Thánh bất tử Từ Đạo Hạnh

Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính kể về sự tích thánh Từ Đạo Hạnh như sau:
Từ Lộ tự Đạo Hạnh, người làng An Lãng huyện Vĩnh Thuận, làm thầy cúng ở chùa Tiên Phúc núi Phật Tích. Khi xưa thân phụ Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh làm Tăng quan đô sát triều nhà Lý, thường vào chơi làng An Lãng, mới làm nhà ở đấy, lấy con gái họ Lăng, sinh ra Đạo Hạnh.
Đạo Hạnh lúc còn bé hay chơi vời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phú Sĩ, Phan Ất, Lê Hoàn kết bạn, đêm thì cố công đọc sách, ngày thì đàn sáo đánh bạc làm vui…
Không bao lâu sau cha là Từ Vinh dùng tà thuật phản ông Diên thành hầu. Diên thành hầu nhờ thầy phù thủy là Đại Điên dùng phép đánh chết, quẳng xuống sông Tô Lịch…
Đạo Hạnh nghĩ lấy làm tức giận lắm muốn sang nước Ấn Độ học phép, nhưng đi qua núi Kim Sỉ, hiểm trở lắm mới trở về. Đạo Hạnh mới vào trong hang núi Phật Tích, kết thành hội Bạch Liên để học phép Ngũ giáo. Ngày nào cũng tụng kinh “Đại bi tâm” và niệm câu thần chú “Bà la ni”, cứ tung 18 vạn lần mới thôi.
Một hôm thấy thần báo mộng rằng:
– Đệ tử tức là Tứ trấn thiên vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh cho nên lại hầu, tùy thầy muốn sai khiến gì tôi xin vâng lệnh. Đạo Hạnh biết là đạo pháp của mình đã thành rồi…
Từ Đạo Hạnh sang phương Tây tìm đạo, nhưng mới đi được đến núi Kim Sỉ đã quay về. Vậy đạo pháp mà Từ Đạo Hạnh thành được là đạo pháp gì? Rõ ràng không phải là Phật pháp chính tông. Nhiều nhận định hiện nay cho rằng Từ Đạo Hạnh đã sang vùng Tam giác vàng ở giáp Vân Nam – Miến Điến và học theo Mật tông. Kinh Đà la ni mà ông trì tụng cũng là bộ kinh điển hình của Mật tông, như từng được khắc trên các cột kinh tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) trong thời nhà Đinh.

IMG_7594Cột kinh tràng Phật đỉnh tôn thắng Đà la ni tìm thấy ở Hoa Lư.

Khá đặc biệt là việc sau khi tụng 18 vạn lần kinh Đà la ni thì thấy xuất hiện Tứ trấn thiên vương, nhận theo sai khiến của Từ Đạo Hạnh. Tứ trấn thiên vương hay Tứ đại thiên vương là 4 vị thần của Bà La Môn, theo phục Đế Thích. Chi tiết này cho thấy, thực chất Từ Đạo Hạnh đã tu theo Bà La Môn hay Hindu giáo. Bản thân “mật tông” cũng là giáo phái chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Bà La Môn.
Theo Thiền uyển tập anh thì Từ Đạo Hạnh đã tìm đến chùa Pháp Vân thỉnh giáo thiền sư Sùng Phạm và ngộ thêm đạo. Từ đó pháp lực mạnh thêm, duyên thiền càng chín, pháp thuật của sư đã có thể khiến cho rắn rết, muông thú chầu phục. Các phép lạ như đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm.
Ghi chép này cho thấy Từ Đạo Hạnh có khả năng “cầu mưa”. Cần biết là Tứ đại thiên vương cũng là Tứ pháp Vân Vũ Lôi Điện ở vùng Luy Lâu. Sự việc Từ Đạo Hạnh biết phép cầu mưa chứng tỏ thêm mối liên quan giữa đạo pháp của ông với Hindu giáo như trong chuyện Khâu Đà La làm phép cầu mưa ở Luy Lâu trước đây.
Theo Việt điện u linh, khi Từ Đạo Hạnh chuẩn bị viên tịch có nói với các đệ tử:
Ta chưa hết nhân duyên với đời, lại phải thác sinh làm vua ở nhân gian, khi nào chết lại về làm chủ “Tam thập tam thiên”.
Sau đó ngài đã đầu thai làm vua Lý Thần Tông. Chính từ sự thác sinh đầu thai này mà Từ Đạo Hạnh được tôn là một trong các vị thánh bất tử của trời Nam.
Đặc biệt nhất trong đoạn trên Từ Đạo Hạnh cho biết mình sẽ lại về “làm chủ Tam thập tam thiên“. Vị thần chủ của “Tam thập tam thiên”, cõi trời 33, là Vua trời Đế Thích trong đạo Bà La Môn. Từ Đạo Hạnh như vậy chính là hóa thân của Đế Thích.
Khả năng “bất tử” của Đế Thích cũng từng được biết trong câu chuyện “Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt” khi mà Đế Thích đã triệu Tam phủ hoàn hồn cho kỳ thủ Trương Ba. Còn ở chùa Thầy, bên cạnh đó cũng có đền Tam phủ thờ ba vị vua Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ. Từ Đạo Hạnh là hóa thân của Đế Thích nên được xếp vào bậc thần bất tử là hoàn toàn hợp lý.

IMG_2497Cầu Nhật Tiên bắc sang đền Tam phủ ở cạnh chùa Thầy.

Hai bên chùa Thầy còn có 2 cây cầu gọi là Nhật Tiên và Nguyệt Tiên. Đây là hình tượng khá giống với các nơi thờ Đế Thích, có 2 vị thần là Nhật Thiên và Nguyệt Thiên theo cùng, như ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) hay đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên).
Đoạn cuối truyện Từ Đạo Hạnh trong Nam Hải dị nhân kể:
Khi xưa Từ Đạo Hạnh mới vào chùa Thiên Phúc, thấy có một vết chân người ở trong hang đá. Đạo Hạnh lấy bàn chân in vào thì vừa bằng nhau, tục truyền hang ấy tức là chỗ Đạo Hạnh lột xác… Thây Đạo Hạnh đến mãi lúc nhà Minh sang cướp quân sĩ đốt mất, về sau dân đấy lại tô tượng để thờ như xưa.

IMG_3754Phiến đá trấn trạch tại chùa Thầy.

Dấu chân đá và nhục thân không tan cũng là những đặc điểm của “Mật tông” cũng như Hindu giáo. Nay trong chùa Thầy vẫn còn thờ một phiến đá tương truyền là của Từ Đạo Hạnh dùng để trấn trạch không cho nước dâng cuốn gỗ ở chùa hay không cho kẻ trộm dòm ngó đồ của chùa.
Trong chùa còn có một khám thờ lớn có tượng bên trong. Nguyên trước đây là thân người thật của Thánh, nhưng khi quân Minh sang xâm lược đã đốt mất, dân dùng mây tre, bện lại mà thành, đặt trong 1 khám thờ cầu kỳ to như cả gian nhà, có dây cơ có thể đứng lên ngồi xuống, sau đó Tổng Đốc Sơn Tây Cao Xuân Dục cho cắt dây rối đi để tỏ lòng kính trọng nhà Thánh.
Câu đối ở chùa Thầy:
弌杖顯神機卓錫圓成柴石峝
再生承帝統鴻圖葉繫李蓮花
Nhất trượng hiển thần cơ, trác tích viên thành Sài thạch động
Tái sinh thừa đế thống, hồng đồ diệp hệ Lý liên hoa.
Dịch:
Tỏ cơ thần một gậy, tích lớn đủ thành động đá Sài
Nối dòng đế tái sinh, đất mênh cành tiếp hoa sen Lý.

IMG_3763.JPGKhám thờ ở chùa Thầy, bên trong có tượng xá lợi Từ Đạo Hạnh. 

Việt điện u linh còn kể về lần đầu thai khác của thần dưới thời Lê, cũng là vua:
Trong thời Quang Thuận đời vua Lê Thánh Tông, Trường Lạc hoàng hậu sai Thái úy Trinh quốc công lên động chùa Thiên Phúc cầu tự. Khi làm lễ có một phiến đá ở ngoài động bay vào. Trinh quốc công mang về trình hoàng hậu. Ít bữa sau hoàng hậu mộng thấy rồng vàng vào bên sườn, rồi có mang, sinh ra vua Lê Hiến Tông. Nhân thế mới dựng am Hiển thụy ở chùa Thiên Phúc, có khắc bia để ghi.
Trong chuyện về Từ Đạo Hạnh còn có một số chi tiết về thời gian khá lạ. Từ Đạo Hạnh được biết sống vào thời Lý Nhân Tông. Tuy nhiên, như trích dẫn trên của Nam Hải dị nhân, ông lúc nhỏ lại chơi với Lê Hoàn. Các sách khác chép là đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa. Có thể Toàn Nghĩa chỉ là từ phiên thiết của cái tên Hoàn.
Từ Đạo Hạnh từng đến học sư Sùng Phạm của chùa Pháp Vân. Thiền uyển tập anh cho biết về vị sư này:
Sư vân du khắp nơi trong nước Thiên Trúc rộng cầu hiểu biết. Chín năm sau sư trở về, gồm thông cả Giới và Định. Rồi sư đến chùa Pháp Vân giảng pháp. Học trò các nơi đến theo học rất đông. Vua Lê Đại Hành mấy lần thỉnh sư về kinh để hỏi han chuyền chỉ. Vua rất vừa ý, tiếp đãi long trọng.
Sư Sùng Phạm cùng thời với Từ Đạo Hạnh nhưng lại từng mấy lần được vua Lê Đại Hành mời vào kinh. Sau đó sư viên tịch dưới thời Lý Nhân Tông. Với các thông tin trên có thể thấy Lê Đại Hành chỉ có thể là triều đại ngay trước Lý Nhân Tông. Nói cách khác Lê Đại Hành chính là Lý Thái Tông. Chú ý là Lý Thái Tông cũng có hiệu là Đại Hành hoàng đế.
Từ câu chuyện của Từ Đạo Hạnh rút ra 2 kết luận quan trọng:
– Từ Đạo Hạnh tu theo Hindu giáo, là hóa thân của Vua trời Đế Thích.
– Triều đại của Lý Thái Tông cũng từng được gọi là Lê Đại Hành.

Thánh tổ Không Lộ, vị thần của dân gian

Không Lộ thiền sư là một trong Tứ bất tử nước ta. Ông được thờ ở nhiều nơi nhưng không chỉ như một nhà sư tu hành mà còn được tôn là bậc thánh tổ. Hiện tồn tại nhiều tranh luận về tên gọi (Không Lộ, Giác Hải, Minh Không, Thông Huyền), và xuất xứ (Đàm Xá, Giao Thủy, Hán Lý…) của vị thiền sư này, nhưng trong tâm thức dân gian ông là một vị thần quan trọng bảo hộ cho các nghề nghiệp sinh sống của người dân. Bài sau đi vào chi tiết giải thích vì sao thánh tổ Không Lộ lại được người dân tôn thờ như vậy.

Thần đánh cá
Dọc ven biển miền Bắc Việt Nam có nhiều nơi thờ Không Lộ như một vị thần bảo hộ cho nghề chài lưới. Điều này thể hiện ngay trong tục rước thuyền mông đồng trong lễ hội của chùa Keo ở Thái Bình và Hành Thiện.

Thuyen rong Thai Binh 2.jpg
Thuyền mông đồng chùa Keo Thái Bình.

Lĩnh Nam chích quáiTruyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thiền sư Dương Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang huyện Hải Thanh, mấy đời làm nghề câu cá…
Thiền sư Giác Hải cũng là người huyện Hải Thanh, tu tại chùa Diên Phúc trong quận nhà. Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền câu làm nhà, lênh đênh trên mặt nước.

Không Lộ và Giác Hải người Hải Thanh, ban đầu sống bằng nghề đánh cá, sau đi tu, trở thành một vị cao tăng đắc đạo, phép thần thông biến hóa vô cùng. Cụ thể hơn nữa, Không Lộ từng có công diệt “thủy quái” trên biển, giúp ngư dân đi biển được bình an.

Khong Lo Giac Hai
Tượng thần chài lưới ở đình Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh).

Câu đối ở thôn Trà Đông, Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa, nơi thờ Khổng Minh Không:
南天畱四噐北地嗔雙牛越史永傳法佛
海上斬神蜈殿前醫帝虎李朝褒贈世師
Nam thiên lưu tứ khí, Bắc địa sân song ngưu, Việt sử vĩnh truyền pháp Phật.
Hải thượng trảm thần ngô, điện tiền y đế hổ, Lý triều bao tặng thế sư
Dịch:
Trời Nam còn bốn đồ, đất Bắc chọc hai trâu, mãi truyền Việt sử phép nhà Phật
Trên biển chém thần rết, trước điện chữa đế hổ, khen tặng Lý triều thầy thế gian.

Câu đối này có nói tới sự tích Không Lộ chém thần rết trên biển. Ngày nay, ở khu vực Trực Ninh, nơi Không Lộ khởi nghiệp đánh cá, còn có địa danh “cồn Rết”, tương truyền là nơi Không Lộ đã chém thần Rết ở đây. Đây cũng là một chỉ dẫn về địa điểm Giao Thủy, nơi giao tiếp giữa sông và biển và là quê hương của Không Lộ thiền sư.

