Ngọc phả ba vị Ngũ Đạo, Đông Chinh, Tây Chinh Đại vương ở Trung Trinh

Dịch theo thần tích thần sắc làng Trung Trinh tổng Phá Lãng huyện Lang Tài tỉnh Bắc Ninh.

Ngọc phả cổ chép về các vị anh em đồng bào, công thần triều Hùng Huy Vương Việt Thường Thị là Ngũ Đạo Đại vương, Đông Chinh Đại vương, Tây Chinh Đại vương.
Bộ Lễ quốc triều. Ba vị tôn thần bậc trung đẳng thần, đệ nhị phẩm. Chi Ly.

Nước Việt xưa trời Nam mở vận, Thánh tổ dựng cơ đồ hơn hai ngàn năm, lấy hiệu là Hùng Vương, gọi là tổ của Bách Việt. Đời sau có thơ khen rằng:
Nam thiên sơ khởi tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Đế đức nguy nguy thiên niên tại
Nhị thiên dư tải ức niên hương.

Lại nói, triều Kinh truyền 6 đời đến Huy Vương, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, quốc đô là thành Phong Châu. Huy Vương là người thông minh trí tuệ, thánh võ thần văn, tài như Thuấn, đức như Nghiêu, lòng nhân từ có thể cảm động cả thần tiên, chuyên tâm lo dưỡng dân làm gốc. Đương thời đều xưng là bậc vua hiền vậy.

Lại nói, đang khi đó nước ta tương truyền rằng ở xã Mai Xá huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức có một gia đình họ Nguyễn tên Thưởng, lấy vợ là Đỗ Thị Phương. Gia thế ông họ Nguyễn vốn là Bộ trưởng quyền một sách, giàu có có thừa. Vợ chồng đều hiền từ, làm việc nhân đức tạo phúc, vốn là một nhà có tích nhiều việc thiện. Ở trong sách nhân dân đều rất kính yêu họ. Khi ông Nguyễn tuổi đã nhiều, Thái bà ngoài 30 tuổi nhưng chưa thấy mộng giọt sành, chưa gặp điềm chương ngọc. Ông trong lòng thầm nghĩ:

  • Phú quý đâu phải là điều phúc hậu của nhân sinh trên trần thế. Người có con trai tất nhiên sẽ có vạn điều thiện. Ta nay đã qua nửa đời người, râu tóc đã lẫn màu xanh vàng, khí lực gần suy, tất là do thấy lo về đời sau vậy.

Nhân đó ông nói với Thái bà rằng:

  • Từng nghe các đời gia tiên nhà ta vốn đều là gia đình tích thiện. Bốn năm đời đến nay không từng có ý hại người, chỉ một lòng tạo phúc đức. Thế mà nay vợ chồng ta đã hơn nửa đời người vẫn chưa có con. Cho dù tiền tài có nhiều thế nào, lúc chẳng may xảy sự trăm năm thì nghìn vàng trăm quý cũng phải để lại trên trần thế. Tôi từng nghe, con người ta ở trên đời danh tiếng chỉ có thể lâu bền là ở đời con, còn tiền tài lúc về già đâu để làm gì. Nay nghe rằng có nhiều nơi đất mộ cô hồn hoang phế. Chi bằng đem tiền lực để mua tiểu đựng mà cải táng các xương cốt tàn rơi rớt, cũng là một lòng lương thiện vậy. Ví như sau trăm năm lòng trời từ bi chiếu tới, cũng tránh được con đường lầy lội khổ đau, mà các linh hồn lạc lối cũng được cứu độ.

Thái bà nghe vậy cũng cùng vui lòng thuận theo lẽ đó. Nhân đấy, ngay hôm đó đem bán gia tài mà mua tiểu đựng hơn năm ngàn chiếc. Các mộ hoang phế, bị bỏ rơi đều được cải trang lại. Cùng với tất cả các nơi địa ấp trong tổng có sáu ngàn ngôi mộ cũng được ông cải táng. Việc xong, ông lập đàn trai giới, tụng kinh siêu độ các hồn oan, phách lạc. 49 ngày tuần chay. Gia tài khánh kiệt mà tạo phúc.

Việc xong tới trăm ngày sau. Hôm đó ông Nguyễn đang ngồi chơi ở phòng ngoài, bỗng thiếp đi. Bỗng nhiên thấy ở trước sân rất đông người nam nữ xếp thành hàng làm lễ bái, không biết bao nhiêu người. Lại thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, quần áo chỉnh tề, đường đường đi đến trước, dẫn mọi người vào bái lễ ở sân ngoài. Ông lão đi thẳng đến nơi ông Nguyễn nằm. Ông Nguyễn bèn đứng dậy mời ông lão ngồi, rồi hỏi ông lão:

  • Lão ở đâu tới? Còn việc có nhiều người nam nữ đi theo đến bày việc bái lễ, đông đảo đầy trước sân là như thế nào?

Ông lão nghe vậy bèn nói rằng:

  • Ta vốn là thần đất, quyền quản trong vùng địa phương này (tức núi Lân Đài). Nay thấy nhà ông phúc hậu, có lòng thương các cô hồn lạc phách mà cải sửa đất mộ. Các hồn cảm ơn đức của ông mà tâu báo việc này lên Thiên đình. Thiên đình xét chiếu đức hậu của nhà ông nên cho biết một nơi huyệt tốt trên núi Lân Đài, tất sẽ có thê hiền thiếp đẹp, ba người con anh tài giúp nước, danh thơm vạn cổ. Do đó mà Thiên đình mệnh cho ta tới giáng báo, lại dẫn các hồn phách cùng đến bái tạ.

Ông lão nói xong bèn nắm tay ông Nguyễn dẫn đến chỗ một hố nhỏ ở núi Lân Đài, hình như lá sen. Ông lão lấy tay chỉ vào đó mà nhìn ông Nguyễn nói:

  • Huyệt ở giữa hố này, theo hướng Quý Đinh kết cục. Trước có ba đài đứng dựng, tất sẽ phát công hầu. Phía sau có bảy ngọn phong tinh, phúc tất sẽ được hưởng lâu dài.

