Bàn Vương và người Dao

Đồng bào người Dao là dân tộc có nhiều phong tục mang đậm dấu ấn tâm linh. Trong đó quan trọng có lễ cúng Bàn Vương, người được coi là thủy tổ đã sinh ra 12 nhánh dân tộc Dao. Trong lễ cấp sắc, lễ làm cho người đến tuổi trưởng thành, người Dao quan niệm rằng có trải qua lễ cấp sắc mới biết lễ phải trái ở đời, mới đích thực là con cháu Bàn Vương, khi chết hồn mới được đoàn tụ với tổ tiên.

IMG_7217Bàn thờ Bàn Vương trong lễ hội Bàn Vương của người Dao tại Hồ Thầu, Hoàng Su Phì, Hà Giang.

Truyền thuyết về Bàn Vương của người Dao có nhiều dị bản. Như người Dao ở Hoàng Su Phì, Hà Giang kể: tuy là vua nhưng Bàn Vương vẫn giữ thói quen sống giản dị, gần gũi với thiên nhiên. Ngài luôn căn dặn các con phải chăm chỉ lao động sản xuất. Có một lần, Bàn Vương cùng tùy tùng lên núi săn bắn, đuổi theo một con sơn dương bị thương, chẳng may bị sơn dương húc, ngài ngã vào cây gù hương và mất tại đó. Thi thể Bàn Vương bị vướng trên nhành cây, các con bèn chặt cây làm thân trống, đuổi bắt con sơn dương để lấy da làm trống tế lễ Bàn Vương. Từ đó, cứ đến khoảng tháng 2 Âm lịch hàng năm, con cháu người Dao từ đời này sang đời khác phải nhớ ngày cúng giỗ Bàn Vương, thể hiện sự biết ơn với tổ tiên đã sinh ra họ.

IMG_7205Sách cúng người Dao ở Hồ Thầu, Hoàng Su Phì có đoạn:
出世長水國 盤胡儀儀置天地 置得男多女又水 聞説今朝有状請 盤胡着病是何日 何人抯水箒洗面 盤胡何年何月死
Bàn Hồ xuất thế trường thủy quốc
Bàn Hồ nghi nghi trí thiên địa
Trí đắc nam đa nữ hựu thủy
Văn thuyết kim triều hữu trạng thỉnh
Bàn Hồ trứ bệnh thị hà nhật
Hà nhân tra thủy trửu tẩy diện
Bàn Hồ hà niên hà nhật tử…
Quan niệm Bàn Vương khai thiên lập địa như trong sách cúng người Dao đã dẫn ở trên tương đồng với truyền thuyết Trung Hoa về ông Bàn Cổ bổ vỡ khối hỗn mang phân chia trời đất. Tuy nhiên, truyền thuyết Bàn Hồ của người Dao có nhiều chi tiết hơn, mô tả một thời kỳ rõ ràng hơn, đã có phân hóa, có đấu tranh trong xã hội. Bàn Hồ ở đây phải chỉ một giai đoạn khác so với thời Bàn Cổ sáng thế.
Chuyện Bàn Hồ của người Dao kể về một con Long Khuyển và cuộc chiến giữa hai nhân vật huyền thoại là Bình Hoàng – Cao Vương. Long Khuyển vốn ở trên trời và được Bình Hoàng hết mực yêu quý. Khi Bình Hoàng quyết tâm tiêu diệt Cao Vương, Long Khuyển xin được nhận nhiệm vụ đó. Cảm kích trước sự dũng cảm của Long Khuyển, Bình Hoàng hứa rằng nếu nhiệm vụ kia hoàn thành, sẽ gả con gái cho Long Khuyển. Bàn Hồ (tên con Long Khuyển) bơi 7 ngày 7 đêm qua đại dương thì đến địa phận của Cao Vương. Cao Vương thấy con chó dài 3 thước, lông đen mượt có vằn vàng cho là giống vật quý liền đem về nuôi trong cung. Nhân lúc Cao Vương say rượu, Long Khuyển chồm lên cắn chết, ngoạm lấy đầu rồi bơi về báo công. Bình Hoàng giữ đúng lời hứa, gả con gái cho Long Khuyển và ban cho một vùng đất. Vợ chồng Bàn Hồ sinh được 12 người con (6 trai, 6 gái) và được nhạc phụ ban sắc thành 12 họ là họ Bàn, họ Mãn, họ Trần, họ Lan, họ Đặng, họ Tống, họ Phượng, họ Lương, họ Uyển, họ Triệu, họ Đới, họ Lưu…
Vậy Bàn Hồ, vị thủy tổ của 12 họ người Dao là ai và những truyền thuyết trên là hình bóng của giai đoạn lịch sử nào của dân tộc này?

IMG_7418Các họ người Dao làm lễ 12 bái trong lễ cúng Bàn Vương ở Hồ Thầu.

Một tập tục gợi ý về nguồn gốc của người Dao là tục ăn Tết của người Dao và người Mông (nhóm Miêu – Dao) theo Âm lịch, nhưng lại trước ngày Tết hiện tại của người Việt và người Trung Quốc 1 tháng. Lịch Âm hiện nay đang theo lịch của nhà Hạ, lấy tháng Dần làm tháng Giêng đầu năm, hay còn gọi là lịch kiến Dần. Như thế người Miêu – Dao ăn Tết theo lịch kiến Sửu, lấy tháng Sửu làm tháng Giêng. Lịch kiến Sửu là lịch của nhà Thương.
Người Dao còn bảo lưu được tập tục dùng lịch của nhà Thương, nên khả năng nhà Thương chính là tổ tiên của nhóm dân tộc này. Với nhận định như thế, có thể phân tích so sánh câu chuyện Bàn Vương với lịch sử lập quốc của nhà Thương.
Nhà Thương bắt đầu từ vua Thành Thang, được sự giúp đỡ của một hiền thần là Y Doãn đã diệt Hạ Kiệt. Căn cứ vào Trúc thư kỷ niên, Y Doãn được Thành Thang cử sang làm gián điệp bên nhà Hạ, lợi dụng sự bất mãn của nàng Muội Hỷ khi nàng không còn được Hạ Kiệt sủng ái để lấy tin tức về tình hình Hạ Kiệt. Sau khi nắm được nội tình nhà Hạ, Y Doãn trở về với Thành Thang.
Hành trạng của Y Doãn khá giống với sự tích long khuyển Bàn Hồ của người Dao. Cao Vương hay Cao Tân ở đây là Hạ Kiệt. Bình Hoàng là vị vua Thành Thang, nhờ sự giúp đỡ của Y Doãn đã thành công trong việc lật đổ Hạ Kiệt lập nên triều Thương. Y Doãn đã phò tá 4 đời vua Thương nối tiếp nhau, sau tự mình nắm quyền vua Thương, rồi cuối đời trao lại ngôi cho Thái Giáp.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Nhật từng phân tích ý nghĩa của chú chó Bàn Hồ:
– Khuyển hay Khang là tính chất của hướng Tây. Cẩu (chó) cũng là cửu, chỉ hướng Tây.
– Chú chó Bàn Hồ đi về Nam Sơn, sinh ra 6 người con trai và 6 người con gái, thành tổ tiên của 12 họ người Dao. Hướng Nam xưa nay là hướng Bắc nay, tượng bởi quẻ Cấn – núi. Số 6 là con số chỉ hướng Nam xưa (Bắc nay) trong Hà thư.
Như thế Long khuyển Bàn Hồ có xuất xứ từ phía Tây và di dời lên phía Nam xưa (Bắc nay). Định vị này hoàn toàn tương ứng với vị trí Tây Bắc của nhà Thương so với nhà Hạ ở phía Đông Nam.
Chi tiết Bàn Vương (hay Bàn Hồ) đã dẫn người Dao bơi 7 ngày bảy đêm trên đại dương để đến nơi ở mới cũng tương đồng với việc nhà Thương đã năm lần bảy lượt di cư. Đặc biệt là dưới thời vua Bàn Canh dân nhà Thương đã theo vua vượt sông Dương Tử lên phía Nam (xưa) hay Bắc nay. Tên vua Bàn Canh cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa vị vua Thương này với người Dao.

IMG_8678

Một ngôi nhà người Dao ở Quản Bạ, Hà Giang.

Di chỉ thời Thương mang tên Bàn Long Thành nay ở tỉnh Hồ Bắc, ngay phía Bắc sông Dương Tử. Đây là dấn ấn rõ ràng nhất của sự kiện Bàn Canh dẫn dân Thương vượt hà. Long là từ chỉ vua nên Bàn Long Thành tức là thành của Bàn Vương, mà Bàn Vương lại là thủy tổ người Dao.
Truyền thuyết và tục thờ cúng Bàn Vương của người Dao như vậy xác nhận họ chính là hậu duệ của nhà Thương từ Thành Thang, Y Doãn, Bàn Canh. Nhà Thương gắn liền với việc phát triển của chữ viết, với chữ trên xương cốt và mu rùa (chữ giáp cốt) đã được phát hiện. Người Dao đến nay vẫn còn sử dụng loại chữ Nho đó để ghi chép, thờ cúng, cho dù họ có tiếng nói (phát âm) riêng. Trong lễ cúng của họ còn có điệu múa Bắt rùa độc đáo, có lẽ gắn với việc sử dụng mu rùa trong cúng bài từ thời Thương.

