vua Vũ là Cổn được phong là Sùng Bá đã lập nên thành trì nước Sùng, sau khi Cổn bị giết thì đất ấy từ đó liên tục không có vua.

Nước Sùng thời Ân Thương dời đô sang chỗ khác… Quốc quân nước này trong giáp cốt văn được gọi là “Tông hầu”, người trong họ từng giữ chức khuyển quan nên gọi là “khuyển tông”… Dưới thời Đế Tân, Sùng Hầu Hổ mật báo việc Chu Văn Vương mưu đồ tạo phản với vương thất nhà Thương. Văn Vương về sau liền khởi binh diệt luôn nước Sùng, lấy đô thành của nước này dựng nên Phong Kinh. 

Theo đó, nước Sùng trong thư tịch cổ là:

– Nơi Đại Vũ trị thủy, tức là kinh đô Trung Hoa thời Hạ Vũ.

Nơi đóng đô của Sùng Hầu Hổ, Bắc Bá Hầu dưới thời Ân Trụ Vương. Tông hầu nghĩa là nước của “tổ tông” Trung Hoa, tức còn là đất gốc từ thời Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn.

Là Phong kinh của thời Chu Văn Vương.

Các học giả Tàu hiện lúng túng không biết nước Sùng như thế thì nằm ở đâu, đành đưa ra lý thuyết… nước này có chân, chạy từ nơi này sang nơi khác… vì nhà Hạ họ xác định đâu đó quãng Sơn Tây – Hà Bắc, Phong kinh của nhà Chu lại ở Thiểm Tây, cách nhau một giời một vực, làm sao ra thành một địa điểm được?

Thời Hạ Vũ, nước lũ ngập trời… Vậy làm sao chỗ nước ngập trời ấy lại ở vùng sa mạc Thiểm Tây?

Những ghi chép về nước Sùng thời Tam Đại đã cho thấy… định vị Hạ Thương Chu của sử Tàu hiện nay là sai hoàn toàn. Sự thực nước Sùng không hề nằm ở lưu vực sông Hoàng Hà nên tìm khắp ở đó không có chỗ nào đáp ứng được những mô tả của cổ thư về nước này.

Để xác định vị trí nước Sùng, trước tiên xin xem thiên Vũ Cống của Kinh Thư có câu: “Dẫn nước sông Hắc Thủy đến núi Tam Nguy rồi ra biển Nam Hải”.

Sông Hắc Thủy đổ ra biển Nam Hải, nơi Đại Vũ khơi dòng trị thủy, thì không thể ở tận bên Hoàng Hà được. Hắc Thủy thực ra là tên của sông Đà (sông Đen), tới ngày nay vẫn còn lưu tên. Nhà thơ Tản Đà, quê hương và bút danh ở vùng núi Tản sông Đà có bài thơ Tự thuật như sau, minh chứng cho tên Hắc Thủy của sông Đà:

Văn chương thời nôm na,
Thú chơi có sơn hà,
Ba Vì ở trước mặt,
Hắc Giang bên cạnh nhà. 

Chạm khắc cá hóa long đình Tây Đằng.

Sông Đà cũng là nơi “cá vượt Vũ Môn hóa rồng” vì Vũ Môn hay Long Môn là khu vực Thác Bờ hiểm trở trước đây của dòng sông này. Đại Nam nhất thống chí ghi“Ở địa phận Đà Bắc, gần châu lị, đằng trước trông ra sông Đà, có núi Long Môn, tên nữa là núi Thác Bờ, đá núi chắn ngang nửa dòng sông, thế nước xoáy mạnh ầm ầm, trông rất dữ dội”…

Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn thì ghi: “… Núi Ngải, ngó xuống sông Đà. Bờ bên kia là xứ Ngòi Lạt. Tương truyền trên núi có thứ cây ngải tiên, về mùa xuân hoa trôi xuống sông, đàn cá nào hớp được là lên được Long Môn hóa rồng.” 

Long Môn là nơi vua Vũ đã  đục thông lòng sông, khơi dòng dẫn nước qua Tam Nguy về Nam Hải, là ở đoạn sông Đà chảy qua Thác Bờ nay ở tỉnh Hòa Bình, rồi qua núi Ba Vì mà chảy vào sông Nhị Hà ra biển.Như vậy khu vực nước Sùng, nơi 2 vị Cổn và Vũ lao tâm khổ tứ hàng chục năm trời trị thủy cũng chính là vùng sông nước mêng manh thời cổ này ở đồng bằng miền Bắc Việt. Vị vua trị thủy bên dòng sông Đà thì không còn ai khác ngoài Tản Viên Sơn Thánh. Sơn Thánh chính là Đại Vũ trong cổ sử Trung Hoa.

Câu ca dao Việt:

Mồng bốn cá đi ăn thề

Mồng tám cá về cá vượt Vũ Môn.

Theo Hà thư thì số 4 là con số chỉ hướng Tây, số 8 là chỉ hướng Đông. Cá tụ họp ăn thề đi từ hướng Tây sang hướng Đông, theo sông Đà vượt qua Vũ Môn ở Thác Bờ mà hóa Rồng ở vùng sông Nhị (đền Và) rồi ra biển. 

Ban văn võ ở đền Và và hoành phi Nam Thiên thánh tổ.

Cá thuộc về hành Thủy (nước). Rồng thuộc về hành Mộc. Thủy sinh Mộc là một giai đoạn trong Ngũ hành tương sinh, nói về sự phát triển từ những nền tảng vật chất (hành Thủy) mà đạt được sự thăng hoa trong xã hội (hành Mộc). Đại Vũ Sơn Tinh thật sự là “cá hóa rồng” khi khơi dòng Hắc Thủy, rồi lên làm chủ thiên hạ họ Hùng người Việt.

Thư tịch cổ cho thông tin hết sức quan trọng. Cha của Đại Vũ là Cổn, là thủ lĩnh vùng đất Sùng. Do vậy, nước Sùng của Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương cũng chính là nơi Đại Vũ trị thủy, tức là miền Bắc Việt ngày nay. Hình ảnh Tản Viên Sơn Thánh trong truyền thuyết Việt bao gồm những sự tích của cả thời Đại Vũ trị thủy và Sùng Hầu Hổ thời Ân Thương. 

Nước Sùng còn in dấu ấn trong sử Việt với tên Sùng Lãm của cha Lạc Long Quân. Còn ở Bình Đà, nơi thờ Lạc Long Quân thì có ghi chép 4 đời chúa họ Sùng có là Sùng Nghiêm, Sùng Quyền, Sùng Huề và Sùng Lãm. Lạc Long Quân được coi là người khởi đầu triều Hùng nên các chúa họ Sùng sau đó cũng thuộc về các đời Hùng Vương, mà Hùng triều kết thúc bằng sự kiện Thục Vương đánh Hùng Duệ Vương. 

Sùng Công còn là một trong Tam vị Tản Viên Sơn Thánh. Vị Tả kiên thần Cao Sơn của Thánh Tản có tên là Nguyễn Sùng. Đây hẳn cũng là một vị chúa họ Sùng đã cùng Sùng Hầu Hổ chống giặc Thục. 

Câu chuyện Sơn Thánh đánh Thục trong sử Việt là việc Sùng Hầu Hổ chống lại Chu Văn Vương, mà kết thúc là Văn Vương chiếm được đất Sùng, lập Phong kinh ở đó. Truyền thuyết Việt kể thành Thục Vương được vua Hùng nhường ngôi liền về Phong Châu đóng đô, lập đền miếu thờ các vua Hùng. Nước Sùng – Phong Châu chính là đất gốc tổ của Trung Hoa, mà giáp cốt văn gọi là “Tông hầu”, là nơi khởi phát của dòng họ Hùng từ thời Đế Minh Hữu Hùng Hoàng Đế Hiên Viên thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ.

Dòng họ Hùng truyền qua thời Nghiêu Thuấn, qua thời Hạ từ Đại Vũ, rồi Thương Ân, được ngọc phả Hùng Vương chép là 18 đời vua Hùng. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất tổ họ Hùng và được kể dưới tên Sơn Thánh trong cuộc chiến chống Thục Vương (Chu Văn Vương). Kinh đô của nước Sùng thời Sùng Hầu Hổ có thể là vùng xứ Đoài Sơn Tây, nơi có dày đặc các di tích thờ Sơn Thánh, có cả cung điện thiết triều của Sơn Thánh như đền Và. Ở đây Sơn Thánh đã hóa thành một vị thần bất tử, đứng đầu linh thần trong Việt điện, cũng bởi vì vị trí thiêng liêng của mảnh đất Sùng đối với dòng giống Việt.

Đất Sùng là đất gốc tổ “Tông hầu” nơi Thái tổ Đế Minh mở nước bên dãy Thái Sơn, Đế Thuấn đi cày ở Lịch Sơn, Đại Vũ trị thủy ở Long Môn núi Tản, Sơn Thánh Sùng Hầu phò giúp Duệ Vương, cũng là nơi Thục Vương Cơ Xương khởi đầu nước Văn Lang trên vùng Tây Thổ Phong Châu.

Tục cúng xá tội vong nhân, một đạo lý từ thời Hùng Vương

Từ bao đời nay, cứ vào đầu tháng Bảy người Việt lại có tục cúng ngày Xá tội vong nhân. Theo quan niệm dân gian vào ngày 2/7 âm lịch hằng năm, Diêm Vương mở cửa Quỷ Môn Quan để cô hồn dạ quỷ được trở về nhân gian. Rồi đến ngày rằm tháng 7 âm lịch, ma quỷ sẽ bị gọi trở lại địa ngục. Đây được coi là ngày “âm khí xung thiên”, nên người ở trần gian sẽ phải cúng cháo, gạo hay muối cho các vong linh, gọi là cúng cô hồn… Nguồn gốc của lệ tục này bắt đầu từ khi nào và liệu có liên quan gì đến lịch sử của người Việt?

Trong kho tàng huyền sử Việt có một câu chuyện vô cùng kỳ dị nói tới Diêm Vương và các hồn ma bóng quỷ. Đó là Truyện Giếng Việt, bắt đầu như sau:

Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua Địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.”

Truyện Giếng Việt cung cấp một thông tin hết sức quan trọng, Ân Vương chết biến thành vua Địa phủ. Như thế, vua Ân chính là Diêm Vương, người cho mở Quỷ Môn Quan thả các vong hồn lên Dương thế vào tháng 7 hàng năm. Tục cúng cô hồn vào tháng 7 do đó liên quan tới cái chết của vua Ân trong cuộc chiến với Phù Đổng Thiên Vương.

Truyện Giếng Việt kể tiếp, đến đời Tần, có quan Ngự sử là Thôi Vĩ đã cho trùng tu lại miếu Ân Vương. Con trai của Thôi Vĩ là Thôi Lượng, sau đó đã đi lạc đường trên núi Trâu Sơn, đến được Ân Vương Thành và gặp mặt Ân Hậu. Ân Hậu tiếp đãi Thôi Vĩ một cách ân cần rồi cho Dương Quan dẫn Thôi Vĩ về. Sau đó Dương Quan nhân biến thành một con dê đá, đứng sau đền Việt Vương trên núi Trâu.

Núi Trâu Sơn nay thuộc địa phận huyện Quế Võ. Trên núi từng có đền thờ Ân Vương rất cổ xưa. Con “dê đá” ở đền Ân Vương là một bức tượng hình nửa thân của một con linh thú kỳ dị nằm trên núi ở thôn Cựu Tự thuộc xã Ngọc Xá. Bức tượng thú bằng đá sa thạch, rất lớn, cao khoảng hơn 1,5m, khắc hình con thú có cổ dài, thân có vảy như rồng, có 2 sừng cong như sừng dê, nhưng lại có mỏ như mỏ phượng và trên thân có 2 cánh và có chân.

Phi LiemTượng Phi Liêm ở thôn Cựu Tự trên núi Trâu Sơn.

