Ngũ vị tôn quan

Trong các ban thờ công đồng Tứ phủ hiện nay thì ngoài lớp tượng vua cha Ngọc hoàng thượng đế luôn có tượng 5 vị tôn quan trong 5 màu sắc áo đỏ, xanh lá cây, trắng, vàng và xanh tím. Sau các đức vua cha và thánh mẫu thì 5 vị quan lớn này là những nhân vật quan trọng hàng đầu của tín ngưỡng Tứ phủ. Tên gọi và chức danh của Ngũ vị tôn quan như sau:
1. Quan đệ nhất thượng thiên. Tước phong Đào tiên đệ nhất – Điều thất hoàng thái tử.
2. Quan đệ nhị giám sát. Tước phong Nhạc thần đại vương – Đô đài giám.
3. Quan đệ tam ở đền Lảnh Giang. Tước phong Thủy tào điển sứ – Đệ tam thủy thần nhạc đại vương.
4. Quan đệ tứ khâm sai. Tước phong Thiên Hựu đại vương.
5. Quan đệ ngũ tuần Tranh.

Ngu vi ton quan

Ngũ vị tôn quan, tượng ở đền Lê Chân, Hải Phòng

Thân thế các vị tôn quan theo các thần tích ở đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình) hay đền Lảnh Giang (Mộc Nam, Duy Tiên, Hà Nam) được biết là con vua cha Bát Hải (vua cha Thoải phủ), đã đầu thai sinh cùng một trứng, hóa thành các thần rắn, rồi lên trần gian phù giúp vua Hùng đánh Thục.
Trong bài viết Bạch Hạc Tam Giang đã chỉ ra rằng truyện về các vị thần sông Bạch Hạc (Lĩnh Nam chích quái) là Thổ Lệnh và Thạch Khanh hay tục thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương ở vùng Phú Xuyên có quan hệ với Ngũ vị tôn quan của tín ngưỡng Tứ phủ. Thổ Lệnh hay Trưởng Lệnh là Quan lớn đệ tam, thác hóa ở khu vực thôn Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên), gần đền Lảnh Giang. Lảnh có thể là từ đọc khác của Lệnh.
Còn vị thần Bạch Hạc thứ hai Thạch Khanh là Quan đệ ngũ tuần Tranh. Cái tên Thạch Khanh và Tranh cận âm. Vị thần này còn được nhắc đến ở làng Đống Tranh (Minh Cường, Thường Tín) trong tục thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương.
Trong thần tích ở làng Đa Chất thì 3 người anh em con của Đào Công Bột là ông Cự, Hồng và Quý Lân sau khi đánh Thục ở lần đầu đã hóa trước. Tiếp theo chỉ còn Trưởng Lệnh và Thạch Khanh lập công đánh Thục. Đây là điều giúp lý giải việc hai vị quan đệ tam và quan đệ ngũ là hai giá đồng thường gặp, trong khi ba vị quan còn lại rất hiếm khi giáng đồng.
Tiếp tục truy tìm vết tích của 3 người anh em họ Đào đã hóa trước này. Sự tích về các vị quan lớn của Tứ phủ có cho biết: Quan đệ nhất là Đức Thánh Cả, Quan đệ nhị là Đức Thánh Trung và Quan đệ tứ là Đức Thánh Hạ, đã thác hóa ở sông Đáy tại Vân Đình. Hiện ở khu vực Vân Đình (Ứng Hòa, Hà Nội) có các đền thờ 3 vị thánh này. Đền Đức Thánh Cả nằm ở thôn Thái Bình với sự tích kể rằng đây là một vị tướng giúp vua Hùng đánh giặc nhà Ân ở vùng châu Hoan châu Ái. Đức Thánh Cả ở Thái Bình có tên được thờ là Bột Hải hoàng đế.

IMG_3784 (2)Đền Thái Bình, Ứng Hòa, Hà Nội.

Câu đối tại đền Thái Bình:
第六代雄王神將揮刀鯨刳鰐断
幾千秋東海殷兵絶命戟折舟沉
Đệ lục đại Hùng Vương, thần tướng huy đao, kình khô ngạc đoạn
Kỷ thiên thu Đông Hải, Ân binh tuyệt mệnh, kích chiết chu trầm.
Dịch:
Hùng Vương thứ sáu triều xưa, thần tướng vung đao kình đứt sấu đoạn
Biển Đông nghìn thu thủa trước, quân Ân hết số kích gãy thuyền chìm.
Cái tên Bột Hải hoàng đế của Đức Thánh Cả đã xác nhận mối liên hệ vị thánh này với Ngũ vị tôn quan con vua Bát Hải và 5 anh em con ông Đào Công Bột. Bột hay Bát là số 8, chỉ hướng Đông. Trong câu đối trên cũng nói rõ nơi Đức Thánh Cả lập công trạng là biển Đông. Bột Hải hay Bát Hải là biển Đông, là nơi xuất thế của vua cha Bát Hải Động Đình hay nơi trị nhậm của Đào Công Bột (Hải Dương).
Khác với thần tích về Ngũ vị tôn quan, Đức Thánh Cả ở Vân Đình không phải giúp vua Hùng 18 đánh Thục mà là giúp vua Hùng thứ 6 đánh giặc Ân, nhưng lại ở “châu Hoan, châu Ái”. Rõ ràng trận thủy chiến đánh giặc Ân ở châu Hoan, châu Ái này không phải trận chiến trên cạn của Thánh Gióng diệt giặc Ân ở núi Trâu Sơn – Vũ Ninh.
Để lý giải sự khác biệt này cần nhắc lại bản chất cuộc chiến Hùng Thục thời vua cha Bát Hải Động Đình. Đây là cuộc chiến tranh giành vương vị của ông Khải – Lạc Long Quân với ông Ích sau khi Đại Vũ – Kinh Dương Vương mất. Ích cũng là Ất, là số 2 trong thập can (Giáp, Ất…). Địa bàn gốc của tộc người theo Bá Ích là vùng cựu đô Ngàn Hống ở châu Hoan từ thời Hoàng Đế – Đế Minh. Vì thế thần tích về Đức Thánh Cả ở Thái Bình đã kể thành Hùng Vương thứ sáu (Hùng Lục Vương hay Lạc Vương) đánh giặc Ân ở Hoan Ái. Ân hay ơn là số 2. Ái cũng là từ biến âm của Ích – Ất.
Dòng tộc theo Bá Ích do cuộc chiến này đã phải chạy sang phía Tây, sau nhiều đợt di cư đến đất Kỳ Sơn ở Quý Châu. Do đó dòng tộc này được gọi là Thục (thục nghĩa là chín, cùng âm với số 9, chỉ hướng Tây) hay Di Hạ (Di Hạ phiên thiết cho từ Dạ, là nước Dạ Lang ở vùng Vân Nam Quý Châu). Lạc Long Quân giành chiến thắng, khởi đầu nhà Hạ ở vùng ven biển Đông, được truyền thuyết và tín ngưỡng Việt tôn là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ, mở mang Hoa Đào Trang ở đất Thái Bình.
Ngũ vị tôn quan như vậy là 5 vị đại công thần lập quốc của Lạc Long Quân, được tôn thờ thành các thủy thần trên các dòng sông Đáy, sông Nhuệ, sông Tranh,… và là những vị quan “trị sự” hàng đầu trong Tứ phủ công đồng.