IMG_7483Các thầy cúng trong điệu múa Bắt rùa ở lễ hội Bàn Vương tại Hồ Thầu.

Những vị thần Lỗi Lạc: Thiên Y A Na, Cao Các, Man Nương, Bạch Mã

Trong tín ngưỡng dân gian ở khu vực miền Trung, như trong các miếu hội đồng hay trong văn sớ cúng thường nhắc tới một số tên các vị thần, không rõ lai lịch, nhưng lại được tôn thờ từ lâu. Như trong văn khế của thầy pháp đọc khi làm lễ tạ thổ ở Phú Yên có đoạn:
Cung thỉnh:
Cao Các thành hoàng đại vương chi thần thỉnh đáo lai lâm thỉnh đồng hiệp ta.
Thái giám Bạch Mã chi thần đồng lai hiệp tạ.
Thiên Y An Na Diễn Phi chúa ngọc hồng nương, phổ chi đức thượng đẳng thần đồng lai hiệp tạ.
Bổn thổ quản cai ngũ phương chủ Ngung Man nương phu thê nhị vị vãng thần…
Cao Các, Bạch Mã, Thiên Y An Na, Man Nương là ai? Đây là vị thần người Việt hay người Chăm? Tại sao những vị thần quen thuộc của người Việt là được thờ ở khu vực miền Trung, Nam Trung Bộ?
Thực ra những vị thần được tôn thờ như vậy vốn đều là những con người thực sự có công, có ảnh hưởng lớn đến đời sống của khu vực Trung Bộ trong quá khứ xa xưa. Càng đi vào thời xa xưa lại càng thấy sự tương đồng giữ các nhân thần ở miền Trung với các vị thần của miền Bắc.
Vị thần thờ phổ biến nhất ở khu vực miền Trung là Thiên Y A Na thánh mẫu. Bá chúa Trầm đã được xác định là nhân vật Mai An Tiêm trong truyền thuyết Việt và cũng là hình ảnh chim Tinh Vệ lấp biển trong truyền thuyết Trung Hoa. Bà là người đã có công khai phá vùng đất ven biển miền Trung, quai đê lấp biển, phát triển nông nghiệp, hy sinh ngoài biển vì nhân dân. Do đó bà đã trở thành vị nữ thần tối cao trong tín ngưỡng ở miền Trung. Thiên Y A Na hoàn toàn không phải vị thần có nguồn gốc Ấn Độ và cũng không phải vị thần riêng của người Chăm, bởi ở cái thời khai thiên lập địa ấy người Chăm là một nhánh phương Nam trong cộng đồng người Việt của các vua Hùng.

IMG_5323Miếu thờ Thiên Y A Na ở Phú Lâm, Tuy Hòa, Phú Yên.

Vị thần khác cũng hay được nhắc đến trong sớ cúng và có nhiều miếu thờ, đình thờ thành hoàng ở miền Trung là Cao Các quảng độ đại vương. Cao Sơn Cao Các ở vùng Thanh Hóa Nghệ An đã từng được xác định chính là Tiết độ sứ Cao Biền dưới thời Đường. Do việc đánh dẹp Nam Chiếu, mà ngọn nguồn Nam Chiếu là khu vực miền Trung Việt, nên vị Cao Vương này được thờ suốt dải miền Trung, tới tận Phú Yên, Khánh Hòa như một người có công mở đất phương Nam. Cao Sơn Cao Các cũng là vị thần trấn Nam của kinh thành Thăng Long vì người đầu tiên xây thành Đại La chính là Cao Biền.
Một đoạn bản văn sớ ở Thừa Thiên Huế:
Thừa Thiên hiệu pháp, Khai hoàng Hậu thổ Nguyên quân, Thổ hoàng Địa kỳ Tử Anh phu nhân, Thái giám Bạch Mã tôn thần, Kim niên hành khiển đại vương, Thái tuế chí đức tôn thần, Đương cảnh thành hoàng đại vương, Bổn xứ thổ địa lý vực chánh thần, Khôn ly thổ hỏa nhị vị tiên nương, Ngũ hành liệt vị tiên nương, Lịch đợi tiên sư tôn thần, Đông trù tư mệnh táo quân, Ngũ phương thổ công tôn thần, Ngũ phương long thần thổ địa trú trạch thần quan, Ngọc tuyền kim tỉnh long vương, Tiên khai canh hậu khai khẩn chi thần, Thập bát long trạch liệt vị tướng quân, Thổ địa phước đức tài thần, Gia đường hương hỏa liệt vị oai linh, Ngũ phương chúa Ngung cổ tích chi thần, Môn thừa hộ úy cấm kỵ liệt vị đẳng thần, Phổ cập Man Nương thần nữ, Chúa Lỗi chúa Lạc châm chợ mọi rợ Man Di, Mê linh khô cốt phục thi cố khí, Thổ mộc tà tinh lỵ mị vong lương nội ngoại gia viên cư nhất thiết yếm trệ nam nữ vô tự âm linh u hồn liệt vị đồng lai hiến hưởng cộng bảo bình an…

So mien TrungVăn sớ này có nói đến tên: “Phổ cập Man Nương thần nữ, chúa Lỗi chúa Lạc”. Như trong văn khế ở Phú Yên còn gọi là “Chủ Ngung Man Nương”. Cái tên Man Nương thần nữ nhắc tới bà Man Nương trong sự tích Tứ pháp thời Sĩ Nhiếp ở thành Luy Lâu (Bắc Ninh). Đây là dẫn chứng cho thấy mối liên quan giữa sự tích Tứ pháp với khu vực miền Trung Lâm Ấp lúc này. Bà Man Nương trong truyện là hình ảnh đại diện cho khu vực miền Trung (Nam Man) khi đạo Bà Là Môn của Khâu Đà La truyền vào Giao Châu.
Chúa Lỗi chúa Lạc” là cụm từ khá hay. Lỗi  hay Lồi là từ thường dùng để chỉ người Chăm như thành Lồi ở Huế. Còn Lạc thì đã biết, chính là Lạc Việt, chỉ người Kinh. Cụm từ “lỗi lạc” nghĩa là chỉ người Chăm người Kinh hay Nam – Bắc. Tên hiệu trên nói rằng bà Man Nương là chúa (chủ) của cả người Chăm và người Kinh.

IMG_5262_1

Tháp Nhạn ở thành phố Tuy Hòa, Phú Yên.

Suốt dải miền Nam Trung Bộ từ Bình Trị Thiên tới Phú Yên Khánh Hòa có tục thờ thần Bạch Mã thái giám. Miếu, đình thờ vị này gặp ở nhiều nơi. Ngay như ở Hội An theo thống kê có đến 73% làng xã có thờ, có sắc phong cho thần Bạch Mã. Ở Phú Yên, đình Ngọc Lãng tại xã Bình Ngọc, TP Tuy Hòa và miếu Thái Giám dưới chân núi Ngọc (chân Tháp Nhạn) cùng nhiều nơi khác còn giữ tục thờ và các sắc phong cho thần Bạch Mã.
Vậy thần Bạch Mã là ai mà được tôn thờ đến vậy?
Tên thần “Bạch Mã” nhắc nhớ tới vị thần trấn Đông của kinh thành Thăng Long. Vị thần này có mỹ tự là “Long đỗ Quảng lợi Bạch mã đại vương”.  Còn thần Bạch Mã ở Hội An cũng thường có tên “Lợi vật Bạch Mã chi thần”.
Thần Bạch Mã ở miền Trung cũng là thần Bạch Mã của Thăng Long, điều này sẽ không khó hiểu nếu biết rằng thần Long Đỗ Bạch Mã của Thăng Long chính là Sĩ Nhiếp họ Phạm. Sĩ Nhiếp là vị vương đã cai quản toàn bộ khu vực Giao Châu 7 quận dưới thời Tam quốc. Miền Trung Việt lúc đó do con cháu của Sĩ Nhiếp họ Phạm quản lý (Phạm Hùng), sau này tách ra thành nước Lâm Ấp tồn tại gần 600 năm. Do đó người miền Trung lấy Sĩ Nhiếp – Bạch mã làm một vị thần tối cao là hoàn toàn hợp lý.
Sĩ Nhiếp cũng là vị Đô Hồ Phạm Tu, thượng thủy tổ họ Phạm ngày nay. Bản thân tên “Đô Hồ” của Phạm Tu cũng chỉ ra rằng ông là thủ lĩnh của người Hồ, tức là người Lâm Ấp lúc này (vùng nước Hồ Tôn thời Hùng Vương).
Chữ “thái giám” trong tên của thần Bạch Mã ở miền Trung không phải chỉ “hoạn quan” như nhầm tưởng. “Giám” là soi xét, coi sóc, như trong từ “giám đốc”. Thái giám phải hiểu là vị quan đứng đầu cai quản khu vực. Hiểu nôm na theo ngôn ngữ ngày nay là “Tổng giám đốc”. Chức danh này rất phù hợp với vị trí của Sĩ Nhiếp, là người cai quản toàn bộ phương Nam (Lâm Ấp) một cách độc lập tự trị trong thời loạn Tam quốc.
Dấu ấn của thời kỳ này trên khu vực miền Trung như vậy thể hiện qua hình tượng thần Bạch Mã cũng như Man Nương thần nữ. Vì Sĩ Nhiếp và Tứ pháp theo đạo Bà La Môn (Đế Thiên Đế Thích) nên khả năng hình ảnh Bạch Mã phải tìm trong đạo giáo này, chứ không phải trong đạo Phật.
Các vị thần được tôn thờ ở miền Trung, Nam Trung Bộ lại là những vị chủ quản của vùng miền Bắc (Cao Biền, Sĩ Nhiếp). Mối quan hệ giữa Bắc Việt và Trung Việt đã có từ xa xưa, sâu sắc “như cành chung gốc lớn lên”, “như anh em của mẹ hiền” Việt Nam.

