Ngọc phả Thiên Gia Đại Hoàng đế và Thiên Bồng Ấn thụ ở thôn Đồng Xung, Đạo Tú

Dịch từ bản khai thần tích thần sắc thôn Đồng Xung làng Đạo Tú tổng Đạo Tú phủ Ứng Hòa tỉnh Hà Đông, ký hiệu TTTS1530 lưu tại Viện Thông tin Khoa học Xã hội.

 Ngọc phả cổ tích về Thiên Gia Đại Hoàng đế và Thiên Bồng Quang Chiếu Đại vương triều Hùng nước Việt Thường

Xưa triều Kinh Dương Vương truyền 5 đời đến Huy Vương ở ngôi, đóng tại Việt Trì sông Bạch Hạc, lập nước tên Văn Lang, kinh đô tên thành Phong Châu. Huy Vương thừa hưởng năm đời thanh bình, không gây việc binh đao, chỉ ở trong phủ hưởng lạc tiệc rượu, ca xướng, sắc đẹp, tin sùng phép thuật thần tiên nhưng thiếu kính lễ Hoàng thiên, nên đất nước thường bị giáng tai ương để trách phạt sự thất đức của vua.

Thời bấy giờ ở phường Thượng Hiền huyện Thượng Hiền phủ Thiên Trường xứ Sơn Nam có một nhà bộ trưởng họ Trần tên Hạnh, lấy vợ hiền đức họ Đặng tên Trà. Vợ chồng ông Trần bộ trưởng đều là những người hiền lành mà gia đình lại giàu có dư giả, tin kính quỷ thần, súng ái tiên đạo. Vợ chồng tình như loan phượng, chỉ hiềm chưa có con cái nối dõi nên rất phiền lòng. Lại nghe người trong dòng họ khinh mạn, buông lời dèm pha nặng nề. Người trong ấp cũng đều cho rằng:

  • Là người giàu quý không bằng có con cái mới là đủ.

Ông Trần bộ trưởng trong lòng hận lắm, bèn ban tài tạo phúc, cứu kẻ ốm, giúp người khó không hề luyến tiếc. Than ôi, đạo trời làm vậy, Thái bá mất sớm. Ông Trần bộ trưởng hận nhân tình thế thái, lại đau lòng mất vợ, trong lòng buồn phiền không dứt, khiến bạc trắng cả mái tóc, đau đớn vô cùng. Bấy giờ ông giao lại nhà cửa cho người cháu ruột, còn mình đi du chơi khắp nơi, tìm chốn riêng tư, một bầu trăng gió, bốn biển giang hồ. Lấy sự tinh thông Nho, Y, Lý, Số để làm kế sinh sống qua ngày. Ông Trần đi tới phủ Ứng Thiên thì ông nghe tiếng động núi Hương Tích là cảnh đẹp đệ nhất của miền núi Sơn Nam. Ông bèn đến núi đó du chơi, ngắm xem phong cảnh, thấy nơi đó thật là núi đẹp, rừng thông. Trong động núi có có một ngôi chùa cổ, mây núi vây quanh, cảnh tiên rực rỡ, hương hoa thơm ngát. Trong chùa có một lão tăng và vài chú tiểu.

Bấy giờ ông vào chùa, bước tới trước tòa tam bảo. Ông bèn thầm khấn tình cảnh của mình. Lúc đó thiền sư thấy ông mặt mũi thanh cao, dáng vẻ kỳ lạ, hỏi về đạo pháp đều tinh thông. Thiền sư rất yêu mến và quý trọng, nên liền giữ ông ở lại chơi và đàm đạo về kinh pháp. Ông bèn ở đó cùng với thiền sư được một tháng, sớm tối dâng hương hoa cầu xin sự tế độ của thập phương để được thoát khỏi cảnh khổ về sau.

Một hôm ông cùng với thiền sư nhân lúc nhàn rỗi ngồi uống trà. Ông dựa lưng vào bên trái phật đường mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người mình mặc áo vàng từ trên trời xuống thẳng chỗ ông Trần đang ngồi, cầm lấy tay ông đọc rằng:

Tảo nhật thiền môn hữu khách lai

Khuyến quân tu kết thử nhân tai

Dục hồ hậu vận công danh đạt

Tú khí sinh thành đắc lưỡng tài.

Nghĩa là:

Cửa thiền có khách đến sớm ngày

Khuyên ông kết bạn với người này

Để mong sau có công danh đạt

Khí lành sinh xuất hai nhân tài.

Đọc xong thấy người đó bay lên không đi mất. Ông chợt tỉnh dậy thấy mộng lạ đó bèn nói lại với thiền sư. Thầy đáp rằng:

  • Nếu theo như trong điều báo trong mộng thì sáng sớm ngày mai sẽ thấy khách đến cửa chùa, rồi sẽ kết thành nghĩa lâu bền.

Đến sáng sớm ngày hôm sau quả có thấy khách đến cửa chùa, hỏi cầu thiền sư có đạo pháp đón về làm lễ chay báo hiếu đức cho cha mẹ. Thiền sư hỏi rằng:

  • Quê của khách xa gần ở nơi nào mà cầu tìm đạo sư đón về nhà để làm lễ chay báo nghĩa?

