Bạn có biết: Vua Hùng đã cùng với Lão Tử trừ yêu quỷ và dời đô về thành Cổ Loa

Vua Chủ trong lễ hội Thụy Lôi – đền Sái năm 2026.

Truyện Rùa vàng trong Lĩnh Nam chích quái chép: “(An Dương Vương) xây thành ở đất Việt Thường, nhưng hễ đắp tới đâu lại lở tới đấy, vua bèn lập đàn trai giới, cầu đảo. Ngày mồng 7 tháng 3, bỗng thấy một cụ già từ phương đông tới trước cửa thành, than rằng: “Xây dựng thành này biết bao giờ mới xong được!”. Vua đón vào trong điện, vái và hỏi rằng: “Ta đắp thành này đã nhiều lần nhưng cứ bị sập đổ, tốn nhiều công sức mà không thành, thế là cớ làm sao?”. Cụ già đáp: “Sẽ có sứ Thanh Giang tới, cùng nhà vua xây dựng mới thành công”, nói xong từ biệt ra về…”.
An Dương Vương trong truyện này là một vị vua Hùng thời kỳ nước Văn Lang từ Âu Cơ lập quốc ở Phong Châu, nay chuyển dời kinh đô về phía Đông tại Đông Ngàn Cổ Loa mà xây thành.

Dấu tích của sự kiện chém Bạch Kê tinh xây thành Cổ Loa là lễ hội làng Thụy Lôi (Đông Anh, Hà Nội) hàng năm tổ chức vào ngày 11/1 âm lịch với tục rước “Vua sống” (An Dương Vương) và “Chúa” (Thanh Giang sứ giả) cùng các quan quân từ đình Thụy Lôi đến bái yết Huyền Thiên Trấn Vũ ở trên núi Võ Đang (núi Sái) và làm phép chém Bạch Kê tinh ở dưới chân núi.
Câu đối ở đình Thụy Lôi:
Hà nhạc an dân, Kê sùng tận Quỉ tinh trừ, bái Giang sứ
Thục Ngô kiến quốc, Loa thành thụ xuân hội trí, tạ Sơn thần.
Dịch:
Núi sông yên dân, Gà trắng chết, Quỉ tinh trừ, bái Thanh Giang sứ
Thục Ngô dựng nước, Loa thành đắp, hội xuân bày, tạ Cao Sơn thần.
Như vậy “cụ già” mà Truyện Rùa vàng nói đến chính là vị thần trên núi Sái – Huyền Thiên Trấn Vũ, người đã cử thần Kim Quy đến giúp An Dương Vương xây thành Cổ Loa.

Đình Thổ Hà (phường Vân Hà, Bắc Ninh nay) nằm cách không xa núi Sái. Cụm di tích quốc gia đặc biệt Thổ Hà thờ Lão Tử Lý Nhĩ Đam làm thành hoàng. Bia Cung sao sự tích thánh tại đình Thổ Hà ghi: Đời vua Thục An Dương Vương phả lục chép rằng có một vị đại vương cấp bậc Thượng đẳng thần thuộc bộ Càn Hào. Sau khi Hùng Vương thứ 18 mất ngôi, vua An Dương Vương nối ngôi. Có một người từ Bắc quốc đến đạo Kinh Bắc, phủ Bắc Hà, huyện An Việt và ở nhờ chùa Đoan Minh Tự của trang Thổ Hà. Ngày đêm giảng kinh đọc sách, có sức màu nhiệm như thần, trong trang có nhiều con em theo học.
Một hôm Người bảo học trò rằng: ta sinh ra từ thủa Hồng Mông, trời đất mới mở mang, cho nên ta thông minh khác thường. Năm xưa mẹ ta kể chuyện rằng: mẹ vốn là người từ bi, huyền diệu mà sinh ra, tên là Mỹ Thổ Hoàng. Có một đêm mẹ ta nằm mơ thấy nuốt một vì sao ngưu tinh, thế là mẹ có thai đủ 81 năm. Đến ngày 7 tháng giêng năm Canh Thìn nách tay phải của mẹ rung động rồi sinh ra ta. Khi ta mới ra đời đầu đã bạc, chân có chữ, ta không có bố, khi đẻ mẹ vịn vào cây mận cho nên lấy họ ta là Lý, tên là Lão Đam, tên chữ Lý Bá Dương, lại có tên là Thái Thượng.
Quanh vùng nơi ở của người không ai xảy ra tật bệnh, nên người trong trang thường bảo nhau rằng: đó là khí sinh thánh tổ, chẳng phải người thường, các nơi cũng đến xin làm thần tử. Từ đó danh vang thiên hạ, người đến theo học càng đông.

