Ngọc phả cổ chép về vị Bộ tích Đại vương Thượng đẳng thần. Thôn Thái Bình xã Vạn Thái huyện Ứng Hòa tỉnh Hà Sơn Bình

Ngọc phả cổ chép về vị Đông cung Thủy thần, con Bộ chủ, Bột Hải Đại vương.
Chi Cấn, bộ tích Thượng đẳng.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ trời Nam đại bảo Tiền Hoàng đế khởi dựng cơ đồ, là thủy tổ Việt Nam, mở nước Cổ Việt Thường Thị, truyền đến đời thứ 6 là Hùng Huy Vương, là bậc thánh vương vậy, ngự trị trời Nam xưa. Nước ta tên gọi là nước Xích Quỷ, sau lại gọi là quận Giao Chỉ, mở mang cơ đồ nước Việt to lớn. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nên cung điện đô thành. Mở vật giúp người thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trấn các phiên bang chư hầu. Nối thừa nghiệp lớn ở Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi mãi giúp giữ dòng dõi truyền thừa vững như bàn đá. Linh thiêng hiển ứng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương, ngự vạn năm ở thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam.

Lại nói, tích truyền rằng Lạc Long Quân lấy con gái Đế Lai tên là Âu Cơ, lập làm chính cung. Qua ba năm ba mươi ngày sinh được một bầu trăm trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là những bậc anh hùng vượt đời, dũng lược hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn chia chư hầu, lập bình phong phên dậu, chia thành 15 bộ. Một là Sơn Nam, hai là Sơn Tây, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính Châu, tám là Ô Châu, chín là Mai Châu, mười là Ai Lao, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Lại chia thành 50 người con theo cha về biển làm Thủy tinh, 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn tinh. Về sau chia thành trăm họ, cũng là trăm vương, ngự trấn một nước, hiển tỏ nơi đầu non góc biển, vạn cổ phong là thần. Sống là Bộ chủ hưởng lộc một phương. Hóa sau hưởng hương lửa cúng lễ vạn cổ không ngừng.

Lại nói, triều Kinh 6 đời truyền đến Hùng Huy Vương ở ngôi, đóng đô ở Việt Trì cạnh sông Bạch Hạc, lấy tên là nước Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong Châu. Huy Vương lấy phép tắc các đời trước để noi theo, chuyên tâm giáo dưỡng nhân dân, cũng là vị vua có chí trị vì vậy. Đang khi ấy, tương truyền rằng ở đất Quảng Đông có một một vị Bộ chủ dòng phụ đạo Thủy thần, cũng là dòng dõi trong trăm người con trai thuộc về Thủy bộ. Quan Bộ chủ họ Hùng tên Đức, lấy vợ người ở phường Vạn Ninh (vốn là dòng thủy cơ), họ Nguyễn tên là Thục, lập làm Chính cung. Vả lại vị họ Hùng vốn thực là có đức cao khoan hòa, yêu dân trọng nghĩa, tài giỏi liêm chính. Chính cung cũng là người có lòng thiện lành, kính ái tôn trưởng. Mọi người ở một phương ấy đều chịu ơn đức của ông bà. Đương thời đều coi như núi như biển, đức trọng ơn sâu.

Đang khi đó lũ lụt ngập trời, sông biển mênh mông. Nhân dân bị hại rất nhiều. Khi đó Vua sai các quan lang phụ đạo đi khắp thiên hạ đến các chốn ven sông, xem xét dân cư bị lũ lụt sạt lở như thế nào. Ngay hôm đó Vua sai Đức công làm Chủ trưởng dẫn quân sĩ đi kinh lược hai xứ Sơn Nam, Hải Dương, xem xét trộm cướp hại dân như thế nào. Truyền đem quân sĩ cùng quan địa phương để chống giặc Quế Lâm. Ngay hôm đó Chủ trưởng vâng mệnh tiến quân đi truy quét gian tặc. Lúc ấy mưa gió lũ lớn thường thường nổi lên. Thiên hạ thật là đói khổ, lại có nhiều giặc cướp. Một hôm Ông tiến quân đến huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, mới dừng xe ở nơi trú sở, đóng quân ở đó một tối. Quan địa phương đến làm lễ bái mừng. Xong việc ông nằm ở trong cung, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy một người mũ ngọc, đai gấm rực rỡ, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một con giao long, từ lòng sông đi thẳng lên, đường đường tiến vào trong sân huyện đường, đứng trước án của Ông, cúi đầu làm lễ. Ông hỏi:

  • Chức danh của người như thế nào mà lại cúi thân làm lễ vậy? Thật không dám.

Người đó tâu rằng:

  • Thần vốn là vâng đế mệnh làm chủ giữ bãi Đại Đường, trấn nơi bên sông. Nay Chủ quan có phúc dày tới mọi người, đức thật là thịnh. Do vậy mà ánh trời đã chiếu tận lòng lành, nên mới cho tiểu thần nhập vào nhà làm con để báo đức đó.

Nói xong bèn đưa giao long cho Chủ quan. Chủ quan ôm lấy quan nhân cùng với giao long, bỗng nhiên tỉnh lại, biết là mộng ứng. Bèn kể lại chuyện này với quan huyện. Quan huyện đáp rằng:

  • Giấc mộng của Chủ quan tất là nhà có phúc dày, công đức lớn, lòng trời báo đáp. Tất là thủy thần xuất thế, thiên tướng đầu thai, không phải điềm tầm thường. Quả là ứng nghiệm, không có gì phải nghi ngờ.

Đêm qua ngày tới, đã đến buổi sáng. Chủ quan rời giá cùng với quan huyện đi đến đất bãi Đại Đường để xem điềm mộng như thế nào. Bỗng thấy trên sông sóng to nổi lên ầm ầm. Lại thấy một con rồng trắng dài hơn 9 thước. Chủ quan bắt được rồng trắng ôm mang về, đi về đến nửa đường thì tự nhiên bay lên không mà biến mất. Chủ quan sai quân sĩ soạn lễ trai giới làm lễ ở nơi đất đó. Nhân dân (tức bãi Đại Đường) thấy vậy đều sợ hãi. Khi ấy chủ quan nói cho nhân dân biết chuyện. Chủ quan thấy điềm mộng báo như vậy mà đi đến tìm, thấy quả đúng như trong mộng không khác gì cả. Nhân dân thấy lời nói của Chủ quan như vậy thì trong lòng đều tự nhiên cảm động mà sợ hãi, bèn tâu rằng:

  • Thần dân sau này cùng với Chủ quan sẽ cùng là con cái một nhà. Đạo trời hiển nhiên, không phải do sức người vậy.

Ngay hôm đó làm lễ. Chủ quan rời giá tiến quân đi kinh lược hai xứ, quét sạch được giặc Quế Lâm. Việc xong được khi thanh bình, bèn trở giá về triều, khấu tạ trước bệ rồng. Ông lại trở về trị sở ở Quảng Đông. Khi ấy Chủ trưởng Đức công đã 39 tuổi. Chính cung 35 tuổi, một hôm gió mát nằm ở cung điện phía Đông, mơ màng nằm mộng. Bỗng thấy một con rồng trắng từ trên trời hạ thẳng xuống giữa bụng, gầm lên một tiếng. Khi tỉnh lại mới biết là nằm mộng. Từ đó Bà chuyển dạ có mang. Được 14 tháng thì sinh được một quả trứng. Qua 5 ngày thì trứng nở ra, thấy là một người con trai (tức là năm Bính Ngọ giờ Thân ngày 12 tháng Tư), phong tư lẫm liệt, diện mạo đẹp đẽ, 5 gò cùng chầu, bốn góc nổi cao. Sau lưng có 7 chòm lông dài hơn 3 tấc. Thật là kỳ hình dị tướng. Da bụng có hình như vảy lân. Lúc khi sinh ra sấm sét lẫm liệt, bốn hướng đều mờ mịt. Chỉ có nơi sinh ở giữa đều sáng láng, mùi hương thơm ngào ngạt, khí lành bao trùm. Chủ quan lập đàn trai giới làm lễ. Việc xong thì tự nhiên mây mù tự tan, trời đất trở lại trong sáng. Được trăm ngày Chủ quan mở tiệc mừng, bèn đặt tên là quan Bột Hải.

Xuân sinh hè trưởng, năm qua tháng lại, tuổi Ông đã lên 7. Khi đó có trường học của người chú là Lê tiên sinh đứng dạy học cho con trẻ. Chủ quan cho Hải quan vào học ở trường của người chú. Hải quan tính thích nước, khí chất thông minh, thiên tư trí tuệ. Học được vài năm thì các sách sử đều hiểu tinh thông hết. Thực là kỳ tài khác lạ, tính cách khoan hòa, hiếu thuận. Đương thời đều gọi là kỳ nhân vậy.

Lại nói, khi Hải quan 16 tuổi, người cha tạ thế (tức năm Giáp Thìn ngày 15 tháng Bảy). Hải quan dâng tấu lên triều đình. Vua truyền trăm quan đến làm lễ chôn cất ở nơi làm việc (tức đất Quảng Đông). Vua lại phong con của Đức công Chủ trưởng quan (tức Hải quan) làm Chủ trưởng Quảng Đông. Thật là anh hùng trí dũng, quốc sĩ vô song, tướng tài khó có hai, danh nổi bốn phương, đức ban bốn cõi.

Lại nói, Hải quan được 24 tuổi thì Vua rất yêu quý, sớm ngày cho kề cận bên triều vua, bèn bái làm quan Bồ chính. Hải quan nhận chức qua được vài năm. Năm đó bà mẹ là Chính cung qua đời. Ông bèn làm lễ chôn cất ở nơi đất đó (tức năm Ất Tỵ giờ Tý ngày 15 tháng Tám). Việc xong.

Lại nói, thời Huy Vương có một bà đồng tiên nhân là vợ của Bá Lang, vốn rất tinh thông địa lý, quán triệt thiên văn, thường có phép lạ cơ thần. Vua cho vào làm nội thị, thường hay có việc thì hỏi ý kiến. Khi ấy quan Bồ chính (tức quan Bột Hải) vốn tính trung thực, thường tâu rằng:

  • Nguyên bà đồng vốn mù mịt, một người ngu ngốc sao biết được việc của trời đất mà dám bàn luận. Nay lại được hầu cận vua, kể những thuyết hoang đường cho vua nghe. Nên chúng thần xin bệ hạ hãy thử nghi ngờ điều này.

Vua nghe quan tâu can gián, Vua bèn làm một lễ dối dâng lên Hoàng thiên để thử xem bà đồng có biết không. Do đó Hoàng thiên oán trách Vua rằng:

  • Bởi tự kiêu căng, tùy tiện làm lễ nên ra sự việc này. Trời sẽ giáng tai ương, đất nước sinh biến ra giặc lớn.

Lại nói, khi đó có giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng khởi binh ở nẻo Bắc. Trăm vạn tinh binh đến xâm phạm đất Việt muốn chiếm lấy nước ta. Vua rất lo lắng, ngay hôm đó sai các đạo quân trấn giữ các vùng đất hiểm yếu. Vua cho triệu ngay Hải quan, bái làm Đại tướng quân, dẫn một vạn quân mạnh đi tuần hành bốn hướng, chống trả với quân Ân. Khi đó, Hải quan vâng mệnh Vua, khấu tạ trước bệ rồng nhận mệnh, đường đường tiến đến phía đất Ái Châu, Hoan Châu thì bỗng gặp tiền quân của thủy quân Ân cũng tới. Ông bèn đánh giáp công một trận, tất cả bốn năm hiệp không phân thắng bại. Lại thấy quân Ân kéo đến rất đông, nên bèn bỏ việc giữ đất Ái Châu, dẫn quân trở về đến xã Trinh Tiết huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, xây dựng một đồn doanh để làm nơi đóng quân. Được một tháng thì quân Ân ngày càng mạnh lên. Đạo thủy quân bên tả áp đến các vùng đất sông Nhị, sông Tô Lịch, sông Hát. Hải quan bèn xuất quân ứng chiến, đánh một trận, chém được hơn mười đầu giặc. Quân Ân sắp thua thì hậu quân giặc đến tiếp ứng, bốn mặt kéo đến bao vây thành mấy vòng. Ông thấy khó có thể chiến đấu chống cự nên Hải quan liền lên ngựa múa đao, chém được 20 đầu giặc Ân, giải phá vòng vây mà thoát ra.

Khi đó Ông dẫn quân đến bãi Đại Đường. Lúc ấy ở đó hay xảy ra hỏa hoạn, ngày ngày đều có người dân bị tật bệnh không yên. Ngay hôm đó nhân dân lập một đàn chay tế trời đất. Đến buổi đêm đang khi làm lễ thì thấy có một vị quan thân mặc áo vàng, cưỡi ngựa hồng, tay cầm long đạo, từ dưới sông đi thẳng lên trước đàn, đứng ở trên ngựa mà nói với nhân dân rằng:

  • Nay có Chủ quan đi tuần giữ, chiến đấu chống Thạch Linh Thần tướng, đang tiến quân đến nơi bãi bên ngoài khu dân cư. Ngài chính là thủy thần của đất này. Sao các ngươi lại điềm nhiên không có lễ, không nghênh đón Chủ quan về đóng đồn nơi chốn cũ? Hãy mau chóng đón Quan vào trong ấp (tức xã Đại Đường).

Nói xong thì vị quan nhân tự nhiên biến mất. Nhân dân thấy sự việc trước mắt, ngay hôm ấy trong ấp cắt cử 50 người hào trưởng cùng mang lễ vật đi đến bãi ngoài sông. Nhân dân liền dập đầu làm lễ, đón vào trong ấp (tức xã Đại Đường). Hôm ấy Hải quan dẫn quân mã đi thẳng vào trong ấp. Nhân dân làm lễ cỗ chay bái mừng. Việc xong, Hải quan xem địa hình đất đó có quý cục, các dòng nước thông chảy nối nhau, tiến lui đều thuận lợi. Dân trong ấp giàu mạnh. Ngài bèn truyền nhân dân thiết lập 5 nơi đồn doanh để chống quân Ân. Nơi đất đóng đồn ở ngoài bãi phía trước có sông lớn chảy qua, phía sau lại có gò cao. Dân cư phong tinh dẫn mạch, tất cả đều quay về chầu.

Lại nói, Hải quan từ đó lập đồn ở nơi đất ấy, chống cự với quân giặc. Từ đó nhân dân được yên vui, không sinh bệnh tật, tất cả đều được yên lành, là nhờ đức của Hải quan lớn như núi như biển không cùng. Nhân dân địa phương nơi đó đều quy phục. Khi ấy thường thường bốn biển nổi việc chinh phạt can qua. Duy chỉ có Hải quan là giáo hóa dân phong thành mỹ tục, động thì xuất chiến, tĩnh thì dưỡng già giúp nghèo. Nhân dân, gia thần đều khất xin làm thần tử, nguyện theo ra đánh trận. Hải quan lấy làm quân thủ túc, thường thường xuất chiến, không phân thắng bại ra sao.

Khi ấy đất nước bị giặc Ân đến xâm chiếm gây loạn đã gần hai năm. Quân sĩ bị tổn hại vô số. Chỉ có đạo binh của Hải quan là đều được yên ổn. Tuy nhiên Thạch Linh Thần tướng là người trí dũng anh hùng, có nhiều mưu lạ phép kỳ. Thế giặc ngày càng mạnh lên. Thiên hạ biến loạn, thế nước gần suy. Vua bèn sai sứ quan triệu Hải quan dẫn quân trở về triều để lập mưu chống giặc. Thấy sứ giả đến gọi, Hải quan chiêu mộ được hai trăm nghĩa binh (tức ở xã Đại Đường). Ngay hôm đó Ông triệu phụ lão, nhân dân đến nói rằng:

  • Nay có 5 nơi đóng đồn quân ta giao phó lại cho nhân dân. Ngày sau có chỗ để làm sinh từ mà thờ phụng ta, để đề cao mỹ tục của dân chúng.

Nhờ đức lớn của quan mà được yên bình, dân có chủ không phải lo phòng bị. Ông bèn đồng ý như vậy.

Việc xong ông bèn cất giá về triều. Ngày hôm đó trăm quan tụ hội. Vua lập một chay đàn để cầu đảo trời đất trăm thần. Đang khi làm lễ bỗng thấy có một cụ già (tức Lạc Long Quân hiện xuống) xuất hiện. Vua hỏi kế dẹp giặc. Cụ già lập một quẻ rồi nói rằng:

  • Nếu cầu được người giúp thì giặc này chẳng bao lâu sẽ dẹp yên.

Nói xong cụ già bay lên không mà đi. Vua biết là lời dạy của Lạc Long Quân. Thế là Vua sai người đi cầu khắp thiên hạ. Đến Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai lên 3 tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, ăn uống lớn lên nhưng không biết nói cười. Người mẹ nghe sứ giả đến, mới đùa rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để lấy ban thưởng lớn của triều đình, báo đáp ơn sâu bú mớm.

Thần Vương nghe lời mẹ nói bỗng nhiên rằng:

  • Mẹ hãy gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói sứ giả:

  • Hay mau về báo với Vua, xin được ngựa sắt cao mười thước, búa sắt dài mười thước đem lại đây giao cho ta. Vua sẽ không phải lo lắng nữa.

Sứ giả đem lời nói lại với Vua. Vua rất vui mừng, ngay hôm đó đem ngựa sắt, búa sắt đến giao cho, lại cho các quan lang, phụ đạo cùng với các tướng hơn mười vạn tinh binh đi theo Thần Vương dẹp giặc. Khi ấy, Vua bái Hải quan là Thống chế Thủy bộ chư quân sự. Thuyền bè một trăm chiếc, quân giáp một đạo 2 vạn người, tiến theo đường thủy nghênh chiến giặc Ân.

Lại nói, Hải quan vâng mệnh dẫn quân mã tiến thẳng đến Hải Dương, cửa khẩu Thần Phù, bỗng gặp giặc Ân đến mà đánh một trận lớn. Giặc Ân chạy tán loạn. Hải quan cưỡi ngựa trắng, múa đao chém được hơn trăm đầu quân giặc. Lại nghe tin chính đạo quân Ân của Thạch Linh Thần tướng đã bị Phù Đổng Thần Vương tiêu diệt, nên quân Ân càng sợ hãi bỏ chạy. Hải quan thúc các đạo quân thủy đến giết được vô số, ném xuống biển.

Lại nói, giặc Ân đã được dẹp yên. Vua bèn gọi các đạo quân trở về triều đình. Khi ấy Thiết Xung Thần Vương trở về thẳng đến Sóc Sơn quận Vũ Ninh thì theo mây bay lên không mà đi. Về sau nơi đất đó lập thành đền mà phụng thờ. Vua cảm công đức bèn bao phong mỹ tự. Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Nay vẫn còn lưu dấu chân ngựa.

Khi ấy Hải quan dẫn quân sĩ trở về đến bến sông Đại Đường huyện Hoài An phủ Ứng Thiên. Bỗng thấy trời đất mù mịt, tất cả đều trở nên tối tăm. Bỗng thấy một chiếc thuyền rồng nổi lên trên mặt nước. Trong thuyền có tiếng người nói ra với Hải quan rằng:

  • Lũ giặc đã được dẹp sạch, hãy trở về Thủy quốc, chớ có chậm trễ.

Dứt lời, Hải quan cùng xuống vào trong thuyền mà biến mất (tức ngày 12 tháng Mười một). Khi Quan hóa mưa gió ầm ầm, trên trời sấm chớp sáng khắp chốn, trên sông sóng to nổi lên, cá lớn, ba ba, cá sấu hàng hàng lớp lớp. Nhân dân trông thấy thì lạc phách kinh hồn. Ngay hôm đó nhân dân làm biểu tâu lên triều đình. Vua nghe vậy bèn sai sứ quan đem sắc chỉ cùng áo mũ trở về dân bày tế, bốn mùa hương lửa không ngừng, cùng với đất nước vui hưởng, mãi mãi không đổi. Thịnh thay!

Cho phép xã Đại Đường huyện Hoài An là làng hộ nhi, chính đền phụng thờ. Phong Tối linh Bột Hải Đại vương.

Lại nói trải đến Đinh, Lý, Trần, Lê khai sáng cơ đồ, có nhiều linh ứng giúp nước cứu dân. Các đời đế vương bao phong mỹ tự, mãi cùng trời đất, phối cùng tháng năm mãi không mai một. Đáng phong thêm ba chữ Thượng đẳng Phúc thần.

Phong Tối linh Bột Hải Uyên hùng Khâm thuận Hộ quốc Tế thế Đại vương.

Vua Lê Đại Hành đổi là xã Thái Đường, cho phép xã Thái Đường huyện Hoài An phụng thờ.

Các kỳ sinh hóa và các ngày lễ lệ cùng với tên húy và sắc phục được khai như sau.

Húy các chữ Đức, Thục, Bột, Hải, cùng với màu vàng nhất thiết cấm.

Ngày phong sắc khánh hạ là mùng 8 tháng Giêng. Ca hát, đấu vật, đánh cờ.

Ngày sinh thần lệ là 12 tháng Tư. Chính ngày sinh nhật làm lễ cỗ chay, hương hoa, năm vị hương, ca hát ba ngày thì dừng.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười một. Đúng ngày hóa dùng bánh trôi, cỗ chay, chè thảo mộc.

Ngày hóa của Thánh phụ là 15 tháng Bảy. Ngày hóa của Thánh mẫu là 15 tháng Tám. Làm lễ tùy nghi.

Niên hiệu Hồng Phúc năm đầu (1572) ngày 28 tháng Mười một, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hựu năm thứ tư (1738) ngày 22 tháng Tám Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân đúng theo bản trước vâng chép.

Người dịch: Thạc sĩ Nguyễn Đức Tố Lưu, Nhóm Nghiên cứu Di sản Văn hóa Đền miếu Việt.

