Đồng Cổ Sơn thần là ai?

Bài của tác giả Hoàng Tuấn Công cho rằng các đền Đồng Cổ ở Thanh Hóa không phải là thờ thần trống đồng mà là thờ thần núi Tam Thai hay núi Khả Lao.
http://nongnghiep.vn/den-dong-co-tho-ai-post159518.html
Xin bàn thêm về ý kiến này.

IMG_9156Đền Đồng Cổ ở phố Thụy Khê, Hà Nội.

Trong thần điện Việt không có “thần núi” với nghĩa là quả núi được tôn lên thành thần. Người Việt không thờ những vật thiên nhiên làm thần, mà chỉ tôn thờ những nhân vật có thật làm thần. Những cái tên gọi kiểu Thần núi, Thần sông… là chỉ “chức danh” của các vị thần, hay của các nhân vật có thật được tôn vinh. Nó tương tự như có ông Chủ tịch phường nhưng ông ta là người thật chứ không phải là “cái phường” được tôn làm Chủ tịch.
Hiểu như vậy thì Đồng Cổ Sơn thần đúng là một vị thần núi, nhưng là một nhân vật lịch sử được đảm nhận vai trò làm thần ở núi Đồng Cổ. Nhân vật đó là ai?
Trong bài trên có dẫn sách Thanh Hóa kỷ thắng:
“…Trong đền thờ thần có trống đồng (…). Nguyên thần là tinh khí của trái núi, rất linh ứng. Xưa Hùng vương đi đánh Chiêm Thành trú binh dưới chân núi Khả Lao, đêm mộng thấy thần nhân nói rằng:
– Nguyện được đem trống đồng đi phù trợ vương chiến thắng.”
Như thế vị thần Đồng Cổ này đã có từ thời Hùng Vương, dùng trống đống trợ vua đánh giặc Chiêm Thành.
Câu đối ở đền Đồng Cổ (Thụy Khê, Hà Nội):
可牢山毓秀鍾英萬古灵聲長不泯
蘇瀝水营祠勒石前朝御墨尚留香
Khả Lao sơn dục tú chung anh, vạn cổ linh thanh trường bất miến
Tô Lịch thủy doanh từ lặc thạch, tiền triều ngự mặc thướng lưu hương.
Dịch:
Núi Khả Lao sinh tú đúc anh, vạn cổ tiếng thiêng dài bất tận
Nước Tô Lịch lập đền khắc đá, tiền triều đề ngự lưu tôn hương.
Chiếu theo dòng sử mới thì vị thần trồng đống chính là Cao Lỗ. Phân tích từ ngữ ta thấy Khả Lao và Cao Lỗ là tương đồng:
– Khả = Cả = Cao
– Lao = Lão = Lỗ, vốn là từ chỉ nước Lào hay nước Lỗ xưa.
Còn có Khả Lao đọc phản thiết là Khao Lả = Cao Lỗ.
Khả Lao hay Cao Lỗ nghĩa là vị thủ lĩnh đứng đầu nước Lỗ hay nước Lào.
Vị trí nước Lỗ xưa là vùng lưu vực sông Mã, tức là phần Bắc Lào và vùng Thanh Hóa ngày nay. Đó cũng là nơi có thần Đồng Cổ và có những nơi sản xuất trống đồng từ xa xưa ở Đông Sơn.
Như vậy Đồng Cổ Sơn Thần chính tướng quân Cao Lỗ hay vị thái sư Chu Công của nhà Chu.
Sự tích Cao Lỗ chế nỏ thần từ chiếc móng rùa của thần Kim Quy chỉ việc Chu Công viết hào từ để hoàn thiện bộ Kinh Dịch, và cũng là chỉ việc Cao Lỗ chế tạo trống đồng, một pho sách Dịch khắc trên đồng. Nhà Hạ có Liên Sơn Dịch, là Dịch khắc trên đá núi. Nhà Thương có Quy Tàng Dịch, là Dịch khắc trên mai rùa (trong hình tượng Thanh Giang – Thương sứ Kim Quy). Còn nhà Chu nay với phát hiện Trống đồng là chiếc nỏ thần của Chu Công – Cao Lỗ thì có thể gọi là Đồng Cổ Dịch – Dịch đúc trên trống đồng. Trống đồng – Dịch lý là ánh sáng soi đường cho người Việt trong đời sống cũng như trong việc chống ngoại xâm.
Đồng Cổ Dịch hay Dịch trống đồng một lần nữa xác định chủ nhân của Kinh Dịch là người Việt và lịch sử văn hoá phương Đông buộc phải viết lại.

