Vài điều bàn về Cao Lỗ tướng quân

Về Cao Lỗ tướng quân của Thục An Dương Vương, người đã chế tạo nỏ thần chống giặc, có ý kiến cho rằng đây chẳng qua nguyên là tục “thờ đá” vì Cao Lỗ còn được gọi là Thạch thần. Di tích lăng mộ và đền thờ Cao Lỗ ở Gia Bình, Bắc Ninh bị cho là “nhầm” vì Cao Lỗ là người từ đất Thục sang nước ta, không phải quê hương bản quán ở đây và không đúng là thủy tổ họ Cao. Những ý kiến này thực ra không có cơ sở, chỉ là lấy cách nhìn “ngày nay” để bài bác chuyện xưa chứ chưa hiểu đúng bản chất của nhân vật Cao Lỗ trong bối cảnh lịch sử của thời nhà Thục.

IMG_9266Lăng mộ Cao Lỗ ở Đại Than.

Thần tích làng Vũ Dương Vũ (Hưng Hà, Thái Bình) kể (trích theo Đặng Đình Hùng, Họ Đinh thời Hùng Vương trên đất Thái Bình):
Đức Không Thuyền đại vương tên là Phẩm họ Đinh quê ở Bạch Hạc, Thành Phong Châu, tỉnh Sơn Tây, bà vợ là Trần Thị Anh. Ngài là người thi thư quán thế, hiếu đễ thuyền gia. Rất giỏi việc dùng binh, giỏi cả thi thư xạ ngự, bói toán. Khi ấy ở đời vua Hùng Duệ Vương, nghe tiếng của ngài nhà vua đã mời ngài ra giúp việc và cho ngài làm tri huyện nhưng ngài có tính khăng khái cương trực, từng không kiêng sợ. Đương thời ngài nhận chức tri huyện, có lập doanh cừ ở làng Vũ Xá, gặp năm đói kém ngài thương dân đói khát, bèn lấy tiền thuế phát chẩn cho dân. Có kẻ dèm pha tố giác với triều đình: ngài tiêu tiền thuế để làm phúc riêng cho mình. Vua bèn phế người xuống làm thứ dân, bắt ngài đi chèo đò ở bến Thần Vũ ngài không giám chối mệnh. Từ khi ngài phải về chèo đò, nhân dân đều tôn kính, thường xưng hiệu là Không Thuyền Ông.
Thời ấy ở đất Ai Lao bộ có họ Thục tên Ban (Bạn) là Thục Chúa, nghe tin vua Duệ Vương định nhường ngôi cho con rể là ông Tản Viên Sơn, bèn đem quân đánh họ Hùng. Vua sai Tản Viên Sơn đem quân ra nghênh chiến. Quân Thục bị thua, Thục Chúa chạy đến bến Hồng Vũ thì đã gần sáng, đương hồi tháng 6, tháng 7. Nước của sông to, quân của đức Tản Viên đã đuổi gần tới nơi. Trong lúc cấp bách đường cùng, Thục Chúa trông thấy ở mé sông có thuyền của Không Thuyền liền gọi cầu cứu chở qua sông. Không Thuyền cũng nghĩ thầm hẳn Thục Chúa thua trận chạy trốn, ta mà bắt được đem nộp thì được công to. Nhưng lại nghĩ rằng: “Chấp nhân ư nguy cấp chi trung, khởi vô nghĩa hồ cứu nhân ư hoạn nạn, chi chính thị nhân dã”. Ngài bảo rằng ngày nay quân của Hùng gia còn đương canh hàng nghiêm ngặt, Minh Công tạm trú gia thôn sở nguyệt. Thục Chúa còn nghi ngại chẳng giám nghe lời, ngài phải chỉ trời mà thề rằng: nếu tôi có lòng bất chính thì trời sẽ hại tôi. Thục Chúa thấy ngài quả có lòng thành thực, liền theo ngài về nhà, ngài để Thục Chúa ở chùa Vũ Xá hơn một tháng. Thấy quân Hùng gia không còn truy lùng nữa, hai ba lần Thục Chúa mời ngài cùng về bản quốc, để báo đại ân. Ngài từ chối không chịu đi, nói rằng tôi đã ăn lộc Hùng gia mà nay lại về với Minh Quân là vô đạo. Một đêm ngài nằm mộng thấy thần báo một bài thơ rằng:
Hữu thời quân tất hữu thời thần
Hà tất phu phu tác đạo nhân
Nghi giữ Thục Vương hồi Thục quốc
Công danh tái đắc ức liên thân.
Khi ấy ngài mới vui lòng về Ai Lao. Thục Chúa phong ngài là Bảo Hựu Không Thuyền đại đô đốc, thực ấp vạn hộ. Thục Chúa gọi em là bà Phượng Hoa công chúa gả cho ngài. Được 5 đến 6 tháng bà nằm mộng thấy 3 con lân nhập hoài mà có thai, đến ngày 10 tháng 2 năm Giáp Dần sinh ra một bọc, phá ra 3 người con trai. Khi đang sinh thấy hương hoa thơm ngát ở phòng sinh. Sinh được hơn trăm ngày, ngài đặt tên con trưởng là Nam Công, con thứ là Chiều Công, thứ ba là Hàn Công, đến năm 14 tuổi, bà mẹ hốt nhiên không ốm mà chết.
Đến khi Tam Công 18 tuổi, thiên kinh vạn quyển qua tay thuộc lòng. Thục Chúa đều phong tước cho. Khi ấy cha con ngài đều khuyên Thục Chúa cầu hòa cùng Duệ vương. Duệ vương được tin Thục Chúa xin cầu hòa, bèn triệu Thục Chúa lại nhường ngôi cho. Thục Chúa lên ngôi đóng đô ở thành Cổ Loa, phong Bảo Hựu làm Bảo Hựu Không Thuyền đại tướng, trưởng tử Nam Công làm quản Nam Đô phụng sự, thứ tử Chiều Công làm Phụng thị tả hữu. Quý tử Hàn công làm Chính hàn giáo thiên hạ tứ phương trí sĩ.
Từ khi ấy cha con ngài thường đi lại làng Vũ Xá. Ngài sai làm một nhà hội đồng cung để cho 3 con cùng ở. Một ngày 3 cha con cùng ngồi ở hội đồng cung chợt thấy một người đầu râu tóc bạc, đầu đội mũ hoa từ ngoài đi vào, cha con trông thấy mời vào cùng ngồi chơi nói chuyện thiên văn địa lý, văn chương thi phú thấy rất hợp liền kết làm nhất bái huynh đệ. Lão nhân đến tối thì đi, sáng sớm lại đến, đã ba, bốn ngày vẫn như thế. Đến hôm ấy lão nhân đi ra thì cha con ngài cùng đi theo, thấy lão nhân rẽ nước mà xuống sông, đến sáng sớm hôm sau cha con đi ra thì lại trông thấy lão nhân rẽ nước mà đi lên, rồi vào hội đồng cung. Thấy mọi người ngạc nhiên, lão nhân cười mà nói rằng, ta trước là con nhà Hùng gia cai trị ở Giang Khẩu, nay thấy cha con nhà ngươi là người anh tài đạo đức khí cao chí trung cho nên không lấy âm dương làm cách biệt mà đến chơi. Cha con ngài nói rằng tôn nhân đã không lấy âm dương làm cách biệt giám kết làm chi lan, có việc gì nguy cấp thì xin cấp cứu, lão nhân vâng dạ bảo rằng ta từ nay có việc triều đình không hay đi lại như trước, ngươi có việc gì muốn cầu cứu thì ta cho thần hiệu. Khi có việc gì thì hô thần hiệu ta sẽ tới, nói rồi viết hai chữ “Giang Khẩu” đưa cho cha con ngài, rồi đi.
Thời Thục Chúa tại vị đã được 32 năm có người ở Chân Định tên là Triệu Đà cử binh lại xâm chiếm, đồn trú ở Bắc Ninh Thiên Đức Giang. Thục Chúa sai sứ triệu cha con ngài về triều rồi đem quân đánh giặc. Khi ấy ngài đang thiết ban ở hội đồng cung để cầu Giang Khẩu đại vương, nghe thấy sứ triệu, ngài bèn gọi nhân dân ở làng Vũ Xá cắt cử coi giữ cung sở lập tức ngài xuất bản bộ binh mã và chọn những người tráng kiện ở làng Vũ Xá được 35 người để làm gia nô thủ túc. Thục Vương kíp sai đem một trăm nghìn quân ra đánh Triệu Đà, cha con ngài bái tạ Thục Vương rồi đem quân đường đường trực tuyến đến thiên đức giang thiết đầu sở rồi cùng Triệu Đà kháng cự. Cha con ngài cùng cha con Triệu Đà đánh nhau vài mươi trận, cha con ngài đều toàn thắng bắt được nhiều lương thực khí giới. Triệu Đà thấy cha con ngài uy dũng không dám ra đánh, đem quân về danh sở cố thủ không xuất chiến nữa.
Than ôi số mệnh tại thiên, Không Thuyền ở chốn chiến trường chợt bị bệnh nặng rồi chết vào ngày 19 tháng chạp. Ba vị Tam Công sai gia nhân về tâu Thục Vương. Vua Thục nghe tâu rất là thương tiếc, gấp sai xa giá ra chỗ quân trung đem Không Thuyền về thành đô. Khi ấy Triệu Đà gọi con cùng chư tướng bàn rằng nay Thục Vương đã mất một viên chúa tướng, Thục Vương xa giá đến đây, ta cố đánh một trận toàn thắng. Ngay đêm ấy chia làm bốn phía cùng tấn công. Đương khi 3 vị Tam Công còn đang sầu lão cùng với vua Thục và Quách Quàn thân phụ ở trong trại chợt thấy quân Triệu Đà vây bốn mặt giáp chiến. Quân Thục bị chết vô số, ba vị Tam Công ra đánh khi ấy quân Triệu phấn dũng, Tam Công không địch nổi lại chạy về trại cố thủ. Chúa Thục cả sợ, Tam Công nói rằng bệ hạ đừng lo, tôi đã có Giang Khẩu thần cấp cứu, nói rồi rồi đốt hương cầu Giang Khẩu xin lại cấp cứu ta. Vừa cầu xong chợt nổi: một trận gió to gẫy cây tốc nhà, bay sỏi đá, có tiếng gọi to rằng ta đã lại cứu lũ ngươi sao không đem quân ra đánh. Tam Công nghe thấy lập tức đem quân ra đánh. Triệu binh thất điên bát đảo bị chết vê số, Triệu Đà chạy về doanh sở.
Ba vị Tam Công mời Đức Giang Khẩu về lầu Thục Vương. Đức Giang Khẩu nói rằng ta muốn lại thăm Không Thuyền Vương rồi cùng về lầu bái yết Thục Vương. Đức Giang Khẩu thăm vị Không Thuyền Vương đã khuất rồi từ tạ mà đi, Thục Vương sai rước Không Thuyền Vương về táng ở thành Cổ Loa, lại gia tăng ở mỹ tự 6 chữ “bảo hộ, dục vận, chiến lưu”, sắc chỉ về làng Vũ Xá lập miếu ở hành cung bên chùa để thờ cúng. Thục Vương lại sai sứ đem Kim Quy thần cung giao cho ba vị Tam Công khiến lui quân Triệu Đà. Tam Quân được thần cung ấy liền thắng vài mươi trận. Triệu Đà từ ấy chạy về Chân Định, ba vị Tam Công bái tạ Thục Vương xin về làng Vũ Xá, túc trực tại nhà hội đồng cung ở làng Vũ Xá, chúc thỉnh Đức Giang Khẩu tới để mở tiệc khánh hạ.
Đương khoảng tháng 6, tháng 7, trong một ngày 3 vị Tam Công đương ngồi ở hội đồng cung sở thấy Đức Giang Khẩu rẽ nước đi lên cười mà tụng rằng:
Ngũ thập nhiên gian tại Thục Vương
Hựu quy Triệu thị khá tuy tường
Kim nai đặc thỉnh tam công đảng
Hồi thủy vân vương kết nghĩa trường.
Đương khoảng giời đất yên tĩnh ba vị Tam Công cùng hóa cả.
Câu chuyện về Không Thuyền đại vương và Giang Khẩu thần giúp Thục Vương đánh giặc đọc kỹ thấy có rất nhiều tư liệu mới mẻ đối với giai đoạn khúc mắc này của sử Việt. Tên của Thục Vương ở đây chép là Thục Ban (Bạn). Vì 2 phụ âm B và P đổi cho nhau nên Thục Bạn là tương đương với tên Thục Phán trong chính sử.
Thần tích chép Không Thuyền đại vương đánh giặc ở Thiên Đức giang. Thiên Đức là tên cổ của sông Đuống. Vị Giang thần sông Đuống ở đây gọi là Giang Khẩu hoặc Đức Giang Khẩu. Cửa sông Đuống là cửa Lục Đầu ở Bắc Ninh. Vị thần Giang Khẩu như vậy tương đương với Thanh Giang sứ giả trong truyền thuyết Kim Quy. Thanh Giang sứ là thần sông chứ không phải thần biển.
Khi nhận ra thần Giang Khẩu là thần Kim Quy thì Không Thuyền đại vương được kể phải là Cao Lỗ, vị tướng giúp vua Thục đánh giặc và chế tác nỏ thần. Cao Lỗ còn gọi là Cao Thông. Không Thuyền đọc thiết âm là Thông, trùng với tên của Cao Lỗ.
Tướng Cao Lỗ có đền thờ chính và lăng mộ tại thôn Đại Trung (Cao Đức, Gia Bình, Bắc Ninh). Khu vực này chính là nơi sông Đuống đổ vào Lục Đầu, gọi là bãi Đại Than. Sự trùng khớp vị trí của lăng Cao Lỗ và bến đò trên cửa sông Đuống trong thần tích Không Thuyền đại vương khẳng định thêm Không Thuyền chính là tướng Cao Lỗ.
Câu đối ở lăng Cao Lỗ tại Đại Than
愼密弩機萬代時君皆倚重
艱難農事千秋上帝憫精忠
Thận mật nỗ cơ vạn đại thời quân giai ỷ trọng
Gian nan nông sự thiên thu thượng đế mẫn tinh trung.
Dịch:
Cẩn mật nỏ thần, vạn đời các vua đều coi trọng
Gian nan nông nghiệp, nghìn thu thượng đế cảm lòng trung.
Cao Lỗ được biết đến là một vị tướng tài giỏi và là một nghệ nhân về các nghề thủ công, nông nghiệp. Ông là người chế tạo ra nỏ thần của nhà Thục, được coi là “ông tổ chế tạo vũ khí” của nước Nam.
Để nhận rõ Cao Lỗ là ai cần điểm lại lịch sử nhà Thục ở nước ta. Truyền thuyết về Thục An Dương Vương kể về cả một thời đại nhà Thục từ lúc dựng nước tới lúc mất nước. Đoạn đầu Thục Phán đánh Hùng Vương và lên ngôi đã được biết là chuyện Cơ Phát đánh giặc Ân, lập nên nhà Chu trong Hoa sử. Đoạn An Dương Vương xây thành Cổ Loa là sự kiện Chu Bình Vương dời đô từ Tây Kinh về Đông Kinh ở Đông Ngàn Cổ Loa. Đoạn cuối về Mỵ Châu – Trọng Thủy là việc nhà Tần diệt Chu Noãn Vương, kết thúc vương triều Chu kéo dài gần 1000 năm.
Xét trên một giai đoạn lịch sử dài như vậy, thật khó xác định Cao Lỗ là vị tướng ở thời gian nào. Chắc chắn một điều là tướng Cao Lỗ không liên quan tới việc trừ yêu diệt quỷ xây thành Cổ Loa như vẫn nhiều người lầm tưởng vì việc xây thành Cổ Loa là công tích của Huyền Thiên Lão Tử ở Đông Anh. Như vậy Cao Lỗ chỉ có thể là vị tướng ở thời kỳ đầu hoặc ở giai đoạn cuối của nhà Chu Thục.
Cao Lỗ chỉ một vị tướng người nước … Lỗ. Lỗ là nước chư hầu nằm ở phía Tây của nhà Chu. Lỗ hay Lẽ, Lý là tính chất lý lẽ của phương Tây, đối lập với tính chất tình thương, từ ái của phương Đông trong Dịch học. Cao là từ dùng để chỉ người lãnh đạo. Như thế Cao Lỗ tức là vị thủ lĩnh phía Tây.
Một loạt các tên gọi khác của Cao Lỗ khẳng định điểm này. Cao Lỗ còn gọi là Thạch thần. Hay trong thần tích ở Thái Bình Cao Lỗ trở thành Không Thuyền đại vương mang họ Đinh. Thạch hay Đinh đều là những dịch tượng chỉ hướng Tây, với tính chất tĩnh lặng, cương định.
Thần tích đền Đại Than cho biết Cao Lỗ khi sinh ra trên người có chữ Cao Lỗ Thiên, được đặt tên là Lỗ Công. Cao Lỗ Thiên không phải là “ông trời họ Cao tên Lỗ” mà là vị thủ lĩnh của trời Tây (Lỗ).
Giả thuyết như vậy thì Cao Lỗ có thể là vị tướng ở một trong 2 thời điểm. Ở thời lập quốc nhà Chu thì Cao Lỗ là Chu Công Đán, người em của Chu Vũ Vương được phong ở đất Lỗ. Chu Công hay Lỗ Công đã không về đất phong mà ở lại kinh thành nhà Chu phò tá cháu còn nhỏ là Chu Thành Vương. Sau khi dẹp loạn Vũ Canh và Tam Thúc, Chu Công đã đưa đám quý tộc nhà Ân cũ về an trí tại thành Lạc Dương, tức là ở thành Cổ Loa.
Thần tích ở Đại Than cho biết Cao Lỗ khi giúp Thục Vương đã dẫn quân như sau:
Chỉ đạo theo đường từ châu Minh Linh Bố Cánh đi ra, một đạo theo đường núi từ Quỳnh Nhai Hoàng Tùng thập châu đi ra, một đạo theo đường Tuyên Tiên Tụ Long đi ra, một đạo theo đường núi Tam Điệp Ái Châu đi ra, một đạo theo đường Hoan Châu hội quân ở cửa biển, dựng cờ lớn ở đất Mộc Châu.
Tất cả những địa danh trên cho thấy khu vực cai quản của Cao Lỗ là vùng rừng núi Tây Bắc và Bắc Trung Bộ ngày nay. Đây chính là địa phận nước Lỗ, đất phong của đại công thần Chu Công Đán của nhà Chu.
Giả thuyết thứ hai nếu Cao Lỗ ở vào cuối thời Chu Thục, đã từng giúp Thục kháng Tần (Triệu), thì khả dĩ nhất Cao Lỗ là ông Lỗ Ban. Cao Lỗ được thờ là tổ nghề rèn (dưới tên Lư Cao Sơn). Lỗ Ban cũng là người nước Lỗ và được tôn là ông tổ nghề xây dựng, nghề mộc. Truyện kể về Lỗ Ban từng chế tạo các máy móc dùng trong chiến trận, như truyện Công Thâu Ban và Mặc Gia bày sa bàn đấu với nhau chín ngày đêm.
Không Thuyền đại vương ở Thái Bình họ Đinh tên Phẩm. Rất có thể chữ Phẩm là biến âm của chữ Ban, tương tự trường hợp tên Thục Ban trong thần tích so với tên Thục Phán. Đinh là hướng Tây, giống như Lỗ. Như thế Đinh Phẩm tương đương với Lỗ Ban.

