Sự tích Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương ở Vụ Bản, Nam Định

Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Hổ Sơn, tổng Hổ Sơn, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định, ký hiệu TTTS006832.

Sự tích bách thần tôn phái trăm trứng triều Hùng Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn
Do bộ Lễ quốc triều quan Thượng thư vâng soạn. Chi Càn.

Xưa nước Việt ta trời Nam mở vận, thánh đế ứng đồ, nước Bắc ban đầu phong thẳng theo hướng sao Đẩu, sao Ngưu. Mãi giữ dòng dõi vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương, ngự vạn năm ở thánh điện núi Hùng. Trời Nam đất tổ. Hoàng triều nước nhà mãi tôn dòng dõi, lưu truyền hương khói vạn đời không ngừng.

Xét tích Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình Quân tên là Âu Cơ, lập làm chính cung, về ở đầu núi Nghĩa Lĩnh. Thấy có mây lành năm sắc bốn phương rực rỡ. Thế rồi bà có mang thai. Qua ba năm ba tháng bao mươi ngày bỗng thấy mùi hương thơm đầy phòng, khí lành bao phủ, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai. Đều là có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời, khí độ hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Nước lửa tương khắc, chủng loại không cùng, nên vì thể phải chia cách.

Chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, trấn ở các đầu sông góc biển. Chia 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, trấn yên các nơi đầu núi. Gọi là trăm vương, đều phong là quan Bộ chủ. Khi ấy Vua mới phong làm 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính châu, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở trang Hoằng Hóa huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên đạo Ái Châu có một quan Bộ chủ họ Hùng, tên là Tuệ công, lấy con gái vị quan địa phương ở châu tên là Nguyễn Thị Quế làm chính phu nhân. Quan Bộ chủ thông minh sáng trí, sức mạnh tài cao, võ nghệ tinh thông, có khí dũng trăm người khó địch. Vua bèn phong làm quan Bộ chủ đạo Sơn Nam Hạ. Khi ấy quan Bộ chủ mới lên xe nhàn du ngắm cảnh sông núi. Phàm là ở trời Nam phong cảnh không chỗ nào không tới. Một hôm Chủ quan đi đến trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng, thấy một mảnh đất có sông núi uốn quanh, rồng hổ ôm lấy, mọi bề đều quay chầu vào chính cục. Chủ quản bèn truyền nhân dân cùng quân sĩ xây dựng một du cung tại bên nơi dân, dựa hướng Càn hướng về hướng Tốn, giao phó cho Phu nhân ở đó, khuyến khích nhân dân lấy nghề nông tang làm gốc, mở mang tiện lợi, trừ bỏ điều hại. Công đức như núi cao bể rộng. Không ai là người dân mà không thể sinh sống, không vật nào bị bệnh mà không được chăm sóc. Trải qua khoảng mười năm, khi đó quan Bộ chủ tuổi đã ngoài 50, Phu nhân tuổi cũng hơn 40 mà điều lan quế chưa được ứng nghiệm. Một hôm Chủ quan cùng Phu nhân nói nhau rằng:

  • Ý trời chưa đạt, liệu có phải là do việc người còn thiếu khuyết. Chi bằng thử một lần đi tìm đền thiêng chùa phật mà cầu con nối dõi xem.

Nói xong, lại nghe tiếng ở đạo Hải Dương có chùa Yên Tử có nhiều linh ứng, nước cầu dân nguyện đều ứng. Ngay hôm đó ngày mồng 8 tháng Tư chuẩn bị trai giới đi đến núi Yên Tử, tự làm sớ cúng Phật. Mặt trời đã xuống núi, Chủ quan cùng Phu nhân bèn nằm ở bên phải trước án, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy trong điện rực sáng, ánh hào quang rực rõ. Thấy một tượng thân vàng ở bên trên nói rằng:

  • Một bên là tài vật, một bên là thanh đồng. Vợ chồng ông muốn lấy vật nào?

Trong mộng Chủ quan nhìn thấy thanh đồng rất tốt, trong lòng vui mừng, xin được lấy thanh đồng. Tượng thân vàng bèn trao cho Chủ quan. Quan để vào trong tay áo, biến ảo thành nhỏ sau một tiếng kêu. Lại nghe trên trời có một tiếng sấm lớn, vang đến bên tai. Ông mới tỉnh dậy, mới biết là Phật đã báo mộng như vậy.

Đến sáng ngày ông bà làm lễ bái tạ trước điện Phật rồi lên xe trở về nơi du sở (tức là trang Hổ Sơn tổng Hổ Sơn). Từ đó uyên ương chung gối, loan phượng thành bầy, nhạc chiêng chống cùng kêu vui, hứng đàn thơ hảo hợp. Phu nhân thế rồi có mang thai. Đến năm Bính [Ngọ] mùa hè ngày 24 tháng Sáu Phu nhân sinh được một người con trai, mặt giống như sắt, trên bụng có dòng chữ lớn rằng: “Hổ Sơn Thái Sơn Đại vương”. Đến năm lên ba tuổi Chủ quan mới đặt tên là Sơn Hổ, hiệu là Thái Sơn công. Ngày qua tháng lại tuổi đã lên 7, thân cao 7 thước, sức mạnh trăm cân, bèn cho nhập học với tiên sinh Trần Giản. Khi ấy ông học được 6 năm, văn chương quát triệt, võ nghệ tinh thông, có thể đọc xem thuyết của Khổng Mạnh, bốn khoa ba chuyện không nhường thao lược của Tôn Ngô. Ông đang khi đi học, Tiên sinh thường nói rằng:

  • Rất hay cho một nhà có phúc như vậy sinh được người con trai tốt. Ngày sau tất là người con làm rạng danh gia đình.

Khi ấy Chủ quan cùng Phu nhân bị cảm gió độc, trong thời gian ngắn cùng mất (tức là ngày mùng 10 tháng Mười). Ông khóc lóc động trời nhưng tình thế không thể thay đổi. Ông chọn ngày tốt, chọn quan tài lớn để an táng, mổ trâu, làm lễ chôn cất. Ba năm chịu tang phụng thờ theo nghi lễ. 49 ngày đến tuần chịu tang tận báo đức cù lao.

Khi đó Hùng Huy Vương đang ở ngôi, đóng đô tại sông Bạch Hạc Việt Trì, mới lệnh cho sứ thần gọi ông vào triều, liền bái phong là quan huyện Thiên Bản, ban cho họ tộc Hoàng, nối chức của thân phụ. Ngay hôm đó ông làm lễ bái tạ trước bệ, dẫn lính trở về huyện Thiên Bản nhận chức. Qua 10 năm sau nước nhà có giặc Ân phương Bắc là Thạch Linh Thần tướng khởi binh đạo Bắc, đem sáu vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời. Bỗng thấy quan địa phương báo gấp, một ngày tới 5 lần. Hùng Huy Vương vô cùng lo lắng, ngay hôm đó truyền trăm quan văn võ đến triều bàn việc chống giặc. Hôm ấy Vua truyền dựng một tế đàn cầu đảo bách thần trời đất. Đến ba ngày sau bỗng thấy mưa gió nổi lên, thấy một ông lão cao hơn 9 thước, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người thấy vậy bèn vào tâu lên Vua. Vua nghe vậy cho là sự lạ. Vua thân ra bái chào, đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc Ân quân phương Bắc đến cướp nước đã tới gần.

Ông lão chần chừ hồi lâu, bấm tay vận đoán, lập một quẻ rồi nói với Vua rằng:

  • Nếu cầu được người thì giặc Ân không lâu sẽ dẹp yên.

Nói xong ông lão bay lên không mà đi. Vua mới biết đó là Lạc Long Quân hiện về báo cho việc này. Ngay hôm đó bèn lệnh cho Xá nhân đi tìm mộ người, đi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh, có một gia đình phú ông tên là Liên công, sinh được một người con trai, tuổi đã lên ba, ăn uống to lớn, không biết nói cười. Một hôm Xá nhân đi cầu mộ đến nơi. Bà mẹ nghe Xá nhân đến, đùa nói rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để có chức tước của triều đình, để báo ơn sâu nuôi mớm.

Đứa trẻ nghe thấy mẹ nói vậy, bỗng nhiên mở miệng rằng:

  • Mẹ mời sứ giả đến đây.

Thần Vương liền nói với sứ giả  rằng:

  • Mau trở về báo với Vua, đúc thành ngựa sắt cao 18 thước, roi sắt dài 10 trượng đem đến. Việc quân nhung Vua không cần lo lắng nữa.

Ngay hôm đó sứ giả nhanh chóng trở về tâu với Vua. Vua nghe vậy rất vui mừng, bèn lệnh cho thơ đúc thành ngựa sắt, roi sắt, đem đến giao cho Thần Vương. Lại lệnh cho 50 bộ Sơn thần, tên là Hổ Sơn Hoàng tộc Đại tướng quân theo cùng với Thiết Xung Thần Vương dẹp giặc

Lại nói, nhân dân trên đời đến dâng rượu và cỗ mang đến. Thần Vương ăn một lúc hết cỗ, đứng thẳng người lên. Bỗng nhiên thân thể dài ra 16 thước. Nhảy lên cưỡi ngựa. Ngựa chạy như bay thẳng đến trước điện nhà vua bái yết, rồi tiến thẳng đến dưới chân núi Chu Sơn quân Vũ Ninh. Ngựa miệng phun lửa, thiêu cháy hết quân Ân. Trận đó Hổ Sơn Đại tướng quân múa long đao chém được Thạch Linh Thần tướng cùng với quân sĩ hơn 500 đầu. Khí giới vứt chất như núi. Một xe không quay được, một ngựa cũng không thoát. Giặc Ân thua to chạy toán loạn. Còn lại dư đảng chạy về nước Bắc. Khi ấy Thần Vương trở về đến tranng tổng Phù Xá huyện Kim Hoa lên núi Sóc Sơn cưỡi ngựa xông lên trời mây mà đi. Vua bèn bao phong làm Xung Thiên Phù Đổng Thiên Vương Thượng đẳng Phúc thần, có tích riêng.

Còn Hổ Sơn Đại tướng quân dẫn binh mã trở về triều bái Vua. Vua rất vui mừng bèn truyền trăm quan mổ trâu mở tiệc mừng, phong thêm các tướng sĩ công thần lớn nhỏ, việc bao phong các vị này có tích riêng.

Phong thêm là Hổ Sơn Lân hầu Hoàng tộc Đại vương. Thăng chức trị nhậm đạo Ái Châu, được ngoài mười năm. Từ đó đất nước thanh bình, trong phủ vô sự, vạn dân được no đủ, vui vẻ hát ca. Bốn biển đều một cảnh tượng thái bình. Ông đi du chơi bốn bể, trải xem núi sông. Hễ chỗ nào có danh sơn thắng cảnh ông đều đến nơi. Hoặc đàn sáo reo vui, thơ sách đối đáp đất trời, phượng hát loan ca, thanh sắc du dưa, tình tang bồng theo cảnh tam diệp, gió trăng năm hồ câu cá in dấu tiên, truy tìm cảnh hội sương khói, vạn nhà xe mây trở bước, nước xanh non cao, thánh Nam thần Bắc quanh năm cùng đất trời, ra vào phong cảnh trời Nam.

Khi ấy ông Hổ Sơn  đi đến đạo Hoan Châu, bèn lên dãy núi tên là Thái Công [Sơn] Hùng Lĩnh. Ông ngồi trên một chiếc bàn đá. Rồi thấy trời đất mù mịt, mư gió kéo đến. Bốn vật linh đều xuống thẳng đến chầu nơi ông. Lại thấy trăm thí đều chầu hai bên. Ông không bệnh mà tự hóa (tức là ngày mồng 6 tháng Hai). Được một lúc mưa gió tự yên, trời đất quang tạnh lại thì thấy mối gỗ xây thành một mộ lớn. Ngay hôm đó nhân dân ở nơi hóa cùng với nhân dân trang Hổ Sơn huyện Thiên Bản theo ông Hổ Sơn thấy ông đã hóa lấy làm sự lạ, trở về báo cho phụ lão nhân dân, xây sửa chốn miếu ở nơi cung cũ, lại làm biểu dâng tấu lên Vua. Vua nghe vậy rất thương xót vị đại thần, truyền quan đến nới hóa dựng đền chính ở trang Thái Sơn, lệnh cho nhân dân thờ.

Lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ trở về trang Hổ Sơn tu sửa đền, lệnh cho nhân dân làm làng hộ nhi phụng thờ. Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Hoàng tộc Đại vương.

Lại nói, từ sau khi hóa, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, có nhiều anh linh hiển ứng nên trải các đời đế vương Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê có bao phong mỹ tự Thượng đẳng Phúc thần, hưởng lễ vạn đời, hương khói không ngừng. Cho phép xã Hổ Sơn tổng Hổ Sơn huyện Thiên Bản phủ Nghĩa Hưng thờ.

Phong thêm là Thượng đẳng Tối linh Linh ứng Hổ Sơn Thái Sơn Anh uy Tế huệ An trấn Hoàng tộc Đại vương.

Vâng khai các chữ húy cấm: Hổ Sơn, Thái Sơn các chữ nhất thiết cấm.

Các màu đỏ, màu vàng nếu nhân dân khi làm lễ không được mặc.

Ngày sinh thần của Đại vương là ngày 24 tháng Sáu. Chính lệ lễ dùng lễ tam sinh, rượu vàng, bánh dày, ca hát cho đến ngày 15 tháng bảy thì ngừng.

Ngày hóa thần của Đại vương là ngày mồng 8 tháng Hai. Chính lệ dùng lễ lợn đen, làm lễ, đánh cờ 3 ngày thì ngừng.

Ngày phong sắc là mồng 10 tháng Giêng. Lễ dùng tam sinh, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày lệ Khánh hạ  là mồng 10 tháng Mười. Lễ dùng trâu đen, bánh dày.

Hoàng triều niên hiệu Hồng Đức đầu xuân ngày tốt Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 13 ngày mùng 6 tháng Ba Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền vâng chép.

Thần tích đền Quốc tướng ở làng Mẫn Xá, Yên Phong, Bắc Ninh

Bản dịch đăng trong sách Đình, đền tướng quốc “Quốc tướng linh từ” làng Mẫn Xá, xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, 2016.

Ngọc phả cổ về sự tích Vạn Hộ Đại vương và Lưu Thủ Đại vương anh em sinh ra từ một bọc nhà họ Trương là công thần triều vua Hùng Huy Vương họ Việt Thường
Bản chính của bộ Lễ quốc triều, bộ thứ 6, chi Ly, Nhân thần thượng đẳng

Nước Việt ta xưa, trời Nam mở vận, các bậc Thánh tổ gây dựng cơ đồ hơn 2000 năm, các vua Hùng dựng đặt tên hiệu gọi là tổ của Bách Việt. Các nhà Nho sau này có bài thơ ca ngợi rằng:
Thuở mới đầu nước Nam Việt từ vua Kinh Dương Vương
Thống nhất non sông được 18 đời vua
Trải trăm đời đế vương, ngàn xưa vẫn còn đó
Hơn 2000 năm rồi, hàng trăm năm hương khói.

Dịch thờ:
Khởi đầu Nam Việt tự Dương Vương
Mười tám vua Hùng một núi sông
Ngàn xưa còn đó, trăm đời đế
Hai nghìn năm lẻ mãi thơm hương.

Lại nói vào đời thứ 6 triều Kinh Dương Vương, thời gian ấy vua Hùng Huy Vương trị nước, đóng đô ở bên sông Bạch Hạc Việt Trì, đặt tên nước là Văn Lang, định quốc đô ở thành Phong Châu. Hùng Vương là ông vua nhân từ rộng lượng, chuyên lấy việc dưỡng dân làm gốc, rất yêu thích các vị thần tiên có thuật lạ. Đời lúc bấy giờ đều khen là bậc vua hiền.

Lại nói vào thuở ấy dân gian trong nước truyền rằng ở vùng đất trang Nham Lệnh huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có một người trưởng giả tài đức họ Trương tên húy là Thọ, lấy vợ là người trong trang là Hàn Thị Cúc. Ông họ Trương làm nghề thầy thuốc gia truyền, từng 5 đời làm lương y. Một nhà phúc hậu giàu có dư giả. Vợ chồng một lòng tích góp làm việc thiện, chỉ có điều tuổi đã cao mà điềm lành về đường con cháu chưa thấy ứng hiện. Khi ấy ông Trương đã hơn 50 tuổi, bà cũng đã hơn 40 tuổi mà vẫn chưa có dấu hiệu có con. Ông Trương nghĩ sâu xa đến công đức của tổ tông, ngày sau thờ phụng biết cậy nhờ ai? Năm tháng cứ trôi nhanh chẳng thể đợi chờ. Một hôm ông than thở với bà rằng:

  • Con người ta sống ở trên đời chưa thấy ai được hoàn toàn vui sướng, vì thế mà lòng tôi lo buồn nên râu tóc bạc trắng, người ta sinh ở trên đời có 3 điều thì có con là điều lớn nhất. Vả lại tôi nghe nhà ta nối đời làm nghề y, chỉ một niềm khắc sâu trong lòng là tích góp làm việc, dốc hết sức làm điều nhân. Nay còn kém mà lòng trời chưa thấu đến cũng chẳng biết nữa. Chẳng bằng thành tâm cầu đảo, tận lực tìm thày xem đất để tu sửa phần mộ và nhà cửa. Hai việc ấy là cốt yếu hàng đầu, không bỏ quan được.

Nói xong, ông mới chọn ngày, dựng một đàn chay ở trước sân nhà làm lễ bái trời đất bách thần cầu con ba ngày. Làm lễ cầu xong, đêm hôm ấy ông mới vừa mơ màng chợp mắt, bỗng thấy một cụ già râu tóc bạc phơ, mũ áo tề chỉnh, đường hoàng đi thẳng vào lấy tay vẫy gọi ông dậy. Ông bèn đi theo sau cụ già. Cụ già trèo lên núi Hồng Lĩnh, ở bên cạnh có một huyệt đất giống hình cái nồi, phía trước có hình hai con cá chầu vào, mặt nước trong xanh. Hai bên trái phải có hình sư tử đá voi đá. Cụ già chỉ vào giữa huyệt đất bảo với ông rằng:

  • Huyệt đất ở trong giữa nồi, trời đã ban cho người, ắt sẽ có hai người tài năng cùng xuất hiện, có thể giữ nước giúp dân. Hãy kính cẩn, kính cẩn, chớ để lộ.

Nói xong ông già bỗng nhiên biến mất. Ông bừng tỉnh mới hay là mình vẫn nằm mơ. Nhưng ông vẫn có cảm nghĩ trong lòng rằng mình thành tâm thì tất là do trời đưa thần nhân xuống báo mộng. Trong lòng rất cảm động. Ngay hôm ấy ông tìm đến núi Hồng Lĩnh, quả nhiên thấy hình thế phong cảnh giống hệt như đã thấy trong mơ, trong lòng vô cùng vui sướng. Ông bèn trở về nhà đem hài cốt của cha lên táng vào chính giữa huyệt. Lúc đang chôn cất trên núi thấy tiếng ầm ầm như sấm sét, mây mù che phủ mờ mọt, mọi người đều kinh sợ. Sau khi làm lễ mai táng xong, ngay hôm ấy ông trở về nhà. Ba ngày sau lại mộng thấy cụ già lần trước tay bê hai cây tùng đặt trong một cái tráp trao cho ông, ông nhận lấy. Cụ già lại giúp ông và đọc bài thơ rằng:

Song tùng tương hứa nhữ Trương gia
Phúc lưu trường cửu phối sơn hà
Hoàng thiên ứng hứa song tài giáng
Nhữ phúc lưu hề bách thế ca.

Nghĩa là:
Ta đem cho nhà họ Trương hai cây tùng
Phúc lộc sẽ trường tồn mãi mãi cùng với núi sông
Ngọc Hoàng đã chấp thuận hứa cho hai người tài giởi giáng xuống trần thế
Nhà ngươi được ban phúc hãy giữ lấy, muôn đời sẽ được ca tụng (công đức).

Dịch thơ:
Đôi tùng ta hứa tặng Trương gia
Phúc lớn trường tồn với sơn hà
Trời cao giáng xuống hai người giỏi
Phúc giữ trăm đời mãi ngợi ca.

Ông nghe đọc xong bài thơ bỗng bừng tỉnh dậy mới biết là mình vừa nằm mơ, nhưng vẫn cảm tưởng giấc mơ báo điềm lành cho nhà mình. Từ đấy quả nhiên bà có thai. Đến ngày 10 tháng 3 năm Đinh Mùi, bỗng nhiên khi ấy trời đất tối sầm. Cụ bà đẻ ra một bọc, sinh đôi con trai, hình dung tướng mạo khôi ngô, thân hình cao lớn, vẻ lẫm liệt thần uy khác với người thường.

Một trăm ngày sau, đặt tên cho người anh là ông Chiêu, người em là ông Tuấn. Đấy là tên cha mẹ đặt cho. Đến năm lên 6 tuổi, cụ bà mất (tức ngày 18 tháng 10). Ông Trương bèn làm lễ an táng. Năm con lên tám tuổi, ông Trương thầm nghĩ, thân mình đơn chiếc, tóc thì đã bạc, con còn ấu thơ nhỏ bé không có người giúp việc nội trợ. Ông bèn lấy con gái một nhà danh gia họ Phạm. Bốn năm sau sinh được một trai, một gái. Người vợ bé là người tính rất điêu ngoa, lại có lòng ghen ghét đố kỵ, bức bách nghiệt ngã với con riêng của chồng, tình cảnh không thể nói hết. Thanh ôi đạo trời khiến ra như thế, bậc trượng phu quân tử gặp nhiều khó khăn khắc trở là sự thường. Thời gian ấy hai ông đã 13 tuổi, thiên bẩm anh tài, cực kỳ thông minh, trí tuệ, lại là người chính trực, cương cường, nhân tâm trong ấp đều nể sợ. Vì là bậc anh hùng chí khí, đều có nhiều thuật lạ, mưu kỳ. Người dì ghẻ thấy hai ông khí khái khác người, lại càng đố kỵ thêm, muốn mưu hại hai ông để thu lấy cơ nghiệp cho mình và con. Năm ấy vào ngày 12 tháng 9 ông Trương tạ thế. Người dì cùng hai ông làm lễ mai táng. Làm tang lễ an táng xong chưa đầy 100 ngày, người dì manh tâm bàn bạc với những người thân trong họ ngoại mưu hại hai ông, để chiếm cơ nghiệp cho con mình. Hai ông biết ý, từ đấy, không nằm ngủ ở trong nhà. Nửa đêm hai ông mỗi người cầm một cây gậy tre dài nằm phục ở ngoài nhà. Đêm ấy, những người họ ngoại của người dì độ mươi người kéo đến. Hai ông trông ra đúng bọn người ấy, bèn nhẩy vọt ra phóng gậy tre đánh giết. Sau khi giết chết đám người ấy, hai ông bèn trốn đi. Trong thời gian trốn tránh hai ông hay tin có người chú họ, sinh sống lưu trú nương nhờ quê vợ ở trang Mẫn Xá huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn xứ Kinh Bắc. Hai ông bèn tìm đến. Trong thời gian hai ông còn trên đường đi đến Mẫn Xá, mới được nửa đường, thì cũng vào thời gian này dân trang Mẫn Xá ban đêm mơ thấy có hai vị quan nhân cùng binh sĩ tiến thẳng vào trang. Hai vị quan dừng quân trú lại ngồi nghỉ ở quán sở (thời kỳ ấy trang Mẫn Xá có một ngôi quán lợp cỏ ở giữa trang ấp) truyền hô triệu người. Nhân dân đều ra, có đủ các họ (khi ấy ở Mẫn Xá có các họ Nguyễn, Phạm, Vũ, Lê, Trần, Đặng, Lý, Dương, Đỗ, Hà) đều ra bái kiến. Hai vị quan hình dáng tướng mạo khôi kỳ, tuổi còn niên thiếu. Nhân dân bèn làm lễ, bái mừng và hỏi rằng:

  • Dám xin hỏi tên họ và phẩm tước của hai vị quan đây và đến trang dân Mẫn Xá có việc gì sai bảo?

