Viết nên sử Dao (phần 1)

Tháng 9 năm 2018, tôi về dự lễ hội Bàn Vương ở xã Hồ Thầu trong tuần văn hóa du lịch “Qua miền di sản Ruộng bậc thang” trên vùng núi Hoàng Su Phì của tỉnh Hà Giang. Nhìn những họ người Dao hội tụ về đây bái lễ tổ tiên, trời đất trước những bức tranh thờ nhiều màu sắc vẽ hình các vị thần Đạo Giáo, những điệu múa của các thầy mo cùng với những cuốn sách cúng ghi bằng thứ chữ tượng hình Nôm Dao, tôi không khỏi băn khoăn: Vị Bàn Vương, thủy tổ của người Dao là ai? Các họ người Dao khởi nguồn từ đâu, có quan hệ thế nào với lịch sử người Việt?
1. Bàn Cổ khai thiên lập địa
Người Dao là một tộc người đông đúc sinh sống ở Trung Quốc và Việt Nam. Địa bàn cư trú ban đầu của họ ở vùng quanh hồ Động Đình ở trung lưu sông Trường Giang. Người Dao ở nhiều nơi có tín ngưỡng thờ Bàn Hồ hay ông Bàn Cổ, là người đã khai thiên lập địa ra trời đất và con người theo quan niệm của dân tộc Dao. Sách cúng người Dao nói là “Bàn Cổ xuất thế Trường Sa quốc”. Trường Sa nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc, là quê hương gốc của người Dao.
Truyền thuyết về Bàn Cổ sáng thế được ghi chép lại từ rất sớm trong Sơn Hải kinh, là cuốn sách cổ từ thời trước Công nguyên. Các nhà nghiên cứu đều cho rằng thần thoại Bàn Cổ của Trung Hoa có xuất phát từ truyền thuyết Bàn Hồ của người Dao. Người Dao còn có những truyền thuyết về thần Phục Hy cùng với bà Nữ Oa đội đá vá trời, là những thần thoại tối cổ của Trung Hoa. Như vậy, những vị thủy tổ đầu tiên của dân tộc Dao cũng là thủy tổ của Trung Hoa. Vậy người Dao có liên hệ như thế nào với tộc người gốc của Trung Hoa cổ đại?
2. Long Khuyển Bàn Hồ ngũ sắc thời Cao Tân thị
Tất cả dân tộc Dao đều tôn thờ Bàn Vương là thủy tổ của mình. Ghi chép sớm nhất về Bàn Vương người Dao là truyện Bàn Hồ trong Hậu Hán thư, như sau:
Ngày trước thời họ Cao Tân có giặc Khuyển Nhung, trong lúc Đế bị bệnh bèn xâm phạm, mà chinh phạt vẫn không khắc chế được. Bèn chiêu mộ hỏi khắp thiên hạ, người có thể lấy được đầu tướng Khuyển Nhung là Ngô tướng quân, sẽ ban cho ngàn dật vàng ròng, phong ấp vạn nhà, gả con gái cho. Vừa lúc đó Đế có con chó, lông năm sắc, tên gọi Bàn Hồ.
Sau khi lệnh ban xuống, Bàn Hồ đã tha được đầu người đến dưới cửa khuyết, quần thần kinh ngạc xem kỹ, thì chính là đầu của Ngô tướng quân. Đế rất mừng… đem con gái gả cho Bàn Hồ… Bàn Hồ được cô gái, cõng lên mà chạy vào Nam Sơn… Qua ba năm, sinh được mười hai người con, sáu nam sáu nữ… Con cháu của họ ngày càng sinh sôi… Ngày nay là họ người man ở Trường Sa, Vũ Lăng.

Một điểm hết sức đáng chú ý là Bàn Hồ được xác định xuất hiện ở thời Đế Cao Tân, là vị Đế thứ ba trong Ngũ đế Trung Hoa, sau Hoàng Đế và Đế Chuyên Húc. Theo truyện kể dân gian, thần tích và các truyện thơ Dao, đặc biệt là trong Quá sơn bảng văn, sách cổ của người Dao về nguồn gốc và sự di cư của dân tộc Dao, thì Bàn Hồ là con Long Khuyển được Bình Vương gả con gái và phong là Bàn Vương sau khi có công lớn giết được Cao Vương. Vợ chồng Bàn Hồ sinh được 12 người con (6 con trai, 6 con gái) đều được ông là Bình Vương ban sắc thành 12 họ là: Bàn, Lan, Mãn, Uyển, Đặng, Trần, Lương, Tống, Phượng, Đối, Lưu, Triệu, như các họ của người Dao ngày nay.
So sánh với chính sử Trung Hoa, Trúc thư kỷ niên, cuốn Biên niên sử viết trên thẻ tre từ thời Chiến Quốc, chép: Cao Tân thị có người vợ tên là Giản Địch, vào tiết xuân phân, khi chim huyền điểu tới thì đang theo Đế đi làm lễ tế giao để cầu tự, bấy giờ cùng người em gái của mình tắm ở sông Huyền Khâu. Có con chim huyền điểu ngậm quả trứng mà đánh rơi, trứng ấy có năm màu rất đẹp, hai người tranh nhau đi lấy, rồi dùng giỏ ngọc úp lên. Giản Địch lấy được trứng trước, bèn nuốt vào bụng, thế rồi mang thai, sau đấy xẻ ngực mà sinh ra Tiết. Tiết lớn lên rồi làm chức Tư đồ cho vua Nghiêu, vì có công với dân mà được nhận phong ở đất Thương. Trải qua mười ba đời sinh ra Chủ Quý. Vợ của Chủ Quý tên là Phú Đô, nhìn thấy có luồng khí trắng vắt ngang mặt trăng trong lòng rung cảm, thế rồi sinh ra Thang vào ngày Ất, bởi thế mới có hiệu là Thiên Ất.
Truyền thuyết “huyền điểu sinh Thương” cho biết nhà Thương là dòng dõi từ Đế Cao Tân từ thời Đế Nghiêu, vợ là Giản Địch do nuốt trứng ngũ sắc của chim huyền điểu mà sinh ra ông Tiết. Dòng dõi 14 đời của ông Tiết là vua Thành Thang. Đối chiếu truyền thuyết của người Dao với truyền thuyết Trung Hoa có thể thấy người Dao có tổ tiên chính là ông Tiết, dòng dõi họ Cao Tân. Ông Tiết là tổ của nhà Thương, nên người Dao cũng là thành phần dân tộc gốc của nhà Thương, khởi dựng từ Thiên Ất Thành Thang.
Trúc thư kỷ niên chép về Thành Thang: Thang đi về phía Đông tới bên bờ sông Lạc, ngắm nhìn đàn tế của Đế Nghiêu, lại ném ngọc bích xuống sông, lùi ra phía sau mà đứng. Sau đấy một cặp cá màu vàng nhảy vọt lên, một con chim đen theo đó mà đậu xuống dưới đàn tế, hóa thành hắc ngọc. Lại có con rùa đen xuất hiện, trên lưng có hoa văn màu đỏ sắp thành chữ, nói là Hạ Kiệt vô đạo, Thành Thang sẽ thay thế hắn. Có vị thần Đào Ngột xuất hiện ở núi Bi. Có vị thần dắt theo con sói trắng, miệng ngậm cái móc, đi vào triều đình nhà Thương.
Những điềm báo Thành Thang làm thiên tử trong Trúc thư kỷ niên mô tả Ngũ sắc: cá vàng, chim đen, rùa mai đỏ, thần ở núi (xanh), sói trắng. Ngũ sắc là biểu tượng của Ngũ hành. Người có Ngũ sắc nghĩa là người nắm được Ngũ hành, hay nắm được thiên hạ. Con sói trong chuyện của Thành Thang cùng với Ngũ sắc cho thấy sự tương đồng với truyện Long Khuyển Bàn Hồ của người Dao. Vị Bàn Vương (Long Khuyển Bàn Hồ) đã diệt Cao Vương, lấy con gái của vua mà sinh ra 12 họ người Dao chính là Thành Thang, người đã diệt Hạ Kiệt, lên ngôi thiên tử của nhà Thương.
Ghi nhận khác của người Xá, là một tộc người rất gần với người Dao có thờ Bàn Hồ, kể rằng: Thời Đế Cao Tân, trong cung có một bà già tai to bị đau tai. Trăm chim vào chầu, quan ngự y cắt ra thì xuất hiện Long Khuyển. Đó là Kim Long giống tằm, nuôi được tám tháng, Kim Long thân dài 8 thước, cao 5 thước, toàn lông ngũ sắc, bèn ban hiệu là Bàn Hồ.
Trong truyền thuyết Việt có dòng theo cha Lạc Long Quân xuống khai phá vùng đồng bằng ven biển ở phía Đông. Ban đầu đó là nhà Hạ Trung Hoa. Nhà Thương nối tiếp nhà Hạ, vẫn lấy Rồng làm biểu tượng, nhưng lại gọi là Long Khuyển. Khuyển hay Khang là tính chất của hướng Tây. Cẩu (chó) cũng là cửu, chỉ hướng Tây. Long Khuyển nghĩa là tộc người dòng Rồng ở phía Tây, bởi phần hướng Đông là nhà Hạ.
3. Bàn Canh vượt Trường Giang
Người Dao tôn thờ Bàn Vương là tổ. Nhà Thương cũng có vị vua tổ là Bàn Canh, nổi tiếng bởi những cuộc thiên di liên tục, 5 lần dời đô, lập nên nhà Ân Thương, tức là nhà Thương thứ hai. Kinh Thư có 3 thiên Bàn Canh thượng, trung và hạ nói đến việc vua Bàn Canh dời đô. Các vua Thương dời đô nhiều lần đến mức… dân gian có cụm từ “lang thang”, chỉ sự di cư bất định như các vị vua (lang) nhà Thương (thang).
Sách cúng người Dao còn kể: vào năm Dần Mão, nạn hạn hán xảy ra, con cháu người Dao rơi vào cảnh thiếu đói, cơ cực nên phải thiên di vượt biển tìm nơi sinh sống. Với sự che chở của Bàn Cổ đại vương, 12 tộc họ người Dao vượt biển thành công. Để lưu truyền cho đời sau, họ đã viết sách “Quá Sơn Bảng Văn” kể lại quá trình thiên di đầy gian khổ, ca ngợi Bàn Vương.
Câu chuyện Bàn Vương đã qua núi, vượt bể này là như nhắc tới một cuộc thiên di của người Dao từ thời rất xa xưa. “Vượt bể” ở đây là vượt sông lớn, chứ người Dao vốn không sinh sống ở bên bờ đại dương để có thể vượt biển. Có thể thấy truyền thuyết Bàn Vương vượt bể của người Dao là nói đến vua Bàn Canh, người đã dẫn một bộ phận dân nhà Thương vượt qua sông Trường Giang, lập nên đất Ân ở vùng phía Bắc sông này.
Một trong những kinh đô của nhà n Thương được biết là di chỉ khảo cổ Bàn Long Thành, là một tòa thành đất trên một khu vực khai quật rộng tới 1 km2, nay ở tỉnh Hồ Bắc, ngay phía Bắc sông Dương Tử. Di chỉ có hàng trăm ngôi mộ cổ với nhiều hiện vật đồ đồng, đồ gốm, đồ ngọc có niên đại vào đầu và trung kỳ thời Ân Thương. Đây là dấn ấn rõ ràng nhất của sự kiện Bàn Canh dẫn dân Thương vượt hà. Long là từ chỉ vua nên Bàn Long Thành tức là thành của Bàn Vương.
Hậu Hán thư kể chú chó Bàn Hồ đi về Nam Sơn, sinh ra 6 người con trai và 6 người con gái, thành tổ tiên của 12 họ người Dao. Hướng Nam xưa nay là hướng Bắc nay, tượng bởi quẻ Cấn – núi. Số 6 là con số chỉ hướng Nam xưa (Bắc nay) trong Hà thư. Chi tiết Bàn Vương (hay Bàn Hồ) đã dẫn người Dao bơi 7 ngày bảy đêm trên đại dương để đến nơi ở mới cũng tương đồng với việc nhà Thương đã năm lần bảy lượt di cư.
Tín ngưỡng thờ Bàn Hồ của người Dao đã cho thấy họ là một bộ phận người dân đã lập nên nhà Thương Ân, triều đại được truyền thuyết Việt xếp vào dòng những người con theo cha Lạc Long Quân xuống khai phá miền biển hướng Đông Nam xưa.

Đoạn sách cúng kể về Bàn Vương dẫn 12 họ người Dao “phiêu du quá hải, thiên lý chi lộ”.
Bài cúng mở đầu bằng “Bàn Cổ xuất thế Trường Sa quốc”
Đàn tế cúng trong lễ hội Bàn Vương ở Hoàng Su Phì
Các họ người Dao tế lễ Bàn Vương

Đọc lại lịch sử Đức Thánh Chèm Lý Ông Trọng

Với một góc nhìn lịch sử mới từ các di tích tín ngưỡng văn hóa trên đất Việt thì nay những câu hỏi về vị Phụ tín hầu Lý Thân thời Tần Thủy Hoàng trên đất Việt đã có lời giải đáp.