Nói xong, khách trả lời rằng:

  • Tôi vốn là người quê ở trang Đạo Tú huyện Sơn Minh, họ Nguyễn tên là An, xin đem tấm chân tình mà đối đáp, đâu dám dối trá.

Thiền sư nghe lời nói đó bèn nói với ông Trần rằng:

  • Trời làm ra vậy, giấc mộng kia của ông đã báo trước. Ông nên thay thầy trở đi thăm chốn đó (tức đất trang Đạo Tú) để xem làm chay đàn, cùng với người này mà kết nghĩa để ở đất ấy, đợi xem điềm mộng đó thế nào, về sau có thể lập nên công danh.

Ông nghe lời nhà sư nói thì nghe theo. Nhà sư bèn nói với khách rằng:

  • Nhà chùa nhiều việc, không tiện theo về. Nay xin giao cho vị bạn thân thay thầy đi làm lễ.

Người khách nghe theo lời nhà sư. Khi ấy ông Trần cùng với người đó trở về đất Đạo Tú, bèn dựng một đàn chay ở trang ấy. Người dân đến xem, thấy ông tinh thông đạo pháp, rất đức hạnh nên người dân yêu mến, mời ông ở lại trong giữ cảnh chùa (lúc đó đất Đạo Tú có một ngôi chùa đẹp ở bên khu dân cư, tên là chùa Liên Hoa, nay gọi là Văn Khoa). Ông Trần nghĩ tới giấc mộng bèn nhận giữ chùa này. Qua được một năm, nhân dân đều yêu mến đạo đức của ông.

Lúc đó trong ấp có một nhà họ Lê sinh được một con gái đặt tên là Thị Chân, vốn tính hiền từ chân chất. Cha mẹ bà mất sớm nên sống một mình nghèo khó, phải dựa nhờ vào nhà người chú. Bấy giờ nhân dân thấy ông không có người nội trợ, bèn hỏi cưới bà cho ông thành vợ chồng. Từ đó ông có được người vợ nội trợ, loan phượng thắm tình, sắt cầm hòa hợp, chồng hiền vợ lành, đều rất trung hậu. Ông càng ra sức làm việc nhân đức, làm thuốc cứu dân, được người dân gọi là người có nhân có đức. Nam nữ ai cũng yêu mến quý phục.

Vợ chồng ông lập thành gia đình qua được 3, 4 năm mà vẫn như trước, chưa thấy giấc mộng giọt sành, báo điềm con cái. Một hôm Thái bà quét dọn ở nhà trước. Ông thì đang đi làm thuốc ở xa. Cảnh chùa thanh tịnh, xung quanh không có ai. Thái bà quét dọn xong, mệt mỏi, nằm nghỉ ở tiền đường. Bỗng thấy có một con rắn màu vàng dài hơn một trượng từ trên trời thẳng xuống nằm lên bụng của Thái bà. Được một lúc thì tự biến mất. Thái bà bàng hoàng kinh hãi, khiếp sợ vô cùng. Đúng khi đó ông trở về, Thái bà bèn kể lại sự tình. Ông cho là tà yêu huyền hoặc, chưa đoán được thế nào. Đêm đó ông nằm ngủ, mơ màng thấy một nhà sư, thân mặc áo trắng, ngồi ở trên án tòa tam bảo, miệng tụng rằng:

Nhất song long noãn hứa Trần nhân

Hữu đức, hữu nhân, hữu hiển thân

Tú địa chung linh sinh lưỡng thánh

Tài năng cái thế đức gia tân.

Nghĩa là:

Một cặp trứng rồng cho họ Trần

Có đức, có nhân tất hiển thân

Đất lành đúc thiêng sinh hai thánh

Tài năng cái thế, đức thêm phần.

Tụng xong tự nhiên ông tỉnh lại, biết là điềm mộng. Ông nhớ đến việc Thái bà tất sẽ có mang thai, không phải nghi ngờ gì. Xong đó Thái bà quả nhiên có mang thai. Được 13 tháng đến ngày 19 tháng Bảy năm Đinh Tỵ sinh hạ một bầu, nở ra hai con trai, đều có thân hình cao lớn, diện mạo phương phi, mặt như phấn hồng, năm gò chầu về trời giữa, bụng như chữ vương, bàn chân có bảy chiếc lông, chẳng phải như người tầm thường. Sau được trăm ngày ông Trần bèn đặt tên người anh là ông Gia, người em là ông Chiếu. Trời sinh phi thường, ngày một lớn lên.

Khi hai người lên 2 tuổi thì người cha mất vào ngày mùng 3 tháng Tám. Thái bà làm lễ chôn cất. Đến khi lên 7 tuổi bà mẹ mất vào ngày 19 tháng Bảy. Khi ấy nhân dân làm lễ an táng. Hai ông được người dân nuôi dưỡng ở trong chùa. Từ đó anh em tính vốn thông minh, mạnh bạo. Tuy vẫn còn tuổi niên thiếu nhưng có trí tuệ siêu quần bạt chúng, có nhiều mưu hay thuật lạ, trước mắt không có ai là không khuất phục được.

Bấy gờ trong chùa có một chiếc long ngai, người dân (tức trang Đạo Tú) làm ra để phụng thờ chúa tể Long thần. Hàng ngày ông Gia trèo lên ngồi ở đó, còn bài vị Long thần thì bỏ ra đặt dưới bệ. Ông Gia ngồi trên tự xưng với người em là ông Chiếu rằng:

  • Ta là Hoàng đế, ngươi là đại thần.