Đây là tượng con thần thú Phi Liêm, loại thú kết hợp giữa Rồng và Phượng. Dạng tượng Phi Liêm bằng đá lớn như thế này thường được thấy từ thời Tần Hán, đặt cạnh các lăng mộ hay miếu thờ các vương tôn quý tộc. Phi Liêm cũng là tên một vị trọng thần của vua Ân trong Phong thần diễn nghĩa. Thần thú Phi Liêm là tiền thân cho hình tượng Thiên Lộc, Tỳ Hưu, những linh vật cát tường phổ biến về sau này.

Truyện Giếng Việt còn kể, Ân Vương đã sai vị Ma Cô Tiên đến trao cho Thôi Lượng thuốc ngải chuyên chữa bệnh u bướu và ban cho một người con gái để kết làm vợ, lại ban cho một viên ngọc Long Tụy, trong cặp ngọc báu thư hùng mà vua Ân mang theo người khi chết ở Trâu Sơn. Ma Cô Tiên được biết là một vị thọ thần và phúc thần trong văn hóa phương Đông, là từ câu chuyện Giếng Việt này.

Vùng núi Trâu Sơn nay còn có một ngôi chùa cổ khá lớn mang tên chùa Ma Cô Tiên, nằm ở thôn Châu Cầu, xã Châu Phong. Chùa còn lưu được nhiều bia ký từ thời Lê, nhưng đặc biệt các chữ Ma có trên bia đều bị đục bỏ. Rải rác ở các thôn quanh núi Trâu như ở Phùng Dị, Hữu Bằng có những ngôi miếu nhỏ thờ Ma Cô Tiên.

IMG_4000

Tượng Ma Cô Tiên ở Phùng Dị, xã Ngọc Xá.

Liên quan đến các âm hồn tác quái, truyền thuyết Việt còn có truyện Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, thành cứ xây lại đổ. Vua chay giới cầu đảo, thì có Rùa Vàng hiện lên xưng là sứ giả Thanh Giang. Thanh sứ cho biết, đây là bởi vong hồn của Vương tử đời trước báo thù. Vong hồn này ẩn náu trong núi, cùng với yêu quái nguyên là tinh con gà trắng (Bạch Kê Tinh) hóa thành ở quán Ma Lôi bên núi, tụ tập gây hại. An Dương Vương cùng thần Kim Qui đi đánh yêu quái, bắt được Bạch Kê Tinh đem giết đi.

Ở núi Thất Diệu, nay thuộc khu vực xã Yên Phụ, Yên Phong, Bắc Ninh, có ngôi miếu Bạch Kê, trong đó thờ một vị “Mẫu Nghi Thiên Hạ” gọi là Mẫu Bạch Kê. Cùng trên núi đó có đình làng Yên Phụ và ngôi đền Núi cùng thờ đức Vua Bà Ma Vương. Ở đây còn có một cái ao được gọi là Giếng Cô Tiên, gắn với truyền thuyết Bạch Kê và việc xây thành Cổ Loa.

Từ những di tích tín ngưỡng ở núi Yên Phụ có thể thấy Bạch Kê Tinh ở Cổ Loa chính là Ma Cô Tiên, một phi nhân của Ân Vương hay của “Vương tử đời trước” đã báo oán Thục Vương khi xây thành. Làng Ma Lôi có quỷ tinh gà trắng hiện hình vào người con gái chủ quán cũng chính là nói đến vị Ma Cô Tiên.

Truyền thuyết kể, An Dương Vương sau khi diệt được Bạch Kê Tinh liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt, đốt tan thành tro đem đổ xuống dòng sông. Xương người chết xưa kia chất đầy trong núi, tạo nên oan khí vô cùng, nên mới hình tượng thành Ma Cô Tiên – Bạch Kê Tinh gây hại. Những địa danh như ngã ba Sọ, chợ Chờ, đò Lo ở vùng Yên Phong cũng gắn nỗi ám ảnh của người dân xưa kia khi phải đi qua vùng núi này.

Lịch sử Trung Hoa kể, khi bị quân đội của Vũ Vương nhà Chu, cầm đầu bởi đại tướng là Khương Tử Nha tấn công vào kinh đô Triều Ca, Ân Trụ Vương đã đốt cháy Lộc Đài và nhảy vào biển lửa tự vẫn, chấm dứt thời kỳ nhà Ân Thương kéo dài khoảng 600 năm và đồng thời chấm dứt cuộc chiến giành giật thiên hạ hàng chục năm giữa 2 nhà Ân và Chu với bao nhiêu đổ máu cho cả 2 bên.

Kết thúc cuộc chiến này, các tướng lĩnh đã hy sinh của cả 2 bên đã được vào đưa vào bảng phong thần, trở thành các vị thần có thờ tự. Còn bao nhiêu sinh linh đã thiệt mạng trong cuộc chiến, mà bi thảm nhất chính là cái chết của Trụ Vương, thì được cúng tế trong tục cúng cô hồn. Ngày cúng cô hồn là ngày kinh thành của Ân Vương thất thủ, nước mất, nhà vong.

Tháng 7 là tháng đầu mùa thu theo Âm lịch. Thục Vương hay Chu Vương là thủ lĩnh khu vực phía Tây thiên hạ, lấy mùa thu làm tháng biểu tượng cho triều đại. Khởi đầu mùa thu cũng nghĩa là khởi đầu triều đại phía Tây của nhà Thục hay nhà Chu trong lịch sử.

Cúng cô hồn tháng Bảy hàng năm thực chất là ngày cầu siêu cho nhân dân đói khổ vì chiến tranh loạn lạc, binh sĩ nơi sa trường, đã chết trong cuộc chiến khốc liệt giữa nhà Chu và nhà Ân hay Thục Vương và Hùng Vương của 3000 năm trước. Cũng vì lẽ đó mà nó được gọi là ngày xá tội vong nhân. Sau chiến tranh, những tử sĩ dù là của bên nào cũng đều được xá tội, được hương khói cho siêu thoát các vong hồn. Việc xá tội cho cả kẻ thù bên kia chiến tuyến để có được lòng người, có được sự đại đoàn kết của toàn dân là cái đức của người làm vua, là thiên mệnh giúp quốc gia bền vững. Thiên hạ đại xá để bắt đầu một triều đại mới.

Xã hội phương Đông phát triển từ chế độ chiếm hữu nô lệ (thời Ân Thương hay Hùng Vương) sang chế độ phong kiến (nhà Chu hay nhà Thục nước Âu Lạc) đã phải trải qua một cuộc “cách cổ đỉnh tân”, thay cũ đổi mới, thật đắt giá với hàng vạn người đã đầu rơi máu chảy. Tục cúng xá tội vong nhân tháng Bảy thể hiện đạo lý nhân bản, vị tha, cầu sinh, chán ghét chiến tranh. Nó nhắc nhở mọi người không quên những người nghèo khổ đã khuất, những binh sĩ bỏ mình vì nước, bởi không có sự hy sinh của họ thì xã hội đã không thể tiến lên phía trước, chúng ta cũng không thể có cuộc sống an lành ngày hôm nay.

IMG_5360

Chiếc Dữu đựng rượu thời Ân Thương.

Đạo lý này cũng thể hiện qua bài thơ mà Ngự sử đại phu Thôi Vĩ đã đề ở miếu Ân Vương trên núi Trâu:

Thắng thua một cuộc không Ân đức

Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường

Trăm họ một lòng cùng thờ phụng

Xin phù tổ quốc mãi yên phương.

Xa toi vong nhan

Thủa vua Hùng Vương thứ 18…

Sự kiện kết thúc thời đại Hùng Vương thường được kể trong các thần tích tóm tắt như sau:

Hùng Duệ Vương là người có hùng tài đại lược, tư chất thánh minh, kế nghiệp 17 đời Hùng, yên định Trung Quốc. Duệ Vương sinh được 20 hoàng tử nhưng đều lần lượt về chầu tiên tổ. Chỉ còn 2 công chúa là Tiên Dung được gả cho Chử Đồng Tử và Ngọc Hoa kén được rể là Tản Viên Sơn Thánh.

Khi ấy Thục Vương là Chủ bộ quan Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương, thừa cơ phát binh từ phương Tây đến tấn công. Sơn Thánh lĩnh mệnh cầm quân, phục kích đánh tan quân Thục ở châu Quỳnh Nhai (Mạn Nhai), khải hoàn trở về.

Mấy năm sau, Thục Vương lại phát 5 đạo quân thủy bộ theo các đường châu Quỳnh Nhai Hoàng Tế, Lạng Sơn Văn Giản, Đại Man, Bố Chính Minh Linh, Hoan Châu Hội Thống tiến đánh Hùng Vương. Lần này Sơn Thánh cùng với 2 vị tả hữu kiên thần là Cao Sơn và Quý Minh dẫn quân đánh vào chính binh quân Thục. Sơn Thánh giả ấn của Thục Vương viết thư gửi tướng Thục lệnh án binh cố thủ. Nhân đó Sơn Thánh đem quân đến thẳng kinh đô Thục tập kích, đại phá được cánh quân chính.

Sau trận thắng này, Duệ Vương muốn nhường ngôi cho Sơn Thánh, nhưng Sơn Thánh cố từ và khuyên Duệ Vương:

Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm chiếm Trung Hoa. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của hoàng đế trước đây. Nay thế nước kém thường cũng là chuyện do tiền định. Vua không nên vì yêu một cõi phương Nam mà đối địch với ý trời vậy, làm hại đến sinh linh.

Duệ Vương nghe theo, nhường ngôi lại cho Thục Vương, còn nhân đó đem tặng cả nỏ thần linh quang làm vật bảo quốc. Thục Vương nhận vị, mới về Nghĩa Lĩnh lập miếu đền thờ Hùng Vương… Đồng thời cũng phong thờ cho một loạt các tướng lĩnh công thần của Hùng Duệ Vương, đặc biệt nhiều là ở vùng 2 bên bờ sông Lô như:

– Ở Quế Nham (Đồng Quế, Sông Lô, Vĩnh Phúc): 4 vị đại vương là danh tướng theo Sơn Thánh đánh Thục.

– Ở Hương Lan (Trưng Vương, Việt Trì, Phú Thọ): 3 vị Chàng Chấu Linh Lang đại vương, là tùy tòng hầu kiệu của Duệ Vương.

– Ở Bảo Đà (Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ): Tả hữu kiên thần Cao Sơn, Quý Minh và Cương Trực tướng quân…

Que NhamĐình Quế Nham ở Đồng Quế, Sông Lô, Vĩnh Phúc.

Câu đối ở đình Quế Nham:

Kháng Thục phù Hùng sinh dũng tướng
Tòng Trưng phạt Hán tử linh thần. 

Hiện nay, sự kiện Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương được cho là xảy ra vào quãng năm 257 TCN. Tuy nhiên, đây là sự lẫn lộn với việc nhà Tần (Triệu) đánh phương Nam, diệt Thục vào cùng năm (thời Tần Chiêu Tương Vương). Sự kiện Hùng nhường ngôi cho Thục trên phải xảy ra vào đầu thời kỳ nhà Thục, chứ không phải lúc cuối.

Nhận định như vậy thì chợt nhận ra, việc Thục Vương thay thế Hùng Vương đời cuối chính là sự kiện Chu Văn Vương bắt đầu cuộc chiến đánh giặc Ân ở vùng Bắc Việt. Cụ thể như sau.

Vị vua Hùng đời cuối của dòng theo cha Lạc Long Quân ra biển là vua Trụ nhà Ân Thương. Đế Tân là người có trí lược, dũng mãnh, từng chinh phạt nhiều nơi, nhưng do có tính tình tàn ác, lại chìm đắm trong tửu sắc, giết hại các đại thần nên đã làm cho “Hùng đồ mạt tạo, vận nước cáo chung“.