Nói xong ông Nguyễn bỗng tỉnh lại, mới biết là nằm mộng, nhớ lại giấc mộng mà thấy quả nhiên không phải điều viển vông. Ông bèn đi thẳng đến nơi núi Lân Đài để xem, thấy địa hình giống y như trong mộng nên lòng không còn ngờ vực nữa. Ngay hôm đó ông mới trở về chuyển mộ của cha mình đến nơi huyệt đó mà chôn cất. Đang khi chôn thấy ở nơi huyệt mây khói nổi cuồn cuộn từ dưới đất bay thẳng lên. Một vùng đất đều trở nên mù mịt. Ông bèn làm lễ. Chôn cất xong ông trở về.

Được trăm ngày sau, tối đó Thái bà cùng với ông Nguyễn hai vợ chồng cùng ngồi ngắm trăng ở trước sân, đón gió giải nhiệt. Đang khi ngồi đó bỗng thấy một ngôi sao rơi thẳng xuống nơi Thái bà đang ngồi. Ngôi sao bỗng hóa thành một con rết trắng, bò thẳng vào miệng của Thái bà. Thài bà khiếp sợ. Được một lát Thái bà tự tỉnh lại. Từ đó Thái bà bỗng nhiên có mang thai. Đến ngày mồng 10 tháng Hai Thái bà sinh được một người con trai, mặt vuông tai to, mắt có vẻ thư hùng, hai gò má cao, khuôn cằm đầy đặn, đầu hổ hàm én. Thật là hình thể dị kỳ. Được quãng trăm ngày cha mẹ đặt tên là ông Vũ. Cha mẹ nuôi nấng rất yêu quý. Đến khi lên bốn tuổi thì đã biết nói năng rõ ràng, vẻ nghiêm, nghĩa chính, khí độ ung dung, tư chất tinh anh vượt hơn người thường.

Than ôi, đạo trời khó tránh. Năm đó ngày 18 tháng Mười Thái bà bỗng nhiên qua đời. Ông Nguyễn than khóc không nguôi. Ngay hôm đó làm lễ chôn cất, làm lễ chay 49 ngày rất đầy đủ đạo nghĩa. Từ khi Thái bá mất về sau cha con ông Nguyễn cô đơn, không người lo việc chăm sóc con trẻ, sớm hôm cần cù. Việc nhà không có người nội trợ. Ông trong lòng phiền muộn. Việc nhà ngày càng suy thành ra khó khăn. Lại gặp lúc khi đó ở châu huyện có nhiều trộm cướp, những kẻ mạnh ở các làng đều muốn nổi loạn. Nhiều lần chúng đến thuyết phục ông cùng với chúng làm việc ác. Từ đó bọn trộm cướp thường hay đến gặp ông. Nhưng ông trong lòng nghĩ mình thân cô, con nhỏ, từ xưa tới nay gia đình các đời đều tích thiện, không có sinh tâm gây hại tới ai, nay sao có thể nghe chúng gây ác vậy, nên ông không nghe theo. Lũ trộm cướp vì thế rất giận ông. Khi đó quan địa phương truy bắt được một số kẻ cướp. Chúng vì muốn hại ông Nguyễn nên nói khống ra rằng ông cũng cùng phe đảng lũ cướp của chúng. Lúc ấy ông nghe tin này bèn đem con nhỏ là ông Vũ, cha con cùng bỏ nhà đi trốn biệt, đi thẳng đến huyện Gia Định phủ Thuận An đạo Kinh Bắc. Ông mới đem con đến chùa Pháp Vân ở núi Đông Cứu, vào cửa thiền nhờ cậy, nói với thiền tăng rằng:

  • Thực hãy tin tôi, gia cảnh nghèo túng, vợ đã qua đời, con thơ để lại trên đời. Lại thêm thân cô, con nhỏ, họ hàng không có người nương tựa. Gà trống nuôi con thực khó. Thế nên tìm nơi may có người tốt có phúc để nhờ cậy mà nuôi con nhỏ. May mắn nay lại đến được cửa chùa, kính mong được thiền sư giúp đỡ.

Từ đó nhà ông được tăng nhân của chùa giúp dưỡng. Tăng nhân vốn tinh thông tướng pháp, xem thấy ông Vũ có mặt mũi khác biệt với người thường. Tăng nhân mới nói với ông Nguyễn rằng:

  • Nay nghèo khó, sau tất có phú quý lớn, trên đời không ai sánh.

Ông nghe lời nói rằng nhà mình có nền phúc, cũng biết là trời định, bèn tạ ơn. Tăng nhân trong lòng cũng coi trọng ông. Khi đó, ông Nguyễn rất tinh thông việc châm cứu giúp người. Dù là trăm bệnh tật lạ mà thuốc khó chữa, đến ông châm cứu thì tất sẽ khỏi. Ông từ khi ở trong chùa cũng giúp được nhiều người khỏi bệnh.

Lại nói khi đó ở đất trang Trung Trinh, Thiện Tài có một gia đình họ Đặng giàu có, sinh được một con gái tên gọi là Châu Nương, tuổi đã ngoài hai mươi. Do vì phụ thân bị liệt nửa người, danh sư khắp nước Nam không đâu là không mời đến giúp chữa bệnh. Các y viện có tên tuổi đã làm trăm ngàn cách qua hơn mười năm mà bệnh không khỏi. Gia tài khánh kiệt, tài sản đất đai mất hết. Một hôm ông Đặng bệnh đã đến mức sắp chết. Khi đó Châu Nương đốt hương đứng trước sân cầu nguyện mười phương chư phật cùng các thần kỳ trời đất, xin được chết thay để người cha được sống. Khấn xong đêm hôm đó Châu Nương thiếp đi, bỗng thấy một nữ nhân tuyệt đẹp, quần áo gấm vóc rực rỡ, huy hoàng, thân cưỡi mây bay năm màu từ trên không hạ xuống mà nói với Châu Nương:

  • Lòng chí hiếu của Nương với cha đã đến được Thiên đình soi rõ. Nay cho cải tử hoàn sinh, lại cho cha nàng tăng tuổi thọ thêm 20 năm. Lại cho nối mệnh bà Đỗ mà kết phối với ông Thưởng làm thiếp, sẽ sinh hai vị quý tử thiên tài. Hai nhà phúc dày nên cho kết phối với Nương, lòng hiếu nghĩa có một không có hai. Như nay bệnh lạ muốn chữa thì hãy tìm đến chùa cổ Pháp Vân, cha con người nào có tài châm cứu thì hãy mời về, cha ngươi tất sẽ khỏi bệnh. Ta vốn vâng thừa mệnh Thượng Đế là thần nữ Pháp Vân xuống báo cho Châu Nương biết.