Thần giáng long
Câu đối ở đền thánh Nguyễn (Đàm Xá, Gia Viễn, Ninh Bình):
與十八子有因果乎卓然扵後扵前醫虎翊龍两朝偉績
是二社民所尸祝者辰或為分為合觀燈望井萬古祥光
Dữ thập bát tử hữu nhân quả hồ, trác nhiên ư hậu ư tiền, y hổ dực long lưỡng triều vĩ tích
Thị nhị xã dân sở thi chúc giả, thần hoặc vi phân vi hợp, quan đăng vọng tỉnh vạn cổ tường quang.
Dịch:
Cùng vua họ Lý nhân quả sao! vời vợi trước sau, chữa hổ giáng rồng, hai triều tích lớn
Ấy dân hai xã khấn tế vậy! khi lúc chia hợp, xem đèn trông giếng, vạn năm sáng lành.
Không Lộ thiền sư sau khi tu hành từ Tây phương về tương truyền có tài “hàng long phục hổ”. Tuy nhiên, trong các sự tích của Không Lộ thiền sư, không có sự tích nào nói đến việc “hàng long” cả.
Lĩnh Nam chích quáiTruyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thời Lý Nhân Tông, sư thường cùng sư Thông Huyền được triệu vào ngồi hầu trên ghế đá mát lạnh ở cung Liên Mộng. Bỗng một hôm có đôi tắc kè đang gáy, nhức tai điếc óc. Vua truyền Thông Huyền dùng phép để ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua cười bảo với Giác Hải rằng: “Hãy còn một con xin để nhường nhà sư”. Sư liền đọc thần chú, trong nháy mắt con còn lại cũng rơi xuống đất. Vua kinh lạ, làm thơ rằng:
Giác Hải lòng như biển

Thông Huyền đạo cũng huyền
Thần thông thêm biến hoá
Một Phật một thần tiên.
Sự tích Không Lộ “giáng long” là việc 2 vị thiền sư Thông Huyền và Giác Hải cùng làm phép hạ 2 con tắc kè, giúp chữa bệnh mất ngủ cho vua Lý Nhân Tông. Tắc kè là hình ảnh của rồng. Như vậy Không Lộ thiền sư là Thông Huyền hoặc Giác Hải trong sự tích này.

Hanh Thien
Mảng chạm rồng ở chùa Keo Hành Thiện.

Thần chữa hổ
Sự tích chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông được chép là của Nguyễn Minh Không. Điều đáng chú ý, đây cũng là truyền thuyết về một vị đạo sĩ đã diệt thần Xương Cuồng, bởi vì thần Xương Cuồng là Mộc tinh, tức là chúa sơn lâm, cũng chính là ông ba mươi hay thần hổ.
Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái:
Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây chiên đàn cao hơn ngàn trượng cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn rậm. Có chim hạc bay đến đậu nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch Hạc. Cây trải qua hàng mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay đổi hình dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật….
Đến đời vua Đinh Tiên Hoàng có pháp sư Văn Du Tường vốn người phương bắc, đức hạnh thanh cao, đã từng đi qua nhiều nước, biết được tiếng các dân man, học được thuật làm nanh vàng và răng đồng, năm hơn 80 tuổi sang nước Nam ta. Tiên Hoàng lấy lễ thầy trò mà tiếp, pháp sư bèn dạy cho nghề tạp kỹ để làm trò vui cho thần Xương Cuồng xem mà giết y. Đoàn tạp kỹ này có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu… Khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ. Lại giết súc vật mà tế. Thần Xương Cuồng tới, thấy thế bèn đến xem, pháp sư đọc mật chú rồi lấy kiếm mà chém. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ đều chết hết, không thể trở lại thành yêu nữa.
Nguyễn Minh Không – Không Lộ thiền sư là pháp sư Văn Du Tường diệt thần Xương Cuồng bằng cách bày ra các trò diễn để dụ thần Xương Cuồng tới mà giết đi. Các trò diễn này được lưu lại qua 6 “Thánh tượng” đầu gỗ trong trò diễn Ổi Lỗi tại các nơi thờ Không Lộ thiền sư tới nay. Thánh tượng thiết Thượng, là tên của 6 người trong đoàn tạp kỹ của pháp sư Văn Du Tường.

Roi dau go 2.jpg
Rối đầu gỗ ở chùa Keo Thái Bình (ảnh tư liệu thời Pháp).

Một di tích khác có liên quan đến sự tích Không Lộ diệt hổ là ở chùa Thượng, Đình Liêu, thôn Liêu, Ngọc Lương, Yên Thủy, Hòa Bình. Chùa nằm trên hang núi, phía trên làng Hổ. Tương truyền, khu vực này có nhiều hổ, nhưng nếu vào hang chùa này sẽ tránh được hổ. Chùa có sắc phong cho Giác Hải thiền sư và còn đôi câu đối:
武跡在山傳自古
虎頭建廟始於今
Vũ tích tại sơn truyền tự cổ
Hổ đầu kiến miếu thủy ư kim.
Dịch:
Dấu võ ở núi truyền từ cổ
Đầu hùm dựng miếu trước tới nay.
Cùng với việc chữa bệnh cho Lý Thần Tông hóa hổ, Không Lộ có thể còn được thờ phụng như một vị thầy thuộc tài giỏi, chữa trị được nhiều loại bệnh (nghề y dược).

Thần đúc đồng
Các làng nghề đúc đồng nằm ở Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nội và Thanh Hóa thờ thánh Không Lộ. Tất nhiên, nghề đúc đồng ở nước ta đã có từ thời Đông Sơn, trước Công nguyên. Việc các làng đúc đồng thờ thánh tổ Không Lộ mang tính chất là thờ thần bảo hộ cho nghề đúc hơn là tổ nghề. Việc này bắt nguồn từ việc Không Lộ thiền sư đi sang “Minh quốc”, gom đồng vào túi, cưỡi nón làm thuyền vượt biển mà về, dùng đồng đó đúc ra An Nam tứ đại khí: đỉnh tháp Báo Thiên, chuông chùa Phả Lại, vạc Phổ Minh và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm.
Ngọc phả chùa làng Công Luận (Văn Giang, Hưng Yên) kể:
[Minh Không] tự nghĩ mình đến Tây Trúc, đi qua bốn mươi tám nước, chùa nào cũng đến thăm, chưa có chuông nào được năm thước, muốn đúc một quả chuông thật to để lưu danh đến vạn đời sau. Nhưng nước ta nhỏ, sao có thể khuyến khích nhiều người góp vàng, đồng để đúc chuông. Bèn may một chiếc túi, đựng được khoảng hai mươi đấu thóc, đến nước Tống khuyến đồng đúc chuông. Vua Thần Tông nhà Tống tự nghĩ túi này đựng được bao nhiêu đồng, mới cười, bảo: Quý tăng Nam Việt không hẹp hòi công sức đến nước trẫm khuyến đồng, cho phép vào kho đồng lấy theo ý muốn”. Minh Không bèn thu hết đồng trong kho vào túi mà chưa đầy, rồi vác trên vai đến trước mặt vua Thần Tông, bái tạ vua xin về nước. Vua Thần Tông thấy đồng trong kho đã hết, có ý hối tiếc, nhưng đã trót hứa, đành để Minh Không về nước.
Minh Không vác túi đồng về nước, phàm qua sông biển, hễ xuống thuyền đò, đều bị chìm lật, không thể chở được. Minh Không bèn hạ nón của mình thay cho thuyền, vác túi đồng ngồi trong nón, lấy hai tay làm mái chèo, trong chốc lát biển lớn cũng vượt qua. Mọi người nhìn thấy, ai cũng kinh hãi, cùng hô là Thần sư.
Minh Không mang túi đồng về chùa quê ngoại ở Phả Lại, lập một gác chuông chín tầng, cao một trăm thước, rộng ba mươi trượng, đúc một quả chuông, lòng rộng hai mươi thước. Thỉnh ba tiếng, con trâu vàng nước Tống nghe thấy, tự chạy đến thành Thăng Long nước Việt ta, hóa thành sông Kim Ngưu, cùng Tây Hồ, vốn là do đường chạy của trâu vàng tạo ra. Minh Không biết Tống Thần Tông đã mất đồng trong kho, lại mất trâu vàng, tất sẽ sinh lòng oán giận, sợ chuyển thành tội, bèn ném chuông này ở sông Lục Đầu. Từ đó, danh tiếng của Minh Không nổi khắp bốn phương xa gần, nhân dân lũ lượt kéo đến xin làm thần tử, đông đến năm trăm ấp.
Như thế, từ đây Không Lộ được tôn làm thánh tổ, hình thành một dòng phái nhiều “thần tử” đông đảo ở khắp nơi.

Ve xa.jpg
Tượng đồng Không Lộ thiền sư ở đền Vệ Xá (Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh).

Câu đối ở chùa Trung Kênh, Lương Tài, Bắc Ninh:
括盡一囊萬古聲傳北國
鑄成四噐千秋跡顯南邦
Quát tận nhất nang, vạn cổ thanh truyền Bắc quốc
Chú thành tứ khí thiên thu tích hiển Nam bang.
Dịch:
Thu hết một túi, vạn xưa tiếng truyền nước Bắc
Đúc thành bốn đồ, nghìn thu tích tỏ bang Nam.
Thực tế có lẽ thánh tổ Không Lộ chỉ đúc chuông Phả Lại. Còn những “đại khí” khác xem ra không cùng thời gian với thánh nên có đúc là do các học trò của ngài làm. Nhưng vì sự tích “hải lạp nang đồng” này mà Không Lộ thiền sư được tôn thành vị thần bảo hộ của nghề đúc đồng.

Ba vị Thánh tổ thời Lý

Không Lộ Lý triều quốc sư là một trong Tứ bất tử theo quan niệm dân gian của người Việt. Về thân thế và sự nghiệp của vị thiền sư này có rất nhiều truyền tích, kèm theo hàng chục các ngôi chùa lớn nhỏ và các đền, đình thờ Không Lộ ở khắp các miền duyên hải Bắc và Bắc Trung Bộ Việt đã làm cho vấn đề xác định xuất xứ và nhân thân của Không Lộ thiền sư trở nên rất khó khăn, là đề tài tranh luận của các nhà nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng trong nhiều năm qua, kể cả từ thời Nguyễn. Phổ biến nhất là vấn đề có 1 hay 2 vị Không Lộ thiền sư triều Lý. Bài viết này nêu lên thêm một nhận định, hy vọng góp phần nào vào việc tìm hiểu sự thực về thánh tổ Không Lộ.
Lĩnh Nam chích quái
, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thiền sư Dương Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang huyện Hải Thanh, mấy đời làm nghề câu cá, sau bỏ nghề ấy mà đi tu, thường hay đọc kinh Đà La Ni. Thời Chương Thánh Gia Khánh cùng với bạn tu hành là Giác Hải ẩn dật ở chùa Hà Trạch, mặc áo vải, ăn rau, quên mình mà tu, không cầu bên ngoài, tâm thần tai mắt nhẹ nhàng sáng sủa, có thể bay lên không, đi trên mặt nước, phục được cọp, giáng được rồng, vô cùng kỳ lạ, người đời không sao lường biết được. Sau về quê xây chùa mà ở….
Thiền sư Giác Hải cũng là người huyện Hải Thanh, tu tại chùa Diên Phúc trong quận nhà. Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền câu làm nhà, lênh đênh trên mặt nước. Năm hai mươi lăm tuổi mới bỏ nghề ấy, cắt tóc đi tu. Lúc đầu cùng Thiền sư Không Lộ ở chùa Hà Trạch, sau mới tìm về ở Hải Thanh. Thời Lý Nhân Tông, sư thường cùng sư Thông Huyền được triệu vào ngồi hầu trên ghế đá mát lạnh ở cung Liên Mộng. Bỗng một hôm có đôi tắc kè đang gáy, nhức tai điếc óc. Vua truyền Thông Huyền dùng phép để ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua cười bảo với Giác Hải rằng: “Hãy còn một con xin để nhường nhà sư”. Sư liền đọc thần chú, trong nháy mắt con còn lại cũng rơi xuống đất. Vua kinh lạ, làm thơ rằng:
Giác Hải lòng như biển

Thông Huyền đạo cũng huyền
Thần thông thêm biến hoá
Một Phật một thần tiên.
Sự kiện 2 vị cao tăng diệt tắc kè có nhiều người xem qua nghĩ chẳng có gì là phép thần thông cả, sao lại được vua Lý tán dương như thế?
Thực ra, gọi là tắc kè chỉ là một cách kể. Đúng ra đây là tài: “phục được cọp, giáng được rồng”, vì tắc kè chính là hình ảnh của rồng.
Qua chuyện trên ta thấy Thông Huyền và Giác Hải là 2 người khác nhau. Bản Thánh tổ bản hạnh ở chùa Keo ngoài (Đĩnh Lan) ở Hành Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định) ghi: Thánh tổ Không Lộ đại pháp thiền sư sư giả, cựu danh Thông Huyền. Tức là: Vị sư Thánh tổ Không Lộ đại pháp thiền sư có tên cũ là Thông Huyền.
Sách Địa dư huyện Quỳnh Côi của tri huyện Ngô Vi Liễn, phần chép về xã La Vân, sự tích đức Không Lộ thuyền sư cũng nói, sau khi Từ Đạo Hạnh, Không Lộ và Giác Hải đi Tây phương trở về thì Không Lộ thuyền sư từ đấy phép Phật thông huyền, bay trên không, đi trên mặt nước, hàng long phục hổ, thiên kỳ vạn quái, không ai biết đâu mà lường… Đến đời vua Lý Nhân Tôn ngài cùng thiền sư Giác Hải đã diệt 2 con tắc kè và được vua có thơ tán tụng.
Như vậy Không Lộ thiền sư ở vùng Nam Định từng có tên là Thông Huyền, là người đã cùng thiền sư Giác Hải đã làm phép giáng rồng (diệt tắc kè) thời Lý Nhân Tông. Đây là nhận định quan trọng thứ nhất, xác nhận vị thánh tổ Không Lộ đầu tiên là Thông Huyền ở vùng Giao Thủy Nam Định.
Cũng trong bản Thánh tổ bản hạnh ở chùa Keo ngoài kể Không Lộ và Giác Hải cùng quê Hải Thanh, làm nghề đánh cá, kết nghĩa làm anh em. Sau đó hai người đi sang Tây phương tìm đạo, giữa đường gặp Từ Đạo Hạnh, lại kết nghĩa giao nhượng. Đạo Hạnh làm huynh trưởng, Không Lộ làm huynh thứ, Giác Hải làm đệ.
Như vậy rõ ràng  Không Lộ – Thông Huyền và Giác Hải là 2 nhân vật khác nhau, kết nghĩa huynh đệ. Tuy nhiên, bản Thánh tổ sự tích ở đền chùa La Vân (Quỳnh Phụ, Thái Bình) lại ghi: Nhất phong Không Lộ Giác Hải đại vương. Danh phong “Không Lộ Giác Hải” còn gặp ở khá nhiều nơi khác, chỉ 1 vị thần. Ví dụ như ở xã Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh), còn giữ được 3 sắc phong cho “Không Lộ Giác Hải chi thần“. Trong đình có bức tượng một vị thần cầm mái chèo lướt trên sóng.

