1. Mở đầu
Trong tiến trình khẩn hoang và định hình diện mạo văn hóa vùng đất Nam Bộ, hệ thống sông ngòi không chỉ đóng vai trò là mạch máu giao thương, sinh kế, mà còn là không gian sản sinh và dung chứa các thực hành tâm linh của lưu dân. Sông Vàm Thuật – một chi lưu quan trọng của hệ thống sông Sài Gòn, chảy qua vùng đất Gò Vấp (Gia Định xưa) – là một không gian địa-văn hóa tiêu biểu như thế. Tại những khúc quanh hiểm trở của dòng sông, nơi đối diện với sự bất định của thiên nhiên và dòng nước, tâm thức bình dân đã thiết lập nên các không gian thờ tự để tìm kiếm sự che chở và an định tâm lý. Miếu Sa Tân (Kỳ Thánh Thủy Long Cung) và miếu nổi Phù Châu chính là hai “tọa độ tâm linh” án ngữ tại vùng lõi ven sông và giữa lòng sông Vàm Thuật, có niên đại hàng trăm năm và đã được xếp hạng là Di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp Thành phố.
Mặc dù nằm trong cùng một không gian sinh thái sông nước và cách nhau không xa, song miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu lại thể hiện những đặc trưng khu biệt và sinh động về cấu trúc điện thờ cũng như hệ thống thần điện. Đây không đơn thuần là nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng bản địa, mà là một “bảo tàng sống” phản ánh hiện tượng giao thoa văn hóa sâu sắc: từ tín ngưỡng thủy thần nguyên thủy, Đạo giáo thần tiên, Phật giáo dân gian, cho đến các lớp văn hóa của cộng đồng người Hoa di dân trong quá trình cộng cư với người Việt.
Ngày nay, các nghiên cứu về miếu cổ Nam Bộ thường có xu hướng tách rời di tích hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ kiến trúc, lịch sử biên niên. Bằng phương pháp khảo sát thực địa liên ngành, kết hợp giải mã hệ thống văn khắc Hán Nôm (hoành phi, câu đối) và phân tích cấu trúc không gian điện thờ, bài viết này hướng tới tái hiện bức tranh toàn cảnh về hệ thống tín ngưỡng tại miếu Sa Tân và miếu Phù Châu. Qua đó, nghiên cứu không chỉ làm rõ tính đa dạng, dung hợp của đời sống tâm linh cư dân ven sông Vàm Thuật, mà còn khẳng định giá trị di sản văn hóa phi vật thể của hai ngôi miếu trong dòng chảy văn hóa đương đại của TP. Hồ Chí Minh.
2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Các thông tin về văn hóa tín ngưỡng ở hai ngôi miếu Sa Tân và Phù Châu được thu thập trực tiếp qua ghi chép, phiên đọc Hán Nôm và vẽ sơ đồ bài trí thần tượng tại thực địa vào ngày 5/11/2025.
Hệ thống loại hình tín ngưỡng sử dụng để phân tích được các tác giả tổng hợp và đề xuất phân loại như sau:
– Tín ngưỡng Đạo Giáo: gồm các vị thần trong Đạo Giáo như các vị thần chủ Đạo Giáo là Ngọc Hoàng Thượng Đế (Ngọc Đế), Diêu Trì Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu), Cửu Thiên Huyền Nữ (mẫu Cửu Thiên) và các vị thần tiên khác như Thái Thượng Lão Quân, Thái Ất Chân Nhân, Thái Tuế Tinh Quân, Dược Vương, Văn Xương, cũng như những tích về bát tiên và tiên nữ.
– Tín ngưỡng Phật giáo: gồm những vị Phật, Bồ tát, La hán, những vị hộ tăng, Địa mẫu, Địa Tạng… được thờ phổ biến trong các chùa theo giáo lý Phật giáo.
– Tín ngưỡng Thủy thần: theo văn hóa thờ thủy thần của dòng Lạc Thị của các vị Long Quân như công bố trong sách của Nhóm nghiên cứu di sản Đền miếu Việt (Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân, 2025). Phổ biến ở đây là Long Mẫu và Tứ hải Long Vương.