Bạch Hạc Tam Giang và Lạc Long Quân

Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển là đi đâu? Lạc Long Quân mất ở chỗ nào? Lần tìm trong truyền thuyết và tín ngưỡng thờ thần của người Việt hé lộ thêm thông tin về cha Rồng và lịch sử của thời kỳ này.

Truyện thần sông Bạch Hạc trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Khoảng các năm Vĩnh Huy đời Đường Cao Tông, Lý Thường Minh làm chức đô hộ đất Phong Châu … xây Đạo Thánh linh quán ở ven sông Bạch Hạc, đặt tượng Tam thanh bở trong quán để phụng thờ. Lại xây hai ngôi am ở phía trước và phía sau quán, muốn tạc tượng thờ… Canh ba đêm ấy, mộng thấy có hai dị nhân, diện mạo hùng vĩ, phong tư nhàn nhã, đều mang theo quân hầu, trước hò sau hét, …, tranh nhau chiếm am trước… Hai người riêng xưng tên họ, một tên là Thạch Khanh, một tên là Thổ Lệnh. Thường Minh xin đọ tài nghệ, nếu ai thắng sẽ ở am trước. Thạch Khanh ứng tiếng mà chạy, mới tới bờ sông đã thấy Thổ Lệnh ở cạnh sông từ trước rồi… Thổ Lệnh được ở am trước… Đời Trần phong làm Trung Dực võ liệt phụ quốc hiển uy vương…
Truyện kể về Thổ Lệnh và Thạch Khanh đã hiển ứng ở thời Đường không cho biết gì về nguồn gốc, xuất xứ và công tích gì của 2 vị thần này. Cũng vì thế nhiều người cho rằng đây chẳng qua là hai thần đất (Thổ) thần đá (Thạch) được tôn sùng mà thành. Nhưng thần đất và thần đá sao lại tranh nhau làm thủy thần là thế nào?
Thổ Lệnh được thờ không chỉ ở vùng Bạch Hạc Phong Châu mà đây là vị thần được thờ ở rất nhiều nơi, từ khu vực đầu sông Nhuệ (Tây Tựu, Phú Diễn) tới vùng Thường Tín, tập trung nhất ở Phú Xuyên (Hà Nội) và một số nơi ở Hà Nam. Theo thống kê của Viện nghiên cứu văn hóa thì chỉ riêng trong số 153 làng xã có thần tích của Phú Xuyên đã có 28 làng thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương (tên gọi của Thổ Lệnh ở vùng này). Còn theo thần phả ở đình Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên) thì từng có tới 172 nơi thờ vị thần này. Có thể thấy Trung Thành Phổ Tế đại vương hay Bạch Hạc Tam Giang là một vị thần quan trọng trong tín ngưỡng dân gian. Đây chắc chắn là một nhân thần có công trạng to lớn trong lịch sử dân tộc.

P1140203Đình Đa Chất, Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Nội, nơi hóa của Trưởng Lệnh họ Đào.

Đền thờ chính của Trung Thành Phổ Tế đại vương vốn là đền Ba Lương ở thôn Đa Chất (Đại Xuyên, Phú Xuyên), nơi thần hóa. Đền này nay không còn, nhưng thần tích vẫn được lưu giữ ở đình Đa Chất. Bản thần tích này kể, thời Hùng Duệ Vương ở châu Cửu Giang, huyện An Lão, phủ Kinh Môn, Ái Châu có một nhà quý tộc là ông Đào Bột lấy bà Phạm Thị Điểm người bản huyện làm vợ. Ông được Duệ Vương bổ làm chức Bộ trưởng Hoan Châu, sau đó do có công dẹp giặc ở Hải Dương nên được vua phong làm Bộ trưởng coi giữ đất Hải Dương.
Chính phi của Bột công không may qua đời, ông tái giá với bà Nguyễn Thị Hương, huyện Kim Bảng, phủ Lý Nhân, đạo Sơn Nam…
Mấy năm sau, khi ở Hải Dương ông bà gặp sự lạ, vớt được 5 quả trứng nổi trên mặt nước, rồi nửa đêm có rồng báo mộng về trứng thần. Bà vợ mang thai, sinh một bọc, nở ra năm người con trai, diện mạo khôi ngô, thân thể rộng dài, lưng trông như vảy cá một rẻo… Bột công đặt tên cho các con là Cự, Hồng, Trưởng, Thạch Khanh và Quý Lân.
Lớn lên, năm anh em vào chầu vua và được phong tước trọng. Cự Công làm Đông Long thái sư. Hồng Công làm Tây Long thái phó. Trưởng Công làm Nam Long Trưởng lệnh, quyền tể tướng, làm Thổ lệnh cai quản 50 Thuỷ thần. Khanh Công làm Bắc Long Thái Bảo quyền nắm thuyền rồng. Quý Công là Thiếu Long, nắm giữ đài rồng nơi nhà vua ngự. Lại thêm chức cho Bột công là Đại vương.
Nhà vua cắt cử ngũ công trấn giữ năm phương, kiêm chủ tể nắm các ngả sông để bảo vệ dân. Đệ nhất công làm chủ tể Hải Dương quận. Đệ nhị công làm chủ tể Sơn Tây đạo. Đệ tam công Trưởng lệnh công làm chủ tể Sơn Nam quân, xây thành ở xã Tông Chất tại ngã ba sông Lương giang, Du giang và Tô giang. Đệ tứ Quý công xây dựng thành cung ở Kinh Bắc. Đệ ngũ công xây thành tại Nam Trực.