Khong Lo Giac Hai.jpg
Tượng thần tại đình Quan Lạn.

Không Lộ Giác Hải được thờ như một vị thần bảo hộ cho ngư dân, tận Đà Nẵng vẫn có nơi thờ. Đình Nam Thọ (Thọ Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng) có sắc phong cho “Khổng Lộ Giác Hải Đạt ma chi thần“.
Có thể thấy vị thần Giác Hải còn có tên được phong là Không Lộ hoặc được thờ cùng với tên Không Lộ như là 1 người. Vậy phải hiểu sao khi Không Lộ cũng là Thông Huyền như trên?
Bài minh trong khoa cúng Thỉnh Thánh tổ Không Lộ trong Tạp tiếu chư khoa có đoạn:
Ngưỡng khải thánh tổ minh
Phụ Lý thị Triều đình
Phụ cư Giao Thủy quán 
Mẫu tại Hán triền sinh
Biến hiện Không Lộ tính
Kết hữu Giác Hải tinh
Dự đồng Từ Đạo Hạnh
Ước vi tam đệ huynh…
Huấn đồng tử ca thanh
Triều đình sự bất minh
Dục dũ thiên tử bệnh
Tu đắc Không Lộ danh

Ở bài minh này nói tới “Không Lộ tính“, “Không Lộ danh“. Như vậy, vốn “Không Lộ” không phải là một tên riêng mà là từ chỉ một danh xưng cho người đắc đạo nào đó.
Khi hiểu như vậy sẽ giúp giải quyết vấn đề tên Không Lộ Giác Hải, nghĩa là vị thần Giác Hải còn được gọi bằng danh hiệu Không Lộ. Đây cũng là danh xưng của vị Thông Huyền trước đó.
Từ những điều trên, có thể nhận đình rằng và đầu thời Lý đã hình thành một dòng phái các thiền sư mang danh tính là Không Lộ. Người đầu tiên lập nên dòng phái tu này là Thông Huyền, người quê ở Giao Thủy, Hải Thanh. Người thứ hai được nhận danh hiệu này là Giác Hải quê Hải Thanh, là em kết nghĩa của Thông Huyền. Rất có thể vị Không Lộ được nói tới, với quê ở Hán Lý (Ninh Giang, Hải Dương) là vị Giác Hải này.
Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng (còn có tên là Gia Viễn) đất Trường An có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh, hiệu là Minh Không quốc sư, lúc ít tuổi đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo giáo, trải hơn mười năm. Đạo Hạnh thấy người tiết tháo bèn truyền tâm ấn, lại đặt tên cho. Kíp tới khi Đạo Hạnh sắp tạ thế bảo Minh Không rằng: “Xưa tôn sư của ta tu đã tròn quả phúc mà còn bị cái nạn đao thương quả báo, huống chi ở cái thuở mạt thế huyền vi này, há có thể tự giữ mình được sao? Ta nay sắp xuất thế, ở cái địa vị làm thầy người ta, bệnh trái kiếp sau quyết là khó tránh nổi. Ta với người có duyên, nên cứu giúp nhau”. Đạo Hạnh đã hóa, Minh Không trở về chùa cũ cày ruộng.
Nguyễn Minh Không sau đó đã chữa bệnh hóa hổ cho hậu kiếp của Từ Đạo Hạnh là vua Lý Thần Tông và được phong là Lý triều quốc sư.
Nguyễn Minh Không quê Đàm Xá (Ninh Bình) là lớp học trò của Từ Đạo Hạnh, nên cũng là hậu bối của Thông Huyền và Giác Hải. Tuy nhiên, Nguyễn Minh Không này cũng hay được gọi là Không Lộ thiền sư, rất nhầm lẫn với Dương Không Lộ. Từ những nhận xét trên có thể thấy Nguyễn Minh Không cũng là một vị thiền sư đạt được danh hiệu Không Lộ, nối tiếp dòng phái tu từ Thông Huyền và Giác Hải.
Một dẫn chứng khác là ở đền Phả Lại (Quế Võ, Bắc Ninh), thờ cùng lúc 2 vị là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không. Tương truyền 2 vị này đã từng hưng công chùa này.

IMG_7660 (2).JPG
Bia Phả Lại tự bi

Như vậy, do Không Lộ là một danh hiệu, chỉ người đứng đầu dòng phái tu Không Lộ, nên ít nhất có tới 3 Không Lộ thiền sư:
1. Người sáng lập ra dòng phái này là Thông Huyền ở Giao Thủy. Vị Không Lộ thứ 1 này được biết với công trạng chém thần rết ở cửa biển Giao Thủy và được thờ như thần phù hộ nghề chài lưới.
2. Người kế nhiệm là Giác Hải, cũng từng mang danh là Không Lộ, quê gốc ở Hải Dương, là em kết nghĩa của Thông Huyền. Rất có thể Giác Hải là người đã học được nghề đúc đồng (khi đi phương Tây?) và là người khởi xướng việc đúc An Nam tứ đại khí. Vị Không Lộ tổ nghề đúc đồng là thiền sư Giác Hải.
3. Người thứ ba, là học trò/hậu bối của 2 vị trước, là Nguyễn Minh Không ở Đàm Xá (Gia Viễn, Ninh Bình). Nguyễn Minh Không có quan hệ mật thiết với vị tổ Thông Huyền, có thể là con hoặc học trò. Nguyễn Minh Không là một thầy thuốc danh tiếng, đã chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông và được phong là Lý triều quốc sư.
Cũng vì lý do có tới 3 vị thánh tổ Không Lộ ở các thời gian khác nhau như vậy nên Không Lộ thiền sư được dân gian tôn là một trong các vị thần bất tử.

IMG_1730.JPG
Cổng đền thánh Nguyễn ở Gia Viễn, Ninh Bình.

Câu đối ở đền thánh Nguyễn (Đàm Xá, Gia Viễn, Ninh Bình):
與十八子有因果乎卓然扵後扵前醫虎翊龍两朝偉績
是二社民所尸祝者辰或為分為合觀燈望井萬古祥光
Dữ thập bát tử hữu nhân quả hồ, trác nhiên ư hậu ư tiền, y hổ dực long lưỡng triều vĩ tích
Thị nhị xã dân sở thi chúc giả, thần hoặc vi phân vi hợp, quan đăng vọng tỉnh vạn cổ tường quang.
Dịch:
Cùng vua họ Lý nhân quả sao! vời vợi trước sau, chữa hổ giáng rồng, hai triều tích lớn
Ấy dân hai xã khấn tế vậy! khi lúc chia hợp, xem đèn trông giếng, vạn năm sáng lành.

Thiên Tiên Thánh giáo

Cong
Trụ sở Thiên Tiên thánh giáo ở Huế.

Đạo Mẫu ở Huế được biết với tên Thiên Tiên Thánh giáo. Người theo đạo này thờ Tứ phủ, nhưng 4 phủ này không hoàn toàn giống Tứ phủ ở miền Bắc. Ngoài 2 phủ là Thủy phủ và Thượng ngàn là tương đồng, còn 2 phủ khác trong Thiên Tiên Thánh giáo đều là Thiên phủ, chia thành Thượng Thiên và Trung Thiên. Đứng đầu Tứ phủ ở Huế là các vị thánh mẫu:
– Cõi Thượng thiên có Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thánh mẫu
Cõi Thượng ngàn có Quản cai Sơn nhạc Cửu châu Lê Mại đại vương
Cõi Trung Thiên có Tây Cung Vương Mẫu bổn mạng Chúa tiên
Cõi Thủy phủ có Thủy phủ Long Cung Thánh mẫu.
Có thể thấy ở vị trí chính – Thượng thiên Thánh mẫu trong Tứ phủ Huế không phải là Thánh mẫu Liễu Hạnh mà lại là một vị Thánh mẫu của “người Chăm” – Thiên Y A Na. Trong khi bản thân đạo Mẫu Huế xuất phát từ hội Sơn Nam, là những người dân từ Nam Định di cư vào Huế từ thời tiền Nguyễn, mà Nam Định là quê hương của Mẫu Liễu. Việc này phải giải thích thế nào? Tại sao người Việt lại tôn thờ một nữ thần Chăm làm thiên chủ?
Thiên Y A Na được biết là bà Mẹ xứ sở Poh Nagar trong tín ngưỡng của người Chăm. Bà là thiên thần sinh ra từ thế giới của mây trời và bọt biển… 
Ngài là nữ thần Mẹ của vương quốc. Ngài tạo dưng nên vùng đất cho cây cối và rừng gỗ quý sinh sôi. Ngài gây ra giống lúa và dạy dân trồng lúa…
Bà Poh Nagar là nữ thần Uma, vợ của thần Shiva trong Hindu giáo. Là vợ của Vua Trời  (Shiva) nên bà Uma được tôn làm Thượng thiên Thánh mẫu, rất hợp lý.
Xét mặt khác, Thánh mẫu Liễu Hạnh được sắc phong là “Đế Thích Tiên đình“. Đế Thích Tiên có thể hiểu là vợ của Đế Thích hay Thiên Đế. Như vậy, bản thân mẫu Liễu là hóa thân của bà Uma ở miền Bắc Việt. Khi vào miền Trung, ngôi Thượng thiên chuyển cho Thiên Y A Na, cũng là vợ Đế Thích, tương đương với vị trí của Mẫu Liễu ở miền Bắc.
Đến đây ta có một phát hiện quan trọng. Thiên Tiên Thánh giáo ở Huế thờ nữ thần Hindu giáo là thần chủ Thượng thiên. Chữ “Thiên” trong tên của Thiên Tiên Thánh giáo chính là chỉ ngôi Thượng Thiên của nữ thần Uma. Suy rộng hơn, Thiên ở đây chỉ các vị thần của Hindu giáo, được gọi là các Chư Thiên, bao gồm cả Phật. Thiên Tiên Thánh giáo thờ Phật A Di Đà và Phật Bà Quan Âm cũng là với ý này.
Chữ Phật nhiều nơi được ghi bằng chữ Thiên với bộ Nhân. Phật là “Người Trời” hay Chư Thiên. Thiên trong Thiên Tiên Thánh giáo là chỉ chung cho Phật đạo – Hindu giáo.

Thien Tien ThanhCửu trùng đài và chính cung Thiên Y A Na ở trụ sơ Thiên Tiên Thánh giáo.

Ở vị trí Trung thiên là bà Tây Cung Vương Mẫu, được người miền Trung thờ là thần “bản mệnh” cho người phụ nữ. Các gia đình ở Thừa Thiên Huế thường thờ đặt ban bà trong nhà, gọi là Tran Bà, với hình ảnh của Cửu Thiên Huyền nữ. Tây Cung Vương Mẫu cũng là Cửu Thiên Huyền nữ, và cũng là Mẫu Cửu trùng trong Thiên phủ ở miền Bắc. Bà là bà Mẹ Trời, cai quản các thần tiên trong Đạo giáo.
Tây Cung Vương Mẫu không chỉ là bản mệnh cho gia đình, mà còn là “bản mệnh” thành hoàng cho cả kinh thành Huế, vì bà mang tên Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân. Rất có thể tên “Thừa Thiên Huế” là bắt nguồn từ danh hiệu này của Tây Cung Vương Mẫu.
Như thế, yếu tố thứ hai cấu thành Thiên Tiên Thánh giáo là yếu tố “Tiên”, tức là chỉ Đạo Lão, với thần chủ Tây Cung Vương Mẫu. Trong tín ngưỡng này còn mang nhiều hình tượng, thần tượng khác của Đạo Lão như bệ Cửu trùng, Ngọc hoàng Thượng đế, các bà Ngũ hành,… Thậm chí ngay cả vị Quan Thánh Đế Quân được thờ trong Thiên Tiên Thánh giáo cũng là một yếu tố từ Đạo Lão.
Yếu tố thứ ba trong Thiên Tiên Thánh giáo là chữ “Thánh”. Ở Việt Nam đạo thờ Thánh tức là đạo thờ tổ tiển, thờ phụng những người có công với đất nước, những vị thủ lĩnh quốc gia hiển hách. Cụ thể vua Đồng Khánh đã tự xếp mình là một vị Thánh, cùng với Lục vị tôn ông thành bộ Thất Thánh trong Thiên Tiên Thánh giáo. Ngoài ra những vị Thánh trong lịch sử của dân tộc cũng được tôn thờ ở đây như Sơn Tinh, Thủy Tinh, Trần Hưng Đạo…

IMG_0695Một góc của điện Hòn Chén.