– Tín ngưỡng vùng phương Nam: là các vị thần mang đặc trưng của vùng Nam Trung Bộ và Nam Bộ, chịu ảnh hưởng từ văn hóa Chăm xưa, như Bà Chúa Xứ, Bà Ngũ Hành.
– Tín ngưỡng thần thành hoàng: là các vị thần mang tính chất địa phương hẹp của khu vực được thờ cúng, như các vị thần hay được thờ trong các đình Nam bộ (Tiên sư, Tiền hiền, Hậu hiền, Hữu ban, Tả ban) và các vị thần Đất, thần Tài.
– Tín ngưỡng người Hoa: là những vị thần có nguồn gốc người Hoa như Bao Công, Tề Thiên Đại Thánh, Quan Thánh Đế Quân. Vị Huyền Thiên Thượng Đế ở khu vực Nam Bộ được xếp vào nhóm tín ngưỡng người Hoa.
Để giải mã cấu trúc thần điện và hành vi thực hành tâm linh tại miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu, nghiên cứu này vận dụng hai trục lý thuyết cốt lõi mang tính liên ngành, đó là: (i) Sinh thái học văn hóa (Cultural Ecology) và (ii) Lý thuyết tiếp biến và dung hợp văn hóa (Cultural Syncretism), với khung phân tích lý thuyết của nghiên cứu như ở Hình 1 dưới đây.
– Sinh thái học văn hóa (Julian Steward, 1990): Lý thuyết này khởi xướng quan điểm rằng các hiện tượng văn hóa, đặc biệt là các thực hành tín ngưỡng, không tồn tại tách rời mà là kết quả của quá trình thích ứng chủ động của con người đối với môi trường sinh thái tự nhiên cụ thể. Trong nghiên cứu này, “sinh thái nước” của chi lưu Vàm Thuật – với các khúc quanh hiểm trở, dòng chảy bất định và nguy cơ thủy nạn luôn rình rập sinh kế chài lưới, giao thương – chính là nhân tố môi trường quyết định. Tâm thức sùng bái Thủy thần, Ngũ Hành Nương Nương hay Tứ Hải Long Vương tại hai ngôi miếu không đơn thuần là sự mê tín dị đoan, mà là chiến lược ứng xử văn hóa, chuyển hóa nỗi sợ hãi tự nhiên thành các điểm tựa tâm linh để thiết lập sự cân bằng tâm lý và kiến tạo không gian sống an toàn.
– Lý thuyết tiếp biến và dung hợp văn hóa (Nguyễn Thừa Hỷ, 2020): Lý thuyết này đưa ra các nguyên lý cốt lõi giải thích cách thức văn hóa Việt Nam tiếp xúc, chuyển hóa và dung hợp với các yếu tố ngoại sinh (như văn hóa Trung Hoa, Ấn Độ, Pháp, phương Tây). Nhìn nhận tiếp biến văn hóa xảy ra khi các nhóm cá nhân thuộc các nền văn hóa khác nhau có sự tiếp xúc liên tục và trực tiếp, dẫn đến sự thay đổi trong mô thức văn hóa nguyên thủy của một hoặc cả hai nhóm.

Hình 1. Khung phân tích lý thuyết (Julian Steward, 1990; Nguyễn Thừa Hỷ, 2020)
Tại vùng đất Gia Định – Gò Vấp xưa, là không gian cộng cư và giao thoa sâu sắc giữa người Việt bản địa và các làn sóng di dân người Hoa (Triều Châu, Phúc Kiến). Khung lý thuyết này giúp giải thích hiện tượng “mở” và “dung hợp” của hệ thống thần điện. Nó làm rõ lý do vì sao trong cùng một không gian thiêng, các vị thần Đạo giáo nội đạo, Phật giáo dân gian của người Việt lại có thể song tồn hòa hợp và tích hợp hài hòa với các nhân thần văn hóa của người Hoa (Quan Công, Bao Công, Tề Thiên Đại Thánh), tạo nên một cấu trúc đa tầng, không bài ngoại.