Ông Chiếu thường đứng mà chầu. Khi ấy nam nữ nhân dân đều bị tật bệnh bèn lập đàn khao trừ bệnh tật. Lúc đó bỗng thấy có một người còn trẻ tuổi ở trong ấp ứng thác lời đồng nói với người dân rằng:

  • Ta là chủ tể Long thần. Nay trong chùa có anh em ông Gia là quan Thiên đình mới đuổi ta ra ngoài mà đoạt quyền, chiếm lấy ngai vị. Giờ ta không có nơi trú nhậm, quân sĩ không yên nên vì thế trách đến nhân dân, hãy xin hai ông đến ở nơi khác. Ta khi ấy mới dám về yên vị, dân chúng tất tự được yên, không có bệnh hoạn.

Nói xong thì tự xuất. Nhân dân nghe lời đồng nói, đều rất kinh hãi. Ngay hôm đó buổi đêm người dân đều ra chùa cùng nằm trú để thử xem ý hai ông thế nào. Người dân đêm đó đều ngủ ở chùa, đến gần nửa đêm đang ngủ say thì thấy ông Gia ngồi lên ngai, ông Chiếu đức chầu ở bên trái, xưng hô là Hoàng đế. Bốn phía ở ngoài chùa đều nghe thấy tiếng chuông voi ngựa và quân sĩ hô hoán, ước hơn ngàn người, đi lại xung quanh. Người dân đều rất sợ hãi, bàng hoàng đứng dậy, cùng nhau làm lễ tung hô:

  • Hoàng đế.

Lễ xong người dân (tức trang Đạo Tú) đều nói rằng:

  • Nay có chủ tể Long thần đã nhường lại nơi đóng nhậm cho Hoàng đế ngự, không dám quay về nên trách đến người dân, gây thành bệnh tật. Giờ xin anh em Hoàng đế trở về sống ở nơi riêng khác, thần dân sẽ cùng phụng dưỡng, là để Long thần được trở về chỗ mà để yên cho dân. Mọi việc đều mong ơn đức lớn của Hoàng đế.

Ông Gia nghe lời dân cùng nói vậy bèn nói rằng:

  • Ý dân muốn anh em ta về ở chỗ khác, việc này tất nhiên ta sẽ nghe theo. Nhưng Long thần vô lễ, tại sao ta phải ở nơi khác? Nếu muốn giữ chỗ này thì đến khi nào Long thần có lời thưa lễ, ta mới đồng ý.

Người dân nghe lời nói đó đều sợ hãi. Ngay hôm đó mổ lợn thay Long thần làm lễ. Xong việc đến đêm hôm đó, nhân dân đều về nhà, chỉ để là 4, 5 người lưu lại hầu giúp hai ông. Đêm đó anh em hai ông cùng nhau nằm thiếp đi, bỗng thấy một người mình mặc áo màu vàng, mũ rồng đai gấm, đường hoàng tiến thẳng đến trước mặt, làm lễ cúi đầu vái. Ông Gia hỏi rằng:

  • Ông ở đâu đến mà cúi mình làm lễ?

Người đó đáp rằng:

  • Thần vốn là Long thần của chùa Liên Hoa (tức nay là chùa Văn Khoa). Nay Thiên quan (tức ông Gia) chiếm chỗ, từ đó mà không dám trở về nơi đóng nhậm, phải ra ngoài ở. Giờ thấy Thiên quan đã có lòng thương xót mà hỏi trách thần vô lễ, nên tự thân mình đến đây để làm lễ, nhưng chưa có gì làm quà lễ. Thần thấy vua hiện nay ngạo mạn với Hoàng thiên nên trời làm ra nhiều tai họa, dịch bệnh, mưa nắng bất thường, nhân dân đói khát. Nay thần có một chiếc ấn vàng Thiên Bồng, là vật do tổ sư của thần tạo được, đã 500 năm chôn ở trong chùa bên dưới trước án tượng Thích Ca, chôn sâu 3 thước. Thần xin dâng Thiên quan để làm báu vật. Gặp khi thiên hạ có tai ương thì lấy ấn Thiên Bồng đóng lên giấy có viết mỹ hiệu tên của hai quan ngài, dán ở nơi cửa lớn ngõ chính của người dân thì tai ương, dịch bệnh sẽ tự sợ mà yên. Hoặc muốn hô mây gọi gió, hoặc muốn thu giữ âm binh thì đều viết hịch thư, đóng ấn báu Thiên Bồng vào thư mà hóa đi thì trời tất sẽ cho mây gió, sấm chớp sẽ tự nổi lên, âm binh đều hiện đến, ứng việc đều nhanh chóng. Thần xin được trao tặng ấn này để báo ơn.