Đặc biệt là đoạn thông tin từ bia Cung sao sự tích thánh ở Thổ Hà kể về việc Lão Tử đã giúp An Dương Vương trừ yêu quỷ xây thành Cổ Loa: Vua (Thục An Dương Vương) xây thành (Cổ Loa) có những u hồn và tà ma quấy nhiễu, cứ xây xong lại đổ. Vua lo lắm, liền xa giá đến Thổ Hà trang cầu đảo. Chợt có thần nhân hiện lên bảo vua rằng: xin vua cứ hồi kinh, không lo ngại gì. Rồi Người sai Thanh Giang sứ (tức thần Kim Quy) đến giúp, giết Bạch kê tinh trong núi Thất Diệu, lại đào được hài cốt Bạch kê đem đốt đi, từ đó yêu ma tan hết, lại đào thấy nhạc khí thời cổ (như chiêng trống đồng).

Câu đối treo hai bên bức cửa võng – bảo vật quốc gia của đình Thổ Hà:
Quy giải hiệu linh, Thất Diệu sơn trung truyền dịch quỷ
Long năng thừa hóa, ngũ vân trang hạ ký đăng tiên.
Dịch:
Rùa biết nghiệm linh thiêng, núi Thất Diệu truyền chuyện sai khiến quỉ
Rồng tài mau biến hóa, trang Ngũ Vân lưu tích bốc lên tiên.

So sánh 2 sự tích ở đình Thổ Hà và đền Sái có thể thấy rõ vị thần Huyền Thiên Trấn Vũ chính là Lão Tử, người tu hành tại Thổ Hà và đắc đạo lập nghiệp ở núi Võ Đang (núi Sái). Sự kiện Lão Tử giúp vua Hùng (An Dương Vương) trừ yêu quỷ xây thành khi dời đô về Cổ Loa còn được nhắc đến ở nhiều di tích khác thờ Huyền Thiên Trấn Vũ như ở đền Quán Thánh bên hồ Tây (Hà Nội), quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai (Hà Nội) hay thậm chỉ cả ở động Thiên Tôn ở Hoa Lư – Ninh Bình.

Về hàng trạng của Lão Tử tấm bia cổ đời Hán Hoàn đế (146-167) có tên “Lão Tử minh” chép: Lão Tử là quan coi thư viện nhà Chu. Thời U vương, vùng ba sông bị động đất. Lão Tử dựa vào những biến động của nhị khí âm dương về thời Hạ, Thương, để cảnh cáo nhà vua.
Có thể thấy truyền thuyết An Dương Vương xây thành Cổ Loa và cơn “địa chấn” lúc giao thời Tây – Đông Chu chỉ là một. Diễn biến việc này có thể như sau: Lão Tử sống vào cuối thời Tây Chu (Chu U Vương) sang tới đầu thời Đông Chu. Khi nhà Chu chuyển về phía Đông, tới vùng Tam Xuyên – Tam Giang, thì gặp trận động đất lớn. Thành Lạc Dương (Cổ Loa) bị rung chuyển. Lão Tử là vị quan thủ thư, cũng là vị “vu sư” của nhà Chu khi đó, nhân việc này mà nói là âm khí của thời Hạ Thương phát hại, nhằm răn khuyên thiên tử Chu. Truyền thuyết Việt chép thành vua Thục xây thành Cổ Loa bị đổ, phải nhờ Lão Tử phái Thanh Giang sứ giả tới giúp dẹp yêu quỷ thì thành mới xây được.

Câu đối ở tại đình Thổ Hà khẳng định việc Lão Tử đã thành nghiệp ở chính đất Việt dưới thời nhà Chu – Văn Lang của vua Hùng:
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch nghĩa:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng giữ thanh hư mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền màu nhiệm tạo Thần Tiên.

