Ngọc phả cổ do Thượng thư quốc triều vâng soạn về dòng dõi trăm trứng triều Hùng gồm tứ vị Thủy thần Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Lục Cung Uy Đại vương.
Xưa nước Việt ta ở phương Nam, núi sông thuộc khu vực sao Dực, sao Chẩn, ứng về phương Đẩu, phương Ngưu. Từ thuở đầu dựng nước, nối vận lớn của Thánh tổ Kinh Dương Vương, non sông muôn dặm, dựng nền thành đô cung điện, mở mang muôn vật, cứu giúp nhân dân, thống lĩnh mười lăm bộ nước Đại Việt.
Đến thời Hùng triều truyền đến vua Huy Vương, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng quốc hiệu là Văn Lang, kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua chiêu tập anh tài, dùng người hiền giúp sáng đức lớn, sửa sang lễ nhạc văn trị, ngoài giữ biên cương, khiến các phương xa mến phục nghĩa đức. Vận nước hưng thịnh, giáo hóa nhân dân, phong tục trở nên tốt đẹp, thiên hạ đều xưng tụng là bậc vua quý báu.
Xét thuở xưa, Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình tên là Âu Cơ, lập làm chính cung. Một hôm trở về núi Nghĩa Lĩnh, bỗng thấy mây lành năm sắc, bốn phương rực rỡ, rồi mang thai ba năm. Đến ngày ba mươi tháng ba đủ kỳ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành một trăm con trai, đều có khí tượng anh hùng cái thế.
Khi các con đã trưởng thành, vua bèn chia nước làm mười lăm bộ: Một là Sơn Tây. Hai là Sơn Nam. Ba là Hải Dương. Bốn là Kinh Địa (Bắc?). Năm là Hoan Châu. Sáu là Ái Châu. Bảy là Bố Chính Châu. Tám là Ô Châu. Chín là Hưng Hóa. Mười là Tuyên Quang. Mười một là Cao Bình. Mười hai là Lạng Sơn. Mười ba là Quảng Đông. Mười bốn là Quảng Tây. Mười lăm là một châu khác (Ai Lao?).
Khi ấy Lạc Long Quân cùng Âu Cơ chia biệt nhau. Năm mươi con trai theo cha xuống biển làm thủy thần. Năm mươi con trai theo mẹ lên núi làm sơn thần, trấn giữ các nơi. Từ đó về sau thường hiển linh cứu nước giúp dân.
Lại nói thời nước ta, tại đạo Hải Dương, phủ Thượng Hồng, huyện Đường, xã Mộ Trạch, có một nhà họ Cao, lấy người họ Trần làm vợ. Ông Cao là người thông minh sáng suốt, dũng mãnh hơn người, tinh thông văn học, kiêm giỏi võ nghệ, có sức mạnh trăm người khó địch, được cử làm chủ quan bộ Sơn Nam.
Chủ quan bái tạ nhận mệnh, đem quân đóng tại Sơn Nam Hạ đạo. Một hôm nhàn rỗi đi xem núi sông phong cảnh, đến xã Vũ Lăng huyện Chân Định, thấy một vùng đầu sông có dải đất uốn như rồng chạy, ruộng rộng nước quanh, cây cối tốt tươi, dân cư đông đúc, phong tục thuần hậu.
Lại thấy thế đất quý như rồng chầu hổ phục, sao Kim ứng đối. Chủ quan nhìn mãi không chán, bèn dừng xe giá. Dân chúng đều làm lễ chào mừng. Chủ quan truyền dân dựng hành cung, lấy nơi ấy làm chỗ xe giá ngự đến, giáo hóa dân chúng, khuyên chăm nghề nông tang.
Nhờ vậy dân lấy nông tang làm gốc mà hưng thịnh, trừ bỏ mọi điều hại dân. Không một người nào không được yên ổn sinh sống, không một vật nào không được nuôi dưỡng.