Như vậy hai vị thần sông Bạch Hạc Thổ Lệnh và Thạch Khanh là hai anh em, cùng một bọc sinh ra. Thổ Lệnh trong thần tích này gọi là Trưởng Lệnh. Có thể Thổ Lệnh đúng phải là Thủ Lệnh, tương đương với tên Trưởng Lệnh.
Công trạng chính của 5 anh em họ Đào là giúp vua Hùng đánh Thục. Sau khi đánh quân Thục lần đầu 3 vị Cự, Hồng, Quý Lân đã hóa trước. Trong trận tiếp theo Trưởng Lệnh và Thạch Khanh cầm thủy quân đánh quân Thục toàn thắng. Sau đó Trưởng Lệnh còn dẹp giặc Thái Thịnh ở Hồng Châu. Khi về đến ngã ba Lương Giang, mở tiệc mừng công thì ngài cưỡi cá chép theo dòng nước mà hóa về trời.
Câu đối ở đình Đa Chất:
靈夢感唐臣白鶴三江傳勝蹟
皇圖開越甸鴻庞千載沐王庥
Linh mộng cảm Đường thần, Bạch Hạc Tam Giang truyền thắng tích
Hoàng đồ khai Việt Điện, Hồng Bàng thiên tải mộc vương hưu.
Dịch:
Mộng thiêng cảm tướng Đường, Bạch Hạc Tam Giang truyền thắng tích
Hoàng đồ mở điện Việt, Hồng Bàng nghìn thủa thấm ơn vua.

Ở Phú Xuyên có câu “sinh Bạch Hạc, thác Ba Lương” nói về Trung Thành Phổ Tế đại vương. Làng Tông Chất nơi thần hóa sau đổi thành Đa Chất. Làng này rất đặc biệt bởi tới giờ vẫn dùng một thứ ngôn ngữ cổ riêng mà chỉ người trong làng với nhau mới hiểu. Liệu Tông Chất có phải nghĩa là nơi “vị tông tổ bị chết”? Tông Chất là làng được dành riêng để thờ phụng, chăm sóc mộ phần và hương hỏa của Trung Thành Phổ Tế đại vương nên có tên như vậy và vẫn giữ một ngôn ngữ riêng trong làng.
Mặc dù thần tích về Bạch Hạc Tam Giang hay Trung Thành Phổ Tế đại vương kể khá chi tiết, đầy đủ các sự kiện nhưng việc nhận diện đúng các nhân vật này trong lịch sử vẫn cần được lý giải hơn nữa. Tại sao một vị thần thời Hùng Vương lại là được thờ rộng rãi như vậy? Giặc Thục trong câu chuyện Bạch Hạc Tam Giang là Thục nào?
Khi xét kỹ thần tích kể về anh em Thổ Lệnh và Thạch Khanh thì thấy chuyện này hoàn toàn trùng khớp với chuyện kể về sự xuất hiện và công trạng của Vĩnh Công ở đền Đồng Bằng (An Lễ, Quỳnh Phụ, Thái Bình). Vĩnh Công cũng là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Ở cả 2 sự tích đều nói về những anh em sinh cùng một bọc trứng, con của rồng. Khi đất nước có giặc Thục những anh em này đã tập hợp lại cùng chống giặc. Trong chuyện Bát Hải Động Đình thì con Hoàng xà lớn (tức Vĩnh Công) đã tập hợp anh em thành 10 vị quan lớn, mỗi vị trấn giữ một vùng để đánh Thục.
Liên hệ rõ nhất giữa 2 sự tích là tên của vị phụ thân Đào Công Bột. Vị họ Đào này sau khi hóa được phong là Bột Hải đại vương. Bột là đọc khác của Bát, là số 8 chỉ hướng Đông. Bột Hải = Bát Hải = biển Đông. Đào Công Bột từng làm Bộ trưởng đất Hải Dương, tức là phụ trách khu vực phía Đông giáp biển, cũng là vùng đất xuất phát của Vĩnh Công Bát Hải Động Đình.
Bát Hải Động Đình lập Hoa Đào Trang ở vùng Thái Bình. Thông tin này là giải nghĩa cho họ Đào của Bột Công. Đào hay Hoa, hay Hạ đều chỉ màu đỏ, màu của xứ nóng. Đất Đào là Hoa Hạ. Bát Hải Động Đình hay Đào Công Bột chính là Hạ Khải, người đã mở đầu Hoa Hạ ở vùng biển Đông. Hạ Khải cũng là Lạc Long Quân, vị vua của Thủy phủ trong truyền thuyết Việt. Đó là lý do vì sao anh em họ Đào lại được thờ phổ biến đến vậy trong dân gian.
Vì Đào Công Bột là vua cha Bát Hải Động Đình của Thoải phủ nên năm anh em họ Đào trấn giữ ngũ phương là Ngũ vị tôn ông (Thập vị quan lớn) trong tín ngưỡng Tứ phủ. Đặc biệt, một trong những nơi thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương là làng Đống Tranh ở xã Minh Cường (Thường Tín, Hà Nội), có câu đối ở cổng đình:
突屼靈鐘標棟宇
瓏玲英毓瑩崢江
Đột ngột linh chung tiêu đống trụ
Lung linh anh dục oánh Tranh giang.
Dịch
Ngất cao thiêng đúc nêu mái đống
Lung linh đẹp dưỡng sáng sông Tranh.
Câu đối này nói tới Tranh giang, một con sông không hề chảy qua khu vực Thường Tín – Phú Xuyên. Sông Tranh là đoạn sông ở phía Nam tỉnh Hải Dương, con sông của vị quan lớn Đệ ngũ tuần Tranh trong Tứ phủ. Câu đối và cái tên làng Đống Tranh đã cho thấy liên hệ trực tiếp giữa anh em họ Đào với các vị quan lớn trong Tứ phủ.

Dong TranhĐình Đống Tranh, Minh Cường, Thường Tín, Hà Nội.

Bản thân nơi Trưởng Lệnh hóa ở làng Đa Chất không cách xa Lảnh Giang, nơi có đền thờ quan Đệ tam của Tứ phủ là mấy. Trưởng Lệnh là Đệ tam công họ Đào. Còn quan lớn Đệ tam cũng tử tiết tại Lảnh Giang. Liệu có phải Lương giang và Lảnh giang là một, là đoạn sông Châu Giang đổ vào sông Hồng?
Câu đối khác ở đình Đống Tranh:
良水三岐異夢巍燃南土建崇祠
峰州萬里長城凜烈北方留正氣
Lương thủy tam kỳ dị mộng, nguy nhiên Nam thổ kiến sùng từ
Phong Châu vạn lí trường thành, lẫm liệt Bắc phương lưu chính khí.
Dịch:
Mộng lạ ngã ba sông Lương, nguy nga đất Nam dựng đền lớn
Thành dài Phong Châu vạn dặm, lẫm liệt phương Bắc giữ khí ngay.
Ngã ba sông Lương được gọi là Tam Kỳ, nơi có đền Ba Lương, chỗ hóa của Trung Thành Phổ Tế đại vương. Tam Kỳ còn tương ứng với Tam Giang. Hơn nữa Vĩnh Công Bát Hải Động Đình ở đền Đồng Bằng được sắc phong là Trấn Tây An Tam Kỳ linh ứng đại vương. Sự khớp nhau giữa tên gọi, công tích cho thấy hai chuyện Bát Hải Động Đình cùng Ngũ vị tôn ông và Đào Công Bột cùng 5 anh em Trưởng Lệnh, Thạch Khanh chỉ là một.