P1240478

Đền Phnom Bakheng, nơi có truyền thuyết về Lỗ Ban ở Angkor.

Không rõ làm sao, trong sách Chân Lạp phong thổ ký của viên công sứ nhà Nguyên là Châu Đạt Quan ở thế kỷ 13 lại kể ở Angkor Wat trên đất Cămpuchia có mộ của Lỗ Ban:
Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angkor Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, trong một vòng thành gần mười dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Bậc thầy về xây dựng Lỗ Ban của Trung Hoa lại ở Cămpuchia. Nước Lỗ rõ ràng không ở đâu xa tận bán đảo Sơn Đông, mà là khu vực nước Lào ngày nay. Có vậy thì mộ của Lỗ Ban mới nằm trong quần thể Angkor.
Bản thân trong cách bố trí số các ngọn tháp ở Angkor đều dùng số 5 với khái niệm tương tự như Ngũ hành. Ví dụ như ở ngôi đền Phnom Bakheng được nói đến có 5 bậc tháp khi đi lên.

P1240483

5 bậc tháp ở đền Phnom Bakheng.

Trong truyện kể về Lỗ Ban (Nghiên cứu của Lỗ Ban) có thể thấy ông đã rất ủng hộ nhà Chu. Thậm chí có chỗ kể ông có người chị ở đất Chu. Lỗ Ban chế tạo ra con chim gỗ để đi tìm chị ở nước Chu. Bố của ông không biết dùng chim gỗ nên bị rơi ở nước Vũ, sau đó bị giết ở đây…
Nước Lỗ vốn là nước của Chu Công, vị đại công thần của hoàng tộc nhà Chu nên với nước Chu có quan hệ đặc biệt, luôn luôn ủng hộ nhà Chu. Tới tận cuối thời Chiến Quốc nước Lỗ vẫn còn kẻ sĩ như Lỗ Trọng Liên, thà nhảy xuống biển Đông mà chết chứ không chịu theo Tần.
Quay lại vấn đề về Cao Lỗ, người mà danh tích và sự nghiệp gắn với việc chế tạo chiếc nỏ thần. Câu đối về Cao Lỗ ở đình Đại Trung:
名振螺城昭聖跡
靈揚龟弩赫神威
Danh chấn Loa thành chiêu thánh tích
Linh dương quy nỗ hách thần uy.
Dịch:
Danh dội Loa thành rạng thánh tích
Linh thiêng Quy nỏ tỏ uy thần.
Nỏ thần của Cao Lỗ thật sự là gì thật khó biết nhưng bí quyết của nỏ nằm ở chiếc lẫy nỏ do thần Kim Quy trao tặng. Lẫy nỏ thần này được gọi thần cơ. Chữ Cơ 機 còn có nghĩa là điều then chốt, cốt yếu, chứ không nhất thiết chỉ nghĩa là chiếc lẫy để bắn nỏ. Xét về ý nghĩa của bí quyết “móng rùa” này chắc chắn phải liên quan tới Dịch học. Rùa là loài vật có mai giáp dùng để chép Dịch thời cổ (Quy tàng dịch).

IMG_9258Đình Đại Trung ở Gia Bình, Bắc Ninh.

Ngay xem trong thần tích về Không Thuyền đại vương ở Thái Bình, 3 vị con của Không Thuyền (Cao Lỗ) là Chiều Công, Nam Công và Hàn Công cùng với Giang Khẩu thần dùng nỏ thần Kim Quy thắng giặc. Tên của các vị này xếp thành đủ 4 phương. Nam Công là hướng Nam. Chiều Công là hướng Tây, hướng buổi chiều mặt trời lặn. Hàn Công là hướng Bắc, hướng của xứ lạnh (hàn). Còn Giang Khẩu thần hay Thanh Giang sứ là hướng Đông (Thanh là màu xanh, màu của phương Đông). Cùng với Không Thuyền đại vương 4 phương này hợp thành Ngũ hành.
Lỗ Ban cũng là một bậc thầy về phong thủy (Dịch học). Tới ngày nay còn truyền lại dụng cụ “thước Lỗ Ban” được sử dụng rộng rãi trong thuật phong thủy. Phải chăng bí kíp móng rùa của Cao Lỗ chính là nằm ở chiếc “thước Lỗ Ban” này? Hiểu một cách rộng hơn thì Cao Lỗ đã tạo ra một mực thước tốt nhờ vận dụng Dịch học để thiết kế các công cụ tác chiến, nhờ đó giúp cho Thục An Dương Vương chống giặc.
Thay cho lời kết bài viết, xin dẫn thêm đôi câu đối ở cổng lăng mộ Cao Lỗ tại Đại Than:
文武兼全神機妙造無雙將
龍韜虎畧却趙抗秦第壹功
Văn vũ kiêm toàn, thần cơ diệu tạo vô song tướng
Long thao hổ lược khước Triệu kháng Tần đệ nhất công.
Dịch:
Đủ gồm văn võ, sáng tạo lẫy thần kỳ diệu, vị tướng có một không hai
Tài trí hổ rồng, đánh đuổi Triệu chống giữ Tần, công lao đứng hàng thứ nhất.

Linh Lang đại vương và Thăng Long tứ trấn

Một trong những vị thần tứ trấn của thành Thăng Long là đức Linh Lang đại vương với đền thờ chính “Tây trấn từ” là đền Thủ Lệ (Ngọc Khánh, Ba Đình, Hà Nội). Linh Lang đại vương là ai? Có công đức như thế nào mà được tôn thờ là thần trấn Tây của kinh đô Thăng Long?
Thần tích đền Thủ Lệ cho biết thần nguyên là hoàng tử con vua Lý Thánh Tông với vương phi Hạo Nương. Hạo Nương quê ở xã Bỗng Lai (phủ Quốc Oai), sống và gặp vua ở đất Thị Trại (nay là Thủ Lệ). Hạo Nương đi tắm ở hồ Tây, gặp giao long nổi lên quấn lấy người, từ đó mang thai 14 tháng sinh ra đứa bé có tướng mạo khôi kỳ, lưng có 18 vì tinh tú, bụng có chùm sao Bắc đẩu, đặt tên là Hoàng Lang.
Khi Hoàng Lang mới được 1 tháng 7 ngày, đất nước có giặc Vĩnh Trinh từ phương Bắc kéo đến. Thế giặc mạnh, vua cho người đi cầu thỉnh các bậc anh hùng hào kiệt các nơi về đánh giặc. Hoàng Lang bỗng bật dậy nói với mẹ, cho gọi người vào và dặn về tâu vua làm cho một lá cờ cán dài 10 trượng và cho một con voi lớn để đi đánh giặc. Hoàng Lang lắc mình, thân hình trở nên to lớn, cầm lá cờ và cưỡi voi xông thẳng tới chỗ quân địch, hét lớn: “Ta là Thiên tướng”. Hoàng Lang giết tướng giặc và phá tan quân giặc Vĩnh Trinh.
Thắng trận trở về, nhà vua muốn nhường ngôi cho Hoàng Lang nhưng ngài nhất mực từ chối. Sau đó Hoàng Lang hóa thành con rắn trắng lặn xuống hồ Tây. Nhà vua thương tiếc cho lập đền thờ ở quê mẹ Bỗng Lai, ở Thị Trại và cho 269 chỗ khác , cứ nơi có lá cờ của Hoàng Lang bay đến và có sự hiển ứng thì thờ phụng. Phong thần là Linh Lang đại vương.

Thu LeNghi môn ngoại đền Thủ Lệ.

Câu đối ở đền Voi Phục (Thủ Lệ) kể về sự tích Linh Lang đại vương:
市寨千秋名不朽
西湖一带水無塵
Thị Trại thiên thu danh bất hủ
Tây Hồ nhất đái thủy vô trần.
Dịch:
Thị Trại ngàn thu danh bất hủ
Tây Hồ một dải nước sạch trong.
Linh Lang đại vương chiếm một vị trí khá quan trọng trong thần điện Việt. Có tới 88 bản thần tích đã được biết của các địa phương khác nhau về Linh Lang, ở nhiều tỉnh miền Bắc. Tập trung nhất là ở vùng Hà Tây và Hà Nam. Điều này cũng có thể hiểu vì Hà Tây là quê mẹ của Linh Lang đại vương.
Thần tích Linh Lang đại vương mang đầy màu sắc thần bí, kể về một vị “Thiên tướng” đánh giặc Vĩnh Trinh, tương tự chuyện Thánh Dóng lên 3 vươn mình hóa Phù Đổng đánh giặc Ân. Nhưng thần tích lại chép Linh Lang là con vua Lý Thánh Tông. Thời Lý là thời kỳ mà đã có sử sách ghi chép rõ ràng, tại sao chính sử không thấy nói gì đến Linh Lang đại vương? Điều này là sự bí ẩn khó lý giải trong sự tích Linh Lang đại vương. Ở nhiều nơi và nhiều người do đó đã gán Linh Lang đại vương với hoàng tử Hoằng Chân nhà Lý tham gia trận chiến chống Tống và hy sinh trên sông Như Nguyệt. Tuy nhiên, như vậy càng là không khớp với thần tích và lộn xộn về thời gian vì cuộc chiến Lý – Tống trên sông Như Nguyệt xảy ra dưới thời Lý Nhân Tông, tức là sau thời Lý Thánh Tông vài chục năm.
Vô lý hơn nữa khi Linh Lang đại vương là một trong Thăng Long tứ trấn vì Tứ trấn Thăng Long tương truyền do Lý Thái Tổ đặt ra sau khi dời đô. Hoàng tử Hoằng Chân ở vào thời Lý Thánh Tông hay Lý Nhân Tông, làm thế nào mà thành thần từ thời Lý Thái Tổ được?
Vậy Linh Lang đại vương là ai, nguồn gốc thực sự là thế nào?

Binh DaĐình Ngoại Bình Đà.

