Nam quốc Anh Hoàng

Một điểm đặc biệt gắn liền với tục thờ ba vị vua Hùng thánh tổ ở Phú Thọ là luôn kèm theo thờ 2 vị công chúa. Như ở đền Thượng, đền Trung trên núi Nghĩa Lĩnh, bên cạnh 3 long ngai bài vị  của Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn ở chính cung thì còn có một cỗ ngai không bài vị để ở đầu đốc bên phải, trong văn tế được ghi là thờ hai công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung. Bản thân cụm di tích đền Hùng cũng mô phỏng cách thờ tương tự, bao gồm 3 ngôi đền thờ Hùng Vương (Thượng, Trung, Hạ) và thêm đền Giếng lập riêng thờ 2 vị công chúa này. Bộ thần điện cũng thấy ở các đình Cổ Tích, đình Việt Trì…

IMG_1978.JPG
3 ngai thờ Tam Sơn linh lang và 1 ngai không bài vị bên phải thờ Hoa Dung công chúa ở đình làng Việt Trì.

Theo Ngọc phả Hùng Vương thì công chúa Mỵ Châu Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử, còn công chúa Mỵ Nương Ngọc Hoa lấy Tản Viên Sơn Thánh. Câu chuyện Sơn Tinh thi tài, lấy được công chúa Mỵ Nương nổi tiếng, người Việt ai cũng biết. Tuy nhiên, xét kỹ thì thân thế của 2 công chúa được thờ ở đền Hùng không hẳn như vậy. Con rể vua Hùng ở Phú Thọ không phải là Tản Viên từ núi Ba Vì.
Điều khó hiểu là tại sao 2 công chúa của Hùng Vương cuối cùng (thứ 18) lại được thờ chung với 3 vị Thánh tổ dựng nước đầu tiên? Và tại sao các nơi lại thờ 2 vị này chung trong 1 ngai, không ghi tên bài vị rõ ràng?

IMG_1705
Đình Cả làng Trẹo.

Ở Nghĩa Lĩnh có 2 làng He (Vi Cương, nay thuộc xã Chu Hóa) và Trẹo (Triệu Phú, thuộc xã Hy Cương) là các thôn “tạo lệ” cho phụng sự của đền Hùng. Hai làng này thờ giống như ở đền Hùng gồm 3 vị Hùng vương và 2 công chúa. Đặc biệt 2 làng có tục “Rước chúa gái” trên cơ sở truyền thuyết công chúa Ngọc Hoa trên đường về nhà chồng đi qua đây buồn rầu nhớ cha mẹ nên không đi nữa. Dân làng phải diễn trò cho công chúa vui lên mà đi tiếp. Các trò diễn đó được gọi là “Bách nghệ khôi hài”, là những trò liên quan đến trồng lúa, cày ruộng và săn bắt.
Nhiều nơi trong Phú Thọ có truyền thuyết Sơn Tinh hoặc vua Hùng dạy dân đi săn. Như ở Vân Luông (xã Văn Phú, Việt Trì) là nơi thờ 3 vị Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn, Viễn Sơn nhưng lại có tục ném cài cướp bông, liên quan đến việc Sơn Tinh đưa Ngọc Hoa công chúa về thăm cha và đi săn lợn rừng. Hay ở xã Phú Lộc huyện Phù Ninh có tục múa gà phủ và nghi lễ mở cửa rừng, liên quan đến sự tích Sơn Tinh dạy dân làm cung nỏ, dùng dây thường bện lưới để đi săn.
Những tục lệ liên quan đến hoạt động tiền nông nghiệp cho thấy sự cổ xưa của sự tích, của nhân vật được thờ. Đi săn sẽ gắn với thời kỳ đầu của Hùng vương, hơn là thời kỳ cuối khi nghề luyện kim và nông nghiệp đã rất phát triển.
Trong các trò trình nghề ở Phú Thọ thường có đoạn diễn tích Đế Thuấn cày voi. Như trò tứ dân lập nghiệp ở Tứ Xã (Lâm Thao) có người đóng vua Thuấn dẫn voi đi cày và hát:
Vốn tôi đây dòng dõi thần minh
Kẻ tên hiệu tôi là Ngu Thuấn
Nghĩ cha mẹ tôi càng oán hận
Hận ở điều ăn ở không cân
Em dượng tôi ngạo mạn bất nhân
Ân tôi phải dĩ nông vi bản
Tôi cũng mong hữu gia hữu sản
Nhác trông lên núi Lịch tốt thay
Ân tôi phải bắt voi cày núi đá.

Phu Tho Hung VuongVị trí các địa danh trong bài.

Như đã xác định, vị vua Hùng thứ 3 được thờ ở Phú Thọ là Đế Thuấn. Vì Đế Thuấn cũng được ngọc phả và truyền thuyết gọi là Sơn Thánh tổ (Viễn Sơn hay Lịch Sơn) nên sự tích của vị này bị nhầm với Tản Viên Sơn Thánh. Những việc dạy dân cấy cày, săn bắn ở Phú Thọ là của Lịch Sơn Đế Thuấn, chứ không phải của Tản Viên Ba Vì. Công nghiệp chính của Tản Viên là trị thủy sông Đà, hơn là khai lập bách nghệ. Bản thân tổ của Bách nghệ là vị vua Hùng đầu tiên (Đột ngột Cao Sơn), tức Hoàng Đế Hiên Viên trong văn hóa phương Đông.
Từ nhận định rằng vị Sơn Thánh ở Phú Thọ là Viễn Sơn Đế Thuấn thì chợt nhận ra công chúa Ngọc Hoa lấy chồng không phải là lấy Tản Viên ở núi Ba Vì. Vua Hùng dựng lầu kén rể ở Bạch Hạc là đã chọn Đế Thuấn, người từ núi Lịch (Tuyên Quang). Điều này giúp giải thích tại sao Ngọc Hoa công chúa lại được thờ cùng với Tam Sơn Hùng Vương thánh tổ.

IMG_6117
Hoành phi Nam quốc Anh Hoàng ở đền Giếng.

Hoành phi ở đền Giếng trong quần thể di tích đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh: Nam quốc Anh Hoàng. Ý ở đây so sánh hai công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung với 2 bà Nga Hoàng và Nữ Anh, là con gái của Đế Nghiêu được gả cho Đế Thuấn. Thực tế thì đây không chỉ còn la sự so sánh mà ta có thể đặt dấu bằng giữa nhị vị công chúa Ngọc Hoa, Tiên Dung với Nga Hoàng và Nữ Anh.
Tên Ngọc Hoa đọc phiên thiên cho chữ Nga, là tên của Nga Hoàng.
Câu đối ở đền Giếng:
皇家衍出龍仙派
帝闕端門姊妹花
Hoàng gia diễn xuất long tiên phái
Đế khuyết đoan môn tỉ muội hoa.
Dịch:
Rồng tiên lại tiếp dòng vua chúa
Hoa ngọc chị em chính đế cung.
Ngọc phả Hùng Vương có một chi tiết thường hay bị bỏ qua: Lộc Tục… hóa tiên về biển cùng con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung. Lộc Tục ở đây không phải Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình ở đoạn sau đó. Chỉ có thế thì Lộc Tục mới có thể cùng công chúa Ngọc Dung “hóa tiên” được. Ngọc Dung là tên gọi tắt của 2 vị Ngọc Hoa – Tiên Dung, vốn được thờ chung trong 1 ngai. Cả hai đều được vua Hùng (tức là Ất Sơn – Đế Nghiêu) gả cho Đế Thuấn.
Cổ sử Trung Hoa kể rằng, nguyên Đế Thuấn là người bộ lạc Hữu Ngu, mẹ ông là người rất hiền đức mất sớm. Cha là Cổ Tẩu lấy vợ khác và sinh ra Tượng và một cô con gái khác. Dù bị mẹ con Tượng và cả Cổ Tẩu đối xử không tốt, Thuấn vẫn một mực hiếu thuận, giữ đúng đạo làm con. Danh tiếng Thuấn được người trong bộ lạc nể phục. Nhờ đó ông được Đế Nghiêu gả cho hai người con gái là Nga Hoàng và Nữ Anh, đồng thời tặng cho lương thực và rất nhiều gia súc. Sau thời gian thử thách, Đế Nghiêu quyết định truyền ngôi lại cho Thuấn bất chấp lời can ngăn, vì Nghiêu có một người con trai đã đến tuổi trưởng thành là Đan Chu.
Chuyện Đế Nghiêu truyền ngôi cho Đế Thuấn chính là cốt truyện Vua Hùng kén rể ở Phú Thọ. Ngọc Dung công chúa ở đây là hai vị Nga Hoàng, Nữ Anh, con của Đế Nghiêu. Việc truyền hiền (thiện nhượng) này là thể hiện xã hội của thời kỳ mẫu hệ. Lấy con gái vua tức là được kế nhiệm ngôi vua, cai quản đất nước. Cuộc xung đột tranh giành ngôi vị lúc này là giữa Đế Thuấn và Đan Chu, con của Đế Nghiêu. Truyền thuyết Việt kể thành việc tranh chấp Mỵ Nương giữa Sơn Tinh và Thủy Tinh.

IMG_1842Ban thờ Ngọc Hoa – Tiên Dung trong sân chùa Hoa Long.

Ở cạnh chùa Hoa Long và đình làng Việt Trì từng có một lầu gác thờ Hoa – Dung công chúa, vốn còn dấu kê chân cột bằng đá ong. Nơi đây có thể là “lầu kén rể” của vua Hùng cho con gái. Nay ngôi đền thờ hai vị công chúa này được xây lại trong khuôn viên chùa Hoa Long, có tượng 2 vị bằng đá cẩm thạch.
Cổ kính hơn còn lưu lại được, ở xã Tiên Du, huyện Phù Ninh có ngôi đền Nhà Bà thờ Ngọc Hoa và Tiên Dung. Tương truyền, trước đây hai nàng công chúa đã đến vùng quê này vừa để du xuân, vừa dạy nhân dân săn bắn, hái lượm và trồng cây… nên mảnh đất này được gọi là Tiên Du.

IMG_6227
Đền Nhà Bà ở Tiên Du.

Một vế đối còn lưu được bên cột hoa biểu ngoài đền:
君由白鶴來駙南越萬邦稱女傑
Quân do Bạch Hạc lai phò, Nam Việt vạn bang xưng nữ kiệt
Dịch:
Chúa đến giúp từ Bạch Hạc, Nam Việt muôn bang gọi gái tài.
Chữ “phò” 駙 ở đây còn có nghĩa là “phò mã”, chỉ con rể vua. Chữ “vạn bang” ở đây cũng như trong Ngọc phả Hùng Vương, nói tới nước Nam rộng lớn, cội nguồn của nhiều bang quốc (Thủa Hoàng Đế mở muôn nước).
Nếu như Tiên Dung lấy Chử Đồng Tử ở vùng Khoái Châu thì làm sao có thể lại cùng Ngọc Hoa đi “tiên du” tới vùng đồi núi trung du ven sông Lô này mà dạy dân trồng cây, hái lượm được?
Hình tượng hai vị công chúa con vua Ngọc Hoa – Tiên Dung thể hiện ngôi vị thủ lĩnh đứng đầu quốc gia ở thời kỳ Hùng Vương dựng nước. Đó là cái thủa “quốc sơ”, bách nghệ mới được khai sinh. Thời kỳ mà cuộc sống người Việt còn đang phải sống dựa vào rừng núi, săn bắn hái lượm. Sản xuất lúa nước mới được bắt đầu với việc sáng tạo ra cách cày ruộng sử dụng gia súc (Đế Thuấn cày voi). Một bước tiến từ xã hội nguyên thủy lên xã hội thị tộc, có nước, có vua. Đọc lại chuyện xưa, không thể không cảm cái ơn đức của tổ tiên khai mở từ thủa hồng hoang. Câu “Ẩm hà tư nguyên”, Uống nước nhớ nguồn, được treo ở đền Giếng, đền Nhà Bà, không thể không nhắc lại.

Triệu Cơ Vương tích

Hùng Vương ngọc phả là một bộ sử tóm tắt của thời xa xưa nhất, đã được cha ông ta lưu truyền được cho tới nay sau hàng ngàn năm lịch sử gian nan dựng và giữ nước của dân tộc Việt. Đoạn đầu của Ngọc phả chứa đựng những thông tin cơ bản nhất về thời kỳ Hùng Vương.

2019-05-01
Trang đầu của Ngọc phả Hùng vương R285.

Bản Ngọc phả Hùng Vương lưu tại Thư viện Quốc gia mang mã số R285 chép mở đầu như sau:
Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế ký truyền Ngọc phả Cổ Tích lưu lai.
Tích giả tự Hoàng Đế chi thời, Viêm Đế tam thế tôn Đế Minh sinh Đế Nghi, ký nhi Nam tuần Ngũ Lĩnh sơn. Đế Minh tiếp đắc Vụ Tiên nương thần nữ nhi sinh Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục. Tại vị nhị bách ngũ thập niên, thọ nhị bách ngũ thập thất tuế, hóa tiên quy hải, dữ Động Đình quân nữ Ngọc Dung, dung mạo đoan chính, thánh trí thông minh, trác xuất Đế Nghi chi lượng. Đế Minh dĩ trí tuệ vưu kỳ, sử chi tự vị, khâm truyền đại bảo thống ngự vạn bang. Dương Vương cố nhượng kỳ huynh. Ư thị Đế Minh lập Đế Nghi vi tự, dĩ lỵ Bắc phương, nhi phong Kinh Dương Vương vi Nam diện lý thiên hạ, cổ vân Giao Chỉ quận. Kinh Dương cải Xích Quỷ động, hiệu Xích quốc.
Dịch:
Ngọc phả chép truyện Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ, Tiền Thái tổ Cao Hoàng Đế, lưu tại Cổ Tích.
Xưa kia từ thời Hoàng Đế, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần phương Nam ở núi Ngũ Linh. Đế Minh gặp được con gái thần nương Vụ Tiên mà sinh Kinh Dương Vương, húy Lộc Tục, tại vị 250 năm, hưởng thọ 257 năm, hóa tiên về biển cùng con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung. Vương dung mạo đoan chính, thánh trí thông minh, vượt hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh lấy làm lạ, muốn lập làm kế tự, truyền mệnh ngôi báu thống trị vạn bang. Dương Vương cố nhường cho anh nên Đế Minh lập Đế Nghi kế tự, cai quản phương Bắc, phong cho Kinh Dương Vương ở mặt Nam quản lý thiên hạ, xưa là quận Giao Chỉ. Kinh Dương Vương đổi thành động Xích Quỷ, gọi là nước Xích.
Ngọc phả Hùng Vương này vốn được lưu ở thôn Cổ Tích, xã Hy Cương ở Phú Thọ, nơi có di tích Đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh. Thôn Cổ Tích là “trưởng tạo lệ” cho việc phụng sự Hùng Vương nên việc thờ cúng tại đình làng Cổ Tích hoàn toàn giống với việc thờ trên đền Hùng. Các bài vị của đền Hùng và bài vị thờ ở thôn Cổ Tích là được sao chép giống nhau. 3 cỗ long ngai thờ ở chính cung đền Thượng gồm các bài vị:

  • Đột ngột Cao Sơn Hiển Hùng ngao thống thủy điện an hoằng tế chiêu liệt ứng thuận phả hộ thần minh thọ quyết ứng quảng huệ y diễn vệ hàm công thánh vương vị.
  • Ất Sơn thánh vương vị
  • Viễn Sơn thánh vương vị.

IMG_1485
Long ngai bài vị ba vị Hùng Vương ở đình Cổ Tích. 

Việc thờ 3 vị vua Hùng Đột ngột Cao Sơn, Ất Sơn và Viễn Sơn không chỉ gặp ở xã Hy Cương mà còn gặp ở nhiều nơi khác trong khu vực Phú Thọ như ở các thôn Việt Trì, An Thái, Vân Luông… 3 vị vua Hùng này như thế không phải là con của Lạc Long Quân và Âu Cơ như vẫn nhầm tưởng, mà là 3 ngôi vua Hùng đầu tiên của thời dựng nước.
Sắc phong của thôn Cổ Tích dưới thời Quang Trung gọi là: Hùng Vương Sơn Thánh Tổ Nam Thiên đại bảo Tiền Hoàng Đế triệu tạo hồng đồ Việt Nam thuỷ tổ đại thánh Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị nhất thập bát vị thánh vương. Ta thấy Hùng Vương Sơn Thánh Tổ, người đã tạo lập quốc gia “Nam Thiên đại bảo”, không phải là thần núi như kiểu giải thích vô nghĩa vô lối đang được phổ biến. Vị Đột ngột Cao Sơn theo sắc phong là Hùng Vương Sơn Thánh tổ, vị vua Hùng đầu tiên “triệu tạo hồng đồ, Việt Nam thủy tổ”.

IMG_1492
Sắc chỉ thời Quang Trung của thôn Cổ Tích về việc thờ phụng Hùng Vương.

Trong Ngọc phả Hùng Vương đã dẫn, Đột ngột Cao Sơn được nhắc đến ngay từ tên gọi của Ngọc phả: Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế. Thái tổ Cao hoàng đế Sơn thánh là tương đương với tên gọi Đột ngột Cao Sơn. “Đột ngột” nghĩa là đầu tiên, tương đương với danh hiệu Thái tổ. Ở Phú Thọ nhiều nơi vẫn thờ Đột ngột Cao Sơn là Thái tổ Hùng Vương, như ở xã Trạm Thản của huyện Phù Ninh (đền Tố hay đền Bình Thản).

IMG_6329.JPGCổng đền Tố ở xã Trạm Thản, Phù Ninh.

Vị Thái tổ Hùng vương đầu tiên mở đầu trong Ngọc phả Hùng Vương là Đế Minh. Ngọc phả ghi ngay từ dòng đầu “Tự Hoàng Đế thời”. Đế Minh là Hoàng Đế (Đế Hoàng) của Hữu Hùng thị trong cổ sử Trung Hoa. Danh hiệu “Hiển Hùng” trên bài vị chỉ rõ đó là Đế Minh vì Hiển nghĩa là sáng, là minh. Chữ Hiển này được đọc khác đi trong tên gọi Hiên Viên (Hiển Vương) của Hoàng Đế Hữu Hùng.
Đại Việt sử ký toàn thư mở đầu: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy Thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam.
Đế Minh trong Ngọc phả cũng là người “thống ngự vạn bang” (cai trị muôn nước), tức chính là Hoàng Đế. Còn chuyện Hy Thị định Giao Chỉ ở phương Nam xét rõ là chuyện Lộc Tục cai quản phương Nam, tên xưa là Giao Chỉ, được kể trong Ngọc phả.

IMG_6169.JPGHoành phi Vương tích triệu Cơ và Nam bang triệu tổ ở đình Cổ Tích. 

