Giếng Việt

Trong Lĩnh Nam chích quái có câu chuyện thần tiên khá kỳ lạ là Truyện Giếng Việt. Truyện mở đầu như sau:
Giếng Việt ở miền Trâu Sơn huyện Vũ Ninh. Đời vua Hùng Vương thứ ba, nhà Ân cử binh sang xâm chiếm nước Nam, đóng quân ở dưới núi Trâu Sơn. Hùng Vương cầu cứu Long Quân, Long Quân truyền đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ thì sẽ dẹp được giặc. Sóc Thiên vương ứng kỳ mà sinh, cưỡi ngựa sắt đánh giặc. Tướng sĩ nhà Ân đều bỏ chạy. Ân Vương chết ở dưới chân núi, biến thành vua ở địa phủ, dân phải lập miếu thờ, lâu năm suy dần đền miếu bỏ hoang.
Nhà Ân của Trung Hoa ở tận Hoàng Hà. “Nước ta” ở đâu mà Thánh Gióng lại có thể đánh giặc Ân? Các sử gia đành phải suy đoán, giặc Ân đây là một giặc Ân khác… Nhưng Truyện Giếng Việt viết tiếp:
Qua đời Chu tới đời Tần, có người nước ta là Thôi Lượng làm quan cho nhà Tần đến chức ngự sử đại phu, thường qua vùng này thấy cảnh suy tàn, chạnh lòng thương cảm, bèn sửa sang sang lạ đền miếu…
Ở đây truyện đã tính rất đấy đủ: “… Qua đời Chu tới đời Tần”, rõ ràng coi thời Ân là thời kỳ trước đời Chu của Trung Hoa.
Cũng trong Lĩnh Nam chích quái, Truyện Đổng Thiên Vương cho biết Ân Vương đã chết trong cuộc chiến ở Trâu Sơn. Ít người để ý đến chi tiết này nhưng Truyện Giếng Việt một lần nữa khẳng định: Vua Ân đã bỏ mạng trong trận đánh với Thánh Gióng. Người đã đánh đổ nhà Ân, buộc vua Ân bỏ mạng thì không ai khác phải là Ninh Vương Cơ Phát của nhà Chu. Truyền thuyết Việt chép thành nơi mất của vua Ân là Vũ Ninh. Thánh Gióng đã theo lời hiệu triệu của Ninh Vương diệt Trụ, lập nên cơ nghiệp thiên tử ngàn năm của triều Chu ở chính trên đất Việt.
Bài thơ do Thôi Lượng đề ở miếu Ân Vương:
Cổ nhân truyền đạo thị Ân Vương
Tuần thú đương niên đáo thử phương
Sơn tú thủy lưu không kiến miếu
Tinh thăng tích tại thượng văn hương
Nhất chiêu thắng bại vô Ân đức
Vạn tải linh thanh trấn Việt Thường
Bách tính lòng từ giai phụng sự
Mặc phù quốc tộ vĩnh vô cương.

Xin dịch:
Người xưa kể chuyện thủa Ân Vương
Tuần thú năm nay tới chốn đường
Nước chảy non xanh trơ miếu đó
Hóa thần lưu dấu tại văn hương
Thắng thua một cuộc không Ân đức
Vạn thế linh thiêng trấn Việt Thường
Trăm họ một lòng cùng thờ phụng
Xin phù tổ quốc mãi yên phương.

Thế nào mà vua Ân lại phù hộ cho nước “Việt Thường”? Vua Ân là “giặc” cơ mà? Bởi vì nước Việt Thường cũng chính là nước của nhà Ân Thương. Ân Vương là vua Việt, ở Giếng Việt là vậy.

P1130929 (2)Một chiếc quang hình chim thú thời Thương.

Một điều thu lượm nữa từ Truyện Giếng Việt là Thôi Lượng, “người nước ta”, nhưng lại làm quan cho nhà Tần đến chức “ngự sử đại phu”. Cũng tương tự như chuyện Lý Ông Trọng làm phò mã của nhà Tần, chuyện này cho thấy nhà Tần đã chiếm “nước Nam ta” và trọng dụng những người nước Nam làm những chức vụ quan trọng nhất trong triều Tần. Tần như vậy cũng là một triều đại Việt mà thôi.
Tiếp truyện Giếng Việt đề cập đến sự kiện: Sau các tướng Nhâm Hiêu, Triệu Đà đem quân xâm chiếm phương Nam (đời An Dương Vương) trú quân ở dưới núi, sai tu sửa lại miếu mạo, nghiêm cẩn khấn thờ.
Hóa ra ngay khi Nhâm Hiêu còn sống, Triệu Đà đã từng sang vùng núi Vũ Ninh ở Bắc Ninh ngày nay. Theo chính sử lúc đó Nhâm Hiêu là quan quận Nam Hải, Triệu Đà đang là huyện lệnh Long Xuyên, sao lại có mặt ở Vũ Ninh là thế nào? Thôi Lượng đã là ngự sử đại phu nhà Tần, sao lúc này lại còn An Dương Vương nào ở đây trên đất Việt?
Nhâm Hiêu theo như truyện này thì đóng ngay tại Vũ Ninh. Đoạn trên chỉ có thể hiểu khi Long Xuyên nơi Nhâm Hiêu làm quan lệnh hoặc quan úy, rồi nối tiếp Triệu Đà đảm nhận chức vụ này chính là vùng Long Biên – Bắc Ninh ngày nay. “Đời An Dương Vương” có Nhâm Hiêu, Triệu Đà lúc này phải là đời Tần. An Dương Vương là một cách gọi khác của nhà Tần khi dẹp yên Dương Việt.
Truyện Giếng Việt kể con Thôi Lượng là Thôi Vỹ đã chữa bệnh bướu cho Nhâm Hiêu và được Nhâm Hiêu trọng dụng. Thôi Vỹ gặp nạn ngã xuống hang sâu, gặp Ân hậu và được khoản đãi. Vừa kíp thì có người báo:
Ngày 13 tháng Giêng, người phương Bắc là Nhâm Hiêu đã bị thần Xương Cuồng đánh chết”.
Sự kiện Nhâm Hiêu bị chết lại được Ân hậu rất quan tâm. Bởi vì sự kiện này đánh dấu sự suy vong của nhà Tần, khởi đầu của một triều đại mới của Trung Hoa. Ngày 13 tháng Giêng có lẽ là ngày mà Nhâm Hiêu đã bị nhân dân đất Bái nổi dậy giết chết để tôn Lưu Bang – Triệu Đà lên làm thủ lĩnh đất Long Xuyên, mở đầu cuộc khởi nghĩa của Bái công Lưu Bang chống Tần.
Ân hậu cho quan dê (Dương quan) đưa Thôi Vỹ về, rồi lại gả tiên nữ, tặng ngọc Long Tụy cho Thôi Vỹ. Viên ngọc Long Tụy này “suốt từ đời Hoàng Đế tới triều Ân vẫn được lưu truyền là vật quí ở đời. Trong cuộc chiến trận ở Trâu Sơn, Ân Vương đeo ngọc đó mà chết, ngọc bị vùi xuống đất mà hào quang của nó vẫn chiếu tỏa tới tận trời. Thời binh hỏa đời Tần, báu ngọc đều cháy hết, người ta xem linh khí mà biết rằng viên ngọc quý Long Tụy vẫn còn ở nước Nam.”
Ân Vương chết ở đất Việt Thường, ngọc báu từ đời Hoàng Đế Trung Hoa ngàn năm sau còn tỏa sáng là minh chứng cho gốc tích của Ân Vương. Một mối liên hệ xuyên suốt qua các triều đại Ân – Chu – Tần tới Nam Việt Triệu Đà được thể hiện trong tuyệt phẩm Truyện Giếng Việt. Tất cả những thời Tam – Tứ đại này đều là của người Việt cả, đều từ cùng một khơi nguồn Giếng Việt mà ra. Thần thánh luôn dõi theo những gì đang diễn ra trên trần thế. Vải thưa không thể che nổi mắt thánh. Những người có tâm đức như Thôi Lượng, Thôi Vỹ sẽ thấy được chân tướng lịch sử và gặp được thần tiên.

