Có một nền văn hóa Việt Nam (II)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

II

Tuy vậy, mỗi trạng thái văn hóa, cũng như một chiếc lá trên cành, vẫn mang trong mình những tính chất chung cho toàn thể. Cho nên nếu ta nghiên cứu kỹ càng một vài trạng thái, chẳng hạn nếu ta nghiên cứu tiếng Việt và văn chương tiếng Việt – ít hơn nữa – một vài quy tắc của tiếng Việt và một vài tác phẩm có giá trị bằng tiềng Việt, thì ta cũng có thể hiểu ít nhiều về bản sắc Việt Nam.
Trước hết là TIẾNG VIỆT. Ta hãy nghĩ rằng thứ tiếng ta nói với nhau hôm nay, bao nhiêu lớp người trước ta đã từng nói. Biết bao tình ý đã gửi vào trong đó. Tiếng Việt chính là người bạn tâm tình đã chia sẻ vui buồn với giống nòi ta trên con đường thời gian vòi vọi. Giờ đây nó vẫn giữ lại cho ta hồn thiêng của cha ông ngày trước. Nếu ta biết hỏi chuyện, tất nó sẽ nói với ta nhiều điều hay.
Có điều tiếng Việt đã đi qua nhiều thời, nến nó không mang tâm lý riêng của một thời nào và bởi thế nó chỉ có thể cho ta một vài ý niệm căn bản nhưng trừu tượng về văn hóa Việt Nam. Muốn có hình ảnh rõ ràng hơn, cần phải đi sâu vào một vài tác phẩm văn chương vừa mang dấu tích một thời vừa có tính cách vĩnh viễn. Trong những tác phẩm ấy bản sắc Việt Nam sẽ thể hiện ra một cách phức tạp hơn, nhưng cũng cụ thể hơn, dễ nhận hơn.
Học tiếng Việt và văn chương tiếng Việt mà nhằm vào mục đích ấy thì sẽ có ích hơn, có thú vị hơn, ít ra thì cũng sẽ khỏi phải quanh quẩn trong ba cái điển tích khó khăn và tránh được cái nạn tầm chương trích cú nó đã chôn sống biết bao thế hệ thư sinh.
Ví dụ người ta sẽ để ý rằng tiếng Việt có hàng vài chục chữ để dịch nghĩa chữ porter trong tiếng Pháp: xách, ôm, quây, khiêng, mang v.v… và hàng mấy chục chữ để dịch chữ vous trong tiếng Pháp: anh, ông, bà, em, chú, cậu, bác v.v… Tiếng Việt rất giàu nhưng cũng rất nghèo vì trong bấy nhiêu chữ không có một chữ nào địch đúng nghĩa chữ porter hay chữ vous vì không có một chữ nào trừu tượng và khái quát như chữ porter và chữ vous. Tiếng Việt tả rất đúng tình cảnh riêng trong từng trường hợp mà không ghi được chỗ đồng nhất trong nhiều trường hợp khác nha. Do đó người ta sẽ thấy rõ một vài điều sở trường và sở đoản trong tinh thần ta, tức là trong văn hóa ta.
Một ví dụ nữa: người ta sẽ để ý đến quan niệm cá nhân trong tiếng Việt. Người ta sẽ thấy ở đây quan niệm cá nhân không có giới hạn hẹp hòi và rõ rệt như trong tiếng nói phương Tây. Người này và người nọ rất dễ dàng hòa lẫn với nhau. Cho nên mới có những câu như câu:
Ai về Đồng Tỉnh, Huê Cầu
Để thương, để nhớ, để sầu cho ai;
Trong đó một chữ mà chỉ hai người: chữ ai thứ nhất chỉ người đi, chữ ai thứ nhì chỉ người ở;
như câu:
Đường mây cười tớ ham rong ruổi
Trường liễu thương ai chịu lạnh lùng;

trong đó có tiếng cười mà không thấy người cười, có tình thương mà không thấy người thương;
và như câu:
Ơn nước nợ trai đành nỗi bận
Cha già nhà khó cậy nhau cùng.
Trong đó cả người nói lẫn người nghe đều hòa làm một trong một chữ nhau.
Người ta cũng sẽ để ý đến nhịp điệu riêng của câu thơ Việt. Người ta sẽ thấy câu thơ Việt ưa nhịp chẵn hơn nhịp lẻ. Không những ưa nhịp chẵn trong những bài vè hai, vè bốn hay lục bát, điều ấy đã hiển nhiên. Mà còn ưa nhịp chẵn trong những câu số chữ lẻ như trong câu hát giặm và câu song thất. Một câu hát giặm năm chữ, một câu ngũ ngôn cũng năm chữ.
Hát giặm:
Em con nhà nông nghệ,
Việc khuya sớm cày bừa.
Khi đi sớm về trưa,
Năng buổi trưa phải chịu.
Mưa buổi chiều phải chịu.
Ngũ ngôn:
Lởm chởm gừng vài khóm,
Lơ thơ tỏi mấy hàng,

Vẻ chi là cảnh mọn.
Mà cũng đến tang thương.
Trông bên ngoài thì tưởng như giống nhau, nhưng cứ đọc lên sẽ thấy khác nhau một trời, một vực. Ấy chỉ vì câu hát giặm để nhịp chẵn về sau, còn câu ngũ ngôn lại kết thúc bằng nhịp lẻ. Một bên là 1+2+2, một bên là 2+2+1.
Nếu ta so sánh câu thất ngôn và câu song thất ta cũng thấy như vậy:
Tầm Dương giang đầu dạ tống khách.
Câu thơ này của Bạch Cư Dị đã được dịch ra tiếng Việt bằng câu:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách.
Hai câu cùng một ý và cũng bảy chữ như nhau. Ấy thế mà mỗi câu một khác. Một bên là 2+2+2+1, một bên là 1+2+2+2. Hẳn cốt cách Việt Nam trong tâm tình Phan Huy Vịnh, người dịch thơ, phải vững vàng lắm mới có thể cùng một ý và cùng một câu bảy chữ mà lại đi theo một nhịp riêng. Câu thơ Hán kết thúc bằng nhịp lẻ có vẻ lơ lửng, chưa dứt; cái thể của nó còn muốn đi xa. Câu thơ Việt kết thúc bằng nhịp chẵn hình như đã tìm được nơi yên nghỉ. Câu thơ đọc hết, tâm trí người ta không còn thắc mắc, băn khoăn gì nữa, người ta thấy bình tĩnh, yên ổn vô cùng.
Ấy đại khái học tiếng Việt và văn chương tiếng Việt có thể giúp ta hiểu ta, hiểu bản tính văn hóa ta là thế! Sau cùng xin dẫn thêm ví dụ này nữa. Đọc mấy câu đầu trong bản Chinh phụ ngâm của Đoàn Thị Điểm, người ta sẽ nhận thấy cái cảnh chiến tranh dựng lên đột ngột và hung bạo và trong câu thơ như còn quằn quại, còn dằn vặt một mối đau thương.
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi
Khách má hồng nhiều nỗi truân chiên.
Người ta cũng sẽ nhận thấy tiếng kêu Trời tức tối, thống thiết trong hai câu:
Xanh kia thăm thẳm từng trên!
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?

Thực khác xa lời thơ bay bướm và bát ngát trong nguyên văn chữ Hán:
Thiên địa phong trần!
Hồng nhan đa truân.

Du du bỉ thương hề!
Thùy tạo nhân?
Cả Ông Trời trong nguyên văn cũng có vẻ hiền lành như tiếng kêu Trời rất nhẹ nhàng của người chinh phụ: Thùy tạo nhân? Nhận xét như thế người ta sẽ thấy rõ phần sáng tác của người dịch. Người ta sẽ hiểu vì sao một bản thơ dịch lại có thể xem là một áng thơ kiệt tác, một điều rất ít thấy trong văn chương nước ngoài.
Nhưng nếu cứ tìm ví dụ trong sự nghiên cứu một vài trạng thái văn hóa, cứ đi vào chi tiết thì không thể nào nói hết trong khuôn khổ bài tiểu luận này. Ta đành nhìn vào đại thể vậy. Nhìn vào đại thể thì mặc dầu văn hóa Việt Nam đã nhiều lần biến đi cùng với các phương diện khác trong đời sống chung, nhưng hình như dưới cái nhất thời vẫn có cái gì vĩnh viễn – nghĩa là tương đối vĩnh viễn. Bên cạnh những tính chất riêng của từng thời, vẫn có một vài tính chất chung cho nhiều thời.
Ai cũng biết trong các công trình văn hóa có một phần thuộc về tư tưởng, một phần thuộc tình cảm. Phần tư tưởng là phần rõ ràng, là phần dễ nhận thấy hơn cả. Không ai có thể không nhận rằng Trung Hoa có một nền văn hóa phong phú, vì bao nhiêu học thuyết đã nảy nở trên đất nước Trung Hoa. Cũng không ai có thể không nhìn nhận cái phong phú của nền văn hóa phương Tây vì ở phương Tây đã sản xuất ra biết bao công trình khoa học, triết học, nghĩa là những công trình thuộc về tư tưởng. Nhằm vào phương diện ấy mà xét, thì quả thực văn hóa Việt Nam không có gì. Cách đây chừng mười lăm năm có một cuộc biện luận giữa các nhà học giả xứ ta về vấn đề quốc học. Người bảo: ta vốn có một nền quốc học, người bảo không. Mặc dầu có xúc phạm đến lòng tự ái của ta, ta cũng phải nhận rằng những người sau này nói phải. ta khồng có một nền quốc học, nếu quốc học là học thuật riêng của nước ta. Trải mấy ngàn năm lịch sử ta cơ hồ không có sáng tác gì về học thuật. Ấy cũng vì ta kém óc trừu tượng và khái quát, điều kiện căn bản để phát minh về tư tưởng. Một lần khác, có dịp, sẽ xin giải thích kỹ càng hơn về vấn đề này. Nhưng không có học thuật riêng không phải là không có gì. Văn hóa không chỉ gồm những công trình thuộc về tư tưởng. Hơn nữa tư tưởng tuy là phần rõ ràng nhất, nhưng đâu có phải là phần sâu sắc nhất, quan trọng nhất trong tâm trí người ta. Trong dòng tư duy, đó chỉ là những làn sóng lởn vởn trên mặt. Bên dưới tư tưởng, còn có tình cảm và bên dưới tình cảm và tư tưởng, còn có gì nữa ít khi nhận thấy mà cũng ít khi cảm thấy. Ấy là những nhịp điệu riêng của một người hay chung cho một nòi giống. Phần sâu sắc ấy trong lòng ta đại khái vẫn của ta, tính cách ngoại lai rất ít. Đặc sắc của văn hóa Việt Nam là ở đó, chứ không ở học thuật mà xưa nay ta vẫn quen vay mượn của người.
Điều cốt yếu đối với ta thực không phải là tư tưởng. Điều cốt yếu đối với ta là tình, hơn nữa, là điệu. Hãy xem tục ngữ ta hầy hết là những câu có vần, có điệuk, khác hẳn với tục ngữ Pháp, với tục ngữ Tàu. Trong một câu tục ngữ như câu được làm vua, thua làm giặc, chữ thua đối thanh với chữ được, chữ giặc đối thanh với chữ vua, chữ vua lại vần với chữ thua. Thanh âm hưởng ứng với nhau rất là mật thiết, nhịp điệu rất đều đặn, rất rõ ràng. Có thanh âm ấy, nhịp điệu ấy mới lưu truyền được đến đời sau cái ý “gọi rằng vua, gọi rằng giặc chẳng qua chỉ là chuyện mạnh yếu, chuyện được thua”, mặc dầu cái ý kiến rất già dặn, rất táo bạo, rất hay. Nó vừa thiết thực, vừa sâu sắc, có thể nói nó đã lật đổ cái thuyết “thay trời trị nước” mà bọn học giả Đông có, Tây có, đã nhai đi nhai lại trong mấy ngàn năm. Một cái ý kiến đặc sắc và có giá trị như thế mà cũng phải nương vào thanh âm, vào nhịp điệu mới lưu truyền được đến đời sau, điều ấy đủ chứng rằng người Việt chúng ta sống trong nhịp điệu, trong thanh âm nhiều hơn trong tư tưởng. Tâm lý ấy có giống tâm lý trẻ con. Trẻ con thường vẫn ca hát luôn miệng mà chẳng mấy khi quan tâm đến ý nghĩa lời ca. Song chúng ta chớ lấy thế làm thẹn, chúng ta chớ nghĩ rằng như thế nghĩa là dân tộc ta còn ấu trĩ, còn dã man, còn mọi rợ, không hơn gì những dân tộc mọi rợ ở Phi châu. Chúng ta còn trẻ, tức là chúng ta còn nhiều sinh lực, chúng ta còn có thể đi xa. Huống chi trẻ mà không phải sơ sinh. Chúng ta mang trong mình hơn hai ngàn năm lịch sử. Biết bao dân tộc tuổi chưa bằng ta mà đâu còn trẻ được như ta. Ta trẻ, tức là ta có thuật trường sinh vậy.
Vậy văn hóa Việt Nam quý ở phần tinh cảm hơn ở phần tư tưởng, ở phần tiềm thức hơn ở phần hữu thức. Nhưng chính vì thế mà văn hóa Việt Nam rất khó hiểu đối với học giả phương Tây. Tình cảm cùng với nhịp điệu vẫn tiềm tàng ở những nơi sâu thẳm trong lòng ta không phải là điều có thể phân tích giảng giải một cách dễ dàng. Muốn hiểu, cần phải sẵn mối đồng tình, cần phải là người đồng điệu. Cùng đồng thị là người Việt Nam và cùng chung sống trong một thời đại mà hai phái thơ cũ, thơ mới còn chưa hiểu được nhau. Cho nên người phương Tây khó mà hiểu được những công trình phát biểu cái phần sâu sắc trong lòng người Việt, ví dụ như những công trình nghệ thuật, văn chương.

