Nhân Thọ xá lợi tháp và văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh

1. Nhân Thọ xá lợi tháp và việc xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu năm 601
              Trong vòng 4 năm, từ năm 601 (Nhân Thọ 1) đến năm 604 (Nhân Thọ 4), Tùy Văn Đế Dương Kiên đã ba lần phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng bảo tháp an trí xá lợi tại hơn 100 châu thuộc bản đồ đế quốc. Đây là một phần trong chính sách phục hưng Phật giáo của người sáng lập vương triều nhà Tùy, với ý đồ sử dụng Phật giáo như một công cụ để thu thập nhân tâm, tái ổn định tình hình chính trị, xã hội Trung Quốc sau một thời kỳ biến động kéo dài. Đây cũng là một dịp để nhà Tùy xác lập cương giới, khẳng định lại quyền thống trị đối với những phần lãnh thổ đã chinh phục trực tiếp hoặc kế thừa một cách gián tiếp từ các vương triều đi trước. Với ý nghĩa quan trọng như vậy, hoạt động phân phát xá lợi và hệ thống bảo tháp xá lợi được xây dựng dưới niên hiệu Nhân Thọ (thường được giới nghiên cứu biết đến dưới thuật ngữ Nhân Thọ xá lợi tháp) đã sớm nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của rất nhiều học giả Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
              Hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp không chỉ là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử chính trị, mỹ thuật và Phật giáo Trung Quốc. Trên thực tế, nó đã có những liên hệ và ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình chính trị và Phật giáo Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ VI – đầu thế kỷ VII. Bởi lẽ, trong số hơn 100 châu huyện được nhà Tùy lựa chọn để phân phát xá lợi, có cả các châu Giao, Phong, Trường, Hoan, Ái,… những nơi vốn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền nhà Tiền Lý. Tuy nhiên, tại Việt Nam, tính đến thời điểm hiện tại, ngoài một số giới thiệu hết sức ngắn gọn của học giả Lê Mạnh Thát trong phần chú thích bản dịch Thiền uyển tập anh ngữ lục (xuất bản lần đầu tiên năm 1976) (Lê Mạnh Thát, 1999) và của GS. Hà Văn Tấn trong sách Chùa Việt Nam (xuất bản lần đầu tiên năm 1993) (Hà Văn Tấn, 2010), các tư liệu và kết quả nghiên cứu xung quanh vấn đề này vẫn chưa được biết đến một cách rộng rãi.
              Chính vì vậy, trong khuôn khổ bài viết này, trước tiên, chúng tôi muốn hệ thống lại những tư liệu cơ bản cũng như giới thiệu một số thành quả nghiên cứu của giới sử học Trung Quốc và Nhật Bản xung quanh hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp dưới thời Tùy Văn Đế. Trên cơ sở đó, chúng tôi muốn đưa ra một số nhận định góp phần nhận diện văn bia tháp xá lợi mới được phát hiện gần đây tại Bắc Ninh. Từ đó, bài viết cũng muốn làm rõ hơn một số vấn đề liên quan đến chính quyền Lý Phật Tử và lịch sử Phật giáo ở Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ VI – đầu thế kỷ VII.
              Các nghiên cứu từ trước đến nay về Nhân Thọ xá lợi tháp nhìn chung đều được triển khai trên cơ sở các ghi chép trong sách Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục 集神州三宝感通錄 (dưới đây gọi tắt là Cảm thông lục),Quảng hoằng minh tập廣弘明集, Tục cao tăng truyện 續高僧傳 (đều do sư Đạo Tuyên 道宣 biên soạn vào thời Đường, trong đó Quảng hoằng minh tập được hoàn thành năm Lân Đức nguyên niên – 664, Tục Cao tăng truyệnhoàn thành năm Trinh Quán 19 – 645). Theo các nguồn tư liệu đó, Nhân Thọ xá lợi tháp được xây dựng trong ba lần với qui mô và thời điểm như sau:
·         Lần thứ nhất vào năm Nhân Thọ 1 (601), tổ chức trên phạm vi 30 châu. Vua Tùy xuống chiếu vào ngày 13 tháng 6, hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10.
·         Lần thứ hai vào năm Nhân Thọ 2 (602), trên phạm vi 50 (có tài liệu cho là 53) châu. Vua Tùy xuống chiếu vào ngày 23 tháng Giêng, hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4.
·         Lần thứ ba vào năm Nhân Thọ 4 (604), trên phạm vi hơn 30 châu. Vua Tùy xuống chiếu vào tháng Giêng, hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4.
              Về nguồn gốc xá lợi được Tùy Văn Đế phân phát cho các địa phương, theo Cảm thông lục và Quảng hoằng minh tập, khi Tùy Văn Đế còn chưa lên ngôi (tiềm long), có một vị sa môn Bà La Môn đến nhà, đưa ra một bọc xá lợi và nói rằng: “Đàn việt [thí chủ] có lòng tốt, nên lưu lại (bọc xá lợi này) để cúng dường”, sau đó không biết đi đâu mất. Sau Tùy Văn Đế và sư Đàm Thiên lấy chỗ xá lợi đó ra đếm thì thấy lúc nhiều lúc ít. Sư Đàm Thiên giải thích rằng theo lời vị sa môn kia, chỗ xá lợi đó là “pháp thân” của nhà Phật nên không thể đo đếm được theo cách thông thường. Tùy Văn Đế bèn làm một chiếc hòm thất bảo để cất giữ những xá lợi đó[1]. Câu chuyện mang nhiều màu sắc tâm linh nói trên ít nhiều đã được nhào nặn dưới bàn tay của giới tăng lữ Phật giáo, nhưng nếu gạn bỏ đi những phần mang tính nhuận sắc, chúng ta thấy rằng các xá lợi được Tùy Văn Đế đưa về các địa phương dưới danh nghĩa là “pháp thân” – xá lợi của Phật, không phải là xá lợi của một vị danh tăng, danh ni nào đó.
              Trong ba lần xây tháp và phân phát xá lợi, hệ thống tư liệu về hoạt động năm 601 là đầy đủ nhất. Theo Cảm thông lục, Tùy Văn Đế đã xuống chiếu về việc phân phát xá lợi và xây dựng bảo tháp an trí xá lợi vào ngày 13 tháng 6 năm 601. Nội dung bài chiếu cũng như tên các châu được phân phát xá lợi khi đó được ghi chép cụ thể trong sáchQuảng hoằng minh tập.
              Sử liệu 1: Quảng hoằng minh tập, quyển 17, Phật đức thiên đệ tam chi tam
門下仰惟、正覺大慈大悲、救護群生、津梁庶品、朕歸依三寶重興聖教、思與四海之内一切人民俱發菩提共修福業、使當今現在、爰及來世、永作善因、同登妙果、宜請沙門三十人、諳解法相、兼堪宣導者、各將侍者二人、并散官各一人、薰陸香一百二十斤、馬五匹、分道送舍利、往前件諸州起塔、其未注寺者、就有山水寺所、起塔依前山、舊無寺者、於當州內清靜寺處建立其塔、所司造様送往當州、僧多者三百六十人、其次二百四十人、其次一百二十人、若僧少者、盡見僧、為朕、皇后、太子廣、諸王子孫等、及内外官人、一切民庶、幽顯生靈、各七日行道并懺悔、起行道日打剎、莫問同州異州、任人布施、錢限止十文已下、不得過十文、所施之錢以供營塔、若少不充役正丁、及用庫物、率土諸州僧尼、普為舍利設齋、限十月十五日午時、同下入石函、總管刺史已下縣尉已上、息軍機停常務七日、專檢校行道及打剎等事、務盡誠敬、副朕意焉、主者施行、仁壽元年六月十三日,内史令豫章王臣暕宣。
Tạm dịch:
Kẻ môn hạ kính ngưỡng nghĩ rằng: đức đại từ đại bi của bậc Chính Giác cứu giúp cho chúng sinh, là cầu nối cho vạn vật. Trẫm nay qui y tam bảo, trùng hưng thánh giáo, muốn cùng tất thảy nhân dân trong bốn bể, cùng phát nguyện bồ đề, cúng tu phúc nghiệp, để cho đương kim hiện tại, cùng với vị lai, vĩnh tạo thiện nhân, cùng đạt quả phúc. Nên mời 30 vị sa môn thông tuệ Pháp tướng [tức Phật pháp], kiêm kham truyền đạo, mỗi vị dẫn theo tùy tùng 2 người, tản quan 1 người, đem theo huân lục hương 120 cân, ngựa 5 con, chia ra các đạo hộ tống xá lợi đến các châu trên đây dựng tháp. Đối với các nơi không ghi chú tên chùa, chọn nơi chùa có sơn thủy, dựng tháp dựa vào núi phía trước. Những nơi vốn không có núi, dựng tháp tại chùa ở nơi thanh tịnh trong châu. Sở ty tạo “dung” [thiết kế] gửi cho các châu. Nơi có nhiều sư lấy 360 người, mức tiếp theo là 240 người, mức nữa là 120 người. Nếu có ít sư, huy động tất cả các sư hiện có. [Các sư] phải vì Trẫm, Hoàng hậu, Thái tử [Dương] Quảng, các vương tử vương tôn, quan viên nội ngoại, tất thảy dân thường, sinh linh hai cõi u huyền, mỗi nơi hành đạo, sám hối trong vòng 7 ngày. Vào ngày hành đạo tiến hành “đả sát”, không kể người trong châu ngoài châu, đều phải bố thí. Tiền (bố thí) phải dưới 10 văn, không được quá 10 văn. Lấy tiền bố thí cúng cho việc tạo tháp. Nếu thiếu không được sung chính đinh, dùng đồ trong quan khố. Tăng ni các châu đều phải làm trai lễ cho xá lợi. Hạn vào giờ Ngọ ngày 5 tháng 10, các nơi cùng đưa (xá lợi) vào hòm đá và hạ thổ. Từ chức tổng quản, thứ sử trở xuống đến chức huyện úy trở lên, đều phải nghỉ việc quân cơ, tạm dừng thường vụ trong 7 ngày, chuyên tâm đôn đốc việc hành đạo và “đả sát”, hết sức thành kính, không được phụ ý trẫm. Nhất nhất phải thi hành. Nhân Thọ nguyên niên, tháng 6 ngày 13. Nội sử lệnh Dự Chương vương thần [Dương] Giản tuyên đọc.
              Quảng hoằng minh tập cũng ghi danh sách 30 châu được phân phát xá lợi và tổ chức xây dựng tháp. Tương ứng với chiếu thư của vua Tùy, có thể thấy danh sách này được chia làm 2 nhóm. Bên cạnh 17 châu có ghi rõ tên chùa, ví dụ Ung châu Tiên Du tự 雍州仙遊寺, có 13 châu chỉ ghi tên châu mà không ghi tên chùa, trong số đó có Giao châu. Như vậy, đối với Giao châu, vua Tùy không chỉ định địa điểm cụ thể, mà để cho Giao châu lựa chọn chùa xây tháp. Tiêu chuẩn lựa chọn là chùa phải ở nơi có danh sơn danh thủy, tháp phải được xây dựa vào núi phía trước, hoặc với những châu không có núi thì phải là chùa ở nơi thanh tịnh. Tiếp theo chiếu thư của Tùy Văn Đế,Quảng hoằng minh tập dẫn sách Xá lợi cảm ứng ký 舍利感應記 của Vương Thiệu 王邵 ghi lại những nơi có tấu báo về việc xuất hiện “cảm ứng” khi xây tháp. “Cảm ứng” ở đây là các hiện tượng kỳ lạ, mang tính siêu nhiên xuất hiện cùng với việc an trí xá lợi. Ví dụ theo Xá lợi cảm ứng ký, tại chùa Tiên Du ở Ung châu, vào ngày xây tháp, trời vốn mây mù có mưa, nhưng đến khi đưa xá lợi xuống thì trời quang mây tạnh, đến khi cho xá lợi vào hòm thì trời lại đổ mưa[2]. Trong danh sách “cảm ứng” đó cũng có tên Giao châu, nhưng không thấy chép hiện tượng “cảm ứng” cụ thể mà chỉ đơn giản ghi việc Giao châu khởi dựng tháp tại chùa Thiền Chúng (交州於禪眾寺起塔). Qua ghi chép này, chúng ta có thể biết được Giao châu đã lựa chọn chùa Thiền Chúng làm nơi xây tháp năm 601 và báo lại sự kiện đó với nhà Tùy.
              Quảng hoằng minh tập cũng ghi chép rất cụ thể về trình tự tiến hành các nghi lễ. Tại kinh đô Đại Hưng (sau này là Trường An), Tùy Văn Đế đích thân mở hòm thất bảo, lấy ra 30 xá lợi đặt lên hương án trên ngôi báu, rồi cùng các sa môn đốt hương lễ bái. Sau đó, xá lợi được đặt vào 30 chiếc bình vàng nạm lưu ly 琉璃盛金瓶, dùng huân lục hương nhào thành “bùn” (nê), bôi lên nắp bình để phong lại, hẹn với ba mươi châu cùng vào giờ chính Ngọ ngày 15 tháng 10 cho vào hòm đồng, hòm đá 銅函石函, nhất loạt khởi dựng bảo tháp. Các sa môn sứ giả khi đến địa giới các châu, trước tiên phải lệnh cho các nhà trong châu dọn dẹp hết những thứ uế tạp để nghênh đón xá lợi. Quan viên từ chức tổng quản, thứ sử trở xuống đều phải đi bộ dẫn đường. Sư sãi[3] tại địa phương đều phải trang phục chỉnh tề, đem cờ quạt hương hoa đến cúng dường, hoặc cầm hương hoa, hoặc đốt hoặc rải, vây quanh tán tụng bằng âm Phạn. Khi đến nơi, vị sa môn sứ giả của nhà Tùy hướng đến các sư sãi hô lên rằng: “Chí tôn lấy đức bồ tát đại từ vô biên vô bờ thương xót chúng sinh dồn vào tinh túy của xương cốt [cốt túy]. Vậy nên phân phát xá lợi cùng thiên hạ tạo lấy thiện căn”, sau đó dẫn giảng các loại kinh văn. Các sư sãi đều phải chắp tay, quì gối phải xuống đất. Sa môn sau đó lại đọc kinh sám hối. Trước khi hạ thổ xá lợi, sa môn giơ cao chiếc bình đựng xá lợi cho các sư sãi tham dự xem một vòng[4].
              Khi chôn xá lợi, người ta thường chôn kèm bia đá có minh văn. Hiện nay, người ta đã tìm thấy 12 minh văn liên quan đến việc xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp tại Trung Quốc, trong đó có 6 minh văn về lần xây dựng năm 601, 3 minh văn về lần xây dựng năm 602, 3 minh văn về lần xây dựng năm 604.
Bảng 1: Các minh văn liên quan đến Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện được tại Trung Quốc

(dựa trên thống kê của Hida Romi – Oshima Sachio, 2012, có bổ sung thêm một số thông tin)

STT
Địa điểm
Thông tin
1
Ung châu Tiên Du tự
雍州仙遊寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Tiên Du tự
Ảnh thác bản
Ảnh thác bản chưa công bố. Ảnh văn bia có trên website kênh truyền hình Phượng Hoàng – Trung Quốc
Kích thước
khoảng 50x50cm
2
Kỳ châu Phượng Tuyền tự
岐州鳳泉寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng huyện Phù Phong
Ảnh thác bản
Bắc đồ[5] (t9), tr.143
Kích thước
32x34cm
3
Đồng châu Đại Hưng Quốc tự
同州大興國寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Uỷ ban quản lý văn vật huyện Đại Chi tỉnh Thiểm Tây
Ảnh thác bản
Thiểm Tây bi thạch tinh hoa, tr.30
Kích thước
Chưa có thông tin
4
Thanh châu Thắng Phúc tự
青州勝福寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Thành phố Thanh châu
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t9), tr.144
Kích thước
63x77cm (trán bia: 31x27cm)
5
Kinh thành Đại Hưng huyện Long Trì tự
京城大興縣龍池寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t9), tr.142
Kích thước
35x30cm
6
Tín châu Kim luân tự
信州金輪寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Bạch Đế thành Tây Bi Lâm
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t.9), tr.153
Kích thước
43x46cm
7
Lộ châu Phạn Cảnh tự
潞州梵境寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Chưa có thông tin
Kích thước
Chưa có thông tin
8
Đặng châu Đại Hưng Quốc tự
鄧州大興国寺
Niên đại
602 (Nhân Thọ 2)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Thành phố Khai Phong
Ảnh thác bản
Bắc đồ (t.9), tr.156
9
Tử châu Hoa Lâm tự
梓州華林寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Sưu tập tư nhân Nhật Bản
Ảnh thác bản
Nakamura Nobuo (2004)
10
Nghi châu Thần Đức tự
宜州神德寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Diệu huyện
Ảnh thác bản
Thiểm Tây bi khắc tinh hoa, tr.32
11
Liêm châu Hoa Thành tự
廉州花成寺
Niên đại
604 (Nhân Thọ 4)
Nơi lưu giữ
Không rõ
Ảnh thác bản
Bắc đồ, tr.166
12
Kinh thành Diên Hưng tự
京城延興寺
Niên đại
601 (Nhân Thọ 1)
Nơi lưu giữ
Bảo tàng Hàm Dương
Ảnh thác bản
Hàm Dương bi thạch, tr.18
2. Khảo sát về văn bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh
2.1. Nội dung minh văn
              Ngày 29 tháng 8 năm 2012, sau khi nhận được tin từ Bắc Ninh, chúng tôi đã có dịp cùng GS.Phan Huy Lê, PGS.TS.Tống Trung Tín, TS.Nguyễn Văn Sơn đến Bảo tàng Bắc Ninh và trực tiếp quan sát văn bia dưới sự hướng dẫn của Giám đốc Bảo tàng Bắc Ninh TS. Lê Viết Nga và một số cán bộ của bảo tàng.

Ảnh: Thác bản bia Bắc Ninh (chụp tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học 2012)

              Minh văn tổng cộng có 133 chữ, được chia làm 13 dòng (có thể tạm chia thành 1 dòng tiêu đề, 10 dòng chính văn, 2 dòng chú thích), mỗi dòng về cơ bản có 13 chữ. Nguyên văn như sau:
1      舍利塔銘
2      維大隋仁壽元年歳次辛酉十月
3      辛亥朔十五日乙丑
4      皇帝普為一切法界幽顯生靈謹
5      扵交州龍編縣禅衆寺奉安舍利
6      敬造靈塔願
7      太祖武元皇帝元明皇后皇帝皇
8      后皇太子諸王子孫等並内外羣
9      官爰及民庶六道三塗人非人等
10     生生世世值佛聞法永離苦空同
11     昇妙果
12     敕使大德慧雅法師吏部羽騎尉
13     姜徽送舎利扵此起塔
Phiên âm:
1            Xá lợi tháp minh văn
2            Duy[6] Đại Tuỳ Nhân Thọ nguyên niên tuế thứ Tân[7] Dậu thập nguyệt
3            Tân Hợi sóc[8] thập ngũ nhật Ất Sửu
4            Hoàng đế[9] phổ vi nhất thiết pháp giới u hiển sinh linh cẩn
5            ư Giao Châu Long Biên huyện Thiền Chúng tự phụng an xá lợi
6            kính tạo linh tháp nguyện[10]
7            Thái tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu[11], Hoàng đế, Hoàng
8            hậu, Hoàng thái tử[12], chư vương tử tôn đẳng, tịnh nội ngoại quần
9            quan, viên cập[13] dân thứ[14], lục đạo tam đồ[15], nhân, phi nhân đẳng
10          sinh sinh thế thế trị phật văn pháp, vĩnh ly khổ không, đồng
11          thăng diệu quả
12          Sắc sứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị uý
13          Khương Huy[16] tống xá lợi ư thử khởi[17] tháp
Tạm dịch:
Bài minh tháp xá lợi
Đại Tùy niên hiệu Nhân Thọ nguyên niên (601) nhằm năm Tân Dậu, tháng 10, ngày sóc Tân Hợi, ngày 15 Ất Sửu,
Vì sinh linh u hiển của tất cả các cõi pháp giới, Hoàng đế [tức Tùy Văn Đế] kính cẩn kiến tạo linh tháp, phụng an xá lợi tại chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao châu, nguyện cho:
Đức Thái tổ Vũ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu, Hoàng đế, Hoàng hậu, Hoàng thái tử, các vương tử vương tôn, cùng quan viên nội ngoại, đến cả kẻ thứ dân, lục đạo tam đồ, nhân, phi nhân, đời đời kiếp kiếp được gặp Phật nghe pháp, vĩnh viễn thoát ly khổ đau, cùng đạt quả phúc.  
Sắc chỉ sai Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị úy là Khương Huy đưa xá lợi đến đây xây tháp.
2.2. So sánh văn bia tháp xá lợi Bắc Ninh với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện tại Trung Quốc
              Dưới đây, chúng tôi thử tiến hành so sánh về mặt nội dung và hình thức tấm bia mới tìm thấy tại Bắc Ninh (để tiện phân biệt, tạm gọi là bia/minh văn Giao châu) với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp có niên đại năm 601 đã được tìm thấy tại Trung Quốc. Trong 6 tấm bia của Trung Quốc, có 5 bia có liên quan trực tiếp đến sự kiện 601 là bia Ung châu Tiên Du tự, Kỳ châu Phượng Tuyền tự, Đồng châu Đại Hưng Quốc tự, Thanh châu Thắng Phúc tự, Kinh thành Đại Hưng huyện Long Trì tự, 1 bia có nội dung liên quan gián tiếp là bia Kinh thành Diên Hưng tự.
(1) So sánh về mặt nội dung
              Trước tiên, về mặt nội dung, có thể thấy bia Giao châu có minh văn về cơ bản giống với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp có niên đại 601 đã phát hiện được tại Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhận thấy một số khác biệt như sau:
              Thứ nhất, trong minh văn Giao châu, dòng đầu tiên ghi tiêu đề “Xá lợi tháp minh” 舎利塔銘. Trong khi đó, một số minh văn Trung Quốc lại ghi là “Xá lợi tháp hạ minh” 舎利塔下銘  (Ung châu, Kỳ châu, Thanh châu, Đại Hưng huyện), riêng minh văn Đồng châu không ghi tiêu đề. Vị trí khắc dòng tiêu đề này cũng khác nhau tùy theo từng bia, minh văn Ung châu và Thanh châu ghi ở dòng đầu, minh văn Kỳ châu và Đại Hưng huyện ghi ở dòng cuối cùng.

Thứ hai là sự phân bố các chữ trên một dòng. Về cơ bản, minh văn Ung châu, Kỳ châu và Đồng châu có bố cục mỗi dòng 11 chữ, minh văn Thanh châu và Đại Hưng huyện mỗi dòng có 12 chữ. Trong khi đó, minh văn Giao châu có bố cục mỗi dòng 13 chữ.

              Thứ ba là sự khác biệt về địa điểm xây tháp. Theo văn bia Giao châu, địa điểm được chọn để xây tháp xá lợi tại Giao châu là “Thiền Chúng tự”, tức là phù hợp với ghi chép của sách Xá lợi cảm ứng ký của Vương Thiệu dẫn trong Quảng hoằng minh tập. Tuy nhiên, bia Giao châu ghi cụ thể hơn là chùa Thiền Chúng nằm tại “Giao châu Long Biên huyện”. Xung quanh địa danh “Long Biên”, gần đây, một số nhà nghiên cứu dẫn ghi chép của Lê Quí Đôn trong sách Vân đài loại ngữ và phần chú thích của học giả Trần Văn Giáp cho rằng địa danh “Long Biên” vốn bắt nguồn từ chữ “Long Uyên”, mà việc đổi tên này chỉ có từ thời Đường do kị húy tên gọi của Đường Cao Tổ Lý Uyên. Giả thuyết này phủ định sự tồn tại của địa danh “Long Biên” trước thời Đường và đặt nghi vấn đối với niên đại 601 của tấm bia phát hiện tại Bắc Ninh. Tuy nhiên, đây là một quan điểm không chính xác. Địa danh “Long Biên” trên thực tế đã xuất hiện từ trước thời Đường. Các sách Tống thư do Thẩm Ước (441─513) hay Nam Tề thư do Tiêu Tử Hiển đời Lương (Nam triều) biên soạn vào thế kỷ VI đã nhiều lần nhắc đến địa danh huyện “Long Biên” thuộc quận Giao Chỉ, đặc biệt trong sự kiện cuộc nổi dậy của Lư Tuần. Lư Tuần vốn là thái thú nhau với nhà Tấn thất bại ở Quảng Châu đã chạy xuống “Long Biên” và bị Thứ sử Giao châu là Đỗ Tuệ Độ dùng hỏa công đánh bại phải tự tử. Theo Tống thư, Đỗ Tuệ Độ sau đó được nhà Tấn phong chức “Long Biên huyện hầu” 龍編縣侯[18]. Như vậy, chúng ta thấy rằng tên gọi “Long Biên” đã xuất hiện từ đầu thế kỷ V, do đó, địa danh “Long Biên” không mâu thuẫn gì với niên đại 601 ghi trên tấm bia[19].
              Một đặc trưng nữa của minh văn Giao châu là trong khi các minh văn khác chỉ có dòng tiêu đề và phần chính văn, riêng minh văn Giao châu và Thanh châu có thêm chú thích ở phần cuối. Phần chú thích đó như sau:
Minh văn Giao châu:
Nguyên văn chữ Hán
敕使大德慧雅法師吏部羽騎尉姜徽送舎利扵此起塔
Phiên âm:
Sắc sứ Đại đức Tuệ Nhã pháp sư Lại bộ Vũ kị úy Khương Huy tống xá lợi ư thử khởi tháp
Ảnh: Thác bản minh văn Thanh châu trong sách Bắc đồ

Minh văn Thanh châu
              Nguyên văn chữ Hán
敕使大德僧智能   侍者曇辯
                               侍者善才
敕使羽騎尉李德諶
長使邢祖俊
司馬李信則
錄事參軍丘文安
司功參軍李俈
孟弼書
Phiên âm:
Sắc sứ Đại đức tăng Trí Năng                           Thị giả Đàm Biện
                                                            Thị giả Thiện Tài
Sắc sứ Vũ kị úy Lý Đức Kham
Trưởng sử Hình Tổ Tuấn
Tư mã Lý Tín Tắc
Lục sự Tham quân Khâu Văn An
Tư công Tham quân Lý Cáo
Mạnh Bật thư
              Như vậy, ngoài dòng tiêu đề và phần chính văn, minh văn Giao châu có thêm phần chú thích ghi tên hai sứ giả[20] là “Đại đức Tuệ Nhã pháp sư” và “Vũ kị uý Khương Huy”. Minh văn Thanh châu cũng ghi tên hai sứ giả (sắc sứ) là “Đại đức Trí Năng” và “Vũ kị uý Lý Đức Kham”. Đối chiếu với chiếu thư của Tùy Văn Đế (đã dẫn ở phần trên), có thể xác định Tuệ Nhã và Trí Năng là 2 trong số 30 sa môn được Tùy Văn Đế giao cho hộ tống bình xá lợi về các địa phương. Về chức Vũ kị úy, cần lưu ý rằng Vũ kị uý là chức “tản quan” chỉ có vào thời Tuỳ, đến niên hiệu Võ Đức thời Đường mới được đổi thành “Tướng sĩ lang”[21]. Như vậy, chức “Vũ kị úy” của Khương Huy trong minh văn Giao châu và “Lý Đức Kham” trong minh văn Thanh châu đều phù hợp với nội dung cử một viên tản quan hộ tống sa môn trong chiếu thư của Tùy Văn Đế.
              Như vậy, riêng với phần chú thích, minh văn Giao châu có một số điểm tương đồng với minh văn Thanh châu. Tuy nhiên, bên cạnh đó, chúng ta thấy minh văn Giao châu cũng có những nét đặc trưng riêng. Thứ nhất, trong khi minh văn Thanh châu chỉ ghi chức vụ của Lý Đức Kham đơn giản là “Vũ kị úy”, minh văn Giao châu lại ghi một cách tường tận hơn là “Lại bộ Vũ kị úy”. Thứ hai, minh văn Giao châu không ghi tên hai người thị giả (tùy tùng), cũng không ghi tên các viên chức địa phương tham gia nghi lễ (trưởng sử, lục sự …) như trong minh văn Thanh châu. Thứ tư, trong khi minh văn Thanh châu có ghi tên người viết chữ là “Mạnh Bật”, minh văn Giao châu lại không có phần này. Trong khi đó, minh văn Giao châu lại có thêm dòng chữ “tống xá lợi ư thử khởi tháp” (đưa xá lợi đến đây dựng tháp).
(2) Về tình trạng phát hiện
              Theo bài viết gửi cho Hội nghị Thông báo Khảo cổ học của TS. Lê Viết Nga (Bảo tàng Bắc Ninh), văn bia được ông Nguyễn Văn Đức (thôn Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành) tìm thấy từ năm 2004 trong lúc đào đất làm gạch ở khu vực cách chùa làng Xuân Quan khoảng 20m. Bia bao gồm 2 phần úp khít vào nhau (tạm gọi là nắp và thân bia) được kết dính bằng “một chất gì đó” mà phải cậy bằng mai đào đất mới tách đôi ra được. Phần nắp và phần thân cùng có kích thước 45x46cm, phần nắp đậy dày 4cm. Mặt dưới phần nắp tạo gờ nổi xung quanh (có lẽ để tránh phần nắp tiếp xúc trực tiếp với mặt chữ và để trát hợp chất), mặt trên tạo “góc bạt chéo hình trụ”. Bia được tìm thấy cùng một hòm đá cũng bao gồm phần nắp và phần thân. Hòm có kích thước 45x46cm, phần nắp dày 8 cm, phần thân cao 20cm. Phần phía trên nắp cũng tạo góc bạt chéo hình trụ. Bên trong hòm có “tạp chất màu thâm đen”. Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Đức, bia đá và hòm đá được đặt trên một phiến đá.

Như đã trình bày ở phần trước, hiện nay tại Trung Quốc đã phát hiện được 12 minh văn liên quan đến việc xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp. Tuy nhiên, theo khảo sát tư liệu của chúng tôi, chỉ có 2 trường hợp được phát hiện thông qua khai quật khảo cổ học.

Trường hợp thứ nhất là khai quật khảo cổ học tại tháp xá lợi chùa Tiên Du thuộc Ung châu (Tây An, Thiểm Tây) năm 1998. Tháp này nhiều khả năng đã được tu sửa dưới thời Đường. Ở địa cung dưới chân tháp đã phát hiện 1 hòm đá vuông mỗi cạnh khoảng 58cm, cao 40cm, bên trái hòm đá đặt một tấm bia làm bằng đá xanh, một mặt khắc minh văn “Xá lợi tháp hạ minh” năm Nhân Thọ 1 (601) thời Tùy, một mặt khắc minh văn “Tiên Du xá lợi tháp minh” năm Khai Nguyên 4 (716) thời Đường. Bốn phía hòm đá khắc hình 10 tiên nữ cầm các loại nhạc cụ. Bên trong hòm đá có một hòm đồng dài 11,7cm, phía trước rộng 5,48cm, cao 8,4cm, phía sau rộng 3,9cm, cao 6,2cm. Bên trong hòm đồng lại có 1 bình lưu ly cao 4,65cm. Bên trong bình có 10 hạt xá lợi (Lưu Á Vận, 1998).
Trường hợp thứ hai là khai quật nền tháp chùa Thần Đức ở Nghi châu (nay nằm trong phần đất của chùa Diệu Huyện, Thiểm Tây) năm 1964. Tháp này được xây dựng năm Nhân Thọ 4 (604). Hòm đá đựng xá lợi được tìm thấy bên dưới nền tháp, xung quanh được quây bằng gạch. Bốn phía và phía trên hòm đá lại được chặn bởi các phiến đá hình chữ nhật. Thành nắp hòm được trang trí hoa lá, thân hòm khắc cảnh A Nan và các đệ tử đau buồn sau khi Phật Thích Ca lên Niết Bàn cũng như hình Tứ Đại Thiên Vương, Kim Cương Lực Sĩ. Hòm đá có hình vuông mỗi cạnh 103cm, cao 119cm. Nắp hòm cao 52cm, phía trên có khắc 9 chữ “Đại Tùy hoàng đế xá lợi bảo tháp minh”. Điều đáng chú ý là bia được đặt bên trong hòm đá. Phần nắp hòm bên trong được cắt gọt giật cấp sâu 10cm, rộng 52,5cm. Bia khắc minh văn được đặt lọt trong phần giật cấp đó. Bên trong hòm đá có các hòm đồng nạm vàng đựng xá lợi và một số bảo vật như vòng vàng, hòm đồng đựng tóc, bình đồng đựng tro cốt (Dương Hoằng, 2006).

Hình: Cấu trúc hòm đá và bia đặt trong hòm đá của chùa Thần Đức (Dương Hoằng, 2006)

Như vậy, có thể thấy về mặt hình dáng, hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh và hòm đá tìm thấy tại chùa Tiên Du và chùa Thần Đức tuy có kích thước khác nhau nhưng hình dáng tương đối giống nhau, đặc biệt là phần nắp có góc bạt chéo. Qua so sánh, có thể suy đoán hòm đá tìm thấy tại Bắc Ninh chính là hòm đá đựng xá lợi.

