Nguồn gốc biểu tượng Lưỡng long chầu Thái cực

Có một hình tượng được sử dụng rất rộng rãi trong các công trình kiến trúc cổ đó là hình Lưỡng long chầu nhật/nguyệt. Hình tượng này có thể gặp ở khắp nơi, từ trên nóc mái kiến trúc, tại chính điện những nơi thờ cúng, trên cửa võng, hương án,… Một hình tượng phổ biến như vậy chắc chắn phải có nguồn gốc và ý nghĩa sâu xa.

IMG_1509Lưỡng long chầu Thái cực trong kiến trúc hiện đại.

Trong bài trước đã xác định, hình cầu bốc lửa ở giữa mà đôi rồng chầu vào là Thái cực đồ, bao gồm 4 yếu tố trong Tứ tượng là Thái âm, Thái dương, Thiếu âm, Thiếu dương. Hình tượng này còn có tên khác là Nhật nguyệt tinh thần, là 4 vì tinh tú biểu tượng cho Tứ tượng trong Thái cực đồ. Vậy thời xưa, Thái cực đồ được thể hiện như thế nào?

NNTTNhật nguyệt tinh thần trên Thái cực đồ.

Triết gia đời Tống Chu Đôn Di (1017-1073) viết “Thái Cực Đồ thuyết”: “Vô cực” là chưa thành “thái cực”. “Thái cực” hoạt động tạo ra dương, khi chuyển động đến giới hạn, nó trở nên tĩnh. Trong tĩnh, nó tạo ra âm, tới cực đại, nó lại hoạt động. Động và tĩnh chuyển hóa, cái này là nền của cái kia. Khi âm và dương đã phân hóa, hai trạng thái xuất hiện. Sự chuyển hóa và kết hợp của âm và dương tạo ra kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Với ngũ hành, các thời kỳ biến đổi của khí được sắp xếp hài hòa, qua đó bốn mùa được tiếp diễn. Ngũ hành đơn giản là âm và dương, âm và dương chẳng qua chính là thái cực, thái cực có nền tảng từ vô cực. Do vậy, trong quá trình tạo ra ngũ hành, mỗi hành đều chứa đựng bản chất riêng của nó.
Chu Đôn Di cung cấp đồ hình Thái cực lúc đó ở dạng các vòng tròng đen trắng xen lẫn nhau. Có thể thấy, trong Thái cực gắn liền với Ngũ hành. Cách thể hiện Thái cực đồ này cũng có gặp ở Việt Nam, trên một số viên gạch dùng để trang trí chùa thời Trần .

thai-cuc.png
Thái cực đồ của Chu Đôn Di

Trong thời kì nhà Minh (1368-1644) bắt đầu xuất hiện các đồ hình vòng xoáy thể hiện Thái cực rồi trở thành hình Thái cực hiện đại như ngày nay.
Vậy trước thời Tống liệu đã có Thái cực đồ chưa và Thái cực đồ lúc trước được thể hiện như thế nào?
Thái cực đồ của các thời kỳ trước nữa có thể tìm thấy thông qua hình ảnh của 2 con rồng chầu đồ hình ở giữa. Một đồ hình tròn, với 1 chấm nổi ở giữa và 4 chấm chìm xung quanh, được 2 con rồng chầu vào, là hình khắc trên đá mộ thời Bắc Ngụy (thế kỷ V).

Song LongLưỡng long chầu thời Bắc Ngụy.

Hình tròn ở giữa 2 con rồng chầu tương ứng với vị trí của Thái cực đồ , do đó có thể nhận định đây là một dạng thể hiện Thái cực đồ với các chấm tròn là biểu tượng của Ngũ hành như trong liên hệ của Chu Đôn Di ở trên.
Như đã từng biết, các hình tượng trong “Long sinh cửu tử”, những đứa con của Rồng từ Bị hí, Trào phong, Si vẫn, … đều có nguồn gốc từ các trang trí trên đồ đồng thời Thương Chu. Những hình tượng này được sử dụng rộng rãi trong kiến trúc truyền thống của đình đền miếu, cung điện… So sánh một cách hợp lý thì rõ ràng hình tượng Lưỡng long chầu Thái cực cũng sẽ thấy trên đồ đồng thời Thương Chu.

Ngu hanh do.jpgHoa văn Quỳ chầu trên đồ đồng thời Chu.