Quốc Mẫu Tây Thiên

Tục thờ Tây Thiên Quốc mẫu rất phổ biến ở vùng núi Tam Đảo. Riêng tỉnh Vĩnh Phúc có tới trên 50 nơi khác nhau thờ Mẫu Tây Thiên. Sự tích vị Quốc mẫu này tóm tắt như sau:
Thời Hùng Vương ở đạo Sơn Tây, Đoan Hùng phủ, Tam Dương Động, Đông Lộ trang có gia đình sinh một người con gái đặt tên là Lăng Thị Tiêu. Lớn lên trở thành một cô gái xinh đẹp, giỏi giang hiền thục. Đời Hùng Vương thứ bảy là Lang Liêu lên nối ngôi. Có lần vua Hùng Chiêu Vương (Lang Liêu) đi cầu tiên phật ở núi Tam Đảo đã gặp người con gái này và đưa về triều làm Chính phi. Nàng đã hết lòng yêu quý Hùng Chiêu Vương và đem tài năng của mình ra thi thố, giúp chồng trị quốc.
Khi nước Văn Lang bị giặc nhà Thục đe dọa, đem quân vây hãm kinh thành. Lăng Thị Tiêu đã chiêu mộ binh sĩ kéo về Phong Châu đánh tan quân địch, giải cứu triều đình. Khi nàng mất, được các triều vua phong là Tây Thiên quốc mẫu.

Mối tình giữa Lang Liêu và vị nữ thần núi Tam Đảo đã được lưu truyền như một huyền thoại đẹp thời Hùng Vương.
Hiện tại ở vùng Tam Đảo còn có cả một hệ thống các điện thờ liên quan tới Quốc Mẫu Tây Thiên. Nơi Mẫu sinh và Mẫu hóa nằm ở xã Đại Đình. Ở Đại Đình còn có Đền Thỏng là Hữu thần cung của Mẫu. Gần đó là xã Tam Quan nơi có Tả thần cung và Trung thần cung ở thôn Quan Ngoại. Qua Tam quan thì đến Đại đình … Hệ thống địa danh chỉ “cổ tích” rất rõ.

Den Thong
Đền Thỏng ở di tích Tây Thiên

Câu đối ở đền Thỏng:
Thạch lộ phó Tây Thiên, linh địa tồn danh tiên giáng
Cao sơn đăng Phù Nghị, cổ đài ký lập mẫu nghi.

Dịch:
Đường đá tới Tây Thiên, đất thiêng còn danh tiên hạ thế
Núi cao lên Phù Nghị, đài xưa ghi lập mẫu oai nghiêm.

Chỗ khó giải thích của truyền thuyết Tây Thiên Quốc Mẫu là Mẫu Lăng Thị Tiêu đã giúp vua Hùng đánh Thục. Thông thường, đây phải là vào đời vua Hùng cuối cùng (thứ 18) thì mới có giặc Thục (Thục Phán). Nhưng trong truyền thuyết ở Tam Đảo thì Lăng Thị Tiêu lại lấy Lang Liêu là đời vua Hùng thứ bảy. Vậy giặc Thục đây là Thục nào?
Để nhận diện đúng chuyện Tây Thiên Quốc Mẫu cần so sánh với các truyền thuyết khác trong tín ngưỡng dân gian, trong thần thoại và huyền sử Trung Hoa.
So sánh với hệ thống Tứ phủ thì thấy Tây Thiên quốc mẫu chính là Mẫu cửu trùng hay Mẫu thượng thiên, thần chủ của Thiên phủ. Cửu là số 9, chỉ hướng Tây nên Mẫu cửu trùng tương đương với Mẫu Tây thiên.
Tư liệu của GS Ngô Đức Thịnh cũng cho biết Mẫu Tây Thiên khi giáng đồng thường với tư cách của Mẫu đệ nhất thượng thiên. Mẫu thượng thiên là Mẫu cửu trùng chứ không phải Mẫu Liễu Hạnh. Các cung thờ ở Tây Thiên đều đặt Mẫu Tây Thiên ở vị trí cao nhất trong điện (vị trí của Mẫu thượng thiên), hai bên là Mẫu Thoải và Mẫu Thượng ngàn. Vậy là đã rõ nguồn gốc của Mẫu thượng thiên, chính là vị nữ thần núi Tam Đảo (Tam Đảo sơn trụ quốc mẫu).
So sánh với huyền sử Việt thì nàng Lăng Thị Tiêu là Lang Tiên, hay Vua Tiên, tương ứng với con gái bà Vụ Tiên trong Truyền thuyết họ Hồng Bàng:
Đế Minh cháu ba đời họ Viêm Đế Thần Nông sinh ra Đế Nghi, sau nhân đi tuần về phía Nam đến núi Ngũ Lĩnh, lấy được con gái bà Vụ Tiên rồi trở về sinh ra Lộc Tục.
Núi Ngũ Lĩnh ở đây là núi nào?
Ở Tây Thiên dân gian có câu:
Núi thờ cha Tản Viên
Núi thờ mẹ Tây Thiên
Đều hướng về Ngũ Lĩnh
Thờ núi Tổ linh thiêng.

Ngũ Lĩnh chính là núi Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ vua Hùng ngày nay ở Phú Thọ.
Tản Viên là thần chủ Nhạc phủ ở núi Tản. Lăng Thị Tiêu là mẫu chủ của Thiên phủ ở Tam Đảo. Ngũ Lĩnh nghĩa là núi nơi có vua (Ngũ là số 5, chỉ vua, không phải 5 ngọn núi) Ngọc Hoàng Thượng Đế.
Thiên Nam ngữ lục chép đoạn này về Đế Minh như sau:Đương thời giữa thủa Đế Minh
Chí khôi đại nghiệp ra danh cõi ngoài
Nhân nhàn xa giá đi chơi
Nam tuần xảy gặp một người thiếu niên
Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.
Như vậy con gái bà Vụ Tiên ở đây gọi là Khương Tiên. Tiên là số 1, chỉ hướng Nam (xưa). Khương là tính chất của phương Tây nên Khương Tiên đồng nghĩa với Tây Tiên = Tây Thiên Lăng Thị Tiêu.
Vì Đế Minh là Ngọc Hoàng thượng đế, cai quản thiên phủ nên Lăng Thị Tiêu – Khương Tiên là Mẫu thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Lý do mà Lăng Thị Tiêu được tôn làm Quốc mẫu là vì đã giúp vua Hùng đánh Thục. Trận chiến Hùng – Thục này là một trận chiến khác hoàn toàn với 2 cuộc chiến Hùng Thục thời Bát Hải Động Đình (Lạc Long – Âu Cơ) và Thục Phán An Dương Vương. Khi đã xác định Quốc mẫu Tây thiên là Mẫu Cửu trùng thì cuộc chiến Hùng Thục này phải xảy ra vào thời Hoàng Đế (Ngọc Hoàng thượng đế).
Huyền sử Trung Hoa chép:
Trận đánh dữ dội quyết định sự thắng bại giữa Hiên Viên với Xuy Vưu xảy ra ở Trác Lộc. Sương mù dày đặc, quân Hữu Hùng Thị bị Xuy Vưu vây chặt, không nhận định được phương hướng đánh ra giải vây, nên thường bị Xuy Vưu đánh bại phải tháo lui. Sự thảm bại của Hữu Hùng Thị thấy rõ trước mắt.
Trong lúc nguy cấp như thế, đấng Cửu Thiên Huyền Nữ hiện ra dạy Hữu Hùng Thị chế ra xe hai bánh chỉ Nam, có bộ phận chỉ rõ hướng Nam, để phân định phương hướng và vị trí tiến quân, lại dạy cho binh pháp. Nhờ vậy, Hữu Hùng Thị củng cố binh mã, từ trong đánh ra bất ngờ, làm cho binh đội Xuy Vưu thảm bại, bắt sống được thủ lãnh Xuy Vưu đem giết chết.
Thế là yên giặc, tất cả dân chúng các bộ lạc đều hoan nghinh Hữu Hùng Thị, tôn Hữu Hùng Thị lên ngôi Minh chủ, lấy hiệu là Hoàng Ðế.
Sau đó, Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ cũng thường ứng hiện giúp vua Hoàng Ðế và những người hiền tài trong nước, như giúp Hoàng Hậu Nguyên Phi chế ra nghề nuôi tằm lấy tơ dệt lụa, giúp ông Dung Thành chế ra máy Cai Thiên để xem Thiên tượng, giúp ông Thương Hiệt chế ra chữ viết tượng hình để thay cho việc thắt nút ghi nhớ các sự việc. Ngoài ra Ðấng Cửu Thiên Huyền Nữ truyền khoa Lục Nhâm Ðộn Giáp, và phép bói 64 quẻ Dịch mà đoán kiết hung.
Quốc Mẫu Tây Thiên chính là Cửu Thiên Huyền Nữ (Mẫu cửu trùng). “Giặc Thục” ở đây là bộ tộc phía Tây do Xuy Vưu lãnh đạo. Bộ tộc Hữu Hùng Thị của Hiên Viên như vậy đã được bộ tộc ở phía Nam (xưa) là Lang Tiên Thị (Lăng Thị Tiêu) giúp khi đánh bộ tộc phía Tây (Cửu Lê) của Xuy Vưu. Cửu Thiên Huyền Nữ còn là người đem lại nhiều sáng chế đến cho vua Hùng như Kim chỉ Nam, dịch học, chữ viết,… Với công lao to lớn thời lập quốc họ Hùng như vậy hiển nhiên Lăng Thị Tiêu được tôn làm Quốc mẫu và chiếm ngôi thượng thiên trong tín ngưỡng Tứ phủ.
Các khu vực là nơi Mẫu sinh và Mẫu hóa ở Tam Đảo ngày nay lại là các làng của người dân tộc Sán Dìu. Bản thân những người dân tộc này tham gia lễ hội Tây Thiên với vai trò chủ nhân văn hóa và coi bà Lăng Thị Tiêu như vị Mẫu thần của dân tộc mình. Đây không phải là “sự tích hợp văn hóa liên tộc người”. Rất có thể người Sán Dìu là một bộ phận trong bộ tộc Lang Tiên Thị xưa ở chính vùng núi Tam Đảo này.
So sánh với thần thoại Trung Hoa thì Tây Thiên Quốc Mẫu còn là bà Tây Vương Mẫu.
Thần thoại Trung Hoa cho biết Tây Vương Mẫu là Dao Trì Kim Mẫu, cai quản núi Tây Côn Lôn , cùng với chồng là Hạo Thiên Thiên Đế cai quản Thiên đình.
Dao Trì tức là Giao Chỉ, là chỗ trung tâm của thiên hạ thời Hùng. Núi Côn Lôn của Tây Vương Mẫu như vậy là núi Tam Đảo.
Tây Vương Mẫu còn được 3 con chim Thanh Điểu thay nhau mang thức ăn tới. Ba con chim này sống ở trên núi Tam Nguy, ở phía Tây của núi Côn Lôn. Núi Tam Nguy gồm ba ngọn, cao vút xuyên qua cả mây trời nên mới có tên như vậy.
Tam Nguy của Tây Vương Mẫu chính là 3 ngọn của núi Tam Đảo luôn khuất trong mây trắng.