***

Văn hóa Việt Nam lại còn đặc tính này nữa cũng khiến nó khó hiểu đối với học giả phương Tây. Nó không thiên về lượng. Ta có thể tưởng tượng cái vẻ ngạc nhiên và khinh bỉ của người phương Tây khi ta bảo họ rằng văn hóa Việt Nam rất có giá trị và giá trị chính của văn hóa Việt Nam là ở nghệ thuật văn chương. Họ sẽ hỏi ta: “Thế, sao văn chương các anh không hề có cái phong phú của văn chương Pháp mà về nghệ thuật các anh cũng chẳng có một công trình nào đồ sộ như Đế Thiên, Đế Thích của giống người Cờ Me”. Quả có thế, cha ông ta không có những thi phẩm mà nội một chương cũng đã dài ngót mười một ngàn câu như thi phẩm của Lamartine. Cha ông ta cũng không hề có công trình kiến trúc nào có thể gọi là đồ sộ. Nếu muốn nhiều, muốn to thì các công trình văn hóa của ta quả không có gì nhiều và to. Nhưng sao lại cứ muốn nhiều, muốn to? Bỏ được cái tính chuộng nhiều, chuộng to nó rất vô lý trong câu chuyện nghệ thuật, văn chương, người ta sẽ thấy một câu ca dao trên sáu dưới tám có thể quý hơn hàng trăm pho sách nặng nề và một vài đường nét đơn sơ có thể quý hơn cả một lâu đài đồ sộ.
Vả chăng, khi người ta chỉ liếc mắt nhìn qua một cách hờ hững, khi người ta không từng sống triền miên trong đó thì tất cả quá khứ văn hóa Việt Nam người ta chỉ thấy có một khối, đời Lý cũng như đời Trần, đời Trần cũng như đời Lê, đời Nguyễn, người ta không nhận thấy phong thái riêng từng thời, từng người nên không thấy phong phú. Trước mắt người ta chỉ có một cái toàn thể nghèo nàn và bất di bất dịch. Điều đó không có gì lạ. Chính chúng ta cũng thường có cảm giác rằng người da đen, người nào cũng giống người nào và từng thấy có những người mình vào hạng có tuổi không làm sao phân biệt được người Pháp này với người Pháp kia, vì thấy người nào mắt mũi cũng giống nhau. Cần phải tinh ý và cũng cần phải nhiều thì giờ mới nhận rõ cái cốt cách một câu thơ Đoàn Thị Điểm và cốt cách một câu thơ Nguyễn Du, mặc dầu thơ Đoàn Thị Điểm với thơ Nguyễn Du khác nhau xa. Cha ông ta ngày xưa không hay lập dị, không cố tìm cho có một bản lãnh riêng. Nhưng mỗi người sống trong một thời riêng, trong một hoàn cảnh riêng nên tự nhiên cũng có bản lãnh riêng. Văn hóa Việt Nam chỉ có vẻ nghèo nàn với những người không tinh ý. Thực ra, công trình văn hóa tuy không nhiều, không đồ sộ nhưng vẫn tiêu biểu cho một đời sống tinh thần dồi dào và nhiều vẻ.

Có một nền văn hóa Việt Nam (I)

Bài của nhà văn Hoài Thanh do Hội Văn hóa cứu quốc Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1946.

I

Một số học giả người Pháp vẫn thường bảo Việt Nam không có một tí vốn liếng gì về văn hóa. Theo họ, suốt mấy ngàn năm lịch sử dân tộc này chỉ biết có vay mượn mà thôi. Dân tộc này không hề có chút cống hiến vào kho tàng văn hóa của nhân loại và giá thử, một ngày kia, dân tộc này có diệt vong, điều ấy tuyệt nhiên không có quan hệ gì đối với đời sống tinh thần chung.
Kể học giả người Pháp mà nói liều lĩnh như thế cũng là lẽ đương nhiên. Họ đã đến xứ ta hay khảo sát xứ ta với tâm lý người chiến thắng. Với họ trước kia chúng ta đã là những người chiến bại, những người tôi tớ. Còn họ đã là chủ nhà. Mà xưa nay, mấy khi chủ nhà không khinh thị tôi tớ, mặc dầu cứ bình tĩnh mà xét, đã chắc gì ai kém ai hơn.
Đó là một lẽ. Song lẽ ấy không đủ để giải thích câu nói liều lĩnh trên kia. Bởi vì dân tộc Chiêm Thành, dân tộc Cờ Me (Khmer) cũng đứng vào địa vị chiến bại mà văn hóa của họ vẫn được học giả người Pháp chú ý và trân trọng hơn. Sở dĩ một số học giả người Pháp khinh thị văn hóa Việt Nam đến nỗi dám quả quyết rằng văn hóa Việt Nam không có, ấy cũng vì nền văn hóa Việt Nam khác hẳn các nền văn hóa phương Tây, khó mà nhận ra được. Nhất là họ lại đang quen nhận xét một cách rất nông nổi và thiển cận.
Tuy vậy, như trên đã nói, người Pháp mà khinh thị văn hóa Việt Nam thì không có gì đáng lấy làm lạ. Điều đáng lấy làm lạ là chính người mình cũng tự khinh thị mình. Óc nô lệ đến thế thật là cùng cực. Sự nhồi sọ của người Pháp đã khiến một số đồng bào ta tin rằng chẳng những ta hoàn toàn bất lực về kinh tế, về chính trị mà cũng hoàn toàn bất lực về văn hóa.
Ai là người quan tâm đến vận mệnh nước nhà, của nòi giống, thấy thế mà có thể dửng dưng? Nếu quả người Việt Nam tuyệt nhiên không có khả năng gì về văn hóa, nếu quả lịch sử tinh thần của dân tộc Việt Nam chỉ là một con số không đồ sộ, thì ta còn hy vọng gì ở tương lai? Nếu quả bọn chúng ta vốn bất tài, trong mấy ngàn năm, chúng ta khó có thể nhất đán trở nên những bậc đại tài đủ sức xây đắp một nền văn hóa tương lai tráng lệ. Trong lịch sử mấy khi có những chuyện lạ lùng như thế. Cho nên không gì buồn bằng cảm thấy cái bất lực của giống nòi về văn hóa. Hay giả thử một điều khó có thể có được, là dân tộc ta trở nên hùng cường vào bậc nhất trên thế giới nhưng vì văn hóa chúng ta cũng chỉ biết có vay mượn mà thôi, thì tương lai ấy thực không đủ cho ta hởi lòng, hởi dạ. Ta vẫn muốn giàu, muốn mạnh, nhưng chúng ta không hể chỉ mộng làm một người trọc phú. Tất cả những người Việt nam thành thực đều băn khoăn đi tìm một niềm tin ở nòi giống, vì có tin ở nòi giống mới có thể tin ở mình, một người Việt Nam, lại có thể không hèn kém hay sao? Mà một khi đã cho mình hèn kém, hơn nữa, đã tin rằng cha ông mình mấy ngàn năm nay vẫn hèn kém, tì cuộc sống không còn có nghĩa lý gì nữa!

***

Nhưng sự thực có đến nỗi buồn thảm như thế không? Dân tộc Việt Nam có quả hoàn toàn bất lực về văn hóa không? Ta quyết rằng không. Và ta nói thế không phải vì lòng ta muốn thế. Ta sẽ hết sức vô tư và khách quan. Ta sẽ can đảm nhìn thẳng vào sự thực, vô luận sự thực ấy như thế nào.
Sự thực thì ta vốn có một nền văn hóa. Nền văn hóa ấy cố nhiên không thể tìm thấy trong những bài kinh nghĩa, những bài văn sách, những bài thơ, bài phú chữ Hán, nói rộngj ra, trong những tác phẩm Hán Việt, nghĩa là trong những tác phẩm bằng chữ Hán của người Việt. Đời này sang đời khác, các nhà nho xứ ta mỗi khi cầm bút viết văn tàu chỉ lặp đi lặp lại những ý, những lời của thánh hiền Trung Quốc. Nhưng dân tộc Việt Nam đâu phải chỉ có những nhà nho. Ta hãy đi về nơi thôn quê và lắng tai nghe câu hát đậm đà của người thôn nữ. Đó không phải là văn hóa hay sao? Ta hãy ghé vào những ngôi chùa cổ và để ý nhìn những bức chạm của người xưa. Đề tài có thể vay mượn của người, song những đường nét kia vẫn nặng mang tâm tình Việt Nam, vẫn ghi rõ nhịp sống Việt Nam chứ sao? Ta hãy ngẫm nghĩ về những lời ta đương nói. Chữ dùng có lẽ đến ba phần tư là chữ Hán. Song ta mượn chữ Hán mà ta đọc theo lối ta, ta xếp đặt theo cú pháp tiếng ta, ai dám bảo tiếng ta không phải một công trình văn hóa của người Việt? Ngay các nhà nho chỉ biết nô lệ theo người những khi cầm bút viết văn Tàu, thế mà đến khi nhận trách nhiệm đặt pháp luật để thi hành trong nước thì lại tỏ ra là những người có óc sáng tạo. Pháp luật xứ ta, nhất là pháp luật đời Hồng Đức, vẫn có nhiều tính chất riêng của dân tộc ta.
Nhưng ta cần gì phải đến pháp luật, đến ngôn ngữ, đến nghệ thuật văn chương hay đến tôn giáo, phong tục v.v… để chứng rằng ta vốn có một nền văn hóa. Nội một điều nhận xét đơn sơ này cũng đủ cho ta tin như thế. Văn hóa đâu có phải là một vật lạ lùng từ trên trời rơi xuống. Văn hóa chỉ là một phương diện – phương diện tinh thần – trong đời sống của một dân tộc. Phương diện ấy, chúng ta tách riêng ra cho tiện bề nghiên cứu, nhưng nó vốn có quan hệ mật thiết với các phương diện khác trong đời sống chung, như kinh tế, chính trị v.v…hơn nữa nó vốn cùng các phương diện khác là một, trong cái toàn thể là đời sống chung. Nói một cách nôm na, văn hóa cũng như kinh tế, như chính trị, chỉ là một mặt của sự thực, của đời sống chung. Đã thế, nói rằng dân tộc Việt Nam không có một nền văn hóa riêng là một câu nói vô lý, vì dân tộc Việt nam vẫn là một dân tộc riêng, vẫn có một cuộc sống riêng, điều ấy không ai chối cãi.