Thân thế và sự nghiệp thực sự của Linh Lang đại vương được phát lộ qua di tích đình Ngoại ở Bình Đà (Thanh Oai, Hà Nội). Đình Ngoại Bình Đà thờ Linh Lang đại vương nhưng sự tích có nhiều tình tiết khác lạ. Theo bản Bách Việt triệu tổ cổ lục của đất Bình Đà thì nơi đây là nơi thờ thái sư Nguyễn Nỏ, tức Lý Long Cảnh hay Lý Lang Công, em thứ 3 của Nguyễn Minh Khiết (Đế Minh), chú của Lộc Tục (Kinh Dương Vương). Lý Lang Công được giao làm chủ đất Chân Lạp, Hồ Tôn, Ai Lao, nhưng không làm mà giúp cháu (Lộc Tục) đánh giặc Vĩnh Chinh (Ma Mạc) ở Tử Di Sơn, công lao rất lớn.
Theo nhận định của tác giả Văn nhân, bản cổ lục này là chuyện lập quốc của nhà Chu thời Tam đại. Nhà Chu bắt đầu khởi dựng từ Cơ Xương Văn Vương đóng đô ở đất Phong. Tới đời con là Cơ Phát Vũ Vương tiến đánh Ân Trụ Vương, chiến thắng, lên ngôi thiên tử, phân chia đất đai cho các công thần làm chư hầu. Cơ Đán Chu Công, một người em có công lớn của Vũ Vương, được phong ở nước Lỗ. Đất cũ của nhà Ân vẫn giao cho con cháu Trụ Vương là Vũ Canh trông giữ hương hỏa cha ông. Chu Vũ Vương cử 3 người em của mình là Quản Thúc, Hoắc Thúc và Sái Thúc giám sát Vũ Canh, gọi là Tam giám.
Khi Chu Vũ Vương mất, con là Chu Thành Vương lên nối ngôi còn nhỏ, Chu Công được sự ủy thác phụ chính vương triều. Lúc này Tam giám cùng Vũ Canh phao tin Chu Công muốn cướp ngôi vua, rồi liên kết với các bộ tộc Từ Nhung, Hoài Di nổi loạn. Chu Công giữ mình trong sáng, cất quân dẹp phản loạn, đánh bại Tam giám, rồi đem đám quý tộc của nhà Ân về Lạc Dương an trí. Đất Lạc Dương tới khi Chu Bình Vương dời đô về phía Đông đã trở thành kinh đô của nhà Chu, gọi là Đông Đô.
Trong truyền thuyết Việt, Văn Vương được gọi là Văn Lang, lập quốc ở Phong Châu (Phú Thọ). Vũ Vương là Vũ Ninh, người đã cùng Thánh Dóng đánh giặc Ân thắng lợi. Còn Chu Công, vị thái sư, con của Văn Vương đã phụ chính và dẹp giặc nổi loạn, xây dựng Đông Đô là ai trong truyền tích Việt?
Xét kỹ thần tích ở Bình Đà thì người được thờ Lý Lang Công chính là Chu Công. Lý Lang Công còn có tên là thái sư Nguyễn Nỏ. Nỏ = Lỗ, vì Chu Công được phân phong ở đất Lỗ, là đất Ai Lao, Hồ Tôn nói đến trong thần tích. Chu Công không về đất phong mà ở lại phụ chính giúp cháu mình là Chu Thành Vương, đánh giặc Từ Nhung Hoài Di, được thần tích gọi tắt là Tử Di.
Vì Lý Lang Công ở Bình Đà cũng là Linh Lang đại vương nên Linh Lang đại vương không ai khác phải là Chu Công. Có liên hệ Linh = Ninh, chỉ phương Tây vì tính chất của phương Tây là định, tĩnh, ninh. Chu cũng có nghĩa là chiêu, là chiều, chỉ phía Tây. Linh Lang (Ninh Lang) do đó tương đương với Chu Công, nghĩa là vị chúa công cai quản phương Tây. Đây là lý do tại sao Linh Lang lại là vị thần trấn Tây, quê ở Hà Tây, sinh ở hồ Tây, thác hóa cũng ở hồ Tây.
Bản thân bà mẹ Linh Lang có tên Hạo Nương, Hạo là sáng, bóng, chỉ hướng Tây. Bà là cung phi thứ 9, nghĩa là Tây cung.
Điều này cũng giải thích tại sao trong thần tích Linh Lang mang họ Lý và có tên Lý Lang Công. Thực ra Lý ở đây không phải là họ. Trong Dịch học có cặp đối lập Lý – Tình ứng với hướng Tây – Đông. Phương Đông là phương của tình cảm nên còn gọi là “thương”, “từ”. Phương Tây là phương của lý lẽ, cũng là “lỗ”,” lão”. Lý còn là quẻ Ly trong Hậu thiên Bát quái, dùng chỉ hướng Tây. Ví dụ, linh vật của nhà Chu là con Ly (Kỳ lân), con vật biểu trưng của hướng Tây. Có thể nhận rõ sự tương thông ý nghĩa giữa các cái tên Linh Lang – Lý Lang Công – Chu Công, đều nghĩa là vị chúa công của hướng Tây.
Khu vực sông Hoài nơi đám Nhung Di nổi loạn đầu thời Chu là vùng đất Hà Nam Trung Quốc. Ở đây có thành Trịnh Châu là di tích thời Thương Ân. Vì thế mà đám giặc Nhung Di đã được gọi là giặc Vĩnh Trinh trong truyền tích về Linh Lang đại vương. Vĩnh Trinh hay Trinh Vĩnh thiết Trịnh, chỉ đúng nơi xuất xứ của giặc loạn thời Chu Công.
Sự việc phụ chính cho cháu của Chu Công được thần tích Việt kể là sau khi thắng giặc Vĩnh Trinh nhà vua muốn nhường ngôi cho Linh Lang nhưng ngài hết sức từ chối. Chu Công đã hết lòng phò trợ vua trẻ, củng cố vương triều Chu thêm vững chắc.
Chu Công là người khởi xướng nền lễ giáo của Trung Hoa. Không như Thánh Dóng giúp Vũ Vương diệt Trụ bằng vũ khí (roi sắt, ngựa sắt), Chu Công đã thuần phục thiên hạ bằng sự ngay thẳng, bằng lễ nghĩa, bằng thánh đức. Hình ảnh cây cờ lớn cán dài dùng đánh giặc và tung bay khắp nơi trong thần tích Linh Lang đại vương là chỉ cái lễ đức, sự chính đạo của Chu Công đã thắng được giặc dữ và an định đất nước.
Theo thần tích Linh Lang đại vương được thờ ở 269 nơi khác nhau. Thực ra đây là cách nói dùng Dịch số. Đất đai thiên tử được chia làm 9 khu vực gọi là 9 châu. Mỗi khu vực lại gồm cả Nam và Bắc, được “số hóa” thành số 2 – 6. Số 2 là con số chỉ phương Nam, số 6 là phương Bắc trong Hà thư. 269 nơi nghĩa là trong cả 9 châu Nam Bắc đều tôn thờ.
Một điểm đáng chú ý nữa, Chu Công là người đầu tiên xây dựng và cai quản thành Lạc Dương, sau là Đông Đô của nhà Chu. Thành Đông Đô là khu vực Hà Nội (Cổ Loa). Đây là lý do mà Chu Công – Linh Lang đã được tôn  sùng thành một trong Thăng Long tứ trấn.

Kim LienNghi môn nội “Trấn Nam phương” đền Kim Liên.

Xét các vị thần tứ trấn Thăng Long đều là những vị thánh quan, những người có công gây dựng và phát triển thành Đông Đô – Hà Nội:
– Trấn Nam: Cao Sơn đại vương, người phò tá Tản Viên Sơn Thánh dựng nước thủa hồng hoang. Linh vật là Kim Liên (hoa Sen, màu đỏ, chỉ hướng Nam).
– Trấn Tây: Linh Lang đại vương hay Chu Công, người khởi đầu kinh đô Lạc Dương – Đông Đô. Linh vật là Voi (tượng, chỉ hướng Tây).
– Trấn Bắc: Huyền Thiên đại thánh, tức là Lão Tử, vị thầy thuốc đã cứu giúp dân lành và giúp An Dương Vương (Chu Bình Vương) xây thành Cổ Loa khi dời đô lúc giao thời Tây và Đông Chu. Linh vật là Kim Quy (rùa, huyền vũ , chỉ hướng Bắc).
– Trấn Đông: là thần Tô Lịch, là hình ảnh của Sĩ Nhiếp – Phạm Tô, người nhiếp chính Giao Châu chống giặc Đông Hán. Linh vật là Bạch Mã, hình ảnh của mặt trời, hay Long mã (Long Đỗ) – Rồng, chỉ hướng Đông.

Sự thực về thủy tổ của dòng họ Ban – Phan

Theo dòng thời sự… nhân sự kiện Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki Moon đến dâng hương ở nhà thờ họ Phan Huy ở Sài Sơn, thử bàn xem thủy tổ của họ Ban – Phan là người nước nào.
Họ Phan ở Trung Quốc, Việt Nam hay Hàn Quốc đều công nhận thủy tổ của mình là Tất Cao Công, một trong những đại công thần của nhà Chu. Ví dụ tộc phả họ Ban – Phan của Hàn Quốc chép rằng bọn họ là hậu duệ của Quý Tôn Công. Quý Tôn Công là con thứ (Quý là thứ ba) của Tất Công Cao. Tuy nhiên, vấn đề chính là ở chỗ Tất Công Cao là người ở đâu?
Một ông họ Phan ở Hà Nam Trung Quốc phát biểu: Chỉ cần trong tộc phả có ghi “thủy tổ Quý Tôn Công” là đủ để chứng minh họ Ban Hàn Quốc có gốc gác từ tỉnh Hà Nam. Vị họ Phan Trung Quốc này hơi “lạc quan” quá. Theo sách vở ghi lại Tất Cao Công đến từ đất Huỳnh Dương, nhưng Huỳnh Dương này không chắc là ở Hà Nam – Trung Quốc.
Tư liệu họ Phan ở Việt Nam chép: Theo truyền thuyết vào đầu đời nhà Chu tại một bộ tộc phía Nam sông Trường Giang gần hồ Phiên Dương, vùng đất Việt Thường thuộc Dương Việt (Giang Tây), có người tù trưởng giỏi nghề cấy lúa, biết lợi dụng sông ngòi, lấy nước vào ruộng, tránh được nạn hạn hán làm cho mùa màng tươi tốt, nhân dân no đủ, ai cũng mến phục. Tin ấy truyền về vua Chu, Chu bèn mời người đó về triều giúp đỡ nhân dân cách dẫn nước vào ruộng cấy lúa nước, dần dần nhân dân sung túc, thiên hạ thái bình. Ðể đền ơn, lúc người ấy về bộ tộc, vua Chu cho được hưởng ruộng lộc tức là thái điền ở bộ tộc đó và đặt tên họ ghép 2 chữ Thái điền với ba chấm thủy đọc là chữ “Phan”. Họ Phan bắt đầu ra đời từ đấy. Người tù trưởng đó là Tất Công họ Phan, bộ tộc Phan.
Vậy đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, quê của Tất Công là ở Hà Nam hay Giang Tây, hay ở chỗ khác nữa?…
Theo chính sử Trung Hoa, Tất Công Cao mang họ Cơ, là con thứ 15 của Chu Văn vương Cơ Xương, em khác mẹ của Chu Vũ Vương Cơ Phát. Khi Cơ Phát lên nối nghiệp cha, ông giúp anh đánh đổ nhà Ân, dựng lên nhà Chu. Sau khi Chu Vũ vương mất, ông theo giúp Chu Thành Vương. Khi Chu Thành Vương sắp qua đời, ủy thác thái tử Chiêu cho Tất Công Cao và Thiệu Công Thích. Cơ Chiêu lên nối ngôi, tức là Chu Khang Vương. Thiệu Công Thích cùng Tất Công Cao hết sức phò tá Khang Vương.
Tất Công là người đã nối nghiệp Chu Công và Quân Trần cai quản Lạc Ấp, nơi an trí “đám dân ngoan ngạnh” của nhà Ân. Kinh Thư có bài Tất mệnh, là lời của Chu Khang Vương, nói về việc này:
Than ôi! Cha Thái sư! Sự yên nguy của nước chỉ là trông bọn dân Ân ấy. Không cương, không nhu, đức mới thực tu! Duy Chu Công cẩn thận được ban đầu. Duy Quân Trần hòa hiệp được khoảng giữa. Duy ông thành toàn được đoạn cuối.
Ở đây Chu Khang Vương gọi Tất Công là “Cha Thái sư”. Vì công đức cai quản Lạc Ấp, hoàn tất (“thành toàn”) được công việc yên dân nên Cơ Cao được ban gọi là “Tất Công”.
Đặc biệt tại nhà thờ họ Phan Văn ở thị trấn Yên Thành (Nghệ An) tới nay còn lưu được câu đối về thủy tổ Tất Công:
采田氏自畢公芳留統譜
松嶽降爲崇郡恩諭髙門
Thái Điền thị tự Tất Công, phương lưu thống phả
Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận, ân dụ môn cao.
(Phiên âm và biên chép chữ Nho từ tư liệu của họ Phan đã chỉnh lý dựa theo nghĩa)
Dịch:
Họ Thái Điền từ Tất Công, tiếng thơm lưu truyền đời mãi
Thần Tùng Nhạc trị Sùng Quận, ơn đức tỏ tộc môn cao.
Thái Điền 采田 là chiết tự của họ Phan 潘 như tư liệu của họ Phan ở trên đã cho biết. Ở vế đối đầu họ Phan (Thái Điền) bắt đầu từ Tất Công thì đã rõ. Nhưng còn vế đối sau “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” thì phải hiểu thế nào?
Xem lại diễn biến đầu thời Chu. Khi Chu Văn Vương Cơ Xương khởi nghiệp đã chiếm nước Sùng (của Sùng Hầu Hổ) rồi đóng đô ở đất Phong. Nước Sùng chính là khu vực miền Bắc Việt Nam ngày nay. Đoạn sử này được truyền thuyết Việt chép là Âu Cơ quê ở Lăng Xương (Cơ Xương) lấy Sùng Lãm (Lạc Long Quân), rồi đem các con về Phong Châu lập nên nước Văn Lang (tức là Văn Vương).
Sau khi Chu Vũ Vương, truyền thuyết gọi là Vũ Ninh, cùng Thánh Gióng diệt nhà Ân, dời kinh đô về đất Cảo, thì đất Sùng là Lạc Ấp, nơi nhà Chu an trí đám ngoan dân của nhà Ân. Tất Công là vị quân chủ thứ 3 tại Lạc Ấp nên trong vế đối mới nói đến việc cai trị Sùng Quận (“vi Sùng Quận”). Bản thân tên gọi Cao Công cũng có thể là từ chữ Sùng mà ra vì Sùng chữ Nho nghĩa là Cao.
Xét “sơ yếu lý lịch” của Tất Công như trên thì đất Phiên Dương hay Huỳnh Dương, nơi xuất xứ và thành nghiệp của Tất Công, phải là ở Lạc Ấp. Lạc Ấp còn gọi là Lạc Dương. Dương là hướng Đông. Lạc Dương là kinh đô của thời Đông Chu sau đó. Nơi Tất Công làm nên sự nghiệp là ở đất Sùng – Cao tại Lạc Dương – Bắc Việt, chứ chẳng phải ở tận Hà Nam hay Giang Tây.
Đôi câu đối ở nhà thờ họ Phan tại Yên Thành còn cho một thông tin bất ngờ khác. “Tùng Nhạc giáng vi Sùng Quận” ứng với việc Tất Công cai quản đất Sùng. Như vậy Tất Công còn được gọi là “Tùng Nhạc”. Thông tin này liên hệ tới một vị Thủy tổ khác của họ Phan Việt Nam là Phan Tây Nhạc.
Theo truyền thuyết Việt thì Phan Tây Nhạc là một vị tướng theo Sơn Tinh giúp vua Hùng đánh giặc. Ở Hà Nội 2 làng Hòe Thị và Thị Cấm của xã Xuân Phương, Từ Liêm đã lập Phan Tây Nhạc làm thành hoàng làng. Lễ hội của 2 làng này còn lưu giữ tục lệ chạy thi – kéo lửa – thổi cơm, tương truyền do vợ của ông là Hoa Dung công chúa từng tổ chức để tuyển người giỏi nuôi quân. Phan Ông Tây Nhạc cùng vợ sau khi chiến tranh kết thúc về làng dạy nhân dân ở khu vực Phương Canh cấy lúa, dệt vải và sửa sang nghi lễ phong tục… 

Thi CamHội làng ở đình Thị Cấm.