Những vị pháp sư thời Lý

Về sự tích của thiền sư Từ Đạo Hạnh thời Lý câu đối ở nội điện chùa Thầy (Sài Sơn) khái quát như sau:
弌杖顯神機卓錫圓成柴石峒
再生承帝統鴻圖葉繫李蓮花
Nhất trượng hiển thần cơ, trác tích viên thành Sài thạch động
Tái sinh thừa đế thống, hồng đồ diệp hệ Lý liên hoa.
Dịch:
Một gậy tỏ phép thần, chót vót thành toàn Sài động đá
Tái sinh nối dòng đế, mênh mông tiếp dõi Lý hoa sen.
Câu đối nói tới việc Từ Đạo Hành tu hành đắc đạo ở núi Sài, dùng tích trượng đánh chết kẻ thù là Đại Điên, trả thù cho cha, sau đó đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu, nối dõi cho nhà Lý, tức là vua Lý Thần Tông. Nội điện (chùa Thượng) của chùa Thầy thờ Từ Đạo Hạnh ở cả 3 ngôi: thánh, phật và đế.

IMG_2395Nội điện chùa Thầy.

Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái chép:
Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng (còn có tên là Gia Viễn) đất Trường An có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh, hiệu là Minh Không quốc sư, lúc ít tuổi đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo giáo, trải hơn mười năm. Đạo Hạnh thấy người tiết tháo bèn truyền tâm ấn, lại đặt tên cho.
Theo truyện này thì thiền sư Nguyễn Minh Không là học trò của Từ Đạo Hạnh, là người sau này đã giải kiếp nạn hóa hổ cho vua Lý Thần Tông. Điều này được xác nhận hơn qua phát hiện Nguyễn Minh Không là vị pháp sư đã diệt thần hổ Xương Cuồng cùng đoạn tạp kỹ diễn các trò nhảy, lăn, phi, vỗ tay, hò hét…  Các thánh tượng (tượng đầu gỗ) trong trò rối Ổi Lỗi là dấu tích của sự kiện này. Từ Đạo Hạnh được coi là tổ của nghề múa rối, tức là “pháp thuật” biểu diễn mà Nguyễn Minh Không đã dùng diệt thần hổ Xương Cuồng là được truyền từ Từ Đạo Hạnh.
Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải của trong Lĩnh Nam chích quái lại kể, có hai vị thiền sư là người huyện Hải Thanh, đánh cá trên sông rồi cùng tu với nhau là Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải. Sư Giác Hải đã có dịp vào kinh và cùng Thông Huyền đọc thần chú diệt trừ đôi tắc kè trong cung, được vua Lý Nhân Tông làm bài thơ khen tặng:
Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo diệc huyền
Thần thông kiêm biến hoá
Nhất Phật, nhất thần tiên.
Trong khi đó ở chùa Thầy có tượng thờ Nguyễn Minh Không và Giác Hải với sự tích rằng đây là những người đã cùng đi học Phật với Từ Đạo Hạnh. Câu đối ở chùa Thầy (Sài Sơn):
覺海心如海赫赫英靈真妙法
通玄道亦玄洋洋顯跡到今傳
Giác Hải tâm như hải, hách hách anh linh chân diệu pháp
Thông Huyền đạo diệc huyền, dương dương hiển tích đáo kim truyền.
Dịch:
Giác Hải lòng như biển, rõ rệt anh linh thực phép lạ
Thông Huyền đạo càng tuyệt, mênh mông dấu tỏ tới nay truyền.
Như vậy trong chuyện này có tới 5 vị thiền sư: Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ, Nguyễn Giác Hải, Nguyễn Minh Không và Thông Huyền. Mối quan hệ giữa các vị thiền sư đời Lý này với nhau rất chồng chéo, khó sắp xếp cho hợp lý.

IMG_2363Ban thờ Lý Thần Tông ở chùa Thầy.

Về pháp sư Thông Huyền thì trong Sự tích đức thánh tổ cụ Đặng Xuân Bảng ở làng Hành Thiện (Nam Định) cho biết: Thông Huyền là biệt hiệu của Đức Thánh Tổ (Dương Không Lộ hoặc Nguyễn Minh Không – thánh tổ thờ ở làng Hành Thiện).
Để phân định vai trò và nhân vật giữa các vị thiền sư này, cần nhắc lại rằng cái tên gọi Không Lộ vốn không phải là tên của 1 người, mà là của một giáo phái gồm các pháp sư thời Lý. Không Lộ cũng là tên để gọi giáo chủ của giáo phái đó. Vì thế có ít nhất 2 người đã đảm đương chức giáo chủ Không Lộ này ở 2 thời gian khác nhau. Một là Dương Không Lộ người Hải Thanh (Thái Bình). Hai là Nguyễn Minh Không người Đàm Xá ở Hoa Lư.
Theo tượng thờ ở chùa Thầy (Sài Sơn) thì Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không (ở đền Lại Trì – Thái Bình chép là Dương Không Lộ) và Giác Hải thiền sư cùng nhau đi tìm học Phật và đắc đạo. Điều này có thể hiểu nghĩa là ba người này đã cùng sáng lập ra giáo phái pháp sư Không Lộ. Thử  sắp xếp thứ tự các vị giáo chủ phái Không Lộ thời Lý như sau:
– Vị giáo chủ đầu tiên của giáo phái là Dương Không Lộ, người Hải Thanh, còn có biệt hiệu là Thông Huyền.
– Giác Hải thiền sư có vẻ không từng đảm đương chức vụ giáo chủ, nhưng ông là một trong những người đồng sáng lập giáo phái cùng với Dương Không Lộ ở miền Hải Thanh.
– Từ Đạo Hạnh tương tự, có vai trò sáng lập nhưng không từng làm giáo chủ, vì như đã biết, ông quay về kinh đô để trả thù cho cha và giúp nhà Lý có con nối dõi.
– Vị giáo chủ tiếp theo sau Dương Không Lộ là Nguyễn Minh Không, người quê Ninh Bình, là người đã chữa bệnh cho hậu thân của Từ Đạo Hạnh (vua Lý Thần Tông) hóa hổ.
3 người đi Tây Trúc học Phật có lẽ là 3 vị đầu: Từ Đạo Hạnh, Dương Không Lộ và Giác Hải. Còn Nguyễn Minh Không thuộc thế hệ sau, được truyền pháp từ Từ Đạo Hạnh hoặc từ Dương Không Lộ.

IMG_2456Cầu Nhật Tiên và đền Tam phủ trong quần thể di tích chùa Thầy ở Sài Sơn.

Một điều chú ý thêm là giáo phái này có thể đã lấy Tam phủ làm thần điện để tu và thờ cúng. Ở chùa Thầy tại Sài Sơn, là nơi tu hành và hóa của Từ Đạo Hạnh, có đền Tam phủ ở ngay trước chùa (ngoài hòn đảo trên hồ, đi qua cầu Nhật Tiên). Đền này thờ đúng 3 vị là Ngọc Hoàng, Diêm Vương và Long Vương.
Tương tự, ở Bắc Ninh (Cao Đức, Gia Bình) có đền Tam phủ hay gọi là đền Ba Vua thờ các vua Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ. Đền này cũng thờ cả Dương Không Lộ vì nơi đây gần chùa Phả Lại (Quế Võ, Bắc Ninh), là nơi do Không Lộ thiền sư từng trụ trì và tu hành.
Ở làng Hành Thiện (Nam Định), nơi từng là “trụ sở” của phái Không Lộ (chùa Keo) cũng có miếu Tam phủ. Theo cụ Đặng Xuân Bảng thì miếu này thờ 3 vị Thiên phủ Chủ thiên Thánh đế, Địa phủ Diêm la Thánh đế và Thủy phủ Bát hải Long vương.

IMG_1939Chính điện Tam phủ linh từ ở Lục Đầu.

Như vậy, ở thời Lý, Tam phủ nguyên gốc chưa hề có các vị mẫu thẫn. Điều này khá rõ ràng vì lúc đó thánh mẫu Liễu Hạnh còn chưa xuất thế. Tam phủ nguyên gốc là hình thức thần điện của các pháp sư (đạo sĩ) từ thời Lý thờ đại diện của Tam tài: Thiên – Địa – Nhân, trong đó Thủy phủ đại diện cho nhân sinh.