Tây Bá hầu Cơ Xương là thủ lĩnh đứng đầu các chư hầu miền Tây của nhà Ân. Truyền thuyết Việt gọi là Thục chúa, Bộ chủ Ai Lao. Thục là hướng Tây. Ai Lao là vùng cao nguyên Vân Nam Quý Châu, mà nay vẫn còn dãy núi Ai Lao Sơn ở đó.

Cơ Xương khởi sự không đánh trực tiếp vào kinh đô của Trụ Vương ở An Huy mà đầu tiên đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá hầu Sùng Hầu Hổ. Sùng Hầu Hổ là thủ lĩnh vùng đất phía Bắc xưa của nhà Ân. Vùng này tương ứng với đất Lạc (Lạc = nước là tượng của phương Bắc). Sùng Hầu Hổ trong truyền thuyết Việt được gọi dưới tên Tản Viên Sơn Thánh. Sơn là quẻ Cấn trong Tiên thiên Bát quái, chỉ hướng Bắc. Sùng Hầu Hổ như thế là tiếp nối dòng dõi Lạc Long Quân, có thể gọi là một Lạc Vương ở vùng đất này. Sùng Hầu Hổ được chép thành ra tên của Lạc Long Quân là Sùng Lãm.

IMG_8571Nghi môn đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ.

Là 2 đại thủ lĩnh 2 miền lớn của thiên hạ nên cuộc chiến giữa Tây Bá hầu Cơ Xương và Bắc Bá hầu Sùng Lãm diễn ra một cách ác liệt, với nhiều binh lính, nhiều trận chiến khó khăn, nhiều mưu mẹo như mô tả việc Sơn Thánh đánh Thục trong các thần tích. Chiến trường chính là mạn ngược giữa Bắc Việt và Vân Nam nên thần tích ghi là các châu Quỳnh Nhai, Đại Man, Mộc Châu… Không ít lần quân của Cơ Xương (Thục chúa) đại bại, thậm chí kinh đô Thục ở Ai Lao (Vân Nam) cũng bị đánh phá. Nhưng cuối cùng, sức người không bằng ý trời, Cơ Xương nhờ có lòng nhân đức, bao dung, đã thu phục được nhân tâm và giành thắng lợi. Truyền thuyết kể là Sơn Thánh đã theo mệnh trời mà khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho Thục Vương.

Tin Cơ Xương chiếm được nước Sùng, làm rung chuyển cả kinh đô Triều Ca của Trụ Vương như Kinh Thư kể. Cơ Xương cho dời đô từ miền Tây về đất Phong Châu, tức là vùng Việt Trì ngày nay. Đây là kinh đô của họ Hùng từ thời mở nước của Đế Minh và hẳn cũng là nơi đóng đô của Sơn Thánh – Sùng Hầu Hổ khi đó. Truyền thuyết kể thành việc Thục Vương xây thành ở Việt Trì, lên núi Nghĩa Lĩnh lập miếu điện thờ cúng Hùng Vương…

Như vậy, tục thờ Hùng Vương đã bắt đầu từ thời nhà Thục cách nay 3000 năm. Đền miếu ở Nghĩa Lĩnh là nơi thờ các vị Hùng Vương Thánh tổ đầu tiên gồm Đột Ngột Cao Sơn, Viễn Sơn, Ất Sơn, chứ không phải thờ Hùng Duệ Vương. Vì “Thục Vương cũng là tông phái của Hoàng đế họ Hùng” nên mới thờ những vị Thánh tổ đầu tiên của họ Hùng. Cơ Xương cũng là người mang họ Cơ, là họ của Hoàng Đế Hữu Hùng Hiên Viên.

Trieu CoHoành phi Triệu Cơ Vương Tích của đền Hùng (nay để ở đình làng Trẹo, Hy Cương). 

Hoành phi “Triệu Cơ vương tích” ở các nơi thờ vua Hùng tại Nghĩa Lĩnh có nghĩa là: Dấu tích khai mở của vua họ Cơ. Chính chữ Cơ Tích này mà đã đổi thành Cổ Tích, là làng tạo lệ của Hùng Sơn.

Cùng với việc lập miếu thờ Thánh tổ Hùng Vương, Thục Vương Cơ Xương còn chiêu mộ các cựu thần của Hùng Vương (nhà Ân) trước đây. Đối với những người không theo Thục mà trung nghĩa tử tiết, Cơ Xương đều “phong thần”, cho lập miếu thờ tự như những ví dụ ở trên. Chính do có tấm lòng nhân đức này của Cơ Xương mà cơ trời lòng người đã từ Hùng (nhà Ân) sang tay Thục (nhà Chu).

Sự kiện Cơ Xương thu phục được Sùng Hầu Hổ và dời đô về đất Phong, lập nước Âu Lạc, còn được kể trong truyền thuyết Việt với việc Âu Cơ (Cơ Xương) chia tay với Sùng Lãm, về Phong Châu lập ra nước Văn Lang. Văn Lang là gọi theo tên hiệu Văn Vương của Cơ Xương. Còn Âu Lạc chỉ việc sát nhập 2 khu vực Âu của Thục Chúa và Lạc của Sơn Thánh.

Nhờ có được nửa thiên hạ 2 miền Tây và Bắc (hướng Nam nay) Trung Hoa mà sau đó con của Cơ Xương là Vũ Vương Cơ Phát đã phát động cuộc chiến quyết tử phá Trụ diệt Ân. Cuộc chiến thần thánh này được sử Việt mô tả trong truyền tích Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân. Cơ Phát được Hùng Vương ngọc phả chép là con trưởng Hùng Quốc Vương, đã lên ngôi thiên tử, tiến hành việc phân chia đất đai trăm họ chư hầu, đặt ra lễ chế trăm quan, phong cho trăm thần, là những tướng lĩnh đã tử trận trong cuộc chiến Hùng – Thục / Ân – Chu kéo dài hàng chục năm. Nước Văn Lang – Âu Lạc trở thành Trung Nguyên của Thiên hạ Trung Hoa, bắt đầu một Hùng triều tiếp theo của dòng họ Hùng, kéo dài hơn 800 năm.

Câu đối ở đình Bảo Đà:

Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch:

Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Có bao nhiêu nhà Thục trong sử Việt?

Ngày nay học sinh sinh viên Việt Nam học sử Việt, được giảng: Thục An Dương Vương là người đã thay thế Hùng Vương lập ra nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa, rồi bị Triệu Đà sai con là Trọng Thủy đến lừa lấy mất lẫy nỏ thần, nên phải đường cùng mà tự vẫn ngoài biển Đông… Cao cấp hơn một chút, các giáo sư lịch sử sẽ “hé lộ” phát kiến mới chưa từng được sử sách nào ghi lại… là chuyện Thục Phán được các Lạc hầu Lạc tướng tôn lên làm “người Tuấn kiệt”, kháng chiến chống đại quân Tần thắng lợi…
Việc quy kết tất cả các chuyện nói đến Thục Vương đều vào một thời gian khi thời đại Hùng Vương kết thúc là một sự lạc lối hết sức lớn của cổ sử Việt. Nếu Hùng Vương có tới 18 chi nhánh (18 triều đại) thì liệu Thục Vương có thể chỉ là 1 người được hay sao?
Thục thực ra là danh từ chỉ phía Tây vì:
– Thục = Thụt, là hướng mặt trời lặn.
– Thục nghĩa là Chín (thành thục), chỉ số 9, con số của hướng Tây.
Ví dụ nước Ấn Độ được gọi là Tây Trúc hay Đại Thực đều là những từ phiên thiết của chữ Thục mà ra, chỉ nước ở phía Tây Trung Hoa.
Vì Thục nghĩa là phía Tây, nên Thục Vương có nghĩa là Tây Vương, không phải là tên 1 người hay một dòng họ, mà là một danh xưng của các triều đại lập quốc ở phía Tây Trung Hoa xưa. Do đó, không phải chỉ có 1 Thục Vương, mà là có hàng loạt các triều đại Thục khác nhau trong sử Việt.
Hơn nữa, các sách vở đều ghi, Thục Vương là dòng dõi hoàng đế đời trước của Hùng Vương. Như vậy, việc Thục Vương kế vị (Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Vương) là chuyện tự nhiên và quan trọng hơn, khi đó Thục Vương lại trở thành một triều đại Hùng Vương kế tiếp.
Với cách nhìn nhận như vậy, xem hết trong sử sách nước ta, có ít nhất những thời kỳ sau có nói tới Thục:
1. Trong sự tích của Quốc mẫu Tây Thiên kể, bà đã tụ họp quân dân ở vùng Đại Đình, Tam Đảo kéo về Phong Châu giúp vua Hùng dẹp tan giặc Thục. Do đó, bà đã được phong là Tam Đảo sơn Trụ quốc Mẫu, đời đời tôn là người mẹ nguyên tổ của cả dân tộc họ Hùng. Giặc Thục ở thời kỳ này là tộc Cửu Lê do Xuy Vưu cầm đầu, đã được Hiên Viên Hữu Hùng Hoàng Đế (Đế Minh) dẹp nhờ sự giúp đỡ của Cửu Thiên Huyền Nữ (Tây Thiên Quốc mẫu). Sự kiện diễn ra ở thời khởi sử 5000 năm trước của Hồng Bàng Thị.

Câu đối ở đền Hóa Tây Thiên:
Vô sinh thiên hạ giai xưng mẫu

Phù Hùng tảo tặc hiệu thánh thần.

Dịch nghĩa:
Tự không thiên hạ đều xưng mẫu

Giúp Hùng dẹp giặc gọi thánh thần.

Dai LuNghi môn đền Đại Lữ, nơi Tây Thiên quốc mẫu hội quân với vua Hùng. Vế đối chữ Nôm còn ghi: Phù Hùng thắng Thục giữ trời Nam. 

2. Trận chiến Hùng – Thục thứ hai được kể trong sự tích Vĩnh Công Bát Hải Động Đình đánh Thục cùng với các vị quan lớn. Trong lần này, phần thắng thuộc về Hùng Vương, tức là dòng phía Đông (Động Đình) thắng dòng phía Tây. Đây cũng là chuyện Lạc Long Quân đánh nhau với Đế Lai khi bắt Âu Cơ vì vua cha Bát Hải đứng đầu Thoải phủ là Lạc Long Quân. Trong Hoa sử thì đây là cuộc chiến giữa Hạ Khải, con của Đại Vũ, đã đánh đuổi ông Bá Ích giành quyền cai quản thiên hạ. Sự kiện này đánh dấu mốc thời kỳ lịch sử theo chế độ phụ đạo, cha truyền con nối (Đại Vũ cho Hạ Khải hay Kinh Dương Vương cho Lạc Long Quân) ở quãng 4000 năm trước. Có thể gọi thời kỳ này là Việt Thường Thị.

Câu đối ở điện thờ vua cha Bát Hải tại đền Đồng Bằng:
Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu
Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu.

Dịch nghĩa:
Trải triều đại thịnh dày năm xưa, đúng đây hội tục Á Âu, màn uy còn tại tiết thu cửa biển
Dẹp quân Thục công đầu tiếng nổi, đẹp thay Lạc Hồng sông núi, bia đá mãi sáng nơi miếu Động Đào.

Dong Bang
Nghi môn đền Đồng Bằng với dòng chữ Bát Hải Động Đình.

 

3. Dòng dõi ông Bá Ích hay Đế Lai (Âu Cơ) buộc phải “dắt nhau” lên núi, tức là di cư về phía Tây, nên được gọi là Thục. Khoảng 1000 năm sau, hậu duệ của dòng này được kể là vị con trai trưởng Hùng Quốc Vương đã lên ngôi Thiên tử ở đất Phong Châu, sau khi đã giành thắng lợi trước dòng Hùng ở phía Đông (từ nhánh Lạc Long Quân đi khai phá miền biển). Hùng Quốc Vương lập nước Văn Lang, phân phong cho các anh em và các công thần ở các nước chư hầu phiên dậu, mỗi chư hầu được quyền cha truyền con nối gọi là Phụ đạo, đặt ra trăm họ cho các nước chư hầu được phong, đặt ra lễ chế triều đình trăm quan, phong cho trăm thần. Trong Hoa sử đây là khi nhà Chu ở phía Tây (do Tây Bá Hầu Cơ Xương khởi sự) đánh bại nhà Ân Thương ở phía Đông, lập ra thiên hạ Trung Hoa trăm nước Bách Việt.