Thôn Cổ Tích, nơi có đền Hùng, vốn có tên là Lũng Cơ. Tức là nguyên tên gọi chữ Cổ là từ chữ Cơ. Hoành phi trong đình Cổ Tích cũng như trên đền Thượng của núi Hùng ghi Triệu Cơ Vương tích, là giải nghĩa cái tên Cổ Tích của khu vực này. Cơ cũng là họ của Hoàng Đế theo cổ sử Trung Hoa. Triệu Cơ Vương tích do đó có thể hiểu là dấu tích dựng nước của Vua Cơ – Hoàng Đế Hữu Hùng.
Hai ngôi Hùng Vương tiếp theo là Ất Sơn và Viễn Sơn, cũng được thờ ở nhiều nơi tại Phú Thọ. Ất là số đếm thứ 2 trong Thập can. Còn ở nhiều nơi Viễn Sơn được ghi thành Quý Minh, bởi vì Quý là thứ 3 trong thứ tự Mạnh Trọng Quý. Như thế Ất Sơn và Viễn Sơn nghĩa là các vị vua Hùng đời thứ 2 và 3, sau vị đời thứ nhất đầu tiên là Đột Ngột Cao Sơn. Tiếp sau Đế Minh theo Ngọc phả Hùng Vương là Đế Nghi và Lộc Tục. Vậy Ất Sơn là Đế Nghi, còn Viễn Sơn là Lộc Tục.
Truyền thuyết ở Phú Thọ kể về ba vị Quan Lang đi săn là chàng Cả, chàng Hai và chàng Út, đã hóa thành ba ngọn núi Hùng “Tam Sơn cấm địa”, cũng chính là 3 vị Hùng vương Sơn thánh được thờ tại đây. Ở đình Việt Trì thì gọi là “Tam Sơn linh lang”, cũng là chỉ các vị này.

IMG_1979
Gian tiền tế đình làng Việt Trì.

Theo thư tịch thời Nguyễn ở tổng Vân Nham phủ Đoan Hùng, vị Viễn Sơn còn được thờ dưới tên là Lịch Sơn. Ngọn núi ở phía xa (so với kinh đô tại ngã ba Việt Trì), mang tên Lịch Sơn là núi Lịch nằm bên kia dòng sông Lô, chỗ giáp ranh giữa Tuyên Quang và Vĩnh Phúc. Trên đỉnh núi này theo Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn có đền thờ Đế Thuấn và Đế Nghiêu và người xã Yên Lịch có tự điển để phụng thờ.
Đế Minh đã được xác định là Hoàng Đế Hiên Viên thì 2 ngôi tiếp theo sẽ phải là Đế Nghiêu và Đế Thuấn. Tức là Ất Sơn – Đế Nghi là Đế Nghiêu, còn Viễn Sơn hay Lịch Sơn là Đế Thuấn của cổ sử Trung Hoa. Thời kỳ này được tôn vinh là thời Đường Ngu thịnh trị của Trung Hoa cổ đại. 3 vị thánh tổ Hùng Vương thờ trên ngôi đền quốc tổ ở Phú Thọ như vậy là Tam Đế: Đế Hoàng, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, là những người đã khai lập vạn bang của quốc gia họ Hùng tại vùng Nghĩa Lĩnh – Phong Châu ngày nay.

IMG_5983
Nghi môn đền Thượng trên núi Hùng.

Câu đối của đền Hùng còn ghi:
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế
Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.
Dịch:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.
Từ đời Tam Hoàng đến đời Tam Vương truyền nối nhau, đều là tổ tiên, là lịch sử mở nước của Bách Việt.

Thiên Đế bảo lục

Phiên âm bản thần tích Thiên Đế bảo lục của đền Thiên Đế ở Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Thien De bao luc

Phụ Khoái Châu phủ Thiên Thi huyện La Trừng trang Trì La trại

Thiên Đế bảo lục

Tích Nam Việt Hùng Vương khai sáng, thế tổ triệu cơ, thập bát thế truyền, nhị thiên dư tải, thái bình ngọc chúc, quốc thế kim âu. Hậu Trần tiên sinh hữu thi vân:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thánh kế thần truyền thiên cổ tại
Nhị thiên dư tải ức niên hương.
Cái Bách Việt chi tổ, thái hoà chi thịnh hội dã.
Kinh Dương Vương tôn Chiêu Vương, đô vu Việt Trì Bạch Hạc giang, quốc hiệu Văn Lang. Chiêu Vương khoan nhân trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thần chi, chuyên vụ dưỡng dân vi bản, thế xưng vi hiền quân dã. Thị thần hải nội thăng bình, phủ trung vô sự, nhân dân ngu cấp túc chi quản huyền, thiên hạ ngưỡng thái bình chi cảnh tượng. Đế tử chính tông nhàn du thiên hạ, thần Sơn Nam quận Khoái Châu phủ Thiên Thi huyện La Trừng trang Trì La trại chi địa, nhất nhật kiến phong vũ tiêu tiêu, thiên địa hối minh, nhật trung dĩ dạ. Trì La dân khiếp cụ, bất cảm xuất môn. Khoảnh khắc thiên địa tình quang, hốt đại thụ phi lai lập tại long đầu thổ ấn chính cục, trường nhất trượng dư. Thụ hương phức uất, chi diệp tinh thông. Trì La dân dị chi phụng tấu đế đình. Chiêu Vương loan giá đế quan nãi tri tử bạch đàn chi linh mộc dã . Vương ám hỷ quốc thế hưng long, thiên sinh linh mộc, thử đại cát triệu dã. Tức truyền Trì La dân lập lộ thiên bệ, trí nhất hương lô tuế thần hương đăng phụng tự yên. Dân phụng mệnh tu lý.
Vương hành lễ tế thiên, loan giá hồi điện. Tự thử quốc đảo dân cầu, trai giới chí thành, tựu linh mộc hạ khẩn nguyện quốc gia kỳ tình đảo vũ, dân gian nhương bệnh cầu thai, linh ưng như hưởng hỹ.
Đãi chí Hùng Vương thập thế truyền Tạo Vương ngự cực. Linh mộc tại Trì La kinh thất bách dư niên, chi diệp y nhiên. Mậu thịnh xuân thiên nhị nguyệt sơ nhất nhật linh mộc xứ thiên địa hôn hoàng, vân đằng ngũ sắc, hoả thằng toàn nhiễu, linh mộc tam tạp hào quang, thiểm thước phong vũ hôn mê. Trì La dân kinh phục, tu hoán, thiên địa tình quang. Nhân dân tụ quan nãi kiến cự nhân tích tam bộ ấn nhập mộc trung. Kỳ lộ thiên bệ chú hương giai tự băng vấn. Trì La dân kinh dị tái phụng tấu đế đình. Tạo Vương loan giá quan chi dĩ vi hoàng gia đức thịnh, tất hữu thánh nhân xuất thế, dĩ bảo quốc gia quyết phi tầm thường thuỵ dã. Tức truyền sở tại dân lập tự phụng tự. Tỉ quốc gia nhân dân đảo kỳ hữu sở tự thành, Vương hành lễ sự, cật loan giá hồi điện. Tự thử quốc đảo dân cầu, hương đăng bất tuyệt.
Khước thuyết: Vương hữu nhất thân (tức Hy Vương nữ ) hiệu Minh Hoa công chúa, quốc sắc thanh kỳ, phong tư tuyệt thế, hồng thần phấn kiếm, phượng nhãn nhung my, bản lãng uyển chi hoa, kiều bất nhiễm trần ai tục, vị sơ sinh chỉ thực trai, luyến hương hoa chi vị. Cửu tuế đế đình tự nguyện xuất gia quy Phật. Hy Vương kiến nữ tử thành tâm mộ Phật, truyền lập tự vu điện trung tỷ thích kỳ nguyện. Tự thử công chúa phụng Phật trưởng trai, tinh thông Phật pháp.
Cập Tạo Vương tức vị, công chúa đăng vi thế tôn bồ tát. Niên thất thập nhất văn Trì La hữu linh mộc, trung hữu cự nhân, tích vương truyền lập tự phụng tự, phương tâm luyến cảnh, mệnh giá xuân du, tựu xứ quan chi hồng nhật dĩ tà. Công chúa ngưỡng quan linh mộc, kiến không (âm không, tân thoát xác dã) xà tự thiên hữu vẫn nhiễu Minh Hoa công chúa tam tạp. Công chúa khiếp phục bàng hoàng, tự mộng, hốt kiến nhật nguyệt tịnh truỵ nhập khẩu trung, tịnh thôn chi, siếp thần, không xà đằng không nhi khứ. Công chúa sạ tỉnh, giá hồi vương phủ. Bách nhật hậu công chúa cảm nhi hữu thần, quan linh mộc cự nhân tích xứ diệc giai tự dựng, nhật nguyệt tiệm đại, thường hữu tản vân ngũ sắc, phúc linh mộc thượng. Nhân giai kỳ chi. Minh Hoa công chúa dựng kinh thất bát nguyệt. Tạo Vương truyền nhập long đình, vị viết: cửu tuế quy Phật, chí tư niên thất thập dư dĩ đăng bồ tát. Hà sự đam tình hoa nguyệt, di tiếu nhân gian. Công chúa tự trần tựu quan linh mộc không xà triền thân chân tính cụ tấu. Vương bất tín, biếm nhập Ô Lý chi địa (tức Chiêm Thành địa).
Kinh sổ nguyệt Trì La dân kiến linh mộc xứ, dạ văn phong thanh phất phất như lôi quán nhĩ, mộc thượng xán lạn, giai như hoả diễm, mộc trung tự dựng giả ích đại. Trại dân tấu kỳ sự. Vương dĩ vi quái, tức truyền lập kỷ cấp đàn tại long đình trung, tế giới mộc dục. Tam nhật kiền thành, triệu các tăng ni, dữ bách quan hành lễ kỳ đảo. Chúc viết: quả nhân kiến thử quái mộc, cập thất tuần công chúa hữu thần, bất tri hoạ phúc như hà, vi thử tấu cáo Hoàng Thiên, bách thần chư phật, khẩn nguyện cát hung ưng mộng, tỷ trần tâm đắc ngộ huyền cơ. Thị tịch nhị canh bán, Vương mông lung thuỵ khứ, kiến tường vân ngũ sắc, ngọc điện lưu ly, long cung xán lạn, phượng các huy hoàng, Ngọc Hoàng chính ngự, bách quan sâm liệt. Hốt văn Ngọc Hoàng truyền thiên đình điển bạ phán quan, xuất triệu Tạo vương chí đình.
Ngọc Hoàng mạ viết: kim thế vận nhất cực hội dã, tam thập tam thiên thế giới chi hạ, đa tai ương kỳ dị, tật bệnh cơ khát, tử vong tải lộ, âm dương hỗn tạp, yêu quỷ tặc đồ, Nam Châu dũ thậm. Thiên đình mẫn thử hạ dân trì mệnh Đế Thích đề hoàn thiên vương ưng thai ư bạch đàn linh mộc. Tái mệnh Đông quang chủ bộ, Tây quang chủ bộ, nhị vị đầu thai ư Minh Hoa công chúa, giáng sinh nhân thế, tá hữu Đế Thích Thiên Vương, trừ quỷ tặc ư Nam Châu, cứu nhân gian chi tật khổ, dĩ diễn quốc gia chi mệnh mạch. Quân vương an đắc biếm giáng công chúa giả gia. Kim dĩ tri quá chí thành kỳ đảo, tức nghinh công chúa hồi cung, thứ miễn kỳ tội. Vương tỉnh giác, hoàng cụ, hành lễ bái tạ, tức mệnh đình thần nghinh Minh Hoa công chúa tái hồi phủ điện. Vương thân tạ quá, kính lễ sự chi, tái khiển Thuỷ tào phán quan Diêm La bộ suý

(Án Diêm La bộ suý, diệc Hùng Vương chi miêu duệ, Long Vương bách noãn chi tôn, kỳ phụ Hùng Độ vi đế thủ bộ chủ. Kỳ mẫu Vũ Thị Đoan mộng kiến giao long nhi hữu thần thần. Chí Quý Tỵ niên thập nguyệt sơ thập nhật sinh Diêm La công, mệnh danh viết Đà. Niên thập tứ, văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược quá nhân, lập tại ba đào, như lý bình địa. Vương triệu hồi triều thụ chức, đa triển kỳ tài, trạc vi chưởng quản long chu Lạc Long tướng quân. Niên thập cửu Vương mệnh tướng binh thảo Diêm La tặc ư Nam Hải ngoại. Công phụng mệnh bình Diêm La chủ, tái triệu hồi triều vi chưởng bình Diêm La nguyên suý, thuỷ đạo đại tướng quân, tái mệnh phó nhậm trấn hải môn, vi thuỷ đạo chủ bộ)