Đạo hiếu và nhà Chu

Sách Luận ngữ có câu: Tử viết: Đệ tử, nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ, cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn.

Câu này về sau được một tác giả thời Thanh quảng diễn thành bài thơ Đệ tử quy:
Phép người con, Thánh nhân dạy
Hiếu đễ trước, kế cẩn tín.
Yêu bình đẳng, gần người nhân
Có dư sức, thì học văn…

Sách về Đệ tử quy của TS Thái Lễ Húc ngày nay giảng đoạn kinh “nhập môn” này như sau:
Chúng ta hồi tưởng lại lịch sử mấy ngàn năm của Trung Quốc triều đại nào có lịch sử lâu nhất, quốc vận hưng thịnh nhất. Đó là triều nhà Chu. Bao nhiêu năm vậy? 800 năm. Vậy xin hỏi: Tại vì sao triều nhà Chu có thể kéo dài đến được 800 năm? Dựa vào cái gì vậy? “Hiếu” và “Đễ”. Chúng ta chỉ đọc qua “Triều nhà Chu 800 năm”, biết được lẽ đương nhiên mà không biết được sở dĩ nhiên…
Triều nhà Chu, khai quốc là Chu Văn Vương, Chu Võ Vương. Ông nội của Chu Văn Vương là Thái Vương. Thái Vương sinh ra ba người con trai, anh cả là Thái Bá, anh thứ hai là Trung Dung, người thứ ba là Vương Quý. Vương Quý sinh ra Chu Văn Vương. Chu Văn Vương lại sinh ra Chu Võ Vương và Chu Công. Khi Chu Văn Vương mới được sinh ra, Thái Vương vừa nhìn thấy đã cảm thấy Chu Văn Vương có tướng Đế Vương, có tướng Thánh Chủ. Thế nhưng phụ thân của Chu Văn Vương xếp ở hàng thứ ba. Kết quả là bác lớn và bác kế của ông nhận ra khi phụ thân thấy cháu nội thì trên mặt vui vẻ, họ hiểu rõ phụ thân của họ muốn đem ngôi vua truyền cho đứa cháu nội này. Các bác rất hiểu tâm cảnh của phụ thân, cho nên họ không nói không rằng, dựa vào lý do giúp phụ thân đi hái thuốc, liền cùng hẹn nhau với em kế của ông là Trung Dung cùng nhau đi lên núi. Sau khi đi rồi thì họ không trở lại nữa. Bởi vì họ hy vọng phụ thân có thể làm tốt được ý nguyện của mình, không cần phải bận lòng bởi họ là con lớn, để có thể trực tiếp truyền ngôi cho Vương Quý là con trai thứ ba, sau đó Vương Quý truyền ngôi cho Chu Văn Vương.

Ở đoạn này TS Thái Lễ Húc nói chưa hết thông tin. Thái Vương nhà Chu là Cổ Công Đản Phụ có 3 người con: Thái Bá, Trọng Ung và Quý Lịch (Vương Quý). Trong cách gọi tên xưa thì con cả là Thái (Mạnh), con thứ là Trọng, con thứ ba là Quý. Thái Bá và Trọng Ung đã hiểu ý cha, cùng nhau rời đi, nhưng không phải lên núi mà là đi về vùng đất Kinh. Về sau Thái Bá là vị vua khởi đầu của nước Ngô là Ngô Thái Bá. Thái Bá mất, không có con nên em là Trọng Ung lên tiếp ngôi.