Nói xong thì bay lên mà biến mất. Châu Nương tỉnh lại biết là nằm mộng. Nghĩ thấy liệu có quả nhiên cảm thì tất ứng, cầu thì tất thông. Hư thực chưa tỏ, nhưng vẫn theo điềm trong mộng mà tìm đến cảnh chùa (tức chùa Pháp Vân) xem ra sao. Ngày hôm đó Châu Nương cùng với một thanh đồng tìm tới.

Lại nói, khi ấy ông Nguyễn đang ngồi chơi ở Phật đường, mơ màng nằm mộng. Bỗng thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, quần áo chỉnh tề, xưng rằng:

  • Ta vốn là thần núi Đông Cứu, vâng mệnh trời nay có văn ấn Thiên đình giao cho nhà ngươi mở ra xem.

Ông bèn vâng mệnh nhận lấy văn rồng, mở ra xem thấy có 4 câu thơ rằng:
Hoàng thiên phó ngã nhất Châu Nương
Tảo nhật tất do sự đắc tường
Hiếu nghĩa trung trinh thiên dĩ định
Nhất đường quốc chủng thị phúc hương.

Ông Nguyễn đọc xong bỗng tỉnh lại, biết là mộng báo. Khi đó trời đã sắp tối. Ông bèn đốt hương trên tòa tam bảo, nhớ lại điềm mộng báo bèn cầu nguyện:

  • Mộng này thấy trong điện Phật, lành dữ ra sao, khó mà biết rõ. Xin Phật độ giúp cho.

Đến ngày hôm sau buổi sớm lại thấy có một người con gái cùng vài thanh đồng đi vào điện Phật đốt hương làm lễ. Tăng nhân bèn hỏi rằng:

  • Cô nương ở đâu tới? Tên họ là gì? Có việc gì mà tìm đến chốn cửa thiền?

Nương nghe vậy bèn đáp:

  • Thiếp vốn là người xã Trung Trinh huyện Thiện Tài cạnh đây, tên là Đặng, thị Nương. Vì cha thiếp bị tật liệt nửa người, đã qua hơn mười năm, các thầy thuốc đều bó tay. Nay nghe ở chốn thiền gia có vị thầy châm cứu, chữa bệnh như thần, nên tìm đến đây mời thầy giúp chữa bệnh cho cha. Nếu bệnh tật này mà chữa khỏi được thì cũng là để báo đức sinh thành. Há không phải là mong đáp ơn tình nuôi dưỡng sao.

Tăng nhân nghe vậy bèn chỉ ông Nguyễn báo với Châu Nương rằng:

  • Đây chính là vị thầy châm cứu, mà từ khi cha con đến ở với ta trong cửa thiền qua quãng ba tháng đã châm cứu bệnh lạ cho mọi người, đều đã cứu được trăm người khỏi hẳn bệnh tật đó.

Châu Nương nghe vậy, nhớ tới giấc mộng quả đã ứng nghiệm, bèn mời cha con ông Nguyễn về quê nhà (tức xã Trung Trinh) để châm cứu. Khi đó ông Nguyễn tạ từ tăng nhân, cha con trở về đất Trung Trinh cùng với Châu Nương thăm khám bệnh. Khám xong ông Nguyễn mới cười mà nói rằng:

  • Bệnh này trừ lòng hiếu thảo tất khó mà chữa trị được.

Ông Đăng nghe vậy, khóc mà đáp rằng:

  • Lời thầy quả đúng. Khi ấy lúc cận kề cái chết có nghe Châu Nương nguyện với trời đất xin được chết thay, nên do đó Hoàng thiên thương xót, báo mộng tìm đến cửa thiền, mời được thầy cứu giúp thì bệnh tật mới giảm. Nay quả được vậy, xin hãy giúp cho. Bệnh mà thuyên giảm, không biết báo đáp công lao thế nào, không bằng cho con gái Châu cùng với thầy để nâng khăn sửa túi, thay cho mệnh tôi mà hầu hạ thầy.

Ông Nguyễn nghe lời ông Đặng nói, liên tưởng đến bài thơ trong mộng, thấy tất là đúng mệnh này. Ông Nguyễn bèn nhận lời đó. Ngày hôm đó châm cứu cho, tật tự khỏi, bình phục như xưa, bệnh tự thuyên giảm. Ông Đặng bèn gọi Châu Nương đến gả cho ông Nguyễn để báo đáp công đức đó. Việc do đạo trời đã định. Châu Nương cũng một lòng thuận theo.

Ông Nguyễn từ đó có được Châu Nương là người nội trợ, phụ đạo việc nhà, vạn điều không thiếu sót. Hầu chồng nuôi con, một lòng hiền thuận. Khi ấy ông Đặng đem tiền của để xây nơi ở cho ông Nguyễn và Châu Nương đến ở. Từ đó gia thất được đủ đầy, tài sản ngày càng tăng. Khi người con là ông Vũ tuổi lên 9, tư chất thông minh, kỳ lạ, trí dũng cương mãnh, một lòng chính trực. Thế là ông Nguyễn mới cho ông Vũ vào học ở trường của Lỗ tiên sinh, nằm ở nơi đất quán bên. Ông Vũ từ khi theo học tiên sinh thường đi về qua nơi đất có ngôi quán (khi đó ở đất Trung Trinh có dựng một ngôi quán ở tại trên khu vực trước dân cư, lại lập bàn thờ trong quán, đặt thờ thần đất, các tiết xuân thu làm lễ tế). Khi ông Vũ dừng chân vào trong quán, thấy quán bụi bặm không sạch, nên cất lời mắng trách rằng:

  • Thần đất ở trong quán mà không biết quét dọn hay sao? Nếu mà chỗ quán còn bụi bặm, thì thần đất sẽ bị trách phạt.