Linh thiêng nơi sông Vàm Thuật uốn khúc: di sản văn hóa tín ngưỡng ở miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu

1. Mở đầu

Trong tiến trình khẩn hoang và định hình diện mạo văn hóa vùng đất Nam Bộ, hệ thống sông ngòi không chỉ đóng vai trò là mạch máu giao thương, sinh kế, mà còn là không gian sản sinh và dung chứa các thực hành tâm linh của lưu dân. Sông Vàm Thuật – một chi lưu quan trọng của hệ thống sông Sài Gòn, chảy qua vùng đất Gò Vấp (Gia Định xưa) – là một không gian địa-văn hóa tiêu biểu như thế. Tại những khúc quanh hiểm trở của dòng sông, nơi đối diện với sự bất định của thiên nhiên và dòng nước, tâm thức bình dân đã thiết lập nên các không gian thờ tự để tìm kiếm sự che chở và an định tâm lý. Miếu Sa Tân (Kỳ Thánh Thủy Long Cung) và miếu nổi Phù Châu chính là hai “tọa độ tâm linh” án ngữ tại vùng lõi ven sông và giữa lòng sông Vàm Thuật, có niên đại hàng trăm năm và đã được xếp hạng là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Thành phố.

Mặc dù nằm trong cùng một không gian sinh thái sông nước và cách nhau không xa, song miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu lại thể hiện những đặc trưng khu biệt và sinh động về cấu trúc điện thờ cũng như hệ thống thần điện. Đây không đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng bản địa, mà là một “bảo tàng sống” phản ánh hiện tượng giao thoa văn hóa sâu sắc: từ tín ngưỡng thủy thần nguyên thủy, Đạo giáo thần tiên, Phật giáo dân gian, cho đến các lớp văn hóa của cộng đồng người Hoa di dân trong quá trình cộng cư với người Việt.

Ngày nay, các nghiên cứu về miếu cổ Nam Bộ thường có xu hướng tách rời di tích hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ kiến trúc, lịch sử biên niên. Bằng phương pháp khảo sát thực địa liên ngành, kết hợp giải mã hệ thống văn khắc Hán Nôm (hoành phi, câu đối) và phân tích cấu trúc không gian điện thờ, bài viết này hướng tới tái hiện bức tranh toàn cảnh về hệ thống tín ngưỡng tại miếu Sa Tân và miếu Phù Châu. Qua đó, nghiên cứu không chỉ làm rõ tính đa dạng, dung hợp của đời sống tâm linh cư dân ven sông Vàm Thuật, mà còn khẳng định giá trị di sản văn hóa phi vật thể của hai ngôi miếu trong dòng chảy văn hóa đương đại của TP. Hồ Chí Minh.

2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Các thông tin về văn hóa tín ngưỡng ở hai ngôi miếu Sa Tân và Phù Châu được thu thập trực tiếp qua ghi chép, phiên đọc Hán Nôm và vẽ sơ đồ bài trí thần tượng tại thực địa vào ngày 5/11/2025. 

Hệ thống loại hình tín ngưỡng sử dụng để phân tích được các tác giả tổng hợp và đề xuất phân loại như sau:

– Tín ngưỡng Đạo Giáo: gồm các vị thần trong Đạo Giáo như các vị thần chủ Đạo Giáo là Ngọc Hoàng Thượng Đế (Ngọc Đế), Diêu Trì Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu), Cửu Thiên Huyền Nữ (mẫu Cửu Thiên) và các vị thần tiên khác như Thái Thượng Lão Quân, Thái Ất Chân Nhân, Thái Tuế Tinh Quân, Dược Vương, Văn Xương, cũng như những tích về bát tiên và tiên nữ.

– Tín ngưỡng Phật giáo: gồm những vị Phật, Bồ tát, La hán, những vị hộ tăng, Địa mẫu, Địa Tạng… được thờ phổ biến trong các chùa theo giáo lý Phật giáo.

– Tín ngưỡng Thủy thần: theo văn hóa thờ thủy thần của dòng Lạc Thị của các vị Long Quân như công bố trong sách của Nhóm nghiên cứu di sản Đền miếu Việt (Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân, 2025). Phổ biến ở đây là Long Mẫu và Tứ hải Long Vương.

– Tín ngưỡng vùng phương Nam: là các vị thần mang đặc trưng của vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, chịu ảnh hưởng từ văn hóa Chăm xưa, như Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành.

– Tín ngưỡng thần thành hoàng: là các vị thần mang tính chất địa phương hẹp của khu vực được thờ cúng, như các vị thần hay được thờ trong các đình Nam bộ (Tiên sư, Tiền hiền, Hậu hiền, Hữu ban, Tả ban) và các vị thần Đất, thần Tài.

– Tín ngưỡng người Hoa: là những vị thần có nguồn gốc người Hoa như Bao Công, Tề Thiên Đại Thánh, Quan Thánh Đế Quân. Vị Huyền Thiên Thượng Đế ở khu vực Nam Bộ được xếp vào nhóm tín ngưỡng người Hoa.

Để giải mã cấu trúc thần điện và hành vi thực hành tâm linh tại miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu, nghiên cứu này vận dụng hai trục lý thuyết cốt lõi mang tính liên ngành, đó là: (i) Sinh thái học văn hóa (Cultural Ecology) và (ii) Lý thuyết tiếp biến và dung hợp văn hóa (Cultural Syncretism), với khung phân tích lý thuyết của nghiên cứu như ở Hình 1 dưới đây. 

Sinh thái học văn hóa (Julian Steward, 1990): Lý thuyết này khởi xướng quan điểm rằng các hiện tượng văn hóa, đặc biệt là các thực hành tín ngưỡng, không tồn tại tách rời mà là kết quả của quá trình thích ứng chủ động của con người đối với môi trường sinh thái tự nhiên cụ thể. Trong nghiên cứu này, “sinh thái nước” của chi lưu Vàm Thuật – với các khúc quanh hiểm trở, dòng chảy bất định và nguy cơ thủy nạn luôn rình rập sinh kế chài lưới, giao thương – chính là nhân tố môi trường quyết định. Tâm thức sùng bái Thủy thần, Ngũ Hành Nương Nương hay Tứ Hải Long Vương tại hai ngôi miếu không đơn thuần là sự mê tín dị đoan, mà là chiến lược ứng xử văn hóa, chuyển hóa nỗi sợ hãi tự nhiên thành các điểm tựa tâm linh để thiết lập sự cân bằng tâm lý và kiến tạo không gian sống an toàn. 

– Lý thuyết tiếp biến và dung hợp văn hóa (Nguyễn Thừa Hỷ, 2020): Lý thuyết này đưa ra các nguyên lý cốt lõi giải thích cách thức văn hóa Việt Nam tiếp xúc, chuyển hóa và dung hợp với các yếu tố ngoại sinh (như văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, phương Tây). Nhìn nhận tiếp biến văn hóa xảy ra khi các nhóm cá nhân thuộc các nền văn hóa khác nhau có sự tiếp xúc liên tục và trực tiếp, dẫn đến sự thay đổi trong mô thức văn hóa nguyên thủy của một hoặc cả hai nhóm. 

Hình 1. Khung phân tích lý thuyết (Julian Steward, 1990; Nguyễn Thừa Hỷ, 2020)

Tại vùng đất Gia Định – Gò Vấp xưa, là không gian cộng cư và giao thoa sâu sắc giữa người Việt bản địa và các làn sóng di dân người Hoa (Triều Châu, Phúc Kiến). Khung lý thuyết này giúp giải thích hiện tượng “mở” và “dung hợp” của hệ thống thần điện. Nó làm rõ lý do vì sao trong cùng một không gian thiêng, các vị thần Đạo giáo nội đạo, Phật giáo dân gian của người Việt lại có thể song tồn hòa hợp và tích hợp hài hòa với các nhân thần văn hóa của người Hoa (Quan Công, Bao Công, Tề Thiên Đại Thánh), tạo nên một cấu trúc đa tầng, không bài ngoại.

3. Sự tích và di sản văn hóa tín ngưỡng ở miếu Sa Tân – Kỳ Thánh Thủy Long cung

3.1. Lịch sử miếu Sa Tân

Miếu Sa Tân nằm ở số 46 đường Trần Bá Giao, phường An Nhơn, Thành phố Hồ Chí Minh là một ngôi miếu lớn có sự tích lâu đời bên sông Vàm Thuật. Theo bảng giới thiệu của Ban trị sự miếu Sa Tân viết ngày 5/2/2025 thì lịch sử của ngôi miếu như sau:

“Cách đây hơn 188 năm (vào nửa đầu thế kỷ XIX, khoảng năm 1838), trên dòng sông Bến Cát thuộc xã Hạnh Thông, tổng Bình Trị Thượng, huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định có một người đàn ông chuyên sống nghề chài lưới. Vào một mùa đông rét buốt, khi quảng lưới thì không bắt được con cá nào cả, ngược lại ông đã vớt được pho tượng, đó là Bà Thủy Tề. Từ đó ông là người đầu tiên sáng lập và xây dựng ngôi miếu an vị cho Bà. Từ khi có ngôi miếu này, bà con bá tánh nơi đây có phần sung túc hơn.

Thời gian trôi qua, ông mất đi nhưng ông còn để lại trong dân gian niềm thương nhớ kỷ niệm vô cùng cho nên Ban hội đồng nhất trí lấy danh hiệu là “miếu Ông Chài” để tướng nhớ và được lưu truyền ca tụng mãi đến ngày nay…

Khi hòa bình lập lại sau 1954 trên đất nước thì cũng là lúc miếu được tái thiết lần thứ 2 qua những vật liệu sơ sài của các chùa chiền công đức. Lấy danh hiệu là “miếu Sa Tân Thủy Long Cung”.

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ lúc bấy giờ miền Nam chiến tranh rất ác liệt. Xung quanh ngôi miếu thì bị tàn phá của bom đạn nên mọi người đã chạy vào miếu để lánh nạn và được an toàn.

Giữa tháng 3 năm 1990 miếu được trùng tu lần thứ 4, thiết lập một cây cầu gỗ dài 100m tận dụng ra bờ sông qua miếu nổi để dễ dàng cho sự đi lại của nhân dân đến chiêm bái tín ngưỡng Bà Thủy Long Cung và Năm Bà Ngũ Hành.”

Miếu Sa Tân đã được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo quyết định số 4268/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh.

Tên gọi của miếu theo như bia trùng tu công đức Chí viên cẩm đồ 誌公錦圖 để tại miếu là Sa Tân miếu Kỳ thánh Thủy Long cung 沙津廟祗聖水龍宫:

 Sa Tân 沙津 có nghĩa là Bến Cát, nên đây là ngôi miếu thờ cổ của cả khu vực ven dòng sông Vàm Thuật. Theo tên gọi này thì miếu thờ các vị thánh, các vị thổ thần (kỳ thánh) và là cung thờ mẫu Thủy Long. 

3.2. Hoành phi, câu đối miếu Sa Tân

Trước cửa miếu có bức hoành phi Thủy Long cung 水龍宫 và đôi câu đối chữ Nho:

祗園弘道天地人四龍護守

聖德顯赫海内外百流兼䧒

Kỳ viên hoằng đạo thiên địa nhân tứ long hộ thủ

Thánh đức hiển hách hải nội ngoại, bách lưu kiêm lai.

Nghĩa là:

Vườn thần đạo mở trời đất người, bốn rồng hộ giữ

Đức thánh rờ rỡ chốn trong ngoài, trăm mạch cùng về.

Nội điện của miếu hình chữ nhật chia làm ba khu vực Tiền điện, Trung điện và Hậu điện, với cách bài trí các tượng thờ như trong sơ đồ Hình 2.

Hình 2. Sơ đồ bài trí điện thờ miếu Sa Tân

(Nguồn: Vẽ trực tiếp theo cách bài trí và bảng giới thiệu các tượng thờ tại miếu Sa Tân vào ngày 5/112025)

Ở trung điện có bức hoành phi: Đức trạch huệ dân 德澤惠民, nghĩa là: Đức thấm ơn dân, và đôi câu đối cổ:

東洋霑海晏河清一路履平資聖德

富屋籍地靈人傑萬家恒足𠇆慈恩

Đông dương triêm hải yến hà thanh, nhất lộ lý bình tư thánh đức

Phú ốc tịch địa linh nhân kiệt, vạn gia hằng túc ngưỡng từ ân.

Nghĩa là:

Dòng Đông thấm bể lặng sông trong, một nẻo bình yên nhờ đức thánh

Tòa giàu nhiều đất thiêng người giỏi, vạn nhà no đủ ngưỡng ơn lành. 

Ở Hậu điện trước ban thờ chính có bức hoành phi: Long thiên tứ phúc 龍靝賜福, nghĩa là Rồng Trời ban phúc. Chữ Thiên 靝 ở đây là chữ thường dùng trong Đạo Giáo, thể hiện dấu vết khá rõ của tín ngưỡng Đạo Giáo ở miếu Sa Tân.

Chính ban Hậu điện có 2 đôi câu đối chữ Nho như sau:

水德汪洋萬宇同欣樂利

神恩普護群方共慶安康

Thủy đức uông dương, vạn vũ đồng hân lạc lợi

Thần ân phổ hộ, quần phương cộng khánh an khang.

Nghĩa là:

Đức Thủy thấm nhuần, vạn mái cùng vui lợi lộc

Ơn Thần che chở, một phương cùng hưởng an khang.

Và câu đối bên trong:

東鄰樂業蒙神力

富屋安居籌母恩

Đông lân lạc nghiệp mông thần lực

Phú ốc an cư trù mẫu ân.

Nghĩa là:

Làng Đông lạc nghiệp nhờ thần lực

Nhà giàu yên ở bởi mẫu ơn.

3.3. Hệ thống tín ngưỡng ở miếu Sa Tân

Hệ thống tượng thờ ở miếu Sa Tân rất phong phú, thể hiện sự đa dạng tín ngưỡng của người dân ở vùng sông Vàm Thuật. Quan trọng nhất là tín ngưỡng Đạo Giáo với những tượng thờ là: 

  • Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng với Nam Tào, Bắc Đẩu ở hai bên, được đặt ở chính ban trên cùng trong Hậu điện.
  • Cùng chính ban trong Hậu điện ở phía trước có tượng mẫu Cửu Thiên.
  • Ở hai bên Trung điện thờ Thái Thượng Lão Quân, Diêu Trì Kim Mẫu, Thái Ất Chân Nhân và Thái Tuế Tinh Quân.
  • Ở bên tả của Tiền điện có đặt thờ các tượng Lã Động Tân, Văn Xương, Dược Vương.  

Quan trong thứ hai là các vị thần của tín ngưỡng phương Nam (tín ngưỡng đặc trưng riêng của miền Nam), đó là tượng Bà Chúa Xứ đặt ở phía trước chính ban Hậu điện và 5 Bà Ngũ Hành ở giữa chính ban Hậu điện.

Cũng ở giữa chính bán Hậu điện là tượng Bà Thủy Long trong hệ thống tín ngưỡng Thủy thần. Tương truyền bức tượng này là bức tượng mà Ông Chài đã vớt được trên sông Vàm Thuật, cao khoảng 60 cm, bên ngoài đắp bằng đất bùn và rơm, bên trong rỗng.

Ông Chài cũng được thờ ở bên hữu của Hậu điện dưới hình một chiếc ghe thuyền gỗ khá độc đáo. Tín ngưỡng Thành hoàng còn được thấy trong việc thờ các tượng thần khác là Long Thần hộ pháp ở gần trước cửa, Thần Đất ở Tiền điện và Thần Tài ở bên tả của Hậu điện. 

Tín ngưỡng Phật giáo được gặp chủ yếu qua các tượng thờ ở phần Tiền và Trung điện, gồm tượng Quan Thế Âm, Di Lặc, Địa Mẫu, Địa Tạng, Sư tổ Đạt Ma và Thần Hộ tăng.

4. Sự tích và di sản văn hóa tín ngưỡng ở miếu nổi Phù Châu

4.1. Lịch sử miếu Phù Châu

Miếu nổi Phù Châu tọa lạc trên phần đất 2.000 m2 nằm giữa dòng sông Vàm Thuật  ở địa phận thuộc phường An Nhơn, Thành phố Hồ Chí Minh, cách bên đò miếu Sa Tân chỉ vài trăm mét đường sông. Theo bảng giới thiệu của Ban quản lý di tích bày tại miếu Phù Châu ngày 5/11/2025: “vùng đất nơi này đã có từ lâu đời. Người dân đi ghe thuyền buôn bán trên sông, một hôm ghé lại ngủ qua đêm, thấy 5 vị Ngũ thần đó là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ độ cho buôn may bán đắt. Qua vài ngày sau đoàn ghe buôn ghé lại dựng lên ngôi miếu nhỏ để thờ cúng 5 bà Ngũ Hành phù hộ độ trì cho người đi thuyền bè qua lại trên sông, cùng độ cho người dân địa phương nơi đây.

Theo lịch sử quận Gò Vấp, miếu đã có từ trước năm 1800. Năm 1945 miếu được lợp ngói âm dương và cột cây với diện tích nhỏ. Trước 30/4/1975 là một nơi sinh hoạt chi bộ của Đảng và cũng là nơi làm bàn đạp để bộ đội đặc công ở An Phú Đông qua sông đánh kho đạn, kho xăng dầu của địch. Sau giải phóng miếu bị hư hỏng nặng và bị bỏ hoang không người trông coi nhang khói. Năm 1991 miếu được cấp phép xây dựng trùng tu.”

Năm 2014 miếu Phù Châu được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố.

4.2. Bài trí thờ phụng ở miếu Phù Châu

Mặc dù là một ngôi miếu ở trên một khu vực diện tích không lớn, nhưng miếu Phù Châu là một công trình kiến trúc bề thế giữa dòng sông Vàm Thuật. Miếu có đủ từ phần nghi môn, phần nội điện chia làm Tiền điện, Trung điện và Hậu điện, với cả tượng thờ và tranh thờ ở cả 2 bên điện. Bên phải miếu lùi ra phía sau là tòa Thủy Long cung, với lầu Quan Âm ở trước và điện Sơn Quân ở phía sau (Hình 3).

Hình 3. Sơ đồ bài trí tượng và tranh thờ tại miếu nổi Phù Châu

(Nguồn: Vẽ trực tiếp theo cách bài trí và bảng giới thiệu các tượng thờ tại miếu Phù Châu vào ngày 5/112025)

Đọc dịch một số câu đối được đắp khảm sứ trong điện miếu nổi Phù Châu:

Câu đối ở cửa vào nội điện:

浮水生表廟棟翻新隆故

珠山運到大樑棄舊仰光

Phù thủy sinh, biểu miếu đống phiên tân long cố

Châu sơn vận, đáo đại lương khí cựu ngưỡng quang?

Nghĩa là:

Sinh trên nước, nên rạng cột miếu tăng thêm nét mới

Chuyển núi châu, sáng tới rường cao ngưỡng vọng vẻ xưa.

Câu đối ở Tiền điện:

大地殲羣魔嬴去西遊香萬世

聖天迎衆佛如来東度馨千秋

Đại địa tiêm quần ma, doanh khứ Tây du hương vạn thế

Thánh thiên nghinh chúng phật, Như Lai Đông độ hinh thiên thu.

Nghĩa là:

Đất lớn diệt quần ma, Tây du Doanh khứ hương vạn thế

Trời thánh đón chúng phật, Đông độ Như Lai thơm nghìn thu.

Câu đối ở Trung điện:

浮清有靈綬净氣

珠光化昧普蒼生

Phù thanh hữu linh thụ tịnh khí

Châu quang hoá muội phổ thương sinh.

Nghĩa là:

Nước nổi có thiêng nối khí tốt

Ánh châu hóa khói trùm chúng sinh.

Hình 4. Sơ đồ bài trí cung Long Mẫu ở miếu Phù Châu

(Nguồn: Vẽ trực tiếp theo cách bài trí và bảng giới thiệu các tượng thờ tại miếu Phù Châu vào ngày 5/112025)

4.3. Hệ thống tín ngưỡng ở miếu Phù Châu

Khác với miếu Sa Tân, ở miếu Phù Châu tín ngưỡng thờ phụng chủ đạo là tín ngưỡng vùng phương Nam mà đứng đầu là thờ Ngũ hành. Điều này thể hiện ngay ở hình thức nghi môn của miếu được xây dựng ở dạng Ngũ hành môn với các cửa Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Còn ở nơi thờ phụng chính tại Hậu điện của miếu là thờ tượng 5 bà Ngũ Hành mặc áo các màu tương ứng là Vàng, Xanh, Đen, Đỏ, Trắng. Phía trước ban chính đặt tượng Bà Chúa Xứ. Ở cung Long Mẫu thì tượng Thủy Mẫu và điện Ngũ Hổ Sơn Quân cũng có thể xếp vào loại hình tín ngưỡng bản địa. Phân biệt vị Thủy mẫu ở đây là bà Thủy trong Ngũ Hành, chứ không phải Long Mẫu đã thờ ở chính ban Thủy Long cung.

Tín ngưỡng Đạo Giáo có vai trò quan trọng thứ hai ở miếu Phù Châu, mà đáng chú ý là có tượng mẫu Cửu Thiên được đặt trên ban chính của Hậu điện cùng với tượng Bà Chúa Xứ và Bà Ngũ Hành. Chú ý mẫu Cửu Thiên là Cửu Thiên Huyền Nữ hay Cửu Trùng Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên). 

Hai vị thần chủ của Đạo thần tiên (Đạo Giáo) là Ngọc Đế và Diêu Trì Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu) được thờ thành 2 ban riêng quay đối diện vào nhau ở khu vực Trung điện. Ở ban thờ Diêu Trì Kim Mẫu tượng Mẫu được bày trí cùng với các vị thần tướng và hoa mẫu chầu xung quanh.

Hình các vị tiên được vẽ đắp nổi, sơn màu rất đẹp. Ở 2 cột cửa trước của điện Phù Châu có hình Bát Tiên tấu nhạc, mỗi bên có 4 vị tiên đang chơi các loại nhạc cụ khác nhau. Bên tường phải phía ngoài của miếu có vẽ hình Bát Tiên quá hải. Bên mé hữu của Tiền điện vẽ hình các cô Tiên nữ đang hái và dâng đào.  