Chu Văn Vương đối với phụ thân của ông là Vương Quý đều là sáng sớm, buổi trưa, buổi tối, một ngày ba lần thăm hỏi, nên gọi là “thần hôn định tỉnh” (sáng thăm tối viếng). Ba lần thăm viếng phụ thân, vừa đến thì xem thần sắc của phụ thân, tiếp theo là xem tình hình ăn uống của phụ thân. Nếu như phụ thân ăn uống được rất tốt, ông liền cảm thấy rất là an tâm. Nếu như phụ thân ăn được rất ít thì ông rất lo lắng. Do bởi có được thân giáo như vậy, cho nên con trai của ông là Võ Vương và Chu Công cũng học được rất tốt. Chu Võ Vương cũng rất là hiếu kính đối với Chu Văn Vương. Có một lần Chu Văn Vương bị bệnh, Chu Võ Vương hầu ở bên cạnh mười hai ngày không hề cởi áo giải đãi, mũ trên đầu cũng không lấy xuống, hầu hạ phụ thân ông mười hai ngày nghiêm túc. Do bởi hiếu tâm như vậy, phụ thân ông rất mau khỏi bệnh…
Có một lần Chu Võ Vương bị bệnh, Chu Công liền ở ngay trước mặt của tổ tông họ, vào lúc đó gọi là Thái miếu, viết ra một văn kỳ thọ, mong cầu giảm bớt đi thọ mạng của chính mình để cho huynh trưởng của ông có thể trường thọ… Cho nên khi Chu Công đọc xong văn kỳ thọ, chí thành có thể cảm thông, vì vậy sức khỏe của Chu Võ Vương liền được hồi phục. Bài văn cầu thọ này còn để ở trong Thái miếu.
Trải qua một khoảng thời gian, Chu Võ Vương qua đời, tiếp theo là Chu Thành Vương kế vị. Chu Công giúp đỡ ông. Bởi vì Thành Vương vẫn còn trẻ, kết quả Chu Võ Vương giúp Chu Thành Vương chọn được mấy vị thầy giáo, Thái sư là Khương Thái Công, Thái Bảo chính là Chu Công.

Chỗ này cần chỉnh lại thông tin một chút. Thái sư của Chu Thành Vương là Chu Công. Còn Thái bảo là Thiệu Công. Khương Thái Công Lã Vọng không làm thầy vua Chu Thành Vương vì có lẽ ông đã quá già sau cuộc chiến với Trụ Vương (lúc Văn Vương gặp Lã Vọng thì ông đã 80 tuổi) và ông đã về cai quản đất phong của mình là nước Tề, không ở trong triều đình Chu nữa.

Vào lúc đó quốc gia có những lời giảo ngôn, đều nói là: “Có phải Chu Công muốn đoạt lấy thiên hạ hay không?”. Có rất nhiều lời đồn đại như vậy. Chu Công không đợi cháu của ông lên tiếng. Chính ông tự mình dời đến Sơn Đông, để cho cháu ông dễ làm người, không nên bị những lời sàm ngôn này ảnh hưởng… Sau này Thành Vương xem được sắc thư của ông trong chiếc rương quý mới hiểu rõ lòng trung thành và nhiệt tình của ông, rất hối hận và sai người đi đón ông về.

Đoạn này cũng có điều cần bàn. Các tư liệu khác nói rằng khi bị tiếng oan Chu Công đã dời đến nước Sở, chứ không phải Sơn Đông. Các sử gia sau nay cho rằng vì Chu Công được phong ở nước Lỗ nên ông lui về ở nước Lỗ ở vùng bán đảo Sơn Đông mới hợp lý. Thực ra Chu Công không về nước Lỗ vì nước Lỗ đã có con của ông là Lỗ Bá Cầm cai quản. Nơi Chu Công lui về chỉ có thể là Lạc Ấp – Đông Đô của nhà Chu, nơi an trí đám ngoan dân của nhà Thương sau cuộc nổi loạn của Vũ Canh. Lạc Ấp thì tất nhiên không phải ở Sơn Đông. Nhưng tại sao các sách lại chép thành Chu Công lui về nước Sở?
Chu Công không có liên quan gì đến nước Sở của Sở Hùng ở vùng sông Dương Tử cả. Gọi là Sở bởi Sở = Sủy = Thủy = Nước = Nác = Lạc. Nước Sở ở đây tức là đất Lạc hay Lạc Ấp, Lạc Việt. Nơi Chu Công lui về là vùng Lạc Việt, hay Bắc Việt ngày nay.
Các sách giảng về câu của Khổng Tử trong Luận ngữ đã lấy chuyện khởi đầu của nhà Chu làm gương về hiếu đễ. Có lẽ Khổng Tử còn sống cũng sẽ lấy chuyện này mà giảng vì ông đánh giá rất cao nhà Chu, thường nói mình “nằm mộng gặp Chu Công”. Cách ứng xử của các vị vua đầu triều Chu thực sự là tấm gương sáng ngàn đời về đạo hiếu đễ.

Ngoc tong

Ngọc tông, vật dùng thờ cúng có từ thời Hạ (văn hóa Lương Chử).
Ống tông cùng với đĩa bích ngọc là hình ảnh vuông tròn, bánh chưng bánh dày, âm dương.

