Thần tích làng Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh

Trích bản khai năm 1938 của làng Đại Lâm, tổng Phong Xá, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, ký hiệu TTTS3649 lưu tại Viện Thông tin Khoa học xã hội.

Tên làng: xã Đại Lâm tổng Phong Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh 大林社豊舍縂安豊縣北寧省

Thần thành hoàng:
1 vị duệ hiệu là 輔國公嚴大王 [Phụ quốc Công Nghiêm Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 海國濟治大王 [Hải Quốc Tế trị Đại vương]
1 vị duệ hiệu là 佐治明天大王[Tá Trị Minh Thiên Đại vương]
Các ngài là Thủy thần, đức Minh Thiên là Thiên thần.

Sự tích các ngài: Thế truyền về đời vua Hùng Vương, ở xã An Khang, huyện Yên Mô có 1 phú ông họ Phạm, tên là Đài, vốn nhà hào phú, dòng dõi phong lưu, lý số nho y mọi nghề tinh thạo. Ông lấy vợ người họ Hán, đến năm ngoài 30 tuổi, không may bà vợ mất sớ, sinh hạ 1 người con gái tuổi vừa 16. Ông muốn gả chồng cho con. Người cùng làng, sắp toan định ngày nghi thất nghi gia. Lại gặp lúc trong địa hạt mình xảy ra nhiều trộm giặc, đua nhau cướp bóc của cải thôn dân. Vù thế lòng ông chán nản, muốn tìm nơi cảnh vắng mà an dưỡng tuổi già. Ông bèn thu xếp cửa nhà cùng với con gái thẳng ra miền Kinh Bắc lánh nạn. Khi đi có mang 1 giỏ thuốc Nam để giữ mình. 1 ngày kia đi đến làng Đông Xá huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh, ông trú cư ở đấy vài tháng để tiện việc làm thuốc. Nhân dân ở làng ấy nhiều người được nhờ vả nên ai cũng đem lòng yêu mến. Bất giờ trong tổng nội có người mắc bệnh khó chữa, nghe tiếng ông là danh sư bèn đón ông về chữ giúp. Quả nhiên người ấy khỏi bệnh. 1 ngày ông đến vãn cảnh chùa làng Đại Lâm. Khi trở về vừa gặp cơn mưa gió, ông đành phải trở lại chùa ngủ trọ 1 tối. Đêm ông nằm mộng thấy 1 vị sư đến bảo rằng:

  • Nhà ngươi tốt phúc, ngày mai sẽ có tin mừng.

Nói xong đọc 1 bài thơ rằng:
詢之以报喜于君
汝福從茲日日新
天定降家來見日
必然相配自成親

Tuân chi dĩ báo hỉ vu quân
Nhữ phúc tòng tư nhật nhật tân
Thiên định giáng gia lai kiến nhật
Tất nhiên tương phối tự thành thân.

Nghe mấy câu thơ ấy ông chợt tỉnh dậy, tự nghĩ trong bụng lấy làm lạ. Sớm ngày mai ông lễ Phật trở ra về, đi qua làng Đại Lâm, thấy 1 người con gái nằm trong lều cỏ kêu khóc. Ông chạy vào hỏi duyên cớ. Người con gái thưa rằng:

  • Thiếp là con gái họ Trần, tên là Tố Nương. Cha mẹ mất sớm, khi còn tuổi trẻ. Anh em chẳng có ai, không người nương tựa. Đem mình đi ở với cậu ruột, ngày tháng dung thân. Thiếp lại hay có cứng đau bụng vặt. Cậu đem lòng ghét bỏ, đuổi đi. Vì thế thiếp phải ra nằm ở quán này.

Ông thấy tình cảnh lấy làm ái ngại, bèn mở túi lấy thuốc cho uống. Lúc lâu nàng Trần khỏi bệnh. nàng bèn mời về nhà, đem tình trạng kể với cậu và xin cho mình được hầu hạ chăn gối để báo đáp ân sâu. Cậu vui lòng gả. Sau khi đã thành gia thất, ông bèn đến xã Đại Lâm, ngày thường đi chữa thuốc cứu dân. Dân làng thấy ông là người hiên fhoaf thuần hậu, thỉnh ông coi giữ cảnh chùa. Được mấy năm ông làm thuốc rất là phát đạt giầu thịnh. Ông xuất gia sản dựng thành 1 ngôi chùa nữa. 1 hôm ông nằm mộng thấy 1 vị thần tự xưng là Nam Tào, [vâng] sứ mệnh đức Thượng Đế đến báo cho các vị thần văn võ biết rằng:

  • Đây có nhà họ Phạm giữ chùa vốn là người phúc hậu. Lai hay mộ về đạo Phật. Nay đức Ngọc Hoàng cho 1 viên Thiên tào Điển lại và 2 viên Thủy tế Long hầu, xuống Dương gian đầu thai làm con nhà họ Trần để sau này giúp nước cứu dân.

Nói rồi biết mất. Đến khi ông tỉnh dậy, biết thế nào cũng có điềm hay. Một ngày đức bà Trần Thị ra bến sông ở trước làng tắm gội. Đương lúc tắm, chợt thấy con giảo long nổi lên quấn quanh mình ba 3 vòng. Bà sợ hãi chạy lên bờ, thấy có mùi hương thơm ngào ngạt. Khi về đến chùa trời đã xế bóng. Lại thấy 1 ngôi sao tự trên trời sa xuống trước mặt. Hào quang chói lọi. Phút chốc biến mất. Tự đấy trong mình bà có thai.

Đến ngày mồng 6 tháng 8 bà sinh hạ 1 bọc 3 người con trai, thân thể cao lớn, hình dung kỳ dị. Ông bà mới đặt tên ông thứ nhất là Nghiêm công, thứ 2 là Minh công, thứ 3 là Trị công. Kịp lúc tuổi trưởng thành, ông nào cũng học hành sáng suốt, và có tài văn cõ. Đến ngày 13 tháng 7 đức than phụ là đức Phạm công tạ thế. Bấy giờ nhân dân trong làng thấy các ông có tính trí dị thường, lại có tài văn võ mới rủ nhau đến làm thần tử. Ông bèn chọn đinh tráng xã ấy, cùng các xã lân bàng như Đại Bàng, Thọ Đức, Thiểm Xuyên, Đông Xá được hơn 1000 người, thiết lập 1 cái doanh trại ở địa giới đầu làng. Chọn ngày mồng 1, 2, 3 tháng Giêng để khao thưởng quân sĩ. Việc ấy nghe đến tai các quan địa phương làm biểu tâu Vua. Vua toan sai đình thần đi đánh dẹp, nhưng đêm Vua nằm mộng thấy sứ mệnh Thiên đình đến báo rằng:

  • 3 ông ấy vốn là người trời sai xuống giúp nước, thì nhà vua nên dụ chứ không nên đánh.

Nói rồi đằng không biến mất. Vua tỉnh dậy biết là mộng báo, mới sai sứ thần đem chiếu chỉ đến phủ dụ. 3 ông được chiếu chỉ cùng theo sứ thần về yết kiến Vua. Vua xem thấy thể diện khác thường, nói thử tài văn võ, rồi phong cho ông Nghiêm là Thống lĩnh long chu Thủy đại Lạc tướng quân. Ông Minh là Cứ thiên Bố chính Tướng quân. Ông Trị là Thủy tào Tả điển lại Lạc Long tướng quân. Từ đấy vua tôi hiệp đức, trong nước yên hòa. 3 ông tâu vua xin về bái yết gia đường. Vua ban cho vàng bạc gấm vóc rất nhiều. 3 ông lạy tạ trở về nguyên quan sở Ái châu. Nhân dân kéo đến mừng rỡ vui vẻ. Sau khi thám tỉnh mẫu thân, ông bèn tu sửa từ đường, làm lễ tạ gia tiên. Được ít lâu đến ngày mồng 2 tháng 9 đức Thái bà thân mẫu tạ thế. Ông sửa lễ tìm nơi an táng. Mọi việc xong xuôi, 3 ông lại trở về triều yết chúa. Vua gia phong quan tước rồi bổ dụng cho đi trị nhậm các nơi.

Thời bấy giờ có giặc nhà Ân là Thạch Linh thần tướng, đem 300000 hùng binh sang làm loạn. Được tin, Vua sai 3 ông đi chống cự. Chống nhau với giặc nhà Ân hơn 10 trận, thế giặc ngày ngày một mạnh. Ông phải sai người đem tờ biểu về tâu vua, lấy thêm quân cứu viện. Bấy giờ trong triều các đình thần thấy đều thúc thủ. Vua lấy làm lo sợ, lập đàn cầu đảo thiên địa bách thần, rồi sai sứ thần đi chiêu mộ các người hiền tài trong thiên hạ để giúp nước. Bấy giờ ở xã Phù Đổng thuộc huyện Vũ Ninh có 1 nhà hào phú sinh được 1 người con trai đặt tên là Thiết Xung thần tướng, lên 3 tuổi ăn uống rất khỏe mà không biết nói. 1 hôm nghe tiếng sứ giả nhà vua đến, ngài bật ra tiếng nói mà bảo mẹ gọi sứ thần lại. Khi sứ thần đến, ngài bảo về tâu với nhà vua đánh cho 1 con ngựa sắt, 1 thanh gươm sắt, ngài sẽ đi dẹp giặc giúp nước. Nhà vua không phải lo gì.

Sứ giả về tâu Vua. Vua truyền đánh gươm sắt, ngựa sắt đem lại để cùng với 3 vị (Nghiêm Công, Minh Công, Trị Công) đem quân đi đánh giặc. Bấy giờ ngài nhảy lên mình ngựa sắt chạy như bay đến dưới núi Vũ Ninh, đánh nhau 1 trận. Ngài chém được tướng giặc là Thạch Linh thần tướng. Khi giặc đã tan ngài đi đến núi Sóc Sơn, đằng không mà biến hóa.

Lại nói đến đức Nghiêm Công và Trị Công sau khi bình được giặc rồi 2 ngài bơi thuyền đến sông Bạch Đằng, biến ra thần rắn gieo mình xuống sông mà hóa. Ngày ấy là ngày mồng 2 tháng 9. Vua sau đình thần đến địa phương ấy truyền cho dân gian lập miếu thờ phụng. Còn đức Minh Công khi phụng mệnh hồi triều bái tạ, ngài đứng giữa sân rồng rồi đằng không mà hóa. Vua truyền lập đền thờ ở trong cung phủ phụng sự. Lại truyền cho xã An Khang và xã Đại Lâm lập đền phụng sự và bao phong là Vạn cổ Phúc thần…

Thần phả Ả Thuần Nương Công chúa ở Mạnh Tân, xã Thư Lâm, Đông Anh

Phả chép về một vị công chúa âm phù triều Hậu Lý Thánh Tông

Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Nước Việt từ khi trời đất mở núi sông, kế nối xe sách, chia giới theo sao Dực Chẩn, non nước chính khí. Trải từ triều Hùng Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha phân phong ở nước ta, lập nước mở nền. Đất đẹp Hoan Châu dựng kinh đô. Dãy núi Nghĩa Lĩnh sửa sang miếu điện. Truyền đến Lạc Long Quân lấy tiên nữ Động Đình, thấy mây lành năm sắc, sinh ra điềm trăm con trai, đều là bậc anh hùng trùm đời, đức độ hơn người. Bèn phân làm trăm thần sông núi mà đều hóa hóa sinh sinh khác thường, anh linh không phai. Đến nước Nam sau đó họ tộc nào có phúc lớn dựng nên cơ đồ, giữ nước cứu dân mà trị vì lâu dài đều là dòng dõi nhà họ Hùng vậy. Người đời sau có thơ rằng:

Hùng gia sáng nghiệp tối du trường

Nhất thống sơn hà thập bát vương

Nghĩa Lĩnh, Hùng Sơn tồn cựu [tích]

Lưu truyền hương hoả vĩnh vô cương.

Khi ấy cơ đồ họ Hùng đến lúc suy, ý trời muốn dứt. Trải qua các triều ở Trung Nguyên Tây Đông Hán, Ngô, Tống, Tề, Lương, Đường, Tuy đến khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần nổi lên, khai mở cơ đồ thì quốc thống từ ấy bền lâu. Xưa nước Việt thời vua Hậu Lý Thánh Tông, tên húy là Nhật Tôn, là con trưởng của vua Thái Tông, kế nghiệp tổ tiên gây dựng bồi đắp, nối tiếp sự hưng thịnh quốc gia. Trong tu sửa văn đức, ngoài phòng bị biên cương, cố sức hưng bình để yên Trung Quốc. Có lòng yêu dân, mở khoa chọn sĩ, để tuyển người tài. Dưỡng oai, nuôi khí để trừ giặc Chiêm. Khi ấy có quân Chiêm gậy loạn, khởi binh ở đất Khâm Châu ta, quân thủy bộ cùng tiến. Thế quân giặc vang dội. Vua rất lo lắng bèn triệu tập quần thần đến bàn bạc định kế sách tiến đánh quân Tống Chiêm. Thế là có một vị quan tâu rằng:

  • Uy đức của Bệ hạ bao trùm cả hải ngoại, nước giàu quân mạnh. Nay có giặc Tống Chiêm gậy loạn đến xâm phạm đất ta. Chúng thần xin được thay Bệ hạ chọn lấy tướng tài, lãnh quân chia đi tuần các đạo để hưng chấn quân thanh, đề phòng bất trắc. Lại có lòng trời quý mến mà giáng hạ nhiều anh tài, các vị trăm thần sông núi thường xuất hiện, biến hóa oai thần để âm phù giúp nước. Bệ hạ không cần phải lo lắng việc đánh giặc này.