Hai ông đáp:

  • Chúng ta phụng mệnh Tào quan ở Thiên đình, người họ Trương, vì nghe biết người chú họ lấy vợ và ở lại quê của dân trang, vì thế mới đến thăm người chú.

Nhân dân nghe xong bèn dẫn hai vị quan đến nhà họ Trương (tức người chú họ của hai ông có tên là ông Trạch lấy vợ người trang Mẫn Xá tên là Thị Thủy). Nhân dân tỉnh dậy mới biết là mộng báo. Đến ngày hôm sau nhân dân tụ họp ở ngôi quán cỏ đều nói chuyện nằm mơ, mọi người trong các họ đều nói là cũng mơ thấy như thế. Mọi người cho là sự việc kỳ lạ. Đến đêm hôm ấy nhân dân lại mơ thấy âm hồn gia tiên cha mẹ của các họ cùng báo rằng:

  • Ngày mai có hai vị chúa tể Thiên đình đến ở với dân ta. Cần nhanh chóng dựng một doanh cung ở bên cạnh đường đầu trang, truyền quét dọn đường xá và các nơi dân cư.

Nhân dân chợt nghe các âm hồn đại hội, bỗng nhiên tỉnh dậy. Sáng ngày hôm sau lại tụ họp báo về giấc mộng. Lại thấy hơn trăm con chim thước quần tụ thành đàn bay đến đậu đầy vùng đất của trang ấp Mẫn Xá. Dân trang không thể đếm được số lượng chim, mọi người rất kinh ngạc. Dân trang bèn lập một đàn tế ở quán sở làm lễ cầu an tống tiễn, chỉ trong chốc lát bầy chim thước lại tự bay đi, đồng thời thấy hai ông đi đến quán. Nhân dân đang tập trung làm lễ, lại thấy hai ông hỏi ông họ Trương lấy vợ người trong ấp không rõ nhà ở xứ nào. Nhân dân (tức trang Mẫn Xá) thấy hai ông thân hình mặt mũi y như hai vị quan, thầm nghĩ lấy làm kỳ lạ mới hỏi rằng:

  • Hai ông đây với nhà ông họ Trương quan hệ thân thuộc như thế nào mà tự báo nhân dân vào lúc này?

Hai ông đáp:

  • Nhà họ Trương vốn là chú họ, lấy vợ người ấp ta. Nay anh em tôi tìm đến nhờ vả người chú.

Nhân dân Mẫn Xá nghe lời giải thích, cho là đã ứng đúng như trong mộng, mới tôn kính cùng nhau hướng dẫn vào nhà ông Trương. Ông Trương thấy hai ông đi đến thì rất mừng nói:

  • Ta từ khi lấy vợ sinh sống ở ấp này đã lâu rồi. Đêm hôm trước bỗng mơ thấy hai người cháu cùng quân sĩ đi đến. Nay quả nhiên đúng thực như vậy, việc này chắc do trời định vậy?

Nhân dân nghe chuyện rất tin sợ.
Lại nói từ đấy ông Chiêu và ông Tuấn, hai anh em ở lại nương nhờ ông chú họ Trương. Tình tuy là chú cháu nhưng thân yêu như tình cha con, rất là quý trọng. Nhân dân trong trang ấp, đã thấy điềm lành chim thước và giấc mơ báo ứng, tất cả đều tôn kính, không dám coi thường. Hai ông vốn là thiên tài giáng thế, tư chất là bậc thánh, sinh ở trần gian, vốn rất thông minh trí dũng, tình cảm tuy là những người lưu lạc, nhưng mà khí độ vượt hẳn người thường, không dưới một ai. Hai ông ở lại đất này (tức trang Mẫn Xá) được một hai năm thì thiên hạ gặp thiên tai, hạn hán. Lúa mạ trồng cấy bị cháy khô, bệnh dịch lở ngứa khá nhiều. Trang Mẫn Xá bị nặng nhất trong quận huyện. Khi ấy nhân dân trang Mẫn Xá lập đàn cầu mưa, làm lễ cầu an, đến ba bốn lần không có kết quả. Mấy tháng sau nhân dân nhiều người bị ốm đau lại thêm tai hạn, đói khát, nhân dân hết sức lo lắng. Sau đó lại lập đàn làm lễ. Làm lễ xong đêm ấy nhân dân đều mơ thấy một cụ già râu tíc bạc phơ, đi theo sau là các âm hồn gia tiên của các họ có đến hơn ba bốn trăm người. Cụ già cùng các âm hồn đi theo trước hết vào nhà ông Trương. Nhân dân đi theo sau quan sát. Nhân dân nhìn thấy đều là các vị qua nhân, cùng ngồi, hai ông ngồi ở hai bên trái và bên phải, có quân sĩ đứng hầu. Lại nghe thấy hai ông hỏi cụ già:

  • Cụ là ai có việc gì mà đến đây?

Cụ già đáp:

  • Thần là quan bản thổ ở đất Mẫn Xá, nay nhân dân bị thiên tai hạn hán lại bị thêm bệnh ôn và lở ngứa, nay có hai vị chủ quan, quyền cai quản dân chúng, nay xin hai vị quan cứu giúp trị bệnh cho dân được yên lành.

Nghe nói xong mọi người ai nấy làm lễ, đương khi ấy lại thấy các âm hồn cùng bái lễ. Nhân dân đều bừng tỉnh dậy khi ấy trời đã sáng. Họ Nguyễn theo mộng bèn ra quán ở trước tiên, tập họp cùng nhân dân các họ và các vị chức sắc trong làng, mọi người nói đều mơ như thế. Các họ cũng mơ như vậy. Mọi người đều nói nguyên do như nhau. Nhân dân trong Mẫn Xá thấy sự việc trong mơ quả nhiên là như thế lấy làm kinh sợ. Ngay ngày hôm ấy (tức là ngày 12 tháng 8) nhân dân sắm sửa lễ vật cùng nhau đến nhà ông Trương làm lễ nhận làm thần dân. Khi ấy hai ông mới hỏi, nhân dân đáp:

  • Hai anh em vốn là khách phương xã đến, ăn ở tại nhà người chú, nương nhờ vào đất của dân chúng tôi, nếu có tài năng gì, cứu giúp dân trong tai hạn này, dân sẽ làm lễ tôn nhượn làm thần.

Khi ấy nhân dân kể lại đầy đủ rõ ràng sự việc thấy trong mơ như thế, dám xin hai vị cứu giúp, cho dân được sinh sống lập nghiệp qua khởi nạn đói khát, tất cả đều trông đợi hậu phúc của hai vị. Hai ông nghe sự việc, trong lòng còn do dự chưa quyết bèn bảo với nhân dân rằng:

  • Sự việc này xảy ra là do đạo trời báo ứng, như mọi người quả là đã thấy rõ ràng. Trong lòng chúng tôi còn phân vân vì thế chưa dám quyết. Dân làng lại nhờ cậy chúng tôi, mà chịu làm bề tôi chúng tôi sao dám nhận? Nếu như quả đúng như như lời cam kết thi ngay ngày hôm nay chúng tôi lập đàn trai giới, dân chúng đều cùng tập trung làm lễ. Anh em chúng tôi sẽ cáo với trời đất. Nếu quả đúng là anh em chúng tôi được thừa mệnh trời, cho quyền cai quản dân ở vùng đất này, nguyện xin báo mộng cho chúng tôi biết. Chúng tôi sẽ nhận dân chúng làm thần tử.

Nhân dân nghe lời mới sắm sửa thức chay, lập một đàn tế tại trước sân nhà của người chú họ của hai ông. Đêm hôm ấy hai ông vào đàn làm lễ, khấn xong, bèn nằm chờ báo mông ở bên đàn. Đến chừng quá nửa đêm, hai ông mơ màng ngủ thiếp đi. Bỗng nhiên thấy một vị đại tướng từ trên trời giáng thẳng xuống, đầu đội mũ rồng, phượng sáng lấp lánh, dõng dạc truyền rằng:

  • Ta vốn là sứ giả của Thiên đình sai xuống, vâng mệnh Hoàng thiên giao cho một đạo sắc “long chương” cho phép hai người mở ra xem.

Hai ông bèn vâng mệnh bái nhận, mở ra xem thấy trong đề 4 câu thơ như sau:
Lưỡng khanh sắc phó phụ Dương quân
Quyền chưởng sơn hà bá liệt huân
Họa phúc nhân dân quyền tại chủ
Khuông phù xã tắc chưởng ư dân.

Nghĩa là:
Hai người được sắc ban cho phụ giúp vua Dương vương,
Quyền cai quản núi sông và gây dựng nên công lao
Họa, phúc của dân là do các người nắm giữ,
Hãy giúp nước và bảo vệ nhân dân.

Dịch thơ:
Ban sắc hai khanh giúp thánh quân
Núi sông cai quản lập công huân
Dân gian họa, phúc hai khanh quyết
Sao cho nước mạnh với an dân.

Hai ông đọc xong bỗng tỉnh dậy, biết là quả đúng như mộng báo [cho dân], bèn mới báo cho dân nhận dân làm thần tử. Thế là truyền nhân dân lập đàn cầu mưa và cầu an. Trời bỗng nhiên mưa xuống, lúa màu tươi tốt trở lại, ruộng ao đầy nước. Những người bị bệnh lở ngứa đều khỏi. Nhân dân từ đấy mừng vui cười cười nói nói cùng bảo:

  • Ngày nay dân ta được trời giáng xuống hai vị thánh cứu giúp, không phải lo gì nữa.

Khi ấy viên huyện lệnh huyện Đông Ngàn nghe biết có hai vị thần tài giỏi cứu giúp dân được yên ổn, cầu mưa mưa xuống hết sức kỳ lạ, bèn làm biểu tâu lên vua và triều đình. Vua được tin bèn sai đình thần đem xe đến triệu hai ông về triều để vua cho thi tài và trao chức vụ. Thời gian này, sứ thần vâng mệnh đến nơi hai ông trú ngụ (tức nhà ông chú Trương trang Mẫn Xá) triệu hai ông về triều. Hai ông nghe lệnh bèn nhận lệnh theo sứ thần về triều, vào điện làm lễ bái kiến dưới thềm. Khi ấy hai ông mới vừa 18 tuổi, cả hai đều thân cao 10 thước. Nhà vua xem xét hình thể, tướng mạo khôi ngô lạ kỳ bèn thử hỏi tài năng. Hai ông tâu đối trả lời lưu loát, tinh thông văn võ, không điều gì là không biết. Vua cho là rất xứng đáng, ban chỉ truyền phong ông Chiêu làm Tham nghị triều chính, ông Tuấn làm Thái học sĩ vương. Lại chuẩn y cho trang Mẫn Xá là ấp hộ nhi sở tại. Từ đấy dân phong thịnh vượng, ấp trang giàu có no đủ, tất cả từ người đến vật đều được sống yên vui, lương binh được miễn, nhà cửa khang trang, ruộng vườn rộng rãi, đều cũng nhờ ơn đức to lớn của hai ông.

Một hôm hai ông xin vua cho về quê cũ thăm viếng gia tiên. Vua hứa cho, lại ban cho vàng bạc, gấm vóc các thứ đến hơn nghìn cân. Hai ông từ tạ trước thêm lên xe tiến quân đi thẳng về quê Ái Châu. Ngay hôm về đến quê, làm lễ bái yết gia tiên cha mẹ. Nhân dân cử hàng lễ đón mừng. Hai ông mở tiệc lớn, tu sửa nhà thờ, dừng binh ở lại chừng và mươi ngày. Việc xong, hai ông lại cất quân lên xe trở về thăm người chú họ, thăm thú tình hình đất gia thần (tức trang Mẫn Xá). Hôm ấy (tức ngày 10 tháng 3) dân làm lễ đón mừng. Hai ông truyền làm lễ bái yết vợ chồng ông chú họ. Mọi việc xong, hai ông nhân rảnh rỗi đi xem xét địa thế dân cư để dựng lại cung sở, để sau này có thời gian về tụ họp vui chơi yến ẩm, và lưu binh ở lại. Hai ông xem xét địa thế dân cư đều là mảnh đất hình rồng, phượng ôm ấp, rùa rắn bao quanh. Phía Tây Nam có gò hình sao Mộc phù giúp. Phía Đông Bắc có sao Thất Diệu chầu về. Tức là có ba sao cùng chiếu, phía sau có ao nước. Phía trước có một huyệt đất hình cái nồi khai mở. Thật là chín mặt có bãi rồng lại có ngòi nước chảy từ xa bên ngoài ấp. Một dải sông Thiên Đức chảy vòng xa bên cạnh ngoài địa giớ, đều chầu về và đối ứng. Hai ông bèn dựng cung Hội đồng và đóng quân thường trú ở đó. Năm tháng đi về làm năm yến ẩm du chơi. Ở phía bên cạnh địa giới, phía trước trang ấp, trên đó có thế đất rồng uốn quanh, phía trước lại có vùng nước hình cái nồi mở ra có hai dòng nước giao nhau. Phía sau có sao Kim mang hỏa. Phía trước có sao Mộc án ngữ phù trợ. Tựa hướng Đông Đông Bắc, nhìn hướng Tây Tây Nam. Hai bên trái phải như có hai cánh cửa đóng mở đều cùng ôm quanh và chầu về đất ấy. Hai ông truyền dựng cung sở. Khi hoàn thành, mở tiệc mừng, cho mời các cụ già và nhân giân các họ cùng đến ăn tiệc mừng. Trong khi yến tiệc vui vẻ ông Chiêu nói với nhân dân rằng:

  • Nay đã kết thành tình thày trò và đại nghĩa vua tôi, việc này là do trời định, không phải di ta mong ước, cũng như chẳng phải do dân cầu mong. Hơn nữa anh em tôi từ khi sinh ra đã biết mệnh trời, sức khỏe có thể nhấc đỉnh, bạt núi, tài năng vượt hẳn người thường. Ắt là núi sông không phụ anh em chúng tôi, quả nhiên được dự vào hàng quan chức của triều đình, thật là như ý mà dân tình cũng được nhờ cậy. Nay ta hưởng ơn đức của vua dồi dào, lộc nước cũng nhiều, nên ban tặng cho dân 10 nén vàng để làm vốn chung, mua thêm ao ruộng, lưu lại về sau. Đạo do trời định. Nghĩa vua tôi, không thể mua danh để đời sau tôn thờ được, chớ có cho là khác thường.

Nhân dân nghe thấy lời nói, bèn làm lễ hết lo sợ và nhận lễ. Yến tiệc xong, ông Chiêu mới làm bài thơ rằng:
Thiên địa sinh lai hữu thử thân
Tiên tri bẩm mệnh việt hồ nhân
Nam thiên đáo xứ giai thần tử
Phi thị hữu duy Mẫn Xá dân.

Nghĩa là:
Có thân ta là do trời đất sinh ra,
Biết trước rằng bẩm sinh tài đức vượt hẳn người thường.
Dưới trời nước Nam, nơi nào cũng là tôi con của ta
Không chỉ có duy nhất dân trang Mẫn Xá mà thôi.

Dịch thơ:
Trời đất sinh ra mới có thân,
Trước hay tài đức vượt thường nhân
Trời Nam khắp chốn đền che chở
Chẳng riêng Mẫn Xá mới ban ân.

Ông Tuấn họa lại bài thơ rằng:
Càn khôn tú khí tự thành thân,
Tại thượng nhân hề bất hạ nhân.
Phối dữ sơn hà danh bất tử
Phù chi ư quốc bảo ư dân.

Nghĩa là:
Khí thiêng của trời đất chung đúc nên thân ta
Nên ở trên tất cả mọi người thường
Tên tuổi chúng ta bất tử cùng sông núi
Luôn luôn giúp nước và bảo vệ dân.

Dịch thơ:
Khí thiêng trời đất đúc nên thân
Vượt trên tất cả đấng thường nhân
Tên tuổi núi sông lưu bất tử,
Giúp dân cứu nước mãi thi ân.

Hai ông làm thơ yến tiệc xong bèn lên xe đem quân về triều, làm lễ bái yết vua. Vua lại phong cho ông Chiêu là Thái bảo Đại tướng quân, ông Tuấn làm Tham tri bộ Binh. Thời gian ấy trời lại ra tai ương gây hạn hán. Vua sai ông Chiêu đi tuần sát tình hình trong thiên hạ và cầu trời mưa. Ông vâng mệnh cất quân đi tuần sát thiên hạ. Được chừng một năm ông tiến quân đến vùng đất nào, truyền vùng đất ấy dựng đàn cầu mưa, tất cả đều thấy mưa xuống trút nước, ruộng ao đầy nước, lúa màu hồi sinh xanh tốt. Thiên hạ tất cả đều nhở vào công đức của ông, dân được no đủ yên vui. Các nơi nhân dân đều làm biểu tâu về triều. Vua nghe tin rất mừng bèn triệu ông về triều. Ông Chiêu vâng lệnh về triều, làm lễ bái tạ. Vua mở tiệc mừng và phong thưởng. Lại phong cho ông làm Vạn hộ hầu. Từ đấy vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh bình, không phải lo đến các việc như đói kém bệnh tật.

Lại nói triều Nội Minh có viên đại tướng giặc người nước Hàn tên là giặc Lân, làm loạn có đến trăm vạn quân tinh nhuệ. Nội Minh thế khó chống cự được, bèn cầu viện nước Nam giúp đánh giặc Hàn. Khi ấy vua bèn sai ông Tuấn, phong làm Thái thú lĩnh 20 vạn quân giúp Nội Minh trợ chiến. Ông Tuấn vâng mệnh trước sân đình làm lễ bái tạ, từ biệt nhà vua, đem quân đến giúp Nội Minh cùng Nội Minh chống cự với giặc Hàn. Ba năm đóng quân lưu trú ở hai đất Quảng Đông, Quảng Tây phòng thủ vững chắc cự chiến với quân giặc Hàn. Về sau dẹp được giặc Hàn, vua và triều đình Nội Minh (Vua Hùng là con của Đế Nghi, em của Đế Minh, chia cho Kinh Dương Vương lúc đầu ở Nam Man xưng hiệu là họ Hùng. Người anh là Đế Minh trị vì nước Nội Minh – đều là anh em) thấy ông Tuấn là bậc anh tài thu được đất Lưỡng Quảng (tức Quảng Đông, Quảng Tây), cho trở về đất Nam Man phong ông Tuấn làm Lưu thủ Nội Minh Đại vương, trấn thủ Lưỡng Quảng.

Ba năm sau, khi ấy Nam Man nước ta có giặc Ân, tướng giặc tên là Thạch Linh thần tướng, tiến quân đến Bắc Giang, có trăm vạn quân mạnh, cờ hiệu, binh khí rợp đất, tiếng chiêng trống vang trời. Biên giới có thư báo về gấp, có ngày 5 lần thư đến. Vua sai đình thần cử tướng đi đánh dẹp nhưng đều bị thua và bị giặc giết khá nhiều, khó tìm người chống cự lại được chúng. Khi ấy vua mới triệu tập ông Tuấn về triều đánh giặc. Ông vâng mệnh trở về triều làm lễ bái yết. Vua bèn lệnh cho cả hai ông Chiêu và ông Tuấn, phong ông Chiêu làm Chiêu ứng đại vương, ông Tuấn là, Nội Minh đại vương đem quân chống giặc Ân. Khi ấy hai ông bái biệt vua vâng mệnh đem quân tiến thẳng đến Bắc Giang. Hai ống đóng quân tại phủ Từ Sơn huyện Đông Ngàn. Hai ông tuyển mộ thêm các nghĩa quân và gia thân được 822 người (gia thần thủ túc ở trang Mẫn Xá cùng các họ tập trung được 237 người đi theo hai ông đánh giặc Ân).

Hai ông xây dựng doanh nghiệp đồn lũy tại huyện Kim Hoa đóng quân cố thủ chống cự giặc Ân. Trải qua một tháng đánh nhau ba bốn trận không phân thắng bại. Hai ông thấy quân giặc Ân càng tăng viện đông đảo mà thiên hạ đều hướng về nhà Ân, bèn làm biểu tâu về triều. Vua vô cùng lo lắng, triều đình đành chịu bó tay [trước giặc mạnh]. Ngay hôm đó vua cho dựng một đàn, tự thân trai giới hành lễ cầu bách thần trời đất âm phù giúp nước, mời trăm quan của triều về tập hợp tại đàn làm lễ. Sau ba ngày bỗng nhiên trời đất tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên, trên đàn mây khói cuồn cuộn, đúng lúc ấy thấy một ông lão, tóc mi bạc phơ, áo mũ chỉnh tề, thân cao 9 thước, ngồi ở ngã ba đường vừa dẫm chân múa vừa hát. Mọi người cho là rất kỳ dị bèn vào tâu với vua. Vua tự mình ra đón ông lão mời vào trong điện. Vua mời ông lão ngồi lên trên và hỏi ông lão rằng:

  • Nay nước nhà đang có giặc mạnh nhà Ân làm loạn, dám hỏi tôn lão việc thắng thua như thế nào, xin tôn lão chỉ giáo.

Tôn lão gieo tiền được quẻ “lương cửu”. Tôn lão bảo:

  • Hãy đi mộ tìm trong thiên hạ sẽ được người, không mấy chốc sẽ dẹp yên được giặc Ân.

Ông lão nói xong tự biến mất. Vua thầm nghĩ ông lão này ắt là hiện hình của vua Lạc Long Quân về báo ứng, bèn sai sứ giả đi mộ tìm trong thiên hạ. Thời gian ấy sứ giả đi tìm đến làng Phù Đổng huyện Tiên Du. Lúc ấy ở làng Phù Đổng có một nhà ông bà sinh được một con trai tên là Thiết Xung thần tướng, tuổi mới lên ba, ăn uống khỏe, to béo, chỉ có điều là chưa biết nói. Lúc ấy bà mẹ nghe sứ giả rao đến mới nói đùa với con rằng:

  • Nay nước nhà có giặc mạnh, sứ giả đi chiêu mộ người tài giỏi trong thiên hạ để dẹp giặc. Vua ắt sẽ ban thưởng công lao. Nay con mẹ chỉ biết ăn uống mà không biết đi đán giặc để được triều đình ban cho tước trọng, báo đáp công ơn sâu nặng của mẹ bú mớm nuôi nấng.

Nghe mẹ nói, người con bỗng thốt lên lời bảo mẹ:

  • Mẹ phải mời sứ giả vào đây.

Bà mẹ cho là sự việc rất lạ bèn mời sứ giả vào cho gặp. Người con vẫn nằm và bảo sứ giả rằng:

  • Ngài hãy trở về và báo gấp, chế tạo một con ngựa sắt cao 30 thước, dài 10 trượng, một cây roi sắt trăm cân mang đến cho ta, để mặc ta đối phó với giặc Ân, vua không phải lo gì nữa.

