BÁCH THẦN NGUYÊN TỰ

Phù Đổng Thiên Vương, Vu Điền Quốc Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Na Tra Thiên Tử, Nữ Oa Bổ Thiên, Tả xiên xiên Lực sĩ, Hữu vạn vạn Tinh binh.

Cuộc chiến lập quốc giữa nước Văn Lang lật đổ nhà Ân Thương với chiến công lẫy lừng, hiển hách của Phù Đổng Thiên Vương để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc trong văn hóa tính ngưỡng Việt, được gọi dưới tên Phong Thần Bảng (Bách Thần nguyên tự). Rà soát theo các nguồn tư liệu trước 1945 và thực địa đã thống kế được tục thờ phụng các vị thần thời đánh giặc Ân. Tổng số 208 vị thần thời đánh giặc Ân ở 326 di tích, chia thành 113 cụm di tích ở 15 tỉnh thành (cũ). Trong số đó có 16 vị âm thần (nữ) và 192 vị dương thần (nam), được xếp vào 9 nhóm:

1. Phù Đổng Thiên Vương: có 48 di tích thờ 8 vị thần. Nhiều nhất là Phù Đổng Thiên VươngĐổng Mẫu (Mẹ Thánh Gióng). Một số vị thần thờ ở đền Sóc cùng với Phù Đổng Thiên Vương là Na Tra Thiên Tử, Vu Điền Quốc Vương, Nữ Oa Bổ Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Thần núi Sóc Sơn (là dạng hiển linh thần của Na Tra hoặc Tỳ Sa Môn). Có 1 vị thần hiển linh phù trợ Thánh Gióng là Hồng Thánh Liễu Linh ở Mai Cương (Gia Bình, Bắc Ninh). Tín ngưỡng thờ Phù Đổng Thiên Vương không chỉ hạn chế ở vùng chính tích tại Bắc Ninh, Gia Lâm hay Sóc Sơn mà có những di tích nằm khá xa như ở Lạng Giang (đền Non Tung), Hải Dương (đền Mân Lộc), Phú Thọ (Hương Xạ). Một số di tích ở dọc sông Hồng như đền Sóc Xuân La (Hà Nội), đền Bộ Đầu (Thường Tín) thờ dưới góc độ là thủy thần (diệt giao long), hay ở đền Đức Thông và đình Lạc Tràng (Hà Nam). Thậm chí ở Thanh Hóa (Trịnh Điện) cũng có di tích thờ Phù Đổng Thiên Vương, và gặp cả thần Na Tra Lý Vực ở Nghệ An.

2. Thiên Cương: nhóm này tập trung là thần Thiên Cương với 3 vị thần khác có liên quan là Sóc Giang (một tên gọi khác của Thiên Cương), Tấn Công Thiên La (tên gọi nhầm thành Phù Đổng Thiên Vương), Xuân Dung Công chúa (vợ của Tấn Công Thiên La). Tuy nhiên đây lại là nhóm có lượng di tích nhiều nhất nhì (68 di tích) và phổ biến ở nhiều tỉnh (9 tỉnh cũ là Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Bình và cả ở Thanh Hóa, Nghệ An). Trong số các di tích thờ Thiên Cương có tới 56 nơi là thờ ở dạng “hiển linh” với sự tích được chép vào thời khác (thời Lý hay thời Lê) hoặc là khi thần âm phù đời sau. “Chính tích” đánh giặc Ân thờ thần Thiên Cương có thể kể đến cụm di tích ở Bắc Ninh (điển hình là Đồng Kỵ) và cụm di tích ở Chương Mỹ (điển hình là Hữu Văn, Tiến Văn) hay Ứng Hòa (điển hình là Dương Khê).

3. Thiên Bồng: với là 35 di tích thờ Thiên Bồng và các vị thần liên quan là con số khiêm tốn hơn so với Thiên Cương, nhưng cũng đáng kể để đứng riêng thành một nhóm thần. Số địa phương cũng ít hơn, chỉ có ở Hà Nội, Hà Nam và Thanh Hóa. Cùng với Thiên Bồng có thần Thiên Gia là anh em trong sự tích ở tổng Đạo Tú (Hà Nội). Ở khu Hoàng Hạ (Hà Nam) thì thần Thiên Bồng lại là anh em với các vị Cư Sĩ, Chấn Quốc. Đây là 2 cụm di tích Thiên Bồng có sự tích là đánh giặc Ân. Có 18 nơi thờ Thiên Bồng dưới dạng “hiển linh” âm phù hay không rõ thời gian, điển hình là các di tích ở Thanh Hóa. Một số nơi khác ở Hà Nam ven sông Châu Giang và sông Hồng thờ Thiên Bồng với sự tích vào thời Hùng Vương.