Truyện Lý Ông Trọng sinh ra từ thời Hùng Vương, làm quan qua thời An Dương Vương đến khi Tần thống nhất thiên hạ đã là chuyện khó hiểu. Cộng thêm việc năm Tần Thủy Hoàng thứ 33 (năm 214 Trước Công nguyên) tướng Tần là Mông Điềm mới vượt sông Hoàng Hà đánh Hung Nô, mở rộng đất nhà Tần sang miền Bắc. Như thế làm sao trước đó Lý Trọng có thể đi trấn giữ Hung Nô ở Cam Túc được? 

Những điều khó hiểu này đã làm cho người ta nghi ngờ về tính chân xác của truyền thuyết Lý Ông Trọng. Tuy nhiên, với một góc nhìn lịch sử mới từ các di tích tín ngưỡng văn hóa trên đất Việt thì nay những câu hỏi về vị Phụ tín hầu Lý Thân thời Tần Thủy Hoàng trên đất Việt đã có lời giải đáp.

Truyện Lý Ông Trọng trong “Lĩnh Nam chích quái” kể: Cuối đời Hùng Vương ở xã Thụy Hương, huyện Từ Liêm, quận Giao Chỉ có người họ Lý tên Thân, sinh ra to lớn, cao 2 trượng 3 thước, tính tình hung tợn. Thân giết người, tội đáng tử hình. Hùng Vương tiếc, không nỡ giết. Đến đời An Dương Vương, Tần Thủy Hoàng muốn đem binh đánh nước ta. An Dương Vương bèn đem Lý Thân cống hiến. Thủy Hoàng được Lý Thân rất mừng, dùng làm quan Tư lệ Hiệu úy. Kịp lúc Thủy Hoàng nhất thống thiên hạ, Thân được sai đem binh ra giữ Lâm Thao, Hung Nô không dám xâm phạm biên ải. Thủy Hoàng phong Thân làm Phụ tín hầu, lại gả công chúa cho Thân.

Chuyện kể Lý Ông Trọng này nghe ra… kỳ kỳ. Tần Thủy Hoàng đánh Đông dẹp Bắc, thu phục cả thiên hạ, tới nước Việt thì thay vì chống lại, An Dương Vương lại còn cho “mượn” người làm tướng để giúp Tần chống giữ Hung Nô. Lý Ông Trọng người Việt mà làm tới chức Tư lệ hiệu úy nhà Tần, được phong là Phụ Tín hầu, rồi còn làm phò mã nước Tần! Một người Việt chính gốc lại được đại đế lang sói như Tần Thủy Hoàng hậu đãi tới vậy! Lại còn từ nước Văn Lang sang tới tận Cam Túc để trấn giữ Hung Nô…

1. 

Bản sự tích đầy đủ nhất về Lý Ông Trọng không phải là thần tích đình Chèm ở Từ Liêm, mà là ở Trạo Thôn, xã Đa Lộc, huyện Ân Thi, Hưng Yên – quê mẹ của Lý Ông Trọng. Thần tích Trạo Thôn kể rằng vào đời Hùng Duệ Vương có người con gái họ Hoàng, tên A Nương ở Trạo Thôn đã duyên ngộ và kết hôn với vị Lý Tuấn, người làng Thụy Uyên ở Từ Liêm. Hai người lấy nhau sinh ra một người con trai, lớn lên thân cao hơn 2 trượng, sức địch vạn người, trí dũng siêu quần, thông minh xuất chúng. 

Khi ấy Hùng Duệ Vương cho tuyển người tài dũng, Lý Thân đổi tên thành Trọng vào cung đình ứng tuyển, được vua phong cho chức Chỉ huy sứ. Ông Trọng tính cường bạo, gây tội giết người. Hùng Duệ Vương mến tài nên đại xá cho. Lại mỗi khi giặc Chiêm Thành, Ai Lao đến quấy nhiễu là mỗi lần Ông lập công. Vua bèn lệnh cho ra trấn giữ Lâm Thao, giặc man khấu không dám xâm phạm.

Thần tích quê mẹ Lý Thân ở Hưng Yên cho thêm những thông tin lạ về Ông Trọng. Đó là Ông Trọng từng có công đánh giặc Chiêm Thành, Ai Lao và ra vùng Lâm Thao đất của vua Hùng để trấn giữ giặc man khấu. Như thế địa danh Lâm Thao được nhắc đến ở đây không nằm ở phương Bắc, mà là ngay trên đất Việt. Giặc Hung Nô trong thần tích này được gọi là Chiêm Thành và Ai Lao, tức là người phía Nam và Tây đất Việt, không phải ở tận đất Cam Túc xa xôi.

Đất Lâm Thao thời Tần có người Hồ là đất Lâm Ấp, được biết là tiền thân của Chiêm Thành sau này. Ghi chép về Lâm Ấp thời Tần có thể thấy trong “Đại Việt sử ký toàn thư”, Kỷ nhà Triệu chép: “Giáp Ngọ, Tần Nhị Thế năm thứ ba (năm 207 Trước Công nguyên), Vua (Triệu Vũ Đế) chiếm đất Lâm Ấp và Tượng Quận, tự lập làm Nam Việt Vương”.

Đại Nam quốc sử diễn ca có thơ kể về Lý Ông Trọng:

Hiếu liêm nhẹ bước thanh vân

Làm quan hiệu úy đem quân ngữ Hồ

Uy danh đã khiếp Hung Nô,

Người về Nam quốc, hình đồ Bắc phương.

Trong bài diễn ca này Hung Nô còn được gọi là người Hồ. Vận dụng phép phiên thiết Nho văn cho ta một số thông tin bất ngờ. Hung Nô đọc lướt là Hồ. Lý Ông Trọng trấn Hung Nô tức là trấn giữ người Hồ hay người Hời. Từ Liêm cũng đọc thiết âm là Tiêm, hay Chiêm. Đức thánh Chèm cũng nghĩa là Đức thánh Chiêm. Tên làng Chèm chỉ rõ công đức trấn giữ đất Chiêm của Lý Ông Trọng. Tới đây không còn nghi ngờ gì nữa, thực ra Lý Ông Trọng làm tướng Tần để giữ vùng đất Tây và Nam nước ta chống lại người Hồ hay người Chiêm.

2. 

Thần tích Trạo Thôn ghi Lý Thân làm Chỉ huy sứ thời Hùng Duệ Vương, tức giai đoạn cuối cùng của thời đại Hùng Vương. Đây cũng chính là An Dương Vương như “Lĩnh Nam chích quái” kể. Chỉ có thế mới có thể hiểu được, tại sao Lý Thân làm quan từ thời Hùng Vương, sang An Dương Vương và tới tận thời Tần.

Lý Thân là phò mã của nhà Tần, lấy Bạch Tịnh Cung công chúa, con gái của Tần Thủy Hoàng. Thế nhưng ở thành Cổ Loa lại lưu truyền rằng Lý Ông Trọng là Hữu thừa tướng, một trong Tứ trụ của triều đình An Dương Vương. Hiện Lý Ông Trọng vẫn đang được thờ cùng với các tướng Cao Lỗ, Nồi Hầu và Trần Tự Minh tại đền Thượng Cổ Loa. Có thể thấy, trong trường hợp này An Dương Vương là vua chủ của Lý Ông Trọng, tương đương với Tần Thủy Hoàng. Lý Thân làm tướng Tần, cũng là quan trụ quốc của An Dương Vương.

Bài thơ được khắc trên gỗ tại đình Chèm có câu nói tới Lạc đô – kinh đô nước Âu Lạc ở thành Cổ Loa:

Xa ôm núi Tản, Nhị hà quanh

Quận cũ Từ Liêm sương trải mành

Vững mãi Lạc đô sông với núi

Lưu truyền Mã sử ngưỡng thanh danh.

Kỳ lạ hơn, ở xã Ninh Sơn, Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ còn đình làng thờ Lý Ông Trọng là thành hoàng. Thần tích Ninh Sơn cho biết đây là nơi cha và mẹ của Lý Thân đã tới cầu tự và cũng là nơi Lý Ông Trọng hóa. Di tích này tương ứng với truyện kể của “Lĩnh Nam chích quái” rằng Ông Trọng đã phải ẩn vào trong núi và tự vẫn khi Tần Thủy Hoàng cho đòi ông về Hàm Dương.

Đặc biệt, thần tích Ninh Sơn lại kể Lý Thân đã vâng mệnh “Triệu Vũ Đế” dẫn binh đánh quân Thục ở thành Cổ Loa. Có thể thấy Triệu Vũ Đế trong thần tích Ninh Sơn là chỉ Tần Thủy Hoàng, người lập nên Trung Hoa thống nhất. Nhà Tần vốn mang họ Triệu, từ vị tổ của Tần là Tạo Phụ thời Chu Mục Vương được phong đất ở Triệu thành. Còn quân Thục trong thần tích Ninh Sơn là hậu quân của An Dương Vương, sau khi bị Tần tấn công chiếm thành Cổ Loa, đã trở thành man khấu người Hồ ở đất Nam Chiếu – Ai Lao như thần tích Trạo Thôn chép. An Dương Vương trong các ngọc phả và thần tích đều được biết là người đến từ đất Ai Lao.

Đức thánh Chèm Lý Thân sinh ra ở Từ Liêm vào thời Hùng Vương đời cuối là An Dương Vương, nhập Tần làm tướng dưới thời Tần Triệu. Tần Thủy Hoàng gả con gái và phong Lý Thân làm Tư lệ Hiệu úy, trấn thủ vùng Lâm Ấp có người Chiêm Hồ – Ai Lao, là hậu quân của nhà Thục. Ông Trọng đóng trị sở ở cố đô Âu Lạc là thành Cổ Loa. Ông mất tại vùng núi Ninh Sơn, Chương Mỹ.

Câu đối ở đình Chèm ca ngợi Lý Ông Trọng:

Điện Việt còn đây thần thượng đẳng

Ải Tần chốn đó tướng Trung Hoa.

Lý Thân là tướng Tần, cũng là người Việt. “Trung Hoa tướng” lại là “Việt điện thượng đẳng thần”. Nhà Tần của Trung Hoa cũng là một giai đoạn lịch sử của người Việt, nối tiếp nhà Thục của An Dương Vương ở Cổ Loa, như một giai đoạn phát triển mới trong thời đại Hùng Vương.

https://congdankhuyenhoc.vn/doc-lai-lich-su-duc-thanh-chem-ly-ong-trong-179220830114802645.htm

Rước giá trong lễ hội Chèm năm 2022
Lâm giá ở đường vào đình Chèm, lễ hỗi Chèm 2022
Rồng chầu trước nghi môn đình Chèm, lễ hội Chèm 2022
Tôn tượng Bạch Tịnh Cung Công chúa và Lý Hiệu úy ở đình Chèm
Bài thơ nói đến Lạc đô ở đình Chèm.

Trang sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” nói về Lý Ông Trọng ngữ Hồ.
Đình Ninh Sơn, Chúc Sơn, Chương Mỹ, Hà Nội.

Lã Ông câu cá và việc cầu hiền dựng nước Văn Lang

https://congdankhuyenhoc.vn/la-ong-cau-ca-va-viec-cau-hien-dung-nuoc-van-lang-179220815143256787.htm

Tư tưởng “hiền tài là nguyên khí quốc gia” được đề cao trong văn hóa truyền thống qua tích Lã Vọng câu cá hay Văn Vương cầu hiền. Câu chuyện Lão ông câu cá bên bờ sông không ngờ lại được ghi đầy đủ trong ngọc phả Hùng Vương và những di tích tôn thờ Thượng phụ Khương Tử Nha vẫn còn ở vùng ven biển Đông.

1. 

Vào cuối thời Ân Thương cách đây trên 3.000 năm, Lã Vọng là một người dân thường, có gia cảnh khó khăn, nhưng ông không ngừng học tập nuôi chí lớn với đời. Dù tuổi cao đã gần 80, ông vẫn kiên trì chờ đợi thời cơ, hàng ngày mang cây cần trúc không lưỡi ngồi câu cá bên bờ sông Vị. Khi đó, Tây Bá hầu Cơ Xương đang lo lắng việc nước, đi qua bến sông này, gặp được Lã Vọng. Qua nói chuyện Cơ Xương biết ông là người có đại tài, đã mời về, tôn làm Thượng phụ Khương Thái Công. Nhờ có sự phò trợ của Thái Công Lã Vọng nhà Chu đã hoàn thành đại nghiệp phạt Trụ diệt Ân. Cơ Xương được tôn là Văn Vương, vị vua khai lập nên vương triều Chu kéo dài hơn 800 năm trong lịch sử.