Hoa văn trên đồ đồng thời Chu có hình 2 con Quỳ (rồng 1 chân) đang hướng vào một vòng tròn với một chấm tròn ở giữa và 5 vòng xoáy xung quanh. Đồ hình này khá phổ biến trên đồ đồng thời Chu, ví dụ như trên một chiếc Vu thời Thương hiện lưu ở Bảo tàng cố cung Đài Loan.

Dai Loan.jpgHình tròn có 5 vòng xoáy trên một chiếc Vu đồng thời Thương.

Với vị trí ở giữa có rồng chầu như vậy, rõ ràng đây chính là biểu tượng của Thái cực đồ với Ngũ hành bên trong (Ngũ hành đồ?).
Hình tượng 2 con Quỳ chầu hình tròn được dùng để trang trí khắp trên một chiếc bình đồng khác của thời Chu. Điểm khác là trong hình tròn này chỉ có 4 vòng xoáy. Có thể nhận định tương đương với đồ hình Tứ tượng, như trong hình khắc đá thời Bắc Ngụy.

IMG_2033.JPGBình đồng có hình 2 con Quỳ long chầu Thái cực đồ.

Như vậy, hình tượng Lưỡng long chầu Nhật nguyệt có nguồn gốc từ thời Thương Chu, ban đầu là các hình tượng trên đồ đồng dùng cúng tế của thời kỳ này. Hình tượng Thái cực đồ ban đầu này có dạng là hình tròn, có 1 chấm ở tâm với 4 hoặc 5 vòng xoáy nhỏ xung quanh. Đây là dạng sơ khai nhất của Thái cực đồ còn được nhận ra.

Nhật Nguyệt Tinh Thần

Có một hình tượng được dùng rất phổ biến trong các đền miếu, được đặt một cách trang trọng ở chính giữa các công trình kiến trúc, điện thờ, vật thờ,… Đó là 2 linh vật đang chầu hay dâng một khối tròn, bốc lửa hoặc hình lá đề. Hình tượng này có ít nhất từ thời Lý, như trên cột đá chùa Dạm, trang trí đầu ống ngói ở Hoàng thành Thăng Long, trán bia chùa Long Đọi… Hai linh vật chầu hai bên có thể là Rồng, Phượng, thậm chí có chỗ là Cá hóa rồng.  Tên gọi và ý nghĩa của hình tượng này là gì?

Den Soc
Đền Thượng Sóc Sơn, với 2 lớp rồng chầu mặt nguyệt trên nóc.

Hình tượng hình tròn bốc lửa hay là đề ở chính giữa có nhiều cách gọi: Mặt nguyệt, Mặt trời, Ngọc, Âm dương, Thái cực. Nói chung tất cả đều thể hiện về một điều gì đó tôn quý, sơ khởi, có thể gọi là “nguyên thần”. 2 linh vật chầu vào “nguyên thần” ở giữa như thế là biểu tượng của tín ngưỡng hướng về nguồn cội, về gốc gác của vạn vật.

Luong long chau NNTT 3
Lá đề lưỡng long dâng châu ở hầm tòa nhà Quốc hội.

Hình tượng này có tên trong thư tịch cổ là Nhật Nguyệt tinh thần 日月星辰. Đây là cụm từ được sử dụng khá nhiều trong Ngọc phả Hùng Vương. Ví dụ các đoạn sau:
– Đoạn kể về thái tử Lạc Long Quân sau khi đi khắp nước về thăm Đế tổ là Đế Minh, Đế bá là Đế Nghi: Đế tổ Đế bá, thị Thái tử vi cốt nhục, quán như nhật nguyệt tinh thần, sí nhược kim bảo châu ngọc, đại vật bất tề. Dịch ý: Đế tổ, Đế bá coi Thái tử như cốt nhục, xem như nhật nguyệt tinh thần, quý như châu ngọc vàng báu, vật quý cũng không bằng.

Quan nhu NNTT
Một trang Ngọc phả Hùng Vương dùng cụm từ Nhật nguyệt tinh thần.