Người sứ giả nghe nói, bèn vái chào chạy về tâu đầy đủ lên vua. Vua nghe chuyện rất mừng, sai chế ngựa sắt roi sắt. Đồng thời sai ông Chiêu và ông Tuấn, cưỡi tuấn mã, cầm theo long đao cùng các tướng sơn bộ, thủy bộ đem quân đi theo hai bên tả hữu trợ chiến cùng Thần vương. Ngay hôm ấy hai ông vâng mệnh trước sân triều đình đem ngựa sắt, roi sắt đến trước sân nhà, [Thần vương] bỗng vươn mình lớn mạnh, cao ngoài 30 thước, sức khỏe kinh thiên, lập tức cầm roi nhảy lên ngựa, hét vang bảo rằng:

  • Ta là tướng nhà trời.

Ngựa phi nhanh như bay. Kh ấy ông Chiêu và ông Tuấn phi ngựa theo hai bên tả hữu. Chỉ trong khoảnh khắc tiến thẳng đến núi Sơn Việt, bắt được tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng chém làm ba đoạn. Quân giặc Ân bỗng thấy vậy sợ kinh hồn bỏ chạy tán loạn đại bại. Ông Chiêu, ông Tuấn cùng Thần vương đem quân truy đuổi, chém được hơn 3000 đầu giặc. Sau một chốc rơi mất roi sắt, Thần vương bèn nhổ tre đâm vào quân giặc. Giặc chết rất nhiều. Giặc Ân bị quét sạch, đất nước thanh bình. Hai ông trở về kinh đô làm biểu tâu lên. Vua được tin rất vui mừng. Khi ấy Thiết Xung thần vương đánh xong giặc Ân bèn phi ngựa thẳng tới núi Ninh Sóc, cưỡi ngựa phi thẳng lên trười (đến nay dấu chân ngựa vẫn còn). Vua bèn truyền lệnh cho nhân dân địa phương lập đền thờ phụng.

Lại nói, về hai ông, Vua có chiếu triệu hai ông về triều. Hai ông vâng mệnh đem quân về triều làm lễ bái yết. Vua mở đại tiệc khao thưởng quân sĩ ba quân. Từ đấy hai ông ở trong triều làm việc, chức đến hàng Tam công tước tòng nhị phẩm. Được nửa năm lại có giặc Ô Lý nổi lên. Vua lại sai hai ông đem quân dẹp giặc. Hai ông vâng mệnh làm lễ cất quân. Đem quân tiến đánh một trận, giặc Ô Lý đại bại tan tác, hai ông truy sát được rất nhiều quân giặc, thu lấy toàn bộ khí giới đem về kinh, làm biểu tâu lên.

Vua bèn triệu hai ông về. Hai ông vâng mệnh đem quân trở về đến núi Dũng Quyết huyện Nghi Xuân châu Hoan bỗng thấy mưa to gió bão nổi lên, trời đất tối sầm, lại thấy hai mảnh cầu vồng xuất hiện ở thân người hai ông. Hai ông bay thẳng lên trời đi mất, mầu sắc rực rỡ huy hoàng cũng đột nhiên tan biến. Hôm đó là ngày 5 tháng 10, hai ông cùng hóa. Lúc ấy quân sĩ tán loạn khiếp sợ, trong chốc lát, trời tạnh mây quang. Quân sĩ và nhân dân nghe tin đều tập trung đến đã thấy hai ông hóa rồi. Mối đất đã đùng thành ngôi mộ lớn, chỉ còn thấy đai lưng và mũ của hai ông trên mặt đất. Quân sĩ và nhân dân thấy thế cho là kỳ lạ mới làm biểu tâu về triều. Vua biết tin vô cùng thương tiếc hai vị bề tôi hiền tài có nhiều công lao đối với nước, nên sai quan triều đình về nơi hóa, truyền sai dân địa phương dựng đền thờ phụng. Lại truyền trang Mẫn Xá vốn là dân hộ nhi tu sửa cung sở thờ phụng, được miễn trừ khoản đóng góp binh lương. Hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế. ngay hôm ấy vua khen phong mỹ tự được vào bậc Thượng đẳng phúc thần trường tồn cùng trời đất, mãi mãi được ghi nhớ tôn thờ.

Thời gian ấy các quan triều đình được sai về các cung sở của hai ông truyền dân lập bàn thờ thờ phụng.
– Phong [ông Chiêu] là Vạn hộ Chiêu ứng đại vương
– Phong [ông Tuấn] là Lưu thủ Nội Minh đại vương.

Chuẩn y cho 8 giáp thuộc trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ, hàng năm vào hai kỳ xuân, thu được hưởng lễ quốc tế.

Lại nói đến các thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương gồm 349 năm đến nước Nam ta trải bốn triều Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ [thần] giúp nước cứu dân, cầu gió được gió, cầu mưa được mưa, dẹp giặc thành công. Cho nên các vị đế vương các triều khen phong là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, rất sùng kính, thịnh vượng vậy.

Lại nói vào thời Triệu Việt Vương phò giúp Lý Nam Đế đánh dẹp giặc Lương. Thời gian ấy quan đại thần của Triệu Việt Vương là Trương tướng quân Hống Hát Phục Man đại vương đem quân đi đánh giặc Lương, đi qua cung sở, đền thờ ở Mẫn Xá. Thấy đền trang nghiêm rực rỡ, tướng quân họ Trương bèn cầu đảo khấn xin âm phù giúp nước dẹp giặc, thành công ắt sẽ tâu lên vua khen phong làm Thượng đẳng phúc thần, muôn đời thờ phụng. Khấn xong thấy chân hương bỗng hóa cháy nghi ngút, trong đền có tiếng vang ầm ầm như tiếng sấm. Quan quân thấy sự hiển linh thật lạ kỳ, bèn làm lễ cảm tạ. Về sau dẹp được giặc Lương, bèn truy phong làm Thượng đẳng phúc thần.

Đến triều nhà Lý sau này được 8 đời, vua Lý Thánh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành, lại cũng tiến đến qua cung sở đền thờ ở trang Mẫn Xá, bỗng thấy hai con rắn hoa mày ngũ sắc rực rỡ dài hơn 1 trượng, nằm cuộn tròn ở ngoài cửa đền thờ. Đến khi vua tiến quân đến bèn ngóc đầu dậy trước xe cúi đầu như bái lạy nhà vua, rồi bỗng bò vào trong đền biến mất. Vua thấy thế cho là đền rất linh thiêng bèn hỏi các cụ già trong dân:

  • Đền thờ vị thần nào vậy?

Các cụ trả lời:

  • Đền thờ danh tướng triều Hùng Vương.

Vua nghe xong bèn cho dừng xe, và dừng quân một lát. Truyền cùng quân sĩ vào đền làm lễ mật đảo âm phù giúp nước đánh dẹp giặc. Chỉ một trận dẹp được giặc Chiêm. Vua lại phong là “Thượng đẳng tối linh [Thần thiêng bậc thượng đẳng].

Vào cuối thời nhà Trần họ Hồ tranh quyền (tức Hồ Quý Ly). Quân nhà Minh nhân thế chiếm lấy nước ta. Lúc bấy gờ ở núi Lôi Dương huyện Lương Giang phủ Thiệu Thiên châu Ái có người họ Lê tên Lợi khởi nghĩa Lam Sơn, có đến 3000 quân mạnh trừ họ Hồ, bình định giặc Minh. Bấy giờ Lê Thái Úy vâng mệnh Lê Lợi đem quân đánh họ Hồ và quân Minh, hành quân qua cung sở đền thờ ở Mẫn Xá, thấy miếu đền trang nghiêm rực rỡ, bèn cho dừng xe, đem quân vào đền, nghỉ lại đó một đêm. Làm lễ mật đảo cầu đọc văn xin âm phù giúp nước trừ giặc thành công, đợi khi thanh bình cùng hưởng cảnh thái bình thịnh vượng. Đọc chúc xong chỉ trong khoảnh khắc thấy một đàn ong mật bay vào tụ họp đầy cả cung đền, tiếng kêu vo vo không dứt. Đến nửa đêm hôm đó Thái Úy thiu thiu mơ màng, bỗng thấy hai vị quan cao lớn đường hoàng, mũ rồng giáp ngọc rực rỡ, đai phượng, áo bào gấm sáng chói, tay cầm long đao cùng bảo:

  • Nay thấy vua Lê mở vận, xin được âm phù trừ giặc thành công.

Quan Thái Úy đang nghe nói chưa hết bỗng bừng tỉnh thì khi ấy trời đã sáng rõ. Thái úy cho là hiển ứng lạ kỳ bèn làm lễ cảm tạ, rồi ngay hôm ấy đem quân đi đánh giặc, chẳng bao lâu quét sạch cả giặc nhà Hồ lẫn nhà Minh. Trăm quan phò nhà Lê lên làm vua ở Lam Sơn, lấy niên hiệu là Thuận Thiên, tức Lê Thái Tổ Cao Hoàng đế. Từ đấy các triều vua nhà Lê đều khen tặng mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, trường tồn cùng đất nước, làm mẫu mực tôn thờ mãi mãi. Chuẩn cho trang Mẫn Xá làm hộ nhi sở thờ phụng, mỗi năm vào hai kỳ xuân, thu sai quan triều đình đến làm lễ tế.

Phong Vạn hộ Tối linh Đại vương
Phong Lưu thủ Tối linh Đại vương.

Chuẩn cho trang Mẫn Xá là hộ nhi sở tại phụng thờ. Các điều lệ quy định nghi lễ ngày sinh ngày mất, ngày chúc mừng của thần và các màu sắc cấm kỵ, cũng như tên húy của thần kê khai như sau:

Ngày sinh của hai vị đại vương: ngày 10 tháng 3, đến 12 tháng 3 là lễ chính tế. Làm lễ nhập tịch 10 ngày, trước đó 3 ngày thì chuẩn bị mâm bàn, các thức chay như trà, hoa, oản, chuối, các thức mặn thì mổ lợn gà làm cỗ. Các trò vui có đấu vật, cờ, ca hát sau 10 ngày thì làm lễ tạ.

Ngày hóa của hai vị đại vương: ngày 5 tháng 10, đến 10 tháng 10 là lễ chính tạ. Lễ vật hành lễ có cỗ chay, trà, hoa quả, thịt lợn, bánh dày, xôi rượu, vàng mã.

Lễ Khánh hạ [lễ mừng]: ngày 4 tháng Giêng. Lễ dùng cỗ chay, cũng có thể dùng thịt lợn, gà xôi, rượu và ca hát được.
Lễ Đại khánh hạ [đại tiệc mừng]:ngày 10 tháng 8, làm lễ tế rước như ngày lễ sinh nhật, ca hát 3 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 5, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.
Lễ Khánh hạ 10 tháng 11, tùy nghi làm lễ, ca hát 1 ngày.

Các chữ kiêng húy: Chiêu, Tuấn, Minh ba chữ cùng tên cha mẹ của thánh nhất thiết cấm không được dùng.
Ba màu: vàng, tía, hồng đỏ, khi làm lễ cấm dùng.

Ngày 10 tháng Giêng niên hiệu Hồng Phúc thứ nhất [1577 – triều Lê Anh Tông] Đông các Đại học sĩ Viện hàn lâm Nguyễn Bính vâng soạn [ngọc phả]

Ngày 1 tháng 5 niên hiệu Tự Đức thứ 11 [1858] bản xã đến xã Bằng Đắng huyện Bạch Hạc phủ Vĩnh Tường tỉnh Sơn Tây vâng sao lại từ bản chính.

Vâng sao lại lần nữa ngày 24 tháng 3 niên hiệu Bảo Đại thứ 7 [1933].

Thần tích Hiệp Phù, tổng Hạ Dương, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc làng Hiệp Phù tổng Hạ Dương huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh năm 1938, lưu tại Viện thông tin Khoa học xã hội, số hiệu TTTS3240.

Ghi chép về đền thần ở bản xã

Tích thần hiển tỏ từ thời thượng cổ. Truyền rằng thời Hồng Bàng Thị đời vua Hùng thứ 6 nước Văn Lang có vị khanh triều Hùng là Bạch Sam, có tài lược văn võ, trung trinh. Khi quân Ân đánh vào bộ Vũ Ninh, một vùng khổ sở vì can qua. Vua sai sứ đi khắp thiên hạ để cầu người có dũng lược, thiện chiến có thể phá được giặc, được một người con nhà ông Đổng giàu có tự xin được giúp đánh giặc. Vua bèn bái làm Thượng tướng, ban cho gươm ngựa, lệnh cho Bạch Sam là Đốc chiến. Đổng Thượng tướng lên ngựa, múa kiếm, chưa đến một ngày phá tan quân Ân ở dưới núi Vũ Ninh. Chúng đều quỳ lại, xưng là Thiên tướng.

Thế rồi Đổng Thượng tướng cưỡi ngựa đến thẳng núi Sóc Sơn, bay lên trời giữa ban ngày. Còn Đốc tướng Bạch Sam khải hoàn về Văn Lang tâu báo tin chiến thắng. Vua khen công lao to lớn đó, lệnh cho Bạch Sam mang cờ tiết đến phong Đổng Thượng tướng là Đổng Thiên Vương, lập đền ở đất cũ làng Đổng, năm tháng truy thờ. Phong Đốc tướng là Hùng hầu, lấy vùng sông Thiên Đức làm thực ấp.

Một hôm ông đóng quân ở thôn Tố xã Phù Ninh, duyên may gặp Lý Nương. Nương tuổi mới 15, có vẻ mạo đoan trang. Ông thích thú mà đón về kết phối. Một nhà hòa hợp, cầm sắt đàn vui. Từ sau lễ truy thờ Thiên Vương một vùng trở thành 5 huyện dân, đều rất yêu mến ông. Đến tuổi 83 thì ông mất, chôn cất ở nơi đất phúc trong vùng, lập đền thờ ở thôn Tố. 10 nơi xứ năm tháng đều tế thờ. Đền thờ này linh thiêng tỏ rõ, có thể giữ đất giúp dân, ngăn tai ương, trừ hoạn nan, gặp hạn cầu đảo được mưa, có sự việc cầu tất được, qua các thời đều anh linh bất hủ. Thời Sĩ Vương phong Hùng Hầu Bạch Sam là Linh ứng Hiển thông Phúc thần. Lý Nương là Phương tư Nương nương. Trải các đời hưởng thờ, dân cầu đều quả được ứng nghiệm…

(Phần sau là sự hiển ứng và gia phong các đời, không dịch)

Thần phả làng Hiên Ngang, Tiên Du, Bắc Ninh

Theo bản dịch từ bia đá tại làng Ngang Kiều của Nguyễn Công Hảo trong sách Tìm hiểu về truyền thuyết ba làng Ngang ở huyện Tiên Du, Bắc Ninh, NXB Mỹ thuậ, 2018.

Họ [Đất] Việt [ta] thường có 18 Thánh chủ ngự trị, đi tuần Ngũ Lĩnh phương Nam, khai sáng Hùng đô nước Việt. Mở đầu là ông Đế Minh [Thánh đế minh vương] xây dựng nên thành đô cung điện nhất [thống] 15 bộ.

Đến đời Kinh Dương Vương lập nước lấy tên là Xích Quỷ truyền ngôi cho Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ lập nên chính cung, sinh được bọc trứng trăm trai, đều là anh hùng cái thế, trí dũng song toàn. Lạc Long Quân – Âu Cơ chia 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên rừng. Người con cả Hùng Đoàn theo mẹ được kế tiếp làm vua gọi là Vua Hùng truyền 18 đời. Chuyện này đời Hậu Lê [Trần] có thơ rằng:

Mười tám chi vua vẫn nối truyền
Trăm trai một bọc giống Rồng Tiên
Trời Nam đất tổ muôn đời định
Đức rộng, tài cao bậc thánh hiền.

Đến đời vua Hùng Huy Vương thứ 6 ngự đô ở Việt Trì – Bạch Hạc giang. Kiến quốc gọi là nước Văn Lang, thủ đô hiệu là Phong thành (Phong Châu). Từ khi Hùng Huy Vương lên ngôi lấy khuôn phép để trị dân, đất nước hưng thịnh, thiên hạ thái bình an lạc.

Lúc bấy giờ trong triều chính có quan Bồ chính họ Hùng tên Chạc lấy vợ ở phủ Đà Giang, thôn Phượng Mao, tên nàng là Đinh Châu Hoa. Hai vợ chồng ở với nhau ý hợp, tâm đầu, thật là “cầm sắt duyên hài, phu thê hòa hợp, trượng phu thục nữ, quân tử thuyề quyên, tương hoan tương ái”. Đã hơn 5 năm chung sống mà hai vị “lan phòng chưa thấy sinh hương, quế hộ không thấy khai đà đóa hoa”. Một hôm Bồ chính Hùng Chạc tâm tình với phu nhân Châu Hoa:

  • Nhà ta vốn dòng hoàng gia phúc hậu, bách tử thiên tôn rất là đông đúc, hoặc thái quá mà bất cập, hoặc đầy quá mà lại nghiêng, hay thịnh rồi lại suy, lấy nhân nghĩa làm đại bản, đem thiện đức để cảm dân, không mảy may nào là làm điều ác. Thế mà trời lại phụ ta ư, hay là tổ tiên phần mộ bị khuyết khung, hay đoản thương long mạch thế nào mà đến nỗi khó bề sinh dưỡng. Nay ý tôi muốn đi các địa phương nào có những linh từ, linh tự nào linh thiêng để cầu tự. Đồng thời cũng là để tìm các danh sư, tướng địa để di chuyển mộ tổ xem sao.

Hai vợ chồng thành tâm sắm sửa lễ vật du ngoạn về Kinh Bắc vì nghe nói vùng này có nhiều linh từ, linh tự đẹp và linh thiêng. Một hôm đi đến Kinh Bắc nghe thấy ở Lãm Sơn Khê Nham có cổ tự Lãm hiện đang mở hội. Nhân dân xa gần đến lễ Phật, ngoạn cảnh rất đông. Hai vợ chồng quan Bồ chính cũng vào đó lễ Phật, ngoạn cảnh và cầu tự một thể. Khi hai vợ chồng đang đi xem phong cảnh, do cảnh đẹp quên cả thời gian, thì trời đã về chiều. Hai vợ chồng mới vào chùa lễ tạ, xin phép sư trưởng trụ trì để về nhà trọ trong dân. Khi ra đến bãi trước chùa, chợt trông thấy một ông lão mình mặc áo xanh, tay cầm một cành hoa hải đường, theo sau là một chú thanh đồng, tay cầm một cái La kinh, theo hướng từ cổng chùa đi lên. Quan Bồ chính trông thấy La kinh liền nghĩ:

  • Đây chắc là thầy địa lý.

Quan Bồ chính dừng bước và thi lễ vái chào ông lão:

  • Vợ chồng tôi rất hân hạnh được gặp tôn ông. Trộm nghĩ tôn ông là người Tướng địa, may lắm, may lắm. Tôn ông có thể giúp vợ chồng hèn mọn này một việc được chăng?

Ông lão dừng bước:

  • Cầm ta giúp việc gì cứ nói rõ.

Hai vợ chồng quan Bồ chính tiếp tục quỳ vái:

  • Xin tôn ông dạy bảo, chỉ cho ngôi đất tốt, giúp vợ chồng hèn mọn này đặt ngôi sinh phần tránh được tiệt phúc.

Ông lão cười và nói rằng:

  • Việc tuy là đạo Trời, nhưng phải là người có phúc mới thành đạt. Mọi việc căn bản ở Phúc – Đức. Phúc chỉ đãi những người có thiện tâm. Thấy vợ chồng ông thi lễ và xem qua là người ăn ở có phúc, có đức. Thôi đã xin thì ta chỉ cho. Còn được hay không là tùy đạo Trời.

Nói rồi ông lão lấy gậy vạch ở đường một bài thơ:
Muốn tìm ngôi đất tốt
Thì lên núi Tản Viên
Phúc ông Trời ưu đãi
Mạch đất chẳng khó tìm
Ngôi ở nơi Trung cấp
Huyệt chính tại Tả biên
Một bọc hai quý tử
Long – Sơn tài cái thế.

Lão ông vạch xong bài thơ, tự nhiên hóa thành một con hổ chạy vào núi biến mất. Vợ chồng Bồ chính Hùng Chạc – Đinh Châu Hoa cả sợ thất kinh, biết là có Trời giúp đỡ. Sáng hôm sau về đến gia phủ tiến hành dời ngôi mộ tổ lên Tản Lĩnh Linh sơn. Khi còn đang ngơ ngác tìm kiếm vị trí như bài thơ ứng bá “Trung cấp, Tả biên” ở đâu thì bỗng thấy một con hổ miệng cầm hòn đất chạy đến đặt trước mặt, rồi phóng chạy mất. Quan Bồ chính biết là thần đã dẫn bảo, liền đặt mộ tổ tại vị trí hòn đất lưu lại của hổ, làm lễ an táng chu toàn rồi ra về.

Được 100 ngày thì một đêm Hùng công đang mơ màng nhìn thấy ông lão Tướng địa mà hai vợ chồng gặp ở Kinh Bắc trước đây đi vào nhà. Ông vội vàng quỳ xuống thưa hỏi:

  • Thưa thầy, từ khi vợ chồng tôi được gặp thầy, được thầy chỉ bảo chỗ đất thiêng, chưa biết thầy ở đâu để báo đáp. Ơn thầy sao quên. Thầy cho biết quê hương, bản quán để vợ chồng chúng tôi được đến để tạ ân.

Ông lão cười ha hả và nói rằng:

  • Ta là Khổng Lồ Tổ giáo Thiền sư. Ta thấy vợ chồng ông có lòng thành kính và sống có lương tâm phúc hậu, cho nên ta hiện xuất để báo cho ông ngôi đất tốt, chứ ta có phải ông thầy Tướng địa trên nhân gian đâu.

Nói xong ông lão ngoảnh lại bảo chú thanh đồng lấy ở trong túi ra một bài thơ đưa cho quan Bồ chính Hùng Chạc, đại ý bài thơ ghi:
Dòng dõi nhà Hùng đức hậu dài
Được đất sinh thành quý tử hai
Bao gồm sông núi ngàn năm vững
Tiếng thơm rực rỡ chẳng bao phai.

Hùng công xem xong chưa kịp nói gì thì tỉnh dậy, thì ra là một giấc mộng. Từ dấy bà Đinh Châu Hoa có mang. Khoảng 7 tháng sau, bấy giờ là mùa đông, Hùng công được vua mời vào thế sự. Khi về đến gia phủ thì tạ thế. Hôm ấy ngày 10 tháng Chạp năm Bính Ngọ. Nhà vua cho tổ chức lễ an táng tại gia phủ.

Đến ngày mồng 8 tháng 2 năm Đinh Mùi, thái bà Châu Hoa mãn nguyệt khai hoa sinh một bọc hai người con trai. Mới sinh đã có tướng lạ, thân hình cao lớn khác thường, mặt mũi khôi ngô tuấn tú. Lúc Thái bà sinh tự nhiên có mây ngũ sắc đầy trời, chim chóc kéo đến hót vang. Có cả đàn hổ con kéo đến quanh phủ, làm mọi người trong phủ vừa kinh sợ, vừa thấy lạ.

Khi hai chàng trai 3 tuổi, một đêm Thái bà nằm mộng thấy phu quân Hùng Chạc hiện về báo mộng đặt tên con: Một là Hùng Long, một là Hùng Sơn. Đến năm 16 tuổi thì hai người đều cao lớn, vạm vỡ trở thành anh hùng cái thế, dũng lược quả nhiên. Long công có tài xuống bể, đi trên mặt nước như đi trên mặt đất. Đi đến đâu thì các loài thủy tộc đều bơi đến hướng chầu. Các loài thủy tộc hại người đều lùi xa vạn dặm ngoài biển khơi. Sơn công có tài đi bộ leo núi nhẹ như đi đường bằng, đi vào rừng các loài muông thú đều tụ tập đến hướng chầu. Các loài thú dữ hại dân thì sợ một phép, lui dần về rừng sâu.