Câu đối ở đình Bảo Đà (Việt Trì):
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch nghĩa:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Au Co
Đền mẫu Âu Cơ ở Hạ Hòa. 
 

 4. Nhà Chu ban đầu đóng đô ở phía Tây nên gọi là thời Tây Chu. Tới thời Chu U Vương, do vua Chu thất đức, quân Khuyển Nhung làm loạn, nên buộc phải dời đô về phía Đông, bắt đầu thời kỳ Đông Chu. Đánh dấu sự kiện này là việc vua Chu xây thành ở Lạc Dương mà được sử Việt kể Thục An Dương Vương xây thành Cổ Loa, với sự giúp đỡ của Huyền Thiên Lão Tử, cử thần Kim Quy đến diệt trừ Bạch Kê Tinh, là oan hồn của đời trước (của thời nhà Ân – dòng Hùng Vương phía Đông). Sự kiện dời đô xây thành ở Đông Ngàn Cổ Loa xảy ra vào quãng thế kỷ 8 trước Công nguyên.

Câu đối ở đình Thổ Hà, nơi thờ Lão Tử:
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch nghĩa:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ chốn thanh hư, mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.

Ngu mon
Ngũ môn đền Sái ở Đông Anh, nơi Huyền Thiên cử Kim Quy diệt Kê tinh.

5. Cuối thời Đông Chu, chư hầu mạnh nhất ở phía Tây là nước Tần bắt đầu thôn tính cả thiên hạ. Trung tâm nước Tần khi đó nằm ở vùng Tứ Xuyên, tức là đất Xuyên Thục, phía Tây Bắc thiên hạ Trung Hoa. Do đó Tần chúa cũng được gọi là Thục Vương. Tần chúa ban đầu thôn tính đất đai phần Tây Chu, tức là vùng cao nguyên Vân Quý mà được sử Việt gọi là đất Ai Lao. Tần chiếm được vùng này, trở thành “bộ chủ Ai Lao” như trong Ngọc phả Hùng Vương đã chép. Sau đó, Tần Chiêu Tương Vương mới tấn công chiếm nốt đất Đông Chu ở miền Bắc Việt Nam, đuổi dòng họ Cơ của vua Chu về một khu đất nhỏ, gọi là Đông Chu Quân. Đất của Đông Chu Quân khả năng là ở miền Trung Việt, nơi mà theo truyền thuyết An Dương Vương đã đi vào biển về với thần Kim Quy. Tần thay thế vua Chu làm Thiên tử của Thiên hạ Trung Hoa, được sử Việt gọi là An Dương Vương lập ra nước Âu Lạc. Tới đời Tần Thủy Hoàng, chế độ Thiên tử – Chư hầu bị bãi bỏ, thay vào đó theo kế sách của Lý Tư, Thủy Hoàng đã lập quận huyện thống nhất quản lý trên toàn lãnh thổ. Thời kỳ phong kiến của nhà Chu (nước Văn Lang của Hùng Vương) đã chấm dứt, thay bằng một thời kỳ quốc gia thống nhất, vào năm 257 TCN.

Câu đối ở đền Cổ Loa:
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà thượng cố cung.

Dịch nghĩa:
Thông bách lăng Chiêu giờ đâu nhỉ?
Non sông nước Thục đó cung xưa.

Co Loa
Cửa võng đền Cổ Loa.

Tới đây ta nhận thấy, cuộc chiến giữa Hùng – Thục hay hai dòng Đông – Tây chính đã tạo nên sự phát triển chế độ xã hội Trung Hoa (Việt), là những nấc thang trên con đường tiến hóa của lịch sử phương Đông. (Hùng – Thục) = (Đông – Tây) = (Âu – Lạc) = (Rồng – Tiên) là cặp lưỡng lập, âm dương tăng trưởng không ngừng.
Trong các thần tích Việt, còn có sự kiện Tản Viên Sơn Thánh cùng các tướng lĩnh đánh Thục. Đây khả năng là sự kiện thứ 3 nêu trên, khi Thục Vương – Tây Bá Hầu Cơ Xương (Âu Cơ) đánh nước Sùng của Sùng Hầu Hổ (Sùng Lãm). Sử Việt kể Hùng Vương sau nhiều trận chiến với sự trợ giúp của Sơn Thánh đã nhường lại ngôi vị cho Thục Vương.
Ngoài ra, còn một thời kỳ Thục nữa là thời Tây Thục của Lưu Bị, mà khi đó phần Tây của miền Bắc Việt do Mạnh Hoạch cai quản, là một khu tự trị của nhà Tây Thục. Khu vực Tây Bắc sau đó đã không bị nhà Tấn chiếm được, tồn tại mãi dưới tên Hậu Lý Nam Đế, kéo dài tới thời Tùy mới nhập lại với quốc gia Trung Hoa, để rồi sau đó thời gian ngắn lại tách ra thành nước Nam Chiếu nổi tiếng trong sử cận đại.

Tần chúa tranh vua

Chuyện Chín chúa tranh vua của người Tày ở Cao Bằng kể, trong cuộc so tài với các chúa mường khác, chúa mường Nam Cương là Thục Phán đi lấy trống đồng về đến gò Đống Lân, mệt ngủ say, chuột cắn dây trống, trống lăn xuống đồi kêu vang cả một vùng. Các chúa khác tưởng chúa đi lấy trống đã thắng nên bỏ dở cuộc thi. Tổng Lằn là trống lăn, gọi chệch là Đống Lân. Thục Phán là chúa mường thứ 9, đã giành thắng lợi trước các chúa mường khác và lên làm vua.

IMG_1934
Chùa Đống Lân ở TP. Cao Bằng.

Theo sự tích trên, ta thấy “trống đồng” khi đó có vai trò là hiệu lệnh của Thiên tử. Tiếng trống vang lên ở gò Đống Lân (trống lăn) đã khuất phục được các chúa mường.

Dựa vào câu chuyện này mà các nhà sử học ngày nay cho rằng Thục An Dương Vương có xuất xứ từ Cao Bằng, đã đánh Hùng Vương để lập nước Âu Lạc và xây thành Cổ Loa. Cho dù truyền thuyết người Tày không hề nói gì đến chuyện Hùng Vương và thành Cổ Loa cả.

Nay đọc lại câu chuyện này chợt nhận ra những thông tin khá bất ngờ, giúp phát lộ chân tướng nguồn gốc của Thục An Dương Vương:

Thứ nhất là về hình thức tổ chức xã hội thời kỳ đó, bao gồm các “mường” khác nhau, mỗi mường có một “chúa”. Tuy nhiên, cao hơn Chúa còn có Vua, là chúa một xứ mường mạnh nhất, tài giỏi nhất, được các mường khác thuần phục.
Đây thực chất là hình thức Thiên tử (Vua) – Chư hầu (Chúa) của chế độ phong kiến phân quyền. Thiên hạ có nhiều nước, được gọi trong ngôn ngữ Tày Thái là các mường. Đứng đầu các nước này là các vị công hầu, mà truyện gọi là các chúa mường. Còn theo ngọc phả Hùng Vương thì đây là các phiên thần, thổ tù, phụ đạo bộ chủ. Danh xưng “bộ chủ” rõ ràng tương đương về ngữ nghĩa với tên gọi “chúa mường”.
Ngọc phả Hùng Vương ghi Thục An Dương Vương là bộ chủ Ai Lao… Ai Lao tới nay còn là tên của dải núi Ai Lao sơn nằm giữa tỉnh Vân Nam, chính là đất Thục xưa.

Thứ hai, Thục Phán được kể là Chúa mường thứ chín. Con số 9 này không phải vô cớ. Thục cũng có nghĩa là Chín (trong từ thành thục). Đặc biệt, số 9 còn là phát âm tiếng Trung của… TẦN, mà ngày nay còn thấy trong cái tên tiếng Anh: China.
Thục Phán là chúa mường thứ 9 tức là chủ nước Tần.

Thứ ba, cái tên Nam Cương có thể phân tích dựa trên Dịch lý:
– Nam vốn là phương mà cây kim Nam châm chỉ tới, tức là hướng về Bắc cực ngày nay.
– Cương là cứng rắn, là tính chất đặc trưng của phương Tây.
Nam Cương nghĩa là nước ở phía Tây Nam xưa (Tây Bắc nay), đúng vị trí của nước Tần trong Thiên hạ Trung Hoa.

Xét thông tin “Chín chúa tranh vua” như trên thì rõ ràng đây là chuyện Tần chúa đánh dẹp các chư hầu, giành ngôi Thiên tử. Thục An Dương Vương không phải ai khác chính là Tần Thủy Hoàng thống nhất lục quốc, lên ngôi xưng Đế, sắp xếp lại Thiên hạ trăm nước theo chế độ quận huyện. Chấm dứt thời kỳ phong hầu kiến ấp, để bắt đầu chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Sử Việt gọi là An Dương Vương lập nước Âu Lạc, kết thúc thời đại Hùng Vương, bắt đầu một trang lịch sử mới của người Hoa Việt.

Nhự Nương Trình Thị, vị Đế Hậu của Cao Tổ Lưu Bang

Thôn Nhự Nương xã Phương Định, Trực Ninh, Nam Định thờ một vị nữ thần đặc biệt là Hoàng Thái hậu, vợ của vua Triệu Vũ Đế. Đặc biệt vì ở đây bà được tôn sùng hết mức, được gọi là Đế Hậu, với đầy đủ các đức tính của một nữ trung: Cung túc Từ liêm Cẩn tiết Đôn thiện Mục thận Anh linh Bảo quốc An dân Chiêu đức Đoan trang bà Hoàng Thái hậu Tôn thần Thượng đẳng tối linh. Theo thần tích, bà là sao Thái Âm giáng thế vào gia đình họ Tình, lưu lạc đến khu Nhị Nương mà sinh ra ở đó.
Câu đối ở đình Nhự Nương:
瑞應太陰星明明在上
恩流湯沐浥濯濯厥靈
Thụy khí Thái âm tinh, minh minh tại thượng
Ân lưu Thang mộc ấp, trạc trạc quyết linh.

Dinh Nhu Nuong
Đình Nhự Nương.