Tín ngưỡng Thủy thần ở miếu được đặt riêng tại Long Mẫu cung. Chính ban của cung là tượng Long Mẫu và Tứ hải Long Vương trong hình rồng theo các màu tương ứng của ngũ sắc. Màu đỏ là Nam Hải Long Vương, màu đen là Bắc Hải Long Vương, màu xanh là Đông Hải Long Vương, màu trắng là Tây Hải Long Vương. Việc thờ Long Mẫu và Long Vương tại một ngôi miếu với quy mô bề thế như miếu Phù Châu là điểm độc đáo hiếm thấy ở khu vực Nam Bộ.

Điểm đặc biệt và khác biệt nữa của miếu Phù Châu là sự xuất hiện các vị thần trong tín ngưỡng người Hoa. Đó là Bao Công Gia Gia ở bên hữu Hậu điện và Quan Thánh Đế Quân ở bên tả Hậu điện. Vị Đại Thánh Gia Gia (Tề Thiên Đại Thánh) được thờ riêng ở một ban tại Tiền điện. Còn Huyền Thiên Thượng Đế lại được đặt trong Long Mẫu cung, có lẽ với ý nghĩa cũng là một vị thần trấn thủy (Huyền Thiên là vị thần Trấn phương Bắc, phương của đức Thủy). Loại hình tín ngưỡng của người Hoa này không gặp ở miếu Sa Tân.

Các vị thần của tín ngưỡng Phật giáo được bày tập trung ở chính ban của Tiền điện, thứ tự từ ngoài vào là: Chuẩn Đề, Di Lặc, Địa Mẫu và Quan Thế Âm. Quan Âm Nam Hải còn được thờ riêng ở lầu Quan Âm bên ngoài sân. Ở bên tường phía tả của Tiền điện có vẽ đắp màu 18 vị La Hán, chia thành 4 bức. Ở ban bên hữu của Trung điện có thờ Tiêu Diện, Địa Tạng.

Trong mảng Tín ngưỡng thần thành hoàng ở miếu Phù Châu được thờ hai bên của Trung điện, gồm bên tả có Tả ban, Tiên sư, Hậu hiền. Bên hữu có Hữu ban, Tiền hiền cùng với 2 vị thần Phật giáo là Tiêu Diện và Địa Tạng. Riêng ban Thần tài được bày ở Tiền điện trước tranh tường các vị La Hán. Việc thờ Tiền hiền và Hậu hiền ở miếu Phù Châu cho thấy ngôi miếu này còn có chức năng như một ngôi đình làng cho cộng đồng người dân ở khu vực này.

5. Kết luận và đề xuất

5.1. Kết luận

Qua quá trình khảo sát thực địa, giải mã văn khắc Hán Nôm và phân tích đối chiếu hệ thống thờ tự tại miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu, nghiên cứu rút ra ba kết luận cốt lõi sau:

(1) Nghiên cứu khẳng định tính thích ứng sinh thái và cấu trúc phong thủy trấn thủy của miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu

–  Là hai miếu cổ có tuổi đời gần ba thế kỷ, tọa lạc tại những vị trí uốn khúc mạnh – nơi xung yếu về mặt thủy văn của dòng Vàm Thuật. 

– Sự hiện diện của hai di tích này chứng minh cho chiến lược ứng xử của cư dân phương Nam trước thiên nhiên hung hiểm, chuyển hóa nỗi sợ hãi dòng nước thành sự sùng bái tâm linh. 

– Hệ thống thờ tự tập trung vào Thủy Long Thần Nữ, Tứ Hải Long Vương và Ngũ Hành nương nương với quy mô bề thế tại đây là hiện tượng hiếm gặp ở khu vực nội thành, khẳng định vai trò “trấn giữ phong thủy”, yên định long mạch, cầu quốc thái dân an cho cả một vùng không gian sông nước Gia Định xưa.

(2) Hình thành bản đồ tâm linh mở và hiện tượng dung hợp văn hóa  

– Sơ đồ bài trí điện thờ của hai ngôi miếu là minh chứng đặc sắc cho tính dung hợp, mở và không bài ngoại của văn hóa Nam Bộ. Tại không gian này, ranh giới giữa các tôn giáo lớn và tín ngưỡng dân gian dường như bị nhòa mờ. Đạo giáo (Ngọc Hoàng, Mẫu Cửu Thiên, Diêu Trì Kim Mẫu), Phật giáo (Quan Âm, Địa Tạng, La Hán), Tín ngưỡng bản địa (Bà Chúa Xứ, Năm Bà Ngũ Hành) và các nhân thần (Ông Chài, Thần Đất) cùng song tồn hòa hợp. 

– Xu hướng “tín ngưỡng hóa” các hình tượng nhân vật văn học chương hồi (thờ Tề Thiên Đại Thánh, Bao Công, Quan Công) tại miếu Phù Châu phản ánh sinh động lát cắt tiếp biến văn hóa Việt – Hoa, tạo nên một vành đai di sản đa dạng và giàu bản sắc.

(3) Giá trị di sản phi vật thể và sức sống trong đời sống đương đại được ghi nhận

Vượt qua những thăng trầm của lịch sử và bom đạn chiến tranh, miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu không trở thành những “phế tích ngủ yên” mà ngược lại, vẫn duy trì một sức sống biểu đạt mãnh liệt. Các thực hành văn hóa phi vật thể diễn ra thường xuyên tại đây (như phóng sinh rùa/cá, hội xuân, lễ Vu Lan, cúng sóc vọng) đóng vai trò như chất keo gắn kết cộng đồng, cân bằng đời sống tâm linh cho cư dân đô thị hiện đại. 

Hai ngôi miếu không chỉ là di sản của quá khứ, mà là một thành tố hữu cơ, bồi đắp vào tính đa dạng văn hóa và chiều sâu lịch sử của mảnh đất An Nhơn, quận Gò Vấp nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.

5.2. Đề xuất

– Hai ngôi cổ miếu Sa Tân và Phù Châu không chỉ là 2 di tích kiến trúc nghệ thuật mà còn là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị di sản phi vật thể (văn hóa tín ngưỡng, di sản Hán Nôm, lễ hội) đa dạng, đa nguồn gốc của xã An Nhơn. Do đó 2 ngôi miếu này cần được quan tâm, bảo vệ và là vốn quý cho việc phát huy các giá trị văn hóa cho các nhu cầu quản lý và phát triển ở địa phương.

– Với vai trò là hạt nhân trấn thủy cho vùng sông Vàm Thuật uốn khúc, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở 2 ngôi miếu có ý nghĩa lớn đối với việc an cư, lạc nghiệp cho nhân dân trong vùng. Đây cũng là nơi quan trọng đối với người dân trong các sinh hoạt văn hóa truyền thống.

– Sự dung hợp tín ngưỡng đa dạng về nguồn gốc (Đạo Giáo, Phật Giáo, tín ngưỡng người Hoa, người Bắc, người Nam…) một cách hài hòa trong 2 ngôi miếu là đầu mối, là nguồn thúc đẩy cho sự đoàn kết, hòa hợp các nhóm cư dân và nhóm tôn giáo trong phạm vi hẹp của xã An Nhơn cũng như rộng hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Nam Bộ.

– 2 ngôi miếu độc đáo ở sông Vàm Thuật là điểm thu hút đông đảo du khách thường xuyên đến thăm quan, chiêm bái, thực hành tín ngưỡng (cầu phúc, phóng sinh, cúng dường…). Do đó có thể tạo điều kiện mở rộng thêm các cơ sở hạ tầng du lịch và văn hóa như đường giao thông trên bờ và đường thủy, xây dựng bến thuyền, xây dựng các công trình phục vụ sinh hoạt văn hóa và du lịch khác. 

– Địa phương nên có các chương trình quảng bá điểm du lịch, tổ chức các lễ hội văn hóa tín ngưỡng và quản lý tốt dịch vụ du lịch tâm linh ở khu vực miếu Sa Tân và miếu Phù Châu, phù hợp với văn hóa đa tín ngưỡng, giữ gìn môi trường và an toàn, an ninh trật tự ở khu vực. 

Bài viết của Vũ Thị Quyền và Nguyễn Đức Tố Lưu trong Hội thảo Không gian văn hóa và kinh tế di sản sông Vàm Thuật tổ chức ngày 8/7/2026 tại phường An Nhơn, Tp. Hồ Chí Minh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

  1. Huỳnh Ngọc Trảng (Chủ biên). (2012). Sổ tay hành hương đất phương Nam. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
  2. Nguyễn Đình Đầu. (1994). Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Tỉnh Gia Định. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân. (2025). Kinh triều bảo lục Sử tích Long quân và các vị thủy thần Lạc Thị. Nhà xuất bản Lao động.
  4. Nguyễn Thừa Hỷ. (2020). Văn hóa và hội nhập: Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.
  5. Steward, J. H. (1990). Theory of culture change: The methodology of multilinear evolution. University of Illinois Press. (Original work published 1955).
  6. Thạch Phương, & Lê Trung Hoa (Chủ biên). (2007). Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Trịnh Hoài Đức. (2006). Gia Định thành thông chí (Viện Sử học dịch). Nhà xuất bản Giáo dục.
  8. Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp. (2006). Địa chí quận Gò Vấp. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
  9. Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2014). Quyết định số 4872/QĐ-UBND ngày 03/10/2014 về việc xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố: Miếu nổi Phù Châu (phường An Nhơn, quận Gò Vấp).
  10. Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2020). Quyết định số 4268/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 về việc xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố: Miếu Sa Tân (phường An Nhơn, quận Gò Vấp).

Thần tích Cường Bạo Đại vương đánh giặc Ân ở Bắc Ninh

Dịch theo bia đá lập tại làng Mỹ Thôn, Gia Bình, Bắc Ninh.

Phả chép về một vị công thần và hai vị đại vương âm phù triều Tĩnh Vương

Chi Càn, bộ Trung đẳng.
Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt ta đời Hùng Vương thứ tư tại đạo Kinh Bắc (trước gọi là quận Bắc Giang) phủ Thuận An, huyện Lương Tài (trước gọi là Thiện Tài) trang Trình Khê khi đó có một người họ Tạ tên Hương, vợ là Đào Thị tên Hinh, là một gia đình giàu có, đã qua 3 đời làm nghề y đều hết lòng làm việc thiện. Một việc thiện dù nhỏ cũng không bỏ qua. Một tấc việc ác cũng không gây ra. Vợ chồng ông đều cùng là những người có đức dày. Ông tuổi đã gần 50, bà Đào Thị đã ngoài 40 nhưng chưa có con trai. Khi đó bà Đào Thị đêm nằm mơ thấy có thần hổ Sơn chủ đến ứng mộng vui đùa. Từ đó bà mang thai. Đến năm Giáp Dần ngày 15 tháng Ba

Sinh hạ được một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo khôi ngô. Ông biết đó là Sơn thần xuất thế nên rất là yêu mến, mới đặt tên là Cường Bạo và nuôi dưỡng. Thế rồi ngày qua tháng lại, ông Bạo tuổi đã 16, thiên tư cao lớn, học lực tinh tông, đọc thông binh thư, tài năng võ nghệ đều đứng đầu. Sức có thể nâng đỉnh, thế mạnh bạt núi. Thực là có dũng khí vạn người không đương được. Khi ông 18 tuổi thì cha mẹ đều mất. Ông bèn tìm nơi đất tốt làm lễ chôn cất. Qua ba năm chịu tang thì khi đó có giặc Ân đến xâm chiếm đất nước ta. Tĩnh Vương vô cùng lo lắng bèn sai sứ đi khắp các đạo, huyện, quận tìm các dũng sĩ, ai là người có tài văn võ thì sớm đến bái nhận quân sĩ làm phiên thần dẹp giặc. Thế là ông Bạo một tiếng nghe chiếu Thiên tử mà nổi lòng diễn võ bốn biển. Ngay hôm đó ông Bạo đem quân lính trong làng được 5 ngàn người tiến thẳng đến kinh đô để ứng tuyển trước bệ rồng.

Vua thấy ông trổ tài văn võ bèn phong cho ông là Chỉ huy sứ Hữu tướng quân, đầu tiên dẫn quân dẹp loạn để yên dân, trước tiến đến đạo Bắc để tuần phòng. Gió thổi cờ bay vạn dặm, chiêng trống như sấm động ngàn non.  Một hôm ông lùi về đạo Bắc, đi đến trang An Khoái huyện Gia Định nơi mảnh đất đầu bến sông thì gặp quân Ân tiến tới. Ông bèn vào trú ở trong đền thần, cầu thần âm phù dẹp giặc. Đến đêm tới cuối canh ba ông mơ màng thiếp đi. Bỗng nhiên thấy hai ông lão, áo mũ chỉnh tề, theo đường chính mà tiến đến, tự xưng là:

  • Chúng ta vốn là hai vị thiên thần trấn trị nơi dân đây, ở tại trong miếu này. Một tên là Đô Thiên, một là Thạc Phụ. Nay nghe tin tướng quân đi chinh Nam dẹp giặc, chúng ta linh thiêng giáng ứng âm phù, tặng ngài một chiếc chùy gỗ, để tại nơi đất hình con rùa ở bên sông. Dùng phép thần để trị giặc thì trong phút chốc giặc đều phải bỏ chạy. Ngày sau sẽ cùng được thờ phụng.

Hai vị thần nhân nói xong thì bay lên không mà đi. Ông tỉnh lại biết là linh thần đã ứng mộng, đến sáng ngày cho gọi các cụ già ở trang An Khoái dẫn đến nơi mảnh đất hình con rùa bên sông, quả nhiên thấy có chùy gỗ gậy thần để ở đó. Ông cầm lấy và nói rằng:

  • Thần ở trang này rất linh thiêng vậy.

Ngay hôm đó ông truyền cho binh sĩ cùng với nhân dân xây dựng một đồn trại ở nơi mảnh đất hình con rùa đế chống quân Ân. Từ khi ông đến hiểu dụ nhân dân nơi đây thì nhân dân được yên ổi. Khi đó trang An Khoái đều phục đức của ông mà bái tạ, nhân đó xin rằng:

  • Nay là nơi đồn trại, về sau sẽ làm thành nơi thờ cúng.

Ông đồng ý. Một hôm ông bày tiệc, mời các cụ già và nhân dân đến ăn uống. Ông nói với các cụ già rằng:

  • Trang của các người hãy nhớ giữ di mệnh của ta là muôn năm về sau trang các người phải phụng thờ ba vị.

Sáng ngày hôm sau thấy sứ giả vâng mang chiếu thư đến lệnh cho ông đánh giặc Ân ở đạo Bắc cùng với ông Tả tướng Phù Đổng. Ngay hôm đó ông Bạo đem quân thẳng đến dưới núi Sóc Sơn. Ông với Tả tướng quân cùng ngồi dưới núi bàn kế sách tấn công giặc. Bỗng thấy giặc Ân từ bốn phía kéo đến trùng trùng điệp điệp. Quân của ông chưa kịp mặc giáp, ngựa chưa kịp đóng yên thì đã bị bao vây. Triều đình vốn không hề biết việc này nên không có quân cứu viện. Ông gọi quân sĩ tới và hô lớn:

  • Lòng trời giúp ta và tướng quân cùng hiệp sức để một trận đánh giặc Ân.

Ông bèn lấy chùy gỗ gậy thần chỉ vào giặc. Giặc Ân đều thua, chết rất nhiều, chém được chính tướng cùng với vài ngàn tì tướng. Máu chảy thành sông, thây chất như núi. Thu được khí giới, lương thực, xe ngựa rất nhiều. [Ông nói:]

  • Phá được vòng vây là nhờ ý trời cho linh thần âm phù trợ giúp ta vậy.

Đang khi đó dẹp được giặc Ân thì bỗng thấy ông Phù Đổng đến nơi núi Vệ Linh, bỏ kiếm dưới cây đa, rồi bay lên không mà đi không thấy nữa, tức là đã hóa vậy.

Thế rồi ông Cường Bạo trở về quê cũ tại trang Trình Khê. Khi đó ông đang ngồi ở giữa nhà bỗng thấy trời đất nổi lên một đám mây vàng như hình dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước dinh. Bỗng thấy ông phi thân ra xứ Khu Đống rồi không thấy nữa, tức đã hóa vậy. Khi đó là ngày 20 tháng Sáu. Nhân dân sợ hãi, làm biểu tâu lên triều đình. Vua bèn sai sứ giả về tế ở nơi đất đó, sắc phong là Khang tế Phúc thần, cho phép dân nới đó cùng với trang An Khoái cùng đón mỹ tự về dân lập miếu thờ.

Đến thời Hùng Duệ Vương nghe danh tích vang dội mới sắc phong tên và thần hiệu.

Phong Bảo hữu Đô Thiên Đại vương.

Phong Cường Bạo Khang tế Phúc tướng Đại vương.

Phong Uy hiển Thạc Phụ Đại vương.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự. Đến thời Tống Thái Bình sai Hầu Nhân Bảo cùng các tướng dẫn mười vạn quân thủy bộ cùng tiến, chia đạo xâm chiếm nước Nam. Khi đó Lê Đại Hành thân chinh dẫn mười vạn quân tinh nhuệ chống cự, tiến đến huyện Gia Định phủ Thuận An đạo Kinh Bắc thì gặp quân Tống đi đường thủy tiến tới. Vua bèn đóng quân ở bên bến sông. Ban đêm trú trong đền thần, cầu thần âm phù dẹp giặc Hầu Nhân Bảo, sau này dẹp được sẽ phong thêm là Thượng đẳng Phúc thần. Rồi vua xuất quân đánh. Giặc Nguyên quả nhiên bị bại. Tướng Nhân Bảo cùng các tướng khác đều bị giết. Lại bắt được các đại tướng Biện và Phụng Huân đưa về triều. Vua khải hoàn trở về, thưởng đãi hậu cho các tướng sĩ. Nhân đó nói rằng:

  • Giặc Nguyên dẹp được là nhờ có thần trợ giúp.

Bèn phong thêm cho trăm thần.

Phong Bảo hữu Đô Thiên Hiển ứng Hộ quốc Tế thế Trạch dân Hoành hưu Phúc diễn Hồng ân Trợ thắng Linh quang Đại vương.

Phong Cường Bạo Dũng lược Phổ tế Cương nghị Dương võ Phù tộ Hiển đức Phong công Tá trị Triệu mưu Hùng kiệt Đại vương.

Phong Uy hiển Thạc Phụ Linh ứng Hộ quốc Tế thế Trạch dân Hoành hưu Phúc diễn Hồng ân Trợ thắng Linh quang Đại vương.

Ban sắc chỉ cho trang An Khoái tu sửa miến đền để phụng thờ. Tốt thay, vâng thay!

Năm hoàng triều Cảnh Hưng phong thêm ba vị đại vương là Diên hy Tích khánh.

Năm hoàng triều Cảnh Thịnh lại phong thêm ba vị đại vương là Dực chính Khai bình.

Vâng khai các tiệc sinh hóa cùng các chữ húy thiết cấm là Đô, Thiên, Thạc, Phụ, Cường, Bạo. Cho phép trang An Khoái phụng thờ.

Ngày sinh thần là 15 tháng Ba. Chính lệ lễ dùng trên là mâm chay, dưới là thịt trâu, thịt lợn, xôi, rượu, bánh dày tròn, ca hát, đấu vật.

Ngày hóa thần là 20 tháng Sáu. Chính lệ lễ dùng như trên. Ca hát đều cấm.

Tiệc lệ cầu phúc là 15 tháng Chín. Lễ dùng tùy theo.

Tiệc lệ cầu phúc là mồng 1 tháng Mười hai. Chính lễ lễ dùng như trên.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Năm thứ sáu hoàng triều Vĩnh Hựu ngày tốt giữa thu Quản giám bách linh Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại theo bản cũ chép.

Năm thứ 16 thời Thành Thái ngày tốt cuối xuân Giáp Thìn nhân dân đến xã Bình Trù vâng sao bản chính.

Ngày tốt tháng giữa thu năm Bính Thân toàn thể thôn trên dưới lớn nhỏ cùng nhạu lập bia phụng thờ.

Sự tích Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương ở Vụ Bản, Nam Định

Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Hổ Sơn, tổng Hổ Sơn, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, ký hiệu TTTS006832.

Sự tích bách thần tôn phái trăm trứng triều Hùng Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn
Do bộ Lễ quốc triều quan Thượng thư vâng soạn. Chi Càn.

Xưa nước Việt ta trời Nam mở vận, thánh đế ứng đồ, nước Bắc ban đầu phong thẳng theo hướng sao Đẩu, sao Ngưu. Mãi giữ dòng dõi vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương, ngự vạn năm ở thánh điện núi Hùng. Trời Nam đất tổ. Hoàng triều nước nhà mãi tôn dòng dõi, lưu truyền hương khói vạn đời không ngừng.

Xét tích Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình Quân tên là Âu Cơ, lập làm chính cung, về ở đầu núi Nghĩa Lĩnh. Thấy có mây lành năm sắc bốn phương rực rỡ. Thế rồi bà có mang thai. Qua ba năm ba tháng bao mươi ngày bỗng thấy mùi hương thơm đầy phòng, khí lành bao phủ, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai. Đều là có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời, khí độ hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Nước lửa tương khắc, chủng loại không cùng, nên vì thể phải chia cách.

Chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, trấn ở các đầu sông góc biển. Chia 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, trấn yên các nơi đầu núi. Gọi là trăm vương, đều phong là quan Bộ chủ. Khi ấy Vua mới phong làm 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính châu, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở trang Hoằng Hóa huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên đạo Ái Châu có một quan Bộ chủ họ Hùng, tên là Tuệ công, lấy con gái vị quan địa phương ở châu tên là Nguyễn Thị Quế làm chính phu nhân. Quan Bộ chủ thông minh sáng trí, sức mạnh tài cao, võ nghệ tinh thông, có khí dũng trăm người khó địch. Vua bèn phong làm quan Bộ chủ đạo Sơn Nam Hạ. Khi ấy quan Bộ chủ mới lên xe nhàn du ngắm cảnh sông núi. Phàm là ở trời Nam phong cảnh không chỗ nào không tới. Một hôm Chủ quan đi đến trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng, thấy một mảnh đất có sông núi uốn quanh, rồng hổ ôm lấy, mọi bề đều quay chầu vào chính cục. Chủ quản bèn truyền nhân dân cùng quân sĩ xây dựng một du cung tại bên nơi dân, dựa hướng Càn hướng về hướng Tốn, giao phó cho Phu nhân ở đó, khuyến khích nhân dân lấy nghề nông tang làm gốc, mở mang tiện lợi, trừ bỏ điều hại. Công đức như núi cao bể rộng. Không ai là người dân mà không thể sinh sống, không vật nào bị bệnh mà không được chăm sóc. Trải qua khoảng mười năm, khi đó quan Bộ chủ tuổi đã ngoài 50, Phu nhân tuổi cũng hơn 40 mà điều lan quế chưa được ứng nghiệm. Một hôm Chủ quan cùng Phu nhân nói nhau rằng:

  • Ý trời chưa đạt, liệu có phải là do việc người còn thiếu khuyết. Chi bằng thử một lần đi tìm đền thiêng chùa phật mà cầu con nối dõi xem.