Cong Tay Thien
Tây Thiên và Tam Đảo trong mây

Việc xác định Tây Thiên quốc mẫu là Tây Vương Mẫu cũng giải đáp nốt truyền thuyết về mối tình Lang Liêu với nữ thần Tam Đảo.
Lang Liêu hay Hùng Chiêu Vương ở đây không phải là vị Lang Liêu làm bánh chưng bánh dày, chế tác dịch học (Chu Văn Vương). Lang Liêu với nghĩa là vua người Liêu, cùng với tên Hùng Chiêu Vương, là chỉ một vị vua thời Tây Chu (khi nhà Chu còn đóng ở đất Liêu – Di Lão).
Đây là chuyện Chu Mục Vương, vị vua thứ 5 của nhà Chu đã cưỡi xe bát mã lên núi Côn Lôn, tìm được cung điện ngọc của Hoàng Đế và gặp Tây Vương Mẫu. Núi Côn Lôn là núi Tam Đảo nên Chu Mục Vương hay vua người Liêu (Lang Liêu) đã gặp nàng tiên núi Tam Đảo ở đây.
Trong tín ngưỡng, văn hóa dân gian Việt Nam lại luôn gặp những truyền thuyết, huyền thoại của Trung Hoa. Ta chép của Tàu chăng? Không phải. Ông Trời luôn có mắt. Cái gì của người Việt thì sẽ trở về với người Việt.
Muốn gặp “Mẹ trời” đối với người Việt thật không khó. Núi Tam Đảo – Côn Lôn vẫn còn đó. Tục thờ Tây thiên Quốc mẫu vẫn còn đó. Thần tiên chẳng ở đâu xa. Cỗ xe 8 ngựa của Chu Mục Vương chỉ là hình tượng của trí tuệ và thành tâm mà thôi. Có tâm có trí thì sẽ gặp được Trời. Cái lý “con cóc” lên giời của người Việt là như vậy.

Khải ngả Nam Giao

Xem phần mở đầu Đại Việt sử ký toàn thư:
Xét: Thời Hoàng Đế dựng muôn nước, lấy địa giới Giao Chỉ về phía Tây Nam, xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hy thị đến ở Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở phương Nam. Vua Vũ chia chín châu thì Bách Việt thuộc phần đất châu Dương, Giao Chỉ thuộc về đấy. Từ đời Thành Vương nhà Chu mới gọi là Việt Thường thị , tên Việt bắt đầu có từ đấy.

Kỷ Hồng Bàng Thị
Kinh Dương Vương

Tên húy là Lộc Tục, con cháu họ Thần Nông.
Nhâm Tuất, năm thứ 1. Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra vua [Kinh Dương Vương]. Vua là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Vua cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong cho vua làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Vua lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân…
Các sử gia Việt xưa một mặt chép chuyện của Hoàng Đế – Đế Nghiêu – Hy Thị – Đại Vũ ở đầu sử Việt, một mặt xuống dưới lại kể ngay chuyện Đế Minh – Đế Nghi – Lộc Tục – Kinh Dương Vương. Rõ ràng phần trên là chép theo Hoa sử (sách người Hoa), phần dưới là chép theo huyền sử Việt.
Theo Tư trị thông giám của Tư Mã Quang đời nhà Tống và phần bổ Tam Hoàng bản kỷ cho Sử ký Tư Mã Thiên của Tư Mã Trinh thời Đường thì dòng Thần Nông truyền từ Đế Minh – Đế Nghi – Đế Lai tới Du Võng thì xảy ra cuộc chiến giữa Hiên Viên và Xuy Vưu. Còn theo Truyện họ Hồng Bàng thì Lạc Long Quân đã lấy Âu Cơ là con của Đế Lai, nghĩa là cùng lúc với sự xuất hiện của Hiên Viên trong các sách của người Hoa.
Có thể thấy thời mở sử thì trong Hoa sử có huyền sử Việt (chuyện Đế Minh, Đế Nghi, Đế Lai), còn trong Việt sử có Hoa sử (chuyện Xuy Vưu, Hiên Viên). Các sử gia Hoa, Việt không phân định được nên đã chép thông tin từ cả 2 dòng sử. Có khác là sử gia Đường Tống nhấn mạnh vai trò của Hiên Viên và từ đó chép tiếp Hoa sử. Còn sử gia Đại Việt thì nhấn mạnh chuyện Lạc Long Quân, lấy đó chép tiếp Việt sử.
Thực ra 2 cách chép mở sử này đều là một chuyện vì Hoa chính là Việt, chỉ có 1 lịch sử mở nước Hoa Việt. So sánh 2 đoạn sử Hoa và Việt ở đầu Đại Việt sử lý toàn thư sẽ thấy rõ:
– Hoàng Đế mở muôn nước = Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông.
– Đế Nghiêu = Đế Nghi cai quản phương Bắc.
– Hy Thị định Nam Giao (chính là Đế Thuấn) = Lộc Tục làm vua phương Nam
– Đại Vũ chia 9 châu (trị thủy) = Kinh Dương Vương lấy Thần Long Động Đình.
Các sử gia thời Đường thời Tống có quan niệm Hiên Viên là tổ người Hoa Hạ, còn người Việt thì quan niệm Lạc Long Quân là tổ. Từ đó dẫn đến 2 cách chép khác nhau. Chuyện Hiên Viên đánh tây dẹp bắc lập nước Hữu Hùng trong Hoa sử đã dùng để thay cho chuyện Lạc Long Quân đánh Thục trong Việt sử.
Hiên Viên Hoàng Đế lập nước Hữu Hùng, vậy phải là … vua Hùng dựng nước của người Việt. Trong sự tích của Hiên Viên không hề có chữ Hoa hay chữ Hạ nào để xác định Hiên Viên bắt đầu Hoa Hạ.
Chuyện Lạc Long Quân thì ngược lại, Vĩnh Công Bát Hải Động Đình mở Hoa Đào Trang chính là bắt đầu Hoa Hạ. Lạc Long Quân mới là người mở đầu nhà Hạ của Hoa sử.

Cong den Hung Cổng lên đền Hùng ở Phú Thọ.

Câu đối ở đền Hùng:
Khải ngả Nam Giao, Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây thổ, Tản Lô nhất đái thọ tân từ.