Vua nghe nói rất vui mừng. Ngay hôm đó truyền lập đàn cáo tế trời đất, trăm thần sông núi, rồi giao cho các tướng lĩnh quân thủy bộ đi trước để tuần phòng các đạo. Còn vua đích thân dẫn quân tiếp ứng phía sau. Ngay hôm đó các tướng dẫn quân thủy bộ đường đường xuất quân. Vua mới làm một bào thơ úy lạo quân sĩ:

Tam quân lẫm lẫm xuất trùng quan
Vạn lý tinh kỳ vạn lý an
Công tự nhạn mao khinh tử mệnh
Sự quân nhất tiết cảm từ nan.

Khi ấy vua dẫn hai ngàn quân tướng đi. Trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống vang động ngàn non. Đi khắp bốn phương để yên định thiên hạ. Lên núi ngắm cảnh, nhàn chơi hải đảo. Một hôm vua tiến quân đến khu Mạnh Tân trang Bình Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là phủ Vũ Ninh). Lúc đó mặt trời đang chính giữa trưa. Vua nhìn xa thấy một vùng đầm có cảnh sơn thủy hữu tình bèn đi dạo xem bốn hướng. Bỗng thấy một người con gái, tuổi độ đôi mươi, dung mạo đẹp đẽ, nhan sắc phi thường, ngồi một mình ở bên bờ đầm, hát cười thầm. Vua lấy làm lạ, hỏi rằng:

  • Nhà người là ai mà lại đường đột ở đây như vậy? Hãy tâu thật thì sẽ không bị tội.

Người con gái tâu rằng:

  • Thiếp vốn cũng là con gái họ Hùng trước đây, vâng mệnh thiên đình trấn trị ở nơi địa phương này, sống tại trong đầm. Tên hiệu là Ả Thuần Nương. Nay nghe Bệ hạ thân chính dẹp giặc, thiếp vâng chiếu Thiên đế muốn đến gặp, tự xin âm phù dẹp giặc lập công. Đến sau yên bình để được tỏ ngôi này.

Nói xong thì biến mất. Khi đó là mùng 7 tháng Giêng. Vua lấy làm là, liền gọi các cụ già đến hỏi cho rõ. Khi ấy cụ già tâu rằng:

  • Khu chúng thần đúng là hay thấy có sự hiển hiện khác thường. Hoặc hiện hình ở trong khu. Hoặc dẫn người nơi đường. Người không may bị hại vô số nên mới lập một ngôi miếu nhỏ ở trên đầm mà phụng thờ. Ngày rằm mồng một đều thắp hương đèn, thấy rất linh ứng. Nhưng không biết tên hiệu như thế nào.

Vua nghe vậy truyền cho nhân dân làm lễ bái yết. Rồi vua dẫn quân thẳng đến Khâm Châu,, đánh một trận. Quân Tống Chiêm thua to, bỏ chạy. Vua dẫn quân khải hoàn trở về, mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ theo thứ tự công lao. Nhân đó vua nói:

  • Quân Tống Chiêm dẹp yên được cũng là nhờ có thần âm phù trợ.

Vua bèn phong thêm trăm thần. Sắc phong tên thờ tên thần. Phong Ả Thuần Nương Công chúa, tặng phong Thanh ảo Nhàn uyển Thủy Tinh Phu nhân. Cho phép khu Mạnh Tân trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay.

Lấy  các ngày 15 tháng Hai và tháng Tám làm chính lệ xuân thu.

Năm đầu Hồng Đức ngày tốt đầu mạnh xuân, Hàn lâm Lễ viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, trang 1004 – 995, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội.

Thần tích Đại Đương Giang Đại vương thờ ở khu Mạnh Tân xã Thư Lâm, Đông Anh

Phả cổ chép về một vị đại vương triều Đinh Tiên Hoàng 

Chi Khảm, bộ Tam đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Nước Việt xưa trời Nam mở vận, chia ngang núi sông theo sao Dực sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu phong chia đất thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ triều Hùng Kinh Dương Vương vâng mệnh vua cha phân phong là dòng dõi đế vương nước Việt ta. Đất thắng Hoan Châu kiến lập kinh đô. Thế mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền quốc đến đời sau xưng là Lạc Long Quân. Long Quân lấy tiên nữ Động Đình, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh, thấy có mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ có mang đến khi sinh sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra trăm nam, đều là bậc anh hùng vượt đời, đức độ hơn người. Đến khi trưởng thành Vua bèn dựng phong hầu, lập bình phong, chia trong nước thành 15 bộ. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

–          Ta là giống rồng, nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương ngũ hành hợp lại mà có con nhưng chủng loại không cùng nhau, nước lửa tương khắc, không thể ở cùng nhau được. Vì thế nên chia biệt.

Bèn chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, phân trị các miền rừng núi. Nếu có việc thì báo cho nhau, tất đến tương trợ, không thể nào cùng suy. Cuối cùng thì họ Hùng có trăm thần sông núi thường hay xuất thế, đầu nhập vào làm con các gia đình ở nhân gian để giúp nước giúp dân. Gia đình nào có phúc tất sẽ gặp được. Có thơ:

Nam quốc sơn hà nam đế cư

Tuyệt nhiên dĩ định tại thiên thư

Thiên cổ thánh hiền thiên cổ tại

Ức niên hương hoả ức niên dư.

Lại nói, khi triều Hùng đến lúc cuối, thế nước muốn dứt, trải ở nước Nam có Đinh Tiên Hoàng đế, ở trang Hòa Đông huyện Gia Định phủ Thuận An đạo Kinh Bắc có một nhà tên là Long Nương, tuổi độ 19, đi đến nơi bến sông nhỏ tên là Thiên Đức mà tắm rửa. Bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió nổi lên. Giao long quấn quanh người. Được một lúc Long Nương tỉnh lại. Trời đã quang tạnh. Tất là điềm báo tốt lành.

Từ đó nàng trở về có mang thai, nên lo sợ người dân đàm tiếu, rất xấu hổ. Ngày hôm đó nàng rời quê đi ra bên ngoài, tha phương nơi xa, đi đến khu đất bên đường cạnh sông đầu khu Mạnh Tân trang Bằng Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn. Đến đó thì nàng sinh con, tức ngày mùng 6 tháng Giêng. Nhân dân ở nơi đó thấy tình cảnh như vậy, thấy đứa trẻ đầu người mình rắn, cao hơn mười thước, to lớn đường đường, tay dài quá gối, thể mạo khôi ngô, không phải là người thường. Nhân dân đón về chăm sóc. Được vài năm, đứa trẻ hỏi mẹ:

–          Có biết ai là cha con không?

Mẹ nói rằng giao long quấn mình, có mang thai mà sinh. Người con tức giận, từ đó không tin mẹ. Ngay hôm đó đi tìm đến nơi Bồng Lai tiên cảnh để học phép màu thần tiên. Nghe nói ở huyện Chương Đức có Nam Thiên Đệ nhất động tên là chùa Hương Tích, bèn lên núi đến thắng cảnh cầu tiên, nhưng không gặp. Người con bèn trở về qua đạo Sơn Tây, đi đến Sài Sơn, du ngắm trên dưới bốn hướng, thấy cảnh đồ thông trời thấu đất, trạng thái xuất quỷ nhập thần. Lại thấy ở dưới núi có một khu đất cao tên thường gọi là Thiên Thị (Chợ Trời), tương truyền thần tiên thường đến ở đó. Người con bèn xuất khẩu đọc một bài thơ rằng:

Tương truyền thử hội thần tiên động

Bất giác trực truyền dữ ấu truyền

Kim nhật mông lung duy chỉ kiến

Hạ chi tiên dữ thượng chi thiên.

Rồi đi vào trong động làm lễ cầu đảo, đốt hương khấn rằng:

–          Thần ở trên trần thế, tiền tài thực như một đám mây trôi. Duy chỉ nghĩ đến người cha, khẩn niệm nơi đền thiêng giữa trời đất, thần tiên xuất hiện, soi cho tấc lòng thành để được một phép đi về Thủy quốc, tìm kiếm người cha mà giải được nỗi lòng, tích thêm phúc trời vậy.

Một tối đó trời sáng như ban ngày. Người con đi đến đền thiêng Tiễu Tước ở núi Tản Viên động Lăng Sương, khí tượng muôn vàn thần diệu, u hiển tối linh khôn lường, biến hiện vô cùng, đúng là nơi đệ nhất trời Nam. Người con bèn vào trong đền. Đến giờ Mùi ngày hôm đó nằm ở bên đền, thấy có thần tiên xuất hiện báo rằng:

–          Ngươi vốn xuất thế từ thủy cung, rất được yêu mến, tên gọi là Đương Giang.

Người con bèn tâu lên bệ rằng:

–          Thần không biết ai là cha mình. Lòng niệm hiếu trung mà tìm đến đền thiêng động tiên, nguyện ước được phép để gặp lại người cha.

Thần tiên nói rằng:

–          Thiên nguyệt – nhật Tam Giang là cha ngươi. Cho ngươi một phép ước.

Ngay hôm đó người con làm lễ bái tạ dưới bệ, trở về đạo Kinh Bắc, đến bến sông Thiên Đức có một đền thiêng tại nơi ấy. Mặt trời đã khuất bóng, tối đến nằm ngủ, mơ thấy một người áo mũ chỉnh tề, ngồi trên trước án, báo rằng:

–          Ta là Tam Giang, vốn là cha ngươi đây.

Sau một lúc thì người con tỉnh lại, nghĩ chuyện từ trong mộng mới biết là mẹ hiền. Ngày hôm đó trở về khu [Mạnh] Tân trang Bằng Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn. Mẹ con cùng hòa thuận, sinh nhai lập nghiệp.

Được mấy năm có vua Đinh Hoàng dẹp 12 sứ quân, ban chiếu thần dân thiên hạ ai là người có thông minh tài trí, đức hạnh hơn người, anh hùng có thể chống giặc. Ông Đương nghe vậy, học được cách lạ của thần tiên, tình nguyện xin được hơn ngàn quân giáp, giúp Đinh Tiên Hoàng dẹp giặc Ngô. Trong trang khu Mạnh Tân xin được làm thần tử, theo được hơn trăm người. Hôm ấy trên sông nhỏ tàu thuyền, trước lầu xe ngựa, nghe chiếu thiên tứ mà nổi lòng trạng nguyên bốn bể. Thần chú đọc mà ảnh động rồng rắn, sao trời rụng lạnh sông. Trận võ mở mà kinh hồn hổ báo, tiếng sấm truyền vang tận biển. Một chốn quốc gia, bốn bể anh hùng. Một đạo xuất quân theo cùng với vua Đinh Hoàng tiến thẳng đến cửa biển Hội Thống. Trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Trước thuyền chuông trống vang rền. Trong một trận đánh, giặc Ngô thắng lớn. Giặc Ngô vây hãm Vua được mấy ngày. Các tướng cùng với Đinh công đều lo lắng. Đương Giang công tâu với Đinh Hoàng rằng:

–          Xin được đọc một câu chú.

Trời đất bỗng tối tăm. Sóng nước nổi lên. Rồng, rắn, rùa, ba ba đều tự đến tụ trước mặt nước. Giặc Ngô rất sợ hãi, bốn phía đều bỏ chạy toán loạn. Được một lúc thì trời trong tạnh lại. Chém được vài ngàn vạn đầu giặc. Máu chảy thành sông thuyền bè đi được. Thây trôi nối dài tới ngoài biển. Giặc Ngô đều dẹp yên. Đinh công gọi nói rằng:

–          Trời đã giúp ta, có được phép ước của thần. Quốc sĩ vô song, tài quả không hai.

Ngay hôm đó Đinh công ban chiếu gọi các tướng cùng với các tì tướng trở về kinh thành. Đinh Hoàng lên ngôi vua, mở yến tiệc khao binh sĩ, thưởng thêm cho Đại Đương công 20 nén bạc. Thưởng cho nhân dân, gia thần 10 nén.

Ông trở về khu nhà. Ngay hôm đó gọi phụ lão nhân dân, gia thần đã dẹp được giặc Ngô, giết mổ trâu, lập đàn tế cáo trăm thần trời đất sông núi cùng Tản Viên Sơn Thánh. Khao hưởng quân sĩ. Ngày hôm sau thấy có sứ giả vâng chiếu thư cử ông đi nhận chức quản nhậm đạo Thái Nguyên. Ông ở đó 15 năm. Khi thân mẫu bị bệnh thì ông trở về chăm sóc mẹ. Mẹ bị bệnh mà mất. Ông khóc động trời nhưng không thể làm gì được. Bèn chọn đất tốt làm lễ chôn cất. Hương hỏa gia đường phụng thờ đúng theo lễ nghi. Đến khi mãn tang, khi ấy nhân dân thiên hạ bị nhiều bệnh dịch. Ông bèn nhờ phương thuốc thần tiên mà niệm thần chú. Nhân dân trong khu đều được yên ổn. Phụ lão, nhân dân, gia thần khu Mạnh Tân đều xin làm thần tử. Quả là phương thuốc thần tiên rất là linh nghiệm, giúp nhân dân cải tử hoàn sinh. Ông cười rằng:

–          Ta nhờ vào phương thuốc thần tiên mà từ nay ta sẽ được hiển tỏ.

Ông nói với gia thần trong khu rằng:

–          Trăm năm sau tất cả các con cháu thờ tự, có coi trọng ta tất sẽ coi trọng di mệnh của ta, muôn năm về sau ở tại khu này thờ phụng một vị là Đương Lộ Tản Viên Sơn Thánh. Các gia đình các họ tộc nhân dân, gia thần khu Mạnh Tân đều bố trí 130 khoảnh ruộng làm các ngày cúng giỗ.