3. Sự tích và di sản văn hóa tín ngưỡng ở miếu Sa Tân – Kỳ Thánh Thủy Long cung
3.1. Lịch sử miếu Sa Tân
Miếu Sa Tân nằm ở số 46 đường Trần Bá Giao, phường An Nhơn, Thành phố Hồ Chí Minh là một ngôi miếu lớn có sự tích lâu đời bên sông Vàm Thuật. Theo bảng giới thiệu của Ban trị sự miếu Sa Tân viết ngày 5/2/2025 thì lịch sử của ngôi miếu như sau:
“Cách đây hơn 188 năm (vào nửa đầu thế kỷ XIX, khoảng năm 1838), trên dòng sông Bến Cát thuộc xã Hạnh Thông, tổng Bình Trị Thượng, huyện Gò Vấp, tỉnh Gia Định có một người đàn ông chuyên sống nghề chài lưới. Vào một mùa đông rét buốt, khi quảng lưới thì không bắt được con cá nào cả, ngược lại ông đã vớt được pho tượng, đó là Bà Thủy Tề. Từ đó ông là người đầu tiên sáng lập và xây dựng ngôi miếu an vị cho Bà. Từ khi có ngôi miếu này, bà con bá tánh nơi đây có phần sung túc hơn.
Thời gian trôi qua, ông mất đi nhưng ông còn để lại trong dân gian niềm thương nhớ kỷ niệm vô cùng cho nên Ban hội đồng nhất trí lấy danh hiệu là “miếu Ông Chài” để tướng nhớ và được lưu truyền ca tụng mãi đến ngày nay…
Khi hòa bình lập lại sau 1954 trên đất nước thì cũng là lúc miếu được tái thiết lần thứ 2 qua những vật liệu sơ sài của các chùa chiền công đức. Lấy danh hiệu là “miếu Sa Tân Thủy Long Cung”.
Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ lúc bấy giờ miền Nam chiến tranh rất ác liệt. Xung quanh ngôi miếu thì bị tàn phá của bom đạn nên mọi người đã chạy vào miếu để lánh nạn và được an toàn.
Giữa tháng 3 năm 1990 miếu được trùng tu lần thứ 4, thiết lập một cây cầu gỗ dài 100m tận dụng ra bờ sông qua miếu nổi để dễ dàng cho sự đi lại của nhân dân đến chiêm bái tín ngưỡng Bà Thủy Long Cung và Năm Bà Ngũ Hành.”
Miếu Sa Tân đã được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố theo quyết định số 4268/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh.
Tên gọi của miếu theo như bia trùng tu công đức Chí viên cẩm đồ 誌公錦圖 để tại miếu là Sa Tân miếu Kỳ thánh Thủy Long cung 沙津廟祗聖水龍宫:
Sa Tân 沙津 có nghĩa là Bến Cát, nên đây là ngôi miếu thờ cổ của cả khu vực ven dòng sông Vàm Thuật. Theo tên gọi này thì miếu thờ các vị thánh, các vị thổ thần (kỳ thánh) và là cung thờ mẫu Thủy Long.
3.2. Hoành phi, câu đối miếu Sa Tân
Trước cửa miếu có bức hoành phi Thủy Long cung 水龍宫 và đôi câu đối chữ Nho:
祗園弘道天地人四龍護守
聖德顯赫海内外百流兼䧒
Kỳ viên hoằng đạo thiên địa nhân tứ long hộ thủ
Thánh đức hiển hách hải nội ngoại, bách lưu kiêm lai.
Nghĩa là:
Vườn thần đạo mở trời đất người, bốn rồng hộ giữ
Đức thánh rờ rỡ chốn trong ngoài, trăm mạch cùng về.
Nội điện của miếu hình chữ nhật chia làm ba khu vực Tiền điện, Trung điện và Hậu điện, với cách bài trí các tượng thờ như trong sơ đồ Hình 2.

Hình 2. Sơ đồ bài trí điện thờ miếu Sa Tân
(Nguồn: Vẽ trực tiếp theo cách bài trí và bảng giới thiệu các tượng thờ tại miếu Sa Tân vào ngày 5/112025)
Ở trung điện có bức hoành phi: Đức trạch huệ dân 德澤惠民, nghĩa là: Đức thấm ơn dân, và đôi câu đối cổ:
東洋霑海晏河清一路履平資聖德
富屋籍地靈人傑萬家恒足𠇆慈恩
Đông dương triêm hải yến hà thanh, nhất lộ lý bình tư thánh đức
Phú ốc tịch địa linh nhân kiệt, vạn gia hằng túc ngưỡng từ ân.