Từ cô Tấm đến thánh Láng

Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Ông họ Từ tên Lộ, tự là Đạo Hạnh, ở chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, cha tên là Vinh, làm chức tăng quan đô sát ở triều Lý, thường qua chơi làng An Lãng, lấy con gái người họ Lỗ tên là Loan, nhân thế ở lại đó. Lộ tức là con bà họ Lỗ vậy. Thuở niên thiếu, thích giao du hào hiệp, phóng khoáng, có chí lớn, hành động ngôn ngữ không ai có thể lường được, thường cùng kẻ nho giả Mãi sinh, đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa và người con hát là Phan Ất kết bạn. Đêm thì mải miết đọc sách, ngày thì thổi sáo đánh cầu, vui sự chơi bời. Cha mẹ thường trách là trễ nải, một đêm ghé dòm qua khe cửa vào trong phòng thấy ngọn đèn gần tàn, sách vở chồng chất, Lộ gục xuống án mà ngủ, tay vẫn chưa rời khỏi sách; do đó cha mẹ không còn lo nghĩ nữa. Sau Lộ dự kỳ thi tăng hương thí, đỗ khoa Bạch Liên.

Chua Nen

Chùa Nền ở Láng Thượng, Hà Nội, nơi sinh của thánh Láng Từ Đạo Hạnh.

Không bao lâu, cha dùng tà thuật làm phật ý Diên Thành hầu, Diên Thành sai Đại Điên thiền sư dùng phép đánh chết, ném xác xuống sông Tô Lịch. Xác trôi tới cầu An Quyết, đến trước cửa nhà Diên Thành hầu, hốt nhiên đứng dựng lên ở đấy suốt một ngày không trôi đi. Diên Thành hầu sợ hãi nói với Đại Điên, Đại Điên đến và hét lên rằng: “Người đi tu không được phép giận quá một ngày”. Dứt lời thây đổ xuống mà trôi đi.
Lộ nghĩ việc báo thù cho cha nhưng chưa nghĩ ra mưu kế. Một hôm, rình Đại Điên ra ngoài, gây sự định đánh, bỗng nghe thấy trên không trung có tiếng thét ngăn lại. Lộ sợ hãi quăng gậy mà đi. Muốn sang chùa ấn Quốc cầu phép lạ để đánh Điên, đường đi qua đất rợ Kim Sỉ (răng vàng) thấy hiểm trở bèn quay về, ẩn cư ở núi Phật Tích, thường ngày đọc kinh Đại-bi-đà-la, đọc trọn mười vạn tám nghìn lần. Một hôm, thấy có thần nhân đến trước mặt mà nói rằng: “Kẻ đệ tử tức là Trấn Thiên Vương, cảm phục thày có công trì kinh nên lại đây để thày sai khiến”. Lộ biết là đạo pháp đã thành, thù cha có thể rửa, bèn thân đến cầu An Quyết, cầm cây gậy chống ở tay ném xuống dòng nước chảy xiết. Gậy đi ngược dòng nước tới cầu Tây Dương thì dừng lại. Lộ mừng mà nói rằng: “Phép của ta thắng được Đại Điên rồi!” Bèn đến thẳng chỗ Điên ở, thấy Điên nói rằng: “Mày không nhớ chuyện ngày trước sao?” Nói rồi nhìn lên không trung, tịnh không thấy gì, bèn đánh liền. Điên phát bệnh mà chết….
Khi ấy vua Lý Nhân Tông không có con, tháng ba năm Hội tường Đại khánh thứ 3, có người ở phủ Thanh Hoa nói rằng: “ở bãi bể có đứa trẻ kỳ lạ, mới khoảng lên ba, tự xưng là hoàng đế, lấy hiệu Giác Hoàng, phàm vua làm điều gì đứa trẻ ấy cũng biết, đó chính là Đại Điên hóa sinh”. Vua sai quan trung sứ tới xem, thấy đúng như lời nói, bèn đón về kinh sư, cho ở chùa Báo Thiên. Vua thấy đứa trẻ thông minh, rất lấy làm yêu dấu, muốn lập làm kẻ kế tự, quần thần đều cố khuyên can là không thể được, và nói: “Nếu kẻ kia thực là linh dị, tất phải thác sinh ở nơi cung cấm, sau mới có thể lập được”. Vua nghe theo. Bèn mở đại hội bảy ngày đêm cho đầu thai.
Pháp Lộ nghe tin, nói với chị gái rằng: “Đứa trẻ kia là yêu tà mê hoặc người ta quá đáng. Ta há chịu ngồi yên mà không cứu, để nó làm mê hoặc lòng người, rối loạn chính pháp sao?”. Nhân sai chị gái giả đò làm người đi xem hội, mật đem mấy tấm bùa của Lộ treo ở trên rèm. Hội tới ngày thứ ba thì Giác Hoàng bị bệnh nói với mọi người rằng: “Khắp biên giới trong nước đều có lưới sắt vây che, tuy muốn thác sinh, sợ không có lối vậy”. Vua nghe có kẻ phá mất bùa chú, bèn sai người đi tìm, quả nhiên bắt được Lộ ở Hưng thánh lâu, trói lại, họp quần thần lại để xét xử. Vừa lúc đó Sùng Hiền Hầu đi ngang qua, Lộ năn nỉ nói: “Xin ra sức cứu bần tăng khỏi phải chịu tội, ngày sau xin ngụ thai trong cung để báo đáp công đức này”. Hầu gật đầu.
Sau ngày hội, quần thần tâu với vua rằng: “Bệ hạ vô tự, nên cầu kẻ kia thác sinh, thế mà tên Lộ cuồng dại dám tự ý giải chú, thật là đắc tội”. Hầu tâu rằng: “Thiết tưởng nếu Giác Hoàng có thần lực thì tuy có trăm tên Lộ giải chú, há đâu có hại được ru? Nay lại trái hẳn, Lộ hơn hẳn Giác Hoàng, thần trộm nghĩ nếu như giết, chẳng thà cho nó thác sinh”. Vua bằng lòng. Lộ đến thẳng phủ đệ nhà Hầu, nhằm chỗ phu nhân tắm, nhìn khắp cả. Phu nhân giận quá, mách với Hầu. Hầu vốn hiểu ý, để mặc không hỏi đến. Phu nhân vì thế có thai. Lộ dặn Hầu rằng đến lúc phu nhân lâm bồn phải báo cho biết trước. Đến kỳ lâm bồn, Lộ được người báo tin, bèn tắm rửa thay quần áo, bảo học trò rằng: “Mối túc nhân của ta chưa hết, phải thác sinh lần nữa ở đời, tạm làm đế vương, kíp đến khi già chết làm nhị thập thiên tử. Nếu thấy thân thể tan ra đất, đó là ta đã thâm nhập vào bùn đất không còn ở trong cõi sống chết nữa”.
Học trò nghe nói, ai cũng cảm động sụt sùi. Lộ đọc kệ rằng: Thu tới, không cho chim nhạn báo trước, Cười nhạt mà nhìn nhân gian đau xót. Khẽ bảo bọn môn nhân chớ nên luyến tiếc, Thày xưa mấy độ hóa thày nay. (dịch ý) Đọc dứt, nghiễm nhiên mà hóa. Hầu phu nhân bèn sinh con trai, đặt tên là Dương Hoán. Khi lên ba, vua nhân tông nuôi ở trong cung, lập làm hoàng thái tử. Nhân Tông băng hà, thái tử tức vị, ấy là vua Thần Tông do Lộ thác sinh ra vậy. Hình xác Lộ nay còn ở hõm đá trong chùa Thiên Phúc, núi Phật Tích, huyện Ninh Sơn…

Tien dinh chua Lang

Chùa Láng, Hà Nội.

Câu đối ở chùa Láng (Hà Nội):
生化何年仙是帝
英靈此地聖而神
Sinh hóa khả niên tiên thị đế
Anh linh thử địa thánh nhi thần.
Dịch:
Sinh hóa năm nào tiên chính đế
Linh thiêng đất đó thánh là thần.

Từ Đạo Hạnh là một trong những vị thần bất tử trong tín ngưỡng dân gian, được biết với chuyện trả thù cho cha và đầu thai thành Lý Thần Tông. Tuy nhiên, tại sao một vị thánh tổ Phật giáo lại nặng nghiệp trả thù, rồi tranh đầu thai để làm vua như thế? Công nghiệp thực sự của Từ Đạo Hạnh là ở chỗ nào?
Để lý giải câu chuyện của Từ Đạo Hạnh phải bắt đầu từ vị pháp sư Đại Điên, đối thủ của Từ Đạo Hạnh trong truyện trên. Đại Điên là ai mà lại dám giết cả Tăng đô sát của triều đình (Từ Vinh) và còn định đầu thai làm con vua (Giác Hoàng) nữa?
Khi tìm hiểu về Đại Điên thì có một thông tin bất ngờ. Giác Hoàng Đại Điên cũng là vị sư đã tham gia vào câu chuyện sinh nở của nguyên phi Ỷ Lan. Vua Lý Thánh Tông hiếm muộn, sau khi rước bà Ỷ Lan về cung, thường sai một thái giám là Nguyễn Bông đi cầu tự ở chùa. Sư trụ trì ở chùa này là Đại Điên, đã dùng phép để cho Nguyễn Bông đầu thai làm con của Ỷ Lan. Ỷ Lan sinh được con trai là thái tử Càn Đức, tức vua Lý Nhân Tông sau này. Về sự kiện này dân gian còn lưu lại di tích chùa Thánh Chúa ở làng Vòng (Dịch Vọng, Cầu Giấy, Hà Nội), nơi còn thờ Nguyễn Bông và nguyên phi Ỷ Lan.