Đạo thờ Thánh này cũng có thể coi là một dạng tín ngưỡng xuất phát từ Nho giáo, với triết lý tôn vinh các bậc Thánh hiền trong thiên hạ. Xét như vậy thì Thiên Tiên Thánh giáo thực chất là một tôn giáo gồm Tam giáo đồng nguyên:
– Thiên: đạo Phật và Ấn Độ giáo.
– Tiên: đạo Lão
– Thánh: đạo thờ tổ tiên, hay đạo Nho.
Tất cả hình thành một tổ hợp thần điện hỗn hợp nhưng lại rất có trật tự, có giáo lý, hợp thành một tôn giáo đầy đủ: Thiên Tiên Thánh giáo.
Hình thức “Tam giáo đồng nguyên” này ở miền Bắc cùng thời đó là phong trào của Hội thiện với các Thiện đàn, cùng với tục thờ thần và thực hành lên đồng, cầu cơ, giáng bút rất tương đồng.
Có thể nói Thiên Tiên Thánh giáo phát triển từ đạo mẫu Tứ phủ của miền Bắc, nhưng đã bổ sung thêm yếu tố tín ngưỡng của Ấn Độ (Phật và Hindu) trong thần điện, đề cao hơn các vị Thánh – những vị tiền liệt có công lao với đất nước.

Bàn về thành hoàng làng

Thành hoàng ghi bằng chữ Nho là 城隍. “Thành” 城 là cái thành, chỉ một địa điểm tụ cư xưa. “Hoàng” 隍 theo nghĩa chữ Nho là cái ao cạn, hay cái hào nước cạn. Các tác giả thường cho rằng đây là cái hào bao quanh cái thành, và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành (Từ điển Hán Việt, Đào Duy Anh). Tuy nhiên, nếu xét sát nghĩa như trên thì ta thấy “hoàng” không phải là cái hào có nước bao quanh thành. Hơn nữa khi 2 từ này ghép lại là “thành hoàng” thì không có từ nào để chỉ người cả, nên không thể suy ra nghĩa là vị thần coi giữ thành.
Chính xác hơn thì từ Hoàng 隍 vốn là một chữ Nôm được cấu tạo từ bộ phụ 阝, chỉ một khu đất, và chữ hoàng 皇, chỉ người đứng đầu. Khi ghép nghĩa của 2 bộ phận này (phép Hội ý) ta có chữ Hoàng 隍 mang nghĩa là người đứng đầu một khu vực đất đai, tương ứng với nghĩa là thần chủ của khu vực đó.
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính chép: “Xét về cái tục thờ Thần hoàng này từ trước đời Tam Quốc trở về trước vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi. Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thần hoàng ở Thành Đô; kế đến nhà Tống, nhà Minh, thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ.”
Như thế ban đầu là tục thờ “thần hoàng”, chứ không phải “thành hoàng”, nên việc ghép nghĩa “hoàng” là cái hào bao quanh thành ở đây là không sát thực. Ban đầu “thần hoàng” hay “hoàng” là từ để chỉ một vị thần chủ được thờ phụng. Sau này khi người ta lập thần cho một khu vực cư trú nhất định (thành) thì vị thần này mới mang tên gọi là “thành hoàng”. Cho tới nay, ở các tỉnh miền Nam, người ta vẫn gọi là “Bổn cảnh thần hoàng”, chứ không phải “thành hoàng” như ở miền Bắc.
Trong lời hát xoan ở Phú Thọ, Vĩnh Phú, khi dùng để hát chầu nơi cửa đình, thường nói đến vị “Vua”. Ví dụ, hát mời vua:

Vua lên thánh đức trị vì
Vua về nghe hát, mừng làng sống lâu.

“Vua” ở đây là thành hoàng làng. Tức là chữ Hoàng có nghĩa là “vua”, chỉ thần chủ của làng.
Người Việt rất coi trọng tín ngưỡng thờ thành hoàng nên những vị thần được cả làng lựa chọn thờ cúng đều là những người có công lao, sự nghiệp đối với làng xã, với đất nước. Khảo sát trong các vị thành hoàng ở Việt Nam hầu như đều là những nhân vật lịch sử có thật ở các thời kỳ khác nhau. Những nhân vật lịch sử có sự tích rõ ràng được gọi là các Nhân thần. Chủ yếu đây là những anh hùng dân tộc, những nhân vật lịch sử qua các thời kỳ trung đại như các vị tướng của Bà Trưng, Bà Triệu, thời Tiền Lý, Mai Thúc Loan, Phùng Hưng, Ngô Quyền, Đinh, Lê, Lý, Trần. Hiếm gặp hơn (chủ yếu ở miền Nam) là các nhân vật lịch sử thời Nguyễn được sắc phong là thành hoàng làng.
Những còn nhân vật ở thời kỳ xa xưa, với sự tích huyền ảo thường bị nhầm lẫn gọi là Thiên thần hay Nhiên thần. Tuy nhiên, khi xét kỹ đây đều vẫn là những con người có thực, là những vị anh hùng có công lao to lớn trong buổi đầu dựng nước và giữ nước của dân tộc. Một số “Nhiên thần” hay “Thiên thần” ở dạng này có thể kể đến như Tản Viên Sơn Thánh, Huyền Thiên Trấn Vũ, Thánh Dóng, thần Đồng Cổ, Bạch Hạc Tam Giang… Dù có được gọi là “Sơn thần” hay “thủy thần” thì các vị thần này vẫn có nguyên mẫu là một nhân vật từng tồn tại trong quá khứ.

DIen Long Hung
Đình Xuân Quan, nơi thờ Triệu Vũ Đế.

Người Việt lại càng tỉnh táo và cẩn trọng trong việc nhìn nhận các vị quan lại của nhân dân hay của giặc ngoại xâm. Hầu như người Việt không thờ “giặc ngoại xâm” bao giờ, mà thực chất những vị thần được thờ có xuất xứ dưới thời Bắc thuộc đều vốn là những người gốc Việt, từng có công với dân với nước. Đây là trường hợp của Triệu Đà (làng Xuân Quan, Văn Giang, Hưng Yên; các làng ở khu vực Từ Sơn và Quế Võ, Bắc Ninh), Lưu Bang, Lữ Hậu (làng Bát Tràng), Đặng Nhượng, Tích Quang (làng Lý Đỏ, Hải Dương; làng Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội), Nhâm Diên (làng Nga My Thượng, Thanh Oai), Sĩ Nhiếp (các làng ở vùng Thuận Thành, Bắc Ninh), ba vị họ Chu (ở Thạch Thất, Hà Nội). Thậm chí có cả các Tiết độ sứ thời kỳ sau này như Vũ Hồn (ở Hải Dương), Cao Biền (ở Bắc Ninh). Khi suy xét kỹ nguồn gốc, sẽ nhận ra tất cả những vị thành hoàng “thời Bắc thuộc” này vốn đều là người gốc Việt, làm quan dưới các triều đại của người Việt.

IMG_7205
Ngai vị Lưu Thiên tử và Lữ Hoàng hậu ở đình Bát Tràng.

Một số trường hợp thờ thành hoàng có nguồn gốc Trung Hoa như Tứ vị Hồng nương, Thiên Hậu, Quan Thánh Đế Quân, thậm chí cả Tề Thiên Đại Thánh. Đây đều là những vị phúc thần phổ biến trong văn hóa Trung Hoa, không phải “giặc ngoại xâm”.
Trường hợp khác là các thành hoàng có nguồn gốc từ tín ngưỡng Ấn Độ (Bà La Môn giáo và đạo Phật). Xếp vào loại này có các vị Bà trong Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện), Đế Thích (tập trung ở Hưng Yên và Hà Nội). Thậm chí có nơi thờ cả Phật tổ Thích Ca làm thành hoàng như đình làng Thổ Cốc (Tân Lập, Yên Mỹ, Hưng Yên). Có lẽ tên gọi “Thiên thần” chỉ nên dùng cho các vị thành hoàng xuất xứ từ tôn giáo.
Lẻ tẻ có một vài nơi có đền miếu thờ các viên tướng giặc như thờ Mã Viện hay Sầm Nghi Đống, nhưng thực chất đều không phải là các thành hoàng làng được sắc phong, mà là do những nhóm Hoa kiều lập miếu thờ.

IMG_9016.JPGChính điện đình Kim Ngân, thờ ông tổ bách nghệ Hiên Hoàng.

Ở một số làng thờ các vị có công truyền dạy nghề cho dân làng, như vị tổ nghề gốm Bát Tràng, làng Phù Lãng, vị tổ nghề đúc đồng ở Đại Bái, nghề chạm khắc gỗ làng Đông Giao, Hải Dương… Trong số các vị thành hoàng là tổ nghề, đáng chú ý có nơi thờ các nhân vật của cổ sử Trung Hoa như đình Kim Ngân (Hàng Bạc, Hà Nội) thờ Hiên Viên Hoàng Đế là tổ bách nghệ. Nhiều làng nghề mộc như Dư Dụ (Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Nội) thờ ông Lỗ Ban, tổ sư của nghề mộc.
Người Việt không thờ cái hào bao quanh thành, không thờ những tà thần làm thành hoàng, không thờ giặc ngoại xâm trong đình làng. Thành hoàng làng đều là những nhân vật lịch sử hoặc tôn giáo có công lúc sống, hiển linh lúc mất với nước với dân.

Đền miếu Việt

“Đền miếu” là cách gọi chung cho các kiến trúc dùng để thờ cúng, thực hành các tín ngưỡng. Tín ngưỡng thờ thần trong các ngôi làng của người Việt đã xuất hiện ngay từ khi làng được hình thành. Do đó các kiến trúc đền miều cũng đã có từ khi đó.

Tùy theo từng vùng miền, từng đối tượng thờ cúng mà các công trình thờ phụng ở làng mang những tên gọi khác nhau như đền, miếu, mạo, nghè, từ, quán, chùa, am, phủ, điện… Tất cả đều có công năng chung là nơi để phụng sự, thờ cúng các vị thánh, thần và là nơi thực hành các tín ngưỡng của người dân hoặc của các vị tu hành. Đây là điểm dựa tâm linh quan trọng đối với cộng đồng người dân trong thôn làng. Tục thờ thần thánh thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn, đạo thờ tổ tiên, một nét đặc trưng văn hóa của người Việt.

Cu thachCự thạch, đàn tế cổ ở Đại Đình, Tam Đảo.

Ban đầu người Việt thực hành việc thờ cúng dưới dạng các bệ thờ lộ thiên được xếp bằng đá hoặc xây dựng. Những bệ thờ cổ nhất còn lưu lại tới ngày nay dưới dạng các di chỉ cự thạch, gặp ở một số vùng miền núi ở Vĩnh Phúc, Cao Bằng,… Dần dần sau này từ các bệ thờ phát triển thành các loại hình kiến trúc có mái, khép kín khác nhau. Các đàn tế mà nay còn được sử dụng không còn nhiều, chủ yếu ở những nơi có tục thờ Trời (đàn Nam Giao), thờ Thần Nông (đàn Tịch Điền, đàn Xã Tắc) vì theo quan niệm việc thờ cúng này phải thực hiện ở ngoài trời.

Sau các bệ thờ là những am, miếu nhỏ. Những am bệ này thường được lập để tạm thời thờ cúng, trước khi xây thành miếu điện, như trường hợp thờ gốc cây, thờ đá, thờ người chết bất đắc kỳ tử,… Am cũng là từ để chỉ một kiến trúc nhỏ dành cho người tu hành chuyên tâm.

IMG_6262Đền Nhà Bà ở Phù Ninh, Phú Thọ.

Ở miền Bắc xưa kia hầu như làng nào cũng có một ngôi miếu chính để thờ cúng vị thần bảo hộ của làng. Nhưng cũng không hiếm trường hợp làng có nhiều ngôi miếu, thờ các vị thần khác nhau. Nhiều trường hợp đây cũng là các vị thành hoàng của làng, là những người lúc sống có công với làng xã, hoặc khi mất từng hiển linh phù trợ quốc gia, được các triều đại phong kiến công nhận qua các sắc phong.

Thông thường nếu đình làng là chốn “công đường”, nơi khấn cáo, tế lễ thành hoàng làng, thì đền, miếu hay nghè của làng là nơi an nghỉ, lưu giữ các di vật, sắc phong của thành hoàng. Cũng như đình làng, các đền miếu của làng thường do làng quản lý, cử ra một người thủ từ để trông nom hương khói. Nhưng việc cúng tế, tổ chức tế lễ vẫn do ban khánh tiết chung của làng thực hiện.

Nghe Gia Lam.jpgNghè Gia Lâm, Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội.

Một loại hình miếu thờ quan trọng rất phổ biến đối với các địa phương có truyền thống khoa bảng là Văn từ của làng. Văn từ, Văn chỉ (Từ chỉ, Từ vũ) là nơi thờ Khổng Tử, các bậc Tiên hiền và các nhà khoa bảng, vinh hiển của địa phương. Một số nơi trong Văn chỉ, Văn miếu có thờ cả Sĩ Nhiếp như vị thánh tổ Nho học nước Nam (Nam Giao học tổ). Mục đích của Văn chỉ là để cổ vũ, dẫn dụ đạo học của quê hương.

Thời phong kiến, một số làng có Quán, là nơi thờ tự của Đạo giáo và nơi tu hành của các đạo sĩ, do Đạo quản lý. Các đạo quán thường được lập ở những nơi được cho là có tính phong thủy tốt, các huyệt mạch quan trọng của thế đất. Cũng có nhiều trường hợp “quán” cũng là nơi thờ cúng các vị thần, thậm chí cả thành hoàng làng, và điều này thường chứng tỏ vị thần được thờ từng là một đạo sĩ hay có liên quan tới Lão giáo.

Lam Duong quan.jpgCổng Lâm Dương quán, nay là chùa Đa Sĩ.