Hình tượng Lã Vọng câu cá – Văn Vương cầu hiền thường được sử dụng để đắp nề, vẽ tranh hay chạm khắc trong các kiến trúc đình, đền, miếu mạo, với ý nghĩa đề cao tinh thần học tập và quý trọng nhân tài. Ví dụ như trên cạnh của tấm bia đá thời Lê niên hiệu Phúc Thái (năm 1648) ở chùa cổ Tĩnh Lự (Gia Bình, Bắc Ninh) có chạm cảnh Văn Vương cầu hiền, bên trên là rồng mây quần hội. Trong ngôi đình cổ Hùng Lô thờ Hùng Vương ở vùng đất tổ Phong Châu (Phù Ninh, Phú Thọ) cũng vẽ cảnh Lã Ông câu cá ven sông, gặp Văn Vương.

Điều hết sức bất ngờ là câu chuyện về Lão Ông câu cá còn được lưu truyền trong các sự tích về vua Hùng nước Văn Lang. Khảo dị truyền thuyết họ Hồng Bàng sưu tầm ở Phú Thọ kể: Bà Âu Cơ có mang ba năm ba tháng mười ngày thì sinh ra một bọc trứng. Lúc sinh, trên trời có mây sáng chiếu (nên chỗ sinh bọc trứng sau làm chùa và đặt tên Thiên Quang thiền tự), bảy ngày sau bọc trứng nở ra một trăm người con trai. Lạc Long Quân không biết đặt tên mới cầu khẩn thiên địa, được lão tiên hay câu cá ở Việt Trì về đặt tên các con giúp (ở Việt Trì vẫn còn hòn đá có dấu chân lão tiên này ngồi câu cá).

Việc vua Hùng cầu Lão Tiên ông bên bến sông cũng được ghi trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả. Khi ấy, đức Hiền Vương (Lạc Long Quân) sinh được trăm người con trai, không biết phải phân định trưởng thứ và đặt tên cho các hoàng tử như thế nào, nên đã lập đàn cầu trời giúp. Lúc đó bên bến Việt Trì, cạnh chùa Hoa Long, bỗng xuất hiện một Lão ông tướng mạo dị thường, chống cây gậy trúc, đứng trên tảng đá hình lưng rùa mà rửa chân. Vua Hùng cho mời Lão ông tới nhờ chuyện. Lão tiên bốc quẻ trong Thiên thư rồi lấy bút ghi tên và thứ bậc cho trăm người con trai, để lên chiếc âu vàng, đặt tại ngôi chùa Thiên Quang trên núi Hùng Nghĩa Lĩnh. Từ đó trăm hoàng tử có tên gọi, phân biệt trưởng thứ. Người con cả nối ngôi vua cha. 99 anh em còn lại chia nhau về trấn giữ các nơi đầu non góc biển, là tổ của Bách Việt.

2. 

Truyện Tề Thái Công thế gia trong Sử ký Tư Mã Thiên, cho biết nguồn gốc của ông Lã Vọng như sau: Thái Công Vọng Lã Thượng là bậc thượng nhân ở vùng Đông Hải. Tổ tiên của ông từng làm đến chức Tứ nhạc, giúp vua Vũ trị thủy thổ rất có công lao.

Thái Công Lã Vọng là người vùng Đông Hải, tức là vùng biển Đông ngày nay. Vua Vũ nhà Hạ trị thủy ở cửa Long Môn cũng là Tản Viên Sơn Thánh đã khơi dòng sông Đà đoạn thác Vạn Bờ xưa.

Di tích thờ Khương Thái Công ở ven biển Đông nay còn tại ngôi nghè cổ của làng Kiều, thuộc phường Quảng Châu, thành phố Sầm Sơn, Thanh Hóa. Nghè làng Kiều có biển đề tên là “Thượng Thượng đẳng tối linh từ“, thờ vị thành hoàng chính là Khương Tử Nha. Tượng thờ và bài vị trong nghè ghi: Thái Công hiệu Khương Thượng thượng đẳng tối linh tôn thần vị.

Câu đối lưu truyền ở vùng Sầm Sơn nhắc tới Khương Thái Công nhà Chu thờ ở nghè làng Kiều như sau:

Chu Khương, Tôn Tử nghè ghi tại

Sử sĩ phong lưu chiếm đắc nhàn.

Khương Thái Công còn là vị thần chủ chính được tôn thờ ở Võ Miếu tại kinh thành Huế dưới triều Nguyễn. Võ Miếu được xây dựng vào thời vua Minh Mạng năm thứ 16 (1835) tại làng An Ninh, nay thuộc địa bàn của xã Hương Hồ, huyện Hương Trà, cách cố đô Huế khoảng 4,5 km về phía Tây. Theo Đại Nam nhất thống chí, quy chế của Miếu là: Dinh chính ba gian hai chái, dinh tiền năm gian, tả vu, hữu vu đều năm gian. Án giữa thờ bài vị Thượng phụ Khương Thái Công nhà Chu…

Liên quan đến cuộc chiến diệt giặc Ân ở nước ta có truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương, lên ba tuổi cưỡi ngựa sắt ra dẹp giặc. Trong lễ hội làng Phù Đổng, nay đã là di sản văn hóa phi vật thể thế giới, đội quân của ông Dóng có mặt đầy đủ các nhân vật đại diện cho các tầng lớp nhân dân là người câu cá (ngư), người thợ săn (tiều), người cày ruộng (canh), và trẻ chăn trâu (mục). Có thể thấy hình tượng Lã Ông câu cá đã được tái hiện ngay trong lễ hội kỷ niệm cuộc chiến thần thánh giữa vua Hùng nước Văn Lang chống giặc Ân ở làng Phù Đổng.

Cùng với truyền thuyết về Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân thì các sự tích và di tích về Khương Thái Công bên bờ Đông Hải là bằng chứng lịch sử giữ nước và dựng nước Văn Lang của người Việt từ 3.000 năm trước. Bài Hát sử trong lối hát cửa đình (ca trù) đã ca ngợi thời đại hào hùng của lịch sử khi vua sáng tôi hiền làm nên đất nước muôn đời bền vững:

Khá khen thay ông Lã Vọng

Chốn Thạch Bàn tuổi tác bền bồi

Chỉ một cần dưới bóng trăng soi

Cá Vị Thủy luống câu người hào lược.

Bỗng chốc thấy đám mây ánh nước

Đập xe loan sực nức bên sông

Hội long vân ngư thủy hợp đồng

Quyết một trận vang lừng cần trúc.

Bức chạm Văn Vương cầu hiền trên bia chùa Tĩnh Lự.
Đắp nề tích Lã Vọng câu cá ở đình Đông Lai, xã Quang Tiến, Sóc Sơn, Hà Nội.
Chạm gỗ Văn Vương cầu hiền ở đình Trung Văn, Nam Từ Liêm, Hà Nội.
Lã Ông câu cá và Văn Vương cầu hiền ở đình Hùng Lô, Phú Thọ.
Tranh vẽ Lão Tiên bên bến Việt Trì ở chùa Hoa Long, Việt Trì.
Nghè làng Kiều ở phường Quảng Châu, Sầm Sơn.
Bài vị Thái Công Khương Thượng ở nghè làng Kiều.
Người câu cá trong đoàn quân của Phù Đổng Thiên Vương.
Phường Ải Lao với tứ dân ngư tiều canh mục (áo đỏ) trong hội làng Phù Đổng.
Tảng đá hình lưng rùa ở bến Việt Trì.
Những tấm bia còn lại của Võ Miếu tại Huế.

Vãn cảnh Quỳnh Viên, nơi Chử Đồng Tử học đạo bất tử

Bài đăng trên Tạp chí Công dân và Khuyến học ngày 28/7/2022 https://congdankhuyenhoc.vn/van-canh-quynh-vien-noi-chu-dong-tu-hoc-dao-bat-tu-179220727152402541.htm

Truyền thuyết về Chử Đồng Tử lấy công chúa Tiên Dung, con gái vua Hùng thứ 3, được lưu truyền trong lịch sử như một cuộc tình duyên đẹp từ 4.000 năm trước.

Chuyện về Chử Đồng Tử và Tiên Dung được khái quát đầy đủ qua câu đối ở đền Đa Hòa tại Khoái Châu, Hưng Yên như sau:

Hiếu thuận động tới trời, bãi Chử màn che thành kỳ ngộ
Thành chí thông tận thánh, Quỳnh Lâm gậy nón tiếp chân truyền.

Toàn cảnh núi Nam Giới nhìn từ dãy Hồng Lĩnh.

Dấu tích về nơi thành đạo của Chử Đồng Tử

Trong truyền thuyết này ngoài cuộc kỳ ngộ giữa Tiên Dung và Chử Đồng Tử ở bãi Tự Nhiên bên sông Hồng, còn kể tới việc Thánh Chử đã học được phép thuật ở Quỳnh Lâm. Truyền Đầm Nhất Dạ trong Lĩnh Nam chích quái chép: “Đồng Tử bèn cùng lái buôn đi buôn bán. Đến núi Quỳnh Viên, trên núi có am nhỏ, bọn lái buôn thường ghé lại đó lấy uống nước. Đồng Tử lên am chơi, trong am có sư tên gọi Phật Quang truyền phép cho Đồng Tử, Đồng Tử ở lại học phép, giao tiền cho lái buôn mua hàng. Sau bọn lái buôn quay lại am chở Đồng Tử trở về. Sư bèn tặng Đồng Tử một cây trượng và một chiếc nón mà nói rằng: “Linh thiêng ở những vật này đây”. Đồng Tử trở về, giảng đạo lại cho Tiên Dung. Tiên Dung giác ngộ, liền bỏ phố phường, chợ búa cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo.”

Một trong những nơi có dấu tích rõ ràng nhất về sự kiện Chử Đồng Tử gặp sư Phật Quang là tại núi Nam Giới, nay thuộc huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Học giả Bùi Dương Lịch từ thế kỷ 18 trong cuốn Nghệ An ký chép: “Núi Nam Giới ở trên bờ biển xã Dương Luật, huyện Thạch Hà… Nơi cao nhất của núi phía Đông Bắc như trán Rồng. Liền ở dưới có một dải sống núi như mũi Rồng. Hai bên tả hữu có hai hòn đá tròn như hình mắt Rồng. Dưới mũi đột ngột nổi lên một ngọn núi tròn giống như đầu mũi Rồng. Dưới đầu mũi có một ao trời rộng độ vài mẫu như miệng Rồng, sâu thăm thẳm. Bốn bên ao nước cỏ lầy lội không thể vào được. Hai bên ao có hai ngọn nhánh ôm lại như râu Rồng. Nước ao chảy quanh co trong đó ra phía Bắc ra biển rồi đổ xuống… Trên bờ ao có hai nền nhà. Tục truyền vào thời Hùng Vương, Chử Đồng tử và công chúa Tiên Dung tu đạo ở đấy, gọi là núi Quỳnh Viên”. 

Bùi Dương Lịch cũng trích bài văn của sách Ốc lậu thoại nói về suối Hiêu Hiêu ở núi Nam Giới rằng: “Suối này ở cõi Nam phục, núi Nam Giới, huyện Thạch Hà. Đời truyền thời Hùng Vương, Chử Đồng Tử và Tiên Dung đắc đạo ở đây. Hiện nay trên đỉnh núi có một cái Ao tắm, trên bờ cao có hai cái nền nhà …”. 

Trên đỉnh của núi Nam Giới ở Thạch Hà hiện nay vẫn còn một bàn cờ tiên bằng đá trên mặt có kẻ ngang dọc hình bàn cờ, một tảng đá lớn tục gọi là Dấu chân tiên và một khu ao rộng, nước từ ao chảy xuống thành con suối Hiêu Hiêu (Hau Hau). Đây là dấu tích thần tiên nơi Chử Đồng Tử đã đắc đạo bên bờ biển miền Trung.

Sau khi tu hành thành đạo ở Quỳnh Lâm, Chử Đồng Tử nhận được cây gậy thần và chiếc nón thiêng, có phép thuật vô cùng, tham dự vào Âm Dương, có khả năng cải tử hoàn sinh. Chử Đồng Tử được tôn là Chử Đạo Tổ, là một trong những vị tổ của Đạo Giáo ở nước ta. Hình ảnh của bàn cờ tiên cũng là thuật Âm Dương vì cờ là “dịch kỳ”, là dịch lý, tức là quy luật biến hóa của trời đất. Chính nhờ có phép thuật này mà Chử Đồng Tử được coi là vị thần bất tử thứ hai trong bộ Tứ bất tử nước Nam.

Hình ảnh bàn cờ tiên còn được thể hiện qua bức chạm gỗ tiên đánh cờ trước núi Quỳnh Viên ở đền Chiêu Trưng hay đền thờ Vũ Mục công Lê Khôi tại chân núi Nam Giới. Cũng tại đây còn lưu truyền một bài thơ của một nhà giáo người Hà Tĩnh từ những năm 1930 về danh thắng Quỳnh Viên:

Ngàn dặm quan sơn một bước trèo

Gập ghềnh hòn đá ngó cheo leo

Mây bay rải rác màu đen bạc

Suối chảy ồn ào giọng hóc heo,

Sự nghiệp Chiêu Trưng bia đá tạc

Ván cờ Đồng Tử đã phong rêu,

Ai lên ướm hỏi người tiên tử

Núi có tình chi đội mão kiều.