              Khai quật ở chùa Tiên Du cho thấy cấu trúc 3 lớp hòm đá – hòm đồng – bình lưu ly,  phù hợp với cách thức an trí xá lợi năm 601 chép trong Quảng hoằng minh tập. Trong trường hợp của chùa Thần Đức, chúng ta thấy chỉ có 2 lớp hòm là hòm đá và hòm đồng nạm vàng, không có bình lưu ly. Đây có thể là do cách đặt xá lợi của năm 604 có khác biệt so với năm 601. Qua tài liệu văn bản và kết quả khai quật tại chùa Tiên Du, có thể cho rằng cấu trúc hòm đá – hòm đồng – bình lưu ly – xá lợi là qui chế chung của năm 601. Như vậy, nếu khai báo của ông Nguyễn Văn Đức là chính xác, tức là trong hòm đá tại Bắc Ninh chỉ còn một lớp “tạp chất màu thâm đen” mà không có hòm đồng và bình lưu ly nạm vàng, thì nhiều khả năng hòm đá ở Bắc Ninh đã từng bị khai quật, lấy đi xá lợi và sau đó được chôn lại.
              Về bia đá, trong trường hợp của chùa Thần Đức, chúng ta thấy minh văn 604 được đặt nằm gọn trong hòm đá. Trường hợp của chùa Tiên Du cho thấy bia đá của năm 601 nằm riêng rẽ so với hòm đá (nếu hòm đá được tìm thấy là hòm đá gốc của thời Tùy), tương tự như ở Bắc Ninh. Bia đá Bắc Ninh có phần nắp. Bia đá của chùa Tiên Du do đã được khắc thêm một mặt vào thời Đường, nên chúng ta không rõ tấm bia gốc vào thời Tùy có phần nắp hay không. Tuy nhiên, tại Trung Quốc cũng có một trường hợp bia có nắp tương tự như bia Bắc Ninh. Bia đá của chùa Thắng Phúc (minh văn Thanh châu) hiện nay vẫn còn lưu giữ được phần nắp, có góc bạt chéo hình trụ tương tự như bia Bắc Ninh.
2.3. Vấn đề niên đại của minh văn Giao châu
              Trên cơ sở so sánh về mặt nội dung cũng như các hiện vật liên quan, có thể thấy bia tháp xá lợi mới phát hiện tại Bắc Ninh có nhiều điểm tương đồng với các bia Nhân Thọ xá lợi tháp năm 601 hiện còn lưu giữ được tại Trung Quốc. Tuy nhiên, xung quanh niên đại 601 được ghi trên bia Bắc Ninh, trong giới học giả Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau.
              Quan điểm thứ nhất phủ định niên đại 601 cũng như giá trị lịch sử của bia và cho rằng đây là một tấm bia giả cổ, mới được chế tác gần đây.
              Quan điểm thứ hai cho rằng bia được khắc vào thế kỷ VII, tuy nhiên vào thời điểm muộn hơn năm 601, có thể vào năm 604.
              Quan điểm thứ ba cho rằng bia được khắc vào năm 601, cùng thời điểm với niên đại “Nhân Thọ nguyên niên” ghi trên bia.
              Để tìm được câu trả lời cuối cùng, cần có nghiên cứu liên ngành với sự tham gia của nhiều chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là các ngành khoa học tự nhiên. Dưới đây chúng tôi sẽ thử xem xét các khả năng nêu trên từ góc độ của một người nghiên cứu tư liệu chữ viết.
              Trước tiên, theo chúng tôi, xác suất xảy ra khả năng thứ nhất, tức bia mới được làm giả cổ là rất thấp. Khi so sánh với các văn bia đã được tìm thấy tại Trung Quốc, chúng ta thấy bia Bắc Ninh có nhiều điểm tương đồng về cả nội dung và hình thức. Mặt khác, bia Bắc Ninh cũng mang những nét đặc thù riêng, ngay cả so với bia Thanh Châu là minh văn có nhiều điểm tương đồng nhất. Điều này cho thấy ít nhất bia Bắc Ninh không phải là bản sao rập khuôn của bất kỳ một mẫu văn bia nào đã được biết đến trước đó. Hơn nữa, để làm giả được tấm bia như thế này, người làm giả phải có trình độ hiểu biết rất sâu sắc về Hán văn, lịch sử thời Tùy – Đường cũng như sưu tầm được tư liệu từ nhiều nguồn tản mác khác nhau. Ví dụ như việc sử dụng dị thể rất hiếm gặp của các chữ “tân”, “nguyện”, “thứ” hay “khởi”. Bản thân tên gọi chùa “Thiền Chúng” vốn không được ghi trong sắc chỉ của vua Tùy mà chỉ xuất hiện trong phần tấu báo “cảm ứng” của các địa phương, do đó nếu muốn làm giả, người làm giả cũng phải tra cứu tư liệu rất kỹ. Hơn nữa, người làm giả cũng phải có hiểu biết rất sâu về hệ thống quan chế của nhà Tùy (ví dụ chức Vũ kị úy là hàm tản quan của nhà Tùy), v.v… Bởi những lý lẽ nêu trên, ít nhất từ góc độ nghiên cứu văn bản học, chúng tôi cho rằng khả năng giả cổ của bia Bắc Ninh là rất thấp[22].
              Để trả lời cho quan điểm thứ hai, chúng ta phải xem xét vấn đề trong bối cảnh mối quan hệ giữa nhà Tùy và chính quyền Lý Phật Tử khi đó.
              Có thể nói người đại diện cho quan điểm thứ hai là học giả Lê Mạnh Thát (1976). Lê Mạnh Thát có lẽ là nhà nghiên cứu đầu tiên của Việt Nam đề cập đến hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp trong phần chú thích bản dịch sách Thiền uyển tập anh ngữ lục (do Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn xuất bản lần đầu tiên năm 1976). Xuất phát từ một sự thực lịch sử là vào năm 601, nước ta vẫn đang là một nước độc lập dưới quyền lãnh đạo của Lý Phật Tử, ông cho rằng Tùy Văn Đế không thể ban xá lợi qua Giao châu vào năm 601. Qua câu chuyện Tùy Văn Đế hỏi sư Đàm Thiên về tình hình phát triển của Phật giáo tại Giao châu được chép trong Thiền uyển tập anh, Lê Mạnh Thát cho rằng ngay cả sau khi Lưu Phương đã tiêu diệt chính quyền của Lý Phật Tử vào năm 602, “Tùy Văn Đế còn đang lo về việc Giao châu đã được giáo hóa theo Phật giáo hay chưa”, và vì vậy, “Giao châu làm gì mà được chọn làm một chỗ thanh tịnh giữa 30 chỗ khác của Trung Quốc” để xây dựng bảo tháp năm 601[23].
              Nói tóm lại, Lê Mạnh Thát phủ định việc nhà Tùy đưa xá lợi và xây dựng bảo tháp tại Giao châu năm 601. Lê Mạnh Thát cho rằng việc đưa xá lợi đến Giao châu chỉ có thể được tiến hành vào năm 604, với việc vua Tùy ban 5 hòm xá lợi cho Pháp Hiền để xây dựng bảo tháp tại chùa Pháp Vân ở Luy Lâu và các chùa khác tại các châu Phong, Hoan, Trường, Ái như ghi chép trong Thiền uyển tập anh. Suy rộng ra, nếu đứng trên quan điểm của Lê Mạnh Thát, tấm bia tìm thấy tại Bắc Ninh, nếu thực sự là bia thời Tùy, chỉ có thể được đưa đến Giao châu vào năm 604, sau cuộc xâm lược của Lưu Phương. Hơn nữa, Lê Mạnh Thát cũng không công nhận địa điểm xây tháp xá lợi tại Giao châu là chùa Thiền Chúng, mà cho rằng địa điểm chính xác phải là chùa Pháp Vân[24].
              Để giải quyết vấn đề này, chúng ta sẽ phải xem xét thực chất mối quan hệ giữa chính quyền của Lý Phật Tử và nhà Tùy khi đó. Trước tiên, chúng tôi cũng tán thành ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu đi trước cho rằng trước cuộc xâm lược của Lưu Phương, nước ta đã là một nước độc lập[25]. Tuy nhiên, câu chuyện dưới đây về Thứ sử Quảng châu Lệnh Hồ Hy chép trong Tùy thư hé lộ cho chúng ta thấy một số vấn đề liên quan đến mối quan hệ thực chất giữa nhà Tùy và nhà Tiền Lý.
              Sử liệu: Tùy thư, Q.56, Liệt truyện 21, Truyện Lệnh Hồ Hy
熙奉詔、令交州渠帥李佛子入朝、佛子欲為亂、請至仲冬上道、熙意在羈縻、遂從之、有人詣闕訟熙受佛子賂而捨之、上聞而固疑之、既而佛子反問至、上大怒、以為信然、遣使者鎖熙詣闕(中略)行軍總管劉方擒佛子送於京師、言熙實無贓貨、上乃悟、於是召其四子、聽預仕焉、
              Tạm dịch:
(Lệnh Hồ) Hy phụng chiếu lệnh Giao châu cừ súy là Lý Phật Tử vào triều. Phật Tử muốn làm loạn, xin đến trọng đông mới lên đường. Hy ý muốn ràng buộc theo kiểu kimi nên đồng ý. Có người đến cửa khuyết tố cáo Hy nhận hối lộ của Phật Tử. Hoàng thượng nghe được nên có ý nghi ngờ. Đến khi tin Lý Phật Tử làm phản đến nơi, Hoàng thượng nổi giận, lấy (chuyện tố cáo cũ) là thật, sai sứ giả bắt giam Hy đưa về cửa khuyết. [Lược một đoạn] Đến khi Hành quân Tổng quản Lưu Phương bắt được Lý Phật Tử đưa về kinh sư, nói Hy quả thực không ăn của đút, Hoàng thượng mới ngộ ra, mời bốn người con (của Hy), cho phép được làm quan.
              Câu chuyện của Lệnh Hồ Hy cho thấy mặc dù vào năm 601, chính quyền của Lý Phật Tử đã là một chính quyền độc lập, song nhà Tùy không thừa nhận sự độc lập đó mà vẫn coi Giao châu là đất cũ của Lương – Trần và là một bộ phận trong lãnh thổ của nhà Tùy. Điều này cũng thể hiện qua việc nhà Tùy chuẩn theo lời tấu của Lệnh Hồ Hy tiến hành đổi tên một số đơn vị hành chính đang nằm dưới sự kiểm soát của Lý Phật Tử như Hoàng châu thành Phong châu, Lợi châu thành Trí châu, Đức châu thành Hoan châu[26]. Việc đổi tên này chứng tỏ nhà Tùy nghiễm nhiên coi các châu này nằm dưới quyền quản lý của mình.
              Chính quyền Quảng Châu của Lệnh Hồ Hy vào thời điểm đó đóng vai trò là đầu mối liên lạc giữa chính quyền trung ương của nhà Tùy với Lý Phật Tử, song chỉ muốn “ràng buộc [Giao châu] theo kiểu kimi”. Về phía nhà Tiền Lý, mặc dù thực chất đã là một chính quyền độc lập, song cũng như nhiều vương triều khác trong lịch sử Việt Nam, Lý Phật Tử rõ ràng “đóng vai” một thần tử của chính quyền Trung Hoa, và để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tùy, đã xin hoãn việc lên đường vào chầu vua Tùy đến giữa mùa đông năm 601.
              Mối quan hệ phức tạp khi đó giữa nhà Tùy và chính quyền Lý Phật Tử còn được thể hiện qua một tư liệu khác là mộ chí của Tô Hiếu Từ 蘇孝慈墓誌. Tô Hiếu Từ là người Phù Phong 扶風 (Thiểm Tây), làm quan cho ba triều Tây Ngụy, Bắc Chu và Tùy, chết năm 601 khi đang làm chức Hồng châu Tổng quản洪州總管của nhà Tùy. Mộ chí của Tô Hiếu Từ được khắc năm 603, được phát hiện tại Bồ Thành (Thiểm Tây, Trung Quốc) từ năm 1888 (Thanh Đạo Quang 14), hiện đang được lưu giữ tại Nhà văn hóa Bồ Thành. Điểm đáng chú ý trong nội dung tấm mộ chí này là việc Tô Hiếu Từ trước khi chết đã được vua Tùy phong làm “Giao châu đạo hành quân tổng quản” để chinh phạt Giao châu[27]. Mặt khác, theo Tùy thư, Hồng châu Tổng quản Tô Từ chết vào ngày Quí Sửu (tức ngày 1) tháng 6 năm Nhân Thọ 1 (601)[28]. Như vậy, nhờ mộ chí của Tô Hiếu Từ, chúng ta phát hiện được một sự thật rất quan trọng. Đó là không phải đợi đến năm 602, mà ngay từ thời điểm trước tháng 6 năm 601, nhà Tùy đã chuẩn bị cho việc tấn công Giao châu. Tuy nhiên, cuộc hành quân này trên thực tế đã bị hoãn, có lẽ là do cái chết đột ngột của Tô Hiếu Từ vào đầu tháng 6. Đến ngày 13 tháng 6, Tùy Văn Đế xuống chiếu ra lệnh phân phát xá lợi cho Giao châu. Điều đó có nghĩa là việc phân phát xá lợi của vua Tùy vào tháng 6 năm 601 không chỉ đơn thuần là một hoạt động tôn giáo, mà còn có âm mưu sâu xa là nhằm kiểm tra lại sự thần phục của Giao châu đối với nhà Tùy.

Ảnh: Thác bản mộ chí Tô Hiếu Từ

              Trong bối cảnh chính trị – ngoại giao như vậy, chúng tôi cho rằng vào giữa tháng 10 năm 601, chính quyền của Lý Phật Tử có thể chấp nhận một đoàn sứ giả gồm 1 sa môn, 2 tùy tùng là tăng lữ, 1 viên võ quan của nhà Tùy đến Giao châu với mục đích tổ chức một nghi lễ Phật giáo. Điều này có lẽ cũng không khó khăn đối với một người đứng đầu chính quyền mà tên gọi đã phản ánh sự sùng bái Phật giáo rất sâu đậm – Lý Phật Tử. Hơn nữa, về mặt chính trị, việc không đón tiếp đoàn hộ tống xá lợi của vua Tùy vào thời điểm tháng 10 có thể dẫn đến nguy cơ phá hỏng kế hoạch kéo dài thời gian để chuẩn bị kháng chiến của nhà Tiền Lý.
              Một lý do nữa khiến chúng tôi nghĩ rằng việc xây tháp tại Giao châu và cho khắc minh văn thực sự được tiến hành vào năm 601, không phải vào năm 604 là vì ngày tháng trên minh văn ghi rõ là năm “Nhân Thọ nguyên niên”. Như chúng ta đã biết, hoạt động phân phát xá lợi không chỉ được tiến hành vào hai năm Nhân Thọ 1 và 2 (601, 602) mà còn được tiến hành cả vào năm Nhân Thọ 4 (604). Như đã trình bày ở phần đầu, năm 604, vua Tùy xuống chiếu phân phát xá lợi vào tháng Giêng, ước hẹn cùng các địa phương hạ thổ xá lợi vào ngày 8 tháng 4 cùng năm. Hiện nay, tại Trung Quốc đã phát hiện được một số minh văn liên quan đến sự kiện năm 604 như các minh văn Tử châu, Nghi châu, Liêm châu (tham khảo Bảng 1). Các minh văn này đều ghi rõ thời điểm “Nhân Thọ tứ niên” (604). Như vậy, nếu giả sử vào năm 601, nhà Tùy không đưa xá lợi đến được Giao châu và chỉ làm được điều này vào năm 604, sau khi Lưu Phương đã kiểm soát được Giao châu, minh văn khắc kèm với hoạt động phân phát xá lợi đó theo lẽ thông thường sẽ phải được khắc niên hiệu “Nhân Thọ tứ niên” giống như các địa phương khác, hoàn toàn không cần thiết phải quay ngược lại thời gian để khắc lại niên hiệu “Nhân Thọ nguyên niên” như trên tấm bia tìm thấy tại Bắc Ninh.
              Hơn hết, về mặt tư liệu, như đã trình bày ở phần trước, Giao châu không chỉ được liệt kê trong danh sách phân phát xá lợi năm 601 mà tên chùa Thiền Chúng của Giao châu còn xuất hiện trong danh sách “cảm ứng” do các địa phương tấu lên với triều đình trung ương của nhà Tùy. Trong khi đó, địa điểm Pháp Hiền cho xây dựng các tháp xá lợi năm 604 theo Thiền uyển tập anh là chùa Pháp Vân và một số chùa khác tại Phong châu, Trường châu, Ái châu, Hoan châu. Điều này cho thấy việc xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng vào năm 601 là có thực và là một sự kiện hoàn toàn khác biệt so với việc Pháp Hiền tổ chức xây dựng tháp xá lợi tại chùa Pháp Vân năm 604.
2.4. Tiểu kết – Đánh giá về bia Bắc Ninh:
              Khi xem xét bối cảnh lịch sử đương thời cũng như nội dung các tư liệu hiện còn lưu giữ được, có thể nói xác suất để xảy ra khả năng thứ nhất và thứ hai là rất thấp, hay nói cách khác, việc coi niên đại khắc trên bia Bắc Ninh chính là niên đại thực của tấm bia vẫn là khả năng có tính hiện thực và thuyết phục cao nhất ở thời điểm hiện tại.
              Với tình hình tư liệu hiện nay, có thể tạm thời xác nhận đây là văn bia hiện còn lưu giữ được có niên đại cổ nhất Việt Nam. Niên đại 601 của văn bia này sớm hơn 17 năm so với tấm bia Đại Tùy Cửu Chân quận Bảo An đạo tràng chi bi văn có niên đại năm 618 đã được GS.Đào Duy Anh phát hiện tại Thanh Hóa năm 1960. Bia Bắc Ninh thuộc cùng nhóm các văn bia liên quan đến chuỗi sự kiện Tùy Văn Đế cho phân phát xá lợi và xây dựng bảo tháp trong niên hiệu Nhân Thọ đầu thời Tùy. Chính vì vậy, chúng tôi kiến nghị gọi tên tấm bia này là bia/minh văn Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp 交州仁寿舎利塔銘.
              Sự thống nhất về câu chữ trong minh văn cho thấy bên cạnh thiết kế tháp xá lợi, qui cách tổ chức nghi lễ, chính quyền trung ương của nhà Tùy đã biên soạn trước nội dung minh văn để phân phát cho các địa phương. Mặt khác, kích thước bia, kiểu chữ khắc lại có sự khác biệt tùy từng địa phương. Việc tìm thấy minh văn Giao châu giúp tái khẳng định ý kiến của học giả Nhật Bản Kegazawa Yasunori cho rằng nhà Tùy chỉ đóng vai trò biên soạn nội dung minh văn, còn việc khắc bia được giao về các địa phương (Kegasawa Yasunori, 2011). Với ý nghĩa đó, chúng tôi cho rằng bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp đã được khắc tại Việt Nam.
3. Tháp Nhân Thọ xá lợi ở Giao châu và mối quan hệ với dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi
              Như đã trình bày ở trên, với Giao châu, Tùy Văn Đế không chỉ định địa điểm xây tháp mà để cho chính quyền Giao châu tự lựa chọn. Vậy tại sao chùa Thiền Chúng, một ngôi chùa mới xây dựng vào thời điểm đó lại được lựa chọn?
              Điều này trước tiên bắt nguồn từ mối liên hệ trực tiếp giữa Tỳ Ni Đa Lưu Chi – sư phụ của Pháp Hiền với chính sách phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế. Như các học giả Nguyễn Lang (1974) và Lê Mạnh Thát (1976) đã đề cập, theo các sách Lịch đại tam bảo ký[29]Tục Cao tăng truyện, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã từng đến nhà Tùy và được chính vua Tùy mời dịch các kinh Tượng đầu tinh xá và Đại thừa phương quảng tổng trì dưới tên hiệu là Diệt Hỷ. Theo Lịch đại tam bảo ký và Thích thị thông giám, Tỳ Ni Đa Lưu Chi dịch xong kinh Tượng đầu vào tháng 2, và dịch xong kinh Tổng trì vào tháng 7 năm Khai Hoàng 2 (582).
              Sử liệu: Lịch đại tam bảo ký, Q.12
象頭精舍經一卷                 開皇二年二月譯
大乘方廣總持經一卷         開皇二年七月譯
右二部二卷、北天竺烏場國三藏法師毘尼多流支、隋言滅喜。既聞我皇興復三寶。故能不遠五百由延。振錫巡方來觀盛化至止。便召入令翻經。即於大興善寺譯出。給事李道寶般若流支次子曇皮二人傳譯。大興善寺沙門長安釋法纂筆受為隋言。并整比文義。沙門彥琮並皆製序。
              Tạm dịch:
Tượng đầu tịnh xá kinh 1 quyển (dịch tháng 2 năm Khai Hoàng 2 – 582)
Đại thừa phương quảng tổng trì kinh 1 quyển (dịch tháng 7 năm Khai Hoàng 2 – 582)
Hai bộ hai quyển kinh trên do Tam tạng pháp sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tiếng Tùy gọi là Diệt Hỷ, người nước Ô Dương Bắc Thiên Trúc dịch. Sư nghe tin Hoàng thượng ta [tức Tùy Văn Đế] hưng phục Tam bảo… (Tùy Văn Đế) bèn mời vào lệnh cho dịch kinh. Dịch tại chùa Đại Hưng Thiện. Cấp sự Lý Đạo Bảo, con thứ của Ban Nhược Lưu Chi là Đàm Bì hai người truyền dịch. Sa môn chùa Đại Hưng Thiện Trường An Thích Pháp Toản chấp bút thành tiếng Tùy và chỉnh lý văn nghĩa. Sa môn Ngạn Tông viết lời tựa cho cả 2 bộ kinh.
              Ở đây, chúng ta cần lưu ý một điểm rất quan trọng là Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã tham gia vào hoạt động dịch thuật của chính quyền trung ương nhà Tùy sau khi đã có một thời gian hoạt động tại Giao châu.
              Theo những ghi chép của Thiền uyển tập anh, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến kinh đô Trường An của nhà Trần từ năm 574 (Thái Kiến 2). Gặp lúc Chu Võ Đế phá diệt Phật pháp, ông bèn theo lời khuyên của Tăng Xán xuống phía Nam. Ông lưu lại chùa Chế Chỉ ở Quảng Châu trong 6 năm, dịch xong kinh Tượng đầu. Sau đó, ông đến chùa Pháp Vân tại Việt Nam vào tháng 3 năm 580 (Chu Đại Tượng 2, Canh Tí). Tại đây, ông thu nạp đệ tử Pháp Hiền và dịch xong kinh Tổng trì (tức Đại thừa phương quảng tổng trì)[30].
       Trước đây, các tư liệu nêu trên đã được học giả Nguyễn Lang chú ý đến khi ông viết bộ sách Việt Nam Phật giáo sử luận. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, đứng từ quan điểm nghiên cứu Phật giáo, Nguyễn Lang chủ yếu quan tâm đến vấn đề kinh Tổng trì như vậy đã được dịch tại Việt Nam (như sách Thiền uyển tập anh chép) hay Trung Hoa (như các tài liệu Trung Quốc, mà tiêu biểu là Thích thị thông giám chép). Nguyễn Lang cũng đặt nghi vấn không rõ thời điểm Tỳ Ni Đa Lưu Chi lần đầu tiên đến Việt Nam là vào năm 580 (như Thiền uyển tập anh chép) hay sau năm 582, sau khi đã dịch kinh Phật ở kinh đô Đại Hưng của nhà Tùy (theo ghi chép của Thích thị thông giám)[31].
              Các nghi vấn mà Nguyễn Lang đưa ra xuất phát từ vấn đề ông quan niệm rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi chỉ đến Việt Nam sau khi đã tham gia hoạt động dịch thuật kinh Phật ở nhà Tùy. Từ đó dẫn đến việc ông không giải thích được tại sao theo Thiền uyển tập anh, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến Việt Nam từ năm 580 mà theo các nguồn tài liệu của Trung Quốc, đến năm 582, Tỳ Ni Đa Lưu Chi lại có thể dịch kinh ở kinh đô Đại Hưng, do đó Nguyễn Lang buộc phải đi đến lựa chọn một trong hai tư liệu, hoặc Thiền uyển tập anh hoặc Thích thị thông giám, và phủ định tư liệu còn lại. Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ, có thể thấy các ghi chép của Thiền uyển tập anh và Thích thị thông giám hoàn toàn không có điểm gì mâu thuẫn với nhau. Nếu đặt các sự việc theo trục thời gian, cần phải hiểu rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã đến Việt Nam từ năm 580, đúng như ghi chép của Thiền uyển tập anh, ở lại chùa Pháp Vân một thời gian, sau đó khi được tin Tùy Văn Đế tiến hành chính sách phục hưng Phật giáo, ông đã quay trở lại Trung Quốc. Trong thời gian quay lại Trung Quốc đó, ông đã được mời tham gia hoạt động dịch kinh sách tại kinh đô Đại Hưng và hoàn thành công việc dịch 2 bộ kinh Tượng đầu và Tổng trì vào tháng 2 và tháng 7 năm 582. Nếu giải thích theo hướng này, chúng ta cũng giải quyết được vấn đề của kinh Tổng trì mà Nguyễn Lang thắc mắc. Có thể cho rằng Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã dịch kinh Tổng trì ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Ông bắt đầu công việc dịch thuật tại chùa Pháp Vân ở Giao châu theo đúng ghi chép của Thiền uyển tập anh, và sau đó chính thức hoàn thành công trình này khi ông quay trở lại Trung Quốc và được mời tham gia vào công việc dịch thuật tại chùa Đại Hưng Thiện. Sau đó, ông lại quay trở lại chùa Pháp Vân và mất ở đây vào năm 594.
              Như vậy, chúng ta thấy rằng sau một thời gian hoạt động tại chùa Pháp Vân ở Việt Nam, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã quay trở lại Trung Quốc và tham gia trực tiếp vào các hoạt động phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế ngay tại kinh đô Đại Hưng. Chắc chắn là khi quay trở lại Trung Quốc, Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã mang theo những tri thức mà ông nắm được về hoạt động Phật giáo tại Giao châu. Danh tiếng của Tỳ Ni Đa Lưu Chi cũng như mối liên hệ của vị danh tăng này với chính quyền nhà Tùy là một trong những lý do dẫn đến việc chính quyền Lý Phật Tử lựa chọn chùa Thiền Chúng để xây dựng tháp xá lợi năm 601.
              Đệ tử của Tỳ Ni Đa Lưu Chi – Pháp Hiền chắc chắn cũng đóng một vai trò quan trọng trong hoạt động xây dựng tháp xá lợi năm 601. Như đã trình bày ở phần trước, đối với Giao châu, Tùy Văn Đế không chỉ định vị trí xây tháp mà để cho Giao châu lựa chọn, và ngôi chùa được chọn là chùa Thiền Chúng. Tại Hội nghị Thông báo Khảo cổ học năm 2012, nhà nghiên cứu Nguyễn Quang Hà khi bàn về bia xá lợi 601 cũng đã nhắc đến Pháp Hiền với tư cách là “trụ trì” của chùa Thiền Chúng (Nguyễn Quang Hà, 2012)[32]. Tuy nhiên, ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng không chỉ là “trụ trì”, Pháp Hiền còn chính là người sáng lập chùa Thiền Chúng. Nguyên văn văn bản của Thiền uyển tập anh viết rất rõ: ” Khi (Tỳ Ni Đa Lưu) Chi tịch rồi, sư thẳng vào núi ấy, tu tập thiền định, hình như cây khô, vật, ngã đều quên, chim bay đến chầu, dã thú vây quanh. Người đương thời nghe tiếng đến học, không thể đếm xiết. Nhân đó, sư lập chùa [sáng tự], dạy dỗ học trò. Tăng chúng đến ở thường hơn 300″[33].
              Tóm lại, chúng ta thấy rằng không phải ngẫu nhiên mà chùa Thiền Chúng lại được lựa chọn để xây dựng tháp xá lợi của nhà Tùy vào năm 601. Chùa Thiền Chúng được lựa chọn vì:
              Thứ nhất, chùa Thiền Chúng nằm trong dòng thiền của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một vị cao tăng đã từng tham gia dịch thuật kinh sách ở kinh đô nhà Tùy và có mối liên hệ mật thiết với chính sách phục hưng Phật giáo của Tùy Văn Đế.
              Thứ hai, sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi chết, đệ tử của ông là Pháp Hiền đã hoằng dương pháp môn của dòng thiền này, sáng lập ra chùa Thiền Chúng và biến nó trở thành một trung tâm Phật giáo lớn, mà theo Thiền uyển tập anh, số lượng tăng chúng thường cư trú lên đến hơn 300. Số lượng tăng chúng đông đảo này thỏa mãn điều kiện huy động sư sãi (nhiều nhất là 360 người, các mức tiếp theo là 240 hoặc 120 người) để tham gia nghi lễ xây tháp xá lợi của nhà Tùy.
              Thứ ba, Pháp Hiền không chỉ tinh thông pháp môn của Tỳ Ni Đa Lưu Chi mà còn là một người đã có kinh nghiệm trong việc xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu. Theo Thiền uyển tập anh, sau khi Tỳ Ni Đa Lưu Chi viên tịch, chính Pháp Hiền đã “làm lễ trà tỳ, thu xá lợi 5 sắc, xây tháp để thờ”. Đó là vào “năm Giáp Dần, đời Tùy Khai Hoàng năm 14 (594)”[34], tức là 7 năm trước khi Tùy Văn Đế xuống chiếu cho xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu.
5. Các tháp xá lợi được xây dựng tại Việt Nam dưới thời Tùy – Đường
              Trên đây, chúng tôi đã so sánh văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp với các minh văn tương tự tìm thấy tại Trung Quốc. Trên cơ sở những nhận thức mới đạt được qua nghiên cứu so sánh, chúng tôi muốn tổng hợp và đánh giá lại một số di tích và hiện vật tháp xá lợi có niên đại từ nửa cuối thế kỷ VI đến hết thế kỷ IX tại Việt Nam (tương đương với thời Tùy – Đường).
5.1. Các tháp xá lợi được xây dựng vào thời Tùy
              Tháp xá lợi đầu tiên được xây dựng trong giai đoạn này có lẽ là tháp an trí xá lợi của thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi, do đệ tử của ông là sư Pháp Hiền xây dựng tại chùa Pháp Vân vào năm 594. Đến năm 601, Pháp Hiền tiếp tục tham gia việc xây dựng tháp xá lợi tại chùa Thiền Chúng, thuộc huyện Long Biên, Giao châu. Theo Thiền uyển tập anh, sau khi Lưu Phương tiêu diệt chính quyền Lý Phật Tử, dưới sự tiến cử của Lưu Phương, vua Tùy đã chuyển đến Giao châu 5 hòm xá lợi. Pháp Hiền đã xây tháp an trí 5 hòm xá lợi này tại chùa Pháp Vân (Giao châu) và các châu Phong, Trường, Ái, Hoan. Như vậy, riêng tại chùa Pháp Vân ở Giao châu đã tồn tại hai tháp xá lợi, một của Tỳ Ni Đa Lưu Chi, một của nhà Tùy.
              Sang đến thời Lý, một trong hai tháp xá lợi này đã được khai quật. Theo Đại Việt sử lược, năm Giáp Tuất (1034), “sư ở chùa Pháp Vân tại Cổ châu tâu lên rằng: trong chùa phát ra mấy đạo tia sáng, theo tia sáng mà đào thì thấy một hòm bằng vàng, một hòm bằng đá, trong hòm đá có hòm bạc, trong hòm bạc có hòm vàng, trong hòm vàng có bình lưu ly, trong bình có xá lợi”[35]. Ở đây, chúng ta thấy xuất hiện bình lưu ly, tức là có điểm tương đồng với qui chế an trí xá lợi năm 601, nhưng mặt khác, lại có thêm một lớp hộp bạc. Kết hợp với các thông tin về tháp xá lợi của chùa Pháp Vân nêu trên, chúng tôi cho rằng nhiều khả năng xá lợi được khai quật năm 1034 là xá lợi do Pháp Hiền cho hạ thổ năm 604 dưới thời Tùy.
5.2. Các tháp xá lợi được xây dựng vào thời Đường
              Trong hai năm 1985-1986, Viện Khảo cổ học đã tiến hành khai quật di chỉ Nhạn tháp (thôn Nhạn Tháp, xã Hồng Long, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An). Tại di chỉ này đã phát hiện được hòm vàng có hoa văn đựng xá lợi, dài 12cm, rộng 8cm, cao 8cm. Hòm vàng này lại được đặt trong lòng một hòm đồng trơn, 12cm, rộng 8cm, cao 8cm. Hòm đồng nằm trong một thân cây khoét rỗng cao 1,37m, chôn ở chính tâm lòng tháp[36].
              Qua các ghi chép khảo cổ học, chúng ta thấy cách thức chôn xá lợi tại Nhạn Tháp chỉ có 3 lớp: thân cây, hòm đồng, hòm vàng, khác với qui cách chôn hòm xá lợi của thời Tùy (ít nhất phải có 1 lớp hòm đá). Ngoài ra, tại di tích này cũng tìm được một số viên gạch có chữ, trong đó có minh văn “Trinh Quán lục niên” 貞観六年 (627). Tổng hợp các nguồn thông tin nêu trên, chúng tôi cho rằng đây là một tháp xá lợi thời Đường.
              Liên quan đến lòng thân cây khoét rỗng, trước đây GS. Hà Văn Tấn từng đặt vấn đề: cách thức chôn như vậy “gợi chúng ta nhớ đến tục chôn người chết trong những quan tài khoét bằng thân cây trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam. Các tháp Xá Lị vẫn được coi là tháp mộ, khác với các tháp kỷ niệm. Phải chăng ở đây, có sự tiếp hợp giữa Phật giáo với những truyền thống bản địa lâu đời ?” (Hà Văn Tấn, 1993). Tuy nhiên, theo nghiên cứu của Kosugi Yasuo (1934), từ thời Lục Triều tại Trung Quốc, khi xây dựng tháp Phật, người ta thường lập một trụ gỗ nhỏ ở trung tâm để đánh dấu vị trí xây tháp, gọi là “đả sát”. Cách xây dựng này kéo dài đến tận thời Tùy – Đường. Hai chữ “đả sát” cũng xuất hiện trong chiếu thư xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp của Tùy Văn Đế mà chúng tôi đã giới thiệu ở phần đầu bài viết. Như vậy, cách thức xây dựng “đả sát” muộn nhất đã được truyền đến Giao châu từ năm 601, thân cây khoét rỗng mà chúng ta tìm được tại di chỉ Nhạn Tháp có lẽ cũng là một dạng “đả sát” của tháp xá lợi và không có nhiều liên hệ đến văn hóa Đông Sơn.
              Ngoài ra, liên quan đến hai hạt xá lợi màu trắng phát hiện trong hòm xá lợi ở Nhạn Tháp, chúng tôi cũng muốn lưu ý đến cách phân biệt xá lợi trong sách Pháp uyển chu lâm do sư Đạo Thế soạn vào năm Tổng Chương 1 (668) thời Đường. Theo đó, xá lợi vốn được chia làm 3 loại, thứ nhất là xá lợi xương, có màu trắng, thứ hai là xá lợi tóc, có màu đen, thứ ba là xá lợi thịt, có màu đỏ[37]. Nếu theo cách phân biệt này, hai viên xá lợi của Nhạn Tháp thuộc loại xá lợi xương.
              Ngoài di chỉ Nhạn Tháp, gần đây, trong quá trình điều tra các viên gạch có chữ Hán tại Hoàng thành Thăng Long, chúng tôi phát hiện được một viên gạch Đại La có minh văn như sau:
1            □和四年十一匚
2      塔元安 佛匚
3      善崇善寺匚
4      □會寺僧匚
5      塔左匚
Phiên âm:
1            […] Hòa tứ niên thập nhất […]
2            tháp nguyên an Phật […]
3            thiện Sùng Thiện tự […]
4            […] hội tự tăng […]
5            tháp tả […]
              Viên gạch nói trên không có ghi số hiệu khai quật, có lẽ đã bị bỏ sót trong quá trình chỉnh lý hiện vật. Dòng đầu tiên ghi niên hiệu “.. Hòa tứ niên”. Chữ đầu tiên bị mất một phần (có lẽ do bị cuốc vào khi khai quật). Tuy nhiên, nếu dựa vào 2 nét bên dưới còn sót lại, kết hợp với niên đại Đại La, chúng tôi cho rằng chữ này chỉ có thể là chữ “Nguyên” 元. Nếu suy đoán của chúng tôi là đúng, dòng niên đại trên viên gạch là tháng 11 năm Nguyên Hòa 4, tức năm 809 thời Đường. Năm 809 là năm dưới thời An Nam Đô hộ Trương Chu[38].
              Dòng thứ hai đáng tiếc cũng bị mất các chữ cuối. Tuy nhiên, ở đây chúng ta thấy có từ “tháp nguyên an Phật …”, tức là “tháp vốn an (trí) Phật …”. Đặc biệt, sau chữ “an” người viết để trống một chữ để thể hiện sự kính trọng rồi viết tiếp chữ “Phật”. Mạch văn, khuyết tự thể hiện ý kính trọng và chữ “an” khiến chúng tôi ngờ rằng chữ tiếp theo là chữ “tượng” hoặc “xá lợi”.
              Việc tìm thấy viên gạch có minh văn nêu trên không chỉ giúp khẳng định giả thuyết trước đây của chúng tôi cho rằng phủ thành An Nam dưới niên hiệu Nguyên Hòa thời Đô hộ Trương Chu đã nằm tại vị trí 18 Hoàng Diệu, mà còn hé lộ cho chúng ta sự tồn tại của một tòa tháp, nhiều khả năng là tháp xá lợi được xây dựng vào đầu thế kỷ IX ở An Nam. Tháp xá lợi này có liên hệ nào đó đến một ngôi chùa cùng thời có tên là chùa Sùng Thiện.
Ảnh: Thác bản viên gạch phát hiện được tại Di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long
              Đến nửa cuối thế kỷ IX, theo ghi chép của sách An Nam chí, tương truyền An Nam Đô hộ Cao Biền đã cho xây dựng tháp trên núi Đông Cứu (tức núi Thiên Thai, Gia Lương, Bắc Ninh)[39]. Theo Trần Cương Trung thi tập, khi sứ giả nhà Nguyên là Trần Phu sang Việt Nam vào năm 1293 vẫn còn thấy tháp đá do Cao Biền xây dựng nằm bên trái “Phú Lương giang Thượng Kiều thị”[40], mà hiện nay chúng ta không rõ ở đâu.
              Kết luận
              Sự kiện phát hiện văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp năm 601 tại Bắc Ninh có ý nghĩa vô cùng quí giá. Qua nghiên cứu so sánh với các văn bia Nhân Thọ xá lợi tháp đã phát hiện được tại Trung Quốc, chúng tôi cho rằng với điều kiện tư liệu hiện tại, có thể cho rằng đây chính là văn bia được chế tác năm 601 cùng với sự kiện Tùy Văn Đế cho xây dựng bảo tháp xá lợi năm Nhân Thọ 1 (601) tại Giao châu.
              Với niên đại 601, văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp tìm thấy tại Bắc Ninh đã thay thế văn bia Đại Tùy Cửu Chân Bảo An đạo tràng chi bi văn (bia Trường Xuân) có niên đại năm 618 ở Thanh Hóa, trở thành văn bia có niên đại cổ nhất Việt Nam.
              Đây là nguồn tư liệu kim thạch văn quí giá, bên cạnh bia Trường Xuân và tấm bia được cho là tìm thấy tại khu vực Vạn Xoan trước đây[41], giúp nghiên cứu về tình hình chính trị, quan hệ ngoại giao, lịch sử Phật giáo tại Việt Nam giai đoạn thời Tiền Lý. Trên cơ sở khảo sát minh văn Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp, kết hợp với một nguồn tư liệu từ trước đến nay chưa được nhiều nhà nghiên cứu chú ý đến là mộ chí của Tô Hiếu Từ, chúng tôi đã chi ra được một số vấn đề quan trọng về lịch sử chính trị giai đoạn này. Thứ nhất, không phải đợi đến năm 602 mà ngay từ thời điểm tháng 6 năm 601, nhà Tùy đã ý thức về sự tồn tại của chính quyền độc lập của Lý Phật Tử và có ý đồ xâm lược Giao châu. Trong bối cảnh đó, việc vua Tùy xuống chiếu cử sứ giả hộ tống xá lợi đến Giao châu xây tháp vào ngày 10 tháng 6 năm 601 không đơn thuần là một hoạt động tôn giáo, mà còn ẩn chứa một ý đồ chính trị sâu xa là nhằm kiểm tra sự thần phục của Lý Phật Tử đối với nhà Tùy. Cũng cần đánh giá việc Lý Phật Tử tổ chức đón tiếp đoàn sứ giả của vua Tùy vào năm 601 như một bước đi về mặt chính trị – ngoại giao nhằm kéo dài thời gian để chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống Tùy diễn ra sau đó.
              Ngoài ra, minh văn cũng giúp chúng ta có được nhận thức hoàn chỉnh hơn về hoạt động xây dựng tháp xá lợi và các tín ngưỡng liên quan trong giai đoạn thuộc Tùy – Đường.
              Văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp cũng là một tài liệu quan trọng bổ sung cho nghiên cứu lịch sử giao thông thời Bắc thuộc. Chiếu thư Tùy Văn Đế phát ra vào ngày 13 tháng 6, ước hẹn các địa phương cùng hạ thổ xá lợi vào ngày 15 tháng 10. Như vậy, nhà Tùy đã phải cân nhắc quãng thời gian cần thiết để sứ giả hộ tống xá lợi di chuyển từ kinh đô Đại Hưng (Trường An) đến các địa phương, xa nhất là Giao châu. Nói cách khác, quãng thời gian 124 ngày (từ 13 tháng 6 đến ngày 15 tháng 10) là quãng thời gian tối đa để di chuyển từ Trường An đến Giao châu. Trước đây, qua nghiên cứu về trường hợp của khởi nghĩa Dương Thanh, chúng tôi đã tính toán di chuyển từ Trường An đến An Nam Đô hộ phủ mất khoảng 59-70 ngày nếu di chuyển bằng đường biển và dịch trạm, khoảng 124 ngày nếu di chuyển với tốc độ thông thường (Phạm Lê Huy, 2012).
              Trên phương diện địa lý học lịch sử, văn bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp là một tư liệu có giá trị tham khảo cao trong việc xác định vị trí chính xác của các tòa thành Luy Lâu và Long Biên thời Bắc thuộc. Văn bia được tìm thấy ở thôn Xuân Quan, xã Trí Quả, huyện Thuận Thành, chỉ cách di tích thành cổ Lũng Khê – “Luy Lâu” khoảng 2km về phía Tây. Đây là một cứ liệu quan trọng góp phần nghiên cứu xác định vị trí huyện Long Biên thời Nam triều và Tùy cũng như quan hệ giữa thành Long Biên và thành Luy Lâu mà giới khoa học Việt Nam đã thảo luận lâu nay[42].
              Đây là bia có nắp đầu tiên tìm thấy ở VN, thuộc loại hình bia tháp xá lợi, được chôn dưới chân tháp. Từ trước đến nay, giới khoa học Việt Nam đã tìm thấy nhiều bia có nắp trong các đình, chùa, đền từ thời Lê về sau, thường gắn vào tường. Trong bối cảnh đó, bia Giao châu Nhân Thọ xá lợi tháp cung cấp thêm tư liệu để nghiên cứu về quá trình ra đời và phát triển của loại hình bia có nắp ở Việt Nam.
              Không chỉ có ý nghĩa đối với Việt Nam, tấm bia này cũng là nguồn tư liệu quí giá giúp nâng cao hiểu biết của giới học giả Trung Quốc và Nhật Bản về hoạt động xây dựng Nhân Thọ xá lợi tháp nói riêng cũng như chính sách Phật giáo của nhà Tùy nói chung. Cụ thể, nó giúp xác nhận lại địa điểm xây dựng tháp xá lợi tại Giao châu (chùa Thiền Chúng), cách thức triển khai (triều đình trung ương gửi mẫu văn bản, chính quyền địa phương tự khắc bia), cũng như cung cấp một số thông tin mới về sứ giả hộ tống (trong trường hợp Giao châu là Đại đức Tuệ Nhã pháp sư, Lại bộ Vũ kị úy Khương Huy).
Tài liệu tham khảo
Kosugi Kazuo, Về việc an trí xá lợi Phật tại các tháp Phật thời Lục triều, Hiệp hội Học thuật Đông phương, 1934
Đào Duy Anh, Cái bia cổ ở Trường Xuân với vấn đề nhà Tiền Lý, Tạp chí NCLS, 50(5), 1963
Trần Quốc Vượng – Vũ Tuân Sán, Bàn thêm về thành Thăng Long thời Lý – Trần, Tạp chí NCLS, 4, 1966.
Nguyễn Lang, Việt Nam Phật giáo sử luận, NXB Lá Bối, 1974 (NXB Văn học in lại năm 2000)
Trần Anh Dũng – Nguyễn Mạnh Cường, Tháp Nhạn ở Nghệ Tĩnh qua hai lần khai quật, Tạp chí Khảo cổ học, 3, 1987
Hà Văn Tấn, Chùa Việt Nam, NXB KHXH, 1993 (NXB Thế giới in lại năm 2010)
Lưu Á Vận, Phát hiện khảo cổ tháp xá lợi chùa Tiên Du, Trung Quốc văn vật báo, số ngày 22 tháng 11 năm 1998.
劉呆運「仙游寺舍利塔的考古発見」(『中国文物報』1998年11月22日)
Lý Á Tân, Bí ẩn tháp Pháp Vương, Tạp chí Kiều, 1, 1999
李亜新「法王塔之謎(下)」(『橋』1999年第一期)
Lê Mạnh Thát, Nghiên cứu về Thiền uyển tập anh, NXB Thành phố Hồ Chí Minh (in lại bản của Đại học Vạn Hạnh Sài Gòn 1976), 19999
Kegasawa Yasunori, Việc cắt giảm học hiệu và Cúng dường xá lợi năm Nhân Thọ nguyên niên (601) thời Tùy, Tạp chí Sử họcTra Surudai, 111 (2), 2001
氣賀澤保規「隋仁寿元年(601)の学校削減と舎利供養」(『駿台史学 』111(2)、2001年
Lê Thị Liên, Buddhism in Vietnam during the 1st millennium A.D. from archaeological evidence,  Transactions of the International Conference of Eastern Studies, No.48 (2003)
Nakamura Nobuo, Khảo sát về minh văn Nhân Thọ xá lợi tháp – Xung quanh minh văn Đại Tùy hoàng đế Tử châu xá lợi tháp, Tập san Nghiên cứu Mỹ thuật, 25, 2004
中村伸夫「仁寿舎利塔銘に関する一考察–羅振玉旧蔵<大随皇帝梓州舎利塔銘>をめぐって」(『芸術研究報』37、2004年
Dương Hoằng, Địa cung tháp xá lợi và đồ đựng xá lợi Trung Quốc thời Bắc Triều – Tùy – Đường, Tạp chí Lịch sử và Văn hóa (Đại học Tohoku Gakuin), 40, 2006
楊泓「中国北朝・隋・唐時代の舎利塔地宮と舎利容器」『(東北学院大学論集)歴史と文化』第40号、2006年
Phạm Lê Huy, Về một số thủ lĩnh An Nam thời thuộc Đường, Tạp chí NCLS, 401(9)-402(10), 2009
Nishimura Masanari, Khảo cổ – Cổ đại học Việt Nam, NXB Doseisha, 2011
西村昌也『ベトナムの考古・古代学』(同成社、2011年)
Phạm Lê Huy, Diện mạo và vị trí địa lý An Nam Đô hộ phủ thời thuộc Đường, Tạp chí NCLS, 429(1) – 430(2), 2012
Phạm Lê Huy, Nghiên cứu giao thông thời Đường qua trường hợp An Nam Đô hòmhủ, Kỷ yếu Hội thảo Giao hưởng Cổ đại II, Đại học Meiji, 2012
Hida Romi, Oshima Sachio, Ono Eiji, Tùy Nhân Thọ xá lợi tháp nghiên cứu dự thuyết (Chú thích và nghiên cứu tác phẩm Tập thần châu Tam bảo Cảm thông lục với tư cách là một nguồn sử liệu mỹ thuật – 5): Xá lợi Cảm ứng lục, Nhân Thọ xá lợi tháp thiên (phần đầu)), Nghiên cứu Mỹ thuật Nara, 12, 2012
肥田路美、大島幸代、小野英二「美術史料として読む『集神州三宝感通録』 : 釈読と研究(5)舎利感通篇、仁寿舎利塔篇(前半)(美術史料として読む『集神州三宝感通録』 : 釈読と研究(5)舎利感通篇、仁寿舎利塔篇(前半))(『奈良美術研究』12、2012年
Nguyễn Quang Hà, Về tấm bia thời Tùy (601) mới phát hiện, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Lê Viết Nga, Về hai cổ vật niên đại thời Tùy tại Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Nguyễn Đạt Thức, Về niên đại của Bia tháp Xá Lị, chùa Thiền Chúng, huyện Long Biên, Giao Châu, Hội nghị Thông báo Khảo cổ học, 2012
Phạm Lê Huy, Khảo cứu lại khởi nghĩa Dương Thanh (819-820), Tạp chí NCLS (sắp đăng)
Phụ chú: Xung quanh việc tìm kiếm các tư liệu về Nhân Thọ xá lợi tháp và các kết quả điều tra khảo cổ học tại Trung Quốc, chúng tôi đã nhận được sự hỗ trợ rất lớn của TS. Kawakami Mayuko (cán bộ nghiên cứu Đại học Kyoto), ThS. Nguyễn Văn Tuấn (Viện Hán Nôm). Ngoài ra, chúng tôi cũng nhận được sự hỗ trợ rất lớn của các cán bộ Viện Khảo cổ học, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Bảo tàng Nghệ An trong quá trình điều tra các hiện vật liên quan. Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các đồng nghiệp nêu trên.