Dịch:
Bắt đầu ở ngả Nam Giao, nghìn năm Hồng Lạc xưng đế quốc
Sáng lên nơi Tây Thổ, một dải Tản Lô mãi lưu đền.

Câu đối trên đã khái quát đầy đủ phần mở đầu của sử Việt. Người họ Hùng đã phát triển theo 2 hướng. Đầu tiên nước mở ở Nam Giao do công của Nghiêu Thuấn hay Lộc Tục Kinh Dương Vương. Lập nên “đế quốc Hồng Lạc” là Lạc Long Quân. Hồng Lạc là tên khác của Hoa Hạ mà thôi. 50 người con theo cha Lạc Long đã xây dựng nhà Hạ, phát triển theo hướng Đông (Động Đình) và Nam (Nam Giao). Hướng Nam xưa là hướng Lạc = Nác = Nước, là hướng Bắc ngày nay.
Hướng thứ hai là hướng Tây trong vế đối dưới. Đây là hướng của Tản Viên, của Âu Cơ dẫn 50 người con lên núi, lập nước Văn Lang ở Phong Châu trên vùng đất Tam Giang (Đà, Lô, Thao).
Cuộc phân ly Lạc Long – Âu Cơ là hình ảnh của cuộc chiến Hùng – Thục trong thần tích Việt hay cuộc chiến tranh dành vương vị giữa Hạ Khải và Bá Ích trong Hoa sử. Dù phân tách nhưng cả hai vẫn đều là con cháu Đế Minh – Hiên Viên từ Hữu Hùng hay Họ Hùng ban đầu. Con cháu họ Hùng hai dòng Đông – Tây đã lại hòa hợp khi Thục Phán lập nước Âu – Lạc, thống nhất 2 vùng đất của cha Lạc Long, mẹ Âu Cơ.
Truyền thuyết Lạc Long – Âu Cơ đã xác định 2 hướng phát triển của người Bách Việt (trăm trứng sinh trăm trai) thời mở sử. Điều này hoàn toàn đúng với các phân tích di truyền nhân chủng học ngày nay. Thuyết “Nhất nguyên nhị phân” từ nghiên cứu ADN người Bách Việt đã cho thấy rõ 2 hướng lan rộng sang Đông Bắc và Tây của người Bách Việt. Cái gốc “nhất nguyên” của Bách Việt nằm ở vùng Nam Giao là Bắc Việt và Lưỡng Quảng ngày nay.

Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương

Câu đối ở đền Hùng:
Lịch Tam hoàng chí Tam vương, thần truyền thánh kế.

Đĩnh bách nam khai Bách Việt, tổ thiện tôn bồi.

Nguyễn Khắc Xương dịch:
Trải qua ba đời đến ba đời vương, thánh thần truyền dõi.
Sinh trăm trai nở trăm giống Việt, tổ tiên xây đắp, con cháu vui bồi
.
Phần dịch của Nguyễn Khắc Xương biến các danh từ riêng (Tam Hoàng, Tam Vương, Bách Việt) thành danh từ chung, làm mất hết ý nghĩa lịch sử của câu đối.
Câu đối này nói rõ từ đời Tam Hoàng đến đời Tam Vương truyền nối nhau, đều là tổ tiên, lịch sử mở nước của Bách Việt. Trong khung cảnh của đền Hùng thì Tam Hoàng lẫn Tam Vương rõ ràng cũng là những đời vua Hùng. Vậy Tam Hoàng và Tam Vương ở đây là những ai?
Phần đầu của các vế đối gồm 3 âm tiết một đoạn, kết cấu theo kiểu của Tam tự kinh. Tam tự kinh là sách  “vỡ lòng” để học chữ Nho, được biên soạn từ thời Tống. Phần nói về khởi đầu lịch sử Trung Hoa trong sách này như sau:
Kinh tử thông, Độc chư sử.
Khảo thế hệ, Tri chung thủy:
Tự Hy Nông, Chí Hoàng Đế,
Hiệu Tam Hoàng, Cư thượng thế.
Đường hữu Ngu, Hiệu Nhị Đế,
Tương ấp tốn, Xưng thịnh thế.
Hạ hữu Vũ, Thương hữu Thang,
Châu Văn Võ, Xưng Tam Vương…

Dịch:
Thông kinh sách, Đọc truyện sử.
Xét mối đời, Biết trước sau:
Từ Hy Nông, Đến Hoàng Đế,
Kêu Ba Hoàng, Thời thượng thế
Đường và Ngu, Là Hai Đế,
Nhường vái nhau, Xưng thịnh trị.
Hạ có Vũ, Thương có Thang
Chu Văn Võ, Xưng Ba Vương.

Như vậy theo Tam tự kinh:
– Tam Hoàng gồm: Phục Hy, Thần Nông và Hoàng Đế, là các vị vua thời thượng cổ (thượng thế).
– Tam Vương gồm: Hạ Vũ, Thương Thang và Chu Văn Vương – Chu Vũ Vương là các vị vua lập nên 3 triều đại thời cổ sử Hạ – Thương – Chu, gọi là Tam Đại.
– Ngũ đế gồm: Đường Nghiêu, Ngu Thuấn (Nhị Đế) và Tam Vương ở trên.
Câu đối ở đền Hùng trên đã nêu rõ thời Tam Hoàng và Tam Vương là lịch sử của người Bách Việt. Từ Phục Hy, Thần Nông, thậm chí Hoàng Đế Hiên Viên – ông tổ của Trung Hoa cổ đều là các triều đại của người Việt. Và cả thời Tam Đại huy hoàng của Trung Hoa là nhà Hạ, nhà Thương và nhà Chu cũng đều là những … Hùng triều khác nhau mà thôi. Tất cả cùng một gốc “Đĩnh bách nam khai Bách Việt” mà ra cả. Tam Hoàng, Ngũ Đế đều là lịch sử của người Bách Việt.
Dịch lại câu đối:
Từ Tam Hoàng đến Tam Vương, thần dõi truyền, thánh nhân kế tục
Sinh trăm trai mở Bách Việt, tổ thiện đức, con cháu bồi vun.
Có lẽ người Việt nên lấy những câu đối ở đền Hùng để làm “Tam tự kinh” về lịch sử cho mình vì nay có quá nhiều người đến những câu “ba chữ vỡ lòng” này về sử Việt cũng không hiểu và không muốn hiểu.

Năm rồng đọc về thủy tổ Kinh Dương Vương

Tục truyền rằng: “Họ Hồng Bàng làm vua nước ta đầu tiên. Tương truyền Đế Minh là con vua Thần Nông, gọi vua Phục Hy là bác, cháu nội Toại Nhân, chắt bốn đời ông Bàn Cổ. Đế Minh đã có vợ và sinh ra Đế Nghi, song khi đi tuần thú miền Ngũ Lĩnh lại lấy công chúa Vụ Tiên mà sinh ra Lộc Rục. Lớn lên Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Lộc Tục thành lập bộ tộc Dâu, đóng lỵ sở ở Liên Lâu (Luy Lâu), đặt quốc hiệu là Việt Thường, xưng là Kinh Dương Vương, lấy con gái Động Đình Quân mà sinh ra Sùng Lãm…”
“Đó là nội dung học vẹt thầy giáo hương sư lúc còn bé của người làm sách…”
(Theo sách Nam Bang Thủy Tổ Kinh Dương Vương, Trần Quốc Thịnh).

Những câu chuyện được lưu truyền trong dân gian từ đời này qua đời khác, từ thầy giáo làng cho đám trẻ học chữ Nho xưa đều nói tới Thần Nông, Phục Hy, Toại Nhân, Bàn Cổ là những vị tổ tiên của người Việt. Những vị thần thời thái cổ của Trung Hoa có thể là tiền nhân người Việt được không?

DenALu

Đền Á Lữ

Tại làng Á Lữ, huyện Thuận Thành – Bắc Ninh nay vẫn còn lăng mộ và đền thờ vị thủy tổ Kinh Dương Vương. Tương truyền lăng và đền này đã có từ rất lâu, tới thời vua Minh Mạng được sắc phong thêm và phục dựng lại với nhiều hoành phi câu đối cổ. Minh Mạng quả là một vị vua có tâm chí lớn, có ý khẳng định lại nguồn gốc “Hồng Lạc đế quốc” của người Việt.

Câu đối ở chính điện thờ Kinh Dương Vương:

Thái cực nhất nguyên thiên địa thủy
Viêm Giao Bàn Cổ đế vương tiên.
Liên hệ với câu mở đầu trong Thiên Nam ngữ lục:

Nhớ từ Thái cực sinh ra
Trên trời dưới đất giữa hòa nhân gian.