Ván cờ Đồng Tử tuy đã phong rêu, đường lên đỉnh núi Nam Giới đã bị cây cỏ che lấp, nhưng ngọn núi Nam Giới đội mũ mây bên Cửa Sót còn đó. Con suối Hiêu Hiêu vẫn chảy từ Ao Trời trên đỉnh núi với dòng nước ngọt lành còn đó. Những dấu tích về nơi thành đạo của Chử Đạo Tổ như vẫn còn sống động qua 4.000 năm lịch sử.

Bức chạm Tiên đánh cờ trước núi Quỳnh Viên của đền Chiêu Trưng.

Vùng tiên cảnh cổ thuyết Quỳnh Viên

Ở chân núi Nam Giới nay còn dấu vết về nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Phật. Đó là ngôi đền cổ thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh. Bên trong đền vẫn giữ được bộ tượng thờ Tam Tòa Thánh Mẫu bằng gỗ cổ và đẹp lạ. Trong đền có 2 tấm biển rước đề “Đệ Nhất”, “Thánh Mẫu”.  Cũng tại nơi này, ngày nay người ta đã cho lập chùa Quỳnh Viên và lưu truyền là nơi tu hành của vị sư Phật Quang trong truyền thuyết Chử Đồng Tử.

Tấm hoành phi ở chính điện đền Thánh Mẫu ghi “Quỳnh Liễu cung”. Quỳnh Liễu tương đương với Quỳnh Lâm hay Quỳnh Viên. Như thế, vị trí Quỳnh Lâm nơi Chử Đồng Tử gặp sư Phật Quang chính là nơi núi Nam Giới Quỳnh Viên. Vị sư thầy mà Chử Đồng Tử đã gặp liên quan trực tiếp đến Thánh mẫu Liễu Hạnh.

Cặp câu đối trước đền Thánh mẫu đề:

Thiên thánh chủ hồ Bồng, vườn Lãng

Địa thần tiên biển Rót, núi Quỳnh. 

Chữ “Rót” nghĩa rót nước (ra biển) nay đọc thành Sót, chỉ con sông đổ ra biển. Khu cửa sông ở đây nay gọi là Cửa Sót bên cạnh núi Quỳnh Sơn.

Vị Tiên Phật mà Chử Đồng Tử đã gặp chính là Mẫu Liễu, người được gọi là “Đệ Nhất Thiên Tiên Thánh mẫu”. Theo các sắc phong xưa Mẫu Liễu còn được phong là “Đế Thích Tiên đình”, tức là vị Tiên theo dòng Đế Thích. Theo truyền thuyết Mẫu Liễu vừa là Tiên, vừa là Phật, đã nhiều lần giáng sinh hạ giới và cũng là một trong những vị thần bất tử nước Nam. Lần “giáng sinh” đầu tiên của vị Đế Thích Tiên này không phải ở thời Lê, mà ở thời kỳ Hùng Vương tại Cửa Sót Nam Giới.

Bản thân Vua Trời Đế Thích cũng là thần bất tử và giỏi về dịch kỳ (đánh cờ) như trong chuyện hoàn hồn cho kỳ thủ Trương Ba theo sự tích “Hồn Trương Ba da hàng thịt”. Đế Thích được người Việt tôn là Ngọc Hoàng Thượng Đế, là vị thần được thờ phổ biến trong các điện thờ Phật. Ngay tại chùa Quỳnh Viên ngày nay cũng có tượng cổ thờ Ngọc Hoàng.

Núi Nam Giới Quỳnh Viên ở Hà Tĩnh còn đủ các vết tích Bàn cờ tiên, Ao trời trên đỉnh núi, đền thờ Đế Thích Tiên Quỳnh Liễu cung ở lưng núi và sự tích lưu truyền về ván cờ Đồng Tử ở đền Chiêu Trưng. Tất cả là chứng tích cho một vùng tiên cảnh cổ thuyết Quỳnh Viên.

Bài thơ của vua Lê Thánh Tông ngự đề trên bia đá ở đền Chiêu Trưng tại chân núi Nam Giới ghi lại cảm nhận của vị Hoàng đế nước Việt trước cảnh thần tiên như cửa Trời Thượng Đế của danh thắng Quỳnh Sơn:

Quỳnh Viên chuyện cũ lưu tên núi

Vũ Mục đền nay trải mấy đời

Giang hồ bỗng tỉnh ra điều mộng

Tưởng đã cưỡi bè tới cửa Trời.

Vũng Rồng ở chân núi Nam Giới, nơi có đền Thánh mẫu và đền Chiêu Trưng.
Hoành phi “Quỳnh Liễu cung” của đền Thánh mẫu Cửa Sót.
Tam Tòa Thánh mẫu ở Quỳnh Liễu cung.
Tấm bia có khắc bài thơ của vua Lê Thánh Tông về Quỳnh Viên ở đền Chiêu Trưng.

Tam Lang Long Vương, những người con theo cha Lạc Long Quân xuống biển

Ông Nhăng mà lấy bà Nhăng

Đẻ được con rắn thằn lằn cụt đuôi.

Câu đồng dao tưởng như nói chuyện vu vơ, nhưng lại là một câu chuyện lịch sử thật sự cách đây 4.000 năm từ khi cha Rồng Lạc Long Quân dẫn những người con xuống chia trị miền duyên hải.

Sách Nghệ An phong thổ ký chép: “Xưa ở Chỉ Châu có hai vợ chồng ông Mái, mụ Mái đã luống tuổi mà chưa có con. Một hôm người vợ nhặt được ba quả trứng về nhà, chồng đem bỏ vào cái chậu. Ít lâu sau ba quả trứng nở thành ba con rắn, ông bèn thả xuống ngã ba sông, bỗng mưa gió nổi lên ầm ầm lúc sau mới lặng. Nhưng hôm sau thì ba con rắn trở về quấn quýt bên ông bà, ông đi đâu rắn cũng theo đi. 

Một hôm, ông ra bờ cuốc ruộng, ba con rắn bò lượn xung quanh tỏ ý rất vui vẻ, nhưng không may ông vô tình cuốc nhằm một con làm đứt đuôi. Ba con rắn cùng bỏ đi ẩn dưới vực Đan Hai. Về sau ba con rắn thành Thần được dân Chỉ Châu lập Miếu thờ gọi là Tam Lang Long vương”.

Đền Tam Lang Long Vương ở Chỉ Châu nay thuộc xã Thạch Lạc, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Di tích này được biết với tên đền Sắc vì tới nay còn lưu giữ được 86 đạo sắc, phần lớn phong cho các vị thần là Ông Cả, Ông Hai, Ông Ba Long Vương. Các sắc phong này có niên đại từ năm Thịnh Đức thứ 5 (1657) thời Hậu Lê đến năm Thành Thái thứ 13 (1992) thời Nguyễn. Đền nằm trong cùng một khuôn viên với di chỉ khảo cổ quốc gia Thạch Lạc trên núi Sò điệp, nơi từng phát hiện được di cốt người tiền sử có niên đại 4.000 – 5.000 năm.

Niên đại trên 4.000 năm lịch sử ở vùng đất ven biển của cư dân sống bằng nghề đánh bắt hải sản (sò điệp) mang tên Thạch Lạc thờ các vị Long Vương thì chắc chắn liên quan đến sự kiện cha Lạc Long Quân dẫn 50 người con xuống biển. Truyện Họ Hồng Bàng kể: “Kinh Dương Vương có tài đi dưới thủy phủ, lấy Long Nữ là con gái Long Vương ở hồ Động Đình, sinh ra Sùng Lãm hiệu là Lạc Long Quân, cho nối ngôi trị nước… Long Quân lấy Âu Cơ, trong năm sinh ra một bọc trứng, cho là điềm bất thường, vứt ra ngoài đồng; qua bảy ngày, bọc vỡ ra một trăm quả trứng, mỗi trứng nở ra một con trai, mới đem về nhà nuôi…”

Đoạn truyền thuyết này rất giống với sự tích Tam Lang Long Vương ở Hà Tĩnh như được chép ở Miếu Ao Thạch Trị hay đền Sắc Thạch Lạc. Tiếp theo, khi Lạc Long Quân và Âu Cơ chia tay, Long Quân nói: “Ta là nòi rồng, đứng đầu thủy tộc … Ta đem năm mươi trai về thủy phủ chia trị các xứ, nàng đưa năm mươi trai về ở trên đất, chia nước mà trị. Lên núi, xuống bể, hữu sự báo cho nhau biết, đừng quên”.

Lạc Long Quân cùng 50 người con trai về Thủy phủ không phải ở một chỗ mà là “chia trị các xứ”, là các nơi đầu khe góc biển. Chính vì thế mà ở rất nhiều vùng sông nước và ven bờ biển còn lưu lại những sự tích về các vị Long Vương Thủy phủ của thời kỳ này. Tam Lang Long Vương ở Hà Tĩnh là một trong số đó. 

Sự tích Tam Lang Long Vương có thể gặp đầu tiên là tại vùng Ngã ba Việt Trì nơi cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ chia tay lên rừng xuống biển. Thần tích ở làng La Phù (Thanh Thủy, Phú Thọ) kể về Thánh mẫu Động Đình Phan Cù Nương sinh ra 3 con trai được phong làm các vị thủy quan, đi trấn nhậm các nơi. Tương tự ở làng Đào Xá (Thanh Thủy, Phú Thọ) có bà Trang Hoa, vợ của ông Hùng Hải, sinh ra ba bọc trứng, nở ra 3 con rồng, rồi hóa thành 3 người con trai, đặt tên là Đạt Công Long Vương, Mãn Công Long Vương và Uyên Công Long Vương. Ba người con được cử đi trị nhậm ở vùng sông Đà, sông Thao. Vùng Động Đình ở Phú Thọ là chỉ khu vực sông nước quanh Ngã Ba Hạc.

Dòng sông Hồng bắt đầu từ hợp lưu của ba sông Đà, Lô, Thao tại Ngã Ba Hạc đổ ra biển ở vùng Thái Bình. Nơi đây cũng có sự tích về 3 con Hoàng xà ở đền Đồng Bằng (xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ). Nàng Quý đi tắm ở sông Đào, cảm động với giao long mà có thai, sinh được một bọc, nở ra 3 con Hoàng xà. 3 con rắn sau hóa thành 3 chàng trai giúp vua Hùng đánh giặc. Con Hoàng xà lớn nhất trở thành Vĩnh Công Đại Vương Bát Hải Động Đình, tức là vị đức Vua cha Thoải phủ trong tín ngưỡng Tứ phủ. Đây cũng chính là hình ảnh của Vua cha Lạc Long Quân, vì Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả ghi rõ, Lạc Long Quân đã “hóa sinh về biển làm đế chủ Thủy Tiên Động Đình Long Quân”. Động Đình ở Thái Bình là vùng đất Đào Động của Vĩnh Công Đại Vương, tức là vùng đất ven biển cửa sông Hồng.

Khi so sánh sự tích Tam Lang Long Vương ở Hà Tĩnh với các truyền tích ở vùng sông Hồng thì có thể thấy rõ đây cùng là một sự kiện lịch sử. Hà Tĩnh theo trong Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả ghi là nơi đã diễn ra cuộc kỳ ngộ giữa cha Tiên Lộc Tục và mẹ Rồng Thần Long tại cửa biển Hội Thống, trên đất Cựu đô Ngàn Hống của vùng núi Hồng sông Lam. Ông Cả Long Vương ở Hà Tĩnh không ai khác chính là người con trưởng của Kinh Dương Vương và Động Đình Long Nữ, tức là vua Lạc Long Quân.

Ở Hà Tĩnh hiện có khá nhiều nơi thờ Tam Lang Long Vương và thường được gọi là đền Cả, như đền ở xã Ích Hậu huyện Lộc Hà, hay xã Xuân Hội huyện Nghi Xuân. Ngay ở xã Thạch Trị huyện Thạch Hà cũng có ngôi miếu thờ Ông Cả Long Vương với tên gọi là Miếu Ao. Nơi đây nổi tiếng với sự linh ứng kỳ diệu qua những câu chuyện như vào các ngày lễ có bóng rồng hiện dưới ao. Ngày chính lễ Tam Lang Long Vương ở Hà Tĩnh gọi là ngày “kỳ phúc lục ngoạt”, tức là lễ cầu phúc vào rằm tháng Sáu Âm lịch hàng năm. Người dân địa phương còn lấy nước từ ao để làm thuốc uống chữa bệnh sau đi đã thành tâm thắp hương cầu thần tại Miếu.

Những câu chuyện của 4000 năm trước, khi người Việt đi xuống khai phá vùng sông nước ven biển, xăm mình chài lưới như những con Giao long trên sóng nước, còn lưu lại đậm nét trong các di chỉ khảo cổ và di tích tín ngưỡng ở vùng đất miền Trung như ở Hà Tĩnh.