 


[1] 「皇帝昔在潛龍、有婆羅門沙門來詣宅、出舍利一裏曰、檀越好心、故留與供養、沙門既去、求之不知所在、其後皇帝與沙門曇遷、各置舍利於掌而數之、或少或多、並不能定、曇遷曰、曾聞婆羅門說法身過於數量非世間所測、於是始作七寶箱、以置之」(『廣弘明集』卷第十七)。
[2]「雍州於仙遊寺起塔、天時陰雪、舍利將下日便朗照、始入函、雲復合」(『集神州三寶感通錄』卷上)。
[3] Nguyên văn: “tứ bộ chúng” 四部衆, chỉ các đệ tử của nhà Phật là tỳ khâu, tỳ khâu ni, cư sĩ nam (ưu bà tắc), cư sĩ nữ (ưu bà di).
[4]「皇帝於是親以七寶箱、奉三十舍利、自内而出置於御座之案、與諸沙門燒香禮拜、願弟子常以正法護持三寶、救度一切眾生、乃取金瓶琉璃各三十、以琉璃盛金瓶、置舍利於其内、薰陸香為泥、塗其蓋而印之、三十州同刻十月十五日正午入於銅函石函、一時起塔、諸沙門各以精勤、奉舍利而行、初入州境先令家家灑掃覆諸穢惡。道俗士女傾城遠迎、總管刺史諸官人、夾路步引、四部大眾容儀齊肅、共以寶蓋旛幢華臺像輦佛帳佛輿香山香缽種種音樂、盡來供養、各執香華或燒或散。圍繞讚唄梵音和雅、(中略)沙門對四部大眾作是唱言、至尊以菩薩大慈無邊無際哀愍眾生切於骨髓、是故分布舍利共天下同作善因、又引經文種種方便。訶責之教導之、(中略)大眾一心合掌右膝著地、沙門乃宣讀懺悔文曰、(中略)舍利將入函、大眾圍遶填噎、沙門高奉寶瓶巡示四部」(『廣弘明集』卷第十七)。
[5] Bắc đồ: Bắc Kinh đồ thư quán lịch đại thạch khắc thác bản vựng biên 北京図書館歴代石刻拓本彙编。
[6] Chữ “Duy” được sử dụng khá phổ biến như lời mở đầu trong Hán văn. Cách viết “duy” + niên hiệu có thể thấy trên rất nhiều minh văn thời Tùy – Đường, ở Việt Nam tiêu biểu là chuông Thanh Mai đúc năm 798. Một số bài viết dịch chữ “duy” là “trước (năm Nhân Thọ nguyên niên…)” là không chính xác.
[7] Chữ Tân được viết dưới dạng dị thể .
[8] Tân Hợi sóc thập ngũ nhật Ất Sửu: một số bài viết nhầm Tân Hợi là can chi của tháng 10. Thật ra đây là một cách viết rất phổ biến vào thời Tùy Đường, trước khi nêu can chi của một ngày cụ thể, viết can chi của ngày sóc (tức ngày mùng 1). Trong trường hợp này, ngày sóc (ngày mùng 1) của tháng 10 năm Nhân Thọ nguyên niên có can chi là ngày Tân Hợi, ngày 15 (thập ngũ nhật) là ngày Ất Sửu. Điều này có thể kiểm chứng dễ dàng qua bảng tính can chi.
[9] Hoàng đế tức Dương Kiên, Hoàng hậu tức Độc cô thị.
[10] Chữ “nguyện” được viết dưới dạng dị thể hoặc .
[11] Thái Tổ Võ Nguyên Hoàng đế, Nguyên Minh Hoàng hậu chỉ bố mẹ của Tùy Văn Đế là Dương Trung và Lữ thị. Theo Tùy thư (Q.1, Cao Tổ kỷ thượng), tháng 2 năm 581 (Khai Hoàng 1), Tùy Văn Đế truy tôn cha (hoàng khảo) là Võ Nguyên Hoàng đế, đặt miếu hiệu là Thái Tổ, mẹ là Nguyên Minh Hoàng hậu. 「(開皇元年二月)乙丑、追尊皇考為武元皇帝、廟號太祖、皇妣為元明皇后」(『隋書』卷一、高祖上、開皇元年二月乙丑条)。
[12] Hoàng thái tử vào thời điểm này là Dương Quảng (sau là Tùy Dạng Đế). Trước đó, vào tháng 10 năm 600 (Khai Hoàng 20), Tùy Văn Đế phế Hoàng thái tử Dương Dũng và các con làm thứ dân, sang tháng 11 lấy Tấn vương Dương Quảng làm Hoàng Thái tử. 「乙丑,皇太子勇及諸子並廢為庶人」、「晉王廣為皇太子」(『隋書』 卷二、 高祖下、 開皇二十年十月乙丑条、十一月戊子)。
[13] Viên cập (爰及): chữ này cũng xuất hiện trong sắc chỉ của Tùy Văn Đế.
[14] Chữ “thứ” được viết dưới dạng dị thể .
[15] Lục đạo là “Thiên đạo”, “Nhân đạo”, “A tu la đạo”, “Súc sinh đạo”, “Ngạ quỉ (quỉ đói) đạo”, “Địa ngục đạo”. Ba đạo đầu là “tam thiện đạo”, ba đạo sau là “tam ác đạo”, cũng gọi là “tam đồ” (súc sinh, ngạ quỉ, địa ngục).
[16] Một số báo cáo trình bày trong Hội nghị Thông báo Khảo cổ học đọc nhầm là “Vi” 微. Tuy nhiên, qua quan sát trên văn bia và thác bản, có thể nhận thấy đây là chữ Huy 徽.
[17] Chữ “khởi” được viết dưới dạng dị thể .
[18]「交阯郡 龍編 武寧 望海 句漏(後略)」(『南齊書』卷十四、志六、州郡上、交州)。「封慧度龍編縣侯食邑千户」(『宋書』卷九十二、列傳五十二、杜慧度)。Ngoài ra, địa danh Long Biên cũng xuất hiện nhiều lần trong sách Tấn thư và Tùy thư (đặc biệt là sự kiện Lý Phật Tử sai Lý Đại Quyền giữ thành Long Biên để chống quân Tùy). Tuy nhiên, do cả hai bộ chính sử này đều được tổ chức biên soạn dưới thời Đường nên ở đây chúng tôi không sử dụng chúng làm căn cứ để chứng minh cho sự tồn tại của địa danh “Long Biên” trước thời Đường.
[19] Tại Quảng Tây (Trung Quốc) trước đây đã phát hiện được một viên gạch có chữ “Vĩnh Hòa lục niên thái tuế Canh Tuất Mạc Long Biên hầu chi mộ” 永和六年太歲庚戌莫龍编侯之墓. Quan điểm phố biến hiện nay coi chức “Long Biên hầu” này chỉ địa danh “Long Biên” của Giao Chỉ thời Đông Tấn. Xin tham khảo thêm Hán Ngụy Nam Bắc triều mộ chí vựng biên, NXB Thiên Tân, 1993, tr.19.
[20] Với hai chữ “sắc sứ” 敕使 trong minh văn Giao châu, có thể có hai cách đọc. Thứ nhất là đọc “sắc sứ” như một danh từ (chỉ sứ giả cầm theo sắc chỉ của nhà vua, giống minh văn Thanh châu) hoặc đọc tách “sắc, sử”, chữ “sứ/sử” ở đây đóng vai trò như một động từ nghĩa là “sai”, ghép với đoạn phía sau “tống xá lợi ư thử khởi tháp”, nghĩa là “sắc sai Tuệ Nhã, Khương Huy đưa xá lợi đến đây dựng tháp”. Chúng tôi nghiêng về cách đọc thứ hai.
[21] 「其散官文騎尉為承議郎、屯騎尉為通直郎、雲騎尉為登仕郎、羽騎尉為將仕郎」(『舊唐書』卷四十二、職官一)。
[22] Xung quanh vấn đề này, một số nhà nghiên cứu cũng đặt vấn đề nghiên cứu từ góc độ chữ húy. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, trên văn bia không tồn tại chữ húy. Hơn nữa, nếu văn bia được chế tác theo các mẫu văn bia trước đó thì việc rập khuôn chữ húy có thể xảy ra, do đó chữ húy không phải là yếu tố quyết định để khẳng định niên đại của văn bia.
[23] Lê Mạnh Thát (1999), chú thích 4 truyện Thiền sư Pháp Hiền, tr.502.
[24] Theo Tùy thư, cuộc khởi nghĩa của Lý Phật Tử nổ ra vào tháng 12 năm 602 (Nhân Thọ 2). 「交州人李佛子舉兵反,遣行軍總管劉方討平之」(『隋書』卷二、高祖下、仁壽二年十二月癸巳条)。
[25] Về vấn đề này, xin tham khảo thêm Đào Duy Anh (1963).
[26] 「熙以州縣多有同名者、於是奏改安州為欽州、黃州為峯州、利州為智州、德州為驩州、東寧為融州、上皆從之」(『隋書』卷五十六、令狐熙傳)。
[27] 「仁壽元年遷授使持節總管吉江虔饒袁撫七州諸軍事洪州刺史(中略)時桂部侵擾[交]川擁據、詔授公交州道行軍總管、方弘九伐、遽縶千里、遘疾薨于州治」(蘇孝慈墓誌)。Thác bản có thể tham khảo trong sách Bắc đồ (q.9. tr.159).
[28] 「六月癸丑、洪州總管蘇孝慈卒」(『隋書』卷二、高祖下、仁壽元年六月癸丑条)。
[29] Lịch đại tam bảo ký 歷代三寶紀: sách do Phiên kinh học sĩ thời Tùy là Phí Trường Phòng 費長房 dâng lên năm Khai Hoàng 17 đời Tùy.
[30]「龍編古州郷法雲寺比尼多流支(中略)陳朝大建六年壬午初至長安會周武帝破滅佛法、欲往于鄴、(中略)師辭去卓錫廣州制止寺、大抵六年、譯得象頭報業差別等経、迨周大祥象二年庚子三月、來于我土此寺居焉復譯出摠持経一卷」(『禅苑集英』比尼多流支)。
[31] Nguyễn Lang (2000), Chương V: Thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi, tr. 112.
[32] Thiền uyển tập anh bản 1715 chép ngôi chùa của Pháp Hiền là chùa “Chúng Thiền”, nhưng chúng tôi cũng tán thành quan điểm của Nguyễn Quang Hà (2012) cho rằng đây chỉ là chép nhầm từ chùa “Thiền Chúng”.
[33]「時人嚮風來、學者不可勝數、剏寺授徒居僧常三百餘人、南方禅宗於此為盛」(『禅苑集英』法賢)。
[34] 「法賢闍維収五色舎利起塔時開皇十四年甲寅也」(『『禅苑集英』比尼多流支)。
[35] 「古州法雲寺僧上言寺中放光數道隨光掘之得石函一函内有銀函銀函内有金函金函内有瑠璃瓶瓶中有舍利」(『越史略』卷中、天成七年四月甲戌条)。
[36] Các thông tin liên quan đến Nhạn Tháp được chúng tôi khai thác từ tư liệu khảo cổ lưu trữ tại Thư viện Viện Khảo cổ. Xung quanh các hiện vật khai quật được tại Nhạn Tháp, xin tham khảo thêm Trần Anh Dũng (1987), Lê Thị Liên (2003). Hòm xá lợi của Nhạn Tháp hiện nay đang được lưu giữ trong kho của Bảo tàng Nghệ An với số liệu BTNA 2734/KL785. Chúng tôi đã khảo sát và chụp ảnh hòm xá lợi và các hiện vật của Nhạn Tháp trong chuyến điều tra ngày 4 tháng 9 năm 2012. Do bản quyền tư liệu thuộc về Bảo tàng Nghệ An, chúng tôi không đăng hình ảnh trong bài viết này.
[37]「舎利有其三種、一是骨舎利、其色白也、二是髪舎利、其色黒也、三是肉舎利、其色赤也」(『法苑珠林』卷四十)。
[38] Về An Nam dưới thời Trương Chu, xin tham khảo Phạm Lê Huy (2009, 2012).
[39] 「東究山、一名東皐山、在嘉定縣、唐刺史高聯建塔于其上」(『安南志』卷一、山川)。
[40] 「髙駢既定交州、遂於富良江上橋市之左、立石塔巋然猶存」(『陳剛中詩集』卷二)。
[41] Tấm bia có niên đại thời Lương này đã được học giả Vũ Tuân Sán (1966) đề cập trong bài viết nghiên cứu về hoàng thành Thăng Long, nhưng do bia đã thất lạc nên thông tin chưa được kiểm chứng.

[42] Về cuộc thảo luận xung quanh di chỉ Lũng Khê và các thành cổ Luy Lâu – Long Biên, xin tham khảo Nishimura (2011).

Ghi chú: Bài viết được đăng trên Tạp chí Khảo cổ học, số 1, 2013 (『考古学』雑誌〈越南〉、第1号、2013年). Do một số vấn đề về kỹ thuật, bài viết đăng trên Tạp chí là phiên bản cũ của bài viết, có chứa một số lỗi nhập liệu và thiếu phần mộ chí của Tô Hiếu Từ. Vì vậy, tác giả đăng tải bài viết chính xác ở đây để đính chính và bổ sung những phần còn thiếu sót.

Góp phần nhận thức minh văn thời Lưu Tống phát hiện tại nghè thôn Thanh Hoài (Thuận Thành, Bắc Ninh)

Tư liệu từ nguồn của Pham Lê Huy:
Tham luận Hội nghị Thông báo Hán Nôm 2014
 
Phạm Lê Huy
Khoa Đông phương học, Trường ĐHKHXH&NV
Mở đầu
          Tháng 10 năm 2013, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các cán bộ của Bảo tàng Bắc Ninh đã phát hiện một tấm bia cổ tại Nghè thôn Thanh Hoài (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Tấm bia bao gồm 2 bài minh khác nhau. Bài minh ở mặt trước, theo khảo sát của ThS. Bằng có niên đại năm Kiến Hưng thứ 2, nhiều khả năng là năm 314. Tuy nhiên, nhiều chữ trong bài minh mặt trước này đã bị mờ nên không có nhiều thông tin. Bài minh ở mặt sau có ghi niên đại năm Nguyên Gia thứ 27 (450) thời Lưu Tống (Tống Nam Triều).
          Liên quan đến tấm bia này, ThS. Nguyễn Phạm Bằng và một số học giả khác đã có những khảo cứu hết sức quan trọng về niên đại và nội dung[1]. Trong bài viết này, trên cơ sở kế thừa các thành tựu nghiên cứu đó, chúng tôi xin được bổ sung một số ý kiến góp phần nhận thức sâu hơn về minh văn ở mặt sau tấm bia.
1. Nhận thức về cách ghi niên đại trong minh văn
          Trong phần minh văn ở mặt sau bia, chúng ta có thể đọc được hai niên đại. Niên đại thứ nhất là “Nguyên Gia chấp thất niên thập nguyệt thập nhất nhật” 元嘉廿七年十月十一日. Niên đại thứ hai là “Tống Nguyên Gia chấp thất niên, thái tuế Canh Dần thập nhị nguyệt Bính Thìn sóc chấp ngũ nhật Canh Thìn” 宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰.
a. Về niên đại ngày 25 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27
          Xung quanh niên đại thứ hai, một số học giả đề xuất cách dịch như sau:
Nguyên Gia năm thứ 27, sao Thái Tuế đóng tại Canh Dần, trước ngày 25 (ngày Canh Thìn) tháng 12 (tháng Bính Thìn)
          Trong cách dịch này, chữ “sóc” được dịch là “trước”, can chi “Bính Thìn” được ghép với tháng 12.
          Tuy nhiên, chữ “sóc” trong trường hợp này phải hiểu là ngày mùng một. Can chi “Bính Thìn” cần được ghép với chữ “sóc”. “Bính Thìn sóc” tức là “ngày mùng một của tháng 12 là ngày Bính Thìn”.
          Đây là cách ghi ngày tháng khá phổ biến trong các tư liệu Trung Quốc, đặc biệt là tư liệu chính sử. Cách ghi này thường có cấu trúc “X niên, Y nguyệt, [Can chi A] sóc, [Can chi B] nhật”. Việc ghi thêm can chi của ngày sóc (Can chi A) nhằm giúp người đọc có thể tính toán ngày Can chi B là ngày thứ bao nhiêu trong tháng.
          Có thể kiểm chứng cách đọc trên qua Bảng tính can chi (Bảng 1) và lịch thời bấy giờ. Theo Bảng 1, chúng ta thấy ngày Bính Thìn ở ô số 53. Nếu lấy đó là ngày mùng 1 thì 24 ngày sau, tức ngày 25 đúng là ngày Canh Thìn (ô số 17) – hoàn toàn trùng hợp với ghi chép trong văn bia. Ngoài ra, theo cơ sở dữ liệu lịch của Học viện Phật giáo Pháp Cổ (Đài Loan)[2], trong lịch Nguyên Gia thời Lưu Tống, ngày mùng 1 tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27 đúng là ngày Bính Thìn.
          Như vậy, đoạn ghi chép ngày tháng này cần được dịch chính xác thành:
Năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, …
Bảng 1: Bảng tính Can Chi
1 (Giáp Tý)
甲子
2 (Ất Sửu)
乙丑
3 (Bính Dần)
丙寅
4 (Đinh Mão)
丁卯
5 (Mậu Thìn)
戊辰
6 (Kỷ Tị)
己巳
7 (Canh Ngọ)
庚午
8 (Tân Mùi)
辛未
9 (Nhâm Thân)
壬申
10 (Quí Dậu)
癸酉
11 (Giáp Tuất)
甲戌
12 (Ất Hợi)
乙亥
13 (Bính Tý)
丙子
14 (Đinh Sửu)
丁丑
15 (Mậu Dần)
戊寅
16 (Kỷ Mão)
己卯
17 (Canh Thìn)
庚辰
18 (Tân Tị)
辛巳
19 (Nhâm Ngọ)
壬午
20 (Quí Mùi)
癸未
21 (Giáp Thân)
甲申
22 (Ất Dậu)
乙酉
23 (Bính Tuất)
丙戌
24 (Đinh Hợi)
丁亥
25 (Mậu Tý)
戊子
26 (Kỷ Sửu)
己丑
27 (Canh Dần)
庚寅
28 (Tân Mão)
辛卯
29 (Nhâm Thìn)
壬辰
30 (Quí Tị)
癸巳
31 (Giáp Ngọ)
甲午
32 (Ất Mùi)
乙未
33 (Bính Thân)
丙申
34 (Đinh Dậu)
丁酉
35 (Mậu Tuất)
戊戌
36 (Kỷ Hợi)
己亥
37 (Canh Tý)
庚子
38 (Tân Sửu)
辛丑
39 (Nhâm Dần)
壬寅
40 (Quí Mão)
癸卯
41 (Giáp Thìn)
甲辰
42 (Ất Tị)
乙巳
43 (Bính Ngọ)
丙午
44 (Đinh Mùi)
丁未
45 (Mậu Thân)
戊申
46 (Kỷ Dậu)
己酉
47 (Canh Tuất)
庚戌
48 (Tân Hợi)
辛亥
49 (Nhâm Tý)
壬子
50 (Quí Sửu)
癸丑
51 (Giáp Dần)
甲寅
52 (Ất Mão)
乙卯
53 (Bính Thìn)
丙辰
54 (Đinh Tị)
丁巳
55 (Mậu Ngọ)
戊午
56 (Kỷ Mùi)
己未
57 (Canh Thân)
庚申
58 (Tân Dậu)
辛酉
59 (Nhâm Tuất)
壬戌
60 (Kỷ Hợi)
癸亥
 b. Về niên đại ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia 27
          Liên quan đến dòng niên đại thứ nhất, một số học giả đưa ra cách dịch như sau:
元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
Vào ngày 11 tháng 10 niên hiệu Nguyên Gia năm thứ 27), sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia (?)
          Tuy nhiên, đoạn “tỉnh sự vương pháp linh tuyên” dịch là “sau khi xem xét sự tình, dựa theo điển lệ thờ cúng của quốc gia” dường như có phần hơi khiên cưỡng. Bản thân các tác giả cũng đặt dấu chấm hỏi cho đoạn này.
          Quan sát văn bia, chúng ta thấy rằng: đoạn văn trên không được viết nối với dòng trước mà được viết thành một dòng riêng, căn vào lề dưới của bia. Điều này đặt ra nghi vấn, phải chăng đây là một dòng niên đại chú thích cho đoạn văn phía trước?
          Đoạn văn phía trước là phần đầu của minh văn, mở đầu bằng chữ “giáo”. Chữ “giáo” này chắc chắn là chữ mở đầu của bài minh, phân lập với nội dung “cố Tướng quân Giao Châu mục liệt hầu Đào Hoàng” sau đó.
          Chúng tôi muốn lưu ý rằng từ thời Hán đến thời Tấn, “giáo” là một hình thức mệnh lệnh, tương tự như “sắc” 敕 hay “phù” 符, của tầng lớp vương hầu. Sách Văn tâm điêu long được biên soạn vào cuối thế kỷ V cho biết “giáo tức là hiệu. Nói ra mà dân theo. Ban bố ngũ giáo. Vì vậy, vương hầu xưng giáo”[3]. Sách Tư trị thông giám (Q.53) phần Hán kỷ cũng chú thích “mệnh lệnh của quận thú đưa ra gọi là giáo”[4]. Trong các sách Tấn thư hay Bắc sử cũng ghi lại rất nhiều trường hợp Thứ sử các châu ban bố mệnh lệnh, gọi là “hạ giáo (viết)” 下教曰.
          Như vậy, có thể suy đoán phần đầu bài minh có kết cấu như bên dưới, trong đó chữ “giáo” mở đầu cho mệnh lệnh, chữ “tuyên” là tuyên đọc văn bản mệnh lệnh đó:
教 ………………………………………………………………………………………………………….
………………………………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………………………………
                                                                     元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
            “Tỉnh sự” (trong trường hợp này cần đọc là “Sảnh sự”) vốn là tên một chức quan thuộc cấp của Thứ sử. Tấn thư cho biết vào thời Tấn, dưới Thứ sử có đặt các chức “Công tào”, Sảnh sự”[5]. Nếu hiểu “Sảnh sự” là một chức quan, cần xem “Vương Pháp Linh” là một tên riêng.
          Trên cơ sở những suy luận nói trên, chúng tôi đề xuất cách dịch đoạn văn bản này như sau:
Lệnh (giáo) rằng ….
(trích dẫn nội dung mệnh lệnh – giáo)
Ngày 11 tháng 10 năm Nguyên Gia thứ 27, Sảnh sự là Vương Pháp Linh tuyên đọc.
          Vấn đề tiếp theo là Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh của ai? Nói cách khác, ai là người ban “giáo” (mệnh lệnh)? Điều này sẽ được giải đáp khi chúng ta tìm hiểu nửa sau của bài minh.
2. Lan Lăng Tiêu sứ quân – Tiêu Cảnh Hiến và Tây tào thư tá Đào Chân Chi
a. Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân là ai?
          Các nghiên cứu trước đây chưa chú thích “Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân” là ai. Chúng tôi cho rằng nhân vật này chính là Tiêu Cảnh Hiến 蕭景憲 – người giữ chức Thứ sử Giao Châu vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27.
          Trong các sách Đại Việt sử lượcĐại Việt sử ký toàn thư hay An Nam chí lược không thấy nhắc đến Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Tuy nhiên, Tống thư (truyện Lâm Ấp quốc, truyện Tông Xác) cho biết năm Nguyên Gia thứ 22 (443), khi Thứ sử Giao Châu Đàn Hòa Chi đánh Lâm Ấp, Tiêu Cảnh Hiến khi đó là “Phủ Tư mã” được Đàn Hòa Chi phong làm phó tướng của Tông Xác. Tiêu Cảnh Hiến lãnh ấn tiên phong, tiến đánh thành Khu Túc. Vua Lâm Ấp là Phạm Dương Mại 范陽邁 sai đại soái Phạm Phù Long 范扶龍 giữ thành Khu Túc, ngoài ra còn cử quân tiếp viện theo hai đường thủy bộ đến tiếp ứng. Tiêu Cảnh Hiến đã phá “ngoại cứu” – tức quân cứu viện, tập trung quân tinh nhuệ đánh thành. Đến tháng 5, Tiêu Cảnh Hiến phá được thành, chém được Phạm Phù Long. Nhờ đó, quân Tống phá được Lâm Ấp, khiến vua Lâm Ấp Phạm Dương Mại phải bỏ trốn, cướp được rất nhiều vàng bạc, châu báu[6].
          Nhờ chiến công này, Tiêu Cảnh Hiến đã được vua Tống ban chiếu phong làm “Trí tiết, đốc Giao Châu, Quảng Châu chi Uất Lâm – Ninh Phố nhị quận chư quân sự, Kiến Uy Tướng quân, Giao Châu Thứ sử”[7]. Theo Tống thư phần Bản kỷ, Tiêu Cảnh Hiến được phong làm Giao Châu Thứ sử vào tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 23 (434)[8]. Việc phong chức này cũng nhằm rút Đàn Hòa Chi về nước để dẹp loạn ở Dự Chương. Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử đến tháng 5 năm Hiếu Kiến 2 (455) thì được thay bằng Hoàn Hành[9]. Tuy nhiên, đến tháng 12 cùng năm, Tiêu Cảnh Hiến được phong lại làm Giao Châu Thứ sử và tiếp tục giữ chức này đến tháng 8 năm Hiếu Kiến 3 (456)[10].
          Như vậy, thời điểm năm Nguyên Gia thứ 27 nằm trong khoảng thời gian Tiêu Cảnh Hiến làm Giao Châu Thứ sử lần thứ nhất (434-455). Tước “Kiến Uy Tướng quân” trên văn bia cũng trùng khớp với tước “Kiến Uy Tướng quân” của Tiêu Cảnh Hiến chép trong Tống thư.
          Chữ “Lan Lăng Tiêu” trong văn bia cũng phù hợp với Tiêu Cảnh Hiến. Lan Lăng Tiêu là tên gọi dòng họ Tiêu ở Lan Lăng (Giang Tô). Dòng họ Tiêu di cư đến đất Lan Lăng vào loạn Vĩnh Gia (đầu thế kỷ IV), sau đó phát triển thành một sĩ tộc có thế lực suốt từ thời Nam Bắc triều đến thời Đường. Vào thời điểm năm Nguyên Gia thứ 22, Tiêu Tư Thoại 蕭思話 – một danh tướng thuộc dòng họ Lan Lăng Tiêu đang rất được trọng dụng trong triều. Năm Nguyên Gia 30, Tiêu Tư Thoại thậm chí đã leo lên chức Thượng thư Tả bộ xạ trong triều. Do đó, việc Tiêu Cảnh Hiến được cất nhắc làm Giao Châu Thứ sử, ngoài chiến công ở Lâm Ấp, có thể một phần cũng nhờ sự nâng đỡ của Tiêu Tư Thoại. Thời điểm Tiêu Tư Thoại chết – năm Hiếu Kiến thứ 2[11], cũng chính là thời điểm Tiêu Cảnh Hiến bị rút chức Giao Châu Thứ sử để thay bằng Hoàn Hoành.
          Trên cơ sở xác định được nhân vật “Lan Lăng Tiêu sứ quân” là Tiêu Cảnh Hiến, chúng ta cũng hiểu sâu hơn về bài minh. Đoạn này có cấu trúc như sau:
惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
教如上
          Về mạch văn, mặc dù “minh giáo như thượng” là một câu, nhưng đến chữ “minh” lại được ngắt dòng, chữ “giáo” được chuyển sang đầu dòng sau. Tiêu Cảnh Hiến vào thời điểm này là Giao Châu Thứ sử, có đủ tư cách để đưa ra mệnh lệnh – “giáo”. Việc ngắt dòng trước chữ “giáo” là để thể hiện ý kính trọng đối với Tiêu Cảnh Hiến. “Minh giáo như thượng” do đó phải dịch là “mệnh lệnh như trên”, “như trên” ở đây chính là chỉ mệnh lệnh – giáo mà Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc ở phần đầu của minh văn.
b. Về nhân vật Đào Chân Chi:
          Trong các khảo sát trước đây, một số học giả đọc tên Tây tào thư tá là “Đào Chân”. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nhiều khả năng tên của viên quan này là “Đào Chân Chi”.
          Hiện nay, chưa xác định được một tư liệu nào khác liên quan đến nhân vật “Đào Chân” hay “Đào Chân Chi”. Tuy nhiên, nội dung minh văn cũng cung cấp cho chúng ta một số thông tin hữu ích.
          Thứ nhất, chức vụ của Đào Chân Chi là “Tây tào thư tá”. Vào thời Lưu Tống, “Tây tào thư tá” là một chức quan cấp dưới của Thứ sử, vốn bắt nguồn từ chức quan “Công tào thư tá” vốn có từ thời Hán. Như vậy, có thể suy đoán Đào Chân Chi là Tây tào thư tá – thuộc cấp của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến.
          Một điểm cần đáng lưu ý nữa là Đào Chân Chi cũng có họ Đào như Đào Hoàng. Mối liên hệ giữa Đào Chân Chi và Đào Hoàng cũng được đề cập trong minh văn. Trong bài minh có câu “Chân Chi bản chi mạt diệp”. Trong Thi thư (Đại nhã, Văn Vương) hay Tả thị (Trang) có cụm từ “bản chi bách thế”, trong đó “bản chi” (本枝 hoặc 本支) chỉ một dòng họ (bao gồm cả chi chính và chi phụ)[12]. Như vậy, câu “Chân Chi bản chi mạt diệp” có thể hiểu là “(Đào) Chân Chi là con cháu đời cuối (mạt diệp) của dòng họ (Đào)”. Đây là lý do Đào Chân Chi tham gia vào việc tu sửa miếu Đào Hoàng.
3. Minh văn và Ý nghĩa:
          Dựa trên kết quả nghiên cứu của ThS. Nguyễn Phạm Bằng và các học giả đi trước, kết hợp với việc quan sát văn bia và thác bản, chúng tôi xin được bổ sung, đính chính một số chữ (in đậm) và tái lập nội dung minh văn như sau:
Nguyên văn chữ Hán
1        教故将軍交州牧烈侯陶璜□□□粹稟德淵□□□□□□
2        愛在民每覽其銘記意實嘉焉□□廟堂彫毀示有基陛既□
3        祀所建寧可頓□宜加修繕務存褒□使准先舊式時就營緝
4                        元嘉廿七年十月十一日省事王法齡宣
5        惟宋元嘉廿七年太歲庚寅十二月丙辰溯廿五日庚辰建威
6        將軍蘭陵蕭使君遠存高範崇勵種德明
7        教如上西曹書佐陶珎之監履修復庶神□有憑珎之本枝末
8     葉□戶□搆誠感聿修斯記垂遠矣
          Trên cơ sở kết quả khảo sát ở phần trên, chúng tôi xin được đưa ra bản dịch như sau:
(Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến) dạy (giáo) rằng: Cố Tướng quân Giao Châu mục, liệt hầu Đào Hoàng… thuần nhất, nguồn đức… , (để) ơn trong dân. Mỗi lần xem bia, ý thực tốt đẹp… Miếu đường hủy hoại, chỉ thấy nền bậc. Đã dựng cúng tế, thà rằng… Phải cho tu sửa, việc để… Lệnh theo phép cũ, thời nên dựng lại.
            Năm Nguyên Gia thứ 27, tháng 10, ngày 11. Sảnh sự Vương Pháp Linh tuyên đọc.
Ấy là năm Nguyên Gia thứ 27, thái tuế ở Canh Dần, tháng 12 có ngày sóc Bính Thìn, ngày 25 tức ngày Canh Thìn, Kiến Uy Tướng quân, Lan Lăng Tiêu sứ quân (Tiêu Cảnh Hiến) biết đức đã lâu, muốn khuyên mầm đức, dạy rõ như trên. Tây tào thư tá Đào Chân Chi giám sát tu sửa. Các thần chứng giám. Chân Chi là đời cuối trong họ,…, lòng thành tu sửa, bài ký để lại.
          Có thể tóm lược ý nghĩa của văn bia như sau:
          Ngày 10 tháng 11 năm Nguyên Gia thứ 27 (450), quan Sảnh sự của Giao Châu là Vương Pháp Linh tuyên đọc mệnh lệnh (giáo) của Giao Châu Thứ sử Tiêu Cảnh Hiến. Theo đó, Tiêu Cảnh Hiến ca ngợi công lao của cố Tướng quân Giao Châu Thứ sử Đào Hoàng. Mỗi lần đọc bài minh ký (ở mặt trước bia), Tiêu Cảnh Hiến đều lấy làm cảm kích. Tuy nhiên, miếu đường của Đào Hoàng đã bị hư hại, chỉ còn nền bậc. Tiêu Cảnh Hiến lệnh cho dựng lại theo phép cũ, để tuyên dương công trạng của Đào Hoàng.
          Đến ngày 25 (Canh Thìn) tháng 12 năm Nguyên Gia thứ 27, Tây tào thư tá Đào Chân Chi – thuộc cấp của Tiêu Cảnh Hiến trên cơ sở mệnh lệnh của họ Tiêu giám sát việc tu sửa. Trước sự chứng giám của các thần, Tào Chân Chi vốn là người trong họ Đào Hoàng, cho làm bài ký để lưu lại cho đời sau.