Nói xong thì tự biến mất. Hai ông tỉnh lại, đều nói cùng thấy chung một giấc mộng. Anh em cứ theo như điều báo trong mộng, ngay hôm đó đào mở ở bên dưới trước án tượng Thích Ca, sâu đến 3 thước thì thấy chiếc ấn ở tại đó. Bỗng nhiên trời làm mưa gió, đất nổi sấm vang, rung chuyển ù ù, cả một vùng sáng rực. Ông Gia cầm lấy ấn mang lên, cũng tỏa sáng rực rỡ. Ông đưa giao cho người em là ông Chiếu cất ấn gói vào trong khăn, dấu trong người không cho ai biết. Được năm ngày sau người dân dựng nơi ở (nay là đền Đỉnh) hoàn thành. Nhân dân rước giá cùng đến chùa đón hai ông về ở yên tại đó. Hai ông lại truyền cho người dân sửa sang nơi thờ Long thần, làm lễ cảm tạ. Hai ông trở về nơi ở. Từ đó người dân đều được yên ổn, ngày tháng phụng dưỡng hai ông như cha mẹ.

Đến khi hai ông lớn trưởng thành, anh hùng hơn đời, có nhiều thuật lạ mưu hay, rất có tài cao đức lớn. Ông Gia có khí độ hơn người, tài năng bạt chúng, hô mưa gọi gió đều có ấn báu cơ thần mà chuyển phép thiêng Thiên Bồng. Ông Chiếu tài cao đức rộng, có trí tuệ thông minh, có thể hô âm binh ứng hiện, bày các trận rất kỳ lạ. Nhân dân đều biết hai ông có thể bắt tà thần, hàng phục yêu tinh, cứu dân giúp đời, đều là cơ thần phép màu của ấn báu Thiên Bồng. Từ đó anh hùng bốn biển cùng đến quy theo. Có người xưng là đế, là vương, có người gọi là thần, là thánh. Không một ai không phục oai đó. Không một ai không quý trọng đức đó. Che chở dân tình, nuôi dưỡng phong hóa dày sâu.

Thời vua khi đó tai ương, dịch bệnh rất nhiều, khắp nước nhà trong dân không chỗ nào không xảy ra. Lại xảy ra hạn hán lớn, hoa màu khô héo. Người dân rất là đói khát. Bấy giờ hai ông đứng ra giúp nhân dân, cầm ấn Thiên Bồng đóng lên giấy có viết tên hiệu, rồi đem cho nhân dân dán lên cửa lớn ngoài ngõ thì được yên lành. Các tướng ôn dịch đều kinh hồn. Hoặc nơi nào có hạn hán lớn ông Gia lấy ấn đóng lên hịch, rồi truyền đến nơi ấy mà lập đàn cầu đảo, đọc hịch rồi đem hóa, tự nhiên mây mưa đổ xuống, hoa màu bội thu. Người dân không còn lo lắng nữa. Nhân dân ca tụng, thiên hạ truyền thơ ca ngợi, đều nói là có Đại hoàng giúp đời, Thần tướng hộ dân.

Bấy giờ tiếng vang lan tới vua nước nhà. Vua liền cho gọi đến gặp để hỏi chuyện. Hai ông có chí muốn lấy nước nên không nhận quy thuận triều đình sai khiến. Khi ấy hai ông mộng thấy có người đem một phong thư đến nói với ông Gia rằng:

  • Thiên quân có thư gửi báo hai ông. Xin hãy mở ra xem.

Ông Gia nhận thư mà mở ra thấy viết rằng:

Giáng phù nhân thế trợ thì quân

Phi thị quân hề phi thị thần

Phụ quốc tí dân phù thế vận

Tái hồi thiên cảnh phụng thiên quân.

Nghĩa là:

Trợ thế, giúp vua giáng xuống trần

Chẳng phải là vua, chẳng phải thần

Giúp nước cứu dân, yên thời vận

Cảnh trời quay lại phụng thiên quân.

Ông xem xong thì tỉnh lại, biết là mộng báo sự định không thành, bèn nhận về triều đình. Bấy giờ theo sứ quan mà về triều gặp vua. Lúc đó hai ông chiêu mộ được hơn năm ngàn người là gia thần thân tín (khi ấy 300 người trang Đạo Tú theo ông Gia, 109 người trại Sung Lư theo ông Chiếu, còn lại là từ 13 trang của các tổng huyện).

Lại nói, khi ấy hai ông theo sứ giả trở về triều yết kiến bệ hạ. Vua bèn muốn bái phong ngay hôm đó cho ông Gia là Phụ quốc Chủ tể, ông Chiếu là Bồ chính. Hai ông tâu rằng:

  • –          Thần phò giúp nước nhà, không nhận chức vụ.

Huy Vương biết các ông không nhận tước quan triều đình bèn cho hai ông chủ trị một phương, lấy trại Sung Lư trang Đạo Tú làm đất thang mộc ấp của hai ông. Hai ông bèn nhận, làm lễ bái tạ, lại cử giá quay về cung sở. Từ đó các ông chủ trị một phương.

Trải được 3 năm có giặc Ân Thạch Linh thần tướng khởi binh phương Bắc đến xâm phạm nước ta. Cờ xí rợp đất, chiêng trống động trời. Vua rất lo lắng, triều đình bó tay. Khi ấy Vua tìm được người ở làng Phù Đổng quận Vũ Ninh tên là Thiết Sung Thần vương, mới lên 3 tuổi, mà truyền báo xin được ngựa sắt cao hơn 10 thước, roi sắt đem đến thì Vua không phải lo gì nữa. Sứ giả đem lời thuật lại với vua. Vua vui mừng truyền đem ngựa sắt, roi sắt đến. Lại gọi ông Gia, ông Chiếu cùng lòng giúp nước với các chư tướng.