Năm tháng ông đi học đi về qua quán thường hay mắng trách. Đến khi trong trang ấp (tức Trung Trinh) người và vật không yên ổn, có nhiều bệnh tật. Nhân dân lấy làm lo lắng, bèn lập đàn cầu đảo trời đất. Cầu xong thì đêm đó nhân dân nằm mộng thấy có hai người, áo mũ chỉnh tề, gia thần đi theo hơn vài chục người, đường đường tự đi vào trong khu dân cư, hô gọi nhân dân mà nói rằng:

  • Hỡi dân chúng đất này, nay có Thiên tử xuống đi học, đi về thường qua quán của ta. Ngài vốn là Thượng quan, quyền kiêm quản cả chúng ta. Chúng ta thấy khi qua lại bị mắng trách mà lo sợ, thường phải tránh né, không dám ở yên nơi chốn đó. Do vậy mà trách đến dân chúng không được yên. Nay dân chúng muốn được yên ổn, hãy dựng riêng cho chúng ta ở một nơi khác. Còn quán này nhường lại cho Thượng quan. Chúng ta không dám nhận giữ ở đây.

Nhân dân mới trả lời rằng:

  • Vị quan chức nào vậy, xin được chỉ rõ cho.

Hai người đó bèn nói:

  • Đó vốn là thai nhập làm con nhà ông Nguyễn, tên là ông Vũ, là thiên tài đó. Dân chúng hãy đến kêu thì ta tự sẽ được yên. Nếu như ông Vũ không trách ta nữa thì dân chúng tất được yên.

Nhân dân nghe chưa dứt lời thì bỗng nhiên tỉnh lại, đều biết là nằm mộng. Đến sáng ngày ra nhân dân cùng đi ra chỗ quán, đều nói lại việc nằm mơ thấy cùng giống như một giấc mộng. Mọi người đều lấy làm kỳ lạ, cùng nói rằng:

  • Ở đất dân chúng ta chỉ có người con rể ông Đặng là ông Nguyễn mới đến nhập cư với dân ta, có người con trai tên là ông Vũ, hiện không bị hề hấn gì, tất là do đây.

Đang khi đó nhân dân nhìn lên ở chỗ vách bên trái ban thờ có viết một bài thơ rằng:
Thiên địa sinh ngô nam tử minh
Quyền năng phụ quốc chưởng thần linh
Nhất triều Việt đắc long môn hội
Ngô hữu vinh hề, chúng diệc vinh.

Nhân dân (tức trang Trung Trinh) đang khi cùng xem, thấy bài thơ đó thì đều kinh sợ. Khi đang xem bài thơ lại thấy ông Vũ đi học về đến chỗ quán. Nhân dân đều đón, mời ông vào ngồi lên trên trong quán. Nhân dân thấy khí chất ông quả là hơn người bèn thử đưa bức thư cho ông mở ra xem thế nào. Ông đồng ý nhận bức thư cùng với nhân dân xem. Nhân dân liền mở thư. Ông xem thấy trong thư ở đầu bài có bốn câu rằng:
Địa kỳ dữ ngã chưởng phương dân
Ngã thị quân hề, chúng thị thần
Quán sở bất tinh, ngô tất phạt
Khứ hồi hướng hậu chúng thả cần.

Nhân dân xem thấy thơ trong thư của ông mới liên tưởng đến việc thần đất đã báo mộng, sự việc quả đúng vậy. Khi ấy nhân dân đều lùi xuống, cùng kêu lên ông rằng:

  • Ông vốn nguyên là thiên tài, thường hay qua lại nơi quán trong dân, thần đất ở đây thấy mà sợ lánh đi không ở yên nên mới trách đến nhân dân, phát sinh thành bệnh tật, đến báo mộng cho nhân dân. Nay nhân dân đã thấy quả rõ đó là ông, tất cả đều xin làm thần tử. Xin ông cho thần đất được ở yên tại chỗ đó thì dân chúng mới được yên vậy.

Ông nghe lời nhân dân nói vậy mới cười mà nói rằng:

  • Nay dân chúng đã nhận mệnh này, theo đó cho phép thổ địa được yên vị, không được trách dân chúng nữa, lại truyền cho dân chúng được yên ổn khỏi bệnh.

Từ khi ông cất lời truyền báo thì tật bệnh của nhân dân đều tự được yên ổn. Nhân dân đều làm lễ từ đó xin làm thần tử của ông. Ông đồng ý như vậy. Ông từ khi theo học được một năm thì ngũ điển tam phần đều thấu hiểu, tam lược lục thao đều tinh thông. Có hùng tài, trí tuệ vô cùng, tính tình chính trực, cứng rắn có một không hai. Khi đó nhân dân địa phương (tức trang Trung Trinh) đều sợ hãi, cùng nhau về sau vâng mệnh phụng sự.

Lại nói, ông Nguyễn từ khi lấy Châu Nương, đến ở đất đó (tức trang Trung Trinh) trải qua vài năm, khi đó ông Vũ lên 12 tuổi. Lúc ấy ông Nguyễn một hôm nằm mộng thấy cưỡi rồng bay lên đường mây, bỗng vào đài rồng điện đế. Thượng đế truyền đến trước điện bái khấu. Thượng đế bèn ban cho một đôi bảo kiếm đầu hổ, rồi nói với ông rằng:

  • Gia đình nhà ngươi phúc lành, nên xứng đáng thưởng cho một đôi gươm báu đem về làm gia bảo.

Ông bái tạ rồi nhận lĩnh hai thanh gươm, tay cầm mang về, bỗng nhiên tỉnh lại. Từ đó Thái bà Châu Nương có mang thai. Đến ngày 11 tháng Mười đêm đó nhân dân (tức trang Trung Trinh) các họ (khi ấy đất Trung Trinh có các họ Nguyễn, Đặng, Hà, Trần, Phạm, Trương, Hoàng, Dương, Vũ cùng nhau lập thành một ấp) nằm mộng thấy các âm hồn gia tiên các họ đều cùng gọi báo rằng:

  • Nơi đất ấp ta ngày mai có hai vị tướng tài giáng sinh, nhậm quản đất dân ta. Hãy mau mau ra báo cho các gia đình nhân dân làm lễ bái mừng. Nếu không biết trước việc này thì Thiên đình sẽ lệnh trách đến chúng ta bởi vì chậm trễ.

Nói chưa xong thì nhân dân đều tự tỉnh lại. Ngày hôm đó trời mới tờ mờ sáng bỗng thấy mây mù mờ mịt. Lúc ấy Thái bá Châu Nương sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, cao lớn đường đường, mũi hổ mắt rồng kỳ lạ, mày tằm mắt phượng khác thường. Tiếng nói như tiếng chuông âm vang, thần phong lẫm liệt, diện mạo đẹp đẽ, khác hẳn người thường lắm lắm.