[1] Nguyễn Phạm Bằng, Văn bia cổ nhất Việt Nam mới phát hiện và vấn đề niên đại của nó, Thông báo Hán Nôm học 2013. Đồng tác giả,Phát hiện văn bia cổ nhất Việt Nam, Chuyên san KHXH&NV Nghệ An, số 7/2014.
[2] http://authority.ddbc.edu.tw/
[3] 「教者效也、言出而民效也、契敷五教、故王侯稱教」(『文心雕龍』卷四)。
[4] 「郡守所出命曰教」(『資治通鑑』卷五十三、漢紀).
[5]「案漢武初置十三州、刺史各一人(中略)歷漢東京及魏晉、其官不替、屬官有功曹、都官從事、諸曹從事、部郡從事、主簿、錄事、門下書佐、省事 、記室書佐、諸曹書佐守從事、武猛從事等員」(『晉書』卷二十四、職官志)。
[6]「景憲等乃進軍向 區粟城、陽邁遣大帥范扶龍大戍區粟、又遣水步軍徑至、景憲破其外救、盡銳攻城,五月、剋之、斬扶龍大首、獲金銀雜物不可勝計」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[7]「上嘉將帥之功、詔曰、「(前略)龍驤司馬蕭景憲協贊軍首、勤捷顯著、總勒前驅、剋殄巢穴、必能威服荒夷、撫懷民庶、可持節、督交州廣州之鬱林寧浦二郡諸軍事、建威將軍、交州刺史」(『宋書』卷九十七、林邑國)。
[8] 「十二月丁酉、以龍驤司馬蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷五、元嘉二十三年十二月丁酉条)。
[9]「五月戊戌、以湘州刺史劉遵考為尚書右僕射、前軍司馬垣閎為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年五月戊戌条)。
[10]「十二月癸亥、以前交州刺史蕭景憲為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建二年十二月癸亥)。「八月戊戌、以北中郎諮議參軍費淹為交州刺史」(『宋書』卷六、孝建三年、八月戊戌条)。
[11] 「戊戌,鎮西將軍蕭思話卒」(『宋書』卷六、孝建二年七月条).
[12] Tham khảo Đại Hán Hòa từ điển, Q.6, tr.29.

Cổ Luỹ – Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên

Tư liệu từ nguồn: http://dzunglam.blogspot.com/2013/07/co-luy-phu-tho-trong-boi-canh-khao-co_18.html

Lâm Thị Mỹ Dung
(ĐH KHXH&NV- Hà Nội)
Nguyễn Anh Thư
(Viện Khảo cổ học)
(Bài đã in ở Tạp chí Khảo cổ học, 2009, số 1 (157), tr.45-62, Nxb KHXH, Hà Nội)
 
Giới thiệu
 
Di tích Cổ Luỹ (tức Cổ Luỹ-Phú Thọ) nằm ở bờ phải sông Trà Khúc gần ngay cửa đổ ra biển, đối diện với thành Châu Sa. Di tích đã được khảo sát vào đầu thế kỷ 20 (H. Parmentier), thám sát năm 1998 (Đoàn Ngọc Khôi, Bảo tàng Quảng Ngãi) và khai quật năm 2004 (Lâm Mỹ Dung).
Kết quả cho thấy đây là một di tích thành luỹ Champa sớm được xây dựng trên nền tảng của một khu cư trú Champa sớm. Tầng văn hoá sớm có niên đại từ cuối TK 1 CN, tính chất văn hoá giống với lớp văn hoá sớm của tầng văn hoá dưới) ở thành Trà Kiệu (Quảng Nam) và lớp văn hoá sớm nhất ở Thành Hồ (Phú Yên). Dấu tích kiến trúc gạch, ngói và đầu ngói ống được tìm thấy ở tầng văn hoá muộn có niên đại từ thế kỷ 3 CN.
Như vậy thành Cổ Luỹ (Sông Trà Khúc, Quảng Ngãi) cùng với Thành Lồi (Sông Hương- Huế); Thành Trà Kiệu (Sông Thu Bồn, Quảng Nam), Thành Hồ (Sông Đà Rằng, Phú Yên),  và có thể còn một số địa điểm nữa ở miền Trung chưa được phát hiện hay được nghiên cứu kỹ, tạo thành một chuỗi thành cổ Champa sớm – trung tâm của những dạng nhà nước hay tiểu quốc Champa thiên niên kỷ I CN.     
 