Bài thơ Nôm về Tam Lang Long Vương ở đền Sắc Thạch Lạc như còn khắc tạc câu chuyện này:

Giao long được nước vẫy vùng

Anh uy khôn xiết, linh thông khôn lường

Vua Thủy long lòng càng thân ái

Bèn phong cho hà hải khê nguyên…

Uy linh lừng lẫy trời Nam

Thiên thu sùng phụng năm năm lâu dài.

(Bài viết đã gửi đăng trên Tạp chí điện tử Công dân và Khuyến học).

Sắc phong thời Hậu Lê năm Cảnh Hưng thứ 44 (1783) cho Ông Ba Long Vương ở Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Sắc phong thời Hậu Lê năm Chính Hòa thứ 5 (1684) cho Ông Cả Long Vương ở Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Sắc phong thời Hậu Lê năm Vĩnh Thịnh thứ 6 (1710) cho Ông Hai Long Vương ở Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Mảng chạm rồng ở đình Đào Xá, Thanh Thủy, Phú Thọ.
Đền Sắc Thạch Lạc ở Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Miếu Ao ở xã Thạch Trị, Thạch Hà, Hà Tĩnh.
Mộ tưởng niệm người tiền sử ở di chỉ quốc gia Thạch Lạc.

Vì sao người Việt cần học lịch sử?

Cây có cội, nước có nguồn. Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vững chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới.

Tượng Văn Tuyên Vương Khổng Tử ở chùa Bổ Đà, Việt Yên, Bắc Giang.

Trong cuốn An Tĩnh cổ lục, Hippolyte Le Breton, học giả người Pháp của Viện Viễn Đông bác cổ từng viết về người Việt: “Cái gọi là sự tiến bộ chỉ là truyền thống đang đi lên. Nếu không có những truyền thống tốt đẹp, con người sẽ bị lôi cuốn theo bản năng xấu. Nước Đại Việt giàu về quá khứ và các bạn nên hiểu rằng chính người chết cai trị người sống. Những đức tính tốt mà chúng ta có, chúng ta nhờ cha mẹ ông bà mà có. Hãy kính thờ vong linh tổ tiên bằng cách phổ biến lịch sử của tổ tiên”.

“Chính người chết cai trị người sống” nghĩa là các bậc tiền nhân đã khuất mới là những người chi phối tinh thần và tư tưởng của chúng ta ngày nay. Xã hội ngày nay là kết tinh của quá khứ. Không học lịch sử để biết về quá khứ, làm sao có thể hiểu được những gì đang diễn ra ngày hôm nay.

Khổng Tử, vị thánh nhân được tôn là người thầy của muôn đời (Vạn thế sư biểu) bởi qua những tác phẩm kinh sách để lại ông đã truyền dạy chúng ta cách sống, cách làm người trong xã hội. Sách Luận ngữ ghi lời của đức Khổng Tử: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời. Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao”. 

Cùng với Kinh Lễ, Kinh Thi thì Kinh Thư, tức là sách lịch sử thời cổ đại, là một trong Ngũ kinh mà bất cứ người đi học nào cũng phải biết. Những câu chuyện đặc sắc từ Kinh Thư như chuyện thịnh thời Nghiêu Thuấn, những gương hiếu thảo, những hành động dũng cảm, những cách xử trí thông minh… được chọn lọc lưu truyền trong kinh sách. Những điển hình này có giá trị giáo dục, răn dạy, hướng người học đến một nhân cách cao đẹp, mà Khổng Tử gọi là mẫu “người quân tử”: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Học lịch sử không chỉ là để tu dưỡng bản thân, ứng xử trong gia đình, mà còn là để giúp nước và ra hội nhập với thế giới.

Học lịch sử đối với người Việt lại càng quan trọng bởi mở sách sử nước ta ngày nay xem thời kỳ cổ sử thấy thật mông lung. Hàng loạt câu hỏi về tổ tiên, về cha ông người Việt luôn nhức nhối qua từng trang huyền thoại. Cha Rồng, mẹ Tiên là ai? 18 đời Hùng Vương là thế nào? An Dương Vương có thật hay không? Triệu Đà là người Nam hay người Bắc? Lý Bôn, Triệu Việt Vương – những vị đế vương đầu tiên của nước Nam có thật hay không?… Người Việt có thể yên giấc được hằng đêm mà không rõ mình từ đâu mà ra, mình là ai hay không?

Sách sử quốc gia là vấn đề trọng yếu mà mỗi một triều đại khi khởi đầu đều phải quan tâm. Vua Minh Mạng từ khi lên ngôi đã cho thu tập các tư liệu từ các nguồn khác nhau về thời đại dựng nước của người Việt và biên soạn thành cuốn Nam Việt Hùng Thị sử ký. Do tính chất đặc biệt của cuốn Sử ký này nên nó được đặt tên là “Hùng Vương Kim ngọc Bảo giám thực lục” và được nhà vua khâm sắc chỉ ban cho cho các quan đứng đầu các bộ Binh, bộ Hộ, bộ Hình, bộ Lễ và phó sứ đoàn để tuân mệnh sử dụng. Hiểu biết đúng về một lịch sử chân xác là nhận thức căn bản cho việc thi hành các nhiệm vụ trong quân đội (bộ Binh), trong quản lý nhà nước (bộ Hộ), trong văn hóa và tín ngưỡng (bộ Lễ) và trong các hoạt động đối ngoại (sứ đoàn).

Trang cuối bản sao chép tay “Hùng Vương Kim ngọc Bảo giám thực lục” lưu tại đền Vân Luông, Việt Trì, Phú Thọ.

Lịch sử Việt cùng những con người Việt đã làm nên 5.000 năm lịch sử hiện đang bị bụi mờ của thời gian và nhân gian che lấp. Một thời gian dài văn hóa Việt bị đứt gãy khi nền văn minh duy lý của phương Tây tràn vào Việt Nam, thay đổi toàn bộ bộ mặt văn hóa từ chữ viết, trang phục, kiến trúc, kỹ nghệ… Sự thay đổi này đã làm cho người Việt ngày nay mất đi mối liên kết với quá khứ, với tổ tiên, dẫn đến những lệch lạc về văn hóa, nhân sinh trong xã hội hiện đại. Trong bối cảnh đó, nối lại dòng linh khí của tiền nhân Việt là việc làm vô cùng cần thiết và việc học, việc tìm hiểu lịch sử là nhiệm vụ cấp bách hơn bao giờ hết với mỗi người dân Việt.

Lịch sử là sự vận động của xã hội đã từng diễn ra trong quá khứ nên một thang lịch sử chính xác là chỗ dựa cho nhận định, phân tích, nghiên cứu của những môn học khác về văn hóa, dân tộc học, tôn giáo học, khảo cổ học, nhân học… Lịch sử đã qua nhưng nó không mất, mà nó đang sống động trong mọi mặt của đời sống xã hội, trong từng phong tục tập quán, nghi lễ, từng kiến trúc, từng vật phẩm, từng cuốn sách xưa cũng như nay. Lịch sử bắt đầu từ quá khứ và tiếp nối đến tương lai. Nếu hôm nay chúng ta chối bỏ quá khứ thì chắc chắn chính chúng ta sẽ bị tương lai chối bỏ, vì lịch sử là dòng chảy thời gian nối tiếp và liên tục không dừng.

https://congdankhuyenhoc.vn/vi-sao-nguoi-viet-can-hoc-lich-su-179220611200109664.htm

Chim Âu và Rồng Lạc – xướng danh dòng giống Tiên Rồng

Người Việt ai cũng tự hào về truyền thuyết khởi nguồn Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm người con, là tổ của Bách Việt. Nhưng ít ai biết rằng biểu tượng Tiên Rồng lại hiện hữu ngay trên những hiện vật của thời Hùng Vương như trống và các vũ khí đồng cùng thời.

Hình ảnh những con chim lớn mỏ dài, đuôi rộng, giang cánh tung bay trên mặt các trống đồng không xa lạ gì với người Việt ngày nay. Loài chim này được Giáo sư Đào Duy Anh gọi là “chim Lạc” khi so sánh chúng với các loài “hậu điểu” ở vùng Giang Nam di cư cùng với những chiếc thuyền có các chiến binh đội lông chim như thể hiện trên tang trống đồng. 

Nhận xét của Giáo sư Đào Duy Anh khá xác đáng rằng hình chim trên trống đồng là loài chim di cư và được người Việt cổ coi là vật tổ. Tuy nhiên, việc gọi loài chim này là Lạc thì cần xét thêm, vì người Việt không biết loài chim nào tên là Lạc. 

Vật tổ của mình mà đến tên còn không lưu lại được thì sao gọi là vật tổ?

Trong khi đó, hình ảnh loài chim vật tổ của người Việt gắn liền với Tiên nữ Âu Cơ. Loài chim biểu tượng cho dòng Tiên là Phượng hoàng, khi gắn với tên bà Âu Cơ thì phải gọi là chim Âu mới hợp lý. Nguyên mẫu của loài chim di cư này có thể là loài chim Hạc lớn như Hồng hạc, tới nay vẫn còn bay về vùng Đồng Tháp Mười vào mùa đông mỗi năm. 

Nhận định khác cho rằng đó là loài chim Hồng hoàng hay Phượng hoàng đất. Dù là Hạc hay là Phượng thì ý nghĩa biểu tượng cho dòng Tiên lên núi theo Mẹ vẫn là nội hàm của hình ảnh này.

Một dẫn chứng khác về hình tượng chim Âu là ở đền Thượng khu di tích Cổ Loa. Đền Thượng thờ Thục An Dương Vương, nhưng nghi môn của đền không đắp rồng chầu mặt trời như những nơi khác, mà lại đắp hình Phượng chầu mặt trời. 

Đền Cổ Loa còn có tên là “Tiên từ đệ nhất”, có thể hiểu nghĩa là ngôi đền hàng đầu thờ dòng Tiên. An Dương Vương đã lấy đất Lạc của Hùng Vương để lập ra nước Âu Lạc nên An Dương Vương phải là dòng Âu hay dòng Tiên lên núi xuất phát từ mẹ Âu Cơ.

Còn tên gọi Lạc chính xác hơn phải là để chỉ vật tổ biểu tượng cho dòng theo cha Lạc Long Quân xuống biển. Sách Giao Châu ngoại vực ký viết: “Xưa khi Giao Chỉ chưa có quận huyện, đất có ruộng lạc, ruộng ấy theo triều thuỷ lên xuống, dân khẩn thực ruộng ấy, nên gọi là Lạc dân. Lập ra Lạc vương, Lạc hầu, coi giữ các quận huyện. Nhiều huyện có Lạc tướng, Lạc tướng có ấn đồng và dây thao xanh”.

Rõ ràng từ Lạc gắn liền với ruộng lúa nước có “thủy triều lên xuống”, tức là vùng đồng bằng ven sông biển, bãi bồi bán ngập nước. Lạc thực ra là đọc khác của Nác, mà nay tiếng vùng Nghệ Tĩnh vẫn phát âm có nghĩa là Nước. Lạc Long Quân dẫn 50 người con trai xuống khai phá miền ven biển nên những người này được gọi là Lạc vương, Lạc hầu, Lạc tướng. Biểu tượng của Lạc Long Quân là cha Rồng, nên gọi là Rồng Lạc, hay Lạc Long.

Rồng vốn có nguyên mẫu là Thuồng luồng, hay một loài Cá sấu lớn, sống bán cư ở vùng sông nước ven bờ. Loài vật này còn được gọi là Giao long trong truyền thuyết vì vào thời sơ sử trước Công nguyên, đồng bằng sông Hồng là một bãi bồi lớn, là nơi rất thuận lợi cho các loài bò sát lưỡng cư sinh sống. Truyện Chim bạch trĩ trong Lĩnh Nam chích quái kể rằng, sứ giả nước Việt Thường đối đáp với Chu Công rằng người Việt “vẽ mình để làm hình rồng, khi lặn lội dưới nước thì giao long không dám phạm đến”.

Người Việt lấy Giao long hay Rồng Lạc làm vật tổ bởi liên quan đến tục xăm mình cho những người sống ở vùng ven sông, làm nghề đánh cá, chài lưới, thường xuyên tiếp xúc với Thuồng luồng cá sấu. Chữ Lạc trong Lạc Long Quân có bộ Trãi, chỉ một loài bò sát, càng chứng tỏ thêm điều này.

Hình ảnh những con giao long vật tổ có thể thấy ở ngay trên các đồ đồng thời kỳ văn hóa Đông Sơn (quãng thế kỷ IV Trước Công Nguyên đến thế kỷ I). Trống đồng Nam Cường 1 là một trống dạng Đông Sơn, được phát hiện ở Thành phố Lào Cai. Trên mặt trống ở vòng ngoài có hình 14 con chim bay ngược chiều kim đồng hồ. Ở vòng trong là hình 4 con “thú lạ” chầu quay quanh mặt trời 14 cánh ở tâm mặt trống. Những con “thú lạ” có mõm dài như mỏ chim, đầu có sừng hoặc mào, 4 chân nâng thân thú ngắn. Đặc biệt là chiếc đuôi dài và rộng. 