Qua ba tháng, vào mùa hạ tháng sáu, phu nhân xuống bến sông tắm gội. Đang khi tắm, bỗng thấy giao long cùng cá lớn, ba ba từng lớp kéo đến chầu quanh. Lại có một con giao long lớn dài hơn một trượng, quấn quanh thân phu nhân ba vòng. Phu nhân kinh hãi ngất đi. Chốc lát sau, giao long cùng các loài thủy vật đều biến mất. Phu nhân tỉnh dậy, lên bờ trở về cung. Giữa đường gặp chủ quan. Chủ quan nghe chuyện rồi đoán rằng:
“Giao long giao cảm cùng phu nhân, ấy là mệnh của thủy thần Long Hầu nơi Động Đình Thủy Đế, tức là điềm Long Hầu giáng thế.”
Từ đó phu nhân bỗng có thai, mang thai đủ mười bốn tháng. Đến ngày mồng mười tháng tám năm Bính Ngọ, sinh ra một bọc bốn trứng, nở thành bốn con trai. Bốn người dung mạo đường đường, đều mang nét mặt rồng rắn, hai tay có lông lạ mọc ngược lên, hình tướng khác thường. Chủ quan cho là điềm lạ, bèn lập hai nơi hành cung để bốn công tử cư ngụ nuôi dưỡng.
Ngày qua tháng lại, xuân sinh hạ trưởng, chẳng bao lâu đã lớn khôn. Chủ quan làm biểu tâu lên vua. Vua sai sứ giả triệu cả bốn về triều vào chầu. Bốn người làm lễ xong, đối đáp trôi chảy như nước chảy, lại bày ra tài năng kỳ lạ và phép thuật khác thường. Vua rất vui, bèn ban tên hiệu:
Người thứ nhất là Chàng Cả
Người thứ hai là Chàng Hai
Người thứ ba là Chàng Ba
Người thứ tư là Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương
Cho ở lại giúp triều đình, cùng lo việc nước.
Qua ba tháng, có giặc phương Bắc, tướng tên Thạch Linh Thần Tướng, thống lĩnh mười vạn quân kéo sang xâm lược nước ta. Tin báo biên cương dồn dập, một ngày ba lần vào triều. Vua rất lo lắng, bèn sai trăm quan lập trai đàn tại Long đình, triệu quần thần hội họp cầu kế.
Ba ngày sau, bỗng nổi gió lớn, sấm sét, mưa dữ. Hiện ra một ông lão cao lớn hơn chín thước, râu tóc bạc trắng, ngồi nơi ngã đường cười nói tự nhiên. Dân chúng tâu lên vua. Vua thân đến đón vào đàn, làm lễ rồi hỏi:
“Nay có giặc Bắc kéo sang, việc thắng bại ra sao?”
Ông lão đáp:
“Nếu tìm được người ấy thì giặc này chẳng khó dẹp.”
Nói xong bay thẳng lên trời.
Vua biết đó là Lạc Long Hầu hiển linh báo ứng, lập tức sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài đánh giặc. Một hôm sứ giả đến vùng Vũ Ninh, gặp nhà một phú ông có đứa con trai tên Thiết Xung Thần Vương, mới ba tuổi, ăn uống rất khỏe nhưng chưa biết nói cười. Mẹ đứa trẻ cười nói:
“Con ta chỉ biết ăn uống, chưa thể đánh giặc báo nước.”
Bỗng đứa trẻ cất tiếng nói với sứ giả:
“Mau về tâu vua, rèn cho ta ngựa sắt cao mười tám thước, kiếm sắt dài mười trượng, đem đến cho ta. Giặc ấy chẳng khó dẹp.”
Sứ giả trở về tâu đủ. Vua mừng lớn, lập tức sai thợ giỏi rèn ngựa sắt và kiếm sắt đúng như lời dặn. Rồi sai bốn vị Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Công, theo cùng Thiết Xung Thần Vương (Thánh Gíong ) đi đánh giặc.
Bấy giờ bốn vị thống lĩnh quân thủy tộc gồm rồng rắn, cá lớn, ba ba, cưỡi sóng tiến đi theo đường nước, thẳng đến cửa biển Thần Phù. Đại chiến hơn hai mươi trận, đánh tan quân Ân. Thần Vương rút kiếm sắt chém tướng giặc Thiết Lôi Thần Tướng thành ba đoạn, ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến binh rồi khải hoàn về triều. Vua nghe tin rất mừng, truyền mở đại yến, giết trâu dê gà lợn, ban thưởng công thần lớn nhỏ theo công trạng.