1. Diện mạo và tính chất của Cổ Luỹ – Phú Thọ từ kết quả nghiên cứu thực địa
1.1. Di tích
Địa điểm Cổ Lũy – Phú Thọ thuộc địa bàn xã Nghĩa Phú, huyện Tư  Nghĩa, Quảng Ngãi có tọa độ 15o07’840′‘  vĩ độ bắc và 108o53’116′‘ kinh độ đông. Những dấu tích của phức họp di tích phân bố trên những núi đất cao nằm ở ngã ba sông Trà Khúc và sông Phú Thọ phần đổ ra biển (Cửa Đại). Parmentier đã có một thông báo ngắn về địa điểm này từ những năm đầu của thế kỷ XX. Theo đó phía trước núi Bàn Cờ đã phát hiện 01 lanh tô  trên có hình tượng Visnu (tương tự như lanh tô ở Mỹ Sơn E1); 01 tượng bò Nandin. Parmentier cũng đã khảo sát phế tích thành Cổ Luỹ và theo ông đây là tiền đồn của thành Châu Sa (Parmentier 1909: 234 – 235). Di tích được bảo tàng Quảng Ngãi đào thám sát năm 1998. Theo người phụ trách di tích có hai tầng văn hoá. Tầng trên chứa kiến trúc Champa niên đại từ thế kỷ III đến thế kỷ VII Công nguyên. Tầng dưới chứa vết tích cư trú của cư dân văn hoá Sa Huỳnh Sơ kỳ Sắt (Đoàn Ngọc Khôi 1998).
Di tích được chúng tôi khai quật năm 2004 với tổng diện tích 50m2. Phần đất phía trên ở nhiều chỗ của di tích đã bị xúc ủi năm 1998. Do vậy, nhiều vết tích kiến trúc cổ đã bị phá huỷ và chỉ còn lại dấu vết móng, tường gạch. Nhìn chung tầng văn hoá dày trung bình từ 1.40-1.50m và thuộc hai giai đoạn văn hoá sớm muộn phát triển liên tục (Lâm Mỹ Dung và Đặng Hồng Sơn 2005).
1.2. Cấu tạo địa tầng.
Lớp đất mặt dày trung bình từ 5-7cm
Tầng văn hoá I (trên): Gồm các lớp đào từ 1-8, đất laterite lẫn đá felspad phong hoá thành một loại bột màu trắng. Tầng này chứa vết tích của hai thời kỳ kiến trúc sớm và muộn. Thời kỳ muộn gồm các di tích ký hiệu F (Feature) từ 1 đến  5 và nằm trong các lớp đào từ 2 đến 5. Thời kỳ sớm gồm các di tích từ  9 đến 11. Những F có số từ  6- 8 không phải là vết tích kiến trúc mà chỉ là những đám đất sẫm màu hơn so với xung quanh. Niên đại của tầng này là từ thế kỷ III đến thế kỷ VII Công nguyên. Hiện vật có những nét tương đồng với hiện vật của một phần lớp văn hoá dưới và đầu đến giữa lớp văn hoá trên của Trà Kiệu (Quảng Nam)[1].
Tầng văn hoá II (dưới): Gồm các lớp đào từ 9 đến 14.
Giữa hai tầng này có 01 lớp đất bị cháy, nhiều than tro, dưới là một lớp cát mỏng, lớp này dày không đều và bắt đầu xuất lộ từ đáy lớp 7, mặt lớp 8 và nằm trọn trong lớp 9. Tầng văn hoá II KHÔNG có vết tích kiến trúc và bị những kiến trúc của tầng văn hóa I ăn xuống và cắt phá.
Tất cả những di tích thuộc thời kỳ kiến trúc sớm F 9 đến F 11 đều xuất lộ bên trên lớp đất cháy ngăn cách tầng văn hoá trên và dưới. Những di tích này đã cắt phá lớp đất cháy ở một số chỗ.
Niên đại của tầng văn hoá II có thể xác định từ cuối thế kỷ I, đầu thế kỷ II đến thế kỷ III Công nguyên, tương đương với nửa sau của lớp văn hoá dưới Trà Kiệu (Quảng Nam). Ở đây chưa thấy vết tích của giai đoạn văn hoá tương đương với lớp văn hoá sớm nhất của Trà Kiệu (lớp có ngói in dấu vải và bình hình trứng).
Do những hoạt động sống của cư dân, trong mỗi tầng đều có những vết tích cắt phá và xáo trộn cục bộ.
Sinh thổ: Đất laterit do đá granit phong hoá lẫn bột trắng do felspat phong hoá.
1.3. Cấu trúc của một số di tích xuất lộ trong hố 1
Tầng văn hoá trên CHỨA dấu tich kiến trúc gạch, ngói
Vết tích kiến trúc giai đoạn muộn: Bao gồm các dấu tích có ký hiệu từ F1 đến F5 xuất lộ sớm nhất từ lớp 5 và kéo dài đến lớp 2. Đây là những vết tích đống gạch, ngói chưa xác định được công năng chính xác, trong đó có 01 nền gạch nhỏ (F2) còn lại ba hàng gạch xếp dài hơn 1m theo hướng đông-tây, gạch không còn viên nào nguyên, F2 còn một phần trong vách AD. F 5 ở góc D hố cho thấy dấu vết của một dạng trụ cột được xử lý khá kỹ càng. Đầu ngói ống (đa phần là mặt hề) CHỈ XUẤT LỘ trong những lớp muộn này và chủ yếu tập trung ở lớp 2. Dựa vào vị trí (độ sâu) phân bố của các di tích và hiện vật trong các di tích, đặc biệt là đầu ngói mặt hề, chúng tôi cho rằng giai đoạn kiến trúc muộn này có niên đại từ sau thế kỷ V.
Vết tích kiến trúc giai đoạn sớm: Bao gồm các dấu tích có ký hiệu từ F 9 đến F11, bắt đầu xuất lộ từ lớp 6 và ăn xuống tầng dưới, thậm chí có di tích như F 9 đào sâu vào sinh thổ từ 30 đến 40cm. Tất cả những di tích này đều cắt phá lớp đất cháy giữa tầng văn hoá trên và dưới, tức là chúng xuất lộ sau thời gian hình thành lớp đất cháy ngăn giữa hai tầng. Đây là vết tích của những kiến trúc thuộc thời kỳ sớm của tầng trên, có niên đại từ thế kỷ IV trở đi. Trong giai đoạn sớm này KHÔNG thấy có đầu ngói ống.
Dựa trên quan sát và nhận diện các dấu vết kiến trúc phát hiện được trong hố khai quật cũng như những dấu vết gạch, cuội còn lại trên những khu đất cao của di tích hay ở những vách hố xúc ủi đất năm 1998, chúng tôi cho rằng những kiến trúc ở đây đều được xây bằng gạch theo kiểu chập khối đặc trưng của xây gạch Champa. Gạch, ngói và những vật liệu xây dựng, chi tiết trang trí bằng đất nung khá đa dạng và được sản xuất hàng loạt, một số được sản xuất với kỹ thuật cao, có hình dạng và trang trí đã được chuẩn hoá. Việc xử lý móng của một số công trình rất công phu chứng tỏ chúng thuộc dạng có kích thước khá lớn. Rất tiếc, một phần khá lớn của di tích đã bị xe ủi xúc đi và diện tích đã khai quật quá nhỏ do vậy không xác định được chức năng, tính chất và mối quan hệ của các dấu tích kiến trúc này.
Tầng văn hoá dưới KHÔNG chứa các vết tích kiến trúc
Trong tầng này có các di tích như cụm gốm, đám đất bị nung cháy hay bếp đào vào lòng đất. Đây là những vết tích cư trú sớm giai đoạn từ cuối thế kỷ I Công nguyên. Như vậy những kiến trúc muộn hơn và có thể cả thành lũy đã được xây dựng bên trên tầng cư trú sớm này.
1.4. Đặc điểm di vật
Đất nung
Nhóm vật liệu xây dựng và chi tiết trang trí kến trúc: Gạch, ngói, đầu ngói ống, chốt gốm, trang trí hình con tiện gốm… (của tầng văn hoá trên)
Gạch khá đa dạng về màu sắc, chất liệu, độ nung. Đa phần gạch có kích thước lớn (44x18x13) cm, dày trung bình của gạch từ 8cm – 13cm. Gạch thường có lõi màu xám, chi có một số ít gạch có màu sắc đồng nhất từ ngoài vào trong.
Ngói tìm thấy ở đây đều làm bằng khuôn nhưng khá khác nhau về chất liệu, màu sắc, trang trí và độ nung. Ngói có chất lượng từ xấu đến tốt, trên lưng ngói có những kiểu trang trí văn in ô vuông chuẩn, song cũng có kiểu trang trí khắc vạch tạo ô vuông (kiểu bắt chước in ô vuông), phổ biến là văn chải từ mịn đến thô. Một số ít ngói có màu xám và độ nung cao cứng gần như sành, trên lưng có in dấu ô vuông hay văn chải sâu, sắc cạnh.
Những đầu ngói ống còn nguyên cũng như mảnh vỡ thu được từ đào thám sát năm 1998, khai quật năm 2004 và khảo sát 2004 chỉ thuộc loại mặt người (mặt hề). Loại này đã tìm thấy ở những hố khai quật Trà Kiệu, Thành Hồ (Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004)và rất giống những đầu ngói mặt người ở Nanjing (Trung Hoa) (He Yunao 2003:37-39) có niên đại Lục Triều sớm (tức  khoảng từ đầu thế kỷ IV trở về sau).
 Hiện vật thuộc dòng gốm tinh mịn: Loại hình thuộc dòng gốm này có nhiều nét chung với gốm tinh mịn ở các địa điểm Champa cùng thời như Thành Hồ (Phú Yên), Trà Kiệu, Đồng Nà (Hội An, Quảng Nam) và chủ yếu là những đồ liên quan đến nghi lê, sinh hoạt văn hoá cộng đồng như kendi, bình, vò, cốc chân cao, đĩa, mảnh nắp có núm cầm… Đây là loại chất liệu sét lọc kỹ hơn, xương hầu như không thấy tạp chất và với các màu chủ đạo như trắng xám, vàng, đỏ gạch. Một số gốm xương có lõi xám. Gốm tinh mịn chủ yếu thuộc tầng văn hoá trên, ở tầng dưới đã thấy sự có mặt của loại gốm này nhưng rất ít và chủ yếu là mảnh vụn.
Đáng lưu ý là những nét tương đồng về màu sắc, chất liệu, kỹ thuật, độ nung giữa dòng gốm này với các loại vật liệu xây dựng, trang trí kiến trúc. Điều đó đưa tới giả thiết rằng chúng cùng đồng thời xuất hiện và được sản xuất để cùng đáp ứng những nhu cầu tinh thần, tâm linh và xã hội của cư dân từ khoảng thế kỷ II, III Công nguyên. Có lẽ kỹ thuật sản xuất gốm tinh mịn với các loại hình gốm kiến trúc, xây dựng và nghi lễ đã được cư dân Champa thu nhận và học tập từ bên ngoài (Trung Hoa Hán, miền Bắc Việt Nam và Ấn Độ). Cũng cần lưu ý rằng loại gốm này có nhiều nét tương đồng với gốm tìm thấy ở Luy Lâu và những địa điểm khác ở miền Bắc Việt Nam giai đoạn nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên. Gốm tinh mịn thường với màu đỏ nhạt hay xám trắng, một số có lõi xám giữa xương xuất hiện ở Đông Nam Á từ khoảng đầu Công nguyên. Nghiên cứu đồ gốm tìm thấy ở Angkor Borei M. Stark cũng nhận thấy quá trình diễn biến tương tự trong đồ gốm trước và từ Công nguyên ở di tích này nói riêng và những di tích cùng giai đoạn ở Căm-pu-chia nói chung (M.Stark 2000).
Hiện vật thuộc dòng gốm thô đa phần là đồ đun nấu, đồ đựng, mảnh bếp lò. Gốm thô được tìm thấy ở tất cả các lớp đào của hai tầng văn hoá nhưng tập trung chủ yếu trong các lớp đào từ 14 đến 9, số lượng mảnh giảm dần từ dưới lên trên. Tuy có những thay đổi nhất định trong loại hình nhưng gốm thô cho thấy diễn biến liên tục và nối tiếp về văn hoá giữa các giai đoạn. Gốm thô rất đa dạng về màu sắc và khá giống chất liệu gốm Sa Huỳnh và nếu chỉ nhìn một vài mảnh thì rất khó phân biệt. Tuy vậy, gốm thô ở đây có độ nung tốt hơn và pha ít cát hơn so với gốm mộ chum và cũng không hề thấy loại gốm “lòng rỗng” Sa Huỳnh điển hình.Một số kiểu dáng và cách trang trí cho thấy có những nét tương đồng với gốm lớp trên của địa điểm Suối Chình (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi). Những loại hình như bát hay đĩa bằng gốm thô tìm thấy trong tầng văn hoá dưới rất giống với gốm tầng văn hoá dưới Trà Kiệu (xem Yamagata M., 1998. Hình 6, 17, 22) hay trong hố khai quật Thành Hồ (xem Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004, ảnh trang 27. Phụ lục ảnh) Trong dòng gốm này, đáng chú ý là loại gốm xương đen, áo nâu đỏ mỏng dễ bong, dày nhưng nhẹ phân bố ở cả hai tầng văn hoá. Loại gốm như thế này cũng đã được phát hiện trong hố khai quật thành Trà Kiệu năm 2003.
Ngoài gốm thô và gốm tinh mịn bản địa hay bản địa sản xuất theo kỹ thuật từ bên ngoài, trong hố đào còn tìm thấy một số mảnh gốm sành Hán văn in.
Chất liệu khác
Trong tầng văn hoá dưới còn có hạt chuỗi thuỷ tinh loại Indo Pacific, hạt chuỗi bằng kim loại màu vàng, dọi se chỉ đất nung hình nón cụt, bàn mài…
1.5. Diễn biến văn hoá ở Cổ Luỹ – Phú Thọ
Trên nền sinh thổ loại đất lẫn đá Granit phong hóa (mặt bằng cách bề mặt giông đất hiện tại gần 2 m), có lẽ là thềm bậc cao của sông Trà Khúc, lớp cư dân của tầng văn hóa I – sớm đã tụ cư sinh sống ở đây từ khoảng đầu thế kỷ II  đến thế kỷ III Công nguyên. Trong đồ gốm mà họ sử dụng hàng ngaỳ có lưu giữ một số truyền thống của dòng gốm văn hóa Sa Huỳnh trước đó, một số đồ trang sức-tức các hạt chuỗi bằng vàng, thủy tinh, và bằng chất liệu chưa xác định được cũng vẫn thấy tiếp tục được sản xuất và sử dụng. Như vậy, cùng với ý tưởng và học thuyết, những kỹ thuật mới trong chế tác đồ gốm, gạch và ngói cũng được đưa vào và đã được cư dân tiếp thu rồi phát triển.
Cư dân sinh sống liên tục ở đây, vào khoảng thế kỷ IV, khi ảnh hưởng từ bên ngoài gia tăng, đặc biệt là ảnh hưởng của các tôn giáo từ Ấn Độ, họ đã xây dựng những công trình kiến trúc tâm linh đầu tiên, những công trình thời kỳ sớm có qui mô lớn, qui chỉnh, có những gia hạ của móng côt? dày gần một mét được xử lý kỹ càng ăn xuống sinh thổ (điển hình là F 9). Lớp kiến trúc này cũng ăn vào tầng văn hóa sớm và đều có niên đại muộn hơn so với lớp cháy ngăn cách giữa hai tầng. Lớp kiến trúc này bị phá hủy và sau đó một thời gian, xuất hiện những kiến trúc của thời kỳ muộn hơn mà vết tích chỉ cách bề mặt hiện nay từ 15cm-20cm. Lớp này bị phá hủy nghiêm trọng và hầu như tại khu vực của nơi khai quật không thấy những hiện vật có niên đại muộn hơn thế kỷ thứ VII. Lớp kiến trúc sớm xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV, lớp kiến trúc muộn được xây dựng sau đó chút ít, khoảng thế kỷ V. Đầu ngói ống trang trí mặt người gắn với kiến trúc giai đoạn muộn cho thấy những tương đồng với những hiện vật tương tự ở Trà Kiệu, Thành Hồ và ở Nam Kinh (Trung Quốc) có niên đại Lục Triều sớm giúp chúng ta định niên đại những vết tích kiến trúc thời kỳ muộn hơn này.
Kết quả khai quật Cổ Lũy lần này cho thấy không có đủ tài liệu để khẳng định sự tồn tại của hai lớp văn hoá Sa Huỳnh – Champa ở Cổ Lũy- Phú Thọ. Đây là di tích có niên đại từ sau Công nguyên và thuộc vào giai đoạn Chăm sớm, Champa[2].
Cổ Lũy là phức hợp di tích cư trú thành lũy đa chức năng thuộc giai đoạn sớm của văn minh Champa (hay giai đoạn hình thành những tiểu quốc sớm kiểu Lâm Ấp) và giai đoạn muộn hơn (giai đoạn Champa). Trong đó, thuộc giai đoạn sớm (tầng văn hoá dưới) là khu vực cư trú. Những kiến trúc xây gạch và lợp ngói (loại ngói muộn) và tưòng thành bắt đầu từ tầng văn hoá hai (từ sau thế kỷ IV).
Kết quả khai quật Cổ Luỹ cho thấy những công trình kiến trúc tâm linh, công cộng và thành của cư dân Champa thường được xây dựng trên cơ tầng cư trú sớm hơn. Hiện tượng này cũng không phải hiếm gặp ở Đông Nam Á, ví dụ như cuộc khai quật ở Angkor Borei cho thấy kiến trúc xây bằng gạch được xây dựng trên nền cư trú sớm (Stark Miriam 1998: 189-195).
2. Cổ Luỹ – Phú Thọ trong bối cảnh khảo cổ học Champa nửa đầu thiên niên kỷ I Công nguyên.
2.1. Bối cảnh Đông Nam Á và miền Trung Việt Nam từ thế kỷ I đến thế kỷ V Công nguyên.
Giai đoạn này ở Đông Nam Á chứng kiến những tiếp xúc văn hoá nhiều chiều dẫn đến những thay đổi mang tính chất bước ngoặt trong cơ cấu và quan hệ xã hội. Thời kỳ hình thành những cấu trúc xã hội có tính phức hợp cao, thời kỳ của sự mở rộng quan hệ buôn bán nội và liên vùng dẫn đến những biến chuyển văn hoá sâu sắc ở nhiều vùng của Đông Nam Á. Đặc biệt sự biến chuyển từ các dạng xã hội kiểu “lãnh địa” hay những dạng xã hội với mức độ phức hợp thấp tương đương “lãnh địa” sang những hình thức chính thể dạng nhà nước với mức độ phức hợp cao hơn.
Nhân tố tác động tới chọn lựa mô hình nhà nước sớm và nhà nước phát triển ở Đông Nam Á được xem xét từ nhiều góc độ. Từ biến đổi bối cảnh (Stark M) đến tác động bên ngoài (Coedes); Từ phát triển đô thị hoá và gia tăng hoạt động thương mại (Hall K) tác động đến sự phát triển của hình thức tổ chức chính trị mandala (Wolters) đến tìm hiểu vai trò của thương mại quốc tế với mô hình tương tác giữa các chính thể đồng dạng (Glover)  hay nhấn mạnh tác động của xu thế xa hoa, cầu kỳ gia tăng trong tầng lớp trên của xã hội phân tầng đối với quản lý và kiểm soát sản xuất nông nghiệp (Higham).
Nhìn chung, trong những nghiên cứu về nguyên nhân, động lực hình thành và biến đổi cơ cấu xã hội dẫn đến sự hình thành và phát triển của các loại hình nhà nước ở khu vực nổi lên hai nhóm ý kiến chính.
i. Nhóm ý kiến thứ nhất nhấn mạnh đến những yếu tố bên ngoài như thương mại trao đổi khoảng cách xa, tiếp xúc với Trung Hoa, Ấn Độ, truyền bá tư tưởng, tôn giáo …
ii. Nhóm ý kiến thứ hai tập trung vào những động lực bên trong như phát triển hay mức giới hạn của dân số, nhu cầu kiểm soát và điều tiết công việc trị thuỷ…
Vận dụng những quan điểm này trong nghiên cứu lịch sử cổ trung đại miền Trung Việt Nam chúng tôi nhận thấy rằng điểm căn bản trong những quan điểm “ngoại sinh hoá” là nhấn mạnh vai trò của tầng lớp tinh hoa của các xã hội bản địa và chính họ đã dung hoá những yếu tố (thuộc thượng tầng kiến trúc) của những nền văn minh Trung Hoa hay Ấn Độ. Khoảng đầu Công nguyên, một số vùng ở Đông Nam Á đã đạt tới trình độ phát triển cao cho phép những  thủ lĩnh địa phương có thể chọn lựa, cho dù phần nhiều không ý thức những hình thức của tôn giáo Ấn Độ, những loại thích hợp hay phù hợp với những tín ngưỡng và thực tiễn địa phương (Casparis và Mabbett 1992: 282).
Có thể thấy quá trình “ngoại sinh hoá” văn hoá Đông Nam Á từ đầu Công nguyên là quá trình tích hợp có chọn lọc (chỉ của) những yếu tố ngoại sinh phù hợp và đáp ứng nhu cầu tiến hoá của những xã hội bản địa. Quá trình này diễn ra không đồng đều và mỗi vùng đã có sự chọn lựa riêng dẫn đến những tác động văn hoá đa dạng. Từ diễn giải các nguồn tư liệu đã có, chúng tôi nhận ra rằng quá trình này (tiếp nhận những tư tưởng vũ trụ luận Ấn Độ) ở miền Trung Việt Nam khởi đầu không sớm lắm và với tốc độ vừa phải. Ở giai đoạn đầu quá trình này đã vấp phải những rào cản đáng kể từ những lực lượng ngoại sinh khác, đó là những yếu tố văn hoá Hán Trung Hoa.
Một vấn đề cần lưu ý là quá trình này phụ thuộc chặt chẽ vào các yếu tố nội sinh tức sự phát triển bên trong của Đông Nam Á, tức tính chủ động và tích cực trong việc tiếp thu và dung hoá các yếu tố ngoại sinh của các cộng đồng cư dân bản địa. Vai trò của quá trình được gọi là “Đông Nam Á hoá và Bản địa hoá” này dần được đánh giá đúng mức hơn. Trong khi những nghiên cứu trước đây thường tập trung đề cao các động lực ngoại sinh bất kể là kinh tế, chính trị hay tôn giáo… thì những nghiên cứu gần đây nhấn mạnh tầm quan trọng của nền tảng bản địa trong quá trình hình thành nhà nước ở các mức độ khác nhau. Chính nhu cầu phát triển nội tại “tới ngưỡng” là nguyên nhân chính để các xã hội Đông Nam Á lựa chọn những mô hình chính trị tương thích với điều kiện tự nhiên và xã hội của mình.
Đối với miền Trung Việt Nam, bên cạnh những điều kiện và yếu tố giống với khu vực còn có những đặc điểm riêng, đó là vai trò đáng kể của:
i.  Điều kiện tự nhiên và sinh thái (yếu tố biển, vị thế trung điểm của miền Trung Việt Nam trên tuyến hải thương quốc tế thời cổ trung đại…);
ii. Điều kiện xã hội (bờ biển thuận lợi đưa đón những luồng di chuyển dân cư, đặc biệt là của cư dân ngữ hệ Nam Đảo);
iii. Điều kiện chính trị – văn hoá (tiếp xúc giao lưu với Bắc ViệtNam, Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Nam Á…), trong đó nổi bật là sự kiện thuộc Hán và chống Hán của các nhóm cư dân vùng đất phía nam của quận Nhật Nam mà kết quả cuối cùng là cuộc khởi nghĩa của Khu Liên với sự thành lập của nhà nước Lâm Ấp.
 Những điều kiện chung và riêng kể trên đã có tác động ở các mức độ khác nhau vào việc chọn lựa mô hình chính trị phù hợp và hình thành nhà nước ở miền Trung Việt Nam.
2.2. Cổ Luỹ-Phú Thọ, Trà Kiệu, Thành Hồ[3]: Những trung tâm chính trị – kinh tế giai đoạn Champa sớm, Champa .
2.2.1. Những phát hiện khảo cổ giai đoạn nửa đầu thiên niên kỷ I sau Công nguyên ở lưu vực sông Thu Bồn.
Lưu vực sông Thu Bồn và đặc biệt là vùng hạ lưu là nơi tập trung với mật độ cao nhất những di tích có niên đại từ thế kỷ 5 TCN đến cuối thiên niên kỷ 1 CN.
Những địa điểm thuộc khung thời gian của bài nghiên cứu phân bố ở hai khu vực chính, đó là khu vực Hội An và khu vực Trà Kiệu. Trong bảng 2 dưới đây, chúng tôi khái lược những điạ điểm quan trọng nhất ở khu vực Trà Kiệu. Dựa vào nhiều nguồn tư liệu thành văn, vật chất và tham khảo những nghiên cứu khác, chúng tôi đồng thuận với ý kiến cho rằng địa bàn của Lâm Ấp chính là khu vực Trà Kiệu và vùng xung quanh Trà Kiệu.
Tại Trà Kiệu nhiều cuộc khai quật đã được tiến hành khá liên tục trong khoảng 10 năm. Đã có nhiều bài công bố kết quả nghiên cứu Trà Kiệu cả ở lĩnh vực thực địa lẫn lý thuyết. Tuy còn có một số tranh luận về niên đại, đặc biệt là niên đại khởi đầu, song nhìn chung tất cả các nhà nghiên cứu đều đồng thuận phân lập hai hay ba giai đoạn văn hoá chính diễn biến liên tục ở Trà Kiệu (xem những nghiên cứu của Nguyễn Kim Dung; I. Glover, M.Yamagata, Nguyễn Chiều, Lâm Thị Mỹ Dung…).
Theo giới hạn thời gian chủ đề nghiên cứu, trong bài này chúng tôi chỉ đề cập tới giai đoạn văn hoá văn hoá sớm ở Trà Kiệu (một phần trùng với giai đoạn nhà nước Lâm Ấp, thế kỷ II-IV). Giai đoạn này được nhận biết ở những ở những lớp văn hoá chuyển từ tầng I lên tầng II, chuyển từ ngói làm bằng khuôn lót vải sang ngói làm theo lối dải cuộn, chuyển từ gốm thô kiểu sơ sử sang nhiều loại hình và kỹ thuật trang trí kiểu gốm Hán, gạch xuất hiện, xuất hiện nhiều loại hình gốm mới (bình vò trang trí văn in ô vuông, kendi…), một số loại gốm sớm không thấy nữa như bình hình trứng, song một số loại gốm sinh hoạt dòng gốm thô vẫn được sản xuất và tiếp tục sử dụng. Chưa có những kiến trúc theo kiểu xây gạch hay đền tháp ở giai đoạn này. Giai đoạn Lâm Ấp này có liên hệ nguồn gốc với nền tảng sớm hơn. Nền tảng này được phản ánh qua lớp văn hoá Gò Cấm (địa điểm sát ngay Trà Kiệu), những lớp văn hoá sớm nhất của Trà Kiệu. Lâm Ấp chịu ảnh  hưởng bên ngoài mà đặc biệt là những ảnh hưởng từ phía Bắc. Những ảnh hưởng này tiếp tục từ giai đoạn trước, song đến thế kỷ III đã có những thay đổi căn bản về cả cường độ lẫn tính chất và quy mô.
 Những kết quả khai quật Trà Kiệu và những địa điểm khác ở Hội An chứng tỏ dòng chảy văn hoá khá liên tục từ thế kỷ V trước Công nguyên đến cuối thiên niên kỷ I Công nguyên và muộn hơn. Trong đó có những điểm mốc thời gian chuyển biến văn hoá nhanh mạnh. Đó là chuyển biến từ Sa Huỳnh sang Champa sớm ở mốc từ cuối thế kỷ I trước Công nguyên đến giữa thế kỷ I Công nguyên và thời điểm từ thế kỷ III đến thế kỷ IV. Sự thay đổi về chất từ thế kỷ III trở đi tương ứng với sự hình thành cơ cấu nhà nước và từ cuối thế kỷ III, đầu thế kỷ IV bắt đầu xuất hiện những kiến trúc bằng gạch và sử dụng ngói loại dải cuộn (ngói in dấu vải chỉ thấy ở giai đoạn sớm thế kỷ I-II sau Công nguyên và liên quan đến kiến trúc gỗ). Mốc tiếp theo đó là thế kỷ V-VI khi những tiểu vương quốc Champa sớm tích hợp vào vương quốc Champa (cũng vẫn theo mô hình liên minh) và hướng mạnh mẽ theo quỹ đạo văn minh Ấn Độ.
2.2.2. Thành Hồ
Di tích toà thành Chăm, nay thuộc địa phận thôn Định Thọ, xã Hoà Định Đông, huyện Phú Hoà, tỉnh Phú Yên. Địa điểm cách thị xã Tuy Hoà 12km, nằm bên bờ Bắc (tả ngạn) của sông Ba (Đà Rằng) và cách cửa sông Đà Rằng 15km về hướng Đông[4].
Vết tích cư trú sớm ở Thành Hồ
Tháng 7/2001, Bộ môn Khảo cổ học, Trường ĐHKHXH & NV, ĐHQG Hà Nội và Bảo tàng Phú Yên đã khảo sát tổng thể khu vực thành Hồ. Phía dưới Cột Cờ, trong khu vực nhà ông Nguyễn Sáu (ông Sáu Ất), thôn Định Thọ, phía bờ thành Tây, trên một khoảng đất rộng tương đối bằng phẳng, đoàn đã phát hiện một số mảnh gốm Chăm cổ, gốm thô, mềm và bở trong tầng đất sẫm màu. Qua quan sát diện phân bố của hiện vât, chất liệu và loại hình gốm  chúng tôi cho rằng đây là vết tích cư trú sớm của Thành Hồ, có thể tương đương với lớp dưới Trà Kiệu và lớp dưới Cổ Luỹ – Phú Thọ. Trên toàn bộ những di tích còn sót lại của luỹ thành còn tìm thấy nhiều gạch nguyên và vỡ, ngói, đầu ngói ống hình mặt hề, loại đầu ngói đã  được phát hiện nhiều ở lớp trên Trà Kiệu và lớp trên Cổ Luỹ-Phú Thọ.Tại địa điểm có tên gọi Thổ Đạo hay Hưng Đạo, bờ thành Đông, đoàn đã tìm thấy nhiều hiện vật gốm, song chưa phát hiện thấy tầng văn hoá. Nhóm gốm có nhiều loại hình như bình, vòi Kendi, cà ràng… một số bình vò có thân trang trí văn in ô vuông, sóng nước, hồi văn, xương cá… những hiện vật gốm này khá giống các loại hình gốm Chămpa ở tầng văn hoá trên của di chỉ Trà Kiệu, Cẩm Phô (Hộ An, Quảng Nam) và một số di tích Chămpa khác ở Quảng Nam, Quảng Ngãi… Trong sưu tập này còn có mảnh Kendi bán sứ, mảnh vò bán sứ Lục Triều… Nhìn chung bộ sưu tập này nằm trong khoảng thời gian từ thế kỷ III đến thế kỷ V CN.
Kết quả khai quật năm 2003 của Viện khảo cổ học
Hai hố khai quật đã được mở ra. Hố H1 nằm về phía Tây, khu đất cao của thành; hố H2 nằm gần về phía Đông, cả hai hố đều nằm trong khu vực dân cư và thuộc vùng đất được coi là thành Nội (Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004).
Các vết tích kiến trúc phát hiện được đều được xây bằng gạch theo kiểu xếp chập khối, không có chất kết dính. Vật liệu xây dựng là gạch, thường có màu đỏ, không trang trí hoa văn, đáng chú ý là sự tận dụng và tái sử dụng gạch để xây dựng. Bình đồ của các công trình này đều có hình tứ giác. Theo những người khai quật niên đại của những công trình này thuộc thế kỷ V đến VII SCN.
Di vật: Nhóm di vật liên quan đến kiến trúc như gạch, ngói âm dương, đầu ngói ống mặt hề, sư tử, kala, hoa sen, chi tiết trang trí kiến trúc con tiện gốm, đinh/chốt gốm… có nhiều nét tương đồng với hiện vật tìm thấy ở Trà Kiệu, Đồng Dương (Quảng Nam), Cổ Luỹ – Phú Thọ… và niên đại của nhóm hiện vật này thuộc thế kỷ V đến thế kỷ VII.
Đáng chú ý là nhóm đồ gốm, gốm tìm thấy tại đây theo báo cáo khai quật cũng thuộc về hai loại chất liệu. Loại thô, pha cát, nung không cao và hình dáng kế thừa từ đồ gốm văn hoá Sa Huỳnh và loại gốm có xương mỏng mịn, độ nung cao, hoa văn trang trí (in ô vuông) được xem là ảnh hưởng từ trang trí đồ gốm Hán. Trong hố khai quật cũng tìm thấy một số mảnh gốm Hán in ô vuông xương gốm mỏng mịn, độ nung cao, hoa văn in ô vuông sắc sảo, giống với gốm văn in Đông Hán ở Gò Cấm, Trà Kiệu, Suối Chình và Cổ Luỹ-Phú Thọ.
Loại hình gốm trong các lớp đào ở cả hai hố khai quật gồm bát, đĩa đáy bằng, cốc chân cao đặc, nắp vung, cà ràng, kendi… là những loại hình gốm phổ biến từ giai đoạn sau Công nguyên. Cà ràng giống như loại đã tìm được ở Trà Kiệu, Cổ Luỹ-Phú Thọ. Trên mép chân kiềng của cà ràng Thành Hồ được trang trí văn in ô vuông.
Những mô tả đồ gốm và bản vẽ hiện vật gốm trong báo cáo khai quật rất tiếc không ghi lớp và chỉ có một số có ghi hố khai quật (Nguyễn Đính và Phạm Văn Triệu 2004), do vậy rất khó để theo dõi diến biến sớm muộn của đồ gốm từ lớp 1 đến lớp 4 trong cả hai hố. Đồ gốm tập trung trong hai lớp 2 và 3 và có lẽ những công trình kiến trúc đã làm xáo trộn các lớp văn hoá ở đây. Loại hình, chất liệu gốm và hiện vật đất nung khác ở đây cho thấy nhóm hiện vật gốm nằm trong khung niên đại từ thế kỷ II đến VII Công nguyên.
 Như vậy, diễn biến gốm ở Thành Hồ cho thấy gốm ở đây nằm trong dòng chảy chung của diễn biến đồ gốm ở miền Trung Việt Nam từ đầu thiên niên kỷ I Công nguyên.
Kết quả của những nghiên cứu và khai quật cho thấy, thành Hồ được xây dựng sớm trong lịch sử Chămpa, có quy mô xây dựng lớn, thành là một công trình kiến trúc hoàn thiện, một trung tâm lớn của cư dõn Champa  trong thời kỳ đầu lịch sử và có thể là trung tâm chính trị, kinh tế của một vùng-tiểu quốc. Trung tâm này được xây dựng và phát triển rực rỡ không thua kém bất cứ một trung tâm nào của người Chăm, tương đương với kinh đô Trà Kiệu (Quảng Nam) (Lê Đình Phụng, Phạm Văn Triệu 2004).
Kết quả khảo sát thực địa và nghiên cứu so sánh loại hình di vật của thành Hồ với Trà Kiệu, Gò Cấm, Cổ Luỹ-Phú Thọ… cho thấy niên đại thế kỷ V-VII Công nguyên mà các nhà nghiên cứu đưa ra là niên đại của bản thân  toà thành và những công trình kiến trúc của thành. Thành Hồ được xây dựng trên khu vực cư trú sớm hơn, có thể khu cư trú này tương đương với lớp dưới của Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ, có niên đại từ khoảng thế kỷ II CN. Sự có mặt của đầu ngói ống hình mặt hề có niên đại Lục Triều sớm (thế kỷ IV) tại Thành Hồ giống như những đầu ngói ống tương tự ở Trà Kiệu và Cổ Luỹ-Phú Thọ giúp chúng tôi đưa ra nhận định chung về niên đại xuất hiện của những di tích kiến trúc sử dụng đầu ngói ống loại này trong văn hoá Champa là từ thế kỷ thứ IV.
Sự đồng nhất trong tiêu chuẩn loại hình và kỹ thuật chế tác của những vật liệu xây dựng, kiến trúc như đầu ngói ống, gạch, ngói giai đoạn muộn (loại làm bằng khuôn, mặt bụng không có dấu vải, lưng có dấu văn chải, văn thừng, in ô vuông), gốm hình con tiện, chốt/đinh gốm của thời kỳ này (từ sau thế kỷ IV) cho thấy có sự thống nhất tương đối và mức độ đòng đều trong phát triển giữa các trung tâm kinh tế – chính trị của của các chính thể nhà nước sớm và nhà nước phát triển hình thành và lớn mạnh từ sau thế kỷ I, II CN.
2.3. Chuyển biến cơ cấu xã hội Champa sớm – Champa từ dữ liệu khảo cổ
Quá trình chuyển biến Sa Huỳnh – Lâm Ấp – Champa có liên quan mật thiết với những chuyển động và biến động chính trị- kinh tế của khu vực. Áp dụng những lý thuyết – mô hình dạng tiền nhà nước – nhà nước sớm khác nhau trên thế giới, các học giả nghiên cứu về Đông Nam Á đã thử đưa ra nhiều mô hình cho khu vực này từ cấu trúc lãnh địa đến sự hình thành các mandala và liên minh của các mandala. Tuy còn khá nhiều ý kiến tranh luận về nội hàm của các khái niệm và sử dụng khái niệm phổ quát chung cho toàn thế giới về tiến hoá xã hội ở Đông Nam Á, song đa số các nghiên cứu về sự hình thành các chính thể Đông Nam Á ít nhiều đều áp dụng những thuật ngữ như lãnh địa, nhà nước sớm, nhà nước khi đề cập tới các tầng bậc thấp cao của tính phức hợp xã hội. Những đặc thù riêng của Đông Nam Á như tính không đồng nhất trong phát triển, mật độ dân số không đồng đều, số dân ít, sự cắt rời lãnh thổ và đa tộc người đã được nhiều học giả quan tâm đúng mức khi nghiên cứu quá trình chuyển biến xã hội dẫn tới sự hình thành của nhà nước.
Quá trình chuyển biến từ những lãnh địa sang nhà nước sớm dạng mandalasang vương quốc Champa diễn ra trong vài thế kỷ từ thế kỷ II đến thế kỷ VI Công nguyên. Mặc dù bản chất của giai đoạn quá độ này chưa thể nhận biết một cách rõ ràng nhưng thư tịch và tài liệu khảo cổ mà chúng ta có cho đến hiện nay đều chứng tỏ đây là quá trình phát triển xã hội nội tại trong bối cảnh chung của khu vực và chịu tác động của một số yếu tố từ bên ngoài. Đây cũng là quá trình của những mối quan hệ liên minh, thu phục và chiếm lấn lẫn nhau giữa các lực lượng nội tại nhằm mục đích một mặt đối trọng với những thế lực bên ngoài và mặt khác thu nhận (bằng những cách thức cưỡng bức và tự nguyện) những mô hình tổ chức chính trị từ nơi khác (ban đầu là của Trung Hoa và muộn hơn là của Ấn Độ). Mút cuối của quá trình này là sự nổi lên của vương quốc Champa trên chính trường Đông Nam Á .
Đây là thời kỳ có rất nhiều những thay đổi trong cả hai lĩnh vực, hạ tầng cơ sở và thượng tầng kiến trúc. Đây cũng là thời kỳ mà các cộng đồng cư dân ở Đông Nam Á tăng cường các mối tiếp xúc, quan hệ với nhau và với thế giới bên ngoài. Cả Đông Nam Á bằng nhiều cách khác nhau dần tiếp hợp với mạng lưới hải thương quốc tế, chịu tác động của chính sách bành trướng của nhà Hán (Trung Hoa) và chiến lược ngoại giao qua buôn bán và truyền bá tôn giáo của các quốc gia cổ đại Ấn Độ. Miền Trung Việt Nam với vị thế trung lộ và đường bờ biển dài không thể nằm ngoài vùng tác động của những yếu tố này. Vị thế cầu nối bắc nam và cả đông tây ở bán đảo Đông Dương đã làm cho vùng đất này chịu tác động của những luồng văn hoá, sóng dịch chuyển dân cư không chỉ một lần và không chỉ của một văn hoá đơn lẻ.
Nếu xét từ phương diện lịch sử, có vẻ như có một sự thay đổi  khá đột ngột trong cấu trúc chính trị của những xã hội giữa thời tiền, sơ sử và lịch sử, với sự hình thành của những chính thể dạng nhà nước. Tuy vậy, từ góc độ khảo cổ, chúng ta có thể thấy có một sự tiếp nối đáng kể giữa hai thời kỳ này. Nói một cách khác sự phát triển kinh tế – xã hội thời sơ sử là cơ sở nền tảng cho sự hình thành nhà nước ở giai đoạn muộn hơn. Sự phát triển của những thiết chế chính trị phân tầng, sự chuyên hoá về sản xuất kinh tế và sự tiến hoá của xã hội dựa trên cơ sở giai cấp trong khoảng một thiên niên kỷ đã góp phần đáng kể vào việc nảy sinh những nhà nước sớm ở nhiều vùng của Đông Nam Á (Lâm Thị Mỹ Dung 2008). Mặc dù bản chất và thời gian của những thay đổi này ở Đông Nam Á không đồng nhất, nhưng nhìn chung cho đến giữa thiên niên kỷ I Công nguyên ở Đông Nam Á lục địa nhiều chính thể phức hợp đã được hình thành.
Dựa trên sự phân bố của các địa điểm khảo cổ học, đặc biệt là dọc theo bờ biển và theo lưu vực các sông lớn, vào khoảng thế kỷ V trước Công nguyên đến thế kỷ I Công nguyên, có thể thấy rằng duyên hải và các lưu vực sông và cả sâu ở trong nội địa ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam đã hình thành và phát triển một số khu vực cư trú-mộ táng lớn như những  phức hợp chính trị được tổ chức tập trung theo vùng với hệ thống phân tầng khá phát triển, những phức hợp này có thể được gọi bằng khái niệm lãnh địa
Từ thế kỷ I đến thế kỷ II  Công nguyên – thời kỳ mà Bắc và một phần Nam Trung bộ thuộc quận Nhật Nam. Đây là thời gian chứng kiến những chuyển biến từ lãnh địa sang cơ cấu xã hội dạng nhà nước sớm. Chuyển tiếp từ lãnh địa sang mandala hay negara theo cách dùng khái niệm mang tính đặc thù khu vực của một số nhà nghiên cứu. Bên cạnh những điều kiện nội sinh như nền tảng kinh tế phát triển kéo theo những chuyển biến về chất trong lực lượng sản xuất cũng như quan hệ sản xuất dẫn đến chuyển biến trong cơ cấu xã hội thì chúng ta cũng không thể không lưu ý tới bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ. Đó là sự suy yếu của nhà Đông Hán đã tạo điều kiện thuận lợi cho một số cộng đồng cư dân nổi dậy khởi nghĩa lập ra chính quyền của mình.
Giai đoạn tương đương Lâm Ấp cuối thế kỷ II đến đầu thế kỷ V là thời kỳ của mandala sớm. Sự kiện quan trọng được sử chép đó là Phạm Văn cố vấn cho Phạm Dật có nhiều yếu tố liên quan đến văn hoá Hán (người Hán từ Giang Châu hay người Lâm Ấp nhưng sống ở Trung Quốc và hấp thu văn hoá Hán theo như Coedes). Sử cũ còn ghi “Đời Thái Khang (280-290), vua Lâm Ấp là Phạm Dật sang Trung Quốc tiến cống, Dật có người nô lệ là Văn đi theo, rồi sau đó thường qua lại buôn bán, thấy được chế độ văn minh của thượng quốc, khi trở về Lâm Ấp bèn dạy cho Dật xây cung thất, thành quách và chế khí giới” (Dẫn theo Đào Duy Anh 1994: 69). Tư liệu khảo cổ học từ những địa điểm Champa sớm có niên đại từ thế kỷ I-III Công nguyên như Trà Kiệu, Cổ Luỹ-Phú Thọ… cho thấy sự tham góp của những yếu tố văn hoá Hán trong làm gốm, sản xuất vật liệu xây dựng và xây đắp thành…
Từ khoảng cuối thế kỷ IV, những xã hội này dần tiếp thu mạnh mẽ hơn những yếu tố văn hoá Ấn Độ và về phương diện chính trị đây cũng là thời gian chuyển biến sang mô hình Nam (Ấn Độ) mandala thực sự, quá trình chuyển hướng chính trị và tôn giáo này đã dẫn đến sự nổi lên của Champa trên chính trường Đông Nam Á vào thế kỷ VI. Tiếp xúc và trao đổi với văn hoá Ấn Độ tăng mạnh được ảnh xạ qua sự có mặt của hàng loạt những bi ký chữ Phạn, những điêu khắc đồng đá Phật giáo, Blamon giáo ở Trung và Nam Trung bộ. Ngoài tư liệu khảo cổ, sử liệu cổ cũng ghi nhận từ sau  Khu Liên (tức thế kỷ III trở đi) sứ Lâm Ấp đã dùng “ chữ viết Hồ- Ấn Độ” trong văn thư. Đây là quá trình chuyển biến tạo nên những thay đổi lớn tuy không có những xung đột mạnh mẽ hay thay đổi đột ngột và cũng không hẳn là sự thay thế hoàn toàn mô hình cũ bằng mô hình mới. Đây cũng là hiện tượng chung cho Đông Nam Á và thế kỷ V chứng kiến những thay đổi về thể chế có tính chất mạnh mẽ ở Đông Nam Á (Stark  M 1998: 86).
Do sự phát triển không đồng đều và cũng do sự khác biệt trong đầu mối và cường độ tiếp xúc với thế giới bên ngoài nên sự hình thành nhà nước sớm đã diễn ra không đồng thời. Ở những vùng châu thổ sông lớn và duyên hải của Đông Nam Á lục địa những nhà nước được hình thành sớm hơn và phát triển mạnh hơn so với những vùng khác của khu vực.
Cho tới thời điểm hiện nay, đã có thể xác định ba trung tâm hành chính – chính trị – kinh tế  phân bố ở các lưu vực sông lớn ở Trung và Nam Trung bộ Việt Nam. Đó là Trà Kiệu, Cổ Luỹ – Phú Thọ và Thành Hồ. Trong đó Trà Kiệu được xây dựng trên một cơ tầng văn hoá sớm có niên đại cận kề với niên đại kết thúc của văn hoá Sa Huỳnh. Tầng văn hoá sớm nhất ở Cổ Luỹ – Phú Thọ và Thành Hồ tuy có niên đại muộn hơn chút ít so với Trà Kiệu nhưng cũng cho thấy tất cả những trung tâm này đều được phát triển và mở rộng từ cơ tầng văn hoá bản địa có niên đại khởi đầu muộn nhất là từ nửa sau thế kỷ I Công nguyên. Những tương đồng trong diễn biến liên tục từ tầng văn hoá sớm đến tầng văn hoá muộn (cả di vật và di tích) ở ba trung tâm này (và ở nhiều địa điểm Champa sớm khác) minh chứng cho nguồn gốc bản địa và mức độ phát triển tương đương trong các lĩnh vực kinh tế-chính trị-văn hoá của các cộng đồng dân cư ở những vùng lưu vực sông lớn ở Trung và Nam Trung Bộ Việt Nam trong suốt 10 thế kỷ đầu Công nguyên và muộn hơn.
     Những di tích và di vật khảo cổ cùng những ghi chép trong thư tịch cổ cũng cho thấy vai trò quan trọng của tiếp xúc, trao đổi và tiếp biến văn hoá giữa các trung tâm này và giữa chúng với khu vực Đông Nam Á, Nam Á và Đông Á tạo nên những chuyển biến kinh tế – chính trị – xã hội của vương quốc Champa ở một số mốc thời gian quan trọng.
Chú thích
Những minh hoạ không ghi nguồn trong bài do Đặng Hồng Sơn, Nguyễn Hồng Kiên và các tác giả bài viết thực hiện.
Tài liệu dẫn
Đào Duy Anh 1994. Đất nước Việt Nam qua các đời. Nxb. Thuận Hoá.
Đoàn khảo sát Phú Yên, 2002, Kết quả khảo sát khảo cổ học tỉnh Phú Yên, tháng 7 năm 2001, NPHMVKCH năm 2002, 792-797.
Đoàn khảo sát Phú Yên, 2002, Kết quả khảo sát thành Hồ tháng 7 năm 2001, NPHMVKCH năm 2002, 798-800
Parmentier H., 1909. Inventaire Describtif des Monuments Cams de l’ Annam. Volume I. Paris.
Đoàn Ngọc Khôi 1998. Báo cáo đào thám sát khảo cổ học địa điểm núi Phú Thọ – Cổ Luỹ. Tư liệu khai quật của  Bảo tàng Quảng Ngãi. Quảng Ngãi.
Lâm Mỹ Dung, Đặng Hồng Sơn 2005. Báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Cổ Luỹ – Phú Thọ (Quảng Ngãi). Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội.
Yamagata Mariko 1998. Formation of Linyi. Journal of Southeast Asian Archaeology. N0.18: 51-89.
Lâm Thị Mỹ Dung 2008. Nghiên cứu quá trình chuyển biến từ Sơ sử sang lịch sử sớm ở miền Trung Trung bộ và Nam Trung bộ Việt Nam. Báo cáo Đề tài khoa học trọng điểm QGTĐ.06.07. Tư liệu Bảo tàng Nhân học, trường ĐHKHXH & NV, Hà Nội.
Stark Miriam 1998. The Transition to History in the Mekong Delta : A View fromCambodia. International Journal of Historical Archaeology, Vol.2, No. 3.
Stark  Miriam 2000. Pre – Angkor Earthenware Ceramics from Cambodia’s Mekong Delta. Udaya. Journal of  Khmer Studies 1: 69-90.
He Yunao 2003 Tile Ends with Human and Animal Faces of the Six Dynasties Unearthed in Nanjing. Cultural Relics No.7. (tiếng Trung).
Lê Đình Phụng và Phạm Văn Triệu 2004. Báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Thành Hồ (Phú Hoà, Phú Yên). Tư liệu Viện Khảo cổ học. Hà Nội.
Nguyễn Đính và Phạm Văn Triệu 2004. Phụ lục báo cáo khai quật khảo cổ học di tích Thành Hồ (Phú Hoà, Phú Yên). Tư liệu Viện Khảo cổ học. Hà Nội.
————————————————————
Cổ Luỹ–Phú Thọ (Quảng Ngãi) in the context of Champa archaeology in the early half of the first Christian millennium
                  Lâm Thi Mỹ Dung, Nguyễn Anh Thư
The paper consists of two parts. One introduces the excavated results of Cổ Luỹ – Phú Thọ site and the other highlights some practical and theoretical issues of early state emergence and transition to history in Central Vietnam. These issues have been resolved by using the comparative studies of three archaeological complexes of Trà Kiệu, Cổ Luỹ – Phú Thọ và Thành Hồ.
Cổ Luỹ – Phú Thọ site is located at Nghĩa Phú village, Tư Nghĩa district and Quảng Ngãi province. This site was first reported by H. Parmentier. Then, the site was test-excavated in 1998 and officially excavated in 2004. The archaeological vestiges are distributed on the high areas in the T – junction of Trà Khúc and Phú Thọ rivers. This is multifunctional archaeological site dated from the end of AD 1. The early habitation layer was from the end of AD 1 to the end of AD 3. The brick and tile architectural features appeared in the upper cultural layer and belonged to two phases. The early architectural phase dated to the AD 4 and the late one dated to the AD 5. The tile – ends decorated with the human face found in the late architectural phase were similar to those found in Nanjing (China), Tam Thọ kiln and Luy Lâu citadel (Northern Vietnam), Trà Kiệu (Quảng Nam province) and Thành Hồ (Phú Yên province).
The results obtained from Cổ Luỹ – Phú Thọ site have been interpreted by using cross-cultultural research methods, which led us to the recognition of three early Cham centers located on three main river deltas: Trà Kiệu was in Thu Bồn river delta, Cổ Luỹ – Phú Thọ was in Trà Khúc river delta and Thành Hồ – Đà Rằng was in Đà Rằng river delta. Of these, Trà Kiệu was the earliest, established on the habitation layer from the beginning of AD 1. The earliest habitation layers of Cổ Luỹ- Phú Thọ and Thành Hồ were slightly later than Trà Kiệu. However, both Cổ Luỹ- Phú Thọ and Thành Hồ sites came into existence and developed in the local cultural base.
            The similarities in the continuous process from the early to the late cultural layers in these three centres (and other Cham sites) demonstrate the indigenous origin and the equivalent development in the economic, political and cultural aspects of the people communities settled in the main river deltas in Central Vietnam during the 10 centuries AD.

[1] Trà Kiệu, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Đây là phức hợp di tích cư trú, đền tháp, thành luỹ của giai đoạn từ TK 1 đến thế kỷ 9,10. Lớp văn hoá sớm nhất ở đây có niên đại khoảng nửa đầu TK 1 CN.
[2] Bên cạnh địa điểm này ở Quảng Ngãi còn có những địa điểm Champa từ giai đoạn sớm đến giai đoạn muộn, có thể xem những báo cáo khảo sát và khai quật về đảo Lý Sơn, các huyện Bình Sơn, Đức Phổ… của Viện Khảo cổ học.
[3] Theo chúng tôi, miền Trung giai đoạn này không phải chỉ có ba trung tâm như đề cập ở đây. Như ở bắc Đèo Hải Vân, TP. Huế có nhiều khả năng có một trung tâm nữa với đại diện Thành Lồi, ở Bình Định với những thành như  thành Tra, cảng Thi Nại… tuy nhiên do chưa có những khảo sát khảo cổ học chi tiết, chúng tôi tạm chỉ báo cáo về những địa bàn đã được khảo sát khảo cổ học những năm gần đây, mặc dù mức độ khảo sát ở từng trung tâm là khác nhau.
[4] Bên cạnh toà thành này, ở Phú Yên có khá nhiều di tích Champa sớm và Champa phát triển khác (Đoàn khảo sát Phú Yên, 2002, 792-797)
MINH HỌA (trích)

Tổ tiên Hoa Hạ không hề là người vượn Bắc Kinh

Bài đăng ngày 27-10-2011 theo bản dịch của Lãn Miên tại Diễn đàn Lý học phương đông.

Các nhà khoa học của nhiều nước trên thế giới đang cùng góp sức hoàn thành kế hoạch lớn lao tìm nguồn gốc của nhân loại, hy vọng thông qua nghiên cứu biến dị gen của con người mà vẽ ra được bản đồ thiên di của nhân loại.
Nghiên cứu của các nhà khoa học Trung Quốc chứng tỏ tổ tiên của người Trung Quốc nguyên là từ Đông Phi, đi qua Nam Á tiến vào Trung Quốc. Chi tiên dân Nam Á này kinh qua nhiều đợt thiên di và biến hóa gen trong cơ thể, dần dần phân hóa thành các dân tộc.
Theo quan điểm của các nhà khoa học, thông qua phân tích mẫu DNA của con người, mỗi một người Trung Quốc đều có thể lý giải được câu chuyện của chính mình, tìm về mạch nguồn sâu xa của chính mình.

Chúng ta là ai? Chúng ta từ đâu đến?
Những thông tin lịch sử này ẩn dấu trong kết cấu phân tử DNA trong cơ thể mỗi chúng ta”, Lý Huy nói. Vị nghiên cứu sinh tiến sĩ này của Viện khoa học sinh mệnh trường đại học Phúc Đán đang say mê thu tập các mẫu DNA của các phân chi dân tộc, đồng thời chú trọng nghiên cứu quan hệ giữa các quần thể dân tộc ở miền nam Trung Quốc.
Lý Huy sinh ra và lớn lên ở Phụng Hiền ngoại ô Thượng Hải, thông qua đo nhiễm sắc thể Y và tuyến lập thể, phát hiện ra rằng họ là dân đến từ Quảng Đông Phúc Kiến. Mà hai vạn năm trước thì loại hình DNA này hoạt động tại vùng vịnh Bắc Bộ thuộc Đông Nam Á. Lý Huy từ nhỏ vẫn gọi chữ Phi (bay) là “bóng” giống như dân tộc Đồng gọi là “ben”. Từ rất lâu, anh ta vẫn cho rằng đó là tiếng Phụng Hiền, qua đo DNA Lý Huy mới biết những từ mà anh nói là đến từ ngôn ngữ Úc-Thái cổ xưa. Sự hình thành tổ tiên của ngữ hệ này có từ hai vạn năm trước ở vịnh Bắc Bộ phương nam.
Các nhà khoa học một mạch phân tích DNA và dùng máy tính nghiên cứu lịch sử nhân loại để xác định quá trình hình thành các chủng tộc và xã hội loài người. Quá trình này xưa nay chưa hề gián đoạn. Trước mắt đang triển khai kế hoạch lớn qui mô toàn cầu tìm nguồn gốc nhân loại. Một bài của Tân Hoa xã ngày 18 tháng 4 cho biết, để hiểu toàn diện nguồn gốc và quá trình thiên di của nhân loại, cũng như sự hình thành hàng nghìn ngôn ngữ của loài người, trong vài năm tới, các nhà khoa học TQ sẽ cùng các nhà khoa học Mỹ và các nước khác thông qua nghiên cứu gen và biến dị mà vẽ ra được bản đồ thiên di của loài người, từ đó mà bổ sung được những khoảng trống trong lịch sử nhân loại.
Kế hoạch 5 năm này gọi là “phổ đồ địa lý di truyền thiên di của nhân loại”. Kế hoạch này sẽ do các chuyên gia của 10 phòng thí nghiệm và đại học của Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Trung Đông hoàn thành. Các nhà khoa học sẽ thu tập 10 vạn mẫu DNA thuộc các nhân chủng khác nhau ở nhiều vùng trên thế giới để tiến hành phân tích.
Giáo sư Kim Lực chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu sinh vật học nhân loại hiện đại của đại học Phúc Đán cùng đồng đội của mình phụ trách nghiên cứu nhân quần vùng Đông Á và Đông Nam Á, nội dung bao gồm sự thiên di nhân quần, sự hình thành và phân hóa dân tộc và ngôn ngữ, sự giao lưu gen giữa các nhân quần v.v. Giáo sư Kim Lực nói: “Lần này trọng điểm điều tra nghiên cứu của chúng tôi nhằm vẽ ra được sơ đồ thiên di của tổ tiên người Trung Quốc, dùng để nghiên cứu những vấn đề chưa biết về dân tộc, ngôn ngữ và hoàn cảnh tiến hóa của dân tộc chúng ta, Chúng tôi sẽ phải thu tập khoảng 2 vạn mẫu DNA. Mỗi một người Trung Quốc sẽ có thể lý giải được câu chuyện của mình.”