Đuôi loài thú này có thể cuộn lại như trường hợp thể hiện trên mặt trống đồng Phú Xuyên, cho thấy đây không phải là loài cáo, mà là một loài bò sát có khả năng cuộn mình.

Con “thú lạ” đó thực ra không hề lạ, mà là cách thể hiện con Giao long hay Rồng của người Việt ở thời kỳ trống đồng. Hình Giao long tương tự được thấy trên nhiều vũ khí khác cùng thời như mũi giáo, lưỡi rìu, vỏ kiếm. Thường gặp hình một đôi Giao long thân dài, đối xứng chạm chân vào nhau, đuôi có thể cuộn lại, hoặc duỗi thẳng ra. Hình giao long hay rồng trên các vũ khí là linh hồn biểu trưng cho sức mạnh, sự cường tráng của chúng.

Biểu tượng cặp Giao long trên vũ khí thời Đông Sơn đã từng được Viện khảo cổ học Việt Nam lấy làm logo. Loài thú trên trống đồng và vũ khí đồng Đông Sơn như thế chính là biểu tượng của Rồng. Toàn cảnh mặt trống đồng Nam Cường 1 nhìn lại là hình Rồng chầu Phượng múa dưới ánh mặt trời rực rỡ.

Người viết bài này còn được xem trên vỏ một thanh kiếm thời kỳ Chiến Quốc (tương đương với thời văn hóa Đông Sơn) đúc nổi và mạ bạc hình Rồng và Phượng. Đặc biệt là hình Rồng được thể hiện trong phong cách Đông Sơn với thân kéo dài, đuôi xoắn và xếp thành cặp đối xứng. Đôi phượng được thể hiện với phong cách tương tự, đầu phượng có mỏ nhọn có mào, thân kéo dài, cánh ngắn, đuôi dài. Sự kết hợp Rồng – Phượng như vậy gặp một cách ổn định trên các hiện vật của thời kỳ này.

Rồng – Phượng hay chim Âu – rồng Lạc thể hiện trên các đồ đồng Đông Sơn là sự xướng danh nguồn gốc dân tộc từ Cha Rồng xăm mình lội nước đắp đê, chiến đấu với thủy quái, đến Mẹ Tiên ngẩng đầu giang cánh chinh phục các triền núi cao. 

Huyền thoại Tiên Rồng còn lưu dấu ngàn năm trên các cổ vật thời sơ sử.

Nghi môn trong đền Thượng Cổ Loa với bức đại tự “Tiên từ đệ nhất”.
Phượng chầu mặt trời trên nóc nghi môn đền Thượng Cổ Loa.
Trống đồng Nam Cường 1 ở Bảo tàng tỉnh Lào Cai.
Rồng Lạc, chim Âu trên mặt trống đồng Nam Cường 1 ở Bảo tàng tỉnh Lào Cai.
Giao long trên mũi giáo thời Đông Sơn.
Lưỡi rìu Đông Sơn có hình giao long.

https://congdankhuyenhoc.vn/chim-au-va-rong-lac-xuong-danh-dong-giong-tien-rong-1792207071643037.htm

Thần chính khí Long Đỗ là ai?

Hai cuốn sách cổ Lĩnh Nam chích quái và Việt điện u linh tập đã ghi chép lại sự tích về thần Long Độ (Long Đỗ), trong đó nhắc đến đoạn với Cao Biền như sau:

Khi xưa, Cao Biền đời nhà Đường được cử sang cai trị Giao Châu, cho đắp thành Đại La. Một hôm, Biền đang vẩn vơ dạo ngoài cửa đông thành, bỗng thấy mưa to gió lớn, rồi một đám mây ngũ sắc bốc lên từ mặt đất, tụ lại ở trên không, tia sáng bốc lên chói mắt, khí trời trở nên lạnh lẽo. Giữa đám mây, thấy hiện ra một người “đầu đội mão xích hoa, thân mặc áo tử hà, xiêm là, giày đỏ, bay lượn ở trong mây mù, hương lạ thơm lừng, đàn sáo hợp tấu, lững lờ uyển chuyển, lúc thấp lúc cao, lâu ước độ hai khắc rồi bỗng nhiên tan mất”. Cao Biền kinh dị, cho là yêu quái. Đêm hôm ấy, Biền mộng thấy người gặp lúc ban ngày, đến bảo rằng: “Ta là Long Độ vương khí quân, thấy ông mở rộng kinh thành thì đến xem chơi, chớ có ngờ”. Biền tỉnh dậy than: “Ta không biết làm chính trị nên quỷ thần vượt mặt ta, sự này là điềm lành hay điểm gở?”. Có người khuyên Cao Biền dựng đền, đắp tượng thờ rồi lấy một nghìn cân sắt, đồng làm bùa trấn yểm, Biền làm y như vậy. Bỗng một trận cuồng phong nổi lên quật đổi cây to, tung đất, làm tất cả đồng sắt trấn yếm đều biến thành tro bụi. Biền than thở: “Ta phải về Bắc thôi”, sau quả nhiên như thế.

Trong Lĩnh Nam chích quái cũng như trong tín ngưỡng dân gian từ lâu, thường đồng hóa hai vị thần Long Đỗ và vị thần của sông Tô Lịch  lại làm một. Trong Tô Lịch giang thần truyện của Lĩnh Nam chích quái đã chép lại truyện thần sông Tô Lịch, trong đó có đoạn sau kể về việc Cao Biền gặp thần sông Tô Lịch không khác gì truyện kể ở trên về thần Long Đỗ.

Đền Bạch Mã

Thần Long Đỗ cũng được chép chung với thần Bạch Mã trong các sự tích, nhưng thần Bạch Mã hiển linh dưới thời Lý Thái Tổ xây thành Thăng Long, chứ không phải thời Đường Cao Biền. Vậy thần Long Đỗ là nhân vật lịch sử nào?

Một gợi ý hết sức hay về thần Long Đỗ là cuốn Bách Việt triệu tổ cổ lục của họ Nguyễn ở Bình Đà chép về bà Đỗ Quý Thị, húy là Ngoan, có tên tự là Đoan Trang. Tục truyền bà là con gái cụ Long Đỗ Hải Vương trấn trị ở cửa sông Tô Lịch vùng Nghi Tàm. Bà còn có 8 người em trai được tôn là Bát bộ kim cương, có công phù giúp người cháu là Lộc Tục…

Vị thần sông Tô Lịch hay thần hồ Dâm Đàm (hay hồ Mây Mù như từ dùng của Bách Việt triệu tổ cổ lục) không ai khác chính là Lạc Long Quân, còn được thờ là Uy Linh Lang ở dọc bờ hồ Tây. Hồ Tây là “đầm rồng của thủy quốc Động Đình”, tức là kinh đô của Lạc Long Quân. Kinh đô này có tên là An Ấp, nay còn lưu trong địa danh Yên Phụ (Yên Hoa, An Trì, Yên Thành, Yên Ninh…), nơi thờ chính của Uy Đô Linh Lang Đại vương (xem thần tích đền An Trì).

Bách Việt triệu tổ cổ lục còn đề cập đến việc dòng họ Nguyễn Đỗ đến bên bờ hồ Mây mù sinh sống, trồng cây hoa gạo để đánh dấu nơi ở của mình. Trong tiếng Việt cổ “gạo” còn được gọi là “kháo”. Vì thế hồ Mây mù (dâm Đàm hay Hồ Tây) lúc đầu được gọi là “hồ xác kháo”, tức là để chỉ ở ven bờ và cả mắt nước hồ rụng đầy hoa gạo. Lâu dần chữ “kháo” đọc biến âm đi thành chữ “cáo”… (theo Lã Duy Lan).

Việc hồ Tây liên quan đến cây Gạo cũng gặp trong sự tích về Uy Linh Lang, rằng bà phi họ Lạc của Diệu Đế sinh ra một bọc trứng, cho là điềm quái lạ bèn đem vứt ở bên bờ sông Hồng chỗ bãi Nhật Chiêu. Bọc trứng nở ra 7 con rồng bay lên. Đời sau trồng ở chỗ đó 7 cây gạo (mộc miên) để tưởng nhớ chuyện này… (Tây Hồ chí).

Nói cách khác, cây Gạo là biểu tượng của các vị thủy thần trong hình rồng. Uy Linh Lang cùng với “Đoài hồ Thất Giáp” là Lạc Long Quân và “Lục bộ Thủy phủ” đã dâng nước tiêu diệt Cửu vĩ Hồ ở đầm Xác Cáo (Truyện Hồ tinh).

Bà Đỗ Quý Thị tương đương với bà phi Diệu Đế, là mẹ của Lạc Long Quân, tức Quý Nương sinh Hoàng Xà ở đền Đồng Bằng (Quỳnh Phụ, Thái Bình), hay Phan Nương Thánh mẫu Động Đình ở đình La Phù (Thanh Thủy, Phú Thọ), tức chính là Mẫu Thoải… 8 người anh em họ Đỗ tương đương với Lục bộ thủy phủ hay Đoài hồ Thất giáp hay Ngũ vị Tôn quan trong Tứ phủ.

Hoành phi Long Đỗ Đại vương và Linh Lang Đại vương ở đình Cổ Vũ (phố Hàng Gai, Hà Nội)

Thần Tô Lịch và thần Bạch Mã như vậy hiển linh ở 2 thời gian khác nhau (thời Đường Cao Biền xây thành Đại La và thời Lý Thái Tổ xây Thăng Long) nên chưa chắc đây là cùng một vị thần. Thần Long Đỗ thực sự là Long – Rồng, là Long Quân mà được thần xưng danh ngay trong truyện: Ta là Long độ vương khí Quân… Còn thần Bạch Mã có thể là một vị thần khác, gắn liền với vùng Long Biên, do ở đó còn nhiều di tích thờ thần Bạch Mã. Bạch Mã như vậy là Long Biên hầu Sĩ Nhiếp, không phải vị cổ thần từ thời quốc sơ.

Một trong những bằng chứng về sự phân biệt giữa thần Tô Lịch và thần Bạch Mã là đình Tân Khai ở khu phố cổ Hà Nội, thờ 2 vị thần này riêng biệt cùng với thần Thiết Lâm. Tới đây đã có thể kết luận về lai lịch của 3 vị thần của thành Đại La – Thăng Long là:

– Thần Tô Lịch, cũng là thần Long Đỗ, chính là Long Quân hay Linh Lang Đại vương.

– Thần Thiết Lâm chỉ vùng đất ở phía Tây của hồ, ứng với Cửu vĩ Hồ, là dòng lên núi đã bị Long Quân cùng những vị thủy thần khác đánh đuổi.

– Thần Bạch Mã là “cụ già” làm quan trưởng lại ở địa phương thời đầu Công nguyên, tức là Long Biên hầu Sĩ Nhiếp.

Biển đề Long Đỗ chung linh tại đình Tân Khai

Câu đối ở chính điện đình Tân Khai:

Đại La thành nhất đái giang sơn, Long Đỗ chí kim do thắng tích

Tứ vọng tự lũy triều hương hỏa, Lạc Đô chung cổ độc anh thanh.

Câu đối khẳng định đất Đại La chính là kinh đô của thời Lạc Long Quân xưa.

Thượng Nguyên giữa lòng Hà Nội

Ngày Rằm tháng Giêng là ngày Tết Nguyên Tiêu hay Tết Thượng Nguyên, là một lễ tiết lớn theo  truyền thống của người Việt trong dịp đầu xuân. Vào tiết Thượng Nguyên người ta thường làm lễ cầu an, cầu phúc, ước nguyện điều lành trong năm mới. Điều mà ít người biết đến là Tết Thượng nguyên vốn là ngày lễ vị Thiên Quan, là người ban phúc trời cho nhân gian. Đây không chỉ là tục thờ và cầu phúc của người Hoa ở Sài thành, mà ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội từ lâu đã có một ngôi đền cổ thờ Thiên Quan Tứ phúc.

Đền Vũ Thạch ở số 13B phố Bà Triệu, nằm cách bờ hồ Gươm chỉ vài bước đi bộ. Đây là một ngôi đền cổ, rất may mắn đã không bị phá hủy trong thời gian chiến tranh và còn bảo tồn được nguyên vẹn  tới ngày nay. Ngoài cổng đền có đắp vòng bích tròn đề dòng chữ Nho “Đại Thiên hành hóa”, dịch là: “Thay Trời làm phép”. Đôi câu đối ở 2 bên cột ngôi đền nêu bật thêm ý nghĩa của ngôi đền: “Dữ Phật vi lân, từ chúc quang khai thành bất dạ/ Đại Thiên hành hóa, đức phong phổ phiến hải vô ba”. Nghĩa là: “Làm phép thay Trời, gió Đức thổi tràn yên sóng bể/ Kế bên cùng Phật, đuốc Từ soi rạng sáng đêm thành”.