Tựu Trì La trại linh mộc xứ, phụng thủ hương đăng, đãi quan thuỵ ứng như hà tài đắc nhất niên. Thần thiên hạ nhân dân tai ách, tật bệnh hạ thắng, tà yêu tác loạn, xuất một nhân gian, thiên địa hối minh, bất phân trú dạ, giang hải giao long, sơn lâm hổ báo, nhiễu hại nam nữ. Tái hữu Xích Tỵ quỷ, cẩu ma thần, khởi binh tác loạn, năng thực nhân nhục, ẩm nhân huyết, nhập hoả bất phần, nhập thuỷ bất nịch, hoặc đằng không nghinh chiến, hoặc tiềm thuỷ giáp công, binh tam thập vạn, dư biến hiện vô cùng, lược thủ Đông Tây Lưỡng Quảng, thập lục châu, tận thị quỷ tặc địa. Triều đình phấn kích, bị hại giả đa, tướng thần thứ thủ vô sách. Vương thâm ưu chi, hồi ức Hoàng Thiên báo mộng, tam niên hậu, quốc hữu quỷ tặc, quả nghiệm, nhi thiên vương giáng thế, phụ quốc cứu dân, vị đắc kiến dã.
Tái lập nhất đàn tề trai giới, đảo tế thiên địa tam nhật. Giáp Tí niên xuân thiên chính nguyệt sơ cửu nhật, Trì La linh mộc tự dựng, kinh dĩ tam niên, hốt văn tích lịch (nhất thanh tam niên) kinh thiên động địa, phong vũ hối hôn mê, nhật trung tự dạ. Trì La dân khiếp cụ, thiết phục quán chi, kiến tản vân ngũ sắc, phúc linh mộc thượng, hào quang xán lạn, thuỵ khí huy hoàng, thiên tinh cộng hội, long phượng nhiễu bàng, câu thiên hưởng lượng, nhã nhạc hoà hài, nga nhi đại phá nhất thanh, hoả quang tứ phóng. Mộc phá chi lạc, phi thiên đằng không, kỳ mộc phúc phá xuất nhị bào, thủy thành cam thuỷ, duy tồn nhất giả tam tứ xích, cương như thiết thạch, thuỷ phúc nhất bào, ngũ thải vân phúc kỳ thượng. Diêm La vương kinh dị, phụng tấu đế đình. Vương thân lai trí bào long giá, nghinh hồi bảo điện, truyền lập long lâu ư đình tiền, trí bào ngọc tử, diệc thường hữu ngũ sắc vân phúc kỳ thượng. Vương dữ bách quan trai giới hành lễ, khẩn nguyện thiên vương xuất thế, dĩ tá quốc gia, dĩ tiêu tai biến.
Chính nguyệt thập ngũ nhật hốt kiến thiên địa âm mai, lâu thượng bào hào quang tứ phóng, thuỵ khí hỗn hoàng, bào trung tự phá nhất thanh, kinh động thiên địa. Vương dữ bách quan khiếp phục lâu tiền, ngưỡng quan chi kiến Đế Thích Thiên Vương ngự lâu tiền long đầu, tường vân ngũ sắc, đầu đới bình thiên mạo, thân phi long cổn, thủ chấp kim bài.
Minh Hoa công chúa hoài thai tam tải, đại phá nhất thanh, nhị nhân tòng công chúa đầu thượng đột xuất, thể mạo khôi kỳ, ngũ nhạc triều thiên, tam đình bình đẳng, diện như hồng nhật, thạc đại đường đường, ngũ thái tinh huy, ngọc cân xán lạn, thủ chấp long đao, thị lập Đế Thích Thiên Vương tả hữu.
Công chúa hóa thân, duy tồn lưỡng thứ phát, nhất thứ tại Đông quang biên, nhất thứ tại Tây quang biên. Tu du, vân âm tứ tán. Thiên địa tình quang. Vương dữ bách quan bái hạ, hốt văn Đế Thích Thiên Vương truyền tả hữu nhị công viết: Thiên đình mệnh ngã giáng sinh Nam Châu, tá thần quân, trừ quỷ loại, nghi cấp tuyển tướng khiển binh, tuỳ ngô thảo tặc, bất khả hoãn dã. Nhị công phụng mệnh tức triệu Diêm La bộ suý đề nhất thiên binh thảo tặc. Nhị công lệ thanh nhất hô, lưỡng thứ phát hốt biến. Nhất thứ phát biến vi hoả mã, thân trường cửu xích, Tả công kỵ chi. Nhất thứ phát biến vi ngọc lân, Hữu công kỵ chi. Tam vị (Thiên Đế cập nhị công dã) tiến hành không trung, Diêm La tiến hành thuỷ đạo, tấn chí tặc cảnh. Nhị công huy đao lệ thanh, đại sất lôi đình lẫm liệt, hào quang tứ phóng, thiên binh hoán khởi giáp công. Hoả mã Ngọc lân phún hoả. Thuỷ đạo Diêm La tiếp chiến, vân vũ hôn mê, quỷ tặc kinh tán, tận biến vi trần. Duy Xích Tỵ quỷ bất năng tự biến, trảm nhất thiên đầu, tống hồi kinh quốc. Hổ báo giao long yêu quái chi vật, nhất giai ninh tức.
Lục nguyệt sơ thập nhật Đế Thích cập nhị công đăng ngũ tằng vân nhi hoá. Diêm La bộ suý tức nhật hồi triều, biểu tấu kỳ sự. Vương văn chi, đại thán tức viết: nhân dân chuyển hoạ vi phúc, chuyển tai vi tường, ngưỡng thánh đức tường vân thuỵ nhật, thố lưỡng gian hoà khí xuân phong vạn hạ Thiên Đế cập nhị vị toàn càn chuyển khôn chi đại pháp lực dã, toại truyền tạo điện ư long đình, phụng tự tam vị, đáp tạ thần hưu.
Lục nguyệt nhị thập cửu nhật Diêm La công hạ long chu, du Phong Châu, chí Tam Kỳ thuỷ, phong đào âm ế. Diêm La công thân biến vi xà, trường thập trượng dư, trực hạ Tam Kỳ, hoá sinh bất diệt. Tướng sĩ tức hồi đế đình, phụng tấu kỳ sự. Vương tức mệnh đình thần chí Tam Kỳ hành lễ, lập từ phụng sự yên. Tái truyền tu tam vị thần tượng, cập Diêm La công tượng, nghinh nhập bảo điện, tuế thần phụng sự, kỳ đảo linh nghiệm. Vương mệnh giá tựu Trì La trại, tiên lập hành cung, ngưỡng quán địa hình, long như yển đình chi hình, thuỷ thế oanh hồi, dương long loan bão, ngự chí linh mộc xứ, kiến nhất phiến chân long, thất tinh đới ấn, ngọc mạo hậu đầu, tả hữu phiến phiến hồi đầu củng hướng. Tả hữu long nhãn tỉnh, ngư truy hồi triều, kim tinh trữ lập, ngân đới chu hồi, thiên mã củng, liên hoa khai, đường tâm tam tinh lưỡng diệu đột khởi, thành thiên tạo chi quý địa dã.
Vương truyền lập từ ư long đầu chính cục, toạ Quý hướng Đinh, thuỷ thế nội triều, tinh phong ngoại ưng. Tái truyền tướng tử bạch đàn linh mộc giả (cung tạo) Đế Thích Thiên Vương thần tượng phụng tự. Hựu truyền lập tự ư long hình xứ, sự cật, chuẩn hứa Trì La trại Đông Tây lưỡng giáp, tuế thần hương đăng, tịnh miễn binh lương. Xuân (tam nguyệt sơ thập nhật) thu (cửu nguyệt thập nhị nhật) quốc tế. Ban tiền tam thập quán, trí tự điền thập nhị mẫu, phụng sự như nghi. Nhất trại lục trang (An Canh, Liễu Cầu, La Trừng, Trại Thung, Cổ Lễ, Lưu Xá) diệc miễn binh lương, tuế thần phụ tế ư Trì La Thiên Đế từ.
Vương đề thi vân:
Trì La thắng địa tối chung linh
Xứ xứ triều quy củng đế đình
Thiên Đế giáng sinh di tích tại
Quốc gia hương hoả ức niên hinh.
Vương phản giá hồi điện, tặng phong Tam thiên thiên Giới nội Đế Thích Đề Hoàn Đại phu Ngọc bệ hạ, Nhật quang Thiên tử Thánh vương, Nguyệt quang Thiên tử Thánh vương -Tam vị thượng đẳng thiên thần. Diêm La bộ suý môn tiền tôn thần.
Khước thuyết: Hùng Vương thập bát truyền chí Tình Vương vô tự, tốn vị ư Thục An Dương Vương. Thế truyền Ái Châu (tức kim Thanh Hoá) Thuận Thiên phủ Lôi Dương huyện Biện Sơn xã Phạm Đạt vi Sơn Nam quận điển binh, thú Trì La trại Đinh gia nữ Lục Nương. Phụ tạ tam tứ niên, phu phụ lực hành thiện sự. Tứ tuần dư vị chiêm hùng huỷ chi tường. Nhất nhật vị phu nhân viết: Ngã tiên tổ tố xưng thiện chi gia, đôn ngũ luân, chẩn cùng phạp, ngã dữ nhĩ, hành nhân tu đức, bất cảm ích kỷ hại nhân, tự phạm nhất hào tội ác, cửu bồi thiện quả. Vị vãn, kiến quế phương, hoặc nhân đạo do khuy, cố thiên tâm anh quyến. Ngã văn Thiên Đế điện, quốc gia dân độ, đảo chi tất thông, vạn sự như ý. Ngã dữ nhĩ, thành tâm cầu tự, phi yến kỹ hoài, khởi bất thích bình sinh chi nguyện ư thị chí từ cầu tự. Dạ mộng thần nhân báo viết: Ngã hiếu đấu kỳ, nhữ tri kỳ hồ. Phạm đối viết thần bản bất tri kỳ dã.
Thần nhân viết: kỳ giả hoạ phúc chi cơ, thiên địa huyền vi, nhân gian nan thức, nhữ chí thành cầu tự, Ngô sát nhữ gia chi phúc, hậu tai hậu tai. Ứng hứa kỳ thạch xa tử tướng hồi dĩ vi gia bảo. Ngôn ngật, tức thụ chi. Phạm thai kính thụ bái tạ. Tỉnh, mặc tưởng Ngô gia phúc hậu, Hoàng Thiên dĩ tứ tự hỹ. Phu phụ hành lễ bái tạ nhi hồi. Tài sổ nguyệt Đinh Thị hữu thần, kinh lục thất nguyệt, Phạm văn thúc phụ quyên trần, phu phụ tái tựu từ hành lễ. Sự cật hồi Biện Sơn trợ táng. Kỷ Mùi niên tam nguyệt sơ cửu nhật, Biện Sơn xã tường quang phức uất, phu nhân sinh nhị nam, đô thị thể mạo khôi kỳ, anh tư lẫm liệt, tàm my yến hạm, phượng nhãn long nhan, thủ thuỳ quá tất, túc để thất mao, mệnh danh viết Đá Công, Dũng Công. Phương bát tuế, trí dũng siêu quần, thụ nghiệp Ngô tiên sinh. Tài sổ niên, bách gia chư tử tam lược lục thao (Hoàng Thạch thụ Trương Lương binh thư thượng trung hạ tam lược, Thái Công binh thư hữu Long hổ văn vũ báo khuyển lục thao), vô bất quán triệt, văn võ kiêm toàn, bằng đồ kinh phục. Nhị công anh niên, song thân tảo một, ấp nội Võ cự tộc nhân, kiến nhị công kỳ tài, dục cứu dưỡng chi. Tịnh giá kỳ nữ, nhị công bất tòng. Võ gia kiến nhị công cương dũng, đạo kiếp luỹ phiên, tầm nã bất chích. Nhị công tòng gian đạo chí Thiên Thi huyện Trì La ngoại quán, thần nhật dĩ mộ, lý hạng bế môn. Nhị công vọng kiến dã ngoại cung quán (tức Tạo Vương hành cung giá ngự) nãi khế tức yên. Thị dạ Trì La dân các tộc, nhất giai mộng kiến nhất đại quan y mạo chỉnh tề, thân kỵ hồng mã, thị tòng sổ thập nhân, trực nhập ấp nội, triệu hào kiệt vị viết: ngã phụng Đế Thích Thiên Vương chi mệnh, vi thử địa long thần, kim hữu nhị vị quý nhân, Thiên đình mệnh lị thử địa, vi phúc thần, hiện trú dã ngoại hành cung. Nhĩ ấp dân nghi tức bái hạ, nghinh hồi, thảng trì, hữu cữu, nga nhi ấp nhân mộng tỉnh, văn dã ngoại hành cung, phảng phất nhân thanh, binh mã đại hội giả thậm chúng. Nhất giai kinh cụ, tụ thủ cáo ngữ, cụ thuật kỳ mộng, bất ước nhi đồng, khai môn xuất quan cung sở, kiến nhị công thục thuỵ, đồng thanh vấn viết: nhị công hà xứ đắc lai.
Nhị công khởi đáp viết: ngã bản Phạm gia tử, thám vấn ngoại gia thân thuộc. Ấp nhân tri thị Đinh nương tử, vị khẳng xu bái thần phục duy nhất tâm phụng dưỡng tôn kính. Từ quan thiên đạo như hà. Nhị công cư ngoại quán sổ nguyệt, ấp dân tật dịch, hành lễ đảo thiên địa, tái mộng kiến quan quân nhập dân cư, vị viết: Hoàng thiên mệnh long thần báo mộng nhĩ ấp nghinh quý nhân vi phúc thần, cảm nhĩ trì nghi, Thiên đình thanh phạt nhĩ ấp bất ninh dã. Ấp dân tỉnh lai tỉnh cụ, tức nghinh nhị công, tường thuật nhị chiêm, hành lễ bái hạ. Tứ ngũ niên gian, sự vi thần minh, nhị công niên phương thập thất, thân trưởng thập xích, anh hùng kiêu dũng, thủ cử thiên tạ thiết thạch, hành viễn bách lý chí tự hồng mao. Thần Thục Vương hữu Đại Man tặc, sổ thập vạn chúng, lược thủ Tuyên Quang, Cao Bình, Hưng Hoá. Triều đình thảo chi bất khắc. Vương truyền hịch mộ kỳ tài. Nhị công ứng thí, văn võ chi tài vô địch. Vương tức bái huynh vi Bình Man đô nguyên suý đại tướng quân, đệ vi Thiên quan nguyên suý đại tướng quân, tổng cấp tinh binh ngũ thập vạn thảo tặc. Nhị công phụng mệnh, mộ hào gia tử đệ vi nội đao, thủ, túc, cộng đắc nhất thiên tam bách nhân (Trì La các tộc tòng Nhị công thảo tặc như Nguyễn Hào, Nguyễn Tá, Đinh Vãn, Đinh Tấn, Đinh Sĩ, Đinh Giảo, Phạm Mai, Phạm Vị, Hà Thưởng, Đỗ Bân, Đỗ Đán, Trần Kế, Đào Quý, Lê Thưởng, Đặng Hoàn, Đặng Tố, Giả Đoan tự giai vi điển binh bì tướng). Tức nhật phân đạo, trì nhập tặc cảnh, đại chiến nhất trận. Man binh đại bại, trảm Man tướng tam danh, nhất thiên dư thủ cấp, tận thu kỳ cổ khí giới, tống hồi kinh quốc. Vương văn chi, đại hỷ, triệu nhị công hồi văn yến hạ. Nhị công thỉnh quy yết nội ngoại tiên đường. Vương hứa chi, ban tứ kim ngân châu bảo cẩm tú, các sổ thập thăng, tượng mã binh sĩ, tống quy hồi gia quán.
Nhị công yết gia từ, khai yến hạ, tái hồi Trì La ngoại quán. Tam nguyệt thập ngũ nhật, yết ngoại từ, truyền tu lý cung sở (tức tạc dạ tạm trú), dĩ vi hội đồng du yến chi sở. Tựu hành cung khai yến hạ, tự xuất tiền ngũ thiên quán, tu lý Thiên Đế từ tự. Vị Trì La dân viết: ngô dữ phụ lão, dĩ ngoại quán chi tình, kiêm sư đệ chi nghĩa, thân hựu gia thân, thiên sử nhiên dã. Tư hữu hoàng kim thập hốt, phó ấp dân vi công bản, đa mãi điền trì, chí như hành cung. Cựu ngô khế dã, kim nhật du yến, tha nhật tức vi tự sở dã phụ lão giai ưng viết nặc. Nhị công tác thi vân:
Thiên địa sinh ngô dã hữu tình
Danh lưu nhân thế tử như sinh
Trì La hương hỏa thiên xuân tại
Sinh dã vinh hề tử dã vinh.
Hựu thi vân:
Phù chi ư quốc ỷ ư dân
Vạn cổ cương thường hệ thử thân
Đáo xứ sơn hà đô ngã cảnh
Nhất đường ngư thuỷ ức niên xuân.
Toại bái tạ Thiên Đế từ, hồi triều yết Vương, thỉnh Trì La trại vi thang mộc ấp. Vương hứa chi. Trạc huynh vi Thái Bảo Quốc, cải đệ vi Thiên Cung Bảo Điện tướng quân. Trì La ngoại quán, hách dịch nhất thần Thiên Đế từ vũ huy hoàng. Thần thường hiển linh, dữ Trương Ba (Đường Hào huyện Liêu Hạ xã nhân bản thị thần tiên giáng thế) đấu kỳ ư thử địa, cái do nhị công chí thành phụng sự, thần giáng chi phúc dã.
Nhị công bỉnh chính, kinh thập niên dư, thần Sơn Nam Triệu Uý Đà công Thục Vương. Vương mệnh nhị công thảo chi, dữ Đà giao chiến, tam tứ niên. Đà binh đa bại, đãn vị phân thắng phụ. Đà trá hoà, Vương hứa chi. Nhị công cố gián, dĩ vi dưỡng hổ di hoạn. Vương bất cha. Nhị công thỉnh quy điền, Vương hứa chi. Nhị công từ quy, thán viết: quốc thế nguy hỹ. Nãi giá hồi Trì La địa. Thập nhị nguyệt nhị thập ngũ nhật yết Thiên Đế từ. Tựu từ hậu quy hoá yên. Thị nhật nhân vọng kiến từ biên, hữu hoả mẫn trường thập trượng, đằng không nhi khứ. Dĩ nhi trại dân nghinh táng, thổ trùng bồi phúc, nhân giai kỳ chi. Vương ái tích lương tả, truyền tu lý hành cung phụng tự, bao phong mỹ tự, dữ quốc đồng hưu.
Nhất phong hiển thánh linh thông đại vương.
Nhất phong đại quan bảo điện đại vương.
Khước thuyết: Uý Đà văn nhị công dĩ hoá, dũng cầu Thục Vương nữ, giá kỳ tử Trọng Thuỷ. Vương hứa chi. Trọng Thuỷ tiềm thiết linh quy thần nỗ huỷ chi. Vương dữ Đà chiến đại bại. Đà khóa hữu Nam Bang, thâm oán nhị công, huỷ kỳ từ, thu sắc chỉ, ấp dân lưu tán yên. Triệu truyền tứ thế, chí Tập Vương, quốc thế suy nhược. Đông Hán Quang Võ lược thủ Nam địa, khiển kỳ thần Tô Định vi Nam Châu thái thú. Định vi nhân tham nhũng, sát Thi Sách huyện lệnh thị Trưng nữ vương phu (Trưng Trắc, Trưng Nhị bản Hùng Vương nữ, trú Phong Châu kim chi, nữ tỷ muội giai phụ kỳ tài). Trưng nữ khởi binh, công Tô Định, báo phu thù. Đại tướng Huệ Lực phấn dũng tòng chinh, dĩ báo phụ cừu (Huệ Lực bản Đường Hào huyện lệnh chi tử, kỳ phụ vi Tô Định sở sát, mẫu phương hữu thần, tẩu cư La Trừng tự, sinh Huệ Lực, tòng Trưng nữ báo phụ cừu), tiên thiết dinh ngũ sở ư Trì La trại, mật đảo Thiên Đế từ, nguyện đắc âm phong trợ thuận, thủ bỉ hung tàn, dạ mộng Nhị Thiên tử thủ chấp long đao, vị viết: “Ngã phụng Thiên Đế mệnh, trợ quốc quân thảo tặc”. Cập tiến binh, tức trảm Tô Định. Nam Châu ngũ thập dư thành phục yên. Trưng Vương tức vị, yến hỷ thưởng công. Huệ Lực sức Trì La dân tạo Nhị công từ ư Thiên Đế từ trắc. Nhất tịch, Huệ Lực cập Trì La dân giai mộng thần nhân báo Thiên giáng tang mộc vu từ tiền, nghi tức trang tạo Nhật Quang, Nguyệt Quang Thiên tử tượng. Cập chí từ, quan chi, quả kiến tang mộc trí từ môn, nhập từ trung. Tái kiến nhị xà trường nhất trượng dư, ngũ sắc lân toàn nhiễu vu Thiên tử nhị tượng chi hạ. Huệ Lực truyền tướng tang mộc khắc thánh vương nhị vị tượng. Đại khai yến hạ, tức mệnh La Trừng trang dữ Trì La trại hợp nhất, Tây giáp phù Nhật quang Thiên tử giá, Đông giáp phù Nguyệt quang Thiên tử giá. Sự cật, phụng tấu. Trưng Vương tái bao tặng tam vị thượng đẳng thiên thần, tam thập tam thiên Đế Thích Đề hoàn Thánh đế Bệ hạ, Nhật quang Thiên tử Thánh vương, Nguyệt quang Thiên tử Thánh vương.
Cập Đá Công, Dũng Công, Diêm La công, giai phong vi bản thổ thành hoàng. Cập các tộc bì tướng, vi bộ hạ thủ điện chi thần, chuẩn hứa Trì La hương đăng phụng tự yên. Lịch Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương, phàm tam bách tứ thập cửu niên, Nam Bang hữu Đinh, Lê, Lý, Trần, tứ tính, khai sáng hồng đồ, đế đức hộ quốc tý dân, đại hữu linh nghiệm.
Trần Thái Tôn hữu nữ Huyền Trân công chúa, giá Chiêm Thành chủ, dĩ báo cựu ân. Chiêm chủ một, kỳ thần dục tướng công chúa nhập hoả đàn thiêu chi. Trần Thái Tôn văn chi, tức đảo Đế từ, hành lễ cầu phong. Công chúa hạ long chu, xuất hải tế. Đại phong sử phàm, tị nan tẩu thoát. Hậu Thiều Ninh công chúa tái nghệ từ cầu tự, hốt kiến lưỡng thúc phát, trí từ tả hữu. Nhân dân sự biểu tấu kỳ sự. Thái Tôn mệnh đình thần chí từ hành lễ, truyền trí thúc phát vu lưỡng hạp, mai tại thánh chủ nhị vị chi hạ. Cái mặc tưởng tức tiền nhật Minh Hoa công chúa (sinh Thiên tử Nhị vị) lưỡng thúc phát chi cát triệu dã, tức truy tặng tam vị thượng đẳng mỹ tự, cập các bản thổ tôn thần. Lịch Trần triều thập nhị thế, chí Lê Thái Tổ Tiền Lê Hậu Lê, giai hữu hộ quốc tí dân, cố lịch đại đế vương, truy tặng mỹ tự, hương hoả thiên thu đức kỳ hoặc hỹ.
Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn.
Hựu Thiên Thi huyện Liễu Cầu xã, hữu tỷ muội nhị nhân, tao loạn, nhập Ai Lao quốc, mật đảo Thiên Đế bảo hộ. Hốt nhiên hành bộ như phi, hồi chí bản quán, cung hành tạ lễ, sự cật hình hài đô biến liễu, chỉ lưu lưỡng thúc phát tại yên (kiến Lĩnh Nam trích quái).
Lục nguyệt thập nhị nhật (thập tứ xã đại hội hành lễ ca xướng).

