Thần tích Tiên Phi nhân thờ ở khu Mạnh Tân, xã Thư Lâm, Đông Anh

Ngọc phả cổ chép về một vị âm thần triều Lý 

Chi Tốn, bộ Trung đẳng

Nguyên Thánh Tổ Hùng Vương Sơn mở vận cơ đồ hơn hai ngàn năm Hùng Vương dựng nước. Núi xanh vạn dặm lập nên cung điện kinh đô. Nước biếc một dòng truyền rộng đạo giúp người lợi vật. Thống quản 15 bộ, gọi là Ngự tổ của Bách Việt vậy. Xem có một bài thơ rằng:

Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Ngã quốc thế truyền thiên tải tại
Ức niên hương hoả ức niên phương.

Lại nói triều Hùng đến thời cuối, vận nước đã cùng. Trải qua các triều ở Trung nguyên là Tấn, Tống, Tề, Lương, tổng cộng 349 năm, cho đến khi nước Nam có 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần cùng nổi lên. Trước đó ở đất Cổ Pháp huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc có một nhà họ Phạm tên Long, vợ là Đặng Thị Quang, sinh được một người con gái tên là Phạm Thị Tiên. Khi tuổi được 22 có vẻ đẹp vô song, có dung mạo chim sa cá lặn, nhưng duyên lành kết ước chưa định được kỳ, tài tử văn nhân cũng không vừa ý. Cha mẹ cười rằng:

  • Biết làm sao được. Nếu không phải người thường thì tất là người trên trời giáng xuống đây.

Từ đó Phạm Thị đi đến ở chùa Linh Ứng. Được một hai năm cha mẹ cũng không biết tung tích ở đâu. Nàng ở trong chùa đó mà sùng mộ cảnh Phật, tu sửa tượng Phật, trang hoàng lộng lẫy. Ba năm trôi qua. Một đêm nọ, khi nàng đang ngủ trong chùa, khoảng nửa đêm, đột nhiên mơ thấy mình bị Thần khuyển trêu chọc. Từ đó, nàng mang thai. Thai nhi lớn dần, không thể giấu được. Trẻ con, phụ nữ, nhân dân đều cười nhạo chuyện kỳ ​​lạ này, phỉ báng rằng:

  • Tăng nhân mà lại mang thai, thật đáng xấu hổ! 

Đêm đó, bà rời đi và đến chùa ở trang Tì Bào. Vào năm Giáp Tuất, bà sinh một người con trai. Bà tự xin ở lại chùa này, chăm lo tượng Phật, dâng hương thắp đèn ngày đêm. Qua tám chín năm đứa trẻ đến lúc trưởng thành. Khi đó mẹ con trở về quê cũ ở đất Cổ Pháp, [đến nhà] một vị thiền tăng tên là Khánh Văn. Trong nhà ông có con chó đá có hai chữ “Thiên tử” ở dưới giường bỗng nhảy ra sủa ba tiếng và vẫy đuôi vui mừng. Cả gia đình đều kinh hãi. Khánh Văn bốc Dịch xem được quẻ Càn, hào thứ hai, nói rằng: “Thánh nhân sẽ đến.” 

Đúng ngày hôm đó vào buổi trưa quả thấy Vua [con trai bà Phạm Thị] đến. Thiền sư thấy thực đúng vẻ trạng như Thiên tử, khác hẳn người thường. Khánh Văn bèn mời về nhà chăm sóc. Ông [Vua] hàng ngày đi học tại chùa Ứng Tâm ở trang Cổ Pháp, từ đó tinh thông kinh sử, có hoài bão lớn muốn trở thành một bậc anh hùng vượt đời, đức hạnh hơn người. Khi trưởng thành, ông đã theo phò Lê Đại Hành mà được đất nước, sau đó lên ngôi vua. 

Bà Phạm Thị nói với con trai rằng:

  • Mẹ đã tôn thờ đạo Phật. Điều đó quả là đúng chân tu.

Công Uẩn hỏi mẹ:

  • Cha con ở nơi nào?

Mẹ đáp:

  • Trước đây mẹ tu ở chùa Linh Ứng, đêm nằm ở dưới chân án nhang, mơ thấy thần khuyển chơi đùa mà sinh con.

Công Uẩn cười rằng:

  • Quả là khí tượng của Thiên tử.

Nói rồi khi đó  bà Phạm Thị đi đến khu Mạnh Tân huyện Yên Phú. Nơi đây bị thiệt hại do lũ lụt, cảnh chùa cũng đổ nát. Bà Phạm Thị phát tâm xin với người trong khu đồng tâm hiệp lực, tăng thêm công đức, tu sửa tượng Phật, tạo dựng lại cảnh phong quang xưa cho được hoàn thành. Xem có một bài thơ rằng;

Ngã cảnh phong quang tự thử thân
Sùng tu điện tượng cựu nhi tân
Danh truyền công đức lưu thiên cổ
Tế độ ngô khu vạn tải xuân.

Đọc xong thì công trình đã trở thành to đẹp. Người khu Mạnh Tân xin được làm thần tử, nếu ngày sau vạn nhất thế nào xin được phụng thờ. 

Bà bèn phát thư quyên góp tài vật mười phương để nên công quả, chuyển báo cho các vị sư tăng đến chùa Mạnh Tân mở hội mừng. Trong mười ngày bà lên đàn Mông Sơn để phát chẩn. Bà Phạm Thị mặc áo cà sa, đội mũ, một tay cầm hoa sen, một tay cầm ấn phù lên ngồi trên đàn. Các sư cùng tăng thống cùng nhau đọc kinh để hộ niệm. Phụ lão nhân dân trong khu ngưỡng nhìn thấy có một đám mây trắng như hình dải lụa đỏ nổi trên đàn. Bỗng nhiên trời đất tối tăm như ban đêm. Bà cưỡi mây mà đi. Ngày tháng đó bà hóa vậy. 

Nhân dân cùng với các sư và tăng thống đều sợ hãi, bèn dâng biểu tâu lên triều đình. Vua sai người trở về đó làm lễ. Việc xong thì cho phép khu Mạnh Tân làm nơi hộ nhi để phụng thờ. Từ đó trở thành lệ thường.

Phong tặng là Tiên Phi nhân.

Phong thêm Lý Quốc mẫu Hoàng Thái hậu.

Trang phục các màu xanh, đỏ khi làm lễ đều cầm dùng.

Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng, được phong thêm mỹ tự Thượng đẳng phúc thần, cùng với đất nước yên hưởng, mãi như lệ thức. Vâng thay!

Vâng khai các lệ sinh hóa cùng các chữ húy cấm là chữ Tiên. Cho phép khu Mạnh Tân phụng thờ.

Ngày sinh thần là ngày 15 tháng Ba. Chính lệ lễ dùng lễ mâm chay, phẩm quả, ca hát.

Ngày hóa thần là mùng Mười tháng Giêng. Chính lệ lễ dùng trên cỗ chay, dưới gà sống, lợn đen, xôi, rượu, bánh trôi bánh chay.

Ngày lệ khánh hạ mùng 4 tháng Năm, lễ dùng như trên.

Ngày lệ khánh hạ 15 tháng Mười, chính lệ lễ dùng tùy sắp đặt.

Niên hiệu Hồng Đức thứ 3 ngày tốt cuối đông Hàn lâm viện bộ Lễ Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 7 ngày tốt đầu đông Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo bản chính trước đây.

Năm Thành Thái thứ 16 ngày 25 tháng Mười hai phong là Dực bảo Trung hưng Linh phù chi thần. 

Năm Khải Định thứ 9 ngày 25 tháng Mười đặc biệt cho phép theo như trước phụng thờ.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1030 – 1023.

Thần tích Ả Nguyệt Nga Công chúa thờ ở Cổ Miếu, xã Thư Lâm, Đông Anh

Phả chép về một vị công chúa âm phù triều Hậu Lý Thánh Tông

Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Bản chính bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt ta trời đất định lập, Ly Khảm phân phương hướng. Thành Tổ Hùng Thị mở vận ứng cơ đồ. Nước biếc một dòng mở đạo đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm dựng nền cung điện hùng đô. Giúp vật cứu người thống quản 15 bộ thế át phiên chư hầu. Lấy vua mà trị quốc hơn hai ngàn năm giữ vững dòng giống như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh. Lưu hương khói ở núi Hùng. Tất cả 18 đời ngự trị nước Nam đều lấy Hùng Vương làm tôn hiệu. Người đời sau có thơ rằng:

 Hùng gia sáng nghiệp tối du trường
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Nghĩa Lĩnh, Hùng Sơn tồn cựu tích
Lưu truyền huyết thực vĩnh vô cường [cương].

Xưa nước Việt thời Hậu Lý Thánh Tông tên là [Nhật] Tôn, là con trưởng của vua Thái Tông, kế thừa tổ tiên gây dựng, con cháu vun đắp mà truyền thời thịnh vượng. Trong sửa văn đức, ngoài phòng biên cương, hết lòng để hưng bình mà làm yên Trung Quốc. Có lòng yêu dân, mở khoa tuyển quan để chọn người tài. Nuôi oai tích khí để dẹp giặc Chiêm. Lúc ấy có quân Chiêm, Tống cùng nhau làm loạn, khởi binh ở đất Khâm Châu. Quâng thanh vang động. Vua vô cùng lo lắng, ngay hôm đó cho triệu tập các quan cùng bàn kế sách tiến công dẹp giặc. Thế rồi có vị quan tâu rằng:

  • Uy đức của Bệ hạ vang khắp hải ngoại, nước giàu quân mạnh. Nay có giặc Tống Chiêm làm loạn đến xâm chiếm nước ta. Chúng thần tự xin được thay vua chọn lựa các tướng tài đem quân đi trước tuần phòng các đạo. Giặc chẳng qua vài ngày là dẹp yên.

Vua nghe vậy rất vui mừng. Ngay hôm đó giao cho các tướng nhân quân thủy bộ đường đường mà ra trận. Vua mới úy lạo các tướng bằng một bài thơ:
Tam quân lẫm lẫm sơn trùng quan
Vạn lý tinh kỳ vạn lý an
Thảo tặc trung thần danh giá trọng
Sự quân nhất tiết cảm từ nan.

Khi đó vua mới cất 2 ngàn quân lính, trên đường cờ xí gió thổi vạn dặm. Đầu thuyền chiêng trống vang động nghìn núi. Đi khắp bốn phương, yên định thiên hạ, xem xét núi sông, nhàn ngắm biển đảo. Một hôm đi đến khu Cổ Miếu trang Bình Lâm huyện Yên Phong đạo Kinh Bắc (xưa là quận Vũ Ninh) thì mặt trời đã khuất sau núi. Lại gặp quan Tống Chiêm theo đường núi tiến đến. Vua bèn cùng các quân tướng đóng quân ở nơi miếu. Buổi đêm đến cuối canh ba, vua nằm mơ thấy có một người con gái phong tư yểu điệu, nhan sắc đặn đầy, có dung nhan chim sa cá lặn, có vẻ mặt hoa nhường nguyệt thẹn, tuyệt mỹ vô song, theo con đường trước miếu mà đến tâu rằng:

  • Thiếp cũng là con gái họ Lý trước đây, vâng chiếu của Thiên đế trấn trị địa phương, nhà ở đất này. Tên gọi là Ả Nguyệt Nga. Nay gặp bệ hạ thân chinh dẹp giặc, thiếp đến yết kiến tự xin được âm phù dẹp giặc lập công. Để ngày sau được tỏ vị.

Nói xong thì biến mất (khi đó là 12 tháng Tám). Lúc ấy vua tỉnh lại nhờ biết giấc mộng đó. Sáng ngày vua cho gọi các phụ lão đến hỏi cho rõ ràng. Người già tâu rằng:

  • Khu vực của thần đúng là có thờ phụng một vị âm thần, rất là linh thiêng.

Vua nghe vậy bèn làm lễ bái tạ, ban thêm cho 5 nén vàng để ngày sau sửa sang nơi thờ cúng. Ngày hôm sau vua dẫn quân đi đến xứ Khâm Châu, cùng đánh một trận. Quân Tống Chiêm thua to. Chém được tướng chính và các tướng sĩ vài ngàn đầu. Thu hoạch được khí giới, lương thực, xe ngựa vô số. Vua dẫn quân đôi khải hoàn về kinh, mở tiệc mừng lớn, phong thêm cho các tướng sĩ theo cấp bậc. Nhân đó nói rằng;

  • Quân Tống Chiêm dẹp yên được cũng là nhờ có thần âm phù giúp.

Bèn phong thêm cho trăm thần, sai sứ mang sắc phong cho vị thần tên hiệu. Phong Ả Nguyệt Nga Công chúa, tặng phong Huệ hoà Trinh tĩnh Thái hoa Cảnh thiền Công chúa. Sắc chỉ ban cho khu Cổ Miếu trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay!

Vâng khai ngày thần hiện cùng với các ngày húy cấm, hai chữ Nguyệt, Nga. Cho phép khu Cổ Miếu trang Bình Lâm thờ phụng.

Ngày thần hiện là 12 tháng Tám. Chính lễ dùng cỗ chay, phẩm quả, ca hát.

Năm đầu Hồng Phúc ngày tốt đầu xuân, Hàn lâm Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ sáu ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại lại tuân theo bản chính vâng chép.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1044 – 1040.

Thần tích Ngọc Thanh Công chúa thờ ở Cổ Miếu xã Thư Lâm, Đông Anh

Ngọc phả cổ chép về một vị công chúa âm phù triều Trưng nữ vương

Chi Khảm, bộ Hạ đẳng. Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam Thánh tổ mở vận cơ đồ, hơn hai ngàn năm Hùng Vương dựng nước. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Nước biếc một dải mở đạo đế thánh vua sáng để cứu vật giúp người, thống quản 15 bộ, xưng là tổ ban đầu của Bách Việt vậy. Nên có thơ rằng:

Sơ khai Nam Việt tự Kinh Dương
Nhất thống sơn hà thập bát vương
Thập thất thế truyền thiên cổ tại
Ức niên hương hoả ức niên phương.

Lại nói, khi cơ đồ họ Hùng đến lúc suy, ý trời muốn dứt, trải đến thời Đông Hán, lúc đó có Tô Định dẫn quân đến xâm chiếm đất đai Trung Nguyên. Triệu họ lầm than, không người cứu giúp. Đến khi có người cháu gái Hùng Vương tên Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, thánh thần trên đời, dương cao oai hùng đem quân đến đánh. Nhưng khi ấy không có những người nam nhi có tài thao lược. Nữ tướng thống soái quân đội, phát động thần linh. Trưng nữ bèn cáo chúc Tản Viên Sơn Thánh, lập đàn ở cửa sông Hát Môn (tức là xứ Sơn Tây), mổ trâu lợn làm cỗ, cáo tế trời đất và trăm thần sông núi. Mới khấn rằng:

  • Trời sinh ra con người là tông chủ của vạn vật trong trời đất. Qua các thời đế vương trước đây đều là những bậc thiên tử thánh minh, triều đình có đạo yêu dân vì nước, đức hóa thâm sâu, thiên hạ thanh bình, trong triều vô sự. Nay có kẻ dị tính Tô Định, là loài dê chó ngang ngược, lộng hành hung hãn, ngược chính hại dân. Thiên hạ thần người đều căm phẫn. Thiếp hiềm là cháu gái Hùng Vương, chỉ là một nữ nhân, nghĩ đến sinh linh, Hoàng thiên cũng rơi lệ. Hôm nay, đau lòng xót dạ mà phục nghĩa dẹp ác. Xin trăm vị chư tôn thần linh về hội ở đàn chứng giám lời thề, ra sức giúp Trưng nữ thiếp dẫn quân dẹp giặc, giữ nước an dân. Để thiếp khôi phục là cơ nghiệp cũ của tổ tiên, đem sinh linh lên nơi chiếu êm, vớt sinh linh từ dòng nước lửa. Sau là không phụ ý Hoàng thiên, thỏa vong linh tiên hoàng nơi miếu thờ, an ủi tổ phụ dưới chốn cửu tuyền.

Khấn xong thấy xuất hiện ngàn hàng vạn đội âm binh. Lại truyền hịch đi khắp nước Nam các đạo, châu, quận, hễ chỗ nào có tướng tài nam nữ, thì hãy thu thập quân tốt làm phiên thần mà dẹp giặc. Hôm ấy các đạo, châu, quận đến giúp có tới cả vạn. Người giàu thì xuất tiền tài. Người dũng thì giúp sức lực. Ngay hôm đó Trưng nữ lập thành các đội, dẫn quân tiến đến vùng đất ở đầu địa phận của khu Cổ Miếu trang Thư Lâm huyện Yên Phong phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh). Mặt trời đang ở trên đỉnh. Trưng nữ bèn cho quân đóng tại đó. Quân sĩ nghỉ ngơi ăn uống. Trưng nữ mới đi xung quanh xem bốn phía. Bỗng thấy có một người con gói tuổi độ đôi mươi, môi son má phấn, muôn điểm nét thu, mắt phượng mày ngài, mười phần xuân sắc. Phong tư yểu điệu, nhan sắc đặn đầy, tuyệt thế vô song. Đang ngồi một mình dưới gốc cây đa, thầm hát cười khe khẽ. Trưng nữ lấy làm lạ bèn hỏi:

  • Cô là ai sao lại đường đột một mình ở đây?

Người con gái đáp rằng:

  • Thiếp trước vốn là con gái họ Hùng, tên gọi là công chúa Ngọc Thanh. Trời đất an bài định cho ở tại địa phương này. Có đức vua tất có quân thần. Nên thiếp muốn tới gặp mặt, tự xin được âm phù dẹp giặc. Ngày sau mong được rõ công lao.

Nói xong thì biến mất. Khi ấy (ngày 15 tháng Ba) Trưng nữ lấy làm kỳ lạ bèn cho gọi các phụ lão ở địa phương đến hỏi cho rõ ràng. Các cụ già tâu rằng:

  • Khu chúng thần đúng là có thờ phụng một vị âm thần, rất là linh thiêng, ứng hiện phi thường. Có lúc hiện hình ở trong làng, có lúc chặn người ở ngoài đường. Những người không may mắn bị hại rất nhiều.

Trưng nữ nghe biết vậy thì lấy làm vui mừng nói:

  • Nếu quả đúng như vậy thì giặc Định kia tất sẽ bị dẹp yên.

Trưng nữ làm lễ bái tạ, dẫn quân thẳng đến đồn giặc Định đánh một trận. Quân của Định thua to, bỏ chạy. Chém được tướng chính, thu hoạch vô số khí giới, lương thực, ngựa xe. Ở Lĩnh Ngoại cho xây 65 thành, phục hồi lại toàn bộ đất đai nước Nam. Từ đó thiên hạ thanh bình, đất nước vô sự. Trưng nữ lên ngôi làm vua, cho mở tiệc mừng lớn, phong thêm cấp bậc tương ứng cho các tướng sĩ. Nhân đó nói rằng:

  • Giặc Định dẹp được cũng là nhờ có thần linh trợ giúp âm phù.

Bèn phong thêm cho trăm thần. Phong Ngọc Thanh Công chúa, phong tặng là Thuần chính trang Đoan trang Trinh thục Phu nhân. Cho phép khu Cổ Miếu trang Thư Lâm đón mĩ tự về dân lập miếu thờ. Vâng thay!

Vâng khai ngày thần giáng hiện cùng với các chữ cấm húy là hai chữ Ngọc, Thanh. Cho phép khu Cổ Miếu trang Thư Lâm thờ phụng.