Câu đối ở đình Thị Cấm:
貉鴻神將四千餘載聲靈水之汲與火之鑽漿食之爭迎猶彷彿之故壘行宮此地
瀘傘仙墟七十二祠胖嚮士於朝及農於埜工賈於廛市寔頂戴於陽扶陰助其間
Lạc Hồng thần tướng tứ thiên dư tải thanh linh, thủy chi cấp dữ hỏa chi toàn, tương thực chi tranh nghênh, do phảng phất chi cố lũy hành cung thử địa
Lô Tản tiên khư thất thập nhị từ phán hưởng, sĩ ư triều cập nông ư dã, công cổ ư triền thị, thực đính đái ư dương phù âm trợ kỳ gian.
Dịch:
Thần tướng buổi Lạc Hồng, bốn nghìn năm lẻ linh thiêng, lấy nước kíp giữ lửa, đua tranh nấu đồ uống thức ăn, còn như lũy xưa cung cũ phảng phấp đất nọ
Mộ tiên nơi Lô Tản, bảy mươi hai đền kính hướng, quan triều tới nông dã, chợ quán có thương gia thợ nghề, thực là phù dương trợ âm đứng đầu chốn đây.
Trong sự tích về Phan Tây Nhạc có thể thấy rõ công lao chính của vị này không phải là đánh giặc mà là an định dân tình nơi đô thị, giống như công nghiệp của Tất Công kể trong Kinh thư hay như trong tư liệu khởi nguồn của họ Phan về Tất Công. Tùng Nhạc và Tây Nhạc cùng một nghĩa vì Tùng = Tuấn (Sơn Tinh Nguyễn Tuấn có nơi chép là Nguyễn Tùng) = Tốn, là quẻ chỉ hướng Tây.
Phan Tây Nhạc theo Sơn Tinh ở đây không phải là theo Tản Viên Sơn Thánh của thời kỳ đầu dựng nước. Sơn Tinh ở đây là vị quê ở Lăng Xương, là hình ảnh của Âu Cơ (quê cũng ở Lăng Xương), tức là Cơ Xương – Chu Văn Vương. Như vậy sự tích của Phan Tây Nhạc hoàn toàn trùng khớp với Tất Công, vị Thái sư phụ trách an dân ở Lạc Dương đầu thời Chu.
Họ Phan Việt Nam hoàn toàn đúng khi nhận Phan Tây Nhạc làm Thượng thủy tổ của mình. Phan Tây Nhạc cũng là Tất Công nên truyền thuyết nguồn gốc họ Phan ở Việt Nam, Trung Quốc hay Hàn Quốc đều trùng nhau. Chỉ có điều, Thượng thủy tổ họ Phan là người Việt, lập công nghiệp lưu truyền đời thế ở đất Lạc Việt.

Văn Nhân thêm ý:
Theo lễ chế từ thời thái cổ, tùy từng thời dựa theo hình thế đất đai thiên hạ (có lúc rộng lúc hẹp), người ta chọn ra 5 ngọn núi tiêu biểu cho vùng giữa và 4 phương Nam Bắc Đông Tây gọi là Ngũ Nhạc để định kì Thiên tử vi hành đến nơi làm lễ tế trời đất, xem xét dân tình và thưởng người có công phạt kẻ có tội. Vì thế Ngũ Nhạc hay 5 ngọn núi thiêng tiêu biểu của 4 phương Thiên hạ mỗi thời mỗi khác. Ngũ Nhạc thời Nghiêu Thuấn không phải Ngũ Nhạc thời Tần Thủy Hoàng…, Thái Sơn trong câu ca dao “Công cha như núi Thái sơn” không phải là Thái Sơn thời Tần ở Sơn Đông, Trung Quốc.
Rất có thể ông Phan Tây Nhạc không phải là ông họ Phan tên là Nhạc mà nghĩa là ông họ Phan ở miền núi thiêng phía Tây. Luận xét trong cổ sử Việt thì Tây Nhạc thời kì này rất có thể là núi Tản Viên. Tản Viên chính xác là Tốn Vương, trong Hùng triều thế phổ là Hùng Việt vương Tuấn Lang. Gọi là núi Tản viên vì núi ấy được dành riêng thờ Tuấn Lang. Tản, Tán, Tốn, Tuấn đều có gốc từ quẻ Tốn, tượng của phong gió, chỉ phía Tây (nơi đấy cũng gọi là Phong Châu), ngược với quẻ Chấn, tượng của Sấm sét ở phía Đông, tức vùng đất có Đông Nhạc.
Tóm lại, Tây Nhạc cũng là miền Phong Châu, trong cổ sử là miền núi Tản sông Đà ngày nay.
Thông tin “Vua Châu ban cho con cháu Tất công đất Phan…” cũng có thể hiểu đất Phan là miền đất thiên tử Châu ban cho dòng họ Phan (lấy tên đất làm họ hay lấy họ đặt tên tên đất?).
Đất Phan nay ở đâu trên bản đồ?
Sử thuyết Hùng Việt cho đất Phan chính là lãnh thổ nước Phù Nam (phu nan thiết Phan), khởi lập từ Hỗn Điền sau đến Hỗn Bàn. Đời vua thứ 3 là Hỗn Bàn Bàn thì bị họ Phạm cướp mất miền đất ban đầu gây dựng (không phải cướp ngôi). Vua quan Hỗn Bàn Bàn phải chạy về Đông bán đảo Mã Lai và lập kinh đô mới ở đấy. Tư liệu lịch sử gọi là nước Pan Pan (pan – bàn – phan chỉ là biến âm).
Có lẽ thông tin về nước Phù Nam rút ra từ tư liệu lịch sử gốc viết bằng ngôn ngữ hệ Tạng Miến. Hỗn là biến âm của Hãn, nghĩa là chúa, là vương không phải họ. Điền lấy từ chữ Thái và Điền, ghép nên tên họ Phan chữ Nho. Thực sự Hỗn Điền nghĩa là chúa họ Phan hay vua nước Phan, nhưng do… “tứ sao thành … bản khác…” nên đời sau nhận không ra… Sự thể rõ hơn ở tên 2 vua Hỗn Bàn và Hỗn Bàn Bàn, theo nghĩa là vua họ Phan hay vua nước Phan, không có ai họ Hỗn tên Bàn Bàn và cũng chẳng hề có Brahman Ấn Độ nào tên là Kaudinya.
Ranh giới phía Bắc nước Phù Nam hay nước Phan chính là miền Phan Rang ngày nay. Đúng ra là Phan Ranh, không phải rang… Cam Ranh cũng có tư liệu chép là Cam Rang, ranh với rang chỉ là biến âm. Cam Ranh cạnh Phan Ranh là bằng chứng không thể chối bỏ về 1 miền biên giới của 2 nước ‘cổ’ tưởng là đã mất tích trên bán đảo Đông Dương. Nước Phan nhận ra được nhờ phiên thiết Hán văn ‘phù nam thiết phan’, còn nước Cam không thể là nước nào khác ngoài nước Chàm hay Campapura độc âm hóa khi viết bằng chữ Nho.
Chỉ cần phủi nhẹ lớp bụi mỏng là 1 quá khứ Đông Nam Á khác hoàn toàn hiện ra … Nhìn bản đồ phân bố trống đồng đã tìm được là thấy ngay… Đã đến lúc người Đông Nam Á phải chủ động xem xét lại toàn bộ lịch sử của mình.

Nước Lỗ của Khổng Tử nằm ở đâu?

Nhân thể chuyện xây văn miếu và thờ Khổng Tử ở Việt Nam đang được dư luận bàn tán rôm rả xin góp vui vài ý về sự thật nước Lỗ và quê hương của Khổng Tử.
Khổng Tử người nước Lỗ thì ai cũng biết, nhưng nước Lỗ này nằm ở đâu? Sử ký Tư Mã Thiên chép về quê hương của Khổng Tử  như sau: Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, thuộc làng Xương Bình nước Lỗ. Tổ tiên trước kia là người nước Tống…
Thông tin gốc như vậy mà không biết căn cứ vào đâu cho rằng quê của Khổng Tử “nay là” huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc? Khổng Miếu ở Sơn Đông cho dù có là di sản văn hóa thế giới nhưng niên đại của cái miếu đó chắc không quá được thời Đường Tống đổ về, tức là xây cách thời Khổng Tử cỡ trên 1.500 năm.

Nước Lỗ vốn là đất phong của Chu Công Đán, vị đại công thần lập  quốc lớn nhất của nhà Chu. Nước Lỗ của Chu Công không hề nằm ở vùng Sơn Đông vì thời Ân Thương khu vực Sơn Đông là đất của dân Di, không phải của người Hoa. Chu Công còn phải vất vả đi đánh dẹp cuộc nổi loạn của hậu duệ nhà Ân là Vũ Canh liên kết với đám Hoài Di, Từ Nhung thời Chu Thành Vương. Như vậy làm gì có chuyện đất phong của Chu Công trước đó lại nằm trên đất của Di Địch được.
Trà kinh của Lục Vũ (học giả thời Đường) chép: Trà làm thức uống, khởi từ Thần Nông thị, truyền bởi Lỗ Chu Công, Tề có Án Anh… Vậy là 3.000 năm trước Chu Công nước Lỗ đã thích uống trà. Nhưng vùng Sơn Đông (hay vùng Hoàng Hà nói chung) làm gì có cây trà mà uống? Trà (chè) là loài cây gốc tự nhiên ở khu vực dãy Hymalaya, như ở Vân Nam và Bắc Việt. Làm gì có trà mọc ở bán đảo Sơn Đông băng giá.
Chuyện khác, Khổng An Quốc, cháu 12 đời sau của Khổng Tử đã ghi trong bài tựa cuốn Thượng Thư (Kinh Thư) như sau: “… thời Lỗ Cung Vương, thích sửa sang cung thất, Vương cho phá nhà cũ của Khổng Tử để mở rộng thêm. Trong tường nhà tìm được Thư, phần Ngu, Hạ, Thương, Chu cùng Tả Truyện, Luận Ngữ, Hiếu Kinh đều viết bằng chữ Khoa Đẩu cổ văn do ông cha chúng tôi cất giấu. Vương lại lên nhà thờ đức Khổng Tử, nghe được tiếng vàng, đá, tơ, trúc, bèn không cho phá nhà nữa, đem toàn bộ sách trả cho họ Khổng”.
Thì ra Khổng Tử chép Ngũ kinh bằng chữ Khoa đẩu. Chữ Khoa đẩu được biết là chữ của người Việt cổ. Khổng Tử soạn kinh bằng chữ Việt, hỏi Khổng Tử là người Việt hay người Tàu?
Chân lạp phong thổ ký do Chu Đạt Quan thời Nguyên đi sứ sang đất Chân Lạp (Cămpuchia) thì ghi nhận: Ngôi tháp bằng đá (Phnom Bakheng) ở ngoài cửa thành hướng Nam nửa dặm, người ta thuật lại rằng ông Lỗ Ban, vị kiến trúc sư Trung Hoa theo huyền thoại đã xây cất trong một đêm. Ngôi mộ của ông Lỗ Ban (Angko Wat) ở ngoài cửa Nam lối một dặm, có hàng trăm căn nhà bằng đá.
Lỗ Ban, vị tổ nghề mộc và xây dựng người nước Lỗ cùng thời với Khổng Tử mà lại đi xây tháp ở Cămpuchia và mộ nằm ở Angko Wat. Hỏi nước Lỗ của Lỗ Ban và Khổng Tử phải nằm ở đâu?
Khổng Tử làm Kinh Xuân thu đến năm Lỗ Ai Công săn được con Lân thì dừng bút. Vì thế Kinh Xuân thu còn gọi là Lân kinh. Thế nhưng, Chu Hy (thế kỷ 12 thời Nam Tống) chú giải về con Lân như sau: Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống.
Loài thú đứng đầu các loài có lông mao (động vật có vú), trông giống hươu, đuôi bò, móng ngựa, có một sừng thì phải là con Tê giác. Con Lân là con Tê hay con Tây. Vấn đề là con Tê giác thì không thể nào có ở khu vực Sơn Đông được. Tê giác là loài vật của vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới, gặp ở Lào – Việt Nam – Cămpuchia. Nước Lỗ nơi Lỗ Ai Công săn được con Lân chắc chắn nằm ở khu vực bán đảo Đông Dương, chứ không phải bán đảo Sơn Đông của vùng ôn đới.

NhathohoCao

Nhà thờ họ Cao tại Nho Lâm, Diễn Thọ.

Thông tin từ văn hóa dân gian Việt cũng cho một số chỉ dẫn về vị trí nước Lỗ. Nhà thờ họ Cao ở làng Nho Lâm, xã Diễn Thọ, huyện Diễn Châu, Nghệ An thờ tổ Cao Đại Tôn là ông Cao Thiện Trí, sống vào quãng năm 1360. Gia phả họ Cao nhận mình là xuất xứ từ vùng Bột Hải. Bột Hải nếu như ngày nay là vùng biển giáp với Triều Tiên ở tít phía Bắc Trung Quốc. Thực ra Bột Hải hay Bát Hải nghĩa là biển ở phương số Tám (8), tức là phương Đông trong Hà thư. Bột Hải của họ Cao là vùng biển Đông ngày nay.
Ông Cao Thiện Trí còn được gia phả họ Cao ghi lấy vợ là bà Khổng Thị Tám, người… nước Lỗ chạy loạn sang Nghệ An. Nước Lỗ ở gần Nghệ An và Bột Hải – biển Đông thì phải là khu vực nước Lào ngày nay. Đây mới là vị trí thực sự quê của Khổng Tử, nơi có những con Lân – Tê sinh sống, có những cây trà cổ thụ mọc trong tự nhiên, nơi người dân vốn dùng chữ Khoa đẩu mà chép sách truyền kinh.
Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Diễn Châu, Nghệ An thì có câu đối:
Cổ nguyệt môn cao, hệ xuất thần minh Ngu đế trụ
Bảng sơn địa thắng, thế truyền thi lễ Khổng sư tông.
Dịch:
Cửa cao trăng Hồ, sinh ra dòng dõi anh minh đế Ngu Thuấn
Đất lành núi Bảng, các đời truyền lễ nghĩa thầy Khổng Khâu.
Họ Hồ, dòng họ của những vĩ nhân Hồ Quý Ly, Quang Trung và Hồ Chí Minh, là có nguồn gốc từ Đế Ngu Thuấn, theo lễ nghĩa của Khổng Tử. Người Việt thực sự đã bị lạc hướng và hiểu sai về nguồn gốc và văn hóa của mình. Những đóng góp to lớn của Khổng Tử cho nền văn hóa Trung Hoa chính đã tạo nên nền tảng của văn hóa Việt.
Có thơ:
Muốn cứu đời thánh nhân Khổng Tử
Dốc lao tâm khổ tứ viết kinh
Thư, Thi, Dịch, Lễ, Nhạc thành
“Vạn thế sư biểu” tôn vinh đời đời.

Thánh Gióng là ai?