Cả hai vị đều thông minh, trí tuệ, đức trọng, tài cao, kỳ mưu dị thuật. Các tướng sĩ trong triều đều nể phục. Vua Hùng Huy Vương biết tài hai vị liền triệu vào cung phong chức:
– Hùng Long công làm Trướng long chu Thủy đạo Tướng quân.
– Hùng Sơn công làm Nhạc phủ Tướng quân.

Bấy giờ có giặc nhà Ân sang xâm lược nước Văn Lang. Thủ lĩnh giặc Ân là Thạch Linh thần tướng cầm đầu, đem quân từ phương Bắc sang xâm lược nước ta. Thế giặc rất hùng mạnh, cờ quạt, giáo mác, ngựa chiến hành quân mù mịt cả đất trời. Đi đến đâu chúng cướp phá của cải, đánh giết dân lành. Các vị quan trấn thủy biên thùy thua trận, cấp báo về triều đình, cũng là lúc giặc Ân đã tiến đến vùng Kinh Bắc, lập trú đồn trại, củng cố binh mã để tiến đánh Phong thành. Vua Hùng Huy Vương liền triệu hai vị Hùng Long, Hùng Sơn về triều, cấp binh mã, lương thực, tấn phong làm tướng ra trận đánh giặc Ân. Hùng Long là Thủy đạo quân Thống lĩnh binh mã. Hùng Sơn là Nhạc hầu phó tướng lĩnh quân. Một thuộc 50 thủy bộ. Một thuộc 50 sơn bộ.

Hai vị tuân lệnh, đem 2000 quân binh hành quân gấp đến Kinh Bắc. Một mặt huy động các anh hùng hào kiệt ở các phủ, trang, ấp, đồng thời động viên dân binh xây dựng các đồn lũy để chuẩn bị cuộc chiến với giặc Ân. Một mặt Long công lập doanh trại ở hai chi nhánh: sông Nguyệt Đức và sông Nhị Hà để trấn giữ đường thủy. Một mặt Sơn công lập đồn trại từ Phong thành đến Kinh Bắc để trấn giữ đường bộ.

Một hôm hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiến quân đến khu núi tại trại Hiên Đường, thuộc huyên Tiên Du. Hai vị vốn có thiên bẩm anh tài, thông hiểu địa lý, nhìn thấy dải núi ở đây hình thù như một con rồng nằm uốn khúc, xung quanh có nước bao bọc. Thật là khí đất thiêng. Hai vị quyết định lập đồn trại tại đây. Khi khảo sát địa hình tìm thấy một khu đất nổi lên hình thế “chân long quý cục”, hai bên có hai gò đất chầu lại. Tiếp đến là khu đất có hình thế “long cảnh”, nghĩa là cổ rồng, phong thủy gọi là “Tả hữu hội tụ”. Trước mặt có “khai hoa minh đường thủy tụ”. Lại có con đường cái nhỏ chạy qua trước mặt. Hai bên có hai giếng tựa mắt rồng. Tiếp xuống chân núi lại có khu đất hình thế “chân long chi vĩ” như cái đuôi con rồng. Phong thủy gọi là “Vĩ long chính cục”. Trước mặt có ba cánh đồng nước hợp lại, thật đúng là “hội đáo minh đường, kim quy chấn trạch”. Đằng trước lại thấy một khu đất nổi lên như hình con phượng nằm ẩn mình. Hai bên có hai dải đất, một bên hình nghiên bút, một bên hình quyển sách, thực là “thiên địa bài, chung linh đại địa”. Hai vị quyết định lập bản doanh tại ba vị trí đắc địa trên.

Hôm ấy là ngày mùng 4 tháng Giêng, đẹp ngày, hai vị tiến quân đến vùng đất này. Nhân dân trang ấp Hiên Đường đón tiếp nồng nhiệt và tổ chức lễ ăn mừng khao quân sĩ. Đất đắc địa, lòng dân thuận, hai vị quyết định làm lễ lập đồn trại cùng ăn ừng với nhân dân.

Khu đất “chân long quý cục” thuộc trang Kiều là chính trại chỉ huy. Trung trại ở khu đất “chung linh đại địa” thuộc trang Na. Tiền tiêu ở khu đất “chân long chi vĩ” thuộc trang Nội. Đồn trại được lập theo thế liên hoàn hình chữ Vương để chuẩn bị đối phó và dàn trận chống lại giặc Ân. Lúc nào nhân dân ở trang ấp Hiên Đường có 7 họ: Lê, Nguyễn, Trần, Trương, Mai, Cao, Trịnh. Các trưởng họ đều được hai vị bổ nhiệm chức “tộc trưởng”. Các trai tráng được bổ sung vào quân sĩ và lập các đội dân binh. Dân số Hiên Đường lúc này có khoảng gần 300 nhân khẩu.

Từ đấy hai vị Hùng Long, Hùng Sơn đã an cư ở đồn trại, ngày đêm luyện tập quân sĩ và tiến đánh giặc Ân ở núi Vệ Linh. Gần nửa năm đã đánh đến 30 trận đều thắng trận, bắt trên 30 tên tướng giặc Ân nộp về triều đình, đuổi được giặc Ân về nước.

Thua trận, giặc Ân củng cố lực lượng, tăng thêm quân sĩ tiếp tục tiến đánh Văn Lang, thế giặc mạnh gấp nhiều lần. Được tin báo giặc lại vào xâm lược, hai vị Hùng Long, Hùng Sơn tiếp tục củng cố lực lượng ở các trại Hiên Đường và hai đường thủy bộ trên sông Cầu, Nhị Hà và đường bộ lên phương Bắc. Nhưng thế giặc mạnh, hai vị không chặn được, đành lui về cố thủ ở trại Hiên Đường và cấp báo về triều đình.

Hùng Huy Vương lập tức triệu tập quần thần để bàn việc đánh giặc. Đã qua 3 ngày nhưng chưa tìm được kế đánh giặc. Đến ngày thứ tư bỗng xuất hiện một ông lão mình cao 9 thước, cứ ngồi ở cổng thành cười, múa, hát vang. Nhân dân trông thấy lấy làm lạ, vào bẩm báo với vua. Hùng Huy Vương thân chinh ra đón vào dự hội nghị quần thần và hỏi:

  • Trông tướng mạo tiên sinh chắc không phải người thường. Vậy tiên sinh có kế sách nào hay để giúp dân ta đánh đuổi giặc Ân, xin tiên sinh chỉ giáo cho?

Lão ông nghĩ một lát rồi lấy một vật gì đó trong tay nải gieo quẻ, xong rồi nói:

  • Phải cầu lấy một người có tài “thần vũ” đến hỗ trợ cho Long – Sơn tướng quân, ắt giặc phải tan và từ bỏ dã tâm xâm lược.

Nói xong đi thẳng ra cổng biến mất. Hùng Huy Vương và quần thần thấy lạ, nhưng vẫn quyết định cử quân sĩ đi loan báo cầu người tài khắp đất nước để tìm được tướng “thần vũ”. Đêm ấy, Hùng Huy Vương lại có giấc mơ gặp ông lão ban ngày. Ông lão xưng là Lạc Long Quân và cho biết thêm việc tìm người tài đánh giặc:

  • Cứ đến làng Phù Đổng, ắt tìm được.

Tỉnh dậy, vua liền cho quân lính về làng Phù Đổng để tìm “thần vũ”. Quân lính đến Phù Đổng loan báo thì được cậu bé lên 3 tự xưng là Thiết Xung ở với một bà mẹ nhà rất nghèo mời vào và nhận lời giúp vua đánh giặc. Bà mẹ Thiết Xung cho là con mình đùa cợt, vì từ khi bà dẫm vào vết chân lạ ở vườn cà, rồi có mang sinh ra cậu bé, lên 3 vẫn chưa biết nói, biết cười. Tự dưng nghe sứ giả loan báo, cậu bảo mẹ mời sứ giả vào để xin đi đánh giặc. Thiết Xung nói với sứ giả:

  • Về tâu với vua cấp cho tôi một con ngựa sắt 10 thước, một áo giáp sắt và một chiếc đĩnh dài 10 thước, tự khắc tôi sẽ đánh thắng giặc.

Sứ giả đem những lời tâu đó về bẩm với vua. Hùng Huy Vương vui mừng cấp tốc cho đúc ngựa, rèn thiết đĩnh đưa về làng Phù Đổng và phong chức cho cậu bé là Thiết Xung Thần Vương, lệnh cấp tốc về Hiên Đường cùng Hùng Long, Hùng Sơn đánh giặc.

Ngày 10 tháng 8 hai vị Hùng Long, Hùng Sơn thiết yến hội binh cùng Thiết Xung Thần Vương ở Hiên Đường và ra lệnh xuất quân. Thiết Xung Thần Vương lĩnh đội kỵ binh, tiền quân. Hùng Long lĩnh đội thủy quân, trung quân. Hùng Sơn lĩnh đội bộ binh, hậu quân.

Ba đạo quân tiến thế liên hoàn đại chiến với giặc Ân ở núi Vệ Linh sơn, mới đánh một trận giặc Ân thua to, thi nhau tháo chạy. Quân Văn Lang thừa thắng truy quét. Mải truy quét giặc và đánh quá hăng tự nhiên thiết đĩnh của Thần Xung bị gãy. Thần Vương liền nhổ các bụi tre quật, kẻ bị cháy khiếp vía kinh hồn, chết như ngả rạ. Thắng trận về đến núi Sóc Sơn, Thần Vương cưỡi ngựa sắt bay về trời. Sau được vua Hùng Huy Vương phong là Phù Đổg Thiên Vương.

Hùng Long bên đường thủy cũng tiếp sức đánh tan các chiến thuyền của giặc Ân. Trên bộ Hùng Sơn chỉ còn việc bắt sống những tên giặc còn sống sót đưa về báo công với triều đình. Thắng trận trở về Long công đi dọc bờ sông Nguyệt Đức, tự nhiên có một trận mưa to gió lớn, trời mây mù mịt. Long công tự hóa trên dòng sông. Sơn công rút quân về đến doanh trại Hiên Đường. Nhân dân nô nức đổ ra đón mừng. Đêm ấy tự nhiên có một đám mây ngũ sắc bay về, sấm sét nổ ầm ầm, mây mù tối tăm. Sơn công cũng tự hóa, mối đùn thành mộ.

Nhân dân và quân sĩ cho là điềm lạ, cấp tốc tâu về triều đình. Vua Hùng Huy Vương vô cùng thương tiếc và giao đình thần đem sắc chỉ tặng phong và ban thưởng cho nhân dân Hiên Đường. Miễn tô thuế, thiết lập hội đồng tại sở thờ phụng lập đền thờ để cả nước cùng thờ phụng. Đồng thời phong tước cho hai vị tướng:
– Long công được phong là Uy Long Đại vương.
– Sơn công được phong là Uy Sơn Đại vương.

Ban sắc chỉ cho nhân dân Hiên Đường thờ cúng hai vị ở chính lăng từ sở tại. Cứ mỗi năm xuân thu nhị kỳ khiển quan tế lễ. Các nơi thờ cúng hai vị trong cả nước có tất cả 42 đền thờ.

Lại nói đến thời Đông Hán, Tấn, Tống, Tề, Lương phàm 349 năm cho đến nước Nam trải qua Đinh, Lê, Lý, Trần 4 họ đã khai sáng ra cơ đồ lớn đều ban thưởng người có công. Khi triều Lê Trang Tông có quan đại thần Thái úy cũng khởi nghĩa quân diệt nhà Mạc. Quan Thái úy có yết kiến đền thờ hai vị Uy Long Đại vương, Uy Sơn Đại vương ở Hiên Đường và xin cầu giúp nước. Trận đó Thái úy diệt xong nhà Mạc.

Đến hiệu Lê Vương Bình, khi đó còn nhà Mạc lên ngôi hoàng đế đã phong 4 chữ “Vạn cổ Phúc thần” cho hai vị tướng quân ở đền thờ Hiên Đường. Xuân thu nhị kỳ cả nước hương hỏa lâu dài thịnh vượng.

Các ngày lễ. Các ngày sinh, hóa, khánh tiết tế lễ:
Ngày 8 tháng 2 là ngày sinh hai vị Hùng Long, Hùng Sơn.
Ngày 12 tháng 9 là ngày kỵ nhật.
Ngày mồng 4 tháng Giêng là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 5 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 7 tháng 7 là ngày Khánh hạ.
Ngày mồng 10 tháng 8 là ngày Khánh hạ.
Ngày 10 tháng 12 là ngày Khánh hạ (khai sắc), ngày kỵ nhật quan Bồ chính Hùng Trạc.

Các tên húy: Long, Sơn, Chạc, Châu (bốn chữ).

Chi phí làm bia: mua bia đá hết 53 quan. Thuê mang về hết 15 quan. Thuê khắc chữ hết 45 quan.

Kính soạn Thần tích ngày 10 tháng Giêng năm Hồng Phúc thứ nhất. Người phụng soạn Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn …

Thần tích làng Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Trích bản khai năm 1938 của làng Đại Lâm, tổng Phong Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, ký hiệu TTTS3649 lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Tên làng: xã Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 大林社豊舍縂安豊縣北寧省

Thần thành hoàng:
1 vị duệ hiệu là 輔國公嚴大王 [Phụ quốc Công Nghiêm Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 海國濟治大王 [Hải Quốc Tế trị Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 佐治明天大王[Tá Trị Minh Thiên Đại vương]
Các ngài là Thủy thần, đức Minh Thiên là Thiên thần.

Sự tích các ngài: Thế truyền về đời vua Hùng Vương, ở xã An Khang, huyện Yên Mô có 1 phú ông họ Phạm, tên là Đài, vốn nhà hào phú, dòng dõi phong lưu, lý số nho y mọi nghề tinh thạo. Ông lấy vợ người họ Hán, đến năm ngoài 30 tuổi, không may bà vợ mất sớ, sinh hạ 1 người con gái tuổi vừa 16. Ông muốn gả chồng cho con. Người cùng làng, sắp toan định ngày nghi thất nghi gia. Lại gặp lúc trong địa hạt mình xảy ra nhiều trộm giặc, đua nhau cướp bóc của cải thôn dân. Vù thế lòng ông chán nản, muốn tìm nơi cảnh vắng mà an dưỡng tuổi già. Ông bèn thu xếp cửa nhà cùng với con gái thẳng ra miền Kinh Bắc lánh nạn. Khi đi có mang 1 giỏ thuốc Nam để giữ mình. 1 ngày kia đi đến làng Đông Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, ông trú cư ở đấy vài tháng để tiện việc làm thuốc. Nhân dân ở làng ấy nhiều người được nhờ vả nên ai cũng đem lòng yêu mến. Bất giờ trong tổng nội có người mắc bệnh khó chữa, nghe tiếng ông là danh sư bèn đón ông về chữ giúp. Quả nhiên người ấy khỏi bệnh. 1 ngày ông đến vãn cảnh chùa làng Đại Lâm. Khi trở về vừa gặp cơn mưa gió, ông đành phải trở lại chùa ngủ trọ 1 tối. Đêm ông nằm mộng thấy 1 vị sư đến bảo rằng:

  • Nhà ngươi tốt phúc, ngày mai sẽ có tin mừng.

Nói xong đọc 1 bài thơ rằng:
詢之以报喜于君
汝福從茲日日新
天定降家來見日
必然相配自成親

Tuân chi dĩ báo hỉ vu quân
Nhữ phúc tòng tư nhật nhật tân
Thiên định giáng gia lai kiến nhật
Tất nhiên tương phối tự thành thân.

Nghe mấy câu thơ ấy ông chợt tỉnh dậy, tự nghĩ trong bụng lấy làm lạ. Sớm ngày mai ông lễ Phật trở ra về, đi qua làng Đại Lâm, thấy 1 người con gái nằm trong lều cỏ kêu khóc. Ông chạy vào hỏi duyên cớ. Người con gái thưa rằng:

  • Thiếp là con gái họ Trần, tên là Tố Nương. Cha mẹ mất sớm, khi còn tuổi trẻ. Anh em chẳng có ai, không người nương tựa. Đem mình đi ở với cậu ruột, ngày tháng dung thân. Thiếp lại hay có cứng đau bụng vặt. Cậu đem lòng ghét bỏ, đuổi đi. Vì thế thiếp phải ra nằm ở quán này.

Ông thấy tình cảnh lấy làm ái ngại, bèn mở túi lấy thuốc cho uống. Lúc lâu nàng Trần khỏi bệnh. nàng bèn mời về nhà, đem tình trạng kể với cậu và xin cho mình được hầu hạ chăn gối để báo đáp ân sâu. Cậu vui lòng gả. Sau khi đã thành gia thất, ông bèn đến xã Đại Lâm, ngày thường đi chữa thuốc cứu dân. Dân làng thấy ông là người hiên fhoaf thuần hậu, thỉnh ông coi giữ cảnh chùa. Được mấy năm ông làm thuốc rất là phát đạt giầu thịnh. Ông xuất gia sản dựng thành 1 ngôi chùa nữa. 1 hôm ông nằm mộng thấy 1 vị thần tự xưng là Nam Tào, [vâng] sứ mệnh đức Thượng Đế đến báo cho các vị thần văn võ biết rằng:

  • Đây có nhà họ Phạm giữ chùa vốn là người phúc hậu. Lai hay mộ về đạo Phật. Nay đức Ngọc Hoàng cho 1 viên Thiên tào Điển lại và 2 viên Thủy tế Long hầu, xuống Dương gian đầu thai làm con nhà họ Trần để sau này giúp nước cứu dân.

Nói rồi biết mất. Đến khi ông tỉnh dậy, biết thế nào cũng có điềm hay. Một ngày đức bà Trần Thị ra bến sông ở trước làng tắm gội. Đương lúc tắm, chợt thấy con giảo long nổi lên quấn quanh mình ba 3 vòng. Bà sợ hãi chạy lên bờ, thấy có mùi hương thơm ngào ngạt. Khi về đến chùa trời đã xế bóng. Lại thấy 1 ngôi sao tự trên trời sa xuống trước mặt. Hào quang chói lọi. Phút chốc biến mất. Tự đấy trong mình bà có thai.

Đến ngày mồng 6 tháng 8 bà sinh hạ 1 bọc 3 người con trai, thân thể cao lớn, hình dung kỳ dị. Ông bà mới đặt tên ông thứ nhất là Nghiêm công, thứ 2 là Minh công, thứ 3 là Trị công. Kịp lúc tuổi trưởng thành, ông nào cũng học hành sáng suốt, và có tài văn cõ. Đến ngày 13 tháng 7 đức than phụ là đức Phạm công tạ thế. Bấy giờ nhân dân trong làng thấy các ông có tính trí dị thường, lại có tài văn võ mới rủ nhau đến làm thần tử. Ông bèn chọn đinh tráng xã ấy, cùng các xã lân bàng như Đại Bàng, Thọ Đức, Thiểm Xuyên, Đông Xá được hơn 1000 người, thiết lập 1 cái doanh trại ở địa giới đầu làng. Chọn ngày mồng 1, 2, 3 tháng Giêng để khao thưởng quân sĩ. Việc ấy nghe đến tai các quan địa phương làm biểu tâu Vua. Vua toan sai đình thần đi đánh dẹp, nhưng đêm Vua nằm mộng thấy sứ mệnh Thiên đình đến báo rằng:

  • 3 ông ấy vốn là người trời sai xuống giúp nước, thì nhà vua nên dụ chứ không nên đánh.

Nói rồi đằng không biến mất. Vua tỉnh dậy biết là mộng báo, mới sai sứ thần đem chiếu chỉ đến phủ dụ. 3 ông được chiếu chỉ cùng theo sứ thần về yết kiến Vua. Vua xem thấy thể diện khác thường, nói thử tài văn võ, rồi phong cho ông Nghiêm là Thống lĩnh long chu Thủy đại Lạc tướng quân. Ông Minh là Cứ thiên Bố chính Tướng quân. Ông Trị là Thủy tào Tả điển lại Lạc Long tướng quân. Từ đấy vua tôi hiệp đức, trong nước yên hòa. 3 ông tâu vua xin về bái yết gia đường. Vua ban cho vàng bạc gấm vóc rất nhiều. 3 ông lạy tạ trở về nguyên quan sở Ái châu. Nhân dân kéo đến mừng rỡ vui vẻ. Sau khi thám tỉnh mẫu thân, ông bèn tu sửa từ đường, làm lễ tạ gia tiên. Được ít lâu đến ngày mồng 2 tháng 9 đức Thái bà thân mẫu tạ thế. Ông sửa lễ tìm nơi an táng. Mọi việc xong xuôi, 3 ông lại trở về triều yết chúa. Vua gia phong quan tước rồi bổ dụng cho đi trị nhậm các nơi.

Thời bấy giờ có giặc nhà Ân là Thạch Linh thần tướng, đem 300000 hùng binh sang làm loạn. Được tin, Vua sai 3 ông đi chống cự. Chống nhau với giặc nhà Ân hơn 10 trận, thế giặc ngày ngày một mạnh. Ông phải sai người đem tờ biểu về tâu vua, lấy thêm quân cứu viện. Bấy giờ trong triều các đình thần thấy đều thúc thủ. Vua lấy làm lo sợ, lập đàn cầu đảo thiên địa bách thần, rồi sai sứ thần đi chiêu mộ các người hiền tài trong thiên hạ để giúp nước. Bấy giờ ở xã Phù Đổng thuộc huyện Vũ Ninh có 1 nhà hào phú sinh được 1 người con trai đặt tên là Thiết Xung thần tướng, lên 3 tuổi ăn uống rất khỏe mà không biết nói. 1 hôm nghe tiếng sứ giả nhà vua đến, ngài bật ra tiếng nói mà bảo mẹ gọi sứ thần lại. Khi sứ thần đến, ngài bảo về tâu với nhà vua đánh cho 1 con ngựa sắt, 1 thanh gươm sắt, ngài sẽ đi dẹp giặc giúp nước. Nhà vua không phải lo gì.

Sứ giả về tâu Vua. Vua truyền đánh gươm sắt, ngựa sắt đem lại để cùng với 3 vị (Nghiêm Công, Minh Công, Trị Công) đem quân đi đánh giặc. Bấy giờ ngài nhảy lên mình ngựa sắt chạy như bay đến dưới núi Vũ Ninh, đánh nhau 1 trận. Ngài chém được tướng giặc là Thạch Linh thần tướng. Khi giặc đã tan ngài đi đến núi Sóc Sơn, đằng không mà biến hóa.

Lại nói đến đức Nghiêm Công và Trị Công sau khi bình được giặc rồi 2 ngài bơi thuyền đến sông Bạch Đằng, biến ra thần rắn gieo mình xuống sông mà hóa. Ngày ấy là ngày mồng 2 tháng 9. Vua sau đình thần đến địa phương ấy truyền cho dân gian lập miếu thờ phụng. Còn đức Minh Công khi phụng mệnh hồi triều bái tạ, ngài đứng giữa sân rồng rồi đằng không mà hóa. Vua truyền lập đền thờ ở trong cung phủ phụng sự. Lại truyền cho xã An Khang và xã Đại Lâm lập đền phụng sự và bao phong là Vạn cổ Phúc thần…

Thần tích xã Vũ Lăng tổng Thịnh Quang huyện Trực Định tỉnh Nam Định

Ngọc phả cổ do Thượng thư quốc triều vâng soạn về dòng dõi trăm trứng triều Hùng gồm tứ vị Thủy thần Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Lục Cung Uy Đại vương.