Ngày thần giáng là ngày 15 tháng Ba. Lệ chính dùng trên mâm chay, phẩm quả, dưới tùy nghi, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Tám. Chính lệ dùng như trên.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc (1572) ngày tốt đầu xuân (tháng Giêng), Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Năm thứ sáu hoàng triều niên hiệu Vĩnh Hữu (1740) ngày tốt giữa thu (tháng Tám), Nội các bộ Lại lại theo bản cũ vâng chép.

Năm thứ tư hoàng triều niên hiệu Khải Định, năm Kỷ Mùi (1919) ngày tốt đầu mùa đông (tháng Mười), người dân trong thôn vâng sao chép nguyên bản ở xã Bình Trù.

Vốn năm trước dân thôn khi dựng mới miếu thờ, thần có ứng mộng cho một đôi câu đối rằng:
Tam sinh khí tiết thiên thu tại
Nhất điểm anh linh vạn cổ liêu.

Nghĩa là:
Ba kiếp nghìn thu còn khí tiết
Vạn năm một chốn tỏa anh linh.

Đến năm đó dân thôn lại tìm được một đạo thần tích, tương ứng phù hợp với trong mộng báo nên dân thôn rất tin tưởng việc này.

Một đạo thần tích người đời sau chép

Được ghi lại tương tự như thần tích của Đại vương, nên lược chép dưới đây.

Thời vua Lê Thái Tổ, tên húy là Lợi. Khi ấy ở trang Cổ Pháp có một người con gái nhà họ Nguyễn tên là Tịnh Nương, tuổi độ đôi mươi. Tổ tiêu được nhận phong là “trâm anh lũy thế”, duyên lành tốt đẹp còn chưa được định kỳ. Một hôm Nương đi đến khu Cổ Miếu trang Bình Lâm huyện Yên Phú phủ Từ Sơn đạo Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh). Bỗng nhiên thấy trời đất có mây mù nổi lên khắp bến phía. Nương bèn chạy vào trong đền, núp ở bên trái dưới án mà mơ màng thiếp đi. Bỗng nằm mộng thấy một nữ nhân hình dung cổ quái, nhan sắc kỳ lạ từ trên án đị thẳng xuống và nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái nhà họ Hùng trước đây, vâng mệnh Thiên đình trấn trị tại địa phương, tên gọi là Ngọc Thanh, ở tại nơi miếu này. Nay vâng chiếu của Thiên đế mà đầu vào làm con của bà.

Nói xong thì biến mất. Nương rất sợ hãi, tỉnh lại vẫn nhớ điều trong mộng. Từ đó trở về nhà, thấy trong người có thai. Năm Nhâm Thìn ngày mùng 2 tháng Mười một sinh hạ một người con gái, dung mạo khác thường, nhan sắc phi thường. Bà Nguyễn nhớ lại giấc mộng khi trước mà đặt tên con là Ngọc Thanh. Ngày qua tháng lại, nàng đã lên tám tuổi thì bà mẹ bị bệnh mà qua đời. Đến khi nàng lên 13 tuổi có phong tư yểu điệu, nói năng uyển nhã, má phấn môi son, vạn điểm như sóng thư, mắt phượng mày ngài, mười phần xuân sắc. Khi đó có Hồ Quý Ly thoán ngôi nhà Trần, bạo ngược hại dân, giết chồng cướp vợ, sai cứ đi khắp thiên hạ, hễ nhà ai có con gái đẹp mà không chịu cống nạp thì giết cả nhà. Lúc ấy nàng bỏ chạy tránh tới trại Gia Lâm, gặp anh em Lê Lai, Lê Lợi, Lê Thiện, Lê Thạch cũng bị Quý Ly yêu sách mà phải bỏ đi, đang dẫn cả nhà gia quyến tìm cách chạy vào rừng núi. Khi đến nơi ông Lê Lợi hỏi rằng:

  • Nàng là ai vậy?

Nàng đáp rằng:

  • Thiếp là con gái họ Hùng trước đây, xuất thế đầu nhập làm con ở nhà họ Nguyễn. Nay bị Quý Ly tìm kiếm nên bỏ chạy đến đây thì gặp Minh công. Trời đất an bài, nơi chốn đã định. Thiếp xin được theo gia quyến của Minh công để giúp nuôi dưỡng. Minh công yên tâm mà bắt cha con họ Hồ, chiếm định được thiên hạ.

Ông Lợi nghe vậy đồng ý cho ở cùng một chỗ với gia quyến của mình.

Lại nói, thời Minh Thành Tổ sai đại tướng Mộc Thạnh, Liễu Thăng, Trương Phụ, Hoàng Phúc đến hỏi tội họ Hồ. Khi đó Lê Lợi cũng ra giúp nhà Minh bắt yên được họ Hồ. Lúc ấy, nàng nghe là cha con họ Hồ đã bị diệt, thiên hạ được yên. Một hôm là xuống núi trở về nơi miếu ở khu Cổ Miếu, trang Bình Lâm huyện Yên Phú đạo Kinh Bắc, làm lễ bái yết. Khi đó phụ lão ở trong khu đều sợ hãi đến đón. Nàng mới gọi các vị cao niên đến hỏi rằng:

  • Khu của các người thờ phụng vị nào?

Phụ lão tâu rằng:

  • Khu vực của thần phụng thờ một vị công chúa, có tên thần như vậy, rất là linh thiêng, hiển hiện phi thường. Trước đây 20 năm có một người đàn bà đi bán tạp hóa đi qua, vào trú trong miếu. Từ đó không thấy linh nghiệm nữa.

Nàng bèn cười rằng:

  • Đó chính là mẹ đẻ của ta.

Lúc ấy phụ lão, nhân dân đều sợ hãi, bèn làm lễ xin được làm thần tử. Nàng đồng ý, lại cho thêm 5 nén vàng ròng để sửa chữa nơi thờ phụng. Nói xong thì không trung trời đất bỗng trở nên tối sầm, mưa to gió lớn nổi lên, giữa ban ngày mà như đêm. Thấy có một ánh hào quang từ trên trời hạ thẳng xuống trước miếu giống như xa giá đến đón. Thấy nàng theo mây bay lên không ra nơi đất đầu khu ở xứ Gò Đống. Chốc lát thì trời trong lại. Thấy mối đùn đất thành một mộ lớn, không còn thấy nàng nữa, tức là đã hóa. Khi ấy là ngày mùng 3 tháng Ba, nhân dân đều sợ hãi, bèn làm lễ tế. Từ đó lại rất linh nghiệm.

Lại nói, Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp Minh Liễu Thăng, có dẫn quân đến đây cầu đảo, cũng có sự hiển ứng âm phù. Đến khi được thiên hạ Thái Tổ bèn sai sứ mang sắc phong tên và thần hiệu đến.

Phong Ngọc Thanh Công chúa, tặng phong là Huệ hoà Trinh thục Hiển ứng Linh phù Hộ quốc An dân tôn thần. Lại tặng thêm một bài thơ do vua đề là:
Tam sinh khí tiết thiên thu tại
Nhất điểm anh linh vạn cổ liêu.

Nghĩa là:
Ba kiếp nghìn thu còn khí tiết
Vạn năm một chốn tỏa anh linh.

Cho phép khu Cổ Miếu trang Bình Lâm đón mỹ tự về dân, sửa sang miếu điện để phụng thờ. Vâng thay!

Vâng khai sinh hóa các ngày cùng với các chữ húy cấm là Ngọc, Thanh hai chữ. 

Ngày sinh thần là mùng 2 tháng Mười một. Lễ chính trên bày cỗ chay, phẩm, quả, dưới thịt lợn đen, xôi, rượu, ca hát 3 ngày.

Ngày hóa thần là mùng 3 tháng Ba. Lễ chính dùng lễ tùy nghi, ca hát đều cấm.

Năm đầu Hồng Phúc [ngày] tốt đầu xuân,  Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 6 ngày tốt giữa thu Nội các bộ Lại lại tuân theo bản cũ vâng chép.

Dịch theo nguyên văn chữ Nho từ bản khai thần tích thần sắc làng Thư Lâm tổng Xuân Nộn huyện Đông Anh tỉnh Phúc Yên, số hiệu TTTS 11629 hiện lưu tại Thư viện Khoa học xã hội, trang 1056 – 1046.

Thần tích xã Vũ Lăng tổng Thịnh Quang huyện Trực Định tỉnh Nam Định

Ngọc phả cổ do Thượng thư quốc triều vâng soạn về dòng dõi trăm trứng triều Hùng gồm tứ vị Thủy thần Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Lục Cung Uy Đại vương.

Xưa nước Việt ta ở phương Nam, núi sông thuộc khu vực sao Dực, sao Chẩn, ứng về phương Đẩu, phương Ngưu. Từ thuở đầu dựng nước, nối vận lớn của Thánh tổ Kinh Dương Vương, non sông muôn dặm, dựng nền thành đô cung điện, mở mang muôn vật, cứu giúp nhân dân, thống lĩnh mười lăm bộ nước Đại Việt.

Đến thời Hùng triều truyền đến vua Huy Vương, đóng đô tại Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng quốc hiệu là Văn Lang, kinh đô gọi là thành Phong Châu. Vua chiêu tập anh tài, dùng người hiền giúp sáng đức lớn, sửa sang lễ nhạc văn trị, ngoài giữ biên cương, khiến các phương xa mến phục nghĩa đức. Vận nước hưng thịnh, giáo hóa nhân dân, phong tục trở nên tốt đẹp, thiên hạ đều xưng tụng là bậc vua quý báu.

Xét thuở xưa, Lạc Long Quân lấy con gái Động Đình tên là Âu Cơ, lập làm chính cung. Một hôm trở về núi Nghĩa Lĩnh, bỗng thấy mây lành năm sắc, bốn phương rực rỡ, rồi mang thai ba năm. Đến ngày ba mươi tháng ba đủ kỳ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành một trăm con trai, đều có khí tượng anh hùng cái thế.

Khi các con đã trưởng thành, vua bèn chia nước làm mười lăm bộ: Một là Sơn Tây. Hai là Sơn Nam. Ba là Hải Dương. Bốn là Kinh Địa (Bắc?). Năm là Hoan Châu. Sáu là Ái Châu. Bảy là Bố Chính Châu. Tám là Ô Châu. Chín là Hưng Hóa. Mười là Tuyên Quang. Mười một là Cao Bình. Mười hai là Lạng Sơn. Mười ba là Quảng Đông. Mười bốn là Quảng Tây. Mười lăm là một châu khác (Ai Lao?).

Khi ấy Lạc Long Quân cùng Âu Cơ chia biệt nhau. Năm mươi con trai theo cha xuống biển làm thủy thần. Năm mươi con trai theo mẹ lên núi làm sơn thần, trấn giữ các nơi. Từ đó về sau thường hiển linh cứu nước giúp dân.

Lại nói thời nước ta, tại đạo Hải Dương, phủ Thượng Hồng, huyện Đường, xã Mộ Trạch, có một nhà họ Cao, lấy người họ Trần làm vợ. Ông Cao là người thông minh sáng suốt, dũng mãnh hơn người, tinh thông văn học, kiêm giỏi võ nghệ, có sức mạnh trăm người khó địch, được cử làm chủ quan bộ Sơn Nam.

Chủ quan bái tạ nhận mệnh, đem quân đóng tại Sơn Nam Hạ đạo. Một hôm nhàn rỗi đi xem núi sông phong cảnh, đến xã Vũ Lăng huyện Chân Định, thấy một vùng đầu sông có dải đất uốn như rồng chạy, ruộng rộng nước quanh, cây cối tốt tươi, dân cư đông đúc, phong tục thuần hậu.

Lại thấy thế đất quý như rồng chầu hổ phục, sao Kim ứng đối. Chủ quan nhìn mãi không chán, bèn dừng xe giá. Dân chúng đều làm lễ chào mừng. Chủ quan truyền dân dựng hành cung, lấy nơi ấy làm chỗ xe giá ngự đến, giáo hóa dân chúng, khuyên chăm nghề nông tang.

Nhờ vậy dân lấy nông tang làm gốc mà hưng thịnh, trừ bỏ mọi điều hại dân. Không một người nào không được yên ổn sinh sống, không một vật nào không được nuôi dưỡng.

Qua ba tháng, vào mùa hạ tháng sáu, phu nhân xuống bến sông tắm gội. Đang khi tắm, bỗng thấy giao long cùng cá lớn, ba ba từng lớp kéo đến chầu quanh. Lại có một con giao long lớn dài hơn một trượng, quấn quanh thân phu nhân ba vòng. Phu nhân kinh hãi ngất đi. Chốc lát sau, giao long cùng các loài thủy vật đều biến mất. Phu nhân tỉnh dậy, lên bờ trở về cung. Giữa đường gặp chủ quan. Chủ quan nghe chuyện rồi đoán rằng:

“Giao long giao cảm cùng phu nhân, ấy là mệnh của thủy thần Long Hầu nơi Động Đình Thủy Đế, tức là điềm Long Hầu giáng thế.”

Từ đó phu nhân bỗng có thai, mang thai đủ mười bốn tháng. Đến ngày mồng mười tháng tám năm Bính Ngọ, sinh ra một bọc bốn trứng, nở thành bốn con trai. Bốn người dung mạo đường đường, đều mang nét mặt rồng rắn, hai tay có lông lạ mọc ngược lên, hình tướng khác thường. Chủ quan cho là điềm lạ, bèn lập hai nơi hành cung để bốn công tử cư ngụ nuôi dưỡng.

Ngày qua tháng lại, xuân sinh hạ trưởng, chẳng bao lâu đã lớn khôn. Chủ quan làm biểu tâu lên vua. Vua sai sứ giả triệu cả bốn về triều vào chầu. Bốn người làm lễ xong, đối đáp trôi chảy như nước chảy, lại bày ra tài năng kỳ lạ và phép thuật khác thường. Vua rất vui, bèn ban tên hiệu:

Người thứ nhất là Chàng Cả

Người thứ hai là Chàng Hai

Người thứ ba là Chàng Ba

Người thứ tư là Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương

Cho ở lại giúp triều đình, cùng lo việc nước.

Qua ba tháng, có giặc phương Bắc, tướng tên Thạch Linh Thần Tướng, thống lĩnh mười vạn quân kéo sang xâm lược nước ta. Tin báo biên cương dồn dập, một ngày ba lần vào triều. Vua rất lo lắng, bèn sai trăm quan lập trai đàn tại Long đình, triệu quần thần hội họp cầu kế.

Ba ngày sau, bỗng nổi gió lớn, sấm sét, mưa dữ. Hiện ra một ông lão cao lớn hơn chín thước, râu tóc bạc trắng, ngồi nơi ngã đường cười nói tự nhiên. Dân chúng tâu lên vua. Vua thân đến đón vào đàn, làm lễ rồi hỏi:

“Nay có giặc Bắc kéo sang, việc thắng bại ra sao?”

Ông lão đáp:

“Nếu tìm được người ấy thì giặc này chẳng khó dẹp.”

Nói xong bay thẳng lên trời.

Vua biết đó là Lạc Long Hầu hiển linh báo ứng, lập tức sai sứ giả đi khắp nơi tìm người tài đánh giặc. Một hôm sứ giả đến vùng Vũ Ninh, gặp nhà một phú ông có đứa con trai tên Thiết Xung Thần Vương, mới ba tuổi, ăn uống rất khỏe nhưng chưa biết nói cười. Mẹ đứa trẻ cười nói:

“Con ta chỉ biết ăn uống, chưa thể đánh giặc báo nước.”

Bỗng đứa trẻ cất tiếng nói với sứ giả:

“Mau về tâu vua, rèn cho ta ngựa sắt cao mười tám thước, kiếm sắt dài mười trượng, đem đến cho ta. Giặc ấy chẳng khó dẹp.”

Sứ giả trở về tâu đủ. Vua mừng lớn, lập tức sai thợ giỏi rèn ngựa sắt và kiếm sắt đúng như lời dặn. Rồi sai bốn vị Chàng Cả, Chàng Hai, Chàng Ba, Tá Công, theo cùng Thiết Xung Thần Vương [Thánh Gióng] đi đánh giặc.

Bấy giờ bốn vị thống lĩnh quân thủy tộc gồm rồng rắn, cá lớn, ba ba, cưỡi sóng tiến đi theo đường nước, thẳng đến cửa biển Thần Phù. Đại chiến hơn hai mươi trận, đánh tan quân Ân. Thần Vương rút kiếm sắt chém tướng giặc Thiết Lôi Thần Tướng thành ba đoạn, ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến binh rồi khải hoàn về triều. Vua nghe tin rất mừng, truyền mở đại yến, giết trâu dê gà lợn, ban thưởng công thần lớn nhỏ theo công trạng.

Lại gia phong:

Chàng Cả làm Vua Vàng Lân Hầu Đại Tướng Quân.

Chàng Hai làm Vua Vàng Long Hầu Đại Tướng Quân.

Chàng Ba làm Vua Vàng Bạch Long Đại Tướng Quân.

Tá Công làm Lục Cung Uy Diệu Đại Tướng Quân .

Cho các vị chia nhau trấn giữ các đạo Sơn Tây, Sơn Nam Thượng, Sơn Nam Hạ, Hải Dương, Kinh Bắc và nhiều nơi khác. Các vị giúp coi việc nước suốt hai mươi năm. Từ đó thiên hạ thanh bình, trong nước vô sự, muôn dân vui phục, bốn biển hưởng cảnh thái hòa. Về sau lại có giặc dữ nổi lên, cướp phá vùng Kỳ Môn, Hải Dương, cửa biển Thần Phù. Chúng dùng yêu pháp gây thiên tai, dịch bệnh, dân chúng đói khổ lưu lạc, chết chóc vô số. Vua lại sai sứ thần triệu các vị về kinh đánh giặc. Ngay trong ngày các vị về chầu. Vua giao cho mười vạn quân, ba mươi đạo chiến thuyền, năm trăm lầu thuyền kéo đi thảo phạt. Đến cửa biển Thần Phù, lại bắt được Thiết Lôi Thần Tướng, chém làm ba đoạn ném xuống sông. Các vị tiếp tục tiến quân. Dân chúng khắp nơi dựng đàn cầu trời đất và thần sông cứu giúp. Các vị phá đê dẫn nước. Chỉ trong một đêm nước rút, ruộng đồng trở lại như cũ, nạn lụt tự tan. Dân chúng vô cùng vui mừng.

Các vị trở về đến xã Vũ Lăng, vào bến nước thì bỗng hiện thành bốn con rắn xanh, rẽ nước mà đi rồi hóa mất. Ngày mồng mười tháng Chạp năm Ất Tỵ, trời đất tối tăm, gió mưa dữ dội, giữa ban ngày mà như ban đêm, kéo dài ba ngày.

Khi trời quang trở lại, dân chúng kinh hãi, cho là việc linh thiêng, liền làm biểu tâu lên quan trên, rồi dâng lên vua. Vua nghe việc ấy, bèn gia phong bốn vị là bậc Thượng đẳng Phúc thần. Ban rằng bốn vị cùng vận nước lâu dài, đời đời hưởng thờ, hương khói không dứt.

Lại sai dân dựng hai nơi hành cung, lập chính từ tại Quảng Lăng xã, cùng năm xã thuộc Hải Dương đạo phối thờ.

Lại gia phong:

Đệ nhất Chàng Cả Vua Vàng Đại Vương.