***

Vậy ta có thể nói quyết rằng: dân tộc Việt nam vốn có một nền văn hóa. Cái điều có kẻ không tin là giá trị của nền văn hóa ấy. Nhưng ta tự hỏi: căn cứ vào đâu mà đánh giá một nền văn hóa? Tất phải căn cứ vào thực tiễn. Vì, xét cho cùng, văn hóa chỉ là sự cố gắng của loài người để giành quyền sống. Vậy mà đứng về quan điểm ấy, không thể không nhìn nhận giá trị của văn hóa Việt Nam. Chứng cớ hiển nhiên là nó đã giúp chúng ta tồn tại.
Nếu ta không có những khả năng dị thường về văn hóa, dám chắc rằng nòi giống ta đã tiêu diệt tự bao giờ. Giải đất chúng ta ở đây, đâu phải là chốn thiên đường. Chúng ta đâu phải là những đứa con cưng của tạo hóa. Kể từ hồi tiền sử, nước non này đã chứng kiến biết bao nhiêu nhân họa, thiên tai kế tiếp nhau không ngớt. Biết bao nhiêu giống người đã lần lượt đến chiếm xứ này, nhưng chung quy ở không được nên đã lần lượt tiêu vong. Trong tất cả các giống người đã bước chân tới đây, hình như chúng ta là những kẻ ở đây được lâu hơn cả. Được thế cũng bởi chúng ta biết mình là con nhà cực và hết sức phấn đấu với cuộc đời cơ cực. Sống trong một hoàn cảnh ác liệt, chúng ta đã biết luyện mình cho thích nghi cùng hoàn cảnh. Văn hóa Việt Nam đã được hun đúc trong những điều kiện tự nhiên và lịch sử gay go ấy nên rất có giá trị.
Chính nền văn hóa rất có giá trị ấy đã cứu chúng ta. Bởi vì văn hóa tức là đời sống tinh thần của dân tộc, tuy vốn do những điều kiện vật chất chi phối nhưng trở lại nó lại ảnh hưởng đến đời sống vật chất. Nói một cách khác, mọi hành vi của cá nhân cũng như của đoàn thể đều do tinh thần đưa đường chỉ lối. Vậy không có sự hướng dẫn của văn hóa, làm sao cha ông ta từng bao lần đánh bại xâm lăng? Không có sự hướng dẫn của văn hóa, làm sao cha ông ta có thể lần theo bờ biển mà khai thác một giải đất hàng mấy ngàn cây số, từ Hoành Sơn đến mũi Cà Mau? Không có sự hướng dẫn, không có sức bảo tồn của văn hóa, làm sao cha ông ta tiếp xúc với người Hán có đến hai ngàn năm mà vẫn thoát được cái nguy đồng hóa?
Giống Hán, chúng ta đều biết, là một giống người có sức đồng hóa mãnh liệt vô cùng. Nó đã đồng hóa không biết bao nhiêu giống người ngày xưa, nó vẫn gọi chung là Tây Nhung, Bắc Địch, Nam Man, Đông Di. Tất cả những giống người Việt từ bờ sông Dương Tử đến biên giới Việt Nam đều bị nó đồng hóa, trừ một giống là giống Lạc Việt chúng ta. Lúc chúng ta bắt đầu gặp người Hán thì chúng ta chỉ là một nhóm người con con dễ thường không đầy một triệu và may lắm cũng chỉ mới tiến đến giai đoạn đồ đồng. Chúng ta đã gặp một khối người mạnh hơn, đông hơn không biết bao nhiêu lần, và nhất là đi trước chúng ta hàng maays trăm năm nay trên con đường văn hóa, Thế mà sau một ngàn năm Bắc thuộc về chính trị và ngót một ngàn năm nữa Bắc thuộc về tinh thần, ta vẫn không tiêu tan trong khối Hán, ta vẫn giữ được bản lãnh của ta, Càng nghĩ đến điều đó bao nhiêu, ta càng ngạc nhiên bấy nhiêu và càng thêm lòng tin vào nòi giống. Hãy thử tìm trong lịch sử thế giới được bao nhiêu dân tộc cùng lâm vào một tình cảnh nguy nan như thế mà vẫn đủ sức giải nguy?
Nền văn hóa Việt nam không có giá trị phi thường thì nòi giống Việt Nam làm gì được thế. Nhưng văn hóa Việt Nam như thế nào? Những gì là đặc tính văn hóa Việt Nam? Hiện giờ không ai có thể chiều lòng ta mà trả lời câu hỏi ấy một cách đầy đủ và có trả lời cũng chỉ là liều lĩnh mà thôi. Bởi vì muốn nhận thức một cách đầy đủ và chắc chắn bản sắc cố hữu của văn hóa Việt Nam, lẽ tất nhiên phải nghiên cứu tất cả mọi trạng thái văn hóa trong xã hội Việt Nam thời trước, như học thuật, ngôn ngữ, văn chương, nghệ thuật, luân lý, tôn giáo, pháp luật, phong tục vân vân…

Phường Trường Súng

Trích bài viết của L. Cadière đăng trong Những người bạn của cố đô Huế, BAVH năm 1925.
Bản dịch của Hà Xuân Liêm, NXB Thuận Hóa, 2002.

II. NHỮNG HỒI KÝ VỀ CHÚA NGUYỄN
Chúng tôi sẽ không cho bắt đầu phường Trường Súng từ hướng cực Đông của con đường mang cùng tên với phường này. Như vậy chúng tôi sẽ phải nói đến toàn bộ vùng Phủ Cam. Người ta đã cho con đường Trường Súng một chiều dài quá mức. Con đường này đã được phân ra, và phần bên dưới từ cầu chợ Phủ Cam xuống đã được đặt là đường kè bờ sông mang tên là Forçant. Con đường này sẽ còn rút ngắn lại nữa, và điều này hợp lý. Vậy chúng ta sẽ khởi hành từ nhà ga, vì từ đó đến nơi ra khỏi thành phố, con đường dẫn tới Trường Súng, rất đáng được mang cái tên của di tích lịch sử này.
Con đường Trường Súng này như đã được định ranh giới cho đến xưởng máy vôi Long Thọ, hai bên đường được bao viền bởi nhiều dấu vết kỷ niệm mà các chúa Nguyễn của Huế, qua tiến trình nhiều thế kỷ, đã để lại nơi đây.

*
**

Tôi không hiểu có còn một bản đồ về phường Nhà Ga không, vì trước khi xây dựng con đường sắt làm sao khỏi dẫn đến sự đảo lộn hoàn toàn vùng đất này, có một số di tích lịch sử rất lý thú có thể đã bị phá hủy mà kỷ niệm về chúng đã bị quên lãng hẳn, hoặc chỉ được lưu giữ bởi những người mà người ta không dễ gì đến hỏi han tham cứu. Trong vùng đất mà ngày nay người ta dựng lên xưởng làm nước đá của ông Bogaert, ngày xưa đã có những chuồng nuôi voi của nhà chúa. Chúng ta cũng sẽ thấy những chuồng khác nuôi voi ở thượng lưu, gần Trường Súng. Xưa kia, nhiều đội tượng binh được lập rải rác ở nhiều nơi. Chính trong Hoàng cung cũng có một đội tượng binh, và những đội khác thì có chuồng nhốt ở trung tâm làng Kim Long. Tôi đã nói ở một bài khác, tất cả những điều có liên quan đến các con vật đi diễu hành và đi đánh trận này (BAVH, 1922). Hôm nay tôi không nói lại ở đây nữa.
Những chuồng voi này được thiết lập trên con đường phục vụ giao thông cho chuyến đò ngang gọi là đò Trường Súng. Con đò này tạo sự thông thương giữa bờ phải với bờ bên trái con sông. Nếu người ta tiếp tục đi theo con đường này về hướng Nam, thì có một đoạn giốc đứng dẫn lên đỉnh một vách đứng thống ngự gần nhà Ga, và con đường đã kéo dài ra bởi đoạn mà các bản đồ của Sở Công chánh gọi là đường “song song phía Tây”, ngày xưa đường này thường được dùng trước khi người ta cho mở đại lộ Nam Giao.
Về phía trái, người ta thấy có ngôi chùa Phật giáo là chùa Báo Quốc, mà ông Labonde đã kể cho chúng ta biết về lịch sử của nó (BAVH, 1917), và về phía phải có hai ngôi miếu quan trọng: miếu Lịch Đại, và miếu thờ vua Lê Thánh Tôn. Miếu Lịch Đại, được xây dựng trên đất Dương Xuân, và được dành để thờ “các triều vua chúa” ngày xưa (*). Miếu này được xây dựng vào năm Minh Mạng thứ tư, như bức hoành ở gian giữa miếu đã chỉ rõ điều này: “Minh Mạng năm thứ tư, tháng năm, ngày tốt tạo lập (9 Jiun – 8 Juill. 1823). Toàn bộ được trở mặt về hướng Nam và gồm có ngôi miếu chính năm gian, hai nhà tả hữu vu, ngôi tả vụ bên trái ở hướng Đông, ngôi hữu vu bên phải ở hướng Tây. Ở gian chính giữa của ngôi miếu chính người ta thờ các vị hoàng đế huyền thoại hoặc thuộc lịch sử vào thời đầu của đế quốc Trung Hoa. Gian thứ nhất bên trái, nghĩa là gian về hướng Đông tôn trí những bài vị của các vị vua thuộc cổ tích, hoặc có tính cách bán lịch sử của nước Nam, người ta đã phối thờ vào gian này vị vua lập nên triều đại quốc gia đầu tiên là Đinh Tiên Hoàng. Gian thứ nhất bên phải, hướng Tây, được dành để thờ các vị vua sáng lập ra triều đại nhà Tiền Lê, các vị Hoàng đế chính của triều đại nhà Lý. Gian thứ hai bên trái và bên phảo được kính cẩn dành để thờ một số vị vua đời nhà Trần và nhà Hậu Lê. Cuối cùng, hay dãy tả vu hữu vu tôn trí những bài vị các vị công thần của các vua nói trên, mười lăm vị thờ ở tả vu và mười lăm vị thờ ở hữu vu. Vua Minh Mạng thích định quy tắc thờ tự một cách tỉ mỉ cũng như mọi điều khác, nên vào năm 1830, ngài cho chạm bài vị Sãi Vương, để đưa vào thờ ở Văn Miếu, một cách thuần túy và đơn giản, ngài đã bỏ những tôn thờ vinh dự dành cho vua Lê Anh Tôn. Vào năm 1835, ngài cho thỉnh bài vị Thái Công Vọng vào thờ ở Võ Miếu.
Với toàn thể các ngôi nhà ấy, ở đàng sau còn có một ngôi nhà để sửa soạn đồ lễ cúng hiến, tất cả được một bức tường không cao lắm bao quanh. Trước mặt tiền chính,  người ta cho xây lên một cổng tam quan có 3 cửa vào miếu mà ngày xưa có trình bày nhiều câu văn khắc, cả bên trong lẫn bên ngoài. Trên của chính giữa, ở bên trong người ta đọc được câu văn khắc: “Khi nhìn ở phía trước thì quang cảnh này rất tuyệt diệu” và câu văn khắc ở bên ngoài là: “Các vị hoàng đế và các vị quốc chúa kế vị nhau“. Trên hai cửa ở bên trái, hướng Đông, ở bên phải, hướng Tây thì bên phía trong khắc: “Nguyên tắc về lễ mà các đấng tiên vương đã vạch ra, chói lọi trong sử sách thời quá khứ“, và “Ảnh hưởng đáng trọng của chư vị tiên vương đem lại thái bình an lạc cho Nam quốc“; và ở phía ngoài khắc: “Danh thơm về đạo đức của các tiên vương hiện nay vẫn còn phảng phất nơi đây cũng như trong các thế kỷ quá khứ” và “Quy tắc trị nước cũng lan truyền khắp phương Bắc phương Nam“. Những câu chữ khắc này nay không còn nữa.
Năm Thành Thái thứ 14 (1902), đều được trùng tu toàn bộ. Điều này không muốn nói rằng miếu đang ở tình trạng tốt (ĐNNTC, q.1 tờ 16).

*
**

Miếu thờ Lê Thánh Tôn cũng không còn. Miếu đã bị triệt hạ và người ta chuyển hết vật liệu đi nơi khác, để dùng vào các công việc khác. Người ta không còn thấy gì hơn là cái nền miếu, những mảnh vụn của tường thành và phần bên dưới cổng vào mà phần trên của nó đã được xây theo một kiểu thức đặc biệt. Miếu này không quan trọng bằng miếu Lịch Đại, mà chỉ có một mái nhà ở giữa với phần máu nhô ra trước mặt. Miếu này xây về mặt hướng Đông. Vị hoàng đế mà người ta thờ trong đó thì ngày xưa, tại Huế, cũng đã có một miếu thờ riêng, nhưng miếu này đã bị hư hoại từ lâu, khi vua Gia Long cho xây lại miếu này, vào năm 1809, ở phía Đông và có hơi xích xuống phía miếu Lịch Đại…. (Lược đoạn nói về vua Lê Thánh Tôn).