Câu đối này nói lên quan niệm của người Việt, trời đất sinh ra từ thái cực cùng một lúc với con người (Bàn Cổ). Lịch sử người Việt bắt đầu cùng thiên địa.
Dịch nghĩa:
Bàn Cổ Viêm Giao vị tiên vương đế
Một khối Thái Cực khởi mở đất trời.

Tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” thật lạ. Thì ra ông Bàn Cổ, thủy tổ Trung Hoa, là người Việt, sinh ra cùng trời đất tại vùng Viêm Giao hay Viêm Bang Giao Chỉ. Vùng đất khai thiên lập địa của Trung Hoa chính là ở Giao Chỉ.

Một câu đối ở bàn thờ Âu Cơ trong đền Á Lữ:
Lưỡng nghi khai sơn hậu quân Viêm Giao Bàn Cổ
Bách đại lai tư cung đồng bản ấp phúc thần.
Cụm tên gọi “Viêm Giao Bàn Cổ” như vậy là một cụm từ ổn định, chỉ rõ ông Bàn Cổ là người đất Viêm Giao. Cụm từ “Lưỡng nghi khai sơn” muốn nói tới việc Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Tục làm vua phương Nam. Từ một “Thái Cực” của Viêm Giao Bàn Cổ người Việt chia làm 2 ngả Bắc và Nam, từ đó mở ra trăm mối Bách Việt, lập ấp, lập thần.
Dịch nghĩa câu trên:
Hai ngôi mở nước, bậc quân vương con cháu Bàn Cổ Viêm Giao
Trăm trai phân tách, những phúc thần tôn kính chung của bản làng.

Hoành phi “Thần truyền thánh kế” được thấy ở cả nơi thờ Kinh Dương Vương và Lạc Long Quân trong đền Á Lữ. Để hiểu hoàng phi này cần liên hệ với câu đối sau ở đền Hùng – Phú Thọ:
Lịch Tam Hoàng chí Tam Vương thần truyền thánh kế
Đĩnh Bách Nam khai Bách Việt tổ thiện tôn bồi.
Phải
chăng “Tam Vương” ở đây là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng
Vương? Thần Kinh Dương đã truyền ngôi cho thánh Lạc Long. Thánh Lạc Long
lại truyền tiếp cho Hùng Vương.

LangKinhDuongVuong

Lăng Kinh Dương Vương

Câu đối ở Lăng Kinh Dương Vương bên bờ sông Đuống:
Lập thạch kỷ công Nam thánh tổ
Phong phần tố phẫn Bắc thần tôn.
Câu này tương tự như câu đối ở đền Hùng – Phú Thọ:
Thử địa thử sơn Nam quốc kỷ
Ngô vương ngô tổ Bắc thần tôn.
Bắc thần tôn” với nghĩa theo mặt chữ là “con cháu thần phương Bắc”. “Thần phương Bắc” ở đây phải chăng là Viêm Đế Thần Nông?
Dịch nghĩa:
Lập bia ghi công thánh tổ phương Nam
Phong đất cho con cháu thần phương Bắc.

Theo Ngọc phả đền Bình Ngô (An Bình – Thuận Thành – Bắc Ninh): “Kinh
Dương Vương là Hùng Vương thứ nhất, hiệu là Hùng Lộc Tục, lên ngôi năm
2879 trước công nguyên. Lạc Long Quân là Hùng Vương thứ hai, hiệu là
Hùng Hiền Vương. Hùng Vương thứ 18 hiệu là Hùng Duệ Vương, mất ngôi năm
259 trước công nguyên. Mỗi hiệu Hùng Vương lại truyền ngôi vài đời, có
khi dài mấy trăm năm
.”

Ngày giỗ Kinh Dương Vương tại Á Lữ là ngày 18/1 âm lịch, là lúc ngài đi vào cõi Vĩnh Thiên (Vĩnh hằng thiên thu). Số 18 cũng như 18 đời Hùng Vương có nghĩa là trùng cửu, trường cửu hay Vĩnh cửu. Tháng 1 là tháng Giêng = Dương. 18/1 là lúc Kinh Dương Vương đi vào cõi Vĩnh Thiên.

Amtunguyen

Ở cổng đền Á Lữ đề:
Ẩm tư nguyên
Câu này cũng gặp ở hoành phi tại đền Hùng – Phú Thọ.

Liên hệ với câu đối ở bên cổng đền:
Quốc triệu hòa bình tư thủy tổ
Dân di? mỹ tục niệm Hồng nguyên.

Thông thường thành ngữ dùng “âm thủy tư nguyên” (uống nước nhớ nguồn). Ở đây hoành phi đã bỏ đi chữ “thủy” có lẽ muốn nói cái gốc phải nhớ đây không phải là “hà” hay “thủy” mà là “Hồng nguyên”, là cái khởi đầu thủa Hồng hoa Viêm Giao Bàn Cổ.
Dịch nghĩa:
Vận nước bình yên nhớ thủy tổ
Mỹ tục nhân dân tự Lạc Hồng.

Cũng ở chính giữa cổng đền Á Lữ có câu:
Khải ngã Nam Bang Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển đinh Phúc Khang Nguyệt ? nhất đái thọ tân từ
Câu này gần với câu ở đền Hùng:
Khải ngã Nam Giao Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây Thổ Tản Lô nhất đái thọ tân từ.
Trong vế thứ hai ở đền Á Lữ dùng chữ “đinh”, còn ở đền Hùng nhiều người đọc là “vu”, tuy nhiên trên thực tế ở đền Hùng có lẽ cũng là chữ “đinh” (theo sách 5000 hoành phi câu đối  Việt Nam). “Đinh” với nghĩa là chắc chắn, rõ ràng.
Dịch nghĩa:
Mở đầu từ ngả Nam Bang, Hồng Lạc nghìn năm là nước lớn
Hiển hiện ở Phúc Khang, sông Nguyệt một dải vững đền nay.
“Phúc Khang”, sông Nguyệt có lẽ là chỉ vùng đất quanh Á Lữ và sông Đuống.

Những câu đối này thật mang một hào khí Lạc Hồng, từ nghìn năm xưa đã là “đế quốc”. Có lẽ những câu này được viết dưới thời Minh Mạng, khi nước Đại Nam lúc đó thực sự là một đế quốc sau khi thống nhất Bắc Nam Đông Tây gồm cả Chiêm, Lào, Chân Lạp, đúc cửu đỉnh ở Huế.

Trên ban thờ mẹ Âu Cơ có hoành phi cổ (từ thời Minh Mạng): “Bách Việt tổ”. Mẹ Âu Cơ sinh trăm trứng nên là tổ của Bách Việt.

Câu đối hai bên ban thờ Âu Cơ:
Tương truyền Lĩnh động tiên sinh thánh
Tòng thử Viêm phương quốc hữu quân.
Dịch nghĩa:
Động Lĩnh tương truyền mẹ tiên sinh con thánh
Phương Viêm từ đó nước nhà có đế vương.

Câu đối khác ở ban thờ Âu Cơ:
Việt Nam hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Hồng Bàng đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
Câu này gần với câu ở ban thờ Kinh Dương Vương:
Nam cực hoàng đồ vạn lý giang sơn đề tạo thủy
Bắc phương đế trụ thiên thu hà lạc tú chung linh.
“Hà Lạc” ở đây chính là chỉ “trời đất”, chứ không phải dịch “vui vẻ”, “hòa khí”.

Các
câu đối thờ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Âu Cơ dùng cùng một hình thức vì vốn dĩ ba vị này được thờ ở 2 đền khác nhau tại Á Lữ. Sau đó đền Lạc Long Quân – Âu Cơ bị phá, mới di rời thờ chung trong đền Kinh Dương Vương thành đền Tam vị thánh tổ.

Dịch nghĩa câu ở ban thờ Âu Cơ:
Vương đồ Việt Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền Hồng Bàng, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.
Dịch nghĩa câu ở ban thờ Kinh Dương Vương
Vương đồ miền Nam, núi sông vạn dặm mở mang kiến tạo
Đế nền phương Bắc, trời đất nghìn thu đẹp đẽ linh thiêng.

Kinh Dương Vương là vị thủy tổ khai sử của người Việt. Mối liên hệ Viêm Giao Bàn Cổ – Kinh Dương Vương – Bách Việt cho thấy thực chất Trung Hoa cổ đại chính là lịch sử của người Việt.