Đệ nhị Chàng Hai Vua Vàng Đại Vương.

Đệ tam Chàng Ba Vua Vàng Đại Vương.

Đệ tứ Tá Lục Cung Uy Diệu Đại Vương.

Từ sau khi hóa thần, hễ cầu mưa thì được mưa, cầu tạnh thì được tạnh, cầu đảo đều linh ứng hiển hách. Vì thế các triều Đinh, Lê, Trần, Lý, Lê đều gia phong mỹ tự:

“Bảo quốc hộ dân, uy linh hiển hữu, Tứ vị Đại Vương Thượng đẳng Phúc thần, cùng vận nước lâu dài.”

Lệ khánh hạ vào ngày mồng mười tháng Giêng, dùng lợn đen, trâu vàng, làm lễ ba ngày.

Ngày sinh của bốn vị là mồng mười tháng Tám, từ mồng chín đến mồng mười làm lễ, dùng trâu dê, có ca xướng.

Ngày hóa của bốn vị là mồng mười tháng Chạp, lễ dùng lợn đen, bánh trắng vo tròn cùng các lễ vật khác.

Bản này được soạn vào ngày lành đầu xuân năm Hồng Phúc nguyên niên ( 1572), do Hàn Lâm viện Đông Các Đại học sĩ Nguyễn Bỉnh phụng soạn.

Đến ngày mười lăm tháng sáu năm Vĩnh Hựu thứ tư (1738), quan Nguyễn Hiền vâng theo bản cũ mà sao lại.

Bản dịch của Lê Anh Thao https://www.facebook.com/share/p/1b61e9BkVk/

Thần tích trang Bất Phí, huyện Võ Giàng, phủ Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh

Ngọc phả cổ chép về hai vị đại vương khai quốc công thần triều Hùng có nhiều công lao, đáng tôn tước thần, đáng phong linh ứng

Sơn thần Chi Cấn. Bản chính bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, thánh tổ ứng đồ hơn hai ngàn năm, mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế mạnh phục các chư phiên. Nối tiếp ngôi báu cơ đồ to lớn. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giữ dòng dõi bền vững như bàn đá. Hiển linh ở núi Nghĩa Lĩnh. Phàm là những vị công thần giúp nước có nhiều công lao, những người trung nghĩa với triều đình và đất nước, thì tuy hóa mất nhưng dấu tích vẫn còn, tên tuổi còn với núi sông, sự nghiệp gắn với năm tháng mãi mãi trường tồn.

Lại nói, các đời trước truyền đến Kinh Dương Vương lấy người con gái Động Đình mà sinh ra Lạc Long Quân. Long Quân có tư chất phi thường, vốn có khí tượng của bậc đế vương. Khi ấy có người con gái của Đế Lai là Âu Cơ về ở tại quê mẹ tại động Lăng Sương, ra chơi ở Trường Sa. Long Quân gặp được, rất yêu mến nhan sắc đó nên cưới về, lập làm Hoàng thái hậu. Đến khi Kinh Dương Vương tuổi đã cao, Long Quân nhận nối ngôi vua, đổi tên là Hiền Đặc. Âu Cơ qua hai năm sau có mang, được đủ qua ba năm ba mươi ngày mới đến kỳ mãn nguyệt, sinh hạ một bầu, nở ra trăm trứng, thành điềm trăm trai (tức là năm Giáp Dần giờ Dần ngày mùng 6 tháng Giêng thì sinh). Đang lúc sinh bỗng thấy trên trờ có mây lành năm sắc rực rỡ, khí tốt huy hoàng, không phải như người thường sinh ra. Trải qua trăm ngày, trăm người con trai đều có diện mạo đường đường, vẻ uy lẫm liệt, hàm hổ dáng rồng, thân hình cao lớn, thực là những người con trai khác lạ, dị thường. Đến khi trưởng thành khí chất thông minh, tài cao mưu dũng, hô mưa gọi gió, vượt núi qua sông, biến hổ hiện rồng, ra thần vào thánh, biến hóa vô cùng.

Khi ấy Long Quân cho đặt tên gọi. Mới đặt tên người con trai thứ ba là Uy công, người con trai thứ tư là Tuấn công. Còn lại 98 người con trai khác được ghi ở tích riêng. Đặt tên xong Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là loài tiên. Tuy là cùng thân thiết nhưng nước lửa tương khắc, nhân đó mà chia biệt.

Chia tước hầu mà lập các nước chư hầu, lập làm trăm vương, cải thành trăm họ, lệnh trấn giữ các đầu núi góc biển, hùng cứ ở các phương mà trị nước. Bèn đặt 50 người con theo cha về biển là Thủy thần. 50 người con theo mẹ đặt là Sơn thần. Là tổ của Bách Việt vậy.

Lại nói, vào thời Hùng Vương trị vì thiên hạ thái bình, dân giàu vật khỏe, đương thời đều gọi là thịnh trị vậy. Khi ấy vua Ân thấy nước Nam không vào chầu làm lễ nên tự dẫn quân giả là đi tuần thú, muốn đến đánh chiếm. Hùng Vương nghe tin liện triệu gấp các vị sơn thần, thủy thần về triều đình để giúp nước. Khi đó chỉ có hai ông theo cùng với Đổng Thiên Vương tiến quân, cưỡi ngựa sắt thẳng đến đất Chu Sơn huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn trấn Kinh Bắc (xưa gọi là quận Vũ Ninh), lập trận chia các đồn để đánh quân Ân. Lúc ấy hai ông mới chia nhau lập đồn trại ở tại địa giới trang Bất Phí. Tuấn công lập đồn ở hướng Tây. Uy công lập đồn ở hướng Đông. Đến kỳ định thì bày trận đánh lớn một trận. Quân Ân đều bị phá tan, sợ hãi quay giáo chống cự, chết tại chân núi Chu Sơn.

Khi ấy quan quân đều bái lạy trước mặt, đến xin hàng phục, vì thế mà yên giặc vậy (Đổng Thiên Vương có sự tích ở phả chép riêng). Từ sau khi dẹp được quân Ân hai ông tiến quân trở về triều đình, bái yết trước vua. Hai ông sau đề quay về núi mà hóa mất (tức ngày 12 tháng Tám ở đất núi Ngọc Chúc).

Từ sau khi hóa mất trời đất mù mịt, mưa gió lớn nổi lên, mây mù che phủ ở nơi ấy. Nhân dân thấy vậy bèn làm biểu tâu lên nhà vua. Vua nghe vậy, rất thương tiếc công thần có công với nước, bèn ban tặng cho là họ Cao, lệnh cho sứ thần mang sắc chỉ về tại nơi cung đồn trang ấp, truyền nhân dân sửa sang lập hai ngôi đền thiêng tại hai cung nơi đồn sở đó để phụng thờ. Lại ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 70 quan để tiền chung, dùng làm quốc tế xuân thu, phong thêm mỹ tự Thượng đẳng Tối linh thần, vạn năm hưởng lộc cùng với đất nước, mãi mãi là quy thức không đổi. Thịnh thay!

Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Hiển hữu, tặng Hưng Phúc Thượng đẳng thần Đại vương.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Phổ quốc, tặng Quý Minh Thượng đẳng thần Đại vương.

Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi cho đền thiêng thứ năm, hương lửa phụng thờ.

Lại nói, đến về sau qua các đời đế vương đến khi triều Lý Thái Tổ làm vua. Bỗng có Chiêm Thành dẫn quân đến xâm chiến đất nước. Vua mới cất giá dẫn quân đi dẹp giặc Chiêm. Bỗng thấy khi qua địa giới của trang thì trời đã xế chiều, bóng dương đã ngả. Vua bèn cho lập đồn đóng quân ở đất đó. Đến nửa đêm vua bỗng nhìn xa thấy ở hướng Đông và hướng Tây có hai khối lửa đỏ

Hình dáng như đèn lồng bay thẳng đến trước mặt. Vua thấy thế cho là lạ liền gọi nhân dân trong trang đến hỏi:

  • Ở phía Đông và Tây có đền thần linh thiêng nào không mà thấy có điềm kỳ lạ như vậy?

Nhân dân, phụ lão tâu lại rõ ràng mọi chuyện trước sau. Nên vua liền truyền cho nhân dân làm lễ chay giới vào trong đền mà cầu khấn. Đang lúc tế khấn bỗng thấy trời đất có mưa to gió lớn nổi lên, bạt cây tung cát, sấm sét vang rền. Vua thấy linh ứng như vậy nên đích thân đến tế chúc rằng:

  • Nay nước gia có việc giặc Chiêm đến xâm phạm. Ta đích thân đi đánh giặc, lập đồn đóng quân ở đây, làm lễ tự mình cầu đảo trời đất thần linh cùng đến tương trợ, cho giúp được lực âm phù vậy.

Khấn xong bỗng thấy trời đất sáng tạnh, mưa gió yên lặng. Vua bèn làm lễ tạ rồi trở về nơi đồn quân. Đến cuối canh ba vua bàng hoàng nằm mộng thấy có hai vị thần nhân, áo mũ rực rỡ, tay cầm thẻ ngọc, tiếp đến đứng ở hai bên. Vua bèn hỏi rằng:

  • Các vị ở đâu mà đến đứng ở đây?

Hai thần nhân cùng tâu rằng:

  • Chúng tôi đều là anh em của tản Viên Sơn triều Hùng, em thứ ba và thứ tư. Nay Thiên đình giao cho trấn giữ nhân địa phương nơi đất này. Nghe được là Hoàng đế đích thân đi chinh chiến nên đến bái mừng. Xin được ra sức âm phù thánh giúp nước, làm rạng công chuyện của mình.

Tâu xong bỗng thấy hai vị thần nhân bay lên mây mà đi. Đến sáng ngày hôm sau vua tỉnh lại biết là thần ứng mộng. Vua bèn cất quân thẳng đến đồn trại quân Chiêm, đánh một trận lớn. Đang ở trận tiền bỗng mưa gió lớn nổi lên, sấm động vang rền, mây bay mù mịt. Giữa ban ngày mà như đêm. Xuất hiện hai vị thần nhân đứng giữa quân giặc, tay chân múa lên, hô to ba tiếng như sấm rền. Quân giặc thấy vậy đều sợ hãi, bỏ chạy mà được dẹp yên. Đến sau khi dẹp xong giặc vua dẫn quân khải hoàn về triều, liền lệnh cho đình thần mang sắc chỉ về trang truyền cho nhân dân tu sửa đền thiêng phụng thờ. Ban thêm cho nhân dân trong trang tiền công 31 quan để làm lễ quốc tế xuân thu. Truy phong mỹ tự là Thượng thượng Tối linh thần, vạn đời hưởng lộc, hương lửa không ngừng.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Đông phương Cảm ứng Hiển hữu, tặng tên Hưng Phúc Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.

Phong Bản cảnh Thành hoàng Tây phương Cảm linh Phổ quốc, tặng tên Quý Minh Thượng thượng đẳng Tối linh thần Đại vương.

Cho phép trang Bất Phí huyện Vũ Ninh phủ Từ Sơn là nơi hộ nhi chính của đền thiêng thứ năm, thờ cúng hương lửa.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc ngày tốt mùa xuân, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Năm thứ ba niên hiệu Vĩnh Hựu ngày tốt mùa đông, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Hiền tuân theo bản chính trước đây mà sao chép.

Sự tích thần thôn Vĩnh Phúc xã Lạp Tuyết tổng Lạp Mai huyện An Sơn phủ Quốc Oai tỉnh Sơn Tây

Dịch từ bản khai Thần tích thần sắc làng Liệp Tuyết, tổng Liệp Mai, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây

Ngọc phả chép về ba vị thủy thần xuất thế triều Hùng Huy Vương đánh giặc Ân

Chi Tốn. Thứ năm bộ Thượng đẳng. Bản chính bộ Lễ quốc triều

Xưa cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh sinh Đế Nghi rồi nhân đi tuần phương Nam ở Ngũ Lĩnh mà gặp được nàng Vụ Tiên mới sinh ra Lục Tục. Lục Tục tư chất phi thường, có khí chất của bậc đế vương. Đế Minh muốn truyền lại ngôi vị. Lục Tục cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh truyền ngôi báu cho Đế Nghi, lại phong Lục Tục ở phương Nam, hiệu là nước Xích Quỷ.

Lục Tục bái từ biệt cha và anh đi nhận phong ở phương Nam nước Việt ta, đổi là Việt Thường Thị, xưng tên là Kinh Dương Vương. Đất thắng Hoan Châu xây dựng kinh đô. Núi mạnh Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền đến đời thứ hai tên là Lạc Long Quân. Khi đó Long Quân lấy tiên nữ Động Đình là Âu Cơ, ở tại đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ từ đó mang thai, được ba năm ba tháng thì sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều có tư chất hơn người, anh hùng vượt đời. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong chư hầu, lập phên dậu bình phong, chia trong nước thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Bắc Kinh, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông.

Khi ấy Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta là giống rồng, nàng là giống tiên. Tuy khí âm dương hợp lại mà có con nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể chung sống được.

Thế là chia tách nhau, chia 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, chia trị các nơi sông, ngòi, khe, lạch. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, chia trị các chốn gò đồi, rừng núi. Lập người con cả làm vua. Nếu có việc thì báo cho nhau, các thần sơn thủy cùng đến phụ giúp, không thể nào phai một. Thế nên cuối cùng thời triều Hùng trăm thần thủy sơn thường hay xuất thế, đầu thai nhập vào làm con ở nhân gian, để giúp nước giữ dân. Gia đình nào có phúc dày tất sẽ gặp được.

Lại nói, họ Hùng truyền nối sáu đời thì đến thời Huy Vương. Vua nối tiếp vận tốt hanh thông sáu đời, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, dựng nước tên Văn Lang. Quốc đô là thành Phong Châu. Con trai vua gọi là quan lang, con gái vua gọi là mị nương. Hữu ty gọi là bồ chính quân. Rủ áo chắp tay, nguy nga chín bệ. Dân được đào giếng cày ruộng, vui vẻ bốn bề một cảnh tượng thái bình. Thời Vua rạng rỡ, lại kính trời theo tổ, tin theo việc thần kỳ. Đương thời gọi là bậc hiền quân vậy.

Xưa vào thời đó tương truyền rằng nước Việt ta ở huyện An Sơn (An Sơn thuộc phủ Quốc Oai đạo Sơn Tây) có vị quan lang vốn là cháu của Hùng Huy Vương, tên là Hùng Chiếu Công. Ông tuổi 18 thì nhận phong tước có thực ấp tại An Sơn. Khi ông mới đến nhận đất, đi khắp trong huyện để xem xét thế núi thế sông mà lập cung để ở. Một hôm đi đến trang Lạp Hạ, thấy mạch Càn Cấn chạy tới, có sông Tích uốn lượn, sông núi hữu tình, bèn lập một cung gọi tên là cung Đại Phu mà ở.

Khi ấy trang Lạp Hạ có một trại thứ hai tên là trại Vĩnh Phúc, có một người con gái nhà họ Nguyễn, tên là Nguyễn Kim Nương, có dung nhan chim sa cá lặn, vẻ mạo hoa nhường nguyệt thẹn. Hùng Chiếu Công thích thú muốn cưới, chọn ngày để định lễ dương cờ, duyên lành đẹp đẽ, đón về cùng sống tại cung Đại Phu. Từ khi thành gia thất được hơn mười năm mà phòng lan chưa thấy sinh hương, buồng quế chưa tỏ một đóa. Chiếu Công buồn bã không vui, muốn từ quan mà về, nhưng lòng Vua không cho, việc quan cứ thế qua đi. Đến khi tuổi đã 50, thường than rằng:

  • Người xưa có 3 điều mong muốn: Giàu có, Sống lâu, Nhiều con trai. Ta giàu có tuy không phải như vương giả nhưng cũng là bậc phong lưu. Tuổi nay đã 50 thì cũng coi là sống thọ. Chỉ là chưa có con trai, nên tâm niệm rằng núi tiền biển bạc coi nhẹ như lông, như cỏ. Con hiếu cháu hiền trọng như vàng ngọc. Không con mà giàu, thì giàu làm gì. Có con dù nghèo, nghèo cũng là vui vậy.

Nên ông lấy hết bổng lộc quan của mình đem phân phát giúp người nghèo khổ, nửa điểm hại người cũng không có ý, một hào lợi riêng cũng không có lòng. Như thế qua được ba bốn năm. Một hôm bỗng thấy trời đất mù mịt, mưa to gió lớn nổi lên, nước sông Tích ầm ào như tiếng sấm động. Đến khi trời đất trong sáng trở lại thấy ở trước cung bỗng thành một vực, sâu hai ba trượng ở tại đó. Ông mơ màng nằm mộng, thấy có ba người, thân thể kỳ dị, diện mạo mạnh mẽ, mặc áo hồng, đeo dải chuỗi ngọc, từ ngoài bãi sông Tích mà đến ở trong vực đó. Được một lúc thì ba người đi lên thẳng tới trước mặt ông. Một người xưng là Triều Lang, một người là Thần Lang, một người xưng là Gia Lang, đều là trong anh em một bầu trăm trứng của Lạc Long Quân, nắm quyền phụ trách ở trên khe Mao Khê. Mao Khê ở tại phía trái của núi Tản Viên, tên thường gọi là Ngòi. Vâng mệnh Hoàng thiên đến đầu thai vào làm con nhà ông.

Ông bỗng tỉnh lại mới biết là nằm mơ. Từ đó bà Nguyễn Thị thân chuyển mang thai. Ngày mười hai tháng Năm năm Nhâm Thìn sinh ra một bọc, nở ra ba người con trai, đều có hình tướng kỳ lạ. Đang khi sinh khí lành bay khắp, khói thơm nồng nàn. Hùng Chiếu Công nhân theo trong mộng mà đặt tên người thứ nhất là Triều Lang, người thứ hai là Thần Lang, người thứ ba là Gia Lang. Đến khi lên ba tuổi Huy Vương ban chiếu gọi người cha về triều nghe mệnh vua. Chiếu Công bèn dẫn theo bà Nguyễn cùng với ba người con về triều. Cha con cùng vào bái Vua. Huy Vương thấy ba chàng diện mạo phi thường, mới gọi Chiếu Công đến hỏi. Chiếu Công đem giấc mộng kể lại tường tận tấu lên. Vua biết là thủy thần xuất thế bèn cho sắp xếp nuôi dưỡng ở trong cung. Đến năm 12 tuổi cho tìm thầy dạy học. Ba anh em vốn bản tính thông minh. Học được vài năm thì văn chương thấu suốt, có thể sánh cung tường Khổng Mạnh, võ bị tinh thông không kém thao lược Tôn Ngô.

Năm 18 tuổi người cha là Chiếu Công tuổi đã 74. Một hôm bỗng nhiên bị sốt liên miên, uống thuốc không giảm, cầu thần không hiệu nghiệm, rồi mất ở trong chính cung. Ba anh em làm lễ chôn cất. Được hai năm sau người mẹ cũng mất theo. Ba năm chịu tang, cúng tế theo nghi lễ.

Khi đó quốc gia có một người vu nữ, có thể tinh thông việc trời. Vua thử làm điều xấu mà trời cao có biết, giáng thẳng những điềm tai ương kỳ dị như voi không ngà, ngựa đỏ ba chân. Vua gọi vu nữ đến hỏi. Sau một lúc, vu nữ quỳ tâu rằng:

  • Quân vương đã coi thường Hoàng thiên. Ba năm sau tất sinh giặc lớn. Nếu như biết tu đức thì trời sẽ giáng sinh cho kỳ tài để giúp.