4. Thiên thần khác: nhóm có gặp ở 39 di tích với 28 vị thần. Các vị thần này thường là anh em, được thờ ở cùng một cụm di tích như 5 anh em làng Y Na (Bắc Ninh), 2 anh em Trương Chiêu, Trương Tuấn (Từ Sơn), 2 anh em Vũ Dực, Vũ Minh (Đông Anh), 6 vị ở Ngọc Lâu (Cẩm Giàng, Hải Dương), 3 vị ở Trung Trinh (Lương Tài), 3 vị ở An Thái (Hà Nam). Một số vị có chữ “Thiên” trong tên gọi như Thiên Đá (Thái Bình), Đinh Thiên Tích (Vĩnh Phúc), Đô Thiên (Hà Nam). Và một số vị riêng lẻ khác như Hùng Tuấn ở An Lại (Hải Dương), Cao Uy Lôi Vệ ở Quế Võ (Bắc Ninh).

Các vị thiên thần đều có điềm ứng sinh là sao trên trời giáng thế hay hoa sen, có hình tướng kỳ dị, có phép thuật lạ, không chỉ đánh được giặc mà trấn áp giặc quỷ (bệnh tật). Khi hóa các vị được gọi về trời, theo mây cầu vồng mà bay đi. Linh dị không kể xiết.

5. Sơn thần: theo thống kê có 55 di tích thờ 36 vị sơn thần. Đứng đầu dòng Sơn thần là Hùng Linh Công cùng Vua Bà Mã Yên Sơn ở cụm di tích tại Hiệp Hòa (Bắc Giang). Vị sơn thần có nhiều linh hiển (tính chất của Thiên thần) là Cường Bạo Đại vương với chính tích đánh giặc Ân ở vùng Gia Bình (Bắc Ninh). Khá nhiều sơn thần mang họ Hùng, tức là dòng dõi vua Hùng theo Âu Cơ lên núi như 3 vị Chiêu Thảo ở Lễ Khê (Hà Nội), 3 vị ở Thổ Hoàng (Ân Thi, Hưng Yên), nhị vị thiên tử Minh Gia, Minh Tông ở Vụ Bản (Nam Định), 2 vị Tổ quốc Thân vương ở Bất Phí (Bắc Ninh). Một số vị mang họ khác như 3 anh em họ Phan ở Bình Giang (Hải Dương) hay 2 anh em Đống Bính ở Bồ Sơn (Bắc Ninh). Các vị sơn thần thường có điềm ứng sinh là hổ như Hổ Sơn Hoàng tộc ở Vụ Bản (Nam Định), Hùng Lang ở Yến Vĩ (Hà Nội) hay gấu, do cha mẹ cầu tự thần núi mà sinh. Lúc hóa cũng thường lên núi mà hóa. Ở Thanh Hóa có Nghiêu Sơn Đại vương cùng với các tùy tướng đánh giặc Ân cũng là sơn thần. Trường hợp riêng lẻ có Tản Viên Sơn Thánh phù giúp vua Hùng đánh giặc Ân ở Ích Nhị (Gia Bình, Bắc Ninh) nhưng không rõ là chính tích hay là hiển linh.