P1060325

Lời hát của phường Ải Lao trong lễ hội Gióng ở Phù Đổng:

Nhớ xưa đương thủa triều Hùng
Vũ Ninh nổi đám bụi hồng nẻo xa
Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài…

Lễ hội Phù Đổng đã được tôn vinh công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, nhưng Thánh Gióng là ai thì vẫn mỗi người một ý. Điểm qua vài quan điểm về thánh Gióng của các chuyên gia ngày nay.
Tạ Chí Đại Trường trong cuốn Thần và người đất Việt đã cố công biến hết “người đất Việt” thành “thần”. Thánh Gióng bị cho là thần đá vì chữ Phù Đổng được thấy giống chữ pù – đống, trong tiếng Tày Thái nghĩa là đống đá… Một nhân vật lịch sử lâu đời như vậy mà bị cho “hóa thạch”, thật là bậy bạ hết chỗ nói… Thế mà vẫn có những “sử gia” thuộc vào hàng đáng kính viết lời giới thiệu quảng bá cho sách…
Khá khẩm hơn có tiến sĩ Đinh Hồng Hải mới xuất bản cuốn sách Các vị thần, nhưng cũng chỉ thấy mới “thần” mà không thấy “thánh”. Thánh Gióng ở đây được “xếp hạng” ngang hàng với Thần tài, Thần bếp…?! Tác giả đã “truy nguyên” hình tượng Phù Đổng Thiên Vương là được nhà Lý dựng nên vào thế kỷ 11, lấy nguyên mẫu từ Tỳ Sa Môn Thiên Vương, một vị hộ pháp của nhà Phật…!?
Nước ta “độc lập” kể từ nhà Lý, truyền tích, di vật để lại thì không từ thời Lý thì còn từ thời nào nữa. Nhưng chuyện Thánh Gióng được kể có từ thời nhà Ân, từ trên 3.000 năm trước. Lúc đó Phật tổ Thích Ca còn chưa ra đời thì làm sao Thánh Gióng lại là tướng nhà Phật được? Trong truyền thuyết Phù Đổng Thiên Vương cũng có chỗ nào nói đến Phật đâu mà có thể cho là chép từ Phật tích ra.
Các “Phật tử” du học ở Tây, ở Ấn về hơi ngộ nhận về ảnh hưởng của Phật Giáo đối với cổ sử Việt. Cũng như thiền sư Lê Mạnh Thát biến chuyện An Dương Vương xây thành Cổ Loa thành chuyện… gì đó ở trong kinh Phật… Có biết đâu là có chuyện Lão Tử hóa Hồ… Đạo Lão của người Việt còn có trước Đạo Phật, và Đạo Phật có thể đã chịu ảnh hưởng của Đạo Lão ở một số mô típ và quan niệm.
Tư duy biện chứng hơn phải kể đến tác giả Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt người Mường. Tạ Đức cho rằng Thánh Gióng là hình ảnh của thần chiến tranh Xuy Vưu. Cuộc chiến chống giặc Ân là sự đụng độ của nước Quỷ Phương với Ân Cao Tông. Nước Quỷ Phương được cho là nước Xích Quỷ của người Việt cổ, được giải thích là nghĩa đen là “Quỷ đỏ” vì… Xuy Vưu ở một số nơi bên Hàn quốc được thờ với áo màu đỏ…
Quan điểm của Tạ Đức đúng ở chỗ cho rằng Thánh Gióng là một nhân vật lịch sử có thật trong trận chiến với nhà Ân. Có điều truyền thuyết cho biết Thánh Gióng đã đánh thắng giặc Ân, vua Ân chết trận ở Trâu Sơn, vua Hùng thứ sáu sau đó lên ngôi còn duy trì quốc gia dài dài… Cuộc chinh phạt nước Quỷ Phương của Ân Cao Tông có phần thắng thuộc về nhà Ân, chứ không phải thuộc về nước Quỷ Phương.
Tạ Chí Đại Trường đã nhận xét có lý rằng chuyện Thánh Gióng thắng giặc Ân là chỉ nhà Chu, vì Chu thiên tử mới là triều đại đã đánh đổ nhà Ân. Đây không phải sự sao chép hay học đòi, “tự sướng” của người Việt, mà là lịch sử thật sự. Chính Hùng Vương Vũ Ninh đã đánh thắng Ân Trụ Vương chứ chẳng phải ai khác.
Lễ hội làng Phù Đổng và truyền thuyết về người anh hùng Gióng vẫn còn mang đậm hơi thở lịch sử của 3.000 năm trước. Câu trả lời Thánh Gióng là ai nằm ngay ở trong những truyền thuyết lễ hội dân gian. Câu hát Ải Lào hội Gióng:

Nhớ đời thứ sáu Hùng vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Nu nhung

Nữ tướng Ân trong lễ hội Phù Đổng (Ảnh Nguyễn Hồng Quân).

Trong ngày hội Gióng 28 cô gái trẻ (vị thành niên, dưới 13 tuổi) đóng vai làm 28 tướng Ân, diễn lại trận đánh với Thánh Gióng. Một bên là một cậu bé 3 tuổi, ăn cơm cà của cả làng mà lớn nhanh như thổi, cầm gậy cưỡi ngựa ra trận. Một bên là 28 thiếu nữ… Có lẽ chẳng có lễ hội nào trên thế giới lâu đời, kỳ lạ và khó hiểu đến vậy.

Tác giả Văn nhân đã giải thích rõ tập tục trong lễ hội này. Số 2 trong Hoa ngữ còn gọi là Ơn, biến thành Ân. Hoặc trong thập can Ất là số 2 (Giáp – Ất). Ất biến ra Ân. Còn 8 là con số chỉ phương Đông (như trong từ Bát Hải – biến Đông). Phương Đông lấy tượng là màu xanh = thanh = thương. Phương Đông là phương của tình cảm – tình thương. 28 như vậy là tên gọi đã số hóa của nhà Ân Thương. Nhà Thương từ khi Bàn Canh dời đô vượt sông được gọi là nhà Ân, nghĩa là nhà Thương thứ hai.
28 nữ tướng Ân yểu điệu ám chỉ nhà Ân Thương còn đang ở thời kỳ mẫu hệ, kém văn minh so với nhà Chu. Sau cuộc chiến của Vũ Vương diệt Ân, lập nên nhà Chu, Trung Hoa bước vào giai đoạn quân chủ phong kiến chính thức. Chu Công tiếp đó đặt nên lễ nhạc, hình thành nền tảng phong hóa Trung Hoa cho hàng ngàn năm sau. Vũ Ninh, nơi Thánh Gióng thắng giặc Ân là tên của Chu Vũ Vương. Vũ Vương trước khi lên ngôi có danh là Ninh Vương Cơ Phát.
Đặc biệt sự có mặt của phường hát Ải Lào với người đội lốt hổ chỉ rõ mối liên hệ nguồn gốc của nhà Chu với tộc người Ai Lao Di ở vùng Vân Nam Quý Châu, tộc người lấy con hổ làm con thần thú của mình. Ải Lào thiết Âu. Hai khu vực Âu của người Ai Lao Di và Lạc (Hùng Vương thứ sáu = Hùng Lục Vương = Hùng Lạc Vương) nơi Thánh Gióng xuất thế, đã cùng nhau đánh đổ triều Ân, lập nên nước Âu Lạc. Hai dòng tộc của cha Lạc Long và mẹ Âu Cơ lại gặp nhau, hòa hợp trong một thời đại mới.
Cuối cùng, là Thánh Gióng không phải là ông Đổng, ông Khổng lồ, để có những “phát hiện” kiểu Thánh Gióng mang họ Đổng nhưng lại diệt thủy quái dựa theo thần tích đền Bộ Đầu (Thường Tín). Đền Bộ Đầu thờ Đổng Thiên Vương Huyền Thiên Đại Thánh bị gộp chung với các di tích của Thánh Gióng ở Phù Đổng và Sóc Sơn thành di sản văn hóa thế giới. Ông Đổng là một nhân vật khác với Phù Đổng. Phù Đổng thiết Phổng hay Bổng, chính xác Thánh Gióng là thần Bổng. Cậu bé ba tuổi làng Phù Đổng đã lớn phổng, cưỡi ngựa nhổ tre đánh giặc rồi bay bổng về trời trên núi Sóc. Bắt đầu từ Ninh Vương Cơ Phát sinh Bách Việt, lịch sử Âu Lạc sang một trang mới, một thời đại bay bổng tuyệt vời của xã hội Việt.

… Trời thương Bách Việt sơn hà
Trong nơi thảo mãng nảy ra kỳ tài
Lên ba đương tuổi anh hài
Roi ngà ngựa sắt ra oai trận tiền
Một phen khói lựa dẹp yên
Sóc Sơn nhẹ gót thần tiên lên trời.

Bàn về nước Việt Thường

Truyện chim bạch trĩ trong Lĩnh Nam chích quái là truyện rất ngắn gọn nhưng lại rất khó hiểu vì những thông tin địa lý lịch sử mang trong đó không khớp gì với sử sách ngày nay. Truyện này bắt đầu như sau:
Về đời vua Thành Vương nhà Chu, Hùng Vương sai bề tôi tự xưng là họ Việt Thường đem chim bạch trĩ sang tiến cống. Vì ngôn ngữ bất đồng, Chu Công phải sai sứ qua nhiều lần dịch mới hiểu nhau được…
Đây là tích truyện đầu tiên nói tới nước Việt Thường. Nước Việt Thường này nằm ở đâu và quan hệ của nó đối với lịch sử Việt Nam như thế nào là câu hỏi đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm do có thể nước Việt Thường là một giai đoạn cội nguồn của lịch sử Việt Nam.
Gần đây, tác giả Tạ Đức trong cuốn Nguồn gốc người Việt người Mường cho rằng nước Việt Thường này nằm ở Hồ Nam, hình thành vào cuối thời Ân đầu thời Chu sau khi nước Xích Quỷ ở Ngô Thành bị tan rã. Sau đó do sự bành trướng của nước Sở mà người Việt Thường đã di cư dần xuống phía Nam, cùng với dân bản địa ở đây lập nên các quốc gia tiếp theo trong sử Việt (Tường Kha, Thương Ngô, Văn Lang)…
Người Việt Thường nếu vậy thì là dân “thiên di” thuộc loại siêu đẳng… Người Việt Thường đúng là “chuyên gia”, cứ giặc đánh đến thì bỏ nước mà đi, sang đất láng giềng rồi lập quốc ở đó. Truyền thuyết và lịch sử Việt sao không thấy có chút “ký ức” gì về phương pháp lập quốc độc đáo này?

VIỆT THƯỜNG VÀ CẢO KINH
Đọc tiếp Truyện chim bạch trĩ:
Chu Công hỏi: “Tại sao tới đây?”. Họ Việt Thường đáp: “Đời nay không có mưa dầm gió dữ, ngoài bể không nổi sóng lớn đã ba năm nay, ý chừng là Trung Quốc có thánh nhân xuất thế, nhân vậy tới đây”.
Chu Công than rằng: “Chính lệnh không thi hành thì người quân tử không bắt được kẻ khác thuần phục mình, đức trạch không mở rộng thì người quân tử không hưởng lễ của người. Còn nhớ Hoàng Đế có câu thề rằng: phương Việt Thường không thể xâm phạm được”. Bèn ban thưởng cho phẩm vật địa phương, dạy răn mà cho về.
Họ Việt Thường quên đường về, Chu Công bèn ban cho 5 cỗ biền xa đều chế cho hướng về phương Nam. Họ Việt Thường nhận lấy rồi theo bờ biển Phù Nam, Lâm Ấp đi một năm thì về tới nước. Cho nên, xe chỉ nam thường dùng để đi trước đưa đường.
Truyền thuyết cho thấy rõ nước Việt Thường được nhắc tới là một nước giáp với biển. Sứ Việt Thường nói: “ngoài bể không nổi sóng lớn” và khi về thì men theo bờ biển mà về nước. Nước Việt Thường do vậy không thể ở Hồ Nam, là vùng đất còn cách biển cả ngàn km.
Nhưng khó hiểu nhất là đoạn họ Việt Thường “theo bờ biển Phù Nam, Lâm Ấp” để về nước. Nhà Chu ở đâu mà sứ giả Việt Thường lại đi về qua Phù Nam và Lâm Ấp? Phù Nam và Lâm Ấp ở tận miền Trung và miền Nam Việt Nam ngày nay cơ mà.
Theo Hoa sử nhà Chu khởi nghiệp từ Cơ Xương, ban đầu đóng ở đất Phong. Khi Cơ Phát cùng chư hầu đánh Trụ diệt Ân thắng lợi, lên ngôi thiên tử của Trung Hoa thì đã cho dời lại đô về đất Cảo ở phía Tây, bắt đầu thời kỳ Tây Chu. Chu Thành Vương nối ngôi cha khi còn nhỏ, Chu Công làm phụ chính. Sứ giả Việt Thường vào cống chim trĩ thời Chu Thành Vương như vậy là ở Cảo Kinh. Cảo Kinh của nhà Chu phải nằm không xa đất “Phù Nam, Lâm Ấp”, nên không thể là vùng Thiểm Tây ở tận Bắc sông Hoàng Hà như các sử gia Tàu chú thích.
Dựa trên những thông tin mới trong địa lý lịch sử Việt Nam thì nước Việt Thường và kinh đô nhà Chu có thể xác định như sau. Đầu tiên, nước Việt Thường thời Tây Chu là nước… Việt. Điều này thật đơn giản và rõ ràng đến bất ngờ. Nước Việt thời Chu có địa bàn ở vùng hạ lưu sông Dương Tử, nay là các tỉnh Phúc Kiến, Chiết Giang. Người nước Việt là con cháu nhà Hạ, đã khai phá vùng đất này và lấy đó làm nơi thờ cúng Hạ Vũ. Tới thời Đông Chu, nước Việt cường thịnh, Việt Câu Tiễn đánh thắng nước Ngô, trở thành một bá vương trong Xuân Thu ngũ bá.
Thượng thư đại truyện đầu thời Hán chép: “Ở phía Nam Giao có nước Việt Thường dùng nhiều lớp thông ngôn đến hiến chim trĩ trắng…”. Việt Thường có nghĩa là nước Việt ở phía Nam vì Thường = thẳng, là đầu hướng Nam xưa trong cặp lưỡng lập thẳng – cong, vuông – tròn. Phương Nam xưa là phương Bắc ngày nay, tương tự như kim la bàn gọi là Nam châm lại luôn chỉ về cực Bắc. Nước Việt nằm ở cửa sông Dương Tử thì đúng là ở phía Nam của đất Giao Chỉ. Phải gọi là Việt Thường (Việt ở phương Nam) để phân biệt với Việt gốc là đất Giao Chỉ của thời nhà Hạ.
Đất Phong của Văn Vương được xác định là Phong Châu (Phú Thọ), kinh đô của nước Văn Lang trong truyền thuyết Việt. Do vậy Cảo Kinh của thời Tây Chu phải là vùng Vân Nam. Có vậy thì sứ giả Việt Thường mới có thể từ Cảo Kinh mà ra đến bờ biển Phù Nam, Lâm Ấp được.
Tạ Đức có cho một thông tin đáng chú ý về di chỉ Ngô Thành ở Giang Tây. Thành ấp này đã bị phá hủy vào cuối thời Ân, đầu thời Chu, sau không thấy dấu tích của người ở nữa. Ai đã phá hủy Ngô Thành? Không thể là nhà Ân vì lúc này Ân Trụ Vương còn đang phải đối phó với cuộc tấn công của Chu Vũ Vương ở An Huy. Càng không phải do nước Sở bành trướng xuống phương Nam vì thời kỳ này nước Sở còn chưa ra đời. Ngô Thành đã bị tấn công bởi chính Chu Vũ Vương trong đợt phạt Trụ vì đây vốn là đất gốc của nhà Thương, từ trước khi Bàn Canh dời đô. Đây chính là vùng Thương Ngô, tức là đất Ngô của nhà Thương.
Tuy nhiên, trong cuộc tấn công này Chu Vũ Vương chỉ dừng lại ở Thương Ngô mà không tiến xa hơn về phía Đông, nơi có nước Việt từ thời Hạ. Lý do như Chu Công đã nói: “phương Việt Thường không thể xâm phạm được”. Không phải Hoàng đế hay các vua Chu sợ gì sức mạnh của nước Việt, mà vì nước Việt là đất dành riêng để thờ Đại Vũ, tổ tiên của người Hoa Hạ. Đây là khu vực linh thiêng đối với những người Hoa dòng dõi từ Hoàng Đế Hữu Hùng nên “không thể xâm phạm”.
Cũng vì sự liên hệ ruột thịt giữa nước Việt này với nhà Hạ mà nhà Hạ là nước Xích Quỷ ở vùng Nam Giao – Động Đình, tức là khu vực Giao Chỉ, nên trong khi nói chuyện Chu Công mới hỏi sứ giả Việt Thường về người Giao Chỉ (đúng hơn là hỏi về những người dòng dõi nhà Hạ): “Người Giao Chỉ cắt tóc ngắn, xăm mình, để đầu trần, đi chân đất, nhuộm răng đen là cớ làm sao?”. Hoa sử chép về việc lập nước Việt là vào thời Hạ trung hưng, con cháu nhà Hạ vua tôi cắt tóc ngắn, xăm mình lội nước lao động cật lực khai phá đất mới… Vùng đất mới ở cửa sông Dương Tử này được dành riêng thờ vua Vũ nhà Hạ, chính là nước Việt (Việt Thường) thời Chu.
Nước Việt lại là dòng dõi nhà Hạ thì rõ ràng nhà Hạ là một triều đại lịch sử của người Việt. Hạ là Việt, tức là Hoa là Việt vì Hoa Hạ là một. Trung Hoa cổ đại chính là Bách Việt.
Chu Vũ Vương mất, Thành Vương nối ngôi thiên tử của Trung Hoa. Nước Việt lúc này (“sau 3 năm” từ khi Vũ Vương diệt Trụ?) thấy “Trung Quốc có thánh nhân xuất thế” nên cử sứ giả vào cống, tỏ ý thần phục nhà Chu. Chim trĩ là biểu tượng của văn minh vì Trĩ = trữ = chữ. Có chữ viết tức là có văn minh. Cống chim trĩ ý muốn nói nước Việt sẽ theo văn minh, theo ánh sáng dẫn đường của nhà Chu. Với việc cống chim trĩ này nước Việt Thường chính thức tham gia vào thiên hạ Trung Hoa mà nhà Chu là thiên tử.