Qua được quãng ba năm quả nhiên thấy thư từ biên cương báo gấp, giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng dẫn trăm vạn quân mạnh tiến đến Bắc Kinh, dựng đồn lớn tại đất Trâu Sơn. Giáo giáp khắp trời, cờ xí khắp chốn. Vua mới trai giới lập đàn, tế cáo trăm thần trời đất, đốt hương cầu đảo. Ba ngày sau mưa to gió lớn nổi lên. Thấy có một dị nhân cao hơn 9 thước, ở chỗ ngã ba đường mà cười nói nhảy múa. Mọi người thấy thì vào tâu với Vua. Vua thân ra nghênh đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc đến xâm phạm. Thắng bại như thế nào, xin được chỉ giáo.

Dị nhân hồi lâu lập quẻ bói, nói với Vua rằng:

  • Trong nước hiện có ba người chính là thủy thần xuất thế. Một tên Triều, một tên Thần, một tên Gia. Ba người anh em này có thể sai gấp trước tiên dẫn quân chống giặc. Sau đó nên lệnh cho sứ giả đi cầu trong thiên hạ. Nếu cầu được người thì giặc tất sẽ không phải lo lắng.

Dứt lời thì dị nhân bay lên không mà đi. Vua biết là lời dạy của Lạc Long Quân bèn một mặt cho gọi Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang dẫn mười vạn quân tiến đi trước. Một mặt lệnh cho mười vị sứ giả chia đường mà chiêu mộ người tài. Một hôm sứ giá đi chiêu mộ đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh đạo Bắc Kinh. Trước đó làng Phù Đổng có một gia đình giàu có, sinh được một người con tên là Thiết Xung. Tuổi đã lên ba mà chỉ biết nằm, biết ăn uống, không biết ngồi, biết nói. Người mẹ nghe sứ giả đến, mới đùa rằng:

  • Con ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận tước cao của triều đình, để báo đáp ân sâu nuôi dưỡng.

Thiết Xung nghe mẹ nói, bỗng nhiên ngồi thẳng dậy, nói rằng:

  • Mẹ mau gọi sứ giả đến đây.

Thiết Xung nói với sứ giả rằng:

  • Nhà ngươi hãy về báo với Vua cho đúc thành một con ngựa sắt mười thước, một cây búa sắt dài mười thước, một bộ áo sắt, nón sắt lớn. Ba thứ này đem đến cho ta thì Vua không cần lo gì nữa.

Sứ giả trở về, tâu lại với Vua. Vua bèn lệnh cho thợ đúc thành ngựa sắt, áo sắt, nón sắt đem chở đến cho Thiết Xung. Thiết Xung ăn uống một bữa no say, thì thầm vài chục tiếng, bỗng nhiên thân dài ra mười thước, mặc áo sắt, đội nón sắt, cầm búa sắt, cưỡi ngựa sắt, hô to rằng:

  • Ta là thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay thẳng tới quận Vũ Ninh, hợp cùng với Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang đánh một trận lớn, bắt sống Thạch Linh Thần tướng, chém ngay dưới trướng. Còn lại các dư đảng chưa trừ hết mà búa sắt đã bị gẫy mất. Thiết Xung bèn nhổ tre cùng với ba anh em tiến đánh một trận. Quân giặc dẹp yên xong. Vua ban chiếu gọi về. Thiết Xung đi đến núi Sóc thì cưỡi ngựa bay lên trời mà đi. Vua bèn phong làm Phù ĐổngThiên Vương. Ngay nơi đất đó cho lập miếu để thờ.

Còn Triều Lang, Thần Lang, Gia Lang ba chàng trở về triều. Vua đều phong tước trọng. Ba chàng từ chối không nhận, xin được trở về cung Đại Phu ở trang Lạp Hạ huyện An Sơn, là nơi sinh và nơi ở của các chàng trước đây. Vua đồng ý, bèn cho ba chàng cùng có thực ấp ở huyện An Sơn. Từ đó ba chàng ở tại cung Đại Phu, thường đi lại giữa hai trại Đại Phu và Vĩnh Phúc, khuyến khích việc nông tang, thúc đẩy điều tốt, trừ bỏ điều xấy. Thường thường cùng với mấy người gia thần hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đàn hạc gió mát, chu du bốn biển. Hoặc khi xem sông hỏi bến, đội nắng mà đến các dòng hạ lưu. Hoặc khi núi lành dạo bộ, làm bạn với gió mát nơi đồng hoang. Một hôm ba chàng đi đến Mao Khê ở Tản Viên. Ba chàng cùng chỉ nơi đó mà nói:

  • Đây chính là nhà của anh em chúng ta.

Đang khi đó bỗng thấy trời đất có mưa gió mù mịt. Nước khe dâng sóng, giao long, cá, ba ba trùng trùng vạn sóng nối nhau. Cá côn, cá kình, nghê lớp lớp ánh trùm thiên hà. Ba chàng đều xuống khe đó mà hóa (khi đó là ngày mùng 10 tháng Bảy).

Khi ba chàng đã hóa, những người hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc đi theo mới trở về nói với nhân dân. Nhân dân làm biểu dâng tấu. Vua mới phong thêm là:

Triều Lang là Đệ nhất Lang Linh Khê Đại vương

Thần Lang là Đệ nhị Lang Linh Khê Đại vương

Gia Lang là Đệ tam Lang Linh Khê Đại vương.

Sắc chỉ ban cho mang về hai trại Đại Phu, Vĩnh Phúc trang Lạp Hạ để lập miếu thờ phụng. Đến thời nhà họ Hùng đời thứ 18 là Duệ Vương. Tản Viên Sơn Thánh xây cung ở trang Lạp Hạ, lấy sáu trại Lạp Hạ, mỗi trại mười người làm ca nhi. Cứ mỗi năm mùa xuân ca hát, chơi nhạc. Nên về sau sáu trại Lạp Hạ cùng thờ Sơn Thánh làm chính thần. Còn ba vị Triều, Thần, Gia cùng được phối hưởng thờ. Từ đó về sau qua các thời Tiền Lý, Hậu Lý, Đinh, Lê, Lý, Trần cùng Hoàng gia ta khai mở cơ đồ, thường có giúp nước giữ dân, cầu mưa cầu nắng đều có nhiều linh ứng. Cho nên có nhiều đế vương phong thêm mỹ tự để muôn vạn năm hương lửa không ngừng. Tốt lành thay!

Các tiết khai sinh hóa cùng với các chữ cần cấm là ba chữ Triều, Thần, Gia.

Ngày sinh thần là 12 tháng Năm. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, ca hát ba ngày.

Ngày hóa thần là mùng 10 tháng Bảy. Lễ dùng lợn đen, xôi, rượu.

Năm đầu Hồng Phúc tháng đầu mùa xuân ngày tốt, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Năm Vĩnh Hựu thứ sáu, tháng giữa đông ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, thần, Nguyễn Di theo đúng bản chính vâng sao.

Năm Tự Đức thứ 13 tháng giữa xuân ngày tốt theo đúng bản chính vâng sao.

Thần tích Vĩnh Lại Thượng, Vĩnh Tường, Vĩnh Yên

Dịch theo bản khai thần tích thần sắc làng Vĩnh Lại Thượng tổng Hưng Lục phủ Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Yên.

Ngọc phả cổ chép về hai vị đại vương triều thần Trưng nữ vương
Chi Cấn, bộ Trung đẳng
Chính bản bộ Lễ quốc triều.

Xưa nước Việt trời Nam mở vận, chia ngang sông núi theo sao Dực, sao Chẩn. Nước Bắc ban đầu được phong chia đất thẳng hướng sao Đẩu sao Ngưu. Từ Kinh Dương Vương triều Hùng vâng thừa mệnh của vua cha phong làm tông phái đế vương nước Việt ta. Đất thắng vùng Phong Châu xây dựng kinh đô. Hình mạnh núi Nghĩa Lĩnh trùng tu miếu điện. Truyền ngôi cho đời tiếp theo xưng là Lạc Long Quân, lấy tiên nữ Động Đình, ở tại nơi đầu núi Nghĩa Lĩnh. Mây lành năm sắc rực rỡ. Âu Cơ thế rồi có mang, sinh hạ một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là bậc anh hùng hơn đời, đức độ vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong chức hầu, lập bình phong phiên dậu, chia nước thành 15 bộ. Thế rồi Lạc Long nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta vốn là giống rồng, nàng là dòng tiên. Tuy khí âm dương, ngũ hành hợp lại mà có con, nhưng chủng loại khác nhau, nước lửa tương khắc, không thể sống chung được.

Nhân đó bèn cùng chia biệt, mới phân 50 người con theo cha về biển làm Thủy thần, phân cai quản các đầu sông góc biển. 50 người con theo mẹ lên núi làm Sơn thần, phân cai quản các khu bãi trên miền núi. Khi có việc được báo thì tất đến tương trợ nhau, không thể nào suy được. Nên sau họ Hùng có trăm thần sơn thủy thường có thể xuất thế, đầu thai nhập vào các gia đình làm con để giúp nước giúp dân. Gia đình nào có phúc tất sẽ gặp được.

Khi cơ đồ họ Hùng trị nước 18 đời truyền nhau đã đến lúc cuối, ý trời muốn dứt. Trải đến thời Đông Hán, khi đó ở trang Bảo Sơn huyện Tam Dương phủ Đoan Hùng đạo Sơn Tây nhà họ Tạ có một người con gái tên là Ả Nương, tuổi khoảng 18. Phong tư yểu điểu, đẹp đẽ vô cùng. Đức phụ lòng hiền, nhưng chưa định kỳ duyên phận. Nàng lấy việc hái củi làm nghề sinh sống. Khi đó nàng Ả đi lên núi Uyển Diên kiếm củi, dẫm vào một dấu chân hổ, khi trở về đến núi Đảo, thấy vách núi tựa gương mặt trăng, còn mặt trời đang ở chính đỉnh đầu. Nàng bèn nằm ở dưới núi, nhìn xa thấy có ngôi đền thánh mẫu ở trên, xem rất là linh ứng. Nàng mơ màng nằm mộng, thấy thần hổ sơn quân ứng đến đùa trong mộng. Được một lúc nàng Ả giật mình tỉnh lại. Trời đã chuyển sắc tối. Thế rồi nàng trở về nhà, thấy trong người như mang thai. Khi đó mọi người cười chê nhiều nên nàng Ả rất xấu hổ. Thế là nàng đi đến huyện Yên Lạc, phủ Tam Đái, đến trang Hưng Lại thì dừng ở bãi đất đầu trang. Đến khi đó thì nàng sinh một bọc, nở ra hai người con trai (là ngày mùng 10 tháng Tư năm Giáp Dần), vẻ trời đẹp lạ, thể mạo khác thường, mới biết là sơn thần xuất thế, rất là yêu quý.

Đêm hôm đó vào cuối canh tư, phụ lão ở trong trang mộng thấy có thần linh đến hô rằng:

  • Trang các ngươi có sơn quân xuất thế, sinh ra ở khu đất đầu trang. Trang các người phải biết là mẹ con ngài đang nằm ở bên khu cạnh trang. Đến sáng ngày ra hãy đến đón mẹ con ngài về trong dân mà nuôi dưỡng.

Buổi sáng đó phụ lão báo cho người trong trang đến xem, quả thấy có mẹ con còn nằm ở đó, không phải người thường. Bèn đón về nuôi dưỡng. Thế rồi hai ông đến tuổi trưởng thành, đều là người tài giỏi, tốt anh tốt em. Bèn đặt tên người thứ nhất là Cả Lợi, người thứ hai là Hai Lợi. Ngày qua tháng lại hai ông tuổi đã 15, thiên tư cao lớn, học lực tinh thông, thạo đọc binh thư, giỏi về võ lược. Đến khi các ông tuổi lên 18 thì thân mẫu Ả Nương không bệnh mà mất, tức hóa (ngày 12 tháng Chín). Hai ông khóc động trời nhưng không thể làm gì được. Bèn tìm chỗ đất tốt làm lễ chôn cất. Ba năm hết tang thì khi đó có người Tô Định dẫn quân đến nước ta xâm chiếm Trung nguyên. Họ Triệu tàn thương, không người cứu giúp. Có người cháu gái Hùng Vương là Trưng Trắc, là bậc nữ trung hào kiệt, thánh thần trên đời, dương cao oai hùng, đem quân đến đánh. Nhưng khi đó còn thiếu những nam nhi có tài thao lược. Nữ tướng dẫn quân, phát động thần linh. Trưng nữ mật khấn với Tản Viên Sơn Thánh và hội đồng trăm thần ở tại cửa sông Hát Môn (tức xứ Sơn Tây), lập đàn cáo tế các vị linh thần, mới khấn chúc rằng:

  • Trời sinh ra con người, đó chính là tôn chủ của vạn vật trong trời đất, là dòng dõi sinh linh, là khởi nguồn cỏ cây muôn loài. Trải qua các triều đại đế vương trước đây thiên tử đều là những bậc thánh minh. Triều đình có đạo, yêu nước, thương dân, đức hóa rộng khắp, thiên hạ thanh bình, nước nhà yên ổn. Nay có phường dê chó ngoại tộc Tô Định thường ngông nghênh làm loạn, chính dữ hại dân. Trời đất thần người đều oán giận. Thiếp hiềm là một nữ nhân, cháu gái của Hùng Vương đời trước, nghĩ tới chúng sinh, trời cao rơi lệ. Hôm nay đau lòng thương dân, dấy nghĩa trừ tàn. Nguyện mong trăm vị các chư thần linh tề tựu về đàn để chứng giám lời thề, giúp thêm sức cho Trưng nữ thiếp dấy binh dẹp giặc, giữ nước cứu dân. Thiếp thề khôi phục lại mối xưa tổ tông, đưa muôn dân thoát khỏi vòng nước lửa. Thứ là không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa sự linh thiêng của tông miếu Tiên hoàng, an ủi tổ tiên cha ông ở nơi chín suối.

Khấn xong hô xuất âm binh nghìn hàng vạn đội. Lại truyền hịch khắp thần dân tại các châu, huyện, đạo ở nước Nam, nơi nào có người anh tài văn võ, đức độ hơn người, là bậc anh hùng có thể chống giặc thì đến đầu quân, làm phiên thần dẹp giặc.

Hai ông nghe lệnh, ngay hôm đó chiêu mộ các hương binh được hai ngàn người, dẫn quân đến thẳng nơi đồn trại của Trưng nữ. Trưng nữ thấy hai ông đến ứng tuyển đều là kỳ tài, là bậc có tài nghệ hiếm có, bèn xếp ông Cả làm Đô thống Tả tướng quân, xếp ông Hai là Đương lang Hữu tướng quân.

Thế rồi Trưng nữ chia quân các đạo tiến binh, cử hai ông đi trước tuần hành để phòng bị hai đạo hướng Tây Bắc. Ngay hôm đó hai ông nhận mệnh dẫn quân mà tiến. Trên đường cờ xí gió xua vạn dặm, chiêng trống sấm động nghìn non. Một hôm tiến đến đạo Yên Lạc, phủ Tam Đái, tới nơi đất đầu trang Hưng Lại bèn cùng nhau đóng quân ở đó. Hai ông thấy  khu vực Hưng Lại địa thế có một cuộc sông núi quanh co, rồng hổ bao ôm. Núi không cao nhưng giao kết với nhau. Sông có nơi giếng có tình, rất tiện nghi. Thật là một nơi thắng cảnh phong quang vậy. Hai ông bèn lập một đồn trại để sau này chống quân Hán.

Khi đó phụ lão nhân dân ở trong trang đều lấy làm sợ hãi. Dân khu trang làm lễ xin được làm thần tử theo các ông. Hai ông đồng ý. Hai ông tuyển được ba ngàn người cường tráng trong khu trang để làm gia thần cận kề. Khi đó phụ lão nhân dân khu Hưng Lại tâu rằng:

  • Lấy ơn mà phục chúng thì tất có thể được yên. Vì thế nơi nay là đồn trại sau xin được làm nơi thờ cúng.

Hai ông đồng ý. Sáng ngày ra thấy có sứ giả vâng mệnh mang chiếu thư đến gọi hai ông về đồn doanh của Trưng nữ để bàn định việc dẹp giặc. Người có trí thì hiến mưu lạ, người có dũng thì theo lời quyết đoán. Ngay hôm đó Trưng nữ cùng hai ông dẫn quân thẳng đến đồn Tô Định đánh một trận, không phân thắng bại. Khi đó hai ông bị khát nước, muốn tìm uống nước mà phải lui. Hai ông ngẩng mặt lên trời ngầm khấn, rồi nói rằng:

  • Lòng trời chỉ cho dẫn quân đến nơi này.

Ở đó các ông gặp được một bầy bò sữa. Hai ông uống sữa đó, đều hết cơn khát. Hai ông lại nói rằng:

  • Nhờ có lòng trời giúp, anh em chúng tôi tất sẽ thắng.

Thế là hai ông hô quân sĩ tụ tập lại, đánh thêm một trận cùng với quân Hán, một lúc được thắng lớn. Quân Tô Định bỏ chạy. Bắt được đại tướng giặc. Dựng 65 thành ở Lĩnh Ngoại, thu phục tất cả vùng đất của nước Nam. Trưng nữ mới lên ngôi xưng Vương (khi đó là tiết xuân thượng tuần tháng Giêng). Thấy sứ giả vâng mang chiếu thư đến, trong nói rằng:

  • Giặc Tô Định đã dẹp yên. Thiên hạ được yên ổn.

Nữ vương ban chiếu gọi hai ông. Hai ông vâng mệnh trở về. Vua mở tiệc lớn ăn mừng, phong cho tướng sĩ các cấp bậc tương ứng. Thế là Nữ vương phong cho hai ông khu Hưng Lại trang Hưng Lại huyện Yên Lạc. Khi đó hai ông bái tạ, trở về thực ấp nhận chức.

Thế rồi Nữ vương ở ngôi được khoảng 3 năm. Tướng Hán là giặc Mã Viện dẫn quân rất đông tiến đến. Khi đó Trưng nữ mới xuất đầu lộ diện, đem quân để đánh dẹp. Binh thư báo gấp một ngày tới 5 lần, sai hai ông tiến quân đến cùng đánh với Mã Viện một trận. Thắng thua chưa rõ thì không ngờ Trưng nữ thất cơ mà thua chạy, mới cưỡi ngựa chạy lên núi mà về chầu trời. Trưng nữ qua một giấc mộng xuân vậy.

Lại nói, hai ông dẫn quân lùi về đồn ở khu Hưng Lại trang Hưng Lại. Được một lúc bỗng thấy quân Mã Viện rất mạnh kéo đến. Hai ông nói:

  • Quân Hán mới đánh xong sao đã lại đến đây.

Thế là hai ông nói với phụ lão nhân dân và gia thần trang khu Hưng Lại rằng:

  • Chúng ta để lại di mệnh cho muôn năm sau ở trang này phụng thờ hai người anh em chúng ta. Chúng ta còn có mẹ. Khi cúng tế chúng ta thì hãy cung thỉnh cả mẹ chúng ta về chính vị cùng hưởng giám.