Nói xong, lại nghe tiếng ở đạo Hải Dương có chùa Yên Tử có nhiều linh ứng, nước cầu dân nguyện đều ứng. Ngay hôm đó ngày mồng 8 tháng Tư chuẩn bị trai giới đi đến núi Yên Tử, tự làm sớ cúng Phật. Mặt trời đã xuống núi, Chủ quan cùng Phu nhân bèn nằm ở bên phải trước án, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy trong điện rực sáng, ánh hào quang rực rõ. Thấy một tượng thân vàng ở bên trên nói rằng:

  • Một bên là tài vật, một bên là thanh đồng. Vợ chồng ông muốn lấy vật nào?

Trong mộng Chủ quan nhìn thấy thanh đồng rất tốt, trong lòng vui mừng, xin được lấy thanh đồng. Tượng thân vàng bèn trao cho Chủ quan. Quan để vào trong tay áo, biến ảo thành nhỏ sau một tiếng kêu. Lại nghe trên trời có một tiếng sấm lớn, vang đến bên tai. Ông mới tỉnh dậy, mới biết là Phật đã báo mộng như vậy.

Đến sáng ngày ông bà làm lễ bái tạ trước điện Phật rồi lên xe trở về nơi du sở (tức là trang Hổ Sơn tổng Hổ Sơn). Từ đó uyên ương chung gối, loan phượng thành bầy, nhạc chiêng chống cùng kêu vui, hứng đàn thơ hảo hợp. Phu nhân thế rồi có mang thai. Đến năm Bính [Ngọ] mùa hè ngày 24 tháng Sáu Phu nhân sinh được một người con trai, mặt giống như sắt, trên bụng có dòng chữ lớn rằng: “Hổ Sơn Thái Sơn Đại vương”. Đến năm lên ba tuổi Chủ quan mới đặt tên là Sơn Hổ, hiệu là Thái Sơn công. Ngày qua tháng lại tuổi đã lên 7, thân cao 7 thước, sức mạnh trăm cân, bèn cho nhập học với tiên sinh Trần Giản. Khi ấy ông học được 6 năm, văn chương quát triệt, võ nghệ tinh thông, có thể đọc xem thuyết của Khổng Mạnh, bốn khoa ba chuyện không nhường thao lược của Tôn Ngô. Ông đang khi đi học, Tiên sinh thường nói rằng:

  • Rất hay cho một nhà có phúc như vậy sinh được người con trai tốt. Ngày sau tất là người con làm rạng danh gia đình.

Khi ấy Chủ quan cùng Phu nhân bị cảm gió độc, trong thời gian ngắn cùng mất (tức là ngày mùng 10 tháng Mười). Ông khóc lóc động trời nhưng tình thế không thể thay đổi. Ông chọn ngày tốt, chọn quan tài lớn để an táng, mổ trâu, làm lễ chôn cất. Ba năm chịu tang phụng thờ theo nghi lễ. 49 ngày đến tuần chịu tang tận báo đức cù lao.

Khi đó Hùng Huy Vương đang ở ngôi, đóng đô tại sông Bạch Hạc Việt Trì, mới lệnh cho sứ thần gọi ông vào triều, liền bái phong là quan huyện Thiên Bản, ban cho họ tộc Hoàng, nối chức của thân phụ. Ngay hôm đó ông làm lễ bái tạ trước bệ, dẫn lính trở về huyện Thiên Bản nhận chức. Qua 10 năm sau nước nhà có giặc Ân phương Bắc là Thạch Linh Thần tướng khởi binh đạo Bắc, đem sáu vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời. Bỗng thấy quan địa phương báo gấp, một ngày tới 5 lần. Hùng Huy Vương vô cùng lo lắng, ngay hôm đó truyền trăm quan văn võ đến triều bàn việc chống giặc. Hôm ấy Vua truyền dựng một tế đàn cầu đảo bách thần trời đất. Đến ba ngày sau bỗng thấy mưa gió nổi lên, thấy một ông lão cao hơn 9 thước, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người thấy vậy bèn vào tâu lên Vua. Vua nghe vậy cho là sự lạ. Vua thân ra bái chào, đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc Ân quân phương Bắc đến cướp nước đã tới gần.

Ông lão chần chừ hồi lâu, bấm tay vận đoán, lập một quẻ rồi nói với Vua rằng:

  • Nếu cầu được người thì giặc Ân không lâu sẽ dẹp yên.

Nói xong ông lão bay lên không mà đi. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện về báo cho việc này. Ngay hôm đó bèn lệnh cho Xá nhân đi tìm mộ người, đi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh, có một gia đình phú ông tên là Liên công, sinh được một người con trai, tuổi đã lên ba, ăn uống to lớn, không biết nói cười. Một hôm Xá nhân đi cầu mộ đến nơi. Bà mẹ nghe Xá nhân đến, đùa nói rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để có chức tước của triều đình, để báo ơn sâu nuôi mớm.

Đứa trẻ nghe thấy mẹ nói vậy, bỗng nhiên mở miệng rằng:

  • Mẹ mời sứ giả đến đây.

Thần Vương liền nói với sứ giả  rằng:

  • Mau trở về báo với Vua, đúc thành ngựa sắt cao 18 thước, roi sắt dài 10 trượng đem đến. Việc quân nhung Vua không cần lo lắng nữa.

Ngay hôm đó sứ giả nhanh chóng trở về tâu với Vua. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn lệnh cho thơ đúc thành ngựa sắt, roi sắt, đem đến giao cho Thần Vương. Lại lệnh cho 50 bộ Sơn thần, tên là Hổ Sơn Hoàng tộc Đại tướng quân theo cùng với Thiết Xung Thần Vương dẹp giặc

Lại nói, nhân dân trên đời đến dâng rượu và cỗ mang đến. Thần Vương ăn một lúc hết cỗ, đứng thẳng người lên. Bỗng nhiên thân thể dài ra 16 thước. Nhảy lên cưỡi ngựa. Ngựa chạy như bay thẳng đến trước điện nhà vua bái yết, rồi tiến thẳng đến dưới chân núi Chu Sơn quân Vũ Ninh. Ngựa miệng phun lửa, thiêu cháy hết quân Ân. Trận đó Hổ Sơn Đại tướng quân múa long đao chém được Thạch Linh Thần tướng cùng với quân sĩ hơn 500 đầu. Khí giới vứt chất như núi. Một xe không quay được, một ngựa cũng không thoát. Giặc Ân thua to chạy toán loạn. Còn lại dư đảng chạy về nước Bắc. Khi ấy Thần Vương trở về đến tranng tổng Phù Xá huyện Kim Hoa lên núi Sóc Sơn cưỡi ngựa xông lên trời mây mà đi. Vua bèn bao phong làm Xung Thiên Phù Đổng Thiên Vương Thượng đẳng Phúc thần, có tích riêng.

Còn Hổ Sơn Đại tướng quân dẫn binh mã trở về triều bái Vua. Vua rất vui mừng bèn truyền trăm quan mổ trâu mở tiệc mừng, phong thêm các tướng sĩ công thần lớn nhỏ, việc bao phong các vị này có tích riêng.

Phong thêm là Hổ Sơn Lân hầu Hoàng tộc Đại vương. Thăng chức trị nhậm đạo Ái Châu, được ngoài mười năm. Từ đó đất nước thanh bình, trong phủ vô sự, vạn dân được no đủ, vui vẻ hát ca. Bốn biển đều một cảnh tượng thái bình. Ông đi du chơi bốn bể, trải xem núi sông. Hễ chỗ nào có danh sơn thắng cảnh ông đều đến nơi. Hoặc đàn sáo reo vui, thơ sách đối đáp đất trời, phượng hát loan ca, thanh sắc du dưa, tình tang bồng theo cảnh tam diệp, gió trăng năm hồ câu cá in dấu tiên, truy tìm cảnh hội sương khói, vạn nhà xe mây trở bước, nước xanh non cao, thánh Nam thần Bắc quanh năm cùng đất trời, ra vào phong cảnh trời Nam.

Khi ấy ông Hổ Sơn  đi đến đạo Hoan Châu, bèn lên dãy núi tên là Thái Công [Sơn] Hùng Lĩnh. Ông ngồi trên một chiếc bàn đá. Rồi thấy trời đất mù mịt, mư gió kéo đến. Bốn vật linh đều xuống thẳng đến chầu nơi ông. Lại thấy trăm thí đều chầu hai bên. Ông không bệnh mà tự hóa (tức là ngày mồng 6 tháng Hai). Được một lúc mưa gió tự yên, trời đất quang tạnh lại thì thấy mối gỗ xây thành một mộ lớn. Ngay hôm đó nhân dân ở nơi hóa cùng với nhân dân trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản theo ông Hổ Sơn thấy ông đã hóa lấy làm sự lạ, trở về báo cho phụ lão nhân dân, xây sửa chốn miếu ở nơi cung cũ, lại làm biểu dâng tấu lên Vua. Vua nghe vậy rất thương xót vị đại thần, truyền quan đến nới hóa dựng đền chính ở trang Thái Sơn, lệnh cho nhân dân thờ.

Lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ trở về trang Hổ Sơn tu sửa đền, lệnh cho nhân dân làm làng hộ nhi phụng thờ. Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương.

Lại nói, từ sau khi hóa, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, có nhiều anh linh hiển ứng nên trải các đời đế vương Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê có bao phong mỹ tự Thượng đẳng Phúc thần, hưởng lễ vạn đời, hương khói không ngừng. Cho phép xã Hổ Sơn tổng Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng thờ.

Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Anh uy Tế huệ An trấn Hoàng tộc Đại vương.

Vâng khai các chữ húy cấm: Hổ Sơn, Thái Sơn các chữ nhất thiết cấm.

Các màu đỏ, màu vàng nếu nhân dân khi làm lễ không được mặc.

Ngày sinh thần của Đại vương là ngày 24 tháng Sáu. Chính lệ lễ dùng lễ tam sinh, rượu vàng, bánh dày, ca hát cho đến ngày 15 tháng bảy thì ngừng.

Ngày hóa thần của Đại vương là ngày mồng 8 tháng Hai. Chính lệ dùng lễ lợn đen, làm lễ, đánh cờ 3 ngày thì ngừng.

Ngày phong sắc là mồng 10 tháng Giêng. Lễ dùng tam sinh, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày lệ Khánh hạ  là mồng 10 tháng Mười. Lễ dùng trâu đen, bánh dày.

Hoàng triều niên hiệu Hồng Đức đầu xuân ngày tốt Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 13 ngày mùng 6 tháng Ba Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền vâng chép.

Thần tích đền Quốc tướng ở làng Mẫn Xá, Yên Phong, Bắc Ninh

Bản dịch đăng trong sách Đình, đền tướng quốc “Quốc tướng linh từ” làng Mẫn Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, 2016.

Ngọc phả cổ về sự tích Vạn Hộ Đại vương và Lưu Thủ Đại vương anh em sinh ra từ một bọc nhà họ Trương là công thần triều vua Hùng Huy Vương họ Việt Thường
Bản chính của bộ Lễ quốc triều, bộ thứ 6, chi Ly, Nhân thần thượng đẳng

Nước Việt ta xưa, trời Nam mở vận, các bậc Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn 2000 năm, các vua Hùng dựng đặt tên hiệu gọi là tổ của Bách Việt. Các nhà Nho sau này có bài thơ ca ngợi rằng:
Thuở mới đầu nước Nam Việt từ vua Kinh Dương Vương
Thống nhất non sông được 18 đời vua
Trải trăm đời đế vương, ngàn xưa vẫn còn đó
Hơn 2000 năm rồi, hàng trăm năm hương khói.

Dịch thờ:
Khởi đầu Nam Việt tự Dương Vương
Mười tám vua Hùng một núi sông
Ngàn xưa còn đó, trăm đời đế
Hai nghìn năm lẻ mãi thơm hương.

Lại nói vào đời thứ 6 triều Kinh Dương Vương, thời gian ấy vua Hùng Huy Vương trị nước, đóng đô ở bên sông Bạch Hạc Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang, định quốc đô ở thành Phong Châu. Hùng Vương là ông vua nhân từ rộng lượng, chuyên lấy việc dưỡng dân làm gốc, rất yêu thích các vị thần tiên có thuật lạ. Đời lúc bấy giờ đều khen là bậc vua hiền.

Lại nói vào thuở ấy dân gian trong nước truyền rằng ở vùng đất trang Nham Lệnh huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có một người trưởng giả tài đức họ Trương tên húy là Thọ, lấy vợ là người trong trang là Hàn Thị Cúc. Ông họ Trương làm nghề thầy thuốc gia truyền, từng 5 đời làm lương y. Một nhà phúc hậu giàu có dư giả. Vợ chồng một lòng tích góp làm việc thiện, chỉ có điều tuổi đã cao mà điềm lành về đường con cháu chưa thấy ứng hiện. Khi ấy ông Trương đã hơn 50 tuổi, bà cũng đã hơn 40 tuổi mà vẫn chưa có dấu hiệu có con. Ông Trương nghĩ sâu xa đến công đức của tổ tông, ngày sau thờ phụng biết cậy nhờ ai? Năm tháng cứ trôi nhanh chẳng thể đợi chờ. Một hôm ông than thở với bà rằng:

  • Con người ta sống ở trên đời chưa thấy ai được hoàn toàn vui sướng, vì thế mà lòng tôi lo buồn nên râu tóc bạc trắng, người ta sinh ở trên đời có 3 điều thì có con là điều lớn nhất. Vả lại tôi nghe nhà ta nối đời làm nghề y, chỉ một niềm khắc sâu trong lòng là tích góp làm việc, dốc hết sức làm điều nhân. Nay còn kém mà lòng trời chưa thấu đến cũng chẳng biết nữa. Chẳng bằng thành tâm cầu đảo, tận lực tìm thày xem đất để tu sửa phần mộ và nhà cửa. Hai việc ấy là cốt yếu hàng đầu, không bỏ quan được.

Nói xong, ông mới chọn ngày, dựng một đàn chay ở trước sân nhà làm lễ bái trời đất bách thần cầu con ba ngày. Làm lễ cầu xong, đêm hôm ấy ông mới vừa mơ màng chợp mắt, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, mũ áo tề chỉnh, đường hoàng đi thẳng vào lấy tay vẫy gọi ông dậy. Ông bèn đi theo sau cụ già. Cụ già trèo lên núi Hồng Lĩnh, ở bên cạnh có một huyệt đất giống hình cái nồi, phía trước có hình hai con cá chầu vào, mặt nước trong xanh. Hai bên trái phải có hình sư tử đá voi đá. Cụ già chỉ vào giữa huyệt đất bảo với ông rằng:

  • Huyệt đất ở trong giữa nồi, trời đã ban cho người, ắt sẽ có hai người tài năng cùng xuất hiện, có thể giữ nước giúp dân. Hãy kính cẩn, kính cẩn, chớ để lộ.

Nói xong ông già bỗng nhiên biến mất. Ông bừng tỉnh mới hay là mình vẫn nằm mơ. Nhưng ông vẫn có cảm nghĩ trong lòng rằng mình thành tâm thì tất là do trời đưa thần nhân xuống báo mộng. Trong lòng rất cảm động. Ngay hôm ấy ông tìm đến núi Hồng Lĩnh, quả nhiên thấy hình thế phong cảnh giống hệt như đã thấy trong mơ, trong lòng vô cùng vui sướng. Ông bèn trở về nhà đem hài cốt của cha lên táng vào chính giữa huyệt. Lúc đang chôn cất trên núi thấy tiếng ầm ầm như sấm sét, mây mù che phủ mờ mọt, mọi người đều kinh sợ. Sau khi làm lễ mai táng xong, ngay hôm ấy ông trở về nhà. Ba ngày sau lại mộng thấy cụ già lần trước tay bê hai cây tùng đặt trong một cái tráp trao cho ông, ông nhận lấy. Cụ già lại giúp ông và đọc bài thơ rằng:

Song tùng tương hứa nhữ Trương gia
Phúc lưu trường cửu phối sơn hà
Hoàng thiên ứng hứa song tài giáng
Nhữ phúc lưu hề bách thế ca.

Nghĩa là:
Ta đem cho nhà họ Trương hai cây tùng
Phúc lộc sẽ trường tồn mãi mãi cùng với núi sông
Ngọc Hoàng đã chấp thuận hứa cho hai người tài giởi giáng xuống trần thế
Nhà ngươi được ban phúc hãy giữ lấy, muôn đời sẽ được ca tụng (công đức).

Dịch thơ:
Đôi tùng ta hứa tặng Trương gia
Phúc lớn trường tồn với sơn hà
Trời cao giáng xuống hai người giỏi
Phúc giữ trăm đời mãi ngợi ca.

Ông nghe đọc xong bài thơ bỗng bừng tỉnh dậy mới biết là mình vừa nằm mơ, nhưng vẫn cảm tưởng giấc mơ báo điềm lành cho nhà mình. Từ đấy quả nhiên bà có thai. Đến ngày 10 tháng 3 năm Đinh Mùi, bỗng nhiên khi ấy trời đất tối sầm. Cụ bà đẻ ra một bọc, sinh đôi con trai, hình dung tướng mạo khôi ngô, thân hình cao lớn, vẻ lẫm liệt thần uy khác với người thường.

Một trăm ngày sau, đặt tên cho người anh là ông Chiêu, người em là ông Tuấn. Đấy là tên cha mẹ đặt cho. Đến năm lên 6 tuổi, cụ bà mất (tức ngày 18 tháng 10). Ông Trương bèn làm lễ an táng. Năm con lên tám tuổi, ông Trương thầm nghĩ, thân mình đơn chiếc, tóc thì đã bạc, con còn ấu thơ nhỏ bé không có người giúp việc nội trợ. Ông bèn lấy con gái một nhà danh gia họ Phạm. Bốn năm sau sinh được một trai, một gái. Người vợ bé là người tính rất điêu ngoa, lại có lòng ghen ghét đố kỵ, bức bách nghiệt ngã với con riêng của chồng, tình cảnh không thể nói hết. Thanh ôi đạo trời khiến ra như thế, bậc trượng phu quân tử gặp nhiều khó khăn khắc trở là sự thường. Thời gian ấy hai ông đã 13 tuổi, thiên bẩm anh tài, cực kỳ thông minh, trí tuệ, lại là người chính trực, cương cường, nhân tâm trong ấp đều nể sợ. Vì là bậc anh hùng chí khí, đều có nhiều thuật lạ, mưu kỳ. Người dì ghẻ thấy hai ông khí khái khác người, lại càng đố kỵ thêm, muốn mưu hại hai ông để thu lấy cơ nghiệp cho mình và con. Năm ấy vào ngày 12 tháng 9 ông Trương tạ thế. Người dì cùng hai ông làm lễ mai táng. Làm tang lễ an táng xong chưa đầy 100 ngày, người dì manh tâm bàn bạc với những người thân trong họ ngoại mưu hại hai ông, để chiếm cơ nghiệp cho con mình. Hai ông biết ý, từ đấy, không nằm ngủ ở trong nhà. Nửa đêm hai ông mỗi người cầm một cây gậy tre dài nằm phục ở ngoài nhà. Đêm ấy, những người họ ngoại của người dì độ mươi người kéo đến. Hai ông trông ra đúng bọn người ấy, bèn nhẩy vọt ra phóng gậy tre đánh giết. Sau khi giết chết đám người ấy, hai ông bèn trốn đi. Trong thời gian trốn tránh hai ông hay tin có người chú họ, sinh sống lưu trú nương nhờ quê vợ ở trang Mẫn Xá huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc. Hai ông bèn tìm đến. Trong thời gian hai ông còn trên đường đi đến Mẫn Xá, mới được nửa đường, thì cũng vào thời gian này dân trang Mẫn Xá ban đêm mơ thấy có hai vị quan nhân cùng binh sĩ tiến thẳng vào trang. Hai vị quan dừng quân trú lại ngồi nghỉ ở quán sở (thời kỳ ấy trang Mẫn Xá có một ngôi quán lợp cỏ ở giữa trang ấp) truyền hô triệu người. Nhân dân đều ra, có đủ các họ (khi ấy ở Mẫn Xá có các họ Nguyễn, Phạm, Vũ, Lê, Trần, Đặng, Lý, Dương, Đỗ, Hà) đều ra bái kiến. Hai vị quan hình dáng tướng mạo khôi kỳ, tuổi còn niên thiếu. Nhân dân bèn làm lễ, bái mừng và hỏi rằng:

  • Dám xin hỏi tên họ và phẩm tước của hai vị quan đây và đến trang dân Mẫn Xá có việc gì sai bảo?

Hai ông đáp:

  • Chúng ta phụng mệnh Tào quan ở Thiên đình, người họ Trương, vì nghe biết người chú họ lấy vợ và ở lại quê của dân trang, vì thế mới đến thăm người chú.

Nhân dân nghe xong bèn dẫn hai vị quan đến nhà họ Trương (tức người chú họ của hai ông có tên là ông Trạch lấy vợ người trang Mẫn Xá tên là Thị Thủy). Nhân dân tỉnh dậy mới biết là mộng báo. Đến ngày hôm sau nhân dân tụ họp ở ngôi quán cỏ đều nói chuyện nằm mơ, mọi người trong các họ đều nói là cũng mơ thấy như thế. Mọi người cho là sự việc kỳ lạ. Đến đêm hôm ấy nhân dân lại mơ thấy âm hồn gia tiên cha mẹ của các họ cùng báo rằng:

  • Ngày mai có hai vị chúa tể Thiên đình đến ở với dân ta. Cần nhanh chóng dựng một doanh cung ở bên cạnh đường đầu trang, truyền quét dọn đường xá và các nơi dân cư.

