Thần tích Cường Bạo Đại vương đánh giặc Ân ở Bắc Ninh

Dịch theo bia đá lập tại làng Mỹ Thôn, Gia Bình, Bắc Ninh.

Phả chép về một vị công thần và hai vị đại vương âm phù triều Tĩnh Vương

Chi Càn, bộ Trung đẳng.
Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt ta đời Hùng Vương thứ tư tại đạo Kinh Bắc (trước gọi là quận Bắc Giang) phủ Thuận An, huyện Lương Tài (trước gọi là Thiện Tài) trang Trình Khê khi đó có một người họ Tạ tên Hương, vợ là Đào Thị tên Hinh, là một gia đình giàu có, đã qua 3 đời làm nghề y đều hết lòng làm việc thiện. Một việc thiện dù nhỏ cũng không bỏ qua. Một tấc việc ác cũng không gây ra. Vợ chồng ông đều cùng là những người có đức dày. Ông tuổi đã gần 50, bà Đào Thị đã ngoài 40 nhưng chưa có con trai. Khi đó bà Đào Thị đêm nằm mơ thấy có thần hổ Sơn chủ đến ứng mộng vui đùa. Từ đó bà mang thai. Đến năm Giáp Dần ngày 15 tháng Ba

Sinh hạ được một người con trai, thiên tư cao lớn, thể mạo khôi ngô. Ông biết đó là Sơn thần xuất thế nên rất là yêu mến, mới đặt tên là Cường Bạo và nuôi dưỡng. Thế rồi ngày qua tháng lại, ông Bạo tuổi đã 16, thiên tư cao lớn, học lực tinh tông, đọc thông binh thư, tài năng võ nghệ đều đứng đầu. Sức có thể nâng đỉnh, thế mạnh bạt núi. Thực là có dũng khí vạn người không đương được. Khi ông 18 tuổi thì cha mẹ đều mất. Ông bèn tìm nơi đất tốt làm lễ chôn cất. Qua ba năm chịu tang thì khi đó có giặc Ân đến xâm chiếm đất nước ta. Tĩnh Vương vô cùng lo lắng bèn sai sứ đi khắp các đạo, huyện, quận tìm các dũng sĩ, ai là người có tài văn võ thì sớm đến bái nhận quân sĩ làm phiên thần dẹp giặc. Thế là ông Bạo một tiếng nghe chiếu Thiên tử mà nổi lòng diễn võ bốn biển. Ngay hôm đó ông Bạo đem quân lính trong làng được 5 ngàn người tiến thẳng đến kinh đô để ứng tuyển trước bệ rồng.

Vua thấy ông trổ tài văn võ bèn phong cho ông là Chỉ huy sứ Hữu tướng quân, đầu tiên dẫn quân dẹp loạn để yên dân, trước tiến đến đạo Bắc để tuần phòng. Gió thổi cờ bay vạn dặm, chiêng trống như sấm động ngàn non.  Một hôm ông lùi về đạo Bắc, đi đến trang An Khoái huyện Gia Định nơi mảnh đất đầu bến sông thì gặp quân Ân tiến tới. Ông bèn vào trú ở trong đền thần, cầu thần âm phù dẹp giặc. Đến đêm tới cuối canh ba ông mơ màng thiếp đi. Bỗng nhiên thấy hai ông lão, áo mũ chỉnh tề, theo đường chính mà tiến đến, tự xưng là:

  • Chúng ta vốn là hai vị thiên thần trấn trị nơi dân đây, ở tại trong miếu này. Một tên là Đô Thiên, một là Thạc Phụ. Nay nghe tin tướng quân đi chinh Nam dẹp giặc, chúng ta linh thiêng giáng ứng âm phù, tặng ngài một chiếc chùy gỗ, để tại nơi đất hình con rùa ở bên sông. Dùng phép thần để trị giặc thì trong phút chốc giặc đều phải bỏ chạy. Ngày sau sẽ cùng được thờ phụng.

Hai vị thần nhân nói xong thì bay lên không mà đi. Ông tỉnh lại biết là linh thần đã ứng mộng, đến sáng ngày cho gọi các cụ già ở trang An Khoái dẫn đến nơi mảnh đất hình con rùa bên sông, quả nhiên thấy có chùy gỗ gậy thần để ở đó. Ông cầm lấy và nói rằng:

  • Thần ở trang này rất linh thiêng vậy.

Ngay hôm đó ông truyền cho binh sĩ cùng với nhân dân xây dựng một đồn trại ở nơi mảnh đất hình con rùa đế chống quân Ân. Từ khi ông đến hiểu dụ nhân dân nơi đây thì nhân dân được yên ổi. Khi đó trang An Khoái đều phục đức của ông mà bái tạ, nhân đó xin rằng:

  • Nay là nơi đồn trại, về sau sẽ làm thành nơi thờ cúng.

Ông đồng ý. Một hôm ông bày tiệc, mời các cụ già và nhân dân đến ăn uống. Ông nói với các cụ già rằng:

  • Trang của các người hãy nhớ giữ di mệnh của ta là muôn năm về sau trang các người phải phụng thờ ba vị.

Sáng ngày hôm sau thấy sứ giả vâng mang chiếu thư đến lệnh cho ông đánh giặc Ân ở đạo Bắc cùng với ông Tả tướng Phù Đổng. Ngay hôm đó ông Bạo đem quân thẳng đến dưới núi Sóc Sơn. Ông với Tả tướng quân cùng ngồi dưới núi bàn kế sách tấn công giặc. Bỗng thấy giặc Ân từ bốn phía kéo đến trùng trùng điệp điệp. Quân của ông chưa kịp mặc giáp, ngựa chưa kịp đóng yên thì đã bị bao vây. Triều đình vốn không hề biết việc này nên không có quân cứu viện. Ông gọi quân sĩ tới và hô lớn:

  • Lòng trời giúp ta và tướng quân cùng hiệp sức để một trận đánh giặc Ân.