*
**

Nếu từ miếu Lịch Đại, người ta đi theo con đường “song song hướng Tây”, leo qua nhiều ụ đất nhỏ màu hơi đỏ, thì khi đi hết hai hoặc ba trăm mét người ta đến một ngôi miếu được dành để thờ Hỏa Thần, miếu dựng trên địa vực làng Phú Xuân.
Ngôi miếu này vừa được cải dụng; chính quyền đã nhượng lại cho Đệ Cửu, thuộc thành phố Huế (phường Nhà Ga) là đình phường tại đây và thờ các vị thổ thần vùng ngoại ô.
Chính vào năm Minh Mạng thứ 5 (1824), nhà vua đã xuống dụ xây dựng miếu Hỏa Thần, ngài đã phong cho vị Hỏa Thần một đạo sắc phong. Hằng năm, ngày 23 tháng 6 âm lịch, người ta phải dân tế thần một lễ tam sinh: trâu, heo, dê và xôi. Các quan tỉnh Thừa Thiên được ủy nhiệm cúng tế, và 9 người dân làng Phú Xuân được giao cho việc canh gác, giữ gìn ngôi miếu. Vào năm 1825, việc xây miếu hoàn thành, vua Minh Mạng đã ban hành một chỉ dụ cho tổ chức lễ khánh thành vào ngày 15 tháng 6 âm lịch (30 Juillet) để làm lễ “an vị thần vị” của thần. Một đại biểu của Lục bộ đứng làm chánh tế biểu lễ.
Ngày xưa, miếu Hỏa Thần được xây dựng trong kinh thành, ở phía Bắc kinh Ngự Hà, trên địa vực làng Phú Xuân. Tôi không tìm được tư liệu chỉ rõ năm nào thì đền được chuyển về vị trí mà chúng tôi đang nghiên cứu hiện nay.
Vào năm Đồng Khánh nguyên niên (1886), người ta thiết thêm ở miếu này nhiều thần vị của các Hỏa Bác Thần mà ngôi miếu của Hỏa Bác Thần vừa bị triệt hạ.
Ngôi cổ miếu thờ Hỏa Bác Thần cũng có lịch sử của nó. Chính vào năm 1826, vua Minh Mạng đã cho xây dựng miếu này. Vua đã ban hành một sắc chỉ về vấn đề không kém thú vị để nghiên cứu tín ngưỡng của người nước Nam.
Súng đại bác có một tầm quan trọng cực kỳ trong nghệ thuật chiến tranh; sức mạnh phá địch của súng do một oai linh đáng sợ mà có. Tuy nhiên cho đến bây giờ, người ta chưa hề có một sự thờ cúng thần đại bác. Vậy, Trẫm xuống dụ cho các quan có thẩm quyền chọn một nơi thích đáng và xây lên một ngôi miếu tại đó, và người ta sẽ tôn thờ vị đại bác thần tại miếu này, vài những lúc phải có, thì lễ cúng bái thần được cử hành tại miếu. Ngoài ra, Trẫm sẽ phong cho vị thần này tước hiệu: “Linh Uy viễn Chấn hỏa Bác chi Thần”. Các quan phải tuân theo lời dụ này. Miếu sẽ được xây trên địa vực làng Phú Xuân, hàng năm, vào ngày mùng một tháng 9 âm lịch, các quan phải dâng một lễ tế ở miếu này cũng như ở miếu Hỏa Thần, một quan Quản vệ của súng Đại bác và Hỏa thần sẽ đứng ra chủ tế trong lễ này; 9 người dân làng Phú Xuân được giao nhiệm vụ giữ miếu“.
Vào năm 1836, vua Minh Mạng đã quy định việc thờ cúng tám khẩu đại bác đã được chở vào Sài Gòn vào những năm trước, trong dịp nổi loạn của Lê Văn Khôi, sau đó súng lại được đưa về Huế sau khi khôi phục được thành Gia Định (Sài Gòn) và quân nahf vua chiến thắng. Tám khẩu thần công này đã nhận được sắc phong tước để thờ cúng. Đó là “Thần Vũ Phá địch Thượng tướng quân Bác vị Oai linh chi Thần”. Tước này được khắc trên biển đồng của một khẩu súng, Một ngôi đền được dựng lên để thờ tám khẩu đại bác thần công này; mỗi năm trong đền đó, vị quản vệ Thần công và Đại bác sẽ lo liệu sửa lễ dâng cúng tám vị thần công này. Một chỉ dụ khác đã quy định chỉ rõ việc thờ cúng các khẩu thần công này, trước khi xây dựng ngôi đền, trong chính xưởng để súng; tại đây một ông Quản vệ của Thần công và Đại bác cũng đã phải dâng biện một lễ cúng vào ngày mồng 2 tháng 9 âm lịch mỗi năm. Người ta thấy rằng vua Minh Mạng đã nôn nóng để tỏ sự biết ơn của ngài đối với những khẩu đại thần công đã đem lại chiến thắng cho ngài đối với cuộc nổi loạn đáng sợ đã đe dọa ngôi báu của ngài.
Vào năm 1844, vua Thiệu Trị cho đặt vào miếu Hỏa Bác Thần, một số thần vị của vài ba khẩu súng cũng được nâng cao giá trị thiêng liêng của chúng lên. Một chỉ dụ lạ lùng đã dành để nói về việc này: chỉ dụ ấy đã cho chúng ta biết lịch sử của các khẩu súng đó và đồng thời, nó cũng cho chúng ta biết về những tình cảm của nhà vua.
Ngày xưa, người ta rất thánh phục cây cung và những mũi tên. Ngày nay người ta đã sáng chế ra súng thần công, chúng đã bỏ xa sau lưng chúng tất cả những vũ khí về quân sự và chúng nắm hết mọi giá trị về chiến tranh.
Đấng cao hoàng Gia Long của Trẫm, được trời phú cho tất cả mọi phẩm chất, về quân sự cũng như về nhân sự, đã chỉ hay những đạo quân của ngài với sự thành công trọn vẹn và đã bình định được toàn quốc gia. Trong những trận đánh của ngài, ngài đã sử dụng một khẩu súng có giá rất đắt, khẩu súng có tiếng nổ uy nghiêm của sấm sét, và nó làm cho khắp nơi đều run sợ. Nhờ vào thứ vũ khí đó, ngài đã phục hưng được triều Nguyễn và nhất thống toàn quốc dưới vương quyền của ngàu, và nhờ nỗ lực của ngài, ngài đã mở rộng biên cương của quốc gia. Thứ vũ khí này, mạnh hơn tất cả các thứ vũ khí mà người ta đã từng thấy, nó đã vượt qua cả Kiếm Hán và Cung Đường.
Dưới triều Minh Mạng, phụng du nhà vua, khẩu súng này đã nhận tước phong là “Võ Công Lương khí Bửu thương”.
Hoàng đế Minh Mạng, phụ hoàng của Trẫm, mà đức độ của ngài đã thấm nhuần toàn vương quốc và võ công của ngài đã vang dội vượt qua cả biên giới, vào mùa xuân, ngài đã đi săn để giải lao. Vào ngày hôm đó, trong vùng mà người ta đã bao vây, có một con cọp rất lớn, nhảy từ núi ra, bắt người để ăn thịt, mà không có ai dám đuổi nó. Phụ hoàng của Trẫm, đầy dũng khí uy nghi đáng sợ, đã chụp ngay khẩu súng quý mà ngàu thường dùng, kê súng lên vai và bắn chết ngay con cọp hung dữ, và như vậy, ngài đã giải thoát cho những người dân luôn luôn lo sợ quanh vùng. Khẩu súng ấy được phụ hoàng Trẫm ban cho tên là “Sát Hổ thương” (Về khẩu súng này, xin xem bài: Lăng Gia Long (L. Cadière) trong BAVH, 1923). Sau đó, ngài luôn luôn dùng khẩu súng này trong những cuộc săn bắn mà ngài tổ chức để săn các động vật phá hoại mùa màng.
Khi Trẫm còn nhỏ, Trẫm thường theo hầu phụ hoàng; ngài đã dạy cho Trẫm những quy tắc lễ giáo, Trẫm đã luyện tập võ nghệ. Phụ hoàng Trẫm đã ban cho Trẫm khẩu súng quý mà ngài thường sử dụng nó, ngài dạy Trẫm tập bắn cho trúng đích; nhờ hồng ân đấng cao xanh, Trẫm đã ngắm bắn trúng đích, và khẩu súng được phong tên là “Toản Võ thương”.
“Ngày xưa, vào thời nhà Hán, người ta đã xây dựng một ngôi miếu, trong đó thiết lập sự thờ tự cây kiếm; vào thời đại nhà Đường, người ta đặt vào xưởng quân giới một cây cung lớn và một cây tên dài, mà người ta thường tôn thờ cung tên ấy khi có lễ tế Trời, tế Đất; người ta đặt lễ vật trước những vũ khí ấy, để tỏ lòng cầu nguyện mà người ta muốn cầu cho sức mạnh chiến trận của chúng. Hiện nay, người ta dùng súng đại vác và súng thường để đánh quân địch với sức mạnh hơn nhiều, những thứ vũ khí ấy bẩm sinh một sức mạnh siêu nhiên, vậy nên Trẫm hạ chỉ dụ rằng khẩu “Võ Công Lương Khí Bửu Thương”, sẽ được gọi “Thần Võ Phá Địch Đại Tướng Quân Oai Linh chi Thần”. Khẩu súng tay “Sát Hổ thương”, bên cạnh tên gọi cũ, được phong tước “Thần Võ Oai Linh Đại Tướng quân…” Khẩu súng “Toản Võ Thương”, ngoài tên thường gọi, cũng sẽ được gọi “Thần Võ Hộ Quốc Oai Linh, Đại Tướng quân…“.
Các đạo sắc phong được giao cho súng, các bài vị để dành cho súng để thờ trong miếu “Hỏa Bác Thần”, có mục đích nhắc người ta nhớ lại giá trị của các vũ khí bằng cách thờ tự chúng liên tục, và trong các lễ cúng hiến thường kỳ, nhắc người ta nhớ lại các vũ khí đó mà quân nổi loạn bị dẹp tắt và dân được hưởng hòa bình.
Trong các gian ở hai bên miếu thờ, người ta sẽ đặt hai ban thờ thứ cấp, trên bàn thờ bên trái, sẽ thờ vị thần “Võ Công…” và thần súng “Sát Hổ…”; trên bàn thờ bên phải người ta dành để thờ thần súng “Toản Võ Thương”. Ở mỗi bàn thờ, cũng như ở mỗi bàn thờ tại Hỏa Bác thần miếu, mỗi năm, người ta dâng cúng một con heo luộc, một mâm xôi, và ba mâm quả. Vị Quản Vệ Thần Công và Đại Bác sẽ đứng chủ lễ lễ tế này”.
Ngày nay, sau việc cải dụng miếu Hỏa Bác Thần, việc thờ tụng tất cả các vị thần có tiếng nổ như sấm vang và có sức phá hoại, nhưng lại là những vị thần bảo hộ sức mạnh của quốc gia ấy, được đem thờ, theo như người ta nói với tôi, trong miếu Hội Đồng, xây trên địa vực làng Triều Sơn.
Theo tín ngưỡng dân gian An-nam, tất cả mọi vật đem lại sự phụng sự con người đều được xem là có bẩm sinh đức hạnh đặc thù cần phải bồi đắp, bởi vì đức hạnh này có thể hiển lộ ra, khi con người có vận may hạnh phúc; hoặc nó có thể tạo nên sai lầm, và lúc đó chính là sự thiệt hại cho con người. Hơn nữa, những vật này đều được xem như nằm dưới sự che chở của một vị thần, vị thần này sẽ sử dụng chúng theo ý muốn để đem lại phúc hoặc họa cho con người. Cũng chính một số trong các vật này, khi chúng mang tính cách dị thường, hoặc bởi những công việc lặp đi lặp lại mà chúng đã đem đến cho con người, hoặc bởi những tai họa mà chúng gây ra cho con người, thì đều được xem đó là chính những vị thần và phải tôn thờ như vậy. Ở đây không phải là nơi để nói rộng về các lý thuyết này, cũng không phải là nơi để dẫn ra những ví dụ, vì chúng nhiều vô số. Mặt khác dân gian còn tôn thờ nhiều yếu tố, trong số đó thì “Bà Hỏa” giữ một vai trò quan trọng nhất.
Chúng ta thấy rằng sự thờ cúng chính thức của nhà nước thuận theo những tín ngưỡng thờ cúng của dân gian. Thần Súng, mà vua Minh Mạng đã cho dựng miếu thờ, và theo những quy định đã ghi thành văn bản, chính quyền địa phương phải dâng vật cúng nhiều lần trong năm cho thần súng thờ trong miếu đó, đều phù hợp tương ứng với “Bà Hỏa” mà dân gian tôn thờ. Mặt khác, các khẩu đại bác vốn có một hỏa lực mạnh, và chúng đã đảm trách những công việc không gì sánh nổi cho vương quốc: bởi vậy , chúng được đặt dưới sự bảo hộ của một vị thần, vị thần này đã ban cho chúng sức mạnh mà chúng hiện có, và vị thần này đã đặt sức mạnh này vào việc phụng sự Quốc GIa. Vậy phải đền đáp những ân huệ của vị thần này bằng sự thờ phụng chính thức. Cũng vì vậy mà một vị quan có phẩm trật cao coi về Thần Công và Đại Bác tức là quan Quản Vệ, được giao trách nhiệm lo biện lễ thờ cúng vị thần ấy.
Ngoài những khẩu đại bác và những súng cầm tay được thần hóa mà chúng ta vừa nói đến, thì một số khác cũng đã nhận được những vinh dự như vậy. Mọi người đều biết những khẩu Đại Thần Công, có 9 khẩu tất cả, được đặt trước cửa Ngọ Môn. Đó là những “Vị chỉ huy tối cao của quân đội hay là những vị Đại Tướng Quân, mà tính cách Uy Nghi của các vị Đại Tướng Quân ấy cũng ngang với với vẻ Uy Nghi của các vị Thần, không có gì sánh nổi” (BAVH 1914). Linh mục Kofffler vào năm 1750, cũng đã thấy được những khẩu thần công tương tự đặt ở cổng vào chính dinh của Võ Vương, một vị chúa Nguyễn ở Huế; và ông Dampier, một khách du lịch người Anh đã sống ở Thăng Long (Hà Nội) vào cuối thế kỷ thứ XVII, cũng đã thấy được một khẩu đại thần công như thế và cũng giữ nhiệm vụ của vị thần siêu phàm bảo hộ cho vương quốc, đặt trước cung ohur Trịnh Căn (BAVH, 1915). Những khẩu đại thần công hiện nay ở Hoàng Cung, cũng như những khẩu đại thần công ngày xưa, hẳn đã mang tính cách tôn giáo. Chúng đã mang tính chất này ở nơi chiều kích của chúng, tính chất này tưởng chừng là có một sức mạnh rất lớn. Nhưng, những súng cầm tay đơn giản cũng đã có sức mạnh của một vật siêu phàm, như vua Thiệu Trị đã nói về điều này trong chỉ dụ của ngài. Bởi vậy, người ta phải thờ tự tôn sùng các vị thần công ấy, hay đúng hơn là vị thần đã trao cho chúng sức mạnh của chúng. Tôi nói cái gì nhỉ? Những ống đồng tầm thường mà buổi chiều, khi đêm xuống, buổi sáng, vào lúc bình minh, người ta cho nổ lệnh đóng mở các cửa Kinh Thành; và, vào buổi trưa, cho nổ để chỉ nửa ngày thì đều được những người lính có phận sự giữ để cho nổ lệnh ấy gọi là “Ông Linh”, và họ cũng tổ chức việc cúng bái thờ phụng chúng, thật là thô lỗ và ấu trĩ, hay là cúng bái ông thần đã cho chúng tính năng hiệu lực đó (**).