ĐƯỜNG ĐI CỦA SỨ VIỆT THƯỜNG
Vấn đề hấp dẫn nhất trong chuyện chim bạch trĩ là sứ giả Việt Thường đã đi cống nhà Chu và về nước theo con đường nào. Những thông tin ngắn gọn được chép trong truyền thuyết cho phép xác định tuyến đường đi về của sứ giả Việt Thường.
Sử ký Tư Mã Thiên cho biết họ Việt Thường đã phải qua “ba lần sứ dịch” mới đến được kinh đô nhà Chu. Dị bản Lĩnh Nam chích quái chép từ ngữ chỗ này là “trùng dịch” với chữ “dịch” mang nghĩa là “tạm nghỉ chân để đổi ngựa”. Hiểu thông tin ở đây thành “phiên dịch” (thông ngôn) nhiều lần là sai. Sứ giả Việt Thường đã dừng chân ở dịch quán dành cho sứ giả nước ngoài 3 lần, tức là từ Việt Thường đến Cảo Kinh sứ giả đã đi qua 3 nước. Mỗi nước phải dừng lại để lấy “visa”, hay đóng “giấy thông hành” kiểu như Đường Tăng đi thỉnh kinh vậy.
Khi nối giữa nước Việt ở Chiết Giang với Cảo Kinh ở Vân Nam bằng một đường chim bay thì thấy rõ tuyến đi của sứ Việt Thường qua đúng 3 nước. Đó là: nước Ngô ở Giang Tây (Thương Ngô), nước Sở ở Hồ Nam (Kinh Sở) và khả năng là nước Thục ở Quý Châu (Quý Châu là Ba Thục, đất khởi nghiệp của Tây Bá hầu Cơ Xương).

Viet ThuongTuyến đường đi về của sứ Việt Thường

Khi ra về, sứ Việt Thường “quên đường”… Đường đi tới một nước xa lạ còn biết chẳng nhẽ đường về nhà lại quên? Thay vì đi theo hướng cũ sứ Việt Thường chọn đi hướng gần như ngược với lúc đi, kể cả khi đã được phát xe chỉ nam để định phương hướng. Hẳn không phải đơn giản là sứ Việt Thường quên đường mà là muốn đi một con đường khác, nhân thể đi “thăm chính thức” các chư hầu của nhà Chu, nhằm công bố sự hội nhập của mình trong thiên hạ Trung Hoa. Cũng vì thế Chu Công mới cấp cho 5 cỗ biền xa, tương tự như một dạng “giấy giới thiệu” từ trung ương xuống các địa phương cho Việt Thường. 5 cỗ biền xa này do vậy mới được đi trước để đưa đường.
Như vậy thì ra vùng “Phù Nam, Lâm Ấp” cũng là những chư hầu của nhà Chu mà nước Việt đã đến đặt “quan hệ ngoại giao”. Từ Vân Nam để ra biển Phù Nam, Lâm Ấp thì hẳn sứ Việt Thường đã đi dọc theo dòng Mê Kông, hay sông Khung Giang trong ngôn ngữ xưa. Khung = Khương, Khương là họ của Thái Công Lã Vọng, đại công thần lập quốc của nhà Chu, được phong ở đất Tề.
Nhà sử học Đào Duy Anh cho biết: “Sách Điền Hệ của Súy Phạm viết về các dân tộc thiểu số ở miền Vân Nam cho biết rằng một dân tộc thiểu số tên là Sản Lý hay Xa Ly, có truyền thuyết nói rằng đời Chu Thành vương họ sai sứ giả đến triều cống, khi về được Chu công cho xe chỉ nam, vì thế họ lấy tên là Xa Lý. Lại có một dân tộc khác là Lão Qua (Lào) có truyền thuyết rằng ở thời nhà Chu, tổ tiên của họ là nước Việt Thường. Sách Điền Nam tạp chí thì nói Diến Điện (Mianma) là nước Việt Thường xưa“.
Xa Lý nay là tỉnh Phong Xa Lỳ của Lào, giáp với Lai Châu, Điện Biên ngày nay. Từ Vân Nam để ra dòng Mê Kông thì rõ ràng phải qua vùng Phong Xa Lỳ và tiến tới biên giới giữa Lào và Mianma. Truyền thuyết ở vùng Lào – Miến này một lần nữa xác nhận tuyến đường về của sứ Việt Thường, cũng như vị trí Cảo Kinh của Tây Chu ở Vân Nam.
Khu vực đất Lào thời Chu thực ra là nước Lỗ, đất phong của Chu Công. Khu vực này còn gọi là Lâm Ấp vì Lâm = Ly = La = Lỗ = Lão. Còn đất Phù Nam thiết Pham hay Phan, là họ của Tất Công, vị quân chủ thứ ba ở thành Lạc Dương (phần Đông của nhà Chu). Phù Nam là đất phong của họ Phan. Sứ nước Việt trên đường về đã đến thăm một loạt các nước chư hầu, là những đại công thần khởi nghiệp của nhà Chu.
Khi ra đến biển Phù Nam, vì biết chắc nước Việt Thường nằm cạnh biển nên sứ giả cứ men theo bờ biển mà về. Tuyến đường men biển này khá dài, chạy ngược hình chữ S của Việt Nam ngày nay, qua Quảng Tây, Quảng Đông, về đến quê hương Việt Thường ở Phúc Kiến, Chiết Giang. Thời gian cho quãng đường về dài như vậy tới hơn một năm là hoàn toàn hợp lý.
Tổng khoảng cách cả đi và về của sứ Việt Thường tính vào khoảng 8.000 – 10.000km. Một quãng đường du hành ngoại giao kỷ lục vào thời kỳ 3.000 năm trước. Với kỷ lục này ấn tượng của chuyến đi sứ họ Việt Thường đã để lại khắp dọc đường và in sâu trong truyền thuyết Việt qua Truyện chim bạch trĩ. Cũng vì phạm vi của chuyến công du này quá rộng dẫn đến tình trạng định vị nước Việt Thường lúc thì ở phía Bắc, lúc lại là phía Nam, thậm chí còn ở cả bên Lào và Miến Điện. Nay với việc xác định nhà Chu là nước Văn Lang thời Hùng Vương, Tây Chu đóng đô ở Cảo Kinh tại Vân Nam thì nước Việt Thường cống chim trĩ là nằm ở phía Đông, là nước Việt hậu duệ của nhà Hạ ở hạ lưu Nam Dương Tử.

Những đồng tiền kể chuyện mình

Lịch sử tiền tệ Trung Hoa bắt bằng việc sử dụng vỏ sò trong giao dịch. Vỏ sò được dùng làm tiền chí ít là từ thời nhà Thương (nếu không phải từ thời nhà Hạ), với chữ trên giáp cốt văn dùng bộ bối để chỉ tiền tệ. Sang thời Chu vỏ sò thật được thay bằng vỏ sò đúc đồng. Liệu ở trên đất Việt thời đó đã biết dùng vỏ sò chưa? Rõ ràng là có bởi vì khu vực đất Điền ở Vân Nam đã phát hiện những chiếc thùng (thạp) đựng vỏ sỏ làm tiền. Đất Điền không hề giáp biển nên những vỏ sò này chắc chắn có nguồn gốc từ vùng ven biển, tức là từ Vịnh Bắc Bộ mà ra. Người Điền biết dùng vỏ sò thì hiển nhiên người Lạc Việt cũng phải biết dùng vỏ sò làm tiền tệ.

Dao tien 2Đao tiền thời Chu ở Việt Nam

Cuối thời Đông Chu tiền tệ Trung Hoa tiến thêm một bước. Vỏ sò đồng được thay bằng những loại tiền có hình công cụ lao động như bố tiền (tiền hình lưỡi mai đào đất), đao tiền (tiền hình con dao). Trên bố tiền và đao tiền đều có những kim văn ghi thông tin về những loại tiền này. Với định vị nhà Chu nằm ở tận lưu vực sông Hoàng Hà, thời Xuân Thu Chiến Quốc thiên hạ Trung Hoa còn cách đất Việt hàng ngàn km qua nhiều vùng đất lãnh thổ thì không thể hiểu tại sao ở Việt Nam, ở Lào lại có những bố tiền, đao tiền của nhà Chu được tìm thấy trong khảo cổ. Những đao tiền nhỏ hay to nặng tới 40 g cũng có thể thấy ở Việt Nam, với đầy đủ kim văn (đại triện) của thời Chu.

Hoan tien 2Bố tiền và Hoàn tiền thời Chu ở Việt Nam

Cuối thời Đông Chu xuất hiện loại tiền có hình tròn, nhưng lỗ tiền vẫn giữ dạng tròn, gọi là hoàn tiền hay viên tiền. Trên hoàn tiền có chữ đại triện, tương tự trên đao tiền. Những đồng hoàn tiền nhà Chu này cũng được tìm thấy ở Việt Nam.
Sự có mặt phong phú những loại tiền của thời Chu tại Lào, Việt Nam cho thấy khu vực này nằm trong phạm vi giao dịch buôn bán của Trung Hoa thời kỳ trước công nguyên. Mối liên hệ giữa nhà Chu và vùng đất Lào Việt cần được xem xét lại khi những hiện vật thời Thương Chu được tìm thấy khá nhiều tại đây.
Đồng tiền có lỗ vuông của Trung Hoa đầu tiên là đồng Bán lạng, viết bằng chữ Tiểu triện (Tần triện) đúc từ thời Tần. Một số sách cho rằng tiền Bán lạng được Tần Thủy Hoàng bắt đầu dùng khi thống nhất lục quốc. Thực ra tiền lỗ vuông Bán lạng lần đầu tiên được đúc bởi Tần Huệ Văn Vương Doanh Tứ. Đây là vị vua Tần đầu tiên xưng vương, có ý tranh ngôi thiên tử của nhà Chu nên việc cho đúc một loại tiền mới khác biệt cũng là hợp lý.
Tiền Bán lạng tồn tại tới đầu triều Tây Hán. Hiếu Cao Tổ Lưu Bang khi lên ngôi cho rằng đồng Bán lạng quá nặng, khó sử dụng nên cho đúc loại tiền có trọng lượng nhẹ hơn là tiền Ngũ thù. Sau thời Lữ Hậu thì những đồng tiền Bán lạng đủ cân đủ trọng lượng (12 thù) không còn được đúc nữa. Ở Bắc Việt tiền Bán lạng đôi khi được tìm thấy trong các địa điểm khảo cổ như ở di tích Cổ Loa (cùng với trống đồng Cổ Loa). Việc phát hiện tiền Bán lạng ở Việt Nam cho thấy đồng tiền này đã được lưu hành ở nước ta từ thời Tần.

Hoa tuyen 3
Hóa tuyền

Khi Vương Mãng tiếm ngôi nhà Hiếu đã có hàng loạt những cải cách tiền tệ, dẫn đến sự rối loạn trong xã hội. Vương Mãng chỉ ở ngôi 15 năm nhưng đã cho đúc khá nhiều loại tiền. Những đồng tiền này đều dùng Triện thư ghi trên mặt tiền. Đặc biệt Vương Mãng còn ra quy định bất kỳ ai ra đường cũng phải mang theo Bố tiền (tiền hình thuổng), nếu không thì bị xem là thiếu chứng minh hợp pháp. Các lữ quán, bến đò không nhận khách không mang theo bố tiền. Các quan khi ra vào cung điện cũng phải mang theo bố tiền.
Bố tiền và Hóa tuyền của nhà Tân được tìm thấy ở Việt Nam (và Lào) khá nhiều. Ví dụ cả bộ bố tiền 10 loại từ Tiểu bố nhất bách, Huyền bố nhị bách, Ấu bố tam bách đến Thứ bố cửu bách rồi Đại bố hoàng thiên đều thấy có tại nước ta. Rồi những đồng Hóa tuyền, Bố hóa của thời này cũng được phát hiện tại Việt Nam.

Bo tien 2Các loại bố tiền thời Vương Mãng thấy ở Việt Nam

Vấn đề là theo sử sách hiện tại thì khi Vương Mãng “làm loạn”, chiếm ngôi nhà Hán thì ở Giao Châu châu mục Đặng Nhượng cùng các thái thú Tích Quang, Đỗ Mục đã “đóng chặn bờ cõi để tự giữ”. Mãi tới khi Hán Quang Vũ lên ngôi, Sầm Bành dẫn quân xuống phương Nam thì Đặng Nhượng mới vào triều cống, nhận tước hầu của nhà Đông Hán. Nếu như vậy thì cả giai đoạn 15 năm trị vì của Vương Mãng (năm 9 – 23) Giao Châu không thuộc đất nhà Tân. Làm sao những đồng bố tiền – giấy thông hành thời Vương Mãng – lại tìm được nhiều đến vậy trên đất Giao Châu?
Sự có mặt đầy đủ các loại tiền thời nhà Tân trên đất Việt cho thấy không hề có chuyện các châu mục, thái thú Giao Châu của nhà Tây Hán chống lại Vương Mãng. Đặng Nhượng, Tích Quang, Đỗ Mục đã đóng ải tự giữ Giao Châu là chống lại sự bành trướng của Đông Hãn quốc xuống phương Nam. Kết cục là những kẻ sĩ Giao Châu này đã bỏ mình vì nước và Mã Viện của Đông Hán đã cho thu hết đồ đồng ở Giao Chỉ để đúc thành ngựa. Có lẽ chỉ những đồng bố tiền với vai trò tiền tệ quan trọng không thể thiếu trong xã hội nên mới được giữ lại.
Từ lúc Mã Viện chiếm Giao Châu tới suốt thời Nam Bắc triều khu vực Giao Châu nằm dưới ách nô lệ của người Hán. Đồng tiền được dùng chủ yếu của thời kỳ này là tiền Ngũ thù. Mãi tới khi Đường Cao Tổ Lý Uyên lên ngôi mới thay đổi tiền Ngũ thù sang loại tiền mới là đồng Khai Nguyên thông bảo. Kiểu tiền “thông bảo” tròn lỗ vuông từ đó duy trì qua các triều đại cho tới mãi triều Nguyễn sau này.
Đại Đường là một đế quốc với lãnh thổ rộng lớn từ Nam chí Bắc. Do đó cùng là tiền Khai Nguyên thông bảo nhưng có thể được đúc ở nhiều khu vực khác nhau. Việc này được thể hiện là ở mặt sau của đồng Khai Nguyên thông bảo có đúc chữ chỉ khu vực đúc tiền. Hoặc chữ ở mặt lưng đồng tiền có những ý nghĩa khác. Tại Việt Nam đã thấy một số loại tiền Khai Nguyên thông bảo với các chữ Kinh, Đàm, Nhuận, Tương, Tuyên, Quế, Lạc, Hồng, Ngạc, Lam, Quảng, Hưng, Duyện, Ích, Lương, Việt, Xương, Phúc, Công,…
Nhà Đường suy, các khu vực phiên trấn (các đạo) lần lượt tự xưng vương lập quốc. Bước vào thời kỳ Ngũ đại thập quốc, các triều đại trung ương và các quốc gia trong thời này đều có đúc những đồng tiền mang niên hiệu, tên gọi riêng. Đáng chú ý là có đồng tiền Đường Quốc thông bảo của nước Nam Đường, là đồng tiền không dùng niên hiệu của vua mà dùng tên quốc gia đặt cho đồng tiền của mình.
Thời Ngũ đại thập quốc kết thúc bởi nhà Tống. Không phải Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn mà là Tống Thái Tông Triệu Khuông Nghĩa mới là người thực sự đánh dẹp được nhà Bắc Hán năm 979, kết thúc thời kỳ Ngũ đại. Từ tháng 12/976 tới 11/984 Triệu Khuông Nghĩa lấy niên hiệu là Thái Bình Hưng Quốc. Đồng tiền được Tống Thái Tông đúc là đồng Thái Bình thông bảo, một đồng tiền chất lượng tốt, đúc cẩn thận, chữ viết đẹp.
Trên đất Giao Châu lúc này xuất hiện loại tiền Thái Bình hưng bảo với chữ Đinh ở mặt sau đồng tiền. Các nhà nghiên cứu cho rằng đây là đồng tiền của Đinh Bộ Lĩnh vì theo sử sách chép vua Đinh có niên hiệu là Thái Bình. Niên hiệu Thái Bình của vua Đinh được chép là từ năm 970 – 980.