Y LanTượng nguyên phi Ỷ Lan ở chùa Thánh Chúa.

Nơi trụ trì của sư Đại Điên cũng ở khu Dịch Vọng, nay là chùa Duệ Tú tại thôn Tiền. Ở đây, lý lịch của Đại Điên cho biết ông tên là Lê Nghĩa. Rất có thể vị đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa mà Từ Đạo Hạnh giao du ban đầu như trong truyện trích dẫn trên chính là Đại Điên.
Theo thần tích của chùa Duệ Tú, Đại Điên là một thiền sư đắc đạo, một lương y nổi tiếng, một công thần lớn có công giúp nước thời nhà Lý đã được tôn phong là Thánh tổ Giác Hoàng Đại Điên. Nay ở trong chùa Duệ Tú còn tượng ông tạc gỗ kích thước bằng người thật đặt trong khám để phụng thờ. Tới hội chùa Láng (nơi thờ Từ Đạo Hạnh) và chùa Duệ Tú (cùng ngày 7 tháng 3 âm lịch), còn có tục diễn trò đấu thần, khi kiệu rước Từ Đạo Hạnh đến ngõ chùa Duệ Tú (ngõ Vụt – nơi Từ Đạo Hạnh dùng gậy đánh chết Đại Điên) thì hai bên cho bắn pháo vào kiệu của nhau.

Dai Dien

Tượng Giác Hoàng Đại Điên ở chùa Duệ Tú.

Đại Điên như thế vừa là một pháp sư, vừa là một thầy thuốc. Gạt bỏ đi lớp màn sương của truyền thuyết, có thể nhận ra công lao chính của vị lương y Đại Điên chính là việc giúp nguyên phi Ỷ Lan có con trai. Nhờ người con trai này Ỷ Lan đã nắm được quyền nhiếp chính. Nếu trong dân gian Ỷ Lan được thể hiện thành hình tượng cô Tấm thì hình tượng ông Bụt luôn hiện lên giúp đỡ sẽ không phải ai khác chính là sư Đại Điên.
Thần tích xã Thuận Quang (tức làng Siêu Loại xưa) chép rõ sư Đại (Thái) Điên là người đã đến hỏi cô Tấm (Cám) “vì sao cô khóc” và giúp Tấm gặp được nhà vua. Như vậy sư Đại Điên chính là ông Bụt đỡ đầu của Ỷ Lan ngay từ lúc vào cung cho tới chuyện Nguyễn Bông đầu thai làm con trai Ỷ Lan.
Ỷ Lan vốn mang họ Lê, tên gọi Khiết Nương. Cái tên Ỷ Lan hay Yến Loan theo Mộng khuê bút đàm của nhà Tống có thể chỉ là tên phiên thiết của chữ An. Tên hiệu của bà là An phi thì hợp lý hơn. Đại Điên có  tên là Lê Nghĩa, tức là cùng họ Lê với nguyên phi Ỷ Lan. Không rõ họ Lê ở vùng Bắc Ninh này có liên quan gì tới triều Tiền Lê trước đó hay không? Không phải ngẫu nhiên mà Lý Thánh Tông lại đi chọn một cô gái thôn quê về làm phi tần một cách bất ngờ như vậy.

Den tho Y LanĐền thờ nguyên phi Ỷ Lan trên dải núi Phật Tích (Bắc Ninh).

Là người hỗ trợ nguyên phi Ỷ Lan, giúp bà sinh độ hoàng thái tử Càn Đức nên tất nhiên Đại Điên biết rất rõ các chuyện của nhà vua Lý Nhân Tông. Vì thế ông mới có tên là Giác Hoàng, nghĩa là người biết mọi chuyện của nhà vua, như trong chuyện kể về đứa trẻ mang tên Giác Hoàng: “phàm vua làm điều gì đứa trẻ ấy cũng biết, đó chính là Đại Điên hóa sinh”.
Ở đây ta lại thấy một vấn đề khác trong việc truyền thừa của nhà Lý. Lý Thánh Tông vốn hiếm muộn, nhờ Đại Điên tư vấn chữa bệnh mà nguyên phi Ỷ Lan sinh được con trai kế vị. Đến đời Lý Nhân Tông lại không có con trai.  Truyền thuyết giải thích là vì Nhân Tông là do thái giám Nguyễn Bông đầu thai nên vua không có hứng thú với chuyện phòng the. Trước tình thế đó Giác Hoàng Đại Điên hẳn đã phải tính toán một cách thức khác để cho nhà Lý có người kế vị. Mà gia đình được chọn ở đây là Diên Thành Hầu được nhắc tới trong truyện Từ Đạo Hạnh.

Chua DamNền chùa Dạm ở Quế Võ, Bắc Ninh, còn gọi là chùa bà Tấm, là ngôi chùa do nguyên phi Ỷ Lan khởi công xây dựng và từng có đền thờ bà.

Tới đây có thể nhận thấy, mâu thuẫn giữa vị Tăng đô sát Từ Vinh và ngự y Đại Điên nằm ở việc ủng hộ ai để có con trai làm hoàng thái tử. Từ Vinh hẳn đã chống lại Đại Điên chọn gia đình của Diên Thành Hầu là người kế vị, nên bị Đại Điên giết chết. Tới đời con là Từ Đạo Hạnh nối chí cha, diệt Đại Điên và phù trợ cho em vua Nhân Tông là Sùng Hiền Hầu có con trai.
Tương tự như việc làm của Đại Điên dưới thời Lý Thánh Tông, công đức chính của Từ Đạo Hạnh là việc đã dùng pháp thuật (y thuật) giúp cho vợ của Sùng Hiển Hầu sinh con trai, mà người con này sau lên ngôi là vua Lý Thần Tông. Lý Thần Tông do đó coi Từ Đạo Hạnh như cha đẻ của mình, đã cho thờ cúng ông ở những nơi ông tu hành.
Sau khi Từ Vinh bị Đại Điên đánh chết, Từ Đạo Hạnh đã đi tu phép Phật. Tuy nhiên, đầu tiên không phải ông sang Ấn quốc tìm đạo mà là ông xuống Nam Định, nơi có chùa Đại Bi ở Nam Trực để tu hành. Sự tích chùa Đại Bi ở đó kể rằng đây là nơi Từ Đạo Hạnh đã lui về sau khi cha bị giết và cùng giao du học phép với Nguyễn Minh Không và Giác Hải. Bản thân chữ Đại Bi cũng gắn với sự tích Từ Đạo Hạnh niệm kinh Đại-bi-đà-la, đọc trọn mười vạn tám nghìn lần mới đắc đạo.
Hiểu một cách thực tế thì hẳn Từ Đạo Hạnh đã phải rời khỏi quê nhà ở Láng, Thăng Long, xuống trú tránh ở vùng Nam Định. Nam Định lúc này là nơi thịnh hành đạo phù thủy của phái Không Lộ. Cùng với Nguyễn Minh Không và Giác Hải, Từ Đạo Hạnh là một trong những người sáng lập của phái Không Lộ (cùng đi Tây Trúc học Phật).
Có thể nhờ sự trợ giúp của phái Không Lộ, hoặc nhờ học/cùng tu các pháp thuật của phái này mà Từ Đạo Hạnh đã có đủ bản lĩnh để về thực hiện nốt sự nghiệp của cha: diệt Đại Điên và giúp Sùng Hiền Hầu có con trai.

Gac chuong Dai Bi

Gác chuông chùa Đại Bi (Nam Trực, Nam Định).