Sinh được ba ngày nhân dân địa phương (tức trang Trung Trinh) đều phát bệnh. Nhân dân nhớ đến điềm trong mộng đều cùng đến gặp tổ tiên có báo mộng, nay quả thấy Thái bà nhà ông Nguyễn sinh được hai người con trai, như thế sự việc quả nghiệm đúng. Hơn nữa đây là em của ông Vũ, mà dân ta cũng đều là thần tử của ông Vũ, nên đều đến làm lễ bái mừng hai ông. Dân mới đều được yên.

Sau trăm ngày cha mẹ đặt tên người thứ nhất là ông Uy, người thứ hai là ông Dũng. Từ đó xuân sinh hạ trưởng, nuôi nấng trưởng thành. Hai ông tuổi đã lên tám, đều là người anh hùng dũng lược, thông minh trí tuệ như thần. Khi ấy cha mẹ lại cho đến học với người con cả là ông Vũ. Ông Vũ tuổi đã 21, theo học Lỗ tiên sinh được 5 năm thì tiên sinh trở quê quán (quê ở Hoan Châu), bỗng nhiên qua đời. Lúc đó ông Nguyễn đang ở nhà chăm sóc cha mẹ, giáo hóa con trẻ ở nơi đó (tức trang Trung Trinh). Đến lúc sinh được hai em là ông Uy, ông Dũng, thì khi đó hai em vào học cùng với anh trai. Hai ông học được ba năm thì văn chương hiểu rõ, võ nghệ tinh thông, thích bắn cung tên. Đến khi lên 18, 19 tuổi cao lớn đường đường, thân dài tám thước, sức có thể nhấc đỉnh, thế mạnh bạt núi, trí dũng hơn người, anh hùng vượt đời, có lòng khoan nhân đức độ, có khí phách bao quát, ung dung, thân thiện. Anh em ba người cùng là bậc hùng trưởng. Người dân nơi đất đó đầu nghe theo lệnh của các ông.

Khi ấy nước nhà mở trường thi tuyển, truyền báo thiên hạ những ai văn võ toàn tài với các bậc hiền lương phương chính, học nhiều biết rộng đều về kinh thành vào tường dự thi. Lúc đó anh em ba ông nghe tin mới xin cha mẹ cho được đi thi. Ông Nguyễn liền đồng ý. Ba ông bái tạ cha mẹ, ngay hôm đó cùng nhau đi lên kinh thành vào trường tham gia thi. Vào văn ra võ đều thực là cơ thần. Anh em ba ông cùng ứng tuyển một khoa, đều được vào sân rồng bái yết bệ hạ. Vua xem thấy diện mạo sáng sủa, có thể làm rường cột nước nhà, nên hỏi thi tài văn võ. Ba ông cùng đối đáp lưu loát, cùng thông hiểu văn võ, hiểu biết sâu rộng.

Vua thấy đều là bậc đáng xứng danh liền bái ông Vũ là Tham chính Triều nghị, ông Uy là Tả tào Phán quan Chưởng binh sự, ông Dũng là Hữu tào Phán quan Chưởng binh sự. Từ đó vua tôi hiệp đức, thiên hạ thanh bình, trong phủ vô sự. Ba ông xin vua cho về quê bái yết gia đường tổ tiên, thăm hỏi cha mẹ. Vua liền đồng ý, ban cho vàng bạc, châu báu, gấm vóc tất cả một ngàn cân, quân sĩ, voi ngựa hộ tống tiến về đất Trung Trinh để đón cha ruột mà mẹ kế cùng nhau trở về quê (tức trang Mai Xá huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức, Ái Châu) bái yết gia đường.

Ngay hôm đó (mùng 10 tháng Năm) gia thần ở Trung Trinh đều đến đón làm lễ bái mừng. Ba ông bèn bái yết cha mẹ, vào lễ tổ tiên bên ngoại của mẹ kế nhà ông Đặng. Ba ông bèn dừng ở đó du chơi hơn mười ngày. Ba ông đi đến nơi đất dân cư có địa thế như rồng rắn nối tiếp, hai bên hình rồng chạy quanh co, bên trên trước mặt ngoài ấp nổi lên một dải ấn vẻ rồng, hai mắt mở hố như hình mặt trăng mặt trời. Phía sau có phong tinh dẫn mạch, bốn gò cùng trợ. Phía trước xa xa có sông nhỏ uốn khúc tương trợ, sông lớn ở xa bao phía trước. Bên ngoài một dải cuốn nổi án ngoài. Cờ trống cùng chạy, ngựa trời ở Nam, rùa thần tại Bắc. Hai bên lớp lớp cùng mở chầu về đầu ấp. Ba ông bèn truyền lập một tòa cung sở hội đồng, năm tháng đi về để làm nơi hội yến. Hướng đứng các nơi ở chính ngự.

Xây dựng hoàn thành, ba ông ngay hôm ấy (15 tháng Tám) bèn mở tiệc mừng lớn, cho gọi phụ lão, nhân dân đều đến cùng nhau ăn tiệc. Đang khi đó ông Vũ mới nói với nhân dân rằng:

  • Đất của cung này đứng thẳng nơi địa đầu, có thế cục vẻ rồng dải ấn. Hai bên có tinh phong, phía trước có mưa nước trời chảy lại, mở hố hai cửa. Phía sau ôm giữ, bốn gò sông nhỏ quanh co phía trước xa xa. Đất này thực là thế cục quý. Dân chúng không nên thay đổi.

Khi đó ba ông thưởng cho nhân dân năm trăm quan tiền đồng để là công quỹ, mua thêm ruộng vườn, tu sửa cung hội đồng để lưu cơ nghiệp mở nền (Khi ấy các con cháu dòng dõi hoàng gia tôn tạo cung sở đất đai hoặc các công thần văn võ lập cung mà ở thường cho người dân tiền vàng làm công quỹ). Nhân dân đều nghe nhận mệnh đó. Việc xong thì dừng tiệc.