Co CheMảng chạm tiên rồng ở đình Cổ Chế, một nơi thờ Trung Thành Phổ Tế đại vương ở Phúc Tiến, Phú Xuyên, Hà Nội.

Cuộc chiến Hùng – Thục được nói tới ở đây là cuộc chiến giữa ông Khải và ông Ích trong cổ sử Hoa Hạ thời kỳ 4.000 năm trước. Ông Khải là con của Đại Vũ và Long Nữ Động Đình, cũng là Lạc Long Quân của truyền thuyết Việt. Khi Đại Vũ mất, ông Khải không chấp nhận di mệnh truyền ngôi cho Bá Ích của Đại Vũ, đã liên kết các bộ tộc bên cha (Lạc) và mẹ (Long), làm cuộc đảo chính, đánh đuổi Bá Ích chạy về phía Tây. Thục là từ chỉ hướng Tây nên dòng Bá Ích được truyền thuyết Việt chép là quân Thục, gây chiến tranh kéo dài với dòng của Lạc Long – Hùng Vương.
Ông Ích còn được sự ủng hộ của bộ tộc Hữu Hộ Thị ở phía Nam (nay) trong cuộc chiến này. Vì vậy mới có chuyện Trưởng Lệnh (dòng Lạc Long – Hùng Vương) đã phải dẹp giặc Hồng Châu. Hồng Châu hay Hồng Lĩnh là nơi có cố đô Ngàn Hống xưa. Hay trong thần tích đình Nhật Tân (Kim Bảng, Hà Nam) ghi Trưởng Lệnh đi đánh dẹp giặc Tôn Tinh. Tôn Tinh là Hồ Tôn Tinh thời Hùng Vương, là nước ở phía Nam nước Văn Lang.
Cuối cùng không rõ sự tranh giành ngôi vị nơi thờ giữa Thổ Lệnh và Thạch Khanh ở Bạch Hạc có phải ngầm chỉ sự tranh giành vương vị giữa hai dòng Lạc Long và Thục không. Thạch là hành chỉ hướng Tây trong Ngũ hành. Thạch Khanh là vị khanh hầu phía Tây, tương ứng với Bá Ích. Xét kỹ thì Thổ Lệnh – Thạch Khanh và Hạ Khải – Bá Ích đều là anh em một dòng từ Hoàng Đế. Trong cuộc tranh giành ngôi vị ở Tam Giang Phong Châu, Hạ Khải – Lạc Long đã thắng, Bá Ích – Thục buộc phải “xếp sau” và di rời về phía Tây. Ích cũng là Ất hay thứ 2 (trong thập can).
Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất trong truyền thuyết Việt đánh dấu sự chia tách của người Việt theo hai hướng Đông Tây. Dấu vết, truyền tích của cuộc chiến thời lập quốc này vẫn còn in đậm, lưu giữ dưới câu chuyện về thần Bạch Hạc Tam Giang và vị thần họ Đào được thờ suốt một dải từ ngã ba sông Việt Trì tới vùng đồng bằng Bắc bộ. Sự tích các vị thần thời Hùng Vương đan xen lẫn nhau, nhưng ngẫm kỹ vẫn có thể sáng tỏ chuyện của 4000 năm trước.

Khải ngả Nam Giao

Xem phần mở đầu Đại Việt sử ký toàn thư:
Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương nhà Chu mới gọi là Việt Thường thị , tên Việt bắt đầu có từ đấy.

Kỷ Hồng Bàng Thị
Kinh Dương Vương

Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân…
Các sử gia Việt xưa một mặt chép chuyện của Hoàng Đế – Đế Nghiêu – Hy Thị – Đại Vũ ở đầu sử Việt, một mặt xuống dưới lại kể ngay chuyện Đế Minh – Đế Nghi – Lộc Tục – Kinh Dương Vương. Rõ ràng phần trên là chép theo Hoa sử (sách người Hoa), phần dưới là chép theo huyền sử Việt.
Theo Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời nhà Tống và phần bổ Tam Hoàng bản kỷ cho Sử ký Tư Mã Thiên của Tư Mã Trinh thời Đường thì dòng Thần Nông truyền từ Đế Minh – Đế Nghi – Đế Lai tới Du Võng thì xảy ra cuộc chiến giữa Hiên Viên và Xuy Vưu. Còn theo Truyện họ Hồng Bàng thì Lạc Long Quân đã lấy Âu Cơ là con của Đế Lai, nghĩa là cùng lúc với sự xuất hiện của Hiên Viên trong các sách của người Hoa.
Có thể thấy thời mở sử thì trong Hoa sử có huyền sử Việt (chuyện Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai), còn trong Việt sử có Hoa sử (chuyện Xuy Vưu, Hiên Viên). Các sử gia Hoa, Việt không phân định được nên đã chép thông tin từ cả 2 dòng sử. Có khác là sử gia Đường Tống nhấn mạnh vai trò của Hiên Viên và từ đó chép tiếp Hoa sử. Còn sử gia Đại Việt thì nhấn mạnh chuyện Lạc Long Quân, lấy đó chép tiếp Việt sử.
Thực ra 2 cách chép mở sử này đều là một chuyện vì Hoa chính là Việt, chỉ có 1 lịch sử mở nước Hoa Việt. So sánh 2 đoạn sử Hoa và Việt ở đầu Đại Việt sử lý toàn thư sẽ thấy rõ:
– Hoàng Đế mở muôn nước = Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông.
– Đế Nghiêu = Đế Nghi cai quản phương Bắc.
– Hy Thị định Nam Giao (chính là Đế Thuấn) = Lộc Tục làm vua phương Nam
– Đại Vũ chia 9 châu (trị thủy) = Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình.
Các sử gia thời Đường thời Tống có quan niệm Hiên Viên là tổ người Hoa Hạ, còn người Việt thì quan niệm Lạc Long Quân là tổ. Từ đó dẫn đến 2 cách chép khác nhau. Chuyện Hiên Viên đánh tây dẹp bắc lập nước Hữu Hùng trong Hoa sử đã dùng để thay cho chuyện Lạc Long Quân đánh Thục trong Việt sử.
Hiên Viên Hoàng Đế lập nước Hữu Hùng, vậy phải là … vua Hùng dựng nước của người Việt. Trong sự tích của Hiên Viên không hề có chữ Hoa hay chữ Hạ nào để xác định Hiên Viên bắt đầu Hoa Hạ.
Chuyện Lạc Long Quân thì ngược lại, Vĩnh Công Bát Hải Động Đình mở Hoa Đào Trang chính là bắt đầu Hoa Hạ. Lạc Long Quân mới là người mở đầu nhà Hạ của Hoa sử.