 Thai Binh 2
Đại Hưng bình bảo và Thái Bình thông bảo

Như vậy xuất hiện một vấn đề. Trên đất Việt những năm 970 – 980 lưu thông 2 loại tiền cùng một tên gọi là Thái Bình. Một đồng Thái Bình thông bảo của nhà Tống. Một đồng Thái Bình hưng bảo có chữ Đinh ở mặt lưng. Có điều đồng Thái Bình hưng bảo đọc đúng theo chữ trên hiện vật qua hàng trăm đồng thì chữ đầu tiên là chữ Đại. Không hề có đồng “hưng bảo” nào có chữ Thái cả. Cổ vật không thể sai. Chỉ có sách sử sai mà thôi…
Từ so sánh sự phát triển các đồng tiền thời kỳ này có thể nhận ra:
–    Niên hiệu Thái Bình của Đinh Bộ Lĩnh thực ra là của Tống Thái Tông, người đã kết thúc cục diện chia năm xẻ mười của Trung Hoa như trên đồng Thái Bình thông bảo. Sử Việt chép là Đinh Bộ Lĩnh đã thống nhất 12 sứ quân. Các sứ quân ở đây phải hiểu là các tiết độ sứ theo chế độ phiên trấn từ thời Đường.
–    Đồng tiền có chữ Đinh phải đọc theo thứ tự và mặt chữ đúng là Đại Hưng bình bảo. Đại Hưng là tên nước. Tiền lệ  lấy tên nước đặt tên cho tiền hoàn toàn đã có vào thời kỳ này như ở đồng Đường Quốc thông bảo của nước Nam Đường.
–    Chữ Đinh không phải chỉ quốc tính (họ của vua) mà là chỉ khu vực lãnh thổ tiền được đúc, tương tự như những chữ Kinh, Tương, Duyện, Ích… ở mặt sau của đồng Khai Nguyên thông bảo. Đinh hay Tĩnh chỉ là một nghĩa, chỉ Tĩnh Hải quân thời Đường, tức là vùng Giao Chỉ.
Đại Hưng là nước nào? Tĩnh Hải quân tại sao lại đúc riêng tiền Đại Hưng?
Đại Hưng chính là nước Đại Việt thành lập bởi Lưu Cung năm 917, đóng đô ở Phiên Ngung thời Ngũ đại. Lưu Cung sau mấy năm lập quốc đã đổi tên nước thành Đại Hưng, sử Tàu nhập nhèm biến thành nước Đại Hán (Nam Hán). Nước Đại Hưng tồn tại từ Lưu Cung tới Lưu Sưởng gồm 4 đời vua, kéo dài hơn 50 năm, sau đó bị Tống Thái Tổ diệt năm 971. Kinh đô Phiên Ngung rơi vào tay nhà Tống. Nhưng…
Phần đất Tĩnh Hải của nước Đại Hưng, nơi đúc đồng tiền Đại Hưng bình bảo với chữ Đinh ở mặt lưng, thuộc về Tống nhưng vẫn giữ chế độ phiên trấn (tiết độ sứ). Đinh Liễn có tước phong của nhà Tống là Tĩnh Hải quân tiết độ sứ Giao Chỉ quận vương. Lê Hoàn cũng được phong Giao Chỉ quận vương…
Tiếp theo là đồng tiền Thiên Phúc trấn bảo, mặt sau có chữ Lê, được cho là của Lê Đại Hành (niên hiệu Thiên Phúc). Thực ra việc đúc một đồng tiền mang tên riêng, họ riêng chưa chắc thể hiện sự độc lập hoàn toàn của quốc gia. Một khu vực tự trị, hay tiết độ sứ hoàn toàn có thể đúc tiền mang tên riêng. Cũng vì thế mà trong bộ sưu tầm tiền cổ Việt Nam có khá nhiều đồng tiền xếp vào loại “vô khảo phẩm”, vì tên của chúng không tương ứng với một triều đại nào được biết trong sử sách hết. Những đồng tiền tương tự được phát hiện thường là ở khu vực phía Tây nước ta. Rất có thể những đồng tiền này thuộc về một quốc gia khác, không phải Trung Hoa, không phải Đại Việt. Vùng Tây Bắc và Thanh Nghệ nước ta không bị nghìn năm Bắc thuộc, từ thời Tấn vẫn độc lập với tên nước là Lâm Ấp rồi Nam Chiếu. Những đồng tiền vô khảo ở đây có thể là tiền đồng của xứ Lâm Ấp.
Tiền cổ Việt Nam đúng là một kho báu vô cùng phong phú. Sự quí báu của những đồng tiền này không chỉ do chúng hiếm, đẹp, hay có giá trị vật chất cao. Giá trị của tiền cổ trước hết ở chính những thông điệp lịch sử mà cổ vật chứa đựng, truyền tải cho ngày nay.

Đồ đồng thời Thương Chu ở Việt Nam

Đồ đồng ở Việt Nam thường được nhắc đến là đồ đồng văn hóa Đông Sơn với những chiếc trống đồng “không lẫn đi đâu” được. Ở trung tâm của các vòng tròn trên mặt trống đồng có hình sao nhiều cánh. Nhiều nhà khảo cổ bảo đó là hình ngôi sao. Nhưng ngôi sao gì mà người Việt lại để nó ở ví trí trung tâm như vậy? Chính xác thì đó phải là hình ảnh của mặt trời, nguồn sống của muôn loài. Một chiếc trống đồng mới đây được trưng bày tại triển lãm Mỹ thuật cổ ngoạn 2014 tại Hà Nội cho thấy rõ điều này.

Trong dongMặt trống đồng bày trong triển lãm Cổ ngoạn 2014 ở Hà Nội

Hình ở giữa mặt trống vẽ rõ ràng là mặt trời tròn với những tia sáng nhỏ thẳng xung quanh. Các trống đồng khác vẽ mặt trời cách điệu hơn, với các tia sáng to rộng hơn nhưng không thể mặt trời biến thành ngôi sao được.
Bên cạnh đồ đồng Đông Sơn, ở Việt Nam còn có những hiện vật của một dòng đồ đồng khác. Các nhà khảo cổ quen gọi đó là đồ đồng “Hán – Việt”, ý nói là đồ văn hóa “Hán” nhưng sản xuất tại “Việt”. Có điều những đồ đồng này có niên đại còn trước cả thời Hán nhiều, tức là trước khi nước “Việt” ta bị đô hộ bởi người phương Bắc. Vậy người Việt lấy đâu ra những thứ đồ “Hán” này?

Lich

Một vài ví dụ về những đồ đồng phong cách “Hán Việt” tìm thấy ở Việt Nam. Một chiếc lịch đồng, dạng vật đựng giống như đỉnh 3 chân nhưng nhỏ hơn, được thấy ở Hà Nội. So sánh với đồ đồng Trung Hoa thì thấy ngay chiếc lịch này không khác chiếc lịch Bá Củ thời Tây Chu tìm thấy ở tận Bắc Kinh là bao. Hoa văn hoàn toàn giống. Chỉ khác biệt ở vài chi tiết như phần nắp.

Lich Ba Cu Lịch đồng ở Hà Nội

Lịch Bá Củ có chữ được coi là một trong những bằng chứng về thời Tây Chu ở Bắc Kinh (trích sách Đồ đồng Trung Quốc). Làm thế nào mà chiếc lịch như vậy lại có ở Việt Nam? Nhà Tây Chu nằm ở “Bắc Kinh” hay Việt Nam?

Nghien

Một đồ vật khác là loại nghiễn, đồ đựng nấu thức ăn ba chân với 2 phần trên dưới tách biệt. Chiếc nghiễn tìm thấy ở Giang Tây (Tân Can) có niên đại tới tận thời Thương (cách đây trên 3000 năm) đã là lạ vì đồ đồng Thương lại gặp ở Nam Dương Tử. Nhưng những chiếc nghiễn tương tự lại cũng có ở Việt Nam. Bảo tàng cổ vật Hoàng Long ở Thanh Hóa có sưu tầm một chiếc nghiễn ba chân thời kỳ này. Khác biệt là phần chân nghiễn thay vì các mặt thú “thao thiết” thì chiếc nghiễn ở Thanh Hóa lại thay bằng đầu voi, có ngà có tai đầy đủ.

0Nghien Chiếc nghiễn ở Bảo tàng Hoàng Long

Niên đại xác định trên hình cho chiếc nghiễn này cần lùi lại thêm 1000 năm nữa, tức là vào thời cuối Thương đầu Chu. Cho dù đây là đồ “Hán Việt”, nhưng không có nghĩa là phải đợi tới thời Hán (sau Công nguyên) thì mới có đồ đồng ở Việt Nam.

Giam Tang At HauMuộn hơn, đồ đồng thời Chiến Quốc như chiếc giám của Tăng Ất Hầu tìm thấy ở Hồ Bắc lại có một hiện vật giống y hệt gặp ở Việt Nam. Giám là đồ đựng nước hay đựng rượu lạnh kích thước tương đối lớn, đôi khi có thể dùng để soi gương. Giám Tăng Ất Hầu được trang trí vô cùng cầu kỳ, tinh xảo, thể hiện trình độ đúc đồng rất cao của thời kỳ này.

GiamChiếc giám đồng ở Hà Nội

Trong những đồ vật thời Thương Chu bắt gặp ở Việt Nam thì có thể nói tới bộ sưu tầm của ông Dương Phú Hiến, với chiếc ấm hình con vẹt, ấm vuông hình rồng, bộ chuông đồng … Ông Dương Phú Hiến hơi quá lời khi nói những đồ này có niên đại 5.000 năm tuổi (?!). Nhưng rất có thể chúng cũng trên 2000 năm tuổi rồi.
Tản mát trong dân gian, trong các hàng đồ cũ đôi khi cũng có thể thấy những đồ đồng của văn hóa “Hán Việt” tương tự. Như đôi bình đồng cổ này niên đại hẳn cũng vào thời Tây Chu được bày bán ở Hà Nội.

BinhThực ra chẳng có văn hóa “Hán Việt” nào cả. Đúng thì phải gọi là văn hóa Hoa Việt. Nhà Chu tiếp nối nhà Thương, Tây Chu đóng kinh đô ở Vân Nam, Đông Chu ở Hà Nội ngày nay nên những hiện vật thời Thương Chu có thể tìm thấy rải rác khắp nơi tại khu vực Lào – Việt. Đất của thiên tử Chu thì hiển nhiên phải có đồ vật của văn hóa Trung Hoa thời kỳ này ở đây. Chơi đồ đồng Thương Chu không cần phải sang Trung Quốc làm gì, cứ sang Lào và đến Việt Nam, cái gì cũng có…

Đồ đồng thời Thương Chu ở Lào

Sang Lào để xem cổ vật thời Thương Chu của Trung Hoa, nghe vậy ai cũng bảo là chỉ có mà đồ rởm, đồ nhái từ Tàu mang về. Thật giả khó phân, nhưng cầm sách Đồ đồng thau Trung Quốc (tác giả Lý Tùng, Phó viện trưởng Viện mỹ thuật Viêm Hoàng) sang Lào thì gặp rất nhiều cổ vật được kể trong các bảo tàng của Trung Quốc lại thấy bán ngoài chợ của Lào.

Đồ thời Thương Chu là đỉnh cao của nghệ thuật đồng thau phương Đông. Ở thời kỳ này những đồ đồng đều là những đồ vật thuộc về tầng lớp quí tộc, vua chúa, thể hiện thần quyền và quân quyền nên thường là những đồ to, nặng, tạo hình và hoa văn mang vẻ nghiêm trang, kỳ bí.

Một trong những đồ đồng Thương Chu có thể gặp ở Lào là những chiếc hủy quang đựng rượu. Quang là dạng cốc đựng rượu lớn, có 3 hay 4 chân, được trang trí bằng các hình chim thú. Trong Kinh Thi và những tài liệu cổ đại khác đều có nhắc đến dụng cụ đựng rượu hủy quang này. Những chiếc quang chỉ làm vào thời Thương và Tây Chu. Từ cuối Tây Chu trở đi hủy quang không còn được đúc nữa.
Quang
Điền hình gặp ở Lào là chiếc quang hình chim thú đời nhà Thương. Một chiếc quang giống như thế này được bảo quản ở Bảo tàng mỹ thuật Freer Hòa Kỳ, nhưng ở Lào lại có thể thấy có vài chiếc. Chiếc quang này được trang trí bằng hơn 30 hoa văn lập thể hình động vật. Phần nắp đậy phía trước là hình con quỳ long có sừng cong đang nhe răng. Phần sau lại là một quái thú mõm cá có sừng nhọn. Phần lưng hai bên là cảnh hổ và cá rượt đuổi nhau. Trên lưng là một loài bò sát có chân như thằn lằn nhưng có 2 râu dài tròn như ốc sên.

Trên phần cốc đầu trước là một con chim mỏ nhọn. Phần quai cầm là một con chim khổng lồ đang đứng, có mào lớn rộng, mỏ tù. Hai bên cốc có một loạt những hình động vật kỳ lạ như một con rắn đầu có tai, một con dạng như nòng nọc, nhưng cũng có đầu như đầu hổ, con tôm cong, con ốc. Với những hoa văn động vật lập thể, kỳ dị toàn chiếc quang toát ra một vẻ thần bí, nghiêm trang, có phần dữ tợn.

Trên chiếc quang có đủ các con vật trên trời (chim), dưới đất (thú, bò sát) và dưới nước (cá tôm). Sự có mặt của con người cũng không thiếu. Ở phần chân đế, 2 chân sau là 2 người thân rắn. Người có thân rắn trong truyền thuyết Trung Hoa là Nữ Oa và Phục Hy. Phục Hy và Nữ Oa được coi là những vị thần sáng tạo ra loài người. Hình Nữ Oa và Phục Hy trên chiếc quang như vậy сó lẽ là hình ảnh cổ nhất về hai vị này còn lưu lại được tới ngày nay. Chiếc quang là cả một thế giới sinh vật và con người thu nhỏ rất đầy đủ.