Thật trùng khớp khi câu chuyện về đạo hiếu này cũng in đậm trong truyền thuyết Việt. Đó là câu chuyện chàng Lang Liêu, không phải là con cả của vua Hùng, nhưng nhờ có tấm lòng hiếu thảo động tới trời nên đã làm ra bánh chưng bánh dày, thành kính dâng lên thờ cúng cha mẹ và tiên tổ và được truyền ngôi báu của nước Văn Lang.
Lang Liêu chế ra bánh chưng bánh dày không ai khác chính là Chu Văn Vương. Văn Vương là người đã viết ra Kinh Dịch, được truyện Việt Nam kể hình tượng hóa bằng bánh chưng bánh dày – bánh trăng bánh giời hay đạo Âm Dương. Chi tiết Lang Liêu được nhận ngôi mà không phải là con cả tương tự chuyện Thái Bá và Trọng Ung nhường lại ngôi cho Vương Quý.
Tác giả Đệ tử quy đã hơi quá khi sửa câu nói của Khổng Tử từ “Nhập tắc hiếu, xuất tắc đễ” thành “Thủ hiếu đễ”. Khổng Tử không nói lấy Hiếu làm đầu, làm căn bản, vì mô hình con người quân tử của Khổng Tử rộng hơn, bao trùm hơn đạo Hiếu. Hiếu đễ là quan trọng hàng đầu đối với nhân sinh hạnh phúc. Nhưng để thành nghiệp cho một vương triều 800 năm thì không thể thiếu những phẩm chất được kể sau: “Cẩn nhi tín, phiếm ái chúng, nhi thân nhân, hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn”.
Chu Văn Vương khi là Tây Bá hầu của nhà Ân đã được biết là người rất có “thánh đức”, được lòng nhân dân và các chư hầu. Trong khi đó Trụ Vương ngày càng bạo ngược, lòng người ngày càng nghiêng về hướng Tây. Thánh đức của Văn vương chính là từ đức tính “phiếm ái chúng” (yêu tất cả), thể hiện ví dụ như bằng hình tượng con Lân, biểu tượng của nhà Chu: Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống. Hình tượng này rất đúng với tư tưởng “phiếm ái chúng” của Khổng Tử.
Chu Văn Vương cũng là điển hình cho đức “nhi thân nhân” (gần người nhân) trong câu chuyện Văn Vương gặp Lã Vọng. Lã Vọng vốn là một ông lão cao tuổi, đóng vai một người câu cá ven đường khi gặp Văn Vương. Thế mà Văn Vương đã mời ông về giúp sức, gây dựng cơ nghiệp cho nhà Chu. Lã Vọng sau được phong là Khương Thái Công, người cầm đầu quân đội nhà Chu tiến đánh, tiêu diệt Trụ Vương. Sự tích Văn Vương gặp Lã Vọng là một điển hình về tinh thần “cầu hiền” xưa.

La VongTích Văn Vương gặp Lã Vọng trên một ngôi đình ở xứ Huế.

Truyền thuyết Việt cũng có chuyện “cầu hiền” tương tự. Đó là khi giặc Ân tấn công nước ta (cũng là Ân – Trụ Vương), vua Hùng cho sứ giả đi loan tin khắp nơi tìm người tài giỏi giúp nước. Ở làng Phù Đổng có cậu bé ba tuổi xung phong ra diệt giặc được vua cho đúc gậy sắt, ngựa sắt, nón sắt… Tinh thần cầu hiền ở chỗ không nề hà gì việc là cậu bé hay ông lão. Cứ có tài năng là được giao trọng trách.
Chuyện Thánh Dóng và Lã Vọng đánh giặc Ân là cùng một chuyện. Dóng = Vọng. Có lẽ Thánh Dóng thọ 103 tuổi như Lã Vọng mới đúng, bỏ đi 100 thành còn 3 tuổi. Thánh Dóng đánh giặc Ân ở Vũ Ninh là chuyện Khương Thái Công Lã Vọng giúp Vũ Vương phạt Trụ diệt Ân.
Câu “hành hữu dư lực, tắc dĩ học văn” ở đây có thể hiểu là tùy theo năng lực mà học lấy tri thức. “Văn” ở đây không phải là văn nghệ, văn hóa. Hiểu vậy thì tư tưởng của Khổng Tử thành tầm thường quá: Có thời gian rảnh thì đi xem văn nghệ?!
Văn của thời kỳ này là kiến thức khoa học, mà thời này được đúc kết trong Dịch học. Chính Dịch lý là ánh sáng soi đường cho gia tộc Chu có được thiên hạ từ tay Trụ Vương và dẫn dắt cả thiên hạ Trung Hoa đi lên văn minh. Chu Văn Vương – Lang Liêu là người đã viết nên Kinh Dịch nên mới có danh hiệu là Văn Vương, mở ra nước Văn Lang huy hoàng kéo dài trong 800 năm.