Cong den Hung Cổng lên đền Hùng ở Phú Thọ.

Câu đối ở đền Hùng:
Khải ngả Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.

Dịch:
Bắt đầu ở ngả Nam Giao, nghìn năm Hồng Lạc xưng đế quốc
Sáng lên nơi Tây Thổ, một dải Tản Lô mãi lưu đền.

Câu đối trên đã khái quát đầy đủ phần mở đầu của sử Việt. Người họ Hùng đã phát triển theo 2 hướng. Đầu tiên nước mở ở Nam Giao do công của Nghiêu Thuấn hay Lộc Tục Kinh Dương Vương. Lập nên “đế quốc Hồng Lạc” là Lạc Long Quân. Hồng Lạc là tên khác của Hoa Hạ mà thôi. 50 người con theo cha Lạc Long đã xây dựng nhà Hạ, phát triển theo hướng Đông (Động Đình) và Nam (Nam Giao). Hướng Nam xưa là hướng Lạc = Nác = Nước, là hướng Bắc ngày nay.
Hướng thứ hai là hướng Tây trong vế đối dưới. Đây là hướng của Tản Viên, của Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, lập nước Văn Lang ở Phong Châu trên vùng đất Tam Giang (Đà, Lô, Thao).
Cuộc phân ly Lạc Long – Âu Cơ là hình ảnh của cuộc chiến Hùng – Thục trong thần tích Việt hay cuộc chiến tranh dành vương vị giữa Hạ Khải và Bá Ích trong Hoa sử. Dù phân tách nhưng cả hai vẫn đều là con cháu Đế Minh – Hiên Viên từ Hữu Hùng hay Họ Hùng ban đầu. Con cháu họ Hùng hai dòng Đông – Tây đã lại hòa hợp khi Thục Phán lập nước Âu – Lạc, thống nhất 2 vùng đất của cha Lạc Long, mẹ Âu Cơ.
Truyền thuyết Lạc Long – Âu Cơ đã xác định 2 hướng phát triển của người Bách Việt (trăm trứng sinh trăm trai) thời mở sử. Điều này hoàn toàn đúng với các phân tích di truyền nhân chủng học ngày nay. Thuyết “Nhất nguyên nhị phân” từ nghiên cứu ADN người Bách Việt đã cho thấy rõ 2 hướng lan rộng sang Đông Bắc và Tây của người Bách Việt. Cái gốc “nhất nguyên” của Bách Việt nằm ở vùng Nam Giao là Bắc Việt và Lưỡng Quảng ngày nay.

Rồng bay biển Bát

Đạo Mẫu được biết là một tín ngưỡng rất cổ xưa, nay đã thành di sản văn hóa ở Việt Nam. Hệ thống thờ mẫu Tứ phủ phổ biến ở mọi nơi với tục hầu đồng và hát chầu văn khá độc đáo. Tuy nhiên có một câu hỏi rất đơn giản mà khó trả lời đối với tín ngưỡng này: tại sao lại gọi là Đạo Mẫu khi mà trong đó thờ rất nhiều nam thần? Vị thần lớn nhất của Tứ phủ là vua cha Bát Hải Động Đình, người sinh ra một số Mẫu, Quan lớn và các ông Hoàng. Chỉ có 4 mẫu cai quản 4 phủ: Trời Đất Núi Sông, nhưng lại có tới 10 ông Quan lớn và 10 ông Hoàng.
Lần tìm về gốc của Đạo Mẫu và hệ thống Tứ phủ thì không thể không ghé đền Đồng Bằng, nay thuộc xã An Lễ – Quỳnh Phụ – Thái Bình. Nơi đây là đền thờ vua cha Bát Hải Động Đình cùng quần thể một loạt đền thờ các Quan lớn khác ở vùng lân cận. Tóm tắt thần tích đền Đồng Bằng như sau:
Trên bờ sông Vĩnh, thuộc Đào Hoa Trang, Trấn Sơn Nam, Quận Giao Chỉ có 2 vợ chồng ông Phạm Túc và bà Trần Thị là người Trang An Cố (thuộc Thuỵ Anh – Thái Bình ngày nay) đã lớn tuổi, sống phúc hậu mà không có con. Một lần, họ ngược dòng đánh cá đến Trang Hoa Đào và tình cờ gặp cô gái nhỏ bên sông Vĩnh. Ông bà đón cô gái về nuôi tại An Cố, đặt tên là Quý Nương. Mấy năm sau, khi tròn 18 tuổi, Quý Nương rất xinh đẹp, đoan trang.
Một lần Quý Nương ra cửa sông tắm, thì có một con Hoàng Long hiện lên quấn chặt lấy người. Một thời gian sau, Quý Nương có thai. Bà trở về quê Hoa  Đào trang sinh sống. Bà mang thai đúng 13 tháng, vào đúng đêm ngày mồng 10 tháng giêng bà sinh ra một cái bọc giữa ánh hào quang phát sáng rực. Quý Nương sợ  hãi, ôm bọc thai thả xuống sông Vĩnh. Cũng đêm ấy có một người cất vó bên sông tên là Nguyễn Minh vớt được cái bọc đó. Ông rạch bọc ra thì thấy có ánh sáng phát chói loà, từ trong bọc chui ra 3 con Hoàng Xà, đầu rồng mình rắn. Con lớn nhất vượt sông lên bờ, chui vào náu thân trong một giếng nước. Đó chính là giếng thiêng trong cấm cung đền Đồng Bằng bây giờ. Còn 2 Hoàng Xà nhỏ, bơi xuôi theo dòng nước chảy dọc sông Vĩnh, một con dạt vào Thanh Do Trang (thuộc Thái Ninh bây giờ), con nhỏ nhất bơi đến tận An Cố trang (Mai Diêm – Thuỵ Anh).
Lại nói vua Hùng ngày ấy đã già, lại không con trai nối dõi. Giặc Thục nhân cơ hội liên kết với Ai Lao, Vạn Tượng, Chiêm Thành đem quân sang tấn công Văn Lang.  Vua Hùng lập đàn cầu Trời được Thanh Y Tiên Ông mách cho về Hoa Đào trang mà triệu, sẽ có dị nhân đánh tan giặc biển.
Vua Hùng sai sứ giả về Hoa Đào trang (tức đất An Lễ bây giờ) để truyền chỉ dụ triệu kỳ nhân dẹp giặc. Sứ giả đến bên giếng xướng truyền sắc chỉ thì thấy Hoàng Xà hiện ra rồi bỗng hoá thành một chàng trai lực lưỡng, tuấn tú hơn người. Ngài  nhận chỉ dụ, nhờ sứ giả báo với Vua Hùng là sẽ triệu 2 em, tuyển 10 tướng, chiêu mộ binh sĩ trong 10 ngày, rồi xuất quân đánh giặc trên cả 8 cửa biển nước Nam, hứa sau 3 ngày là giặc tan. Từ đó, ngài có tên là Vĩnh Công …