Xưa nước Việt ta ở phương Nam, núi sông thuộc khu vực sao Dực, sao Chẩn, ứng về phương Đẩu, phương Ngưu. Từ thuở đầu dựng nước, nối vận lớn của Thánh tổ Kinh Dương Vương, non sông muôn dặm, dựng nền thành đô cung điện, mở mang muôn vật, cứu giúp nhân dân, thống lĩnh mười lăm bộ nước Đại Việt.

Đến thời Hùng triều truyền đến vua Huy Vương, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng quốc hiệu là Văn Lang, kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua chiêu tập anh tài, dùng người hiền giúp sáng đức lớn, sửa sang lễ nhạc văn trị, ngoài giữ biên cương, khiến các phương xa mến phục nghĩa đức. Vận nước hưng thịnh, giáo hóa nhân dân, phong tục trở nên tốt đẹp, thiên hạ đều xưng tụng là bậc vua quý báu.

Xét thuở xưa, Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình tên là Âu Cơ, lập làm chính cung. Một hôm trở về núi Nghĩa Lĩnh, bỗng thấy mây lành năm sắc, bốn phương rực rỡ, rồi mang thai ba năm. Đến ngày ba mươi tháng ba đủ kỳ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành một trăm con trai, đều có khí tượng anh hùng cái thế.

Khi các con đã trưởng thành, vua bèn chia nước làm mười lăm bộ: Một là Sơn Tây. Hai là Sơn Nam. Ba là Hải Dương. Bốn là Kinh Địa (Bắc?). Năm là Hoan Châu. Sáu là Ái Châu. Bảy là Bố Chính Châu. Tám là Ô Châu. Chín là Hưng Hóa. Mười là Tuyên Quang. Mười một là Cao Bình. Mười hai là Lạng Sơn. Mười ba là Quảng Đông. Mười bốn là Quảng Tây. Mười lăm là một châu khác (Ai Lao?).

Khi ấy Lạc Long Quân cùng Âu Cơ chia biệt nhau. Năm mươi con trai theo cha xuống biển làm thủy thần. Năm mươi con trai theo mẹ lên núi làm sơn thần, trấn giữ các nơi. Từ đó về sau thường hiển linh cứu nước giúp dân.

Lại nói thời nước ta, tại đạo Hải Dương, phủ Thượng Hồng, huyện Đường, xã Mộ Trạch, có một nhà họ Cao, lấy người họ Trần làm vợ. Ông Cao là người thông minh sáng suốt, dũng mãnh hơn người, tinh thông văn học, kiêm giỏi võ nghệ, có sức mạnh trăm người khó địch, được cử làm chủ quan bộ Sơn Nam.

Chủ quan bái tạ nhận mệnh, đem quân đóng tại Sơn Nam Hạ đạo. Một hôm nhàn rỗi đi xem núi sông phong cảnh, đến xã Vũ Lăng huyện Chân Định, thấy một vùng đầu sông có dải đất uốn như rồng chạy, ruộng rộng nước quanh, cây cối tốt tươi, dân cư đông đúc, phong tục thuần hậu.

Lại thấy thế đất quý như rồng chầu hổ phục, sao Kim ứng đối. Chủ quan nhìn mãi không chán, bèn dừng xe giá. Dân chúng đều làm lễ chào mừng. Chủ quan truyền dân dựng hành cung, lấy nơi ấy làm chỗ xe giá ngự đến, giáo hóa dân chúng, khuyên chăm nghề nông tang.

Nhờ vậy dân lấy nông tang làm gốc mà hưng thịnh, trừ bỏ mọi điều hại dân. Không một người nào không được yên ổn sinh sống, không một vật nào không được nuôi dưỡng.

Qua ba tháng, vào mùa hạ tháng sáu, phu nhân xuống bến sông tắm gội. Đang khi tắm, bỗng thấy giao long cùng cá lớn, ba ba từng lớp kéo đến chầu quanh. Lại có một con giao long lớn dài hơn một trượng, quấn quanh thân phu nhân ba vòng. Phu nhân kinh hãi ngất đi. Chốc lát sau, giao long cùng các loài thủy vật đều biến mất. Phu nhân tỉnh dậy, lên bờ trở về cung. Giữa đường gặp chủ quan. Chủ quan nghe chuyện rồi đoán rằng:

“Giao long giao cảm cùng phu nhân, ấy là mệnh của thủy thần Long Hầu nơi Động Đình Thủy Đế, tức là điềm Long Hầu giáng thế.”

Từ đó phu nhân bỗng có thai, mang thai đủ mười bốn tháng. Đến ngày mồng mười tháng tám năm Bính Ngọ, sinh ra một bọc bốn trứng, nở thành bốn con trai. Bốn người dung mạo đường đường, đều mang nét mặt rồng rắn, hai tay có lông lạ mọc ngược lên, hình tướng khác thường. Chủ quan cho là điềm lạ, bèn lập hai nơi hành cung để bốn công tử cư ngụ nuôi dưỡng.

Ngày qua tháng lại, xuân sinh hạ trưởng, chẳng bao lâu đã lớn khôn. Chủ quan làm biểu tâu lên vua. Vua sai sứ giả triệu cả bốn về triều vào chầu. Bốn người làm lễ xong, đối đáp trôi chảy như nước chảy, lại bày ra tài năng kỳ lạ và phép thuật khác thường. Vua rất vui, bèn ban tên hiệu:

Người thứ nhất là Chàng Cả

Người thứ hai là Chàng Hai

Người thứ ba là Chàng Ba

Người thứ tư là Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương

Cho ở lại giúp triều đình, cùng lo việc nước.

Qua ba tháng, có giặc phương Bắc, tướng tên Thạch Linh Thần Tướng, thống lĩnh mười vạn quân kéo sang xâm lược nước ta. Tin báo biên cương dồn dập, một ngày ba lần vào triều. Vua rất lo lắng, bèn sai trăm quan lập trai đàn tại Long đình, triệu quần thần hội họp cầu kế.

Ba ngày sau, bỗng nổi gió lớn, sấm sét, mưa dữ. Hiện ra một ông lão cao lớn hơn chín thước, râu tóc bạc trắng, ngồi nơi ngã đường cười nói tự nhiên. Dân chúng tâu lên vua. Vua thân đến đón vào đàn, làm lễ rồi hỏi:

“Nay có giặc Bắc kéo sang, việc thắng bại ra sao?”

Ông lão đáp:

“Nếu tìm được người ấy thì giặc này chẳng khó dẹp.”

Nói xong bay thẳng lên trời.

Vua biết đó là Lạc Long Hầu hiển linh báo ứng, lập tức sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài đánh giặc. Một hôm sứ giả đến vùng Vũ Ninh, gặp nhà một phú ông có đứa con trai tên Thiết Xung Thần Vương, mới ba tuổi, ăn uống rất khỏe nhưng chưa biết nói cười. Mẹ đứa trẻ cười nói:

“Con ta chỉ biết ăn uống, chưa thể đánh giặc báo nước.”

Bỗng đứa trẻ cất tiếng nói với sứ giả:

“Mau về tâu vua, rèn cho ta ngựa sắt cao mười tám thước, kiếm sắt dài mười trượng, đem đến cho ta. Giặc ấy chẳng khó dẹp.”

Sứ giả trở về tâu đủ. Vua mừng lớn, lập tức sai thợ giỏi rèn ngựa sắt và kiếm sắt đúng như lời dặn. Rồi sai bốn vị Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Công, theo cùng Thiết Xung Thần Vương (Thánh Gíong ) đi đánh giặc.

Bấy giờ bốn vị thống lĩnh quân thủy tộc gồm rồng rắn, cá lớn, ba ba, cưỡi sóng tiến đi theo đường nước, thẳng đến cửa biển Thần Phù. Đại chiến hơn hai mươi trận, đánh tan quân Ân. Thần Vương rút kiếm sắt chém tướng giặc Thiết Lôi Thần Tướng thành ba đoạn, ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến binh rồi khải hoàn về triều. Vua nghe tin rất mừng, truyền mở đại yến, giết trâu dê gà lợn, ban thưởng công thần lớn nhỏ theo công trạng.

Lại gia phong:

Chàng Cả làm Vua Vàng Lân Hầu Đại Tướng Quân.

Chàng Hai làm Vua Vàng Long Hầu Đại Tướng Quân.

Chàng Ba làm Vua Vàng Bạch Long Đại Tướng Quân.

Tá Công làm Lục Cung Uy Diệu Đại Tướng Quân .

Cho các vị chia nhau trấn giữ các đạo Sơn Tây, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Hải Dương, Kinh Bắc và nhiều nơi khác. Các vị giúp coi việc nước suốt hai mươi năm. Từ đó thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự, muôn dân vui phục, bốn biển hưởng cảnh thái hòa. Về sau lại có giặc dữ nổi lên, cướp phá vùng Kỳ Môn, Hải Dương, cửa biển Thần Phù. Chúng dùng yêu pháp gây thiên tai, dịch bệnh, dân chúng đói khổ lưu lạc, chết chóc vô số. Vua lại sai sứ thần triệu các vị về kinh đánh giặc. Ngay trong ngày các vị về chầu. Vua giao cho mười vạn quân, ba mươi đạo chiến thuyền, năm trăm lầu thuyền kéo đi thảo phạt. Đến cửa biển Thần Phù, lại bắt được Thiết Lôi Thần Tướng, chém làm ba đoạn ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến quân. Dân chúng khắp nơi dựng đàn cầu trời đất và thần sông cứu giúp. Các vị phá đê dẫn nước. Chỉ trong một đêm nước rút, ruộng đồng trở lại như cũ, nạn lụt tự tan. Dân chúng vô cùng vui mừng.

Các vị trở về đến xã Vũ Lăng, vào bến nước thì bỗng hiện thành bốn con rắn xanh, rẽ nước mà đi rồi hóa mất. Ngày mồng mười tháng Chạp năm Ất Tỵ, trời đất tối tăm, gió mưa dữ dội, giữa ban ngày mà như ban đêm, kéo dài ba ngày.

Khi trời quang trở lại, dân chúng kinh hãi, cho là việc linh thiêng, liền làm biểu tâu lên quan trên, rồi dâng lên vua. Vua nghe việc ấy, bèn gia phong bốn vị là bậc Thượng đẳng Phúc thần. Ban rằng bốn vị cùng vận nước lâu dài, đời đời hưởng thờ, hương khói không dứt.

Lại sai dân dựng hai nơi hành cung, lập chính từ tại Quảng Lăng xã, cùng năm xã thuộc Hải Dương đạo phối thờ.

Lại gia phong:

Đệ nhất Chàng Cả Vua Vàng Đại Vương.

Đệ nhị Chàng Hai Vua Vàng Đại Vương.

Đệ tam Chàng Ba Vua Vàng Đại Vương.

Đệ tứ Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương.

Từ sau khi hóa thần, hễ cầu mưa thì được mưa, cầu tạnh thì được tạnh, cầu đảo đều linh ứng hiển hách. Vì thế các triều Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê đều gia phong mỹ tự:

“Bảo quốc hộ dân, uy linh hiển hữu, Tứ vị Đại Vương Thượng đẳng Phúc thần, cùng vận nước lâu dài.”

Lệ khánh hạ vào ngày mồng mười tháng Giêng, dùng lợn đen, trâu vàng, làm lễ ba ngày.

Ngày sinh của bốn vị là mồng mười tháng Tám, từ mồng chín đến mồng mười làm lễ, dùng trâu dê, có ca xướng.

Ngày hóa của bốn vị là mồng mười tháng Chạp, lễ dùng lợn đen, bánh trắng vo tròn cùng các lễ vật khác.

Bản này được soạn vào ngày lành đầu xuân năm Hồng Phúc nguyên niên ( 1572), do Hàn Lâm viện Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh phụng soạn.

Đến ngày mười lăm tháng sáu năm Vĩnh Hựu thứ tư (1738), quan Nguyễn Hiền vâng theo bản cũ mà sao lại.

Bản dịch của Lê Anh Thao https://www.facebook.com/share/p/1b61e9BkVk/

Sự tích thần thôn Vĩnh Phúc xã Lạp Tuyết tổng Lạp Mai huyện An Sơn phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây

Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Liệp Tuyết, tổng Liệp Mai, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây

Ngọc phả chép về ba vị thủy thần xuất thế triều Hùng Huy Vương đánh giặc Ân

Chi Tốn. Thứ năm bộ Thượng đẳng. Bản chính bộ Lễ quốc triều

Xưa cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh sinh Đế Nghi rồi nhân đi tuần phương Nam ở Ngũ Lĩnh mà gặp được nàng Vụ Tiên mới sinh ra Lục Tục. Lục Tục tư chất phi thường, có khí chất của bậc đế vương. Đế Minh muốn truyền lại ngôi vị. Lục Tục cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh truyền ngôi báu cho Đế Nghi, lại phong Lục Tục ở phương Nam, hiệu là nước Xích Quỷ.

Lục Tục bái từ biệt cha và anh đi nhận phong ở phương Nam nước Việt ta, đổi là Việt Thường Thị, xưng tên là Kinh Dương Vương. Đất thắng Hoan Châu xây dựng kinh đô. Núi mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền đến đời thứ hai tên là Lạc Long Quân. Khi đó Long Quân lấy tiên nữ Động Đình là Âu Cơ, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó mang thai, được ba năm ba tháng thì sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong chư hầu, lập phên dậu bình phong, chia trong nước thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Bắc Kinh, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Khi ấy Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí âm dương hợp lại mà có con nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống được.

Thế là chia tách nhau, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi sông, ngòi, khe, lạch. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, chia trị các chốn gò đồi, rừng núi. Lập người con cả làm vua. Nếu có việc thì báo cho nhau, các thần sơn thủy cùng đến phụ giúp, không thể nào phai một. Thế nên cuối cùng thời triều Hùng trăm thần thủy sơn thường hay xuất thế, đầu thai nhập vào làm con ở nhân gian, để giúp nước giữ dân. Gia đình nào có phúc dày tất sẽ gặp được.

Lại nói, họ Hùng truyền nối sáu đời thì đến thời Huy Vương. Vua nối tiếp vận tốt hanh thông sáu đời, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên Văn Lang. Quốc đô là thành Phong Châu. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mị nương. Hữu ty gọi là bồ chính quân. Rủ áo chắp tay, nguy nga chín bệ. Dân được đào giếng cày ruộng, vui vẻ bốn bề một cảnh tượng thái bình. Thời Vua rạng rỡ, lại kính trời theo tổ, tin theo việc thần kỳ. Đương thời gọi là bậc hiền quân vậy.

Xưa vào thời đó tương truyền rằng nước Việt ta ở huyện An Sơn (An Sơn thuộc phủ Quốc Oai đạo Sơn Tây) có vị quan lang vốn là cháu của Hùng Huy Vương, tên là Hùng Chiếu Công. Ông tuổi 18 thì nhận phong tước có thực ấp tại An Sơn. Khi ông mới đến nhận đất, đi khắp trong huyện để xem xét thế núi thế sông mà lập cung để ở. Một hôm đi đến trang Lạp Hạ, thấy mạch Càn Cấn chạy tới, có sông Tích uốn lượn, sông núi hữu tình, bèn lập một cung gọi tên là cung Đại Phu mà ở.

Khi ấy trang Lạp Hạ có một trại thứ hai tên là trại Vĩnh Phúc, có một người con gái nhà họ Nguyễn, tên là Nguyễn Kim Nương, có dung nhan chim sa cá lặn, vẻ mạo hoa nhường nguyệt thẹn. Hùng Chiếu Công thích thú muốn cưới, chọn ngày để định lễ dương cờ, duyên lành đẹp đẽ, đón về cùng sống tại cung Đại Phu. Từ khi thành gia thất được hơn mười năm mà phòng lan chưa thấy sinh hương, buồng quế chưa tỏ một đóa. Chiếu Công buồn bã không vui, muốn từ quan mà về, nhưng lòng Vua không cho, việc quan cứ thế qua đi. Đến khi tuổi đã 50, thường than rằng:

  • Người xưa có 3 điều mong muốn: Giàu có, Sống lâu, Nhiều con trai. Ta giàu có tuy không phải như vương giả nhưng cũng là bậc phong lưu. Tuổi nay đã 50 thì cũng coi là sống thọ. Chỉ là chưa có con trai, nên tâm niệm rằng núi tiền biển bạc coi nhẹ như lông, như cỏ. Con hiếu cháu hiền trọng như vàng ngọc. Không con mà giàu, thì giàu làm gì. Có con dù nghèo, nghèo cũng là vui vậy.

Nên ông lấy hết bổng lộc quan của mình đem phân phát giúp người nghèo khổ, nửa điểm hại người cũng không có ý, một hào lợi riêng cũng không có lòng. Như thế qua được ba bốn năm. Một hôm bỗng thấy trời đất mù mịt, mưa to gió lớn nổi lên, nước sông Tích ầm ào như tiếng sấm động. Đến khi trời đất trong sáng trở lại thấy ở trước cung bỗng thành một vực, sâu hai ba trượng ở tại đó. Ông mơ màng nằm mộng, thấy có ba người, thân thể kỳ dị, diện mạo mạnh mẽ, mặc áo hồng, đeo dải chuỗi ngọc, từ ngoài bãi sông Tích mà đến ở trong vực đó. Được một lúc thì ba người đi lên thẳng tới trước mặt ông. Một người xưng là Triều Lang, một người là Thần Lang, một người xưng là Gia Lang, đều là trong anh em một bầu trăm trứng của Lạc Long Quân, nắm quyền phụ trách ở trên khe Mao Khê. Mao Khê ở tại phía trái của núi Tản Viên, tên thường gọi là Ngòi. Vâng mệnh Hoàng thiên đến đầu thai vào làm con nhà ông.

Ông bỗng tỉnh lại mới biết là nằm mơ. Từ đó bà Nguyễn Thị thân chuyển mang thai. Ngày mười hai tháng Năm năm Nhâm Thìn sinh ra một bọc, nở ra ba người con trai, đều có hình tướng kỳ lạ. Đang khi sinh khí lành bay khắp, khói thơm nồng nàn. Hùng Chiếu Công nhân theo trong mộng mà đặt tên người thứ nhất là Triều Lang, người thứ hai là Thần Lang, người thứ ba là Gia Lang. Đến khi lên ba tuổi Huy Vương ban chiếu gọi người cha về triều nghe mệnh vua. Chiếu Công bèn dẫn theo bà Nguyễn cùng với ba người con về triều. Cha con cùng vào bái Vua. Huy Vương thấy ba chàng diện mạo phi thường, mới gọi Chiếu Công đến hỏi. Chiếu Công đem giấc mộng kể lại tường tận tấu lên. Vua biết là thủy thần xuất thế bèn cho sắp xếp nuôi dưỡng ở trong cung. Đến năm 12 tuổi cho tìm thầy dạy học. Ba anh em vốn bản tính thông minh. Học được vài năm thì văn chương thấu suốt, có thể sánh cung tường Khổng Mạnh, võ bị tinh thông không kém thao lược Tôn Ngô.

Năm 18 tuổi người cha là Chiếu Công tuổi đã 74. Một hôm bỗng nhiên bị sốt liên miên, uống thuốc không giảm, cầu thần không hiệu nghiệm, rồi mất ở trong chính cung. Ba anh em làm lễ chôn cất. Được hai năm sau người mẹ cũng mất theo. Ba năm chịu tang, cúng tế theo nghi lễ.

Khi đó quốc gia có một người vu nữ, có thể tinh thông việc trời. Vua thử làm điều xấu mà trời cao có biết, giáng thẳng những điềm tai ương kỳ dị như voi không ngà, ngựa đỏ ba chân. Vua gọi vu nữ đến hỏi. Sau một lúc, vu nữ quỳ tâu rằng:

  • Quân vương đã coi thường Hoàng thiên. Ba năm sau tất sinh giặc lớn. Nếu như biết tu đức thì trời sẽ giáng sinh cho kỳ tài để giúp.

Qua được quãng ba năm quả nhiên thấy thư từ biên cương báo gấp, giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng dẫn trăm vạn quân mạnh tiến đến Bắc Kinh, dựng đồn lớn tại đất Trâu Sơn. Giáo giáp khắp trời, cờ xí khắp chốn. Vua mới trai giới lập đàn, tế cáo trăm thần trời đất, đốt hương cầu đảo. Ba ngày sau mưa to gió lớn nổi lên. Thấy có một dị nhân cao hơn 9 thước, ở chỗ ngã ba đường mà cười nói nhảy múa. Mọi người thấy thì vào tâu với Vua. Vua thân ra nghênh đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc đến xâm phạm. Thắng bại như thế nào, xin được chỉ giáo.

Dị nhân hồi lâu lập quẻ bói, nói với Vua rằng:

  • Trong nước hiện có ba người chính là thủy thần xuất thế. Một tên Triều, một tên Thần, một tên Gia. Ba người anh em này có thể sai gấp trước tiên dẫn quân chống giặc. Sau đó nên lệnh cho sứ giả đi cầu trong thiên hạ. Nếu cầu được người thì giặc tất sẽ không phải lo lắng.

Dứt lời thì dị nhân bay lên không mà đi. Vua biết là lời dạy của Lạc Long Quân bèn một mặt cho gọi Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang dẫn mười vạn quân tiến đi trước. Một mặt lệnh cho mười vị sứ giả chia đường mà chiêu mộ người tài. Một hôm sứ giá đi chiêu mộ đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh đạo Bắc Kinh. Trước đó làng Phù Đổng có một gia đình giàu có, sinh được một người con tên là Thiết Xung. Tuổi đã lên ba mà chỉ biết nằm, biết ăn uống, không biết ngồi, biết nói. Người mẹ nghe sứ giả đến, mới đùa rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận tước cao của triều đình, để báo đáp ân sâu nuôi dưỡng.

Thiết Xung nghe mẹ nói, bỗng nhiên ngồi thẳng dậy, nói rằng:

  • Mẹ mau gọi sứ giả đến đây.

Thiết Xung nói với sứ giả rằng:

  • Nhà ngươi hãy về báo với Vua cho đúc thành một con ngựa sắt mười thước, một cây búa sắt dài mười thước, một bộ áo sắt, nón sắt lớn. Ba thứ này đem đến cho ta thì Vua không cần lo gì nữa.

Sứ giả trở về, tâu lại với Vua. Vua bèn lệnh cho thợ đúc thành ngựa sắt, áo sắt, nón sắt đem chở đến cho Thiết Xung. Thiết Xung ăn uống một bữa no say, thì thầm vài chục tiếng, bỗng nhiên thân dài ra mười thước, mặc áo sắt, đội nón sắt, cầm búa sắt, cưỡi ngựa sắt, hô to rằng:

  • Ta là thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay thẳng tới quận Vũ Ninh, hợp cùng với Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang đánh một trận lớn, bắt sống Thạch Linh Thần tướng, chém ngay dưới trướng. Còn lại các dư đảng chưa trừ hết mà búa sắt đã bị gẫy mất. Thiết Xung bèn nhổ tre cùng với ba anh em tiến đánh một trận. Quân giặc dẹp yên xong. Vua ban chiếu gọi về. Thiết Xung đi đến núi Sóc thì cưỡi ngựa bay lên trời mà đi. Vua bèn phong làm Phù ĐổngThiên Vương. Ngay nơi đất đó cho lập miếu để thờ.