*
**

Không phải là không có ý định mà người ta đã đặt ở vùng này những ngôi miếu thờ Hỏa Thần và thờ Hỏa Bác thần. Cẩ hai ngôi miếu ấy có quan hệ chặt chẽ với nhau với một toàn bộ những kỷ niệm có liên quan đến pháo binh.
Chúng ta thấy ngay rằng, những xưởng đúc súng đại bác đều đặt ở một hoặc hai cây số trên đỉnh đồi vùng chúng ta đang đứng; và, không xa các xưởng đúc đại bác là các kho thuốc súng. Chúng taooi đã nói đến chuyến đò ngang, gần nhà Ga, làm phương tiện nối vờ phải của con sông với bờ bên trái, có tên là đò Trường Súng, có nghĩa là “trường bắn súng đại bác”. Chính là chuyến đò ngang này đã đưa những toán lính ở Vệ Hỏa Pháo sang sông để đi lên trường bắn. Chính Trường Súng lại nằm cạnh miều Hỏa Bác Thần, ngày nay trở thành đình chung của phường Đệ Cửu. Thực vậy, trước đền này, trên bờ những đám ruộng như tấm thảm xanh của vùng thung lũng nhỏ, có một cái giếng cổ, tất cả dân làng lân cận đều ăn uống nhờ nước giếng này; bởi vậy, giếng phải có từ thời rất xa xưa. Giếng có cái tên gọi là giếng Trường Bia. Giếng này nằm ở cực hạ của miitj miều trũng nhỏ, vùng trũng này dài khoảng một trăm mét, rộng từ hai mươi đến ba mươi mét, trũng này tách ngọn đồi nhỏ trên đó người ta xây miếu Hỏa Bác Thần với một mô đất khác trên đó, chính giữa các vườn tộng, người ta xây lên ngôi chùa Huệ Lâm thuộc Phật giáo theo lời những người dân ở vùng đó thì chính trong vùng trũng này người ta đã thực hiện những lần tập bắn. Hẳn đây là sân tập bắn súng cầm tay, vì, đối với việc tập bắn đại bác, thì phải tập ở một nơi khác như chúng ta sẽ đến xem sân bắn đó, ở phía Tây miếu thờ Đại Bác thần. Thật là thú vị khi đến viếng chùa Huệ Lâm. Sát bên chùa , có một cái giếng cổ, hiện nay đã cạn, với hang cột bằng nề đỡ cái tời (treuil) gang ngang, ngày xưa dùng kéo gàu múc nước. Hơi xa một ít, người ta cũng thấy một cái mộ nhỉ, được trang trí một mô típ mỹ miều của ngành điêu khắc, tháp mộ nhỏ này trà táng xương cốt của nhà sư gọi là “Thiền sư, Hòa thượng Tịnh Công, được vua ân ban thụy hiệu này“.

*
**

Về phía Tây của ngôi miếu Bác Hỏa Thần, những ngọn đồi nhỏ tiếp nhau hạ thấp dần sườn đồi xuống một cách nhẹ nhàng và chìm sơn mạch xuống cánh đồng bằng toàn ruộng. Tại cánh đồng đó có hai mô đất lớn, gọi theo tiếng nước Nam là “Hòn Mô” tức là “những mô đất để làm bia bắn”, nhắc lại dấu tích trường tập bắn súng của Pháo binh. Cả hai mô đất trường bắn đều nằm trên địa vực làng DươnG Xuân Hạ. Mô thứ nhất nằm gần thôn Xuân Giang, mà chúng ta sẽ đến xem tức khắc, vì vấn đề là cung vui chơi của Võ Vương gần đấy; mô này đo được 32 bộ chiều dài, 20 bộ chiều rộng và gần 2m chiều cao. Mô thứ hai, không xa miếu Thành Hoàng, có chiều kích gần bằng mô trên, nhưng nó lại cao hơn nhiều: dài 35 nộ, rộng 15 bộ và cao gần đến 5. Cả hai gò đất ấy, ngày nay đều giảm thấp xuống và đã bị cây cỏ hoang dại xâ, chiếm; nhưng những chiều kích của chúng còn lưu dấu có thể cho ta đoán được tầm quan trọng ngày xưa và công dụng của chúng vậy.
Người ta nói đến việc xây dựng “Một sân bắn cho súng đại bác” vào năm 1747, trong tháng 9 âm lịch, kéo dài từ mồng 4 tháng October đến mồng 3 Nomvembre. Chính dưới triều Võ Vương, vị chúa đã tổ điểm nhiều cho Huế, và chúng ta sẽ gặp tức khắc một kỷ niệm mới. Người ta không nói rõ nơi mà trường bắn này đã được lập, nhưng một cách chắc chắn là nơi mà chúng tôi hiện đứng đây.
Thực vậy, tôi không biết chỗ nào khác, trong các vùng quanh Huế, có mang cái tên Trường Súng này. Người ta đã tập bắn súng đại bác ở Thanh Phước, những bục bắn ở đây được dành cho các khẩu súng của Thủy quân; bục bắn này được sử dụng vào đầu thế kỷ thứ XIX, nhưng Biên niên triều Nguyễn lại nói rõ là việc xây dựng từ 1642. Cũng vậy, bục bắn mà Dutreuil de Rhins đã thấy ở Thuận An, vào năm 1876, dùng để tập bắn súng tay. Hơn nữa, thật là bình thường khi cho rằng Trường Súng nằm cạnh vùng mà tại đó người ta đúc hỏa pháo; thế mà, người ta đã biết điều này, từ hơn một thế kỷ, xưởng đúc đại bác lại nằm khoảng chưa đầy một cây số phía bên trên vùng mà chúng tôi đang đứng. Một lý luận mới lại xuất hiện từ sự hiện hữu cung điện mùa hạ của Vĩ Vương, ở cách trường bắn vài trăm mét về bên trên. Chúng ta đang ở vào năm 1747. Thế mà, từ khi lên ngôi chúa từ năm 1738, Võ Vương đã không ngừng xây dựng cung điện; vào năm 1744, tất cả đều hoàn thành; nói một cách đúng đắn, thì cách một khoảng ngắn nằm phía trên sân bắn, đã có cung Trường Lạc dùng làm nơi nghỉ mát cho Võ Vương. Vị chúa này đã thường tổ chức những cuộc nghỉ ngơi tại đây. Hiển nhiên là Võ Vương đã xây dựng trường bắn đại bác không xa cung điện của ngài, để kiểm soát những bài tập luyện đội quân hỏa pháo của ngài. Vậy, một cách chắc chắn là trường bắn mà chúng tôi đang nói đây thì sự thiết lập nên nó đã được nói đến trong các tập Biên Niên Sử năm 1747.
Trường bắn này không phải là vô dụng. Pierre Poive, thương gia người Pháp đã đến Huế vào thời này, đã cung cấp cho chúng ta chứng cứ. “Ngày 10 [Novembre 1749]. Tôi đã đến viếng một ông quan lớn hay còn gọi là quan Hieou tlaon(***). Ông quan này có nhiệm vụ tập luyện bắn súng đại bác, ông đã gởi cho tôi biết những lời biện giải của ông mà ông không có khả năng nhận cho tôi, và ông đã cầu xin tôi hãy lui tới nhà ông ba hoặc bốn lần trong tháng này [12 hoặc 13 Nomvembre]”.
Tôi tin rằng những bục bắn này cũng đã được dùng để làm bãi tập cho những Vệ Hỏa Pháp và vệ lính bộ, trong tiến trình của thế kỷ thứ XX. Nhưng tôi không thể dựa ý trên một tư liệu nào cả….
(Lược bỏ đoạn cuối).

* Lịch Đại Đế Vương Miếu – Con đường đi đến miếu này khá khó tìm. Người ta đi theo con đường lớn Nam Giao, và ngay sau khi đi ngang qua đường sắt ngã vào Đà Nẵng, thì quay về phía phải, đi dọc theo cổng chắn của nhà ga, và leo lên cái dốc dẫn đến cách núi đá thẳng đứng thống ngự cả vùng nhà ga; một con đường đất nhỉ, đi khá khó khăn, dẫn đến miếu Lê Thánh Tôn và đến miếu Lịch Đại Đế Vương – hoặc là, sau khi đi qua kênh Phủ Cam ở cầu Ga, đi theo đường Trường Súng, vượt qua con đường ga ngập nước, và sau độ một trăm mét đi theo con đường chạy về phía trái, xuyên qua đường đi Quảng Trị, và các lối của xưởng sửa chữa, leo lên cái dốc dần đến đỉnh vách núi đá thẳng đứng thống ngự vùng nhà Ga, và tiếp tục đi đến miếu Lịch Đại. – Người nước Nam thường đọc thành Lịch Đợi hay Lịch Đại.
** Cũng là một điều thú vị để nói rằng, hoặc theo quan điểm lịch sử, hoặc theo quan điểm niềm tin của An-nam, về miếu thờ thần Mưa được xây dựng gần đền thờ Thần Súng. Hai miếu thờ này đã dự phần vào cùng một vòng thờ phụng, cũng như sự thờ phụng các vị Thần khác nhau: thần nước, thần bốn mùa, thần gió; các miếu thờ các vị thần này đều được xây dựng trong vùng Thuận An, ở cửa con sông Hương, và sự thờ phụng các vị thần núi.
*** Ông Hữu Trọng, danh hiệu thường để gọi một trong bốn vị quan lớn của vương quốc, mà danh hiệu hành chánh của ông là “Nội Hữu”.

IMG_1913

IMG_1915

IMG_1918

Đất Thái Bình đã có lịch sử 3000 – 2000 năm

Bài viết trích trong sách Thái Bình với sự nghiệp dựng nước Vạn Xuân của hai tác giả Phạm Minh Đức và Bùi Duy Lan (2008).
Năm 1990 – 1991 trong lúc một số tác giả viết bài cho rằng thế kỷ thứ VI chưa có Thái Bình vì vậy Thái Bình không thể là quê hương, là đất dấy nghĩa của Lý Bí… thì giáo sư Vũ Tự Lập và những cộng sự của ông đã đi điền dã khắp vùng châu thổ sông Hồng, đặc biệt là Thái Bình. Sau những chuyến đi thực tế một hội thảo khoa học đã được tổ chức và cuối cùng Nhà xuất bản Khoa học xã hội đã ra mắt bạn đọc sách “Văn hóa và cư dân vùng đồng bằng sông Hồng“. Sách đưa ra bản đồ lịch sử phát triển châu thổ sông Hồng, theo đó thì “Đất đai thuộc huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ và phầ lớn đất đai thộc huyện Tiên Hưng, Thư Trì, Thụy Anh có lịch sử từ 3000 – 2000 năm. Hầu hết phần đất các huyện Vũ Tiên, Đông Quan, Thụy Anh có lịch sử 2000 -1000 năm. Vùng Nam Kiến Xương, Tiền hải và một phần Thái Ninh cũ có lịch sử từ 1000 năm trở lại đây theo xu hướng muộn dần.
Không chỉ ngày nay các nhà nghiên cứu mới đưa ra tuổi của đất Thái Bình – Long Hưng mà từ xa xưa một số sách của người Hán cũng đã viết về vùng đất này…
(Lược bỏ một đoạn dẫn các thư tịch về đất Thái Bình từ xưa)
Ngoài nguồn tư liệu thư tịch đã nêu Thái Bình còn lưu nhiều truyền thuyết về thời Hùng Vương, thời An Dương Vương. Đặc biệt có truyền thuyết về Triệu Đà, về Đường Thâm (nay là Đồng Sâm) lấy vợ, đền Đồng Sâm và nhiều nơi trong vùng đã lập đền thờ Triệu Đà và Trình Hoàng hậu.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Chương (Cục Bảo tồn bảo tàng, nay là Cục Di sản văn hóa) trong bài “Về tình hình phân bổ các di tích lịch sử thời các vua Hùng” Thái Bình có 244 di tích thờ các vị thần thời Hùng Vương đến thời Triệu Đà. Trong khi đó ở hai tỉnh Vĩnh Phúc , Phú Thọ (nội Văn Lang) chỉ còn được 432 di tích. Cả tỉnh Hà Tây chỉ có 164 di tích. Thái Bình là tỉnh có mật độ thờ các công thần thời Hùng Vương cao nhất cả nước”.
Việc thờ các thần thời Hùng Vương, có người cho rằng dân từ các miền đất nước đến Thái Bình hội cư đã đem theo cả các vị thần từ quê gốc về Thái Bình? Qua dẫn chứng đã nêu và qua khảo sát thực tế chúng tôi thấy những nơi thờ các công thần thời Hùng đều là những miền đất cổ của Thái Bình, những làng có tên Nôm và hầu hết ở các huyện Hưng Hà, Quỳnh Phụ, Vũ Thư, Đông Hưng, Kiến Xương. Một phần đất Kiến Xương cắt về Tiền Hải, một phần đất của Đông Quan xưa cắt về Thái Thụy. Ở những vùng dân cư khai phá thời Trần, Lê không có các công thần thời Hùng vương. Thời Hùng Vương nước ta có 15 bộ, đất Thái Bình thời ấy thuộc bộ Lục Hải.
Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng vào các năm 40-43 diễn ra ở Thái Bình rất sôi động. Nhân dân Thái Bình đã hưởng ứng cuộc khởi nghĩa với tinh thần quyết tử cho tổ quốc quyết sinh.
Câu nói bất tử của nữ tướng Cẩm Hoa ở làng Lộ Xá (nay là thôn An Liêm xã Thăng Long huyện Đông Hưng) còn vang vọng đến ngày nay: “Ta sinh ra vì việc nước, chết vì việc nước, chết cũng như sống vậy” với ý chí ấy nhân dân vùng Hương Đường – Vũ Thư đã “đốt tre tươi mài thành mũi giáo, đập mảnh vại làm gươm” để giết giặc. Cả nhà họ Triệu đã hy sinh vì nước. Tấm gương trung liệt ấy đến kẻ thù phải thán phục. Hơn một trăm năm sau Sĩ Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu đến thăm đền phải ghi tặng “Nhất gia trung liệt hiển Giao Châu” (Một nhà hy sinh oanh liệt nổi tiếng ở Giao Châu). Nhân dân vùng sông nước ven sông cũng vót cọc làm giáo, vác bê chèo làm gươm để đánh giặc. Các tướng súy đã đánh giặc là phải thắng, không thắng giặc thì cùng chết với giặc. Bà Lê Thị Cố ở làng Hoàng Quan, Rồi Công (xã Đông Phương, An Tràng) nói: “Bất Cam sinh mệnh tướng quần đầu” và đánh giặc đến lúc trên người không còn mảnh vải che thân (vì vậy tục lệ của làng là không rước thánh ra khỏi đền thờ trong ngày hội).
Tổng kết cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng trên đất Thái Bình ngày nay có gần 30 tướng súy tham gia. Trong đó nhiều người đã đưa nghĩa sĩ về Phong Châu cùng Bà Trưng tiến về giải phóng Luy Lâu. Mã Viện trở lại xâm lược, họ lại sát cánh cùng Bà Trưng chống giặc. Bà Trưng hy sinh, nhiều người trở lại quê hương, lấy sông nước để thủ hiểm, tiếp tục chống giặc. Những nơi thờ tướng lĩnh của Hai Bà Trưng ngày nay phần lớn ở bên sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, ven các sông nội đồng. Không có dân cư từ thời Hùng Vương, không được sống trên mảnh đất đầy sóng gió này làm sao tôi luyện được ý chí quật cường chống giặc ngoại xâm như vậy? Đất đai Thái Bình và truyền thống của người Thái Bình được tôi luyện trong cuộc sống hàng ngày, trong cuộc đấu tranh chống thiên tai, chống giặc ngoại xâm từ thời Hùng Vương là những yếu tố thuận lợi cho cuộc khởi nghĩa của Lý Bí trên đất Thái Bình ở thế kỷ thứ VI. IMG_6632 (2)