Phần Nho văn:

附快 州府天施縣羅澄庄池羅寨
天帝寳籙

昔南粤雄王開創世祖肇基十八世傳二天餘載太平玉燭國勢金甌後陳先生有詩云
初開南粤自涇陽
一統山河十八王
聖繼神傳千古在
二千餘載億年香
盖百粤之祖泰和之盛會也
涇陽王孫昭王都于越池白鶴江國號文郎.昭王寬仁智慧尊崇佛法敬事神祗専務養民爲本世稱爲賢君也.是辰海内昇平府中無事人民娛給足之管絃天下仰太平之景象帝子正宗閒遊天下辰山南郡快州府天施縣羅澄庄池羅寨之地一日見風雨瀟瀟天地晦冥日中以夜池羅民怯懼不敢出門頃刻天地晴光忽大樹飛来立在龍頭土印正局長一丈餘樹香馥郁枝葉菁葱池羅民異之奉奏帝庭
昭王鸞駕諦觀乃知紫白檀之靈木也.王暗喜國勢興隆天生靈木此大吉兆也卽傳池羅民立露天陛置一香爐嵗辰香燈奉祀焉民奉命修理
王行禮祭天鸞駕囬殿.自此國擣民求齋戒至誠就灵木下懇願國家祈晴禱雨民間禳病求胎灵應如響矣迨至雄王十世傳造王御極灵木在池羅經七百餘年枝葉依然茂盛春天二月初一日灵木處天地昏黃雲騰五色火繩旋繞灵木三匝毫光闪爍風雨昏迷池羅民驚伏湏奐天地晴光人民聚觀乃見巨人跡三步印入木中其露天陛炷香皆自崩汶池羅民驚異再奉奏帝廷造王鸞駕觀之以爲皇家德盛必有聖人出世以保國家决非尋常瑞也卽傳所在民立寺奉祀俾國家人民禱祈有所寺成王行礼事訖鸾駕囬殿自此國禱民求香燈不絶
却説王有一親(卽羲王女)號明花公主國色清奇丰姿絶世紅唇粉臉鳳眼𧊕眉本閬苑之花嬌不染塵埃俗味初生只食齋戀香花之味玖歲帝庭自願出家皈佛羲王見女子誠心慕佛傳立寺于殿中俾適其願自此公主奉佛長齋精通佛法
及造王即位公主登爲世尊菩薩.年已七十一聞池羅有靈木中有巨人跡王傳立寺奉祀芳心戀景命駕春遊就𩂜觀之紅日已斜公主仰觀靈木見崆?(音空新脱壳也)蛇自天有隕遶明花公主三匝公主怯伏徬徨似夢忽見日月並墜入口中并吞之霎辰崆蛇騰空而去公主乍醒駕囬王府百日後公主感而有娠觀靈木巨人跡處亦皆似孕日月漸大常有傘雲五色覆靈木上人皆奇之明花公主孕經七八月造王傳入龍庭謂曰九歲皈佛至兹年七十餘已登菩薩何事躭情花月貽笑人間公主自陳就觀靈木崆蛇纒身眞性具奏王不信貶入烏里之地卽占城地
經数月池羅民見靈木處夜聞風聲拂拂如雷貫耳木上燦爛皆如火焰 木中似孕者益大寨民奏其事王以爲怪卽傳立几級壇在龍庭中漈戒沐浴三日虔誠召各僧尼與百官行禮祈禱祝曰寡人見此怪木及七旬公主有娠不知禍福如何爲此奏告皇天百神諸佛懇願吉匈應夢俾塵心得悟玄機是夕二更半王矇矓睡去見祥雲五色玉殿琉璃龍宫燦爛鳳閣輝煌玉皇正御百官森列忽聞玉皇傳天庭典簿判官出召造王至庭
玉皇罵曰今世運一極會也三十三天世界之下多災殃奇異疾病饑渴死亡載路陰陽混雜妖鬼賊徒南州愈葚天庭憫此下民持 命帝释提桓天王應胎於白檀靈木再命東光主部西光主部二位投胎於明花公主降生人世佐佑帝釋天王除鬼賊於南州救人間之疾苦以衍國家之命脉君王安得貶降公主者耶今已 知𨓺至誠祈禱卽迎公主囬宫庶免其罪王醒覺惶懼行礼拜謝卽命廷臣迎明花公主再囬府殿王親謝過敬礼事之再遣水曹判官閻羅部帥
桉閻羅部帥亦雄王之苗裔龍王百卵之孫其父雄度 爲帝取部主其母武氏端夢見蛟竜而有神娠至癸巳年十月初十日生閻羅公命名曰沱年十四文武兼全英雄盖世勇畧過人立在波濤如履平地王召囬朝授聀多展奇才擢爲掌管龍舟貉龍将軍年十九王命将兵討閻羅賊於南海外公奉命平閻羅主再召囬朝爲掌平閻羅元帥水道大将軍再命赴任鎭海門爲水道主部
就池羅寨靈木處奉守香燈待觀瑞應如何纔得一年辰天下人民災厄疾病下勝邪妖作亂出没人間天地晦冥不分晝夜江海蛟龍山林虎豹擾害男女再有赤鼻鬼狗魔神起兵作亂能食人肉飲人血入火不焚入水不溺或騰空迎戰或潛水夾攻兵三十萬餘變現無窮掠取東西两廣十六州盡是鬼賊地朝廷奋撃被害者多將臣朿手無策王深憂之回憶皇天報夢三年後國有鬼賊果驗而天王降世輔國救民未得見也
再立一壇蠐齋戒禱祭天地三日甲子年春天正月初九日池羅靈木似孕經已三年忽聞霹靂(一声三年)經天動地風雨晦昬迷日中似夜池羅民怯懼窃伏觀之見傘雲五色覆靈木上毫光燦爛瑞氣輝煌天星共會龍鳳遶旁鈎天响喨雅樂和諧俄而大破一聲火光四放木破枝落飛天騰空其木腹破出二胞水成甘水惟存一叚三四尺剛如鐵石水腹一胞五彩雲覆其上閻羅王經異奉奏帝庭王親来置胞龍駕迎回寶殿傳立龍楼於庭前置胞玉紫亦常有五色雲覆其上王與百官齋戒行禮懇願天王出世以佐國家以消災變
正月十五日忽見天地隂霾楼上胞毫光四放瑞氣焜煌胞中自破一聲驚動天地王與百官怯伏楼前仰觀之見帝釋天王御楼前龍頭祥雲五色頭戴平天帽身披龍衮手執金牌
明花公主懷胎三載大破一聲二人從公主頭上突出體貌魁奇五岳朝天三亭平等靣如紅日碩大堂堂五采星輝玉巾燦爛手執龍刀侍立帝釋天王左右
公主化身惟存两朿髮一朿在東光邊一朿在西光邊須臾雲隂四散天地晴光王與百官拜賀忽聞帝釋天王傳左右二公曰天庭命我降生南州佐辰君除鬼類宜急選将遣兵随吾討賊不可緩也二公奉命卽召閻羅部帥提一千兵討賊二公厲聲一呼两朿髮忽变一朿髮变爲火馬身長九尺左公騎之一朿髮变爲玉麟右公騎之三位(天帝及二公也)進行空中閻羅進行水道迅至賊境二公揮刀厲聲大叱雷霆凜烈毫光四放天兵喚起夾攻火馬玉麟噴火水道閻羅接戰雲雨昏迷鬼賊驚散盡变爲薼惟赤鼻鬼不能自變斬一千頭送回京國虎豹蛟龍妖怪之物一皆寧息
六月初十日帝釋及二公登 五層雲而化閻羅部帥卽日囬朝表奏其事王聞之大嘆息曰人民轉禍爲福轉災爲祥仰聖德祥雲瑞日措两間和氣春風萬荷天帝及二位旋乾轉坤之大法力也遂傳造殿於龍庭奉祀三位荅謝神休
六月二十九日閻羅公下龍舟遊峰州至三岐水風濤隂翳閻羅公身變爲蛇長十丈餘直下三岐化生不滅将士卽回帝庭奉奏其事王卽命廷臣至三岐行禮立祠奉事焉再傳修三位神像及閻羅公像迎入寶殿歲辰奉事祈禱靈驗王命駕就池羅寨先立行宫仰觀地形龍如蝘蜓之形水势萦迴陽龍彎抱御至靈木處見一片真龍七星带印玉帽後頭左右片片回頭拱向左有龍眼井魚𨾬囬朝金星佇 立銀帶周囬天馬拱蓮花開堂心三星两曜突起誠天造之貴地也
王傳立祠於龍頭正局坐癸向丁水勢内朝星峯外應再傳將紫白檀靈木叚(㳟造)帝釋天王神像奉祀又傳立寺於竜形處事訖準許池羅寨東西两甲歲辰香燈並免兵糧春(三月初十日)秋(九月十二日)國祭班錢三十貫置祀田十二畆奉事如儀一寨六庄(安耕柳梂羅澄寨桩古禮劉舍)亦免兵糧歲辰附祭於池羅天帝祠
王題詩云
池羅勝地最鍾靈
處處朝歸拱帝廷
天帝降生遺跡在
國家香火億年馨
王返駕囬殿贈封三千天界内帝釋提桓大夫玉陛下
日光天子聖王
月光天子聖王
三位上等天神
閻羅部帥門前尊神
却説雄王十八傳至晴王無嗣遜位於蜀安陽王世傳愛州(即今清化)順天府雷陽縣卞山社范達爲山南郡典兵娶池羅寨丁家女綠娘附藉三四年夫婦力行善事四旬餘未占熊虺之祥一日謂夫人曰我先祖素稱善之家敦五倫賑窮乏我與爾行仁修德不敢益己害人自犯一毫罪堊乆培善果未晚見桂芳或人道猶虧故天心英眷我聞天帝殿國家民度禱之必通萬事如意我與爾誠心求嗣飛燕技懷豈不適平生之願於是至祠求嗣夜夢神人報曰我好鬪碁汝知碁乎范對曰臣本不知碁也
神人曰碁者禍福之機天地玄微人間難識汝至誠求嗣吾察汝家之福厚哉厚哉應許碁石車子将囬以爲家寶言訖卽授之范台敬受拜謝醒默想吾家福厚皇天已賜嗣矣夫婦行禮拜謝而回纔数月丁氏有娠經六七月范聞叔父捐塵夫婦再就祠行禮事訖囬卞山助䘮己未年三月初九日卞山社祥光馥郁夫人生二男都是體貌魁奇英姿凜烈蠶眉燕頷鳳眼龍顔手垂過膝足底七毛命名曰𥒥公勇公方八歲智勇超羣受業呉先生纔数年百家諸子三畧六韜(黃石授張良兵書上中下三畧太公兵書有竜虎文武豹犬六韜)無不貫徹文武兼全朋徒驚服二公英年雙親早沒邑內武巨族人見二公奇才欲救養之并嫁其女二公不從武家見二公剛勇盗刼累番尋拿不𫉬二公從閒道至天施縣池羅外舘辰日已暮里巷閉門二公望見野外宫舘(卽造王行宫駕御)乃憇息焉是夜池逻民各族一皆夢見一大官衣帽整齊身騎紅馬侍從数十人直入邑內召豪傑謂曰我奉帝釋天王之命爲此地龍神今有二位貴人天庭命蒞此地為福神現駐野外行宫爾邑民宜卽拜賀迎囬倘遲有咎俄而邑人梦醒聞野外行宫彷彿人聲兵馬大會者葚衆一皆驚懼聚首告語具述其梦不約而同開門出觀宫所見二公熟睡同聲問曰二公何處得来
二公起荅曰我本范家子探問外家親屬邑人知是丁娘子未肯趍拜臣服惟一心奉養尊敬徐觀天道如何二公居外舘数月邑民疾疫行禮禱天地再夢見官軍入民居謂曰皇天命龍神報梦爾邑迎貴人爲福神敢耳遲疑天庭青罰爾邑不寧也邑民醒来惺懼卽迎二公詳述二占行禮拜賀四五年間事爲神明二公年方十七身長十尺英雄驕勇手擧千謝鉄石行逺百里輊似鴻毛辰蜀王有大蠻賊数十萬衆掠取宣光髙平興化朝廷討之不克王傳檄募奇才二公應試文武之才無敵王卽拜兄為平蛮都元帥大将軍弟為天官元帥大将軍总給精兵五十萬討賊二公奉命募豪家子弟為内刀手足共得一千三百人(池羅各族從二公討賊如阮豪阮佐丁𣆛丁晋丁仕丁佼范梅范渭何賞杜邠杜旦陳計陶貴黎賞鄧完鄧素叚端寺皆為典兵裨将)卽日分道馳入賊境大戰一陣蛮兵大敗斬蛮将三名一千餘首級盡收旗鼓噐械送回京國王聞之大喜召二公回聞宴賀二公請歸謁內外先堂王許之班賜金銀珠宝錦繡各数十升象馬兵士送歸回家舘
二公謁家祠開宴賀再回池羅外舘三月十五日謁外祠傳修理宫所(即昨亱暫駐)以為會同遊宴之所就行宫開宴賀自出錢五千貫修理天帝祠寺謂池羅民曰吾與父老以外舘之晴兼師弟之義親又加親天使然也茲有黄金十笏付邑民爲公本多買田池至如行宫舊吾憇也今日遊宴他日即為祀所也父老皆應曰諾二公作詩云
天地生吾也有情
名𪽋人世死如生
池羅香火千春在
生也荣兮死也荣
又詩云
扶之於國倚於民
萬古綱常係此身
到處山河都我景
一堂魚水億年春
遂拜謝天帝祠囬朝謁王請池羅寨爲湯沐邑王許之擢兄爲太保國改弟爲天宫保殿將軍池羅外舘赫奕一辰天帝祠宇輝煌辰常顯靈與張巴(唐豪縣遼下社人本是神仙降世)鬪碁於此地葢由二公至誠奉事神降之福也
二公秉政𦀰十年餘辰山南趙尉佗攻蜀王王命二公討之與佗交戰三四年佗兵多敗但未分勝負佗詐和王許之二公固諫以爲養虎遺患王不咱二公請歸田王許之二公辞歸嘆曰國势危矣乃駕回池羅地十二月二十五日謁天帝祠就祠後歸化焉是日人望見祠邊有火䋲長十丈騰空而去已而寨民迎塟土虫培覆人皆奇之王愛惜良左傳修俚行宫奉祀褒封美字與國同休
一封顯聖靈通大王
一封大官保殿大王
却説尉佗聞二公已化甬求蜀王女嫁其子仲始王許之仲始潛窃靈龟神弩毁之王與佗戰大敗佗𨂍有南邦深怨二公毁其祠收敕旨邑民流散焉趙傳四世至襲王國势衰弱東漢光武畧取南地遣其臣蘇定爲南州太守定爲人貪冗殺施策縣令是徴女王夫(徴側徴貳本雄王女住風州今之女姊妹皆負奇才)徴女起兵攻蘇定报夫讎大将惠力奋勇從征以报父仇(惠力本唐豪縣令之子其父爲蘇定所殺母方有娠走居羅澄寺生惠力從徴女报父仇)先設营五所於池羅寨密禱天帝祠願得隂風助順取彼凶殘夜梦二天子手执竜刀謂曰我奉天帝命助國君討賊及進兵即斬蘇定南州五十餘城復焉徴王即位燕喜賞功惠力飭池羅民造二公祠於天帝祠側一夕惠力及池羅民皆夢神人报天降桑木于祠前宜即裝造日光月光天子像及至祠觀之果見桑木置祠門入祠中再見二蛇長一丈餘五色𧸍旋繞于天子二像之下惠力傳将桑木刻聖王二位像大開晏賀即命羅澄庄與池羅寨合一西甲扶日光天子駕東甲扶月光天子駕事訖奉奏徴王再褒贈三位上等天神三十三天帝釋提桓聖帝陛下日光天子聖王月光天子聖王及𥒥公勇公閻羅公皆封爲本土城隍及各族裨将爲部下守殿之神準許池羅香燈奉祀焉歷東漢呉晋宋齊粱凢三百四十九年南邦有丁黎李陳四姓開創洪圖帝德護國庇民大有靈驗
陳太尊有女玄珍公主嫁占城主以报舊恩占主没其臣欲將公主入火𡊨燒之陳太尊聞之即禱帝祠行禮求風公主下龍舟出海際大風駛帆避難走脫後韶寧公主再詣祠求嗣忽見两束髮置祠左有人民事表奏其事太尊命廷臣至詞行禮傳置束髮于两匣埋在聖主二位之下葢默想即前日明花公主(生天子二位)两束髮之吉兆也即追贈三位上等美字及各本土尊神歷陳朝十二世至黎太祖前黎後黎皆有護國庇民故歷代帝王追贈美字香火千秋德其或矣
大學士阮炳奉撰
又天施縣柳捄社有姊妹二人遭乱入哀牢國宻禱天帝保護忽然行步如飛囬至本貫恭行謝禮事訖形骸都变了只留两束髮在焉(見領南摘怪)
六月十二日(十四社大會行禮歌唱)

Châu trưởng Tam Trinh hay cuộc chiến của Trưng Vương thời Đông Hán

Làng Mai Động nay là quận Hoàng Mai, Hà Nội thờ vị tướng tên là Tam Trinh, chống giặc Đông Hán. Bản thần tích của làng được lưu giữ cẩn thận tại đình và được sao chép cho một số thầy đồ, thầy cúng lưu ở tư gia. Thần tích kể:
Về đời (nội thuộc) nhà Đông Hán, đất Long Biên cũng bị chiếm luôn. Thời kỳ này có một người tên là Triệu Cẩn, là nhà từng có quyền thế trong vùng, vợ là bà Tạ Thị Thành, cũng thuộc dòng dõi trâm anh, thi lễ, hai bên xứng đôi, kết nghĩa vợ chồng. Hai ông bà chuộng nghĩa, hay làm phúc, làm việc thiện cứu giúp mọi người.
Nhưng ông Triệu Cẩn đã ngoài 60 tuổi, bà Tạ Thị Thành đã bốn mươi tư mà vẫn chỉ có vài mụn con gái. Hai người khao khát có được một cậu con trai nối nghiệp. Một đêm, bà Thành nằm mộng thấy một ông tiên đi từ trên núi xuống, hẹn cho một viên ngọc trắng. Bà Thành liền cho vào miệng nuốt ngay. Khi chợt tỉnh, bà liền nói với chồng. Triệu Cẩn cho là điềm lành. Từ đó bà Thành thụ thai, đến ngày mồng 5 tháng Giêng năm Nhâm Dần vào giờ Dần sinh được một con trai, tướng mạo khác thường, có cốt cách khác các trẻ em khác.
Đoạn đầu thần tích trên đặc biệt gợi liên tưởng đến thần tích của vị Giao Châu cư sĩ họ Đặng thờ ở đình Gia Lâm (Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội). Cũng là thời Hán, cũng ở Long Biên. Cũng là ông dòng dõi gia thế, bà dòng dõi trâm anh. Ông 60 tuổi, bà  hơn 40 mới chỉ có mấy con gái, rồi mới sinh con trai. Thậm chí tên Cẩn cha của đức Tam Trinh trùng với tên mẹ của Đặng cư sĩ, còn họ của mẹ là Tạ thị thì cả hai đều giống nhau.

IMG_1000
Hội làng tại đình Mai Động.