Còn Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang ba chàng trở về triều. Vua đều phong tước trọng. Ba chàng từ chối không nhận, xin được trở về cung Đại Phu ở trang Lạp Hạ huyện An Sơn, là nơi sinh và nơi ở của các chàng trước đây. Vua đồng ý, bèn cho ba chàng cùng có thực ấp ở huyện An Sơn. Từ đó ba chàng ở tại cung Đại Phu, thường đi lại giữa hai trại Đại Phu và Vĩnh Phúc, khuyến khích việc nông tang, thúc đẩy điều tốt, trừ bỏ điều xấy. Thường thường cùng với mấy người gia thần hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đàn hạc gió mát, chu du bốn biển. Hoặc khi xem sông hỏi bến, đội nắng mà đến các dòng hạ lưu. Hoặc khi núi lành dạo bộ, làm bạn với gió mát nơi đồng hoang. Một hôm ba chàng đi đến Mao Khê ở Tản Viên. Ba chàng cùng chỉ nơi đó mà nói:

  • Đây chính là nhà của anh em chúng ta.

Đang khi đó bỗng thấy trời đất có mưa gió mù mịt. Nước khe dâng sóng, giao long, cá, ba ba trùng trùng vạn sóng nối nhau. Cá côn, cá kình, nghê lớp lớp ánh trùm thiên hà. Ba chàng đều xuống khe đó mà hóa (khi đó là ngày mùng 10 tháng Bảy).

Khi ba chàng đã hóa, những người hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đi theo mới trở về nói với nhân dân. Nhân dân làm biểu dâng tấu. Vua mới phong thêm là:

Triều Lang là Đệ nhất Lang Linh Khê Đại vương

Thần Lang là Đệ nhị Lang Linh Khê Đại vương

Gia Lang là Đệ tam Lang Linh Khê Đại vương.

Sắc chỉ ban cho mang về hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc trang Lạp Hạ để lập miếu thờ phụng. Đến thời nhà họ Hùng đời thứ 18 là Duệ Vương. Tản Viên Sơn Thánh xây cung ở trang Lạp Hạ, lấy sáu trại Lạp Hạ, mỗi trại mười người làm ca nhi. Cứ mỗi năm mùa xuân ca hát, chơi nhạc. Nên về sau sáu trại Lạp Hạ cùng thờ Sơn Thánh làm chính thần. Còn ba vị Triều, Thần, Gia cùng được phối hưởng thờ. Từ đó về sau qua các thời Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần cùng Hoàng gia ta khai mở cơ đồ, thường có giúp nước giữ dân, cầu mưa cầu nắng đều có nhiều linh ứng. Cho nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự để muôn vạn năm hương lửa không ngừng. Tốt lành thay!

Các tiết khai sinh hóa cùng với các chữ cần cấm là ba chữ Triều, Thần, Gia.

Ngày sinh thần là 12 tháng Năm. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, ca hát ba ngày.

Ngày hóa thần là mùng 10 tháng Bảy. Lễ dùng lợn đen, xôi, rượu.

Năm đầu Hồng Phúc tháng đầu mùa xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Năm Vĩnh Hựu thứ sáu, tháng giữa đông ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Di theo đúng bản chính vâng sao.

Năm Tự Đức thứ 13 tháng giữa xuân ngày tốt theo đúng bản chính vâng sao.

Ngọc phả sự tích ba vị là con thứ triều Hùng Huy Vương Việt Thường Đàm Gia Đại vương, Du Di Hoàng hậu và Hệ Hộ Cung phi

Dịch theo bản khai Thần tích thần sắc thôn Tổ, làng Thượng Trì, tổng Thượng Trì, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ ngôi báu trời Nam Tiền Hoàng đế tạo dựng cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt Thường họ Hùng 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, khai mở cơ đồ Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm xây nền cung điện đô thành. Khai vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế trấn phiên bang (Xét xưa Lạc Long Quân, Âu Cơ sinh một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đến khi trưởng thành Vua kiến phong hầu, lập bình phong phiên dậu, chia thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Kinh Bắc, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Châu (Ai Lao?), thứ mười là Hưng Hóa, thứ mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây). Kế thừa ngôi báu thành đất Viêm Hồng. Có vua trị nước hơn hai ngàn năm, mãi giữ tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương nước Nam, đóng ngự muôn năm thánh điện núi Hùng Vương, Thánh tổ trời Nam. Nền nước cơ đồ mãi vững muôn năm, lâu dài vạn thế. Bèn lập miếu điện, cung lăng. Dòng dõi con cháu hoàng gia phân ra ở trị các ngọn núi, góc biển. Ở quận Giao Chỉ các nơi phủ, huyện, dân thôn, động, sách đều phụng thờ, hương lửa lưu truyền vạn năm sáng mãi, không thể mất được.

Đời sau có thơ khen rằng:
Nam thiên khởi triệu tự Hùng Vương
Vạn cổ huân danh lập kỷ cương
Nhất thống tương truyền thập bát thế
Nhị thiên dư tải ức niên hương.
Nhất bào bách noãn giai sinh thánh
Lưỡng tế thăng thiên bất tử phương
Vạn cổ lưu truyền sơn hải tại
Danh đồng thiên địa ức niên phương.

Lại nói, đời triều Kinh thứ sáu là Huy Vương lên ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong, lập ra kỷ cương đất nước xem các vua đời trước mà định làm phép tắc. Đề cao pháp độ trùm vạn đời làm chuẩn hình. Lấy đức giáo hóa nhân dân. Ban điều nhân đức, nghiệm việc chính trị. Ra sức yên dân chúng. Đề ra phép tắc, nêu cao quy định. Người đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Khi đó bốn bể thanh bình, vạn dân no đủ. Con vua cháu đế nhàn chơi xem phong cảnh sông núi, đất trời. Khi tiết xuân tháng ba, Vua cùng với Cung phi thứ ba là công chúa Hàn Nương đi xe ngự về Hoan Châu (nay tức là Nghệ An) thăm viếng các nơi lăng mộ tổ tiên. Một hôm Vua đi đến vùng đất thôn Tổ xã Thượng Trì, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai. Hôm đó (mùng 10 tháng Giêng), nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng hành cung. Vua ở tại đất đó (tức là đất thôn Tổ), thấy nhân dân thuần hậu, phong cảnh hữu tình, bên sông ấp dân đều sống ở trên đường lớn, đều một màu đào liễu. Vua dừng xe đóng quân một đêm tại đây.

Khi đó trong thôn có một miệng giếng. Ấp dân dựng cung cho Vua ở tại bên cạnh giếng. Khi mặt trời đã ngả chiều tối, Cung phi đi chơi xem chỗ có giếng để tắm rửa. Thị nữ đến lấy nước ở giếng. Trong lúc Cung phi đang tắm bỗng thấy trong giếng có một con rắn hoa dài hơn 10 thước, từ trong giếng bò thẳng ra, quấn lấy Cung phi ba vòng. Cung phi mơ màng sợ hãi. Thị nữ chạy về cung vội tâu. Vua nghe lời tâu báo bèn sai quần thần cùng đi ra. Bỗng thấy trong khoảnh khắc con rắn bò thẳng xuống miệng giếng mà biến mất. Cung phi tỉnh lại, đứng dậy đi về. Thấy thân có đấy nước dãi mùi thơm ngào ngạt. Cung phi kể lại mọi việc trước sau.

Vua rất tức giận, truyền binh sĩ và nhân dân tát cạn nước giếng để tìm con rắn nhưng không thấy. Bỗng nhiên mưa gió nổi lên, sấm sét vang rền. Quân dân đều sợ hãi bỏ chạy. Vua nghĩ rằng hẳn là nơi giếng này có có thủy thần đóng quản, không thể không. Nơi đó trời đất tạo nên giếng thiêng vậy. Vua bèn lệnh cho quần thần làm lễ chay mà tạ. Lễ xong đêm đó Vua nằm ở trong cung, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người áo mão đường hoàng từ trong giếng đi ra tiến thẳng đến nơi Vua, dập đầu làm lễ. Vua bèn hỏi rằng:

  • Họ tên như thế nào? Có việc gì mà tới đây?

Người đó tâu rằng:

  • Thần vốn là con của Động Đình Đế, quyền quản bãi sông Thượng Trì, kiêm đóng ở trong giếng của ấp thôn (tức là thôn Tổ). Thần vâng mệnh Thiên đế tái giáng xuất thế ở dương gian, đầu thai nhập làm con vua, cũng là mệnh làm Thủy tào vậy. Hôm nay may mắn gặp vua đến chính nơi cung trại chốn trang thôn này. Xin đến để nói về việc đầu nhập này.

Nói chưa xong thì Vua đã tỉnh lại, biết là điềm báo mộng, nghĩ thấy:

  • Tất là Thiên đình đã định cho vị thần long của Thủy quốc vào nhập làm con trai nhà ta. Sự đã rõ ràng.

Vua cho gọi thị thần đến chép lại điềm giấc mộng của mình để sau này so nghiệm. Hôm đó Vua lên đường trở về Hoan Châu (sau đổi là Nghệ An) thăm các nơi lăng mộ tổ tiên. Từ đó Cung phi có mang thai. Đến ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Tuất là đến kỳ mãn nguyệt, sinh được một người con trai, thân thể cao lớn, diện mao đẹp lạ, khác hẳn người thường. Vào lúc sinh ra mưa gió tối tăm, mây khói mù mịt. Giữa ban ngày mà trong thành như trời tối. Sấm sét vang rền rung trời chuyển đất. Triều đình trong nước đều lấy làm kỳ lạ. Sinh được tròn năm Vua bèn đặt tên là Quan lang Đàm Gia. Năm tháng thay nhau, đến khi trưởng thành, Vua nhớ đến điềm mộng rắn quấn trước đây từ nơi giếng thôn Tổ (tức thôn Tổ xã Thượng Trì). Vua bèn cho thôn Tổ là ấp thang mộc, giao cho ông đương thời quyền quản, các lợi lộc đều được hưởng từ đất đó. Ông vốn có thiên tư thông minh chính trực, tài cao đức lớn, tính thật là khoan nhân, yêu mến dân tình. Đang khi đó ngoài bể yên bình, trong phủ vô sự. Ông thường đi xe nhàn chơi vãng cảnh xem vẻ thú vị của núi sông. Một hôm ông trở về chơi ở ấp thang mộc. Nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng một cung để ở tại chốn đất cung trước kia (cung trước kia Vua đã ngự ở bên nơi giếng nước, có điềm ứng rắn quấn mà sinh ra ông Gia).

Ông bèn dừng xe trú ở đó, phủ dụ phụ lão nhân dân. Lấy lòng nhân mà giáo hóa trở thành mỹ tục. Giúp người nghèo, nuôi người già. Phát nhiều tiền bạc, vải vóc để nuôi dưỡng dân tình được no đủ. Ơn nhân đức sâu lớn như biển, như núi. Không có ai sống ở đó không coi ông như cha mẹ.

Lại nói, khi đó ở thôn Nội xã Thượng Trì có gia đình ông Bộ trưởng họ Phan, có hai người con gái. Một người tên là nàng Du Di. Một người tên là nàng Hệ Hộ. Cả hai đều là bậc hào kiệt trong giới nữ, anh tài ở trên thế gian, chính thật là thần nữ thủy cung, nhan sắc tuyệt trần sánh cùng với Hằng Nga trên mặt trăng.

 Xét xưa thời Hùng Vương tương truyền ông họ Phan vốn là người thôn Nội xã Thượng Trì, tên là Vĩnh. Khi ông làm chức Bộ trưởng, vợ là Vương Thị Hàm cũng là người ở cùng làng. Lấy nhau được 3-4 năm thì bà có mang thai. Được 7 tháng, một hôm bà Vương Thị Hàm đi ra ngoài bãi sông Thượng Trì để tắm gội. Bỗng nhiên bà lao xuống sông mà hóa. Sự việc xảy ra như vậy, không thể cứu vãn được. Do đó ông Vĩnh trong lòng rất thương nhớ tình cảm của vợ, ngày ngày buồn bã. Vào lúc trăm ngày, ông bèn mời pháp sư đến gọi hồn. Việc xong ông trở về nhà. Đêm hôm đó ông nằm mộng thấy đi đến bên bờ sông bỗng gặp vợ ở đó. Ông nửa mừng nửa lo, than vãn tình cảm trước sau. Vợ ông nắm lấy tay ông, than vãn xong thì nói với ông rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Động Đình Long cung. Trước sinh ra ở trên Dương thế, đầu nhập vào làm con gái nhà Vua dưới Long cung. May mắn cùng với chàng được kết phối, vốn thề cùng nhau kết liên tới khi đầu bạc. Than ôi, cầm sắt nhân duyên, uyên ương hòa hợp mới được 3-4 năm, sớm có điềm giọt sành. Đến gần ngày mãn nguyệt mà chưa thể sinh nở bởi việc Thiên đình đã định, không thể ở tiếp trên trần thế. Do vậy mà sông Ngân cầu Ô Thước ngăn trở khó qua. Lại trở về Thủy quốc, quản chưởng Long cung, sớm ngày bên Vua cha. Cai quản ở gác ngọc thâm cung. Tuy đã hai đường khó nối, nhưng cùng một mối tâm tư vậy. Trên trên trần thế nghĩa sinh thành, đức lớn cù lao, đâu dám quên. Mối kết tóc tình sâu duyên ân ái, vẫn luôn nhớ vậy. Trách ông trời không cho được đoàn tụ. Nay thiếp đã đến kỳ sinh nở được một bầu bốn trứng, đã nở ra hai nam và hai nữ, đều sẽ thành hình người. Xin hãy mang về trần thế để báo đáp nghĩa của chàng, làm niềm vui an ủi. Xin hãy mang về nuôi dưỡng. Chớ phụ lòng thiếp.

Lại thấy ngâm rằng:
Tảo thời quá bộ vãng (giang?) biên,
Thuỷ thượng phù phù tứ noãn viên
Long huyết giai sinh long huyết tử
Nhất bào nam nữ, thị giai hiền.

Ngâm xong ông bỗng tỉnh lại, biết là nằm mộng. Khi đó canh gà một khắc. Ông cảm lời trong mộng nên đi thẳng ra ngoài bờ sông để tìm xem. Ở trên bãi sông không thấy có gì. Ông mới đưa mắt ra ngoài sông, thấy có 4 trứng nổi ở trên mặt nước cạnh bờ, đều cụm vào một nơi. Ông bèn lấy tay vớt và thả xuôi dòng. Nhưng tất cả trứng đều quấn lấy thân ông, không chịu trôi đi. Ông nhớ lại đúng như điềm trong mộng nên vớt bốn trứng, đem gói vào trong bung, mang về nhà. Trong chốc lát thấy trứng bỗng nhiên trở nên to lớn. Mỗi trứng dài một thước.

Khi ấy là ngày 16 tháng Giêng, bốn trứng cùng nở thành bốn người con, hai trai hai gái, đều thật khác người thường. Ông theo lời vợ trong mộng mà đặt tên: một là Minh Bào, một là Hổ Lang, một là Du Di, một là Hệ Hộ. Đến khi trưởng thành hai người con trai đều là bậc anh hùng hơn đời, trí dũng vượt người. Hai người con gái có hình dung chim sa cá lặn, có diện mạo hoa nhường nguyệt thẹn, anh hoa tuyệt thế, nhan sắc phi thường, đều là bậc hào kiệt trong giới nữ vậy. Về hành trạng của hai người con trai thì có tích riêng.

Khi đó ông Gia đến chơi nơi đất đó (tức thôn Tổ), nghe tiếng thơm hai nàng cũng rung động. Ông Gia bèn sai sứ thần gọi ông Phan đến, hỏi cưới hai nàng. Ông Phan vâng mệnh nhận gả. Hôm đó làm biểu dâng tấu về triều. Vua đồng ý. Bèn làm sính lễ xong thì đón về đô phủ. Lập người chị làm Chính phi, người em làm Thứ phi.

Khi đó ông lên đường trở về thành vào triều chầu vua. Qua vài tháng, nơi ấp thôn đó (tức thôn Tổ) người và vật đều không yên, bị tật bệnh rất nhiều. Trong giếng thường thường có rắn quái xuất hiện. Nhân dân đều sợ hãi. Một hôm nhân dân lập đàn cầu đảo trời đất thần linh. Cầu xong đêm hôm đó nhân dân đều ngủ say, bỗng thấy một vị quan nhân, áo mũ đường đường tiến thẳng đến. Nhân dân đều đứng lên hỏi rằng:

  • Dám hỏi vị quan nào đến đây?

Vị quan nhân đó nói rằng:

  • Ta vốn là một tiểu thần. Nay vâng mệnh Thiên đế xuống báo cho nhân dân cùng biết. Nay vị Chủ quan đã trở về kinh thành, nơi cung này không có người nắm quyền. Do đó mà ôn dịch địa phương gây loạn, xâm nhập vào trong cung, gây ra nhiễu hại nhân dân. Nếu như muốn dân vật được yên, hãy mau đón Chủ chưởng trở về thì tất âm binh sẽ đều tan.

Nói xong, quan nhân bay lên không mà đi. Nhân dân tỉnh lại biết giấc mộng đó. Ngay hôm đó nhân dân tụ tập cùng dâng tâu lên triều đình, xin làm lễ đón ông về cung ấp. Vua đồng ý cho. Ông cùng với hai bà phi vâng mệnh trở về cung ấp. Khi đó quân của ông đi đến đâu thì gió thổi theo, mưa nổi lên ù ù như tiếng sấm vang vào tai, tiến thẳng về cung ấp. Nước trong giếng sóng nổi cuồn cuộn. Rắn hoa, cá, ba ba đều nổi lên. Ông đi trở về đến nơi (tức ngày mùng 4 tháng Năm), nhân dân làm lễ bái mừng, tu sửa cung để ở. Từ đó mọi việc đều yên.

Ông ở đó được quãng nửa năm. Khi ấy có giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng đến xâm phạm. Trăm vạn quân mạnh tiến thẳng vào Giao Nam, muốn chiếm lấy nước. Thư từ biên cương báo gấp. Vua rất lo lắng liền gọi quần thần đến cùng hỏi kế sách. Các đình thần đều nhìn nhau, bó tay không có phương sách nào. Vua bèn xây một đàn, trai giới đốt hương để cầu trời đất trăm thần âm phù giúp nước. Lại gọi các quần thần đến hội ở đàn trong ba ngày. Mưa to gió lớn, trên đàn mù mịt. Bỗng thấy có một lão nhân, cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường, cười nói nhảy múa. Mọi người thấy đều cho là người lạ, vào tâu với Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua thế nào, xin được chỉ giáo cho.

Lão nhân hồi lâu lấy tay bốc một quẻ rồi nói rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này sẽ sớm dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu người này ở phương nào được?

Lão nhân lại nói:

  • Việc ở Vu nữ.

Nói xong, Lão nhân bay lên không mà đi. Vua nghĩ đó là Lạc Long Quân đến dạy. Thế là Vua sai sứ đi khắp nơi cầu tìm trong thiên hạ. Khi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, lên ba tuổi tên là Thiết Xung Thần Vương. Chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết nói năng. Bà mẹ nghe tiếng sứ giả đến chiêu mộ, mới nói đùa rằng:

  • Con nhà ta tới nay biết ăn uống, mà không biết đánh giặc để lấy chức trọng của triều đình, để báo đáp ơn sâu nuôi mớm.

Bỗng nhiên nghe mẹ nói, thì người con mở miệng nói rằng:

  • Mẹ cho gọi sứ lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với Vua xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, đem lại cho tôi. Vua sẽ không còn lo lắng gì.

Nói xong, sứ giả trở về tâu lại với Vua. Vua rất mừng, bèn lệnh chọn các quan lang phụ đạo (tức là con cháu dòng dõi Hùng Vương) 10 bổ Thủy thần, 10 bộ Sơn thần, dẫn 3 vạn quân mạnh theo giúp ứng chiến cho Thần Vương. Hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem lại giao cho Thần Vương.

Lại nói, khi ấy ông Gia nhận mệnh đi xuất chinh, giao phó cho gia thần, nhân dân trông giữ cung sở cùng với phụng chầu hai vị cung phi. Ngày đó nhân dân làm lễ bái mừng, đáp rằng:

  • Thân dân dám xin được lập đền thờ sông để làm tỏ đức của Chủ quan, để trừ miễn được yêu khí gây hại trong thôn.

Ông bèn nói với phụ lão nhân dân:

  • Hãy lấy nơi cung mà ta đang ở làm nơi chính. Hoặc sau khi  ta đi dẹp giặc mà nhân dân có thấy lũ yêu gây hại thì dân chúng hãy đến ở nơi cung sở gọi thỉnh ta về giúp cho.

Nhân dân đều nghe theo lời dặn đó. Hôm ấy (ngày 12 tháng Mười) ông mổ trâu khao hưởng quân sĩ, chiêu mộ được hơn năm trăm người gia thần thủ túc. Ngày hôm sau Chủ quan cất quân đến chầu vua. Các đạo quân sĩ đều khấu tạ trước Vua lĩnh mệnh ra quân. Vua truyền đem ngựa sắt, gậy sắt cùng các đạo Sơn thủy, quân giới đến hội cùng Thần Vương, theo tùy tùng dẹp giặc. Ngay hôm đó chia làm hai đạo thủy bộ cùng tiến (Đàm Gia thuộc thủy đạo, Đốc lĩnh thuyền rồng đi trước quân đội).

Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, chốc lát đã đến thẳng chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt. Các đạo thủy bộ cùng theo tiếp chiến, đánh một trân lớn với Thạch Linh Thần tướng ở bên núi. Quân Ân đều thua. Bắt sông Thạch Linh Thần tướng, chém đi. Còn lại các đạo thủy bộ tiếp chiến, truy sát chém được hơn năm ngàn đầu giặc mà vẫn chưa diệt hết. Gậy sắt của Thần Vương bị rơi mất, Thần Vương bèn lấy tay nhổ tre dẹp sạch giặc. Đi thẳng đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bèn bỏ áo, cưỡi ngựa xông lên trời theo mây mà đi. Nay vẫn còn dấu riêng ở trên vách núi. Sau này nhân dân lập đền để thờ phụng tại đó (Việc phong tặng cùng với sắp đặt ruộng thờ có ở trong bản chính tích riêng).

Lại nói, ông Gia dẹp yên giặc Ân xong bèn vâng chiếu trở về thành, vào tâu Vua. Vua rất mừng, ngay hôm đó mở yến tiệc lớn, khao hưởng quân sĩ. Vua bèn phong ông Gia là Hải Dương Vương, Chính phi làm Hoàng hậu. Ông bèn vâng thừa mệnh vua, làm lễ khấu tạ, đi trị Hải Dương. Khi ấy, ông trở về cung ấp. Hôm đó (là mùng 10 tháng Mười) nhân dân làm lễ bái mừng. Ông mới dừng giá ở lại, cởi giáp nghỉ quân, cùng với phụ lão nhân dân trong mười ngày. Bái yết  tổ tiên quê ngoại (ở đất thôn Nội). Giao phó cho nhân dân thôn Tổ lấy nơi cung sở làm sinh từ, sau này làm nơi thờ tự. Lại cho nhân dân 10 nén vàng để phòng về sau tu sửa cung sở. Phụ lão nhân dân đều lĩnh mệnh nhận lấy. Việc xong, Chủ quan cùng với hai bà phi hôm đó cất quân đi xe loan đến quản Hải Dương. Ông đến nơi công sở,

Trị quản được vài năm. Khi ấy nơi huyện phủ Nam Sách bị nước lũ dâng lên, làm sạt lở đất đai hơn mấy trăm dặm. Vua bèn lệnh cho ông dẫn quân đến phòng đường sông trị thủy. Hôm đó ông đi đến nơi có đất lở. Ông đến nơi thì trong vòng một ngày, nước lũ ở đó tự rút. Ông ở đó được 10 ngày thì những nơi bị sạt lở đều được yên ổn. Việc xong, ông làm biểu, dẫn quân trở về, tiến theo đường thủy. Một hôm đi đến địa phận Ngọc Động Hà Đới, tại một khúc sông nhỏ. Bỗng nhiên gió lớn nổi lên một trận. Sóng nước cuồn cuộn vạn dăm. Rắn hoa, cá, ba ba trên ngàn dặm đều nổi lên mặt nước, hướng về phía thuyền của ông. Sấm sét vang rền. Trời đất mù mịt. Thuyền của ông chìm mà hóa. Hôm đó (mùng 2 tháng Chín) nhân dân làm biểu dâng tấu lên bệ hạ. Vua nghe vậy thì ngay hôm đó Vua cùng với hai vị phi nhân đi tới nơi đó (tức là Ngọc Động Hà Đới), truyền cho binh sĩ và nhân dân xây dựng đền để thờ tự.