Nếu còn hồ nghi, trăn trở với sử liệu thần phả, ta có thể theo dấu vết di tích khảo cổ để giám định niên đại tuổi của đất. Từ thập kỷ 60 của thế kỷ XX ở thôn Ô Cách, xã Quỳnh Xá, huyện Quỳnh Phụ đã sưu tầm được gần 100 mũi tên đồng, lục lạc, giáo đồng. Tháng 5 năm 2000 tại làng Công xã Minh Tân nhân dân đã tìm thấy 2 trống đồng đều có cùng niên đại với trống đồng Đông Sơn, cách ngày nay 2500 năm. Hiện vật đồng Đông Sơn còn tìm thấy ở làng Mẽ, làng Buộm thị trấn Hưng Nhân (Hưng Hà), cửa sông Diêm Hộ (Thái Thụy).
Ngoài các hiện vật đồng, những ngôi mộ cổ đầu Công nguyên cũng là chứng tích lịch sử. Ngay tại làng lưu Đồn xã Thụy Hồng huyện Thái Thụy, một xã vùng ven biển, năm 1974 trong khi đào mưng máng nhân dân đã tình cờ đào được một số ngôi mộ cổ hình thuyền độc mộc có kích thước 2,2×1,4×0,4m. Những ngôi mộ cổ này có cùng niên đại với mộ cổ Thủy Nguyên cách ngày nay ngót 2000 năm.
Ngoài các ngôi mộ cổ của người Việt, dấu vết quý tộc Hán từ trước thềm Công nguyên còn thấy ở vùng Hưng Hà, Quỳnh Phụ, bắc Vũ Thư… Tại các vùng đất trên đã phát hiện gần 100 khu địa táng, xây cuốn vòm, mộ cao tới 3-4 mét. Vùng hạ lưu, ít nhất đã tìm thấy được khu mộ Hán trước thế kỷ III tại Phú Xuân (thành phố Thái Bình), Vân Động (xã Vũ Lạc huyện Kiến Xương). Lui xuống là Động Trung, trong khi làm đất ngoài đồng, nhân dân đã đào được tiểu đồng có đề chữ “Mã Viện chi thiếp” (vợ bé của Mã Viện). Con cháu họ Mã (gia đình Mã Soang) nhận là họ nhà mình xin được trông nom. Ngôi mộ ấy còn mãi đến năm hợp tác xã san ghềnh lấp trũng mới bị mất (1960).
– Mộ cổ ở làng Mẽ (Mỹ Xá) thị trấn Hưng Nhân huyện Hưng Hà: cửa mộ dày 40cm rộng 3m, cao 1,65m. Phần chính của mộ dài 4m, rộng 3m, cao 1m65m kích thước (40x20x5cm) (theo cụ Nguyễn Văn bàn năm nay đã 90 tuổi (2007) thì sau ngày Cách mạng tháng 8-1945 khi ấy cụ làm cán bộ thông tin ở xã đã từng đi xuống hầm mộ), tại đây người ta đã tìm thấy môt con rồng bằng đất nung, được chắp nối từng khúc dài 1,2m, có hai con thú bằng kim loại, có cán gươm tượng người bằng đồng.
– Mộ cổ ở làng Phú Lạc xã Phú Xuân (cách thành phố Thái Bình 2km) dân gian thường gọi là mả Ngô. Mộ đã bị đào bới từ lâu, hiện vật còn thu được 5 bình gốm các loại, 1 bát gốm, 1 dao găm đồng… Những hiện vật cổ ở đây cho phép các nhà khảo cổ kết luận: mộ cổ Phú Xuân có niên đại vào thế kỷ III sau Công nguyên.
Từ những phát hiện trên, năm 1999 Bảo tàng Thái Bình đã xuất bản sách “Di tích khảo cổ học ở Thái Bình“. Tác giả Nguyễn Ngọc Phát và Vũ Đức Thơm viết: “Loại mộ này thường là các gò đống lớn, khối lượng ấp trúc lên tới hàng ngàn m3. Hầu hết các mộ này có kết cấu song táng hoặc đơn táng. Huyệt mộ dài 5-6m, rộng từ 1,5-3m. Móng thân vòm mộ được sử dụng loại gạch lưỡi búa, còn gọi là gạch múi bưởi, dài 40cm, rộng 20-25cm… Gạch lát mộ có loại nặng 70kg, có kích thước 53x53x10cm. Toàn bộ gạch được ấp trúc bằng đất sét hoặc đất thịt pha sét. Trên mộ người sau thường dựng miếu, trồng cây đa, cây si… Những ngôi miếu, những cây đa, cây si này có vài trăm năm tuổi”…

Mối quan hệ giữa văn hóa xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc với văn hóa tiền sử Bắc Việt Nam

Bài của PGS. TS. Trình Năng Chung, Viện Khảo cổ học. Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc số 2 (81) -2008

Đã từ lâu, dựa vào nhiều nguồn tài liệu khác nhau, các nhà khoa học nhân văn coi khu vực Nam Trung Quốc (Hoa Nam) là một bộ phận khăng khít của Đông Nam Á thời tiền sử. Dưới góc độ cảnh quan tự nhiên, vùng Bắc Việt Nam và Nam Trung Quốc cùng chung một hệ thống sinh thái. Đặc điểm này góp phần không nhỏ tạo nên những đặc trưng văn hoá gần gũi giữa hai vùng trong suốt thời tiền sử và sơ sử.
Bài viết này đề cập đến những chiếc xẻng đá lớn – một loại hình di vật văn hoá khảo cổ mà sự hiện diện của chúng là nguồn tư liệu quý giúp ta hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa chủ nhân văn hoá xẻng đá lớn Quảng Tây, Trung Quốc và cư dân văn hoá tiền sử Bắc Việt Nam.

1. Vào giai đoạn hậu kỳ đá mới, ở vùng phía nam tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc hình thành một khu vực phân bố hàng loạt di tích khảo cổ mà đặc trưng văn hoá nổi bật là những chiếc xẻng đá lớn. Các nhà khảo cổ học Trung Quốc định danh cho chúng là những di chỉ xẻng đá lớn hoặc “văn hoá xẻng đá lớn”(1).
Đến nay, đã có hơn một trăm di tích tìm thấy xẻng đá lớn ở Quảng Tây. Ngoài Quảng Tây, giới khảo cổ học Trung Quốc mới chỉ tìm thấy loại di vật ở một số địa điểm thuộc tỉnh Quảng Đông và tỉnh đảo Hải Nam(2). Căn cứ vào mật độ phân bố của di tích cũng như di vật, người ta coi vùng Quế Nam (gần biên giới Việt –Trung) là nơi phát sinh, là địa bàn gốc của nền văn hoá xẻng đá này. Từ đây loại công cụ đặc trưng này được phát tán đi các nơi. Càng xa trung tâm, số lượng xẻng đá phát hiện càng ít.
Hầu hết các di chỉ xẻng đá lớn có đặc điểm phân bố trên sườn đồi gò thấp gần sông, ao hồ. Tầng văn hoá của các di chỉ này khá thuần nhất, dày từ 30cm – 60 cm. Di vật hầu hết là đồ đá. Ngoài loại xẻng đá chiếm tỷ lệ lớn, người ta còn phát hiện một ít công cụ như: rìu, bôn, cuốc, đá xuyên lỗ, bàn mài, v.v… Đồ gốm rất hiếm. Loại xẻng đá chủ yếu được chế tác từ loại đá có kết cấu hạt mịn, độ cứng thấp. Di vật thường có kích thước lớn với chiều dài trung bình từ 20cm – 30 cm, rộng từ 10cm – 20 cm, thân mỏng từ 1 cm – 3cm. Đây là những chế phẩm của cư dân có trình độ gia công chế tác đá cao.
Hiện nay, giữa các nhà nghiên cứu Trung Quốc có những ý kiến khác nhau trong việc phân chia loại hình công cụ xẻng. Có người chia làm 2 loại lớn, có người chia làm 3 loại lớn, có người chia làm 4 loại với nhiều tiểu loại hình khác nhau. Trong bài nghiên cứu về văn hoá xẻng đá lớn ở Quảng Tây trước đây, chúng tôi nhận thấy xu hướng hiện nay phần lớn các học giả tán đồng với ý kiến chia làm 3 loại lớn như sau(3):
– Loại I: Hai vai vuông góc hoặc hơi cong xuôi so với chuôi công cụ. Ở 2 cạnh bên là đường thẳng song song hoặc không song song thu nhỏ dần đến đầu lưỡi, lưỡi cong nhẹ, cân xứng (hình vẽ 1).
– Loại II: Hai vai vuông góc hoặc hơi cong xuôi so với chuôi công cụ. Phần vai chưa có mấu và khấc. Phần dưới vai dần dần cong lõm vào khiến cho góc vai thành một góc nhọn, đến giữa thì dần dần mở rộng ra, rồi thu vào thành rìa lưỡi cong (hình vẽ 2).
– Loại III: Hai vai cong xuôi, hoặc cong lõm. Phần đầu vai có mấu và khấc. Thân thắt eo và nở ra ở phần lưỡi giống như loại II (hình vẽ 3).
Đối với công dụng của loại di vật này cũng có nhiều ý kiến khác nhau. Có tác giả cho rằng hầu hết xẻng đá là công cụ đích thực dùng để canh tác nông nghiệp. Có ý kiến cho rằng đại đa số xẻng đá không phải là công cụ thực dụng mà chỉ là khí vật liên quan đến lễ nghi nông nghiệp. Xẻng đá có kích thước càng lớn là tượng trưng cho vụ mùa bội thu(4). Có tác giả căn cứ vào hiện trạng các di vật xẻng được chôn dưới đất theo hình gần tròn để cho rằng xẻng đá là khí vật dùng trong nghi lễ tế Thần Trời và Thần Đất(5). Gần đây có tác giả cho rằng xẻng đá là vật tổ – biểu tượng sinh thực khí của đàn ông(6).
Ở địa điểm Đại Long Đàm huyện Long An, hoặc Trung Đông huyện Phù Tuy, các nhà khảo cổ Quảng Tây thu được những bằng chứng chắc chắn là những công xưởng chế tác xẻng đá. Điều này chứng tỏ đương thời đã có sự phân công lao động xã hội và những chiếc xẻng đá được dùng làm hàng hoá để trao đổi. Khi bàn về vấn đề tộc thuộc của chủ nhân văn hoá xẻng đá lớn, có tác giả cho rằng người Lạc Việt, mà hậu duệ trực tiếp là người Choang cổ Quảng Tây là chủ nhân sáng tạo ra nền văn hoá này(7).
Về niên đại, căn cứ vào một số niên đại C14 và các tài liệu liên quan, các nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng những di chỉ xẻng đá khu vực nam Trung Quốc chủ yếu thuộc di tồn văn hoá hậu kỳ đá mới có niên đại khoảng 5.000 năm cách nay và tồn tại dai dẳng đến giai đoạn Tây Hán (thế kỷ II sau CN ).