Thần tích Mai Động kể tiếp:
Ba tuổi đã biết lễ nghĩa, hay kính nhường, nghe người ta học mà biết chữ, biết thưởng thức âm thanh.
Bẩy tuổi, cậu bé được đi học, năm 13 tuổi kinh sử đã làu thông. Cậu lại còn tinh tường võ nghệ, sĩ tử đương thời ai cũng thán phục, đều coi như là con nhà Thần Thánh. Thầy học yêu lắm mới đặt tên cho là Tam Trinh. 
Đoạn này cũng hoàn toàn giống thần tích của Đặng cư sĩ ở Gia Lâm. Nguyên văn thần tích hẳn Tam Trinh được coi là “Thánh Đồng” như bên Gia Lâm vì đã thông kinh sử từ năm 13 tuổi. Đặc biệt đoạn này cho thông tin về xuất xứ của cái tên Tam Trinh, là do thầy học yêu quý đặt cho. Thử hiểu xem Tam Trinh nghĩa là gì?
Trinh ở đây hẳn là tượng trưng cho quẻ Khôn của Kinh Dịch, vì nó liên quan đến việc học hành (thầy giáo đặt cho). Tam là hào thứ 3. Tam Trinh như vậy là hào tam của quẻ Khôn. Lời hào tam: Hàm chương khả trinh, hoặc tòng vương sự, vô thành hữu chung. Nghĩa là người có chương trình hành động lâu dài thì khi làm việc lớn không thành công cũng có thành tựu nhất định.
Như vậy Tam Trinh là “Hàm chương khả trinh”, chỉ người có kiến thức, có văn chương và có tương lai lâu dài.
Thần tích Mai Động kể tiếp:
Năm 18 tuổi, cha mẹ ông đều mất, ông Trinh liền chọn đất tốt và đặt mộ cha mẹ vào đấy. Sau ba năm chôn cất, ông ra mở trường dạy học trò, nhờ vậy mà đất Nam Châu (bãi phía Nam) từ dân không biết chữ đã trở thành vùng đất văn hóa. Nhân dân mến mộ ông lắm và tôn ông lên làm Châu trưởng. Ông chăm lo đời sống trong châu, sắp xếp mọi việc làm ăn, mở mang việc học, dân chúng rất được nhờ cậy. 
Đoạn này cũng hoàn toàn trùng khớp với thần tích Gia Lâm. Tam Trinh đã giáo hóa nhân dân ở “Nam Châu” và được tôn làm Châu trưởng. “Châu” ở đây không phải là “bãi phía Nam” như bản dịch. Châu đây là Giao Châu thời Hán. Châu trưởng Giao Châu thời Hán thì còn ai khác ngoài Đặng Nhượng?
Đoạn tiếp theo thần tích kể Tam Trinh đến trại Mai Động và lập trường dạy học cho dân. Còn trong thần tích về Đặng cư sĩ cho biết ông cũng lập hành cung và dạy học tại Gia Lâm.
Cần nói rõ đây chính là vị thầy giáo có công phổ biến văn hóa chữ viết rộng rãi trong nhân dân, tức chính là “Nam Giao học tổ“, danh hiệu đã gán cho Sĩ Nhiếp.
Câu đối ở đình Mai Động:
Đức bác thánh văn truyền Việt địa
Uy dương thần vũ trấn Nam thiên.
Dịch (theo Vũ Tuân Sán):
Văn thánh đức cao truyền đất Việt
Võ thần vui mạnh dậy trời Nam. 
“Văn giáo” như thế là công lao chính của thánh Tam Trinh, cũng với võ công của ông.

IMG_1008
Tiền tế đình Mai Động.

Tiếp theo thần tích Mai Động kể việc Tam Trinh đã theo Trưng Vương khởi nghĩa, đánh đuổi quân Tô Định xâm lược, thu được non sông nước Nam cũ 65 thành trì. Tam Trinh được phong là Liệt hầu. Còn thần tích Gia Lâm thì kể Đặng cư sĩ đã dẹp loạn các tù trưởng ở 7 quận của Giao Châu, và cũng được phong là Liệt hầu, và được cho làm chức Thái thú cai quản Châu.
Tiếp nữa, thần tích Mai Động kể quân Hán (Mã Viện) kéo sang, Tam Trinh được cử ra trấn giữ cửa ải. Quân Hán tràn vào, bao vây ông ở Mai Động. Ông phá vây chạy ra ngoài, ngửa mặt lên trời than rồi hóa.
Trong khi đó, thần tích Gia Lâm kể y hệt. Thời Vương Mãng, Đặng thái thú cũng ra đóng quan ải, không giao ước với Hán quân. Quân Hán phá ải, vây ông ở Long Biên. Ông phá vây, ngửa mặt lên trời than rồi cũng hóa (ngày 10/2 trùng với thần tích của vị họ Đặng ở làng Lý Đỏ, Tân Việt, Bình Giang, Hải Dương).
Câu đối ở nghè Mai Động:
鄊而師國而將而文而武
生為英死為灵為聖為神
Hương nhi sư, quốc nhi tướng, nhi văn nhi võ
Sinh vi anh, tử vi linh, vi thánh vi thần.
Dịch:
Thầy với làng, tướng với nước, vừa văn vừa võ
Sống anh hùng, chết linh thiêng, là thánh là thần.

Đến về sau, các lần linh hiển phù trợ quốc gia của thần Mai Động và Gia Lâm cũng giống y nhau. Một lần vào thời Lê Đại Hành phá Tống (theo thần tích ở làng Lý Đỏ), một lần thời Trần Hưng Đạo chống quân Nguyên, chém Ô Mã Nhi (hiển linh tại Gia Lâm), một lần thời Lê Thái Tổ bình Minh Liễu Thăng.
Như vậy, cả về thời gian, sự tích của Tam Trinh ở Mai Động và Đặng Nhượng ở Gia Lâm đều hoàn toàn giống nhau, nếu chỉ cần thay “Trưng Vương” bằng “Vương Mãng”. Tam Trinh chính là Đặng thái thú của Giao Châu 7 quận vào cuối đời Tây Hán và nhà Tân của Vương Mãng, đã hy sinh chống cự lại sự xâm chiếm của quân Đông Hán tới vùng này.
Câu đối ở nghè Mai Động:
一陣黑雲除漢寇
千秋香火應洲區
Nhất trận hắc vân trừ Hán khấu
Thiên thu hương hỏa ứng Châu khu.
Dịch:
Một trận mây đen trừ giặc Hán
Nghìn thu hương lửa ứng châu Nam.

IMG_1086
Hoành phi Thông minh Duệ trí ở nghè Mai Động.

Dấu vết di tích, sự tích của các vị cư sĩ Nam Giao học tổ (Sĩ Vương) dạy học cho nhân dân và hy sinh chống giặc ngoại xâm còn lại ở khá nhiều nơi, trải dài từ Gia Lâm, Mai Động, Hưng Yên, Thanh Oai, Ứng Hòa. Đây là những dẫn chứng rất rõ ràng rằng, sự kiện các cư sĩ địa phương là châu mục và thái thú Giao Châu Đặng Nhượng, Tích Quang chống lại quân Đông Hán xâm lược đã bị gán thành chuyện Mã Viện đánh dẹp Hai Bà Trưng trong chính sử. Khởi nghĩa Trưng Vương thực sự xảy ra dưới thời Tây Hán, là hậu chiến của nước Nam Việt chống Phục Ba tướng quân Lộ Bác Đức.

 

Thần phả về thánh Tam Trinh ở Mai Động

Bản thần tích về Thánh Tam Trinh do Đông các đại học sĩ Nguyễn Bính (người làng Sơn Đồng huyện Hoài Đức tỉnh Hà tây) làm ở bộ Lễ triều Lê biên soạn vào niên hiệu Hồng Phúc nguyên niên (1572) đời vua Lê Anh Tông. Năm 1737 bản thần tích này lại được Nguyễn Hiền giữ chức Quản giám bách thần chép lại vào niên hiệu Vĩnh Hựu (1735 – 1740) đời vua Lê Ý Tông. Sau này thần tích được lưu ở bộ Lễ triều Nguyễn (1802 – 1945).
Bản dịch theo sách Làng cổ Mai Động (Đức thánh Tam Trinh) do GS. Vũ Ngọc Khánh chủ biên, Trần Lan Châu sưu tầm biên soạn, xuất bản năm 2003.

Chép trong bản chính của Bộ Lễ nhà Nguyễn tập thứ 3.
Đời Hùng Vương là đời vua dựng nên non sông đất nước, truyền ngôi suốt 2000 năm, lập nên đất đai muôn dặm, dựng kinh đô, gây nghiệp lớn, mở nước theo nghĩa của nhà vua sáng suốt, công bằng. Vua giúp dân, xây đời no ấm, mở mang suốt mười lăm bộ, gọi là Bách Việt, xứng đáng là Vua Tổ vậy.

Đến cuối đời Hùng, thần linh của sông núi, cũng hay ứng hiện dưới cõi đời, đầu thai làm con cái các nhà dân chúng, nhằm giúp nước cứu dân, nhà nào có phúc thì gặp thần ứng vào.
Tương truyền rằng:
Đời Hùng Vương truyền được đến 18 đời thì vận trời đã hết. Tiếp đến về đời (nội thuộc) nhà Đông Hán, đất Long Biên cũng bị chiếm luôn. Thời kỳ này có một người tên là Triệu Cẩn, là nhà từng có quyền thế trong vùng, vợ là bà Tạ Thị Thành, cũng thuộc dòng dõi trâm anh, thi lễ, hai bên xứng đôi, kết nghĩa vợ chồng. Hai ông bà chuộng nghĩa, hay làm phúc, làm việc thiện cứu giúp mọi người.
Nhưng ông Triệu Cẩn đã ngoài 60 tuổi, bà Tạ Thị Thành đã bốn mươi tư mà vẫn chỉ có vài mụn con gái. Hai người khao khát có được một cậu con trai nối nghiệp. Một đêm, bà Thành nằm mộng thấy một ông tiên đi từ trên núi xuống, hẹn cho một viên ngọc trắng. Bà Thành liền cho vào miệng nuốt ngay. Khi chợt tỉnh, bà liền nói với chồng. Triệu Cẩn cho là điềm lành. Từ đó bà Thành thụ thai, đến ngày mồng 5 tháng Giêng năm Nhâm Dần vào giờ Dần sinh được một con trai, tướng mạo khác thường, có cốt cách khác các trẻ em khác. Ba tuổi đã biết lễ nghĩa, hay kính nhường, nghe người ta học mà biết chữ, biết thưởng thức âm thanh.
Bẩy tuổi, cậu bé được đi học, năm 13 tuổi kinh sử đã làu thông. Cậu lại còn tinh tường võ nghệ, sĩ tử đương thời ai cũng thán phục, đều coi như là con nhà Thần Thánh. Thầy học yêu lắm mới đặt tên cho là Tam Trinh. Năm 18 tuổi, cha mẹ ông đều mất, ông Trinh liền chọn đất tốt và đặt mộ cha mẹ vào đấy. Sau ba năm chôn cất, ông ra mở trường dạy học trò, nhờ vậy mà đất Nam Châu (bãi phía Nam) từ dân không biết chữ đã trở thành vùng đất văn hóa. Nhân dân mến mộ ông lắm và tôn ông lên làm Châu trưởng. Ông chăm lo đời sống trong châu, sắp xếp mọi việc làm ăn, mở mang việc học, dân chúng rất được nhờ cậy. Ít lâu sau ông dời đến phía Nam đất Long Biên. Đến trại Mai Động, huyện Thanh Đàm (năm 1752 vì kiêng húy vua Lê Duy Đàm đổi là Thanh Trì, phủ Thường Tín) thấy dân chúng còn trong tình trạng nghèo khổ, làng xóm tiêu điều, không được học chữ, liền cắm đất dựng nhà ở đó (chính là bên sông Kim Ngưu xưa). Ông lại mở trường dạy học, chỉ vừa một năm, dân chúng đã rất mến trọng. Đức độ của ông truyền xa và được nhiều người lấy làm gương.
Cũng năm ấy, có tên Tô Định cất quân xâm phạm bờ cõi, xâm chiếm vùng đất rộng lớn của nước ta, dân chúng điêu linh, chưa có ai ra tay cứu vớt. May sao có cháu xa của vua Hùng tên Trắc là người con gái tài giỏi bậc thần, bậc thánh ở cõi đời, dấy binh lừng lẫy, đem quân đánh giặc Hán. Khi khởi binh, bà Trưng làm lễ cầu các bậc thần linh, Bà Trưng mật xin thần núi Tản Viên họp bách thần lại, ở cửa sông Hát Môn, lập đàn tế cáo trời đất, xin các thần linh ứng vào một người dưới trân gian, được non sông muôn vật ủy thác, được muôn dân tin cậy, cây cỏ trông nhờ…
Vua Trưng khấn trời: “Xét như nước mình các đời trước đều có các bậc anh minh, đời đời sáng nghiệp, là đất nước nhân nghĩa, có giáo hóa nên nhân dân yên ổn vui đời, làm lụng chuyên cần, chẳng biết đến binh đao. Nay Tô Định là loài dê chó, thường hống hách lộng quyền, tàn bạo ức hiếp ngược đãi dân ta, đất trời, thần linh, người người đều căm giận. Tôi (tức vua Trưng) là cháu xa Hùng Vương nhắc đến dân tình là ssa nước mắt, hôm nay đau lòng vì nước, dựng cờ nghĩa vì nước trừ kẻ hung tàn bạo ngược, xin các vị thần linh về đàn tế chứng giám cho. Tôi nguyện dấy binh dẹp giặc, cứu nước cứu dân, dựng lại nghiệp xưa của tông tổ, cứu dân chúng khỏi vòng nước lửa, lầm than, không phụ lòng của Trời cao, không phụ vẻ linh thiêng của tông miếu, xin các Tiên tổ ở dưới suối vàng, hô mây, gọi gió, dồn âm binh, hàng trăm hàng nghìn đội, truyền hịch khắp nước Nam, từ các châu huyện đến các trang ấp, ai là người thông minh tài trí, đức độ hơn người thì cho đến giúp dân”.
Phiên thần đến mách tin cho Tam Trinh, nói rõ chiếu cầu bậc trạng nguyên trong thiên hạ. Ông cảm động lắm, ngay từ hôm ấy, liền chọn lấy trai tráng tuyển làm 5000 quân đều từ trại Mai Động. Các bậc già làng thấy ông làm vậy, đều đến sửa lễ vật (xin với vua Trưng) làm thần tử. Tam Trinh thề với bách thần sông núi, khao thưởng quân lính, tiến đến dinh Trưng Nữ Vương, vào làm lễ xin theo. Vua Trưng đang kén người tài, thấy ông đang sức trai, tài thao lược vị tất ai đã được thế, trên hiểu thiên văn, dưới tường địa lý, không điều gì là không am hiểu, liền phong ông chức Đô úy, cử ông chia đường tiến binh đánh vào dinh lũy của Tô Định. Một trận dẹp tan, Tô Định thua chạy, ta chém được chánh tướng, lấy đầu vài nghìn thuộc hạ của giặc. Từ đấy ông theo Vua Trưng bình định được cả 65 thành, thu về nước Nam như cũ.
Bà Trưng lên ngôi vua, ở ngôi 3 năm, đến khi có giặc Mã Viện sang đánh, liền phong cho Tam Trinh chức Liệt hầu, giao quyền phụ chính lo việc trị loạn, sai ông đem quân giữ cửa ải. Quân ông vừa đến, chưa kịp bài binh bố trận thì quân Hán đã đến. Giặc đang sung sức, đánh sẽ bất lợi, cho nên ông sai đóng cửa ải, không nghênh chiến, không chịu nộp cửa ải! Tướng Hán cả giận, phá cửa tiến vào bờ cõi nước ta. Ông thấy quân Hán đang mạnh, liền dẫn binh về trại Mai Động (sau gọi là trang Mai Động) đóng quân lại xem sao. Quân Hán đêm đến bủa vây. Ông cưỡi ngựa ra đón đánh, phá vây mà ra. Đến quãng đường, khu có nhiều đồi núi, ông nghe nói Vua Trưng đã lỡ cơ trời, liền ngửa mặt lên trời than rằng: Than ôi, cơ đồ của Vua Trưng như giấc mông xuân vậy! Việc thần, việc người vua lo liệu đến thế, biết ta bây giờ chỉ có Trời mà thôi. Ông liền ruổi ngựa chay lên đỉnh núi rồi biến mất. Đó là ngày mông 10 tháng 2. Nhân dân thương tiếc, dâng lễ và lập đền thờ…
Ghi thêm:
– Đời vua Đại Hành nhà Lê, xét phong các thần linh thấy linh hiển liền gia phong làm thần hoàng địa phương: “Tối linh đại vương, thần hiệu là: Nam Sơn Tam Trinh hiển ứng đại vương”. Hành lễ kiêng hai màu trắng và màu đỏ.
– Tam Trinh Nam Sơn đại vương linh ứng ở nhiều nơi. Đời Trần Thái Tông đánh Nguyên Mông, có cho người đến tế cầu phù hộ, ông linh ứng giúp vua đánh bại tướng Ô Mã Nhi. Liền gia phong thêm các chữ hiệu: “Anh triết Hộ quốc Hộ dân Bảo cảnh Hiển hiệu Đại sĩ”.
– Thời Lê Thái Tổ đánh quân Minh Liễu Thăng, thần lại linh ứng giúp, vua bèn gia phong thêm các chữ: “Phổ tế Cương nghị Anh linh”, truyền chiếu chỉ cho dân Mai Động trùng tu miếu điện.
Ngày sinh tế mồng 5 tháng Giêng, giết lợn đen, làm bánh chưng, bánh dày, hát múa, mở hội kéo co, đánh cờ, vật, liền trong 3 ngày.
Ngày hóa tế mồng 10 tháng 2, giết trâu và lợn làm tế lễ, bánh chưng, bánh dày, rượu, trầu cau.
Ngày lễ tiệc mở vào 14 tháng 8, lễ vật như trên, hát xướng 3 ngày.
Năm đầu Hồng Phúc, tháng Giêng, ngày tốt.

Thần tích Giao Châu Đặng thái thú ở trang Triền Đổ, Hải Dương

Đình làng Lý Đỏ, xã Tân Việt, huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương hiện còn lưu được một tấm bia đá khắc sự tích vị thần được thờ ở làng, là một vị họ Đặng, làm Thái thú Giao Châu dưới thời Tây Hán, có công dạy học cho nhân dân và dẹp loạn ở bảy quận Giao Châu.