Nhân dân chợt nghe các âm hồn đại hội, bỗng nhiên tỉnh dậy. Sáng ngày hôm sau lại tụ họp báo về giấc mộng. Lại thấy hơn trăm con chim thước quần tụ thành đàn bay đến đậu đầy vùng đất của trang ấp Mẫn Xá. Dân trang không thể đếm được số lượng chim, mọi người rất kinh ngạc. Dân trang bèn lập một đàn tế ở quán sở làm lễ cầu an tống tiễn, chỉ trong chốc lát bầy chim thước lại tự bay đi, đồng thời thấy hai ông đi đến quán. Nhân dân đang tập trung làm lễ, lại thấy hai ông hỏi ông họ Trương lấy vợ người trong ấp không rõ nhà ở xứ nào. Nhân dân (tức trang Mẫn Xá) thấy hai ông thân hình mặt mũi y như hai vị quan, thầm nghĩ lấy làm kỳ lạ mới hỏi rằng:

  • Hai ông đây với nhà ông họ Trương quan hệ thân thuộc như thế nào mà tự báo nhân dân vào lúc này?

Hai ông đáp:

  • Nhà họ Trương vốn là chú họ, lấy vợ người ấp ta. Nay anh em tôi tìm đến nhờ vả người chú.

Nhân dân Mẫn Xá nghe lời giải thích, cho là đã ứng đúng như trong mộng, mới tôn kính cùng nhau hướng dẫn vào nhà ông Trương. Ông Trương thấy hai ông đi đến thì rất mừng nói:

  • Ta từ khi lấy vợ sinh sống ở ấp này đã lâu rồi. Đêm hôm trước bỗng mơ thấy hai người cháu cùng quân sĩ đi đến. Nay quả nhiên đúng thực như vậy, việc này chắc do trời định vậy?

Nhân dân nghe chuyện rất tin sợ.
Lại nói từ đấy ông Chiêu và ông Tuấn, hai anh em ở lại nương nhờ ông chú họ Trương. Tình tuy là chú cháu nhưng thân yêu như tình cha con, rất là quý trọng. Nhân dân trong trang ấp, đã thấy điềm lành chim thước và giấc mơ báo ứng, tất cả đều tôn kính, không dám coi thường. Hai ông vốn là thiên tài giáng thế, tư chất là bậc thánh, sinh ở trần gian, vốn rất thông minh trí dũng, tình cảm tuy là những người lưu lạc, nhưng mà khí độ vượt hẳn người thường, không dưới một ai. Hai ông ở lại đất này (tức trang Mẫn Xá) được một hai năm thì thiên hạ gặp thiên tai, hạn hán. Lúa mạ trồng cấy bị cháy khô, bệnh dịch lở ngứa khá nhiều. Trang Mẫn Xá bị nặng nhất trong quận huyện. Khi ấy nhân dân trang Mẫn Xá lập đàn cầu mưa, làm lễ cầu an, đến ba bốn lần không có kết quả. Mấy tháng sau nhân dân nhiều người bị ốm đau lại thêm tai hạn, đói khát, nhân dân hết sức lo lắng. Sau đó lại lập đàn làm lễ. Làm lễ xong đêm ấy nhân dân đều mơ thấy một cụ già râu tíc bạc phơ, đi theo sau là các âm hồn gia tiên của các họ có đến hơn ba bốn trăm người. Cụ già cùng các âm hồn đi theo trước hết vào nhà ông Trương. Nhân dân đi theo sau quan sát. Nhân dân nhìn thấy đều là các vị qua nhân, cùng ngồi, hai ông ngồi ở hai bên trái và bên phải, có quân sĩ đứng hầu. Lại nghe thấy hai ông hỏi cụ già:

  • Cụ là ai có việc gì mà đến đây?

Cụ già đáp:

  • Thần là quan bản thổ ở đất Mẫn Xá, nay nhân dân bị thiên tai hạn hán lại bị thêm bệnh ôn và lở ngứa, nay có hai vị chủ quan, quyền cai quản dân chúng, nay xin hai vị quan cứu giúp trị bệnh cho dân được yên lành.

Nghe nói xong mọi người ai nấy làm lễ, đương khi ấy lại thấy các âm hồn cùng bái lễ. Nhân dân đều bừng tỉnh dậy khi ấy trời đã sáng. Họ Nguyễn theo mộng bèn ra quán ở trước tiên, tập họp cùng nhân dân các họ và các vị chức sắc trong làng, mọi người nói đều mơ như thế. Các họ cũng mơ như vậy. Mọi người đều nói nguyên do như nhau. Nhân dân trong Mẫn Xá thấy sự việc trong mơ quả nhiên là như thế lấy làm kinh sợ. Ngay ngày hôm ấy (tức là ngày 12 tháng 8) nhân dân sắm sửa lễ vật cùng nhau đến nhà ông Trương làm lễ nhận làm thần dân. Khi ấy hai ông mới hỏi, nhân dân đáp:

  • Hai anh em vốn là khách phương xã đến, ăn ở tại nhà người chú, nương nhờ vào đất của dân chúng tôi, nếu có tài năng gì, cứu giúp dân trong tai hạn này, dân sẽ làm lễ tôn nhượn làm thần.

Khi ấy nhân dân kể lại đầy đủ rõ ràng sự việc thấy trong mơ như thế, dám xin hai vị cứu giúp, cho dân được sinh sống lập nghiệp qua khởi nạn đói khát, tất cả đều trông đợi hậu phúc của hai vị. Hai ông nghe sự việc, trong lòng còn do dự chưa quyết bèn bảo với nhân dân rằng:

  • Sự việc này xảy ra là do đạo trời báo ứng, như mọi người quả là đã thấy rõ ràng. Trong lòng chúng tôi còn phân vân vì thế chưa dám quyết. Dân làng lại nhờ cậy chúng tôi, mà chịu làm bề tôi chúng tôi sao dám nhận? Nếu như quả đúng như như lời cam kết thi ngay ngày hôm nay chúng tôi lập đàn trai giới, dân chúng đều cùng tập trung làm lễ. Anh em chúng tôi sẽ cáo với trời đất. Nếu quả đúng là anh em chúng tôi được thừa mệnh trời, cho quyền cai quản dân ở vùng đất này, nguyện xin báo mộng cho chúng tôi biết. Chúng tôi sẽ nhận dân chúng làm thần tử.

Nhân dân nghe lời mới sắm sửa thức chay, lập một đàn tế tại trước sân nhà của người chú họ của hai ông. Đêm hôm ấy hai ông vào đàn làm lễ, khấn xong, bèn nằm chờ báo mông ở bên đàn. Đến chừng quá nửa đêm, hai ông mơ màng ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên thấy một vị đại tướng từ trên trời giáng thẳng xuống, đầu đội mũ rồng, phượng sáng lấp lánh, dõng dạc truyền rằng:

  • Ta vốn là sứ giả của Thiên đình sai xuống, vâng mệnh Hoàng thiên giao cho một đạo sắc “long chương” cho phép hai người mở ra xem.

Hai ông bèn vâng mệnh bái nhận, mở ra xem thấy trong đề 4 câu thơ như sau:
Lưỡng khanh sắc phó phụ Dương quân
Quyền chưởng sơn hà bá liệt huân
Họa phúc nhân dân quyền tại chủ
Khuông phù xã tắc chưởng ư dân.

Nghĩa là:
Hai người được sắc ban cho phụ giúp vua Dương vương,
Quyền cai quản núi sông và gây dựng nên công lao
Họa, phúc của dân là do các người nắm giữ,
Hãy giúp nước và bảo vệ nhân dân.

Dịch thơ:
Ban sắc hai khanh giúp thánh quân
Núi sông cai quản lập công huân
Dân gian họa, phúc hai khanh quyết
Sao cho nước mạnh với an dân.

Hai ông đọc xong bỗng tỉnh dậy, biết là quả đúng như mộng báo [cho dân], bèn mới báo cho dân nhận dân làm thần tử. Thế là truyền nhân dân lập đàn cầu mưa và cầu an. Trời bỗng nhiên mưa xuống, lúa màu tươi tốt trở lại, ruộng ao đầy nước. Những người bị bệnh lở ngứa đều khỏi. Nhân dân từ đấy mừng vui cười cười nói nói cùng bảo:

  • Ngày nay dân ta được trời giáng xuống hai vị thánh cứu giúp, không phải lo gì nữa.

Khi ấy viên huyện lệnh huyện Đông Ngàn nghe biết có hai vị thần tài giỏi cứu giúp dân được yên ổn, cầu mưa mưa xuống hết sức kỳ lạ, bèn làm biểu tâu lên vua và triều đình. Vua được tin bèn sai đình thần đem xe đến triệu hai ông về triều để vua cho thi tài và trao chức vụ. Thời gian này, sứ thần vâng mệnh đến nơi hai ông trú ngụ (tức nhà ông chú Trương trang Mẫn Xá) triệu hai ông về triều. Hai ông nghe lệnh bèn nhận lệnh theo sứ thần về triều, vào điện làm lễ bái kiến dưới thềm. Khi ấy hai ông mới vừa 18 tuổi, cả hai đều thân cao 10 thước. Nhà vua xem xét hình thể, tướng mạo khôi ngô lạ kỳ bèn thử hỏi tài năng. Hai ông tâu đối trả lời lưu loát, tinh thông văn võ, không điều gì là không biết. Vua cho là rất xứng đáng, ban chỉ truyền phong ông Chiêu làm Tham nghị triều chính, ông Tuấn làm Thái học sĩ vương. Lại chuẩn y cho trang Mẫn Xá là ấp hộ nhi sở tại. Từ đấy dân phong thịnh vượng, ấp trang giàu có no đủ, tất cả từ người đến vật đều được sống yên vui, lương binh được miễn, nhà cửa khang trang, ruộng vườn rộng rãi, đều cũng nhờ ơn đức to lớn của hai ông.

Một hôm hai ông xin vua cho về quê cũ thăm viếng gia tiên. Vua hứa cho, lại ban cho vàng bạc, gấm vóc các thứ đến hơn nghìn cân. Hai ông từ tạ trước thêm lên xe tiến quân đi thẳng về quê Ái Châu. Ngay hôm về đến quê, làm lễ bái yết gia tiên cha mẹ. Nhân dân cử hàng lễ đón mừng. Hai ông mở tiệc lớn, tu sửa nhà thờ, dừng binh ở lại chừng và mươi ngày. Việc xong, hai ông lại cất quân lên xe trở về thăm người chú họ, thăm thú tình hình đất gia thần (tức trang Mẫn Xá). Hôm ấy (tức ngày 10 tháng 3) dân làm lễ đón mừng. Hai ông truyền làm lễ bái yết vợ chồng ông chú họ. Mọi việc xong, hai ông nhân rảnh rỗi đi xem xét địa thế dân cư để dựng lại cung sở, để sau này có thời gian về tụ họp vui chơi yến ẩm, và lưu binh ở lại. Hai ông xem xét địa thế dân cư đều là mảnh đất hình rồng, phượng ôm ấp, rùa rắn bao quanh. Phía Tây Nam có gò hình sao Mộc phù giúp. Phía Đông Bắc có sao Thất Diệu chầu về. Tức là có ba sao cùng chiếu, phía sau có ao nước. Phía trước có một huyệt đất hình cái nồi khai mở. Thật là chín mặt có bãi rồng lại có ngòi nước chảy từ xa bên ngoài ấp. Một dải sông Thiên Đức chảy vòng xa bên cạnh ngoài địa giớ, đều chầu về và đối ứng. Hai ông bèn dựng cung Hội đồng và đóng quân thường trú ở đó. Năm tháng đi về làm năm yến ẩm du chơi. Ở phía bên cạnh địa giới, phía trước trang ấp, trên đó có thế đất rồng uốn quanh, phía trước lại có vùng nước hình cái nồi mở ra có hai dòng nước giao nhau. Phía sau có sao Kim mang hỏa. Phía trước có sao Mộc án ngữ phù trợ. Tựa hướng Đông Đông Bắc, nhìn hướng Tây Tây Nam. Hai bên trái phải như có hai cánh cửa đóng mở đều cùng ôm quanh và chầu về đất ấy. Hai ông truyền dựng cung sở. Khi hoàn thành, mở tiệc mừng, cho mời các cụ già và nhân giân các họ cùng đến ăn tiệc mừng. Trong khi yến tiệc vui vẻ ông Chiêu nói với nhân dân rằng:

  • Nay đã kết thành tình thày trò và đại nghĩa vua tôi, việc này là do trời định, không phải di ta mong ước, cũng như chẳng phải do dân cầu mong. Hơn nữa anh em tôi từ khi sinh ra đã biết mệnh trời, sức khỏe có thể nhấc đỉnh, bạt núi, tài năng vượt hẳn người thường. Ắt là núi sông không phụ anh em chúng tôi, quả nhiên được dự vào hàng quan chức của triều đình, thật là như ý mà dân tình cũng được nhờ cậy. Nay ta hưởng ơn đức của vua dồi dào, lộc nước cũng nhiều, nên ban tặng cho dân 10 nén vàng để làm vốn chung, mua thêm ao ruộng, lưu lại về sau. Đạo do trời định. Nghĩa vua tôi, không thể mua danh để đời sau tôn thờ được, chớ có cho là khác thường.

Nhân dân nghe thấy lời nói, bèn làm lễ hết lo sợ và nhận lễ. Yến tiệc xong, ông Chiêu mới làm bài thơ rằng:
Thiên địa sinh lai hữu thử thân
Tiên tri bẩm mệnh việt hồ nhân
Nam thiên đáo xứ giai thần tử
Phi thị hữu duy Mẫn Xá dân.

Nghĩa là:
Có thân ta là do trời đất sinh ra,
Biết trước rằng bẩm sinh tài đức vượt hẳn người thường.
Dưới trời nước Nam, nơi nào cũng là tôi con của ta
Không chỉ có duy nhất dân trang Mẫn Xá mà thôi.

Dịch thơ:
Trời đất sinh ra mới có thân,
Trước hay tài đức vượt thường nhân
Trời Nam khắp chốn đền che chở
Chẳng riêng Mẫn Xá mới ban ân.

Ông Tuấn họa lại bài thơ rằng:
Càn khôn tú khí tự thành thân,
Tại thượng nhân hề bất hạ nhân.
Phối dữ sơn hà danh bất tử
Phù chi ư quốc bảo ư dân.

Nghĩa là:
Khí thiêng của trời đất chung đúc nên thân ta
Nên ở trên tất cả mọi người thường
Tên tuổi chúng ta bất tử cùng sông núi
Luôn luôn giúp nước và bảo vệ dân.

Dịch thơ:
Khí thiêng trời đất đúc nên thân
Vượt trên tất cả đấng thường nhân
Tên tuổi núi sông lưu bất tử,
Giúp dân cứu nước mãi thi ân.

Hai ông làm thơ yến tiệc xong bèn lên xe đem quân về triều, làm lễ bái yết vua. Vua lại phong cho ông Chiêu là Thái bảo Đại tướng quân, ông Tuấn làm Tham tri bộ Binh. Thời gian ấy trời lại ra tai ương gây hạn hán. Vua sai ông Chiêu đi tuần sát tình hình trong thiên hạ và cầu trời mưa. Ông vâng mệnh cất quân đi tuần sát thiên hạ. Được chừng một năm ông tiến quân đến vùng đất nào, truyền vùng đất ấy dựng đàn cầu mưa, tất cả đều thấy mưa xuống trút nước, ruộng ao đầy nước, lúa màu hồi sinh xanh tốt. Thiên hạ tất cả đều nhở vào công đức của ông, dân được no đủ yên vui. Các nơi nhân dân đều làm biểu tâu về triều. Vua nghe tin rất mừng bèn triệu ông về triều. Ông Chiêu vâng lệnh về triều, làm lễ bái tạ. Vua mở tiệc mừng và phong thưởng. Lại phong cho ông làm Vạn hộ hầu. Từ đấy vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh bình, không phải lo đến các việc như đói kém bệnh tật.

Lại nói triều Nội Minh có viên đại tướng giặc người nước Hàn tên là giặc Lân, làm loạn có đến trăm vạn quân tinh nhuệ. Nội Minh thế khó chống cự được, bèn cầu viện nước Nam giúp đánh giặc Hàn. Khi ấy vua bèn sai ông Tuấn, phong làm Thái thú lĩnh 20 vạn quân giúp Nội Minh trợ chiến. Ông Tuấn vâng mệnh trước sân đình làm lễ bái tạ, từ biệt nhà vua, đem quân đến giúp Nội Minh cùng Nội Minh chống cự với giặc Hàn. Ba năm đóng quân lưu trú ở hai đất Quảng Đông, Quảng Tây phòng thủ vững chắc cự chiến với quân giặc Hàn. Về sau dẹp được giặc Hàn, vua và triều đình Nội Minh (Vua Hùng là con của Đế Nghi, em của Đế Minh, chia cho Kinh Dương Vương lúc đầu ở Nam Man xưng hiệu là họ Hùng. Người anh là Đế Minh trị vì nước Nội Minh – đều là anh em) thấy ông Tuấn là bậc anh tài thu được đất Lưỡng Quảng (tức Quảng Đông, Quảng Tây), cho trở về đất Nam Man phong ông Tuấn làm Lưu thủ Nội Minh Đại vương, trấn thủ Lưỡng Quảng.

Ba năm sau, khi ấy Nam Man nước ta có giặc Ân, tướng giặc tên là Thạch Linh thần tướng, tiến quân đến Bắc Giang, có trăm vạn quân mạnh, cờ hiệu, binh khí rợp đất, tiếng chiêng trống vang trời. Biên giới có thư báo về gấp, có ngày 5 lần thư đến. Vua sai đình thần cử tướng đi đánh dẹp nhưng đều bị thua và bị giặc giết khá nhiều, khó tìm người chống cự lại được chúng. Khi ấy vua mới triệu tập ông Tuấn về triều đánh giặc. Ông vâng mệnh trở về triều làm lễ bái yết. Vua bèn lệnh cho cả hai ông Chiêu và ông Tuấn, phong ông Chiêu làm Chiêu ứng đại vương, ông Tuấn là, Nội Minh đại vương đem quân chống giặc Ân. Khi ấy hai ông bái biệt vua vâng mệnh đem quân tiến thẳng đến Bắc Giang. Hai ống đóng quân tại phủ Từ Sơn huyện Đông Ngàn. Hai ông tuyển mộ thêm các nghĩa quân và gia thân được 822 người (gia thần thủ túc ở trang Mẫn Xá cùng các họ tập trung được 237 người đi theo hai ông đánh giặc Ân).

Hai ông xây dựng doanh nghiệp đồn lũy tại huyện Kim Hoa đóng quân cố thủ chống cự giặc Ân. Trải qua một tháng đánh nhau ba bốn trận không phân thắng bại. Hai ông thấy quân giặc Ân càng tăng viện đông đảo mà thiên hạ đều hướng về nhà Ân, bèn làm biểu tâu về triều. Vua vô cùng lo lắng, triều đình đành chịu bó tay [trước giặc mạnh]. Ngay hôm đó vua cho dựng một đàn, tự thân trai giới hành lễ cầu bách thần trời đất âm phù giúp nước, mời trăm quan của triều về tập hợp tại đàn làm lễ. Sau ba ngày bỗng nhiên trời đất tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên, trên đàn mây khói cuồn cuộn, đúng lúc ấy thấy một ông lão, tóc mi bạc phơ, áo mũ chỉnh tề, thân cao 9 thước, ngồi ở ngã ba đường vừa dẫm chân múa vừa hát. Mọi người cho là rất kỳ dị bèn vào tâu với vua. Vua tự mình ra đón ông lão mời vào trong điện. Vua mời ông lão ngồi lên trên và hỏi ông lão rằng:

  • Nay nước nhà đang có giặc mạnh nhà Ân làm loạn, dám hỏi tôn lão việc thắng thua như thế nào, xin tôn lão chỉ giáo.

Tôn lão gieo tiền được quẻ “lương cửu”. Tôn lão bảo:

  • Hãy đi mộ tìm trong thiên hạ sẽ được người, không mấy chốc sẽ dẹp yên được giặc Ân.

Ông lão nói xong tự biến mất. Vua thầm nghĩ ông lão này ắt là hiện hình của vua Lạc Long Quân về báo ứng, bèn sai sứ giả đi mộ tìm trong thiên hạ. Thời gian ấy sứ giả đi tìm đến làng Phù Đổng huyện Tiên Du. Lúc ấy ở làng Phù Đổng có một nhà ông bà sinh được một con trai tên là Thiết Xung thần tướng, tuổi mới lên ba, ăn uống khỏe, to béo, chỉ có điều là chưa biết nói. Lúc ấy bà mẹ nghe sứ giả rao đến mới nói đùa với con rằng:

  • Nay nước nhà có giặc mạnh, sứ giả đi chiêu mộ người tài giỏi trong thiên hạ để dẹp giặc. Vua ắt sẽ ban thưởng công lao. Nay con mẹ chỉ biết ăn uống mà không biết đi đán giặc để được triều đình ban cho tước trọng, báo đáp công ơn sâu nặng của mẹ bú mớm nuôi nấng.

Nghe mẹ nói, người con bỗng thốt lên lời bảo mẹ:

  • Mẹ phải mời sứ giả vào đây.

Bà mẹ cho là sự việc rất lạ bèn mời sứ giả vào cho gặp. Người con vẫn nằm và bảo sứ giả rằng:

  • Ngài hãy trở về và báo gấp, chế tạo một con ngựa sắt cao 30 thước, dài 10 trượng, một cây roi sắt trăm cân mang đến cho ta, để mặc ta đối phó với giặc Ân, vua không phải lo gì nữa.