Một điểm thờ tự mà trước kia hầu hết các làng quê Bắc Bộ đều có là ngôi chùa làng. Chùa là nơi phụng thờ Phật và nơi tu hành của các vị sư, sãi và do sư quản lý. Các chùa ở miền Bắc thường thờ theo hình thức Đại thừa, thờ đức Phật Thích Ca, Tam Thế phật cùng các chư Phật khác. Chùa gắn bó thân thiết trong đời sống tâm linh của dân làng. Chùa là nơi dân làng lễ bái, tu thân, trau dồi đức hạnh, để phúc đức lại cho con cháu. Tuy nhiên, chùa làng thường lại không do làng quản lý mà do sư sãi của Phật giáo quyết định.

Trên thực tế nguồn gốc các ngôi chùa hiện nay khá phức tạp. Ở nhiều nơi các đạo quán của Lão giáo trước đây nay đã bị cải thành nơi thờ Phật, và được gọi là chùa. Điển hình như Hưng Thánh quán ở Thường Tín được gọi là chùa Mui, Lâm Dương quán là chùa Đa Sĩ (Hà Đông), chùa Thiên Tôn ở Ninh Bình,… Những nơi này tên gọi và hệ thống tượng thờ phần lớn đã thay đổi, chỉ duy còn giữ được bộ tượng Tam Thanh, đặc trưng của điện thờ Đạo giáo.

IMG_0595.JPGChùa Pháp Vũ ở Ân Thi, Hưng Yên.

Phổ biến hơn nữa, chùa được nói đến khi có liên quan tới các nhân vật của Bà La Môn giáo đã được Việt hóa sâu sắc. Điển hình là tục thờ Tứ pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) rất phổ biến ở các chùa của tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Hà Nội. Tứ pháp hay bốn vị Bà (Dâu, Dàn, Tướng, Đậu) thực chất là Tứ đại Thiên vương trong Bà La Môn giáo đã du nhập vào nước ta từ thời kỳ rất sớm. Cũng ở các vùng này còn có các đền thờ Đế Thích, cũng được gọi thành chùa (Đế Thích tự như ở vùng Hưng Yên hay chùa Vua ở Hà Nội).

Nhiều chùa còn kiêm luôn là đền thờ, với bố cục “tiền Phật hậu Thánh”, có khi là “tiền Thánh hậu Phật”. Đây là các trường hợp thờ các vị thánh tổ thiền sư như Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không, Giác Hải như chùa Láng, chùa Thầy, chùa Keo,… Còn nữa, chùa Hương Tích thờ bà chúa Ba Diệu Thiện thời Hùng Vương dưới ngôi Nam Hải Quan Âm của đạo Phật.

Chua THay.jpgBệ đá thời Lý đỡ tượng Từ Đạo Hạnh ở chùa Thầy.

Các loại hình Phủ, hay quy mô nhỏ hơn là Điện, là nơi thờ Mẫu hay các vị thần trong Tam tứ phủ. Đây cũng là nơi thực hành tín ngưỡng thông qua hoạt động hát chầu văn và lên đồng. Ngày nay, các điện thờ Mẫu thường được dựng bên trong khuôn viên của chùa, hình thành tổ hợp “tiền Phật hậu Mẫu”.

Dong Hoa.jpgĐền Đỗng Hoa, đàn thiện ở Thạch Thất.

Ở một số địa phương ở miền Bắc còn có loại hình “thiện đàn”, nhiều chỗ gọi là đền thờ Tam giáo. Đây từng là nơi hoạt động của phong trào Đông kinh nghĩa thục, là nơi tổ chức các buổi cầu cơ giáng bút, nhằm phổ biến lòng yêu nước, thương nòi trong nhân dân. Thần điện của các thiện đàn rất phong phú, tập hợp nhiều vị thần mang tính truyền thống dân gian như Ngọc Hoàng Thượng Đế, Tản Viên Sơn Thánh, Thái Thượng Lão Quân, Khổng Tử, Đức Thánh Trần, Mẫu Liễu Hạnh, Quan Thánh Đế Quân… Quan niệm của những nhân sĩ trong phong trào thiện đàn là gìn giữ được tín ngưỡng thờ thánh thần là gìn giữ được hồn cốt của dân tộc, giúp nhân dân ta có tâm thức vượt qua đêm dài nô lệ dưới gót giặc ngoại xâm.

 

Bà Giàng và Tứ Pháp

Ở miền Trung, có một vị thần được thờ rất phổ biến, dọc ven biển từ Quảng Trị, Thừa Thiên Huế đến Quảng Nam Đà Nẵng, nơi nào cũng có thờ. Vị thần có cái tên khá dân gian: Bà Giàng. Bà Giàng là ai mà lại được thờ phổ biến như vậy ở đây? Để nhận diện vị thần này, thử điểm qua các di tích thờ Bà Giàng ở vùng ven biển Trung Bộ.

IMG_3345Miếu Bà Giàng – Thai Dương phu nhân ở Thuận An.

Một ngôi miếu cổ nổi tiếng ở cửa biển Thuận An (Huế) gắn với sự tích Thai Dương phu nhân. Sự tích này đã được ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí và vị thần Thai Dương phu nhân ở đây đã được triều đình nhà Nguyễn nhiều lần sắc phong. Truyền thuyết về Thai Dương phu nhân được kể nói chung như sau:
Có một ngư phủ ra làm nghề biển, nằm gối đầu lên khối đá mà ngủ. Ông nằm mộng thấy người đàn bà mang thai lay đầu mình dạy bảo rằng: “Chớ chạm vào thai ta”. Ngư phủ tỉnh dậy không thấy ai khấn rằng: “Thần có thiêng xin đêm nay phù hộ cho ta bắt được nhiều cá”. Quả nhiên, hôm đó ông đạt được ý nguyện như lời cầu xin. Dân chài trong địa phương cùng nhau lập đền thờ. Mỗi lần họ cầu xin điều gì đều được như ý.

IMG_3332Đá thờ trong nội điện miếu Bà Giàng – Thai Dương phu nhân ở Thuận An.

Tục thờ Thai Dương phu nhân gắn liền với tục thờ đá cổ. Miếu Thai Dương phu nhân ở cửa Thuận An còn được gọi là miếu Bà Giàng. Dễ nhận thấy âm Giàng đã được ghi trong sách vở bằng chữ Dương. Còn chữ được dịch ra thành “phu nhân”.
Câu đối ở miếu Thai Dương phu nhân:
跋跅化生帖海澄波彰聖澤
邰陽顯現騰雲駕雨妙神機
Bạt thác hóa sinh, thiếp hải trừng ba chương thánh trạch
Thai dương hiển hiện, đằng vân giá vũ diệu thần cơ.
Dịch:
Dấu mạnh hóa sinh, biển lặng sóng yên ngời đức thánh
Thai trời hiển hiện, đi mây về gió khéo cơ thần.
Ở các nơi khác, Bà Giàng được ghi trong sắc phong là Dương phu nhân. Ví dụ như sắc phong của xã Thi Ông ở Hải Lăng, Quảng Trị. Điều này củng cố thêm nhận định Bà Giàng = Dương phu nhân.

Sac Duong phu nhan.jpgSắc phong thời Tự Đức cho Dương phu nhân trung đẳng thần ở xã Thi Ông, Hải Lăng, Quảng Trị.

Ở thôn Thanh Phước xã Hương Phong, Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên – Huế cũng có một viên đá được vua phong là “phu nhân”. Đó là “Kỳ Thạch phu nhân”, là một tấm đá có khắc chạm tượng. Đây là tấm phù điêu của một tháp Chăm cổ được người dân tìm thấy trên bãi cồn. Tấm đá chạm hình quỷ vương Ravanda mười đầu, mười tám tay, bốn chân đang lay chuyển ngọn núi của thần Shiva trong Hindu giáo. Làng Thanh Phước gọi tấm chạm này là “Bà Đá”, cho dù hình khắc không thể hiện nhân vật nữ nào. Sắc phong cho Kỳ Thạch phu nhân ở làng Thanh Phước có từ thời Minh Mạng.

IMG_3468
Am Bà Đá – Kỳ Thạch phu nhân ở Thanh Phước.

Từ 2 vị “phu nhân” Bà Giàng và Bà Đá trên, ta thấy chữ Bà ở đây không phải chỉ nữ giới mà nó liên quan đến các vị thần Hindu giáo của của người Chăm xưa để lại qua các phiến đá cổ. Bản thân tên gọi Chămpa được ghi là Chiêm Bà. Chữ Bà do đó là từ chỉ thủ lĩnh trong ngôn ngữ cổ. Chiêm Bà nghĩa là Vua Chiêm, nước của vua Chiêm.
Bà Giàng như ở miếu Bà Chiêm Sơn (Duy Trinh, Duy Xuyên, Quảng Nam) còn gọi là Bô Bô. Như thế Bà là biến âm của Bô, hay Bố, vốn là từ chỉ Vua ngày trước, tương tự như trong danh xưng Bố cái đại vương.
Ở thôn Lương Hậu (Thủy Lương, Hương Thủy, Thừa Thiên Huế) có ngôi miếu Bà Giàng hay Lùm Giàng. Trên miếu ghi chữ “Bố Y Na miếu”. Căn cứ vào chữ này mà người ta cho rằng đó là nữ thần Thiên Y A Na, phiên âm từ tên Poh Nagar ra. Tuy nhiên, đúng với tên gọi vị thần ở đây là Bà Giàng thì phải phiên âm như sau:

  • Bố = Bà
  • Y Na = Yang = Giàng.

Bố Y Na là cách ghi âm Hán Việt khác của từ Bà Giàng. Miếu ở Lương Hậu còn có bức tượng thần Shiva nhiều tay trong điệu múa vũ trụ, cho thấy liên hệ trực tiếp giữa cái tên Bà Giàng với tín ngưỡng của Hindu giáo (người Chăm).
Từ Giàng (Yang) trong tiếng dân tộc nghĩa là Trời. Từ phát hiện trên ta lại có, Bà là từ chỉ thủ lĩnh trong ngôn ngữ Chăm. Như thế Bà Giàng nghĩa là Vua Trời. Ghi bằng âm Hán Việt ở miền Bắc là Thiên Đế (Đế Thích). Vua Trời trong văn hóa Chăm là thần Shiva.
Ở chùa Đông Lâm tại thôn Cù Hoan (Hải Thiện, Hải Lăng, Quảng Trị) có miếu Bà Giàng bên trong thờ một mukhalinga là hình một Linga tròn được gắn với đầu của thần Shiva. Hình thần Shiva còn thấy cả râu mép, rất rõ ràng không phải là nữ thần.

Mukhalinga
Tượng Bà Giàng – mukhalinga chùa Đông Lâm (ảnh theo Internet).

Rất nhiều những điểm thờ cúng khác liên quan đến chữ Bà đều có tượng đá Chăm thể hiện các vị thần của Hindu giáo. Tại chùa Ưu Điềm (Phong Điền, Thừa Thiên Huế) có miếu Bà Lồi, trong đó lưu giữ một bức phù điêu có khắc hình thần Shiva và vợ đang cưỡi trên con bò thần Nandin. Trong miếu còn các hiện vật khác của một ngôi đền Chăm cổ, có cả một Linga tròn và mảnh vỡ của tượng Yoni. Chữ Bà như vậy chỉ các vị thần trong Hindu giáo, nay được gọi là các Chư Thiên.

IMG_3531Phù điêu và Linga cùng các hiện vật đá ở miếu Bà Lồi, chùa Ưu Điềm.

Các “Bà” hay Chư Thiên Hindu giáo thường gắn với truyền thuyết về “thai sinh”, sinh ra từ thân cây hay trong một tảng đá. Ví dụ như trường hợp Thai Dương phu nhân ở Thuận An đã nói ở trên. Có thể cái “Thai” này là tượng trưng của Linga, biểu tượng của thần Shiva.
Từ nhận định chữ Bà là chỉ các vị thần của Hindu giáo ở miền Trung còn đi đến một phát hiện bất ngờ khác. Bốn vị thần Tứ Pháp – Phong Vũ Lôi Điện ở vùng Luy Lâu (Thuận Thành, Bắc Ninh) có tên dân gian là Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn. Những chữ “Bà” này làm cho người ta nghĩ rằng đây là 4 vị nữ thần…

P1150366
Ban Pháp Vũ ở chùa Dâu.

Thực ra chữ Bà này không phải là từ chỉ phụ nữ. Đây là từ có nguồn gốc trong “tiếng Chăm”, ví dụ như các nơi Bà Đanh, Bà Đá,… thường được cho là du nhập văn hóa Chăm. Như đã dẫn chứng ở trên Bà tương đương với vua hay vương. 4 vị “Bà” làm Mây Mưa Sấm Chớp ở vùng Luy Lâu dó đó là 4 vị vương thần, hay gọi chính xác là Tứ đại Thiên vương. Đây là 4 vị thần của Hindu giáo mà đã được tiểu thuyết Phong Thần diễn nghĩa gọi là Phong Điều Vũ Thuận, liên quan đến việc làm mưa làm gió.

P1150368Ban thờ Pháp Vân ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Cốt lõi của cây Dung thụ nơi sinh Tứ pháp là Thạch Quang Phật, tức là cái “Thai” đá, hay Linga, biểu tượng của thần Shiva. Tứ đại Thiên vương cũng là những vị thần theo hộ giúp thần Shiva.
Tục thờ Tứ pháp do đó thực chất là thờ các vị thần Hindu giáo, đã du nhập vào miền Bắc từ rất sớm ngay từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Khi đó, dưới sự cai quản của Sĩ Nhiếp miền Bắc và miền Trung Việt đang cùng trong 1 châu. Giao Châu thời này bao gồm cả các quận Nhật Nam, Cửu Chân, mà Nhật Nam chính là nơi bố của Sĩ Nhiếp là Sĩ Tứ làm thái thú. Do đó, hoàn toàn hợp lý khi tín ngưỡng của miền Bắc và miền Trung Việt lúc này cùng là một, thờ các vị Thiên Đế và Chư Thiên của đạo Bà La Môn.