Sắc phong đời vua Lý Thánh Tông cho thần là Tam kỳ linh ứng Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình. Lễ hội đền Đồng Bằng tổ chức hàng năm vào tháng 8 âm lịch hàng năm (Tháng Tám giỗ cha…).
Theo thần tích trên thì Vua cha Bát Hải Động Đình là một nhân thần (nhân vật lịch sử có thật đã được thần thánh hóa) ở thời Hùng Vương, có công dẹp yên giặc Thục. Nhưng tại sao Bát Hải Động Đình lại là người bắt đầu đạo Mẫu ở Việt Nam? Và đã là ở thời Hùng Vương thì Vua cha Bát Hải chẳng nhẽ không phải là vua Hùng?
Câu đối ở đền Sinh, tương truyền là nơi Quý Nương sinh Hoàng Xà:
Đào Giang Động Khẩu kỳ thiên tích
Sinh hóa thần tiên vạn cổ truyền.

Dịch:
Sinh hóa thần tiên truyền vạn thế
Sông Đào cửa Động tích kỳ nghìn.

Chữ Động 洞 trong Động Đình hay Đào Động ở đây không phải chỉ khu vực hay đơn vị hành chính. “Động khẩu” – cửa Động cho thấy đây là tên riêng. Động là tính chất của phương Đông. Động khẩu là cửa biển phía Đông. Động Đình hồ là cái hồ lớn phía Đông hay chính là biển Đông. Vua cha Bát Hải Động Đình không hề ở hồ Động Đình bên Vân Nam, có 8 cửa thông ra biển như kiểu giải thích nguyên nghĩa thông thường. Hồ Vân Mộng ở Vân Nam ở xa biển đi máy bay chẳng tới, nói gì đến có 8 cửa biển.

Tamquan-2Tam quan đền Bát Hải Động Đình

Câu đối ở cổng tam quan đền Đồng Bằng:
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Dịch:
Bậc thượng thần bốn nghìn năm đất nước, rồng bay biển Bát truyền tích lạ
Xuất thế gian mười tám hiệu triều Hùng, hổ chầu sông Đào nổi linh thiêng.

Căn cứ vào việc Bát Hải Động Đình đánh Thục giúp Hùng Vương thứ 18 mà các tác giả trước đây cho rằng chuyện này xảy ra vào cuối thời Hùng, cách đây chỉ có 2000 năm. Câu đối trên đọc kỹ cho thấy thông tin hoàn toàn khác. Bát Hải Động Đình đã là thần từ 4000 năm nay và xuất thế vào thời 18 đời Hùng Vương.
Trong câu đối trên Bát Hải là địa danh chứ không phải tên người. “Rồng bay biển Bát” chỉ tích Hoàng Xà xuất hiện ở vùng biển. Đối lại, “hổ chầu sông Đào” chỉ các vị Quan lớn dưới trướng Vĩnh Công. Bát không phải là số 8 (trong 8 cửa biển) mà là con số chỉ phương Đông của Hà Thư. Bát Hải là chỉ biển Đông ngày nay. Bát Hải Động Đình là vua biển Đông.
Truyền thuyết về nguồn gốc Mẫu Thoải, người cai quản Thủy phủ trong đạo Mẫu, cho thông tin về Long vương Động Đình:
– Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở Ðộng Ðình hồ, gặp Kinh Dương Vương đi tuần thú phương nam, hai người kết hôn, sinh ra Lạc Long Quân, thuỷ tổ của tộc Việt.
– Mẫu Thoải là con gái Long Vương ở hồ Ðộng Ðình, lấy Kinh Xuyên, sau bị vợ hai của Kinh Xuyên là Thảo Mai đố kỵ, vu oan, nên bị chồng nhốt cũi bỏ vào rừng cho thú ăn thịt nhưng Bà được cứu thoát, đới sau kính phục đức độ của Bà, suy tôn là Mẫu Thoải.
Hai truyền thuyết trên chỉ là một vì Xuyên = Giang = Dương. Kinh Xuyên = Kinh Dương Vương.
Mẫu Thoải là người đã kết hôn với Kinh Dương Vương, sinh ra Lạc Long Quân. Tới đây thì thấy rõ Vua cha Bát Hải Động Đình chính là Thần Long Động Đình trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, là ông ngoại của Lạc Long Quân. Câu hỏi về đạo Mẫu được giải đáp. Đạo Mẫu không phải chỉ là đạo thờ các bà mẹ với nguyên lý của thời mẫu hệ, mà là đạo khai mở từ đức Lạc Long ở biển Đông, tôn thờ dòng tộc Động Đình bên ngoại của mình.
Cũng vì thế mà quốc mẫu Âu Cơ không được xếp thành thánh Mẫu nào cả trong hệ thống Tứ phủ vì Âu Cơ là cháu Đế Nghi, Đế Nghi là cha của Lộc Tục – Kinh Dương Vương. Âu Cơ là bên họ nội của Lạc Long Quân.
Câu đối ở cột đá trên đền Hùng – Phú Thọ:
Vân ám Động Đình long đồ giáng
Nguyệt khoa Lĩnh biểu hạc qui lai.

Dịch:
Mây phủ Động Đình Rồng xuất thế
Trăng soi Nghĩa Lĩnh Hạc bay về.