Lúc ấy đang mùa xuân ngày đầu tháng Ba tuần thứ 2 thấy vua Đinh Hoàng Đế gửi thư đến, trong nói rằng nhờ phép ước thần tiên mà giặc Ngô đã thua to. Ngay hôm đó ông nhận chiếu vâng mệnh trở về triều. Vua mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho tướng sĩ tương ứng theo cấp bậc. Lại cho ông được nhận thực ấp ở khu Mạnh Tân. Ông bái tạ vua rồi trở về trị sở ở khu Mạnh Tân. Ông bèn xây dựng một khu dinh thự, nhàn du chơi đất đó. Ở đây có một thế cục sông núi quanh co, rồng hổ ôm bọc. Núi không cao nhưng đan xen. Sông có tình làm nguồn nước giếng. Thế tiện nghi tưởng cũng là một nơi thắng cảnh đẹp đẽ vậy.  Ngay hôm đó ông truyền cho binh sĩ cùng nhân dân xây dựng cung dinh và miếu điện.

Một hôm, ông mở tiệc mời nhân dân phụ lão khu Mạnh Tân đến. Đang lúc ăn uống, bỗng thấy trời đất tối tăm, mưa gió nổi lên, hình thành một đám mây vàng hạ thẳng xuống trước miếu. Ông bước xuống thuyền rồng rồi bay lên không mà đi. Trời sáng lại. Nhân dân thấy áo mũ, cân đai, thắt lưng còn để lại dưới án. Khi đó là ngày 15 tháng Chín.

Nhân dân sợ hãi bèn làm lễ dâng biểu tâu lên triều đình. Vua sai trở về làm lễ. Tế xong thì cho phép khu Mạnh Tân làm nơi hộ nhi để phụng thờ Đương Giang. Cứ mỗi năm ngày mùng 6 tháng Giêng lại cử giá về làm lễ, đặt thành lệ để biểu dương sự linh thiêng của ông. Như ngày trước Đinh Hoàng bị vây, ông giải thoát được. Giặc Ngô được dẹp yên là nhờ có phương cách của Tản Viên Sơn Thánh, ước chú thần tiên. Cứ mỗi năm ngày 12 tháng Mười một vua lại cử giá hội đồng đến nơi miếu trang Bằng Lâm cùng làm lễ, từ đó thành lệ thường vậy.

Phong là Đại Đương Giang Minh Tá phụ Đại vương. Trang phục màu vàng, đỏ đều cấm.

Phong tặng thêm là Đại Đương Giang Minh thiên Tá phụ Hùng tài Đại lược Thánh triết Anh linh Phù vận Hiển ứng Chính trực Đại vương.

Lại nói, từ đó về sau có nhiều sự linh ứng nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự. Đến khi Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, khi có được thiên hạ Thái Tổ bèn phong thêm một vị là Hiển hách Linh thông.

Thời Trần Thái Tông giặc Nguyên Khương đến xâm phạm, kinh thành vị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi ấy Đại vương cũng có hiển ứng âm phù giúp. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông phong thêm mỹ tự một vị là Linh ứng Anh triết Giang minh Cương nghị Anh. Sắc chỉ ban cho khu Mạnh Tân sửa sang miếu điện để phụng thờ. Tốt đẹp thay!

Vâng khai các tiết sinh hóa cùng với các chữ húy phải cấm là hai chữ Đương, Giang. Cho phép khu Mạnh Tân phụng thờ.

Ngày sinh thần là mùng 6 tháng Giêng. Chính lễ dùng mâm chay, phẩm quả, cùng bánh trôi làm lễ theo nghi thức, ca hát ba ngày thì ngừng.

Ngày hóa thần là 15 tháng Chín. Chính lệ dùng mâm chay, dưới lợn đen, trâu một màu, xôi, rượu, bánh chay, lễ dùng theo nghi thức.

Ngày lệ khánh hạ là 12 tháng Năm. Lễ dùng như trên.

Năm đầu niên hiệu Hồng Đức ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ tư ngày tốt giữa thu, Quản giám bách linh Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền lại theo chính bản cũ vâng chép.

Năm đầu niên hiệu Thành Thái ngày 18 tháng Mười một phong là Trừng trạm Dực bảo Trung hưng chi thần.

Khải Định năm thứ 9 ngày 25 tháng Bảy tặng thêm là Uông nhuận Trung đẳng thần.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1020 – 1008.

Thần tích Tiên Phi nhân thờ ở khu Mạnh Tân, xã Thư Lâm, Đông Anh

Ngọc phả cổ chép về một vị âm thần triều Lý 

Chi Tốn, bộ Trung đẳng

Nguyên Thánh Tổ Hùng Vương Sơn mở vận cơ đồ hơn hai ngàn năm Hùng Vương dựng nước. Núi xanh vạn dặm lập nên cung điện kinh đô. Nước biếc một dòng truyền rộng đạo giúp người lợi vật. Thống quản 15 bộ, gọi là Ngự tổ của Bách Việt vậy. Xem có một bài thơ rằng:

Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Ngã quốc thế truyền thiên tải tại
Ức niên hương hoả ức niên phương.

Lại nói triều Hùng đến thời cuối, vận nước đã cùng. Trải qua các triều ở Trung nguyên là Tấn, Tống, Tề, Lương, tổng cộng 349 năm, cho đến khi nước Nam có 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần cùng nổi lên. Trước đó ở đất Cổ Pháp huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc có một nhà họ Phạm tên Long, vợ là Đặng Thị Quang, sinh được một người con gái tên là Phạm Thị Tiên. Khi tuổi được 22 có vẻ đẹp vô song, có dung mạo chim sa cá lặn, nhưng duyên lành kết ước chưa định được kỳ, tài tử văn nhân cũng không vừa ý. Cha mẹ cười rằng:

  • Biết làm sao được. Nếu không phải người thường thì tất là người trên trời giáng xuống đây.

Từ đó Phạm Thị đi đến ở chùa Linh Ứng. Được một hai năm cha mẹ cũng không biết tung tích ở đâu. Nàng ở trong chùa đó mà sùng mộ cảnh Phật, tu sửa tượng Phật, trang hoàng lộng lẫy. Ba năm trôi qua. Một đêm nọ, khi nàng đang ngủ trong chùa, khoảng nửa đêm, đột nhiên mơ thấy mình bị Thần khuyển trêu chọc. Từ đó, nàng mang thai. Thai nhi lớn dần, không thể giấu được. Trẻ con, phụ nữ, nhân dân đều cười nhạo chuyện kỳ ​​lạ này, phỉ báng rằng:

  • Tăng nhân mà lại mang thai, thật đáng xấu hổ! 

Đêm đó, bà rời đi và đến chùa ở trang Tì Bào. Vào năm Giáp Tuất, bà sinh một người con trai. Bà tự xin ở lại chùa này, chăm lo tượng Phật, dâng hương thắp đèn ngày đêm. Qua tám chín năm đứa trẻ đến lúc trưởng thành. Khi đó mẹ con trở về quê cũ ở đất Cổ Pháp, [đến nhà] một vị thiền tăng tên là Khánh Văn. Trong nhà ông có con chó đá có hai chữ “Thiên tử” ở dưới giường bỗng nhảy ra sủa ba tiếng và vẫy đuôi vui mừng. Cả gia đình đều kinh hãi. Khánh Văn bốc Dịch xem được quẻ Càn, hào thứ hai, nói rằng: “Thánh nhân sẽ đến.” 

Đúng ngày hôm đó vào buổi trưa quả thấy Vua [con trai bà Phạm Thị] đến. Thiền sư thấy thực đúng vẻ trạng như Thiên tử, khác hẳn người thường. Khánh Văn bèn mời về nhà chăm sóc. Ông [Vua] hàng ngày đi học tại chùa Ứng Tâm ở trang Cổ Pháp, từ đó tinh thông kinh sử, có hoài bão lớn muốn trở thành một bậc anh hùng vượt đời, đức hạnh hơn người. Khi trưởng thành, ông đã theo phò Lê Đại Hành mà được đất nước, sau đó lên ngôi vua. 

Bà Phạm Thị nói với con trai rằng:

  • Mẹ đã tôn thờ đạo Phật. Điều đó quả là đúng chân tu.

Công Uẩn hỏi mẹ:

  • Cha con ở nơi nào?

Mẹ đáp:

  • Trước đây mẹ tu ở chùa Linh Ứng, đêm nằm ở dưới chân án nhang, mơ thấy thần khuyển chơi đùa mà sinh con.

Công Uẩn cười rằng:

  • Quả là khí tượng của Thiên tử.

Nói rồi khi đó  bà Phạm Thị đi đến khu Mạnh Tân huyện Yên Phú. Nơi đây bị thiệt hại do lũ lụt, cảnh chùa cũng đổ nát. Bà Phạm Thị phát tâm xin với người trong khu đồng tâm hiệp lực, tăng thêm công đức, tu sửa tượng Phật, tạo dựng lại cảnh phong quang xưa cho được hoàn thành. Xem có một bài thơ rằng;

Ngã cảnh phong quang tự thử thân
Sùng tu điện tượng cựu nhi tân
Danh truyền công đức lưu thiên cổ
Tế độ ngô khu vạn tải xuân.

Đọc xong thì công trình đã trở thành to đẹp. Người khu Mạnh Tân xin được làm thần tử, nếu ngày sau vạn nhất thế nào xin được phụng thờ. 

Bà bèn phát thư quyên góp tài vật mười phương để nên công quả, chuyển báo cho các vị sư tăng đến chùa Mạnh Tân mở hội mừng. Trong mười ngày bà lên đàn Mông Sơn để phát chẩn. Bà Phạm Thị mặc áo cà sa, đội mũ, một tay cầm hoa sen, một tay cầm ấn phù lên ngồi trên đàn. Các sư cùng tăng thống cùng nhau đọc kinh để hộ niệm. Phụ lão nhân dân trong khu ngưỡng nhìn thấy có một đám mây trắng như hình dải lụa đỏ nổi trên đàn. Bỗng nhiên trời đất tối tăm như ban đêm. Bà cưỡi mây mà đi. Ngày tháng đó bà hóa vậy. 

Nhân dân cùng với các sư và tăng thống đều sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua sai người trở về đó làm lễ. Việc xong thì cho phép khu Mạnh Tân làm nơi hộ nhi để phụng thờ. Từ đó trở thành lệ thường.

Phong tặng là Tiên Phi nhân.

Phong thêm Lý Quốc mẫu Hoàng Thái hậu.

Trang phục các màu xanh, đỏ khi làm lễ đều cầm dùng.

Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng, được phong thêm mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, cùng với đất nước yên hưởng, mãi như lệ thức. Vâng thay!

Vâng khai các lệ sinh hóa cùng các chữ húy cấm là chữ Tiên. Cho phép khu Mạnh Tân phụng thờ.

Ngày sinh thần là ngày 15 tháng Ba. Chính lệ lễ dùng lễ mâm chay, phẩm quả, ca hát.

Ngày hóa thần là mùng Mười tháng Giêng. Chính lệ lễ dùng trên cỗ chay, dưới gà sống, lợn đen, xôi, rượu, bánh trôi bánh chay.

Ngày lệ khánh hạ mùng 4 tháng Năm, lễ dùng như trên.

Ngày lệ khánh hạ 15 tháng Mười, chính lệ lễ dùng tùy sắp đặt.

Niên hiệu Hồng Đức thứ 3 ngày tốt cuối đông Hàn lâm viện bộ Lễ Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 7 ngày tốt đầu đông Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo bản chính trước đây.

Năm Thành Thái thứ 16 ngày 25 tháng Mười hai phong là Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần. 

Năm Khải Định thứ 9 ngày 25 tháng Mười đặc biệt cho phép theo như trước phụng thờ.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1030 – 1023.

Thần tích Ả Nguyệt Nga Công chúa thờ ở Cổ Miếu, xã Thư Lâm, Đông Anh

Phả chép về một vị công chúa âm phù triều Hậu Lý Thánh Tông

Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Bản chính bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt ta trời đất định lập, Ly Khảm phân phương hướng. Thành Tổ Hùng Thị mở vận ứng cơ đồ. Nước biếc một dòng mở đạo đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm dựng nền cung điện hùng đô. Giúp vật cứu người thống quản 15 bộ thế át phiên chư hầu. Lấy vua mà trị quốc hơn hai ngàn năm giữ vững dòng giống như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh. Lưu hương khói ở núi Hùng. Tất cả 18 đời ngự trị nước Nam đều lấy Hùng Vương làm tôn hiệu. Người đời sau có thơ rằng:

 Hùng gia sáng nghiệp tối du trường
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Nghĩa Lĩnh, Hùng Sơn tồn cựu tích
Lưu truyền huyết thực vĩnh vô cường [cương].

Xưa nước Việt thời Hậu Lý Thánh Tông tên là [Nhật] Tôn, là con trưởng của vua Thái Tông, kế thừa tổ tiên gây dựng, con cháu vun đắp mà truyền thời thịnh vượng. Trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, hết lòng để hưng bình mà làm yên Trung Quốc. Có lòng yêu dân, mở khoa tuyển quan để chọn người tài. Nuôi oai tích khí để dẹp giặc Chiêm. Lúc ấy có quân Chiêm, Tống cùng nhau làm loạn, khởi binh ở đất Khâm Châu. Quâng thanh vang động. Vua vô cùng lo lắng, ngay hôm đó cho triệu tập các quan cùng bàn kế sách tiến công dẹp giặc. Thế rồi có vị quan tâu rằng:

  • Uy đức của Bệ hạ vang khắp hải ngoại, nước giàu quân mạnh. Nay có giặc Tống Chiêm làm loạn đến xâm chiếm nước ta. Chúng thần tự xin được thay vua chọn lựa các tướng tài đem quân đi trước tuần phòng các đạo. Giặc chẳng qua vài ngày là dẹp yên.

Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó giao cho các tướng nhân quân thủy bộ đường đường mà ra trận. Vua mới úy lạo các tướng bằng một bài thơ:
Tam quân lẫm lẫm sơn trùng quan
Vạn lý tinh kỳ vạn lý an
Thảo tặc trung thần danh giá trọng
Sự quân nhất tiết cảm từ nan.

Khi đó vua mới cất 2 ngàn quân lính, trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống vang động nghìn núi. Đi khắp bốn phương, yên định thiên hạ, xem xét núi sông, nhàn ngắm biển đảo. Một hôm đi đến khu Cổ Miếu trang Bình Lâm huyện Yên Phong đạo Kinh Bắc (xưa là quận Vũ Ninh) thì mặt trời đã khuất sau núi. Lại gặp quan Tống Chiêm theo đường núi tiến đến. Vua bèn cùng các quân tướng đóng quân ở nơi miếu. Buổi đêm đến cuối canh ba, vua nằm mơ thấy có một người con gái phong tư yểu điệu, nhan sắc đặn đầy, có dung nhan chim sa cá lặn, có vẻ mặt hoa nhường nguyệt thẹn, tuyệt mỹ vô song, theo con đường trước miếu mà đến tâu rằng:

  • Thiếp cũng là con gái họ Lý trước đây, vâng chiếu của Thiên đế trấn trị địa phương, nhà ở đất này. Tên gọi là Ả Nguyệt Nga. Nay gặp bệ hạ thân chinh dẹp giặc, thiếp đến yết kiến tự xin được âm phù dẹp giặc lập công. Để ngày sau được tỏ vị.

Nói xong thì biến mất (khi đó là 12 tháng Tám). Lúc ấy vua tỉnh lại nhờ biết giấc mộng đó. Sáng ngày vua cho gọi các phụ lão đến hỏi cho rõ ràng. Người già tâu rằng:

  • Khu vực của thần đúng là có thờ phụng một vị âm thần, rất là linh thiêng.

Vua nghe vậy bèn làm lễ bái tạ, ban thêm cho 5 nén vàng để ngày sau sửa sang nơi thờ cúng. Ngày hôm sau vua dẫn quân đi đến xứ Khâm Châu, cùng đánh một trận. Quân Tống Chiêm thua to. Chém được tướng chính và các tướng sĩ vài ngàn đầu. Thu hoạch được khí giới, lương thực, xe ngựa vô số. Vua dẫn quân đôi khải hoàn về kinh, mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ theo cấp bậc. Nhân đó nói rằng;

  • Quân Tống Chiêm dẹp yên được cũng là nhờ có thần âm phù giúp.

Bèn phong thêm cho trăm thần, sai sứ mang sắc phong cho vị thần tên hiệu. Phong Ả Nguyệt Nga Công chúa, tặng phong Huệ hoà Trinh tĩnh Thái hoa Cảnh thiền Công chúa. Sắc chỉ ban cho khu Cổ Miếu trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay!

Vâng khai ngày thần hiện cùng với các ngày húy cấm, hai chữ Nguyệt, Nga. Cho phép khu Cổ Miếu trang Bình Lâm thờ phụng.

Ngày thần hiện là 12 tháng Tám. Chính lễ dùng cỗ chay, phẩm quả, ca hát.

Năm đầu Hồng Phúc ngày tốt đầu xuân, Hàn lâm Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản chính vâng chép.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1044 – 1040.

Thần tích Ngọc Thanh Công chúa thờ ở Cổ Miếu xã Thư Lâm, Đông Anh

Ngọc phả cổ chép về một vị công chúa âm phù triều Trưng nữ vương

Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam Thánh tổ mở vận cơ đồ, hơn hai ngàn năm Hùng Vương dựng nước. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Nước biếc một dải mở đạo đế thánh vua sáng để cứu vật giúp người, thống quản 15 bộ, xưng là tổ ban đầu của Bách Việt vậy. Nên có thơ rằng:

Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập thất thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hoả ức niên phương.

Lại nói, khi cơ đồ họ Hùng đến lúc suy, ý trời muốn dứt, trải đến thời Đông Hán, lúc đó có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm đất đai Trung Nguyên. Triệu họ lầm than, không người cứu giúp. Đến khi có người cháu gái Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, thánh thần trên đời, dương cao oai hùng đem quân đến đánh. Nhưng khi ấy không có những người nam nhi có tài thao lược. Nữ tướng thống soái quân đội, phát động thần linh. Trưng nữ bèn cáo chúc Tản Viên Sơn Thánh, lập đàn ở cửa sông Hát Môn (tức là xứ Sơn Tây), mổ trâu lợn làm cỗ, cáo tế trời đất và trăm thần sông núi. Mới khấn rằng:

  • Trời sinh ra con người là tông chủ của vạn vật trong trời đất. Qua các thời đế vương trước đây đều là những bậc thiên tử thánh minh, triều đình có đạo yêu dân vì nước, đức hóa thâm sâu, thiên hạ thanh bình, trong triều vô sự. Nay có kẻ dị tính Tô Định, là loài dê chó ngang ngược, lộng hành hung hãn, ngược chính hại dân. Thiên hạ thần người đều căm phẫn. Thiếp hiềm là cháu gái Hùng Vương, chỉ là một nữ nhân, nghĩ đến sinh linh, Hoàng thiên cũng rơi lệ. Hôm nay, đau lòng xót dạ mà phục nghĩa dẹp ác. Xin trăm vị chư tôn thần linh về hội ở đàn chứng giám lời thề, ra sức giúp Trưng nữ thiếp dẫn quân dẹp giặc, giữ nước an dân. Để thiếp khôi phục là cơ nghiệp cũ của tổ tiên, đem sinh linh lên nơi chiếu êm, vớt sinh linh từ dòng nước lửa. Sau là không phụ ý Hoàng thiên, thỏa vong linh tiên hoàng nơi miếu thờ, an ủi tổ phụ dưới chốn cửu tuyền.

Khấn xong thấy xuất hiện ngàn hàng vạn đội âm binh. Lại truyền hịch đi khắp nước Nam các đạo, châu, quận, hễ chỗ nào có tướng tài nam nữ, thì hãy thu thập quân tốt làm phiên thần mà dẹp giặc. Hôm ấy các đạo, châu, quận đến giúp có tới cả vạn. Người giàu thì xuất tiền tài. Người dũng thì giúp sức lực. Ngay hôm đó Trưng nữ lập thành các đội, dẫn quân tiến đến vùng đất ở đầu địa phận của khu Cổ Miếu trang Thư Lâm huyện Yên Phong phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh). Mặt trời đang ở trên đỉnh. Trưng nữ bèn cho quân đóng tại đó. Quân sĩ nghỉ ngơi ăn uống. Trưng nữ mới đi xung quanh xem bốn phía. Bỗng thấy có một người con gói tuổi độ đôi mươi, môi son má phấn, muôn điểm nét thu, mắt phượng mày ngài, mười phần xuân sắc. Phong tư yểu điệu, nhan sắc đặn đầy, tuyệt thế vô song. Đang ngồi một mình dưới gốc cây đa, thầm hát cười khe khẽ. Trưng nữ lấy làm lạ bèn hỏi:

  • Cô là ai sao lại đường đột một mình ở đây?

Người con gái đáp rằng:

  • Thiếp trước vốn là con gái họ Hùng, tên gọi là công chúa Ngọc Thanh. Trời đất an bài định cho ở tại địa phương này. Có đức vua tất có quân thần. Nên thiếp muốn tới gặp mặt, tự xin được âm phù dẹp giặc. Ngày sau mong được rõ công lao.

Nói xong thì biến mất. Khi ấy (ngày 15 tháng Ba) Trưng nữ lấy làm kỳ lạ bèn cho gọi các phụ lão ở địa phương đến hỏi cho rõ ràng. Các cụ già tâu rằng:

  • Khu chúng thần đúng là có thờ phụng một vị âm thần, rất là linh thiêng, ứng hiện phi thường. Có lúc hiện hình ở trong làng, có lúc chặn người ở ngoài đường. Những người không may mắn bị hại rất nhiều.

Trưng nữ nghe biết vậy thì lấy làm vui mừng nói:

  • Nếu quả đúng như vậy thì giặc Định kia tất sẽ bị dẹp yên.

Trưng nữ làm lễ bái tạ, dẫn quân thẳng đến đồn giặc Định đánh một trận. Quân của Định thua to, bỏ chạy. Chém được tướng chính, thu hoạch vô số khí giới, lương thực, ngựa xe. Ở Lĩnh Ngoại cho xây 65 thành, phục hồi lại toàn bộ đất đai nước Nam. Từ đó thiên hạ thanh bình, đất nước vô sự. Trưng nữ lên ngôi làm vua, cho mở tiệc mừng lớn, phong thêm cấp bậc tương ứng cho các tướng sĩ. Nhân đó nói rằng:

  • Giặc Định dẹp được cũng là nhờ có thần linh trợ giúp âm phù.

Bèn phong thêm cho trăm thần. Phong Ngọc Thanh Công chúa, phong tặng là Thuần chính trang Đoan trang Trinh thục Phu nhân. Cho phép khu Cổ Miếu trang Thư Lâm đón mĩ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay!

Vâng khai ngày thần giáng hiện cùng với các chữ cấm húy là hai chữ Ngọc, Thanh. Cho phép khu Cổ Miếu trang Thư Lâm thờ phụng.

Ngày thần giáng là ngày 15 tháng Ba. Lệ chính dùng trên mâm chay, phẩm quả, dưới tùy nghi, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Tám. Chính lệ dùng như trên.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc (1572) ngày tốt đầu xuân (tháng Giêng), Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Năm thứ sáu hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hữu (1740) ngày tốt giữa thu (tháng Tám), Nội các bộ Lại lại theo bản cũ vâng chép.

Năm thứ tư hoàng triều niên hiệu Khải Định, năm Kỷ Mùi (1919) ngày tốt đầu mùa đông (tháng Mười), người dân trong thôn vâng sao chép nguyên bản ở xã Bình Trù.

Vốn năm trước dân thôn khi dựng mới miếu thờ, thần có ứng mộng cho một đôi câu đối rằng:
Tam sinh khí tiết thiên thu tại
Nhất điểm anh linh vạn cổ liêu.

Nghĩa là:
Ba kiếp nghìn thu còn khí tiết
Vạn năm một chốn tỏa anh linh.

Đến năm đó dân thôn lại tìm được một đạo thần tích, tương ứng phù hợp với trong mộng báo nên dân thôn rất tin tưởng việc này.

Một đạo thần tích người đời sau chép

Được ghi lại tương tự như thần tích của Đại vương, nên lược chép dưới đây.

Thời vua Lê Thái Tổ, tên húy là Lợi. Khi ấy ở trang Cổ Pháp có một người con gái nhà họ Nguyễn tên là Tịnh Nương, tuổi độ đôi mươi. Tổ tiêu được nhận phong là “trâm anh lũy thế”, duyên lành tốt đẹp còn chưa được định kỳ. Một hôm Nương đi đến khu Cổ Miếu trang Bình Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh). Bỗng nhiên thấy trời đất có mây mù nổi lên khắp bến phía. Nương bèn chạy vào trong đền, núp ở bên trái dưới án mà mơ màng thiếp đi. Bỗng nằm mộng thấy một nữ nhân hình dung cổ quái, nhan sắc kỳ lạ từ trên án đị thẳng xuống và nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái nhà họ Hùng trước đây, vâng mệnh Thiên đình trấn trị tại địa phương, tên gọi là Ngọc Thanh, ở tại nơi miếu này. Nay vâng chiếu của Thiên đế mà đầu vào làm con của bà.

Nói xong thì biến mất. Nương rất sợ hãi, tỉnh lại vẫn nhớ điều trong mộng. Từ đó trở về nhà, thấy trong người có thai. Năm Nhâm Thìn ngày mùng 2 tháng Mười một sinh hạ một người con gái, dung mạo khác thường, nhan sắc phi thường. Bà Nguyễn nhớ lại giấc mộng khi trước mà đặt tên con là Ngọc Thanh. Ngày qua tháng lại, nàng đã lên tám tuổi thì bà mẹ bị bệnh mà qua đời. Đến khi nàng lên 13 tuổi có phong tư yểu điệu, nói năng uyển nhã, má phấn môi son, vạn điểm như sóng thư, mắt phượng mày ngài, mười phần xuân sắc. Khi đó có Hồ Quý Ly thoán ngôi nhà Trần, bạo ngược hại dân, giết chồng cướp vợ, sai cứ đi khắp thiên hạ, hễ nhà ai có con gái đẹp mà không chịu cống nạp thì giết cả nhà. Lúc ấy nàng bỏ chạy tránh tới trại Gia Lâm, gặp anh em Lê Lai, Lê Lợi, Lê Thiện, Lê Thạch cũng bị Quý Ly yêu sách mà phải bỏ đi, đang dẫn cả nhà gia quyến tìm cách chạy vào rừng núi. Khi đến nơi ông Lê Lợi hỏi rằng:

  • Nàng là ai vậy?