Người vượn Bắc Kinh không phải là tổ tiên của chúng ta
Tổ tiên của chúng ta thực sự là ai?”. Theo sách giáo khoa của giáo dục phổ thông quyền uy thì người hiện đại phân bố ở Trung Quốc là do người vượn Bắc Kinh sống cách nay 40 vạn năm tiến hóa mà thành. Lý luận của thuyết này là dựa vào thuyết nhân loại xuất hiện ở nhiều nơi, tại Âu, Á, Phi đều có người vượn tiến hóa thành người hiện đại.
Tiền Cát, trợ lý phòng thí nghiệm của giáo sư Kim Lực nói, người hiện đại là vật chủng đơn nhất, còn người vượn ở các nơi thì khác biệt rất lớn, thuộc vật chủng bất đồng, không thể là đều tiến hóa thành người hiện đại. Chỉ có người vượn Đông Phi là bước lên được con đường tiến hóa thành người hiện đại. Bởi vậy người vượn Bắc Kinh không có thể thành tổ tiên của chúng ta.
Túc Binh, nghiên cứu viên Sở nghiên cứu động vật Côn Minh, sau khi nghiên cứu niên đại của các hóa thạch hiện có của Trung Quốc đã phát hiện ra một giai tầng không dễ bỏ qua, đó là giai tầng từ 10 vạn năm trước đến 4 vạn năm trước, giai tầng này không hề có một hóa thạch nhân loại nào được tìm thấy, suy ra, người đứng thẳng và trí nhân sơ kỳ (Homo sapiens) sống ở Đông Á, trong thời kỳ băng hà gần nhất đã bị tuyệt diệt vì khí hậu ác liệt. Thay vào đó là nhân chủng hiện đại đã từ châu Phi thiên di đến.
Nhưng vẫn có những nhà khoa học ủng hô thuyết “đa khởi nguồn”. Viện sĩ Ngô Tân Trí thuộc Viện nghiên cứu cổ nhân loại học đã tỉ mỉ nghiên cứu so sánh đặc trưng xương cốt người vượn Bắc Kinh, người hang động với người hiện đại, phát hiện ra rằng 70% người Trung Quốc trên xương đầu có ba đặc trưng giống hệt người vượn Bắc Kinh, do vậy ông vẫn theo quan điểm cho rằng người vượn Bắc Kinh có thể là tổ tiên của người Trung Quốc. Nhưng học sinh của ông là Lưu Vũ khi đi khảo sát ở châu Phi lại phát hiện có tới 30% người châu Phi có ba đặc trưng trên ở xương đầu cũng giống hệt người vượn Bắc Kinh.
Năm 1998 các nhà khoa học Trung Quốc nắm vững được tính trọng yếu trong mật mã di truyền DNA. Trên dây chuyền DNA song xoáy có bốn loại tiểu cầu màu đỏ, vàng , lam, lục giao kết với nhau, A, T, C, G. Chúng nắm toàn bộ lịch sử thiên di và phát triển của nhân loại..
Theo giải thích của khoa học, mỗi tiểu cầu giống như là một đơn vị hột. Những tiểu cầu này liền với nhau theo một trật tự nhất định làm thành gen, và có thông tin di truyền tương ứng. Nó có tính công năng rất mạnh, khống chế màu da, hình dáng và sức khỏe nhân loại. Ví dụ cao huyết áp của người là do vài trăm gen khống chế. Trật tự sắp đặt của chúng không thể tùy tiện biến đổi, hễ biến đổi là ảnh hưởng tới tình trạng của cơ thể.
Còn có một số tiểu cầu thì trật tự sắp đặt lại không có tính công năng, tính chất chúng giống như vật bổ sung thêm vào trong phân tử DNA. Chúng sắp đặt tự do, sau vài nghìn, vài trăm năm lại phát sinh một lần biến hóa, ví dụ chỗ vốn là A lại xuất hiện C, sự biến hóa này không chịu bất cứ ảnh hưởng bên ngoài nào, không chịu áp lực chọn lựa của tự nhiên. Những biến đổi của chúng không ảnh hưởng đến sức khỏe của thân thể. Chính đột biến di truyền này ghi lại thông tin lịch sử thiên di của nhân loại.
Nghiên cứu viên Chữ Gia Hựu của Sở nghiên cứu động vật Côn Minh đã nghiên cứu về trật tự sắp đặt đặc biệt vi vệ tinh trong sắp xếp DNA, đây là một tiêu chí di truyền được công nhận. Trong sắp xếp DNA có một kiểu trùng lặp ngắn gọn, ví dụ TGTGT qua GTG , sự trùng lặp nó về tự mẫu hay về số lần đều có thể di truyền, khi thừa kế trên cơ thể đời sau, vị trí của một G nguyên tiên có thể biến thành A, hoặc giả nguyên tiên trùng lặp 9 lần mà đến đời sau bỗng biến thành trùng lặp 10 lần. Căn cứ nguyên lý này, Chử Gia Hựu đã phân tích 28 nhân quần Đông Á suy ra ở Trung Quốc thời gian khởi nguồn người hiện đại không sớm hơn 5 vạn năm.
Có người cho rằng Chử Gia Hựu lấy mẫu quá ít, không có sức thuyết phục. Năm 2001, học sinh của Kim Lực là Kha Việt Hải cùng với tổ nghiên cứu của anh ta tiến hành phân tích di truyền qui mô lớn với chủ yếu là nhân quần người Hoa ở Đông Á. Anh đi sâu vào thế giới nhiễm sắc thể Y. Nhân quần này đời đời đều là cha con tương truyền, mà “tính cách” ổn định, thông thường mấy chục đời sau mới có một, hai vị điểm của gen phát sinh biến hóa. Kết cấu của những vị điểm đột biến di truyền này giống như một cái cây. Chính cây gen này đã ghi lại lộ trình phân tán tới những địa điểm khác nhau trên trái đất trong những thời gian khác nhau của nhân loại.
Kha Việt Hải đã phân tích 12127 cá thể nam tính phát hiện trên YAP, M130 và M89 của nhiễm sắc thể Y đều có một vị điểm của nó phát sinh biến hóa. Chúng là ba cành của cây gen trên. Chúng hợp long tại một cây gọi là M168, đây chính là vị điểm đột biến của nhân thể châu Phi. Cũng có nghĩa là người Trung Quốc và người đang sống ở châu Phi là có quan hệ với nhau.
Kha Việt Hải nói, quần thể hữu hiệu của nhiễm sắc thể người Trung Quốc vốn không lớn, chủng loại tồn tại không nhiều, hơn 1 vạn 2 nghìn mẫu này hầu như bao quát tuyệt đại bộ phận loại hình nhiễm sắc thể người Trung Quốc. Điều này chứng minh đầy đủ rằng người Hoa chiếm đại đa số nhân quần Đông Á khởi nguồn từ châu Phi.

Người Hạ đích thực
Người lãnh đạo kề hoạch lập bản đồ thiên di nhân loại nói: “Chúng ta đều từng thuộc một tổ tiên, chẳng qua là theo thời gian trôi mà chúng ta bị phân tán. Người hiện đại trên thế giới dù là người châu Á, châu Mỹ hay châu Âu đều là người đứng thẳng ở Đông Phi tiến hóa mà nên. Họ từ 5 – 10 vạn năm trước bắt đầu khuếch tán đi khắp nơi trên thế giới.
Bắt đầu từ DNA, nghiên cứu về nhân loại dần dần chuyển sang tầng diện văn hóa. Con người từ chính cơ thể mình lại đi tìm cái mất đi của lịch sử. Cuối những năm 80 của thế kỷ trước ngành nhân loại học phát sinh một phân chi quái dị là phân tử nhân loại học. Từ khi ra đời nó đã có được một lực lượng đáng kinh ngạc. Nó không những khiến cho thuyết “khởi nguồn châu Phi” có được bộ mặt rõ ràng khả tín, mà thậm chí còn dựa vào đó tìm ra được nguồn gốc châu Phi của người Á và người Hạ.
Năm 1987 đại học Hawai tìm ra được DNA tuyến lập thể của phụ nữ, phát hiện ra rằng tuyến ấy của phụ nữ hiện đại đều đến từ một vị phụ nữ cách nay 15 vạn năm ở châu Phi.
Tuyến lập thể tồn tại ở trong chất cua tế bào, nó là “công xưởng năng lượng của tế bào, chúng bao hàm lượng ít vật chất di truyền DNA, tuyến lập thể của mỗi con người đều đến từ người mẹ, vì vậy nó là công cụ quan trọng cho nghiên cứu tiến hóa nhân loại từ góc độ di truyền mẫu hệ, giống như Y nhiễm sắc thể là công cụ nghiên cứu di truyền phụ hệ.”
Tiếp đó các nhà khoa học ngành phân tử nhân loại học lại thành công trong việc phát hiện Y nhiễm sắc thể trong mật mã di truyền nam tính, dẫn đến kết luận rằng nam tính hiện đại đều có chung một ông bố sống cách nay 15 vạn năm tại Đông Phi.
Lý Huy giải thích, đại khái 15 vạn năm trước tại Đông Phi phân hóa ra rất nhiều nhân chủng và bộ lạc, trong đó bao gồm tổ tiên của bốn màu da nhân chủng. Phát hiện M168 trên nhiễm sắc thể Y chính là một vị điểm đột biến rất cổ xưa, phát sinh khoảng 10 vạn năm trước, khi nhân loại rời khỏi châu Phi.
Mười vạn năm trước trái đất bị băng hà phủ kín đạị bộ phận lục địa. Toàn bộ mặt biển thấp hơn mặt biển ngày nay 120 mét, nhiều đáy biển lộ ra mặt đất. Các bộ lạc sống chen chúc trên mảnh đất ấm áp Đông Phi bằng nguồn thực phẩm kiếm được có hạn. Một bộ phận người bắt đầu rời khỏi châu Phi.
Lại qua đi vài ngàn vài vạn năm, người hiện đại trên cơ sở đột biến gen M168 lại xuất hiện hai loại hình đột biến là M130 (80000 năm trước) và M89 (45000 năm trước), nhân loại thông qua Bắc Phi tiến vào đại lục Âu, Á. Ra đi sớm nhất là người da đỏ. Họ sống chủ yếu bằng đánh cá và thu lượm nhuyễn thể ven biển. Họ đi men theo bờ biển Ấn Độ với khí cụ là đồ đá cũ và cây vót nhọn. Họ đã chiếm lĩnh lục địa Nam Á, Đông Nam Á và các đảo bãi đại dương 5 vạn năm trước công nguyên.Trong quá trình vài vạn năm sau đó do sống bằng đánh bắt hải sản, họ đã men theo bờ biển mà đến tận Đông Á, xuyên qua eo biển Bê Rinh mà đến tận Bắc Mỹ và Nam Mỹ.
Người chủng da vàng rời khỏi châu Phi muộn hơn người da đỏ gần 5 vạn năm. Nhưng tốc độ khuyếch tán của họ nhanh hơn. Họ đã đến được Đông Nam Á với thời gian đã mất chỉ bằng 1/5 thời gian cua người da đỏ. Trong số 12000 mẫu mà Kha Việt Hải lấy của người Trung Quốc thì có 11311 mẫu có phát sinh đột biến M89. Mà đột biến này đánh dấu thời gian hình thành là khi người da vàng đạt đến Đông Nam Á rồi sống lâu dài ở đó, sau đó mới tiến nhập Trung Quốc, phân hóa xuất hiện Hán tộc ngày nay.

Hán Tạng cùng nguồn
Bất luận nhìn bên ngoài hay nhìn văn hóa, khó ai tin được rằng người Hán và người Tạng là cùng nguồn, nhưng các nhà nghiên cứu phân tử nhân loại học thì tin sâu sắc không chút nghi ngờ là Hán, Tạng đồng nguồn.
Đầu tiên nêu ra sự đồng nguồn Hán, Tạng là các nhà ngôn ngữ học Trung Quốc. Giới ngôn ngữ học cho rằng ngôn ngữ Đồng- Thái ở miền nam và ngôn ngữ Hán là gần nhau nhất, sau đó phát hiện ngôn ngữ Tạng gần gũi nhất với ngôn ngữ Hán. Có thể tìm thấy các từ tiếng Tạng và tiếng các phương ngôn đông nam Trung Quốc phát âm tương tự và đồng nghĩa nhau. Sự tương ứng này mang tính hệ thống chứng tỏ mối quan hệ đồng nguồn.
Nghiên cứu viên Túc Binh thuộc sở nghiên cứu động vật Côn Minh năm 1996 nghiên cứu DNA tìm thấy chứng cứ thể hiện Hán, Tạng cùng nguồn, ở chỗ người Hán và người Tạng trên M122 và trên phân chi M134 đều có đột biến giống nhau. Thông qua phân tích chủ thể nhiễm sắc thể Y thấy rằng tần suất đột biến ở người Tạng gần gũi nhất với tần suất đột biến ở người Hán, chứng tỏ trong số các dân tộc thuộc hệ ngữ Tạng-Miến thì người Tạng và người Hán là gần gũi nhất. Họ phân hóa thành hai dân tộc cách nay khoảng 5000 năm.
Theo trợ lý Tiền Cát của phòng thí nghiệm của giáo sư Kim Lực thì việc Trung Quốc dùng DNA phân tích lộ trình thiên di của tổ tiên đã đến độ thành thạo. Các nhà nghiên cứu lĩnh vực này như Trương Á Bình, Chử Gia Hựu (Vân Nam), Bác Tụng Tân, Lý Nghiệp (Cáp Nhĩ Tân) v.v. chỉ cần tổng hợp các con đường thiên di lại sẽ có được sơ đồ hoàn chỉnh về lộ trình thiên di của người Trung Quốc. Qua những thành tựu nghiên cứu tới nay, có thể thấy rằng 56 dân tộc Hoa Hạ ở Đông Á và các dân tộc ở Đông Nam Á đều là do tiên dân ngữ hệ Nam Á phân hóa mà thành, vì trên cơ thể họ đều có đột biến M122.
Đột biến M122 đại khái xuất hiện khoảng 3 vạn năm trước. Lúc này các dãy núi ở Trung Quốc đều phủ kín tuyết, đại bộ phận đất đai còn trống vắng, chỉ có số ít người da đỏ sống ở vùng Hoàng Hà và Trường Giang. Trong khi đó ở vùng Miến Điện Đông Nam Á bộ lạc người da vàng đã có thế lực nhất định, người da đỏ không ngừng qui tụ về hướng nam.
Khi băng hà trên lục địa Trung Quốc tan dần, một chi có đột biến M122 thuộc hệ ngữ Nam Á bắt đầu tiến nhập Trung Quốc. Theo Lý Huy, tiên dân hệ ngữ Nam Á tiến nhập Trung Quốc chia thành ba đường, vào Trung Quốc qua hai cửa, một là ngả Vân Nam. Hai là ngả lưu vực Châu Giang Một chi theo cao nguyên Vân Quí đi lên hướng tây bắc, cách nay khoảng 1 vạn năm họ đã đến được vùng bồn địa Hà Thao, thượng du Hoàng Hà. Đây là chi tổ tiên của hệ ngữ Hán Tạng mà về sau gọi là tiên Khương, họ chính là tổ tiên chung của người Hán và người Tạng.
Chi tiên dân Nam Á này khi bắt đầu thiên di thì cơ thể họ có đặc trưng là cái đầu của họ chưa được tròn cho lắm, mũi to, môi dầy. Họ đi từ Vân Nam lên Cam Túc, hình trạng nhân thể phát sinh biến hóa, Sau khi đến được vùng cao nguyên, không còn bị các bệnh nhiệt đới ảnh hưởng, ô xi lại thiếu nên khuôn mặt của họ biến dài. Ngôn ngữ của họ cũng biến đổi, có thuyết cho rằng biến đổi này là do cái miệng và cái tai đem lại.
Nhưng điều quan trọng là qua quá trình thiên di 1 vạn năm M122 trong cơ thể họ bắt đầu sinh ra đột biến mới là M134. Như vậy đến cách nay 5000 – 6000 năm DNA trong nhân thể bắt đầu “không yên phận” nữa, lúc này, do nông nghiệp ăn hạt cốc xuất hiện, văn hóa đá mới bắt đầu phát triển. Dân số tăng khiến nhân quần tất yếu tìm nơi cư trú mới. Bắt đầu phân rã hai tộc ngữ Hán và Tạng từ một hệ ngữ Hán Tạng.
Trên cơ sở M134 của một chi nhân quần khác phát sinh đột biến M117. Chi này mang theo đột biến này đi về phía đông một mạch đến lưu vực Vị Hà thì dừng lại. Họ nắm được văn minh nông nghiệp, bắt đầu sống bằng nghề nông. Quần thể này chính là người Hoa mà về sau gọi là người Hán. M117 trên cơ thể người Hán là một đột biến di truyền rất cổ xưa.
Một chi nhân quần khác bị gọi là quần thể ngữ tộc Tạng Miến. Họ rời lưu vực Hoàng Hà thiên di hướng tây và hướng nam, cuối cùng đến định cư ở nam và bắc dãy Himalaya. Trong quá trình thiên di, quần thể này không ngừng phân liệt thành các dân tộc Tạng, Khương, Di, Cảnh Phả, Thổ Gia.
Người Hoa ở lưu vực Vị Hà mài dũa nên một chi rất dũng mãnh thiện chiến là người Tần, tích tụ một thực lực thống nhất Trung Quốc. Còn một bộ phận khác người Hoa lại tiếp thụ ảnh hưởng của văn hóa Long Sơn của người Di và văn hóa của người Miêu Dao, hình thành nên hai quần thể Tề ngữ và Sở ngữ.
Thời kỳ Tần Hán đã thống nhất được một Trung Quốc vốn chia năm sẻ bảy, thống nhất cả ngôn ngữ, văn tự, tiền tệ , đo lường. Chỉnh thể Hán tộc đã ý thức được sự hình thành chân chính. Thêm vào đó là sự thống trị có hiệu lực của tập quyền trung ương, từ đó Hán tộc không bị phân hóa nữa. Còn về mặt văn hóa thì cưỡng chế làm cho Hán tộc giống như một giọt mực lan rộng ra trên toàn bản đồ Trung Quốc. Họ mang đột biến M117 nhanh chóng thẩm thấu bốn phương.

Thân phận mơ hồ của dân tộc phương Nam
Lý Huy thông qua nghiên cứu đã phát hiện, tiên dân Nam Á men theo cao nguyên Vân Quí đi lên phía bắc và phía tây hình thành nên ngữ hệ Hán Tạng, đồng thời từ trong số quần thể Nam Á ấy có một chi đi về hướng đông và nam qua Lào và dãy Sòng Sơn (Trường Sơn- ND), cách nay hơn 1 vạn năm, hình thành nên ở vịnh Bắc Bộ tổ tiên của ngữ hệ Úc – Thái. Chi người da vàng này mang đột biến M119 từ Việt Nam, Quảng Tây tiến nhập Trung Quốc, mên theo bờ biển tiến lên hướng đông bắc, hình thành nên dân tộc Bách Việt.
Lý Huy bản thân thuộc nhân quần ngữ hệ Úc – Thái, đây là phát hiện ngẫu nhiên của anh ta khi nghiên cứu mẫu DNA của phân chi dân tộc. Hai năm trước khi chưa nghiên cứu thì anh ta chưa hề biết đích xác quần tộc của mình, khi ghi hồ sơ lý lịch vẫn điền là “dân tộc Hán”. Nhưng từ nhỏ anh đã phát hiện thấy, tuy sinh ra lớn lên ở Phụng Hiền, Thượng Hải nhưng tập quán rất khác xa quần thể người Hán xung quanh. Cụ ông cụ bà của anh đều bận trang phục màu chàm. Họ có những ngày Tết riêng: âm lịch 18 tháng 4, té nước mừng năm mới; âm lịch 18 tháng 9 tát ao bắt cá chia phần đều cho cả xóm. Họ có ưu việt cảm với dòng giống của mình, không thông hôn với các dân tộc khác. Thời đó các cụ đều nói với thằng nhỏ Lý Huy rằng họ mới chính là dân bản địa của Thượng Hải.
Cho tới khi Lý Huy đi lấy mẫu ở quần thể người Thái ở Vân Nam mới có được phát hiện vỡ òa rằng anh hầu như nghe hiểu gần hết ngôn ngữ của người Thái. Rồi khi giao lưu với người Thủy anh lại càng kinh ngạc, đến những từ nói thầm, từ dùng trong buồng riêng họ nói anh đều nghe hiểu. Khi về Thượng Hải anh mới phân tích mẫu máu của mình, phát hiện cơ thể người Thái, người Thủy và cơ thể anh đều có đột biến M119.
Ngành dân tộc học gọi quần thể có đột biến M119, là hệ thống dân tộc Bách Việt. Lịch sử của họ bao trùm phạm vi từ Giao Chỉ thuộc Bắc Bộ Việt Nam đến Triết Giang. Trong hàng nghìn năm phân hóa thành các tộc Lê, Đồng, Thủy, Lào, Cao Sơn, Choang, Thái. Các tộc người này về ngôn ngữ và văn hóa có sự đồng nhất rất mạnh, bởi vậy gọi chung là người Việt. Xương mày có độ uốn cong xuống dưới rất lớn là đặc trưng của người hệ ngữ Úc – Thái.
Năm ngoái Lý Huy cùng tổ nghiên cứu của mình tiến hành nghiên cứu ở Thượng Hải xem người Ngô và người Việt là thuộc một dân tộc hay thuộc hai dân tộc. Trước đó giới ngôn ngữ học cho rằng họ thuộc một dân tộc, vì họ nói có thể hiểu được nhau.
Nhưng nghiên cứu phát hiện ra rằng họ thuộc hai dân tộc hoàn toàn khác nhau. Người Việt 7 – 8 ngàn năm trước phát triển tại Thông Giang Thượng Hải. Người Ngô khoảng 3 ngàn năm trước mới tiến nhập Thượng Hải. Các sắc dân người Việt trên cơ thể có lượng lớn đột biến M119; người Ngô lại có rất ít, họ có nhiều là đột biến M7, do hệ ngữ Miêu Dao di truyền. Người Ngô thuộc chi tiên dân Nam Á thiên di từ cao nguyên Vân Quí đi về phía đông, sau đó vị điểm trên chuỗi DNA ở M134 phát sinh đột biến M7.
Nhân quần này ở vùng Động Đình hình thành nên ngữ hệ Miêu Dao. Người Ngô chính là sự đồng hóa giữa người Miêu Dao đông tiến và người Hán nam tiến mà hình thành, do vậy biến hóa cơ cấu di truyền của họ nhiều mà phức tạp.

Đông Nam Á là một trung tâm phân hóa dân tộc
Nghiên cứu viên Tiền Cát nói, trong kế hoạch lập bản đồ thiên di nhân loại thì lộ trình thiên di của người Trung Quốc đã khá rõ ràng. Bây giờ chỉ còn là công tác tổng kết và bổ sung.
Ví dụ, nghiên cứu tới nay đã chỉ ra rằng, 2 vạn năm trước, khi hệ ngữ Úc – Thái hình thành, có một chi bộ lạc men theo bờ biển đi lên, hầu như không lưu lại dấu tích nơi họ dừng. Họ đi một mạch đến lưu vực Tây Liêu Hà mới dừng lại. Họ chính là hạt nhân của hệ ngữ A Nhĩ Thái. Sau đó người Di đi lên, người Hoa cũng đi lên, ở đó hội nhập lại lần thứ nhất, hình thành nên văn hóa Hưng Long Thẩm. Đây là nơi ngày nay phát hiện văn hóa đá mới sớm nhất của Trung Quốc.
Sau đó tiên dân ngữ hệ A Nhĩ Thái đi rộng ra bốn xung quanh, về phía tây phân hóa thành Mông Cổ, Đột Quyết; về phía đông nhập Triều Tiên, Nhật Bản; về phía bắc qua eo Bê Rinh sang Mỹ. Vùng này lấy mẫu còn thưa, còn phải tiếp tục nghiên cứu bổ sung. Trọng tâm nghiên cứu đặt vào Đông Nam Á. Đông Nam Á là vùng lớn các dân tộc giao hội, có tới 2000 dân tộc, chiếm ¼ các dân tộc trên thế giới. Do người châu Phi tới đây sớm, thời gian dài, nên nơi đây thành trung tâm phân hóa các dân tộc. Ở đây hầu như mỗi đảo là một dân tộc, cách một ngọn núi là một dân tộc. Theo suy nghĩ của Lý Huy, nghiên cứu bắt đầu từ Lào và Miến Điện, nơi còn rất nhiều các bộ lạc quần thể cổ xưa.
Từ châu phi tiên nhân da vàng đến Miến Điện, hình thành ở đó hệ ngữ Nam Á. Hiện nay công tác nghiên cứu lấy mẫu hệ ngữ Nam Á còn quá ít và lại đang tiến hành rất chậm chạp. Tiên dân Nam Á chính là tổ tiên chung của người Đông Á. Làm rõ được kết cấu di truyền của nhân quần Nam Á này sẽ có được cống hiến lớn cho hoàn thành sơ đồ thiên di nhân loại.

Tiêu diệt tận gốc văn hóa Việt Nam: Thủ đoạn của Minh Thành Tổ trong cuộc chiến tranh xâm lược 1406-1407

Xin đăng lại để lưu bài của Nguyễn Huệ Chi từ http://www.diendan.org/phe-binh-nghien-cuu/thu-doan-tieu-diet-tan-goc-van-hoa-viet-nam-cua-minh-thanh-to-1

Nguyên đây là một phần trong thiên khảo luận dài có tên “Cuộc kháng chiến trường kỳ chống xâm lược Minh và văn học yêu nước thế kỷ XV cùng những bước nối tiếp về sau” viết năm 1980, in trong công trình Văn học Cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nhìn văn hóa đến các mã nghệ thuật của GS Nguyễn Huệ Chi (NXB Giáo dục, 2013) đã được phê bình, giới thiệu trên nhiều trang mạng và báo chí trong nước thời gian gần đây. Diễn Đàn trân trọng cảm ơn GS Nguyễn Huệ Chi đã cho phép trích đăng bài viết đó để giúp bạn đọc nhìn sâu vào một khía cạnh đặc biệt thâm hiểm của Hoàng đế Minh Thành Tổ – kẻ thiết kế toàn bộ kế hoạch đánh chiếm Việt Nam ở đầu thế kỷ XV: âm mưu đồng hóa người Việt bằng một chủ trương rất bài bản và “cao tay”… là lệnh cho quân lính xóa sạch tại chỗ văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc Việt tại những nơi chúng tràn đến như nước lũ. Hầu hết cứ liệu để cập trong bài được rút từ một cuốn sử Trung Quốc – cuốn Việt kiệu thư 越 嶠 書 của sử thần Lý Văn Phượng 李 文 鳳, soạn năm 1540.

Vào năm cuối cùng của thế kỷ XIV, lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam diễn ra một bước ngoặt: Hồ Quý Ly lật đổ ngai vàng của nhà Trần mà thành lập một triều đại mới – triều đại nhà Hồ. 32 năm trước đó, năm 1368, lịch sử chế độ phong kiến Trung Hoa cũng đã từng diễn ra một bước ngoặt: nền thống trị của đế quốc Nguyên – Mông bị phong trào nông dân Trung Quốc đánh đổ; Chu Nguyên Chương nhảy lên ngai vàng với bộ lễ phục của một triều đại mới – triều đại đế quốc Minh. Trước sau 30 năm, trên hai đất nước láng giềng, các ông chủ mới đã lần lượt thế chân các ông chủ cũ. Nhưng tình hình đó tuyệt không làm thay đổi một chút nào mối quan hệ vốn có. Trái lại, nó chỉ càng làm nặng nề thêm những gì trong quá khứ vốn đã quá nặng nề. Những vị Hoàng đế nhà Minh – mới nắm được “ngôi trời” – cảm thấy mình còn dư sức, con mắt thèm khát nhìn ngay xuống mảnh đất giàu có phương Nam với lòng tự tin rằng, mình có thể làm được cái việc “chinh phục” Đại Việt mà những đế chế trước mình đã phải bó tay. Về phía các vua nhà Hồ, cố nhiên họ hiểu rất rõ dã tâm đó của “thiên triều”. Ngay khi vừa lên ngôi, họ đã tích cực chuẩn bị lực lượng quân sự để đối phó. Thế rồi, vào ngày 19 tháng 11 năm 1406, chiến cuộc đã nổ ra, gay gắt, chớp nhoáng. Nhà Hồ thất sách về chính trị và sai lầm chiến thuật về quân sự nên chưa đầy một năm sau đành lâm vào thất bại. Vua Minh lập tức cho đổi trở lại tên Đại Việt thành quận Giao Chỉ, quàng vội ách đô hộ lên khắp nước ta.

Nhưng nhân dân Đại Việt vốn đã có truyền thống hàng nghìn năm cảnh giác với kẻ thù phương Bắc, đâu dễ dàng cam chịu ngồi yên. Và khi mà Minh Thành Tổ tưởng mọi việc đã xong, ra lệnh cho quân lính sửa soạn rút lui, thì cũng chính là lúc một phong trào kháng chiến cứu nước của nhân dân bắt đầu trỗi dậy. Rồi từ đó, hết phong trào này đến phong trào khác, cuộc chiến đấu vì độc lập của xã tắc đã kéo dài hơn 20 năm cho kỳ đến thắng lợi.

***

Điều cần nói ngay là bộ mặt lịch sử của thế kỷ XV đã hiện ra với tất cả vẻ khốc liệt và dữ dội. Không phải bản thân chiến cuộc 1406 với tầm mức gay gắt của nó quyết định sự dữ dội này. Mấy thế kỷ trước, đám chúa trùm phong kiến Tống, Nguyên chẳng cũng đã mở những cuộc tấn công quy mô xuống Đại Việt, và về so sánh lực lượng, lần tấn công nào của họ mà lại không có cái thế tưởng như áp đảo kinh hồn? Nhưng vấn đề đặt ra trong cuộc xâm lăng lần này là nó nhằm thực hiện một mưu đồ còn hiểm sâu hơn cái việc cướp nước, giết dân thông thường, của một tên “Đại Hán” mà sự tàn bạo, xảo quyệt và man rợ trong thời đại của y có thể đứng vào loại nhất nhì thế giới. Ở tên Đại Hán đó có sự tích lũy tất cả những kinh nghiệm tàn ác của cha ông y trong quá khứ, kết hợp với những mánh khóe ranh ma mới mẻ nhất mà thời đại mới mang lại cho y. Chính vì vậy, nguy cơ của cuộc xâm lăng lần này đã đặt người dân Đại Việt trước một yêu cầu thức tỉnh toàn diện để có thể đứng vững, hơn thế nữa, để lớn vượt lên. Cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền và xây dựng đất nước của các thế hệ cha ông ta trong vòng hơn 20 năm (1406 – 1427) rõ ràng là một cuộc vật lộn oanh liệt mà kết quả đã tạo ra một bước đổi thay lịch sử phi thuờng. Nắm cho được bộ mặt lịch sử của thế kỷ XV chính là nắm cho được hai điển hình đối lập tuyệt đối trong bước đổi thay lịch sử phi thường đó: kẻ thù là kẻ thù mới với những thủ đoạn xưa kia chưa từng thấy, nhưng về mặt mưu đồ và bản chất hiểm ác vẫn chính là hiện thân của những tên xâm lược cũ; và dân tộc ta tuy gắn bó với quá khứ sâu nặng nhưng lại là một dân tộc đang thăng hoa khỏi tầm vóc quá khứ, biểu hiện một sức mạnh hồi sinh.

Ngón đòn cổ điển nhất của các vị Hoàng đế phương Bắc trước hết là những âm mưu gây hấn đối với Việt Nam. Về phương diện này, nhà Minh đã tỏ ra không kém cạnh chút nào so với các triều đại cha anh của họ. Vì thế, cũng giống như tình hình của rất nhiều cuộc “Nam chinh” trong quá khứ, chiến cuộc 1406 thật ra đã được “thiên triều” chuẩn bị chu đáo trước đấy lâu lắm rồi. Vấn đề là về hình thức, phải tìm ra một cái cớ thích hợp để mà “sinh sự”, và về thực chất, phải làm sao dò thật trúng thực lực của Đại Việt để lượng sức mình. Hai mặt này thường vẫn gắn chặt với nhau, tác động lẫn nhau trong quá trình chuẩn bị âm thầm của họ. Năm 1377, chỉ mới chín năm sau ngày giành được địa vị “con trời”, ông vua Minh đầu tiên đã nóng nảy muốn vin cớ vua Trần Duệ Tông nước ta tử trận trong cuộc thân chinh phương Nam (1377) mà cất quân sang hỏi… “tội” (!). Nhung “hỏi tội” một vị vua vì “chống nạn cứu dân” mà không may bị chết? Trước lời lẽ cứng rắn của Trần Đình Thâm, sứ giả nước ta, vua Minh đuối lý, không những phải cử người sang dự lễ viếng, mà còn đành phải gác lại bao nhiêu mưu kế những toan đem thi thố phen này(1). Dĩ nhiên, gác lại không có nghĩa là xếp bỏ hẳn, mà chỉ là buộc lòng nén lại những dự định bên trong ngày một sục sôi. Tháng 9 năm 1384, nhân cho quân lính tiến xuống đánh Vân Nam, vua Minh thảo công văn đòi nước ta cấp lương cho đạo quân “tiễu phạt” của y. Ta nhân nhượng. Rồi các năm 1385, 1386, vua Minh vẫn đưa ra những yêu sách vô lý, phiền hà. Nào bắt nộp hoạn quan, nào muốn tìm giống cây xứ nóng, thậm chí đòi cả voi để “thiên triều” mang đi đánh trận. Năm 1395, Minh còn trắng trợn sai bọn Nhâm Hanh Thái sang xin ta giúp 5 vạn quân, 50 con voi và 50 vạn hộc lương với dụng ý chộp bắt sứ giả của ta để kiếm chuyện. Nhưng Nhâm Hanh Thái lại mật báo cho ta biết trước, vì thế ta đã kịp thời đề phòng, chỉ cho chở một ít lương lên biên giới rồi rút về ngay chứ không cấp lính và voi.