Vua sai trăm quan cùng nhân dân làm lễ yên vị. Việc xong thì trở xe trở về thành đô, làm lễ tế. Lại ban chiếu gọi hai cung phi trở về kinh, không ở xứ Hải Dương nữa. Ngày hôm đó hai vị cung phi đi xe trở về triều chầu vua, làm lễ nhận tang. Vua bèn bao phong cho mỹ tự, được vạn năm hưởng lộc, cùng với quốc gia mãi mãi là hằng thức. Ngày hôm đó truyền cho các nơi ấp hưởng lộc đến tề tựu ở kinh thành đón sắc chỉ và thần hiều trở về nơi cung sở mà thờ phụng. Phong là:

  • Phong Đàm Gia Đại vương.

Lại nói, khi ấy thôn Tổ xã Thượng Trì đón mang sắc chỉ thần hiệu trở về nơi đền phụng thờ. Khi đi đón trên đường thì thấy trên trời có một đám mây ngũ sắc nổi lên, ngay phía trên đầu xe. Khi đón về đến đền bỗng thấy có một tấm vải đỏ từ trên không rơi xuống thẳng vào trong giếng. Có ba tiếng sấm vang lên, rung trời chuyển đất. Nhân dân đang khi làm lễ đều sợ hãi, cho là sự lạ, làm biểu dâng tâu kể lại. Vua nghe vậy phán rằng:

  • Con ta vốn là thần của ấp các người, là chủ trưởng long cung động giếng, là tinh hoa sinh ra trên đời cũng tại đất này. Nay hóa trở về nơi cũ, linh thiêng lại trở về trong giếng. Sự tất như vậy, không phải nghi ngờ. Nay đã hiển thần như thế thì Trẫm lại phong mỹ tự để mang về đền cho dân chúng phụng thờ.

Lại phong là: phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Đại vương. Cho thôn Tổ xã Thượng Trì làm nơi thờ, hai kỳ xuân thu sai quan đến bày tế. Từ đó quốc đảo dân cầu có rất nhiều linh ứng. Người đời sau có thơ khen rằng:

Sinh vi đế tử giáng vi thần
Vạn cổ phương danh tại xã dân
Ngọc tỉnh hiện tồn lưu thánh tích
Thiên vô lão dã thuỷ vô trần.

Lại nói, khi ấy ông Gia sinh được một người con trai, khoảng 5 tuổi. Vua sớm cho lập làm Thái tử để nối vị trí Hải Dương Vương. Than ôi, đạo trời như vậy. Một nhà đều là linh quan của Thủy quốc, không phải người trên trần thế. Một hôm hai vị cung phi cùng với Thái tử dập đầu tạ trước bệ, xin được trở về quê ngoại để bái yết gia đường, thăm hỏi nhân dân. Vua đồng ý, ban thêm cho vàng bạc, vải vóc hơn ngàn cân. Hai cung phi đi thuyền rồng, theo đường thủy mà đi. Đến sông Nhị thì trời đã tối. Hai vị phi nhân dừng thuyền trú tại đó. Đến quãng nửa đêm, bỗng nghe từ đáy sông có tiêng hô to rằng:

  • Cần mau hội quân, đưa giá đón hai vị phi nhân của Chủ chưởng Long cung trở về đô phủ của Thủy quốc. Việc này đã định chỉ trong vòng 5 ngày tới. Chủ quan truyền lệnh như vậy.

Tiếng hô xong thì thấy có tiếng hơn ngàn người đều đáp vâng. Trong chốc lát đều thấy ngừng. Trời đã bắt đầu sáng. Gia thần thị nữ nghe được sự lạ đó bèn cùng nhau bàn tán. Hai vị cung phi phát hiện được liền nói rằng:

  • Các người gia thần thị nữ đều đã nghe được việc này. Chớ có để lộ ra ngoài nhân gian, mà gây ra sự nghi ngờ.

Đám người hầu nghe lời giáo huấn đó, nghĩ rằng các phi nhân chủ của họ không phải người trần, tất là Long quân Thủy quốc đã định lúc trở về. Do đó cấm họ không được khoa trương, tiết lộ.

Lại nói, hai vị phi nhân khi ấy đi về đất ấp quán (tức đất thôn Nội xã Thượng Trì). Hôm đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Phi nhân bái yết gia tiên. Việc xong hai vị phi nhân cùng với Thái tử trờ về thôn Tổ làm lễ bái yết đền chính thờ Chủ quan. Ngày đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Tối đó phi nhân dừng xe ở đất ấy. Đến đêm, khi gà đã gáy canh ba, bỗng thấy hai phi nhân đều cùng đi đến miệng giếng. Thị nữ đi sau lén đợi xem, thì nghe thấy hai vị phi nhân gọi lên 3 tiếng, đi vào trong giếng, đều nghe tiếng đáp. Nước từ đáy giếng đều tự có tiếng vù vù không ngừng.

Hai vị phi nhân và Thái tử đi thẳng ra làm lễ ở ngoài sông, cùng với mấy người thị nữ buộc tóc. Bỗng thuyền rồng nổi lên trên mặt nước. Cá, ba ba hai bên bơi theo, dẫn thuyền rồng đến bên bãi sông. Hai vị phi nhân cùng Thái tử và thị tì đều xuống thuyền, đi ra giữa sông thì chìm mà tự biến, sinh hóa bất diệt.

Nhân dân ở nơi đó (tức thôn Nội và thôn Tổ) đều lấy làm lạ, làm biểu dâng tấu. Vua nghe vậy một lúc phán rằng:

  • Gia đình con ta vợ chồng đều là thủy thần xuất thế để trợ vận. Việc đã yên, thì đều cùng hóa về Thủy quốc vậy.

Ngay hôm đó Vua lệnh cho trăm quan (16 tháng Tám) trở về bày tế, đem sắc chỉ trở về cung ấp cho nhân dân phụng thờ.

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Thôn Tổ xã Thượng Trì phụng thờ ba vị. Cùng thôn Nội phụng thờ hai nhị, làm đền tạo lệ chính.

Lại nói, đến thời Trưng nữ Vương (Trưng Trắc, Trưng Nhị) cũng là người cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên đời, hào kiệt trong giới nữ, khởi nghĩa binh, chiêu dụ các tướng nữ, quân nữ cùng anh hùng hào kiệt diệt trừ Tô Định, đến hội quân ở cửa sông Hát Môn, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù dẹp giặc. Khi ấy Trưng Vương tiến quân đi đến đền thờ của ông ở thôn Tổ xã Thượng Trì vào cầu đảo. Đến đêm hôm đó bỗng thấy có ba con rắn hoa rực rỡ từ giếng xuất hiện, tiến thẳng vào trong đền, đều lên nằm trên gác thượng. Trưng Vương biết là có nhiều linh ứng bèn truyền dựng một cây cờ ở sân trước, làm lễ cầu đảo chúc rằng:

  • Xin hãy âm phù giúp nước, dẹp yên quân giặc. Nếu đuôi cờ chỉ về phía Bắc thì quân ta sẽ thắng. Còn nếu quân giặc mạnh Tô Định thắng thì lá cờ hãy quay trở về chỉ hướng Nam.

Đọc chúc xong thì gió mây nổi lên, lá cờ chuyển thẳng chỉ sang hướng Bắc. Trưng Vương làm lễ tạ, cất quân thẳng tiến, đánh một trận lớn, Tô Định thua chạy. Trưng Vương khôi phục lại tất cả đất đai Nam bang. Giặc Tô đã dẹp yên xong. Trưng Vương lên ngôi, mở tiệc mừng lớn. Rồi phong thêm mỹ tự cho trăm thần, hương lửa không ngớt vậy. Trưng Vương phong là:

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Linh ứng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Lại nói, thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương tất cả là qua 349 năm đến khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ, thần thường giúp nước giúp dân, có nhiều hiển ứng linh thiêng, nên trải qua các đời đế vương đều có truy phong mỹ tự, vạn năm hưởng lộc, hương lửa không ngừng, cùng với nước nhà yên hưởng. Thịnh thay!

Ngọc phả cổ chép về vị Cao Sơn Hiển Ứng Đại vương là công thần triều Hùng Huy Vương họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Yến Vỹ, tổng Phù Lưu Thượng, phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Bộ Thượng đẳng, thứ Sáu.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng đế ngôi báu trời Nam mở tạo cơ đồ là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng Cổ Việt Thường 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, lập nên cơ đề to lớn của nước Việt. Nước biếc một dòng khởi đầu vận vua sáng thánh đế. Núi xanh vạn dặm dựng nền móng cung điện đô thành. Nuôi vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế lớn trấn áp các chư phiên. Kế nối ngôi báu ở đất Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giúp tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương ngự trị, muôn năm điện thánh núi Hùng, đất tổ trời Nam. Cơ đồ của đất nước mãi giữ muôn năm, vạn thế bền lâu. Lập miếu điện, cung lăng, con cháu dòng dõi hoàng gia tông phái, công thần lớn nhỏ phân đóng ở các nơi, giữ 15 bộ.

Khi ấy Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là chính cung, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là anh hùng trùm đời, trí dũng vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu, lập phiên thuộc. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Ai Lao, tám là Ô Châu, chính là Bố Chính châu, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Dấu tích đều không thể mất. Người đời sau có thơ khen rằng:

Nam thiên triệu tạo lập Hùng gia
Công đối càn khôn triệt hải hà
Thập bộ sơn thần giai đế tử
Diệc đồng miêu duệ thử vương gia.

Lại nói, triều Kinh thứ sáu truyền đến Huy Vương tại vị, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Huy Vương mới lên ngôi trong nước còn thiếu thốn, nên cái đức của vua lấy việc chuyên lo giáo dưỡng nhân dân làm gốc. Việc giao du tửu sắc, mê cảm tin vào thần tiên sao không phải là đức mất nước của hôn quân. Nên chăm lo bồi đức, giúp người, trợ nghèo, dưỡng lão. Đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở xã Vĩnh Thế huyện Siêu Lại phủ Thuận An xứ Kinh Bắc có một vị chủ trưởng một phương, họ Hùng tên Ân (cũng là dòng dõi Hùng Vương, kế nối quan lang, lấy vợ người cùng xã họ Nguyễn tên Liễu, đều là thuộc bộ Sơn thần). Qua được năm năm, loan phượng hòa hợp, sớm có điềm ứng thẻ ngọc. Nàng Liễu từ đó có mang. Đến khoảng tháng Ba một hôm đi đến chùa trên núi Phật Tích, bỗng thấy trên trời có ba đám mây, bên trong sáng rực rỡ. Được một lúc lại thấy có hổ vàng hai tay ôm lấy nàng Liễu chạy thẳng lên núi.

Từ  đó ông Ân nhớ nhung người vợ, buồn bã đi lên đỉnh núi, trong lòng tưởng nhớ, mắt nhìn ngang dọc tìm kiếm. Bỗng nhiên thấy có hổ vàng nằm ở trên gò đất dưới gốc cây to, cây cỏ um tùm. Nơi đó có tiếng người cất lên như tiếng vợ của ông, nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Sơn thần, kết duyên cùng với lang quân làm vợ chồng thật vui mừng. Hình hổ sớm ứng điềm đến lúc phải trở về. Than ôi! Đạo trời như vậy không thể thay đổi. Thiếp xin từ biệt. Nay Thiên đình và Dương gian hai ngả, ơn sâu chưa báo, nhân duyên như vậy tình không nên lời. Nay thiếp đã đến kỳ mang thai, sinh được một người con cốt hổ, cũng là khí chung đúc của thiếp và chàng, xin được đưa về Dương thế cùng với chàng cho chàng được vui lòng, ghi khắc một điều tình thâm với chàng, sao không phải là thứ quý báu của gia đình vậy. Xin chàng hãy biết cho.

Ông Hùng nghe vậy đưa mắt nhìn vào trong thân cây lớn, không thấy có ai, chỉ có một con hổ vàng, lông 5 màu phủ khắp người nằm đó. Ông Hùng cúi đầu đi đến thì hổ biến mất. Ông đến nơi hổ nằm thấy có một bọc bầu lớn. Ông nhớ lại lời vừa nghe được liền hai tay ôm lấy bọc đó cất vào trong tay áo. Lại thấy có một phong thư trên giấy hồng. Ông bèn mở ra xem, thấy có bốn câu rằng:

Phong thư hảo tín giáng nhân gian
Lang quân đắc tự khán sơn thần
Xuất thế dĩ phù an xã? tắc?
Giao hồi nguyện báo dĩ thừa hoan.

Ông xem xong thì biết là người vợ đã ứng hiện, bèn đem bọc bầu trở về. Qua được 3 tháng 25 ngày, hôm đó trời đất tối tăm, sấm chớp rầm rì. Trên sông sóng nước cuộn dâng. Cây lớn trên rừng đều gãy đổ. Ông lấy làm sự lạ mà bọc bầu lớn không thấy nở. Ông bèn dùng gậy đập vào cũng không nứt ra. Ông Hùng ngạc nhiên bèn đặt bọc bầu đó ở nơi ven núi để chờ xem. Qua được khoảng 14 ngày đến giờ Ngọ ngày mùng 6 tháng Ba năm Canh Tuất bọc bầu vỡ nở ra một người con trai, mặt vuông tai to, lưng rộng vai dài, tay dài quá gối, dưới chân có dải lông, sau lưng lại có 28 điểm tinh tú. Vào ngày khi sinh hương thơm bay ngào ngạt. Lại thấy có hổ vàng từ trên núi chạy đến nơi sinh. Lại thấy trăm muôn thú đều đến chầu nơi đó. Bỗng thấy trời đất mờ mịt, mây xanh giăng giăng, mưa gió thổi đến. Được một lúc thì trời đất trong sáng trở lại. Xuất hiện người con trai có tướng mạo đường đường, dáng vẻ lẫm liệt.

Lại nói, ông Hùng lấy làm lạ, quả nhiên trời đã báo phúc. Ngay hôm đó (là mùng 5 tháng Năm) truyền cho gia thần cùng quân lính mổ trâu làm lễ tế trời đất, bách thần. Đang khi khấn tế bỗng thấy có một vị thần tướng cao lớn từ trên trời hạ xuống đàn, đầu đội mũ hoa, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một đôi kiếm báu, đứng tại trong mây mà nói với ông Hùng rằng;

  • Nay Thiên đình cử ta xuống để báo cho ông biết. Vợ chồng ông tích đức thật là đã nhiều năm. Hoàng thiên soi tỏ. Hôm nay ta đem kiếm báu đến giao cho con của Hùng Vương. Đợi đến ngày sau tất sẽ làm được việc giúp nước cứu dân.

Nói chưa dứt lời thì đem kiếm báu, cung thần trao cho ông. Ông đang muốn hỏi thì thần tướng bỗng nhiên biến mất. Ông chợt tỉnh lại, biết quả là Thiên thần xuống báo. Khi đó trong lòng bàng hoàng, sợ hãi, nói với các gia thần binh sĩ rằng:

  • Nay Thiên đình đã cho Sơn thần xuất thế, đầu thai vào làm con nhà ta, không phải người thường trên nhân gian. Chi bằng tìm riêng lấy một nơi đất tốt để nuôi dưỡng tới lớn. Từng nghe nói rằng nơi thắng cảnh trời Nam (tức động Hương Tích) là nơi mà Quan Âm đã xuất thế tại đó, là chốn quần tiên mở hội đánh cờ vây.

Dứt lời bèn truyền gia thần sắm sửa ba mâm cỗ chay cùng hương hoa các đồ (hôm đó là ngày 16 tháng Hai) đi đến xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên làm lễ cúng Phật. Giao phó người con cho vị sư tên là Đạo Quang Hòa thượng. Hòa thượng thấy thể mạo phi thường như sơn thần xuất thế, nên xem như anh em sinh cùng bọc. Khi ấy gia thần cùng nhân dân xây nhà và ở ấp đó để phụng dưỡng. Qua được 5 năm nhà sư cùng với ông Hùng đặt tên cho người con là Hiển Quan.

Đến khi trưởng thành tuổi khoảng 15, khi đi ngoài đường hay lên núi thì trên đỉnh đầu có đám mây che trùm phúc, đều giống như hình chiếc ô mây vậy. Khắp một vùng trong sáng, mây bay mưa rơi, sấm động mây theo. Nhân dân thấy vậy đều sợ phục. Hiển Quan vốn thông minh, thiên tư trí tuệ, văn võ toàn tài, lòng nhân đức to lớn.

Khi ấu do vua có đức không tốt nên Thiên đình giáng tai ương. Thiên hạ hạn hạn lớn, hoa màu khô héo. Nhân dân ốm đau, khắp nơi trong nước đều thiếu thốn. Khi đó Vua bèn ban chiếu mở khoa thi tuyển tìm người hiền lương phương chính, hiếu đễ cùng với văn chương quảng bác, văn võ toàn tài. Hôm đó Hiển Quan đi thi tuyển cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ, người ở vùng biển, cùng đến ứng tuyển. Lúc đó Vua nằm mộng lên trên chốn Thiên đình. Thượng Đế hạ chiếu cho Hiển Quan thuộc Sơn bộ cùng với Đông Hải Quan chính ở Thủy bộ để giúp cho công đức của Vua, để bảo vệ nhân dân.

 Vua nghe vậy mới tỉnh lại thì biết là mộng báo. Đến sớm ngày có hai vị quan đến trước bệ rồng ứng tuyển. Vua thân hỏi xét, thấy tâu đáp trôi chảy, không gì là không hiểu. Vua trong lòng rất vui mừng, nhớ tới điềm báo trong mộng thấy đúng là những người này. Vua bèn nói rằng:

  • Đúng là Sơn thần đã giáng thế để giúp nước cứu dân. Trẫm sẽ cho dựng một đàn trai giới, lệnh cho ông cầu đảo xin trời cho được mưa xuống để tưới cho hoa màu được tươi tốt, cứu nhân dân khỏi đói khát. Nếu quả được như trong giấc mộng của Trẫm thì khanh đúng là vị Sơn thần đó vậy.

Vua bèn cho lập đàn, sai Hiển Quan cầu đảo. Được một lúc thì mưa từ trên trời tuôn rơi, mây mù mù mịt, gió sấm cùng nổi lên. Vua sợ hãi, biết ông đúng là Sơn thần giáng đến để giúp nước. Bèn bái ông là Tư Mã quan, kiêm cả Thủy bộ. Được vài năm thì bái làm Đại tướng quân thống lĩnh cả Thủy đạo và Sơn bộ. Lại cho Yến Vĩ làm ấp thang mộc, lĩnh quản ba vùng Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương, trấn giữ các đầu non góc biển, đều giao cho Hiển Quan nắm giữ.

Qua hơn mười năm. Lại nói, khi đó có Thạch Linh Thần tướng khởi binh phương Bắc đến xâm phạm nước Nam. Chiêng trống động trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn sai sơn thần Hiển Quan dẫn quân đến chống cự ở đạo Sơn Nam. Lại sai Đông Hải Quan dẫn quân đến cự chiến ở miền duyên hải. Ông bèn lĩnh binh tiến thẳng đến Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, lập một đồn doanh ở nơi gò đá hình con rùa (trước có 3 ngọn tam thai, bên trái có dòng nước nhỏ uốn quan, phía sau có 5 ngọn núi nhỏ chầu về chính cung, hai bên đều quay về chầu). Ông nói với nhân dân (tức là ấp thang mộc của ông xã Yến Vĩ) đến làm lễ bái mừng (là ngày mùng 6 tháng Giêng). Khi đó ông đang giữ trận chống giặc ở đất này đã được 3 năm. Ông thường sắp sửa cỗ chay, hương hoa ngũ vị, dâng hương làm lễ ở chùa Thiên Trù, cầu khẩn trời đất, núi sông, tinh tú cùng đến giúp nước, hỗ trợ cho được thành công dụng.

Khấn xong bỗng thấy trên trời vang lên ba tiếng sấm, ánh chớp khắp nơi. Ông bèn dẫn quân ra đánh giặc. Tất cả hơn mười hiệp mà không phân thắng bại. Ông bèn lên ngựa, tay cầm một đôi kiếm báu xông vào đồn chính của giặc. Quân Ân chạy tan tác, không dám xâm phạm nữa. Chỉ có đồn doanh của ông ở huyện (tức huyện Hoài An) đều được yên ninh, nhân dân yên lành. Còn các nơi khác đều nổi loạn. Vua vô cùng lo lắng bèn lập đàn cầu đảo trời đất. Quần thần hội chầu ở đàn ba ngày. Mưa gió nổi lên. Bỗng thấy có một lão nhân cao hơn 10 trượng, râu tóc bạc trắng (tức là Lạc Long Quân hiện xuống), giáng đàn giúp nước. Vua thân ra đón vào, mới hỏi kế sách dẹp giặc. Lão nhân bèn nói:

  • Nếu như cầu được người này thì giặc Ân tất sẽ dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu ở nơi nào?

Lão ông bốc một quẻ bói, hồi lâu mới nói:

  • Hãy đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh hô rằng: Quốc gia gặp nạn, giặc Ân đến xâm chiếm.

Thiết Xung Thần tự nhiên sẽ mở miệng nói với sứ giả rằng:

  • Xin về báo với vua đúc cho một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt. Đem đến đây cho ta. Vua sẽ không phải lo về giặc Ân nữa.

Sứ giả nghe vậy liền vội về triều tâu lại với Vua. Vua rất vui mừng bèn cho đúc ngựa sắt, roi sắt cùng với 10 bộ Sơn thần và 10 bộ Thủy thần. Hôm đó vua bái Hiển Quan là Cao Sơn Đại vương thống lĩnh 16 châu động cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ theo Thần Vương đi dẹp giặc. Ngày đó vua đem ngựa sắt, roi sắt ban cho Thần Vương. Thần Vương (tức Phù Đổng Thiên Vương) liên nhảy lên ngựa. Ngựa chạy như bay. Sai quan quân đi theo sau. Thần Vương mới hô to một tiếng rằng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Chốc lát đã tới chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, cùng với cá bộ sơn thủy đánh một trận. Bỗng thấy trời đất mù mịt, sông núi tinh tú đều sa xuống, thủy phủ đều nổi lên. Thiết Xung Thần Vương đầu tiên bắt sống được Thạch Linh Thần tướng, chém tại chỗ. Hai bộ sơn thủy truy sát quân Ân, hơn năm ngàn các tướng cùng quân sĩ đều tận trừ. Một trận quét sạch. Quân giặc tự được dẹp yên. Thần Vương cưỡi ngựa sắt về thẳng đến núi Sóc huyện Kim Hoa thì bỏ áo, xuống ngựa, theo mây mà bay đi. Nay hiện vẫn còn dấu tích. Vua bèn phong là Phù Đổng Thiên Vương, có sự tích riêng.