6. Thủy thần: là nhóm thần phong phú nhất về di tích và nhân vật, gặp ở 78 di tích với 58 vị thần. Các vị thủy thần thường xuất thế cặp 3 anh em đồng bào, với điềm rồng ứng sinh ven các dòng sông lớn như 3 vị ở Đại Phu (Hà Nội), 3 vị ở Dũng Kim (Hà Nam), 3 vị Minh Sắc ở Mạch Lũng (Hà Nội), 3 vị ở làng Lạng (Hà Nam), 3 vị Long tộc ở Tiên Lý (Hà Nam), 3 vị ở Ngọc Lịch (Hưng Yên), 3 vị ở Lương Quy (Hà Nội), 3 vị Long vương ở Bình Hồ (Hưng Yên). Ít phổ biến hơn là cặp 2 anh em thủy thần như Nguyễn Thiện, Nguyễn Vực ở Tường Thụy (Hà Nam), Minh LangSát Hải ở Đồng Lý (Hưng Yên), Đài VàngSô Tha ở Thượng Phúc (Hà Nội), Bạc CôngChân Công ở Nhị Mễ (Hưng Yên), Cao Đài Quý Minh ở Đồng Luân (Hà Nội), Giang Công Trâu Công ở Dương Húc (Bắc Ninh). Cũng có một số cụm di tích thờ 4 anh em thủy thần như 4 vị Linh Lang ở Vĩnh Bảo (Hải Phòng), 4 vị Vua Vàng ở Tiền Hải (Thái Bình), 4 vị họ Trần ở Phạm Xá (Hải Dương). Trong sự tích các bộ thủy thần anh em thường có việc đi trị thủy tai, đánh nhau với các tướng thủy tề, chém chết hóa giao long. Trong số các vị thủy thần đơn lẻ có thể kể đến Khai Thông ở Thanh Miện (Hải Dương), Đàm Gia ở Thượng Trì (Hà Nội), Hùng Hiển ở Sen Hồ (Hà Nội).

Khá nhiều vị thủy thần mang họ Hùng (với nghĩa là dòng dõi Hùng Vương – Lạc vương) và phần lớn các vị đều có họ. Trong tên các vị thủy thần thường có các chữ Lang, Long, Vàng, Minh, Hải, Vực. Chức vụ của các vị thường là Đốc lĩnh Long chu Thủy đạo hay tương tự. Khi hóa các vị đều về sông, xuống thuyền rồng hay hóa thành rồng mà hóa. Đáng chú ý là hầu hết các thủy thần thời đánh giặc Ân không xuất hiện theo dọc sông Hồng mà ở các dòng sông nhỏ hơn như sông Cầu, sông Đuống, sông Châu Giang, sông Đáy hay khu đất trũng Khoái Châu, Ân Thi của Hưng Yên. Một số di tích thủy thần gặp vùng ven biển xa về phía Đông ở Hải Phòng, Thái Bình, nhưng lại không thể hiện là “hải thần” trong tên gọi.

7. Sơn – Thủy – Thiên thần: các vị thủy thần còn phổ biến hơn nữa khi xuất hiện trong các cụm di tích dưới dạng phối với các sơn thần hay thiên thần. Có 51 di tích như vậy thờ 21 vị thần. Sơn thần phối với Thủy thần như cụm di tích làng Rùa ở Hà Nội, Hùng Sơn (sơn thần) và Hùng Long (thủy thần) ở cụm các làng Ngang (Bắc Ninh), cụm thờ Bột Hải Đại vương và các tướng sơn thần ở Thái Đường (Hà Nội). Thiên thần thường phối với số lượng ít hơn như 3 vị ở Đại Lâm (Yên Phong, Bắc Ninh), 5 vị ở Đại Toàn (Bắc Ninh), 3 vị ở Chúc Sơn (Hà Nội). Đáng ngạc nhiên là ngay cả khi thần tích ghi rằng các vị là anh em sinh cùng bọc nhưng vẫn có thể có vị là thủy thần, có vị lại là thiên thần.

8. Nhân thần: một nhóm đông đảo các vị được thờ phụng là những nhân thần xuất thân từ nhân dân hoặc các quan tướng. Có tới 72 di tích thờ 39 vị thần thuộc nhóm này. Đứng đầu nhóm có lẽ là vị Châu Đô Thống Bùi Duy Trí có sự nghiệp gắn liền với Phù Đổng Thiên Vương, mộ hiện ở làng Phù Đổng (Bắc Ninh). Cùng nhóm này cũng xếp vị Khương Thượng (Khương Tử Nha) được thờ ở nghè làng Kiều tại Sầm Sơn (Thanh Hóa). Cũng ở khu vực Phù Đổng có một loạt các tướng như Bạch Sam và vợ là Lý Nương ở Hiệp Phù, Trấn Quốc ở miếu Chợ Phù Đổng, Quách Lân ở đền Ghênh Trung Mầu. Người đúc ngựa sắt cho Phù Đổng được thờ là Hỏa Nhạc Đại vương, thờ tại Lương Quán (Đông Anh) và Phù Lỗ (Sóc Sơn). Hai anh em cầm vồ theo Thánh Gióng là 2 vị Nguyễn Tam Giang ở Nghiêm Xá (Bắc Ninh).