Ngày hôm đó ba ông xin đón cha mẹ cùng trở về quê. Hôm ấy (mồng 3 tháng Sáu) quân sĩ ba ông tiến về đến quê (tức trang Mai Xá huyện Thọ Xương phủ Hoài Đức, Ái Châu). Nhân dân làm lễ bái mừng. Ba ông bái yết gia đường tổ tiên, xây sửa nơi cung sở để cha mẹ sống ở đó. Hôm ấy mở tiệc mừng lớn. Được hơn một tháng thì lại cử giá trở về triều đình, làm lễ bái yết bệ hạ. Từ đó thanh bình, ba ông ở trong triều nhậm quản công việc.

Được gần hai năm Vua lại bái ông Vũ là Đô đài Án sát Đại tướng quân, ông Uy là Đề sát Nguyên soái Đại tướng quân, ông Dũng là Hiến sát Nguyên soái Đại tướng quân. Cho phép quê nội (tức trang Mai Xá) làm nơi thang mộc ấp. Trang Trung Trinh là nơi cung hộ nhi, miễn hết quân lương.

Lại cho ông Vũ làm Bồ chính Quận trưởng Sơn Tây, ông Uy làm Bộ trưởng Cao Bằng, ông Dũng làm Bộ trưởng châu Hoan. Ba ông làm lễ bái tạ trước vua, vâng mệnh chia đạo đi nhậm quản các nơi. Qua được ba năm. Khi ấy gia thần ở đất Trung Trinh cũng theo ba vị làm gia thần thủ túc, tất cả hơn 50 người. Lúc đó nhân dân trong ấp đều được quý hiển, sung túc, vật khỏe người mạnh. Không một ai không hài lòng với cuộc sống. Không một con vật nào không được nuôi dưỡng yên ổn. Đều là nhờ vào đức lớn của ba ông như vậy!

Lại nói, ba ông vâng mệnh nhậm quản các nơi đều được yên ổn, trong phủ thanh bình, nhân dân no đủ, vui vẻ, thiên hạ thanh bình cùng thấy cảnh tượng thái hòa. Cũng là nhờ lòng nhân chính của ba ông lấy đức hóa dân, tôn trọng thuần phong mỹ tục. Qua hơn ba năm Vua lại gọi về triều. Ba ông vâng mệnh về triều làm lễ bái yết bệ hạ. Từ khi về nhậm quản, vua tôi vui yến tiệc, bốn biển thanh bình. Con vua cháu chúa nhàn chơi thiên hạ. Khi ấy ba ông khi rảnh việc trong triều đình thường xin vua cho về chơi các nơi quê quán của các gia thần. Mỗi năm vài lần về chơi đất nơi cung sở. Nhân dân (tức trang Trung Trinh) bái mừng.

Năm đó không may vợ chồng ông Nguyễn đang ở yên nơi quán sở thì một hôm không bệnh mà hai vợ chồng đều trong một ngày cùng mất. Lúc ấy khi các ông làm lễ, xin vua cho về để chôn cất cha mẹ. Vua đồng ý cho một trăm nén vàng. Ngay hôm đó (mồng 10 tháng Mười một) nhân dân làm lễ bái mừng. Ba ông làm lễ chôn cất cha mẹ, làm lễ chay 49 ngày tận lòng hiếu lễ. Từ đó các ông ở nhà, nhàn chơi bốn biển, vui với cảnh thôn quê. Một hôm ba ông đi xe trở về nơi cung sở hội đồng (tức trang Trung Trinh). Nhân dân làm lễ ngày hôm đó (12 tháng Mười) bái mừng.

Ba ông bèn vào trong cung hội đồng mở tiệc mừng. Phụ lão, nhân dân cùng ra hầu tiệc với ba ông. Đang giữa lúc tiệc vui, ba ông bèn làm thơ. Ông thứ nhất làm rằng:
Nhất nguyên chi khí hội tinh thần
Huynh đệ đồng bào khởi dị nhân
Vạn cổ nhất đường hương hỏa tại
Phù chi ư quốc bảo ư dân.

Ông thứ hai lại làm thơ:
Sinh vi danh tướng, hóa vi thần
Nhất thế danh truyền bách thế nhân
Ngư thuỷ nhất đường huynh dữ đệ
Càn Khôn thành ngã hưởng ư dân.

Ông thứ ba thì làm thơ rằng:
Thông minh chính trực vị chi thần
Dữ quốc đồng hưu vi thượng nhân
Huynh hữu đệ cung danh giáo tại
Trung trinh nghĩa tại thị ngô dân.

Ba ông vui yến làm thơ xong thì giao phó cho nhân dân gìn giữ cung sở. Ngày hôm ấy cử giá trở về quê quán.

Thời bấy giờ có giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng khởi binh ở Bắc Giang, ba mươi vạn  quân mạnh chiếm hết cả Quảng Đông, Quảng Tây cùng với Lạng Sơn, Bắc Giang đều bị quân Ân chiếm sạch. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời. Thư từ biên cương báo gấp. Vua rất lo lắng, bèn gọi triều đình và ba ông về triều dẹp giặc. Ba ông liền chiêu mộ các trung thần, nghĩa sĩ, cộng được hai ngàn người, cùng vào làm nội đao thủ túc (khi ấy các họ trang Trung Trinh theo cùng với ba ông đi chinh phạt được 68 người, đều là thủ túc). Ba ông bèn cử giá tiến quân về triều.

Khi ấy triều đình tâu lên vua cử ba ông đi tiên phong chống giặc. Ba ông vốn có tài năng trí dũng, triều đình mới cử riêng. Ngay hôm đó Vua bèn bái ông Vũ là Tiết chế Ngũ Đạo Đại tướng quân Kiêm tri thủy bộ. Ông Uy là Đông Chinh Nguyên soái Đại tướng quân. Ông Dũng là Tây Chinh Nguyên soái Đại tướng quân. Cùng chia ba đạo thủy bộ mà tiến. Ba ông vâng mệnh làm lễ bái tạ bệ hạ. Ngay hôm đó chia đạo cùng tiến. Ông Vũ Ngũ Đạo Tướng quân Kiêm tri thủy bộ dẫn 3 vạn hùng binh, 500 viên kỵ tướng, 5 ngàn chiếc tàu thuyền đến thẳng Bắc Giang. Ông bèn truyền lập các đồn doanh ở dưới chân núi, ven sông tại Kim Hoa, Việt Yên, Hiệp Hòa, cùng lập các doanh trại quân thủy bộ ở đất này. Ông Uy Đông Chinh Tướng quân dẫn 3 vạn hùng binh tiến thẳng đến chống ở đất Quảng, thiết lập đồn doanh tại động Vân Dao. Tây Chinh Đại tướng quân cất 2 vạn hùng binh thẳng tiến vượt sông, cùng phân bổ các đồn doanh ở động Bạch Hổ dưới chân núi Quảng Thị.