Đặc biệt hơn nữa, truyện kể về vị Hoàng Thái hậu này đặc biệt giống y chuyện của vị Hoàng Thái hậu cùng thời là Lữ Hậu, vợ của vua Cao Tổ Lưu Bang. Thần tích Nhự Nương chép:
Một ngày Trang Nương theo mẫu thân đi thăm với dì ruột ở đất quận Cửu Chân. Khi đó vua Triệu Úy Đà đang khởi binh đánh Thục. Lúc ấy người địa phương thấy Trang Nương có tài sắc lạ thường đã báo với vua Triệu. Vua bèn mời Thái bà cùng với Trang Nương vào trong phủ gặp mặt. Vua thấy dung mạo nhan sắc tưởng như tiên nữ Bồng Doanh, Lãnh Uyển, lòng đầy thích thú. Lập tức cho vào điện làm lễ cưới. Ban thưởng cho cha mẹ các đồ sính lễ. Lập làm chính cung.
Triệu Đà khởi nghĩa ở quận Cửu Chân. Thông tin tưởng như sai mà lại rất đúng. Cửu Chân, chỗ khác trong thần tích gọi là Tây Chân rõ ràng tương đương với đất Chân Định, nơi chính thức được ghi là quê của Triệu Đà. So sánh từ ngữ ta thấy:
– Cửu là số 9, chỉ hướng Tây trong Hà thư.
– Định là tính chất tĩnh lặng của phương Tây.
Như thế 3 từ Chân Định – Cửu Chân – Tây Chân cùng một nghĩa.
Đoạn chép về việc Trang Nương lấy Triệu Đà ở trên tương tự như việc Lưu Bang gặp và lấy Lữ Hậu.  Sử ký Tư Mã Thiên, Cao Tổ bản kỷ chép:
Lữ Công người Đan Phụ, quen thân với quan lệnh huyện Bái, đến ở làm khách ở Bái để tránh người thù nhân đó làm nhà ở luôn tại Bái. Những người háo mục và quan lại ở Bái nghe nói quan huyện có người khách quý đều đến mừng. Tiêu Hà làm chủ lại,nhận đồ mừng của khách ra lệnh cho các tân khách…
Rượu uống gần tàn, Lữ Công nhân lấy mắt ra hiệu cố giữ Cao Tổ lại. Sau khi Cao Tổ uống rượu xong, Lữ Công nói:
– Tôi từ nhỏ thích xem tướng người ta, đã xem tướng rất nhiều, nhưng chẳng người nào bằng ông Quý cả. Xin ông Quý lo gìn giữ thân mình. Tôi có cháu gái muốn gả làm kẻ nâng khăn sửa túi cho ông Quý.
Tiệc rượu tan, bà Lữ giận Lữ Công nói:
– Ông vẫn thường muốn con mình có số khác thường, muốn gả cho người sang, ông huyện lệnh đất Bái là chỗ thân tình hỏi ông không gả, sao lại hứa gả bừa cho Lưu Quý.
Lữ Công nói:
– Cái đó không phải là cái đàn bà con trẻ biết được.
Rốt cục gả con gái cho Lưu Quý. Con gái Lữ Công chính là Lữ Hậu, sinh Hiếu Huệ và công chúa Lữ Nguyên.
Tiếp theo, thần tích Nhự Nương kể:
Khi đó Triệu Vương và Thục Vương đanh giao tranh, chinh Đông dẹp Tây, chinh chiến bất thường. Nên đã cho dẫn Chính cung về ở khu Nhị Nương, trang Phương Để, truyền cho nhân dân trong ấp xây dựng cung phủ để Chính cung ở đó. Tự Chính cung về khu Nhị Nương tiếp quản dinh phủ, tích trữ quân lương, chiêu dụ anh hùng bốn biển đến tụ hội.
Chuyện Triệu Đà chinh Đông dẹp Tây phải để vợ về quê cũng giống như chuyện Lưu Bang tranh hùng cùng Hạng Võ, Lữ Hậu bỏ gia sản ra giúp chồng chiêu binh mãi mã ở quê nhà. Những vị quan tướng trung thành và tài ba nhất của Lưu Bang như Tiêu Hà, Trương Lương đều có một công Lữ Hậu chiêu dụ.
Thế rồi, Thục Vương nghe tin Triệu Vương có Chính cung đã xây dựng phủ ở khu Nhị Nương, tích trữ quân lương, chiêu dụ các tướng tài, liền sai quân đến vây bắt. Chính cung thấy quân Thục tiến tới, liền xuất quân cùng chiến đấu, phá vỡ vòng vây của quân Thục. Cung phi mới về thẳng quận Nam Hải cùng với Triệu Vương.
Đọc đoạn này không khỏi giật mình vì cũng Lữ Hậu khi ở quê đã bị Hạng Vũ vây bắt làm con tin, mãi sau này tới hiệp ước Hồng Câu mới được thả về lại với Lưu Bang.
Thần tích không hề nhắc tới Trọng Thủy là con của Hoàng Thái hậu Trang Nương nên cuộc chiến Triệu Vương – Thục Vương ở đây không phải việc Trong Thủy gửi rể mà gạt Mỵ Châu. Trái lại, Trang Nương đã ra trận như một nữ tướng, phá vây về hội quân với Triệu Vương. Không có chuyện sau đó lại có Trọng Thủy đi cầu hòa.

IMG_4230Bia đề: Đế Hậu chính vị.

Tấm bia lưu ở văn chỉ của thôn Nhự Nương gọi bà Trang Nương là “Đế hậu”. Còn câu đối ở trong đình Nhự Nương ghi:
淑慎閨儀七郡山河資內治
清高廟貌千秋香火顯英靈
Thục thận khuê nghi, thất quận sơn hà tư nội trị
Thanh cao miếu mạo, thiên thu hương hỏa hiển anh linh.
Dịch nghĩa:
Vẻ ngọc thục hiền, non sông bảy quận riêng nội trị
Miếu mạo cao sáng, hương lửa nghìn thu tỏ anh linh.
Hoàng Thái hậu Trang Nương đã là Đế hậu, nội trị non sông nước Việt. Điều này cũng giống như Lữ Hậu đã từng lâm triều xưng đế, được Tư Mã Thiên dành hẳn một phần “Bản kỷ” tương đương với các bậc đế vương.
Nếu chuyện của Triệu Vũ Đế kháng Tần đã rất giống chuyện của Lưu Bang chém rắn khởi nghĩa thì nay lại có chuyện bà Trang Nương giúp chồng binh lực, cùng ra trận không khác chuyện của Lữ Hậu. Chính xác hơn nữa, xét tên của bà Trang Nương:
– Ở khu vực Nam Định – Thái Bình bà được gọi với tên là Trình Thị. Thần tích thời Lê thì đề là họ Tình, nhưng sắc phong lại là Trình Thái hậu. Trình Thị đọc thiết âm là Trĩ.
– Thôn Nhự Nương (thần tích thời Lê chép là Nhị Nương) trong bản khai của thôn thời Bảo Đại lại dùng là Nhự Lang 茹郎. Nhự Nương do đó đọc thiết âm là Lữ, chính là họ của Lữ Hậu.
Nhự Nương Trình Thị chỉ đích danh Lữ Trĩ, là tên cúng cơm của Lữ Hậu.

Trieu Hoang Thai HauTriệu Hoàng Thái hậu Trình Thị thần vị

Câu đối ở cột trước đình:
始帝炎邦湞淑二南起化
生神故地樓臺一簇重新
Thủy đế Viêm Bang, trinh thục Nhị Nam khởi hóa
Sinh thần cố địa, lâu đài nhất thốc trùng tân.
Câu đối này gọi bà Trang Nương là Đế khởi thủy Viêm Bang. Địa danh thôn ở đây ghi là Nhị Nam, nếu đọc phiên thiết thì cũng như chữ Nhự Nương sẽ cho ra họ Lữ.

IMG_6980Hoành phi: Thiên Hạ Mẫu.

Đình Nhự Nương vốn là “sinh từ” (đền thờ lập lúc thần còn sống) thờ Lữ Hậu, hoàn toàn ăn khớp với các tư liệu lịch sử. Vùng đất Tây Chân – Cửu Chân – Chân Định chính là Bái huyện, nơi khởi sự của Lưu Bang. Di tích, thần tích vẫn còn. Lữ Hậu, vị nữ Hoàng đế Trung Hoa đầu tiên của thời kỳ phong kiến tập quyền, thiên hạ thống nhất, hoàn toàn xứng đáng để lập sinh từ, tôn là bậc Thái Âm giáng thế, đời đời phụng sự.

 

Văn ca trù ở đền Đồng Sâm thờ Triệu Vũ Đế và Hoàng hậu Trình Thị

Hiện ở đền Đồng Sâm (Kiến Xương, Thái Bình), nơi thờ Vũ Đế Triệu Đà và Hoàng hậu Trình Thị còn lưu được 8 bài ca trù dùng trong tiết lễ thu hát chầu thần. Các bài này đều có phần đầu là 2 cặp câu biền ngẫu (câu đối), ca ngợi công đức của Triệu Vũ Đế và Trình Thị Hoàng hậu. Còn phần sau là phần cầu tụng cho dân sinh. Xin giới thiệu đoạn đầu của 8 bài ca trù này.

Bài ca trù thứ nhất

聰明睿知
淑慎徽柔
月斧橫而七郡基開漢雄並世
桃夢叶而六宮儀表周后同符

Thông minh duệ trí
Thục thận huy nhu
Nguyệt phủ hoành nhi thất quận, khai Hán hùng tịnh thế
Đào mộng hiệp nhi lục cung, nghi biểu Chu hậu đồng phù.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Hiền dịu nhẹ nhàng
R
ìu trăng ngang khắp bảy quận, mở nền hùng Hán sánh thời
Mộng đào hòa sáu cung,
phép tắc Chu hậu cùng hợp.

Giải nghĩa:

Nguyệt phủ (rìu trăng): tương truyền là chiếc búa hình mặt trăng, là búa khai quốc của Triệu Vũ Hoàng đế. Đôi búa ngọc này vốn từng lưu ở đền Đồng Sâm.

Thất quận: Nhà Triệu Nam Việt được lập ra trên các quận phía Nam thời Tần. Sau này thời Hán Vũ Đế đã chia đất nhà Triệu thành 7 quận là Giao Chỉ, Cửu Chân, Nam Hải, Hợp Phố, Quảng Tín, Thương Ngô, Nhật Nam.

Mộng đào: theo thần tích, trước đây ở Đồng Sâm có một người họ Trình tên là Liên, lấy bà Đinh Thị Ngoạn người bản trang, tuổi đã ngoài 40, nằm mơ nhặt được chiếc gương ngọc, rồi bống nhiên có mang, ngày tháng dần đủ, đêm rằm tháng 7 sinh được một người con gái, mặt như gương ngọc, sắc tựa hoa mai. Năm 18 tuổi công dung ngôn hạnh, tứ đức vẹn toàn. Cha mẹ đặt tên là nàng Lan. Nàng Lan là bà Trình Thị, là Hoàng hậu của Triệu Vũ Đế.

Chu hậu: bà Thái Tự là Chính phi của Chu Văn Vương, mẹ của Chu Vũ Vương, người sáng lập nhà Chu. Bà được gọi với những tên khác trong các bài ca trù này là Cơ Tự, Chu Cơ.

Lục cung: Hệ thống hậu cung cho các phi tần trong chế độ phong kiến Trung Hoa.

Bài ca trù thứ hai 

文武聖神
貞淑慈懿
基開七郡規摸空視項秦
表正六宮儀範遠同姬姒

Văn vũ thánh thần
Trinh thục từ ý

khai thất quận, quy không thị Hạng Tần
Biểu chính lục cung, nghi phạm viễn đồng Cơ Tự

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Bảy quận mở nền, quy mô không thua Tần Hạng
Sáu cung chính tỏ, khuôn phép sâu như Tự Cơ
.

Giải nghĩa:

Hạng Tần: Hạng Vũ là người nước Sở, đã khởi nghĩa đánh Tần, xưng là Sở Bá Vương.

Bài ca trù thứ ba

聰明出類
聖德超凡
南海建昌基雄爭漢北
番禺真定鼎帝始炎南

Thông minh xuất loại
Thánh đức siêu phàm
Nam Hải Kiến Xương , hùng tranh Hán Bắc
Phiên Ngu Chân Định đỉnh, đế thuỷ Viêm Nam.

Dịch nghĩa:

Thông minh ngoài hạng
Đức thánh siêu phàm
Nam Hải
nền Kiến Xương, tranh hùng Hán Bắc
Phiên Ngu đỉnh Chân Định, mở đế Viêm Nam.

Giải nghĩa:

Kiến Xương: vừa có nghĩa là xây dựng nền móng, vừa là tên của vùng đất Thái Bình, nơi có đền Đồng Sâm.

Chân Định: vừa có nghĩa là lập định đất nước một cách thực sự, vừa là tên cũ của vùng đất Thái Bình. Chân Định theo sử sách được chép là quê của Triệu Đà.    