Nghĩa là:
Dòng Đông thấm bể lặng sông trong, một nẻo bình yên nhờ đức thánh
Tòa giàu nhiều đất thiêng người giỏi, vạn nhà no đủ ngưỡng ơn lành.
Ở Hậu điện trước ban thờ chính có bức hoành phi: Long thiên tứ phúc 龍靝賜福, nghĩa là Rồng Trời ban phúc. Chữ Thiên 靝 ở đây là chữ thường dùng trong Đạo Giáo, thể hiện dấu vết khá rõ của tín ngưỡng Đạo Giáo ở miếu Sa Tân.
Chính ban Hậu điện có 2 đôi câu đối chữ Nho như sau:
水德汪洋萬宇同欣樂利
神恩普護群方共慶安康
Thủy đức uông dương, vạn vũ đồng hân lạc lợi
Thần ân phổ hộ, quần phương cộng khánh an khang.
Nghĩa là:
Đức Thủy thấm nhuần, vạn mái cùng vui lợi lộc
Ơn Thần che chở, một phương cùng hưởng an khang.
Và câu đối bên trong:
東鄰樂業蒙神力
富屋安居籌母恩
Đông lân lạc nghiệp mông thần lực
Phú ốc an cư trù mẫu ân.
Nghĩa là:
Làng Đông lạc nghiệp nhờ thần lực
Nhà giàu yên ở bởi mẫu ơn.
3.3. Hệ thống tín ngưỡng ở miếu Sa Tân
Hệ thống tượng thờ ở miếu Sa Tân rất phong phú, thể hiện sự đa dạng tín ngưỡng của người dân ở vùng sông Vàm Thuật. Quan trọng nhất là tín ngưỡng Đạo Giáo với những tượng thờ là:
- Ngọc Hoàng Thượng Đế cùng với Nam Tào, Bắc Đẩu ở hai bên, được đặt ở chính ban trên cùng trong Hậu điện.
- Cùng chính ban trong Hậu điện ở phía trước có tượng mẫu Cửu Thiên.
- Ở hai bên Trung điện thờ Thái Thượng Lão Quân, Diêu Trì Kim Mẫu, Thái Ất Chân Nhân và Thái Tuế Tinh Quân.
- Ở bên tả của Tiền điện có đặt thờ các tượng Lã Động Tân, Văn Xương, Dược Vương.
Quan trong thứ hai là các vị thần của tín ngưỡng phương Nam (tín ngưỡng đặc trưng riêng của miền Nam), đó là tượng Bà Chúa Xứ đặt ở phía trước chính ban Hậu điện và 5 Bà Ngũ Hành ở giữa chính ban Hậu điện.
Cũng ở giữa chính bán Hậu điện là tượng Bà Thủy Long trong hệ thống tín ngưỡng Thủy thần. Tương truyền bức tượng này là bức tượng mà Ông Chài đã vớt được trên sông Vàm Thuật, cao khoảng 60 cm, bên ngoài đắp bằng đất bùn và rơm, bên trong rỗng.
Ông Chài cũng được thờ ở bên hữu của Hậu điện dưới hình một chiếc ghe thuyền gỗ khá độc đáo. Tín ngưỡng Thành hoàng còn được thấy trong việc thờ các tượng thần khác là Long Thần hộ pháp ở gần trước cửa, Thần Đất ở Tiền điện và Thần Tài ở bên tả của Hậu điện.
Tín ngưỡng Phật giáo được gặp chủ yếu qua các tượng thờ ở phần Tiền và Trung điện, gồm tượng Quan Thế Âm, Di Lặc, Địa Mẫu, Địa Tạng, Sư tổ Đạt Ma và Thần Hộ tăng.