IMG_5144

TÔN THẦN SỰ TÍCH BI CHÍ 尊神事迹碑誌

Hán Chiêu đế triều công thần nhất vị đại vương phổ lục (cấn chi bộ thượng đẳng) quốc triều lễ bộ chính bản.
Tích Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khải vận ưng đồ nhị thập niên dư. Hùng Vương kiến quốc thanh sơn vạn lý, sáng hùng đô cung điện chi cơ, bích thủy nhất hoằng, khải thánh đế minh vương chi đạo, độ vật tế nhân, thống thập ngũ bộ hiệu chi Bách Việt, vi triệu tổ yên.
Hựu thi vân:
Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập bát thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hỏa ức (niên?) phương.
Tức thuyết:
Việt tích Tây Hán thời nội địa Long Biên do thuộc ngã quốc gian, hữu Đặng Công húy Vận, kì tiên thụ phong thế thừa tư ấm, phối bản quận nhân Tạ Thị húy Cẩn, truyền gia thi lễ lũy thế trâm anh, sở vị đương môn nhi phối. Công khóa đồng pha tinh y thuật, lạc hành thiện sự hảo chẩn tế.
Công niên cận ngũ tuần, Tạ Thị tứ thập dư nữ hữu sổ nhân, nam tử thượng vãn. Hậu chí Giáp Ngọ niên bát nguyệt thập nhất nhật sinh hạ nhất nam, tướng mạo thù thường, thiên tư dĩnh dị, tam tuế tri lễ nghĩa, thường năng kính nhượng, văn học nhi tri, minh âm nhi thẩm. Thất tuế nhập học nãi mệnh danh viết Thiện Quang. Thập hữu tam tuế thông sử tử pha tri vũ nghệ. Đương thần sĩ tử đa thán phục chi cộng xưng vi “thánh đồng”.
Thập hữu bát tuế khảo tỉ giai thư lạc hĩ. Tam niên tang tất, Công tiềm tâm phần điển giáo hối sĩ dân. Văn Giao Châu giáo hóa vị minh cương trù vị tự. Công tuần tuần nhiên yên dụ chi nhi hậu dân tri lễ nghĩa dã. Nam châu hoa phong công chi Công dã. Dân giai mộ chi cộng thôi vi Châu trưởng.
Thời Hán Chiêu Đế mệnh Chu Chương vi Giao Châu thái thú. Chương văn Công giáo hóa phục nhân vi chi sớ cử Hán đế đại hỉ chi phong “liệt hầu”.
Công ký thụ mệnh hành huyện ấp, quan dân phong thích chí Hải Dương đạo (tích hiệu Hồng Châu) Thượng Hồng phủ, Đường An huyện, Triền Đổ trại, kiến dân phong phác lậu, học thuật quả văn, nãi truyền thiết lập học đường dĩ giáo văn tự. Tài nhất niên dân giai mộ chi.
Trị Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngu, Lộc Lãnh (Quế Lâm?) thất quận thương trưởng tác loạn, tao động dân sinh. Đế văn chi tư đình thần trù năng liễu? thử dĩ vi bản châu Thái thú. Sầm Bành cử Công đức vọng phục nhân tất năng an tập. Đế hứa chi mệnh vi châu thủ sử Công bình tặc.
Công tuyển đắc cường tráng bản trang nhị thập bát nhân, di hịch chư quận huyện lai phụ giả dĩ vạn sổ, khắc nhật trực đảo Cửu Chân, mệnh tướng sĩ phân truân kiên thủ bất đắc thiêu chiến. Nhân khiển văn lại di hịch luận chi hiểu dĩ tín nghĩa kì dĩ họa phúc. Tặc văn chi cảm ngộ thúc giáp lai hàng. Thất quận cáo bình. Công toại chấn lữ hoàn phủ (tức Long Biên địa).
Tự công vi Thái thú hình phạt thanh tỉnh, dân giai an nghiệp. Công hạ phục nghệ vu Triền Đổ trang hành tại hiểu nhân dĩ ân nghị. Dân giai bái tạ, thỉnh nhân thử kim vi học đường hậu vi tự sở. Công hứa chi toại dữ sĩ tốt quang tịnh hồi châu phủ sử đại trí cống vu Hán đế.
Thời Công niên thất tuần nhất nhật tọa phủ đường hốt kiến xích quang tự thân trung phi xuất đằng không tự biến tức nhật vô bệnh nhi một hĩ (thời Bính Ngọ niên nhị nguyệt sơ thập nhật).
Nhân dân gia thần sĩ tốt giai đại kinh nãi hành biểu tấu vu Hán đế, toại dĩ sự văn chi khiển sử dụ tế vu thử địa (Long Biên), sắc phong phúc thần, chuẩn hứa phủ dân lập miếu tự chi dư như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Triền Đổ đẳng xứ thường bị Công giáo hóa giả giai nghênh mĩ tự hồi dân lập miếu tự chi.
Hất chí Hán Bình Đế danh tích biểu kiến vu Hán hữu công, nãi khiển sử sắc phong nhất phong bản cảnh thành hoàng Đông biên Uy quốc Duệ trí Anh linh Thiện quang Tự công Linh phù Tôn thần, chuẩn hứa Triền Đổ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương chư từ ? gian phụng sự.
Chí Tống Thái Bình gian khiển Hầu Nhân Bảo ? tướng binh nhị thập vạn thủy lục tịnh tiến ? đạo Nam xâm. Thời Lê Đại Hành tự tướng đại phát tinh binh thập vạn cự chiến, tiến chí Thượng Hồng phủ Đường An huyện chu binh viết thủy khiển tiến chí đế dữ tướng suất nhập vu thử từ (miếu?) chí túc vu thần từ chi thần âm phù thảo tặc Hầu, bình gia phong Thượng đẳng.
Minh nhật đề binh xuất chiến Nguyên binh quả (hiệu?) kỳ tướng Nhân Bảo cập khâm ? đẳng giai tựu hí hựu
? đại tướng Biện. Phụng huân hoàn kinh sư khải hoàn, hậu hưởng tướng sĩ, nhân vị viết Nguyên tặc tảo bình diệc lại vu âm phù mặc trợ toại gia phong bách thần, nhất phong Thiện Quang Tế thế Hộ quốc Tí dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển hỗ Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tỵ Thiện văn Bác tể Phổ thí Từ huệ Hậu ân Hoành mô Viễn lược Cương nghị Đốc thật Thùy hưu Quả đoạn Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng (?) Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt đại vương.
Tức thuyết: Tự thử dĩ hậu giai nhẫm trứ linh ứng cố đa hữu niên vương gia phong mĩ tự.
Đãi chí Trần Thái Tông thời Nguyên Khương lai xâm, kinh thành bị hãm. Trần Quốc Tuấn mệnh kỳ đảo bách thần các chư từ, kinh nhất vị đại vương diệc hữu hiển ứng âm phù cập bình đắc Mã Nhi tặc. Thái Tông nãi hoài phong mĩ tự Nhất vị Đại vương Linh ứng Anh triết Hiển hữu Trợ thuận.
Kỵ chí Lê Thái Tổ khởi nghiệp bình Minh Mộc Liễu Thăng, cập đắc thiên hạ. Thái Tổ nãi gia phong Nhất vị Phổ tể Cương nghị Anh linh, sắc chỉ ban Triền Đổ trại trọng tu miếu điện dĩ phụng chi y thứ hưu tai.
Hoàng triều Cảnh Hưng niên gian toại gia phong Duyên phúc Tích khánh.
Phụng khai sanh hóa các tiết dữ húy tự thiết cấm Thiện Quang, chuẩn hứa Triền Đổ trại tự chi.
Nhất sinh thời bát nguyệt thập nhất nhật chính lệ nhập biển tự sơ lục nhật lệ hữu khai đình, lễ mộc dục, lễ dụng thượng trai bàn, hạ sinh mễ tế tửu, bạch viên bính, xướng ca, chí nhất thập nhất nhật tức chỉ.
Nhất hóa thần nhị nguyệt sơ thập nhật chính lệ, lễ dụng thượng trai bàn, hạ tùy nghi hành lễ xướng ca tịnh cấm.
Hồng Phúc nguyên niên mạnh xuân cát nhật Hàn Lâm Lễ Viện Đông Các đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn chính bản.
Hoàng triều Vĩnh Hữu lục niên thu nguyệt cát nhật, Nội các Lại bộ tái tuân cựu chính bản phụng.
Vi Duy Tân nhị niên lục nguyệt nhị thập tứ nhật phụng tuyên.

Dịch nghĩa:
Bản phả lục một vị đại vương công thần triều Hán Chiêu Đế (chi Cấn bộ thượng đẳng), Bộ Lễ quốc triều chính bản.
Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh tổ khai vận mở đồ hơn hai mươi năm. Vua Hùng lập nước núi xanh vạn dặm, xây kinh đô Hùng, dựng nền cung điện, nước biếc thăm thẳm, bắt đầu đạo đế thánh vua minh, giúp vật giúp dân, cai quản 15 bộ lấy tên là Bách Việt, là tổ tiên đầu tiên vậy.
Có thơ rằng:
Ban sơ Nam Việt từ Kinh Dương
Thống nhất núi sông mười tám vương
Mười tám đời truyền ngàn xưa đó
Vạn năm hương lửa vạn năm hương.
Truyền rằng:
Xưa nước Việt ta, Long Biên còn thuộc về Tây Hán. Bấy giờ có ông họ Đặng, tên húy là Vận, tổ tiên ngày trước đã được ban tước phong, đời nay kế thừa gia tài phúc ấm. Ông lấy vợ người bản quận, họ Tạ, tên húy là Cẩn, con nhà thi lễ, dòng dõi trâm anh, hai người rất xứng đôi. Thủa nhỏ ông rất tinh thông y thuật, thích làm điều thiện, vốn tính hay ban chẩn, giúp đỡ người nghèo.
Năm ông gần 50 tuổi, Tạ Thị đã ngoài 40, sinh được mấy người con gái mà chưa có con trai, về sau, vào ngày 11 tháng 8 năm Giáp Ngọ, bà sinh được một cậu con trai, tướng mạo khác thường, thiên tư kỳ lạ. Năm lên 3 tuổi đã biết lễ nghĩa, thường hay kính nhường, theo học mà hiểu, nghe nhạc biết thẩm thấu. Lên 7 tuổi cho đi học, liền đặt tên là Thiện Quang. Năm 13 tuổi, tinh thông kinh sử, rất giỏi võ nghệ, sĩ tử đương thời ai lấy đều thán phục và khen là “Thánh đồng” (Thánh trẻ con).
Năm 18 tuổi chẳng may cha mẹ
qua đời. Ba năm phục tang xong, trong lòng ông thẩm nghĩ phải lấy điển lễ lớn để dặn dạy sĩ dân. Bấy giờ dân Giao Châu học hành chưa thấu, tam cương, cửu trù chưa biết thứ bậc, ông liền thuận theo khuyên bảo những điều tốt lành. Nhờ đó mà dân biết được lễ nghĩa. Phong cách tốt đẹp của Nam Châu có được cũng có công của ông. Cảm phục sĩ dân mến mộ và cùng tôn ông làm Châu trưởng.
Lúc này, Hán Chiêu Đế sai Chu Chương làm Thái thú Giao Châu. Chu Chương nghe danh tiếng ông giáo hóa quy phục được dân chúng bèn dâng sớ tiến cử lên vua. Vua rất vui mừng, liền phong ông chức “Liệt Hầu”. Ông nhận mệnh đi xuống huyện ấp xem xét cuộc sống dân tình và phong cảnh nơi đây. Đến trại Triền Đổ, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng, đạo Hài Dương (xưa gọi là Hồng Châu), thấy phong tục tập quán nơi đây còn lạc hậu, kỹ nghệ còn sơ sài, ông liền truyền cho nhân dân thiết lập một học đường để dạy học cho nhân dân. Mới được một năm, nhân dân đều ngưỡng mộ kính phục.
Gặp lúc tù trưởng của 7 quận: Châu Nhai, Đam Nhĩ, Thương Ngô, Quảng Tín, Phiên Ngung, Lộc Lĩnh, (Quế Lâm?) làm loạn, quấy nhiễu dân sinh. Vua nghe tin liền nói đình thần nào có thể dẹp yên sẽ cho làm bản châu Thái thú. Sầm Bành tiến cử ông có đức vọng, quy phục được lòng người, tất sẽ dẹp được. Vua bằng lòng lệnh ông cho cầm đầu châu đi dẹp loạn.
Ông tuyển chọn trai tráng của bản trang được 28 người, lại truyền hịch đi các quận huyện đến giúp thêm được vài vạn người. Ngay hôm đó tiến thẳng đến Cửu Chân, lệnh cho các tướng sĩ phân ra các đồn để giữ vững, không được khiêu chiến. Nhân đó, sai quan văn truyền hịch, khuyên cho họ hiểu tín nghĩa, bảo họ thấy rõ điều họa phúc. Giặc nghe thấy tỉnh ngộ bỏ binh khí, mũ giáp ra hàng, 7 quận giặc loạn đã được dẹp yên. Ông cho rút quân về phủ (tức đất Long Biên).
Từ khi ông làm Thái Thú, hình phạt được giảm nhẹ, dân chúng đều được yên ổn làm ăn. Ông lại thong thả đến học đường ờ trang Triền Đổ, dạy cho dân hiểu về ân nghĩa và tình đoàn kết. Nhân dân thấy đó mà cảm phục bèn thưa với ông “nơi đây ngày nay là học đường, ngày sau làm nơi phụng thờ”. Ông bằng lòng, rồi cùng sĩ tốt về châu phủ, sai người thay tiến cử lên Hán Đế.
Năm đó ông vừa tròn 70 tuổi. Một hôm, ông đang ngồi tại phủ đường, bỗng một ánh sáng đỏ bay lên không trung rồi biến mất. Hôm đó là ngày 10 tháng 02 năm Bính Ngọ. Nhân dân, gia thần, sĩ tốt đều rất hoảng sợ, bèn làm biểu tâu lên Hán Đế. Đế liền sai sứ về dụ tế tại nơi đất này (Long Biên) và ban sắc phong phúc thần. Cho phép dân trong phù lập miếu phụng thờ. Còn các nơi như Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương, Triền Đổ là những nơi do ông giáo hóa đều đón mỹ tự về phụng thờ.
Đến thời Hán Bình, vua biết được danh tiếng cúa ông có công lao với nhà Hán, liền sai sứ mang sẳc đến phong tặng cho ngài là: “Bản cảnh Thành hoàng Đông biên Uy quốc Duệ trí Anh linh Thiện quang Tự công Linh phù tôn Thần”. Cho phép Triền Đổ, Cửu Chân, Nam Hải, Nhật Nam, Hải Dương các nơi cùng thờ phụng.
Đến đời nhà Tống, niên hiệu Thái Bình, vua Tống sai bọn Hầu Nhân Bảo mang 20 vạn quân thủy bộ sang xâm chiếm nước ta. Vua Lê Đại Hành tự mình mang 10 vạn quân tinh nhuệ đến cự chiến với giặc. Quân ta tiến đến huyện Đường An, phủ Thượng Hồng thì gặp quân Tống theo đường thủy kéo vào. Vua cùng tướng soái bèn cho quân vào đền Thần ở bên sông trú binh. Đêm cầu khấn Thần âm phù giúp đánh giặc, sau khi dẹp yên quân giặc sẽ tấn phong “Thượng đẳng”. Sáng hôm sau đề binh xuất chiến, quân giặc Nguyên quả nhiên bị thất bại nặng nề. Tướng Hầu Nhân Bảo cùng các tướng và quân giặc đều bị giết, bắt sống được đại tướng Biện. Quân ta chiến thắng trở về.
Sau đó, Vua khao thưởng tướng sĩ, nhân đó nói rằng: “Quân giặc Nguyên sớm dẹp được yên là nhờ có Thần âm phù trợ giúp”, gia phong cho thần là: Thiện Quang Tế thế Hộ quốc Tí dân Phù vận Dương vũ Dực thánh Bảo cảnh Hiển hỗ Hậu đức Chí nhân Phu cảm Hiển ứng Triệu mưu Tá tỵ Thiện văn Bác tế Phổ thí Từ huệ Hậu ân Hoành mô Viễn lược Cương nghị Đốc thật Thùy hưu Quả đoán Hùng nghị Phúc diễn Thông minh Duệ trí Hùng (?) Dũng quyết Anh uy Linh cảm Diệu thông Hùng kiệt đại vương.
Truyền rằng: Từ đó về sau, đều linh thiêng hiển ứng, cho nên được nhiều các bậc đế vương phong thêm mỹ tự.
Đến thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên Khương xâm lấn nước ta, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn phụng mệnh cầu đảo bách thần ờ các đền, Đại vương cũng linh thiêng ứng hợp âm phù, dẹp tan được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong mỹ tự: “Nhất vị Đại vương Linh ứng Anh triết Hiển hựu Trợ thuận”.
Đến đời Vua Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh, chém tướng Mộc Liễu Thăng, lấy được thiên hạ, Thái Tổ liền phong thêm: “Nhất vị Phổ tế Cương nghị Anh linh”. Sắc chỉ ban cho trại Triền Đổ trùng tu miếu điện để phụng thờ Ngài.
Hoàng triều Cảnh Hưng (1740 – 1786), được phong thêm “Diên phúc tích khánh”.
Phụng khai các tiết ngày sinh, ngày hóa cùng chữ húy “Thiện Quang” nhất thiết cấm. Cho phép trại Triển Đổ được phụng thờ.
Nhất sinh Thần ngày 11 tháng 8, theo lệ chính: Từ ngày mùng 6 mở cửa đình, lễ mộc dục (tắm gội); lễ dùng trên mâm chay, dưới thịt, xôi, rượu, bánh dầy, ca hát, đến ngày 11 thì dừng.
Nhất hóa Thần ngày mùng 10 tháng 02, chính lệ lễ dùng trên mâm chay, dưới tùy nghi hành lễ, cấm ca hát.
Ngày lành tháng Giêng mùa Xuân năm Hồng Phúc nguyên niên bậc bề tôi là Đại học sĩ Đông các của Viện Hàn Lâm – Nguyễn Bính phụng soạn bản chính. Ngày lành tháng đầu Thu – Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 6 bậc bề tôi là quan Bộ Lại Nội các, tái tuân theo bản chính cũ phụng viết.
Ngày 24 tháng 6 năm Duy Tân thứ 2 cung kính phụng khắc bia./.