Câu đối ở chùa Đại Bi:
西地三同行六智神通先得道
南天四不死两朝帝制登尊
Tây địa tam đồng hành, lục trí thần thông tiên đắc đạo
Nam thiên tứ bất tử, lưỡng triều đế chế biệt đăng tôn.
Dịch:
Đất Tây ba người đi, lục trí thần thông thành đạo trước
Trời Nam bốn bất tử, hai triều vua sắc trọng riêng tôn.
Sau khi diệt được Đại Điên, Từ Đạo Hạnh đã về chùa Thầy ở Sài Sơn tu hành rồi hóa ở đó. Núi Sài cũng có tên là núi Phật Tích, giống như ngọn núi ở Bắc Ninh, nơi nguyên phi Ỷ Lan đã cho xây một ngôi chùa lớn mà di tích còn lại tới nay. Không rõ đây chỉ là sự trùng lặp hay có ẩn ý gì khác trong cái tên Phật Tích của 2 nơi này.
Truyền tích cho rằng Từ Đạo Hạnh là tổ của nghề hát chèo và múa rối. Chú ý rằng khác với các Không Lộ thiền sư có xuất xứ từ dân gian, Từ Đạo Hạnh có xuất thân là con quan lớn trong kinh thành, có học hành và đỗ đạt tới khoa Bạch Liên trước khi đi tu. Có thể đóng góp của ông trong đạo phù thủy của phái Không Lộ là đã đưa diễn xướng hát, múa vào trong thực hành đạo. Hát chèo ban đầu có thể được dùng như một dạng hát chầu, kiểu lên đồng khi làm phép phù thủy.
Tương tự, dấu ấn về múa rối mang đậm màu sắc tín ngưỡng còn lưu lại trong tục múa rối đầu gỗ (Ổi Lỗi) ở di tích chùa Đại Bi, Nam Định. Không rõ có liên quan gì không, nhưng cái tên Ổi Lỗi này cũng chính là tên quê của nguyên phi Ỷ Lan ở làng Thổ Lỗi (Sủi, Lỗi Hương). Từ “Lỗi” còn có thể liên quan trực tiếp đến Từ Đạo Hạnh vì ông có tên là Lộ (họ mẹ là Lỗ). Không rõ vì sao tên họ mẹ của Từ Đạo Hạnh lại trùng với tên của nguyên phi Ỷ Lan: Loan, Lỗi.

Chan cot chua Dai BiChân cột hoa sen thời Lý ở chùa Đại Bi.

Nhận định mới về mối liên quan giữa 2 truyền tích đầu thai thời Lý, một là của Ỷ Lan – Đại Điên, hai là của Sùng Hiền Hầu – Từ Đạo Hạnh đã làm sáng tỏ hơn về sự tích của vị thánh bất tử Từ Đạo Hạnh. Điều này ghi nhận rõ ràng hơn công nghiệp của vị sư tổ này, gạt bỏ đi lời phê phán về hành động khác với giáo lý Phật của Từ Đạo Hạnh. Từ Đạo Hạnh là một pháp sư có tài nghệ độc đáo (hát chèo, múa rối) đã góp phần cho việc nối truyền ngôi của nhà Lý dưới thời Lý Nhân Tông.

Thần Xương Cuồng và thánh Không Lộ

Truyện Mộc tinh của Lĩnh Nam chích quái chép:
Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây Chiên đàn cao hơn ngàn nhẫn, cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn dặm, có chim hạc đến đậu nên đất chỗ đó gọi là Bạch Hạc. Cây trải qua mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay hình đổi dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật.
Kinh Dương Vương dùng nhạc mà đánh thắng yêu, yêu hơi chịu nhún nhưng vẫn nay đây mai đó, biến hóa khôn lường, thường ăn thịt người. Dân phải lập đền thờ hàng năm thường tới 30 tháng Chạp, theo lệ phải mang người sống tới nộp, dân mới được yên ổn. Dân thường gọi yêu là thần Xương Cuồng. 

Tác giả Đặng Tiến trong bài Cọp, từ Mộc Tinh đến ông Ba Mươi đã đưa ra nhận định rất xác đáng rằng thần Xương Cuồng được nói đến trong Truyện Mộc tinh là thần Hổ. Trong bài viết tác giả đã so sánh dữ kiện lệ cúng thần Xương Cuồng vào 30 tháng Chạp với tên gọi dân gian của Hổ là ông Ba Mươi. Tác giả cũng dẫn bài Thần Hổ của Phạm Đình Hổ kể lại trong Vũ trung tùy bút:
Làng Ngọc Cục ở huyện ta (Đường An, Hải Dương) khi xưa truyền rằng vẫn thờ yêu hổ phải bắt người làm việc hy sinh để cúng (…) Đó cũng như cái tục Nhâm Ngao tế thần Xương Cuồng vậy. Từ năm Canh Thân 1800 trở về sau thói ấy mới bỏ.
Từ nhận định thần Xương Cuồng là thần Hổ, nay xin bổ sung thêm một số dữ kiện. Thứ nhất là trong Huyền học (Kỳ môn độn giáp) có vị hung thần là Bạch Hổ Xương Cuồng 白虎猖狂. Đây là thông tin cho mối liên hệ trực tiếp giữa lốt hổ và thần Xương Cuồng.
Loài hổ được coi là Chúa sơn lâm, không chỉ vì đó là loài thú dũng mãnh nhất trong rừng. Những chuyện kể về hổ dữ thường gắn với những cây cổ thụ to lớn, nơi hổ rình ăn thịt người. Có lẽ vì lý do đó mà người xưa cho rằng hổ là tinh của cây gỗ lớn lâu năm.
Keo Hanh Thien 3

Bức chạm thần thú ở chùa Keo Hành Thiện (Nam Định).

Cây “Chiên đàn” là loài cây được nhắc đến trong các chuyện cổ. Ngoài Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái còn nhắc tới cây Chiên đàn ở Truyện Rùa vàng, là cái cây mà yêu tinh Gà trắng khi hóa thành chim Cú sáu chân ngậm lá thư bay lên đậu để tấu với Ngọc Hoàng. Có thể thấy cây Chiên đàn như thế gắn với các loài yêu tinh, quỷ quái. Vậy Chiên đàn là cây gì?
Phép phiên thiết cho ta một bất ngờ: Chiên đàn thiết Chàn hay Chằn. Thì ra Chiên đàn là tên ghi âm Nôm của từ Chằn. Chằn tinh chỉ loài yêu quái nói chung. Như thế, gọi là cây Chiên đàn tương đương với gọi đó là Mộc tinh mà thôi.
Tiếp theo, tại sao lại gọi Hổ là ông Ba mươi và cúng thần Hổ Xương Cuồng vào ngày 30?
– Trong thập nhị địa chi thì chi thứ 3 là chi Dần (Tý, Sửu, Dần…). Chi Dần hình tượng là con Hổ.
– Còn trong thập can thì số 10 là số Kỷ – Cả hay Kỵ.
Như thế 30 nghĩa là Kỵ Dần, tức là ngày cúng Hổ, rất đúng với tên gọi và phong tục.
Theo thông tin của báo Phú Thọ thì trong cuốn Thiên Nam vân lục liệt truyện (tân biên) của Nguyễn Hãng, hiệu Nại Hiên tiên sinh, quê làng Dòng (Xuân Lũng, Lâm Thao) viết vào thời Lê Thánh Tông (1460 – 1479) có truyện Quỷ Xương Cuồng, phần đầu truyện giống như Truyện Mộc tinh. Phần tiếp theo kể:
Đến thời Đinh Tiên Hoàng, nhà vua mời một đạo sỹ tên là Vân Du dùng thuật lạ mới giết được con quỷ điên này. Thuật lạ bao gồm: Kỵ (cưỡi), can (xào), điếu (câu), hiểm (vỗ tay) thường tổ chức vào dịp cuối năm để dâng hiến các thần, cũng có thể dùng để lừa quỷ điên.
Kỵ là cưỡi ngựa phi chạy, lựa mình nhặt lấy vật rơi dưới đất.
Can là nằm ngửa dùng chân nâng gậy để người khác quất vào đầu gậy mà không đổ.
Điếu là làm cầu phi vân cao 12 thước, bện đay làm chão dài 26 thước, buộc hai đầu chôn dưới đất mắc lên cây mà đi lại, chạy nhảy, treo mình, cúi ngửa trên cây mà không ngã xuống.
Hiểm là vỗ tay nhảy nhót, hoan hô, lăn đi lật lại, tiến lui lên xuống.
Những trò chơi này thường có chuông trống náo loạn, có ngâm vịnh, nhảy múa góp vui. Trong lúc bày cuộc vui náo nhiệt, thờ phụng, quỷ điên vui vẻ hưởng lễ, không để ý đến việc khác, Vân Du lừa lúc nó không đề phòng, đọc câu quyết thần bí rồi dùng kiếm chém chết. Bộ hạ của quỷ điên chạy tan tác cả. Từ đó yêu khí hết, dân chúng yên ổn làm ăn.
Vị pháp sư diệt thần Xương Cuồng ở đây tên là Vân Du (trong Lĩnh Nam chích quái gọi là Văn Du Tường). Trong một bài trước đã từng nhận định, vị pháp sư này chính là Dương Không Lộ. Dương = Tường, Vân Du tương đương nghĩa với Không Lộ.

Keo Hanh Thien

Bức chạm ở chùa Keo Hành Thiện.

Thông tin của Phú Thọ ở trên cho hay đoàn tạp kỹ của pháp sư Không Lộ gồm 4 người, với tên gọi là theo các tiết mục mà họ trình diễn (cưỡi, sào, câu, vỗ tay). Trong Lĩnh Nam chích quái thì những người này tên là Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu, diễn các trò nhảy, lăn, phi, vỗ tay, hò hét… Ở bài trước cũng đã xác định vết tích của 6 vị Thượng này là các Thánh Tượng (thiết Thượng) đầu gỗ của trò rối Ôi Lỗi, còn lưu diễn đươc tới nay ở các di tích thờ Không Lộ thiền sư.
Nay với nhận định thần Xương Cuồng là thần Hổ thì có thể thấy việc Không Lộ thiền sư chữa bệnh cho vua Lý hóa hổ chính là thành tích diệt thần Xương Cuồng của vị đại pháp sư này. Nhận đình này thêm một lần nữa xác định người diệt thần Xương Cuồng thời Đinh – Lý chính là Không Lộ thiền sư.