Nói xong liền sai đóng cửa quan không mở. Tướng Hán, quân Hán rất tức giận, tiến vào trong khu tạo mấy vòng bao vây. Thế rồi hai ông hô gọi quân sĩ cùng với nhân dân, gia thần đem hết lòng trung nghĩa cùng với các ông ra sức đánh quân Hán một trận, phá được vòng vây. Thấy hai ông cưỡi ngựa chạy vào trong núi mà biến mất, tức đã hóa (khi đó là mùng 8 tháng Mười một). Từ khi các ông hóa về sau các trang khu là thần tử trở về lập miếu để thờ.

Năm Thiên Phúc thời vua Lê Đại Hành xem xét trăm thần, thấy nếu có linh hiển thì phong thêm cho trăm thần. Phong thêm hai vị là thần Đôn ngưng Linh phù.

Sắc phong nguyên thần hiệu là:

  • Phong Cả Lợi Đô thống Minh tước Đại vương.
  • Phong Hai Lợi Đương lang Quang linh Đại vương.

Y phục màu vàng và đỏ khi làm lễ nhất thiết cấm dùng. Lại nói, từ đó về sau có nhiều linh ứng nên có nhiều đời đế vương phong thêm mỹ tự.

Đến thời Trần Thái Tông, giặc Nguyên đến xâm phạm, kinh thành bị vây hãm. Trần Quốc Tuấn vâng mệnh vua cầu đảo trăm thần ở các đền. Khi đó hai vị đại vương cũng có hiển ứng âm phù. Đến khi dẹp được giặc Mã Nhi, Thái Tông bèn phong tặng mỹ tự cho hai vị là Linh quang Hiển ứng An dân Hoành mô Viễn lược Tích chỉ Ngưng hưu Đại vương.

Lê Thái Tổ khởi nghĩa dẹp giặc Minh Liễu Thăng, đến khi được thiên hạ thì Thái Tổ phong thêm hai vị đại vương là Phổ tế Cương nghị Anh linh. Sắc chỉ ban cho khu Hưng Lại sửa chữa miếu điện để phụng thờ. Thật tốt đẹp thay!

Thời Hoàng triều năm Cảnh Hưng mới phong thêm mỹ tự cho hai vị là Diên hy Tích khánh.

Vâng khai các lễ sinh hóa cùng với các chữ húy cấm: năm chữ Cả, Hai, Lợi, Minh, Quang. Cho phép khu Hưng Lại phụng thờ.

Ngày sinh thần là mùng 10 tháng Tư. Chính lễ dùng trên mâm chay, phẩm quả, dưới trâu, lợn, xôi, rượu, bánh dày vuông tròn, ca hát, đấu vật.

Ngày hóa thần là mùng 8 tháng Mười một. Chính lễ dùng trên mâm chay, dưới trâu, lợn, xôi, rượu, bánh dày vuông tròn, cấm ca hát.

Ngày lễ tiết xuân kỳ phúc là 14 tháng Giêng. Lễ dùng tùy ý, ca hát nhiều.

Năm đầu niên hiệu Hồng Phúc (1572), ngày tốt tháng đầu xuân, Hàn lâm Lễ viện  Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn bản chính.

Hoàng triều năm Vĩnh Hựu thứ sáu (1740) ngày tốt giữa thu, nội các bộ Lại tuân theo bản chính cũ vâng chép.

Năm Duy Tân thứ ba (1908) ngày mùng 8 tháng Mười hai bản xã sao bản chính.

Lý trưởng Phan Văn Tuyết.

Thư ký Phan Văn Điều.

Ngọc phả sự tích ba vị là con thứ triều Hùng Huy Vương Việt Thường Đàm Gia Đại vương, Du Di Hoàng hậu và Hệ Hộ Cung phi

Dịch theo bản khai Thần tích thần sắc thôn Tổ, làng Thượng Trì, tổng Thượng Trì, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Đông.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ ngôi báu trời Nam Tiền Hoàng đế tạo dựng cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt Thường họ Hùng 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, khai mở cơ đồ Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm xây nền cung điện đô thành. Khai vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế trấn phiên bang (Xét xưa Lạc Long Quân, Âu Cơ sinh một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đến khi trưởng thành Vua kiến phong hầu, lập bình phong phiên dậu, chia thành 15 bộ. Thứ nhất là Sơn Tây, thứ hai là Sơn Nam, thứ ba là Hải Dương, thứ tư là Kinh Bắc, thứ năm là Ái Châu, thứ sáu là Hoan Châu, thứ bảy là Bố Chính, thứ tám là Ô Châu, thứ chín là Ai Châu (Ai Lao?), thứ mười là Hưng Hóa, thứ mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây). Kế thừa ngôi báu thành đất Viêm Hồng. Có vua trị nước hơn hai ngàn năm, mãi giữ tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương nước Nam, đóng ngự muôn năm thánh điện núi Hùng Vương, Thánh tổ trời Nam. Nền nước cơ đồ mãi vững muôn năm, lâu dài vạn thế. Bèn lập miếu điện, cung lăng. Dòng dõi con cháu hoàng gia phân ra ở trị các ngọn núi, góc biển. Ở quận Giao Chỉ các nơi phủ, huyện, dân thôn, động, sách đều phụng thờ, hương lửa lưu truyền vạn năm sáng mãi, không thể mất được.

Đời sau có thơ khen rằng:
Nam thiên khởi triệu tự Hùng Vương
Vạn cổ huân danh lập kỷ cương
Nhất thống tương truyền thập bát thế
Nhị thiên dư tải ức niên hương.
Nhất bào bách noãn giai sinh thánh
Lưỡng tế thăng thiên bất tử phương
Vạn cổ lưu truyền sơn hải tại
Danh đồng thiên địa ức niên phương.

Lại nói, đời triều Kinh thứ sáu là Huy Vương lên ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh đô tên là thành Phong, lập ra kỷ cương đất nước xem các vua đời trước mà định làm phép tắc. Đề cao pháp độ trùm vạn đời làm chuẩn hình. Lấy đức giáo hóa nhân dân. Ban điều nhân đức, nghiệm việc chính trị. Ra sức yên dân chúng. Đề ra phép tắc, nêu cao quy định. Người đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Khi đó bốn bể thanh bình, vạn dân no đủ. Con vua cháu đế nhàn chơi xem phong cảnh sông núi, đất trời. Khi tiết xuân tháng ba, Vua cùng với Cung phi thứ ba là công chúa Hàn Nương đi xe ngự về Hoan Châu (nay tức là Nghệ An) thăm viếng các nơi lăng mộ tổ tiên. Một hôm Vua đi đến vùng đất thôn Tổ xã Thượng Trì, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai. Hôm đó (mùng 10 tháng Giêng), nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng hành cung. Vua ở tại đất đó (tức là đất thôn Tổ), thấy nhân dân thuần hậu, phong cảnh hữu tình, bên sông ấp dân đều sống ở trên đường lớn, đều một màu đào liễu. Vua dừng xe đóng quân một đêm tại đây.

Khi đó trong thôn có một miệng giếng. Ấp dân dựng cung cho Vua ở tại bên cạnh giếng. Khi mặt trời đã ngả chiều tối, Cung phi đi chơi xem chỗ có giếng để tắm rửa. Thị nữ đến lấy nước ở giếng. Trong lúc Cung phi đang tắm bỗng thấy trong giếng có một con rắn hoa dài hơn 10 thước, từ trong giếng bò thẳng ra, quấn lấy Cung phi ba vòng. Cung phi mơ màng sợ hãi. Thị nữ chạy về cung vội tâu. Vua nghe lời tâu báo bèn sai quần thần cùng đi ra. Bỗng thấy trong khoảnh khắc con rắn bò thẳng xuống miệng giếng mà biến mất. Cung phi tỉnh lại, đứng dậy đi về. Thấy thân có đấy nước dãi mùi thơm ngào ngạt. Cung phi kể lại mọi việc trước sau.

Vua rất tức giận, truyền binh sĩ và nhân dân tát cạn nước giếng để tìm con rắn nhưng không thấy. Bỗng nhiên mưa gió nổi lên, sấm sét vang rền. Quân dân đều sợ hãi bỏ chạy. Vua nghĩ rằng hẳn là nơi giếng này có có thủy thần đóng quản, không thể không. Nơi đó trời đất tạo nên giếng thiêng vậy. Vua bèn lệnh cho quần thần làm lễ chay mà tạ. Lễ xong đêm đó Vua nằm ở trong cung, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người áo mão đường hoàng từ trong giếng đi ra tiến thẳng đến nơi Vua, dập đầu làm lễ. Vua bèn hỏi rằng:

  • Họ tên như thế nào? Có việc gì mà tới đây?

Người đó tâu rằng:

  • Thần vốn là con của Động Đình Đế, quyền quản bãi sông Thượng Trì, kiêm đóng ở trong giếng của ấp thôn (tức là thôn Tổ). Thần vâng mệnh Thiên đế tái giáng xuất thế ở dương gian, đầu thai nhập làm con vua, cũng là mệnh làm Thủy tào vậy. Hôm nay may mắn gặp vua đến chính nơi cung trại chốn trang thôn này. Xin đến để nói về việc đầu nhập này.

Nói chưa xong thì Vua đã tỉnh lại, biết là điềm báo mộng, nghĩ thấy:

  • Tất là Thiên đình đã định cho vị thần long của Thủy quốc vào nhập làm con trai nhà ta. Sự đã rõ ràng.

Vua cho gọi thị thần đến chép lại điềm giấc mộng của mình để sau này so nghiệm. Hôm đó Vua lên đường trở về Hoan Châu (sau đổi là Nghệ An) thăm các nơi lăng mộ tổ tiên. Từ đó Cung phi có mang thai. Đến ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Tuất là đến kỳ mãn nguyệt, sinh được một người con trai, thân thể cao lớn, diện mao đẹp lạ, khác hẳn người thường. Vào lúc sinh ra mưa gió tối tăm, mây khói mù mịt. Giữa ban ngày mà trong thành như trời tối. Sấm sét vang rền rung trời chuyển đất. Triều đình trong nước đều lấy làm kỳ lạ. Sinh được tròn năm Vua bèn đặt tên là Quan lang Đàm Gia. Năm tháng thay nhau, đến khi trưởng thành, Vua nhớ đến điềm mộng rắn quấn trước đây từ nơi giếng thôn Tổ (tức thôn Tổ xã Thượng Trì). Vua bèn cho thôn Tổ là ấp thang mộc, giao cho ông đương thời quyền quản, các lợi lộc đều được hưởng từ đất đó. Ông vốn có thiên tư thông minh chính trực, tài cao đức lớn, tính thật là khoan nhân, yêu mến dân tình. Đang khi đó ngoài bể yên bình, trong phủ vô sự. Ông thường đi xe nhàn chơi vãng cảnh xem vẻ thú vị của núi sông. Một hôm ông trở về chơi ở ấp thang mộc. Nhân dân làm lễ bái mừng, xây dựng một cung để ở tại chốn đất cung trước kia (cung trước kia Vua đã ngự ở bên nơi giếng nước, có điềm ứng rắn quấn mà sinh ra ông Gia).

Ông bèn dừng xe trú ở đó, phủ dụ phụ lão nhân dân. Lấy lòng nhân mà giáo hóa trở thành mỹ tục. Giúp người nghèo, nuôi người già. Phát nhiều tiền bạc, vải vóc để nuôi dưỡng dân tình được no đủ. Ơn nhân đức sâu lớn như biển, như núi. Không có ai sống ở đó không coi ông như cha mẹ.

Lại nói, khi đó ở thôn Nội xã Thượng Trì có gia đình ông Bộ trưởng họ Phan, có hai người con gái. Một người tên là nàng Du Di. Một người tên là nàng Hệ Hộ. Cả hai đều là bậc hào kiệt trong giới nữ, anh tài ở trên thế gian, chính thật là thần nữ thủy cung, nhan sắc tuyệt trần sánh cùng với Hằng Nga trên mặt trăng.

 Xét xưa thời Hùng Vương tương truyền ông họ Phan vốn là người thôn Nội xã Thượng Trì, tên là Vĩnh. Khi ông làm chức Bộ trưởng, vợ là Vương Thị Hàm cũng là người ở cùng làng. Lấy nhau được 3-4 năm thì bà có mang thai. Được 7 tháng, một hôm bà Vương Thị Hàm đi ra ngoài bãi sông Thượng Trì để tắm gội. Bỗng nhiên bà lao xuống sông mà hóa. Sự việc xảy ra như vậy, không thể cứu vãn được. Do đó ông Vĩnh trong lòng rất thương nhớ tình cảm của vợ, ngày ngày buồn bã. Vào lúc trăm ngày, ông bèn mời pháp sư đến gọi hồn. Việc xong ông trở về nhà. Đêm hôm đó ông nằm mộng thấy đi đến bên bờ sông bỗng gặp vợ ở đó. Ông nửa mừng nửa lo, than vãn tình cảm trước sau. Vợ ông nắm lấy tay ông, than vãn xong thì nói với ông rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Động Đình Long cung. Trước sinh ra ở trên Dương thế, đầu nhập vào làm con gái nhà Vua dưới Long cung. May mắn cùng với chàng được kết phối, vốn thề cùng nhau kết liên tới khi đầu bạc. Than ôi, cầm sắt nhân duyên, uyên ương hòa hợp mới được 3-4 năm, sớm có điềm giọt sành. Đến gần ngày mãn nguyệt mà chưa thể sinh nở bởi việc Thiên đình đã định, không thể ở tiếp trên trần thế. Do vậy mà sông Ngân cầu Ô Thước ngăn trở khó qua. Lại trở về Thủy quốc, quản chưởng Long cung, sớm ngày bên Vua cha. Cai quản ở gác ngọc thâm cung. Tuy đã hai đường khó nối, nhưng cùng một mối tâm tư vậy. Trên trên trần thế nghĩa sinh thành, đức lớn cù lao, đâu dám quên. Mối kết tóc tình sâu duyên ân ái, vẫn luôn nhớ vậy. Trách ông trời không cho được đoàn tụ. Nay thiếp đã đến kỳ sinh nở được một bầu bốn trứng, đã nở ra hai nam và hai nữ, đều sẽ thành hình người. Xin hãy mang về trần thế để báo đáp nghĩa của chàng, làm niềm vui an ủi. Xin hãy mang về nuôi dưỡng. Chớ phụ lòng thiếp.

Lại thấy ngâm rằng:
Tảo thời quá bộ vãng (giang?) biên,
Thuỷ thượng phù phù tứ noãn viên
Long huyết giai sinh long huyết tử
Nhất bào nam nữ, thị giai hiền.

Ngâm xong ông bỗng tỉnh lại, biết là nằm mộng. Khi đó canh gà một khắc. Ông cảm lời trong mộng nên đi thẳng ra ngoài bờ sông để tìm xem. Ở trên bãi sông không thấy có gì. Ông mới đưa mắt ra ngoài sông, thấy có 4 trứng nổi ở trên mặt nước cạnh bờ, đều cụm vào một nơi. Ông bèn lấy tay vớt và thả xuôi dòng. Nhưng tất cả trứng đều quấn lấy thân ông, không chịu trôi đi. Ông nhớ lại đúng như điềm trong mộng nên vớt bốn trứng, đem gói vào trong bung, mang về nhà. Trong chốc lát thấy trứng bỗng nhiên trở nên to lớn. Mỗi trứng dài một thước.

Khi ấy là ngày 16 tháng Giêng, bốn trứng cùng nở thành bốn người con, hai trai hai gái, đều thật khác người thường. Ông theo lời vợ trong mộng mà đặt tên: một là Minh Bào, một là Hổ Lang, một là Du Di, một là Hệ Hộ. Đến khi trưởng thành hai người con trai đều là bậc anh hùng hơn đời, trí dũng vượt người. Hai người con gái có hình dung chim sa cá lặn, có diện mạo hoa nhường nguyệt thẹn, anh hoa tuyệt thế, nhan sắc phi thường, đều là bậc hào kiệt trong giới nữ vậy. Về hành trạng của hai người con trai thì có tích riêng.

Khi đó ông Gia đến chơi nơi đất đó (tức thôn Tổ), nghe tiếng thơm hai nàng cũng rung động. Ông Gia bèn sai sứ thần gọi ông Phan đến, hỏi cưới hai nàng. Ông Phan vâng mệnh nhận gả. Hôm đó làm biểu dâng tấu về triều. Vua đồng ý. Bèn làm sính lễ xong thì đón về đô phủ. Lập người chị làm Chính phi, người em làm Thứ phi.

Khi đó ông lên đường trở về thành vào triều chầu vua. Qua vài tháng, nơi ấp thôn đó (tức thôn Tổ) người và vật đều không yên, bị tật bệnh rất nhiều. Trong giếng thường thường có rắn quái xuất hiện. Nhân dân đều sợ hãi. Một hôm nhân dân lập đàn cầu đảo trời đất thần linh. Cầu xong đêm hôm đó nhân dân đều ngủ say, bỗng thấy một vị quan nhân, áo mũ đường đường tiến thẳng đến. Nhân dân đều đứng lên hỏi rằng:

  • Dám hỏi vị quan nào đến đây?

Vị quan nhân đó nói rằng:

  • Ta vốn là một tiểu thần. Nay vâng mệnh Thiên đế xuống báo cho nhân dân cùng biết. Nay vị Chủ quan đã trở về kinh thành, nơi cung này không có người nắm quyền. Do đó mà ôn dịch địa phương gây loạn, xâm nhập vào trong cung, gây ra nhiễu hại nhân dân. Nếu như muốn dân vật được yên, hãy mau đón Chủ chưởng trở về thì tất âm binh sẽ đều tan.

Nói xong, quan nhân bay lên không mà đi. Nhân dân tỉnh lại biết giấc mộng đó. Ngay hôm đó nhân dân tụ tập cùng dâng tâu lên triều đình, xin làm lễ đón ông về cung ấp. Vua đồng ý cho. Ông cùng với hai bà phi vâng mệnh trở về cung ấp. Khi đó quân của ông đi đến đâu thì gió thổi theo, mưa nổi lên ù ù như tiếng sấm vang vào tai, tiến thẳng về cung ấp. Nước trong giếng sóng nổi cuồn cuộn. Rắn hoa, cá, ba ba đều nổi lên. Ông đi trở về đến nơi (tức ngày mùng 4 tháng Năm), nhân dân làm lễ bái mừng, tu sửa cung để ở. Từ đó mọi việc đều yên.

Ông ở đó được quãng nửa năm. Khi ấy có giặc Ân là Thạch Linh Thần tướng đến xâm phạm. Trăm vạn quân mạnh tiến thẳng vào Giao Nam, muốn chiếm lấy nước. Thư từ biên cương báo gấp. Vua rất lo lắng liền gọi quần thần đến cùng hỏi kế sách. Các đình thần đều nhìn nhau, bó tay không có phương sách nào. Vua bèn xây một đàn, trai giới đốt hương để cầu trời đất trăm thần âm phù giúp nước. Lại gọi các quần thần đến hội ở đàn trong ba ngày. Mưa to gió lớn, trên đàn mù mịt. Bỗng thấy có một lão nhân, cao hơn 9 thước, râu tóc bạc trắng, ngồi ở ngã ba đường, cười nói nhảy múa. Mọi người thấy đều cho là người lạ, vào tâu với Vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng:

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua thế nào, xin được chỉ giáo cho.

Lão nhân hồi lâu lấy tay bốc một quẻ rồi nói rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này sẽ sớm dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu người này ở phương nào được?