Người sứ giả nghe nói, bèn vái chào chạy về tâu đầy đủ lên vua. Vua nghe chuyện rất mừng, sai chế ngựa sắt roi sắt. Đồng thời sai ông Chiêu và ông Tuấn, cưỡi tuấn mã, cầm theo long đao cùng các tướng sơn bộ, thủy bộ đem quân đi theo hai bên tả hữu trợ chiến cùng Thần vương. Ngay hôm ấy hai ông vâng mệnh trước sân triều đình đem ngựa sắt, roi sắt đến trước sân nhà, [Thần vương] bỗng vươn mình lớn mạnh, cao ngoài 30 thước, sức khỏe kinh thiên, lập tức cầm roi nhảy lên ngựa, hét vang bảo rằng:

  • Ta là tướng nhà trời.

Ngựa phi nhanh như bay. Kh ấy ông Chiêu và ông Tuấn phi ngựa theo hai bên tả hữu. Chỉ trong khoảnh khắc tiến thẳng đến núi Sơn Việt, bắt được tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng chém làm ba đoạn. Quân giặc Ân bỗng thấy vậy sợ kinh hồn bỏ chạy tán loạn đại bại. Ông Chiêu, ông Tuấn cùng Thần vương đem quân truy đuổi, chém được hơn 3000 đầu giặc. Sau một chốc rơi mất roi sắt, Thần vương bèn nhổ tre đâm vào quân giặc. Giặc chết rất nhiều. Giặc Ân bị quét sạch, đất nước thanh bình. Hai ông trở về kinh đô làm biểu tâu lên. Vua được tin rất vui mừng. Khi ấy Thiết Xung thần vương đánh xong giặc Ân bèn phi ngựa thẳng tới núi Ninh Sóc, cưỡi ngựa phi thẳng lên trười (đến nay dấu chân ngựa vẫn còn). Vua bèn truyền lệnh cho nhân dân địa phương lập đền thờ phụng.

Lại nói, về hai ông, Vua có chiếu triệu hai ông về triều. Hai ông vâng mệnh đem quân về triều làm lễ bái yết. Vua mở đại tiệc khao thưởng quân sĩ ba quân. Từ đấy hai ông ở trong triều làm việc, chức đến hàng Tam công tước tòng nhị phẩm. Được nửa năm lại có giặc Ô Lý nổi lên. Vua lại sai hai ông đem quân dẹp giặc. Hai ông vâng mệnh làm lễ cất quân. Đem quân tiến đánh một trận, giặc Ô Lý đại bại tan tác, hai ông truy sát được rất nhiều quân giặc, thu lấy toàn bộ khí giới đem về kinh, làm biểu tâu lên.

Vua bèn triệu hai ông về. Hai ông vâng mệnh đem quân trở về đến núi Dũng Quyết huyện Nghi Xuân châu Hoan bỗng thấy mưa to gió bão nổi lên, trời đất tối sầm, lại thấy hai mảnh cầu vồng xuất hiện ở thân người hai ông. Hai ông bay thẳng lên trời đi mất, mầu sắc rực rỡ huy hoàng cũng đột nhiên tan biến. Hôm đó là ngày 5 tháng 10, hai ông cùng hóa. Lúc ấy quân sĩ tán loạn khiếp sợ, trong chốc lát, trời tạnh mây quang. Quân sĩ và nhân dân nghe tin đều tập trung đến đã thấy hai ông hóa rồi. Mối đất đã đùng thành ngôi mộ lớn, chỉ còn thấy đai lưng và mũ của hai ông trên mặt đất. Quân sĩ và nhân dân thấy thế cho là kỳ lạ mới làm biểu tâu về triều. Vua biết tin vô cùng thương tiếc hai vị bề tôi hiền tài có nhiều công lao đối với nước, nên sai quan triều đình về nơi hóa, truyền sai dân địa phương dựng đền thờ phụng. Lại truyền trang Mẫn Xá vốn là dân hộ nhi tu sửa cung sở thờ phụng, được miễn trừ khoản đóng góp binh lương. Hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế. ngay hôm ấy vua khen phong mỹ tự được vào bậc Thượng đẳng phúc thần trường tồn cùng trời đất, mãi mãi được ghi nhớ tôn thờ.

Thời gian ấy các quan triều đình được sai về các cung sở của hai ông truyền dân lập bàn thờ thờ phụng.
– Phong [ông Chiêu] là Vạn hộ Chiêu ứng đại vương
– Phong [ông Tuấn] là Lưu thủ Nội Minh đại vương.

Chuẩn y cho 8 giáp thuộc trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ, hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế.

Lại nói đến các thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 349 năm đến nước Nam ta trải bốn triều Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ [thần] giúp nước cứu dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, dẹp giặc thành công. Cho nên các vị đế vương các triều khen phong là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, rất sùng kính, thịnh vượng vậy.

Lại nói vào thời Triệu Việt Vương phò giúp Lý Nam Đế đánh dẹp giặc Lương. Thời gian ấy quan đại thần của Triệu Việt Vương là Trương tướng quân Hống Hát Phục Man đại vương đem quân đi đánh giặc Lương, đi qua cung sở, đền thờ ở Mẫn Xá. Thấy đền trang nghiêm rực rỡ, tướng quân họ Trương bèn cầu đảo khấn xin âm phù giúp nước dẹp giặc, thành công ắt sẽ tâu lên vua khen phong làm Thượng đẳng phúc thần, muôn đời thờ phụng. Khấn xong thấy chân hương bỗng hóa cháy nghi ngút, trong đền có tiếng vang ầm ầm như tiếng sấm. Quan quân thấy sự hiển linh thật lạ kỳ, bèn làm lễ cảm tạ. Về sau dẹp được giặc Lương, bèn truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.

Đến triều nhà Lý sau này được 8 đời, vua Lý Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, lại cũng tiến đến qua cung sở đền thờ ở trang Mẫn Xá, bỗng thấy hai con rắn hoa mày ngũ sắc rực rỡ dài hơn 1 trượng, nằm cuộn tròn ở ngoài cửa đền thờ. Đến khi vua tiến quân đến bèn ngóc đầu dậy trước xe cúi đầu như bái lạy nhà vua, rồi bỗng bò vào trong đền biến mất. Vua thấy thế cho là đền rất linh thiêng bèn hỏi các cụ già trong dân:

  • Đền thờ vị thần nào vậy?

Các cụ trả lời:

  • Đền thờ danh tướng triều Hùng Vương.

Vua nghe xong bèn cho dừng xe, và dừng quân một lát. Truyền cùng quân sĩ vào đền làm lễ mật đảo âm phù giúp nước đánh dẹp giặc. Chỉ một trận dẹp được giặc Chiêm. Vua lại phong là “Thượng đẳng tối linh [Thần thiêng bậc thượng đẳng].

Vào cuối thời nhà Trần họ Hồ tranh quyền (tức Hồ Quý Ly). Quân nhà Minh nhân thế chiếm lấy nước ta. Lúc bấy gờ ở núi Lôi Dương huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có người họ Lê tên Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, có đến 3000 quân mạnh trừ họ Hồ, bình định giặc Minh. Bấy giờ Lê Thái Úy vâng mệnh Lê Lợi đem quân đánh họ Hồ và quân Minh, hành quân qua cung sở đền thờ ở Mẫn Xá, thấy miếu đền trang nghiêm rực rỡ, bèn cho dừng xe, đem quân vào đền, nghỉ lại đó một đêm. Làm lễ mật đảo cầu đọc văn xin âm phù giúp nước trừ giặc thành công, đợi khi thanh bình cùng hưởng cảnh thái bình thịnh vượng. Đọc chúc xong chỉ trong khoảnh khắc thấy một đàn ong mật bay vào tụ họp đầy cả cung đền, tiếng kêu vo vo không dứt. Đến nửa đêm hôm đó Thái Úy thiu thiu mơ màng, bỗng thấy hai vị quan cao lớn đường hoàng, mũ rồng giáp ngọc rực rỡ, đai phượng, áo bào gấm sáng chói, tay cầm long đao cùng bảo:

  • Nay thấy vua Lê mở vận, xin được âm phù trừ giặc thành công.

Quan Thái Úy đang nghe nói chưa hết bỗng bừng tỉnh thì khi ấy trời đã sáng rõ. Thái úy cho là hiển ứng lạ kỳ bèn làm lễ cảm tạ, rồi ngay hôm ấy đem quân đi đánh giặc, chẳng bao lâu quét sạch cả giặc nhà Hồ lẫn nhà Minh. Trăm quan phò nhà Lê lên làm vua ở Lam Sơn, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, tức Lê Thái Tổ Cao Hoàng đế. Từ đấy các triều vua nhà Lê đều khen tặng mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, làm mẫu mực tôn thờ mãi mãi. Chuẩn cho trang Mẫn Xá làm hộ nhi sở thờ phụng, mỗi năm vào hai kỳ xuân, thu sai quan triều đình đến làm lễ tế.

Phong Vạn hộ Tối linh Đại vương
Phong Lưu thủ Tối linh Đại vương.

Chuẩn cho trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ. Các điều lệ quy định nghi lễ ngày sinh ngày mất, ngày chúc mừng của thần và các màu sắc cấm kỵ, cũng như tên húy của thần kê khai như sau:

Ngày sinh của hai vị đại vương: ngày 10 tháng 3, đến 12 tháng 3 là lễ chính tế. Làm lễ nhập tịch 10 ngày, trước đó 3 ngày thì chuẩn bị mâm bàn, các thức chay như trà, hoa, oản, chuối, các thức mặn thì mổ lợn gà làm cỗ. Các trò vui có đấu vật, cờ, ca hát sau 10 ngày thì làm lễ tạ.

Ngày hóa của hai vị đại vương: ngày 5 tháng 10, đến 10 tháng 10 là lễ chính tạ. Lễ vật hành lễ có cỗ chay, trà, hoa quả, thịt lợn, bánh dày, xôi rượu, vàng mã.

Lễ Khánh hạ [lễ mừng]: ngày 4 tháng Giêng. Lễ dùng cỗ chay, cũng có thể dùng thịt lợn, gà xôi, rượu và ca hát được.
Lễ Đại khánh hạ [đại tiệc mừng]:ngày 10 tháng 8, làm lễ tế rước như ngày lễ sinh nhật, ca hát 3 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 5, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 11, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.

Các chữ kiêng húy: Chiêu, Tuấn, Minh ba chữ cùng tên cha mẹ của thánh nhất thiết cấm không được dùng.
Ba màu: vàng, tía, hồng đỏ, khi làm lễ cấm dùng.

Ngày 10 tháng Giêng niên hiệu Hồng Phúc thứ nhất [1577 – triều Lê Anh Tông] Đông các Đại học sĩ Viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn [ngọc phả]

Ngày 1 tháng 5 niên hiệu Tự Đức thứ 11 [1858] bản xã đến xã Bằng Đắng huyện Bạch Hạc phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây vâng sao lại từ bản chính.

Vâng sao lại lần nữa ngày 24 tháng 3 niên hiệu Bảo Đại thứ 7 [1933].

Thần tích Hiệp Phù, tổng Hạ Dương, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Hiệp Phù tổng Hạ Dương huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 1938, lưu tại Viện thông tin Khoa học xã hội, số hiệu TTTS3240.

Ghi chép về đền thần ở bản xã

Tích thần hiển tỏ từ thời thượng cổ. Truyền rằng thời Hồng Bàng Thị đời vua Hùng thứ 6 nước Văn Lang có vị khanh triều Hùng là Bạch Sam, có tài lược văn võ, trung trinh. Khi quân Ân đánh vào bộ Vũ Ninh, một vùng khổ sở vì can qua. Vua sai sứ đi khắp thiên hạ để cầu người có dũng lược, thiện chiến có thể phá được giặc, được một người con nhà ông Đổng giàu có tự xin được giúp đánh giặc. Vua bèn bái làm Thượng tướng, ban cho gươm ngựa, lệnh cho Bạch Sam là Đốc chiến. Đổng Thượng tướng lên ngựa, múa kiếm, chưa đến một ngày phá tan quân Ân ở dưới núi Vũ Ninh. Chúng đều quỳ lại, xưng là Thiên tướng.

Thế rồi Đổng Thượng tướng cưỡi ngựa đến thẳng núi Sóc Sơn, bay lên trời giữa ban ngày. Còn Đốc tướng Bạch Sam khải hoàn về Văn Lang tâu báo tin chiến thắng. Vua khen công lao to lớn đó, lệnh cho Bạch Sam mang cờ tiết đến phong Đổng Thượng tướng là Đổng Thiên Vương, lập đền ở đất cũ làng Đổng, năm tháng truy thờ. Phong Đốc tướng là Hùng hầu, lấy vùng sông Thiên Đức làm thực ấp.

Một hôm ông đóng quân ở thôn Tố xã Phù Ninh, duyên may gặp Lý Nương. Nương tuổi mới 15, có vẻ mạo đoan trang. Ông thích thú mà đón về kết phối. Một nhà hòa hợp, cầm sắt đàn vui. Từ sau lễ truy thờ Thiên Vương một vùng trở thành 5 huyện dân, đều rất yêu mến ông. Đến tuổi 83 thì ông mất, chôn cất ở nơi đất phúc trong vùng, lập đền thờ ở thôn Tố. 10 nơi xứ năm tháng đều tế thờ. Đền thờ này linh thiêng tỏ rõ, có thể giữ đất giúp dân, ngăn tai ương, trừ hoạn nan, gặp hạn cầu đảo được mưa, có sự việc cầu tất được, qua các thời đều anh linh bất hủ. Thời Sĩ Vương phong Hùng Hầu Bạch Sam là Linh ứng Hiển thông Phúc thần. Lý Nương là Phương tư Nương nương. Trải các đời hưởng thờ, dân cầu đều quả được ứng nghiệm…

(Phần sau là sự hiển ứng và gia phong các đời, không dịch)

Thần phả làng Hiên Ngang, Tiên Du, Bắc Ninh

Theo bản dịch từ bia đá tại làng Ngang Kiều của Nguyễn Công Hảo trong sách Tìm hiểu về truyền thuyết ba làng Ngang ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh, NXB Mỹ thuậ, 2018.

Họ [Đất] Việt [ta] thường có 18 Thánh chủ ngự trị, đi tuần Ngũ Lĩnh phương Nam, khai sáng Hùng đô nước Việt. Mở đầu là ông Đế Minh [Thánh đế minh vương] xây dựng nên thành đô cung điện nhất [thống] 15 bộ.

Đến đời Kinh Dương Vương lập nước lấy tên là Xích Quỷ truyền ngôi cho Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ lập nên chính cung, sinh được bọc trứng trăm trai, đều là anh hùng cái thế, trí dũng song toàn. Lạc Long Quân – Âu Cơ chia 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên rừng. Người con cả Hùng Đoàn theo mẹ được kế tiếp làm vua gọi là Vua Hùng truyền 18 đời. Chuyện này đời Hậu Lê [Trần] có thơ rằng:

Mười tám chi vua vẫn nối truyền
Trăm trai một bọc giống Rồng Tiên
Trời Nam đất tổ muôn đời định
Đức rộng, tài cao bậc thánh hiền.

Đến đời vua Hùng Huy Vương thứ 6 ngự đô ở Việt Trì – Bạch Hạc giang. Kiến quốc gọi là nước Văn Lang, thủ đô hiệu là Phong thành (Phong Châu). Từ khi Hùng Huy Vương lên ngôi lấy khuôn phép để trị dân, đất nước hưng thịnh, thiên hạ thái bình an lạc.

Lúc bấy giờ trong triều chính có quan Bồ chính họ Hùng tên Chạc lấy vợ ở phủ Đà Giang, thôn Phượng Mao, tên nàng là Đinh Châu Hoa. Hai vợ chồng ở với nhau ý hợp, tâm đầu, thật là “cầm sắt duyên hài, phu thê hòa hợp, trượng phu thục nữ, quân tử thuyề quyên, tương hoan tương ái”. Đã hơn 5 năm chung sống mà hai vị “lan phòng chưa thấy sinh hương, quế hộ không thấy khai đà đóa hoa”. Một hôm Bồ chính Hùng Chạc tâm tình với phu nhân Châu Hoa:

  • Nhà ta vốn dòng hoàng gia phúc hậu, bách tử thiên tôn rất là đông đúc, hoặc thái quá mà bất cập, hoặc đầy quá mà lại nghiêng, hay thịnh rồi lại suy, lấy nhân nghĩa làm đại bản, đem thiện đức để cảm dân, không mảy may nào là làm điều ác. Thế mà trời lại phụ ta ư, hay là tổ tiên phần mộ bị khuyết khung, hay đoản thương long mạch thế nào mà đến nỗi khó bề sinh dưỡng. Nay ý tôi muốn đi các địa phương nào có những linh từ, linh tự nào linh thiêng để cầu tự. Đồng thời cũng là để tìm các danh sư, tướng địa để di chuyển mộ tổ xem sao.

Hai vợ chồng thành tâm sắm sửa lễ vật du ngoạn về Kinh Bắc vì nghe nói vùng này có nhiều linh từ, linh tự đẹp và linh thiêng. Một hôm đi đến Kinh Bắc nghe thấy ở Lãm Sơn Khê Nham có cổ tự Lãm hiện đang mở hội. Nhân dân xa gần đến lễ Phật, ngoạn cảnh rất đông. Hai vợ chồng quan Bồ chính cũng vào đó lễ Phật, ngoạn cảnh và cầu tự một thể. Khi hai vợ chồng đang đi xem phong cảnh, do cảnh đẹp quên cả thời gian, thì trời đã về chiều. Hai vợ chồng mới vào chùa lễ tạ, xin phép sư trưởng trụ trì để về nhà trọ trong dân. Khi ra đến bãi trước chùa, chợt trông thấy một ông lão mình mặc áo xanh, tay cầm một cành hoa hải đường, theo sau là một chú thanh đồng, tay cầm một cái La kinh, theo hướng từ cổng chùa đi lên. Quan Bồ chính trông thấy La kinh liền nghĩ:

  • Đây chắc là thầy địa lý.

Quan Bồ chính dừng bước và thi lễ vái chào ông lão:

  • Vợ chồng tôi rất hân hạnh được gặp tôn ông. Trộm nghĩ tôn ông là người Tướng địa, may lắm, may lắm. Tôn ông có thể giúp vợ chồng hèn mọn này một việc được chăng?

Ông lão dừng bước:

  • Cầm ta giúp việc gì cứ nói rõ.

Hai vợ chồng quan Bồ chính tiếp tục quỳ vái:

  • Xin tôn ông dạy bảo, chỉ cho ngôi đất tốt, giúp vợ chồng hèn mọn này đặt ngôi sinh phần tránh được tiệt phúc.

Ông lão cười và nói rằng:

  • Việc tuy là đạo Trời, nhưng phải là người có phúc mới thành đạt. Mọi việc căn bản ở Phúc – Đức. Phúc chỉ đãi những người có thiện tâm. Thấy vợ chồng ông thi lễ và xem qua là người ăn ở có phúc, có đức. Thôi đã xin thì ta chỉ cho. Còn được hay không là tùy đạo Trời.

Nói rồi ông lão lấy gậy vạch ở đường một bài thơ:
Muốn tìm ngôi đất tốt
Thì lên núi Tản Viên
Phúc ông Trời ưu đãi
Mạch đất chẳng khó tìm
Ngôi ở nơi Trung cấp
Huyệt chính tại Tả biên
Một bọc hai quý tử
Long – Sơn tài cái thế.

Lão ông vạch xong bài thơ, tự nhiên hóa thành một con hổ chạy vào núi biến mất. Vợ chồng Bồ chính Hùng Chạc – Đinh Châu Hoa cả sợ thất kinh, biết là có Trời giúp đỡ. Sáng hôm sau về đến gia phủ tiến hành dời ngôi mộ tổ lên Tản Lĩnh Linh sơn. Khi còn đang ngơ ngác tìm kiếm vị trí như bài thơ ứng bá “Trung cấp, Tả biên” ở đâu thì bỗng thấy một con hổ miệng cầm hòn đất chạy đến đặt trước mặt, rồi phóng chạy mất. Quan Bồ chính biết là thần đã dẫn bảo, liền đặt mộ tổ tại vị trí hòn đất lưu lại của hổ, làm lễ an táng chu toàn rồi ra về.

Được 100 ngày thì một đêm Hùng công đang mơ màng nhìn thấy ông lão Tướng địa mà hai vợ chồng gặp ở Kinh Bắc trước đây đi vào nhà. Ông vội vàng quỳ xuống thưa hỏi:

  • Thưa thầy, từ khi vợ chồng tôi được gặp thầy, được thầy chỉ bảo chỗ đất thiêng, chưa biết thầy ở đâu để báo đáp. Ơn thầy sao quên. Thầy cho biết quê hương, bản quán để vợ chồng chúng tôi được đến để tạ ân.

Ông lão cười ha hả và nói rằng:

  • Ta là Khổng Lồ Tổ giáo Thiền sư. Ta thấy vợ chồng ông có lòng thành kính và sống có lương tâm phúc hậu, cho nên ta hiện xuất để báo cho ông ngôi đất tốt, chứ ta có phải ông thầy Tướng địa trên nhân gian đâu.

Nói xong ông lão ngoảnh lại bảo chú thanh đồng lấy ở trong túi ra một bài thơ đưa cho quan Bồ chính Hùng Chạc, đại ý bài thơ ghi:
Dòng dõi nhà Hùng đức hậu dài
Được đất sinh thành quý tử hai
Bao gồm sông núi ngàn năm vững
Tiếng thơm rực rỡ chẳng bao phai.

Hùng công xem xong chưa kịp nói gì thì tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng. Từ dấy bà Đinh Châu Hoa có mang. Khoảng 7 tháng sau, bấy giờ là mùa đông, Hùng công được vua mời vào thế sự. Khi về đến gia phủ thì tạ thế. Hôm ấy ngày 10 tháng Chạp năm Bính Ngọ. Nhà vua cho tổ chức lễ an táng tại gia phủ.

Đến ngày mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mùi, thái bà Châu Hoa mãn nguyệt khai hoa sinh một bọc hai người con trai. Mới sinh đã có tướng lạ, thân hình cao lớn khác thường, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Lúc Thái bà sinh tự nhiên có mây ngũ sắc đầy trời, chim chóc kéo đến hót vang. Có cả đàn hổ con kéo đến quanh phủ, làm mọi người trong phủ vừa kinh sợ, vừa thấy lạ.