Keo Hanh Thien 2

Các Thánh tượng đầu gỗ của chùa Keo Hành Thiện.

Câu đối ở chùa Keo Hành Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định) nơi thờ Không Lộ thiền sư:
法是天仙心是仸
鄉為聖祖國為師
Pháp thị thiên tiên tâm thị phật
Hương vi thánh tổ quốc vi sư.
Dịch:
Phép là tiên trời, tâm là phật
Quê tôn thánh tổ, nước tôn thầy.
Phép là tiên trời, tức là phép của đạo sĩ. Tâm mới từ bi như phật. Đây cũng chính là giáo lý của phái Không Lộ: tu tiên và lấy đức theo phật, chứ không phải tu phật. Không Lộ thiền sư là vị thánh tổ của đạo phù thủy nước ta, người đã trừ loại yêu quái hung hiểm nhất là Hổ Xương Cuồng.

Lục đầu vô thủy bất thu thanh

Câu đối trên cổng đền Kiếp Bạc thờ Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn ở Chí Linh, Hải Dương do Thám hoa Vũ Phạm Hàm đề, đã là chủ đề những tranh luận kéo dài giữa các bậc túc Nho xưa và nay:
萬劫有山皆剑氣
六頭無水不秋聲
Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí
Lục Đầu vô thủy bất thu thanh.

CongdenKiepBac1Cổng đền Kiếp Bạc (ảnh internet).

Vấn đề ở cụm từ “thu thanh” trong vế đối sau được hiểu nghĩa như thế nào? Điểm qua quan điểm đã có hiện nay về nghĩa của câu đối này (theo Nguyễn Hồng Lam):
– Nhiều nhà văn nhà nho cho rằng chữ “thu thanh” là bị thợ ngõa “đắp nhầm”. Phải là “thung thanh” hay “trang thanh”, nghĩa là tiếng đóng cọc, thì mới đúng. Thậm chí, có người đã sốt sắng đề nghị đục bỏ chữ “thu” trên cổng đền đi để thay bằng chữ “thung” hay “chang”…
– Gần đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng “thu thanh” nghĩa là tiếng của chiến tranh, tiếng của sự đau thương, hay dịch là “tiếng binh đao”.
Cả 2 ý kiến trên nghe có vẻ đều có lý vì tiếng cọc hay tiếng binh đao đều đối chỉnh với cụm từ “kiếm khí” ở vế đối trước và lại có liên quan đến công nghiệp đánh giặc Nguyên Mông hiển hách của Hưng Đạo đại vương.
Tuy nhiên, nếu đọc cả vế đối thì sẽ thấy dịch theo cả 2 phương án trên đều tối nghĩa vô cùng: Lục đầu vô thủy bất thu thanh. Làm sao mà trong nước (thủy) lại có tiếng gì được? Nếu nói là âm thanh thì phải là trong không trung, chứ sao lại trong nước?
Hơn nữa “vô thủy” mà dịch là “không có con nước nào” thì cũng không ổn vì “thủy” không phải là từ đếm được để mà thêm chữ “con” vào đây.
Kết cấu “vô… bất…” có nghĩa so sánh, nhấn mạnh, ví dụ như trong câu “vô tiểu bất thành đại” là không có việc nhỏ thì không thành việc lớn, chứ nếu dịch như cách nghĩ ở trên sẽ thành: không có gì nhỏ mà không thành lớn, rất vô lý.
Nếu hiểu “thu thanh” là tiếng chiến tranh, binh đao, tuy là có điển dẫn, nhưng lại không hợp ngữ cảnh vì chữ “thu” mang sắc thái tiêu cực (buồn, thảm, sầu, bi,…), không phải để trong câu đối mang tính ca ngợi như ở đây.
Còn nếu hiểu là “thung thanh” hay “trang thanh” là tiếng cọc trong nước cũng không hợp với thực tế, vì Hưng Đạo vương đóng cọc ở sông Bạch Đằng, ngoài cửa biển Hải Phòng, chứ không phải ở Lục Đầu. Nước ở Lục Đầu làm gì có cọc nào.
Câu đối nổi tiếng này xem ra để hiểu đúng không phải dễ. Các bậc văn nho ở trên có lẽ đã lạc hướng. Họ quá tập trung vào tra điển tích, điển cố về cụm từ “thu thanh” mà quên mất hiểu nghĩa chung cho cả câu đối trước cổng đền này.
Để hiểu nghĩa câu đối này thực ra khá đơn giản. Nhưng muốn hiểu trước hết phải tìm hiểu địa lý ở địa phương và tục thờ cúng Trần Hưng Đạo tại đây đã. Hãy đọc sự tích của khu vực này:
Tương truyền sau khi đánh thắng giặc Nguyên Mông, đem lại thái bình cho đất nước. Hưng Đạo Vương về nghỉ tại phủ đệ của mình ở Vạn Kiếp. Một hôm, ông cùng gia nhân dùng thuyền nhỏ đi dạo cảnh trên dòng sông Lục Đầu. Khi con thuyền đã quay về gần núi Dược Sơn, Hưng Đạo Vương cho dừng thuyền lại, đứng trên mũi thuyền, Người rút thanh kiếm của mình ra khỏi bao và nói : ”Thanh gươm này đã gắn bó với ta gần cả cuộc đời. Trong suốt cuộc chinh chiến nó đã dính bao máu giặc Thát, nó đã từng được bôi phân gà sáp với vôi tôi và bồ hóng để chém đầu tên giặc Phạm Nhan nhơ bẩn. Nay ta muốn nhờ dòng nước sông Lục Đầu để gột rửa sạch những vết nhơ trên nó”. Nói rồi ông ném thanh gươm xuống dòng sông. Tại khúc sông Trần Hưng Đạo thả kiếm, sau này đã hình thành một bãi bồi chạy dài rất giống hình lưỡi kiếm, dân gian gọi bãi bồi đó là Thanh kiếm thần của Trần Hưng Đạo. Bãi bồi ngày nay vẫn còn trên dòng sông Lục Đầu trước cửa đền Kiếp Bạc…
Như thế, trong câu đối trên cổng đền Kiếp Bạc, ở vế đầu: Vạn Kiếp hữu sơn giai kiếm khí, thì Sơn và Kiếm không phải là núi và gươm chung chung. Đây là chỉ cụ thể bãi bồi chạy dài trên sông hình lưỡi kiếm trong sự tích trên.
Cái còn lại không phải là bản thân thanh kiếm, mà là “kiếm khí“, tức là tinh thần của chiếc kiếm xưa của thánh Trần. Kiếm này không phải là kiếm đánh giặc, mà là kiếm phép (kiếm thần) Trần Hưng Đạo đã dùng để chém tên phù thủy Phạm Nhan.
Vế đối này cũng chơi chữ, ghép giữa tên địa danh Vạn Kiếp và nghĩa “vạn kiếp” – nhiều đời nhiều kiếp. Như thế nếu đọc là “Vạn kiếp hữu sơn giai kiếm khí” thì có thể hiểu là Vạn đời dải núi vẫn còn hơi kiếm.

2018-04-27

Bản đồ vệ tinh khu vực Lục Đầu giang. Thấy rõ dải đất hình thanh kiếm đối diện cổng đền Kiếp Bạc.

Hiểu đúng được vế đối đầu thì mới hiểu được vế đối sau. Câu đối này ca ngợi Trần Hưng Đạo không phải như một vị võ tướng xuất trận diệt giặc, mà là một pháp sư đạo sĩ, một vị thần trừ tà diệt ác được tôn thờ.
Cần biết rằng ở đền Vạn Kiếp đức thánh Trần được coi là Cửu Thiên Vũ Đế, với sứ mệnh diệt trừ yêu ma ở cả 3 cõi thiên đình, trần gian và âm phủ. Hai bên nơi ngài ngự là Nam Tào và Bắc Đẩu, tức là 2 vị thần giữ sổ sinh tử của mọi sinh linh.
Với góc nhìn như vậy thì thấy ngay, cụ từ “thu thanh” ở vế sau hoàn toàn không phải tiếng cọc hay tiếng binh đao, mà là chỉ sự linh thiêng của đức thánh Trần. Tiếng thu ở đây nghĩa tiếng thiêng ngàn thu (thiên thu linh thanh). Tiếng thu là tiếng vang vọng của người đã khuất, hay là sự linh thiêng của người được thờ.
Hiểu được nghĩa này thì cả vế đối sẽ rất rõ nghĩa: Lục Đầu vô thủy bất thu thanh nghĩa là Nước ở 6 con sông này có hết thì mới hết được tiếng vang linh thiêng của thánh Trần. Hoặc hiểu theo kết cấu câu trước đây thì là Không con nước nào không có tiếng thiêng của thánh.
Nghĩa mới phát hiện của vế đối thứ hai cũng tương ứng với vế đầu, chỉ sự trường tồn linh thiêng (vạn kiếp… giai kiếm khí) của thánh Trần.
Một lần nữa xin nhắc là Trần Hưng Đạo không chỉ là vị võ tướng giỏi đã được thế giới công nhận mà ông còn là một thần chủ trong tín ngưỡng dân gian, được thờ ở hầu hết các nơi có ban thờ Tứ phủ. Các nhà nho, nhà sử chỉ vì cách nhìn lệch lạc đối với tín ngưỡng dân gian nên mới không tài nào hiểu đúng câu đối cung tiến lên Đức thánh Trần của Vũ Phạm Hàm trong cả thế kỷ qua.
Dịch lại đôi câu đối ở cổng đền Kiếp Bạc theo nghĩa mới phát hiện:
Vạn kiếp núi còn cùng hơi kiếm
Lục đầu nước hết mới thôi thiêng.