Khi ấy ông Vũ lập các đồn binh, thường thường ra chiến đấu với giặc Ân. Trong gần một năm đánh hơn ba trận. Hai bên đều là bậc hùng tài. Hai bên không phân thắng bại. Giặc Ân thường hay thua nhiều hơn. Ông lấy được tổng cộng vài chục đầu giặc. Ở Quảng Đông ông Uy lập đồn chống trả quân Ân. Quân Ân thua lùi về nửa khu. Ông Uy đuổi theo sau mà lấy được nửa vùng đất Quảng Tây. Ông Dũng chống trả với quân Ân, vùng đất chia 3 phần thì ông giữ được 2 phần.

Khi đó ba vị tướng quân lập đồn chống trả quân Ân. Qua khoảng một năm, ngày tháng can qua chinh phạt, chăm lo quốc sự, mà kết quả thư hùng còn chưa định, ngao cò còn tương giữ. Giặc Ân tan hợp bất thường. Thế giặc như sấm chấn động, ngày càng đông mạnh lên. Khi đó giặc Ân biết là hai ông Uy, Dũng có trí dũng như thần, nên vùng đất Lưỡng Quảng Đông, Tây quân Ân bèn từ bỏ hai vùng đất này. Quân Ân để cho hai ông chiếm giữ, không dẫn quân đến đánh với hai ông. Khi đó chúng tiến vào vùng lưng núi chiếm Tụ Long, Bảo Lạc, tiến vào Tuyên Quang, Đại Man thập lục châu, Hưng Hóa, thẳng tới Thái Nguyên, tiến về Bắc Giang, Kim Hoa. Ông Vũ Tiết chế Ngũ Đạo Đại tướng quân đến đánh một trận, chém được vài đầu giặc. Quân Ân mạnh lên. Ông Vũ thấy thế khó chống được bèn lui về phủ Phụng Thiên, gửi thư báo gấp, một lần 5 lần tới. Vua rất lo lắng, triều đình bó tay.

Khi đó Vua bèn dựng một trai đàn ở giữa sân rồng, cầu đảo trời đất trăm thần âm phù giúp nước. Lúc ấy quần thần đến tụ hội trong ba ngày thì trời đất trở nên mù mịt. Bỗng thấy một ông lão râu tóc bạc phơ, cao lớn đường đường 9 thước, đứng ở giữa ngã ba đường mà hát múa. Ai ai thấy cũng cho là điều lạ kỳ bèn vào tâu lên triều đình. Vua nghe biết tin Vua bèn thân ra đón ông lão vào trong điện phủ, mời ông lão ngồi trên. Vua mới hỏi ông lão rằng:

  • Nay nước nhà có giặc Ân. Dám hỏi muốn cất quân dẹp giặc thì có kế nào được không. Xin lão ông chỉ giáo rõ cho.

Ông lão liền gieo tiền, vận một quẻ, hồi lâu rồi nói rằng:

  • Nếu cầu trong thiên hạ được người thì giặc Ân không quá một ngày sẽ được dẹp yên.

Nói xong thì trong phút chốc tự biến. Vua mới nghĩ đó là Lạc Long hiện về báo. Ngay hôm đó Vua bèn sai xá nhân đi chiêu mộ nhân tài trong thiên hạ. Đi đến làng Phù Đổng huyện Tiên Du, Bắc Giang thì có nhà một gia đình sinh được một người con trai, lên 3 tuổi đặt tên là Thiết Xung Thần tướng. Biết ăn uống lớn lên mà không biết nói. Khi đó xá nhân đi chiêu mộ đến huyện quán, bà mẹ mới đùa mà nói rằng:

  • Con ta đã biết ăn uống. Nay nước nhà có giặc lớn mà con ta không biết dẹp giặc để được tước trọng của triều đình, để báo ơn sâu của mẹ bú mớm.

Thiết Xung Thần tướng nghe vậy bèn mở miệng nói với mẹ rằng:

  • Hãy mau gọi sứ đến đây.

Bà mẹ bèn gọi sứ giả đến. Thần vương nói với sứ giả rằng:

  • Sứ hãy mau về báo cho Huy Quân rằng chế ra một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt đem lại đây cho ta thì Vua không phải lo lắng gì nữa.

Sứ giả nghe vậy bèn trở về ngay báo với Vua điều này. Vua nghe tin rất mừng, liền truyền làm ngựa sắt, roi sắt, lại gửi hịch truyền Đông Chinh Tướng quân, Tây Chinh Tướng quân quay binh đánh tiếp ở đất Lưỡng Quảng. Tiết chế Ngũ Đạo Đại tướng quân tiếp sau mà đánh. Cùng với trăm quan đón đem ngựa sắt, roi sắt đến nơi. Thiết Xung Thần vương nghiêng mình tự đứng dậy, nhảy lên ngựa cao một trượng, thét lớn một tiếng quát (Tra) mà nói rằng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, phút chốc đã tới thẳng dưới chân núi Vệ Linh, bắt được Thạch Linh Thần tướng mà chém đi. Quân Ân thua bị phá tan, bỏ chạy tán loạn. Khi đó Ngũ Đạo Tướng quân, Đông Chinh Nguyên soái, Tây Chinh Nguyên soái chia ba đạo cùng lại tiếp chiến, truy đuổi chém được hơn vài ngàn đầu giặc. Giặc Ân đều bị giết sạch. Một trận mà một ngựa không còn, một xe không thoát, tất cả dẫn về kinh, làm biểu tâu lên. Thiết Xung Thần vương cưỡi ngựa bay lên không mà đi, hóa sinh bất diệt (nơi ấy…).