Khi ấy hai ông dẫn quân mã phụ cùng Thần Vương dẹp giặc. Bấy giờ hai ông tiếp ứng quân với Đổng Thiên Vương thẳng đến Yên Việt núi Vũ Ninh, đánh một trận lớn với quân Ân. Quân Ân thua to, chạy tán loạn. Các ông đuổi theo giết được hơn vài ngàn đầu giặc, chém được Thạch Linh Thần tướng, quét tận sạch quân giặc. Thần vương cưỡi ngựa thẳng đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa bèn cởi áo, cưỡi ngựa bay lên mây trời đi mất, nay dấu vết còn trên vách núi.

Lại nói, hai ông dẫn quân trở về đi qua đất Quang Thuận. Ngay hôm đó (ngày 14 tháng Sáu) ông Gia bỗng nhiên tự hoá. Bấy giờ trời đất tối tăm, sấm sét rầm rì, mây ngũ sắc bay. Được một lúc thì mưa gió tự ngưng, trời đất quang tạnh. Chỉ thấy một bộ đai mũ để lại ở địa phương, còn người đã biến mất. Dân đất đó lập miếu phụng thờ.

Còn ông Chiếu dẫn quân trở về kinh đô, làm biểu dâng tấu. Vua nghe tin cho là sự lạ, ngay hôm đó mở tiệc mừng lớn, phong thưởng các triều thần lớn nhỏ, thưởng công lao ba quân, bao phong mỹ tự. Truyền cho ông Chiếu cùng với trăm quan trở về trị sở Đạo Tú, truyền nhân dân lập đền phụng thờ, hương lửa không dứt, cùng với đất nước lâu bền, mãi là hằng thức. Thịnh thay!

Phong Thiên Gia Đại vương. Trang Đạo Tú là nơi hộ nhi phụng thờ. Xuân thu sai quan đến bày tế.

Lại nói, khi ấy ông Chiếu trở về nhiệm sở. Ngay hôm đó (18 tháng Sáu) nhân dân làm lễ bái mừng. Sau đến ngày 15 tháng Mười một ông du chơi săn bắn ở tại Vân Sơn, trở về nhiệm sở ở tại vùng đất gần chùa đầu trại Sung Lư. Bỗng thấy trên trời có ba tiếng sét nổi lên, có một đám mây hồng hạ xuống bao quanh người ông ba vòng. Khi đó ông tự hoá. Trong chốc lát, mối đùn thành mộ lớn. Dân ở đất đó lập đền ở tại chính nơi hoá để phụng thờ. Người dân và người nhà bèn làm biểu dâng tấu. Vua nghe tin ngay hôm đó sai đình thần bao phong mỹ tự, đem về nơi thờ để làm lễ tế, cùng với đất nước lâu bền. Thịnh thay!

Phong Công cao Vị nghiễm Dương linh Cái thế Thiên Bồng Ấn thụ Quang Chiếu Đại Vương. Trang Đạo Tú, trại Đồng Lư là nơi hộ nhi phụng thờ.

Lại nói qua thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương cộng 359 năm đến bốn họ nước Nam Đinh, Lê, Trần, Lý khai sáng cơ đồ thường có anh linh hiển ứng giúp nước cứu dân cho nên các đời đế vương truy phong mỹ tự, hưởng huyết thực vạn cổ, hương lửa vô cùng.

Đến thời Lê Đại Hành đánh Tống cũng cầu đảo ở đền hai đại vương. Bỗng thấy có rắn hoa cuộn ở trên trước án, ong bầy đậu khắp trong đền. Các quan đều kinh sợ liền làm lễ tạ. Sau này đất nước thanh bình bèn truy phong mỹ tự, hương lửa mãi còn, mãi sáng cùng vầng nhật nguyệt. Lê Đại Hành bao phong ba chữ là: Đại Hoàng đế.

Hồng Phúc năm đầu (1572) ngày mùng 10 tháng Ba Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần là Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 3 (1737) ngày tốt đầu tháng Tám Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần là Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ của triều trước vâng chép.

BÁCH THẦN NGUYÊN TỰ

Phù Đổng Thiên Vương, Vu Điền Quốc Vương, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Na Tra Thiên Tử, Nữ Oa Bổ Thiên, Tả xiên xiên Lực sĩ, Hữu vạn vạn Tinh binh.

Cuộc chiến lập quốc giữa nước Văn Lang lật đổ nhà Ân Thương với chiến công lẫy lừng, hiển hách của Phù Đổng Thiên Vương để lại dấu ấn vô cùng sâu sắc trong văn hóa tính ngưỡng Việt, được gọi dưới tên Phong Thần Bảng (Bách Thần nguyên tự). Rà soát theo các nguồn tư liệu trước 1945 và thực địa đã thống kế được tục thờ phụng các vị thần thời đánh giặc Ân. Tổng số 208 vị thần thời đánh giặc Ân ở 326 di tích, chia thành 113 cụm di tích ở 15 tỉnh thành (cũ). Trong số đó có 16 vị âm thần (nữ) và 192 vị dương thần (nam), được xếp vào 9 nhóm:

1. Phù Đổng Thiên Vương: có 48 di tích thờ 8 vị thần. Nhiều nhất là Phù Đổng Thiên Vương và Đổng Mẫu (Mẹ Thánh Gióng). Một số vị thần thờ ở đền Sóc cùng với Phù Đổng Thiên Vương là Na Tra Thiên Tử, Vu Điền Quốc Vương, Nữ Oa Bổ Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên Vương, Thần núi Sóc Sơn (là dạng hiển linh thần của Na Tra hoặc Tỳ Sa Môn). Có 1 vị thần hiển linh phù trợ Thánh Gióng là Hồng Thánh Liễu Linh ở Mai Cương (Gia Bình, Bắc Ninh). Tín ngưỡng thờ Phù Đổng Thiên Vương không chỉ hạn chế ở vùng chính tích tại Bắc Ninh, Gia Lâm hay Sóc Sơn mà có những di tích nằm khá xa như ở Lạng Giang (đền Non Tung), Hải Dương (đền Mân Lộc), Phú Thọ (Hương Xạ). Một số di tích ở dọc sông Hồng như đền Sóc Xuân La (Hà Nội), đền Bộ Đầu (Thường Tín) thờ dưới góc độ là thủy thần (diệt giao long), hay ở đền Đức Thông và đình Lạc Tràng (Hà Nam). Thậm chí ở Thanh Hóa (Trịnh Điện) cũng có di tích thờ Phù Đổng Thiên Vương, và gặp cả thần Na Tra Lý Vực ở Nghệ An.

2. Thiên Cương: nhóm này tập trung là thần Thiên Cương với 3 vị thần khác có liên quan là Sóc Giang (một tên gọi khác của Thiên Cương), Tấn Công Thiên La (tên gọi nhầm thành Phù Đổng Thiên Vương), Xuân Dung Công chúa (vợ của Tấn Công Thiên La). Tuy nhiên đây lại là nhóm có lượng di tích nhiều nhất nhì (68 di tích) và phổ biến ở nhiều tỉnh (9 tỉnh cũ là Hà Nội, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nam, Ninh Bình, Phú Thọ, Thái Bình và cả ở Thanh Hóa, Nghệ An). Trong số các di tích thờ Thiên Cương có tới 56 nơi là thờ ở dạng “hiển linh” với sự tích được chép vào thời khác (thời Lý hay thời Lê) hoặc là khi thần âm phù đời sau. “Chính tích” đánh giặc Ân thờ thần Thiên Cương có thể kể đến cụm di tích ở Bắc Ninh (điển hình là Đồng Kỵ) và cụm di tích ở Chương Mỹ (điển hình là Hữu Văn, Tiến Văn) hay Ứng Hòa (điển hình là Dương Khê).

3. Thiên Bồng: với là 35 di tích thờ Thiên Bồng và các vị thần liên quan là con số khiêm tốn hơn so với Thiên Cương, nhưng cũng đáng kể để đứng riêng thành một nhóm thần. Số địa phương cũng ít hơn, chỉ có ở Hà Nội, Hà Nam và Thanh Hóa. Cùng với Thiên Bồng có thần Thiên Gia là anh em trong sự tích ở tổng Đạo Tú (Hà Nội). Ở khu Hoàng Hạ (Hà Nam) thì thần Thiên Bồng lại là anh em với các vị Cư Sĩ, Chấn Quốc. Đây là 2 cụm di tích Thiên Bồng có sự tích là đánh giặc Ân. Có 18 nơi thờ Thiên Bồng dưới dạng “hiển linh” âm phù hay không rõ thời gian, điển hình là các di tích ở Thanh Hóa. Một số nơi khác ở Hà Nam ven sông Châu Giang và sông Hồng thờ Thiên Bồng với sự tích vào thời Hùng Vương.

4. Thiên thần khác: nhóm có gặp ở 39 di tích với 28 vị thần. Các vị thần này thường là anh em, được thờ ở cùng một cụm di tích như 5 anh em làng Y Na (Bắc Ninh), 2 anh em Trương Chiêu, Trương Tuấn (Từ Sơn), 2 anh em Vũ Dực, Vũ Minh (Đông Anh), 6 vị ở Ngọc Lâu (Cẩm Giàng, Hải Dương), 3 vị ở Trung Trinh (Lương Tài), 3 vị ở An Thái (Hà Nam). Một số vị có chữ “Thiên” trong tên gọi như Thiên Đá (Thái Bình), Đinh Thiên Tích (Vĩnh Phúc), Đô Thiên (Hà Nam). Và một số vị riêng lẻ khác như Hùng Tuấn ở An Lại (Hải Dương), Cao Uy Lôi Vệ ở Quế Võ (Bắc Ninh).

Các vị thiên thần đều có điềm ứng sinh là sao trên trời giáng thế hay hoa sen, có hình tướng kỳ dị, có phép thuật lạ, không chỉ đánh được giặc mà trấn áp giặc quỷ (bệnh tật). Khi hóa các vị được gọi về trời, theo mây cầu vồng mà bay đi. Linh dị không kể xiết.