Lại gia phong:
Chàng Cả làm Vua Vàng Lân Hầu Đại Tướng Quân.
Chàng Hai làm Vua Vàng Long Hầu Đại Tướng Quân.
Chàng Ba làm Vua Vàng Bạch Long Đại Tướng Quân.
Tá Công làm Lục Cung Uy Diệu Đại Tướng Quân .
Cho các vị chia nhau trấn giữ các đạo Sơn Tây, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Hải Dương, Kinh Bắc và nhiều nơi khác. Các vị giúp coi việc nước suốt hai mươi năm. Từ đó thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự, muôn dân vui phục, bốn biển hưởng cảnh thái hòa. Về sau lại có giặc dữ nổi lên, cướp phá vùng Kỳ Môn, Hải Dương, cửa biển Thần Phù. Chúng dùng yêu pháp gây thiên tai, dịch bệnh, dân chúng đói khổ lưu lạc, chết chóc vô số. Vua lại sai sứ thần triệu các vị về kinh đánh giặc. Ngay trong ngày các vị về chầu. Vua giao cho mười vạn quân, ba mươi đạo chiến thuyền, năm trăm lầu thuyền kéo đi thảo phạt. Đến cửa biển Thần Phù, lại bắt được Thiết Lôi Thần Tướng, chém làm ba đoạn ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến quân. Dân chúng khắp nơi dựng đàn cầu trời đất và thần sông cứu giúp. Các vị phá đê dẫn nước. Chỉ trong một đêm nước rút, ruộng đồng trở lại như cũ, nạn lụt tự tan. Dân chúng vô cùng vui mừng.
Các vị trở về đến xã Vũ Lăng, vào bến nước thì bỗng hiện thành bốn con rắn xanh, rẽ nước mà đi rồi hóa mất. Ngày mồng mười tháng Chạp năm Ất Tỵ, trời đất tối tăm, gió mưa dữ dội, giữa ban ngày mà như ban đêm, kéo dài ba ngày.
Khi trời quang trở lại, dân chúng kinh hãi, cho là việc linh thiêng, liền làm biểu tâu lên quan trên, rồi dâng lên vua. Vua nghe việc ấy, bèn gia phong bốn vị là bậc Thượng đẳng Phúc thần. Ban rằng bốn vị cùng vận nước lâu dài, đời đời hưởng thờ, hương khói không dứt.
Lại sai dân dựng hai nơi hành cung, lập chính từ tại Quảng Lăng xã, cùng năm xã thuộc Hải Dương đạo phối thờ.
Lại gia phong:
Đệ nhất Chàng Cả Vua Vàng Đại Vương.
Đệ nhị Chàng Hai Vua Vàng Đại Vương.
Đệ tam Chàng Ba Vua Vàng Đại Vương.
Đệ tứ Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương.
Từ sau khi hóa thần, hễ cầu mưa thì được mưa, cầu tạnh thì được tạnh, cầu đảo đều linh ứng hiển hách. Vì thế các triều Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê đều gia phong mỹ tự:
“Bảo quốc hộ dân, uy linh hiển hữu, Tứ vị Đại Vương Thượng đẳng Phúc thần, cùng vận nước lâu dài.”
Lệ khánh hạ vào ngày mồng mười tháng Giêng, dùng lợn đen, trâu vàng, làm lễ ba ngày.
Ngày sinh của bốn vị là mồng mười tháng Tám, từ mồng chín đến mồng mười làm lễ, dùng trâu dê, có ca xướng.
Ngày hóa của bốn vị là mồng mười tháng Chạp, lễ dùng lợn đen, bánh trắng vo tròn cùng các lễ vật khác.
Bản này được soạn vào ngày lành đầu xuân năm Hồng Phúc nguyên niên ( 1572), do Hàn Lâm viện Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh phụng soạn.
Đến ngày mười lăm tháng sáu năm Vĩnh Hựu thứ tư (1738), quan Nguyễn Hiền vâng theo bản cũ mà sao lại.
Bản dịch của Lê Anh Thao https://www.facebook.com/share/p/1b61e9BkVk/