Dạng quang đựng rượu khác gặp ở Lào là hình các động vật bốn chân có sừng. Những loài vật này gần gũi, thực hơn, nhưng cũng không kém phần nghiêm trang, tinh tế. Trước hết phải nói đến chiếc quang hình con tê giác bằng đồng độc đáo. Con tê giác này có phần đầu rất lớn, một sừng to, cong, vươn ra phía trước. Sừng khác nhỏ hơn ở trên trán. Tai tê giác nhọn. Phần sau của nắp quang là hình mặt lợn, mõm rộng, tai cong.
Te giac 3
Con mắt của chú tê giác này to tròn, rất sống động. Cổ vật sau khi cạo phủi lớp đất gỉ bề mặt, lộ ra màu đồng thau óng ánh, như bước ra từ quá khứ 3000 năm trước.

Phần thân chiếc quang tê giác được trang trí bằng những hoa văn nổi. Dài theo thân quang ở mỗi bên là hình một con chim lớn, cách điệu, mỏ tù, đuôi dài, mào cong như con chim phượng trên chiếc quang chim thú ở trên. Phần ngực tê giác hai bên có hình con quì long nhỏ, có sừng, đang há miệng, quay đầu về phía con chim phượng.

Dạng quang hình động vật tương tự ở Lào còn gặp như hình con trâu, đuôi hình chim. Hay ở Thanh Hóa trong Bảo tàng cổ vật Hoàng Long cũng có chiếc quang hình con lợn có sừng tương tự.

Như vậy trên các chiếc quang đồng thời Thương Chu luôn bắt gắp họa tiết trang trí rồng – phượng đi đôi với nhau. Đây chẳng phải là hình ảnh Cha rồng Mẹ tiên trong truyền thuyết người Việt hay sao?

Điều lạ nữa là hình ảnh con tê lại gặp trong các cổ vật thời Thương Chu. Ví dụ như chiếc đôn đựng rượu Tiểu Thẩn Du đời Thương hiện bảo quản tại Bảo tàng nghệ thuật châu Á San Francisco mang hình con tê giác. Loài tê giác được thể hiện là loài tê giác một sừng Java rất rõ, với một sừng lớn ở phía trước và sừng nhỏ phía sau. Loài tê giác này này chỉ có phân bố hạn chế ở vùng phía Nam, không thể nào có ở khu vực Hoàng Hà (xem bản đồ). Vậy tại sao đồ đồng thời Thương lại biết thể hiện hình tê giác?

434px-Javan_Rhino_Range.svg
Bản đồ phân bố Tê giác Java (Rhinoceros sondaicus) hiện tại và trong quá khứ (theo Foose và Van Strien, 1997)

Như đã nói trong bài trước, con Tê trong sử sách còn gọi là con Tây. Đây là con vật tượng trưng cho phía Tây của Trung Hoa, là thần thú của nước Tề. Nước Tề nằm ở vùng có nhiều Tê giác và Tê tê là khu vực trung và hạ lưu sông Mê Kông. Sông Mê Kông trong Hoa ngữ là Khung giang, hay con sông Khương chảy qua nước Tề, đất phong của Khương Thái Công nhà Chu. Con tê cuối cùng của khu vực này ở Nam Cát Tiên mới bị chết nhưng hình ảnh tê giác trong văn hóa Việt – Lào – Căm pu chia thì không thể xóa được.

Tương tự như Tê giác, con Voi là con vật không hề có trong tự nhiên ở khu vực “Trung Nguyên” quanh Hoàng Hà. Thế nhưng đồ đồng thời Thương lại thể hiện hình voi như chiếc đôn Lễ Lăng, hiện được giữ ở bảo tàng tỉnh Hồ Nam. Những con vật đồ đồng này là những “bằng chứng sống” rằng văn hóa Thương không chỉ nằm ở vùng Hoàng Hà mà ở xa hơn nhiều về phía Nam nơi có hàng triệu con voi (Lào) hàng ngàn con Tê (Căm pu chia).

Năm 1989 ở Đại Dương Châu, huyện Tân Can, tỉnh Giang Tây đã phát hiện một lăng mộ lớn thời Thương với 880 món đồ, trong đó có 480 đồ đồng. Trong số đồ đồng này có cả đỉnh đồng vuông hình hổ cao tới 95cm. Các nhà khoa học Trung Quốc chẳng biết giải thích thế nào về hàng loạt đồ đồng với trình độ đúc điêu luyện xuất hiện ở Nam sông Dương Tử, đành suy đoán đây là khu mộ của một thủ lĩnh nào đó ở miền Nam (!?), có ý cho rằng phương Nam còn đang ở thời kỳ bộ lạc, văn hóa đồ đồng chỉ là chịu ảnh hưởng của nhà Thương…

Sự phong phú và quí giá của đồ đồng tại di chỉ Đại Dương Châu với niên đại Thương sớm, sớm hơn di chỉ ở Trịnh Châu hay An Huy cho thấy đây chính là khu vực đóng đô ban đầu của nhà Thương, trước khi Bàn Canh dời đô lên phía Bắc. Lăng mộ ở Tân Can rất có thể là lăng mộ của Thành Thang (vị vua Thương đầu tiên) hay một vị vua Thương khác trước thời Bàn Canh.

Am chan voi
Những đồ đồng đựng rượu thời Thương Chu ở Lào còn thấy như những chiếc hòa (ấm), đôn, tước … đồng. Như chiếc ấm bốn chân voi sau, có phần thân hai mặt là hình Thao thiết tai hổ, có mõm như mõm lợn. Nắp ấm cũng là hình Thao thiết nhưng miệng rộng như đang cười. Tay cầm của ấm là hình rồng 2 đầu. Trang trí bằng hình Thao thiết (con vật có đầu mà không có thân) là nét đặc trưng của đồ đồng thời Thương.

Phải giải thích thế nào về sự hiện diện của những cổ vật thời Thương Chu ở Lào? Đất Lào chưa hề bao giờ bị Trung Quốc đánh chiếm, sao lại có những cổ vật Trung Hoa từ thời Tam Đại vậy? Liệu có phải là do dòng người di cư từ Trung Quốc sang mang đến hay không? Di cư từ Trung Quốc vào Lào thì chủ yếu là người Thái và người Mông. Nhưng xét kỹ, người Thái di cư sang Lào cỡ khoảng đầu công nguyên dưới thời Tây Hán. Còn người Mông chạy giặc sang Lào thì còn muộn hơn nhiều, dưới thời nhà Thanh sau này. Thời Thương Chu trước thời điểm di cư của người Thái vào Lào cả ngàn năm có lẻ. Người Thái và người Mông thì lấy đâu ra các đồ tế tự của nhà Thương nhà Chu vậy?

Sự có mặt một cách phong phú các cổ vật đồ đồng Thương Chu ở Lào không chỉ cho thấy một trình độ đúc đồng và văn hóa cao ở vùng này vào 2.000 – 3.000 năm trước mà còn chứng tỏ nơi đây chính là một trong những trung tâm của thiên hạ thời Thương Chu. Điều này hoàn toàn ủng hộ sử thuyết Hùng Việt cho rằng đất Lào là nước Lỗ, là vùng đất phong của Chu Công, nằm cạnh đất của thiên tử Chu.

Họ Chu Việt Nam

Người Việt có truyền thống coi trọng tính cộng đồng nên họ của người Việt luôn luôn đứng ở vị trí thứ nhất trong họ tên. Trong khi đó người Âu Mỹ coi trọng cá thể nên tên đứng trước họ đứng sau.
Trong Bách gia tính thì họ Chu là một trong những họ phổ biến nhất tại Trung Quốc. Còn gia phả các dòng tộc họ Chu ở Việt Nam thì đều chỉ chép đến các vị tổ từ thời Lý Trần đổ lại. Truy nguyên nguồn gốc tộc tính họ Chu ở Việt Nam nay có thể làm được khi so sánh các phát hiện lịch sử mới với cổ sử Trung Hoa.
Về nguồn gốc của họ Chu Trung Hoa, sử sách có ghi lại như sau:
Họ Chu nguyên là họ Cơ của nhà Chu, vương triều cai trị Trung Hoa 874 năm. Khi Tần Trang Tương Vương chiếm Lạc Ấp diệt Chu năm 256; vương tử Cơ Tống (dòng dõi của Chu Bình Vương) mới dẫn con cháu rời khỏi Lạc Ấp và đổi sang họ Chu.
Sau này con cháu của Chu Noãn Vương di cư xuống phía nam, cũng đổi họ của mình thành Chu để nhớ về tổ tiên. Một nhánh nhỏ của họ Cơ tại nước Lỗ cũng di cư xuống phía Nam, sau này là tổ tiên của Chu Nguyên Chương, Thái tổ nhà Minh. Nhánh họ Chu này là dòng dõi của Chu Công Cơ Đán – người có công ổn định nhà Chu.
Như vậy họ Chu có một số dòng nhánh khác nhau, nhưng đều là xuất phát của họ Cơ của thiên tử Chu, đều là Chu lân chỉ, Chu lân giác, Chu lân đính cả. Muốn hiểu được ngọn nguồn của dòng họ này phải hiểu được nguồn gốc nhà Chu và định vị được vương triều này trong cổ sử.
Bài thơ Tuần thị châu Chân Đăng của Phạm Sư Mạnh thế kỷ 14:
Thiên khai địa tịch lộ Tam Giang
Kỳ tuyệt tư du ngã vị tằng
Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy
Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng.
Dịch là:
Đất yên trời mở lộ Tam Giang
Tuyệt vời cảnh đẹp chưa từng ngang
Kiểu ngoài Bách Man về Cổ Lũy
Quốc Tây chống cự tráng Chân Đăng.
Châu Chân Đăng thời Trần sau đổi thành phủ Lâm Thao, nay là huyện Lâm Thao – Phú Thọ. Phú Thọ chính là lộ Tam Giang, nơi ba con sông lớn Đà, Lô, Thao gặp nhau. Phạm Sư Mạnh đã đi tuần ở vùng Phú Thọ nên mới làm bài thơ bắt đầu cảm hứng về vùng đất tổ linh thiêng này của Chu thiên tử: Trời khai đất mở lộ Tam Giang
Trong bài trước đã bàn việc Âu Cơ – Chu Văn Vương lập nước Văn Lang – Âu Lạc, đô đóng ở lộ Tam Giang, vùng hợp lưu ba con sông Đà, Lô, Thao tại Phong Châu – Vĩnh Phú. Tiếp đó Vũ Ninh – Chu Vũ Vương cùng Thánh Gióng diệt Ân Trụ, phân phong chư hầu Bách Việt rồi dời đô về Cảo Kinh (Kiểu Kinh). Tới thời Chu Bình Vương lại dời đô từ Kiểu Kinh quay về Lạc Ấp – Đông Đô, mở đầu thời kỳ Đông Chu trong lịch sử.
Lạc Ấp hay Đại ấp Lạc… Việt, chính là vùng Cổ Loa, còn gọi là Đông Đô, tên cũ của Hà Nội vẫn được ghi nhận tới nay. Kiểu ngoại Bách Man hoàn Cổ Lũy là “hoàn” về Cổ Loa. Đây cũng là vùng mà cổ sử gọi là Tam Xuyên – Tam Giang, nơi cơn địa chấn lúc giao thời Đông và Tây Chu đã làm nên truyền thuyết Lão Tử – Huyền Thiên giúp An Dương Vương diệt Bạch Kê Tinh xây thành Cổ Loa.
Cuối thời Đông Chu, cháu của Tần Chiêu Tương Vương là Doanh Tử Sở tấn công diệt nhà Đông Chu. Đây là lúc “Quốc Tây cự trấn tráng Chân Đăng” trong câu thơ trên. Tần Chiêu Tương Vương mới chính là … Triệu Đà người Chân Định – Chân Đăng, cha của Trọng Thủy – Doanh Tử Sở, người đã ở rể nhà Chu – An Dương Vương tại Cổ Loa Thành.
Khi Lạc Ấp – Cổ Lũy mất về tay nhà Tần, vương tử nhà Chu là Cơ Tống đã đổi họ sang họ Chu để tưởng nhớ tiên tổ của mình. Rất có thể những người Việt mang họ Chu ở vùng miền Bắc Việt ngày nay giáp Cổ Loa (Mê Linh, Sóc Sơn, Bắc Ninh,…) là thuộc về nhánh Chu Bình Vương từ Lạc Ấp này.
Rất có thể vì mối lương duyên Mỵ Châu – Trọng Thủy hay giữa Doanh Tử Sở và con gái vua Chu mà Tần Trang Tương Vương khi diệt Chu đã rất “nhẹ tay” với con cháu hoàng tộc Chu. Con cháu nhà Chu chỉ đổi họ từ họ Cơ sang họ Chu, mà hầu như vẫn được sống ở nguyên tại chỗ. Họ Chu vì vậy vẫn tồn tại quanh vùng Cổ Loa xưa. Tương tự khi nhà Trần đoạt ngôi nhà Lý, hoàng tộc nhà Lý chỉ bị đổi sang họ Nguyễn chứ không bị tận diệt.
Nhánh thứ hai của họ Chu là con cháu Chu Noãn Vương di cư về phía Nam. Chu Noãn Vương Cơ Duyên là vị vua cuối cùng của nhà Chu khi bị Tần đánh diệt. Sau khi “cự trấn tráng Chân Đăng”, Chu Noãn Vương đã chạy về vùng … Nghệ An và lên thuyền đi ra biển … Mộ Dạ ở Diễn Châu – Nghệ An còn ghi lại truyền tích An Dương Vương chém Mỵ Châu rồi cầm sừng văn tê bảy tấc theo thần Kim Qui ra biển Đông… Đền Cuông ở Mộ Dạ là thờ Chu Noãn Vương vậy.
Nhánh thứ ba của họ Chu là con cháu Chu Công Đán, nước Lỗ, di cư xuống phía Nam. Chu Công Đán hay Chu Công là em của Chu Vũ Vương, người đã xây dựng Lạc Ấp – thành Cổ Loa. Chu Công là chúa nước Lỗ nên có tên Việt là Cao Lỗ. Cạnh Mộ Dạ hiện còn nhà thờ họ Cao ở Nho Lâm – Diễn Thọ, lấy Cao Lỗ là Tiền đại viễn tổ. Nước Lỗ hay Lão chính là nước Lào, giáp Nghệ An ngày nay.
Như vậy có thể những người họ Chu ở vùng Thanh Nghệ ngày nay là dòng nhánh của Chu Noãn Vương hay Chu Công, sau khi Loa Thành thất thủ đã theo thiên tử Chu di cư chạy xuống phía Nam.
Minh Thái tổ Chu Nguyên Chương là con cháu nhánh họ Chu từ Chu Công. Như vậy nước Ngô do Chu Nguyên Chương ban đầu lập nên là một quốc gia người Hoa Việt. Chỉ khi Yên Vương Chu Đệ soán ngôi, dời kinh đô về Bắc Kinh thì triều Minh mới đổi lại dòng “máu trắng”, thành một nước do người Mông – Hán làm chủ. Chu Đệ Minh Thành Tổ tấn công nhà Hồ của nước Đại Ngu, bắt Hồ Quí Ly và Hồ Hán Thương ở Thiên Cầm – Hà Tĩnh, rồi tiến hành cuộc tàn phá qui mô, xóa sạch các vết tích về nguồn gốc Bách Việt của Trung Hoa ở nước ta. Đến đài Trang Vương ở tận Hương Sơn – Hà Tĩnh, chứng tích của vương triều Chu (Chu Trang Vương) ở Việt Nam cũng bị đập tan tành, chỉ còn trơ nền tới giờ.
Cuốc chiến Chu – Tần cách đây trên 2000 năm quả là đã quá lâu và bị màu thời gian cùng bàn tay ai đó bóp nặn đến nỗi các dòng tộc chân truyền của nhà Chu ở Việt Nam ngày nay không còn biết mình từ đâu mà ra. May thay, trời xanh có mắt. Họ Chu nay lại có thể nối nguồn với tiên tổ từ đất tổ sông Cả (sông Cơ) núi Hồng, với Đông Đô – Hà Nội.