Cửu đỉnh Huế

Themieu

Cao đỉnh và Thế miếu

Cửu đỉnh Huế là 9 cái đỉnh đồng lớn được đặt trước sân Thế miếu nhà Nguyễn trong Hoàng thành Huế. Theo lệnh của vua Minh Mạng việc đúc Cửu đỉnh được khởi công từ mùa đông 1835 và khánh thành năm 1837. Dụ chỉ đúc đỉnh ghi:
Đỉnh là để tỏ ra ngôi vị đã đúng, danh mệnh đã tụ lại. Thực là đồ quý trọng ở nhà tôn miếu. Xưa các minh vương đời Tam đại lấy kim loại do các quan mục bá chín châu dâng cống, đúc chín cái đỉnh để làm vật báu truyền lại đời sau. Quy chế điển lễ ấy thực to lớn lắm! Trẫm kính nối nghiệp trước, vâng theo đường lối rõ ràng. Nay muốn phỏng theo đời xưa, đúc chín cái đỉnh để ở nhà Thế miếu… Đó là để tỏ ý mong rằng muôn năm bền vững, dõi truyền đời sau. Chuẩn cho quan phần việc theo đúng kiểu mẫu mới định mà đúc”.
Vị vua thứ hai của triều Nguyễn công khai gọi “các minh vương đời Tam đại” (Hạ, Thương, Chu) của bên Tàu kể cũng lạ. Lại còn nói rõ “Trẫm kính nối nghiệp trước“, tức là coi các vị minh vương thời Hạ Thương Chu là tiền triều của mình.
Cũng chính Minh Mạng là tác giả của bài thơ ở chính điện Thái Hòa:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng bàng khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu.

ThaiHoa

Là một vị vua từ nhỏ được giáo dục truyền thống Nho học, Minh Mạng rất giỏi văn thơ, thuộc sử sách. Trong các bài văn thơ của mình Minh Mạng rất thường nhắc tới đời Đường Ngu. Vị vua này muốn noi theo gương trị nước an dân của Đường Nghiêu, Ngu Thuấn, mở nước vạn dặm, đúc đỉnh như thời Hạ Thương Chu. Rõ ràng triều Nguyễn vẫn coi Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa là lịch sử của mình.
Trong số 162 họa tiết chạm nổi trên Cửu đỉnh của nhà Nguyễn ở Huế có tới 90 hình ảnh là nói về các loài động thực vật đặc trưng của Việt Nam. Các hình trên Cửu đỉnh được sắp xếp theo một thứ tự nhất định và được chia thành các nhóm cảnh, vật. Nếu như việc xếp nhóm các họa tiết núi sông, thuyền bè, súng đạn, tinh tú tương đối rõ ràng thì việc phân nhóm những loại động thực vật trên Cửu đỉnh hiện nay không thống nhất. Tuy nhiên, việc phân nhóm các hình ảnh đều phải tuân theo nguyên tắc chính là đảm bảo mỗi nhóm vật có 9 hình, mỗi hình phải nằm trên mỗi đỉnh khác nhau. Bởi vì con số 9 là con số tượng trưng cho sự trường tồn về thời gian (9 chữ Nho là Cửu, đồng âm với chữ Cửu trong từ Vĩnh cửu), cũng như thể hiện toàn bộ không gian (9 châu, bao gồm 8 phương và 1 trung tâm).
Để hiểu được sự phong phú và độc đáo của loài động thực vật Việt Nam thể hiện trên Cửu đỉnh bài viết này xin đề xuất một cách phân nhóm các hình ảnh động thực vật trên Cửu đỉnh mà giữ đúng được nguyên tắc đã nêu (mỗi nhóm vật được xếp đều có đại diện trên từng đỉnh).

HoaSen-1

Hoa Sen trên Nhân đỉnh

Thực vật
54 họa tiết các loài thực vật có thể chia thành 6 nhóm. Tên chữ Nho của loài cây này ghi trên đỉnh được nêu trong ngoặc. Các loài được liệt kê theo thứ tự gặp trên các đỉnh lần lượt là Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh, Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh, Huyền đỉnh:
1. Cây lương thực và cây lấy sợi: Lúa tẻ (canh), Lúa nếp (nhu), Đậu xanh (lục đậu), Dâu (tang), Đậu ván (biển đậu), Đậu tương (hoàng đậu), Lạc (địa đậu), Đậu trắng (bạch đậu), Bông (miên).
2. Rau và cây gia vị: Hành (thông), Hẹ (cửu), Kiệu (giới), Nghệ (uất kim), Cải (giới), Hương nhu (hương nhu), Gừng (khương), Tía tô (tử tô), Tỏi (toán).
3. Cây lấy quả: Mít (ba la mật), Bòn bon (nam trân), Xoài (yêm la), Cau (tân lang), Mơ (mai), Đào (đào), Nhãn (long nhãn), Lê (lê), Vải (lệ chi).
4. Các loài hoa: Hoa tử vi (tử vi hoa), Hoa sen (liên hoa), Hoa nhài (mạt lỵ), Hoa hồng (mai khôi hoa), Hoa hải đường (hải đường hoa), Hoa dã quỳ (quỳ hoa), Hoa sói (trân châu hoa), Hoa dâm bụt (thuấn hoa), Hoa ngọc lan (ngũ diệp lan).
5. Các loại gỗ: Lim (thiết mộc), Ngô đồng (ngô đồng), Huống (thuận mộc), Kiền kiền (tử mộc), Hoàng đàn (hoàng đàn), Sao (nam mộc), Bách (trắc bách), Thông (tùng), Sơn ta (tất mộc).
6. Dược liệu và hương liệu: Trầm hương (trầm hương), Kỳ nam (kỳ nam), Đậu khấu (đậu khấu), Tô hạp (tô hợp), Quế (quế), Sa nhân (súc sa mật), Tổ yến (yến oa), Trầu không (phù lưu), Sâm ta (nam sâm).

Khoihac
Hạc trên Anh đỉnh

Động vật
Trong 36 họa tiết các loài động vật thì việc phân nhóm rõ ràng nhất là 2 nhóm Thú và Chim, mỗi nhóm gồm 9 loài:
Thú: Hổ (hổ), Báo (báo), Tê giác (tê), Ngựa (mã), Voi (tượng), Bò tót (ly ngưu), Lợn (thỉ), Dê (dương), Con hươu (sơn mã).
Chim: Trĩ (trĩ), Công (khổng tước), Gà (kê), Hạc (khôi hạc), Uyên ương (uyên ương), Vàng anh (hoàng oanh), Vẹt (anh vũ), Yểng (tần cát liễu), Chim ông già (thốc thu).
Còn lại 18 loài động vật khác không phân định được nhóm cho từng đỉnh. Tốt nhất là xếp chung chúng thành một nhóm lớn riêng biệt. Con số 18 cũng có nghĩa là 9×2 hay trùng cửu, trường cửu, vẫn là nghĩa trường tồn như số 9 của Cửu đỉnh.
18 loài này gồm các loài cá, rắn, rùa, ốc, côn trùng. Cứ 2 loài được liệt kê cạnh nhau là nằm trên cùng một đỉnh. Thứ tự các đỉnh như trên (phần về thực vật):
Rồng (long)/ Trạnh (miết); Đồi mồi (đại mại)/ Cá voi (nhân ngư); Rùa thiêng (linh quy)/ Cá sấu (ngạc ngư); Ve sầu (thiền)/ Trăn (nhiêm xà); Sâu dừa (hồ gia tử)/ Cá quả (lục hoa ngư); Trai (bạng)/ Cá rô (đăng sơn ngư); Vích (ngoan)/ Sam (hấu); Cá thủ (thạch thủ ngư)/ Sò (cáp); Cà cuống (quế đố)/ Rắn lớn (mãng xà).
Có 3 loài trong số này được chạm ở tầng trên của đỉnh, là những loài sống ở “trên không”: Rồng, Ve sầu và Sâu dừa. Các loài khác đều được chạm ở tầng dưới, là những loài bò sát hoặc ở dưới nước.