4. Sự tích và di sản văn hóa tín ngưỡng ở miếu nổi Phù Châu
4.1. Lịch sử miếu Phù Châu
Miếu nổi Phù Châu tọa lạc trên phần đất 2.000 m2 nằm giữa dòng sông Vàm Thuật ở địa phận thuộc phường An Nhơn, Thành phố Hồ Chí Minh, cách bên đò miếu Sa Tân chỉ vài trăm mét đường sông. Theo bảng giới thiệu của Ban quản lý di tích bày tại miếu Phù Châu ngày 5/11/2025: “vùng đất nơi này đã có từ lâu đời. Người dân đi ghe thuyền buôn bán trên sông, một hôm ghé lại ngủ qua đêm, thấy 5 vị Ngũ thần đó là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ độ cho buôn may bán đắt. Qua vài ngày sau đoàn ghe buôn ghé lại dựng lên ngôi miếu nhỏ để thờ cúng 5 bà Ngũ Hành phù hộ độ trì cho người đi thuyền bè qua lại trên sông, cùng độ cho người dân địa phương nơi đây.
Theo lịch sử quận Gò Vấp, miếu đã có từ trước năm 1800. Năm 1945 miếu được lợp ngói âm dương và cột cây với diện tích nhỏ. Trước 30/4/1975 là một nơi sinh hoạt chi bộ của Đảng và cũng là nơi làm bàn đạp để bộ đội đặc công ở An Phú Đông qua sông đánh kho đạn, kho xăng dầu của địch. Sau giải phóng miếu bị hư hỏng nặng và bị bỏ hoang không người trông coi nhang khói. Năm 1991 miếu được cấp phép xây dựng trùng tu.”
Năm 2014 miếu Phù Châu được xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố.
4.2. Bài trí thờ phụng ở miếu Phù Châu
Mặc dù là một ngôi miếu ở trên một khu vực diện tích không lớn, nhưng miếu Phù Châu là một công trình kiến trúc bề thế giữa dòng sông Vàm Thuật. Miếu có đủ từ phần nghi môn, phần nội điện chia làm Tiền điện, Trung điện và Hậu điện, với cả tượng thờ và tranh thờ ở cả 2 bên điện. Bên phải miếu lùi ra phía sau là tòa Thủy Long cung, với lầu Quan Âm ở trước và điện Sơn Quân ở phía sau (Hình 3).

Hình 3. Sơ đồ bài trí tượng và tranh thờ tại miếu nổi Phù Châu
(Nguồn: Vẽ trực tiếp theo cách bài trí và bảng giới thiệu các tượng thờ tại miếu Phù Châu vào ngày 5/112025)
Đọc dịch một số câu đối được đắp khảm sứ trong điện miếu nổi Phù Châu:
Câu đối ở cửa vào nội điện:
浮水生表廟棟翻新隆故
珠山運到大樑棄舊仰光
Phù thủy sinh, biểu miếu đống phiên tân long cố
Châu sơn vận, đáo đại lương khí cựu ngưỡng quang?
Nghĩa là:
Sinh trên nước, nên rạng cột miếu tăng thêm nét mới
Chuyển núi châu, sáng tới rường cao ngưỡng vọng vẻ xưa.
Câu đối ở Tiền điện:
大地殲羣魔嬴去西遊香萬世
聖天迎衆佛如来東度馨千秋
Đại địa tiêm quần ma, doanh khứ Tây du hương vạn thế
Thánh thiên nghinh chúng phật, Như Lai Đông độ hinh thiên thu.
Nghĩa là:
Đất lớn diệt quần ma, Tây du Doanh khứ hương vạn thế
Trời thánh đón chúng phật, Đông độ Như Lai thơm nghìn thu.
Câu đối ở Trung điện:
浮清有靈綬净氣
珠光化昧普蒼生
Phù thanh hữu linh thụ tịnh khí
Châu quang hoá muội phổ thương sinh.
Nghĩa là:
Nước nổi có thiêng nối khí tốt
Ánh châu hóa khói trùm chúng sinh.