Nàng đáp rằng:

  • Thiếp là con gái họ Hùng trước đây, xuất thế đầu nhập làm con ở nhà họ Nguyễn. Nay bị Quý Ly tìm kiếm nên bỏ chạy đến đây thì gặp Minh công. Trời đất an bài, nơi chốn đã định. Thiếp xin được theo gia quyến của Minh công để giúp nuôi dưỡng. Minh công yên tâm mà bắt cha con họ Hồ, chiếm định được thiên hạ.

Ông Lợi nghe vậy đồng ý cho ở cùng một chỗ với gia quyến của mình.

Lại nói, thời Minh Thành Tổ sai đại tướng Mộc Thạnh, Liễu Thăng, Trương Phụ, Hoàng Phúc đến hỏi tội họ Hồ. Khi đó Lê Lợi cũng ra giúp nhà Minh bắt yên được họ Hồ. Lúc ấy, nàng nghe là cha con họ Hồ đã bị diệt, thiên hạ được yên. Một hôm là xuống núi trở về nơi miếu ở khu Cổ Miếu, trang Bình Lâm huyện Yên Phú đạo Kinh Bắc, làm lễ bái yết. Khi đó phụ lão ở trong khu đều sợ hãi đến đón. Nàng mới gọi các vị cao niên đến hỏi rằng:

  • Khu của các người thờ phụng vị nào?

Phụ lão tâu rằng:

  • Khu vực của thần phụng thờ một vị công chúa, có tên thần như vậy, rất là linh thiêng, hiển hiện phi thường. Trước đây 20 năm có một người đàn bà đi bán tạp hóa đi qua, vào trú trong miếu. Từ đó không thấy linh nghiệm nữa.

Nàng bèn cười rằng:

  • Đó chính là mẹ đẻ của ta.

Lúc ấy phụ lão, nhân dân đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Nàng đồng ý, lại cho thêm 5 nén vàng ròng để sửa chữa nơi thờ phụng. Nói xong thì không trung trời đất bỗng trở nên tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên, giữa ban ngày mà như đêm. Thấy có một ánh hào quang từ trên trời hạ thẳng xuống trước miếu giống như xa giá đến đón. Thấy nàng theo mây bay lên không ra nơi đất đầu khu ở xứ Gò Đống. Chốc lát thì trời trong lại. Thấy mối đùn đất thành một mộ lớn, không còn thấy nàng nữa, tức là đã hóa. Khi ấy là ngày mùng 3 tháng Ba, nhân dân đều sợ hãi, bèn làm lễ tế. Từ đó lại rất linh nghiệm.

Lại nói, Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp Minh Liễu Thăng, có dẫn quân đến đây cầu đảo, cũng có sự hiển ứng âm phù. Đến khi được thiên hạ Thái Tổ bèn sai sứ mang sắc phong tên và thần hiệu đến.

Phong Ngọc Thanh Công chúa, tặng phong là Huệ hoà Trinh thục Hiển ứng Linh phù Hộ quốc An dân tôn thần. Lại tặng thêm một bài thơ do vua đề là:
Tam sinh khí tiết thiên thu tại
Nhất điểm anh linh vạn cổ liêu.

Nghĩa là:
Ba kiếp nghìn thu còn khí tiết
Vạn năm một chốn tỏa anh linh.

Cho phép khu Cổ Miếu trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân, sửa sang miếu điện để phụng thờ. Vâng thay!

Vâng khai sinh hóa các ngày cùng với các chữ húy cấm là Ngọc, Thanh hai chữ. 

Ngày sinh thần là mùng 2 tháng Mười một. Lễ chính trên bày cỗ chay, phẩm, quả, dưới thịt lợn đen, xôi, rượu, ca hát 3 ngày.

Ngày hóa thần là mùng 3 tháng Ba. Lễ chính dùng lễ tùy nghi, ca hát đều cấm.

Năm đầu Hồng Phúc [ngày] tốt đầu xuân,  Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 6 ngày tốt giữa thu Nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1056 – 1046.

Thần tích xã Vũ Lăng tổng Thịnh Quang huyện Trực Định tỉnh Nam Định

Ngọc phả cổ do Thượng thư quốc triều vâng soạn về dòng dõi trăm trứng triều Hùng gồm tứ vị Thủy thần Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Lục Cung Uy Đại vương.

Xưa nước Việt ta ở phương Nam, núi sông thuộc khu vực sao Dực, sao Chẩn, ứng về phương Đẩu, phương Ngưu. Từ thuở đầu dựng nước, nối vận lớn của Thánh tổ Kinh Dương Vương, non sông muôn dặm, dựng nền thành đô cung điện, mở mang muôn vật, cứu giúp nhân dân, thống lĩnh mười lăm bộ nước Đại Việt.

Đến thời Hùng triều truyền đến vua Huy Vương, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng quốc hiệu là Văn Lang, kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua chiêu tập anh tài, dùng người hiền giúp sáng đức lớn, sửa sang lễ nhạc văn trị, ngoài giữ biên cương, khiến các phương xa mến phục nghĩa đức. Vận nước hưng thịnh, giáo hóa nhân dân, phong tục trở nên tốt đẹp, thiên hạ đều xưng tụng là bậc vua quý báu.

Xét thuở xưa, Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình tên là Âu Cơ, lập làm chính cung. Một hôm trở về núi Nghĩa Lĩnh, bỗng thấy mây lành năm sắc, bốn phương rực rỡ, rồi mang thai ba năm. Đến ngày ba mươi tháng ba đủ kỳ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành một trăm con trai, đều có khí tượng anh hùng cái thế.

Khi các con đã trưởng thành, vua bèn chia nước làm mười lăm bộ: Một là Sơn Tây. Hai là Sơn Nam. Ba là Hải Dương. Bốn là Kinh Địa (Bắc?). Năm là Hoan Châu. Sáu là Ái Châu. Bảy là Bố Chính Châu. Tám là Ô Châu. Chín là Hưng Hóa. Mười là Tuyên Quang. Mười một là Cao Bình. Mười hai là Lạng Sơn. Mười ba là Quảng Đông. Mười bốn là Quảng Tây. Mười lăm là một châu khác (Ai Lao?).

Khi ấy Lạc Long Quân cùng Âu Cơ chia biệt nhau. Năm mươi con trai theo cha xuống biển làm thủy thần. Năm mươi con trai theo mẹ lên núi làm sơn thần, trấn giữ các nơi. Từ đó về sau thường hiển linh cứu nước giúp dân.

Lại nói thời nước ta, tại đạo Hải Dương, phủ Thượng Hồng, huyện Đường, xã Mộ Trạch, có một nhà họ Cao, lấy người họ Trần làm vợ. Ông Cao là người thông minh sáng suốt, dũng mãnh hơn người, tinh thông văn học, kiêm giỏi võ nghệ, có sức mạnh trăm người khó địch, được cử làm chủ quan bộ Sơn Nam.

Chủ quan bái tạ nhận mệnh, đem quân đóng tại Sơn Nam Hạ đạo. Một hôm nhàn rỗi đi xem núi sông phong cảnh, đến xã Vũ Lăng huyện Chân Định, thấy một vùng đầu sông có dải đất uốn như rồng chạy, ruộng rộng nước quanh, cây cối tốt tươi, dân cư đông đúc, phong tục thuần hậu.

Lại thấy thế đất quý như rồng chầu hổ phục, sao Kim ứng đối. Chủ quan nhìn mãi không chán, bèn dừng xe giá. Dân chúng đều làm lễ chào mừng. Chủ quan truyền dân dựng hành cung, lấy nơi ấy làm chỗ xe giá ngự đến, giáo hóa dân chúng, khuyên chăm nghề nông tang.

Nhờ vậy dân lấy nông tang làm gốc mà hưng thịnh, trừ bỏ mọi điều hại dân. Không một người nào không được yên ổn sinh sống, không một vật nào không được nuôi dưỡng.

Qua ba tháng, vào mùa hạ tháng sáu, phu nhân xuống bến sông tắm gội. Đang khi tắm, bỗng thấy giao long cùng cá lớn, ba ba từng lớp kéo đến chầu quanh. Lại có một con giao long lớn dài hơn một trượng, quấn quanh thân phu nhân ba vòng. Phu nhân kinh hãi ngất đi. Chốc lát sau, giao long cùng các loài thủy vật đều biến mất. Phu nhân tỉnh dậy, lên bờ trở về cung. Giữa đường gặp chủ quan. Chủ quan nghe chuyện rồi đoán rằng:

“Giao long giao cảm cùng phu nhân, ấy là mệnh của thủy thần Long Hầu nơi Động Đình Thủy Đế, tức là điềm Long Hầu giáng thế.”

Từ đó phu nhân bỗng có thai, mang thai đủ mười bốn tháng. Đến ngày mồng mười tháng tám năm Bính Ngọ, sinh ra một bọc bốn trứng, nở thành bốn con trai. Bốn người dung mạo đường đường, đều mang nét mặt rồng rắn, hai tay có lông lạ mọc ngược lên, hình tướng khác thường. Chủ quan cho là điềm lạ, bèn lập hai nơi hành cung để bốn công tử cư ngụ nuôi dưỡng.

Ngày qua tháng lại, xuân sinh hạ trưởng, chẳng bao lâu đã lớn khôn. Chủ quan làm biểu tâu lên vua. Vua sai sứ giả triệu cả bốn về triều vào chầu. Bốn người làm lễ xong, đối đáp trôi chảy như nước chảy, lại bày ra tài năng kỳ lạ và phép thuật khác thường. Vua rất vui, bèn ban tên hiệu:

Người thứ nhất là Chàng Cả

Người thứ hai là Chàng Hai

Người thứ ba là Chàng Ba

Người thứ tư là Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương

Cho ở lại giúp triều đình, cùng lo việc nước.

Qua ba tháng, có giặc phương Bắc, tướng tên Thạch Linh Thần Tướng, thống lĩnh mười vạn quân kéo sang xâm lược nước ta. Tin báo biên cương dồn dập, một ngày ba lần vào triều. Vua rất lo lắng, bèn sai trăm quan lập trai đàn tại Long đình, triệu quần thần hội họp cầu kế.

Ba ngày sau, bỗng nổi gió lớn, sấm sét, mưa dữ. Hiện ra một ông lão cao lớn hơn chín thước, râu tóc bạc trắng, ngồi nơi ngã đường cười nói tự nhiên. Dân chúng tâu lên vua. Vua thân đến đón vào đàn, làm lễ rồi hỏi:

“Nay có giặc Bắc kéo sang, việc thắng bại ra sao?”

Ông lão đáp:

“Nếu tìm được người ấy thì giặc này chẳng khó dẹp.”

Nói xong bay thẳng lên trời.

Vua biết đó là Lạc Long Hầu hiển linh báo ứng, lập tức sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài đánh giặc. Một hôm sứ giả đến vùng Vũ Ninh, gặp nhà một phú ông có đứa con trai tên Thiết Xung Thần Vương, mới ba tuổi, ăn uống rất khỏe nhưng chưa biết nói cười. Mẹ đứa trẻ cười nói:

“Con ta chỉ biết ăn uống, chưa thể đánh giặc báo nước.”

Bỗng đứa trẻ cất tiếng nói với sứ giả:

“Mau về tâu vua, rèn cho ta ngựa sắt cao mười tám thước, kiếm sắt dài mười trượng, đem đến cho ta. Giặc ấy chẳng khó dẹp.”

Sứ giả trở về tâu đủ. Vua mừng lớn, lập tức sai thợ giỏi rèn ngựa sắt và kiếm sắt đúng như lời dặn. Rồi sai bốn vị Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Công, theo cùng Thiết Xung Thần Vương [Thánh Gióng] đi đánh giặc.

Bấy giờ bốn vị thống lĩnh quân thủy tộc gồm rồng rắn, cá lớn, ba ba, cưỡi sóng tiến đi theo đường nước, thẳng đến cửa biển Thần Phù. Đại chiến hơn hai mươi trận, đánh tan quân Ân. Thần Vương rút kiếm sắt chém tướng giặc Thiết Lôi Thần Tướng thành ba đoạn, ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến binh rồi khải hoàn về triều. Vua nghe tin rất mừng, truyền mở đại yến, giết trâu dê gà lợn, ban thưởng công thần lớn nhỏ theo công trạng.

Lại gia phong:

Chàng Cả làm Vua Vàng Lân Hầu Đại Tướng Quân.

Chàng Hai làm Vua Vàng Long Hầu Đại Tướng Quân.

Chàng Ba làm Vua Vàng Bạch Long Đại Tướng Quân.

Tá Công làm Lục Cung Uy Diệu Đại Tướng Quân .

Cho các vị chia nhau trấn giữ các đạo Sơn Tây, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Hải Dương, Kinh Bắc và nhiều nơi khác. Các vị giúp coi việc nước suốt hai mươi năm. Từ đó thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự, muôn dân vui phục, bốn biển hưởng cảnh thái hòa. Về sau lại có giặc dữ nổi lên, cướp phá vùng Kỳ Môn, Hải Dương, cửa biển Thần Phù. Chúng dùng yêu pháp gây thiên tai, dịch bệnh, dân chúng đói khổ lưu lạc, chết chóc vô số. Vua lại sai sứ thần triệu các vị về kinh đánh giặc. Ngay trong ngày các vị về chầu. Vua giao cho mười vạn quân, ba mươi đạo chiến thuyền, năm trăm lầu thuyền kéo đi thảo phạt. Đến cửa biển Thần Phù, lại bắt được Thiết Lôi Thần Tướng, chém làm ba đoạn ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến quân. Dân chúng khắp nơi dựng đàn cầu trời đất và thần sông cứu giúp. Các vị phá đê dẫn nước. Chỉ trong một đêm nước rút, ruộng đồng trở lại như cũ, nạn lụt tự tan. Dân chúng vô cùng vui mừng.