Nho văn:
漢昭帝朝功神一位大王譜籙(艮支部上等)国朝礼部正本
昔雄王山原聖祖啟運膺圖二十年餘雄王建国青山萬里創雄都宫殿之基碧水一泓啟聖帝明王之道以度物濟人統十五部號之百越為肈祖焉
又詩云
初開南越自涇陽
一統山河十八王
十八世傳千古在
億年香火億(年)芳
却説
粤昔西漢辰內地竜編猶属我国間有鄧公諱運其先受封世承姿蔭配本郡人謝氏諱謹傳家詩礼累世簪纓所謂當門而配公課童頗精醫術樂行善事好賑济
公年近五旬謝氏四十餘女有数人男子尚晚後至甲午年八月十一日生下一男相貌殊常天資穎異三歲知禮義常能敬讓聞學而知明音而審七歲入學乃命名曰善光十有三歲通史子頗知武藝當辰士子多嘆服之共稱為聖童十有八歲考妣皆狙落矣三年喪畢公潛心墳典教誨士民聞交州教化未明綱疇未叙公循循然焉誘之而後民知禮義也南州華風公之功也
民皆暮之共推為州長辰漢昭帝命周章為交州太守章聞公教化服人為之疏舉漢帝大喜之封列侯
公既受命行縣邑觀民風適至海陽道(昔号洪州)上洪府唐安縣繵堵寨見民風樸陋學術寡聞乃傳設立學堂以教文字纔一年民皆慕之
值珠儋耳蒼梧廣信番禺麓冷(?)七郡商長作乱騷動民生帝聞之咨廷臣疇能(了?)此以為本州太守岑彭舉公德望服人必能安集帝許之命為州守使公平賊
公選得强壯本庄二十八人移檄諸郡縣來附者以萬数刻日直擣九真命將士分屯坚守不得挑戰因遣文吏移檄論之曉以信義示以祸福賊聞之感悟束甲來降七郡告平公遂振旅還府(即龍編地)
自公為太守刑罰清省民皆安業公暇復詣於纏堵庄
行在曉人以恩誼民皆拜謝請因此今為學堂後為祀所公許之遂與士卒光並回州府使代致貢于漢帝
辰公年七旬一日坐府堂忽見赤光自身中飛出騰空自変即日無病而没矣辰(丙午年二月初十日)
人民家臣士卒皆大驚乃行表奏于漢帝遂以事聞之遣使諭祭于此地(竜編)敕封福神準許府民立廟祀之餘如九真南海日南海陽纏堵等處常被公教化者皆迎美字囬民立庙祀之
迄至漢平帝名績表見於漢有功乃遣使敕封一封本境城隍東邊威国睿智英灵善光字公灵扶尊神準許瀍堵九真南海日南海陽諸祠?間奉事
至宋太平間遣侯仁宝?将兵二十萬水陸並進?道南侵辰黎大行自将大發精兵十萬拒戰進至上洪府唐安縣週兵曰水遣進至帝與将帥入于此祠(庙?)至宿于神祠祗神陰扶討賊侯平加封上等明日提兵出戰元兵果(𪵊?)其将仁宝及欽?等皆就戲又𫉬大将卞奉勲還京師凱還後享将士因謂曰元賊早平亦賴於陰扶黙助遂加封百神一封善光濟世護国庇民扶運揚武翊聖保境顯祜厚德至仁孚感顯應肇謀佐𨐓善文博济普施慈惠厚恩宏謨遠畧剛毅篤寔垂休果断雄毅福衍聰明睿知雄勇厥英威灵感妙通雄傑大王
却説自此以後皆稔著灵應故多有年王加封美字
迨至陳太宗辰元羌來侵京城被陷陳国俊命祈禱百神各諸祠經一位大王亦有顯應陰扶及平得馬兒賊太
宗乃褱封美字一位大王灵應英蜇顯佑助順曁至黎太祖起業平明木柳昇及得天下太祖乃加封一位普济剛毅英灵勅旨頒瀍堵寨重修庙殿以奉之猗次休哉
皇朝景興年間遂加風延福錫慶
奉開生化各节與諱字切禁善光準許纏堵寨祀之
一生辰八月十一日正例入扁自初六日例有開庭礼沐浴礼用上齊盘下牲粢酒白圓餅唱歌至一十一日即止
一化神二月初十日正例礼用上齊盘下随宜行礼唱歌並禁
鴻福元年孟春吉日韩林礼院東阁大學士臣阮炳奉撰正本
皇朝永佑六年秋月吉日內阁吏部再遵舊正本奉
為維新二年六月二十四日奉鐫

Lịch đại đế vương miếu (Trung Quốc Bắc Kinh)

Dịch từ trang https://baike.baidu.com/item/%E5%8E%86%E4%BB%A3%E5%B8%9D%E7%8E%8B%E5%BA%99/3263484

Vào tháng 1 năm 2019, di tích bảo vệ văn hóa trọng điểm quốc gia của Hoàng gia này sẽ tròn 15 năm từ khi ra mắt. Chương trình tu bổ Miếu Lịch đại Đế vương đã được phê duyệt, và hiện đang đóng cửa để sửa chữa. Dự kiến sẽ bắt đầu xây dựng vào nửa đầu năm nay và mở cửa trở lại sau khi hoàn thành vào năm 2020.
Miếu Lịch đại Đế vương, thường gọi là Đế vương miếu, tọa lạc tại số 131 phố Nội Đại, cửa Phụ Thành, quận Tây Thành, thành phố Bắc Kinh. Được khởi dựng vào thời Minh Gia Tĩnh năm thứ mười (1531), ban đầu là nền chùa Bảo An, tới năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530) thì được cải tạo lại và trùng tu năm Thanh Ung Chính thứ 9 (1729).
Miếu Lịch đại Đế vương là nơi các vua hai triều Minh Thanh thờ tự các vị hoàng đế mở nghiệp và các vị khai quốc công thần của các triều đại trong quá khứ. Vua Càn Long đã điều chỉnh nhiều lần và cuối cùng xác định 188 vị đế vương được thờ tự tại đây. Càn Long thậm chí còn đưa ra quan điểm về “dòng giống Trung Hoa không bao giờ tuyệt”. Đây là một di tích kiến trúc tinh xảo của Trung Quốc, là nơi thu hút người Hoa trong và ngoài nước thờ cúng Viêm Hoàng tổ tiên, tôn vinh các nhà hiền triết, tăng cường niềm tự hào lịch sử và sự gắn kết dân tộc, một địa điểm ngưng tụ văn hóa quan trọng của Trung Quốc.

Giới thiệu
Miếu Lịch đại Đế vương ban đầu được xây dựng thời Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1530), là nơi các vua hai triều đại Minh Thanh cúng tế tổ tiên, có địa vị tương đương với Thái miếu và Khổng miếu, cùng gọi là 3 ngôi miếu lớn của hoàng gia Minh Thanh tại Bắc Kinh.
Người Trung Quốc từ cổ tới nay có tập quán cúng tế tổ tiên, Tam Hoàng được xem là tổ tiên đầu tiên của người Trung Quốc, nên các đế vương các đời đều ngưỡng mộ. Các vị hoàng đế ban đầu là những tấm gương cho các thế hệ tiếp theo học hỏi và noi dõi, vì vậy việc cúng tế  các vị vua này được chú trọng.
Ban đầu, hoàng đế sáng lập nhà Minh là Chu Nguyên Chương đã xác định cúng tế 16 vị đế vương. Hoàng đế Thuận Trị nhà Thanh định đô ở Bắc Kinh sau đó xác định 25 vị vua được thờ cúng. Các thời Khang Hy, Ung Chính, Càn Long đã đặc biệt coi trọng Miếu Lịch đại Đế vương. Khang Hi từng ban một sắc lệnh: ngoài những người vô đạo bị xử chết và các vị phản quốc, tất cả các hoàng đế đã từng lên ngôi đều được lập bài vị trong đền.
Càn Long sau khi điều chỉnh, cuối cùng xác định 188 vị đế vương để thờ tự, từ Minh Gia Tĩnh năm thứ 9 đến cuối thời nhà Thanh có 380 năm, tại Miếu Lịch đại Đế vượng tổng cộng đã cử hành hơn 662 lễ cúng tế lớn.
Miếu Lịch đại Đế vương chiếm 21.500 m2, hiện là nơi ngôi đền duy nhất ở Trung Quốc thờ Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa, các bậc đế vương các đời cùng với các văn thần võ tướng của hoàng gia các nhà Minh Thanh. Đó là bằng chứng lịch sử cho tiến trình phát triển quốc gia nhiều dân tộc thống nhất kế thừa liên tục không ngừng của Trung Quốc.
Thời Dân quốc sau đó việc thờ cúng bị dừng lại, chuyển cho ngành giáo dục sử dụng. Thời thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chuyển cho Trường trung học nữ đệ tam của thành phố Bắc Kinh sử dụng, sau đó đổi tên thành Trường trung học 159 Bắc Kinh.
Năm 1979 được công nhận là di tích bảo tồn văn vật của thành phố Bắc Kinh. Năm 1996 Quốc vụ viện công bố là di tích bảo tồn văn vật trọng điểm quốc gia.

Bài trí
Điện Sùng thánh Cảnh đức được đặt ở vị trí trung tâm, toàn điện là kiến trúc mái chính và 2 chái bên, cùng với Thái Hòa điện của Cố Cung nằm cùng một cấp, trung bình cao 21m, mặt chính có 9 gian, vào sâu 5 gian, theo tiêu chí lễ chế đế vương “cửu ngũ chi tôn”.
Bên dưới là một loại gạch lát sàn được làm đặc biệt cho hoàng gia, còn được gọi là “gạch vàng”. Các viên gạch vàng mang lại cho mọi người cảm giác mịn màng và ngọc bích, và chúng không bị trơn khi bước lên. Các hạt rất mịn và dày đặc. Các “gạch vàng” được sử dụng để cải tạo đã được làm trong các “lò ngự” ở Tô Châu ngày nay. Các vật liệu, nung và chế biến có quy trình nghiêm ngặt. Trước khi đặt, chúng được xử lý bằng cách ngâm dầu và mài bề mặt.
Trong sảnh chính, có bảy cung khám phụng thờ bài vị của 188 hoàng đế các đời Trung Quốc. Trong khám thờ ở vị trí chính trung là bài vị Phục Hy, Hoàng Đế, Viêm Đế, hai bên phải trái chia ra có 6 khám, dùng thờ Ngũ Đế và Hạ, Thương, hai nhà Chu, Cường Hán, Thịnh Đường, Ngũ đại thập quốc, Kim, Tống, Nguyên, Minh các đời, tất cả là 185 bài vị đế vương.
Điện Cảnh đức Sùng thánh Đông Tây hai bên có các điện thờ, dùng để thờ cúng Bá Di, Khương Thượng, Tiêu Hà, Gia Cát Lượng, Phòng Huyền Linh, Phạm Trọng Yêm, Nhạc Phi, Văn Thiên Tường, tất cả 70 bài vị của các vị đại hiền tướng, danh tướng. Ở giữa, Quan Vũ một mình lập một miếu, thành ra miếu trong miếu khá đặc biệt.
Điện Cảnh đức Sùng thánh trong Miếu Lịch đại Đế vương, cửa Cảnh Đức, hai điện phối thờ Đông và Tây chủ yếu còn giữ được  các đồ thời nhà Minh để lại, trong khi các bức tranh tường và gạch tráng men chủ yếu là vào thời Càn Long của triều đại nhà Thanh.
Mặc dù Cố Cung, Di Hòa Viên, Thiên Đàn, Khổng Miếu và các tòa nhà khác đều được xây dựng từ thời nhà Minh, nhưng không có nhiều hiện vật của nhà Minh được bảo tồn. Do đó Miếu Lịch đại Đế vương nơi còn giữ lại được một số lượng lớn các cấu kiện thời Minh là rất hiếm.

Lịch sử xây dựng
Triều Minh dời đô về Bắc Kinh, việc tế tự các đế vương thời trước được tiến hành hoặc ở Nam Kinh hoặc ở vùng ngoại ô Bắc Kinh tại điện văn hóa Cố Cung. Hoàng đế Gia Tĩnh vào năm thứ 9 (1530) đã khởi dựng Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh, thờ cúng các nhân vật được thu tập trước đây từ Nam Kinh, chỉ dùng bài vị, không làm tượng. Năm Gia Tĩnh thứ 14 (1545) loại bỏ Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt và Mục Hô Lý cùng 5 bài vị đại thần nhà Nguyên.
Sau đó, ngôi đền cũ ở Nam Kinh đã bị bỏ hoang. Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh trở thành nơi duy nhất trong cả nước thờ phụng đế vương các đời. Trong lịch sử lâu dài của lịch sử Trung Quốc, một loạt các nhân vật từ Tam Hoàng Ngũ Đế cho đến các đế vương các đời đã được hình thành. Việc tế tự các vị này của hậu thế là một bộ phần của lễ chế quốc gia từ xưa.
Ngay từ thời kỳ Tiên Tần, Sách “Lễ Ký, Tế pháp”, đã nêu rằng việc “làm pháp cho dân”, “hy sinh vì việc công”, “vất vả gây dựng đất nước”, “chế ngự thiên tai”, “giảm thiểu hoạn lớn” đều được linh ứng mà tế tự, từ Phục Hy, Viêm Đế, Hoàng Đế, Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Chu Văn Vương, Vũ Vương đều là những nhân vật tiêu biểu quan trọng cho thờ cúng.
Các triều đại Tần và Hán đối với việc thờ cúng Tam Hoàng Ngũ Đế cùng các đế vương các đời trước được duy trì liên tục và có sự phát triển thay đổi: từ lăng mộ đến đền thờ, từ cúng tế từng nhân vật đến các nghi lễ tập thể. Từ thờ cúng các đế vương mở nước đến thờ các đế vương giữ nghiệp, từ thờ cúng các đế vương người Hoa Hạ – Hán đến thờ cúng các đế vương của các dân tộc khác, từ chủ yếu thờ các đế vương tới thờ các hiền thần có công vun đắp trong quá trình phát triển.

Triển lãm lịch sử phát triển Miếu
Triển lãm lịch sử phát triển Miếu Lịch đại Đế vương tại điện phía Đông, chủ yếu giới thiệu Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, Minh Gia Tĩnh Chu Hậu Thông, Thanh Thuận Trị Đế Phúc Lâm, Thanh Khang Hy Đế Huyền Diệp, Thanh Ung Chính Đế Dận Chân, Thanh Càn Long Đế Hoằng Lịch là 6 vị hoàng đế nhà Minh và Thanh đã sáng lập, bổ sung và phát triển việc thờ cúng Miếu Lịch đại Đế vương. Việc làm của họ tạo thành dòng phát triển chính của hệ thống nghi lễ thờ cúng tại Miếu Lịch đại Đế vương.

Tế tự
Ở điện chính của ngôi đền thờ tự các nhân vật chính, 38 vị chính được đặt tại đây. Trong phần trưng bày giới thiệu cả các hoàng đế sáng lập và các hoàng đế giữ nghiệp, cả các nhân vật đế vương người Hoa Hạ – Hán và cả các nhân vật người dân tộc khác, phản ánh đặc điểm lịch sử của quốc gia đa sắc tộc thống nhất tiếp nối ở Trung Quốc. Thêm vào đó cũng giới thiệu với công chúng nhiều văn thần võ tướng lớn, bao gồm nhiều nhân vật lịch sử nổi tiếng, nhờ đó làm phong phú nội dung của triển lãm.
Khu đơn nguyên thứ nhất: Chủ yếu để thờ các nhân vật đế vương thời Tam Hoàng Ngũ Đế.
Khu đơn nguyên thứ hai: Thờ các nhân vật thời Tần Thủy Hoàng, Tào Tháo, Dương Kiên.

Triển lãm
Họ tên là biểu tượng hình ảnh cá nhân, nó gắn với bạn theo mỗi người từ lúc sinh ra. Tuy nhiên, bạn có thể không biết hết ý nghĩa của nó. Chẳng hạn, họ của bạn bắt nguồn từ đâu, sống ban đầu ở đâu, có bao nhiêu năm lịch sử, có bao nhiêu vị tiên hiền, đặc biệt tổ tiên của bạn là ai? Có liên quan đến Tam Hoàng Ngũ Đế không? Đối với hầu hết mọi người, đó là một bí ẩn rất thú vị cần được trả lời.
Triển lãm chuyên đề “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà” có tuyến trưng bày chủ yếu gồm 8 vị hoàng đế cổ xưa Phục Hy, Viêm Đế, Hoàng Đế, Thiếu Hạo, Chuyên Húc, Đế Khốc, Nghiêu Đế, Thuấn Đế, mà từ đó phát triển ra cho tới nay thành trăm họ khác nhau. Trước tiên, giới thiệu các vị thủy tổ của mỗi họ (bao gồm viễn tổ và tiên tổ), biển hiệu đề họ, sảnh đường nối liền, các quận có thờ họ, các họ khác có liên hệ huyết thống, dòng gốc đã phát di ra các nơi, các bậc tiên hiền xưa cùng các thắng tích quan trọng.
Tại trung tâm thờ Tam Hoàng Ngũ Đế của Miếu Lịch đại Đế vương tổ chức triển lãm chuyên đề “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà”, giúp bạn tìm kiếm nguồn gốc tổ tiên, thông qua những tri thức liên quan về văn hóa dòng họ, làm sâu sắc hơn việc lý giải thủy tổ cộng đồng dân tộc Trung Hoa – Tam Hoàng Ngũ Đế.
Hy vọng rằng khi bạn bước vào phòng triển lãm “Tam Hoàng Ngũ Đế và họ trăm nhà”, bạn thực sự có thể cảm thấy: Trăm họ một nhà, bắt nguồn từ Hoa Hạ!
Kèm theo danh sách họ trăm nhà trong triển lãm:
Theo hệ từ Viêm Đế : Khương, Lữ, Khâu (Khâu), Sài, Đinh, Cao, Hứa, Lô, Tạ, Thôi, Thân, Lôi, Dịch, Liên, Hướng, Tập, Cung, Kỉ, Phương, Chương, Nhạc, Tiêu, Tề, Hạ, Nhiêu.
Theo hệ từ Hoàng Đế: Nhâm, Trương, Vương, Chu, Ngô, Trịnh, Dương, Quách, Cổ, Tương, Thái, Mao, Tiết, Hàn, Hà, Vu, Thiệu, Ngụy, Khang, Phùng, Cát, Uông, Dư, Cáo.
Theo hệ từ Thiếu Hạo: Kim, Tần, Triệu, Mã, Lương, Từ, Hoàng, Giang, Lí.
Theo hệ từ Chuyên Húc: Chúc, Tào, Chu, Đổng, Lục, Phan, Ôn, Tô, Cố, Nghiêm, Phí, Sở, Hạ, Tằng, Bạch, La, Long, Trang, Hùng, Diệp, Bành, Tiễn, Trầm.
Theo hệ từ Đế Khốc: Thang, Tống, Tiêu, Khổng, Đái, Lâm, Vũ, Đặng, Phó.
Theo hệ từ Nghiêu Đế: Y, Kì, Đào, Đường, Lưu, Đỗ, Phạm, Phòng, Hồng.
Theo hệ từ Thuấn Đế: Diêu, Ngu, Trần, Hồ, Điền, Viên, Trâu, Chân, Tôn.