Hình 4. Sơ đồ bài trí cung Long Mẫu ở miếu Phù Châu
(Nguồn: Vẽ trực tiếp theo cách bài trí và bảng giới thiệu các tượng thờ tại miếu Phù Châu vào ngày 5/112025)
4.3. Hệ thống tín ngưỡng ở miếu Phù Châu
Khác với miếu Sa Tân, ở miếu Phù Châu tín ngưỡng thờ phụng chủ đạo là tín ngưỡng vùng phương Nam mà đứng đầu là thờ Ngũ hành. Điều này thể hiện ngay ở hình thức nghi môn của miếu được xây dựng ở dạng Ngũ hành môn với các cửa Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Còn ở nơi thờ phụng chính tại Hậu điện của miếu là thờ tượng 5 bà Ngũ Hành mặc áo các màu tương ứng là Vàng, Xanh, Đen, Đỏ, Trắng. Phía trước ban chính đặt tượng Bà Chúa Xứ. Ở cung Long Mẫu thì tượng Thủy Mẫu và điện Ngũ Hổ Sơn Quân cũng có thể xếp vào loại hình tín ngưỡng bản địa. Phân biệt vị Thủy mẫu ở đây là bà Thủy trong Ngũ Hành, chứ không phải Long Mẫu đã thờ ở chính ban Thủy Long cung.
Tín ngưỡng Đạo Giáo có vai trò quan trọng thứ hai ở miếu Phù Châu, mà đáng chú ý là có tượng mẫu Cửu Thiên được đặt trên ban chính của Hậu điện cùng với tượng Bà Chúa Xứ và Bà Ngũ Hành. Chú ý mẫu Cửu Thiên là Cửu Thiên Huyền Nữ hay Cửu Trùng Thánh Mẫu (Mẫu Thượng Thiên).
Hai vị thần chủ của Đạo thần tiên (Đạo Giáo) là Ngọc Đế và Diêu Trì Kim Mẫu (Tây Vương Mẫu) được thờ thành 2 ban riêng quay đối diện vào nhau ở khu vực Trung điện. Ở ban thờ Diêu Trì Kim Mẫu tượng Mẫu được bày trí cùng với các vị thần tướng và hoa mẫu chầu xung quanh.
Hình các vị tiên được vẽ đắp nổi, sơn màu rất đẹp. Ở 2 cột cửa trước của điện Phù Châu có hình Bát Tiên tấu nhạc, mỗi bên có 4 vị tiên đang chơi các loại nhạc cụ khác nhau. Bên tường phải phía ngoài của miếu có vẽ hình Bát Tiên quá hải. Bên mé hữu của Tiền điện vẽ hình các cô Tiên nữ đang hái và dâng đào.
Tín ngưỡng Thủy thần ở miếu được đặt riêng tại Long Mẫu cung. Chính ban của cung là tượng Long Mẫu và Tứ hải Long Vương trong hình rồng theo các màu tương ứng của ngũ sắc. Màu đỏ là Nam Hải Long Vương, màu đen là Bắc Hải Long Vương, màu xanh là Đông Hải Long Vương, màu trắng là Tây Hải Long Vương. Việc thờ Long Mẫu và Long Vương tại một ngôi miếu với quy mô bề thế như miếu Phù Châu là điểm độc đáo hiếm thấy ở khu vực Nam Bộ.
Điểm đặc biệt và khác biệt nữa của miếu Phù Châu là sự xuất hiện các vị thần trong tín ngưỡng người Hoa. Đó là Bao Công Gia Gia ở bên hữu Hậu điện và Quan Thánh Đế Quân ở bên tả Hậu điện. Vị Đại Thánh Gia Gia (Tề Thiên Đại Thánh) được thờ riêng ở một ban tại Tiền điện. Còn Huyền Thiên Thượng Đế lại được đặt trong Long Mẫu cung, có lẽ với ý nghĩa cũng là một vị thần trấn thủy (Huyền Thiên là vị thần Trấn phương Bắc, phương của đức Thủy). Loại hình tín ngưỡng của người Hoa này không gặp ở miếu Sa Tân.
Các vị thần của tín ngưỡng Phật giáo được bày tập trung ở chính ban của Tiền điện, thứ tự từ ngoài vào là: Chuẩn Đề, Di Lặc, Địa Mẫu và Quan Thế Âm. Quan Âm Nam Hải còn được thờ riêng ở lầu Quan Âm bên ngoài sân. Ở bên tường phía tả của Tiền điện có vẽ đắp màu 18 vị La Hán, chia thành 4 bức. Ở ban bên hữu của Trung điện có thờ Tiêu Diện, Địa Tạng.