Đạo thờ tổ tiên của người Việt

Bài phát biểu trong buổi giới thiệu dự án Khơi nguồn tinh hoa Việt tại đình Kim Ngân, phố Hàng Bạc, Hà Nội.

Kính thưa các thầy, các cô, các bạn!

Hôm nay tôi rất vinh dự được tham gia và phát biểu về Đạo thờ Tổ tiên của người Việt vào ngày 9/3 Âm lịch, ngay trước ngày Giỗ tổ Hùng Vương trong một không gian văn hóa dân gian như đình Kim Ngân.
Về đạo thờ tổ tiên của người Việt đầu tiên tôi muốn dẫn lời của một học giả người Pháp của Viện Viễn Đông bác cổ từng viết trong cuốn An Tĩnh cổ lục:
Cái gọi là sự tiến bộ chỉ là truyền thống đang đi lên. Nếu không có những truyền thống tốt đẹp, con người sẽ bị lôi cuốn theo bản năng xấu. Nước Đại Việt giàu về quá khứ và các bạn nên hiểu rằng chính người chết cai trị người sống. Những đức tính tốt mà chúng ta có, chúng ta nhờ cha mẹ ông bà mà có. Hãy kính thờ vong linh tổ tiên bằng cách phổ biến lịch sử của tổ tiên”.
Chính người chết cai trị người sống nghĩa là các bậc tiền nhân đã khuất mới là những người chi phối tinh thần của chúng ta ngày nay.
Đình Kim Ngân thờ Tổ của bách nghệ Hiên Viên. Nhưng có lẽ đến 90% mọi người ở đây đều không biết Hiên Viên là ai. Hoàng Đế Hiên Viên là người mà Trung Quốc hiện nay coi là tổ tiên của họ, người bắt đầu lịch sử 5.000 năm của Trung Hoa. Thực ra Hiên Viên là vua của Hữu Hùng thị, tức là vua Hùng của người Việt. Hiên Viên là đọc sai đi của Hiển Vương, tương đương với Đế Minh trong truyền thuyết Họ Hồng Bàng, vị vua tổ đầu tiên của người Việt. Đây mới là người hiện được tôn thờ là quốc tổ tại đền Hùng Phú Thọ.
Thật bất ngờ khi đúng trước ngày giỗ tổ Hùng Vương chúng ta lại đến ngôi đình giữa trung tâm thủ đô này để bái yết tưởng nhớ tới Hiên Viên Hoàng Đế Hữu Hùng. Giỗ tổ Hùng Vương là một truyền thống thiêng liêng lâu đời của nhân dân ta, thể hiện đạo lý Uống nước nhớ nguồn. Quá khứ không phải là điều đã qua và qua rồi là hết. Lịch sử một đất nước, một dân tộc như phần rễ cây chìm trong lòng đất, không nhìn thấy nhưng lại quyết định khả năng vươn cao của cây. Rễ có sâu, có to thì thân và cành lá mới xum xuê vững chãi. Nền văn minh chói ngời của cha ông một thời soi đường cho cả Thiên hạ là sức mạnh tinh thần to lớn thúc đẩy con cháu ngày nay xốc tới.
Có thể nói người Việt là một dân tộc có hiếu nhất thế giới. Trong gia đình chúng ta có ban thờ cha mẹ, thờ gia tiên. Ngoài làng nước chúng ta có đền miếu tôn thờ các vị anh hùng dân tộc, những tiền nhân có công có đức với cộng đồng. Tín ngưỡng thờ cúng của người Việt không hề là mê tín, mà đó là nét văn hóa độc đáo, có giáo lý chặt chẽ, có giá trị nhân văn sâu sắc.
Điển hình, là tín ngưỡng Tứ phủ công đồng với đầy đủ các phủ Thiên Địa Nhạc Thoải. Nhưng đây không phải thờ trời, thờ đất, thờ núi, thờ nước như nhầm tưởng. Thực chất của tín ngưỡng Tứ phủ là đạo thờ tổ tiên. Mỗi phủ có 1 vị vua cha và 1 vị thánh mẫu làm chủ quản. Đứng đầu Thiên phủ là Ngọc hoàng Thượng đế. Đây cũng là vị vua Hùng đầu tiên của người Việt mà truyền thuyết họ Hồng Bàng gọi là Đế Minh như nói trên. Kính thiên điện trên núi Hùng ở Nghĩa Lĩnh là điện thờ ông Trời Đế Minh.
Vị thánh mẫu của Thiên phủ là Mẫu Cửu trùng hay Cửu Thiên Huyền Nữ. Trong truyền thuyết Việt thì đây là Tây Thiên quốc mẫu, vị nữ thần núi Tam Đảo. Hai vị tiền tổ khai sử đã được tôn thờ đời đời là ông Trời bà Trời trong suy nghĩ tâm niệm của người Việt, được thờ ở khắp nơi, trong gia đình, làng xóm cũng như trong các đền miếu quốc gia.
Đứng đầu Thoải phủ Vua cha Bát Hải Động Đình không ai khác là quốc tổ Lạc Long Quân, người đã cùng 50 người con đi khai phá miền ven biển Đông. Còn Nhạc phủ Thần vương, vị thần chủ của Nhạc phủ là Tản Viên Sơn Thánh, vị tối linh thần đứng đầu các thần bất tử trên đất Việt, ngự trị ở miền núi Tản sông Đà với công lao dựng nước từ thủa hồng hoang… Như vậy, tất cả các nhân vật trong Tứ phủ công đồng đều là những con người thực sự có công khai dân mở nước từ 5.000 năm lịch sử.
Người Việt cũng không hề thờ “nhầm” các nhân vật của Trung Hoa trong các đền miếu còn tới nay. Ngọc Hoàng hay Cửu Thiên Huyền Nữ là những vị vua thời Hùng Vương. Khổng Tử thờ ở Văn miếu, Lão Tử hay Huyền Thiên Trấn Vũ thờ ở Đạo quán không hề là người “Tàu” như nhầm tưởng. Đạo Khổng (Nho giáo), đạo Lão đều là những kết tinh của nền văn hóa Việt từ thời cổ đại và thấm nhuần trong tinh thần của người Việt.
Nói về đạo Hiếu của người Việt không thể không nói tới câu chuyện Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh giày, lấy lòng thành và trí tuệ của mình mà dâng lên tổ tiên, trời đất. Lang Liêu không phải ai khác mà chính là bà mẹ Âu Cơ trong truyền thuyết, cùng các con đã khởi lập nước Văn Lang, lấy nền tảng đạo đức hiếu kính tổ tiên nhận mệnh trời mà gây dựng dòng giống Việt, dựng nên một triều đại huy hoàng với nền văn hóa trống đồng tỏa sáng trên toàn cõi Đông Nam Á và Hoa Nam (Lĩnh Nam).
Lịch sử Việt cùng những con người đã làm nên lịch sử 5.000 năm đó hiện đang bị bụi mờ của thời gian và nhân gian che lấp. Một thời gian dài văn hóa Việt bị đứt gãy khi nền văn minh duy lý của phương Tây tràn vào Việt Nam, thay đổi toàn bộ bộ mặt văn hóa từ chữ viết, trang phục, kiến trúc, kỹ nghệ… Sự thay đổi này đã làm cho người Việt ngày nay mất đi mối liên kết với quá khứ, với tổ tiên, dẫn đến những lệch lạc về văn hóa, nhân sinh trong xã hội hiện đại. Trong bối cảnh đó, nối lại dòng linh khí của tiền nhân Việt là việc làm vô cùng cần thiết.
Nhóm Đền miếu Việt gồm những người tâm huyết với đạo thờ tổ tiên trong dòng chảy văn hóa Việt hiện đang nỗ lực tìm tòi làm sáng tỏ công đức, sự nghiệp của các bậc tiền nhân được thờ cúng trong thần điện Việt, nối mạch giữa tín ngưỡng và lịch sử, nhằm trả lại giá trị chân xác cho tín ngưỡng căn bản của người Việt và tri ân đối với tổ tiên.

IMG_6587

Bức hoành phi Vạn thế vĩnh lại ở đình Kim Ngân.

Câu đối đình Kim Ngân:
日月箕裘長濟美
百藝祖傳永生香
Nhật nguyệt cơ cừu trường tế mỹ
Bách nghề tổ truyện vĩnh sinh hương.