Các vị trở về đến xã Vũ Lăng, vào bến nước thì bỗng hiện thành bốn con rắn xanh, rẽ nước mà đi rồi hóa mất. Ngày mồng mười tháng Chạp năm Ất Tỵ, trời đất tối tăm, gió mưa dữ dội, giữa ban ngày mà như ban đêm, kéo dài ba ngày.

Khi trời quang trở lại, dân chúng kinh hãi, cho là việc linh thiêng, liền làm biểu tâu lên quan trên, rồi dâng lên vua. Vua nghe việc ấy, bèn gia phong bốn vị là bậc Thượng đẳng Phúc thần. Ban rằng bốn vị cùng vận nước lâu dài, đời đời hưởng thờ, hương khói không dứt.

Lại sai dân dựng hai nơi hành cung, lập chính từ tại Quảng Lăng xã, cùng năm xã thuộc Hải Dương đạo phối thờ.

Lại gia phong:

Đệ nhất Chàng Cả Vua Vàng Đại Vương.

Đệ nhị Chàng Hai Vua Vàng Đại Vương.

Đệ tam Chàng Ba Vua Vàng Đại Vương.

Đệ tứ Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương.

Từ sau khi hóa thần, hễ cầu mưa thì được mưa, cầu tạnh thì được tạnh, cầu đảo đều linh ứng hiển hách. Vì thế các triều Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê đều gia phong mỹ tự:

“Bảo quốc hộ dân, uy linh hiển hữu, Tứ vị Đại Vương Thượng đẳng Phúc thần, cùng vận nước lâu dài.”

Lệ khánh hạ vào ngày mồng mười tháng Giêng, dùng lợn đen, trâu vàng, làm lễ ba ngày.

Ngày sinh của bốn vị là mồng mười tháng Tám, từ mồng chín đến mồng mười làm lễ, dùng trâu dê, có ca xướng.

Ngày hóa của bốn vị là mồng mười tháng Chạp, lễ dùng lợn đen, bánh trắng vo tròn cùng các lễ vật khác.

Bản này được soạn vào ngày lành đầu xuân năm Hồng Phúc nguyên niên ( 1572), do Hàn Lâm viện Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh phụng soạn.

Đến ngày mười lăm tháng sáu năm Vĩnh Hựu thứ tư (1738), quan Nguyễn Hiền vâng theo bản cũ mà sao lại.

Bản dịch của Lê Anh Thao https://www.facebook.com/share/p/1b61e9BkVk/

Thần tích trang Bất Phí, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Ngọc phả cổ chép về hai vị đại vương khai quốc công thần triều Hùng có nhiều công lao, đáng tôn tước thần, đáng phong linh ứng

Sơn thần Chi Cấn. Bản chính bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ ứng đồ hơn hai ngàn năm, mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế mạnh phục các chư phiên. Nối tiếp ngôi báu cơ đồ to lớn. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giữ dòng dõi bền vững như bàn đá. Hiển linh ở núi Nghĩa Lĩnh. Phàm là những vị công thần giúp nước có nhiều công lao, những người trung nghĩa với triều đình và đất nước, thì tuy hóa mất nhưng dấu tích vẫn còn, tên tuổi còn với núi sông, sự nghiệp gắn với năm tháng mãi mãi trường tồn.

Lại nói, các đời trước truyền đến Kinh Dương Vương lấy người con gái Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Long Quân có tư chất phi thường, vốn có khí tượng của bậc đế vương. Khi ấy có người con gái của Đế Lai là Âu Cơ về ở tại quê mẹ tại động Lăng Sương, ra chơi ở Trường Sa. Long Quân gặp được, rất yêu mến nhan sắc đó nên cưới về, lập làm Hoàng thái hậu. Đến khi Kinh Dương Vương tuổi đã cao, Long Quân nhận nối ngôi vua, đổi tên là Hiền Đặc. Âu Cơ qua hai năm sau có mang, được đủ qua ba năm ba mươi ngày mới đến kỳ mãn nguyệt, sinh hạ một bầu, nở ra trăm trứng, thành điềm trăm trai (tức là năm Giáp Dần giờ Dần ngày mùng 6 tháng Giêng thì sinh). Đang lúc sinh bỗng thấy trên trờ có mây lành năm sắc rực rỡ, khí tốt huy hoàng, không phải như người thường sinh ra. Trải qua trăm ngày, trăm người con trai đều có diện mạo đường đường, vẻ uy lẫm liệt, hàm hổ dáng rồng, thân hình cao lớn, thực là những người con trai khác lạ, dị thường. Đến khi trưởng thành khí chất thông minh, tài cao mưu dũng, hô mưa gọi gió, vượt núi qua sông, biến hổ hiện rồng, ra thần vào thánh, biến hóa vô cùng.

Khi ấy Long Quân cho đặt tên gọi. Mới đặt tên người con trai thứ ba là Uy công, người con trai thứ tư là Tuấn công. Còn lại 98 người con trai khác được ghi ở tích riêng. Đặt tên xong Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là loài tiên. Tuy là cùng thân thiết nhưng nước lửa tương khắc, nhân đó mà chia biệt.

Chia tước hầu mà lập các nước chư hầu, lập làm trăm vương, cải thành trăm họ, lệnh trấn giữ các đầu núi góc biển, hùng cứ ở các phương mà trị nước. Bèn đặt 50 người con theo cha về biển là Thủy thần. 50 người con theo mẹ đặt là Sơn thần. Là tổ của Bách Việt vậy.

Lại nói, vào thời Hùng Vương trị vì thiên hạ thái bình, dân giàu vật khỏe, đương thời đều gọi là thịnh trị vậy. Khi ấy vua Ân thấy nước Nam không vào chầu làm lễ nên tự dẫn quân giả là đi tuần thú, muốn đến đánh chiếm. Hùng Vương nghe tin liện triệu gấp các vị sơn thần, thủy thần về triều đình để giúp nước. Khi đó chỉ có hai ông theo cùng với Đổng Thiên Vương tiến quân, cưỡi ngựa sắt thẳng đến đất Chu Sơn huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh), lập trận chia các đồn để đánh quân Ân. Lúc ấy hai ông mới chia nhau lập đồn trại ở tại địa giới trang Bất Phí. Tuấn công lập đồn ở hướng Tây. Uy công lập đồn ở hướng Đông. Đến kỳ định thì bày trận đánh lớn một trận. Quân Ân đều bị phá tan, sợ hãi quay giáo chống cự, chết tại chân núi Chu Sơn.

Khi ấy quan quân đều bái lạy trước mặt, đến xin hàng phục, vì thế mà yên giặc vậy (Đổng Thiên Vương có sự tích ở phả chép riêng). Từ sau khi dẹp được quân Ân hai ông tiến quân trở về triều đình, bái yết trước vua. Hai ông sau đề quay về núi mà hóa mất (tức ngày 12 tháng Tám ở đất núi Ngọc Chúc).

Từ sau khi hóa mất trời đất mù mịt, mưa gió lớn nổi lên, mây mù che phủ ở nơi ấy. Nhân dân thấy vậy bèn làm biểu tâu lên nhà vua. Vua nghe vậy, rất thương tiếc công thần có công với nước, bèn ban tặng cho là họ Cao, lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ về tại nơi cung đồn trang ấp, truyền nhân dân sửa sang lập hai ngôi đền thiêng tại hai cung nơi đồn sở đó để phụng thờ. Lại ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 70 quan để tiền chung, dùng làm quốc tế xuân thu, phong thêm mỹ tự Thượng đẳng Tối linh thần, vạn năm hưởng lộc cùng với đất nước, mãi mãi là quy thức không đổi. Thịnh thay!

Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Hiển hữu, tặng Hưng Phúc Thượng đẳng thần Đại vương.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Phổ quốc, tặng Quý Minh Thượng đẳng thần Đại vương.

Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi cho đền thiêng thứ năm, hương lửa phụng thờ.

Lại nói, đến về sau qua các đời đế vương đến khi triều Lý Thái Tổ làm vua. Bỗng có Chiêm Thành dẫn quân đến xâm chiến đất nước. Vua mới cất giá dẫn quân đi dẹp giặc Chiêm. Bỗng thấy khi qua địa giới của trang thì trời đã xế chiều, bóng dương đã ngả. Vua bèn cho lập đồn đóng quân ở đất đó. Đến nửa đêm vua bỗng nhìn xa thấy ở hướng Đông và hướng Tây có hai khối lửa đỏ

Hình dáng như đèn lồng bay thẳng đến trước mặt. Vua thấy thế cho là lạ liền gọi nhân dân trong trang đến hỏi:

  • Ở phía Đông và Tây có đền thần linh thiêng nào không mà thấy có điềm kỳ lạ như vậy?

Nhân dân, phụ lão tâu lại rõ ràng mọi chuyện trước sau. Nên vua liền truyền cho nhân dân làm lễ chay giới vào trong đền mà cầu khấn. Đang lúc tế khấn bỗng thấy trời đất có mưa to gió lớn nổi lên, bạt cây tung cát, sấm sét vang rền. Vua thấy linh ứng như vậy nên đích thân đến tế chúc rằng:

  • Nay nước gia có việc giặc Chiêm đến xâm phạm. Ta đích thân đi đánh giặc, lập đồn đóng quân ở đây, làm lễ tự mình cầu đảo trời đất thần linh cùng đến tương trợ, cho giúp được lực âm phù vậy.

Khấn xong bỗng thấy trời đất sáng tạnh, mưa gió yên lặng. Vua bèn làm lễ tạ rồi trở về nơi đồn quân. Đến cuối canh ba vua bàng hoàng nằm mộng thấy có hai vị thần nhân, áo mũ rực rỡ, tay cầm thẻ ngọc, tiếp đến đứng ở hai bên. Vua bèn hỏi rằng:

  • Các vị ở đâu mà đến đứng ở đây?

Hai thần nhân cùng tâu rằng:

  • Chúng tôi đều là anh em của tản Viên Sơn triều Hùng, em thứ ba và thứ tư. Nay Thiên đình giao cho trấn giữ nhân địa phương nơi đất này. Nghe được là Hoàng đế đích thân đi chinh chiến nên đến bái mừng. Xin được ra sức âm phù thánh giúp nước, làm rạng công chuyện của mình.

Tâu xong bỗng thấy hai vị thần nhân bay lên mây mà đi. Đến sáng ngày hôm sau vua tỉnh lại biết là thần ứng mộng. Vua bèn cất quân thẳng đến đồn trại quân Chiêm, đánh một trận lớn. Đang ở trận tiền bỗng mưa gió lớn nổi lên, sấm động vang rền, mây bay mù mịt. Giữa ban ngày mà như đêm. Xuất hiện hai vị thần nhân đứng giữa quân giặc, tay chân múa lên, hô to ba tiếng như sấm rền. Quân giặc thấy vậy đều sợ hãi, bỏ chạy mà được dẹp yên. Đến sau khi dẹp xong giặc vua dẫn quân khải hoàn về triều, liền lệnh cho đình thần mang sắc chỉ về trang truyền cho nhân dân tu sửa đền thiêng phụng thờ. Ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 31 quan để làm lễ quốc tế xuân thu. Truy phong mỹ tự là Thượng thượng Tối linh thần, vạn đời hưởng lộc, hương lửa không ngừng.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Cảm ứng Hiển hữu, tặng tên Hưng Phúc Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Cảm linh Phổ quốc, tặng tên Quý Minh Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.

Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi chính của đền thiêng thứ năm, thờ cúng hương lửa.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc ngày tốt mùa xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Năm thứ ba niên hiệu Vĩnh Hựu ngày tốt mùa đông, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo bản chính trước đây mà sao chép.

Sự tích thần thôn Vĩnh Phúc xã Lạp Tuyết tổng Lạp Mai huyện An Sơn phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây

Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Liệp Tuyết, tổng Liệp Mai, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây

Ngọc phả chép về ba vị thủy thần xuất thế triều Hùng Huy Vương đánh giặc Ân

Chi Tốn. Thứ năm bộ Thượng đẳng. Bản chính bộ Lễ quốc triều

Xưa cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh sinh Đế Nghi rồi nhân đi tuần phương Nam ở Ngũ Lĩnh mà gặp được nàng Vụ Tiên mới sinh ra Lục Tục. Lục Tục tư chất phi thường, có khí chất của bậc đế vương. Đế Minh muốn truyền lại ngôi vị. Lục Tục cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh truyền ngôi báu cho Đế Nghi, lại phong Lục Tục ở phương Nam, hiệu là nước Xích Quỷ.

Lục Tục bái từ biệt cha và anh đi nhận phong ở phương Nam nước Việt ta, đổi là Việt Thường Thị, xưng tên là Kinh Dương Vương. Đất thắng Hoan Châu xây dựng kinh đô. Núi mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền đến đời thứ hai tên là Lạc Long Quân. Khi đó Long Quân lấy tiên nữ Động Đình là Âu Cơ, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó mang thai, được ba năm ba tháng thì sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong chư hầu, lập phên dậu bình phong, chia trong nước thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Bắc Kinh, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Khi ấy Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí âm dương hợp lại mà có con nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống được.

Thế là chia tách nhau, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi sông, ngòi, khe, lạch. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, chia trị các chốn gò đồi, rừng núi. Lập người con cả làm vua. Nếu có việc thì báo cho nhau, các thần sơn thủy cùng đến phụ giúp, không thể nào phai một. Thế nên cuối cùng thời triều Hùng trăm thần thủy sơn thường hay xuất thế, đầu thai nhập vào làm con ở nhân gian, để giúp nước giữ dân. Gia đình nào có phúc dày tất sẽ gặp được.