 

Biểu hiện của Hindu giáo vào Việt Nam sớm qua sách Thiên Đế bảo lục

IMG_0524

Thần tích của đền Xá tại Ân Thi, Hưng Yên mang tên Thiên Đế bảo lục do Hàn lâm đại học sĩ Nguyễn Bính soạn, kể về sự giáng sinh của Vua Trời Đế Thích ở đây. Sự tích này bắt đầu từ thời Hùng Chiêu Vương, là cháu của Kinh Dương Vương.
Chiêu Vương là người khoan nhân, trí tuệ, tôn sùng Phật pháp, kính sự thánh thần, chăm lo lấy dân làm gốc, được gọi là bậc hiền quân.  Lúc này ở trại Trì La (nay ở huyện Ân Thi, Hưng Yên) có một cây bạch đàn tím từ trên trời giáng xuống, dựng ở mảnh đất đầu rồng trong trại. Chiêu Vương cho lập đàn thờ lộ thiên để phụng sự và cầu đảo cây thiêng này.
Sang đời Hùng Vương thứ mười, Tạo Vương làm vua, cây thiêng ở Trì La đã trải qua hơn bảy trăm năm. Đất nước gặp tai họa giặc quỷ quấy nhiễu. Cây thiêng vỡ ra một bọc bào thai, được Tạo Vương cho mang về cung điện, đặt trên lầu rồng để cầu khấn.
Tháng Giêng ngày mười lăm bỗng thấy trời đất mùi mịt, trên lầu bọc thai phóng hào quang bốn hướng, khí lành rực rỡ. Bọc thai tự nổ một tiếng kinh động trời đất. Vua cùng trăm quan sợ phục trước lầu, ngưỡng xem thấy Đế Thích Thiên Vương ngự tại đầu rồng trước lầu, mây lành năm màu, đầu đội mũ bình thiên, thân khoác áo rồng, tay cầm kim bài.
Minh Hoa công chúa (là con gái của Hùng Hy Vương), bảy mươi tuổi mà cảm ứng ở chỗ cây thiêng, cùng lúc đó sinh ra 2 vị Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử, cùng theo phò tả hữu bên Đế Thích. Công chúa hóa thân chỉ còn lại 2 búi tóc. Hai vị Thiên tử hô lớn, hai búi tóc bỗng nhiên biến hóa. Búi thứ nhất biến thành Ngựa lửa, thân dài chín thước, ông Tả cưỡi. Một búi khác biến thành Lân ngọc, ông Hữu cưỡi.
Ba vị cùng với Diêm La bộ soái, là tướng của Tạo Vương, dẫn ngàn thiên binh đi diệt giặc quỷ. Lũ quỷ bị đánh tan thành tro bụi. Bè đảng sài lang hổ báo được dẹp yên. Ba vị hóa về trời. Còn Diêm La bộ soái sau đó hóa thành con rắn lớn, trườn xuống sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa…

IMG_0577.JPGCảnh Thiên Đình ở đền Xá.

Vua Trời Đế Thích là thần Indra, vị thần chủ rất sớm của 33 cõi trời trong Ấn Độ giáo. Thần Đế Thích – Indra đã được ghi chép trong bộ kinh cổ Vệ Đà. Sự tích Thiên Đế bảo lục cho biết vị thần này đã có mặt trong tín ngưỡng ở miền Bắc Việt từ rất sớm, ban đầu từ thời Kinh Dương Vương, hiển hiện rõ rệt vào thời Hùng Vương thứ 10.
Với niên đại thời Kinh Dương Vương thì rõ ràng chưa thể có đạo Phật vì Phật tổ Thích Ca còn chưa ra đời. Trong khái niệm xưa ở nước ta, Phật còn là chỉ các vị thần của Bà La Môn như Đế Thích. Những dấu hiệu về “cổ Phật” còn lưu truyền chính là dấu vết của sự du nhập Bà La Môn rất sớm vào Bắc Việt.

IMG_0572.JPG
Ngựa lửa, Nhật quang Thiên tử cưỡi.

Cùng với Đế Thích – thần Indra, trong sự tích còn chép tới 2 vị Thiên tử giáng sinh là Nhật Quang và Nguyệt Quang. Đây cũng là 2 vị thần của đạo Bà La Môn. Nhật quang Thiên tử hay Nhật Thiên là thần Mặt trời Surya. Vị thần này thường ngồi xe ngựa kéo có màu hung đỏ. Còn trong sự tích ở Ân Thi, Nhật quang Thiên tử cưỡi con Hỏa mã (ngựa lửa), hoàn toàn trùng khớp.
Nguyệt quang Thiên tử hay Nguyệt Thiên là thần Mặt trăng Chandra. Vị thần này thường cưỡi trên một con linh dương. Sự tích ở Ân Thi kể Nguyệt quang Thiên tử cưỡi con Ngọc lân, cùng hoàn toàn đồng nhất với thần thoại Ấn Độ.
Thần thoại 2 vị Nhật Thiên và Nguyệt Thiên được hình tượng hóa theo cách của người Việt trong công chúa Minh Hoa. Chữ Minh明 gồm chữ Nhật 日và chữ Nguyệt 月 ghép lại. Minh Hoa công chúa được kể là một người tám tuổi đã theo Phật, bảy mươi tuổi lại có mang, sinh ra 2 vị Nhật Nguyệt Thiên tử.

IMG_5764.jpg
Lân ngọc, Nguyệt quang Thiên tử cưỡi.

Câu đối ở đền Xá:
天闕莊嚴開日月
帝威赫濯起風雲
Thiên khuyết trang nghiêm khai nhật nguyệt
Đế uy hách trạc khởi phong vân.
Dịch:
Cửa Trời nghiêm trang mở nhật nguyệt
Đế Oai rực rỡ nổi gió mưa.
Bản thân tên huyện Thiên Thi hay địa danh Ân Thi có nghĩa là “ơn trời”, chỉ ơn huệ của Thiên Đế. Địa danh trại Trì La, nơi Đế Thích giáng sinh, có thể là từ chữ “Thi La”, trong Phật giáo nghĩa là “giới luật”. 
Dấu vết đạo Bà La Môn thời Hùng Vương còn thể hiện ở nhân vật Diêm La bộ soái, vị tướng đã dẫn quân theo Đế Thích diệt quỷ. Thần tích kể:
Diêm La bộ soái vốn là dòng dõi Hùng Vương, con cháu trăm trứng từ Long Vương. Cha là Hùng Độ làm Đế thủ Bộ chủ. Mẹ là Vũ Thị Đoan, mơ thấy giao long mà có mang thần. Tới năm Quý Tỵ tháng mười, ngày mồng mười sinh ra Diêm La công, lấy tên là Đà. Năm mười bốn tuổi ông đã văn võ kiêm toàn, anh hùng cái thế, dũng lược hơn người, đứng trước sóng cả như đứng trên đất bằng. Vua cho mời vào triều nhận chức, thi thố nhiều tài lạ, được cất nhắc làm Chưởng quản thuyền rồng Lạc Long tướng quân. Năm mười chính tuổi Vua sai làm tướng dẫn quân đánh giặc Diêm La ở ngoài Nam Hải. Ông phụng mệnh trị được chúa Diêm La, lại được triệu về triều làm Chưởng bình Diêm La nguyên soái, Thuỷ đạo đại tướng quân, lại nhận mệnh phó nhậm trấn cửa biển, làm Thuỷ đạo chủ bộ.
Sự tích của vị Diêm La bộ soái này khá giống với sự tích của Quan lớn đệ Tam trong tín ngưỡng Tam phủ. Đều là “dòng dõi” Long vương – Thoải phủ. Đều là mẹ gặp giao long mà sinh thần. Đều là Chưởng quản thuyền rồng (Trưởng Lệnh) của Hùng Vương. Trưởng Lệnh (Quan đệ Tam) thì đánh dẹp giặc Hồng Châu, Diêm La bộ soái đánh giặc Diêm La nên có tên vậy. Sau khi dẹp xong giặc quỷ, Diêm La bộ soái hóa thành con rắn lớn trườn xuống ngã ba sông Tam Kỳ ở Phong Châu Bạch Hạc mà hóa. Tam Kỳ hiển ứng cũng chính là chuyện thần Bạch Hạc Thổ Lệnh – Thạch Khanh.
Chi tiết Đế Thích liên quan đến Tam phủ còn thấy trong chuyện Hồn Trương Ba xương da hàng thịt, được ghi trong sự tích và di tích còn lại tại thôn Liêu Hạ (Yên Mỹ, Văn Giang, Hưng Yên). Khi Trương Ba mất, Đế Thích đã giáng hạ, triệu Tam phủ công đồng hoàn hồn cho Trương Ba. Nay ở Liêu Hạ trong đền thờ ngoài Đế Thích còn thờ cả Tam phủ.
Đế Thích được coi là Vua cờ vì theo thần tích Thiên Đế bảo lục nói: Cờ là cốt yếu của họa phúc, sự huyền vi của trời đất. Trong chữ Nho, đánh cờ được gọi là “dịch”. So sánh 2 nghĩa này ta thấy, cờ chính là Dịch lý, tức là “triết lý” thế giới quan, nhân sinh quan của tín ngưỡng này. Kỳ pháp như thế là pháp môn của Đế Thích – đạo Bà La Môn.

IMG_0560.JPGPhạm Đá và Phạm Dũng.

Cũng trong Thiên Đế bảo lục còn kể tới thời Thục An Dương Vương, có họ Phạm ở Biện Sơn (Thanh Hóa) cầu tự Đế Thích, được mộng ban cho 2 quân cờ Xe và Tướng, sinh ra 2 người con trai là Phạm Đá và Phạm Dũng. Hai vị có công dẹp giặc Đại Man, chống chọi với Triệu Úy Đà. Sau đó hóa ở đền Đế Thích tại Trì La (Ân Thi, Hưng Yên). Nay trong đền còn tượng thờ 2 vị này.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) nói tới các sự tích này:
錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kì thế giới thiểu Trương Công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.

IMG_0397.JPGThiên Đế điện ở Liêu Hạ.

Sự kết nối giữa Đế Thích, vị thần chủ của đạo Bà La Môn với thời Hùng Vương và tín ngưỡng Tam phủ cho thấy sự du nhập rất sớm của đạo Bà La Môn vào nước ta. Ngay Văn công đồng khi mở chầu Tứ phủ cũng ghi:
Vận thần thông vô lượng vô biên
Thập phương tam giới thánh hiền
Dục giới sắc giới chư thiên đều mời
Vua Đế Thích quản cai thiên chủ
Vua Ngọc Hoàng thiên phủ chí tôn…
Như thế theo Tứ phủ thì Đế Thích là Thiên chủ quản cai. Phải nói rằng đạo Mẫu Tứ phủ tới nay là sự tổng hợp của cả Đạo Giáo, Đạo Phật và Ấn Độ giáo.
Câu đối ở đền Đế Thích tại Liêu Hạ:
英靈冠百神南天第壹
功德光千古越地無雙
Anh linh quán bách thần, Nam thiên đệ nhất
Công đức quang thiên cổ, Việt địa vô song.
Dịch:
Anh linh đầu trăm thần, trời Nam thứ nhất
Công đức sáng ngàn xưa, đất Việt không hai.
Các sự tích hiển linh của Đế Thích đều đề cập đến khu vực phía Nam. Như Minh Hoa công chúa (người sinh ra Nhật Quang và Nguyệt Quang Thiên tử) từng bị biếm đày đi Ô Lý, đất Chiêm Thành. Rồi lại có chuyện Huyền Trân công chúa đời Trần được gả cho chúa Chiêm, khi chúa Chiêm chết Công chúa đã được Thiên Đế giúp thuyền gió lớn thuận buồm thoát nạn. Nay ở Ân Thi, gần đền Thiên Đế, có một số nơi thờ Huyền Trân công chúa làm thành hoàng làng và có cả đền thờ.

IMG_5021.jpg
Một đoạn sách Thiên Đế bảo lục.

Một sự tích khác từng được chép trong Lĩnh Nam chích quái về Đế Thích như sau:
Ở huyện Thiên Thi, xã Liễu Cầu có hai chị em vì loạn lạc vào đến nước Ai Lao. Họ mật cầu Vua Trời bảo hộ. Bỗng nhiên thấy đi bộ như bay, về tới quê quán. Khi đến làm lễ tạ, việc xong thì hình hài biến mất, chỉ còn hai búi tóc lưu lại.
Ở các khu vực Chiêm Thành, Ai Lao thì rõ ràng đã có sự du nhập của đạo Bà La Môn từ rất sớm. Ảnh hưởng của Ấn Độ giáo lên khu vực Đông Nam Á đã có từ lâu. Với những dẫn liệu như vậy, có thể chúng ta phải nói tới “Tứ giáo đồng nguyên” trong tín ngưỡng ở Việt Nam: Nho, Lão, Phật và Bà La Môn.

 

Sự tích Đế Thích, dấu vết sớm của Hindu giáo ở miền Bắc Việt

IMG_4912
Thiên Đế điện ở Cầu Váu, Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên.