Linhqui

Linh qui trên Chương đỉnh

Một số loài là linh vật: Rồng, Cá voi và Rùa.
–  Rồng (long) được chạm trên Cao đỉnh, ứng với thụy hiệu Cao Hoàng đế của vua Gia Long. Đặc biệt chính trên Cao đỉnh có thể hiện đủ cả Tứ linh: Long (Rồng), Ly (Hổ), Qui (Giải), Phượng (Trĩ).
–  Cá voi ở đây được ghi là Nhân ngư. Hình Nhân ngư được chạm trên Nhân đỉnh, ứng với thụy hiệu Nhân Hoàng đế của vua Minh Mạng.
–  Rùa thiêng, với hình Bát quái trên lưng, được chạm trên Chương đỉnh, ứng với Chương Hoàng đế Thiệu Trị. Có thể chữ Chương ở đây với nghĩa là Văn chương. Người xưa dùng mai rùa để viết chữ (giáp cốt văn) và con rùa được cho đội bia ở các văn miếu, đình đền. Vì thế con rùa là tượng trưng cho văn chương.
Cũng trên Chương đỉnh còn có hình loài Tê giác. Phải chăng “sừng văn tê” cũng là một biểu tượng của văn chương?

TeTê giác trên Chương đỉnh

Đại lễ khánh thành và đặt Cửu Đỉnh diễn ra vào ngày 1 tháng 3 năm 1837 tức ngày quý mão tháng giêng âm lịch năm Đinh Dậu, niên hiệu Minh Mạng thứ 18. Lễ xong, nhà vua dụ bảo các quan rằng :
“Trẫm xem xét đời xưa, đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ [truyền lại] còn ít, những người biên chép ghi lại có chỗ không đúng, chép ra toàn là [hình dạng] của vạc nấu ăn, còn như đỉnh cao lớn và nặng, thì không những gần đây không có mà đến đời Tam đại cũng ít nghe thấy. Nay bắt chước người xưa mà lấy ý thêm bớt, đúc thành chín đỉnh to, sừng sững đứng cao, nguy nga kiên cố, không chút sứt mẻ, đáng làm của báu, con con cháu cháu, giữ mãi không bao giờ hết. Vậy thông dụ cho 31 trực tỉnh và thành Trấn Tây đều được biết.”
Chính năm bắt đầu khởi đúc Cửu đỉnh (1835) là năm Chân Lạp (Cam – pu – chia) thần phục nhà Nguyễn, đổi tên là Trấn Tây Thành. Nghĩa là sau hàng nghìn năm người Việt lại hưng quốc, đất đai rộng lớn như thời Chu thiên tử, với 4 vùng lãnh thổ lớn: Giao Chỉ (Bắc bộ), Chăm pa (Trung bộ), Lào (Tây Bắc), Chân Lạp (Tây Nam). Thống nhất được giang sơn chính là lý do mà Minh Mạng cho dựng Cửu đỉnh như Hạ vũ cai quản 9 châu xưa và đổi tên nước thành Đại Nam, bắt đầu đế nghiệp mấy trăm năm.

Cuudinh2

Cửu đỉnh, vật tương trưng cho vương quyền và quốc gia của Trung Hoa, nay chỉ còn duy nhất có ở Việt Nam. Đó là một bằng chứng xác thực về lịch sử và văn hóa Hoa – Việt. Nước Việt sẽ mãi “cửu vĩnh” như những gì được thể hiện trên Cửu đỉnh.

Văn nhân góp ý:

Theo truyền thuyết thì Hạ Vũ sau khi trị thủy thành công đã chia “thiên hạ” thành chín (cửu) châu và đúc 9 cái đỉnh tượng trưng cho 9 châu… Chia thiên hạ thành 9 châu có nghĩa là xác lập chủ quyền trên vùng đất đã phân giới hành chánh để quản lý … Hơn 4000 năm trước đoạn văn vài chữ này đã nói đến 2 yếu tố… nền: lãnh thổ và chính quyền trong khái niệm ‘quốc gia’ hiện đại. Trên 9 cái đỉnh có hình ảnh cảnh quan thiên nhiên và cây – con tiêu biểu của 9 châu… nên 9 đỉnh không chỉ là 9 cái đỉnh đồng mà đúc cửu đỉnh chính là sự khẳng định vị thế chủ nhân của thiên hạ – cửu châu.
Cửu Đỉnh là biểu trưng cho quyền uy của thiên tử nên trong ‘thế giới’ Trung hỏa thì có Cửu Đỉnh tức là chủ thiên hạ. Truyền thống này khởi đầu từ thời Đại Vũ kiến lập vương quốc Trung – Hỏa; Nhà Nguyễn nước Đại Nam đúc 9 đỉnh tức khẳng định sự nối tiếp quốc thống truyền từ hàng mấy ngàn năm trước và quan trọng hơn … đây là sự công khai tuyên bố: Mãn Thanh chỉ là 1 Hãn quốc của đám Nam man không dính dáng gì đến lịch sử Trung hỏa (Nước Mãn Thanh không có Cửu đỉnh).

Thủy tổ thần thoại

Câu mở đầu sử kỷ nước Nam trong TNNL:

Nhớ từ Thái cực sinh ra
Trên trời, dưới đất, giữa hòa dân gian.

Câu này thể hiện rõ quan niệm Tam tài: thiên, địa, nhân. Con người sinh ra cùng lúc và sánh ngang với trời đất.  Có thể so sánh với việc ông Bàn Cổ dùng rìu bổ vỡ hỗn mang, khai thiên lập địa.
Tiếp theo thời Thần Nông:

Tự vua Viêm Đế sinh ra
Thánh nhân ngưu thủ họ là Thần Nông
Trời cho thay họ Hữu Hùng
Con cháu nối nghiệp cha ông thủ thành.

Trong Hoa sử Hữu Hùng là nước của Hoàng Đế Hiên Viên, thủy tổ của người Hoa. Một lần nữa Thiên Nam ngữ lục khẳng định thông tin trong Đại Việt sử ký: «Thủa Hoàng Đế mở muôn nước», công nhận Hoàng Đế là thủy tổ của mình, của họ Hữu Hùng.
Dị bản chép:

Đất thiêng Khương Thủy chính tông
Cháu con nối dõi tổ tông thủ thành.

Khương Thủy đây có thể là sông Mễ Cương (Mê Kông). Họ Khương còn được nhắc đến trong tên bà Vụ Tiên:

Xưng danh là ả Khương Tiên
Có tinh Cửu vĩ là em ngoan ngùy.

Khi Kinh Dương vương lên ngôi ở phương Nam, nhân dân đến phục tùng:

Bao nhiêu rợ mọi gái trai
Làm hang đệm tổ cửa ngoài nẻo trong

Gần xa mến đức dái uy
Thói «hữu sào» ấy bỏ đi chẳng nhìn.

Ở đây lại nhắc đến Hữu Sào, cũng là một nhân vật của Hoa sử. Khi đọc sử Việt, dù là chính sử hay ngoại kỷ, ta đều thấy người Việt đều nhận những nhân vật thần thoại Bàn Cổ, Hoàng Đế, Hữu Sào là tổ tiên của mình. Trong khi theo Hoa sử đó là tổ tiên người Hoa Hạ. Người Việt nhầm lẫn, chịu ảnh hưởng của văn hóa Tàu chăng? Hay là người Hoa chính là người Việt?

Văn nhân góp ý:
Xin nhấn mạnh Viêm đế –Thần nông là nhân vật thần thoại tổ 3 đời của đế Minh không phải là Viêm đế anh em cùng cha khác mẹ với Hoàng đế.
Hoàng đế và Viêm đế cùng là con của Hùng quốc quân Thiếu Điển (có sách chép là Thiếu Khúc) là những nhân vật thời sơ sử Trung Hoa.
Khương thủy có tên Việt thời cận đại là Khung giang, các từ Khương – Cương – Khung – Khang theo Dịch học đều có nghĩa là hướng tây – phía tây.
Khương thủy hay Khung giang có cùng 1 nghĩa, chỉ con sông nằm ở phía tây đất Trung tâm (Giao chỉ?) ngày nay thường gọi là Mê kông hay Cửu long.

Điều rất quan trọng là Thiên nam ngữ lục xác định họ Thần nông sau đổi là họ Hữu Hùng vì vậy người Việt mới có 18 đời vua Hùng. Hùng vương quốc tổ thì mọi người Việt mặc nhiên công nhận nhưng thông tin Hoàng đế là vua Hữu Hùng quốc thì … chẳng ai để ý đến … trái khoáy hơn nữa đại đa số coi đó là ông vua tổ của người Tàu???