Lão nhân lại nói:

  • Việc ở Vu nữ.

Nói xong, Lão nhân bay lên không mà đi. Vua nghĩ đó là Lạc Long Quân đến dạy. Thế là Vua sai sứ đi khắp nơi cầu tìm trong thiên hạ. Khi đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, lên ba tuổi tên là Thiết Xung Thần Vương. Chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết nói năng. Bà mẹ nghe tiếng sứ giả đến chiêu mộ, mới nói đùa rằng:

  • Con nhà ta tới nay biết ăn uống, mà không biết đánh giặc để lấy chức trọng của triều đình, để báo đáp ơn sâu nuôi mớm.

Bỗng nhiên nghe mẹ nói, thì người con mở miệng nói rằng:

  • Mẹ cho gọi sứ lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với Vua xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, đem lại cho tôi. Vua sẽ không còn lo lắng gì.

Nói xong, sứ giả trở về tâu lại với Vua. Vua rất mừng, bèn lệnh chọn các quan lang phụ đạo (tức là con cháu dòng dõi Hùng Vương) 10 bổ Thủy thần, 10 bộ Sơn thần, dẫn 3 vạn quân mạnh theo giúp ứng chiến cho Thần Vương. Hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem lại giao cho Thần Vương.

Lại nói, khi ấy ông Gia nhận mệnh đi xuất chinh, giao phó cho gia thần, nhân dân trông giữ cung sở cùng với phụng chầu hai vị cung phi. Ngày đó nhân dân làm lễ bái mừng, đáp rằng:

  • Thân dân dám xin được lập đền thờ sông để làm tỏ đức của Chủ quan, để trừ miễn được yêu khí gây hại trong thôn.

Ông bèn nói với phụ lão nhân dân:

  • Hãy lấy nơi cung mà ta đang ở làm nơi chính. Hoặc sau khi  ta đi dẹp giặc mà nhân dân có thấy lũ yêu gây hại thì dân chúng hãy đến ở nơi cung sở gọi thỉnh ta về giúp cho.

Nhân dân đều nghe theo lời dặn đó. Hôm ấy (ngày 12 tháng Mười) ông mổ trâu khao hưởng quân sĩ, chiêu mộ được hơn năm trăm người gia thần thủ túc. Ngày hôm sau Chủ quan cất quân đến chầu vua. Các đạo quân sĩ đều khấu tạ trước Vua lĩnh mệnh ra quân. Vua truyền đem ngựa sắt, gậy sắt cùng các đạo Sơn thủy, quân giới đến hội cùng Thần Vương, theo tùy tùng dẹp giặc. Ngay hôm đó chia làm hai đạo thủy bộ cùng tiến (Đàm Gia thuộc thủy đạo, Đốc lĩnh thuyền rồng đi trước quân đội).

Thần Vương nhảy lên ngựa, hô một tiếng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Ngựa chạy như bay, chốc lát đã đến thẳng chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt. Các đạo thủy bộ cùng theo tiếp chiến, đánh một trân lớn với Thạch Linh Thần tướng ở bên núi. Quân Ân đều thua. Bắt sông Thạch Linh Thần tướng, chém đi. Còn lại các đạo thủy bộ tiếp chiến, truy sát chém được hơn năm ngàn đầu giặc mà vẫn chưa diệt hết. Gậy sắt của Thần Vương bị rơi mất, Thần Vương bèn lấy tay nhổ tre dẹp sạch giặc. Đi thẳng đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa thì bèn bỏ áo, cưỡi ngựa xông lên trời theo mây mà đi. Nay vẫn còn dấu riêng ở trên vách núi. Sau này nhân dân lập đền để thờ phụng tại đó (Việc phong tặng cùng với sắp đặt ruộng thờ có ở trong bản chính tích riêng).

Lại nói, ông Gia dẹp yên giặc Ân xong bèn vâng chiếu trở về thành, vào tâu Vua. Vua rất mừng, ngay hôm đó mở yến tiệc lớn, khao hưởng quân sĩ. Vua bèn phong ông Gia là Hải Dương Vương, Chính phi làm Hoàng hậu. Ông bèn vâng thừa mệnh vua, làm lễ khấu tạ, đi trị Hải Dương. Khi ấy, ông trở về cung ấp. Hôm đó (là mùng 10 tháng Mười) nhân dân làm lễ bái mừng. Ông mới dừng giá ở lại, cởi giáp nghỉ quân, cùng với phụ lão nhân dân trong mười ngày. Bái yết  tổ tiên quê ngoại (ở đất thôn Nội). Giao phó cho nhân dân thôn Tổ lấy nơi cung sở làm sinh từ, sau này làm nơi thờ tự. Lại cho nhân dân 10 nén vàng để phòng về sau tu sửa cung sở. Phụ lão nhân dân đều lĩnh mệnh nhận lấy. Việc xong, Chủ quan cùng với hai bà phi hôm đó cất quân đi xe loan đến quản Hải Dương. Ông đến nơi công sở,

Trị quản được vài năm. Khi ấy nơi huyện phủ Nam Sách bị nước lũ dâng lên, làm sạt lở đất đai hơn mấy trăm dặm. Vua bèn lệnh cho ông dẫn quân đến phòng đường sông trị thủy. Hôm đó ông đi đến nơi có đất lở. Ông đến nơi thì trong vòng một ngày, nước lũ ở đó tự rút. Ông ở đó được 10 ngày thì những nơi bị sạt lở đều được yên ổn. Việc xong, ông làm biểu, dẫn quân trở về, tiến theo đường thủy. Một hôm đi đến địa phận Ngọc Động Hà Đới, tại một khúc sông nhỏ. Bỗng nhiên gió lớn nổi lên một trận. Sóng nước cuồn cuộn vạn dăm. Rắn hoa, cá, ba ba trên ngàn dặm đều nổi lên mặt nước, hướng về phía thuyền của ông. Sấm sét vang rền. Trời đất mù mịt. Thuyền của ông chìm mà hóa. Hôm đó (mùng 2 tháng Chín) nhân dân làm biểu dâng tấu lên bệ hạ. Vua nghe vậy thì ngay hôm đó Vua cùng với hai vị phi nhân đi tới nơi đó (tức là Ngọc Động Hà Đới), truyền cho binh sĩ và nhân dân xây dựng đền để thờ tự.

Vua sai trăm quan cùng nhân dân làm lễ yên vị. Việc xong thì trở xe trở về thành đô, làm lễ tế. Lại ban chiếu gọi hai cung phi trở về kinh, không ở xứ Hải Dương nữa. Ngày hôm đó hai vị cung phi đi xe trở về triều chầu vua, làm lễ nhận tang. Vua bèn bao phong cho mỹ tự, được vạn năm hưởng lộc, cùng với quốc gia mãi mãi là hằng thức. Ngày hôm đó truyền cho các nơi ấp hưởng lộc đến tề tựu ở kinh thành đón sắc chỉ và thần hiều trở về nơi cung sở mà thờ phụng. Phong là:

  • Phong Đàm Gia Đại vương.

Lại nói, khi ấy thôn Tổ xã Thượng Trì đón mang sắc chỉ thần hiệu trở về nơi đền phụng thờ. Khi đi đón trên đường thì thấy trên trời có một đám mây ngũ sắc nổi lên, ngay phía trên đầu xe. Khi đón về đến đền bỗng thấy có một tấm vải đỏ từ trên không rơi xuống thẳng vào trong giếng. Có ba tiếng sấm vang lên, rung trời chuyển đất. Nhân dân đang khi làm lễ đều sợ hãi, cho là sự lạ, làm biểu dâng tâu kể lại. Vua nghe vậy phán rằng:

  • Con ta vốn là thần của ấp các người, là chủ trưởng long cung động giếng, là tinh hoa sinh ra trên đời cũng tại đất này. Nay hóa trở về nơi cũ, linh thiêng lại trở về trong giếng. Sự tất như vậy, không phải nghi ngờ. Nay đã hiển thần như thế thì Trẫm lại phong mỹ tự để mang về đền cho dân chúng phụng thờ.

Lại phong là: phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Đại vương. Cho thôn Tổ xã Thượng Trì làm nơi thờ, hai kỳ xuân thu sai quan đến bày tế. Từ đó quốc đảo dân cầu có rất nhiều linh ứng. Người đời sau có thơ khen rằng:

Sinh vi đế tử giáng vi thần
Vạn cổ phương danh tại xã dân
Ngọc tỉnh hiện tồn lưu thánh tích
Thiên vô lão dã thuỷ vô trần.

Lại nói, khi ấy ông Gia sinh được một người con trai, khoảng 5 tuổi. Vua sớm cho lập làm Thái tử để nối vị trí Hải Dương Vương. Than ôi, đạo trời như vậy. Một nhà đều là linh quan của Thủy quốc, không phải người trên trần thế. Một hôm hai vị cung phi cùng với Thái tử dập đầu tạ trước bệ, xin được trở về quê ngoại để bái yết gia đường, thăm hỏi nhân dân. Vua đồng ý, ban thêm cho vàng bạc, vải vóc hơn ngàn cân. Hai cung phi đi thuyền rồng, theo đường thủy mà đi. Đến sông Nhị thì trời đã tối. Hai vị phi nhân dừng thuyền trú tại đó. Đến quãng nửa đêm, bỗng nghe từ đáy sông có tiêng hô to rằng:

  • Cần mau hội quân, đưa giá đón hai vị phi nhân của Chủ chưởng Long cung trở về đô phủ của Thủy quốc. Việc này đã định chỉ trong vòng 5 ngày tới. Chủ quan truyền lệnh như vậy.

Tiếng hô xong thì thấy có tiếng hơn ngàn người đều đáp vâng. Trong chốc lát đều thấy ngừng. Trời đã bắt đầu sáng. Gia thần thị nữ nghe được sự lạ đó bèn cùng nhau bàn tán. Hai vị cung phi phát hiện được liền nói rằng:

  • Các người gia thần thị nữ đều đã nghe được việc này. Chớ có để lộ ra ngoài nhân gian, mà gây ra sự nghi ngờ.

Đám người hầu nghe lời giáo huấn đó, nghĩ rằng các phi nhân chủ của họ không phải người trần, tất là Long quân Thủy quốc đã định lúc trở về. Do đó cấm họ không được khoa trương, tiết lộ.

Lại nói, hai vị phi nhân khi ấy đi về đất ấp quán (tức đất thôn Nội xã Thượng Trì). Hôm đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Phi nhân bái yết gia tiên. Việc xong hai vị phi nhân cùng với Thái tử trờ về thôn Tổ làm lễ bái yết đền chính thờ Chủ quan. Ngày đó (11 tháng Tám) nhân dân làm lễ bái mừng. Tối đó phi nhân dừng xe ở đất ấy. Đến đêm, khi gà đã gáy canh ba, bỗng thấy hai phi nhân đều cùng đi đến miệng giếng. Thị nữ đi sau lén đợi xem, thì nghe thấy hai vị phi nhân gọi lên 3 tiếng, đi vào trong giếng, đều nghe tiếng đáp. Nước từ đáy giếng đều tự có tiếng vù vù không ngừng.

Hai vị phi nhân và Thái tử đi thẳng ra làm lễ ở ngoài sông, cùng với mấy người thị nữ buộc tóc. Bỗng thuyền rồng nổi lên trên mặt nước. Cá, ba ba hai bên bơi theo, dẫn thuyền rồng đến bên bãi sông. Hai vị phi nhân cùng Thái tử và thị tì đều xuống thuyền, đi ra giữa sông thì chìm mà tự biến, sinh hóa bất diệt.

Nhân dân ở nơi đó (tức thôn Nội và thôn Tổ) đều lấy làm lạ, làm biểu dâng tấu. Vua nghe vậy một lúc phán rằng:

  • Gia đình con ta vợ chồng đều là thủy thần xuất thế để trợ vận. Việc đã yên, thì đều cùng hóa về Thủy quốc vậy.

Ngay hôm đó Vua lệnh cho trăm quan (16 tháng Tám) trở về bày tế, đem sắc chỉ trở về cung ấp cho nhân dân phụng thờ.

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Thôn Tổ xã Thượng Trì phụng thờ ba vị. Cùng thôn Nội phụng thờ hai nhị, làm đền tạo lệ chính.

Lại nói, đến thời Trưng nữ Vương (Trưng Trắc, Trưng Nhị) cũng là người cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên đời, hào kiệt trong giới nữ, khởi nghĩa binh, chiêu dụ các tướng nữ, quân nữ cùng anh hùng hào kiệt diệt trừ Tô Định, đến hội quân ở cửa sông Hát Môn, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù dẹp giặc. Khi ấy Trưng Vương tiến quân đi đến đền thờ của ông ở thôn Tổ xã Thượng Trì vào cầu đảo. Đến đêm hôm đó bỗng thấy có ba con rắn hoa rực rỡ từ giếng xuất hiện, tiến thẳng vào trong đền, đều lên nằm trên gác thượng. Trưng Vương biết là có nhiều linh ứng bèn truyền dựng một cây cờ ở sân trước, làm lễ cầu đảo chúc rằng:

  • Xin hãy âm phù giúp nước, dẹp yên quân giặc. Nếu đuôi cờ chỉ về phía Bắc thì quân ta sẽ thắng. Còn nếu quân giặc mạnh Tô Định thắng thì lá cờ hãy quay trở về chỉ hướng Nam.

Đọc chúc xong thì gió mây nổi lên, lá cờ chuyển thẳng chỉ sang hướng Bắc. Trưng Vương làm lễ tạ, cất quân thẳng tiến, đánh một trận lớn, Tô Định thua chạy. Trưng Vương khôi phục lại tất cả đất đai Nam bang. Giặc Tô đã dẹp yên xong. Trưng Vương lên ngôi, mở tiệc mừng lớn. Rồi phong thêm mỹ tự cho trăm thần, hương lửa không ngớt vậy. Trưng Vương phong là:

  • Phong Du Di Hoàng hậu Đại vương.
  • Phong Đương cảnh Thành hoàng Đàm Gia Linh ứng Đại vương.
  • Phong Hệ Hộ Cung phi Đại vương.

Lại nói, thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề, Lương tất cả là qua 349 năm đến khi nước Nam có bốn họ Đinh, Lê, Lý, Trần khai mở cơ đồ, thần thường giúp nước giúp dân, có nhiều hiển ứng linh thiêng, nên trải qua các đời đế vương đều có truy phong mỹ tự, vạn năm hưởng lộc, hương lửa không ngừng, cùng với nước nhà yên hưởng. Thịnh thay!

Ngọc phả cổ chép về vị Cao Sơn Hiển Ứng Đại vương là công thần triều Hùng Huy Vương họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Yến Vỹ, tổng Phù Lưu Thượng, phủ Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông.

Bộ Thượng đẳng, thứ Sáu.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Tiền Hoàng đế ngôi báu trời Nam mở tạo cơ đồ là thủy tổ Việt Nam, khai sáng họ Hùng Cổ Việt Thường 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, lập nên cơ đề to lớn của nước Việt. Nước biếc một dòng khởi đầu vận vua sáng thánh đế. Núi xanh vạn dặm dựng nền móng cung điện đô thành. Nuôi vật giúp người, thống quản 15 bộ, thế lớn trấn áp các chư phiên. Kế nối ngôi báu ở đất Viêm Hồng. Làm vua trị nước hơn ba ngàn năm. Mãi giúp tông phái vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng ở Nghĩa Lĩnh. Truyền trăm đời đế vương ngự trị, muôn năm điện thánh núi Hùng, đất tổ trời Nam. Cơ đồ của đất nước mãi giữ muôn năm, vạn thế bền lâu. Lập miếu điện, cung lăng, con cháu dòng dõi hoàng gia tông phái, công thần lớn nhỏ phân đóng ở các nơi, giữ 15 bộ.

Khi ấy Lạc Long Quân lấy Âu Cơ là chính cung, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm trăm trai, đều là anh hùng trùm đời, trí dũng vượt người. Đến khi trưởng thành Vua bèn kiến phong hầu, lập phiên thuộc. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Ai Lao, tám là Ô Châu, chính là Bố Chính châu, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Tây, mười lăm là Quảng Đông. Dấu tích đều không thể mất. Người đời sau có thơ khen rằng:

Nam thiên triệu tạo lập Hùng gia
Công đối càn khôn triệt hải hà
Thập bộ sơn thần giai đế tử
Diệc đồng miêu duệ thử vương gia.

Lại nói, triều Kinh thứ sáu truyền đến Huy Vương tại vị, đóng đô ở Việt Trì bên sông Bạch Hạc, lập nước tên là Văn Lang, kinh đô là thành Phong Châu. Huy Vương mới lên ngôi trong nước còn thiếu thốn, nên cái đức của vua lấy việc chuyên lo giáo dưỡng nhân dân làm gốc. Việc giao du tửu sắc, mê cảm tin vào thần tiên sao không phải là đức mất nước của hôn quân. Nên chăm lo bồi đức, giúp người, trợ nghèo, dưỡng lão. Đương thời đều gọi là bậc vua hiền vậy.

Lại nói khi đó nước ta tương truyền ở xã Vĩnh Thế huyện Siêu Lại phủ Thuận An xứ Kinh Bắc có một vị chủ trưởng một phương, họ Hùng tên Ân (cũng là dòng dõi Hùng Vương, kế nối quan lang, lấy vợ người cùng xã họ Nguyễn tên Liễu, đều là thuộc bộ Sơn thần). Qua được năm năm, loan phượng hòa hợp, sớm có điềm ứng thẻ ngọc. Nàng Liễu từ đó có mang. Đến khoảng tháng Ba một hôm đi đến chùa trên núi Phật Tích, bỗng thấy trên trời có ba đám mây, bên trong sáng rực rỡ. Được một lúc lại thấy có hổ vàng hai tay ôm lấy nàng Liễu chạy thẳng lên núi.

Từ  đó ông Ân nhớ nhung người vợ, buồn bã đi lên đỉnh núi, trong lòng tưởng nhớ, mắt nhìn ngang dọc tìm kiếm. Bỗng nhiên thấy có hổ vàng nằm ở trên gò đất dưới gốc cây to, cây cỏ um tùm. Nơi đó có tiếng người cất lên như tiếng vợ của ông, nói rằng:

  • Thiếp vốn là con gái Sơn thần, kết duyên cùng với lang quân làm vợ chồng thật vui mừng. Hình hổ sớm ứng điềm đến lúc phải trở về. Than ôi! Đạo trời như vậy không thể thay đổi. Thiếp xin từ biệt. Nay Thiên đình và Dương gian hai ngả, ơn sâu chưa báo, nhân duyên như vậy tình không nên lời. Nay thiếp đã đến kỳ mang thai, sinh được một người con cốt hổ, cũng là khí chung đúc của thiếp và chàng, xin được đưa về Dương thế cùng với chàng cho chàng được vui lòng, ghi khắc một điều tình thâm với chàng, sao không phải là thứ quý báu của gia đình vậy. Xin chàng hãy biết cho.

Ông Hùng nghe vậy đưa mắt nhìn vào trong thân cây lớn, không thấy có ai, chỉ có một con hổ vàng, lông 5 màu phủ khắp người nằm đó. Ông Hùng cúi đầu đi đến thì hổ biến mất. Ông đến nơi hổ nằm thấy có một bọc bầu lớn. Ông nhớ lại lời vừa nghe được liền hai tay ôm lấy bọc đó cất vào trong tay áo. Lại thấy có một phong thư trên giấy hồng. Ông bèn mở ra xem, thấy có bốn câu rằng:

Phong thư hảo tín giáng nhân gian
Lang quân đắc tự khán sơn thần
Xuất thế dĩ phù an xã? tắc?
Giao hồi nguyện báo dĩ thừa hoan.