5. Sơn thần: theo thống kê có 55 di tích thờ 36 vị sơn thần. Đứng đầu dòng Sơn thần là Hùng Linh Công cùng Vua Bà Mã Yên Sơn ở cụm di tích tại Hiệp Hòa (Bắc Giang). Vị sơn thần có nhiều linh hiển (tính chất của Thiên thần) là Cường Bạo Đại vương với chính tích đánh giặc Ân ở vùng Gia Bình (Bắc Ninh). Khá nhiều sơn thần mang họ Hùng, tức là dòng dõi vua Hùng theo Âu Cơ lên núi như 3 vị Chiêu Thảo ở Lễ Khê (Hà Nội), 3 vị ở Thổ Hoàng (Ân Thi, Hưng Yên), nhị vị thiên tử Minh Gia, Minh Tông ở Vụ Bản (Nam Định), 2 vị Tổ quốc Thân vương ở Bất Phí (Bắc Ninh). Một số vị mang họ khác như 3 anh em họ Phan ở Bình Giang (Hải Dương) hay 2 anh em Đống Bính ở Bồ Sơn (Bắc Ninh). Các vị sơn thần thường có điềm ứng sinh là hổ như Hổ Sơn Hoàng tộc ở Vụ Bản (Nam Định), Hùng Lang ở Yến Vĩ (Hà Nội) hay gấu, do cha mẹ cầu tự thần núi mà sinh. Lúc hóa cũng thường lên núi mà hóa. Ở Thanh Hóa có Nghiêu Sơn Đại vương cùng với các tùy tướng đánh giặc Ân cũng là sơn thần. Trường hợp riêng lẻ có Tản Viên Sơn Thánh phù giúp vua Hùng đánh giặc Ân ở Ích Nhị (Gia Bình, Bắc Ninh) nhưng không rõ là chính tích hay là hiển linh.

6. Thủy thần: là nhóm thần phong phú nhất về di tích và nhân vật, gặp ở 78 di tích với 58 vị thần. Các vị thủy thần thường xuất thế cặp 3 anh em đồng bào, với điềm rồng ứng sinh ven các dòng sông lớn như 3 vị ở Đại Phu (Hà Nội), 3 vị ở Dũng Kim (Hà Nam), 3 vị Minh Sắc ở Mạch Lũng (Hà Nội), 3 vị ở làng Lạng (Hà Nam), 3 vị Long tộc ở Tiên Lý (Hà Nam), 3 vị ở Ngọc Lịch (Hưng Yên), 3 vị ở Lương Quy (Hà Nội), 3 vị Long vương ở Bình Hồ (Hưng Yên). Ít phổ biến hơn là cặp 2 anh em thủy thần như Nguyễn Thiện, Nguyễn Vực ở Tường Thụy (Hà Nam), Minh Lang và Sát Hải ở Đồng Lý (Hưng Yên), Đài Vàng và Sô Tha ở Thượng Phúc (Hà Nội), Bạc Công và Chân Công ở Nhị Mễ (Hưng Yên), Cao Đài và Quý Minh ở Đồng Luân (Hà Nội), Giang Công và Trâu Công ở Dương Húc (Bắc Ninh). Cũng có một số cụm di tích thờ 4 anh em thủy thần như 4 vị Linh Lang ở Vĩnh Bảo (Hải Phòng), 4 vị Vua Vàng ở Tiền Hải (Thái Bình), 4 vị họ Trần ở Phạm Xá (Hải Dương). Trong sự tích các bộ thủy thần anh em thường có việc đi trị thủy tai, đánh nhau với các tướng thủy tề, chém chết hóa giao long. Trong số các vị thủy thần đơn lẻ có thể kể đến Khai Thông ở Thanh Miện (Hải Dương), Đàm Gia ở Thượng Trì (Hà Nội), Hùng Hiển ở Sen Hồ (Hà Nội).

Khá nhiều vị thủy thần mang họ Hùng (với nghĩa là dòng dõi Hùng Vương – Lạc vương) và phần lớn các vị đều có họ. Trong tên các vị thủy thần thường có các chữ Lang, Long, Vàng, Minh, Hải, Vực. Chức vụ của các vị thường là Đốc lĩnh Long chu Thủy đạo hay tương tự. Khi hóa các vị đều về sông, xuống thuyền rồng hay hóa thành rồng mà hóa. Đáng chú ý là hầu hết các thủy thần thời đánh giặc Ân không xuất hiện theo dọc sông Hồng mà ở các dòng sông nhỏ hơn như sông Cầu, sông Đuống, sông Châu Giang, sông Đáy hay khu đất trũng Khoái Châu, Ân Thi của Hưng Yên. Một số di tích thủy thần gặp vùng ven biển xa về phía Đông ở Hải Phòng, Thái Bình, nhưng lại không thể hiện là “hải thần” trong tên gọi.

7. Sơn – Thủy – Thiên thần: các vị thủy thần còn phổ biến hơn nữa khi xuất hiện trong các cụm di tích dưới dạng phối với các sơn thần hay thiên thần. Có 51 di tích như vậy thờ 21 vị thần. Sơn thần phối với Thủy thần như cụm di tích làng Rùa ở Hà Nội, Hùng Sơn (sơn thần) và Hùng Long (thủy thần) ở cụm các làng Ngang (Bắc Ninh), cụm thờ Bột Hải Đại vương và các tướng sơn thần ở Thái Đường (Hà Nội). Thiên thần thường phối với số lượng ít hơn như 3 vị ở Đại Lâm (Yên Phong, Bắc Ninh), 5 vị ở Đại Toàn (Bắc Ninh), 3 vị ở Chúc Sơn (Hà Nội). Đáng ngạc nhiên là ngay cả khi thần tích ghi rằng các vị là anh em sinh cùng bọc nhưng vẫn có thể có vị là thủy thần, có vị lại là thiên thần.