– Đoạn Ngọc phả bàn về thời đầu Hùng Vương thịnh trị: Tứ phương bách tính, dĩ thần thuộc sự. Vạn dân tắc canh điền giám tỉnh, tuế tác nhập tức. Thiên địa nhật nguyệt tinh thần, âm dương dĩ chính, tứ thời tiết hậu. Dịch ý: Bốn phương trăm họ đều thần thuộc. Vạn dân được cày ruộng soi giếng, ăn nên làm ra. Trời đất nhật nguyệt tinh thần đều chính. Bốn mùa khí hậu an hòa.
– Đoạn kể về Lão tiên ông chống gậy trúc ở bến sông Việt Trì được Hùng Hiền Vương mời về đặt định tên cho trăm hoàng tử: Lão hữu thần thư nhất quyển, bốc tri thiên địa nhật nguyệt tinh thần, hô danh tiên pháp. Dịch ý: Lão có một quyển sách thần, là xem mà biết phép tiên, gọi tên trời đất nhật nguyệt tinh thần
– Đoạn về Hùng Vương dùng lễ dối, bị Trời giáng tai họa: Đắc Thân niên Thân nguyệt, nhật nguyệt tinh thần xuất tuệ, phong vũ bất điều, thì khí bất chánh, thử nhân quân đức chánh vị thuần. Dịch ý: Đến năm Thân tháng Thân, nhật nguyệt tinh thần rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần.
– Đoạn Hùng Huy Vương cho xây dựng điện thờ trên núi Nghĩa Lĩnh: Phát tích tại bản tự, đắc thần bộ chúng, giáng thế phù dực, sơn hà chung linh tú dị, nhật nguyệt tinh thần, Tứ đại Thiên vương, Bát bộ Kim cương, Nhị thập bát tú, Bách thần đô hội. Dịch ý: Dấu tích bắt đầu tại chùa này, nơi được các bộ chúng thần giáng thế giúp đỡ, núi sông chung đúc linh thiêng lạ đẹp, Nhật nguyệt tinh thần, Tứ đại Thiên vương, Bát bộ Kim cương, Nhị thập bát tú cùng trăm thần tụ hội.

Luong long chau NNTT
Hình tượng Nhật nguyệt tinh thần dưới dạng Thái cực đồ ở một ngôi đình tại Phú Thọ.

Nghĩa cụm từ này không hẳn như vẫn dịch là “Mặt trăng Mặt trời Tinh tú”. Nhật Nguyệt Tinh Thần là cụm từ chỉ 4 trạng thái trong Tứ tượng:

  • Nhật (Mặt Trời) – tương ứng với Thái Dương.
  • Nguyệt (Mặt Trăng) – tương ứng với Thái Âm.
  • Tinh (các vì sao đứng yên, định tinh) tương ứng với Thiếu Âm.
  • Thần (hay Thìn, các ngôi sao chuyển động, hành tinh) tương ứng với Thiếu Dương.
NNTT

Như vậy cụm từ “Nhật nguyệt tinh thần” là tương đương với Thái cực đồ, mà trong đó có cả Thái Âm, Thái Dương, Thiếu Âm, Thiếu Dương. Đây là dẫn chứng rõ ràng cho thấy hình ảnh “mặt nguyệt” mà đôi rồng chầu gặp trong đền miếu có tên là Nhật Nguyệt Tinh Thần, là đồ hình Tứ tượng, bao quát hết cả không gian và thời gian.
Đồ hình Thái cực – Tứ tượng – Nhật nguyệt tinh thần này còn trở thành hình lá đề trong các chủ đề được trình bày thời Lý, như trên cột đá chùa Dạm hay trên trang trí nóc Hoàng thành Thăng Long.

Luong long chau NNTT 4
Lưỡng long dâng chầu Nhật nguyệt tinh thần ở chùa Dạm, Bắc Ninh.

Trong lễ tục truyền thống, hình tròn Nhật nguyệt tinh thần còn gặp ở các tục vật cầu, ở Thúy Lĩnh (Lĩnh Nam, Hà Nội) hay làng Vân (Việt Yên, Bắc Giang). Bản thân các quả cầu này cũng là vật được thờ trong đình làng. Ngày hội khi đêm cầu ra cũng làm lễ tế, rước. Ở làng Vân có quan niệm:
Quả cầu ở đây tượng trưng cho mặt trời. Nó được mang, được vác, được tung từ Đông sang Tây theo hướng mặt trời mọc và lặn. Cướp được cầu cũng có nghĩa là cướp được mặt trời, cướp ánh nắng cho lúa khoai.
Nhìn nhận xa hơn thì quả cầu là hình tượng của “Nhật nguyệt tinh thần” hay Thái cực đồ vẫn được dùng cho rồng, phượng chầu trong đền miếu. Quả cầu như thế là sự hội tụ về tinh thần của trời đất vạn vật. Với nghĩa đó nó được thờ cúng và lễ rước.

Cau Thuy Linh.jpg
Các quả cầu trong hội vật cầu làng Thúy Lĩnh (Lĩnh Nam, Hà Nội).