2. Cho đến nay, tài liệu khảo cổ học Việt Nam đã ghi nhận được 37 trường hợp tìm thấy loại di vật xẻng đá tìm thấy ở 7 tỉnh vùng núi phía Bắc và khu vực duyên hải đông bắc Việt Nam:
– Quảng Ninh (huyện Cẩm Phả, huyện Vân Đồn, huyện Đông Triều, thị xã Hòn Gai): 11 chiếc (ảnh 1, 4)
– Lạng Sơn (huyện Lộc Bình): 5 chiếc
– Tuyên Quang (huyện Nà Hang): 5 chiếc (ảnh 5)
– Cao Bằng (huyện Trà Lình, huyện Hoà An) : 6 chiếc (ảnh 6)
– Bắc Kạn (thị xã Bắc Kạn): 2 chiếc
– Bắc Giang (huyện Yên Thế, huyện Lạng Giang): 7 chiếc (ảnh 7, 8)
– Hải Phòng (đảo Cát Bà): 1 chiếc.
Điều đáng chú ý là địa bàn phát hiện những chiếc xẻng đá này nằm trong khu vực phân bố của văn hoá Hạ Long, văn hoá Mai Pha, văn hoá Hà Giang và cũng là địa bàn sinh tồn chủ yếu của các nhóm cư dân Tày – Nùng cổ. Tại khu vực duyên hải đông bắc hầu hết các địa điểm phát hiện xẻng đá đều gần đường bờ biển. Đây là một đặc điểm phân bố cần ghi nhận.
Không có xẻng đá nào được tìm thấy trong quá trình khảo sát hay khai quật khảo cổ học do các nhà chuyên môn tiến hành. Thường thì chúng được phát hiện ở độ sâu trên dưới 1m và không có các di vật khác kèm theo. Trường hợp chiếc xẻng đá ở hang Eo Bùa do những công nhân phát hiện được khi đào phân dơi trong hang cùng với những công cụ ghè đẽo, mài lưỡi kiểu Bắc Sơn muộn. Hầu hết các xẻng đá được tìm thấy trong tình trạng tầng vị không rõ ràng. Đáng chú ý là những chiếc xẻng ở Lộc Bình, Lạng Sơn được phát hiện cùng với một số tiền đồng (chưa rõ niên đại), 5 chiếc xẻng đá ở Nà Hang, Tuyên Quang tìm được trong tình trạng xếp cụm lại dưới độ sâu 60 cm, không có di vật khác kèm theo. Hiện tượng này cũng giống ở địa điểm Đại Long Đàm, Quảng Tây.
Những chiếc xẻng đá lớn ở Việt Nam về kiểu dáng, chất liệu đá, kích thước và kỹ thuật chế tác hoàn toàn giống với những xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc.
Đối chiếu 37 chiếc xẻng tìm thấy ở các địa phương nói trên với bảng phân loại xẻng đá vùng Quế Nam cho thấy chúng tương ứng với loại hình II và loại III. Có một số chiếc do gãy ở phần thân cho nên có thể xếp vào loại II hay III. Hiện chưa tìm thấy xẻng loại I.
Một trong những vấn đề thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu là nguồn gốc, xuất xứ của những chiếc xẻng đá này.
Cho đến nay, tại vùng ven biển Đông Bắc đã có gần 20 di tích tiền sử thuộc văn hoá Hạ Long và hoặc tiền Đông Sơn đã được khai quật hoặc đào thám sát, nhưng cũng không tìm thấy di vật xẻng đá nào, dù chỉ là mảnh vỡ. Trong thời gian gần đây, các nhà khảo cổ học đã phát hiện và khai quật 2 di chỉ xưởng thuộc văn hoá Hạ Long tại vùng này. Đó là di tích Bãi Bến ở đảo Cát Bà và di tích Ba Vũng ở đảo Cái Bàu. Ngoài số lượng vô cùng phong phú những mũi khoan và mũi nhọn có kích cỡ nhỏ ra, chúng ta cũng chưa được rõ sản phẩm chủ yếu của những di chỉ xưởng này là gì. Nhưng có một điều chắc chắn là chúng không liên quan gì đến những chiếc xẻng đá mà ta đang đề cập đến.
Tại khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam, tình hình cũng tương tự như vùng ven biển Đông Bắc.
Theo các công trình nghiên cứu cho biết đến nay, trong các công xưởng chế tác đá hậu kỳ đá mới và sơ kỳ kim khí ở Việt Nam chưa tìm thấy những phác vật hoặc chế phẩm có kiểu dáng như vậy. Do vậy các nhà khảo cổ học Việt Nam đều thống nhất ý kiến khi cho rằng, những chiếc xẻng đá tìm thấy ở vùng núi và ven biển phía Bắc Việt Nam là sản phẩm của sự giao lưu trao đổi giữa các nhóm cư dân hậu kỳ đá mới – sơ kỳ kim khí Bắc Việt Nam với cư dân đương thời ở Quảng Tây. Văn hoá xẻng đá lớn Quảng Tây có ảnh hưởng nhất định đến các cư dân cổ vùng lân cận, trong đó có Bắc Việt Nam.
Do vị trí địa lý tự nhiên, có thể có nhiều đợt tiếp xúc nhiều chiều giữa chủ nhân văn hoá xẻng đá Quế Nam với cư dân văn hoá Hạ Long chủ yếu thông qua đường biển, với cư dân văn hoá Mai Pha (Lạng Sơn) qua đường sông Kỳ Cùng, với cư dân văn hoá Hà Giang qua đường sông Bằng, sông Gâm.
Xuất phát từ cách nhìn nhận khu vực Nam Trung Quốc và vùng phía Bắc Việt Nam là một khu vực lịch sử văn hoá có nhiều quan hệ tương đồng, rõ ràng mối quan hệ văn hoá giữa cư dân tiền sử Bắc Việt Nam và các cư dân khác ở vùng Nam Trung Quốc là không thể phủ nhận được. Bên cạnh những yếu tố văn hoá như các loại rìu bôn có vai có nấc, rìu một vai, thì với sự hiện diện của những chiếc xẻng đá ở đây càng khẳng định trong thời tiền sử, có sự giao lưu trao đổi trong nội bộ giữa các nhóm cư dân Lạc Việt Bắc Việt Nam với cư dân Lạc Việt cổ vùng Nam Quảng Tây.

Chú thích

  1. Ban huấn luyện văn vật tỉnh Quảng Tây (1978), Những di tồn văn hoá hậu kỳ đá mới ở vùng phía nam Quảng Tây, Văn vật số 9 (Tiếng Trung).
    Đồng Trụ Thần (1989), Khảo sát xẻng đá lớn Quảng Tây, Tạp san Bảo tàng lịch sử Trung Quốc, số 13-14 (Tiếng Trung).
  1. Khâu Lập Thành, Trịnh Tăng Khôi (1983), Những xẻng đá lớn phát hiện ở Áo Tây, Khảo cổ, số 9.
    Dương Thức Đĩnh (1986), Sơ bộ bàn về văn hoá thời đại đá mới Quảng Đông và những vấn đề liên quan, Nghiên cứu tiền sử, số 1-2, tr. 63-82 (Tiếng Trung).
    Tưởng Đình Du, Bành Thư Lâm (1992), Nghiên cứu xẻng đá lớn Quế Nam, Văn vật Phương Nam, số 1, tr.19-24 (Tiếng Trung).
  1. Trình Năng Chung (1997), Văn hoá xẻng đá lớn ở Quảng Tây, Trung Quốc và mối quan hệ với Bắc Việt Nam, Khảo cổ học, số 2, tr. 85-92.
    Trình Năng Chung (2005), Những xẻng đá lớn miền ven biển Đông Bắc Việt Nam: Tư liệu và nhận thức. Khảo cổ học, số 3 (2005), tr. 66-73.
  1. Triệu Thiện Đức (1991), Phân tích di tồn văn hoá đá mới lưu vực sông Tây Giang, Tập luận văn kỷ niệm 30 năm phát hiện di chỉ Hoàng Nham Động, tr. 160-171 (Tiếng Trung).
    Tưởng Đình Du, Bành Thư Lâm (1992), Nghiên cứu xẻng đá lớn Quế Nam, Văn vật Phương Nam, số 1, tr. 19-24 (Tiếng Trung).
  1. Trịnh Triệu Hùng, Lý Quang Quân 1991, Thử bàn về di chỉ xẻng đá ở Quế Nam, Quảng Tây, Khảo cổ và văn vật, số 3 (Tiếng Trung).
  2. Dung Đạt Hiền (2003), Tìm tòi mới về xẻng đá lớn khu vực Quế Nam, Văn Vật, số 2 (2003), tr. 66-68 (Tiếng Trung).
  3. Trịnh Triệu Hùng, Lý Quang Quân 1991, Thử bàn về di chỉ xẻng đá ở Quế Nam, Quảng Tây, Khảo cổ và văn vật, số 3 (Tiếng Trung).

Xeng da lon

 