Lại nói, họ Hùng truyền nối sáu đời thì đến thời Huy Vương. Vua nối tiếp vận tốt hanh thông sáu đời, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên Văn Lang. Quốc đô là thành Phong Châu. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mị nương. Hữu ty gọi là bồ chính quân. Rủ áo chắp tay, nguy nga chín bệ. Dân được đào giếng cày ruộng, vui vẻ bốn bề một cảnh tượng thái bình. Thời Vua rạng rỡ, lại kính trời theo tổ, tin theo việc thần kỳ. Đương thời gọi là bậc hiền quân vậy.

Xưa vào thời đó tương truyền rằng nước Việt ta ở huyện An Sơn (An Sơn thuộc phủ Quốc Oai đạo Sơn Tây) có vị quan lang vốn là cháu của Hùng Huy Vương, tên là Hùng Chiếu Công. Ông tuổi 18 thì nhận phong tước có thực ấp tại An Sơn. Khi ông mới đến nhận đất, đi khắp trong huyện để xem xét thế núi thế sông mà lập cung để ở. Một hôm đi đến trang Lạp Hạ, thấy mạch Càn Cấn chạy tới, có sông Tích uốn lượn, sông núi hữu tình, bèn lập một cung gọi tên là cung Đại Phu mà ở.

Khi ấy trang Lạp Hạ có một trại thứ hai tên là trại Vĩnh Phúc, có một người con gái nhà họ Nguyễn, tên là Nguyễn Kim Nương, có dung nhan chim sa cá lặn, vẻ mạo hoa nhường nguyệt thẹn. Hùng Chiếu Công thích thú muốn cưới, chọn ngày để định lễ dương cờ, duyên lành đẹp đẽ, đón về cùng sống tại cung Đại Phu. Từ khi thành gia thất được hơn mười năm mà phòng lan chưa thấy sinh hương, buồng quế chưa tỏ một đóa. Chiếu Công buồn bã không vui, muốn từ quan mà về, nhưng lòng Vua không cho, việc quan cứ thế qua đi. Đến khi tuổi đã 50, thường than rằng:

  • Người xưa có 3 điều mong muốn: Giàu có, Sống lâu, Nhiều con trai. Ta giàu có tuy không phải như vương giả nhưng cũng là bậc phong lưu. Tuổi nay đã 50 thì cũng coi là sống thọ. Chỉ là chưa có con trai, nên tâm niệm rằng núi tiền biển bạc coi nhẹ như lông, như cỏ. Con hiếu cháu hiền trọng như vàng ngọc. Không con mà giàu, thì giàu làm gì. Có con dù nghèo, nghèo cũng là vui vậy.

Nên ông lấy hết bổng lộc quan của mình đem phân phát giúp người nghèo khổ, nửa điểm hại người cũng không có ý, một hào lợi riêng cũng không có lòng. Như thế qua được ba bốn năm. Một hôm bỗng thấy trời đất mù mịt, mưa to gió lớn nổi lên, nước sông Tích ầm ào như tiếng sấm động. Đến khi trời đất trong sáng trở lại thấy ở trước cung bỗng thành một vực, sâu hai ba trượng ở tại đó. Ông mơ màng nằm mộng, thấy có ba người, thân thể kỳ dị, diện mạo mạnh mẽ, mặc áo hồng, đeo dải chuỗi ngọc, từ ngoài bãi sông Tích mà đến ở trong vực đó. Được một lúc thì ba người đi lên thẳng tới trước mặt ông. Một người xưng là Triều Lang, một người là Thần Lang, một người xưng là Gia Lang, đều là trong anh em một bầu trăm trứng của Lạc Long Quân, nắm quyền phụ trách ở trên khe Mao Khê. Mao Khê ở tại phía trái của núi Tản Viên, tên thường gọi là Ngòi. Vâng mệnh Hoàng thiên đến đầu thai vào làm con nhà ông.

Ông bỗng tỉnh lại mới biết là nằm mơ. Từ đó bà Nguyễn Thị thân chuyển mang thai. Ngày mười hai tháng Năm năm Nhâm Thìn sinh ra một bọc, nở ra ba người con trai, đều có hình tướng kỳ lạ. Đang khi sinh khí lành bay khắp, khói thơm nồng nàn. Hùng Chiếu Công nhân theo trong mộng mà đặt tên người thứ nhất là Triều Lang, người thứ hai là Thần Lang, người thứ ba là Gia Lang. Đến khi lên ba tuổi Huy Vương ban chiếu gọi người cha về triều nghe mệnh vua. Chiếu Công bèn dẫn theo bà Nguyễn cùng với ba người con về triều. Cha con cùng vào bái Vua. Huy Vương thấy ba chàng diện mạo phi thường, mới gọi Chiếu Công đến hỏi. Chiếu Công đem giấc mộng kể lại tường tận tấu lên. Vua biết là thủy thần xuất thế bèn cho sắp xếp nuôi dưỡng ở trong cung. Đến năm 12 tuổi cho tìm thầy dạy học. Ba anh em vốn bản tính thông minh. Học được vài năm thì văn chương thấu suốt, có thể sánh cung tường Khổng Mạnh, võ bị tinh thông không kém thao lược Tôn Ngô.

Năm 18 tuổi người cha là Chiếu Công tuổi đã 74. Một hôm bỗng nhiên bị sốt liên miên, uống thuốc không giảm, cầu thần không hiệu nghiệm, rồi mất ở trong chính cung. Ba anh em làm lễ chôn cất. Được hai năm sau người mẹ cũng mất theo. Ba năm chịu tang, cúng tế theo nghi lễ.

Khi đó quốc gia có một người vu nữ, có thể tinh thông việc trời. Vua thử làm điều xấu mà trời cao có biết, giáng thẳng những điềm tai ương kỳ dị như voi không ngà, ngựa đỏ ba chân. Vua gọi vu nữ đến hỏi. Sau một lúc, vu nữ quỳ tâu rằng:

  • Quân vương đã coi thường Hoàng thiên. Ba năm sau tất sinh giặc lớn. Nếu như biết tu đức thì trời sẽ giáng sinh cho kỳ tài để giúp.

Qua được quãng ba năm quả nhiên thấy thư từ biên cương báo gấp, giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng dẫn trăm vạn quân mạnh tiến đến Bắc Kinh, dựng đồn lớn tại đất Trâu Sơn. Giáo giáp khắp trời, cờ xí khắp chốn. Vua mới trai giới lập đàn, tế cáo trăm thần trời đất, đốt hương cầu đảo. Ba ngày sau mưa to gió lớn nổi lên. Thấy có một dị nhân cao hơn 9 thước, ở chỗ ngã ba đường mà cười nói nhảy múa. Mọi người thấy thì vào tâu với Vua. Vua thân ra nghênh đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc đến xâm phạm. Thắng bại như thế nào, xin được chỉ giáo.

Dị nhân hồi lâu lập quẻ bói, nói với Vua rằng:

  • Trong nước hiện có ba người chính là thủy thần xuất thế. Một tên Triều, một tên Thần, một tên Gia. Ba người anh em này có thể sai gấp trước tiên dẫn quân chống giặc. Sau đó nên lệnh cho sứ giả đi cầu trong thiên hạ. Nếu cầu được người thì giặc tất sẽ không phải lo lắng.

Dứt lời thì dị nhân bay lên không mà đi. Vua biết là lời dạy của Lạc Long Quân bèn một mặt cho gọi Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang dẫn mười vạn quân tiến đi trước. Một mặt lệnh cho mười vị sứ giả chia đường mà chiêu mộ người tài. Một hôm sứ giá đi chiêu mộ đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh đạo Bắc Kinh. Trước đó làng Phù Đổng có một gia đình giàu có, sinh được một người con tên là Thiết Xung. Tuổi đã lên ba mà chỉ biết nằm, biết ăn uống, không biết ngồi, biết nói. Người mẹ nghe sứ giả đến, mới đùa rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận tước cao của triều đình, để báo đáp ân sâu nuôi dưỡng.

Thiết Xung nghe mẹ nói, bỗng nhiên ngồi thẳng dậy, nói rằng:

  • Mẹ mau gọi sứ giả đến đây.

Thiết Xung nói với sứ giả rằng:

  • Nhà ngươi hãy về báo với Vua cho đúc thành một con ngựa sắt mười thước, một cây búa sắt dài mười thước, một bộ áo sắt, nón sắt lớn. Ba thứ này đem đến cho ta thì Vua không cần lo gì nữa.

Sứ giả trở về, tâu lại với Vua. Vua bèn lệnh cho thợ đúc thành ngựa sắt, áo sắt, nón sắt đem chở đến cho Thiết Xung. Thiết Xung ăn uống một bữa no say, thì thầm vài chục tiếng, bỗng nhiên thân dài ra mười thước, mặc áo sắt, đội nón sắt, cầm búa sắt, cưỡi ngựa sắt, hô to rằng:

  • Ta là thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay thẳng tới quận Vũ Ninh, hợp cùng với Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang đánh một trận lớn, bắt sống Thạch Linh Thần tướng, chém ngay dưới trướng. Còn lại các dư đảng chưa trừ hết mà búa sắt đã bị gẫy mất. Thiết Xung bèn nhổ tre cùng với ba anh em tiến đánh một trận. Quân giặc dẹp yên xong. Vua ban chiếu gọi về. Thiết Xung đi đến núi Sóc thì cưỡi ngựa bay lên trời mà đi. Vua bèn phong làm Phù ĐổngThiên Vương. Ngay nơi đất đó cho lập miếu để thờ.

Còn Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang ba chàng trở về triều. Vua đều phong tước trọng. Ba chàng từ chối không nhận, xin được trở về cung Đại Phu ở trang Lạp Hạ huyện An Sơn, là nơi sinh và nơi ở của các chàng trước đây. Vua đồng ý, bèn cho ba chàng cùng có thực ấp ở huyện An Sơn. Từ đó ba chàng ở tại cung Đại Phu, thường đi lại giữa hai trại Đại Phu và Vĩnh Phúc, khuyến khích việc nông tang, thúc đẩy điều tốt, trừ bỏ điều xấy. Thường thường cùng với mấy người gia thần hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đàn hạc gió mát, chu du bốn biển. Hoặc khi xem sông hỏi bến, đội nắng mà đến các dòng hạ lưu. Hoặc khi núi lành dạo bộ, làm bạn với gió mát nơi đồng hoang. Một hôm ba chàng đi đến Mao Khê ở Tản Viên. Ba chàng cùng chỉ nơi đó mà nói:

  • Đây chính là nhà của anh em chúng ta.

Đang khi đó bỗng thấy trời đất có mưa gió mù mịt. Nước khe dâng sóng, giao long, cá, ba ba trùng trùng vạn sóng nối nhau. Cá côn, cá kình, nghê lớp lớp ánh trùm thiên hà. Ba chàng đều xuống khe đó mà hóa (khi đó là ngày mùng 10 tháng Bảy).

Khi ba chàng đã hóa, những người hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đi theo mới trở về nói với nhân dân. Nhân dân làm biểu dâng tấu. Vua mới phong thêm là:

Triều Lang là Đệ nhất Lang Linh Khê Đại vương

Thần Lang là Đệ nhị Lang Linh Khê Đại vương

Gia Lang là Đệ tam Lang Linh Khê Đại vương.

Sắc chỉ ban cho mang về hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc trang Lạp Hạ để lập miếu thờ phụng. Đến thời nhà họ Hùng đời thứ 18 là Duệ Vương. Tản Viên Sơn Thánh xây cung ở trang Lạp Hạ, lấy sáu trại Lạp Hạ, mỗi trại mười người làm ca nhi. Cứ mỗi năm mùa xuân ca hát, chơi nhạc. Nên về sau sáu trại Lạp Hạ cùng thờ Sơn Thánh làm chính thần. Còn ba vị Triều, Thần, Gia cùng được phối hưởng thờ. Từ đó về sau qua các thời Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần cùng Hoàng gia ta khai mở cơ đồ, thường có giúp nước giữ dân, cầu mưa cầu nắng đều có nhiều linh ứng. Cho nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự để muôn vạn năm hương lửa không ngừng. Tốt lành thay!

Các tiết khai sinh hóa cùng với các chữ cần cấm là ba chữ Triều, Thần, Gia.

Ngày sinh thần là 12 tháng Năm. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, ca hát ba ngày.

Ngày hóa thần là mùng 10 tháng Bảy. Lễ dùng lợn đen, xôi, rượu.

Năm đầu Hồng Phúc tháng đầu mùa xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Năm Vĩnh Hựu thứ sáu, tháng giữa đông ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Di theo đúng bản chính vâng sao.

Năm Tự Đức thứ 13 tháng giữa xuân ngày tốt theo đúng bản chính vâng sao.

Thần tích Vĩnh Lại Thượng, Vĩnh Tường, Vĩnh Yên

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc làng Vĩnh Lại Thượng tổng Hưng Lục phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.

Ngọc phả cổ chép về hai vị đại vương triều thần Trưng nữ vương
Chi Cấn, bộ Trung đẳng
Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, chia ngang sông núi theo sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu được phong chia đất thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ Kinh Dương Vương triều Hùng vâng thừa mệnh của vua cha phong làm tông phái đế vương nước Việt ta. Đất thắng vùng Phong Châu xây dựng kinh đô. Hình mạnh núi Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền ngôi cho đời tiếp theo xưng là Lạc Long Quân, lấy tiên nữ Động Đình, ở tại nơi đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ thế rồi có mang, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là bậc anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong chức hầu, lập bình phong phiên dậu, chia nước thành 15 bộ. Thế rồi Lạc Long nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta vốn là giống rồng, nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương, ngũ hành hợp lại mà có con, nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể sống chung được.