Ở từng khu vực có những vị tướng là nhân thần đánh giặc Ân đặc trưng cho khu vực đó, hình thành những cụm di tích riêng biệt. Như Lý Tiến ở Hà Nội, Vũ Lang Nữu ở Lý Nhân (Hà Nam), Đỗ Phụng Trân ở Thái Bình, Phạm Phúc ở Duy Tiên (Hà Nam), Vũ Hồng Vũ Lê Hoa ở Hải Phòng, Hùng Sơn ở Cát Hải, 3 vị ở Đông Ngàn (Hà Nội), Văn Khúc, Văn Xương ở Gia Lâm (Hà Nội), Nam Giang Chàng ở Giám (Hải Dương), Trâu ở Phù Tinh (Hải Dương), Lã Uy, Lã Hưng ở Phù Dực (Hưng Yên), 7 anh em họ Tạ ở Phủ Điềm (Hưng Yên), 3 vị họ Hùng ở Vĩnh Phúc…

9. Nhóm không chắc chắn thời Ân: có khoảng 22 di tích với 16 vị thần được thờ với những tư liệu để lại không chắc chắn là các vị tướng thời đánh giặc Ân. Ví dụ như hai vị Minh Vũ, Minh Hán ở Đào Viên (Bắc Ninh), 5 vị ở đền Năn tại Ninh Bình, Trình Lang ở Nam Định, một số vị có được nhắc đến ở Phú Thọ nhưng không còn di tích rõ ràng…

Cuối cùng là có một số vị thần tuy là ghi chép vào thời đánh giặc Ân nhưng xét kỹ thì là nhân vật ở thời khác. Điển hình là Cao Minh Cư sĩ ở Yến Vĩ (Hà Nội) thực ra là Lão Tử (thời kỳ nhà Chu, muộn hơn). Hay Cốt Tung ở Mê Linh theo bản khai thần tích trước đây thì ở vào thời Hùng đánh Thục. Vị Quảng Độ ở Song Liễu (Hà Nội) nhiều khả năng là Sĩ Nhiếp (Đặng Nhượng, Tích Quang) hơn là ở thời đánh giặc Ân. Vị Lê Phúc Đồng ở Thiều Xá (Thanh Hóa) cũng khả năng không phải thời đánh giặc Ân mà ở thời Lê.

Với hơn 200 vị thần thờ phụng ở hơn 320 di tích trên địa bàn 15 tỉnh thuộc đủ các nhóm Thiên thần, Sơn thần, Thủy thần, Nhân thần thì có thể nói thời kỳ đánh giặc Ân thực chất đã hình thành hệ thống tín ngưỡng thờ thần rất đầy đủ ở nước ta. Khương Thái Công thống lĩnh quân đội nhà Chu (Châu Đô Thống) với các thiên tướng là Phù Đổng Thiên Vương, Thiên Cương, Thiên Bồng và 10 bộ Sơn thần dòng Âu Cơ, 10 bộ Thủy thần dòng Lạc Long cùng quân dân cả nước đã làm nên chiến thắng lịch sử, phá tan giặc Ân, lật đổ Trụ Vương, lập nên cơ nghiệp thiên thu cho nước Văn Lang, đặt ra trăm quan, phong cho trăm thần, định ra trăm họ…

Hoành phi Bách thần nguyên tự ở đền Phù Đổng, Gia Lâm.

VĂN LANG MỞ VẬN

Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Từ thủa Âu Cơ mở vận Càn
Tụ nghĩa Ái Châu nuôi chí lớn
Dựng cờ Sóc lĩnh vượt gian nan
Sơn Nam sông núi Thiên thần trấn
Nước trắng Hồng Châu Lạc tướng dàn
Phù Đổng tiếng hô như sấm thét
Châu Sơn chôn dấu Thạch Linh tàn.

Leave a comment