Thần châu xích huyện

Câu đối ở đền Thượng:
Quá cố quốc, miến Lô Thao, y nhiên bích lãng hồng đào, khâm đái song lưu hồi Bạch Hạc
Đăng tư đình, bái lăng tẩm, do thị Thần châu Xích huyện, sơn hà tứ diện khổng Chu Diên

Dịch nghĩa:
Qua nước cũ, ngắm Lô Thao, vẫn hồng đào bích lãng như xưa, sông nước hai dải bao quanh chầu Bạch Hạc
Lên đền này, vái lăng tẩm kìa Xích huyện Thần châu còn đó, núi sông bốn bên quay lại giữ Chu Diên

Chỗ khó hiểu ở đây là từ Thần châu Xích huyện. Có thể hiểu theo nhiều nghĩa:
1. Thân châu xích huyện là nước Việt, bắt nguồn từ nước Xích Quỷ của Lạc Long Quân (Long là Thần).
– Trong tác phẩm Sơ kính tân trang của nhà thơ Phạm Thái (đầu thế kỷ 18) cũng có nói đến con gái sau của nhà họ Trương, nổi tiếng khắp “châu Thần huyện Xích“:

Tiếng thơm lừng lẫy trong ngoài
Dậy vùng huyện Xích, nức nơi châu Thần

Câu này được các nhà nghiên cứu chú thích: Châu Thần là cửa biển Thần Phù, huyện Xích là Kiến Xương (hai địa danh ở quê của họ Trương). Chú thích như vậy quá gượng ép. Rõ ràng phải hiểu châu Thần huyện Xích đây là Việt Nam.
– Chuyện về Lê Quí Đôn gặp một ông lão đọc câu đối:
Chi chi tam thập niên dư, xích huyện hồng châu kim thượng tại.
Tại tại sổ thiên lý ngoại, đào hoa lưu thủy tử hà chi

Dịch nghĩa:
Thấm thoắt hơn ba chục năm, xích huyện, hồng châu nay vẫn đó.
Hỡi ôi xa ngoài vạn dặm, đào hoa, nước chảy, bác về đâu?.
2. Thần Châu Xích Huyện là Trung Quốc

– Sử ký Tư Mã Thiên trong Mạnh Tử, Tuấn Khanh liệt truyện: Trâu Diễn nói: “… Trung Quốc tên là Thần Châu Xích Huyện…”
– Theo Vương Hồng Sển, ở Nghĩa nhuận Hội quán, đường Gò Công, thành lập năm 1872, có câu đối nói về Quan Vũ:
Sanh Bồ Châu, sự Dự Châu, chiến Từ Châu, thủ Kinh Châu, vạn cổ Thần Châu hữu nhứt;
Huynh Huyền Đức, đệ Dực Đức, xá Bàng Đức, thích Mạnh Đức, thiên thu thánh đức vô song.

Tức là Thần Châu là đất nước của Quan Vũ (Trung Hoa).
3. Một số kinh phật cũng cho biết Thần Châu Xích Huyện là Trung Quốc.
– Có chuyện Bồ đề đạt ma đến Trung Quốc gặp Lương Vũ Đế. Sư nói: “Ta từ Nam Ấn sang đến phương Đông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người.”
– Trong số Tứ đại bộ châu của Phật giáo có Đông thắng thần châu, nơi sinh của Tề Thiên Đại Thánh (Tôn Ngộ Không). Thần Châu ở phương Đông rõ ràng là chỉ Trung Hoa.

Vậy Thần châu Xích huyện trong câu đối trên đền Thượng là nói nước Việt Nam hay Trung Quốc? Chỉ có cách giải thích hợp lý nhất là … Việt chính là Hoa trong cổ sử.

Văn Nhân bổ sung :
Trong cuộc vận động phong trào Văn thân hoàng giáp Phạm Như Xương thảo “Hịch Văn thân Quảng Nam” có câu:
 “Tủi là tủi cơ nghiệp thần tông, thánh tổ, lúc trung hưng, khi sáng nghiệp, xưa gian truân mới có cõi bờ nay;
Thương là thương dân nơi xích huyện thần châu, đạo đã lấn, mọi lại giành, cương luân hãm đâu còn trời đất cũ.

Vì tính chất đặc biệt của bài hịch nên chắc chắn không thể có sự sai lầm:
– Đối tượng nhận bài văn này là giới sĩ phu , là những nhà khoa bảng hàng đầu trong làng văn học thời bấy giờ, có thể có cá nhân sai lầm trong sự nhìn nhận về lịch sử quốc gia nhưng không thể nào cả tập thể là tinh hoa 1 nước lại mắc sai lầm ấu trĩ … về danh xưng của nước mình.

– Vì tính chất đặc thù của bài viết là vận động kháng chiến kêu gọi người ta xả thân vì nước nên không thể nào sai tình tiết quan trọng bậc nhất là danh xưng của tổ quốc … Nếu ‘Xích huyện thần châu’ là danh xưng của Trung Quốc – Hán thì bài hịch Văn Thân này trở thành lố bịch … làm trò cười cho thiên
hạ và dĩ nhiên chẳng có sĩ phu ngu dại xả thân vì … nước Tàu…

– Tôi hoàn toàn đồng ý với nhận định của Bách Việt 18. ‘Thần châu Xích huyện’là những mỹ từ người ta dành ca tụng quê hương đất nước mình, trong đó châu và huyện là những đơn vị hành chánh phân chia lãnh thổ. Nói Thần châu là nói đến:
– Châu ở về phía đông, thần là Thìn là con rồng có lẽ ở đây chỉ miền đất của Thần long – Động Đình quân, cha của Long nữ và ông ngoại của Lạc Long Quân.
Nghĩa khác bóng bảy hơn chỉ miền đất thần tiên nơi đó con người tràn trề hạnh phúc.
Xích trong Xích huyện nghĩa là màu đỏ của quẻ Ly tượng trưng cho sự văn minh ngoài ra trên thực tế địa lý Xích chỉ miền nhiệt đới; phía Xích đạo mà theo truyền thuyết là đất của Viêm đế Thần nông thủy tổ của cả dòng giống Việt.

Tóm lại: ‘Thần châu Xích huyện’ có 2 nghĩa , nghĩa đen là những thông tin lịch sử và địa lý liên quan đến khởi nguồn tộc Việt. Còn nghĩa bóng chỉ xứ sở thần tiên nơi con người có cuộc sống văn minh và hạnh phúc.

Nam Giao

Với sự giải thích của Tàu và của không ít “nhà khoa học” Việt Nam, Giao Chỉ nghĩa là dân tộc có 2 ngón chân cái bành ra, giao chạm nhau. Họ dẫn chứng ở Quảng Bình ngày nay vẫn còn những người như thế… Nhưng cũng ở đấy bố mẹ thì đúng là ngón chân giao nhau, nhưng con cái lại không. Họ
giải thích là do “gen lặn” (?). “Lặn” gì mà mới đời bố sang đời con đã hiện ra? Chẳng qua con cái người dân tộc bây giờ được ra ngoài xuôi ăn học, không phải leo núi nữa nên ngón chân bình thường như bao người khác.


Nếu Giao Chỉ là tộc người có ngón chân giao nhau thì Nam Giao là gì? Ngón chân phía Nam chạm vào nhau chăng (!?).
Trong khi đó cả Giao Chỉ và Nam Giao là những địa danh có từ thời Thái cổ. Hoa sử chép vua Nghiêu “… mệnh Hy thúc trạch Nam Giao…”, nghĩa là đã cho ông Thuấn đi mở cõi Nam Giao. Vậy Nghiêu Thuấn ở đâu mà biết đến Nam Giao?

Câu đối ở đền Hùng:
Khải ngã Nam Giao Hồng Lạc thiên thu tôn đế quốc
Hiển vu Tây thổ Tản Lô nhất đái thọ tân từ

Dịch nghĩa
Khởi nơi Nam Giao, Hồng Lạc nghìn năm là đất đế vương
Hiển linh Tây Thổ, Tản Lô một giải chốn miếu đền.

Câu đối nói tớiHồng Lạc khởi Nam Giao, hay vua Hùng dựng nước khởi đầu ở cõi Nam Giao.

Khi vua Minh Mạng cho rước bài vị Hùng Vương về thờ ở Huế có làm bài thơ đặt trên chính điện Thái Hoà:
Văn hiến thiên niên quốc
Xa thư vạn lý đồ
Hồng Bang khai tịch hậu
Nam phục nhất Đường Ngu

Câu “
Nam phục nhất Đường Ngu” đã đánh đố nhiều bậc nho giả. Chẳng nhẽ Đường Nghiêu và Ngu Thuấn lại đi mở nước Nam cho Hồng Bàng người Việt?
Hai tư liệu trên đều cho thấy Nghiêu, Thuấn chính là những đời vua Hùng, đã mở nước Hồng Bàng ở ngả Nam Giao. Nam Giao là Bắc Việt và một phần Quảng Tây ngày nay…