Bước vào tòa chính đường của ngôi đền ta có thể chiêm ngưỡng bức cửa võng chạm khắc rồng chầu mặt trời rất tinh xảo, được sơn son thiếp vàng rực rỡ, ngăn tạo không gian thờ cúng linh thiêng bên trong. Phía trên cửa võng là bức hoành phi: “Đức lớn vô cùng”. Bên phải có bức hoành phi đề: “Giáo hóa vạn dân”. Bức hoành phi bên trái đề: “Che trùm bốn biển”. Tất cả đều nêu ý nghĩa đức hóa của thần bao trùm khắp muôn dân.

Hai bên ban thờ chính điện có 2 vị quan hầu khoác áo vàng đang chắp tay quỳ chầu. Bên cạnh là một đôi nghê gỗ, được chạm khắc quanh thân với những lớp vẩy và các đao lửa, tuy hình khối mộc mạc nhưng toát lên vẻ trang nghiêm và cổ kính.

Sâu trong nội điện là tượng một vị thần ngồi trên ngai rồng, khoác áo vàng có thêu rồng, đầu đội mũ cánh chuồn. Tay phải thần cầm một thẻ bài. Tay trái xòe ra như đang ban phúc lộc. Phía trên bức tượng có hoành phi đề: “Khắc tương Thượng Đế”, dịch là “Gánh vác, trợ giúp Thượng Đế”.

Không hiểu tại sao các tài liệu ngày nay về đền Vũ Thạch lại nói nơi đây thờ một vị tướng thời Trưng Vương, trong khi thần tượng hoàn toàn không thể hiện đây là võ tướng, mà là hình một vị tôn quan khá rõ nét. Chính xác hơn nữa, bản sắc phong năm Tự Đức thứ sáu (1852) của đền Vũ Thạch ghi: “Sắc cho thần Thiên Quan, nguyên tặng là thần Tứ phúc Diên hi Công chính”. Thiên Quan Tứ Phúc là tên phong hiệu của vị thần ở đền Vũ Thạch.

Tấm bia “Vũ Thạch bi ký” khắc năm Khải Định thứ chín (1924) có đoạn: “Thọ Xương huyện Vũ Thạch thôn … Thiên Quan bảo điện, di tượng thanh cao, thần ư Phật tự chi tiền, hách hách quyết thanh, dương dương tại thượng, cầu tất ứng…”. Dịch là: “Thôn Vũ Thạch huyện Thọ Xương… có điện báu Thiên Quan, di tượng thanh cao, thời ở trước chùa Phật, tiếng thiêng hiển hách, rờ rỡ nơi trên, cầu tất ứng…”. Như thế, bức tượng thần ở đền Vũ Thạch là tượng cổ thờ Thiên Quan.

Thiên Quan là một trong Tam Quan Đại đế của Đạo Giáo gồm Thiên Quan, Địa Quan và Thủy Quan. Thiên Quan chủ về đường Sinh nên có ý nghĩa “Tứ phúc”, đem điều may mắn đến cho nhân gian. Ngày “Quan Trời ban phúc” là ngày Rằm tháng Giêng, hay còn gọi là Tết Thượng Nguyên. Còn Địa Quan xá tội vào ngày Trung Nguyên Rằm tháng Bảy. Thủy Quan giải ách vào ngày Hạ Nguyên Rằm tháng Mười.

Tín ngưỡng thờ Tam Quan khởi đầu từ thời Đông Hán bởi giáo chủ Trương Đạo Lăng và truyền xa mãi tới nay. Ở nước ta, Tam Quan là đối tượng thờ chính của Đạo Giáo Tam Phủ, từng rất phổ biến trước đây. Đền thờ Tam Quan được xây dựng ở nhiều nơi như trong quần thể di tích chùa Thầy ở Sài Sơn (Quốc Oai) hay ở thành phố Bắc Ninh, ở xã Cao Đức huyện Gia Bình… Một loạt các đình làng ở Thanh Hóa cũng thờ các vị Thiên Quan, Địa Quan, Thủy Quan làm thành hoàng làng.

Trong đền Vũ Thạch, ngoài chính điện thờ Thiên Quan thì điện bên trái là nơi thờ Thánh mẫu Liễu Hạnh cùng với các vị thần tiên trong Công đồng Tứ phủ. Đặc biệt ở đây có bức hoành phi đề: “Hồi đầu thị ngạn”, nghĩa là “Quay đầu lại là bờ”. Bức hoành phi này không chỉ là lời cảnh tỉnh giác ngộ con người hướng thiện, mà  trong bối cảnh của đền Vũ Thạch thì nó có thể hàm ý nói tới cuộc đại chiến Sòng Sơn giữa Mẫu Liễu với Tam Quan Nội đạo tràng. Trong cuộc chiến này Mẫu Liễu đã bị bại bởi 3 vị quan – 3 đạo sĩ của phái Nội đạo, sau nhờ Phật Tổ hiện lên giải cứu mới thoát khỏi kiếp nạn và từ đó được tôn sùng là Thánh mẫu.

Bia ký Vũ Thạch có đoạn: “Mẫu đức bao hàm trạch biến Cửu thiên chi vũ. Tiên dung yểu điệu diễm khai Tam phủ chi hoa.” Nghĩa là: “Sự bao hàm đức của Mẫu như mưa từ Cửu thiên. Vẻ yểu điệu hình tiên như hoa nở đẹp của Tam phủ”. Từ sau cuộc đại chiến Sòng Sơn, Tam phủ của Đạo Giáo vốn chỉ thờ Tam Quan đã mở rộng ra thờ các nữ thần và trở thành Đạo Mẫu Tứ phủ như ngày nay.

Nằm ở phía sau đền Vũ Thạch là ngôi  chùa Quang Minh, cũng là một di tích cổ hiếm hoi còn bảo tồn được khá nguyên vẹn trong lòng Hà Nội. Làm lễ cầu phúc nơi điện Thiên Quan, dâng hương tới Thánh mẫu Liễu Hạnh ở đền Vũ Thạch xong có thể ghé chùa cổ trong ngày Thượng nguyên đầu xuân năm mới. Đôi câu đối ở nhà thờ tổ chùa Quang Minh như nhắc lại ký ức về một Hà thành hào hoa nhưng rất tâm thành tín lễ:

“Ngọc Đảo hương phong, cách phượng thải hoa hàm khẩu kệ/ Kiếm Hồ thu nguyệt, kim long xuất thủy phủng tâm kinh”.

Nghĩa là: “Hương gió Ngọc Sơn, phượng cách hoa tô ngâm lời kệ/ Trăng thu Hồ Kiếm, rồng vàng phun nước đỡ tâm kinh.”

Bài đăng báo Lao Động cuối tuần số 7-9 từ 13 đến 27 tháng 2 năm 2022

Phong tục thờ cúng tổ tiên THẮP SÁNG LÒNG BIẾT ƠN VÀ Ý THỨC VỀ NGUỒN CỘI

Tâm thức quy hướng về nguồn cội có mặt trong tất cả những diện mạo của văn hóa (đức tin, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục, nhận thức về đời sống) cho đến văn minh (văn minh dịch học, văn minh vật chất, v.v.). Bởi tâm thức quy hướng về nguồn cội ấy nên người Việt có tục thờ cúng tổ tiên. Và đó là cách để dân tộc Việt nuôi dưỡng được lòng biết ơn và thắp sáng lên ý thức về nguồn cội của mình. Đây là một phong tục đẹp, không hề mê tín, đầy đủ về cả hệ thống triết lý, thực hành và mang giá trị nhân văn sâu sắc.
Cũng như các cộng đồng dân tộc khác, người Việt có nhu yếu tìm cho mình một nơi nương tựa bằng niềm tin tâm linh. Nhưng điều đặc biệt và khác biệt ở chỗ, thay vì sáng tạo ra những vị thần để thờ theo tưởng tượng, người Việt đã thiêng hóa lịch sử và ông cha mình thành chung một dòng chảy cội nguồn, thành những vị thần, những biểu tượng thiêng liêng để thờ tự. Từ thực tế lịch sử cho thấy, người Việt đã thành công trong việc gìn giữ lòng biết ơn và ý thức về nguồn cội qua việc thờ cúng tổ tiên.
Ở trong gia đình, chúng ta có ban thờ gia tiên và chư vị long thần thổ địa, vốn cũng là những vị tổ tiên lâu xa của dân tộc. Rộng hơn phạm vi gia đình là việc thờ tổ của các dòng họ. Ngoài làng xã lại có tục thờ tổ nghề, tục thờ tam, tứ phủ và ở phạm vi quốc gia, cả dân tộc thờ chung một vị quốc tổ Hùng Vương. Thờ cúng tổ tiên là một phong tục đẹp lâu đời của người Việt, giúp gắn kết những cá nhân cùng huyết thống, gắn kết tình thân tộc và tình đồng bào. Bên cạnh đó, phong tục nay còn có tác dụng giáo dục lòng biết ơn sâu sắc. Chính việc hình thành một hệ thống thờ tự tổ tiên từ trong từng gia đình giúp cho ý thức về nguồn cội trở thành một mạch nguồn chảy trong huyết quản của mỗi người con mang dòng máu Việt. Từ khi tượng hình được cáo với tổ tiên và nguyện cầu tổ tiên che chở, đến lúc nhắm mắt xuôi tay cũng là “lá rụng về cội”. “Sống gửi, thác về” trở thành một chu trình, trong đó, sự có mặt nơi cuộc sống dường như chỉ để hoàn thành một sứ mạng trong vai trò tiếp nối tiền nhân. Và sống sao cho xứng đáng với tổ tiên, dòng tộc, để ngày trở về hòa vào dòng chảy cội nguồn…
Chính từ ý nghĩa đoàn kết nhân tâm và tính giáo dục sâu sắc, tục thờ cúng tổ tiên đã trở thành nền tảng cho nếp sống của dân tộc Việt và tạo nên một chuỗi những giá trị. Tâm thức biết ơn và hướng về nguồn cội trở thành nếp sống hiếu hạnh, trọng sự thương kính và làm thành yếu tố căn cốt cho mọi giá trị văn hóa dân tộc từ đó mà phát sinh. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra để có thể tiếp nối và phát huy trọn vẹn những giá trị tốt đẹp mà cha ông đã trao truyền, chúng ta cần có một nỗ lực để khơi nguồn tinh hoa văn hóa Việt, khơi lại mạch nguồn nếp sống hiếu hạnh ngàn đời của dân tộc. 

Chính điện thờ Hùng Vương Thánh Tổ tại đình làng Trẹo, thị trấn Hùng Sơn, Lâm Thao, Phú Thọ

Thờ cúng tổ tiên trong gia đình Việt

Có một biểu tượng tinh hoa văn hóa dân tộc trong mỗi ngôi nhà Việt rất cụ thể, thiêng liêng và gần gũi. Đó là ban thờ gia tiên. Ban thờ gia tiên không phải chỉ để thờ người đã khuất, ban thờ là biểu tượng của nguồn cội. Chính bởi vậy, khi thắp lên một nén hương có nghĩa là thắp lên lòng biết ơn và niềm thương kính đối với tổ tiên, ông bà, với cội nguồn của mình. Tục thờ cúng của người Việt được bắt đầu từ việc người Việt thờ cúng tổ tiên trong chính ngôi nhà của mình. Đây là một phong tục giúp hình thành nên nếp nhà và từ đó giáo dục lòng yêu nước, thương nòi cho mỗi người con Việt từ lúc được sinh thành.
Nhà trong tâm thức người Việt, dựng lên không chỉ xuất phát từ nhu yếu để có nơi ở, mà con là để có nơi thờ tự tổ tiên. Người Việt quan niệm “con cháu ở đâu ông bà ở đó”, nên có nhà là có ban thờ gia tiên và mình phải ở như thế nào cho xứng đáng. Mỗi ngôi nhà là một gia đình. Từ nơi nếp nhà ấy sẽ có gia huấn và tạo ra gia phong. Gia phong là nề nếp chuẩn mực sống của một gia đình được lưu truyền qua nhiều thế hệ. Vậy gia phong ấy thể hiện ở đâu? Chính là ở nơi ban thờ tổ tiên trong gia đình để người ta dặn dò, nhắc nhở, giáo dục cháu con về nếp sống chuộng sự thương kính, lòng biết ơn và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc.
Nhà của người Việt thường ở miền Bắc là ba gian hay năm gian, gian giữa là gian đẹp nhất, người ta dành để thờ. Gian giữa chính là gian nổi bật nhất về chạm trổ và trưng bày vì nơi đó có sự ngự trị của tổ tiên. Nhà nào khó khăn hay nghèo túng hơn thì nơi ban thờ vẫn cố gắng sao cho trang trọng nhất có thể. Người ta có thể vì cuộc sống hoặc hoàn cảnh riêng mà biết hoặc không biết rõ về tổ tiên của mình nhưng vẫn luôn có ban thờ làm thành một biểu tượng để bày tỏ tấm lòng mình với cội nguồn.