Ông bèn lấy chùy gỗ gậy thần chỉ vào giặc. Giặc Ân đều thua, chết rất nhiều, chém được chính tướng cùng với vài ngàn tì tướng. Máu chảy thành sông, thây chất như núi. Thu được khí giới, lương thực, xe ngựa rất nhiều. [Ông nói:]

  • Phá được vòng vây là nhờ ý trời cho linh thần âm phù trợ giúp ta vậy.

Đang khi đó dẹp được giặc Ân thì bỗng thấy ông Phù Đổng đến nơi núi Vệ Linh, bỏ kiếm dưới cây đa, rồi bay lên không mà đi không thấy nữa, tức là đã hóa vậy.

Thế rồi ông Cường Bạo trở về quê cũ tại trang Trình Khê. Khi đó ông đang ngồi ở giữa nhà bỗng thấy trời đất nổi lên một đám mây vàng như hình dải lụa đỏ từ trên trời rơi thẳng xuống trước dinh. Bỗng thấy ông phi thân ra xứ Khu Đống rồi không thấy nữa, tức đã hóa vậy. Khi đó là ngày 20 tháng Sáu. Nhân dân sợ hãi, làm biểu tâu lên triều đình. Vua bèn sai sứ giả về tế ở nơi đất đó, sắc phong là Khang tế Phúc thần, cho phép dân nới đó cùng với trang An Khoái cùng đón mỹ tự về dân lập miếu thờ.

Đến thời Hùng Duệ Vương nghe danh tích vang dội mới sắc phong tên và thần hiệu.

Phong Bảo hữu Đô Thiên Đại vương.

Phong Cường Bạo Khang tế Phúc tướng Đại vương.

Phong Uy hiển Thạc Phụ Đại vương.

Lại nói từ đó về sau có nhiều linh ứng nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự. Đến thời Tống Thái Bình sai Hầu Nhân Bảo cùng các tướng dẫn mười vạn quân thủy bộ cùng tiến, chia đạo xâm chiếm nước Nam. Khi đó Lê Đại Hành thân chinh dẫn mười vạn quân tinh nhuệ chống cự, tiến đến huyện Gia Định phủ Thuận An đạo Kinh Bắc thì gặp quân Tống đi đường thủy tiến tới. Vua bèn đóng quân ở bên bến sông. Ban đêm trú trong đền thần, cầu thần âm phù dẹp giặc Hầu Nhân Bảo, sau này dẹp được sẽ phong thêm là Thượng đẳng Phúc thần. Rồi vua xuất quân đánh. Giặc Nguyên quả nhiên bị bại. Tướng Nhân Bảo cùng các tướng khác đều bị giết. Lại bắt được các đại tướng Biện và Phụng Huân đưa về triều. Vua khải hoàn trở về, thưởng đãi hậu cho các tướng sĩ. Nhân đó nói rằng:

  • Giặc Nguyên dẹp được là nhờ có thần trợ giúp.

Bèn phong thêm cho trăm thần.

Phong Bảo hữu Đô Thiên Hiển ứng Hộ quốc Tế thế Trạch dân Hoành hưu Phúc diễn Hồng ân Trợ thắng Linh quang Đại vương.

Phong Cường Bạo Dũng lược Phổ tế Cương nghị Dương võ Phù tộ Hiển đức Phong công Tá trị Triệu mưu Hùng kiệt Đại vương.

Phong Uy hiển Thạc Phụ Linh ứng Hộ quốc Tế thế Trạch dân Hoành hưu Phúc diễn Hồng ân Trợ thắng Linh quang Đại vương.

Ban sắc chỉ cho trang An Khoái tu sửa miến đền để phụng thờ. Tốt thay, vâng thay!

Năm hoàng triều Cảnh Hưng phong thêm ba vị đại vương là Diên hy Tích khánh.

Năm hoàng triều Cảnh Thịnh lại phong thêm ba vị đại vương là Dực chính Khai bình.

Vâng khai các tiệc sinh hóa cùng các chữ húy thiết cấm là Đô, Thiên, Thạc, Phụ, Cường, Bạo. Cho phép trang An Khoái phụng thờ.

Ngày sinh thần là 15 tháng Ba. Chính lệ lễ dùng trên là mâm chay, dưới là thịt trâu, thịt lợn, xôi, rượu, bánh dày tròn, ca hát, đấu vật.

Ngày hóa thần là 20 tháng Sáu. Chính lệ lễ dùng như trên. Ca hát đều cấm.

Tiệc lệ cầu phúc là 15 tháng Chín. Lễ dùng tùy theo.

Tiệc lệ cầu phúc là mồng 1 tháng Mười hai. Chính lễ lễ dùng như trên.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Năm thứ sáu hoàng triều Vĩnh Hựu ngày tốt giữa thu Quản giám bách linh Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại theo bản cũ chép.

Năm thứ 16 thời Thành Thái ngày tốt cuối xuân Giáp Thìn nhân dân đến xã Bình Trù vâng sao bản chính.

Ngày tốt tháng giữa thu năm Bính Thân toàn thể thôn trên dưới lớn nhỏ cùng nhạu lập bia phụng thờ.

Leave a comment