Câu trên mỗi chỗ chép một khác nhưng chắc chắn bắt đầu bằng “Vân ám Động Đình”, là nơi cha Rồng xuất hiện. Trong truyền thuyết Lạc Long Quân luôn gắn liền với quê mẹ ở Động Đình. 50 người con theo cha xuống biển tức là về quê ngoại ở biển Đông. Có thể Vua cha Bát Hải Động Đình cũng chính là Lạc Long Quân, người cha của dân Việt. Điều này giải thích vì sao tín ngưỡng Tứ phủ và vua cha Bát Hải lại được người Việt coi trọng như vậy.
Câu đối ở điện thờ vua cha Bát Hải tại đền Đồng Bằng:
Bình Thục trứ nguyên huân, mỹ tai Hồng Lạc sơn hà, bi kệ trường minh Đào Động miếu
Lịch triều long tự điển, tế thử Á Âu phong hội, sương uy do tại hải môn thu.

Dịch:
Trải triều đại thịnh dày năm xưa, đúng đây hội tục Á Âu, màn uy còn tại tiết thu cửa biển
Dẹp quân Thục công đầu tiếng nổi, đẹp thay Lạc Hồng sông núi, bia đá mãi sáng nơi miếu Động Đào.

Đào Động – Hoa Đào trang là đất của vua cha Bát Hải Động Đình. Cũng ngay gần đền Đồng Bằng, bên huyện Thái Thụy của Thái Bình, trong thần tích đền Bà Chúa thờ Vương Chiêu Quân thời Tây Hán cho biết vùng này xưa được gọi là “Phủ Hạ bát đụn tang”. Chữ “bát” ở đây cũng tương tự như trong Bát Hải, là con số chỉ phương Đông. “Phủ Hạ bát đụn tang” phải hiểu là Gò đất lớn ở phía Đông của nhà Hạ.
Đào – Hoa – Hạ chỉ là một, chỉ vùng đất xứ nóng. Lạc Long Quân ở đất Đào hay Hoa Hạ, thật quá chính xác. Nếu Tản Viên – Kinh Dương Vương là Hạ Vũ trị thủy thì Lạc Long Quân chính là Hạ Khải của Hoa sử. Sau thời kỳ biển tiến, gây cơn đại hồng thủy thời Hạ Vũ, nước biển rút xuống, hình thành “Đồng Bằng” châu thổ sông Hồng (Đào giang). Lạc Long Quân cùng 50 người con tiến xuống chinh phục vùng Đồng Bằng ven biển Động Đình, khai mở nhà Hạ của Hoa sử.
Tới đây ta chợt hiểu bài ca dao:

Gió Động Đình mẹ ru con ngủ
Trăng Tiền Đường thức đủ năm canh
Tiết trời thu lảnh lành lanh
Cỏ cây khóc hạ, hoa cành thương đông
Bổng bồng bông, bổng bồng bông
Võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.

Nếu lấy 2 câu đầu và cuối:
Gió Động Đình mẹ ru con ngủ…
Võng Đào mẹ bế con rồng cháu tiên.

Thì thật rõ ràng đạo Mẫu của Việt Nam bắt đầu từ Động Đình thời Đào – Hoa – Hạ của Lạc Long Quân.
Câu đối ở chính điện đền Đồng Bằng:
Phù dực Hùng triều, Đào lãng ân lưu giang dĩ Bắc
Thái bình Thục lỗ, Động thiên uy chấn hải chi Nam.

Dịch:
Phò giúp triều Hùng, sóng Đào lưu ơn nơi sông Bắc
Dẹp yên giặc Thục, trời Động oai nổi chốn biển Nam.

Động thiên” thêm một lần nữa cho thấy “Động” không phải là từ chỉ đơn vị hành chính mà là tên riêng, chỉ phương Đông.
Vấn đề hóc búa nhất khi giải mã truyền thuyết này: Vĩnh Công Bát Hải Động Đình đã giúp vua Hùng đánh giặc Thục, tuyển mộ các vị quan lớn từ Quan đệ nhất, Quan đệ nhị, Quan đệ tam,… đều là của thời Hùng đánh Thục. Bát Hải Động Đình đã xác định là thời Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân cách đây 4000 năm. Vậy làm sao có thể là thời Hùng Vương 18 đánh Thục? Thời Thục An Dương Vương chỉ mới cách đây hơn 2000 năm. Cũng tương tự nhiều thần tích chép Tản Viên Sơn Thánh trị thủy từ thủa hồng hoa lại giúp vua Hùng đánh Thục ở cuối triều Hùng, thật vô cùng kỳ bí.
Chỉ khi nhận ra Tản Viên là Hạ Vũ, Lạc Long Quân là Hạ Khải thì vấn đề trên trở nên sáng tỏ. Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất mà phần thắng thuộc về Hùng vương không phải ở thời Thục Phán An Dương Vương mà là cuộc tranh giành vương vị của Hạ Khải với con cháu của dòng Đế Nghiêu (Đế Nghi) cách đây 4000 năm. Kết quả ông Bá Ích phải dẫn dòng họ Cơ của Hùng Vũ chạy lên đất Kỳ Sơn. Con cháu họ Cơ sau này là Chu Văn Vương – Chu Vũ Vương làm nên cuộc chiến Hùng – Thục thứ hai, với phần thắng thuộc về nhà Chu Thục trước Ân Trụ Vương cách đây 3000 năm.
Mọi việc trở nên thật rõ ràng. Tản Viên Sơn Thánh là Hạ Vũ, tổ của nhà Hạ nên truyền thuyết mới chép thánh Tản giúp vua Hùng đánh Thục. Thực ra người đánh Thục là con của Hạ Vũ, là ông Khải – Lạc Long Quân – Bát Hải Động Đình. Nhưng vì Tản Viên – Hạ Vũ là ông tổ đầu tiên của nhà Hạ nên truyền thuyết vẫn chép vào thành Sơn Tinh đánh Thục.
Cuộc chiến Hùng – Thục thứ nhất này còn thể hiện ngay trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng khi Lạc Long Quân và Âu Cơ “thủy hỏa xung khắc”, chia đàn con Bách Việt thành 2 nhánh. Nhánh theo mẹ Âu Cơ lên rừng lập nước Văn Lang, đô ở Phong Châu là nhánh Thục. Nhánh theo cha Lạc Long xuống biển Động Đình, xây dựng Hoa Đào trang.
Lạc Long Quân nhờ sự giúp đỡ của bên ngoại ở Động Đình phía Đông đã làm cuộc “đảo chính”, đánh nhóm dòng tộc phía Tây (Thục), lập nên nhà Hạ. 10 vị Quan lớn của Tứ phủ hẳn là các quan trấn giữ các vùng dưới triều Hạ. Bên ngoại Lạc Long Quân do đó đã được tôn thờ trong Đạo Mẫu. Dấu vết nhà Hạ để lại chính là cả một hệ thống đạo Mẫu cổ xưa với đầy đủ nghi lễ, thứ bậc và chỉ có ở Việt Nam. Đạo Mẫu xuất hiện từ thời Lạc Long Quân, tức là còn có trước Đạo Giáo của Lão Tử hình thành thời Chu Thục sau này. Đạo Mẫu không phải là tín ngưỡng chịu ảnh hưởng của Đạo Giáo như vẫn nghĩ. Tuy nhiên cả 2 đều coi Ngọc Hoàng thượng đế, tức là Hoàng Đế Hiên Viên ở ngôi cao nhất. Đây là 2 tín ngưỡng của nhà Hạ và nhà Chu khác nhau nhưng có chung một nguồn gốc dân tộc từ thời Hùng Vũ (vua Hùng).
Câu đối ở đền Đồng Bằng:
Bát Hải linh từ, đại đế phong thần lưu thiên cổ
Động Đào cố địa, phù Hùng hiển thánh chấn Tam Giang.