Trong mảng Tín ngưỡng thần thành hoàng ở miếu Phù Châu được thờ hai bên của Trung điện, gồm bên tả có Tả ban, Tiên sư, Hậu hiền. Bên hữu có Hữu ban, Tiền hiền cùng với 2 vị thần Phật giáo là Tiêu Diện và Địa Tạng. Riêng ban Thần tài được bày ở Tiền điện trước tranh tường các vị La Hán. Việc thờ Tiền hiền và Hậu hiền ở miếu Phù Châu cho thấy ngôi miếu này còn có chức năng như một ngôi đình làng cho cộng đồng người dân ở khu vực này.
5. Kết luận và đề xuất
5.1. Kết luận
Qua quá trình khảo sát thực địa, giải mã văn khắc Hán Nôm và phân tích đối chiếu hệ thống thờ tự tại miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu, nghiên cứu rút ra ba kết luận cốt lõi sau:
(1) Nghiên cứu khẳng định tính thích ứng sinh thái và cấu trúc phong thủy trấn thủy của miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu
– Là hai miếu cổ có tuổi đời gần ba thế kỷ, tọa lạc tại những vị trí uốn khúc mạnh – nơi xung yếu về mặt thủy văn của dòng Vàm Thuật.
– Sự hiện diện của hai di tích này chứng minh cho chiến lược ứng xử của cư dân phương Nam trước thiên nhiên hung hiểm, chuyển hóa nỗi sợ hãi dòng nước thành sự sùng bái tâm linh.
– Hệ thống thờ tự tập trung vào Thủy Long Thần Nữ, Tứ Hải Long Vương và Ngũ Hành nương nương với quy mô bề thế tại đây là hiện tượng hiếm gặp ở khu vực nội thành, khẳng định vai trò “trấn giữ phong thủy”, yên định long mạch, cầu quốc thái dân an cho cả một vùng không gian sông nước Gia Định xưa.
(2) Hình thành bản đồ tâm linh mở và hiện tượng dung hợp văn hóa
– Sơ đồ bài trí điện thờ của hai ngôi miếu là minh chứng đặc sắc cho tính dung hợp, mở và không bài ngoại của văn hóa Nam Bộ. Tại không gian này, ranh giới giữa các tôn giáo lớn và tín ngưỡng dân gian dường như bị nhòa mờ. Đạo giáo (Ngọc Hoàng, Mẫu Cửu Thiên, Diêu Trì Kim Mẫu), Phật giáo (Quan Âm, Địa Tạng, La Hán), Tín ngưỡng bản địa (Bà Chúa Xứ, Năm Bà Ngũ Hành) và các nhân thần (Ông Chài, Thần Đất) cùng song tồn hòa hợp.
– Xu hướng “tín ngưỡng hóa” các hình tượng nhân vật văn học chương hồi (thờ Tề Thiên Đại Thánh, Bao Công, Quan Công) tại miếu Phù Châu phản ánh sinh động lát cắt tiếp biến văn hóa Việt – Hoa, tạo nên một vành đai di sản đa dạng và giàu bản sắc.
(3) Giá trị di sản phi vật thể và sức sống trong đời sống đương đại được ghi nhận
Vượt qua những thăng trầm của lịch sử và bom đạn chiến tranh, miếu Sa Tân và miếu nổi Phù Châu không trở thành những “phế tích ngủ yên” mà ngược lại, vẫn duy trì một sức sống biểu đạt mãnh liệt. Các thực hành văn hóa phi vật thể diễn ra thường xuyên tại đây (như phóng sinh rùa/cá, hội xuân, lễ Vu Lan, cúng sóc vọng) đóng vai trò như chất keo gắn kết cộng đồng, cân bằng đời sống tâm linh cho cư dân đô thị hiện đại.
Hai ngôi miếu không chỉ là di sản của quá khứ, mà là một thành tố hữu cơ, bồi đắp vào tính đa dạng văn hóa và chiều sâu lịch sử của mảnh đất An Nhơn, quận Gò Vấp nói riêng và Thành phố Hồ Chí Minh nói chung.