Khi hai chàng trai 3 tuổi, một đêm Thái bà nằm mộng thấy phu quân Hùng Chạc hiện về báo mộng đặt tên con: Một là Hùng Long, một là Hùng Sơn. Đến năm 16 tuổi thì hai người đều cao lớn, vạm vỡ trở thành anh hùng cái thế, dũng lược quả nhiên. Long công có tài xuống bể, đi trên mặt nước như đi trên mặt đất. Đi đến đâu thì các loài thủy tộc đều bơi đến hướng chầu. Các loài thủy tộc hại người đều lùi xa vạn dặm ngoài biển khơi. Sơn công có tài đi bộ leo núi nhẹ như đi đường bằng, đi vào rừng các loài muông thú đều tụ tập đến hướng chầu. Các loài thú dữ hại dân thì sợ một phép, lui dần về rừng sâu.

Cả hai vị đều thông minh, trí tuệ, đức trọng, tài cao, kỳ mưu dị thuật. Các tướng sĩ trong triều đều nể phục. Vua Hùng Huy Vương biết tài hai vị liền triệu vào cung phong chức:
– Hùng Long công làm Trướng long chu Thủy đạo Tướng quân.
– Hùng Sơn công làm Nhạc phủ Tướng quân.

Bấy giờ có giặc nhà Ân sang xâm lược nước Văn Lang. Thủ lĩnh giặc Ân là Thạch Linh thần tướng cầm đầu, đem quân từ phương Bắc sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất hùng mạnh, cờ quạt, giáo mác, ngựa chiến hành quân mù mịt cả đất trời. Đi đến đâu chúng cướp phá của cải, đánh giết dân lành. Các vị quan trấn thủy biên thùy thua trận, cấp báo về triều đình, cũng là lúc giặc Ân đã tiến đến vùng Kinh Bắc, lập trú đồn trại, củng cố binh mã để tiến đánh Phong thành. Vua Hùng Huy Vương liền triệu hai vị Hùng Long, Hùng Sơn về triều, cấp binh mã, lương thực, tấn phong làm tướng ra trận đánh giặc Ân. Hùng Long là Thủy đạo quân Thống lĩnh binh mã. Hùng Sơn là Nhạc hầu phó tướng lĩnh quân. Một thuộc 50 thủy bộ. Một thuộc 50 sơn bộ.

Hai vị tuân lệnh, đem 2000 quân binh hành quân gấp đến Kinh Bắc. Một mặt huy động các anh hùng hào kiệt ở các phủ, trang, ấp, đồng thời động viên dân binh xây dựng các đồn lũy để chuẩn bị cuộc chiến với giặc Ân. Một mặt Long công lập doanh trại ở hai chi nhánh: sông Nguyệt Đức và sông Nhị Hà để trấn giữ đường thủy. Một mặt Sơn công lập đồn trại từ Phong thành đến Kinh Bắc để trấn giữ đường bộ.

Một hôm hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiến quân đến khu núi tại trại Hiên Đường, thuộc huyên Tiên Du. Hai vị vốn có thiên bẩm anh tài, thông hiểu địa lý, nhìn thấy dải núi ở đây hình thù như một con rồng nằm uốn khúc, xung quanh có nước bao bọc. Thật là khí đất thiêng. Hai vị quyết định lập đồn trại tại đây. Khi khảo sát địa hình tìm thấy một khu đất nổi lên hình thế “chân long quý cục”, hai bên có hai gò đất chầu lại. Tiếp đến là khu đất có hình thế “long cảnh”, nghĩa là cổ rồng, phong thủy gọi là “Tả hữu hội tụ”. Trước mặt có “khai hoa minh đường thủy tụ”. Lại có con đường cái nhỏ chạy qua trước mặt. Hai bên có hai giếng tựa mắt rồng. Tiếp xuống chân núi lại có khu đất hình thế “chân long chi vĩ” như cái đuôi con rồng. Phong thủy gọi là “Vĩ long chính cục”. Trước mặt có ba cánh đồng nước hợp lại, thật đúng là “hội đáo minh đường, kim quy chấn trạch”. Đằng trước lại thấy một khu đất nổi lên như hình con phượng nằm ẩn mình. Hai bên có hai dải đất, một bên hình nghiên bút, một bên hình quyển sách, thực là “thiên địa bài, chung linh đại địa”. Hai vị quyết định lập bản doanh tại ba vị trí đắc địa trên.

Hôm ấy là ngày mùng 4 tháng Giêng, đẹp ngày, hai vị tiến quân đến vùng đất này. Nhân dân trang ấp Hiên Đường đón tiếp nồng nhiệt và tổ chức lễ ăn mừng khao quân sĩ. Đất đắc địa, lòng dân thuận, hai vị quyết định làm lễ lập đồn trại cùng ăn ừng với nhân dân.

Khu đất “chân long quý cục” thuộc trang Kiều là chính trại chỉ huy. Trung trại ở khu đất “chung linh đại địa” thuộc trang Na. Tiền tiêu ở khu đất “chân long chi vĩ” thuộc trang Nội. Đồn trại được lập theo thế liên hoàn hình chữ Vương để chuẩn bị đối phó và dàn trận chống lại giặc Ân. Lúc nào nhân dân ở trang ấp Hiên Đường có 7 họ: Lê, Nguyễn, Trần, Trương, Mai, Cao, Trịnh. Các trưởng họ đều được hai vị bổ nhiệm chức “tộc trưởng”. Các trai tráng được bổ sung vào quân sĩ và lập các đội dân binh. Dân số Hiên Đường lúc này có khoảng gần 300 nhân khẩu.

Từ đấy hai vị Hùng Long, Hùng Sơn đã an cư ở đồn trại, ngày đêm luyện tập quân sĩ và tiến đánh giặc Ân ở núi Vệ Linh. Gần nửa năm đã đánh đến 30 trận đều thắng trận, bắt trên 30 tên tướng giặc Ân nộp về triều đình, đuổi được giặc Ân về nước.

Thua trận, giặc Ân củng cố lực lượng, tăng thêm quân sĩ tiếp tục tiến đánh Văn Lang, thế giặc mạnh gấp nhiều lần. Được tin báo giặc lại vào xâm lược, hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiếp tục củng cố lực lượng ở các trại Hiên Đường và hai đường thủy bộ trên sông Cầu, Nhị Hà và đường bộ lên phương Bắc. Nhưng thế giặc mạnh, hai vị không chặn được, đành lui về cố thủ ở trại Hiên Đường và cấp báo về triều đình.

Hùng Huy Vương lập tức triệu tập quần thần để bàn việc đánh giặc. Đã qua 3 ngày nhưng chưa tìm được kế đánh giặc. Đến ngày thứ tư bỗng xuất hiện một ông lão mình cao 9 thước, cứ ngồi ở cổng thành cười, múa, hát vang. Nhân dân trông thấy lấy làm lạ, vào bẩm báo với vua. Hùng Huy Vương thân chinh ra đón vào dự hội nghị quần thần và hỏi:

  • Trông tướng mạo tiên sinh chắc không phải người thường. Vậy tiên sinh có kế sách nào hay để giúp dân ta đánh đuổi giặc Ân, xin tiên sinh chỉ giáo cho?

Lão ông nghĩ một lát rồi lấy một vật gì đó trong tay nải gieo quẻ, xong rồi nói:

  • Phải cầu lấy một người có tài “thần vũ” đến hỗ trợ cho Long – Sơn tướng quân, ắt giặc phải tan và từ bỏ dã tâm xâm lược.

Nói xong đi thẳng ra cổng biến mất. Hùng Huy Vương và quần thần thấy lạ, nhưng vẫn quyết định cử quân sĩ đi loan báo cầu người tài khắp đất nước để tìm được tướng “thần vũ”. Đêm ấy, Hùng Huy Vương lại có giấc mơ gặp ông lão ban ngày. Ông lão xưng là Lạc Long Quân và cho biết thêm việc tìm người tài đánh giặc:

  • Cứ đến làng Phù Đổng, ắt tìm được.

Tỉnh dậy, vua liền cho quân lính về làng Phù Đổng để tìm “thần vũ”. Quân lính đến Phù Đổng loan báo thì được cậu bé lên 3 tự xưng là Thiết Xung ở với một bà mẹ nhà rất nghèo mời vào và nhận lời giúp vua đánh giặc. Bà mẹ Thiết Xung cho là con mình đùa cợt, vì từ khi bà dẫm vào vết chân lạ ở vườn cà, rồi có mang sinh ra cậu bé, lên 3 vẫn chưa biết nói, biết cười. Tự dưng nghe sứ giả loan báo, cậu bảo mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc. Thiết Xung nói với sứ giả:

  • Về tâu với vua cấp cho tôi một con ngựa sắt 10 thước, một áo giáp sắt và một chiếc đĩnh dài 10 thước, tự khắc tôi sẽ đánh thắng giặc.

Sứ giả đem những lời tâu đó về bẩm với vua. Hùng Huy Vương vui mừng cấp tốc cho đúc ngựa, rèn thiết đĩnh đưa về làng Phù Đổng và phong chức cho cậu bé là Thiết Xung Thần Vương, lệnh cấp tốc về Hiên Đường cùng Hùng Long, Hùng Sơn đánh giặc.

Ngày 10 tháng 8 hai vị Hùng Long, Hùng Sơn thiết yến hội binh cùng Thiết Xung Thần Vương ở Hiên Đường và ra lệnh xuất quân. Thiết Xung Thần Vương lĩnh đội kỵ binh, tiền quân. Hùng Long lĩnh đội thủy quân, trung quân. Hùng Sơn lĩnh đội bộ binh, hậu quân.

Ba đạo quân tiến thế liên hoàn đại chiến với giặc Ân ở núi Vệ Linh sơn, mới đánh một trận giặc Ân thua to, thi nhau tháo chạy. Quân Văn Lang thừa thắng truy quét. Mải truy quét giặc và đánh quá hăng tự nhiên thiết đĩnh của Thần Xung bị gãy. Thần Vương liền nhổ các bụi tre quật, kẻ bị cháy khiếp vía kinh hồn, chết như ngả rạ. Thắng trận về đến núi Sóc Sơn, Thần Vương cưỡi ngựa sắt bay về trời. Sau được vua Hùng Huy Vương phong là Phù Đổg Thiên Vương.

Hùng Long bên đường thủy cũng tiếp sức đánh tan các chiến thuyền của giặc Ân. Trên bộ Hùng Sơn chỉ còn việc bắt sống những tên giặc còn sống sót đưa về báo công với triều đình. Thắng trận trở về Long công đi dọc bờ sông Nguyệt Đức, tự nhiên có một trận mưa to gió lớn, trời mây mù mịt. Long công tự hóa trên dòng sông. Sơn công rút quân về đến doanh trại Hiên Đường. Nhân dân nô nức đổ ra đón mừng. Đêm ấy tự nhiên có một đám mây ngũ sắc bay về, sấm sét nổ ầm ầm, mây mù tối tăm. Sơn công cũng tự hóa, mối đùn thành mộ.

Nhân dân và quân sĩ cho là điềm lạ, cấp tốc tâu về triều đình. Vua Hùng Huy Vương vô cùng thương tiếc và giao đình thần đem sắc chỉ tặng phong và ban thưởng cho nhân dân Hiên Đường. Miễn tô thuế, thiết lập hội đồng tại sở thờ phụng lập đền thờ để cả nước cùng thờ phụng. Đồng thời phong tước cho hai vị tướng:
– Long công được phong là Uy Long Đại vương.
– Sơn công được phong là Uy Sơn Đại vương.

Ban sắc chỉ cho nhân dân Hiên Đường thờ cúng hai vị ở chính lăng từ sở tại. Cứ mỗi năm xuân thu nhị kỳ khiển quan tế lễ. Các nơi thờ cúng hai vị trong cả nước có tất cả 42 đền thờ.

Lại nói đến thời Đông Hán, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm 349 năm cho đến nước Nam trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần 4 họ đã khai sáng ra cơ đồ lớn đều ban thưởng người có công. Khi triều Lê Trang Tông có quan đại thần Thái úy cũng khởi nghĩa quân diệt nhà Mạc. Quan Thái úy có yết kiến đền thờ hai vị Uy Long Đại vương, Uy Sơn Đại vương ở Hiên Đường và xin cầu giúp nước. Trận đó Thái úy diệt xong nhà Mạc.

Đến hiệu Lê Vương Bình, khi đó còn nhà Mạc lên ngôi hoàng đế đã phong 4 chữ “Vạn cổ Phúc thần” cho hai vị tướng quân ở đền thờ Hiên Đường. Xuân thu nhị kỳ cả nước hương hỏa lâu dài thịnh vượng.

Các ngày lễ. Các ngày sinh, hóa, khánh tiết tế lễ:
Ngày 8 tháng 2 là ngày sinh hai vị Hùng Long, Hùng Sơn.
Ngày 12 tháng 9 là ngày kỵ nhật.
Ngày mồng 4 tháng Giêng là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 5 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 7 tháng 7 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 8 là ngày Khánh hạ.
Ngày 10 tháng 12 là ngày Khánh hạ (khai sắc), ngày kỵ nhật quan Bồ chính Hùng Trạc.

Các tên húy: Long, Sơn, Chạc, Châu (bốn chữ).

Chi phí làm bia: mua bia đá hết 53 quan. Thuê mang về hết 15 quan. Thuê khắc chữ hết 45 quan.

Kính soạn Thần tích ngày 10 tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ nhất. Người phụng soạn Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn …

Thần tích làng Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Trích bản khai năm 1938 của làng Đại Lâm, tổng Phong Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, ký hiệu TTTS3649 lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Tên làng: xã Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 大林社豊舍縂安豊縣北寧省

Thần thành hoàng:
1 vị duệ hiệu là 輔國公嚴大王 [Phụ quốc Công Nghiêm Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 海國濟治大王 [Hải Quốc Tế trị Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 佐治明天大王[Tá Trị Minh Thiên Đại vương]
Các ngài là Thủy thần, đức Minh Thiên là Thiên thần.

Sự tích các ngài: Thế truyền về đời vua Hùng Vương, ở xã An Khang, huyện Yên Mô có 1 phú ông họ Phạm, tên là Đài, vốn nhà hào phú, dòng dõi phong lưu, lý số nho y mọi nghề tinh thạo. Ông lấy vợ người họ Hán, đến năm ngoài 30 tuổi, không may bà vợ mất sớ, sinh hạ 1 người con gái tuổi vừa 16. Ông muốn gả chồng cho con. Người cùng làng, sắp toan định ngày nghi thất nghi gia. Lại gặp lúc trong địa hạt mình xảy ra nhiều trộm giặc, đua nhau cướp bóc của cải thôn dân. Vù thế lòng ông chán nản, muốn tìm nơi cảnh vắng mà an dưỡng tuổi già. Ông bèn thu xếp cửa nhà cùng với con gái thẳng ra miền Kinh Bắc lánh nạn. Khi đi có mang 1 giỏ thuốc Nam để giữ mình. 1 ngày kia đi đến làng Đông Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, ông trú cư ở đấy vài tháng để tiện việc làm thuốc. Nhân dân ở làng ấy nhiều người được nhờ vả nên ai cũng đem lòng yêu mến. Bất giờ trong tổng nội có người mắc bệnh khó chữa, nghe tiếng ông là danh sư bèn đón ông về chữ giúp. Quả nhiên người ấy khỏi bệnh. 1 ngày ông đến vãn cảnh chùa làng Đại Lâm. Khi trở về vừa gặp cơn mưa gió, ông đành phải trở lại chùa ngủ trọ 1 tối. Đêm ông nằm mộng thấy 1 vị sư đến bảo rằng:

  • Nhà ngươi tốt phúc, ngày mai sẽ có tin mừng.

Nói xong đọc 1 bài thơ rằng:
詢之以报喜于君
汝福從茲日日新
天定降家來見日
必然相配自成親

Tuân chi dĩ báo hỉ vu quân
Nhữ phúc tòng tư nhật nhật tân
Thiên định giáng gia lai kiến nhật
Tất nhiên tương phối tự thành thân.

Nghe mấy câu thơ ấy ông chợt tỉnh dậy, tự nghĩ trong bụng lấy làm lạ. Sớm ngày mai ông lễ Phật trở ra về, đi qua làng Đại Lâm, thấy 1 người con gái nằm trong lều cỏ kêu khóc. Ông chạy vào hỏi duyên cớ. Người con gái thưa rằng:

  • Thiếp là con gái họ Trần, tên là Tố Nương. Cha mẹ mất sớm, khi còn tuổi trẻ. Anh em chẳng có ai, không người nương tựa. Đem mình đi ở với cậu ruột, ngày tháng dung thân. Thiếp lại hay có cứng đau bụng vặt. Cậu đem lòng ghét bỏ, đuổi đi. Vì thế thiếp phải ra nằm ở quán này.

Ông thấy tình cảnh lấy làm ái ngại, bèn mở túi lấy thuốc cho uống. Lúc lâu nàng Trần khỏi bệnh. nàng bèn mời về nhà, đem tình trạng kể với cậu và xin cho mình được hầu hạ chăn gối để báo đáp ân sâu. Cậu vui lòng gả. Sau khi đã thành gia thất, ông bèn đến xã Đại Lâm, ngày thường đi chữa thuốc cứu dân. Dân làng thấy ông là người hiên fhoaf thuần hậu, thỉnh ông coi giữ cảnh chùa. Được mấy năm ông làm thuốc rất là phát đạt giầu thịnh. Ông xuất gia sản dựng thành 1 ngôi chùa nữa. 1 hôm ông nằm mộng thấy 1 vị thần tự xưng là Nam Tào, [vâng] sứ mệnh đức Thượng Đế đến báo cho các vị thần văn võ biết rằng:

  • Đây có nhà họ Phạm giữ chùa vốn là người phúc hậu. Lai hay mộ về đạo Phật. Nay đức Ngọc Hoàng cho 1 viên Thiên tào Điển lại và 2 viên Thủy tế Long hầu, xuống Dương gian đầu thai làm con nhà họ Trần để sau này giúp nước cứu dân.

Nói rồi biết mất. Đến khi ông tỉnh dậy, biết thế nào cũng có điềm hay. Một ngày đức bà Trần Thị ra bến sông ở trước làng tắm gội. Đương lúc tắm, chợt thấy con giảo long nổi lên quấn quanh mình ba 3 vòng. Bà sợ hãi chạy lên bờ, thấy có mùi hương thơm ngào ngạt. Khi về đến chùa trời đã xế bóng. Lại thấy 1 ngôi sao tự trên trời sa xuống trước mặt. Hào quang chói lọi. Phút chốc biến mất. Tự đấy trong mình bà có thai.

Đến ngày mồng 6 tháng 8 bà sinh hạ 1 bọc 3 người con trai, thân thể cao lớn, hình dung kỳ dị. Ông bà mới đặt tên ông thứ nhất là Nghiêm công, thứ 2 là Minh công, thứ 3 là Trị công. Kịp lúc tuổi trưởng thành, ông nào cũng học hành sáng suốt, và có tài văn cõ. Đến ngày 13 tháng 7 đức than phụ là đức Phạm công tạ thế. Bấy giờ nhân dân trong làng thấy các ông có tính trí dị thường, lại có tài văn võ mới rủ nhau đến làm thần tử. Ông bèn chọn đinh tráng xã ấy, cùng các xã lân bàng như Đại Bàng, Thọ Đức, Thiểm Xuyên, Đông Xá được hơn 1000 người, thiết lập 1 cái doanh trại ở địa giới đầu làng. Chọn ngày mồng 1, 2, 3 tháng Giêng để khao thưởng quân sĩ. Việc ấy nghe đến tai các quan địa phương làm biểu tâu Vua. Vua toan sai đình thần đi đánh dẹp, nhưng đêm Vua nằm mộng thấy sứ mệnh Thiên đình đến báo rằng:

  • 3 ông ấy vốn là người trời sai xuống giúp nước, thì nhà vua nên dụ chứ không nên đánh.

Nói rồi đằng không biến mất. Vua tỉnh dậy biết là mộng báo, mới sai sứ thần đem chiếu chỉ đến phủ dụ. 3 ông được chiếu chỉ cùng theo sứ thần về yết kiến Vua. Vua xem thấy thể diện khác thường, nói thử tài văn võ, rồi phong cho ông Nghiêm là Thống lĩnh long chu Thủy đại Lạc tướng quân. Ông Minh là Cứ thiên Bố chính Tướng quân. Ông Trị là Thủy tào Tả điển lại Lạc Long tướng quân. Từ đấy vua tôi hiệp đức, trong nước yên hòa. 3 ông tâu vua xin về bái yết gia đường. Vua ban cho vàng bạc gấm vóc rất nhiều. 3 ông lạy tạ trở về nguyên quan sở Ái châu. Nhân dân kéo đến mừng rỡ vui vẻ. Sau khi thám tỉnh mẫu thân, ông bèn tu sửa từ đường, làm lễ tạ gia tiên. Được ít lâu đến ngày mồng 2 tháng 9 đức Thái bà thân mẫu tạ thế. Ông sửa lễ tìm nơi an táng. Mọi việc xong xuôi, 3 ông lại trở về triều yết chúa. Vua gia phong quan tước rồi bổ dụng cho đi trị nhậm các nơi.

Thời bấy giờ có giặc nhà Ân là Thạch Linh thần tướng, đem 300000 hùng binh sang làm loạn. Được tin, Vua sai 3 ông đi chống cự. Chống nhau với giặc nhà Ân hơn 10 trận, thế giặc ngày ngày một mạnh. Ông phải sai người đem tờ biểu về tâu vua, lấy thêm quân cứu viện. Bấy giờ trong triều các đình thần thấy đều thúc thủ. Vua lấy làm lo sợ, lập đàn cầu đảo thiên địa bách thần, rồi sai sứ thần đi chiêu mộ các người hiền tài trong thiên hạ để giúp nước. Bấy giờ ở xã Phù Đổng thuộc huyện Vũ Ninh có 1 nhà hào phú sinh được 1 người con trai đặt tên là Thiết Xung thần tướng, lên 3 tuổi ăn uống rất khỏe mà không biết nói. 1 hôm nghe tiếng sứ giả nhà vua đến, ngài bật ra tiếng nói mà bảo mẹ gọi sứ thần lại. Khi sứ thần đến, ngài bảo về tâu với nhà vua đánh cho 1 con ngựa sắt, 1 thanh gươm sắt, ngài sẽ đi dẹp giặc giúp nước. Nhà vua không phải lo gì.