Ở thôn Cầu Váu, xã Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên có một ngôi đền cổ khá đặc biệt, nơi thờ Đế Thích, gọi là Thiên Đế Điện. Theo một bản thần tích chép lưu tại đền thì sự tích vị Thiên Đế này như sau:

Đế Thích có tên là Đại Phạm Thiên vương Thiên chủ Đế Thích Đế Hoàn Nhân Thánh đế, thống trị sáu cõi dục. Ngọc Hoàng là Hạo Chí tôn Huyền khung Cao Thượng Đế. Trong năm tháng Giêng ngày mồng 9 là ngày lễ mừng của các Chư Thiên Thượng Đế (xem Đạo tàng diên quang tập).
Bàn Cổ năm thứ 48 Giáp Thân tháng Giêng ngày mồng 1 giờ Ngọ, Bảo Nguyệt Quang hoàng hậu sinh ra Đế Thích ở nước Thiện Tiên. Đến năm Giáp Ngọ tháng Giêng ngày mồng 9 thì lên trời làm Thiên Đế. Thời Đế Thích năm 11 có Tây phương Đại Càn Bà Vương dâng một người con gái cho Thượng Đế làm Ngọc Chi phu nhân. Bà Vương khi về phương Tây tâu lên xin cho tìm gặp Đế Thích. Thượng Đế đồng ý, ra ý cho đặt ra một cái vạc dầu, để khi Đế Thích đến, sẽ mời vào vườn hoa thưởng ngoạn, dẫn tới chỗ vạc dầu sôi mà ném vào.
Bỗng có một người áo trắng (tức là Phật) bảo Đế rằng là có mưu hại Đế. Ta sẽ cho một chiếc quạt. Đế nên đi từ Bắc về Nam, nếu bị đuổi kịp thì dùng quạt này mà quạt.
Bà Vương thấy vạc dầu đã sôi thì chạy vào vườn hoa tìm Đế. Lúc đó người áo trắng hóa thành Đế. Bà Vương liền túm và ném vào vạc dầu, nhưng bỗng trong vạc hết sạch dầu. Bà Vương kinh sợ hỏi: Thần hay Phật vậy. Rồi Bà Vương quay ra tìm Đế.
Đế dùng quạt quạt, tức thì thành ba núi năm non. Bà Vương lè lưỡi nuốt chửng, núi non tiêu sạch. Đế chạy đến nước Nam Việt, ở Cổ Lộng Lâm (nay là tỉnh Kinh Bắc, phủ Thuận Thành, huyện Văn Giang, Vĩnh Bảo xã, địa phận thôn Ốc Nhiêu) thấy tình thế bức bách liền chạy vào trốn trong đàn trâu cùng lũ trẻ chăn trâu. Bà Vương chạy lách qua đó đi thẳng về phía Nam.
Đế đi ra rồi vào một quán. Người trong quán dâng cho Đế xôi rau. Lại thấy sau quán có 12 người con gái không có mắt ôm 8-9 đứa trẻ nhỏ. Đế hỏi vì sao lại ra như vậy. Họ đáp chúng tôi là tiên nương 36 động Bồng Thái đang lên chầu Trời thì bị Bà Vương móc mất mắt như thế này.
Đế về tâu sự việc đó lên Thượng Đế. Thượng Đế trao cho Đế lục thần ngũ trí để diệt Càn Bà Vương, đốt Cổ Lộng Lâm trừ hổ lang, chấm hóa lại mắt cho 12 tiên nàng, sau đó dẫn họ quay về Trời.
Từ đó, Đế thường đi tiêu du ba ngàn thế giới, linh thiêng hiển rõ. Dân Vĩnh Bảo lập sửa cung đền phụng sự, gặp khi trời hạn cầu phúc được ứng báo như ý vậy (xem Bảo Kính Đăng Tâm thượng tập cũng có chép việc này).
Tích thiêng Thiên Đế xưa có văn bia, tới nay mưa vùi gió rập, chuyện cũ khó truy. Tương truyền xã Vĩnh Bảo, xã Triền Quán có một ngôi nhà cỏ, có bà lão bán nước chè ở đó. Bỗng thấy một đại trượng phu từ trên không hạ xuống, dung mạo đường đường khác thường, đi vào quán và hỏi: Bà có thấy một thiếu phụ kiều diễm mặc áo trắng đi qua đây không? Chưa kịp đáp thì ngay lúc đó Bà Vương xông đến. Đế phất áo, mở chiếc quạt thần ra quạt hóa thành ngọn lửa lớn ,đốt diệt Bà Vương. Trong chốc lát 15 loại quỷ cùng kéo tới. Đế dùng cung thiêng bắn chúng, một lúc diệt hết lũ quỷ. Đế cưỡi trên một chiếc xe bò đi tới bờ Tây Nghĩa Trụ. Nhân dân ở trong xã đều bái yết.
Đế nói: Ta là Đế Thích của cõi trời 33, xuống cứu giúp nhân dân, diệt Bà Vương và 15 loại quỷ hại dân. Dứt lời, bay lên không mà về. Bản xã lập đền miếu tại đó để thờ, cung phụng đồ tế lễ, gặp khi hạn hán thì nghênh thánh giá về Triền Quán để cầu đảo, thường được ứng mưa. Nhân dân bốn biển cầu là ứng vậy.
Thiên Đế ở trên cõi trời 33 mỗi năm tháng Giêng, tháng Năm, tháng Chín dùng kính báu chiếu về Nam Hải các châu động xem nhân gian thiện ác. Những người thường xuyên tụng kinh, làm việc thiện tất được sự che chở của huyền giới (xem Bắc triều đại lịch).

IMG_5017Bản thần tích lưu ở đền Cầu Váu.

Tục thờ Đế Thích Thiên cho thấy rõ Hindu giáo đã xuất hiện ở miền Bắc Việt từ rất sớm. Thậm chí thần tích ghi từ thời… ông Bàn Cổ năm thứ 48. Vị thần ngự trị trên 33 tầng trời là thần Indra trong Ấn Độ giáo. Kinh đô của cõi trời này theo là Thiện Kiến thành, trong thần tích gọi là Thiện Tiên. Đây cũng chính là đỉnh núi Tu Di, ngọn núi thần thánh trong Phật giáo.
Câu đối trong đền Cầu Váu:
恩霑法雨三千界
喜倍天僊十二娥
Ân triêm pháp vũ tam thiên giới
Hỉ bội thiên tiên thập nhị nàng.
Dịch:
Ơn thấm mưa phép ba ngàn giới
Mừng thêm tiên trời mười hai nàng.
Cũng chính thần Indra (Đế Thích) là vị thần chống lại vua quỷ La Sát và các giống quỷ Dạ Xoa. Trong thần tích trên gọi là quỷ vương Càn Sát Bà và 15 loại quỷ.
Câu đối trong đền Cầu Váu:
帝座至尊御三十三天統三千世界
天神妙化除十五鬼類救十二僊娥
Đế tọa chí tôn, ngự tam thập tam thiên, thống tam thiên thế giới
Thiên thần diệu hóa, trừ thập ngũ quỷ loại, cứu thập nhị tiên nga.
Dịch:
Đế ở ngôi cao, ngự trời ba mươi ba, trị ba ngàn thế giới
Thần trời phép nhiệm, diệt quỷ mười lăm loại, cứu mười hai nàng tiên.
Chi tiết khác rất đặc biệt, điển hình của Hindu giáo là việc Thiên Đế cưỡi bò. Vị thần cưỡi bò là vị thần hủy diệt Shiva với con bò thần Nandin. Thần Shiva trong tranh của Ấn Độ có nơi thể hiện là dùng Cung và Lửa để hủy diệt. Còn Đế Thích ở Văn Giang cũng dùng Cung và Quạt ra lửa để diệt quỷ.
Ở Thiên Đế điện tại Cầu Váu trong khám thờ cấm cung là tượng một vị Thiên Đế đang cưỡi một con bò màu mận chính. Sự tích Thiên Đế cưỡi bò đi dọc sông cho thấy đây là hình ảnh của thần Shiva.

IMG_4960
Thiên Đế cưỡi Bò thần trong khám thờ đền Cầu Váu.

Câu đối trong đền Cầu Váu nói tới sự tích cưỡi bò:
光芒赤電疑弓影
靉靆黃雲想犢車
Quang mang xích điện nghi cung ảnh
Ái đãi hoàng vân tưởng độc xa.
Dịch:
Sáng lòa chớp đỏ ngờ cung bóng
Mù mịt mây vàng ngỡ xe trâu.
Hay câu khác:
弓掛何年秋電赤
犢歸甚𩂜暮雲黄
Cung quải hà niên thu điện xích
Độc quy thậm xứ mộ vân hoàng.
Dịch:
Cung khoác năm nào sầu chớp đỏ
Trâu về xứ ấy tối mây vàng.

IMG_4985
Tượng chim thần ở nội điện đền Cầu Váu.

Điều đáng chú ý là con sông này mang tên Ngưu Giang, thường được gắn với truyền thuyết con Trâu vàng (Kim ngưu). Nhưng với ngôi đền Thiên Đế ở Cầu Váu và sự tích thần cưỡi bò thì Kim Ngưu hay Hoàng Ngưu phải là con Bò. Cái tên Kim ngưu như vậy bắt nguồn từ ảnh hưởng của tín ngưỡng Hindu giáo ở khu vực này.
Câu đối nói tới Kim Ngưu:
億年顯跡金牛上
萬古靈祠義冑西
Ức niên hiển tích Kim Ngưu Thượng.
Vạn cổ linh từ Nghĩa Trụ Tây.
Dịch:
Nghìn năm rõ tích Kim Ngưu Thượng
Vạn thế đền thiêng Nghĩa Trụ Tây.
Chùa Đậu ở Thường Tín nơi thờ Pháp Điện và Sĩ Nhiếp cũng có câu đối nói tới con sông Bò (Ngưu giang) này:
龍派汪涵惠澤千秋傳聖跡
牛江環遶恩波萬世沐神休
Long phái uông hàm, huệ trạch thiên thu truyền thánh tích
Ngưu giang hoàn nhiễu, ân ba vạn thế mộc thần hưu.
Dịch:
Dòng rồng rộng sâu, đất nhân nghìn thu truyền tích thánh
Sông trâu bao bọc, sóng ân vạn thế thấm điềm thần.

Đôi câu đối ở chùa Đậu.

Một điểm nữa là Thiên Đế điện cũng là nơi để cầu đảo khi gặp hạn hán. Bởi vì thần Indra – Đế Thích là thần Giông tố, có phép làm mưa.
Câu đối nói tới việc cầu đảo, cầu mưa, cầu phúc ở đền Thiên Đế Cầu Váu:
仙升佛降今如見
國擣民祈古以來
Tiên thăng Phật giáng kim như kiến
Quốc đảo dân kỳ cổ dĩ lai.
Dịch:
Tiên lên Phật xuống nay như thấy
Nước cúng dân cầu xưa tới giờ.
Bản thân tên thôn Cầu Váu hay bằng chữ Nho là Cầu Bảo 求保, nghĩa là cầu sự bảo trợ của thần.
Câu đối khác ở Cầu Váu nói tới sự bình an ở đây nhờ có Thiên Đế:
曲奏霓裳天上月
人皆絃管陸中仙
Khúc tấu nghê thường Thiên thượng Nguyệt
Nhân giai huyền quản Lục trung Tiên.
Dịch:
Nghê thường tấu khúc Trăng trên Trời
Đàn hát cùng người Tiên tại đất.
Thiên Đế làm mưa còn gặp trong tục thờ Tứ pháp, với di tích chùa Đậu ở Thường Tín, nơi Sĩ Nhiếp đã cho dựng Kính Thiên Điện (nơi thờ Thiên Đế?). Tại chùa Đậu còn có chùa Vua (Thiên Đế) và hiện tìm thấy một bức tượng lạ hình một vị thần có 6 tay. Rất có thể đây chính là bức tượng Thiên Đế – thần Shiva của Hindu giáo.
Hình tượng con Bò thần cũng gặp trong sự tích của Tứ pháp và Sỹ Nhiếp, là 2 con “cừu” đá, 1 con ở chùa Dâu nơi thờ Pháp Vũ cùng Thạch Quang Phật, 1 ở lăng mộ Sỹ Nhiếp. Bản thân Thạch Quang Phật vốn là một tảng đá có hình Linga, mà Linga là biểu tượng của thần Shiva. Chùa Dâu không gì khác vốn là một điện thờ Thiên Đế, bên trong thờ Linga, ngoài thờ Tứ pháp là Tứ đại thiên vương của Hindu giáo, ngoài sân có chú bò thần Nadin ngồi chầu ở chân tháp Hòa Phong.

IMG_4569
Con Bò ở lăng Sỹ Nhiếp tại Tam Á, Thuận Thành, Bắc Ninh.

Trong thần tích thì Đế Thích được Thượng Đế ban cho lục thần ngũ trí nên là người rất thông tuệ. Truyền thuyết dân gian kể thành chuyện Đế Thích là một kỳ thủ tài giỏi, đã từng so tài cùng Trương Ba và hồi mạng cho họ Trương khi mất. Đền thờ Trương Ba và Đế Thích nay ở xã Liêu Hạ, Yên Mỹ, Hưng Yên. Câu chuyện Hồn Trương Ba này cũng mang đậm màu sắc của Hindu giáo.
Các câu đối ở đền Cầu Váu thường gắn liền chuyện Đế Thích diệt quỷ Càn Sát và đánh cờ cùng Trương Ba:
滅鬼一弓方顯聖
出人半局始知天
Diệt quỷ nhất cung phương hiển thánh
Xuất nhân bán cục thủy tri thiên.
Dịch:
Trừ quỷ một cung nơi hiển thánh
Giáng nhân nửa cuộc mới biết trời.
Hay như câu:
錫類人褱多范子
侯棋世界少張公
Tích loại nhân hoài đa Phạm tử
Hầu kì thế giới thiểu Trương Công.
Dịch:
Góp lành người mong nhiều Phạm tử
Tướng cờ thế giới hiếm Trương công.
Khả năng cải tử hoàn sinh là một quyền năng rất lớn, chỉ có những bậc Thiên thần đặc biệt mới làm được. Ở đền Cầu Váu ngoài cửa nghi môn có 2 bức tượng lớn, được gọi là tượng Nam Tào Bắc Đẩu. Tức là những vị nắm sổ sinh tử của chúng sinh.