5.2. Đề xuất
– Hai ngôi cổ miếu Sa Tân và Phù Châu không chỉ là 2 di tích kiến trúc nghệ thuật mà còn là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị di sản phi vật thể (văn hóa tín ngưỡng, di sản Hán Nôm, lễ hội) đa dạng, đa nguồn gốc của xã An Nhơn. Do đó 2 ngôi miếu này cần được quan tâm, bảo vệ và là vốn quý cho việc phát huy các giá trị văn hóa cho các nhu cầu quản lý và phát triển ở địa phương.
– Với vai trò là hạt nhân trấn thủy cho vùng sông Vàm Thuật uốn khúc, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống ở 2 ngôi miếu có ý nghĩa lớn đối với việc an cư, lạc nghiệp cho nhân dân trong vùng. Đây cũng là nơi quan trọng đối với người dân trong các sinh hoạt văn hóa truyền thống.
– Sự dung hợp tín ngưỡng đa dạng về nguồn gốc (Đạo Giáo, Phật Giáo, tín ngưỡng người Hoa, người Bắc, người Nam…) một cách hài hòa trong 2 ngôi miếu là đầu mối, là nguồn thúc đẩy cho sự đoàn kết, hòa hợp các nhóm cư dân và nhóm tôn giáo trong phạm vi hẹp của xã An Nhơn cũng như rộng hơn ở Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Nam Bộ.
– 2 ngôi miếu độc đáo ở sông Vàm Thuật là điểm thu hút đông đảo du khách thường xuyên đến thăm quan, chiêm bái, thực hành tín ngưỡng (cầu phúc, phóng sinh, cúng dường…). Do đó có thể tạo điều kiện mở rộng thêm các cơ sở hạ tầng du lịch và văn hóa như đường giao thông trên bờ và đường thủy, xây dựng bến thuyền, xây dựng các công trình phục vụ sinh hoạt văn hóa và du lịch khác.
– Địa phương nên có các chương trình quảng bá điểm du lịch, tổ chức các lễ hội văn hóa tín ngưỡng và quản lý tốt dịch vụ du lịch tâm linh ở khu vực miếu Sa Tân và miếu Phù Châu, phù hợp với văn hóa đa tín ngưỡng, giữ gìn môi trường và an toàn, an ninh trật tự ở khu vực.
Bài viết của Vũ Thị Quyền và Nguyễn Đức Tố Lưu trong Hội thảo Không gian văn hóa và kinh tế di sản sông Vàm Thuật tổ chức ngày 8/7/2026 tại phường An Nhơn, Tp. Hồ Chí Minh.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Huỳnh Ngọc Trảng (Chủ biên). (2012). Sổ tay hành hương đất phương Nam. Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc.
- Nguyễn Đình Đầu. (1994). Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn: Tỉnh Gia Định. Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Đức Tố Lưu, Thích Tâm Hiệp, Nguyễn Đức Tố Huân. (2025). Kinh triều bảo lục Sử tích Long quân và các vị thủy thần Lạc Thị. Nhà xuất bản Lao động.
- Nguyễn Thừa Hỷ. (2020). Văn hóa và hội nhập: Tiếp biến và dung hợp văn hóa Việt Nam. Nhà xuất bản Thông tin và Truyền thông.
- Steward, J. H. (1990). Theory of culture change: The methodology of multilinear evolution. University of Illinois Press. (Original work published 1955).
- Thạch Phương, & Lê Trung Hoa (Chủ biên). (2007). Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trịnh Hoài Đức. (2006). Gia Định thành thông chí (Viện Sử học dịch). Nhà xuất bản Giáo dục.
- Ủy ban nhân dân quận Gò Vấp. (2006). Địa chí quận Gò Vấp. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.
- Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2014). Quyết định số 4872/QĐ-UBND ngày 03/10/2014 về việc xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố: Miếu nổi Phù Châu (phường An Nhơn, quận Gò Vấp).
- Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. (2020). Quyết định số 4268/QĐ-UBND ngày 20/11/2020 về việc xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp Thành phố: Miếu Sa Tân (phường An Nhơn, quận Gò Vấp).