Ông xem xong thì biết là người vợ đã ứng hiện, bèn đem bọc bầu trở về. Qua được 3 tháng 25 ngày, hôm đó trời đất tối tăm, sấm chớp rầm rì. Trên sông sóng nước cuộn dâng. Cây lớn trên rừng đều gãy đổ. Ông lấy làm sự lạ mà bọc bầu lớn không thấy nở. Ông bèn dùng gậy đập vào cũng không nứt ra. Ông Hùng ngạc nhiên bèn đặt bọc bầu đó ở nơi ven núi để chờ xem. Qua được khoảng 14 ngày đến giờ Ngọ ngày mùng 6 tháng Ba năm Canh Tuất bọc bầu vỡ nở ra một người con trai, mặt vuông tai to, lưng rộng vai dài, tay dài quá gối, dưới chân có dải lông, sau lưng lại có 28 điểm tinh tú. Vào ngày khi sinh hương thơm bay ngào ngạt. Lại thấy có hổ vàng từ trên núi chạy đến nơi sinh. Lại thấy trăm muôn thú đều đến chầu nơi đó. Bỗng thấy trời đất mờ mịt, mây xanh giăng giăng, mưa gió thổi đến. Được một lúc thì trời đất trong sáng trở lại. Xuất hiện người con trai có tướng mạo đường đường, dáng vẻ lẫm liệt.

Lại nói, ông Hùng lấy làm lạ, quả nhiên trời đã báo phúc. Ngay hôm đó (là mùng 5 tháng Năm) truyền cho gia thần cùng quân lính mổ trâu làm lễ tế trời đất, bách thần. Đang khi khấn tế bỗng thấy có một vị thần tướng cao lớn từ trên trời hạ xuống đàn, đầu đội mũ hoa, thân mặc áo hoàng bào, giáp vàng, tay cầm một đôi kiếm báu, đứng tại trong mây mà nói với ông Hùng rằng;

  • Nay Thiên đình cử ta xuống để báo cho ông biết. Vợ chồng ông tích đức thật là đã nhiều năm. Hoàng thiên soi tỏ. Hôm nay ta đem kiếm báu đến giao cho con của Hùng Vương. Đợi đến ngày sau tất sẽ làm được việc giúp nước cứu dân.

Nói chưa dứt lời thì đem kiếm báu, cung thần trao cho ông. Ông đang muốn hỏi thì thần tướng bỗng nhiên biến mất. Ông chợt tỉnh lại, biết quả là Thiên thần xuống báo. Khi đó trong lòng bàng hoàng, sợ hãi, nói với các gia thần binh sĩ rằng:

  • Nay Thiên đình đã cho Sơn thần xuất thế, đầu thai vào làm con nhà ta, không phải người thường trên nhân gian. Chi bằng tìm riêng lấy một nơi đất tốt để nuôi dưỡng tới lớn. Từng nghe nói rằng nơi thắng cảnh trời Nam (tức động Hương Tích) là nơi mà Quan Âm đã xuất thế tại đó, là chốn quần tiên mở hội đánh cờ vây.

Dứt lời bèn truyền gia thần sắm sửa ba mâm cỗ chay cùng hương hoa các đồ (hôm đó là ngày 16 tháng Hai) đi đến xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên làm lễ cúng Phật. Giao phó người con cho vị sư tên là Đạo Quang Hòa thượng. Hòa thượng thấy thể mạo phi thường như sơn thần xuất thế, nên xem như anh em sinh cùng bọc. Khi ấy gia thần cùng nhân dân xây nhà và ở ấp đó để phụng dưỡng. Qua được 5 năm nhà sư cùng với ông Hùng đặt tên cho người con là Hiển Quan.

Đến khi trưởng thành tuổi khoảng 15, khi đi ngoài đường hay lên núi thì trên đỉnh đầu có đám mây che trùm phúc, đều giống như hình chiếc ô mây vậy. Khắp một vùng trong sáng, mây bay mưa rơi, sấm động mây theo. Nhân dân thấy vậy đều sợ phục. Hiển Quan vốn thông minh, thiên tư trí tuệ, văn võ toàn tài, lòng nhân đức to lớn.

Khi ấu do vua có đức không tốt nên Thiên đình giáng tai ương. Thiên hạ hạn hạn lớn, hoa màu khô héo. Nhân dân ốm đau, khắp nơi trong nước đều thiếu thốn. Khi đó Vua bèn ban chiếu mở khoa thi tuyển tìm người hiền lương phương chính, hiếu đễ cùng với văn chương quảng bác, văn võ toàn tài. Hôm đó Hiển Quan đi thi tuyển cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ, người ở vùng biển, cùng đến ứng tuyển. Lúc đó Vua nằm mộng lên trên chốn Thiên đình. Thượng Đế hạ chiếu cho Hiển Quan thuộc Sơn bộ cùng với Đông Hải Quan chính ở Thủy bộ để giúp cho công đức của Vua, để bảo vệ nhân dân.

 Vua nghe vậy mới tỉnh lại thì biết là mộng báo. Đến sớm ngày có hai vị quan đến trước bệ rồng ứng tuyển. Vua thân hỏi xét, thấy tâu đáp trôi chảy, không gì là không hiểu. Vua trong lòng rất vui mừng, nhớ tới điềm báo trong mộng thấy đúng là những người này. Vua bèn nói rằng:

  • Đúng là Sơn thần đã giáng thế để giúp nước cứu dân. Trẫm sẽ cho dựng một đàn trai giới, lệnh cho ông cầu đảo xin trời cho được mưa xuống để tưới cho hoa màu được tươi tốt, cứu nhân dân khỏi đói khát. Nếu quả được như trong giấc mộng của Trẫm thì khanh đúng là vị Sơn thần đó vậy.

Vua bèn cho lập đàn, sai Hiển Quan cầu đảo. Được một lúc thì mưa từ trên trời tuôn rơi, mây mù mù mịt, gió sấm cùng nổi lên. Vua sợ hãi, biết ông đúng là Sơn thần giáng đến để giúp nước. Bèn bái ông là Tư Mã quan, kiêm cả Thủy bộ. Được vài năm thì bái làm Đại tướng quân thống lĩnh cả Thủy đạo và Sơn bộ. Lại cho Yến Vĩ làm ấp thang mộc, lĩnh quản ba vùng Sơn Nam, Sơn Tây và Hải Dương, trấn giữ các đầu non góc biển, đều giao cho Hiển Quan nắm giữ.

Qua hơn mười năm. Lại nói, khi đó có Thạch Linh Thần tướng khởi binh phương Bắc đến xâm phạm nước Nam. Chiêng trống động trời, cờ xí rợp đất. Vua bèn sai sơn thần Hiển Quan dẫn quân đến chống cự ở đạo Sơn Nam. Lại sai Đông Hải Quan dẫn quân đến cự chiến ở miền duyên hải. Ông bèn lĩnh binh tiến thẳng đến Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên, lập một đồn doanh ở nơi gò đá hình con rùa (trước có 3 ngọn tam thai, bên trái có dòng nước nhỏ uốn quan, phía sau có 5 ngọn núi nhỏ chầu về chính cung, hai bên đều quay về chầu). Ông nói với nhân dân (tức là ấp thang mộc của ông xã Yến Vĩ) đến làm lễ bái mừng (là ngày mùng 6 tháng Giêng). Khi đó ông đang giữ trận chống giặc ở đất này đã được 3 năm. Ông thường sắp sửa cỗ chay, hương hoa ngũ vị, dâng hương làm lễ ở chùa Thiên Trù, cầu khẩn trời đất, núi sông, tinh tú cùng đến giúp nước, hỗ trợ cho được thành công dụng.

Khấn xong bỗng thấy trên trời vang lên ba tiếng sấm, ánh chớp khắp nơi. Ông bèn dẫn quân ra đánh giặc. Tất cả hơn mười hiệp mà không phân thắng bại. Ông bèn lên ngựa, tay cầm một đôi kiếm báu xông vào đồn chính của giặc. Quân Ân chạy tan tác, không dám xâm phạm nữa. Chỉ có đồn doanh của ông ở huyện (tức huyện Hoài An) đều được yên ninh, nhân dân yên lành. Còn các nơi khác đều nổi loạn. Vua vô cùng lo lắng bèn lập đàn cầu đảo trời đất. Quần thần hội chầu ở đàn ba ngày. Mưa gió nổi lên. Bỗng thấy có một lão nhân cao hơn 10 trượng, râu tóc bạc trắng (tức là Lạc Long Quân hiện xuống), giáng đàn giúp nước. Vua thân ra đón vào, mới hỏi kế sách dẹp giặc. Lão nhân bèn nói:

  • Nếu như cầu được người này thì giặc Ân tất sẽ dẹp yên được.

Vua lại hỏi:

  • Cầu ở nơi nào?

Lão ông bốc một quẻ bói, hồi lâu mới nói:

  • Hãy đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh hô rằng: Quốc gia gặp nạn, giặc Ân đến xâm chiếm.

Thiết Xung Thần tự nhiên sẽ mở miệng nói với sứ giả rằng:

  • Xin về báo với vua đúc cho một con ngựa sắt, một chiếc roi sắt. Đem đến đây cho ta. Vua sẽ không phải lo về giặc Ân nữa.

Sứ giả nghe vậy liền vội về triều tâu lại với Vua. Vua rất vui mừng bèn cho đúc ngựa sắt, roi sắt cùng với 10 bộ Sơn thần và 10 bộ Thủy thần. Hôm đó vua bái Hiển Quan là Cao Sơn Đại vương thống lĩnh 16 châu động cùng với Đông Hải Quan ở Thủy bộ theo Thần Vương đi dẹp giặc. Ngày đó vua đem ngựa sắt, roi sắt ban cho Thần Vương. Thần Vương (tức Phù Đổng Thiên Vương) liên nhảy lên ngựa. Ngựa chạy như bay. Sai quan quân đi theo sau. Thần Vương mới hô to một tiếng rằng:

  • Ta là Thiên tướng đây.

Chốc lát đã tới chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, cùng với cá bộ sơn thủy đánh một trận. Bỗng thấy trời đất mù mịt, sông núi tinh tú đều sa xuống, thủy phủ đều nổi lên. Thiết Xung Thần Vương đầu tiên bắt sống được Thạch Linh Thần tướng, chém tại chỗ. Hai bộ sơn thủy truy sát quân Ân, hơn năm ngàn các tướng cùng quân sĩ đều tận trừ. Một trận quét sạch. Quân giặc tự được dẹp yên. Thần Vương cưỡi ngựa sắt về thẳng đến núi Sóc huyện Kim Hoa thì bỏ áo, xuống ngựa, theo mây mà bay đi. Nay hiện vẫn còn dấu tích. Vua bèn phong là Phù Đổng Thiên Vương, có sự tích riêng.

Lại nói, Hiển Quan dẹp giặc thanh bình, dẫn quân mã trở về triều phụng chầu. Vua bèn bái là Chưởng nội các quân sự. Qua 6 năm sau khi đó Hiển Quan dập đầu bái tạ trước vua, thỉnh xin được về cung ấp để nghỉ ngơi, không dám tham gia vào quốc sự nữa. Vua bèn ban cho năm trăm nén vàng bạc, một chiếc áo gấm. Lại cho xã Yến Vĩ làm ấp thang mộc. (Hôm đó là mùng 6 tháng Mười) Hiển Quan lĩnh mệnh đường đường trở về cung ấp. Lại nói, khi ấy Hiển Quan ngồi thuyền rồng về đến cung ấp (tức là cung trước đây ở xã Yến Vĩ) bèn mở tiệc mừng. Qua một tháng sau mới nói với phụ lão nhân dân rằng:

  • Dân với ta tất đã thành nghĩa cũ, không phải tình ngày một ngày hai.

Nói xong, nhân dân tâu rằng:

  • Ơn như núi cao biển rộng.

Nhân dân tâu xong, ông lại cho 5 nén vàng. Nhân dân đều nhận mệnh đó. Hiển Quan bèn ngâm một bài thơ luật rằng:

Nhất đường tụ hội hoán tinh thần
Vạn cổ hương yên tại xã dân
Tuy thị tuý trung hoan ẩm ngữ
Tình lưu Yến Vĩ ức niên xuân.

Ngâm xong bỗng thấy trên trời có 7 tiếng sấm rền, trời đất mờ mịt, ban ngày mà như đêm. Lại thấy từ trong thân ông có hổ vàng nhảy ra, bay thẳng lên trời. Hiển Quan biến mất. Binh sĩ và nhân dân làm biểu dâng tấu lên vua (tức giờ Thân ngày mùng 6 tháng Mười một năm Giáp Thìn thì ông hóa). Vua nghe vậy liền sai sứ thần đem sắc chỉ về dân, sửa sang lại cung sở đền thờ. (Tức ngày mùng 6 tháng Giêng) nhân dân đón sắc chỉ về dân làm lễ khánh hạ để phụng thờ. Đáng phong thêm 4 chữ.

– Truy phong Cao Sơn Hộ quốc Tế thế Đại vương, cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Truy phong Cao Sơn Đại thánh Sơn Hổ Đại vương cùng các nơi 72 đền có tích riêng.

Lại nói đến bốn triều Đinh Lê Lý trần khai sáng hồng đồ thường có giúp nước cứu dân anh linh hiển ứng nên các đời đế vương phong thêm mỹ tự, cùng với nước nhà hưởng phúc, mãi là thức lệ, sự tích không thể mất đi.

Phụ khai các ngày sinh hóa cùng các tiết lễ lệ khai như sau:

– Triều Lê phong ba chữ mỹ tự, đáng phong thêm, nhất thiết cấm màu vàng, cùng với các chữ húy nhất thiết cấm là Hổ, Hiển. Phong là Cao Sơn Đại Thánh Sơn Hổ Tế thế Đại vương

– Phong là Cao Sơn Hộ quốc Cứu dân Cương đoạn Thông minh Chính trực Đại vương. Cho phép xã Yến Vĩ huyện Hoài An phủ Ứng Thiên là đền chính phụng thờ.

– Ngày mùng 6 tháng Giêng là ngày lện chính phong sắc. Lễ dùng lợn gà, xôi rượu, hương hoa các thứ.

– Ngày 16 tháng Hai là ngày khánh hạ chính. Trước làm lỗ cỗ chay mười mâm. Sau làm lễ cỗ trâu, xôi rượu, ca hát ba ngày đêm.

– Ngày 12 tháng Sáu là lệ chính. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, bánh dày các thứ.

– Ngày mùng 6 tháng Ba là ngày lệ chính sinh thần. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu các thứ.

– Ngày mùng 5 tháng Năm là chính lệ xuất chinh. Lễ dùng cỗ tam sinh.

– Ngày mùng 6 tháng tám là ngày quốc tế. Lễ dùng cỗ tam sinh, xôi rượu, ca hát đến ngày 15 thì ngừng.

– Ngày mùng 6 tháng Mười một là ngày chính hóa nhật. Lễ dùng lợn đen, xôi rượu, bánh dày, cùng với rượu vàng các thứ.

Hồng Phúc năm đầu ngày 29 tháng Tám, Bệ phẩm Thượng thư kiêm Lễ bộ quan Nguyễn Đăng Huy vâng soạn.

Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.

Hoàng triều Vĩnh Hữu năm thứ 5 ngày tốt tháng Mười Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh, tiểu chức, tuân đúng theo chính bản của tiền triều chính bản vâng chép.

Ngọc phả cổ truyền chép về Đức ông Cả Đài Đại vương, Đức ông Bố Cái Đại vương bộ Thủy triều Hùng họ Việt Thường

Dịch từ thần tích làng Thượng Phúc tổng Hoàng Lưu huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Đông.

Thần tích bộ Tả, Thượng thượng đẳng thần.

Xưa Hùng Vương Sơn nguyên Thánh Tổ Nam Thiên Đại bảo Tiền Hoàng đế khai mở cơ đồ, thủy tổ trời Nam, nước Cổ Việt họ Hùng Việt Thường, 18 đời thánh vương ngự trị trời Nam, sáng lập cơ đồ nước Việt. Nước biếc một dòng mở vận đế thánh vua sáng. Núi xanh vạn dặm lập nền cung điện đô thành. Mở vật giúp người, thống lĩnh 15 bộ, thế mạnh trùm khắp phiên bang. Nối tiếp ngôi báu đất Viêm Hồng, có vua trị nước hơn ba ngàn năm, mãi giữ cho tông miếu vững như bàn đá. Hiển ứng linh thiêng nơi Nghĩa Lĩnh, truyền trăm đời đế vương nước Nam. Đế ngự muôn năm thánh điện núi Hùng, đất tổ trời Nam. Nền vua đất nước mãi vững muôn năm, mãi còn vạn cổ. Hương lửa không dứt.

Lại nói, vua triều Kinh thứ 6 là Huy Vương tại ngôi, đóng đô ở sông Bạch Hạc Việt Trì, tên nước là Văn Lang, kinh thành là Phong Châu, dựng kỷ cương đất nước, lấy phép tắc của các vua đời trước mà khuyếch trương pháp độ, trải hình phép vạn đời. Lấy đức giáo hóa nhân dân, làm điều nhân đức, chuyên tâm chính trị. Dốc lòng che chở dân chúng. Lập pháp luật, biểu trương quy củ. Đương thời đều coi là vị vua hiền vậy.

Lại nói, đang thời khi đó truyền đến hai vị Đài công, Cái công, đúng chính là dòng dõi Hùng Vương làm Bộ chủ Hoan Châu. Khi Lạc Long Quân lấy Âu Cơ ở động Lăng Sương làm chính phi, sinh được một bầu trăm trứng, nở ra điềm lành trăm trai, đều là những anh hùng vượt đời, trí dũng hơn người. Lạc Long Quân liền cho kiến dựng tước hầu, lập phiên dậu bình phong, chia nước thành 15 bộ. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Nam, ba là Hải Dương, bốn là Kinh Bắc, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là châu Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Cao Bằng, mười ba là Lạng Sơn, mười bốn là Quảng Đông, mười lăm là Quảng Tây. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:

  • Ta thuộc giống rồng, nàng là dòng tiên. Tí Ngọ không cùng, nên vì thế mà chia tách.

Năm mươi người con theo cha làm Thủy thần. Năm mươi người con theo mẹ làm Sơn thần. Nhân đặt là trăm vương. Bộ chủ Hoan Châu là thủy thần thứ 11, tên là Hùng Tuệ. Mẹ vốn là người châu Bảo Lạc, trang Hoằng Hóa, họ Vương tên Loan. Khi đó ông Bộ chủ tuổi đã 50, bà phi tuổi cũng hơn 40, nhưng cành lan nhánh quế trước sân còn thiếu, chưa thấy giấc mộng lành điềm kỳ lân. Ông Bộ chủ họ Hùng vốn là người có đức dày với dân, trọng nghĩa khinh tài, rộng rãi giúp đỡ dân chúng. Phàm là việc cứu người thì không có gì là nhỏ. Lòng tận tâm giúp vật vốn có như ghi khắc. Là người hiền thực sự ở trên đời, vốn là bậc tuấn kiệt đương thời vậy.

