Phả chép về một vị công chúa âm phù triều Hậu Lý Thánh Tông
Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Bản chính bộ Lễ quốc triều.
Xưa nước Việt ta trời đất định lập, Ly Khảm phân phương hướng. Thành Tổ Hùng Thị mở vận ứng cơ đồ. Nước biếc một dòng mở đạo đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm dựng nền cung điện hùng đô. Giúp vật cứu người thống quản 15 bộ thế át phiên chư hầu. Lấy vua mà trị quốc hơn hai ngàn năm giữ vững dòng giống như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh. Lưu hương khói ở núi Hùng. Tất cả 18 đời ngự trị nước Nam đều lấy Hùng Vương làm tôn hiệu. Người đời sau có thơ rằng:
Hùng gia sáng nghiệp tối du trường
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Nghĩa Lĩnh, Hùng Sơn tồn cựu tích
Lưu truyền huyết thực vĩnh vô cường [cương].
Xưa nước Việt thời Hậu Lý Thánh Tông tên là [Nhật] Tôn, là con trưởng của vua Thái Tông, kế thừa tổ tiên gây dựng, con cháu vun đắp mà truyền thời thịnh vượng. Trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, hết lòng để hưng bình mà làm yên Trung Quốc. Có lòng yêu dân, mở khoa tuyển quan để chọn người tài. Nuôi oai tích khí để dẹp giặc Chiêm. Lúc ấy có quân Chiêm, Tống cùng nhau làm loạn, khởi binh ở đất Khâm Châu. Quâng thanh vang động. Vua vô cùng lo lắng, ngay hôm đó cho triệu tập các quan cùng bàn kế sách tiến công dẹp giặc. Thế rồi có vị quan tâu rằng:
- Uy đức của Bệ hạ vang khắp hải ngoại, nước giàu quân mạnh. Nay có giặc Tống Chiêm làm loạn đến xâm chiếm nước ta. Chúng thần tự xin được thay vua chọn lựa các tướng tài đem quân đi trước tuần phòng các đạo. Giặc chẳng qua vài ngày là dẹp yên.
Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó giao cho các tướng nhân quân thủy bộ đường đường mà ra trận. Vua mới úy lạo các tướng bằng một bài thơ:
Tam quân lẫm lẫm sơn trùng quan
Vạn lý tinh kỳ vạn lý an
Thảo tặc trung thần danh giá trọng
Sự quân nhất tiết cảm từ nan.
Khi đó vua mới cất 2 ngàn quân lính, trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống vang động nghìn núi. Đi khắp bốn phương, yên định thiên hạ, xem xét núi sông, nhàn ngắm biển đảo. Một hôm đi đến khu Cổ Miếu trang Bình Lâm huyện Yên Phong đạo Kinh Bắc (xưa là quận Vũ Ninh) thì mặt trời đã khuất sau núi. Lại gặp quan Tống Chiêm theo đường núi tiến đến. Vua bèn cùng các quân tướng đóng quân ở nơi miếu. Buổi đêm đến cuối canh ba, vua nằm mơ thấy có một người con gái phong tư yểu điệu, nhan sắc đặn đầy, có dung nhan chim sa cá lặn, có vẻ mặt hoa nhường nguyệt thẹn, tuyệt mỹ vô song, theo con đường trước miếu mà đến tâu rằng:
- Thiếp cũng là con gái họ Lý trước đây, vâng chiếu của Thiên đế trấn trị địa phương, nhà ở đất này. Tên gọi là Ả Nguyệt Nga. Nay gặp bệ hạ thân chinh dẹp giặc, thiếp đến yết kiến tự xin được âm phù dẹp giặc lập công. Để ngày sau được tỏ vị.
Nói xong thì biến mất (khi đó là 12 tháng Tám). Lúc ấy vua tỉnh lại nhờ biết giấc mộng đó. Sáng ngày vua cho gọi các phụ lão đến hỏi cho rõ ràng. Người già tâu rằng:
- Khu vực của thần đúng là có thờ phụng một vị âm thần, rất là linh thiêng.
Vua nghe vậy bèn làm lễ bái tạ, ban thêm cho 5 nén vàng để ngày sau sửa sang nơi thờ cúng. Ngày hôm sau vua dẫn quân đi đến xứ Khâm Châu, cùng đánh một trận. Quân Tống Chiêm thua to. Chém được tướng chính và các tướng sĩ vài ngàn đầu. Thu hoạch được khí giới, lương thực, xe ngựa vô số. Vua dẫn quân đôi khải hoàn về kinh, mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ theo cấp bậc. Nhân đó nói rằng;
- Quân Tống Chiêm dẹp yên được cũng là nhờ có thần âm phù giúp.
Bèn phong thêm cho trăm thần, sai sứ mang sắc phong cho vị thần tên hiệu. Phong Ả Nguyệt Nga Công chúa, tặng phong Huệ hoà Trinh tĩnh Thái hoa Cảnh thiền Công chúa. Sắc chỉ ban cho khu Cổ Miếu trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay!
Vâng khai ngày thần hiện cùng với các ngày húy cấm, hai chữ Nguyệt, Nga. Cho phép khu Cổ Miếu trang Bình Lâm thờ phụng.
Ngày thần hiện là 12 tháng Tám. Chính lễ dùng cỗ chay, phẩm quả, ca hát.
Năm đầu Hồng Phúc ngày tốt đầu xuân, Hàn lâm Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.
Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản chính vâng chép.
Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1044 – 1040.