Một vài ví dụ như trên cũng đủ thấy tên lãnh chúa phong kiến phương Bắc mới phất lên này nóng lòng dòm ngó Đại Việt đến đâu. Nhưng mặt khác, một thực tế cũng dễ thấy là mặc dù rất tham lam, các ngài ngự “Đại Minh” vẫn phải kéo dài việc chuẩn bị xâm lược suốt 30 năm, từ đời vua cha đến đời vua cháu(2). Vì sao có cái mâu thuẫn hết sức lạ đời đó? Chắc hẳn trong khi rút kinh nghiệm quá khứ, bài học thảm bại chưa xa xôi gì của những kẻ “đi trước” đã không khỏi làm cho các ngài đâm ra e ngại, trùng trình: “Nước An Nam tuy ở góc biển nhưng xưa kia đã là quận huyện của Trung Quốc. Từ đời Ngũ quý về sau sức ta không còn chế ngự nổi họ. Qua Tống đến Nguyên, tuy muốn mưu đồ nhưng không thành, chỉ để tiếng chê cười cho hậu thế”(3). Đấy là lời thú nhận của Minh Thành Tổ trong sắc chỉ y gửi viên Tổng binh Chu Năng – viên tướng đầu tiên cầm quân sang đánh Đại Việt theo lệnh của y – đề ngày 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Cũng ở sắc chỉ đó còn nêu một lời nhận xét của Minh Thành Tổ về nguyên nhân thất bại của Tống và Nguyên: “Tống cũng như Nguyên đều cho quân sang đánh An Nam, nhưng tướng thì kiêu, binh thì lười, lại còn tham tài hiếu sắc, vì thế mà không thành”(4). Sự thật thì tuy làm ra vẻ cười ngạo tổ tiên mình, ông Hoàng đế khét tiếng về tham vọng và tàn bạo này cũng chẳng can đảm hơn bao nhiêu trên vấn đề xâm lược Việt Nam. Năm 1403, bốn năm sau khi Hồ Quý Ly đã cướp ngôi nhà Trần, tình hình mâu thuẫn và bế tắc trong tập đoàn phong kiến Trần – Hồ không những không giải quyết được mà còn thêm gay gắt, cái cớ gây hấn đã có thể kiếm ra rất dễ, điều kiện gây hấn cũng đã hết sức thuận lợi; lại cũng là năm Minh Thành Tổ vừa dùng mọi thủ đoạn đoạt được ngôi từ trong tay cháu ruột của mình; ấy thế mà đối với nước ta, ông ta vẫn sợ và gờm, chỉ mới dám cho bọn hoạn quan người Việt trở về làm do thám một lần cuối, và chuẩn bị nội ứng, ước hẹn ngoài đánh vào thì trong cắm cờ vàng làm hiệu. Thế rồi, phải ba năm sau nữa, khi mọi yêu cầu tìm hiểu đã được đáp ứng đầy đủ, cảm thấy không còn một trở ngại nào đáng kể trên con đường tiến xuống kinh đô Đại Việt, Minh Thành Tổ bấy giờ mới thật quyết tâm khởi thế công. Một mặt, ông ta vờ làm to chuyện lên rằng đến lúc này không ai còn chịu đựng nổi những việc Hồ Quý Ly truất ngôi các vị vua Trần và giết hại đám con cháu nhà Trần (vốn là việc đã xảy ra sáu, bảy năm về trước!): “Bề tôi [cũ của họ Trần] là [Lê] Quý Ly và Lê [Hán] Thương từ lâu nuôi lòng lang sói, rốt cuộc làm việc cắn càn, ra tay thí nghịch quốc vương, tàn sát người trong dòng họ Trần, cả những bề tôi của họ Trần cũng trong vòng thảm khốc, bị hãm vào chỗ chết. Bọn chúng gieo đau khổ cho sinh dân, đến gà chó cũng không yên sống, tiếng hờn oán dấy lên đầy đường”(5). Mặt khác, với ngón bịp sở trường từ tổ tiên mình truyền lại, ông ta lại cũng ra điều ta đây bất nhẫn, không định gây việc can qua làm gì, chỉ vì Hồ Quý Ly quá lắm nên phải động binh; song động binh mà vẫn rất nhân từ, muốn thu xếp ổn thoả bằng cách cho cha con họ Hồ “đem trăm vạn lạng vàng và một trăm con voi ra chuộc tội. Nếu không đủ thì cho phép đem châu ngọc bảo bối thế vào cho đủ. Có thế đại quân mới không tiến sang”(6). Kỳ thực, có đúng thế hay không? Trong đạo sắc bí mật gồm 10 điều căn dặn riêng viên Tổng binh Chu Năng – gửi mấy ngày trước ngày ban bố tờ chiếu công khai trên đây – Minh Thành Tổ đã thổ lộ “can tràng” của ông ta: “Nay sai Chu Khuyến, Trương Anh đem công văn của Bộ Lễ sang An Nam đòi nộp voi và vàng. Làm kế ấy để cho chí chiến đấu của chúng buông lỏng chứ không phải là thực bụng. Khi bọn Chu Khuyến ra đi, trẫm từng gặp mặt phủ dụ, bảo chúng đến nuớc họ chỉ ở lại 5 ngày, nếu 5 ngày chưa xong thì cho phép được bao nhiêu hãy cứ nộp truớc, sau sẽ sai người mang tiếp sang nộp cho đủ. Ngươi chờ cho bọn Chu Khuyến đi rồi thì đại quân phải tức khắc xuất phát theo sau. Nếu gặp kẻ đuợc phái sang nộp voi và vàng thì cứ bắt giữ lại để tra hỏi tin tức, nhưng đừng hở cho họ biết kẻ sai đi đã bị bắt… Nay bọn Chu Khuyến vào nước đó, mọi việc ngươi nhất thiết chớ hở ra cho ai biết”(7).

Gớm ghê thay miệng lưỡi từ bi và lòng dạ thực của đấng “thiên tử”! Duy có điều là ngay cả vào lúc đó rồi mà ngài vẫn còn e dè gửi tiếp những sắc chỉ căn dặn: nào là “nước An Nam giàu mạnh đã lâu”(8), nào là “quân lính của họ tất có phòng bị trước”, nào là “cha con họ Lê – tức họ Hồ – lắm mưu mẹo giảo quyệt”, tuyệt nhiên không thể sơ hở hoặc xem thường. Trong nhiều đạo sắc, Minh Thành Tổ đều tỏ ý lo lắng khi quân mình vượt sông Phú Lương là chỗ hiểm yếu bậc nhất, sẽ thua mưu kế của Hồ Quý Ly. Y viết rõ trong một sắc chỉ đề ngày 14 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1407) nói về đạo binh của Trương Phụ: “Cứ đóng quân mãi trên sông giằng co với giặc chính là rơi vào mưu kế của giặc Lê [Quý Ly] nhằm giữ chân quân ta thật lâu, đợi cho dịch lệ phát sinh; vì thế phá được mưu này thì phải thần tốc không được trì hoãn”(9).

Rõ ràng, vừa khát thèm lại vừa e sợ, vừa hung hăng lại vừa lo ngại, vừa ráo riết sửa soạn lại vừa trù trừ cho đến tận phút cuối cùng, cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Minh ở thế kỷ XV quả đã không còn là ngón đòn mới mẻ gì đối với nhân dân Việt Nam. Bước ra quân ban đầu của “thiên triều” phải mang tính chất hai mặt: nhanh mà chậm, nóng mà lạnh, đánh thực mà cũng là đánh dứ, cũng chính là vì vậy.

***

Tuy nhiên, đấy chỉ là cái dè dặt của buổi ban đầu. Khi đã dấn sâu vào đất nước ta, thấy rõ chỗ thất thế của nhà Hồ, bọn giặc xâm lược liền lộ hết vuốt nanh và hành vi táo tợn. Một chiến lược tập kích ồ ạt nhằm phá vỡ phòng tuyến chính để tiến thẳng đến Thăng Long, và từ Thăng Long đánh toả xuống phía Nam, được thi hành. Một chế độ thống trị ngoại bang được dựng lên chớp nhoáng ở khắp mọi miền, thành thị cũng như nông thôn mà chúng vừa đặt chân đến. Và một chính sách chém giết thẳng tay cũng được đem ra ban phát lập tức cho dân chúng. “Trương Phụ đi đến đâu là giết hại, hoặc chất thây người thành núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui. Thậm chí có kẻ mổ bụng người chửa, moi thai, cắt lấy tai của mẹ và con để tính làm hai mạng người”(10).

Có thể nói, nói đến đặc điểm thứ hai trong chân dung của tên xâm lược mới ở thế kỷ XV là nói đến hình ảnh các viên quan cai trị nhà binh với tất cả những thủ đoạn giết người – trị người – dùng người gắn bó với nhau một cách tinh vi và nham hiểm. Sau nhiều lần cố gắng phản công ở Hàm Tử, Lỗi Giang, Điển Canh, Kỳ La,… nhưng đều thất bại, vào tháng 6 năm 1407, nhà Hồ cùng quẫn và bị bắt ở núi Thiên Cầm. Cả nước rơi vào tay giặc, và trở thành một lò sát sinh, một công trường lao dịch khổ sai, một nơi để giặc Minh thoả sức tìm tòi thức ngon của quý. Ngay trong những ngày đang trên đường tiến sang nước ta, bọn tướng tá viễn chinh đã nhận được sắc chỉ của vua Minh căn dặn hễ đến đâu là phải tịch thu hết giấy tờ, sổ sách kê khai nhân khẩu và ruộng đất đến đấy; phải lập ngay chế độ thuế khóa trên những vùng vừa chiếm đóng; và chú ý khai thác các mỏ bạc, mỏ vàng. Kể cả những mỏ nằm trên biên giới Việt – Chiêm, chưa rõ thuộc phần đất bên nào, cũng được lệnh cứ cướp lấy chứ không cần tra xét hư thực(11). Hai cơ quan Kim trường cục và Châu trường cục được thành lập, nhằm xua dân miền biển và miền núi vào mọi công việc đãi vàng, mò vàng, mò ngọc. Chưa hết. Còn chế độ lao dịch ở đồng quê, ở thành thị… Đâu đâu cũng cái cảnh “bị người Minh sai khiến mà mất cả gia thuộc”(12), “bị bắt hết làm nô tỳ và chuyển bán đi mà tan tác bốn phương”(13).

Đẩy nhân dân Đại Việt đến chân tường, giặc Minh phải đâu đã thoả. Chúng còn tìm cách thâu tóm vào tay mình hoặc nếu không thì triệt cho hết trong đám người còn sống sót những ai thật sự có tài năng. Hễ nghe ở đâu trong các châu quận nước ta có thầy hay, thợ giỏi, bọn quan cai trị đều cho lập danh sách đem “tiến” về Yên Kinh. Các loại người bị tiến nhiều nhất là thầy thuốc, thợ thủ công, ca nữ tuyệt sắc, thầy bói và thầy địa lý;…

Mỗi năm Minh hoàng lại gửi sang một lệnh. Mỗi năm, hàng nghìn người dân Việt lại lìa bỏ gia đình xứ sở, ra đi, để rồi không bao giờ trở về.

Nhưng cho dù có tìm mọi mưu kế bắt và giết người dần mòn để bổ sung cho những cuộc tàn sát hàng loạt thì vẫn không thể nào là kế sách cai trị vẹn toàn. Giặc Minh biết vậy nên cũng lại ra sức thi hành một chính sách “mặt trái” rất khôn khéo: chính sách mỵ dân. Trong một đạo sắc, vua Minh khẩn khoản dặn đám tướng tá: hễ người dân Việt nào chống lại thì diệt kỳ sạch, nhưng ai đã đầu hàng thì phải tha ra, không giết bừa(14). Tưởng chừng đại Hoàng đế ngài nhân từ có một. Có ngờ đâu, tha, theo ý ngài, là bắt đem “cung hình” (thiến) nhất là đối với lớp người Việt trẻ(15), sau đó cung cấp cho cái chế độ quan liêu đồ sộ của Minh hoàng vốn đang rất thiếu nô bộc và thái giám hầu hạ!

Đặc biệt, trong chính sách dùng người, nhà Minh đã tỏ rõ khả năng vượt hơn những kẻ xâm lược xưa kia một bước rất dài. Trừ những chức quan cao cấp ra, chúng đặt người Việt vào mọi địa vị quan chức từ quận, huyện trở xuống. Và một chính sách lục dụng đám trí thức, quan lại cũ của Đại Việt được ban bố trong rất nhiều đạo sắc từ 1406 đến mãi những năm sau khi khởi nghĩa Lam Sơn đã nổi dậy, có thể nói là nhiều nhất trong số sắc chỉ của các vua Minh về vấn đề Việt Nam. Đây quả là một đường lối mà nhà Minh kiên nhẫn theo đuổi đến cùng. Có trường hợp những người có tên tuổi, hoặc có ảnh hưởng trong dân chúng như Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Tất, Phạm Thế Căng, Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Dao,… chính vua Minh trực tiếp chỉ thị phải dụ dỗ cho bằng được(16). Có trường hợp khác như Bùi Bá Kỳ, bọn quan lại dưới quyền sơ ý để đến nỗi ông ta từ chỗ chạy sang Minh cầu cứu đến chỗ mất hết lòng tin tưởng, vua Minh cũng trực tiếp xuống chỉ rút kinh nghiệm về việc “dùng người” và than thở không thôi(17). Sự chu đáo trong chính sách “chiêu hồi” này còn biểu hiện ở cung cách chiêu hồi: tất cả đều được lập thành danh sách, mời về Yên Kinh khoản đãi và để cho bọn quan lại cao cấp nhà Minh chủ yếu là Hoàng đế “bồi dưỡng về lập trường quan điểm”, rồi sau đấy lại được trả trở về Giao Chỉ, phân bổ đi nhận các chức quan(18).

Nhưng thủ đoạn mỵ dân mà nhà Minh lưu tâm hàng đầu – và từ đây cũng sẽ đẻ ra nhiều nhiệm vụ phức tạp cho cuộc đấu tranh chính trị chống xâm lược – chính là một phương sách hai mặt: vừa triệt để thống nhất về bản chất với những tên xâm lược trong quá khứ, lại vừa làm ra vẻ giữa mình và quá khứ có một bước ly khai. Ngay trong đạo sắc 10 điều của Minh Thành Tổ đề ngày 8 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406) gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng trên đường y cất quân sang Đại Việt, đã dẫn một phần ở trên, có một điều thứ tư rất đáng chú ý: “Hỏi xem cột đồng trụ hiện dựng ở đâu, phải đập cho nát và ném ra ngoài đường, để cho nguời trong nước đều trông thấy”(19). Chắc ai cũng phải lấy làm lạ: một bằng chứng “chinh phục” tiếng tăm của Mã Phục Ba thời Hán, cũng là một dấu vết của sự sỉ nhục mà người Việt nhiều đời đã phải ném đá chồng lên cho mất tích, ấy thế mà vua Minh lại bắt phá đi? Ông ta hớ hênh dại dột, hay ngông cuồng, hay thật bụng nhân đức? Đâu có phải vậy! Thực tình Minh Thành Tổ coi đây là một việc hệ trọng, và trong những sắc chỉ ban bố một năm sau đó, ông ta còn nhắc lại điều này(20). Dám hy sinh đến cả “sự nghiệp” vênh vang của “tiền nhân”, phải chăng tên đầu sỏ xâm lược ở thế kỷ XV muốn nhờ đấy đánh đổi lấy một bộ mặt mới, chí ít cũng giúp y che giấu phần nào cái bản chất “một đồng một cốt” giữa y với Mã Viện, để y có thể thừa cơ tung hoành? Có lẽ! Nhưng chắc chắn còn những lý do thâm trầm hơn. Kinh nghiệm xương máu đã cho tên trùm Đại Hán thấy, đụng đầu vào xứ sở Đại Việt quả là điều gay. Một cột đồng trụ những tưởng nhục mạ được dân Nam và trói chặt họ vào một cái mốc “chiến bại”, thì rốt cuộc cũng có nghĩa gì đâu khi mà, vượt lên trên tất cả những thứ cột mốc hình thức kia, một quy luật lịch sử lạnh lùng – mà ngay nhiều tên xâm lược cũng phải đành lòng thừa nhận – cứ tự nó phát huy tác dụng: “… dù có cướp được nước họ thì rồi cũng không thể giữ được”(21). Có nghĩa là chỗ khó khăn nhất, mà quả là khó, là làm sao biến được dân tộc Việt thành người Trung Quốc, để vĩnh viễn họ không còn tìm cách nổi dậy, và đất nước họ vĩnh viễn là quận huyện của “thiên triều”? Thủ đoạn đập phá cột đồng trụ của Minh Thành Tổ chính là một cách lý giải mới đối với bài tính nát óc này. Y quyết tâm phủ nhận những ràng buộc vô hiệu bề ngoài mà tìm kiếm những ràng buộc lợi hại hơn hẳn. Đó là những trói buộc nghiệt ngã trên lĩnh vực tư tưởng, những quy định có tính chất chuyên chế, độc đoán về sinh hoạt tinh thần.

Lần đầu tiên, trong lịch sử xâm lược Đại Việt của bọn chúa tể phong kiến Trung Quốc, tên xâm lược nhà Minh áp đặt một cách gay gắt vấn đề hệ tư tưởng đối với xã hội Việt Nam. Trong bản bố cáo đề ngày 8 tháng Tư năm 1407, sau khi chiếm xong nước ta, Minh Thành Tổ dành hẳn một đoạn khá văn hoa để nhấn mạnh rằng, một trong những tội trạng của Hồ Quý Ly khiến “ngài” không thể không “chinh thảo”, là họ Hồ đã tự coi “đạo của mình hơn cả Tam vương, đức cao hơn Ngũ đế, cho Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương không đủ để noi theo, Chu Công Khổng Tử không đáng làm thầy mình, giễu Mạnh Tử là nhà nho ăn cắp, nhạo Chu [Đôn Di], Trình [Hiệu, Trình Di], Truơng [Tải], Chu [Hy] là phường trộm cướp”(22), v.v. Cơn giận của “ngài” kể cũng dễ hiểu, bởi một nước tự xưng là “thần tử” của Hoa hạ làm sao có thể dám coi thường cái đạo mà các Đại Hoàng đế Trung Quốc tôn thờ? Nhưng còn một lẽ sâu xa nữa là có đưa đạo Nho lên làm “đạo thống” thì mới dễ dàng phát huy ảnh hưởng của “thiên triều” tới các cõi xa, nói như họ Khổng là “làm cho xa thư về một mối”. Và khi đã “gắn bó với nhau về ý thức hệ” thì há miệng mắc quai, cúi mọp đầu không dám phản kháng là điều dễ hiểu.

Dù sao, vấn đề không chỉ giản đơn có vậy. Minh Thành Tổ muốn lấy đạo Nho để thống trị nhân dân Đại Việt, nhưng rồi y lại còn muốn đi xa hơn. Cuồng vọng bá chủ sôi sục khiến y cảm thấy như thế vẫn chưa thoả lòng. Tốt nhất là làm sao cho nước “man di” kia không còn có gì gọi là long mạch tư tưởng, tinh thần. Y muốn xóa sạch ở cái dân tộc nhỏ bé phương Nam đầy sức tự cường mà trong lòng nhiều thế hệ những tên giặc Bắc vẫn rất khiếp sợ, toàn bộ ý thức về quá khứ lịch sử của chính họ. Mà xóa sạch được quá khứ của một dân tộc chính là cách cắt đứt nguồn tiếp sức quan trọng của dân tộc đó, đặt họ vào chỗ mù mịt tối tăm, phá tan đi cái nền tảng làm cho họ tồn tại và sinh thành. Muốn vậy phải làm thế nào? Không có cách nào hữu hiệu hơn là tàn phá không thương tiếc tất cả những gì là sản phẩm trí tuệ của dân tộc này, nó là biểu trưng cho văn minh, văn hóa. Trong sắc chỉ 10 điều của Minh Thành Tổ gửi Tổng binh Chu Năng đã nói ở trên, bên cạnh những điều căn dặn tỉ mỉ về cách chế ngự “hoả khí” lợi hại của cha con họ Hồ, về việc tịch thu sổ sách kê khai nhân khẩu và ruộng đất, hoặc đập phá cột đồng trụ,… còn một điều đặc biệt hơn mọi điều kia: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lão thì không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến cả những loại [sách] ca lý dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay thì đều giữ gìn cẩn thận, còn các bia do An Nam dựng thì phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để còn(23).

Thử lần tìm cái động cơ chính ẩn trong đạo sắc văn này. Tên vua Minh nói: tất cả những gì thuộc nền văn hóa chính quốc Trung Hoa, kể cả sách kinh của Phật và Lão, đều được giữ lại đầy đủ. Trái lại, bao nhiêu trước tác thuần túy Việt Nam thì đều phải phá hủy. Vậy ra, sự lựa chọn của y chẳng phải là đạo Nho hay một hệ tư tưởng chính thống nào cả. Đối với người Giao Chỉ cũng như các dân tộc bị y xâm lược, y chỉ cần một sự lựa chọn đơn giản, mà lại thực dụng hơn nhiều: hãy bắt họ từ bỏ tất cả những gì sinh ra trong đầu óc của chính dân tộc họ kể cả trong quá trình tiếp nhận những gì là vốn liếng tinh thần của “nước mẹ Đại Minh”. Ý hẳn Hoàng đế nhà Minh muốn bắt các dân tộc thôi đừng có tự mình tư tưởng nữa. Mà không tư tưởng, thì có nghĩa là… không tồn tại.

Thế rồi, từ trong thâm cung tại Yên Kinh, Hoàng đế nhà Minh ngày đêm lo theo dõi, đôn đốc việc thi hành lệnh chỉ đã ban ra. Đến nỗi khi thấy có một bộ phận quân lính không chịu làm theo đúng lệnh, nghĩa là không đốt ngay sách vở cướp được của nước ta mà còn giữ lại, y lập tức gửi một tờ lệnh thứ hai nhắc lại đúng những điều đã chỉ thị từ trước, lại giải thích rõ vì sao cần đốt ngay tại chỗ chứ không nên giữ lại: “Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng phàm An Nam có tất thảy những sách vở văn tự gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ, như loại “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết, và tất thảy các bia mà xứ ấy dựng lên thì một mảnh một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại. Nay nghe nói những sách vở do quân lính bắt được, không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Quân lính phần đông không biết chữ, nếu đâu đâu cũng đều làm vậy thì khi đài tải sẽ mất mát nhiều. Từ nay các ngươi phải làm đúng như lời sắc trước, truyền cho quân lính hễ thấy sách vở văn tự ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay, không được lưu lại(24).

Dĩ nhiên, ngay những tên đã trù mưu định kế ăn cướp nước ta cũng cảm thấy một chủ trương tàn bạo như thế thực muôn phần nguy hiểm. Nó sẽ dẫn đến làm nổ bùng lòng căm phẫn ngút trời của cả một dân tộc, và sức mạnh có tính dây chuyền của sự bùng nổ đó chắc sẽ gây nên những hậu quả khôn lường. Cũng vì thế, đi kèm với những điều lệnh, Minh Thành Tổ còn bắt quân lính phải giữ thật kín chủ trương của mình. Sau gần một năm đốt phá, biết rằng yêu cầu của việc phá hoại về căn bản đã xong, ngày 19 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (25 – 6 – 1407), y lại gửi một sắc chỉ xuống phương Nam ra lệnh cho các tướng lĩnh của y phải cấp tốc thu hồi những đạo dụ y đã ban ra từ trước: “Nay An Nam đã bình định xong; […] trừ các loại chế dụ ra còn thì tất cả các đạo sắc viết tay và các ký sự thư thiếp, đã từng phát đi từ trước, cùng với sổ ghi chép mà Thành quốc công đã lĩnh, hoặc các thứ [sổ sách] trù nghị mọi việc, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại, rơi vào tay bọn kia(25) thì rất bất tiện(26).

Tưởng cũng khó có thể chê trách gì về sự cao tay của Minh Thành Tổ trong việc xếp đặt đâu ra đấy từng bước “tiến”, “thoái”, “thắt”, “cởi” cho mọi hành động tàn phá kinh khủng nhất của mình. Nếu nghệ thuật diệt chủng của y thâm thúy đến mức đẩy đối tượng bị tiêu diệt vào một tình trạng trống rỗng, hư vô, không còn quá khứ cũng không còn tương lai, nghĩa là cứ dần dần “tự diệt”, thì nghệ thuật xóa dấu vết của y cũng tinh vi đến mức y vừa ăn cướp lại vừa có thể hùng hổ la làng rằng bị cướp đe dọa. Âu đây chính là những dáng nét hiện đại nhất của tên xâm lược Đại Hán ở thế kỷ XV vốn sẵn có trong mình cái bản chất xâm lược dã man của nhiều thế hệ cha ông đã thấm vào máu thịt; là cái được nhân lên, biến hóa sinh động hơn những thủ đoạn cướp đất giết dân hôm qua hôm kia còn rất quen thuộc mà nay đã bị xem là quá cổ lỗ và thật thà.

N.H.C.

 Chú thích:

Những chú thích dưới đây, so với bản in lần đầu của bài này (ngày 14.9.2013), đã được chỉnh sửa theo chỉ dẫn của tác giả, thống nhất theo bản Việt kiệu thư của viện Viễn Đông bác cổ thời Pháp, nay là Thư viện Viện Khoa học xã hội (xem chú thích số 1., bài Sách Việt kiệu thư trong con mắt giới sử học đương đại). Diễn Đàn.

(1) Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xã hội, in lần thứ hai, H., 1971; tr. 189.

(2) Thật ra, khi cháu Minh Thái Tổ lên nối ngôi thì chú y, tức Chu Đệ 朱棣 liền cướp lấy mà lập ra triều đại thứ ba của nhà Minh (1402 – 1424), tức Minh Thành Tổ.

(3) Lý Văn Phượng 李 文 鳳, Việt kiệu thư 越 嶠 書 (1540). Đây là một tài liệu quý, ghi chép khá đủ theo trật tự thời gian những đạo sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi đều đặn (thường là vài ngày một đạo) đến các tướng chỉ huy trong cuộc xâm lăng Đại Việt 1406-1407. Trước đây chúng tôi chỉ tham khảo duy nhất cuốn sách này của Thư viện Viện Khoa học xã hội vốn là sách của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp cũ, ký hiệu: 1731, (nay thay đổi ký hiệu là: VH. 000276 – HV. 000281), nhưng năm 2001, sang làm việc ở Thư viện Yenching Harvard, tìm thêm được văn bản do Tề Lỗ thư xã xuất bản, Nam Kinh, 1996. Tuy vậy, trong bài này, vẫn xin ghi chú số quyển và trang và theo bản của Thư viện Viện Khoa học xã hội để cho thống nhất. VH. 000276, Q. 2, tờ 19a: 今 安 南 雖 在 海 陬 。自 昔 為 中 國 郡 縣 。五 季 以 來 力 不 能 制 。歷 宋 及 元 雖 欲 圖 之 而 功 無 所 成 。貽 笑 後 世 (Kim An Nam tuy tại hải tưu, tự tích vi Trung Quốc quận huyện. Ngũ quý dĩ lai lực bất năng chế. Lịch Tống cập Nguyên tuy dục đồ chi nhi công vô sở thành, di tiếu hậu thế).

(4) Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 20a (Điều ghi chú thứ 9 trong 18 điều khoản kèm theo tờ sắc này): 宋 元 皆 發 兵 征 討 安 南。將 驕 兵 懦。貪 財 好 色。以 此 不 能 成 (Tống Nguyên giai phát binh chinh thảo An Nam, tướng kiêu binh nọa, tham tài hiếu sắc, dĩ thử bất năng thành).

(5) “Chiếu bá cáo thiên hạ về việc bình định An Nam”, đề ngày 1 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 27b. Nguyên văn: 其 臣 季 孷 黎 蒼 久 畜 虎 狼 之 心 。竟 為 吞 噬 之 。舉 弒 其 國 王。 戕 其 本 宗。覃 被 陪 臣 重 罹 慘 酷 。掊 剋 殺 戮 。毒 病 生 民 。雞 犬 弗 寧 。怨 聲 載 路 (Kỳ thần [Lê ] Quý Ly, Lê [Hán] Thương cửu súc hổ lang chi tâm, cánh vi thôn phệ chi, cử thí kỳ quốc vương, thương kỳ bản tông, đàm bị bồi thần trọng duy thảm khốc, bồi khắc sát lục, độc bệnh sinh dân, kê khuyển phất ninh, oán thanh tái lộ).

(6) Sắc chỉ đề ngày 29 tháng Bảy năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 18a. Nguyên văn: 今 廣 西 奏 。安 南 遣 人 來 貢 謝 罪 。原 胡 奄 。 父 子 罪 本 難 容 。 今 既 改 過 自 新 。只 著 他 辨 黃 金 五 萬 。象 一 百 隻 。 以 贖 其 罪 。 金 象 不 足 。許 以 珠 玉 寶 貝 代 之 。以 足 其 數 即 止 。大 軍 不 進 (Kim Quảng Tây tấu: An Nam khiển nhân lai cống tạ tội. Nguyên Hồ yêm, phụ tử tội bản nan dung. Kim ký cải quá tự tân, chỉ trước tha biện hoàng kim ngũ vạn, tượng nhất bách chích, dĩ thục kỳ tội. Kim tượng bất túc, hứa dĩ châu ngọc bảo bối đại chi, dĩ túc kỳ số tức chỉ, đại quân bất tiến).

(7) Điều thứ 10 trong 10 điều căn dặn trong đạo sắc chỉ bí mật, xếp sát ngay sau đạo sắt đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 17b: 今 遣 朱 勸 張 瑛 齎 禮 部 咨 文 往 安 南 索 其 金 象。此 計蓋 欲 弛 其 鬥志。非 真 實 意 也 。 朱 勸 等 臨 行 朕 曾 面 諭 之 。今 到彼 只 住 五 日 。若 五 日 內 措 辨不 足 。 許 隨 多 少 先 將 來 。 後 卻 差 人 納 足 。爾 待 朱 勸 等 人 去 。大 軍隨 後亦 進 。 若 遇 差 出 納 金 象 之 人 就 執 之 。訖 問 聲 息 。 須 勿 令彼 知 差 來 被 執 。今 朱 勸 等 到 處 。爾 事 機 切 不 可 令 人 知 之 (Kim khiển Chu Khuyến, Trương Anh tu Lễ bộ tu văn vãng An Nam sách kỳ kim tượng. Thử kế cái dục thỉ kỳ đấu chí, phi chân thực ý dã. Chu Khuyến đẳng lâm hành, trẫm tằng diện dụ chi, kim đáo bỉ chỉ trú ngũ nhật. Nhược ngũ nhật nội thố biện bất túc, hứa tùy đa thiểu tiên tương lai, hậu khước sai nhân nạp túc. Nhĩ đãi Chu Khuyến đẳng nhân khứ, đại quân tùy hậu diệc tiến. Nhuợc ngộ sai xuất nạp kim tượng chi nhân tựu chấp chi, cật vấn thanh tức. Tu vật linh bỉ tri sai lai bị chấp. Kim Chu Khuyến đẳng đáo xứ, nhĩ sự cơ thiết bất khả linh nhân tri chi).

(8) Sắc chỉ ngày 1 tháng Tám năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd tờ 20a: 安 南 自 我 朝 以 來 [。。 。] 數 十 年 不 曾 用 兵 。其 國 中 富 庶 (An Nam tự ngã triều dĩ lai, […] sổ thập niên bất tằng dụng binh, kỳ quốc trung phú thứ).

(9) Sắc chỉ đề ngày 14 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1407), Việt kiệu thư, Sđd; Q.2, tờ 24a. Nguyên văn: 頓 兵 江 上 與 賊 相 持 。黎 賊 之 計 正 欲 持 久 以 待 瘴 癘 之 發 。破 之 貴 在 神 速 。不 宜 遲 緩 (Đốn binh giang thượng dữ tặc tương trì, Lê tặc chi kế chính dục trì cửu dĩ đãi chướng lệ phát. Phá chi quý tại thần tốc, bất nghi trì hoãn).

(10) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, 1971, Sđd; tr. 262.

(11) Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2, tờ 22a đề rõ, ngày 6 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Minh Thành Tổ ban hành một điều khoản như sau: 安 南 金 場 。銀 場 遙 聞 原 是 占 城 之 地 而 界 相 爭 已 久 。亦 未 可 信 。平 定 之 後 。只 以 見 得 地 界 為 準 。縱 然 占 城 有 請 亦 不 可 擬 還 (An Nam kim trường, ngân trường dao văn nguyên thị Chiêm Thành chi địa, nhi giới tương tranh dĩ cửu, diệc vị khả tín. Bình định chi hậu, chỉ dĩ kiến đắc địa giới vi chuẩn. Túng nhiên Chiêm Thành hữu thỉnh, diệc bất khả nghĩ hoàn). Nghĩa là: Từ xa trẫm nghe nói mỏ vàng mỏ bạc nguyên là phần đất Chiêm Thành, địa giới hai bên tranh chấp đã lâu, cũng chưa rõ thế nào. Sau khi bình định xong, cứ lấy địa giới mà mình trông thấy làm chuẩn, nếu Chiêm Thành có cầu xin cũng không trả.

(12), (13) Đại Việt sử ký toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, 1971, Sđd; tr. 250, 262.

(14) Sắc chỉ đề ngày 4 tháng Mười một năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 23b. Nguyên văn: 大 軍 入 安 南 。但 有 助 黎 寇 來 拒 敵 者 殺 之 。 若 有 能 棄 甲卻 戈 降 者 。一 人 不 可 妄 殺 (Đại quân nhập An Nam, đãn hữu trợ Lê khấu lai cự địch giả, sát chi. Nhược hữu năng khí giáp khước qua hàng giả, nhất nhân bất khả võng sát).

(15) Sắc chỉ đề ngày 16 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 22b. Nguyên văn: 其 有 年 少 而 罪 當 死 者 。宜 處 以 宮 刑 。亦 可 以 保 全 其 命 。他 日 又 得 以 克 使 令 (Kỳ hữu niên thiếu nhi tội đáng tử giả, nghi xử dĩ cung hình, diệc khả dĩ bảo toàn kỳ mệnh, tha nhật hựu đắc dĩ khắc sử lệnh).

(16) Sắc chỉ đề ngày 29 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd; tờ 37b.

(17) Sắc chỉ đề ngày 20 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 29b. Nguyên văn: 敕 傳 奏 言 裴 伯 耆 事 為 將 之 。道 在 於 用 人 。一 裴 伯 耆 不 能 用 何 以 能 成 事 功 俠 。朕 有 南 鄙 又 憂 。古 人 用 人 之 法 具 右 方 冊 。爾 宜 審 觀 故 敕 (Sắc truyền tấu ngôn Bùi Bá Kỳ sự vi tương chi. Đạo tại ư dụng nhân, nhất Bùi Bá Kỳ bất năng dụng, hà dĩ năng thành sự công hiệp? Trẫm hữu Nam bỉ hựu ưu. Cổ nhân dụng nhân chi pháp cụ hữu phương sách, nhĩ nghi thẩm quan cố sắc).

(18) Sắc chỉ đề ngày 22 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd; tờ 25b – 26a. Nguyên văn: 凡 安 南 官 吏 來 歸 降 者 。即 陸 續 遣 之 來 朝 。聽 朕 面 諭 。給 與 印 信 俾 還 管 事 。如 或 事 世 未 可 又 在 。隨 宜 處 置 。不 可 執 一 (Phàm An Nam quan lại lai quy hàng giả, tức lục tục khiển chi lai triều, thính trẫm diện dụ, cấp dữ ấn tín, tỷ hoàn quản sự. Nhu hoặc sự thế vị khả hựu tại, tùy nghi xử trí, bất khả chấp nhất).