Thanh Giang sứ giả (thần Kim Quy) trong lễ hội Thụy Lôi năm 2026.
Bức Cửa võng đình Thổ Hà được công nhận là bảo vật Quốc gia với đôi câu đối về việc Lão Tử trừ yêu quỷ trên núi Thất Diệu.
Các quan tướng trong đoàn rước lễ hội Thổ Hà 2025.
Tượng Lão Tử ở chùa Bổ Đà, phường Vân Hà, Bắc Ninh.

Bạn có biết: Thục Phán là vị vua Hùng đặt ra trăm họ người Việt

Tượng Hùng Linh Công đánh giặc Ân ở Hiệp Hòa, Bắc Giang.

Người Việt nào cũng biết câu chuyện về mẹ Âu Cơ cùng 50 người con trai về Phong Châu lập nước Văn Lang nhưng nếu đọc kỹ hơn đoạn truyện này trong Lĩnh Nam chích quái lại thấy còn có nhiều điều mà người xưa đã truyền lại về thời lập quốc của nước ta: Âu Cơ cùng 50 con sống ở Phong Châu (Nay là huyện Bạch Hạc) cùng nhau suy tôn người con cả lên làm vua, hiệu là Hùng Vương, lấy tên nước là Văn Lang, Đông giáp Nam Hải, Tây tới Ba Thục, Bắc tới hồ Động Đình, Nam tới nước Hồ Tôn Tinh (nay là Chiêm Thành). Chia nước ra làm 15 bộChia cho các em cùng nhau chia trị các nơi đó. Lại đặt các thứ tự tướng văn, tướng võ, tướng Văn gọi Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng. Con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan gọi là Bồ Chính, người hầu trai gái gọi là Sảo – Nhỏ (còn gọi nô tỳ). Bề tôi của vua gọi là Côi, đời đời cha truyền cho con, gọi là Phụ đạo, đều xưng là Hùng Vương, không hề thay đổi.

Người lập nên nước Văn Lang là người con trưởng của Âu Cơ, xưng là Hùng Vương. Thiên hạ của Hùng Vương rộng mênh mông, được chia thành 15 bộ và giao cho các em cùng nhau chia trị các nơi, đời đời cha truyền con nối (phụ đạo). Như vậy vị Hùng Quốc Vương con trưởng là người đã mở đầu chế độ “phong kiến”, phong đất và kiến lập các chư hầu. Mỗi một người anh em được phong một vùng đất, được quyền phụ đạo cha truyền con nối qua các đời. Chính việc phong đất và phụ đạo này đã hình thành các dòng họ Việt, bởi dòng họ nghĩa là có quan hệ phụ đạo thế tập quyền quản lý vùng đất phong. Trăm họ người Việt hình thành dưới thời Hùng Quốc Vương qua sự phân phong thế tập các nước chư hầu, các vùng đất trong thiên hạ họ Hùng.

Hệ thống chính quyền “nhà nước” phong kiến cũng đã hình thành dưới thời Hùng Quốc Vương mà được Truyện họ Hồng Bàng nêu rõ: người đứng đầu xưng là Hùng Vương, tướng văn gọi là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng, các quan gọi là Bồ Chính, người hầu là Nô tỳ, bề tôi xưng là “Côi” (Tôi?).

Sự kiện phân phong chư hầu, đặt ra trăm họ này còn được kể ở nhiều câu chuyện khác. Như trong Truyện Bánh chưng sau khi Hùng Vương truyền ngôi cho Lang Liêu thì Hai mươi mốt anh em kia đều chia nhau giữ các phiên trấn, lập làm bộ đảng, trấn thủ những nơi núi non hiểm trở. Đáng chú ý là sự kiện này được kể xảy ra vào thời đánh giặc Ân: Vua Hùng sau khi phá xong giặc Ân rồi, trong nước thái bình, nên lo việc truyền ngôi cho con, mới hội họp hai mươi hai vị quan lang công tử lại mà bảo rằng: “Đứa nào làm vừa lòng ta, cuối năm đem trân cam mỹ vị đến dâng cúng Tiên Vương cho tròn đạo hiếu thì ta sẽ truyền ngôi cho”. “Vua Hùng” đánh giặc Ân trong Truyện Bánh chưng như vậy là chỉ Âu Cơ Văn Lang. Còn vị Lang Liêu kế ngôi chính thống là Thừa Văn Lang, tức Hùng Quốc Vương, người con trưởng của Âu Cơ.