Nhân đó bèn cùng chia biệt, mới phân 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, phân cai quản các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, phân cai quản các khu bãi trên miền núi. Khi có việc được báo thì tất đến tương trợ nhau, không thể nào suy được. Nên sau họ Hùng có trăm thần sơn thủy thường có thể xuất thế, đầu thai nhập vào các gia đình làm con để giúp nước giúp dân. Gia đình nào có phúc tất sẽ gặp được.

Khi cơ đồ họ Hùng trị nước 18 đời truyền nhau đã đến lúc cuối, ý trời muốn dứt. Trải đến thời Đông Hán, khi đó ở trang Bảo Sơn huyện Tam Dương phủ Đoan Hùng đạo Sơn Tây nhà họ Tạ có một người con gái tên là Ả Nương, tuổi khoảng 18. Phong tư yểu điểu, đẹp đẽ vô cùng. Đức phụ lòng hiền, nhưng chưa định kỳ duyên phận. Nàng lấy việc hái củi làm nghề sinh sống. Khi đó nàng Ả đi lên núi Uyển Diên kiếm củi, dẫm vào một dấu chân hổ, khi trở về đến núi Đảo, thấy vách núi tựa gương mặt trăng, còn mặt trời đang ở chính đỉnh đầu. Nàng bèn nằm ở dưới núi, nhìn xa thấy có ngôi đền thánh mẫu ở trên, xem rất là linh ứng. Nàng mơ màng nằm mộng, thấy thần hổ sơn quân ứng đến đùa trong mộng. Được một lúc nàng Ả giật mình tỉnh lại. Trời đã chuyển sắc tối. Thế rồi nàng trở về nhà, thấy trong người như mang thai. Khi đó mọi người cười chê nhiều nên nàng Ả rất xấu hổ. Thế là nàng đi đến huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái, đến trang Hưng Lại thì dừng ở bãi đất đầu trang. Đến khi đó thì nàng sinh một bọc, nở ra hai người con trai (là ngày mùng 10 tháng Tư năm Giáp Dần), vẻ trời đẹp lạ, thể mạo khác thường, mới biết là sơn thần xuất thế, rất là yêu quý.

Đêm hôm đó vào cuối canh tư, phụ lão ở trong trang mộng thấy có thần linh đến hô rằng:

  • Trang các ngươi có sơn quân xuất thế, sinh ra ở khu đất đầu trang. Trang các người phải biết là mẹ con ngài đang nằm ở bên khu cạnh trang. Đến sáng ngày ra hãy đến đón mẹ con ngài về trong dân mà nuôi dưỡng.

Buổi sáng đó phụ lão báo cho người trong trang đến xem, quả thấy có mẹ con còn nằm ở đó, không phải người thường. Bèn đón về nuôi dưỡng. Thế rồi hai ông đến tuổi trưởng thành, đều là người tài giỏi, tốt anh tốt em. Bèn đặt tên người thứ nhất là Cả Lợi, người thứ hai là Hai Lợi. Ngày qua tháng lại hai ông tuổi đã 15, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, thạo đọc binh thư, giỏi về võ lược. Đến khi các ông tuổi lên 18 thì thân mẫu Ả Nương không bệnh mà mất, tức hóa (ngày 12 tháng Chín). Hai ông khóc động trời nhưng không thể làm gì được. Bèn tìm chỗ đất tốt làm lễ chôn cất. Ba năm hết tang thì khi đó có người Tô Định dẫn quân đến nước ta xâm chiếm Trung nguyên. Họ Triệu tàn thương, không người cứu giúp. Có người cháu gái Hùng Vương là Trưng Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, thánh thần trên đời, dương cao oai hùng, đem quân đến đánh. Nhưng khi đó còn thiếu những nam nhi có tài thao lược. Nữ tướng dẫn quân, phát động thần linh. Trưng nữ mật khấn với Tản Viên Sơn Thánh và hội đồng trăm thần ở tại cửa sông Hát Môn (tức xứ Sơn Tây), lập đàn cáo tế các vị linh thần, mới khấn chúc rằng:

  • Trời sinh ra con người, đó chính là tôn chủ của vạn vật trong trời đất, là dòng dõi sinh linh, là khởi nguồn cỏ cây muôn loài. Trải qua các triều đại đế vương trước đây thiên tử đều là những bậc thánh minh. Triều đình có đạo, yêu nước, thương dân, đức hóa rộng khắp, thiên hạ thanh bình, nước nhà yên ổn. Nay có phường dê chó ngoại tộc Tô Định thường ngông nghênh làm loạn, chính dữ hại dân. Trời đất thần người đều oán giận. Thiếp hiềm là một nữ nhân, cháu gái của Hùng Vương đời trước, nghĩ tới chúng sinh, trời cao rơi lệ. Hôm nay đau lòng thương dân, dấy nghĩa trừ tàn. Nguyện mong trăm vị các chư thần linh tề tựu về đàn để chứng giám lời thề, giúp thêm sức cho Trưng nữ thiếp dấy binh dẹp giặc, giữ nước cứu dân. Thiếp thề khôi phục lại mối xưa tổ tông, đưa muôn dân thoát khỏi vòng nước lửa. Thứ là không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa sự linh thiêng của tông miếu Tiên hoàng, an ủi tổ tiên cha ông ở nơi chín suối.

Khấn xong hô xuất âm binh nghìn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp thần dân tại các châu, huyện, đạo ở nước Nam, nơi nào có người anh tài văn võ, đức độ hơn người, là bậc anh hùng có thể chống giặc thì đến đầu quân, làm phiên thần dẹp giặc.

Hai ông nghe lệnh, ngay hôm đó chiêu mộ các hương binh được hai ngàn người, dẫn quân đến thẳng nơi đồn trại của Trưng nữ. Trưng nữ thấy hai ông đến ứng tuyển đều là kỳ tài, là bậc có tài nghệ hiếm có, bèn xếp ông Cả làm Đô thống Tả tướng quân, xếp ông Hai là Đương lang Hữu tướng quân.

Thế rồi Trưng nữ chia quân các đạo tiến binh, cử hai ông đi trước tuần hành để phòng bị hai đạo hướng Tây Bắc. Ngay hôm đó hai ông nhận mệnh dẫn quân mà tiến. Trên đường cờ xí gió xua vạn dặm, chiêng trống sấm động nghìn non. Một hôm tiến đến đạo Yên Lạc, phủ Tam Đái, tới nơi đất đầu trang Hưng Lại bèn cùng nhau đóng quân ở đó. Hai ông thấy  khu vực Hưng Lại địa thế có một cuộc sông núi quanh co, rồng hổ bao ôm. Núi không cao nhưng giao kết với nhau. Sông có nơi giếng có tình, rất tiện nghi. Thật là một nơi thắng cảnh phong quang vậy. Hai ông bèn lập một đồn trại để sau này chống quân Hán.

Khi đó phụ lão nhân dân ở trong trang đều lấy làm sợ hãi. Dân khu trang làm lễ xin được làm thần tử theo các ông. Hai ông đồng ý. Hai ông tuyển được ba ngàn người cường tráng trong khu trang để làm gia thần cận kề. Khi đó phụ lão nhân dân khu Hưng Lại tâu rằng:

  • Lấy ơn mà phục chúng thì tất có thể được yên. Vì thế nơi nay là đồn trại sau xin được làm nơi thờ cúng.

Hai ông đồng ý. Sáng ngày ra thấy có sứ giả vâng mệnh mang chiếu thư đến gọi hai ông về đồn doanh của Trưng nữ để bàn định việc dẹp giặc. Người có trí thì hiến mưu lạ, người có dũng thì theo lời quyết đoán. Ngay hôm đó Trưng nữ cùng hai ông dẫn quân thẳng đến đồn Tô Định đánh một trận, không phân thắng bại. Khi đó hai ông bị khát nước, muốn tìm uống nước mà phải lui. Hai ông ngẩng mặt lên trời ngầm khấn, rồi nói rằng:

  • Lòng trời chỉ cho dẫn quân đến nơi này.

Ở đó các ông gặp được một bầy bò sữa. Hai ông uống sữa đó, đều hết cơn khát. Hai ông lại nói rằng:

  • Nhờ có lòng trời giúp, anh em chúng tôi tất sẽ thắng.

Thế là hai ông hô quân sĩ tụ tập lại, đánh thêm một trận cùng với quân Hán, một lúc được thắng lớn. Quân Tô Định bỏ chạy. Bắt được đại tướng giặc. Dựng 65 thành ở Lĩnh Ngoại, thu phục tất cả vùng đất của nước Nam. Trưng nữ mới lên ngôi xưng Vương (khi đó là tiết xuân thượng tuần tháng Giêng). Thấy sứ giả vâng mang chiếu thư đến, trong nói rằng:

  • Giặc Tô Định đã dẹp yên. Thiên hạ được yên ổn.

Nữ vương ban chiếu gọi hai ông. Hai ông vâng mệnh trở về. Vua mở tiệc lớn ăn mừng, phong cho tướng sĩ các cấp bậc tương ứng. Thế là Nữ vương phong cho hai ông khu Hưng Lại trang Hưng Lại huyện Yên Lạc. Khi đó hai ông bái tạ, trở về thực ấp nhận chức.

Thế rồi Nữ vương ở ngôi được khoảng 3 năm. Tướng Hán là giặc Mã Viện dẫn quân rất đông tiến đến. Khi đó Trưng nữ mới xuất đầu lộ diện, đem quân để đánh dẹp. Binh thư báo gấp một ngày tới 5 lần, sai hai ông tiến quân đến cùng đánh với Mã Viện một trận. Thắng thua chưa rõ thì không ngờ Trưng nữ thất cơ mà thua chạy, mới cưỡi ngựa chạy lên núi mà về chầu trời. Trưng nữ qua một giấc mộng xuân vậy.

Lại nói, hai ông dẫn quân lùi về đồn ở khu Hưng Lại trang Hưng Lại. Được một lúc bỗng thấy quân Mã Viện rất mạnh kéo đến. Hai ông nói:

  • Quân Hán mới đánh xong sao đã lại đến đây.

Thế là hai ông nói với phụ lão nhân dân và gia thần trang khu Hưng Lại rằng:

  • Chúng ta để lại di mệnh cho muôn năm sau ở trang này phụng thờ hai người anh em chúng ta. Chúng ta còn có mẹ. Khi cúng tế chúng ta thì hãy cung thỉnh cả mẹ chúng ta về chính vị cùng hưởng giám.

Nói xong liền sai đóng cửa quan không mở. Tướng Hán, quân Hán rất tức giận, tiến vào trong khu tạo mấy vòng bao vây. Thế rồi hai ông hô gọi quân sĩ cùng với nhân dân, gia thần đem hết lòng trung nghĩa cùng với các ông ra sức đánh quân Hán một trận, phá được vòng vây. Thấy hai ông cưỡi ngựa chạy vào trong núi mà biến mất, tức đã hóa (khi đó là mùng 8 tháng Mười một). Từ khi các ông hóa về sau các trang khu là thần tử trở về lập miếu để thờ.

Năm Thiên Phúc thời vua Lê Đại Hành xem xét trăm thần, thấy nếu có linh hiển thì phong thêm cho trăm thần. Phong thêm hai vị là thần Đôn ngưng Linh phù.

Sắc phong nguyên thần hiệu là:

  • Phong Cả Lợi Đô thống Minh tước Đại vương.
  • Phong Hai Lợi Đương lang Quang linh Đại vương.

Y phục màu vàng và đỏ khi làm lễ nhất thiết cấm dùng. Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng nên có nhiều đời đế vương phong thêm mỹ tự.

Đến thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên đến xâm phạm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh vua cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó hai vị đại vương cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong tặng mỹ tự cho hai vị là Linh quang Hiển ứng An dân Hoành mô Viễn lược Tích chỉ Ngưng hưu Đại vương.

Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, đến khi được thiên hạ thì Thái Tổ phong thêm hai vị đại vương là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho khu Hưng Lại sửa chữa miếu điện để phụng thờ. Thật tốt đẹp thay!

Thời Hoàng triều năm Cảnh Hưng mới phong thêm mỹ tự cho hai vị là Diên hy Tích khánh.

Vâng khai các lễ sinh hóa cùng với các chữ húy cấm: năm chữ Cả, Hai, Lợi, Minh, Quang. Cho phép khu Hưng Lại phụng thờ.

Ngày sinh thần là mùng 10 tháng Tư. Chính lễ dùng trên mâm chay, phẩm quả, dưới trâu, lợn, xôi, rượu, bánh dày vuông tròn, ca hát, đấu vật.

Ngày hóa thần là mùng 8 tháng Mười một. Chính lễ dùng trên mâm chay, dưới trâu, lợn, xôi, rượu, bánh dày vuông tròn, cấm ca hát.

Ngày lễ tiết xuân kỳ phúc là 14 tháng Giêng. Lễ dùng tùy ý, ca hát nhiều.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc (1572), ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện  Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều năm Vĩnh Hựu thứ sáu (1740) ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại tuân theo bản chính cũ vâng chép.

Năm Duy Tân thứ ba (1908) ngày mùng 8 tháng Mười hai bản xã sao bản chính.

Lý trưởng Phan Văn Tuyết.

Thư ký Phan Văn Điều.