Kiến trúc
Bước vào cửa Cảnh Đức về phía Bắc là khoảng sân lớn nhất của Miếu Lịch đại Đế vương. Ở giữa sân là điện Cảnh Đức Sùng Thánh, là kiến trúc chủ thể của Miếu Lịch đại Đế vương. Theo bản vẽ “Đại Thanh hội điển đồ”, điện Cảnh Đức Sùng Thánh, rộng 9 gian, mái phủ, góc mái uốn cong, rường cột năm sắc, nền lát đá. Ở phía Nam, có ba cấp bệ, ở giữa có 3 cấp, ở mỗi bên trái và phải đều có một cấp. Phía Đông và Tây có 1 bệ, ở giữa đều có 2 cấp. Điện Cảnh Đức và Ngự Bi đình ban đầu được làm bằng men xanh. Vào năm Càn Long thứ 29 chúng được đổi thành men vàng.
Tên điện Cảnh Đức Sùng Thánh có ý là “cảnh ngưỡng đức chính, sùng thượng thánh hiền” (ngưỡng mộ chính đức, tôn tùng thánh hiền). Kiến trúc này cho dù ở các hình chế, mái, cột, dầm, phù điêu, họa sắc cùng các hạng mục bên trên là phong cách của kiến trúc hoàng gia, theo quy định tối cao. Chỉ có cung điện, lăng mộ và các tòa nhà hoàng gia mới có thể sử dụng hình thức này.
Điện Cảnh Đức Sùng Thánh rộng chín gian, sâu năm gian, tượng trưng nghĩa “Cửu ngũ chí tôn” của Thiên tử. Mỗi không gian được bao quanh bởi bốn cột theo cả hai chiều rộng và sâu được gọi là một gian. Không phụ thuộc vào kích thước, gian là đơn vị thấp nhất trên mặt bằng của điện, tùy theo vật đặt trong gian to hay nhỏ mà gian được thiết kế to nhỏ và ít nhiều tương ứng. Xét các di chỉ thời nhà Thương và các đồ tế tự nhà Hán thì số gian trong các kiến trúc sớm của Trung Quốc chủ yếu là số chẵn, và ở giữa gian phải là một trụ cột. Mọi người chỉ có thể vào và ra từ một phía. Vì vậy, nó dần dần thay đổi thành số lẻ. 9 gian là đẳng cấp cao nhất.
Tòa điện này làm theo kiểu mái trùm, góc cong, và gạch của nó là gạch tráng men vàng. Các trụ cột của nó được tạo thành từ 60 loại gỗ tốt, và các bức tranh của nó là rồng vàng trên ấn. Trong điện treo tấm biển do Hoàng đế Càn Long ngự đề. Bên trên biển có 4 chữ “Báo công quan đức”. Trong điện chia làm 7 khám thờ, và tổng cộng phụng sự 188 bài vị của các đế vương trong quá khứ. Bài vị nền đỏ chữ vàng. Sảnh chính được xây dựng trên một bục cao, và có một cái đài trước đền. Có lan can đá ở các hướng Đông, Tây và Nam. Có ba bệ ở phía Nam của đài, ở giữa là đường đi cho vua.
Kiến trúc tổng thể của điện Cảnh Đức Sùng Thánh trang nghiêm và trang trọng, với giá trị thẩm mỹ cao.

Đặc điểm kiến trúc
Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh là một di tích bảo tồn văn hóa trọng điểm quốc gia. Đây là một di sản kiến trúc lịch sử cấp hoàng gia. Miếu Đê vương là một quần thể kiến trúc, theo bố cục được thiết kế trên xà, giữa có tuyến trục. Ở trục giữa trên là nơi có kiến trúc đẹp cao cấp. Từ phía Nam đến phía Bắc, có một bức tường tranh lớn, sau đó là cổng miếu, và sau đó là cửa Cảnh Đức. Sau đó là tòa nhà chính điện Cảnh Đức Sùng Thánh, sau điện có kho đựng đồ tế khí. Ở chính điện hai bên phải trái có 4 đình Ngự Bi cùng các điện phối thờ Đông và Tây.
Trục trung tâm từ cửa Miếu, cửa Cảnh Đức, điện Cảnh Đức Sùng Thánh, kho tế khó chiếm từ Bắc hướng Nam. Kiến trúc thực tế hàng ngàn năm của Trung Quốc cho rằng ở Bắc hướng Nam là hướng quay lý tưởng nhất. Thiên văn học cổ đại dựa vào các chòm sao chia thành Thanh Long, Bạch Hổ, Chu Tước, Huyền Vũ, đại diện cho các hướng Đông Tây Nam Bắc. Vì người xưa thường quay mặt về phía nam để quan sát, do đó bản đồ các thiên tượng được trình bày trên Nam dưới Bắc, và những vị vua cai trị các thời đại đã quay mặt phương Nam để trị thiên hạ.
“Kinh Dịch” nói: Thánh nhân quay mặt phương Nam để lắng nghe thiên hạ, hướng về chỗ sáng mà trị vì. Ở các kiến trúc cổ của Trung Quốc trong bố cục thì chính điện thường nằm ở vị trí trung tâm. Miếu Lịch đại Đế vương có bố cục tại trung tâm là điện Sùng Thánh. Tòa nhà này vượt lên cao cách biệt với mái đầm góc bay, dùng gạch tráng men màu vàng. Chiều rộng của đại điện rộng khoảng 51m, và chiều sâu của năm gian là khoảng 27m. Nó là lễ chễ “Cửu ngũ chí tôn”. Ngôi đền cao 21m và có 60 cây cột trụ gỗ Chò. Nóc điện là các cột lớn với các dầm xà khổng lồ chống đỡ mái đền. Đại điện bên trong vẽ hoa văn xoắn, các mảng bám bên ngoài được vẽ rồng vàng cuốn ấn, đặc biệt tráng lệ.
Thần vị của Tam Hoàng Ngũ Đế cùng với các đế vương các thời được phụng thờ trong điện Cảnh Đức Sùng Thánh. Lớp chính điện này có quy cách tương đồng như của Tử Cấm Thành. Sảnh chính nằm trên một bục đài cao. Phía trước điện có một cái bục rộng, lan can đá và đường đi của vua hạm khắc hoa văn mây núi. Thần vị của các công thần danh tướng các đời được sắp xếp “văn Đông võ Tây”, được thờ ở trong các điện phối thờ bên Đông và Tây. Các điện phối thờ Đông và Tây được kiến trúc bằng các ngói men đen, mái đầm, nóc hướng cao. Hai bên điện chính có 4 ngự bi đình, có kiến trúc đẹp, lợp ngói men vàng, mái đầm, nóc hướng cao. Bên trong đình để bia chạm khắc các hình sông núi biển hồ. Các bia ngự của Ung Chính và Càn Long to cao hùng vĩ, chạm trổ tinh vi.  Trán bia được chạm khắc hình tròn chim đại bàng và rồng, từ cao nhìn xuống, oai nghiêm khác thường, so với các loại bia ngự khác trên cả nước là loại tốt nhất. Những con rùa dưới tượng đài cũng vô cùng to lớn, cổ kính và mạnh mẽ.
Ở phía Đông Nam Miếu có một số tòa nhà như nhà bếp, kho, chỗ giết mổ, giếng, và một tháp chuông. Cổng đền rất long trọng, với hai bia Hạ Mã trước cửa và một bức tranh tường đỏ khổng lồ. Trên bia Hạ Mã có dòng chữ “Quan chức, nhân dân đều xuống ngựa ở đây” khắc bằng tiếng Hán, tiếng Mông Cổ, tiếng Mãn, cho thấy sự uy nghi và tôn quý của Miếu Lịch đại Đế vương.
Hiện trạng của Miếu Lịch đại Đế vương là diện mạo của thời kỳ huy hoàng nhất của Thanh Càn Long, có bố cục rất nghiêm ngặt và tráng lệ, khí thế to lớn. Vì nó chủ yếu giữ lại cấu trúc ban đầu khi nhà Minh xây dựng, giá trị kiến ​​trúc và giá trị văn hóa là vô cùng lớn. Đây là ngôi đền hoàng gia duy nhất hiện còn ở Trung Quốc.

Trang trí nghệ thuật
Các trang trí ở Miếu Lịch đại Đế vương đã được các chuyên gia khảo sát và chia làm 3 giai đoạn:

  1. Trang trí thời Minh Gia Tĩnh khi mới xây dựng, tức năm 1530.
  2. Trang trí thời Thanh Ung Chính khi đại tu, tức năm 1729.
  3. Trang trí thời Càn Long khi sửa chữa, tức năm 1764.

Những trang trí có giá trị nhất trong Miếu Lịch đại Đế vương là những bức làm khi khởi lập, những bức này vẫn còn được bảo tồn trong Miếu tới nay, nhưng tiếc là người thường không dễ nhìn thấy. Trên trần của điện Cảnh Đức Sùng Thánh có mảng tranh trên trần, có ba gian tranh vẽ, trang trí hết sức kỹ thuật, là những bức tranh rất có giá trị của nhà Minh. Ở cửa Cảnh Đức bên sườn cao cũng có một bức tranh màu về thời kỳ Minh Gia Tĩnh khởi tạo, cũng ở trên trần nhà. Trang trí của nó khác với chính điện, và thợ có tay nghề kém tinh tế hơn trong đại điện.
Ngoài ra, tường phía Đông là nhà bếp nhà kho, cũng còn lưu được một số dấu tích trang trí từ thời khởi lập. Ở khu giết mổ có ở mặt Nam và Tây mỗi phía còn một mảnh trang trí. Các thế hệ sau này đã thực hiện các bức tranh thời nhà Thanh trên lớp phủ cũ, vì vậy họ để lại một số dấu vết.
Ngoài bức tranh trần ba gian điện Cảnh Đức Sùng Thánh còn có mẩu bức tranh bằng tấm gỗ trắng. Điều này cho thấy đó là tác phẩm gốc của thời Minh Gia Tĩnh. Sau đó, các đường gờ không được sửa chữa nhiều lần. Tại sao nhà Thanh khi đại tu sửa di tích đã không động tới bức tranh của Minh Gia Tĩnh? Chuyên gia về xây dựng cổ đại đã phân tích rằng có thể nhà Thanh muốn để lại một thông điệp cho các thế hệ tương lai.
Những bức trang trí quy mô lớn do nhà Thanh làm cũng là một lý do giải thích việc này. Nếu người sở hữu phải xây dựng lại cung điện cũ, họ không có nhiều nguồn tài lực. Do đó chỉ làm lại những trang trí ở bên dưới là đủ. Các bức tranh thời Minh được làm ban đầu trên trần nhà, và người thường không nhìn thấy chúng, vì vậy chúng sẽ không được thay thế. Có lẽ do đó đã vô tình được bảo tồn. Cũng có thể là nếu dỡ bỏ các bức phía trên thì sẽ động chạm đến các vật bên dưới, không thuận tiện để di dỡ.

Lễ hội tế tự
Miếu Lịch đại Đế vương ban đầu được xây dựng năm Minh Gia Tĩnh thứ 9 (1531), tiếp tục được sử dụng vào thời nhà Thanh, cho tới nay đã có 470 năm lịch sử. Miếu Lịch đại Đế vương là trung tâm thờ tổ tiên Phục Hy, Viêm Hoàng, là nơi duy nhất trong cả nước tập trung điện thờ Tam Hoàng Ngũ Đế, đế vương các đời và các công thần danh tướng cùng với các vị tiên hiền Trung Hoa ở trong một miếu điện thờ thần thánh. Hiện đây là di tích bảo vệ văn vật trọng điểm quốc gia, có giá trị lịch sử cao. Nó được mở cửa cho công chúng vào năm 2004 sau khi chính phủ đầu tư mạnh vào việc sửa chữa toàn diện vào năm 2000.
Việc khai trương Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh đã mang lại một sản phẩm du lịch mới trong thị trường du lịch tại đây. Do bối cảnh văn hóa và lịch sử đặc biệt, Miếu Lịch đại Đế vương đã trở thành điểm thu hút mới của các công ty lữ hành lớn trong nước. Năm 2004, Miếu Lịch đại Đế vương bắt đầu tổ chức lại các hoạt động tế tự tổ tiên người Hoa. Với sự hỗ trợ của Tổng cục Du lịch thành phố Bắc Kinh, các hoạt động nghi lễ của Miếu Lịch đại Đế vương được tổ chức hàng năm, kết hợp với tìm hiểu lịch sử của đất nước, thử nghiệm ẩm thực quốc gia và các trò vui chơi cấp quốc gia cùng với Miếu tạo ra một sản phẩm du lịch riêng biệt. Nó đã đóng một vai trò quan trọng trong việc quy tập người Hoa trong trong và ngoài nước. Nó đã trở thành một địa điểm tinh thần cho người Hoa trong và ngoài nước để tìm kiếm gốc rễ và tổ tiên. Nó trở thành điểm biểu tượng mở rộng của tuyến du lịch văn hóa và trở thành điểm quan trọng của Thế vận hội nhân văn 2008.

Lễ nhạc
Con người ngày nay khá xa lạ với hệ thống nghi lễ cổ xưa. Các nghi lễ cổ xưa đã mất từ ​​lâu. Nền tảng của lễ nhạc cổ đại là Chu Lễ. Lễ nhạc thời Chu nay khó tìm được dấu vết. Tuy nhiên, văn hóa lễ nhạc truyền thống, như máu và nước, đã thấm vào máu thịt của dân tộc Trung Hoa, và luôn ảnh hưởng đến quan niệm, tâm lý, hành vi và cảm xúc của người ngày nay.
Lễ nhạc là gì? Các học giả tin rằng: nghi thức và âm nhạc là tất cả các mô phỏng hoặc biểu hiện của vũ trụ và quy luật tự nhiên. Nghi lễ được xây dựng theo các nguyên tắc khác nhau của thế giới, luân chuyển bốn mùa, sự phát triển lẫn nhau của sáu khí và các nguyên tắc phù hợp của tất cả mọi thứ. Âm nhạc là thành phần và sự chuyển động của quy luật tự nhiên. Quy luật của sự thay đổi và mô phỏng và cảm giác của hình thức. Quà tặng và âm nhạc được tạo ra để đáp ứng nhu cầu của xã hội. Nghi lễ chủ yếu được sử dụng để phân biệt đối xử, để phân biệt các cấp bậc cao quý của từng thành viên để họ làm rõ tình trạng, nhiệm vụ và nghĩa vụ tương ứng.
Âm nhạc chủ yếu được sử dụng “cầu hòa”, điều chỉnh cảm xúc bên trong của con người và điều phối các mối quan hệ tương thân tương thích giữa người với người. Cả hai nghi thức và âm nhạc đều phải ở mức độ vừa phải. Nếu vượt qua phạm vi, nó sẽ gây hỗn loạn. Lễ và nhạc như anh chị em sinh đôi, không thể tách rời. Trong hệ thống văn hóa lễ nhạc, lễ chiếm vị trí chính, nhạc là để phối hợp. Nói chung, các nghi lễ khác nhau cần có nhạc và múa khác nhau, và không được trộn lẫn, cũng như và những người ở đẳng cấp độ khác nhau thì dùng các loại lễ nhạc mức độ khác nhau. Từ hoàng đế, chư hầu, đại phu đến các học giả, múa nhạc được sử dụng một cách nghiêm ngặt nhất định. Quy mô của ban nhạc, số lượng các nhóm nhảy, các bản nhạc diễn tấy, lời từ cho ca xướng và thậm chí các quy trình biểu diễn đều dựa trên các dịp âm nhạc khác nhau và bản sắc khác nhau của các nhạc sĩ, không được vượt khác.

Miếu không Phật
Có một câu truyền miệng phổ biến ở khu vực Bắc Kinh về Miếu Lịch đại Đế vương: “Có nước không cầu, có bia không tượng, có chuông không trống, có miếu không Phật”. Một số người thường coi miếu và Phật là một. Trên thực tế, có rất nhiều ngôi miếu không có Phật. Người xưa để tế tự các vị thần tự nhiên đã thiết lập các đàn tế, như ở Bắc Kinh Thiên Đàn, Địa Đàn, Nguyệt Đàn, Nhật Đàn, Xã tắc Đàn, v.v. Các đàn tế này thường được đặt ngoài trời. Hầu hết việc cúng tế tổ tiên xưa được thực hiện trong nhà, và những nơi thờ cúng tổ tiên được gọi là đền thờ hoặc miếu thờ.
Đàn cùng với miếu ban đầu được làm khá sơ sài. Sau này, một số nơi việc tế tự các vị thần tự nhiên được đổi lại thành miếu, ví dụ như miếu lớn để thờ Thái Sơn. Thêm vào đó, với sự du nhập của Phật giáo và sự truyền bá Đạo giáo, các công trình tôn giáo thường được gọi tên chung là miếu, chẳng hạn như nhiều ngôi chùa “miếu” Phật giáo và đền thờ Đạo giáo ở trên núi. Theo cách này, cùng một từ “miếu”, nhưng một số là các kiến trúc tôn giáo và một số vẫn được sử dụng cho việc cúng tế. Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh không phải là nơi tu tập của tôn giáo xét theo đối tượng thờ. Họ không phải là các vị thần hay chư Phật. Họ là tổ tiên của thời lịch sử của Trung Quốc, từ Tam Hoàng Ngũ Đế đến Hạ, Thương, Chu, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh các bậc đế vương cùng với các công thần danh tướng.
Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh là một ngôi đền hoàng gia trong triều đại nhà Minh và nhà Thanh. Nó được thành lập vào thời Minh Gia Tĩnh thứ mười năm 1531 và có lịch sử hơn 470 năm. Các triều đại nhà Minh và nhà Thanh phụng sự tổ tiên Trung Hoa và các tiên hiền trong lịch sử, thực hiện một loạt nghi lễ trong ngôi đền linh thiêng và trang nghiêm này. Hoạt động nghi lễ này được tổ chức vào mùa xuân và mùa thu hàng năm theo hệ thống nghi lễ quốc gia. Hoàng đế Minh Gia Tĩnh, Hoàng đế Thanh Khang Hy, Ung Chính và Càn Long đã đích thân đến tế lễ ở Miếu Lịch đại Đế vương Bắc Kinh. Trong thời gian bình thường, hoàng đế đã chỉ định một đại thần triều đình đến tế lễ.
Do đó, Miếu Lịch đại Đế vương có một địa vị chính trị quan trọng, cũng giống Thái Miếu là nơi các vị hoàng đế nhà Minh và nhà Thanh thờ cúng tổ tiên trực tiếp của mình và Khổng Miếu là nơi thờ phụng Khổng Tử, gọi chung là ba ngôi miếu hoàng gia Minh Thanh ở Bắc Kinh. Để dùng cho việc thờ cúng ở Miếu Lịch đại Đế vương, một ngôi miếu có địa vị lịch sử rất cao, kiến trúc của nó được làm theo những tiêu chuẩn rất cao và phong cách hoàng gia sang trọng, khí phái. Ngày nay, Miếu Lịch đại Đế vương đã chính thức mở cửa, đã được sửa chữa và khôi phục một phần theo đúng hình dáng ban đầu và mô hình của thời Càn Long của nhà Thanh. Kiến trúc này là một “tượng đài của văn hóa nhân loại”, và kiến trúc sư nổi tiếng Lương Tư Thành gọi kiến trúc cổ là “cột mốc của lịch sử”. Miếu Lịch đại Đế vương ở Bắc Kinh là một công trình kiến trúc kinh điển “đất này không danh tiếng mà thắng có danh tiếng”. Nó nói với mọi người về thông tin lịch sử và văn hóa phong phú.