Lại nói, Hiển Quan dẹp giặc thanh bình, dẫn quân mã trở về triều phụng chầu. Vua bèn bái là Chưởng nội các quân sự. Qua 6 năm sau khi đó Hiển Quan dập đầu bái tạ trước vua, thỉnh xin được về cung ấp để nghỉ ngơi, không dám tham gia vào quốc sự nữa. Vua bèn ban cho năm trăm nén vàng bạc, một chiếc áo gấm. Lại cho xã Yến Vĩ làm ấp thang mộc. (Hôm đó là mùng 6 tháng Mười) Hiển Quan lĩnh mệnh đường đường trở về cung ấp. Lại nói, khi ấy Hiển Quan ngồi thuyền rồng về đến cung ấp (tức là cung trước đây ở xã Yến Vĩ) bèn mở tiệc mừng. Qua một tháng sau mới nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Dân với ta tất đã thành nghĩa cũ, không phải tình ngày một ngày hai.

Nói xong, nhân dân tâu rằng:

  • Ơn như núi cao biển rộng.

Nhân dân tâu xong, ông lại cho 5 nén vàng. Nhân dân đều nhận mệnh đó. Hiển Quan bèn ngâm một bài thơ luật rằng:

Nhất đường tụ hội hoán tinh thần
Vạn cổ hương yên tại xã dân
Tuy thị tuý trung hoan ẩm ngữ
Tình lưu Yến Vĩ ức niên xuân.

Ngâm xong bỗng thấy trên trời có 7 tiếng sấm rền, trời đất mờ mịt, ban ngày mà như đêm. Lại thấy từ trong thân ông có hổ vàng nhảy ra, bay thẳng lên trời. Hiển Quan biến mất. Binh sĩ và nhân dân làm biểu dâng tấu lên vua (tức giờ Thân ngày mùng 6 tháng Mười một năm Giáp Thìn thì ông hóa). Vua nghe vậy liền sai sứ thần đem sắc chỉ về dân, sửa sang lại cung sở đền thờ. (Tức ngày mùng 6 tháng Giêng) nhân dân đón sắc chỉ về dân làm lễ khánh hạ để phụng thờ. Đáng phong thêm 4 chữ.

– Truy phong Cao Sơn Hộ quốc Tế thế Đại vương, cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Truy phong Cao Sơn Đại thánh Sơn Hổ Đại vương cùng các nơi 72 đền có tích riêng.

Lại nói đến bốn triều Đinh Lê Lý trần khai sáng hồng đồ thường có giúp nước cứu dân anh linh hiển ứng nên các đời đế vương phong thêm mỹ tự, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ, sự tích không thể mất đi.

Phụ khai các ngày sinh hóa cùng các tiết lễ lệ khai như sau:

– Triều Lê phong ba chữ mỹ tự, đáng phong thêm, nhất thiết cấm màu vàng, cùng với các chữ húy nhất thiết cấm là Hổ, Hiển. Phong là Cao Sơn Đại Thánh Sơn Hổ Tế thế Đại vương

– Phong là Cao Sơn Hộ quốc Cứu dân Cương đoạn Thông minh Chính trực Đại vương. Cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày lện chính phong sắc. Lễ dùng lợn gà, xôi rượu, hương hoa các thứ.

– Ngày 16 tháng Hai là ngày khánh hạ chính. Trước làm lỗ cỗ chay mười mâm. Sau làm lễ cỗ trâu, xôi rượu, ca hát ba ngày đêm.

– Ngày 12 tháng Sáu là lệ chính. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, bánh dày các thứ.

– Ngày mùng 6 tháng Ba là ngày lệ chính sinh thần. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu các thứ.

– Ngày mùng 5 tháng Năm là chính lệ xuất chinh. Lễ dùng cỗ tam sinh.

– Ngày mùng 6 tháng tám là ngày quốc tế. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, ca hát đến ngày 15 thì ngừng.

– Ngày mùng 6 tháng Mười một là ngày chính hóa nhật. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, bánh dày, cùng với rượu vàng các thứ.

Hồng Phúc năm đầu ngày 29 tháng Tám, Bệ phẩm Thượng thư kiêm Lễ bộ quan Nguyễn Đăng Huy vâng soạn.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 5 ngày tốt tháng Mười Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, tiểu chức, tuân đúng theo chính bản của tiền triều chính bản vâng chép.

Ngọc phả cổ truyền chép về Đức ông Cả Đài Đại vương, Đức ông Bố Cái Đại vương bộ Thủy triều Hùng họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Thượng Phúc tổng Hoàng Lưu huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Đông.

Thần tích bộ Tả, Thượng thượng đẳng thần.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế khai mở cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt họ Hùng Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, sáng lập cơ đồ nước Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trùm khắp phiên bang. Nối tiếp ngôi báu đất Viêm Hồng, có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giữ cho tông miếu vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam. Đế ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam. Nền vua đất nước mãi vững muôn năm, mãi còn vạn cổ. Hương lửa không dứt.

Lại nói, vua triều Kinh thứ 6 là Huy Vương tại ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh thành là Phong Châu, dựng kỷ cương đất nước, lấy phép tắc của các vua đời trước mà khuyếch trương pháp độ, trải hình phép vạn đời. Lấy đức giáo hóa nhân dân, làm điều nhân đức, chuyên tâm chính trị. Dốc lòng che chở dân chúng. Lập pháp luật, biểu trương quy củ. Đương thời đều coi là vị vua hiền vậy.

Lại nói, đang thời khi đó truyền đến hai vị Đài công, Cái công, đúng chính là dòng dõi Hùng Vương làm Bộ chủ Hoan Châu. Khi Lạc Long Quân lấy Âu Cơ ở động Lăng Sương làm chính phi, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là những anh hùng vượt đời, trí dũng hơn người. Lạc Long Quân liền cho kiến dựng tước hầu, lập phiên dậu bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là châu Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta thuộc giống rồng, nàng là dòng tiên. Tí Ngọ không cùng, nên vì thế mà chia tách.

Năm mươi người con theo cha làm Thủy thần. Năm mươi người con theo mẹ làm Sơn thần. Nhân đặt là trăm vương. Bộ chủ Hoan Châu là thủy thần thứ 11, tên là Hùng Tuệ. Mẹ vốn là người châu Bảo Lạc, trang Hoằng Hóa, họ Vương tên Loan. Khi đó ông Bộ chủ tuổi đã 50, bà phi tuổi cũng hơn 40, nhưng cành lan nhánh quế trước sân còn thiếu, chưa thấy giấc mộng lành điềm kỳ lân. Ông Bộ chủ họ Hùng vốn là người có đức dày với dân, trọng nghĩa khinh tài, rộng rãi giúp đỡ dân chúng. Phàm là việc cứu người thì không có gì là nhỏ. Lòng tận tâm giúp vật vốn có như ghi khắc. Là người hiền thực sự ở trên đời, vốn là bậc tuấn kiệt đương thời vậy.

Thái bà cũng là người nhân từ, kính thuận, khiêm tốn. Ăn ở vẻ vang mà ôn hòa, tứ đức vẹn toàn. Sáng vẻ nhàn hạ chốn khe Nam. Một lòng tòng thuận như chốn cửa Trần. Nét ấm đẹp theo lối Cam đường. Thực là bậc Hằng Nga trên cung trăng. Đúng là bậc nữ đời Nghiêu Thuấn. Sánh sáng cùng việc ngọc phong, sống động cùng lan quế, thời đó khó tìm.

Một hôm ông Bộ chủ nói với bà phi rằng:

  • Chốn đền thần danh lam, trai giới nơi chùa phật, thành tâm cầu tế trời đất thần kỳ, núi sông trăng sao thì mới mong có được phúc lớn.

Dứt lời bèn chuẩn bị lễ vật. Vợ chồng Bộ chủ cùng lên núi Yên Tử để dâng hương cầu khấn, chúc:

  • Xin sớm cho được điềm lành, thấu đạt hoàn cảnh. Vạn sự mong trời đất thần sông âm phù, giúp được ước muốn.

Chúc xong thì mặt trời đã xuống núi, trời chuyển về chiều. Ông bà bèn nằm lại trong chùa để cầu mộng trước án. Khoảng đến giữa canh hai bà phi mơ màng như mộng. Bỗng thấy trong điện mây năm sắc nổi lên, bầu trời sáng  rực rỡ. Lại thấy con đường trong mây có rồng vàng xuất hiện, thẳng đến quấn lấy thân bà phi ba vòng. Bà phi sợ hãi, hét lên một tiếng, vang đập vào tai mà tỉnh dậy. Bà kể lại điều trong mộng với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ bèn nói rằng:

  • Nhà ta có phúc lớn, trời sẽ soi tỏ. Cứ như điều trong mộng thì trời tất sẽ giáng điềm lành, quả sẽ sinh quý tử.

Noi xong vợ chồng cùng làm lễ bái tạ. Ngay hôm đó, vợ chồng trở loan giá về đến thôn Thượng Dục, xã Hạ Dục, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên. Có một đoạn sông nhỏ chảy vòng đến thôn Thượng Dục. Ông Bộ chủ bèn cho dừng thuyền tại đó một lúc. Bà phi đi xuống bãi sông mà tắm rửa. Bỗng nhiên có giao long quấn lấy chân, phun nước dãi rồng vào thân bà phi. Mùi hương dãi rồng ngào ngạt. Bà phi sợ hãi bèn chạy lên bờ trở về. Mùi hương dãi rồng trên thân không gột hết được. Bà phi nói lại với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ nói rằng:

  • Ta thuộc mệnh Thủy thần, tất có sinh ra Thủy thần. Hãy đợi sau này sẽ biết được việc hôm nay thế nào.

Nói xong vợ chồng lại cất bước trở về đến Hoan Châu. Tối đó ông Bộ chủ nằm ở trong nhà chính, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người hai tay bưng một chiếc mâm vàng, bên trên có một đôi cá chép, thân hình như đầu rồng đuôi tôm, thật là kỳ lạ. Khi đó người ấy bưng đến trước án ông Bộ chủ, bèn nói:

  • Nhà ông phúc hậu, nên nay ban cho một đôi báu vật của trời.

Ông bỗng tỉnh lại, nhớ đến điềm trong mộng thấy việc con cái tất sẽ thành, việc sẽ đúng như thế. Được vài tháng bà phi thấy động trong lòng, cảm ứng có mang thai. Đến giờ Thìn ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Tí sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, đều có kỳ hình dị tướng, hàm én mày ngài, trán hổ mặt rồng. Sau lưng có 28 điểm tinh tú, đều như một hàng vảy lân, không phải người trần có được. Vợ chồng ông Bộ chủ liên tưởng biết tất là thủy thần xuất thế, thiên thánh giáng trần. Ngày qua tháng lại, hai ông tuổi đã lên 3. Ông Bộ chủ bèn làm biểu tâu lên Bệ hạ, bèn đặt tên là Đài, người con thứ là Cái.

Thời ấy vua Hùng sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, kiến tước hầu, lập bình phong, phân chia 50 (15?) bộ. Lại phân 50 thủy thần, 50 sơn bộ. Hễ bộ nào có sinh con trai, tâu lên triều đình thì vua sẽ lệnh ban cho kế vị quân hầu, phân đất đai lộc hưởng. Hùng Huy Vương thấy hai ông dáng vẻ như hổ, biết là người lạ khác tầm thường, siêu quần vượt chúng. Bèn đều phong cho tước hầu.

Khi đó ông Bộ chủ Hoan Châu tâu bày việc khi cầu đảo hai ông đã ở chùa trên núi Yên Tử, thấy có điềm mộng ứng, lại khi trở về đến thôn Thượng Dục thì có giao long quấn lấy, về sau sinh được hai ông. Vua nghe chuyện đó bèn cho đất Thượng Dục làm đất hưởng lộc của hai ông, sau này làm nơi thờ phụng.

Lại nói, hai ông khi lên 7-8 tuổi thì có thiên tính thông minh, không cần dạy dỗ mà tự có hiểu biết, không đi học mà biết chữ nghĩa. Mỗi khi đi ra chơi ở ngoài đường thì đều có một áng mây xám hình như cái ô lớn bay trên giữa trời, che ở chính đỉnh đầu hai ông. Gió sấm nổi lên, mây mưa tùy rơi. Ở nơi mà hai ông đi qua đều thấy một cảnh thanh mát trong lành. Hai ông tính thường rất thích nước, hay đi tắm. Thường đi ra bến sông, lặn xuống đáy nước, đi lại ra ngoài sông lớn, lặn xuống đáy nước cả ngày không lên. Mọi người đều thấy, đều kính sợ, xưng là tài lạ trời bẩm sinh, điều lạ ở chốn nhân gian, xưa này không từng có.

Khi hai ông lên 18 tuổi, văn võ kiêm tài, oai động triều đình, có tấm lòng nhân đức độ lượng, không ai không phục. Đương khi đó thiên hạ có mưa to nước lụt. Một dòng nước lớn chảy xuyên phá lở đường. Nhân dân, mùa màng bị thiệt hại nặng. Mười nơi thì chín nơi tan hoang, thật là đói khát. Vua cho hai ông nhận chức lớn đi tuần giữ các nơi trong thiên hạ, xem xét các vùng đất đai. Một hôm hai ông đi thẳng đến nơi ở sở tại (tức là địa giới thôn Thượng Dục). Nhân dân làm lễ bái mừng, dựng một hành cung ở đất đó (đất đó có hình thế một quý cục, hai bên phong tinh dẫn mạch, bốn mặt đất bằng bỗng nổi dựng một động nhỏ). Khi đó hai ông truyền binh sĩ xây dựng cung để ở và trị thủy. Hai ông ở đó được vài ngày, tới một đêm mưa to nước lũ dâng cao, chảy vào trong chốn cung sở. Hai ông bèn truyền cho nhân dân và binh sĩ chặt cây làm đê để ngăn nước, nhưng đều không chống được, thế nước lụt khó giữ. Hai ông rất tức giận, mắng rằng:

  • Thủy tặc sao lại có ý muốn hại trần gian vậy. Nay chúng ta vâng mệnh vua trần gian, cai quản thần sông, trấn ngự giặc nước gây hại. Chốn này là đất cung sở của chúng ta (tức đất thôn Thượng Dục) mà không sợ chúng ta sao. Ngày ngày lại càng dâng thêm nước lụt xâm nhập, gây hại cho dân. Không nghe rằng Dương đình, Thủy quốc phép chung đều giống nhau. Nếu có chúng ta ở đây, lũ thủy tặc khó thoát.

Mắng xong, hai ông mơ màng như mộng. Bỗng thấy có ba tướng đường đường cùng với quân sĩ hơn vài chục viên từ sông rẽ nước lên bờ đến đánh nhau với hai ông. Hai ông dẫn quân đến đánh. Được hơn mười hiệp hai ông bắn một mũi tên vào giữa bụng quân giặc. Quân giặc thua chạy. Hai ông đuổi theo, chém được hai viên đại tướng cùng với vài trăm binh sĩ. Còn những tên khác đều thua bỏ chạy hết. Bỗng nghe có một tiếng sấm vang lên. Hai ông tỉnh lại, biết là mộng. Đến khi trời sáng thấy nước đều đã rút hết đến tận lòng sông, không cần sửa đê mà đều rút yên vậy.

Hai ông trị thủy việc đã yên bình, làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua bèn ban chiếu gọi hai ông trở về kinh thành. Hai ông vâng chiếu trở về triều, bái tạ Bệ rồng. Vua rất khen ngợi, ngay hôm đó phong thưởng thăng giao ông Đài đất Hoan Châu làm chủ chưởng kế thừa cha. Ông Cái được phong ở Sơn Nam. Cùng ban thưởng 500 lạng vàng.

Hai ông xin trước bệ rồng được trở về thăm cha mẹ. Vua đồng ý. Hai ông hôm đó quay xe trở về đến xứ Hoan Châu, vào bái ông Bộ chủ, làm lễ gia tiên. Ở được vài ngày thì cha mẹ bỗng nhiên mất (tức ngày mùng 5 tháng Năm). Hai ông làm biểu dâng tấu lên triều đình, rồi chôn cất cha mẹ ở đất đó. Sau đó hai ông đi nhận chức ở các nơi. Từ đó thiên hạ thanh bình, nhân dân no đủ. Hai ông đi xe trở về cung Thượng Dục. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ bái mừng. Hai ông truyền quân sĩ cùng nhân dân tu sửa hành cung các chốn. Hai ông ở đó được hơn ba tháng.

Lại nói, khi ấy có Ngô Linh Thần tướng cất 50 vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Giáo mác khắp trời, cờ xí rợp đất. Thư từ biên giới gửi về báo gấp, mỗi ngày 5 lần. Vua Huy Vương lo lắng, bèn gọi quần thần đến hội nghị, hỏi kế sách. Triều đình đều dương mắt nhìn nhau, bó tay không có đối sách. Vua bèn cho dựng đàn trai giới, đốt hương cầu đảo. Truyền quần thần đến hội tụ ở đàn trong ba ngày. Sau có mưa sấm gió lớn. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạch trắng, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người đều thấy làm lạ, tâu vào lên vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, lấy tay bắt một quẻ, rồi nói với vua rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này tất sẽ dẹp yên hoàn toàn được.

Vua lại hỏi rằng:

  • Cầu người này ở phương nào?

Ông lão lại nói rằng:

  • Việc này hãy hỏi bà mo.

Dứt lời, ông lão bay lên không đi mất. Vua biết là Lạc Long Quân chỉ giáo. Thế là vua sai sứ giả đi cầu khắp thiên hạ. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, đã hơn ba tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết cười nói. Bà mẹ nghe sứ giả truyền đến, bèn đùa rằng:

  • Con nhà ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận chức trọng của triều đình, để báo ân sâu nuôi mớm.

Nghe mẹ nói vậy, người con bỗng nhiên nói:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với vua, xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, mang đến cho tôi thì Vua không phải lo lắng nữa.

Lại nói, sứ giả trở về, tâu lại lời nói đó với vua. Vua rất vui mừng, lại lệnh cho các quan lang, phụ đạo, bộ chủ cùng với 10 bộ sơn thần, 10 bộ thủy thần là dòng dõi Hùng Vương, dẫn ba vạn quân mạnh theo giúp Thần Vương. Ngay ngày hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem đến cho Thần Vương.

Lại nói, khi đó vua lệnh cho ông Đài và ông Cái thống lĩnh Thủy đạo tướng quân, trợ chiến cùng với Thần Vương, tiến thẳng đến đồn chính giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, đánh lớn với Ngô Linh Thần tướng ở bên núi. Giặc Ân đều thua, bắt sống Ngô Linh Thần tướng mà chém đi. Còn lại các dư đảng chưa diệt hết, Thần Vương trước đó đã rơi gậy sắt nên liền nhổ tre làm gậy dẹp sạch quân giặc.

Thần Vương dẹp yên giặc xong, trở về đến núi Sóc Vệ Linh huyện Kim Anh thì bỏ áo, ngựa, bay thẳng lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Lại nói, hai ông (tức ông Đài, ông Cái ở đó) cưỡi thuyền rồng trở về đến sông Bùi huyện Chương Đức, bỗng thấy có một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối tăm. Trên sông sóng nổi lên ầm ầm, vạn nhẫn vang rền. Lại thấy có ba tiếng hô rằng:

  • Mau triệu hai ông trở về Thủy quốc.

Nhân dân nghe thấy tiếng hô đều sợ hãi. Được phút chốc, mưa gió tự dừng. Nhân dân đến nơi cung sở thì không thấy hai ông đâu nữa. Nhân dân (tức thôn Thượng Dục) liền đi thẳng ra ngoài bãi sông, bỗng thấy thuyền rồng còn đậu ở nơi đó. Lại nghe tiếng nói với nhân dân rằng:

  • Hai vị tướng quân đang khi mưa gió mù mịt đã cùng xuống thuyền rồng mà hóa. Dân các người ở đây (tức thôn Thượng Dục) hay mau về cung sở bày cúng tế phụng thờ.

Ngay hôm đó là ngày 12 tháng Mười hai năm Bính Ngọ nhân dân nghe tiếng các quan Thủy đạo báo vậy bèn làm lễ tạ. Trở về sửa sang cung đền bày tế cúng. Đang khi làm lễ, mây trời u ám, mưa gió nổi lên. Giao long, cá lớn, ba ba đều đến chầu vào nơi tế cúng. Nhân dân sợ hãi, bèn làm biểu dâng tâu lên triều đình. Khi đó các quan làm tế xong, trở về cũng đều tâu lại với vua. Vua rất mừng, nói với quần thần:

  • Thiên thần và Thủy quốc đều giúp nước nhà. Trẫm không còn lo lắng gì nữa.

Ngay hôm đó mở yến tiệc lớn khao hưởng quân sĩ, phong thưởng các công thần. Bèn phong mỹ tự cho trăm thần, hưởng lễ huyết thực vạn cổ, hương lửa không ngừng.

Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Cho đón sắc chỉ về dân lập đền để thờ. Các đền ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du, cùng thôn Đối Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa đều cho cấp một trăm khoảnh ruộng để phụng thờ.

Lại phong Đức Ông Đài Vàng Đại vương. Lại phong Bố Cái Sô Tha Đại vương. Cho vâng đón sắc chỉ đem về nơi thôn Thượng Dục, sai quan … đến bày cúng tế, tu sửa đền cung, nhân dân được phụng thờ.

Người đời sau có thơ rằng:

Sinh hoá diệc đồng thử nhất tân
Sinh vi danh tướng hoá vi thần
Bùi giang, Thượng Dục giai tồn tích
Miếu mạo vũ đường cựu chí tân.

Dịch là:

Sinh hóa cùng nhau tại bến này
Sinh là danh tướng, hóa thần đây
Sông Bùi, Thượng Dục đều còn tích
Miếu mạo cung đường xưa tới nay.

Lai nói đến thời Trưng nữ vương, tức Trưng Trắc, Trưng Nhị, đều là cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên trần thế, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh phụ tướng, chiêu dụ anh hùng, dẹp trừ Tô Định. Cùng nhau hội quân ở sông Hát, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Khi đang làm lễ bỗng thấy ông Đài và ông Cái dẫn binh mã đến nói rằng:

  • Chúng tôi chính là các thủy thần. Nay thấy hoàng gia khởi nghĩa dẹp trừ giặc dã, tự xin được âm phù dẹp giặc, tất đều có linh ứng.

Sau khi thanh bình Trưng nữ Vương lên ngôi, bèn phong mỹ tự cho cùng hưởng hưng thịnh với đất nước, là Duyên huống Khai tường Xiển trị Cương nghị Hùng lược Anh đoạn Pháp thân Cư sĩ Tối linh Đại vương.

Từ Trần Thánh Tông đến Trang Tông cùng với Thái úy đại thần diệt trừ loạn Mạc, có nhiều linh ứng, âm phù giúp nước, đều có nhiều phong tặng sắc chỉ. Các ngày khai sắc, khánh hạ được khai rõ ràng dưới đây:

Thượng đẳng Thủy thần, bộ Tả.

Các ngày lệ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ và các chữ húy, sắc phục màu vàng đều cấm. Nhất thiết cấm các chữ húy Hùng, Loan, Đài, Cái.

Ngày lệ sinh thần là mùng 6 tháng Giêng, hai vị cùng sinh. Lễ dùng lợn đen, chọn gia đình vợ chồng đều song toàn làm lễ, cùng gà, xôi, rượu, cỗ chay, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Hai chính lệ. Lễ dùng mâm chay, xôi rượu, hương hoa năm vị.

Ngày lệ phong sắc là mùng 6 tháng Sáu. Dùng trâu, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ khai sắc là mùng 6 tháng Ba. Dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười hai, hai vị cùng hóa. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, bánh chay.

Ngày hóa của thánh phụ là mùng 5 tháng Năm. Lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ vâng chép.

Hồng Phúc năm đầu ngày 18 tháng Năm, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.