Tượng Nam Tào, Bắc Đẩu đền Cầu Váu.

Câu đối ở đền:
世無乾𩴳弓常静
人盡張公命可囬
Thế vô Càn Sát cung thường tĩnh
Nhân tận Trương Công mệnh khả hồi.
Dịch:
Đời không Càn Sát cung thường tĩnh
Người đến Trương Công mệnh còn hồi.
Như thế, Hindu giáo đã vào miền Bắc Việt từ rất sớm. Sau này những đền thờ Hindu bị chuyển thành “chùa”, tưởng rằng là thờ Phật. Bản thân các vị thần Hindu cũng được gọi là các chư Phật. Hindu giáo hay Bà La Môn, Ấn Độ giáo vốn là tôn giáo có trước Phật giáo. Về sau khi đức Thích Ca ra đời, một bộ phận lớn tín đồ Bà La Môn mới cải sang đạo Phật. Đạo Phật tới này còn dùng rất nhiều biểu tượng và thần điện của Bà La Môn.
Câu đối ở đền Cầu Váu liên quan đến nhận định này:
色空理悟曇而聖
生化機玄帝又天
Sắc không lý ngộ Đàm nhi Thánh
Sinh hóa cơ huyền Đế hựu Thiên.
Dịch:
Biết lẽ sắc không Phật mà Thánh
Diệu kỳ sinh hóa Đế cùng Trời.
Hay câu:
永清鬼類神哉佛
保惠黔黎聖即天
Vĩnh thanh quỷ loại Thần tai Phật 
Bảo huệ kiềm lê Thánh tức Thiên.
Dịch:
Mãi không loại quỷ Thần như Phật
Giữ ái dân đen Thánh cũng Trời.

 

Đôi điều về các vị tổ Thiền phái Trúc Lâm và Đạo Giáo

Một trong những tư tưởng nổi bật của Thiền phái Trúc Lâm thời Trần là tư tưởng nhập thế tích cực. Tư tưởng này như một cương lĩnh đường lối hoạt động của Thiền phái mà được thể hiện rõ trong bài Cư trần lạc đạo phú của Trần Nhân Tông:
Cư trần vui đạo hãy tùy duyên
Đói cứ ăn no, mệt ngủ liền
Báu sẵn trong nhà thôi khỏi kiếm
Vô tâm trước cảnh hỏi gì thiền.
Hay trong câu:
Trần tục mà nên, phúc ấy càng yêu hết tấc
Sơn lâm chẳng cốc, họa kia thật đồ công.
Sau này có ý kiến cho rằng Trần Nhân Tông khi xuất gia đã không còn tích cực nhập thế, không còn tham gia việc thế tục nữa. Nhưng thực tế không phải vậy.
Tư tưởng nhập thế của Thiền phái Trúc Lâm rất có thể là ảnh hưởng từ Đạo Giáo. Ngay khi Trần Nhân Tông xuất gia đầu tiên ở hành cung Vũ Lâm đã có đạo sĩ luôn đi cùng Phật Hoàng như trong bức tranh Trúc Lâm Đại sĩ xuất sơn chi đồ thể hiện.
Trần Quang Chỉ trong bài dẫn đề trên bức tranh này đã ghi:
Tuổi ngoài 40, ngài bỗng có chí xuất gia, bèn truyền quốc đồ cho con, vào động Vũ Lâm tu tập… Thủa ấy có đạo sĩ Trung Quốc là Lâm Thời Vũ tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi, có lúc viễn du giáo hóa, tế độ các nước láng giềng. Các ngài đi về phương Nam, đến tận Chiêm Thành, khất thực ở kinh đô…
Nguyên văn là Trung quốc đạo sĩ Lâm Thời Vũ 中國林時雨. Ở đây “trung quốc đạo sĩ” nghĩa là một đạo sĩ trong nước, chứ không phải đạo sĩ đến từ Trung Quốc, vì để chỉ xuất xứ từ phương Bắc khi đó sẽ dùng nhà Tống, nhà Nguyên, nhà Minh. Còn khái niệm Trung Quốc ở thời Trần rất không rõ ràng. Nhà Nguyên không phải Trung Quốc vì là người Mông Cổ. Còn nhà Minh thời đó (Minh Thành Tổ) đang làm chiếm cả vùng Bắc Việt thì sao phải phân ra Trung Quốc với An Nam?
Tương tự như trong cùng bài giới thiệu trên của Trần Quang Chỉ phần đầu có đoạn nói Trần Nhân Tông kỳ trị quốc dĩ nhân kỳ sự trung quốc dĩ thành 其治國以仁其事中國以誠. Câu này phải hiểu là “Trị nước có nhân, xử lý việc trong nước với tấm lòng chân thành”. Còn hiểu là “đối với Trung Quốc một cách thành thực” (???) thì câu trở nên rất vô lý và tối nghĩa.
Tên Lâm Thời Vũ giống một danh hiệu hơn là một tên riêng. Họ Lâm ở Việt Nam rất hiếm. Để hiểu danh hiệu này của một người Việt “trong nước” thì cần dùng tiếng Việt (tiếng Nôm) làm căn cứ.
Xét ra thì từ “Vũ” (cho dù nó được ghi âm bằng chữ Nho là 雨, 禹 hay 武) vốn dùng để chỉ Vua trong tiếng Việt.  Trong văn hóa Trung Hoa các vị vua khai mở triều đại được đặt tên hiệu là Vũ, như Đại Vũ khai mở nhà Hạ, Chu Vũ Vương lập nhà Chu,…
Vũ là biến âm của Ngũ, là con số 5, số trung tâm của Hà đồ và Lạc thư (河圖洛書), là Dịch tượng dùng để chỉ thủ lĩnh của cộng đồng, của Thiên hạ. Do đó nó tương đương với từ Vua của tiếng Nôm.
Khi hiểu như vậy ta sẽ thấy “Vũ Lâm” có nghĩa là “chỗ vua tu ẩn” (Lâm 林 ở đây là khu vực rừng núi). Còn “Lâm Thời Vũ” tức là người tháp tùng vua. Dùng nghĩa của chữ Lâm 臨, “lâm thời” nghĩa tiếng Việt là “đi theo”. Nghĩa này đúng như bài giới thiệu đã ghi: Lâm Thời Vũ tháp tùng Đại Sĩ, thăm thú các nơi.
Bên cạnh Phật Hoàng Trần Nhân Tông luôn có một đạo sĩ đi cùng, tới mức gọi luôn là ông Lâm Thời Vũ – “Đi Theo Vua”, chứng tỏ ảnh hưởng của Đạo Giáo tới việc tu thiền của Phật Hoàng rất lớn.
Ngay cả khi Trần Nhân Tông sang tận Chiêm Thành, thì tín ngưỡng ông không quên thúc đẩy ở đây là đề cao một vị thần bản xứ. Sách Trung Châu nhân vật ký của Lam Trà Tiến sĩ Nguyễn Văn Chương ghi:
Khi lên xứ Trầm Hương – Đại Điền, nhớ lại tích xưa, tưởng niệm công đức của vợ chồng bà Tinh Vệ – Chấn Long, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tôn phong Bà Tinh Vệ là Thiên Y Thánh Mẫu, và bàn với chúa Chiêm Chế Mân cho trùng tu lại ngôi đền thờ ông bà Tinh Vệ. Chúa Chiêm Chế Mân đã cho trùng tu ngôi đền. Trên mái trước đền tạc 4 chữ Nho Thiên Y Thánh Mẫu và 2 bên trụ đền tạc đôi câu đối do chính Thượng Hoàng Trần Nhân Tông ngự đề…

IMG_3140
Bia và tháp mộ Tam tổ Huyền Quang ở chùa Đại Bi.

Ảnh hưởng hay sự hòa đồng của Đạo Giáo trong Thiền phái Trúc Lâm còn thấy rõ ở sự tích của vị tổ thứ ba là Huyền Quang tôn giả. Xuất xứ của Tam tổ Huyền Quang hiện còn được lưu trên bia đá Đệ tam tổ Lý trạng nguyên hành trạng nay ở chùa Đại Bi, xã Thái Bảo, Gia Bình, Bắc Ninh. Sách Tổ gia thực lục chép nội dung tương tự như trên bia chùa Đại Bi, tóm tắt chuyện này như sau:
Thủy tổ của Sư là Lý Ôn Hòa, làm quan hành khiển dưới triều Lý Thần Tông. Trải qua nhiều đời đến tổ phụ là Tuệ Tổ có công đánh giặc Chiêm Thành, nhưng không ra làm quan, chỉ thích chuyện hay, sách lạ và vui thú ruộng vườn. Mẹ Sư là Lê Thị vốn người hiền đức, bản tính nhân từ, năm 30 tuổi vẫn chưa có con trai. Nhân gặp lúc có bệnh dịch hoành hành, bà đi hái thuốc trên núi Chu Sơn, dừng chân tạm nghỉ tại chùa Ma Cô Tiên. Trong khi chợp mắt bỗng mơ thấy một con khỉ lớn đầu đội mũ triều thiên, mình mặc áo hoàng bào, ôm mặt trời hồng ném vào lòng bà… Lê Thị hoài thai Sư đến 12 tháng…
Trước khi sinh nhà của Sư ở phía Nam chùa Ngọc Hoàng, một hôm thầy trụ trì chùa Ngọc Hoàng là thiền sư Huệ Nghĩa mộng thấy Đức Phật chỉ Tôn giả A-Nan bảo hãy tái sinh làm pháp khí Đông độ và phải nhớ lại duyên xưa…
Chùa Ma Cô Tiên ở núi Chu Sơn (Châu Sơn hay Trâu Sơn) gần quê của Huyền Quang nay là chùa Cô Tiên ở Châu Cầu, Châu Phong, Quế Võ, Bắc Ninh. Sự tích Ma Cô Tiên gắn với công cuộc khởi nghiệp của một vị đế vương lớn tại núi này là Triệu Vũ Đế. Tục thờ Triệu Vũ Đế vốn được phổ biến ở 8 làng trong khu vực núi Châu Sơn là Ngọc Xá, Cựu Tự, Châu Cầu, Thất Gian, Hữu Bằng, Kim Sơn, Long Khê.
Như thế hình tượng con khỉ lớn đội mũ triều thiên mặc áo hoàng bào ở đây chính là chỉ Triệu Vũ Đế. Sự tích này ám chỉ Huệ Quang là dòng dõi từ Triệu Vũ Đế. Điều này rất có thể vì Huệ Quang là dòng dõi nhà Lý. Theo thông tin địa phương ở Châu Sơn, thân tộc nhà Lý đã di cư đến đây khi triều đại đổi sang nhà Trần. Lý cũng là họ của nhà Triệu Nam Việt vì Triệu Vũ Đế là Lý Bôn.

IMG_3765Bia Thánh tổ Cô Tiên tự bi ký tại chùa Cô Tiên ở Châu Cầu.

Điểm chú ý khác là Ma Cô Tiên được gọi là Thánh tổ trên bia còn lưu ở chùa Cô Tiên tại Châu Cầu. Còn sắc phong của làng Châu Cầu gọi bà là Thông huyền Diệu hóa Thanh hư Nhàn uyển Dực bảo Trung hưng Thiên tiên Thánh mẫu Đệ nhất Cửu trùng Công chúa. Có thể thấy đây là một vị tổ mẫu của Đạo Giáo. Chữ “Cô” chỉ người nữ tu. Ma Cô Tiên cũng là một phúc thần phổ biến trong Đạo Giáo.
Việc bà mẹ của Huyền Quang ngụ ở chùa Cô Tiên mơ thấy khỉ mang triều phục ném mặt trời hồng vào lòng mà sinh ra Huyền Quang ám chỉ khá rõ rằng Huyền Quang có xuất xứ từ Đạo Giáo. Thêm vào đó là việc nhà sư ở chùa Ngọc Hoàng cũng mơ thấy Huyền Quang là A-Nan Tôn giả giáng thế. Chùa Ngọc Hoàng nay ở thôn Thái Bảo, xã Đại Lai, Gia Bình, Bắc Ninh. Bia chùa còn ghi đây là “Ngọc Hoàng quán”, tức đây vừa là chùa vừa là quán. Quán thờ Ngọc Hoàng cho thấy yếu tố Đạo Giáo rất rõ.

IMG_3242
Bia Ngọc Hoàng quán ký ở chùa Ngọc Hoàng.

Huyền Quang còn được biết là người đã chắp bút (định bản) tác phẩm Bảo đỉnh hành trì bí chỉ toàn chương, được mô tả là gồm các nghi lễ trong đạo Phật; các bài văn, các đạo bùa dùng trong lúc làm đàn chay, giải oan, phá ngục v.v.
Có thể thấy yếu tố bùa chú, đàn tràng, cúng giải oan, phá ngục… của Đạo Giáo được đưa vào Phật giáo thời Trần bởi chính Tam tổ Huyền Quang, hay chính qua Thiền phái Trúc Lâm từ Phật Hoàng Trần Nhân Tông.

IMG_3114Đền Tam tổ ở chùa Đại Bi.

Câu đối ở đền thờ Trúc Lâm tam tổ tại chùa Đại Bi (Gia Bình, Bắc Ninh):
悲海運潮音喚醒山河千載夢
南天重聖瑞光囬社稷萬斯民
Bi hải vận triều âm, hoán tỉnh sơn hà thiên tải mộng
Nam thiên trùng thánh thụy, quang hồi xã tắc vạn tư dân.

Dịch:
Bể thương nổi tiếng triều, đánh thức núi sông ngàn năm mộng
Trời Nam dày điềm thánh, sáng soi đất nước vạn nhân dân.