Tran Ông và tran Bà trong một gia đình ở Quảng Trị

Ngày nay, tục thờ cúng tổ tiên trong gia đình ở miền Trung còn giữ được qua việc thờ Tran Ông và Tran Bà. Trong mỗi gia đình như ở Thừa Thiên Huế, trên ban thờ Tran Ông, còn gọi là Tran Tiên Sư, có đặt ba bát hương thờ. Khi cúng Tran Ông người ta thỉnh tấu Trạng (sớ) lên các vị Tiên Sư như sau: “Tam Giáo Thánh Hiền Lịch Đại Tiên Sư, Bách Công Kỹ Nghệ liệt vị Tổ Sư, Đông Trù Tư Mệnh Táo Quân, Ngũ Phương Thổ Công Tôn thần, Xuy Đào Thần nữ, Tiến hỏa Lang quân. Trang viện liệt vị nhất thiết uy linh, đồng thuỳ chiếu giám, cộng giáng cát tường”.
Trong đó đầu tiên thỉnh các vị “tiên sư” về tôn giáo các đời, tiếp là các vị “tổ sư” của các nghề kỹ nghệ, sau mới đến những vị thần bếp, thần đất, thần gió, thần lửa. Có thể thấy các vị được thờ ở Tran Ông đều là các vị tổ – tiên, có ngay trong tên gọi của Tran là Tran Tiên Sư.
Bên phải của Tran Ông còn có lập Tran Bà, được xem là Tran bổn mạng của người nữ trong gia đình. Người nữ này thờ Tran Bà trong 60 năm ứng với 60 hiệu của Bà (Lục thập hoa giáp). Vị thần sáng tạo ra Lục thập hoa giáp là Cửu Thiên Huyền Nữ nên nhiều chỗ trên Tran Bà người dân đặt tranh của Cửu Thiên Huyền Nữ để thờ. Tuy nhiên, lòng sớ cúng Tran Bà cho biết, vị thần chủ được phụng thờ là “Tây Cung Vương Mẫu Bổn Mạng Thánh Đức Tiên Bà”. Cửu Thiên Huyền Nữ cũng là Mẫu Cửu trùng hay Mẫu Thượng thiên trong hệ thống thờ của đạo Mẫu Tứ phủ. Mẫu Thượng thiên còn là Tây Thiên Quốc Mẫu, vị mẫu thần của núi Tam Đảo vì theo các tư liệu tại đây Quốc mẫu Tây Thiên thường giáng đồng với tư cách là Mẫu đệ nhất Thượng thiên.

Cửu Thiên Huyền Nữ, tranh kính Nam Bộ

Thắp lên một nén hương trước ban thờ gia tiên là thắp lên niềm thương kính của mình với nguồn cội. Ban thờ tổ tiên trở thành “biểu tượng của nguồn cội” thiêng liêng và vững chãi giữa không gian ngôi nhà Việt. Cha mẹ, ông bà và xa hơn nơi ban thờ gia tiên, đó là những vị long thần thổ địa, những vị tiên sư, thánh hiền, biểu tượng cho nguồn cội ngàn đời của dân tộc.
Rộng hơn phạm vi gia đình là ngoài họ mạc, người Việt có tục thờ vị tổ của dòng tộc mình. Mỗi dòng họ lớn thường có một nhà thờ họ trong làng. Ngày giỗ nơi nhà thờ họ chính là dịp để những người con trong tộc họ mình trở về để tụ họp, để nhắc nhớ về tổ tiên và tình thân tộc. Trong cả nước, có nhiều dòng họ đã cùng tìm lại lịch sử cha ông mình, kết nối với nhau sau những biến thiên mất mát của lịch sử. Đó cũng là một nét đẹp khơi nguồn thật đáng trân trọng và vô cùng cần thiết.

Tục thờ bách thần làng xã

Khơi nguồn tinh hoa văn hóa Việt, tức là khơi dậy những giá trị đẹp và lành của tiền nhân đã ngàn đời tạo dựng. Lịch sử Việt đặc biệt ở chỗ, chúng ta có riêng một dòng sử dân gian qua các truyền thuyết, tích cổ, qua những thần tích, ngọc phả còn lại. Cổ sử, từ cái cốt lịch sử trở thành những trang huyền sử. Thế nên, hiếu đạo không dừng lại ở việc thờ cúng tổ tiên, mà còn thể hiện thế giới quan và nhân sinh quan của dân tộc Việt. Thờ Thần là một đặc trưng trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên của người Việt, trong đó có thờ thành hoàng, thờ tổ nghề và có hệ thống nhất là thần điện của đạo Giáo Tam phủ và đạo Mẫu Tứ phủ.
Phần lớn các vị được tôn làm thành hoàng làng hay một vị phúc thần bảo hộ cho làng xã đều có danh xưng, sự tích và các công hạnh cụ thể, được ghi chép trong thần tích và ngọc phả. Những nhân vật lịch sử có sự tích rõ ràng được gọi là các Nhân thần. Những nhân vật xa xưa của cổ sử với sự tích có phần dị thường, kỳ lạ thì thường được xếp vào hàng Nhiên thần. Tuy nhiên, khi xét sâu vào sự tích và đối chiếu với hệ thống thờ tự chung thì thường dù có được gọi là “Sơn thần” hay “Thủy thần” thì các vị thần này vẫn có nguyên mẫu là một nhân vật từng tồn tại trong quá khứ. Đó là những vị “chánh thần” được chính thức gia phong, nêu gương sáng qua các triều đại.

Tranh sứ Đạo Mẫu Tứ phủ ở đền Mẫu tại phường Thanh Trì, Hoàng Mai, Hà Nội


Hùng Vương Thánh Tổ Ngọc phả chép lời của Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: “Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên… Vì thế ta phải chia tách riêng. 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc”. Theo đó, Lạc Long Quân hóa tiên về biển làm Động Đình Đế Quân, cai quản Thủy phủ, tức chính là đức Vua cha Bát Hải Động Đình, vị tôn thần hàng đầu trong đạo Mẫu Tứ phủ.
Những người con theo cha Lạc Long Quân cai quản miền ven biển được gọi là các “thủy thượng linh thần” hay các Linh Lang. Tục thờ các thủy thần Linh Lang rất phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ, với sự tích thần hóa thân ở nhiều thời gian khác nhau. Đó là Uy Linh Lang, con của Lạc Long Quân bên bến Nhật Chiêu của sông Hồng, là thần Vệ Quốc và Dực Thánh bên Hồ Tây thời vua Hùng đánh giặc Thục, là thái tử Hoàng Lang thời Lý trấn Tây của kinh thành Thăng Long, là Hoàng tử thứ 7 con vua Trần Nhân Tông ở vùng Yên Phụ đánh giặc Nguyên Mông… Tất cả đều là một biểu tượng được tôn sùng và thờ cúng của nhân dân đối với một bậc anh hùng khai quốc tối cổ, vị quốc tổ Lạc Long Quân của thời 4.000 năm lịch sử dựng nước. Tìm hiểu một vị thần tiêu biểu trong những vị thần tối linh của dân tộc Việt, chúng ta có thể hiểu được khái lược về cách người Việt “thiêng hóa” lịch sử, gìn giữ sự thờ tự chính của mình.
Truyền thuyết dân gian được hình thành qua hàng ngàn năm với hình thức truyền miệng. Đương nhiên sẽ không thể phản ánh chân xác những gì đã diễn ra trong quá khứ mà chỉ là những nét phác, những tiếng vang của lịch sử. Cốt lõi của sự việc thờ thần, thần hoàng như tục thờ Thủy Thần – vua cha Lạc Long Quân ở trên là việc dân tộc Việt đã gìn giữ lịch sử, gìn giữ truyền thống thờ phụng tổ tiên để biểu hiện cho nếp sống Hiếu đạo, chuộng sự thương kính của mình.

Chạm rồng ở đình Công Đồng ở xã An Mỹ, Bình Lục, Hà Nam


Các vị thủy thần con cháu của Lạc Long Quân thường được kể với sự tích hiện hình xuất sinh ban đầu là rắn thần. Kèm theo đó là câu chuyện về ông Dài và ông Cụt, là những vị thủy thần thân rắn có công hộ đê chống lũ lụt giúp nhân dân, như trong những chuyện kể ở vùng dọc sông Cái (sông Hồng), từ ngã ba Việt Trì cho tới cửa biển ở Thái Bình. Những thần rắn này đều trở thành những nhân vật thật sự được tôn sùng, tôn xưng là Tôn quan (trong Tứ phủ), Đại vương hay Long thần (các thành hoàng). Dù thế nào thì ý nghĩa cốt lõi của biểu tượng “Thần rắn – Long Vương – Thủy thần” thì vẫn là một. Đại đồng, tiểu dị bởi có chung một cốt lõi, là những thủ lĩnh, những anh hùng của cộng đồng trong quá trình người Việt đi khai phá vùng đồng bằng sông Hồng từ thủa cha Rồng Lạc Long Quân xuống biển. Việc bóc tách các trầm tích lịch sử để thấy ra được cốt lõi của tín ngưỡng là điều vô cùng quan trọng.
Tục thờ cúng bách thần thực chất là thờ cúng tổ tiên, các vị tiên hiền liệt sĩ đã có công lao to lớn trong gây dựng xã hội và dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử. Các bậc tiền nhân anh liệt đó đã “hóa thần” trong tâm thức dân gian và cũng như được nhà nước phong kiến xưa thừa nhận và tôn sùng, qua những đạo sắc phong, những dụ chỉ xây đền miếu, cấp tế điền cho các địa phương. Dưới thời Hậu Lê, bộ Lễ trong chính quyền đã có cả chức quan Tri điện Hùng lĩnh Thiếu khanh chuyên về Quản giám Bách thần. Thời Nguyễn, việc phụng tự bách thần cũng rất được coi trọng, thể hiện qua nhiều sắc phong của các đời vua cũng như những di tích được tôn tạo, xây dựng. Tất cả đều với một tâm thức hướng về nguồn cội, tôn sùng tiên tổ.

Bản sắc chỉ thời Lê Cảnh Hưng của đình Cổ Tích, xã Hy Cương, Việt Trì, Phú Thọ về việc thờ phụng Hùng Vương Thánh Tổ

Tục thờ cúng của dân tộc

Tục thờ cúng của người Việt là một di sản đã được hình thành ngay từ buổi đầu của lịch sử dân tộc. Sớm nhất theo huyền sử là khi chàng Lang Liêu chế ra bánh Chưng, bánh Dày để dâng cúng trời đất và tổ tiên. Hiếu đạo đó của Lang Liêu được vua Hùng ghi nhận, tôn thành người nối ngôi Thiên tử, đứng đầu trong những người anh em được phân phong làm phiên dậu bình phong các nơi.
Tục thờ cúng Hùng Vương như là quốc tổ được chép sớm nhất là khi Thục An Dương Vương dựng cột đá thề trên đỉnh Nghĩa Lĩnh, nguyện thề nối nghiệp họ Hùng, giữ gìn bờ cõi giang sơn. Tục cả nước thờ chung một quốc tổ là một nét độc đáo duy nhất có ở Việt Nam, mà nay đã trở thành một di sản văn hóa phi vật thể thế giới.
Phụng tự tổ tiên còn là chỗ dựa tinh thần cho những thủ lĩnh quốc gia trong những cuộc chiến khó khăn chống giặc ngoại xâm. Bà Trưng khi phất cờ khởi nghĩa ở Hát Môn đã lập đàn tế thần và đọc lời thề: “… Thiếp hiềm là một nữ nhân cháu gái họ Hùng Vương xưa, nghĩ tới sinh linh, rỏ trăm giọt lệ Hoàng thiên. Ngày hôm nay đau lòng thương dân đỏ, trượng nghĩa trừ bạo tàn. Xin trăm họ các vị tôn thần linh thiêng hội đàn chứng giám cho lời thề, giúp sức cho Trưng nữ dẫn quân dẹp giặc, giữ nước giúp dân. Dám mong phục dựng lại cơ đồ cũ của tổ tông, đưa nhân dân khỏi tầng cực khổ, thoát ra khỏi nơi nước lửa binh đao, sau không phụ ý của Hoàng thiên, thỏa linh thiêng của miếu đền tiên tử, an ủi cha ông dưới nơi chín suối.”

Đền Hai Bà Trưng ở phường Phương Châu, Việt Trì, Phú Thọ nơi có Đàn Thần Hiện trợ giúp Trưng Vương


Những lời thề của An Dương Vương hay Trưng Vương đã thể hiện lòng biết ơn và ý thức tiếp nối những thế hệ tiền nhân đi trước, nguyện giữ gìn bảo vệ nước nhà và cầu mong được tiền nhân yểm trợ, chở che. Thắp sáng lòng biết ơn và ý thức về nguồn cội trong mỗi người con Việt qua nếp sống từ nơi gia đình, họ tộc, làng xã và dân tộc chính là mục đích cuối cùng và duy nhất mà cha ông muốn trao truyền cho thế hệ con cháu ngàn đời.