Bài ca trù thứ tư

文武聖神
貞淑慈懿
揮月斧而圖成七郡漢世並雄
叶夢桃而儀表六宮桐鄉誌瑞

Văn võ thánh thần
Trinh thận từ ý
Huy nguyệt phủ nhi đồ thành thất quận, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi nghi biểu lục cung, Đồng hương chí thụy.

Dịch nghĩa:

Thánh thần văn võ
Hiền hậu đoan trang
Vung búa nguyệt mà dựng thành bảy quận, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà phép tỏ sáu cung, làng Đồng bày tốt.

Bài ca trù thứ năm

河海鍾靈
山川毓秀
開七郡而炎邦帝始漢世並雄
叶夢桃而表宮天下母儀周姬

Hà hải chung linh
Sơn xuyên dục tú
Khai thất quận nhi Viêm Bang đế thủy, Hán thế tịnh hùng
Hiệp mộng đào nhi biểu cung thiên hạ, mẫu nghi Chu Cơ.

Dịch nghĩa:

Sông biển đúc thiêng
Nước non nuôi đẹp
Mở bảy quận là đế đầu Viêm Bang, thời Hán sánh hùng
Hòa mộng đào mà thiên hạ tỏ cung, phép mẫu Chu Cơ. 

Giải nghĩa:

Viêm Bang: Chỉ đất nước ở xứ nóng (viêm). Đáng chú ý là triều đại của Cao Tổ Lưu Bang lập nên nhà Hán được gọi là Viêm Lưu.

Bài ca trù thứ sáu

乾始坤生
海𣶬春育
圖開七郡並漢世之雄風
儀表六宮接周姬之芳躅

Càn thủy khôn sinh
Hải hàm xuân dục
Đồ khai thất quận, tịnh Hán thế chi hùng phong
Nghi biểu lục cung, tiếp Chu Cơ chi phương trục.

Dịch nghĩa:

Tạo Càn sinh Khôn
Dưỡng xuân bao biển
Mở đồ bảy quận, cùng
thời Hán đây ngọn gió hùng
Tạo lễ sáu cung, tiếp Chu Cơ đó lưu
thơm dấu.

Bài ca trù thứ bảy

聰明睿知
漙博淵泉
九真揚玉斧之威雄開漢地
七郡奠金甌之勢帝始南天

Thông minh duệ trí
Đoàn bác uyên nguyên
Cửu Chân dương ngọc phủ chi uy, hùng khai Hán địa
Thất quận điện kim âu chi thế, đế thủy Nam thiên.

Dịch nghĩa:

Thông minh sáng suốt
Bao quát thâm sâu
Cửu Chân
búa ngọc dương oai, hùng mở đất Hán
Bảy quận
âu vàng vững thế, đế tạo trời Nam.

Giải nghĩa:

Cửu Chân: một trong 7 quận thuộc nhà Triệu. Chi tiết Triệu Vũ Đế khởi nghĩa ở quận Cửu Chân là một thông tin mới, khác với chính sử.

Bài ca trù thứ tám

功同湯武
德比虞周
與北國爭雄低視六縱之計
為南邦帝始宏開七郡之圖

Công đồng Thang Võ
Đức tỉ Ngu Chu
Dữ Bắc quốc tranh hùng, đê thị lục tung chi kế
Vi Nam bang đế thủy, hoành khai thất quận chi đồ.

Dịch nghĩa:

Công ngang Thang Võ
Đức sánh Ngu Chu
Cùng
tranh hùng đất Bắc, theo kế sáu nước hợp tung
Là đế tạo bang Nam,
cơ đồ bảy quận mở rộng.

Giải nghĩa:

Thang Võ: Thành Thang và Võ Vương. Thành Thang là vị vua diệt Hạ Kiệt lập ra nhà Thương. Võ Vương diệt Ân Trụ Vương, lập ra nhà Chu.

Ngu Chu: Ngu Thuấn vầ Chu Văn Vương. Ngu Thuấn là vị vua nổi tiếng hiếu thảo. Chu Văn Vương cũng là người có tiếng nhân đức.

Lục tung: Kế sách hợp tung 6 nước để chống Tần thời Chiến Quốc.

LỜI RU KHÔNG QUÊN VỀ NÚI THÁI CÔNG CHA VÀ SUỐI NGUỒN NGHĨA MẸ

Từ thuở lọt lòng, tôi đã được nghe câu ca dao ngọt lành như hương lúa:

Công cha như núi Thái Sơn

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Câu ca dao xưa nay đã trở thành làn điệu ru con phổ biến ở vùng Bắc Bộ. Nhưng có lẽ không chỉ riêng ở miền Bắc mà người mẹ, người con nào trên đất Việt cũng thuộc nằm lòng lời ru bao đời này. Tuy nhiên, mấy ai hiểu rõ, ngọn núi Thái công Cha và dòng suối Nguồn nghĩa Mẹ trong câu ca dao là ở đâu? Lời ru của cha, của mẹ ấy nhắn gửi tới chúng ta điều gì?

Suoi Cuu tuyen

Suối Bát Nhã đoạn trên đỉnh Phù Nghi, Tam Đảo.

1. Tiếp tục đàm đạo với sư thầy Tâm Hiệp về hành trình khám phá và vén những lớp sương mờ của thời gian để tìm về nguồn cội. Lần này, những gì sư thầy Tâm Hiệp cho tôi biết về câu ca dao công cha nghĩa mẹ, thực sự đã làm tôi bất ngờ và ngạc nhiên bởi sự mộc mạc nhưng chân xác của những thông điệp mà tiền nhân người Việt đã để lại.

Thầy Tâm Hiệp giải thích, trong câu ca dao này Cha và Mẹ là nguồn cội của người Việt, là những người đã dựng nên đất nước này, dân tộc này. Vì thế đây là những vị vua Hùng đầu tiên của người Việt mà sự tôn thờ họ đã được lưu truyền trong các bản Ngọc phả Hùng Vương cũng như trong các di tích tín ngưỡng bao đời nay trên mảnh đất Việt này.

Tuong DNCS

Tượng Đột Ngột Cao Sơn ở xã Hiền Lương.

Hiện nay tại xã Hiền Lương của huyện Hạ Hòa, Phú Thọ còn giữ được một pho tượng thờ vua Hùng đầu tiên là đức Đột Ngột Cao Sơn. Bức tượng này được thể hiện một cách uy nghi, Vua ngự trên long ngai bệ sư, đầu đội mũ bình thiên hình vuông, trán miện có hình mặt trời rực rỡ, khoác áo cổn có vẽ rồng chầu, hổ phục, phượng vũ, trang hoàng bằng hình sóng nước, núi non, hoa lá và cả chữ viết nữa. Hai tay đức vua chắp lại, cầm ngọc khuê. Đây có lẽ là bức tượng Hùng Vương cổ nhất còn bảo tồn tới nay. Xã Hiền Lương cũng là nơi có đền thờ Mẫu, mà bức tượng mẹ Âu Cơ trong đó đã được công nhận là bảo vật quốc gia. Bức tượng Đột Ngột Cao Sơn ở đây được tạo tác cùng thời với tượng mẹ Âu Cơ, quãng vào đầu triều Nguyễn.

Theo thầy Tâm Hiệp, công Cha là công đức sáng lập của các vua Hùng. Vậy ngọn núi Thái của các vua Hùng là ở đâu? Bản Nam Việt Hùng Vương sử ký kể chuyện đức vua cha Lạc Long Quân khi đang còn là Thái tử như sau:

“Thái tử lên núi tìm kiếm mạch rồng, đến châu Thu Vật, châu Tụ Long ở xứ Tuyên Quang, nhận thấy mạch đất rồng chạy đến, Nghĩa Lĩnh đúc thiêng. Lại qua giáp với thượng lưu sông Hoàng, sông Nhị. Đầu sông Hán, sông Lô là đầu nguồn nước một nhánh sâu thẳm, dẫn mạch nước Nam. Tạo dưỡng hai mạch rồng chạy tới từ châu Bảo Lạc núi Côn Lôn, trên dưới hai đỉnh, cho đến Ải Môn Thủy Đỗ. Mạch từ Ngũ Nhạc, Côn Lôn Thái tổ của đất nước, là đất tổ Linh Sơn Phong Thứu.

Trăm vạn đầu núi dựa Đông Tây Nam Bắc, giống như bầy con. Lấy Côn Lôn Ngũ Nhạc Đại quốc làm núi Thái tổ cha mẹ, cùng đầu núi góc biển vạn nước, trùng trùng các nhánh, một mối quy đồng.

Ngọc phả này cho biết ngọn núi tổ của người Việt là núi Côn Lôn Ngũ Nhạc ở vùng Bắc Việt ngày nay. Núi này chạy từ ải môn cửa sông Hồng (Vân Nam – Lào Cai) qua Tuyên Quang đổ về Việt Trì. Tức là Côn Lôn Ngũ Lĩnh là dải núi Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, nơi có đỉnh Phan Xi Păng cao hơn 3.452m, được ví như nóc nhà Đông Dương.

Bản Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền cũng ghi: “Đời đời các triều vua giữ quyền chính, khi thay tên sửa chỗ cho cơ đồ, đều có xe loan ngự giá đến điện Hùng Vương trên núi, phụng tế trời đất, đốt lửa vọng về núi Thái để tế các bậc tiền hoàng đế tiên vương đời trước cùng trăm thần nước Nam.

Các đời vua khi lên ngôi đều lên núi Nghĩa Lĩnh ở Việt Trì mà hướng vọng Thái Sơn. Ngọn Thái Sơn núi tổ người Việt là dải núi Hoàng Liên vời vợi. Câu ca dao lưu truyền của cha ông chắc chắn không ví công cha với ngọn núi nào ở tận phương Bắc, không có liên hệ gì với nguồn gốc người Việt.

2. Ngọn núi Thái tổ công cha người Việt là dãy núi Hoàng Liên, nơi các vua Hùng mở nước. Vậy còn dòng suối nguồn nghĩa mẹ là ở đâu?

Thầy Tâm Hiệp kể, cách đây không lâu, thầy cùng với Nhóm nghiên cứu di sản Đền miếu Việt đã có dịp khảo sát kỹ lưỡng khu vực núi Tam Đảo là nơi có tục thờ Tây Thiên quốc mẫu. Khi đến hành lễ tại đền Hóa ở xã Đại Đình, Nhóm đã bất ngờ phát hiện trong khám thờ Quốc mẫu còn lưu giữ một cuốn ngọc phả chữ Nho chép tay có tựa đề Ngọc phả sự tích Quốc mẫu Tây Thiên Tam Đảo tối linh từ. Đây là một ngọc phả hiếm có vì trong hầu hết các nơi thờ quốc mẫu Tây Thiên hiện nay đều không còn lưu lại được thần tích chữ Nho.

Ngoc pha Tay Thien

Bản Ngọc phả Quốc Mẫu Tây Thiên ở đền Hóa.

Khác với Ngọc phả Hùng Vương ở Phú Thọ, bản Ngọc phả đền Hóa Tây Thiên kể lại sự tích vị quốc mẫu có tên Thẩm, húy là Nhược Cảm. Đức quốc mẫu giáng sinh ở thôn Đông Lộ chân núi Tam Đảo. Khi đất nước có giặc, bà đã tập hợp quân binh trong vùng, kéo về Phong Châu giúp vua Hùng dẹp yên giặc dữ. Do có công phù Hùng diệt Ngô Thục nên bà được phong là Tam Đảo sơn Trụ quốc mẫu, tức là vị mẫu trụ quốc họ Hùng ở núi Tam Đảo.

Cũng ngay ở chính điện tiền tế của đền Hóa Tây Thiên có một đôi câu đối đặc biệt:

Nghĩa Lĩnh Cao Sơn phụ lập quốc

Bát Tuyền trường thủy mẫu nghĩa dân.