Dịch:
Đền linh Bát Hải, đế vương phong thần lưu nghìn thủa
Đất cũ Động Đào, giúp Hùng hóa thánh nổi Tam Giang.

Tam Giang là tên cũ chỉ nước Việt, nơi có 3 con sông Đà Lô Thao gặp nhau ở ngã ba Bạch Hạc.
Thật kỳ lạ, trong truyền thuyết Việt có đầy đủ mọi thứ của Hoa sử, khớp tới từng chi tiết. Nhà Hạ, thời kỳ đầu lịch sử của người Hoa, bắt đầu chính từ vùng Đồng Bằng ven biển Động Đình. Nay năm Nhâm Thìn 2012, cha Rồng lại xuất hiện trên biển Bát. Lịch sử 4000 năm của người Việt sẽ được trả về đúng chủ nhân của nó.
Văn nhân góp ý:
…Đào Động – Hoa Đào trang là đất của vua cha Bát Hải Động Đình… đọc bài viết rồi mới nhận ra … chữ Hoa và chữ Hải đã nằm sẵn trong danh xưng: Hùng Hoa vương – Hải lang.
Bài viết thực quan trọng đối với Sử Thuyết Hùng Việt … xin cảm ơn Bách Việt 18.

Bát Hải Động Đình

Trong tín ngưỡng Đạo giáo ở Việt Nam có một vị thần khá đặc biệt là vua cha Bát Hải Động Đình. Đền thờ vị thần này tới nay còn lưu lại ở nhiều nơi như đền Đồng Bằng ở Thái Bình:

Bát Hải Động Đình là vua cha của nhiều vị thần khác trong đạo giáo:
– Quan lớn đệ nhị thượng ngàn, là con thứ hai của vua cha Bát Hải Động Đình, cai quản miền núi.
– Đệ tam thoải phủ, là con thứ ba. Đây cũng là Mẫu Thoải, là thủy thần.
– Đệ ngũ Tuần tranh, con thứ năm, bị lưu đày và thờ ở đền Kỳ Cùng Lạng Sơn.
– Ông hoàng Mười ở Nghệ An.
Tất cả những vị thần Đạo giáo này đều là từ thời Hùng Vương. Như vậy thì Đạo giáo ở Việt Nam đã chẳng phái có từ lâu, trước khi bị 1000 năm Bắc thuộc hay sao?

Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là vùng biển chứ không phải hồ. Bát là 8, con số chỉ phương Đông trong Hà thư. Bát Hải tức là … biển Đông. Bát Hải Động Đình cho thấy rõ Động Đình là biển Đông của nước ta, chứ chẳng phải đầm Vân Mộng ở Hồ Nam bên Tàu.
Vua cha Bát Hải Động Đình như thế cũng chính là Thần Long Động Đình, người sinh ra con gái, cưới Kinh Dương Vương trong truyền thuyết. Nói cách khác đây là “ông ngoại” của Lạc Long Quân, hay là dòng máu “ngoại” của dân Bách Việt.

Có nơi còn gọi là Bạt Hải Long Vương, như ở đền thờ tại Tiên Lãng Hải Phòng. Bát hay Bạt chỉ là hai cách ghi âm khác nhau. Nhưng có lẽ bất ngờ hơn khi biết Bạt Hải chính là … Bột Hải trong cổ sử. Đền thờ Cao Lỗ, vị tướng của Thục An Dương Vương ở Nho Lâm Diễn Thọ (Nghệ An) ghi rõ họ Cao xuất xứ từ Bột Hải, với bức hoành phi “Bột Hải triều Nam” và nhiều câu đối trong đền như:
Vạn cổ anh linh nguyên Bột Hải
Ức niên miếu mạo đối Cao Sơn
Bột Hải triều Nam thì không thể còn có chỗ nào khác là biển Đông của nước ta.

Việc xác định Bột Hải là Bạt Hải – biển Đông – Động Đình cho thấy các đảo Bồng Lai, Doanh Châu trong Hoa sử nằm ở rìa Đông Bột Hải, tức là danh thắng Vịnh Hạ Long nước ta. Tần Thủy Hoàng phái Từ Phúc đi tìm chốn Bồng Lai cũng là đi ra biển Đông. Tất cả cho thấy… Hoa sử bắt đầu từ chính vùng ven biển Đông Việt Nam, đúng với truyền thuyết Việt Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long Động Đình và Lạc Long quân dẫn 50 người con mở mang thủy phủ Nam minh về phía Đông Nam…

Văn nhân góp ý:
Trong tâm thức người Á đông RỒNG là 1 biểu tượng cực kỳ hùng vỹ , mỗi lần rồng hiện là rung chuyển trời đất , sóng gào gió thét …, hình tượng rồng không thể tách rời môi trường của Rồng là biển cả , trong tứ linh Long-Ly-Quy-Phụng thì Rồng trấn phương Đông …ghép 2 thông tin biển cả và phương đông ta được ‘biển đông’…thực vậy chỉ ‘biển Đông’ mới xứng đáng với tầm cỡ của Rồng – Long.
Long cung của Long vương không thể nào xây ở cái đầm nước ngọt nông tèn tẹt chỉ vài ba thước nước như ở đầm Vân mộng được vì vậy họ Thần Long Động đình của Long mẫu là tổ mẫu của người Việt không thể sống ở vùng Hồ nam Trung quốc ngày nay.
Thông tin về họ Thần long ở động đình hồ đã mặc nhiên khẳng định Động đình hồ không phải
là cái đầm nước ngọt mang tên Vân Mộng ở Hồ nam , chỉ có biển Đông mới xứng với họ Thần long do đó Động đình hồ … chốn cội nguồn của   người họ Hùng nay là người Việt chỉ có thể là miền đất nằm bên bờ Biển đông chứ không thể là bất kỳ nơi nào khác .