Khi đó Vua bèn gọi ba vị đại tướng về triều. Ngũ Đạo Tướng quân, Đông Chinh Nguyên soái, Tây Chinh Nguyên soái ba ông tiến về đến núi Sư Tử Đài, Hoa Nham, huyện Kim Thành, Ái châu. Ông Vũ và ông Uy hai vị tướng quân tiến về đến gần nơi chân núi bèn dừng giá đóng quân. Hai ông đi lên chơi ở ngọn Sư Tử Đài. Bỗng nhiên trời đất tối tăm, mưa gió nổi lên. Ngay hôm đó (15 tháng Mười một) khi ấy hai ông đã hóa. Đang khi hóa bỗng thấy một đám mây hồng dài hơn 10 thước bay lên không mà đi. Đến khi trời đất quang tạnh, quân sĩ gia thần lên núi tìm xem thì thấy hai ông đã hóa. Bèn truyền cho nhân dân địa phương đến làm lễ. Nhân dân các nơi đến chỗ hóa mà lễ.

Khi đó ông thứ ba Tây Chinh Tướng quân truyền chôn cất hai ông ở bên sườn núi, bèn làm lễ truyền lập đền phụng thờ. Xong xuôi Tây Chinh tướng quân liền tiến quân về triều, làm biểu phụng tấu. Vua nghe tin Ngũ Đạo Tướng quân, Đông Chinh Nguyên soái đã hóa thì trong lòng lấy làm lạ, liên tưởng đó là thiên tài giúp nước, vì nay giặc giã đã tan, mới hóa về chầu trời, không thể ở lâu trên giúp nước. Vua lại sai triều thần đến nơi hóa (tức sách Hoa Nham) làm lễ hóa. Rồi truyền cho nhân dân địa phương phụng thờ đền hóa ở nơi đó, cho miễn quân lương. Lại truyền cho hai quê nội, ngoại làm thang mộc ấp nơi hộ nhị, tu sửa cung đền để phụng thờ (quê nội là trang Mai Xá, quê ngoại là trang Trung Trinh).

Lại nói, khi ấy Vua lại lập Tây Chinh Nguyên soái làm Bộ trưởng Thái Nguyên. Lúc đó ông vâng mệnh vua làm lễ bái yết trước bệ, vâng mệnh đi nhậm quản, tiến quân dọc đường đến bên núi Thiên Đức Tiểu Đới, huyện Bình Tuyền (núi đất ở bên sông). Hôm đó (15 tháng Mười hai) bỗng nhiên mưa gió ù ù, một vùng mù mịt. Ông bèn dừng lại đóng quân ở bên núi Thiên Đức Tiểu Đới (tức khúc Đông Sơn). Lúc đó bỗng thấy một tiếng sét kinh thiên động địa, trên sông cá, ba ba, rắn hoa nổi lên mặt nước, đến tụ tại núi đó. Trên núi có hai con hổ đến chầu hai bên. Khi đó ông thứ ba liền hóa. Quân sĩ và gia thần sợ hãi, tất cả đều phủ phục. Được một lúc thì trời đất trở lại trong lành, mây mù tan đi, mưa gió dừng lại. Khi đó nhân dân và quân sĩ đều đến nơi xem, thấy ông đã hóa. Dân địa phương (tức động Thủy Tuyền huyện Bình Tuyền) đều đến xin làm lễ chôn cất. Đang khi làm lễ thấy mối đùn thành một mộ lớn. Lúc ấy gia thần và quân sĩ đều trở về dâng biểu tấu. Vua nghe vậy rất thương tiếc bậc lương thần có công với đất nước, bèn sai đình thần về nới hóa làm lễ, truyền cho nhân dân địa phương (tức động Thủy Tuyền) lập đền phụng thờ (dấu vết ở nơi hóa nay vẫn còn).

Lại nói, việc xong Vua bèn bao phong mỹ tự vạn cổ phúc thần cùng với đất nước yên hưởng, mãi là thức lệ. Chính bộ cho phép trang Trung Trinh (khi đó một trang chia thành ba giáp Thượng, Hạ, Trung) là quê ngoại hộ nhi, thang mộc ấp phụng thờ.

Phong Ngũ Đạo Đại vương.

Phong Đông Chinh Đại vương

Phong Tây Chinh Đại vương.

Cho phép quê ngoại trang Trung Trinh, nơi sinh là chốn hộ nhi, cũng truyền lập cung mà phụng thờ. Xuân thu sai quan đến bày lễ tế tam sinh. Qua các thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Lương, tổng cộng 349 năm đến khi nước Nam có 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ thường giúp nước cứu dân, hiển ứng linh thiêng nên các đời đế vương bao phong mỹ tự, vạn cổ hưởng huyết thực cùng an vui với đất nước, đức đó thịnh thay! (Các đời Đinh, Lê, Lý Trần phong các chữ Linh thông Hiển ứng Uy dũng Hùng lược). Mãi cùng với núi sông muôn năm hương lửa không dứt.

Các ngày sinh, hóa thần cùng với tiết khánh hạ và các chữ húy, màu áo phải cầm được khai như sau.

Ngày sinh thần của Đệ nhất Đại vương là mồng 10 tháng Hai. Làm lễ tam sinh, xôi rượu, từ ngày mồng 9 làm lễ cáo tế, ngày mồng 10 làm lễ chính tế, ngày 12 lễ ca hát, đấu vật, trong mười ngày làm lễ ngừng.

Ngày sinh thần hai vị đại vương là 12 tháng Mười. Làm lễ đón thần dùng cỗ thịt trâu, thịt lợn, xôi, rượu, ca hát ba ngày.

Ngày hóa thần hai vị đại vương là 15 tháng Mười một. Làm lễ thịt lợn, xôi, rượu, bánh giày.

Ngày hóa thần một vị đại vương là 15 tháng Mười một, làm lễ dùng thịt lợn, xôi, rượu.

Ngày khánh hạ mồng 7 tháng Giêng. Làm lễ thịt lợn, xôi, rượu, ca hát một ngày thì dừng.

Ngày khánh hạ mồng 2 tháng Bảy, có thể theo như trên mà làm lễ.

Ngày khánh hạ 15 tháng Ba làm lễ mâm chay, gà, xôi, rượu.

Ngày khánh hạ mồng 10 tháng Tám, lễ thịt lợn, xôi, rượu.

Húy ba chữ Vũ, Uy, Dũng nhất thiết cấm, cùng với tên húy cha mẹ đã khai rõ, xem trong tích, nhất thiết cấm. Cùng các ngày giỗ tùy nghi làm lễ.

Leave a comment