Tư liệu khảo cổ Nam Việt

Tư liệu trích từ bài báo Quá trình hình thành và sụp đổ của nước Nam Việt trước sự thôn tính của nhà Hán qua tư liệu khảo cổ và lịch sử của PGS. TS. Hoàng Xuân Chinh trong Tạp chí Khảo cổ học số 6-2017.
… (lược bỏ phần mở đầu)
Tộc Nam Việt, nhà nước sơ khai Nam Việt
Nam Việt vừa là tộc danh tộc Nam Việt vừa là tên nước – nước Nam Việt. Nước Nam Việt do Triệu Đà lập nên vào thời Hán, còn tộc Nam Việt xuất hiện sớm hơn nhiều. Qua tư liệu khảo cổ phát hiện trong những năm gần đây trên đất Quảng Đông thì có thể nhà nước sơ khai Nam Việt đã ra đời trong thời đại đồng thau thời Xuân Thu – Chiến Quốc.
Địa bàn cư trú của tộc Nam Việt, theo “Hán thư Lưỡng Việt truyện” thì Nam Việt “phía Tây có Tây Âu, phía Đông có Mân Việt”. Qua đó, giới hạn cụ thể khu vực cư trú của người Nam Việt chưa thể định luận. Nhưng dựa vào cương vực Tây Âu là ở vào khoảng Bắc – Tây Bắc Quảng Tây và Mân Việt là vào khoảng Phúc KIến và Nam Triết Giang cùng Đài Loan ngày nay. Có thể ước chừng Nam Việt ở vào khoảng Quảng Đông và Đông Bắc Quảng Tây ngày nay, mà trung tâm là tam giác châu Châu Giang, sau này trở thành kinh đô Phiên Ngung của nước Nam Việt.
Tộc Nam Việt trong quá trình hình thành và phát triển thành nhà nước sơ khai không những có mối quan hệ với các tộc, các nhà nước lân cận, mà còn có quan hệ với người Hoa Hạ trong nội địa Trung nguyên. Tình hình này được phản ánh khá rõ trên tư liệu khảo cổ.
Các di tích thời đại Đá mới từ sơ kỳ đến hậu kỳ trên đất Quảng Đông phân bố rộng khắp và liên tục, không bị biến dị và cắt đoạn với đặc trưng nổi bật là đồ gốm văn in kỷ hà hệ Lĩnh Nam theo phân loại của Lý Bá Khiêm trong hội thảo về gốm văn in kỷ hà tổ chức ở Lư Sơn năm 1978 (Lý Gia Khiêm 1979). Chính trên cơ sở văn hóa Đá mới với đặc trưng gốm văn in kỷ hà hệ Lĩnh Nam, tộc Nam Việt đã phát triển văn hóa thời đại Đồng thau rộng khắp từ lưu vực Bắc Giang, Tây Giang, Đông Giang đến Châu Giang, Trạm Gianng. Theo thống kê chưa thật đầy đủ, cho đến năm 1995, trên đất Quảng Đông đã phát hiện được khoảng 500-600 địa điểm có tầng văn hóa thời đại Đồng thau, trên 10 di tích có dấu tích lò đúc đồng, khoảng 300 ngôi mộ thời Xuân Thu – Chiến Quốc, thu được khoảng trên 1.200 hiện vật đồng thau, khoảng trên 20 khuôn đúc đồng bằng đá (Dương Thức Đỉnh 1998).
Chẳng hạn như năm 1962 – 1963. tại Mã Đầu Cương thuộc huyện Thanh Viễn phát hiện 2 ngôi mộ thời Đông Chu, đồ tùy táng chủ yếu là đồ đồng thau và gốm cứng văn in kỷ hà. Đồ đồng thu tổng cộng có 64 hiện vật như lôi, đỉnh, phẫu, chuông dẹt, vật hình trụ có tượng đầu người cùng công cụ và binh khí.
Năm 1986 trở đi, tại vùng Long Tử Sơn huyện Hòa Bình phát hiện trên 10 mộ thời Đông Chu, trong đó mộ số 1 thu được 5 hiện vật đồng thau như đỉnh kiểu Việt, việt, dao nạo, qua cùng vò gốm cứng văn chiếu, cốc gốm tráng men, ấm có vòi rót tay cầm và một dãy 11 viên đá ngọc trang sức to nhỏ khác nhau.
Năm 1987 – 1988, tại núi đối diện với Đại Cũng Bình huyện Lạc Xương phát hiện hơn 20 ngôi mộ thời Đông Chu có đỉnh đồng kiểu chân đế hình thú và chân đế dẹt, kiếm dài, kiếm ngắn, giáo, qua, việt, móc đai, trong đó có một lưỡi qua trang trí văn quỳ phượng, văn mây móc liền nhau là loại rất hiếm thấy. Đồ gốm có phễu, vò trang trí quỳ văn, vân lôi văn và văn chữ mễ.
Năm 1983 tại Bối Phu Sơn khu La Bình huyện La Định phát hiện mộ Chiến Quốc sớm, đáy mộ có hố lưng hình tròn. Đồ tùy táng có 98 hiện vật đồng thau như đỉnh, gương, thích, vật hình trụ trên có tượng đầu người, kiếm, qua, giáo, việt, rìu cùng cốc gốm mịn màu đen tay cầm cao nông lòng, chén sứ nguyên thủy và 18 viên đá ngọc trang sức. Đáng chú ý 4 vật trụ trên có tượng đầu người được cắm ở đáy quan tài gỗ 2 trước 2 sau.
Năm 1989 tại khu mộ Lại Dương Đôn thuộc Khai Phong Nam khai quật 30 mộ huyệt đất thuộc các giai đoạn sớm, giữa và muộn thời Chiến Quốc. Đa số đáy mộ có hố lưng hình tròn hoặc vuông, phát hiện được một sưu tập đồ đồng thau cùng gốm cứng văn in kỷ hà và sứ nguyên thủy (Dương Thức Đỉnh 1995).
Năm 1971 trở đi, tại Yết Dương Trung Hạ Diện Đầu Lĩnh khai quật 15 ngôi mộ thời Chiến Quốc, trong đó mộ phong phú đồ tùy táng nhất có 29 hiện vật, gồm 19 đồ đồng thai, 10 đồ gốm và sứ nguyên thủy. Trong đó có 1 qua đồng viện bằng hồ hẹp và 1 lưỡi giáo khắc chữ “vương”. Ngoài ra, còn có kiếm dài và di bằng sứ nguyên thủy tương tự đồng loại phát hiện ở Thượng Hải, Kim Sơn Thích Gia Đôn, Hoài Dương Cao Trang (Khâu Lập Thành 1920).
Phong phú hơn cả là phát hiện ở huyện Quảng Ninh. Năm 1977, tại Đồng Cổ Cương phát hiện 22 ngôi mộ thời Chiến Quốc, thu được 295 đồ đồng thau trong tổng số 357 hiện vật tùy tàng. Năm 1995, tại Long Trở Cương khai quật 15 ngôi mộ thời Chiến Quốc. Mộ phong phú đồ thùy táng nhất có trên 30 hiện vật, trong đó đồ đồng thau có trên 20 hiện vật. Tổng cộng có 15 mộ, thu được trên 100 hiện vật đồng thau.
Ngoài ra, lẻ tẻ cũng thu được một số sưu tầm đồ gốm, đồ đồng khá đẹp. Chẳng hạn như tại Xiêm Cương ngoại ô thành phố Quảng Châu thu được một sưu tập đồ đồng thau gồm qua, kiếm ngắn trang trí văn hình mặt người, dao trang trí văn lôi văn thời Xuân Thu và đồ gốm quỳ văn (Mạnh Anh Hòa 1997).
Phần lớn các nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng tới giữa thời Xuân Thu đến giữa thời Chiến Quốc văn hóa thời đại Đồng thau trên đất Quảng Đông cực kỳ phát triển – tuy không bằng văn hóa Điền và văn hóa Lạc Việt. Cho đến lúc này, công cụ bằng đá hầu như không còn. Đồ gốm tiêu biểu cho thời kỳ này là gốm cứng văn in quỳ văn cùng gốm men và sứ nguyên thủy. Đồ đồng thời kỳ này rất đặc biệt, bên cạnh số lượng khá lớn đồ đồng mang phong cách đồ đồng thời Xuân Thu – Chiến Quốc của khu vực Trung nguyên như lôi, đỉnh, phẫu, dao nạo, kiếm dài, qua, giáo, móc đai, v.v… đã xuất hiện khá nhiều đồ đồng thau mang sắc thái địa phương như đỉnh nông lòng kiểu Việt, việt, vật hình trụ trên có tượng đầu người. Về đồ đồng mang phong cách Trung nguyên, một số là được truyền trực tiếp từ Trung nguyên xuống, một số đúc chế tại địa phương theo phong cách đồ đồng Trung nguyên. Nam Việt tuy xa Trung nguyên, nhưng có bờ biển dài cùng nhiều sông lớn, và Nam Việt có mối quan hệ khá sớm với Câu Ngô và Vu Việt là hai nước có trình độ phát triển cao hơn Nam Việt lại gần Trung nguyên hơn nên rất có thể đồ đồng Trung nguyên đã qua Câu Ngô và Vu Việt mà truyền vào Nam Việt trước khi Nam Việt thuộc Hán. Thời kỳ này trên đất Quảng Đông chưa xuất hiện đồ sắt.
Một số học giả Trung Quốc cho rằng đây là thời kỳ hình thành nhà nước sơ khai của tộc Nam Việt, và văn hóa Hán cũng đã góp phần vào quá trình hình thành nhà nước sơ khai này. Về tính chất của nhà nước sơ khai này phải chăng đồng nghĩa với khái niệm phương quốc, giai đoạn giữa trong mô thức 3 giai đoạn của giáo sư Tô Bình Kỳ.
Quận Nam Hải của nhà Tần và nước Nam Việt của nhà Triệu
… (lược bỏ đoạn bàn luận thư tịch, không liên quan đến khảo cổ)
Thời kỳ nước Nam Việt mở rộng bao gồm cả nước Âu Lạc là thời kỳ hùng mạnh nhất của nước này. Bộ mặt văn hóa lúc bấy giờ có những đổi mới khác hẳn về chất so với thời nhà nước sơ khai Nam Việt.
Thể hiện rõ nhất là đã phát hiện được những ngôi mộ to lớn có cấu trúc độc đáo, đồ tùy táng cực kỳ phong phú. Đó là mộ Nam Việt Vương ở Quảng Châu, khu mộ La Bạc Loan ở huyện Quý và khu mộ Ngân Sơn Lĩnh là 2 vùng thuộc đất Tây Âu xưa được xem là thuộc đất nước Nam Việt thời nhà Triệu.
Như mộ Nam Việt Vương có trên 500 hiện vật đồng thau và nhiều đồ sơn, đồ vàng bạc chạm khắc tinh mỹ, đồ ngà voi, đồ pha lê. Đồ tùy táng không những nhiều mà còn mang phong cách khác nhau. Chẳng hạn đỉnh đồng có tới 37 chiếc thuộc 3 phong cách khác nhau là đỉnh phong cách Hán Trung nguyên, đỉnh phong cách Sở và đỉnh phong cách bản địa Nam Việt. Hay chuông, vừa có chuông nữu vừa có chuông dũng và chuông câu. Đáng chú ý là có tới 9 thạp đồng và 2 thạp gốm về kiểu dáng và hoa văn trang trí rất giống với thạp đồng văn hóa Đông Sơn. Sự có mặt của hiện vật văn hóa Đông Sơn trong mộ Nam Việt Vương là phản ánh đúng tình hình chính trị lúc bấy giờ, vì lúc này Âu Lạc là một thành viên của nước Nam Việt.
Mộ La Bạc Loan số 1 có trên 200 hiện vật đồng thau với nhiều phong cách khác nhau. Trong đó đáng chú ý là 2 chiếc trống đồng mà các học giả Trung Quốc cho là thuộc loại hình Thạch Trại Sơn và 4 thạp đồng mà kiểu dáng cũng như hoa văn trang trí hoàn toàn giống với thạp đồng văn hóa Đông Sơn.
Khu mộ Ngân Sơn Lĩnh có một số công cụ và vũ khí kiểu Việt như rìu đồng xòe rộng hai đầu vểnh lên mà học giả Trung Quốc gọi là việt hình chữ phượng, hay loại kiếm ngắn không có chắn tay, cán dẹt ngắn, lưỡi rộng dẹt, giữa có sống dọc nổi rõ, v.v…
Qua đó có thể nói nước Nam Việt của Triệu Đà lúc phát triển nhất, bên cạnh đồ đồng kiểu Việt ngày một nhiều, còn có đồ đồng kiểu Tây Âu, Lạc Việt và đồ đồng phong cách Hán Trung nguyên và bộ mặt văn hóa Nam Việt lúc này cũng đã hình thành nên những khu vực có tính chất địa phương như khu vực kinh đô Phiên Ngung, khu vực Bình Lạc Quế Lâm, khu vực Quý huyện, khu vực Lạc Việt Âu Lạc.
Nhà Hán thôn tính Nam Việt
… (lược bỏ đoạn bàn luận thư tịch, không liên quan đến khảo cổ)
Tình hình này được phản ánh khá rõ trên tư liệu khảo cổ. Trong khu vực rộng lớn này bên cạnh đồ gốm đồ đồng bản địa, xuất hiện ngày càng nhiều đồ gốm, đồ đồng phong cách Hán. Đồ sắt trước đây đã có nhưng đến lúc này đồ sắt Trung nguyên truyền xuống ngày càng nhiều.
Tại kinh đô Phiên Ngung cũng như xung quanh các thành phố đô thị lớn nhỏ trong khu vực đều phát hiện được nhiều mộ đất và nhất là mộ gạch vòm cuốn rất đặc trưng cho mộ Hán thời Hán. Đồ tùy táng, bên cạnh một số ít đồ gốm và đồ đồng bản địa là số lượng lớn đồ gốm và đồ đồng phong cách Hán. Đồ gốm thường có các loại vò in ô vuông, văn ô vuông có thêm dấu triện tròn hoặc vuông, vò ấm 3 chân có vòi rót có tay cầm, nhĩ bôi, hồ, đỉnh và đặc biệt là mô hình nhà, bếp lò, giếng, nhà kho, chuồng lợn, v.v… Đồ đồng có hồ, liễm, hộp, gương đồng, tiền bán lạng, tiền ngũ thù, v.v… Đồ sắt thường có nồi, kiếm sắt.
… (lược bỏ phần kết)

Văn Vương hữu thanh

Văn Vương hữu thanh, Đại Nhã, Kinh Thi.

Văn vương hữu thanh                    文王有聲

CHƯƠNG I
Văn vương hữu thanh. Duật tuấn hữu thanh. Duật cầu quyết ninh. Văn vương chưng tai!
文王有聲. 遹駿有聲. 遹求厥寧. 文王烝哉.

CHƯƠNG II
Văn vương thụ mệnh. Hữu thử vũ công. Ký phạt vu Sùng. Tác ấp vu Phong. Văn vương chưng tai!
文王受命. 有此武功. 既伐于崇. 文王有聲. 文王烝哉.

CHƯƠNG III
Trúc thành y hức. Tác Phong y thất. Phỉ cức kỳ dục. Duật truy lai hiếu. Vương  hậu chưng tai!
築城伊淢. 作豐伊匹. 匪棘其欲. 遹追来孝王. 后烝哉.

CHƯƠNG IV
Vương công y trạc. Duy Phong chi viên. Tứ phương du đồng. Vương hậu duy hàn. Vương hậu chưng tai!
王公伊濯.維丰之垣.四方攸同.王后維翰.王后烝哉.

CHƯƠNG V
Phong thủy Đông chú. Duy Vũ chi tích. Tứ phương du đồng. Hoàng vương duy tích. Hoàng vương chưng tai!
豐水東注.維禹之績.四方攸同.皇王維辟皇王烝哉.

CHƯƠNG VI
Hạo kinh tích ung. Tự Tây tự Đông. Tự Nam tự Bắc. Vô tư bất phục. Hoàng vương chưng tai!
鎬京辟廱.自西自東.自南自北.無思不服.皇王烝哉.

CHƯƠNG VII
Khảo bốc duy vương. Trạch thị Hạo kinh. Duy quy chinh chi. Vũ vương thành chi. Vũ vương chưng tai!
考卜維王.宅是鎬京.維龜正之.武王成之.武王烝哉.

CHƯƠNG VIII
Phong thủy hữu khỉ. Vũ vương khởi bất sĩ. Di quyết tôn mưu. Dĩ yến dực tử. Vũ vương chưng tai!
豐水有芑.武王豈不仕.詒厥孫謀.以燕翼子.武王烝哉.