Ý nghĩa của câu đối này hoàn toàn tương đồng với câu ca dao về công cha nghĩa mẹ, nhưng cung cấp những chỉ dẫn rõ ràng hơn. Theo đó, Nghĩa Lĩnh là ngọn núi có đền Hùng, nơi thờ đức Đột Ngột Cao Sơn. Cao Sơn là vị Thái tổ đã lập ra quốc gia họ Hùng. Núi Nghĩa Lĩnh như thế chính là ngọn Thái Sơn của người Việt.

“Bát tuyền” là con suối mang tên Bát Nhã, bắt nguồn từ trên đỉnh Phù Nghi của núi Tam Đảo, chảy qua 9 khúc suối thì tới chân núi. Dòng suối này nước trong vắt, quanh năm không bao giờ cạn, được gọi là “cửu khúc hồi hoàn” hay là suối Cửu tuyền. Đây là dòng suối nguồn gắn liền với sự tích Mẹ Tây Thiên, đã tụ nghĩa giúp muôn dân trong buổi đầu dựng nước. Lấy theo tên núi Phù Nghi thì dòng suối Nghĩa là dòng suối linh thiêng, mạch nguồn của dân tộc, chảy từ trên Trời (ngọn Kim Thiên là đỉnh cao nhất của núi Tam Đảo) hàng ngàn năm qua vẫn không ngừng tuôn chảy.

Bia Bat Nha tuyen

Tảng đá có khắc bia “Bát Nhã tuyền” bên dòng suối ở đỉnh Phù Nghi, Tam Đảo.

3. Núi Nghĩa Lĩnh còn đền thờ cha Cao Sơn và dòng suối nguồn Cửu tuyền từ đỉnh Phù Nghĩa đến nay vẫn là nơi thờ mẹ. Câu ca dao mộc mạc, gần gũi mà thực thà giản dị như ngọn nguồn lịch sử dân tộc mình. Chính bởi nếp sống trọng về ân nghĩa, lấy hiếu đạo làm nền tảng mà ông cha ta đã đời đời thờ phụng, thương tưởng và kính ngưỡng tổ tiên. Nếp sống ấy từ bao đời nay được tiền nhân trao truyền và cháu con tiếp nối, trở thành nếp nhà với ban thờ gia tiên và sự sum vầy đoàn tụ trong những ngày lễ kỵ, trở thành nếp làng xã nơi đình, đền, miếu và các lễ hội. Rồi nó lại trở thành nếp sống của cả dân tộc với việc thờ kính vị quốc tổ Hùng Vương ngàn đời.

Cả dân tộc gọi nhau là anh em, chú bác, cháu con như một đại gia đình cùng chung một mẹ cha. Người Việt có chung một đạo, chính là Đạo Hiếu, làm nền tảng cho việc hình thành tinh hoa văn hóa Việt. Cho nên, mới có câu “Ly hương, bất ly tổ”, hay “Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn có mắt ông cha không thờ”. “Đạo nhà” là nếp sống, là hồn nước và tính dân tộc của người Việt. Cũng nhờ ở quan niệm vì kính ngưỡng, thương tưởng mà lập ra thờ tự nên có những mảng ghép lịch sử xa xưa thật may mắn vẫn còn lưu lại được đến ngày nay qua. Lịch sử từ thời Cha sinh Mẹ đẻ vẫn như còn sống động qua từng di tích.

Minh Thi

335

Ngọc phả Hùng Vương và Hồng Bàng Thị kỷ

Hùng Vương Ngọc phả là những ghi chép lịch sử về thời kỳ khởi đầu của sử Việt, đồng thời cũng là về các “lịch đại đế vương” mà mỗi triều đại phong kiến xưa khi theo mệnh trời lên ngôi đều phải tôn sùng. Chính vì thế mà Ngọc phả Hùng Vương trong mỗi một triều đại chỉ có 1 lần biên soạn và được chính thức coi là quốc sử của triều đại mình. Nếu kể từ khi Đinh Tiên Hoàng lên ngôi Hoàng đế tới 1945 chế độ phong kiến đã trải qua hơn 1000 năm lịch sử, nhưng thực tế không có nhiều Ngọc phả về quốc tổ được soạn. Tổng hợp các Ngọc phả Hùng Vương hiện nay còn sưu tầm được, chỉ có 3 lần biên soạn Ngọc phả như sau:

– Lần 1: vào năm Thiên Phúc thứ nhất (Lê Đại Hành). Bản I này có tên là Nam Việt Hùng Vương ngọc phả vĩnh truyền miêu duệ tôn điệt ức vạn niên hương hỏa tự điển tôn sùng. Tựa đề lớn của bản này là Hồng Bàng Thị kỷ. Ngay từ tên gọi cho thấy đây là bản “tự điển”, tức là ghi chép các điển để thờ. Nội dung của bản này bao gồm tên gọi, tên hiệu, mỹ tự truy phong, các ngày sinh, ngày hóa, tuổi thọ, số cung phi, hoàng tử, công chúa… của Đế Minh và 18 chi Hùng Vương, cùng thông tin ngắn gọn về một số sự kiện quan trọng nhất ở mỗi đời. Bản tự điển Hùng Vương này được ghi là “thuộc thư ký Lê Đại Hành“, mà theo thiền sư Lê Mạnh Thát, vị thư ký của vua Lê Đại Hành là quốc sư Pháp Thuận.

NVHVNP013
Thiên Phúc nguyên niên chính nguyệt nhị thập ngũ nhật. Thuộc Lê Đại Hành thư ký
.

– Lần 2: vào năm Hồng Đức nguyên niên (Lê Thánh Tông) do Hàn lâm trực Học sĩ Nguyễn Cố biên soạn. Bản II này có tên Hùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền. Tựa đề lớn là Cổ Việt Hùng Thị nhất thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền. Bản này là các truyện kể về các đời vua Hùng từ Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ cho đến khi Triệu Đà diệt An Dương Vương thì kết thúc.

Ban IIHùng đồ thập bát thế thánh vương ngọc phả cổ truyền

– Lần 3: vào năm “Hùng Vương thứ 32” do Hàn lâm học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn biên soạn. Đây là Ngọc phả được soạn vào đầu thời Nguyễn, có khả năng là dưới thời vua Minh Mạng. Bản III này có tên là Hùng Vương kim ngọc bảo giám thực lục. Nội dung của cuốn thực lục này có 3 phần. Phần 1 là sao chép lại bản Tự điển Hùng Vương của thời Lê Đại Hành. Phần 2 nói về các điển thờ Hùng Vương như bài trí bài vị, vị trí các lăng huyệt mộ Hùng Vương, các nơi tạo lệ và có bài tựa dẫn về sách. Phần 3 có tên là Nam Việt Hùng Thị sử ký với nội dung là các truyện kế các đời Hùng Vương từ Đế Minh cho tới khi An Dương Vương lên tiếp ngôi.

Trang 103Hùng Vương tam thập nhị niên Mạnh xuân nguyệt nhật. Hàn lâm học sĩ Quốc tử giám Nguyễn Đình Chấn.

Bản I của Hùng Vương Ngọc phả thời Lê Đại Hành tới nay không còn bản gốc mà nó chỉ được biết qua phần 1 của Bản III. Bản II thời Lê Thánh Tông cũng không còn bản gốc, mà còn bản sao năm Hoằng Định thứ nhất (Lê Kính Tông) hiện lưu tại bảo tàng đền Hùng. Bản II cũng là bản thường được sao lưu ở các thư viện quốc gia từ thời Pháp tới nay. Do đó đây là bản thường được giới nghiên cứu biết đến nhiều nhất.

Bản III của thời Nguyễn cũng chỉ còn được sao lưu ở một số nơi thờ Hùng Vương, đặc biệt đầy đủ nhất là bản chép tay lưu tại đền Vân Luông, phường Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ. Bản III này như nói trên, đã bao gồm cả Bản I thời Lê Đại Hành và phần 3 là phần soạn lại từ Bản II của thời Lê Thánh Tông, gồm chỉnh thế thứ các vua Hùng cho phù hợp về với tự điển của thời Lê Đại Hành, bổ sung thêm một số đoạn văn mô tả, nhưng lại chỉ dừng lại ở An Dương Vương mà không nói tới thời Triệu Đà.

Bản III Hùng Vương kim ngọc bảo giám thực lục là bản Ngọc phả chính thức của quốc triều Nguyễn, là bản Ngọc phả đầy đủ nhất đã gồm cả Bản I và Bản II. Bản này theo ghi chép là sau khi soạn xong đã được khâm chỉ chuyển cho các quan đứng đầu các bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình, bộ Lễ và phó sứ (ngoại giao) để tuân mệnh sử dụng. Hiện nay, trên thực tế những phần khác nhau của Bản III đã được lưu tại những nơi sau thờ Hùng Vương:

– Đền Vân Luông, Vân Phú, Việt Trì, Phú Thọ. Bản lưu tại đền.
– Thần tích xã Vi Cương, huyện Sơn Vi, tỉnh Phú Thọ ký hiệu AEa9/26.
– Thần tích xã Hạ Lộc, huyện Sơn Vi, ký hiệu AE a9/27.
– Thần tích thôn Yên Lãng, xã Hạ Giáp, huyện Phù Ninh, ký hiệu AE a9/17.
– Xã Hoàng Xá Hạ, huyện Bạch Hạc, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên. Bản này bị chép là do Nguyễn Bính soạn.
– Đền Vân Cù, xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thường được gọi là Ngọc phả Hùng Vương bản Nam Định.

Ngoài ra rải rác các phần có thể vẫn còn được sao lưu ở các di tích thờ Hùng Vương vốn dĩ dày đặc trên vùng đất tổ Phú Thọ, Vĩnh Phúc do Bản III là bản dùng để thờ tự.

HVTTNgọc phả Hùng Vương là sự tổng hợp thông tin từ các phong tục và di tích thờ Hùng Vương ở nhiều nơi, lưu giữ qua nhiều thời gian. Ngọc phả đến lượt mình lại là nguồn sử liệu để cho các cuốn sử chính thống như Đại Việt sử ký toàn thư dựa vào khi viết về Hồng Bàng Thị. Do đó, tìm hiểu về thời đại Hùng Vương mà không xem Ngọc phả thì có thể coi như chưa biết đến nơi đến chốn. Không đọc Ngọc phả Hùng Vương làm sao biết được thế thứ và lịch sử các vua Hùng?

Đại Việt sử ký toàn thư chia Kỷ Hồng Bàng Thị thành 3 thời là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. So xét với Ngọc phả Hùng Vương thì đây cũng là 3 giai đoạn phát triển xã hội thời Hùng Vương, tương ứng là:

  1. Thời tiền sử: được sử sách gọi là thời Tam Hoàng Ngũ Đế từ khi Bàn Cổ vươn mình tạo ra Trời Đất đến thời Phục Hy và Thần Nông. Đây là thời kỳ Thần thoại. Thời kỳ này không được chép trong Đại Việt sử ký toàn thư. Về khảo cổ là nền văn hóa Hòa Bình trở về trước.
  2. Thời mở sử: từ Đế Minh thống trị vạn bang chư hầu Thiên hạ đến Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình. Tương ứng trong Đại Việt sử ký toàn thư là thời “Kinh Dương Vương”. Tương ứng trong Kinh Thư là phần Ngu thư về các vị Nghiêu Thuấn Vũ. Đây là thời kỳ xã hội bắt đầu có thủ lĩnh. Về khảo cổ là nền văn hóa Phùng Nguyên.
  3. Thời sơ sử: từ Lạc Long Quân đến Âu Cơ. Tương ứng trong Hoa sử là thời nhà Hạ và Thương. Đây là thời kỳ của chế độ phụ đạo. Về khảo cổ là nền văn hóa Đồng Đậu.
  4. Thời lịch sử: từ khi người con trưởng Hùng Quốc Vương lập ra nước Văn Lang đến khi nhường ngôi cho Thục An Dương Vương. Đây là thời kỳ của chế độ phong kiến. Tương ứng trong Hoa sử là nhà Chu, gồm 2 giai đoạn Tây Chu và Đông Chu. Về khảo cổ là các nền văn hóa Gò Mun và Đông Sơn.