Thái bà cũng là người nhân từ, kính thuận, khiêm tốn. Ăn ở vẻ vang mà ôn hòa, tứ đức vẹn toàn. Sáng vẻ nhàn hạ chốn khe Nam. Một lòng tòng thuận như chốn cửa Trần. Nét ấm đẹp theo lối Cam đường. Thực là bậc Hằng Nga trên cung trăng. Đúng là bậc nữ đời Nghiêu Thuấn. Sánh sáng cùng việc ngọc phong, sống động cùng lan quế, thời đó khó tìm.

Một hôm ông Bộ chủ nói với bà phi rằng:

  • Chốn đền thần danh lam, trai giới nơi chùa phật, thành tâm cầu tế trời đất thần kỳ, núi sông trăng sao thì mới mong có được phúc lớn.

Dứt lời bèn chuẩn bị lễ vật. Vợ chồng Bộ chủ cùng lên núi Yên Tử để dâng hương cầu khấn, chúc:

  • Xin sớm cho được điềm lành, thấu đạt hoàn cảnh. Vạn sự mong trời đất thần sông âm phù, giúp được ước muốn.

Chúc xong thì mặt trời đã xuống núi, trời chuyển về chiều. Ông bà bèn nằm lại trong chùa để cầu mộng trước án. Khoảng đến giữa canh hai bà phi mơ màng như mộng. Bỗng thấy trong điện mây năm sắc nổi lên, bầu trời sáng  rực rỡ. Lại thấy con đường trong mây có rồng vàng xuất hiện, thẳng đến quấn lấy thân bà phi ba vòng. Bà phi sợ hãi, hét lên một tiếng, vang đập vào tai mà tỉnh dậy. Bà kể lại điều trong mộng với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ bèn nói rằng:

  • Nhà ta có phúc lớn, trời sẽ soi tỏ. Cứ như điều trong mộng thì trời tất sẽ giáng điềm lành, quả sẽ sinh quý tử.

Noi xong vợ chồng cùng làm lễ bái tạ. Ngay hôm đó, vợ chồng trở loan giá về đến thôn Thượng Dục, xã Hạ Dục, huyện Chương Đức, phủ Ứng Thiên. Có một đoạn sông nhỏ chảy vòng đến thôn Thượng Dục. Ông Bộ chủ bèn cho dừng thuyền tại đó một lúc. Bà phi đi xuống bãi sông mà tắm rửa. Bỗng nhiên có giao long quấn lấy chân, phun nước dãi rồng vào thân bà phi. Mùi hương dãi rồng ngào ngạt. Bà phi sợ hãi bèn chạy lên bờ trở về. Mùi hương dãi rồng trên thân không gột hết được. Bà phi nói lại với ông Bộ chủ. Ông Bộ chủ nói rằng:

  • Ta thuộc mệnh Thủy thần, tất có sinh ra Thủy thần. Hãy đợi sau này sẽ biết được việc hôm nay thế nào.

Nói xong vợ chồng lại cất bước trở về đến Hoan Châu. Tối đó ông Bộ chủ nằm ở trong nhà chính, mơ màng thiếp đi. Bỗng thấy có một người hai tay bưng một chiếc mâm vàng, bên trên có một đôi cá chép, thân hình như đầu rồng đuôi tôm, thật là kỳ lạ. Khi đó người ấy bưng đến trước án ông Bộ chủ, bèn nói:

  • Nhà ông phúc hậu, nên nay ban cho một đôi báu vật của trời.

Ông bỗng tỉnh lại, nhớ đến điềm trong mộng thấy việc con cái tất sẽ thành, việc sẽ đúng như thế. Được vài tháng bà phi thấy động trong lòng, cảm ứng có mang thai. Đến giờ Thìn ngày mùng 6 tháng Giêng năm Giáp Tí sinh được một bầu, nở ra hai người con trai, đều có kỳ hình dị tướng, hàm én mày ngài, trán hổ mặt rồng. Sau lưng có 28 điểm tinh tú, đều như một hàng vảy lân, không phải người trần có được. Vợ chồng ông Bộ chủ liên tưởng biết tất là thủy thần xuất thế, thiên thánh giáng trần. Ngày qua tháng lại, hai ông tuổi đã lên 3. Ông Bộ chủ bèn làm biểu tâu lên Bệ hạ, bèn đặt tên là Đài, người con thứ là Cái.

Thời ấy vua Hùng sinh được một bầu trăm trứng, nở ra trăm trai, kiến tước hầu, lập bình phong, phân chia 50 (15?) bộ. Lại phân 50 thủy thần, 50 sơn bộ. Hễ bộ nào có sinh con trai, tâu lên triều đình thì vua sẽ lệnh ban cho kế vị quân hầu, phân đất đai lộc hưởng. Hùng Huy Vương thấy hai ông dáng vẻ như hổ, biết là người lạ khác tầm thường, siêu quần vượt chúng. Bèn đều phong cho tước hầu.

Khi đó ông Bộ chủ Hoan Châu tâu bày việc khi cầu đảo hai ông đã ở chùa trên núi Yên Tử, thấy có điềm mộng ứng, lại khi trở về đến thôn Thượng Dục thì có giao long quấn lấy, về sau sinh được hai ông. Vua nghe chuyện đó bèn cho đất Thượng Dục làm đất hưởng lộc của hai ông, sau này làm nơi thờ phụng.

Lại nói, hai ông khi lên 7-8 tuổi thì có thiên tính thông minh, không cần dạy dỗ mà tự có hiểu biết, không đi học mà biết chữ nghĩa. Mỗi khi đi ra chơi ở ngoài đường thì đều có một áng mây xám hình như cái ô lớn bay trên giữa trời, che ở chính đỉnh đầu hai ông. Gió sấm nổi lên, mây mưa tùy rơi. Ở nơi mà hai ông đi qua đều thấy một cảnh thanh mát trong lành. Hai ông tính thường rất thích nước, hay đi tắm. Thường đi ra bến sông, lặn xuống đáy nước, đi lại ra ngoài sông lớn, lặn xuống đáy nước cả ngày không lên. Mọi người đều thấy, đều kính sợ, xưng là tài lạ trời bẩm sinh, điều lạ ở chốn nhân gian, xưa này không từng có.

Khi hai ông lên 18 tuổi, văn võ kiêm tài, oai động triều đình, có tấm lòng nhân đức độ lượng, không ai không phục. Đương khi đó thiên hạ có mưa to nước lụt. Một dòng nước lớn chảy xuyên phá lở đường. Nhân dân, mùa màng bị thiệt hại nặng. Mười nơi thì chín nơi tan hoang, thật là đói khát. Vua cho hai ông nhận chức lớn đi tuần giữ các nơi trong thiên hạ, xem xét các vùng đất đai. Một hôm hai ông đi thẳng đến nơi ở sở tại (tức là địa giới thôn Thượng Dục). Nhân dân làm lễ bái mừng, dựng một hành cung ở đất đó (đất đó có hình thế một quý cục, hai bên phong tinh dẫn mạch, bốn mặt đất bằng bỗng nổi dựng một động nhỏ). Khi đó hai ông truyền binh sĩ xây dựng cung để ở và trị thủy. Hai ông ở đó được vài ngày, tới một đêm mưa to nước lũ dâng cao, chảy vào trong chốn cung sở. Hai ông bèn truyền cho nhân dân và binh sĩ chặt cây làm đê để ngăn nước, nhưng đều không chống được, thế nước lụt khó giữ. Hai ông rất tức giận, mắng rằng:

  • Thủy tặc sao lại có ý muốn hại trần gian vậy. Nay chúng ta vâng mệnh vua trần gian, cai quản thần sông, trấn ngự giặc nước gây hại. Chốn này là đất cung sở của chúng ta (tức đất thôn Thượng Dục) mà không sợ chúng ta sao. Ngày ngày lại càng dâng thêm nước lụt xâm nhập, gây hại cho dân. Không nghe rằng Dương đình, Thủy quốc phép chung đều giống nhau. Nếu có chúng ta ở đây, lũ thủy tặc khó thoát.

Mắng xong, hai ông mơ màng như mộng. Bỗng thấy có ba tướng đường đường cùng với quân sĩ hơn vài chục viên từ sông rẽ nước lên bờ đến đánh nhau với hai ông. Hai ông dẫn quân đến đánh. Được hơn mười hiệp hai ông bắn một mũi tên vào giữa bụng quân giặc. Quân giặc thua chạy. Hai ông đuổi theo, chém được hai viên đại tướng cùng với vài trăm binh sĩ. Còn những tên khác đều thua bỏ chạy hết. Bỗng nghe có một tiếng sấm vang lên. Hai ông tỉnh lại, biết là mộng. Đến khi trời sáng thấy nước đều đã rút hết đến tận lòng sông, không cần sửa đê mà đều rút yên vậy.

Hai ông trị thủy việc đã yên bình, làm biểu dâng tấu lên triều đình. Vua bèn ban chiếu gọi hai ông trở về kinh thành. Hai ông vâng chiếu trở về triều, bái tạ Bệ rồng. Vua rất khen ngợi, ngay hôm đó phong thưởng thăng giao ông Đài đất Hoan Châu làm chủ chưởng kế thừa cha. Ông Cái được phong ở Sơn Nam. Cùng ban thưởng 500 lạng vàng.

Hai ông xin trước bệ rồng được trở về thăm cha mẹ. Vua đồng ý. Hai ông hôm đó quay xe trở về đến xứ Hoan Châu, vào bái ông Bộ chủ, làm lễ gia tiên. Ở được vài ngày thì cha mẹ bỗng nhiên mất (tức ngày mùng 5 tháng Năm). Hai ông làm biểu dâng tấu lên triều đình, rồi chôn cất cha mẹ ở đất đó. Sau đó hai ông đi nhận chức ở các nơi. Từ đó thiên hạ thanh bình, nhân dân no đủ. Hai ông đi xe trở về cung Thượng Dục. Ngày hôm đó nhân dân làm lễ bái mừng. Hai ông truyền quân sĩ cùng nhân dân tu sửa hành cung các chốn. Hai ông ở đó được hơn ba tháng.

Lại nói, khi ấy có Ngô Linh Thần tướng cất 50 vạn quân mạnh đến xâm chiếm nước ta. Giáo mác khắp trời, cờ xí rợp đất. Thư từ biên giới gửi về báo gấp, mỗi ngày 5 lần. Vua Huy Vương lo lắng, bèn gọi quần thần đến hội nghị, hỏi kế sách. Triều đình đều dương mắt nhìn nhau, bó tay không có đối sách. Vua bèn cho dựng đàn trai giới, đốt hương cầu đảo. Truyền quần thần đến hội tụ ở đàn trong ba ngày. Sau có mưa sấm gió lớn. Bỗng thấy một ông lão cao hơn 9 thước, râu tóc bạch trắng, đứng ở nơi ngã ba đường mà cười nói, nhảy múa. Mọi người đều thấy làm lạ, tâu vào lên vua. Vua thân ra đón vào trong đàn, hỏi rằng;

  • Nay có giặc phương Bắc đến xâm phạm. Thắng thua như thế nào, xin được chỉ giáo.

Ông lão ngẫm nghĩ hồi lâu, lấy tay bắt một quẻ, rồi nói với vua rằng:

  • Nếu như cầu được người thì giặc này tất sẽ dẹp yên hoàn toàn được.

Vua lại hỏi rằng:

  • Cầu người này ở phương nào?

Ông lão lại nói rằng:

  • Việc này hãy hỏi bà mo.

Dứt lời, ông lão bay lên không đi mất. Vua biết là Lạc Long Quân chỉ giáo. Thế là vua sai sứ giả đi cầu khắp thiên hạ. Đến làng Phù Đổng quận Vũ Ninh có một gia đình phú ông sinh được một người con trai, đã hơn ba tuổi, tên là Thiết Xung Thần Vương, chỉ ăn uống mà lớn lên, không biết cười nói. Bà mẹ nghe sứ giả truyền đến, bèn đùa rằng:

  • Con nhà ta chỉ biết ăn uống, không biết đánh giặc để nhận chức trọng của triều đình, để báo ân sâu nuôi mớm.

Nghe mẹ nói vậy, người con bỗng nhiên nói:

  • Mẹ gọi sứ giả lại đây.

Thần Vương nói với sứ giả rằng:

  • Hãy mau về báo với vua, xin được một con ngựa sắt cao mười thước, một cây gậy sắt dài mười trượng, mang đến cho tôi thì Vua không phải lo lắng nữa.

Lại nói, sứ giả trở về, tâu lại lời nói đó với vua. Vua rất vui mừng, lại lệnh cho các quan lang, phụ đạo, bộ chủ cùng với 10 bộ sơn thần, 10 bộ thủy thần là dòng dõi Hùng Vương, dẫn ba vạn quân mạnh theo giúp Thần Vương. Ngay ngày hôm đó đúc thành ngựa sắt, gậy sắt, đem đến cho Thần Vương.

Lại nói, khi đó vua lệnh cho ông Đài và ông Cái thống lĩnh Thủy đạo tướng quân, trợ chiến cùng với Thần Vương, tiến thẳng đến đồn chính giặc Ân ở chân núi Vũ Ninh miền Yên Việt, đánh lớn với Ngô Linh Thần tướng ở bên núi. Giặc Ân đều thua, bắt sống Ngô Linh Thần tướng mà chém đi. Còn lại các dư đảng chưa diệt hết, Thần Vương trước đó đã rơi gậy sắt nên liền nhổ tre làm gậy dẹp sạch quân giặc.

Thần Vương dẹp yên giặc xong, trở về đến núi Sóc Vệ Linh huyện Kim Anh thì bỏ áo, ngựa, bay thẳng lên trời mây mà đi. Nay còn dấu chân ngựa ở trên vách núi.

Lại nói, hai ông (tức ông Đài, ông Cái ở đó) cưỡi thuyền rồng trở về đến sông Bùi huyện Chương Đức, bỗng thấy có một trận gió lớn nổi lên, trời đất tối tăm. Trên sông sóng nổi lên ầm ầm, vạn nhẫn vang rền. Lại thấy có ba tiếng hô rằng:

  • Mau triệu hai ông trở về Thủy quốc.

Nhân dân nghe thấy tiếng hô đều sợ hãi. Được phút chốc, mưa gió tự dừng. Nhân dân đến nơi cung sở thì không thấy hai ông đâu nữa. Nhân dân (tức thôn Thượng Dục) liền đi thẳng ra ngoài bãi sông, bỗng thấy thuyền rồng còn đậu ở nơi đó. Lại nghe tiếng nói với nhân dân rằng:

  • Hai vị tướng quân đang khi mưa gió mù mịt đã cùng xuống thuyền rồng mà hóa. Dân các người ở đây (tức thôn Thượng Dục) hay mau về cung sở bày cúng tế phụng thờ.

Ngay hôm đó là ngày 12 tháng Mười hai năm Bính Ngọ nhân dân nghe tiếng các quan Thủy đạo báo vậy bèn làm lễ tạ. Trở về sửa sang cung đền bày tế cúng. Đang khi làm lễ, mây trời u ám, mưa gió nổi lên. Giao long, cá lớn, ba ba đều đến chầu vào nơi tế cúng. Nhân dân sợ hãi, bèn làm biểu dâng tâu lên triều đình. Khi đó các quan làm tế xong, trở về cũng đều tâu lại với vua. Vua rất mừng, nói với quần thần:

  • Thiên thần và Thủy quốc đều giúp nước nhà. Trẫm không còn lo lắng gì nữa.

Ngay hôm đó mở yến tiệc lớn khao hưởng quân sĩ, phong thưởng các công thần. Bèn phong mỹ tự cho trăm thần, hưởng lễ huyết thực vạn cổ, hương lửa không ngừng.

Phong là Phù Đổng Thiên Vương. Cho đón sắc chỉ về dân lập đền để thờ. Các đền ở xã Phù Đổng huyện Tiên Du, cùng thôn Đối Mã xã Vệ Linh huyện Kim Hoa đều cho cấp một trăm khoảnh ruộng để phụng thờ.

Lại phong Đức Ông Đài Vàng Đại vương. Lại phong Bố Cái Sô Tha Đại vương. Cho vâng đón sắc chỉ đem về nơi thôn Thượng Dục, sai quan … đến bày cúng tế, tu sửa đền cung, nhân dân được phụng thờ.

Người đời sau có thơ rằng:

Sinh hoá diệc đồng thử nhất tân
Sinh vi danh tướng hoá vi thần
Bùi giang, Thượng Dục giai tồn tích
Miếu mạo vũ đường cựu chí tân.

Dịch là:

Sinh hóa cùng nhau tại bến này
Sinh là danh tướng, hóa thần đây
Sông Bùi, Thượng Dục đều còn tích
Miếu mạo cung đường xưa tới nay.

Lai nói đến thời Trưng nữ vương, tức Trưng Trắc, Trưng Nhị, đều là cháu gái Hùng Vương, thật là bậc thánh thần trên trần thế, bậc hào kiệt trong giới nữ, khởi binh phụ tướng, chiêu dụ anh hùng, dẹp trừ Tô Định. Cùng nhau hội quân ở sông Hát, lập đàn cầu đảo trăm thần âm phù giúp nước dẹp giặc thành công. Khi đang làm lễ bỗng thấy ông Đài và ông Cái dẫn binh mã đến nói rằng:

  • Chúng tôi chính là các thủy thần. Nay thấy hoàng gia khởi nghĩa dẹp trừ giặc dã, tự xin được âm phù dẹp giặc, tất đều có linh ứng.

Sau khi thanh bình Trưng nữ Vương lên ngôi, bèn phong mỹ tự cho cùng hưởng hưng thịnh với đất nước, là Duyên huống Khai tường Xiển trị Cương nghị Hùng lược Anh đoạn Pháp thân Cư sĩ Tối linh Đại vương.

Từ Trần Thánh Tông đến Trang Tông cùng với Thái úy đại thần diệt trừ loạn Mạc, có nhiều linh ứng, âm phù giúp nước, đều có nhiều phong tặng sắc chỉ. Các ngày khai sắc, khánh hạ được khai rõ ràng dưới đây:

Thượng đẳng Thủy thần, bộ Tả.

Các ngày lệ sinh hóa cùng các tiết khánh hạ và các chữ húy, sắc phục màu vàng đều cấm. Nhất thiết cấm các chữ húy Hùng, Loan, Đài, Cái.

Ngày lệ sinh thần là mùng 6 tháng Giêng, hai vị cùng sinh. Lễ dùng lợn đen, chọn gia đình vợ chồng đều song toàn làm lễ, cùng gà, xôi, rượu, cỗ chay, ca hát.

Ngày lệ khánh hạ là ngày 15 tháng Hai chính lệ. Lễ dùng mâm chay, xôi rượu, hương hoa năm vị.

Ngày lệ phong sắc là mùng 6 tháng Sáu. Dùng trâu, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ khai sắc là mùng 6 tháng Ba. Dùng lợn đen, xôi, rượu, ca hát.

Ngày lệ hóa thần là 12 tháng Mười hai, hai vị cùng hóa. Lễ dùng cỗ trâu, xôi, rượu, bánh chay.

Ngày hóa của thánh phụ là mùng 5 tháng Năm. Lễ dùng lợn, gà, xôi, rượu.

Hoàng triều Vĩnh Hựu năm thứ 2 ngày tốt, Quản giám bách thần Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền tuân theo bản cũ vâng chép.

Hồng Phúc năm đầu ngày 18 tháng Năm, Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần, Nguyễn Bính vâng soạn.