Trong bài trước đã xác định Âu Cơ là Thục Vương, người đánh thắng Sùng Hầu nhà Ân Thương ở trên đất Lạc, rồi dời đô về Phong Châu, lập nước Văn Lang. Như thế, người nối ngôi Văn Lang của Âu Cơ là Thục Phán, tức Thục Vương tử. Âu Cơ Văn Lang là Văn Vương Cơ Xương thì người diệt Ân lên ngôi thiên tử là Vũ Vương Cơ Phát. Có thể thấy tên gọi Phán và Phát cận âm.

Vũ Vương Cơ Phát – Thục Phán sau khi nhận ngôi của “vua Hùng” Văn Lang (Văn Vương Cơ Xương) đã lên núi Hùng dựng cột đá, thề trung thành với Quốc tổ họ Hùng. Sự kiện này thực ra mang ý nghĩa là là Thục Phán xưng mình là Thiên tử của cả Thiên hạ, bởi ông Trời Trung Hoa là vị quốc tổ họ Hùng Hiên Viên Hoàng Đế, vốn mang họ Cơ. Cơ Phát lập cột đá thề là muốn khẳng định mình là chính dòng Hoàng Đế, tức là Thiên tử. Các truyền thuyền cũng chép Thục chủ là con cháu của Hoàng Đế họ Hùng.

Dấu tích của sự kiện lập Thiên hạ, đặt ra trăm quan, phân chia trăm họ thời kỳ này không chỉ có cột đá thề trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh, mà còn là những chiếc nha chương (những thẻ lệnh bằng ngọc) có niên đại thời Ân Thương được phát hiện tại Phùng Nguyên và Xóm Rền ở Phú Thọ. Những chiếc nha chương quyền uy này nay đã được công nhận là bảo vật quốc gia, khẳng định tính chất lịch sử của sự hình thành chế độ nhà nước phong kiến vào cuối thời Ân, sang thời Chu Văn Lang.

Việc hình thành các dòng họ qua phong tước thế tập còn lưu truyền ở vùng Đan Nê (Thanh Hóa), nơi có đền Đồng Cổ thờ thần trống đồng. Tại đây còn lưu được một vế đối đặc biệt về việc 3 dòng họ Trịnh, Lưu, Hà đã kiến lập đất đai dưới thời Hùng Quốc Vương:
Vật lưu Bách Việt tổ
Kiến ấp Trịnh, Lưu, Hà. 
Trống đồng là vật phẩm được dùng khi phong tước kiến địa nên nó gắn liền với việc hình thành các dòng họ.

Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả kể rằng, trăm người con trai khi đã trưởng thành, nhưng trong triều không có ai có thể phân biệt được trưởng thứ và tên gọi. Hiền Vương lập đàn cầu trời thì có một vị Tiên ông xuất hiện, cầm gậy trúc, rửa chân trên bàn đá ở cạnh chùa Hoa Long bên bến sông Việt Trì. Vua cho mời Tiên ông vào hỏi chuyện và nhờ giúp cho việc đặt tên trăm người con trai. “Tiên ông lấy bút viết ra, đặt trăm tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc âu vàng, phân định thứ bậc anh em. Trăm hoàng tử đến hội ở chính điện, mà nhận chữ đề tên, trong tên có cùng một tiếng. Một người là con trưởng, theo như lời định được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước âu vàng nhận danh hiệu được ban”.

Việc phân định trưởng thứ cũng tương tự như truyện Lang Liêu, tức là chọn ra người nối ngôi. Còn những người anh em khác thì được phân phong làm bách vương ở các nước chư hầu. Việc đặt tên cho trăm người con trai chính là việc đặt ra trăm họ người Việt bởi mỗi cái tên phong đó được cha truyền con nối, là họ của các quý tộc dòng dõi Hùng Vương. Chiếc Âu vàng ghi tên bách vương trăm họ đã trở thành biểu tượng của đất nước như trong câu thơ của vua Trần Nhân Tông: Non sông ngàn thủa vững âu vàng.

Nha chương thời Ân – bảo vật quốc gia ở Phú Thọ.
Khu vực đền Đồng Cổ ở Đan Nê, Thanh Hóa.
Một chiếc âu có đúc chữ đề tên các vị vua thời kỳ Văn Lang.