IMG_1088

Đôi câu đối từng ở Đền Hùng:

啟我南郊鴻貉千秋尊帝國
顯丁西土傘瀘一带壽新祠

Khải ngã Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển đinh Tây Thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.

Dịch nghĩa:

Mở đất Nam Giao của ta, Hồng Lạc nghìn thu xưng đế quốc
Sáng vùng Tây Thổ vững mạnh, Tản Lô một dải mãi lưu đền.

Trích Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả, Lịch kỷ Hùng Vương:

Xét như tiếng đức tiền hoàng đế thời Thái cổ, từ kỷ Tam Hoàng Ngũ Đế đến nay, theo nguyên mệnh của xuân thu, bao gồm thời mở mang hồng hoang trước trời đất. Trời ban đầu mở vào Giáp Tí. Đất tụ mang ở Ất Sửu. Vận người sinh ở Giáp Dần. Vạn vật ra đời ở gian Ất Mão. Từ thời Bàn Cổ, Thái cực sinh Lưỡng Nghi, là Thiên Địa. Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Tứ tượng biến hóa thành nhiều hình trạng…

Trải thời gian từ kỷ Tuần Phỉ về sau, từ Nghiêu Thuấn Ngũ Đế tới nay đã hơn ba ngàn năm. Trước Tam Đại không như thời Đường Ngu. Sau Hán Đường Tống không như Tam Đại. Đạo đời lên xuống, không quá hai ba trăm năm mới có một sự biến. Rồi hai trăm năm có một biến, ba trăm năm có một biến trung bình, năm trăm năm có một biến lớn. Từ lúc khai mở về sau bốn năm vạn năm lúc phong khí chưa mở văn minh, chưa có đất nước, chưa yên, tới Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, thay nhau mà hưng vượng về sau, lấy vương đạo mà trị.

Xưa thời Hy Nông trở về đời Bàn Cổ, chưa có lịch, gộp các tộc có tên phủ thế trị dân, tất cả là hai mươi hai chi hệ được xét. Từ Hy Nông, Hoàng Đế, Nghiêu Thuấn, Ngũ Đế là các nguyên thánh trị thiên hạ. Đế là vua, thiên hạ chúa tể ngự thế, theo càn khôn mà khởi tạo ra lòng nhân, là đức dưỡng sinh thay tạo hóa vậy.

Thần tích thần sắc làng Áng Phao, tổng Thủy Cam, phủ Thanh Oai, tỉnh Hà Đông

Phụng sao tích thánh

Bản phả chép về một vị Đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế và hai vị Đại vương âm phù

Xưa nguyên Thánh tổ Hùng Vương mở vận lịch đồ hơn hai ngàn năm. Hùng Vương lập nước núi xanh vạn dăm, dựng nền cung điện đô thành, nước xanh một dải, khởi đầu đạo các đế thánh vua sáng, độ vật giúp người, thống trị 15 bộ, gọi là khởi tổ của Bách Việt.

Hùng đồ 18 đời truyền nối khi vận mạt, ý lớn kết thúc, trải qua các triều đại tới thời nhà Tây Hán, ở đất Long Biên có một người gốc Quảng Tín Thương Ngô. Ông họ Dương, có tổ tiên được phong ơn lộc, lấy người địa phương làm vợ là Tạ Thị, húy Cẩn, cũng là một gia đình có truyền thống thi lễ trâm anh, môn đăng hộ đối. Ông tinh thông y thuật, hay hành thiện giúp người. Cả hai vợ chồng đều làm việc thiện, cứu người. Ông tuổi đã 50 còn Tạ Thị ngoài bốn mươi mà chưa có con trai.

Một tối Tạ Thị nằm mơ thấy một tinh rắn nhập vào. Từ đó thấy trong người có mang. (Ngày 8 tháng Giêng năm Nhâm Ngọ) sinh được một con trai, tư chất lạ thường. Vợ chồng ông rất yêu quý. Nuôi nấng được 3 năm, tính cách hình dạng đã nên. Ông mới đặt tên là Cư Sĩ, để có thể biết lễ nghĩa, biết kính nhường, biết học văn, nghe hiểu âm nhạc. Bảy tuổi đi học, sách vở đọc một lần là nhớ, lại thông kinh sử, biết võ nghệ. Các học trò đương thời đều rất thán phục, cùng gọi là Thánh đồng.

18 tuổi, cha mẹ đều mất. Sĩ Công tìm đất tốt làm lễ an táng. Ba năm chịu tang, hương lửa trong nhà phụng thờ theo nghi lễ. Ông lại có tâm khuyến khích sự học, dạy giỗ người dân. Thấy sự giáo hóa ở Giao Châu chưa được mạnh đủ, Ông dần dần khuyên dụ lễ nghĩa trong dân. Phong tục tốt đẹp của Nam Châu là công của Ông vậy. Nhân dân đều kính mộ, tôn Ông là Châu trưởng.

Khi Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu, nghe nói Sĩ Công giáo hóa phục dân đã dâng biểu tấu. Vua bèn phong cho Ông là Liệt hầu. Ông nhận tước phong, theo mệnh Vua đi các huyện ấp, xem xét phong tục nhân dân.

Một ngày Sĩ Công đến trại Áng Phao, huyệnThanh Oai, phủ Phụng Thiên, thấy phong tục nhân dân còn lạc hậu, việc học còn yếu. Ông bèn xem xét vùng đất này, thấy một địa thế có thế cục sông núi cùng chầu, rồng bao xung quanh, cũng là một nơi phong quang thắng cảnh. Ông liền truyền cho quân sĩ cùng nhân dân lập một học đường ở trại Áng Phao để dạy dân văn tự. Được một năm, nhân dân kính mộ, trở thành một làng có lễ nghĩa.

Khi đó các tù trường 7 quận Chu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lãnh làm loạn, xáo động nhân dân. Do đó Vua nghe vậy hỏi vấn các đình thần để định kế sách. Vua mới phong Sĩ Công làm Thái thú ở châu. Vua cử Công có đức cao phục người, tất có khả năng yên định, có thể dẹp giặc. Một ngày Ông về học đường ở trại Áng Phao, truyền quân sĩ cùng với người trong trang mổ trâu làm lễ tế cáo trời đất, cầu đảo núi sông trăm thần đến hưởng. Sĩ tử các trang, nhân dân nơi nơi đều tin phục. Tối đó, Ông nằm trong học đường, tới đầu canh 4, thấy mông lung vào mộng,

Thấy hai người nam, quần áo chỉnh tề, hình dáng cao lớn, tay cầm kiếm, theo đường trên mà tới, tự xưng chúng tôi là dòng dõi nhà họ Hùng, tên một người là Tri Huyễn, người thứ hai là Đông Tẩy. Thấy Ông có đức lớn dạy dân chữ viết, lễ nghĩa có oai. Nay Ông vâng mệnh Hoàng đế cử Ông đi dẹp giặc. Ông lại về học đường bái yết trời đất trăm thần, lòng Trời cảm động, đã sai anh em chúng tôi linh thiêng phụng mệnh Thiên đình, chúng tôi hiện đến, tự nguyện kết làm anh em, âm phù trợ giúp. Dẹp được giặc dữ. Ngày sau xin được cùng phối phụng thờ.

Thần nhân dứt lời thì bay lên không mà biến (thần mộng ngày 10 tháng 3). Sau khoảnh khắc Ông tỉnh lại, biết có 2 vị linh thần âm phù trợ giúp. Rạng ngày Ông làm lễ bái tạ. Phụ lão ở trại tâu rằng:

– Từ khi Ông làm ở học đường dạy dân mà được yên ổn, lấy đức phục người. Trang này xin được báo đáp. Nhân nay thỉnh lấy chỗ đang là học đường, sau là nơi thờ cúng.

Ông đồng ý, và nói:

– Trại của các ngươi đã có lòng sâu với ta, sẽ trọng mệnh của ta muôn năm sau ở trại này.

Tối qua ta nằm mộng thấy 2 vị linh thần âm phù trợ giúp, tự xưng tên một người là Tri Huyễn, một người là Đông Tẩy, giúp ta dẹp giặc. Ta cho các ngươi 10 hốt vàng để ngày sau dùng cho việc thờ phụng. Cũng cung thỉnh cả 2 vị linh thần tên như vậy cùng phối thờ.

Ông tuyển lấy ở trại các sĩ tử cùng các đệ tử cường tráng trong trang, được 300 người, lấy làm gia thần theo Ông dẹp giặc.

Rạng ngày thấy sứ thần mang chiếu thư đến triệu Ông đem binh về kinh. Vua mới ủy quyền cho Ông truyền hịch đi các phủ huyện để nhân dân giúp lương gạo. Trong ngày đó Thái thú Sĩ Công xuất 2 vạn binh đến thẳng quận Cửu Chân. Ông truyền cho tướng sĩ phân các nơi giữ yên thế thủ, không được khiêu chiến.

Một này Ông soạn văn rồi sai mang chiếu dụ về việc tín nghĩa và họa phúc. Giặc đều xem văn mà sợ, đều bỏ giáp lại hàng. Từ đó quận được yên. Vua triệu Ông khải hoàn trở về, mở tiệc lớn chiêu đãi, phong cấp cho các tướng sĩ có công. Sĩ Công tâu rằng:

– Bảy quận được dẹp yên là nhờ có thần âm phù trợ giúp.

Vua nghe được việc này là đang chờ được phong hậu. Vua liền phong cho Sĩ Công làm Thái thú ở nhậm sở tại huyện Thanh Oai, phủ Phụng Thiên, đạo Sơn Nam Thượng (sau đổi sang thành Thăng Long).

Một ngày trời mùa đông, Ông đang ngồi ở phủ đường bỗng thấy trời đất hiện một đám mây vàng lớn, như hình một dải lụa đỏ, từ trên trời mà giáng hạ vào trong doanh trại. Bỗng thấy Ông thân theo mây mà bay đi. Cho tới khi trên lầu không nhìn không thấy nữa tức là Ông đã hóa (vào ngày 10 tháng 11). Nhân dân và quân sĩ đều kinh sợ hành lễ, tấu lên triều đình. Hán Đế sai sứ đến sắc phong cùng với dụ chỉ tế văn đến nơi. Sắc phong tên gốc thần hiệu cùng với thần hiệu của 2 vị âm phù, sai sứ sắc phong thần hiệu cho ba vị:

Phong Cư Sĩ Hiển ứng Đại vương. Tặng phong Phúc nhân Tế thế Hộ quốc Khang dân Thượng đẳng phúc thần.

Phong Tri Huyễn Linh quang Đại vương.

Phong Đông Tẩy Linh ứng Đại vương

Tặng phong hai vị Linh thông Bảo khao Hiển hữu Trợ thắng Đại vương.

Từ đó về sau đều có nhiều sự linh ứng, cũng có nhiều đời đế vương gia phong thê mỹ tự

Cho trại Áng Phao cùng các sĩ tử ở trong các khu trang phụng thờ lâu dài. Tốt thay!

Đến hoàng triều Cảnh Hưng năm thứ 44 ngày 16 tháng 7 sắc phong.

Hoàng triều Cảnh Thịnh năm thứ 2, ngày 26 tháng 1 sắc phong.

Hoàng triều Đồng Khánh năm thứ 2, ngày 1 tháng 7 sắc phong.

Hoàng triều Tự Đức năm thứ 33, ngày 24 tháng 1 sắc phong.

Hoàng triều Duy Tân năm thứ 3, ngày 11 tháng 8 sắc phong.

Hoàng triều Khải Định năm thứ 9, ngày 15 tháng 7 sắc phong.

Phụng sao tích thánh y như bản cũ.

Chính hương hội xã Áng Phao Nguyễn Thư Thành

Xã trưởng Nguyễn Thư Thiện