(19) Điều thứ tư trong Sắc chỉ bí mật, đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 17a. Nguyên văn: 訪 問 古 時 銅 柱 所 在 亦 便 碎 之。 委 之 於 道 以 示 國 人 (Phỏng vấn cổ thời đồng trụ sở tại, diệc tiện toái chi, uỷ chi ư đạo dĩ thị quốc nhân).

(20) Điều ghi thêm thứ hai trong Sắc chỉ đề ngày 9 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 25b.

(21) Trích thư bọc sáp của tướng Minh Vương Thông gửi về nước năm 1427. Một viên quan cai trị khác của nhà Minh là Giải Tấn cũng từng tâu lên vua Minh những lời tương tự. Xem Đại Việt sử ký toàn thư, Tập III, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xã hội, in lần thứ hai, H., 1972; tr. 47.

(22) “Chiếu bá cáo thiên hạ về việc bình định An Nam”, đề ngày 1 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 27b. Nguyên văn: 自 以 為 道 優 於 三 王 。 德 高 於 五 帝 。以 禹 湯 文 武 不 足 法 。周 公 孔 子 為 不 足 師 。毀 孟 子 為 盜 儒 。謗 周 程 張 朱 為 剽 竊 。欺 聖 欺 天 。無 倫 無 理 (… tự dĩ vi đạo ưu ư Tam vương, đức cao ư Ngũ đế, dĩ Vũ Thang Văn Vũ bất túc pháp, Chu Công Khổng Tử vi bất túc sư, hủy Mạnh Tử vi đạo Nho, báng Chu Trình Trương Chu vi phiếu thiết. Khi thánh khi thiên, vô luân vô lý).

(23) Sắc chỉ bí mật, ban bố 10 điều cho quân lính tuân theo, xếp thứ tự ngay sau đạo sắc đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 16a – 17b. Nguyên văn: 兵 入 。除 釋 道 經 板 經 文 不 燬 。外 一 切 書 板 文 字 以 至 俚 俗 童 蒙 所 習 。如 上 大 人 丘 乙 已 之 類 。片 紙 隻 字 悉 皆 燬 之 。其 境 內 中 國 所 立 碑 刻 則 存 之 。 但 是 安 南 所 立 者 悉 壞 之 。 一 字 不 存 (Binh nhập, trừ Thích, Đạo kinh bản kinh văn bất hủy. Ngoại nhất thiết thư bản văn tự dĩ chí lý tục đồng mông sở tập, như “Thượng đại nhân Khưu ất dĩ” chi loại, phiến chỉ chích tự tất giai hủy chi. Kỳ cảnh nội Trung Quốc sở lập bi khắc tắc tồn chi. Đãn thị An Nam sở lập giả tất hoại chi, nhất tự bất tồn).

(24) Điều khoản bổ sung vào sắc chỉ đề ngày 21 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, tờ 33a. Nguyên văn: 屢 嘗 諭 爾 凡 安 南 所 有 一 切 書 板 文 字 。 以 至 俚 俗 童 蒙 所 習 。 如 上 大 人 丘 乙 已 之 類 。片 紙 隻字及 彼 處 自 立 碑 刻 。見 者 即 便 毀 壞勿存 。今 聞 軍 中 所 得 文 字 不 即 令 軍 人 焚 毀 。必 檢 視 然 後 焚 之 。 且 軍 人 多 不 識 字 。 若 一 一 令 其 如 此 。必 致 傳 遞 遺 失 者 多 。爾 今 宜 一 如 前 敕 。號 令 軍 中 但 遇 彼 處 所 有 一 應 文 字 即 便 焚 毀 。 毋 得 存 留 (Lũ thường dụ nhĩ, phàm An Nam sở hữu nhất thiết thư bản văn tự, dĩ chí lý tục đồng mông sở tập, nhưThượng đại nhân Khưu ất dĩ” chi loại, phiến chỉ chích tự cập bỉ xứ tự lập bi khắc, kiến giả tức tiện hủy hoại vật tồn. Kim văn quân trung sở đắc văn tự bất tức lệnh quân nhân phần hủy, tất kiểm thị nhiên hậu phần chi. Thả quân nhân đa bất thức tự, nhược nhất nhất lệnh kỳ như thử, tất trí truyền đệ di thất giả đa. Nhĩ kim nghi nhất như tiền sắc, hiệu lệnh quân trung đãn ngộ bỉ xứ sở hữu nhất ứng văn tự tức tiện phần hủy, vô đắc tồn lưu).

(25) Chỉ người Việt.

(26) Sắc chỉ đề ngày19 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (25.6.1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 32a. Nguyên văn: 今 安 南 已 平 [。 。 。] 除 制 諭 外 應 發 去手 敕及 記 事 小 帖 成 國 公 領 帶 去 小 冊 子。及 條 畫 事 件 。盡 數 檢 對 。 密 封 繳 來 。 不 許 存 留 一 字 。 漏 落 在 彼 不 便 (Kim An Nam dĩ bình […] Trừ chế dụ ngoại ứng phát khứ thủ sắc, cập ký sự tiểu thiếp Thành Quốc công lĩnh đới khứ tiểu sách tử, cập điều hoạch sự kiện, tận số kiểm đối, mật phong kiểu lai. Bất hứa tồn lưu nhất tự, lậu lạc tại bỉ bất tiện).

 

Hoành phi câu đối ở điện Long Hưng

Tiente

Đình làng Xuân Quang (Văn Giang, Hưng Yên) là một di tích hiếm hoi thờ Triệu Đà trên đất Việt. Trong đình có nhiều những hoành phi câu đối cổ.
Câu đối ở phía trước 2 cột vào đền:
Bạt địa nguy thôi phương tích bất tùy Tần Hán khứ
Xung thiên vũ trụ anh tiêu trường yết Lạc Hùng lai.

Dịch là:
Bạt đất mênh mông, danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán
Động trời khắp chốn, chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hùng.

Ở đây khẳng định Triệu Vũ Đế nối tiếp truyền thống Lạc Hùng xưa.

Câu đối ở mặt sau 2 cột vào đền:
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch:

Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.

Có thể thấy rõ những câu đối này dành cho một đế vương khởi thủy của nước Việt, với công nghiệp đồ sộ, xung thiên bạt địa, bất khuất không phục tùng nhà Tần nhà Hán, dựng nước vạn dặm từ Mân Việt đến Lạc Việt. Và

Cổng đình đề: Long Hưng Điện

LongHungDien2

Hoành phi ở nhà tiền tế:

ThienNamdethuy

Thiên Nam đế thủy

và ở gian thờ Triệu Vũ Đế: Chiêu vu thiên

Trước đền còn có gác chuông và gác trống. Trong sân có  4 bức tường tranh đắp nghê điểu, đề Lộc – Thọ, Vị – Danh. Trong đền có một số tượng thờ các “vị” quan lang, nữ lưu.  Đặc biệt ở nhà tiền tế còn có một số bài thơ ghi trên xà ngang với các họa tiết đẹp, như:

Baitho

Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội vừa qua, nhưng cũng như chính Triệu Vũ Đế, ngồi đền này nay đã gần như bị lãng quên, bỏ hoang phế, cho dù đây có thể là nơi đã khai sinh tên thành Thăng Long, là nền cung điện Long Hưng cổ 2000 năm trước. Ngày nay tới điện Long Hưng chỉ thấy cỏ mọc um tùm, đường vào ngập bùn đất, gỗ lạt ngổn ngang. Một bên sân đình là … UBND xã, bên kia là … sân hợp tác xã Xuân Quan. Thật không khỏi đau xót cho sử Việt.

Tamquan-1

Các câu đối ở lăng mộ Phùng Hưng

Lăng mộ Phùng Hưng hiện tại nằm ở Kim Mã Hà Nội, được trùng tu năm 2010. Trong khu lăng mộ có khá nhiều câu đối ca ngợi công đức, uy nghiệp của Phùng Hưng. Ngoài ra khu Kim Mã cũng là nơi thờ Linh Lang đại vương người đã lập ra 13 trại phía Tây thành Thăng Long đời Lý nên một số vế đối cũng nói tới việc này.

Câu đối ở chính đường:
Khứ bộc phong công nhất thống sơn hà quang Việt sử
Trừ hung thịnh đức vạn dân phụ mẫu hiển Cam Lâm
Dịch:
Ngăn giặc lũ, công cao dày thống nhất non sông sáng sử Việt
Trừ hung bạo, nêu nhân đức cha mẹ vạn dân từ Cam Lâm
Cam Lâm là tên làng Đường Lâm ở Sơn Tây.

Thiên dư niên đức trạch uông hàm ngưỡng như phụ mẫu
Thập tam trại nhân yên phồn tăng trường thử giang sơn
Dịch:
Nghìn năm lẻ công đức cao dầy như cha mẹ
Mười ba trại dân mãi bình yên với nước non.
13 trại đây nói tới khu phía Tây Thăng Long (trong đó có Kim Mã) do Linh Lang đại vương lập nên. Câu đối này cũng gặp ở đình Kim Mã.

Vạn cổ anh linh chiêu nhật nguyệt
Nhất thiên chính khí tráng sơn hà
Dịch:
Vạn năm anh linh tỏa trời đất
Một trời chính khí vững non sông.

Uy đức anh hùng oanh vũ trụ
Thanh linh hào kiệt lẫm thiên thu
Dịch:
Uy đức anh hùng vang vũ trụ
Thanh linh hào kiệt vọng nghìn năm.

Bác hổ uy dương trừ Bắc khấu
Thùy long nhân nghiễm hộ Nam thiên
Dịch:
Đánh hổ ra uy trừ giặc Bắc
Nhốt rồng trải đức giúp trời Nam.
Câu này nói tới tích Phùng Hưng là người có sức khỏe, từng tay không đánh chết hổ. Còn “nhốt rồng” là nói tới cuộc khởi nghĩa Phùng Hưng chống nhà Đường đã thắng lợi.

Hữu gia đức trạch lưu hương ấp
Bất mẫn tinh thần tại mộ lăng
Dịch:
Ân đức nêu cao lưu quê quán
Tinh thần vững vàng ở mộ lăng.

Hãn hoạn trừ tai triêm thánh đức
An dân hộ quốc hiển thần công
Dịch:
Ngăn hoạn nạn, trừ tai ương, dầy thánh đức
Yên dân tình, giúp nước nhà, tỏ thần công

Một số câu đối khác đã giới thiệu ở bài Khởi nghĩa Phùng Hưng qua các di tích ở Hà Nội.

Cuối cùng là cấu đối hay nhất, khó đọc nhất và không dễ hiểu là đôi vế đối được khắc chìm trên đá cạnh mộ Phùng Hưng.

Đường nhân kỳ hữu tàm/ hoa ngạc liên huy/ thân hậu thiên vô Huyền Vũ giáp

Hán tặc hà túc sỉ/ thảo mao(?) xướng nghĩa/ sinh tiền bất sổ Lục Lâm binh.

Câu đối này để hiểu cần chú ý chỗ ngắt đoạn. Đối với những câu đối dài vế đối kết thúc bởi vần bằng thì âm ở các chỗ ngắt đoạn phải là vần trắc. Và ngược lại nếu vế đối kết thúc bởi vần trắc thì ở các chỗ ngắt đoạn phải là vần bằng.
Tạm dịch:
Người Đường có biết xấu, đài hoa liền sáng, hậu thế không nấp giáp Huyền Vũ
Giặc Hán bao hổ thẹn, thảo mãng dấy nghĩa, tiền nhân sá gì lũ Lục Lâm.
Tiền nhân” ở đây chính là Phàn Sùng, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa Xích My chống lại lũ giặc cỏ núi Lục Lâm hay “Hán tặc“. Phàn Sùng phiên thiết cho họ… Phùng, chính là tiền nhân của Phùng Hưng. “Hậu thế” ở đây là chỉ Phùng Hưng, người đã không theo chế độ, khuôn khổ của nhà Đường (“giáp Huyền Vũ” – cửa Huyền Vũ là nơi Đường Thái Tông Lý Thế Dân lên ngôi), lập nên quốc gia riêng, tỏa sáng trong lịch sử.
Giải nghĩa cặn kẽ câu đối này xin xem bài Đường nhân – Hán tặc của anh Văn nhân.

Khảo cổ thời Nam Việt và nguồn gốc Việt của các triều đại Trung Hoa

Bài này trình bày một số suy nghĩ khi đọc các tư liệu do Dr. Nguyễn Việt, một chuyên gia khảo cổ hàng đầu về thời sơ sử Việt Nam, cung cấp trên trang: http://www.drnguyenviet.com/

Trong bài Thạp đồng Đông Sơn của huyện lệnh Long Xoang (Xuyên) Triệu Đà:
“Chiếc thạp tôi muốn nói tới mang ký hiệu BMM-2505-29, cao 42cm, nặng 11,500 kg (không kể phần nắp đã mất), thuộc loại thạp có vành gờ miệng đạy nắp đồng. Chính giữa thân thạp là băng gồm 4 hình thuyền chiến với kiểu tạo hoa văn in chìm rất giống thạp Hợp Minh (Yên Bái) và mộ Việt Vương (Văn Đế Triệu Muội) ở Quảng Châu…
Giá trị nhất của chiếc thạp còn là một dòng gồm 22 chữ Hán chạy song song ở phần trống gần sát gờ miệng… Tôi đã từng công bố và dịch những dòng chữ này, tuy nhiên chữ thứ hai trong số 22 chữ này vẫn còn để trống. Gần đây, trong khi tiếp tục theo đuổi giải nghĩa chữ này, tôi đã nhận thấy tự dạng chữ này khá gần với chữ „Xoang“, và hai chữ đầu chỉ địa danh của 22 chữ trên miệng thạp có thể đọc là „Long Xoang“.

龍 xoang / 重 六 (衡) / 名 曰 果 / 第 未 五 十 二 / 容 一 廿 一 斗 七 升 半 升
…rất có thể đây là một biến âm của chữ Long Xuyên, nơi Triệu Đà làm huyện lệnh trước khi lập nước Nam Việt.

… có dòng chữ :“Danh Viết Quả“ ( 名 曰 果 ). – Tên (thạp) gọi là Quả nhằm ghi tiếng địa phương dùng để gọi chiếc thạp.
… Chủ nhân chiếc thạp BMM 2505-29 phải là người rất giàu có. Chiếc thạp này có dòng ghi số hiệu :“Đệ vị ngũ thập nhị“(第 未 五 十 二 ), tức là đồ vật đứng thứ 52. Cách ghi này tương tự cách thống kê đồ vật tuỳ táng trong mộ một huyện lệnh người Hán khác đương thời ở Quý Huyện – La Bạc Loan và mộ Nam Việt Văn Đế Triệu Muội.
… Theo bà Phạm Lan Hương, chiếc thạp được bà sưu tầm có nguồn gốc Thanh Hoá. Ở Thanh Hoá hiện mới có một chiếc thạp cùng cỡ và cũng có hoa văn thuyền người phát hiện được ở Xuân Lập… Khu vực phát hiện những chiếc thạp lớn có trang trí đẹp cùng thời hai chiếc thạp kể trên là vùng trung lưu Hồng Hà, từ Việt Trì đến Lào Cai (Vạn Thắng, Đào Thịnh, Hợp Minh, Lào Cai).”
Theo tư liệu trên có thể nhận định một số vấn đề:
– Văn hóa Nam Việt mang đậm nét văn hóa… Việt Nam (Đông Sơn). Từ ngữ cũng dùng phát âm địa phương.
– Hai chữ đầu chỉ địa điểm trên thạp (Long Xoang – Long Xuyên hay Long Khoang) nhiều khả năng không phải là tên huyện mà là tên quận. Một huyện lệnh thì quá nhỏ để có tiềm năng đúc riêng những đồ đồng cho mình.
– Địa danh này theo vị trí tìm thấy thạp (Thanh Hóa) và những thạp đồng khác cùng kiểu phải nằm ở Giao Chỉ, chứ không phải Nam Hải.
Nếu vậy thì chiếc thạp này có thể là một bằng chứng cho thấy Giao Chỉ là Long Xuyên thời Tần. Long Xuyên tương ứng với Tam Xuyên, tên quận mà Tần Thủy Hoàng đã gọi vùng đất của nhà Đông Chu khi thống nhất lục quốc.
Sử Tàu những đoạn liên quan đến Việt Nam có khá nhiều “huyện lệnh” rất khó hiểu. Triệu Đà là huyện lệnh mà lập quốc, xưng đế ngang với nhà Hán. Khu Liên, con công tào ở huyện Tượng Lâm, khởi nghĩa mà thành vương quốc
Lâm Ấp – Chiêm Thành. Đây là sự gán ghép vô lý những địa danh lớn (cấp quận) thành huyện nhỏ để vùi dập sự thật lịch sử.

Trong bài Triệu Đà:
“…Bản thân ông lấy vợ người Việt, đền thờ một trong số phu nhân người Việt của ông hiện ở Đồng (Đường) Xâm (Kiến Xương, Thái Bình)… Những nghiên cứu về đồ tuỳ táng chôn trong các khu mộ táng Nam Việt cũng như xương cốt và ADN cổ phản ánh rõ ràng ưu thế Việt tộc trong quốc gia Nam Việt của Triệu Đà. Trong mộ vua Nam Việt cũng như mộ các quan thứ sử, huyện lệnh Nam Việt đều chôn theo những bảo vật của người Việt thuộc nhóm văn hoá Đông Sơn, như trống đồng, thạp đồng, rìu chiến và nỏ…”
Không chỉ văn hóa mà phân tích di truyền cho thấy rõ rằng nước Nam Việt là nước của người Việt 100%.

Trong bài Âu Lạc và Giao Chỉ – một số vấn đề ngữ âm học lịch sử:
Khi kiểm định kỹ lại Sử Ký của Tư Mã Thiên, thời Hán Cao Tổ đã từng có (tước Hầu của vùng đất Giao ) chức Giao hầu do Lữ Sản em trai của Lữ Hậu đảm trách. Lữ Sản sau này được Lữ Hậu phong làm Lữ vương (tước Vương của vùng đất Lữ – nơi phát tích của tổ tiên Lữ Hậu). Trước khi chết, Lữ Hậu chia quân đội nhà Hán làm hai khối lớn, chính Lữ Sản được kiêm quản quân phương Nam. Điều này khiến ta có thể phỏng đoán đất Giao mà Lữ sản từng được phong hầu ở phương Nam, gắn với Giao Chỉ, Giao Châu chăng?
Thật kỳ lạ khi được biết em của Lữ Hậu là Giao Hầu và làm vương phương Nam, cũng là nơi phát tích của Lữ Hậu. Như vậy Lữ Hậu là người Giao Chỉ, và tất nhiên Lưu Bang lấy vợ từ thủa hàn vi cũng là người Giao Chỉ nốt.
Lạ hơn nữa Giao Chỉ dưới thời Lữ Hậu như sử chép là đất của Triệu Đà. Hoặc chí ít thì Triệu Đà cũng lập nước Nam Việt ngay sau khi Lữ Hậu mất. Như vậy Triệu Đà phải có liên hệ trực tiếp với Lữ Sản, là Giao hầu của phương Nam khi đó. Việc trong triều Nam Việt có thừa tướng là Lữ Gia cũng cho thấy vai trò của họ Lữ đối với nhà Triệu.
Lữ Gia thì được biết rõ là người Việt, chống Lộ Bác Đức trên đất Việt và có nhiều đền thờ ở đây. Tất cả khẳng định Giao Chỉ chính là nơi phát tích họ Lữ của Lữ Hậu và nhà Tây Hán.

Trong bài Hội nghị quốc tế về Văn hóa Hán và vấn đề thời thuộc Hán ở Việt Nam:
Hội nghị có ba báo cáo … văn hóa Hán ở Lĩnh Nam chỉ là những ảnh hưởng thượng tầng đan xen với văn hóa Yue (Việt) truyền thống và tạo ra một bản sắc địa phương riêng tác động trở lại văn hóa Trung Nguyên. Chính vì vậy, kết thúc vương triều Hán ở cuối thế kỷ 2 là sự trở lại của hai nhà nước phương nam vốn có nguồn gốc phi Hoa Hạ (Ngô và Thục) trong số ba nước tranh dành bá chủ thiên hạ. Nghiên cứu AND xương người chết chôn trong các hầm mộ thời Hán ở Lĩnh Nam do nhóm các nhà khoa học Đại học Hạ Môn (Trung Quốc) tiến hành cho thấy chủ nhân mộ đa phần là người Yue (Việt)”.
Như vậy chính các học giả trung quốc cũng xác định nhà Ngô và Thục thời Tam quốc là hai nhà nước của người Việt.

Thật cám ơn các nhà khảo cổ đã có những dẫn liệu xác đáng cho thấy từ Triệu Đà, Lữ Hậu đến Tôn Quyền, Lưu Bị đều là người Việt tộc. Vấn đề còn lại là lịch sử thực sự của những triều đại này là thế nào? Đã là người Việt thì sử của những triều đại này cũng phải là sử Việt, chứ không phải sử Hán.

Những câu đối kỳ lạ

Đọc sách Hoành phi câu đối Hán Nôm tinh tuyển của Trần Lê Sáng, Phạm Kỳ Nam, Phạm Đức Duật ta thấy có những câu đối khá lý thú.

Trang 96:
Sơn tú thủy giai như họa cao thanh Tản Nhĩ
Địa linh nhân kiệt kiêm ưu thao lược Tôn Ngô

Dịch:
Tản Nhĩ cao trong, nước biếc non xanh như vẽ
Tôn Ngô thao lược, người kiệt đất linh gồm tài.

Tiếc là sách không dẫn nguồn của câu đối trên. Lịch sử Việt Nam không có ai có tên họ là Tôn cả. Tôn Ngô rõ ràng chỉ Ngô Quyền, nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.

Trang 104:
Nhất trận hắc vân trừ Hán khấu
Thiên thu hương hỏa ứng Châu khu

Dịch
Một trận mây đen trừ giặc Hán
Ngàn năm hương hỏa ứng trời Nam.

Không hiểu sao các tác giả lại dịch Châu khu là trời Nam? Liệu Châu khu có phải là đất nhà Chu không, đối lại với giặc Hán?

Trang 154:
Hưng vương vỹ lược lưu thiên cổ
Tế thế phong công ký Vạn Xuân

Dịch:
Hưng vương, mưu lược lưu thiên cổ
Cứu thế, công lao chép Vạn Xuân.

(Đền Lý Nam Đế – Phủ Giầy)
Câu này cũng nói tới Lý Nam Đế nhưng đáng chú ý ở đâu là gọi Lý Nam Đế là Hưng vương. Hưng chuyển thành Hán, Vạn Thọ thành Trường An và Lý Bôn thành Lưu Bang…

Trang 156
Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ
Thục quốc sơn hà tự cố cung.

Dịch:
Tùng bách Chiêu lăng đâu chốn cũ
Nước Thục non sông vẫn cung xưa.

(Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa)
Thục quốc trong sử Việt là nước An Dương Vương. Nhưng sao lại gọi là Chiêu lăng? Có phải Chiêu là Chu, Chiêu lăng là mộ vua Chu không?

Trang 165:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

(Am Trang Vương – Hương Sơn)
Trang Vương của nước Sở, rồi Trần tử nước Trần là ở chỗ nào mà có am thờ ở Việt Nam?

Trang 264:
Dực Chẩn sơn hà cao chính khí
Lạc Hồng vũ trụ lẫm linh thanh.

Dịch:
Dực Chẩn non sông cao chính khí
Lạc Hồng trời đất dấy linh thanh.

Câu này cho biết nước Lạc Hồng định biên giới giữa sao Dực, sao Chẩn. Liên hệ với câu trong Đằng vương các tự của Vương Bột: Tinh phân Dực Chẩn, Địa tiếp Hoành Lư. Như vậy vùng đất tinh phân Dực Chẩn chẳng phải Việt Nam hay sao?

Tài liệu Hán Nôm Việt Nam càng đọc càng thấy lạ…

Thảo luận
Về thao lược Tôn Ngô có thể nói đến Tôn Vũ và Ngô Khởi thời chiến quốc.

Văn nhân:
Bạn Bách Việt trùng cửu thân.
Tôi nghĩ: Tản nhĩ là 1 vùng đất thì Tôn Ngô không thể là 2 nhân vật Tôn Vũ và Ngô Khởi được vì họ sống cách nhau cả trăm năm, sinh ở 2 nơi khác nhau và nhất là đã thành danh ở 2 nơi khác nhau.
Chìa khóa để giải vấn đề là tìm ra đất Tản Nhĩ nằm ở đâu?

Bách Việt trùng cửu
Có lẽ Tản là núi Tản Viên, Nhĩ là sông Nhị Hà. Núi cao, sông xanh. Tản Nhĩ là vùng đất nào đó quanh chân núi Tản Viên. Câu đối này có thể là ở làng Đường Lâm ở Hà Tây. Nếu đúng câu này ghi ở khu vực này hay trên lăng mộ Ngô Quyền thì ý nghĩa chữ Tôn Ngô chắc không phải bàn cãi. Tôi cũng nghĩ là thật vô lý khi một câu đối đang ở vùng đất Tản Nhĩ của Việt Nam, nói đến Địa linh nhân kiệt mà lại phải đi lấy điển tích Tôn Vũ, Ngô Khởi ở đâu đâu.

Văn nhân:
Tôn trong Tôn Quyền không phải là họ mà nghĩa là đấng cao cả hay bậc trưởng thượng, chữ Tôn được dùng trong miếu hiệu của các vua Trung Hoa từ đời nhà Đường, Việt Nam từ thời nhà Lý … như Cao tôn, Nhân tôn, Minh tôn v.v.
Tôn Ngô cấu trúc Việt ngữ nghĩa là bậc trưởng thượng của nước Ngô, theo tôi là chỉ Ngô Quyền, cũng chính là Tôn Quyền – vua Đông Ngô trong Hoa sử.

Nhannamphi
“nói cách khác Ngô Quyền là Tôn Quyền thời Tam Quốc.”
Cá nhân Tôi là tán đồng quãng điểm nầy. Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán là trận Xích Bích, tôi có đọc qua tài liệu ghi chép bằng chữ Vuông: quân lính của Ngô / Tôn Quyền là người Việt; Và xa xưa hơn nữa thì thành Cổ Loa là ở tỉnh Phước Kiến. Chữ “Kiến” – ngày xưa là “kén”, thành cái” Kén” hay thành Cổ Loa trở nên tên là Phước Kiến thành, ngày nay, người dân tỉnh Phước Kiến vẫn còn đọc chữ “kiến” là “kén”.

Bách Việt trùng cửu
Quân của Tôn Quyền thì rõ là người Việt vì ở Nam Dương Tử. Họ Tôn Ngô xuất phát từ Trường Sa (Tôn Kiên là thái thú Trường Sa). Nếu theo anh Văn nhân thì quận Trường Sa xưa là Nhật (Nhất) Nam hay Hồ Nam ngày nay. Nhất Nam cùng nghĩa với Đường Lâm (Nhất thành Đường, Nam thành Lâm) quê Ngô Quyền.

Văn nhân:
Thưa các bạn ,theo suy nghĩ của tôi thì câu:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ
Thụ suy Trần tử nhất phong am.

Dịch:
Xe mây đâu chốn Trang Vương nghỉ
Trận gió rung cây Trần tử am.

Trang vương ở đây là Chu Trang vương – Cơ Đà (696-682 trước 0) vì vua khá nổi tiếng ở Việt Nam khi nhiều nhà nghiên cứu sử căn cứ vào đoạn sách cổ: “…thời Trang vương nhà Chu … có người dùng ‘ảo thuật’ áp phục các bộ lạc chung quanh xưng là HÙNG vương …”, lấy đó làm mốc cho niên đại lập quốc của người Việt.
Trang vương là vì vua thứ 2 nhà Đông Chu lên ngôi ở Lạc ấp.
Trần tử ở đây chỉ Quân Trần vị toàn quyền kế nghiệp Chu công thống quản kinh đô phía đông của nhà Chu tức Lạc ấp hay đại ấp Lạc.
Việc thờ kính Trang vương và Trần tử trên đất Việt đã bổ chứng cho Sử thuyết họ Hùng khi cho rằng Lạc ấp hay đại ấp Lạc chính là đất trung tâm của dòng Lạc Việt tiền nhân của người Việt Nam ngày nay.

Bách Việt trùng cửu
Am Trang Vương có câu đối trên nằm cạnh chùa Hương Tích thuộc dãy Hồng Lĩnh – Hà Tĩnh. Nơi đây tương truyền là nơi tu hành và nơi hoá của công chúa con Sở (?) Trang Vương. Am Trang Vương được dựng trên nền nhà nơi nghỉ của Trang Vương khi đến thăm con gái.
La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp (1723-1804) thăm chùa có đề bài thơ Du Hương Tích Tự:
Hương Tích Trần triều tự
Hồng Sơn đệ nhất phong
Di am không bạch thạch
Cố chỉ đản thanh tùng.

Dịch:
Chùa Trần tên Hương Tích
Cao nhất dãy núi Hồng
Am xưa phơi đá trắng
Nền cũ rợp ngàn thông.

Chữ Trần ở đây trong sách hiện tại được giải thích là chùa xây từ thời nhà Trần trong sử Việt. Nhưng như vậy đúng là quá khó hiểu vì trong cả câu đối lẫn bài thơ trên đều gọi đích danh là Trần tử am và Chùa Trần. Chẳng nhẽ nhà Trần vừa dựng am, chùa thờ người xưa (cách cả ngàn năm) lại vừa làm câu đối về chính mình?
Nhiều người cho rằng sử Việt bắt đầu từ khoảng ngang với đầu đời Đông Chu (Hùng Tạo hay Chu Trang Vương) có lẽ ngoài mấy dòng trong sách cổ về người làm “ảo thuật” thời Chu Trang Vương, còn do vào thời điểm này nhà Chu chuyển đô về Lạc Ấp – Bắc Việt, tạo ra một số thay đổi có thể nhận thấy đuợc trong khảo cổ ở vùng châu thổ sông Hồng.

Nhannamphi
– Chữ 宗 Tôn nầy đọc là Tôn 宗 hay là Tông 宗 . Tôn nầy là Tôn miếu 宗廟 hay Tông miếu 宗廟, còn dùng gọi vua là Thái Tông, Cao Tông hoàng đế v v…, còn dùng trong tông 宗 tộc 族/ cùng tông 宗 cùng tộc 族.
– Chữ Tôn 孫 nầy là Tử tôn/ 子孫/ con cháu; Tôn Quyền họ Tôn là chử Tôn 孫 Nầy.
– Gia phả của dòng vua họ Tôn/ Tôn Quyền 孫權 còn giữ và truyền cho đến ngày nay. Con cháu – truyền nhân rất là đông thành cả 1 ngôi làng.
– Gia phả của “Tây Thi” 西施 là họ Thi 施 cũng được giữ và truyền cho cho đến ngày. Xem Thi Bội Quân 施佩君 … vai cháu của Tây Thi ở đời thứ 55 ngày nay: http://www.youtube.com/watch?v=FxVd43KnZTo
– Gia phả của Khổng Minh và Châu Du đều truyền và giữ bỡi truyền nhân sau nầy: http://tintuconline.vietnamnet.vn/vn/xfile/431541/index.html
Tôn 宗 / tông 宗 và Tôn 孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau.

Văn nhân:
Bạn Nhan nam Phi và các bạn thân :
Tôn宗 / tông宗 và Tôn孫 là họ “Tôn” hoàn toàn khác nhau. Tôi cũng biết điều này …nhưng nếu chỉ thế thôi thì đâu có đặt thành vấn đề cần xem sét .
Tạo ra chữ là con người , dùng chữ cũng là con người , tráo đổi chữ để thực hiện mục đích nào đó cũng là con người…., vấn đề đặt ra chính là vì chữ ‘tráo’ này ….

Nhannamphi
– Tất cả lập luận đúng hay sai khi nghiên cứu ngôn ngữ theo tinh thần khoa học đều đáng trân quí trong qúa trình nghiên cứu, vì nó sẽ tạo ra con đường dẫn đến điểm sáng tỏ vấn đề. Anh Văn Nhân nhấn mạnh “Tạo ra chữ là con người, dùng chữ cũng là con người.. .”. Nói cách khác thì trong họ và tên, thì tạo ra họ tên là con người và dùng họ và tên cũng là con người…
– Triều đình nhà Nguyễn tạo ra họ ” Tôn-thất ” và ” Tôn-Nữ “.
– Họ La hay họ Lai ngày nay đều là họ Lạc của Vua Việt ngày xưa, chỉ là “biến âm” và con người tạo ra chữ và dùng chữ.
-Họ Phạm và họ Đỗ là cùng 1 họ, những chuyện như vậy cần phổ biến để những thế hệ mai sau khi kết hôn thì có thể tránh được tình trạng “cận Huyết thống”.
– Họ Khổng và họ Tôn ngày xưa … đều là Con ông cháu cha của vua chúa mới được gọi là ông con và ông cháu và trở thành Họ rất là “tôn nghiêm” và “quí phái”! Thử tưởng tượng 1 cách khoa học là ngày xưa ở thời nguyên thủy thì nhân loại ở trong hang động… làm gì có “Hoàng đế “??? mà chỉ có ông bố và bà mẹ, và có người rất có uy tính được xem là cha chung … được gọi là “Ông Tía” hay là “ông địa” / biến âm… lâu dần thì biến thành từ ngữ “Hoàng đế”. “Hoàng đế ” ngày nay tiếng Bắc Kinh đọc là “Hoãng Tía”, tiếng Quảng Đông đọc là “Qoàn tây”, và tiếng Triều Châu đọc là “Oan tịa ” – Rất giống như và còn giống như là Ông Địa hay ông Tía !!!

Bách Việt trùng cửu
Tôi một chữ Hán bẻ đôi không biết nên lại có cơ may hiểu được ý của anh Văn nhân. Trong chuyện này không thể xét bằng mặt chữ được mà chỉ xét về thanh ngôn và ý nghĩa. Lịch sử Hoa Việt và lịch sử ngôn ngữ Hán Nôm quá dài, quá phức tạp, mặt chữ ghi âm chắc gì là đúng. Ghi âm tiếng Hán là ghi theo cái hiểu của người viết, hoặc theo chủ ý của người viết, không chắc đã đúng với ý nghĩa gốc. Ví dụ mấy chữ Châu, Chiêu, Chu , chẳng cần biết tiếng Hán cũng biết sẽ là những chữ khác nhau. Đến tiếng quốc ngữ ngày nay cũng còn ghi khác nữa là… Những điều đó không ảnh hưởng đến nghĩa của Châu=Chiêu=Chu .

Lào và Xiêm trong thơ Hồ Chủ Tịch

Bài thơ Lịch Sử nước ta của Hồ Chủ Tịch (xin trích đoạn liên quan đến Căm pu chia và Lào):


Lê Đại Hành nối lên ngôi
Đánh tan quân Tống, đuổi lui Xiêm Thành

Lý Thường Kiệt là hiền thần
Đuổi quân nhà Tống, phá quân Xiêm Thành

Nguyễn Huệ là kẻ phi thường
Mấy lần đánh đuổi giặc Xiêm, giặc Tàu

Tỉnh Thái Nguyên với Sầm Nưa
Kế nhau khởi nghĩa rủi chưa được toàn…


NHỮNG NĂM QUAN TRỌNG
… 1917 Thái Nguyên, Sầm Nưa khởi nghĩa
… Việt Minh tuyên truyền Bộ xuất bản tháng 2-1942

Tài liệu gốc lưu tại Bảo tàng Cách mạng Việt Nam.

Như vậy đầu thế kỷ 19 Chiêm Thành vẫn gọi là Xiêm Thành, còn Thái Lan là Xiêm.
Và Sầm Nưa, một tỉnh ở Hạ Lào còn được xếp vào sử Việt Nam.