8. Nhân thần: một nhóm đông đảo các vị được thờ phụng là những nhân thần xuất thân từ nhân dân hoặc các quan tướng. Có tới 72 di tích thờ 39 vị thần thuộc nhóm này. Đứng đầu nhóm có lẽ là vị Châu Đô Thống Bùi Duy Trí có sự nghiệp gắn liền với Phù Đổng Thiên Vương, mộ hiện ở làng Phù Đổng (Bắc Ninh). Cùng nhóm này cũng xếp vị Khương Thượng (Khương Tử Nha) được thờ ở nghè làng Kiều tại Sầm Sơn (Thanh Hóa). Cũng ở khu vực Phù Đổng có một loạt các tướng như Bạch Sam và vợ là Lý Nương ở Hiệp Phù, Trấn Quốc ở miếu Chợ Phù Đổng, Quách Lân ở đền Ghênh Trung Mầu. Người đúc ngựa sắt cho Phù Đổng được thờ là Hỏa Nhạc Đại vương, thờ tại Lương Quán (Đông Anh) và Phù Lỗ (Sóc Sơn). Hai anh em cầm vồ theo Thánh Gióng là 2 vị Nguyễn Tam Giang ở Nghiêm Xá (Bắc Ninh).

Ở từng khu vực có những vị tướng là nhân thần đánh giặc Ân đặc trưng cho khu vực đó, hình thành những cụm di tích riêng biệt. Như Lý Tiến ở Hà Nội, Vũ Lang Nữu ở Lý Nhân (Hà Nam), Đỗ Phụng Trân ở Thái Bình, Phạm Phúc ở Duy Tiên (Hà Nam), Vũ Hồng và Vũ Lê Hoa ở Hải Phòng, Hùng Sơn ở Cát Hải, 3 vị ở Đông Ngàn (Hà Nội), Văn Khúc, Văn Xương ở Gia Lâm (Hà Nội), Nam Giang Chàng ở Giám (Hải Dương), Trâu ở Phù Tinh (Hải Dương), Lã Uy, Lã Hưng ở Phù Dực (Hưng Yên), 7 anh em họ Tạ ở Phủ Điềm (Hưng Yên), 3 vị họ Hùng ở Vĩnh Phúc…

9. Nhóm không chắc chắn thời Ân: có khoảng 22 di tích với 16 vị thần được thờ với những tư liệu để lại không chắc chắn là các vị tướng thời đánh giặc Ân. Ví dụ như hai vị Minh Vũ, Minh Hán ở Đào Viên (Bắc Ninh), 5 vị ở đền Năn tại Ninh Bình, Trình Lang ở Nam Định, một số vị có được nhắc đến ở Phú Thọ nhưng không còn di tích rõ ràng…

Cuối cùng là có một số vị thần tuy là ghi chép vào thời đánh giặc Ân nhưng xét kỹ thì là nhân vật ở thời khác. Điển hình là Cao Minh Cư sĩ ở Yến Vĩ (Hà Nội) thực ra là Lão Tử (thời kỳ nhà Chu, muộn hơn). Hay Cốt Tung ở Mê Linh theo bản khai thần tích trước đây thì ở vào thời Hùng đánh Thục. Vị Quảng Độ ở Song Liễu (Hà Nội) nhiều khả năng là Sĩ Nhiếp (Đặng Nhượng, Tích Quang) hơn là ở thời đánh giặc Ân. Vị Lê Phúc Đồng ở Thiều Xá (Thanh Hóa) cũng khả năng không phải thời đánh giặc Ân mà ở thời Lê.

Với hơn 200 vị thần thờ phụng ở hơn 320 di tích trên địa bàn 15 tỉnh thuộc đủ các nhóm Thiên thần, Sơn thần, Thủy thần, Nhân thần thì có thể nói thời kỳ đánh giặc Ân thực chất đã hình thành hệ thống tín ngưỡng thờ thần rất đầy đủ ở nước ta. Khương Thái Công thống lĩnh quân đội nhà Chu (Châu Đô Thống) với các thiên tướng là Phù Đổng Thiên Vương, Thiên Cương, Thiên Bồng và 10 bộ Sơn thần dòng Âu Cơ, 10 bộ Thủy thần dòng Lạc Long cùng quân dân cả nước đã làm nên chiến thắng lịch sử, phá tan giặc Ân, lật đổ Trụ Vương, lập nên cơ nghiệp thiên thu cho nước Văn Lang, đặt ra trăm quan, phong cho trăm thần, định ra trăm họ…

Hoành phi Bách thần nguyên tự ở đền Phù Đổng, Gia Lâm.

VĂN LANG MỞ VẬN

Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Từ thủa Âu Cơ mở vận Càn
Tụ nghĩa Ái Châu nuôi chí lớn
Dựng cờ Sóc lĩnh vượt gian nan
Sơn Nam sông núi Thiên thần trấn
Nước trắng Hồng Châu Lạc tướng dàn
Phù Đổng tiếng hô như sấm thét
Châu Sơn chôn dấu Thạch Linh tàn.