Sứ giả về tâu Vua. Vua truyền đánh gươm sắt, ngựa sắt đem lại để cùng với 3 vị (Nghiêm Công, Minh Công, Trị Công) đem quân đi đánh giặc. Bấy giờ ngài nhảy lên mình ngựa sắt chạy như bay đến dưới núi Vũ Ninh, đánh nhau 1 trận. Ngài chém được tướng giặc là Thạch Linh thần tướng. Khi giặc đã tan ngài đi đến núi Sóc Sơn, đằng không mà biến hóa.

Lại nói đến đức Nghiêm Công và Trị Công sau khi bình được giặc rồi 2 ngài bơi thuyền đến sông Bạch Đằng, biến ra thần rắn gieo mình xuống sông mà hóa. Ngày ấy là ngày mồng 2 tháng 9. Vua sau đình thần đến địa phương ấy truyền cho dân gian lập miếu thờ phụng. Còn đức Minh Công khi phụng mệnh hồi triều bái tạ, ngài đứng giữa sân rồng rồi đằng không mà hóa. Vua truyền lập đền thờ ở trong cung phủ phụng sự. Lại truyền cho xã An Khang và xã Đại Lâm lập đền phụng sự và bao phong là Vạn cổ Phúc thần…

Thần phả Ả Thuần Nương Công chúa ở Mạnh Tân, xã Thư Lâm, Đông Anh

Phả chép về một vị công chúa âm phù triều Hậu Lý Thánh Tông

Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Nước Việt từ khi trời đất mở núi sông, kế nối xe sách, chia giới theo sao Dực Chẩn, non nước chính khí. Trải từ triều Hùng Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha phân phong ở nước ta, lập nước mở nền. Đất đẹp Hoan Châu dựng kinh đô. Dãy núi Nghĩa Lĩnh sửa sang miếu điện. Truyền đến Lạc Long Quân lấy tiên nữ Động Đình, thấy mây lành năm sắc, sinh ra điềm trăm con trai, đều là bậc anh hùng trùm đời, đức độ hơn người. Bèn phân làm trăm thần sông núi mà đều hóa hóa sinh sinh khác thường, anh linh không phai. Đến nước Nam sau đó họ tộc nào có phúc lớn dựng nên cơ đồ, giữ nước cứu dân mà trị vì lâu dài đều là dòng dõi nhà họ Hùng vậy. Người đời sau có thơ rằng:

Hùng gia sáng nghiệp tối du trường

Nhất thống sơn hà thập bát vương

Nghĩa Lĩnh, Hùng Sơn tồn cựu [tích]

Lưu truyền hương hoả vĩnh vô cương.

Khi ấy cơ đồ họ Hùng đến lúc suy, ý trời muốn dứt. Trải qua các triều ở Trung Nguyên Tây Đông Hán, Ngô, Tống, Tề, Lương, Đường, Tuy đến khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần nổi lên, khai mở cơ đồ thì quốc thống từ ấy bền lâu. Xưa nước Việt thời vua Hậu Lý Thánh Tông, tên húy là Nhật Tôn, là con trưởng của vua Thái Tông, kế nghiệp tổ tiên gây dựng bồi đắp, nối tiếp sự hưng thịnh quốc gia. Trong tu sửa văn đức, ngoài phòng bị biên cương, cố sức hưng bình để yên Trung Quốc. Có lòng yêu dân, mở khoa chọn sĩ, để tuyển người tài. Dưỡng oai, nuôi khí để trừ giặc Chiêm. Khi ấy có quân Chiêm gậy loạn, khởi binh ở đất Khâm Châu ta, quân thủy bộ cùng tiến. Thế quân giặc vang dội. Vua rất lo lắng bèn triệu tập quần thần đến bàn bạc định kế sách tiến đánh quân Tống Chiêm. Thế là có một vị quan tâu rằng:

  • Uy đức của Bệ hạ bao trùm cả hải ngoại, nước giàu quân mạnh. Nay có giặc Tống Chiêm gậy loạn đến xâm phạm đất ta. Chúng thần xin được thay Bệ hạ chọn lấy tướng tài, lãnh quân chia đi tuần các đạo để hưng chấn quân thanh, đề phòng bất trắc. Lại có lòng trời quý mến mà giáng hạ nhiều anh tài, các vị trăm thần sông núi thường xuất hiện, biến hóa oai thần để âm phù giúp nước. Bệ hạ không cần phải lo lắng việc đánh giặc này.

Vua nghe nói rất vui mừng. Ngay hôm đó truyền lập đàn cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, rồi giao cho các tướng lĩnh quân thủy bộ đi trước để tuần phòng các đạo. Còn vua đích thân dẫn quân tiếp ứng phía sau. Ngay hôm đó các tướng dẫn quân thủy bộ đường đường xuất quân. Vua mới làm một bào thơ úy lạo quân sĩ:

Tam quân lẫm lẫm xuất trùng quan
Vạn lý tinh kỳ vạn lý an
Công tự nhạn mao khinh tử mệnh
Sự quân nhất tiết cảm từ nan.

Khi ấy vua dẫn hai ngàn quân tướng đi. Trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống vang động ngàn non. Đi khắp bốn phương để yên định thiên hạ. Lên núi ngắm cảnh, nhàn chơi hải đảo. Một hôm vua tiến quân đến khu Mạnh Tân trang Bình Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là phủ Vũ Ninh). Lúc đó mặt trời đang chính giữa trưa. Vua nhìn xa thấy một vùng đầm có cảnh sơn thủy hữu tình bèn đi dạo xem bốn hướng. Bỗng thấy một người con gái, tuổi độ đôi mươi, dung mạo đẹp đẽ, nhan sắc phi thường, ngồi một mình ở bên bờ đầm, hát cười thầm. Vua lấy làm lạ, hỏi rằng:

  • Nhà người là ai mà lại đường đột ở đây như vậy? Hãy tâu thật thì sẽ không bị tội.

Người con gái tâu rằng:

  • Thiếp vốn cũng là con gái họ Hùng trước đây, vâng mệnh thiên đình trấn trị ở nơi địa phương này, sống tại trong đầm. Tên hiệu là Ả Thuần Nương. Nay nghe Bệ hạ thân chính dẹp giặc, thiếp vâng chiếu Thiên đế muốn đến gặp, tự xin âm phù dẹp giặc lập công. Đến sau yên bình để được tỏ ngôi này.

Nói xong thì biến mất. Khi đó là mùng 7 tháng Giêng. Vua lấy làm là, liền gọi các cụ già đến hỏi cho rõ. Khi ấy cụ già tâu rằng:

  • Khu chúng thần đúng là hay thấy có sự hiển hiện khác thường. Hoặc hiện hình ở trong khu. Hoặc dẫn người nơi đường. Người không may bị hại vô số nên mới lập một ngôi miếu nhỏ ở trên đầm mà phụng thờ. Ngày rằm mồng một đều thắp hương đèn, thấy rất linh ứng. Nhưng không biết tên hiệu như thế nào.

Vua nghe vậy truyền cho nhân dân làm lễ bái yết. Rồi vua dẫn quân thẳng đến Khâm Châu,, đánh một trận. Quân Tống Chiêm thua to, bỏ chạy. Vua dẫn quân khải hoàn trở về, mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ theo thứ tự công lao. Nhân đó vua nói:

  • Quân Tống Chiêm dẹp yên được cũng là nhờ có thần âm phù trợ.

Vua bèn phong thêm trăm thần. Sắc phong tên thờ tên thần. Phong Ả Thuần Nương Công chúa, tặng phong Thanh ảo Nhàn uyển Thủy Tinh Phu nhân. Cho phép khu Mạnh Tân trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay.

Lấy  các ngày 15 tháng Hai và tháng Tám làm chính lệ xuân thu.

Năm đầu Hồng Đức ngày tốt đầu mạnh xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, trang 1004 – 995, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội.

Thần tích Đại Đương Giang Đại vương thờ ở khu Mạnh Tân xã Thư Lâm, Đông Anh

Phả cổ chép về một vị đại vương triều Đinh Tiên Hoàng 

Chi Khảm, bộ Tam đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Nước Việt xưa trời Nam mở vận, chia ngang núi sông theo sao Dực sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu phong chia đất thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ triều Hùng Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha phân phong là dòng dõi đế vương nước Việt ta. Đất thắng Hoan Châu kiến lập kinh đô. Thế mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền quốc đến đời sau xưng là Lạc Long Quân. Long Quân lấy tiên nữ Động Đình, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh, thấy có mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ có mang đến khi sinh sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra trăm nam, đều là bậc anh hùng vượt đời, đức độ hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn dựng phong hầu, lập bình phong, chia trong nước thành 15 bộ. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

–          Ta là giống rồng, nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương ngũ hành hợp lại mà có con nhưng chủng loại không cùng nhau, nước lửa tương khắc, không thể ở cùng nhau được. Vì thế nên chia biệt.

Bèn chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, phân trị các miền rừng núi. Nếu có việc thì báo cho nhau, tất đến tương trợ, không thể nào cùng suy. Cuối cùng thì họ Hùng có trăm thần sông núi thường hay xuất thế, đầu nhập vào làm con các gia đình ở nhân gian để giúp nước giúp dân. Gia đình nào có phúc tất sẽ gặp được. Có thơ:

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tuyệt nhiên dĩ định tại thiên thư

Thiên cổ thánh hiền thiên cổ tại

Ức niên hương hoả ức niên dư.

Lại nói, khi triều Hùng đến lúc cuối, thế nước muốn dứt, trải ở nước Nam có Đinh Tiên Hoàng đế, ở trang Hòa Đông huyện Gia Định phủ Thuận An đạo Kinh Bắc có một nhà tên là Long Nương, tuổi độ 19, đi đến nơi bến sông nhỏ tên là Thiên Đức mà tắm rửa. Bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió nổi lên. Giao long quấn quanh người. Được một lúc Long Nương tỉnh lại. Trời đã quang tạnh. Tất là điềm báo tốt lành.

Từ đó nàng trở về có mang thai, nên lo sợ người dân đàm tiếu, rất xấu hổ. Ngày hôm đó nàng rời quê đi ra bên ngoài, tha phương nơi xa, đi đến khu đất bên đường cạnh sông đầu khu Mạnh Tân trang Bằng Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn. Đến đó thì nàng sinh con, tức ngày mùng 6 tháng Giêng. Nhân dân ở nơi đó thấy tình cảnh như vậy, thấy đứa trẻ đầu người mình rắn, cao hơn mười thước, to lớn đường đường, tay dài quá gối, thể mạo khôi ngô, không phải là người thường. Nhân dân đón về chăm sóc. Được vài năm, đứa trẻ hỏi mẹ:

–          Có biết ai là cha con không?

Mẹ nói rằng giao long quấn mình, có mang thai mà sinh. Người con tức giận, từ đó không tin mẹ. Ngay hôm đó đi tìm đến nơi Bồng Lai tiên cảnh để học phép màu thần tiên. Nghe nói ở huyện Chương Đức có Nam Thiên Đệ nhất động tên là chùa Hương Tích, bèn lên núi đến thắng cảnh cầu tiên, nhưng không gặp. Người con bèn trở về qua đạo Sơn Tây, đi đến Sài Sơn, du ngắm trên dưới bốn hướng, thấy cảnh đồ thông trời thấu đất, trạng thái xuất quỷ nhập thần. Lại thấy ở dưới núi có một khu đất cao tên thường gọi là Thiên Thị (Chợ Trời), tương truyền thần tiên thường đến ở đó. Người con bèn xuất khẩu đọc một bài thơ rằng:

Tương truyền thử hội thần tiên động

Bất giác trực truyền dữ ấu truyền

Kim nhật mông lung duy chỉ kiến

Hạ chi tiên dữ thượng chi thiên.

Rồi đi vào trong động làm lễ cầu đảo, đốt hương khấn rằng:

–          Thần ở trên trần thế, tiền tài thực như một đám mây trôi. Duy chỉ nghĩ đến người cha, khẩn niệm nơi đền thiêng giữa trời đất, thần tiên xuất hiện, soi cho tấc lòng thành để được một phép đi về Thủy quốc, tìm kiếm người cha mà giải được nỗi lòng, tích thêm phúc trời vậy.

Một tối đó trời sáng như ban ngày. Người con đi đến đền thiêng Tiễu Tước ở núi Tản Viên động Lăng Sương, khí tượng muôn vàn thần diệu, u hiển tối linh khôn lường, biến hiện vô cùng, đúng là nơi đệ nhất trời Nam. Người con bèn vào trong đền. Đến giờ Mùi ngày hôm đó nằm ở bên đền, thấy có thần tiên xuất hiện báo rằng:

–          Ngươi vốn xuất thế từ thủy cung, rất được yêu mến, tên gọi là Đương Giang.

Người con bèn tâu lên bệ rằng:

–          Thần không biết ai là cha mình. Lòng niệm hiếu trung mà tìm đến đền thiêng động tiên, nguyện ước được phép để gặp lại người cha.

Thần tiên nói rằng:

–          Thiên nguyệt – nhật Tam Giang là cha ngươi. Cho ngươi một phép ước.

Ngay hôm đó người con làm lễ bái tạ dưới bệ, trở về đạo Kinh Bắc, đến bến sông Thiên Đức có một đền thiêng tại nơi ấy. Mặt trời đã khuất bóng, tối đến nằm ngủ, mơ thấy một người áo mũ chỉnh tề, ngồi trên trước án, báo rằng:

–          Ta là Tam Giang, vốn là cha ngươi đây.

Sau một lúc thì người con tỉnh lại, nghĩ chuyện từ trong mộng mới biết là mẹ hiền. Ngày hôm đó trở về khu [Mạnh] Tân trang Bằng Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn. Mẹ con cùng hòa thuận, sinh nhai lập nghiệp.

Được mấy năm có vua Đinh Hoàng dẹp 12 sứ quân, ban chiếu thần dân thiên hạ ai là người có thông minh tài trí, đức hạnh hơn người, anh hùng có thể chống giặc. Ông Đương nghe vậy, học được cách lạ của thần tiên, tình nguyện xin được hơn ngàn quân giáp, giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp giặc Ngô. Trong trang khu Mạnh Tân xin được làm thần tử, theo được hơn trăm người. Hôm ấy trên sông nhỏ tàu thuyền, trước lầu xe ngựa, nghe chiếu thiên tứ mà nổi lòng trạng nguyên bốn bể. Thần chú đọc mà ảnh động rồng rắn, sao trời rụng lạnh sông. Trận võ mở mà kinh hồn hổ báo, tiếng sấm truyền vang tận biển. Một chốn quốc gia, bốn bể anh hùng. Một đạo xuất quân theo cùng với vua Đinh Hoàng tiến thẳng đến cửa biển Hội Thống. Trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Trước thuyền chuông trống vang rền. Trong một trận đánh, giặc Ngô thắng lớn. Giặc Ngô vây hãm Vua được mấy ngày. Các tướng cùng với Đinh công đều lo lắng. Đương Giang công tâu với Đinh Hoàng rằng:

–          Xin được đọc một câu chú.

Trời đất bỗng tối tăm. Sóng nước nổi lên. Rồng, rắn, rùa, ba ba đều tự đến tụ trước mặt nước. Giặc Ngô rất sợ hãi, bốn phía đều bỏ chạy toán loạn. Được một lúc thì trời trong tạnh lại. Chém được vài ngàn vạn đầu giặc. Máu chảy thành sông thuyền bè đi được. Thây trôi nối dài tới ngoài biển. Giặc Ngô đều dẹp yên. Đinh công gọi nói rằng:

–          Trời đã giúp ta, có được phép ước của thần. Quốc sĩ vô song, tài quả không hai.

Ngay hôm đó Đinh công ban chiếu gọi các tướng cùng với các tì tướng trở về kinh thành. Đinh Hoàng lên ngôi vua, mở yến tiệc khao binh sĩ, thưởng thêm cho Đại Đương công 20 nén bạc. Thưởng cho nhân dân, gia thần 10 nén.

Ông trở về khu nhà. Ngay hôm đó gọi phụ lão nhân dân, gia thần đã dẹp được giặc Ngô, giết mổ trâu, lập đàn tế cáo trăm thần trời đất sông núi cùng Tản Viên Sơn Thánh. Khao hưởng quân sĩ. Ngày hôm sau thấy có sứ giả vâng chiếu thư cử ông đi nhận chức quản nhậm đạo Thái Nguyên. Ông ở đó 15 năm. Khi thân mẫu bị bệnh thì ông trở về chăm sóc mẹ. Mẹ bị bệnh mà mất. Ông khóc động trời nhưng không thể làm gì được. Bèn chọn đất tốt làm lễ chôn cất. Hương hỏa gia đường phụng thờ đúng theo lễ nghi. Đến khi mãn tang, khi ấy nhân dân thiên hạ bị nhiều bệnh dịch. Ông bèn nhờ phương thuốc thần tiên mà niệm thần chú. Nhân dân trong khu đều được yên ổn. Phụ lão, nhân dân, gia thần khu Mạnh Tân đều xin làm thần tử. Quả là phương thuốc thần tiên rất là linh nghiệm, giúp nhân dân cải tử hoàn sinh. Ông cười rằng:

–          Ta nhờ vào phương thuốc thần tiên mà từ nay ta sẽ được hiển tỏ.

Ông nói với gia thần trong khu rằng:

–          Trăm năm sau tất cả các con cháu thờ tự, có coi trọng ta tất sẽ coi trọng di mệnh của ta, muôn năm về sau ở tại khu này thờ phụng một vị là Đương Lộ Tản Viên Sơn Thánh. Các gia đình các họ tộc nhân dân, gia thần khu Mạnh Tân đều bố trí 130 khoảnh ruộng làm các ngày cúng giỗ.

Lúc ấy đang mùa xuân ngày đầu tháng Ba tuần thứ 2 thấy vua Đinh Hoàng Đế gửi thư đến, trong nói rằng nhờ phép ước thần tiên mà giặc Ngô đã thua to. Ngay hôm đó ông nhận chiếu vâng mệnh trở về triều. Vua mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho tướng sĩ tương ứng theo cấp bậc. Lại cho ông được nhận thực ấp ở khu Mạnh Tân. Ông bái tạ vua rồi trở về trị sở ở khu Mạnh Tân. Ông bèn xây dựng một khu dinh thự, nhàn du chơi đất đó. Ở đây có một thế cục sông núi quanh co, rồng hổ ôm bọc. Núi không cao nhưng đan xen. Sông có tình làm nguồn nước giếng. Thế tiện nghi tưởng cũng là một nơi thắng cảnh đẹp đẽ vậy.  Ngay hôm đó ông truyền cho binh sĩ cùng nhân dân xây dựng cung dinh và miếu điện.

Một hôm, ông mở tiệc mời nhân dân phụ lão khu Mạnh Tân đến. Đang lúc ăn uống, bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió nổi lên, hình thành một đám mây vàng hạ thẳng xuống trước miếu. Ông bước xuống thuyền rồng rồi bay lên không mà đi. Trời sáng lại. Nhân dân thấy áo mũ, cân đai, thắt lưng còn để lại dưới án. Khi đó là ngày 15 tháng Chín.

Nhân dân sợ hãi bèn làm lễ dâng biểu tâu lên triều đình. Vua sai trở về làm lễ. Tế xong thì cho phép khu Mạnh Tân làm nơi hộ nhi để phụng thờ Đương Giang. Cứ mỗi năm ngày mùng 6 tháng Giêng lại cử giá về làm lễ, đặt thành lệ để biểu dương sự linh thiêng của ông. Như ngày trước Đinh Hoàng bị vây, ông giải thoát được. Giặc Ngô được dẹp yên là nhờ có phương cách của Tản Viên Sơn Thánh, ước chú thần tiên. Cứ mỗi năm ngày 12 tháng Mười một vua lại cử giá hội đồng đến nơi miếu trang Bằng Lâm cùng làm lễ, từ đó thành lệ thường vậy.

Phong là Đại Đương Giang Minh Tá phụ Đại vương. Trang phục màu vàng, đỏ đều cấm.

Phong tặng thêm là Đại Đương Giang Minh thiên Tá phụ Hùng tài Đại lược Thánh triết Anh linh Phù vận Hiển ứng Chính trực Đại vương.

Lại nói, từ đó về sau có nhiều sự linh ứng nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự. Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, khi có được thiên hạ Thái Tổ bèn phong thêm một vị là Hiển hách Linh thông.

Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên Khương đến xâm phạm, kinh thành vị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi ấy Đại vương cũng có hiển ứng âm phù giúp. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông phong thêm mỹ tự một vị là Linh ứng Anh triết Giang minh Cương nghị Anh. Sắc chỉ ban cho khu Mạnh Tân sửa sang miếu điện để phụng thờ. Tốt đẹp thay!

Vâng khai các tiết sinh hóa cùng với các chữ húy phải cấm là hai chữ Đương, Giang. Cho phép khu Mạnh Tân phụng thờ.

Ngày sinh thần là mùng 6 tháng Giêng. Chính lễ dùng mâm chay, phẩm quả, cùng bánh trôi làm lễ theo nghi thức, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày hóa thần là 15 tháng Chín. Chính lệ dùng mâm chay, dưới lợn đen, trâu một màu, xôi, rượu, bánh chay, lễ dùng theo nghi thức.

Ngày lệ khánh hạ là 12 tháng Năm. Lễ dùng như trên.

Năm đầu niên hiệu Hồng Đức ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ tư ngày tốt giữa thu, Quản giám bách linh Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại theo chính bản cũ vâng chép.

Năm đầu niên hiệu Thành Thái ngày 18 tháng Mười một phong là Trừng trạm Dực bảo Trung hưng chi thần.

Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng Bảy tặng thêm là Uông nhuận Trung đẳng thần.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1020 – 1008.