Xin ghi lại chuyện này với bài thơ Hiếu với trời đất:

Tôi nghe kể chuyện nước Văn Lang
Lang Liêu dâng cha chẳng bạc vàng
Mà tấm lòng thành gói trời đất
Vuông tròn đúc đủ tình thế gian.

Âm dương một đạo để ngàn đời
Rọi sáng đường đi cả tộc người
Bánh chưng bánh dày vui ngày Tết
Tưởng nhớ Lang xưa với sách trời.

Các bộ tứ trong thần điện Việt: Tứ trấn Thăng Long

Trước hết thử bàn về khái niệm Tứ trấn. Khái niệm này chỉ áp dụng cho một khu vực nhất định mà mỗi “trấn” chiếm một phương vị của 4 phương xung quanh khu vực đó. Trong khi Tứ linh cũng theo 4 phương nhưng vì không có khu vực trung tâm cố định nên phương vị của Tứ linh không rõ ràng như Tứ trấn.
Điểm thứ hai cần bàn là khu vực được trấn giữ này là khu vực có tầm quan trọng, thường là kinh đô của quốc gia. Có là kinh đô thì mới cần đến 4 vị thần trấn 4 hướng. Trong dân gian có 2 nơi có bộ thần Tứ trấn là cố đô Hoa Lư và kinh thành Thăng Long, cho thấy khái niệm Tứ trấn đi liền với khu vực kinh thành.
Điểm thứ ba là khái niệm thần “trấn” phương của kinh thành thì phải là những vị thần có khả năng “trấn” áp tà ma, bảo vệ vượng khí cho kinh đô. Những vị võ tướng dù đánh giặc rất giỏi cũng không thể đóng vai trò “trấn trạch” được vì đánh giặc và trấn tà là 2 lĩnh vực hoàn toàn khác nhau. Các vị tướng đánh giặc do đó chủ yếu sẽ nằm ở bộ Tứ linh, chứ không phải Tứ trấn.
Như vậy, các vị thần trấn phương phải là những… Pháp sư, tức là những người có “phép” trừ yêu dẹp quỷ, thông thạo phong thủy địa lý, có khả năng trấn trạch,…  Như vậy thì mới có thể là thần bảo hộ một phương của kinh thành. Đây là khái niệm quan trọng, mang tính phát hiện khi xét tới các bộ Tứ trấn trong 2 kinh đô xưa của nước Việt.

THĂNG LONG TỨ TRẤN
Dễ nhận ra lai lịch nhất là thần Trấn Bắc – Huyền Thiên Trấn Vũ. Đền thờ vị này là đền Quán Thánh nằm ở đầu phố Thụy Khuê bên Hồ Tây. Như đã từng xác định, Huyền Thiên đại thánh là Lão Tử, vị tổ của Đạo Giáo. Thời Đường Lão Tử được phong là Thái Thượng Huyền Nguyên Hoàng Đế, liên quan tới sự kiện lên ngôi của Lý Thế Dân Đường Thái Tông ở cửa Huyền Vũ. Huyền Vũ là phía Bắc.
Lão Tử tất nhiên rất giỏi công việc của một “pháp sư”, trừ yêu dẹp quỷ. Lão Tử vốn là quan thủ thư của nhà Chu, khi Tây Chu suy, chuyển dời sang phía Đông, vùng Đông Đô gặp một trận động đất lớn. Quan thủ thư lúc này có thể có vai trò như một thầy cúng của triều đình. Lão Tử nhân cơ hội động đất đã bày đặt chuyện quỷ thần lập đàn cúng tế, khai quật xương cốt trên núi, nói là của các đời Hạ Thương, nhằm răn dạy vua Chu về lẽ trời và đạo lý.

Chua Kim Quy

Thần chúa Kim Quy làm lễ bái Huyền Thiên đại thánh trong lễ hội tại đền Sái (Thụy Lôi, Đông Anh, Hà Nội).

Truyền thuyết Việt chép chuyện Lão Tử thành việc Huyền Thiên đại thánh (cụ già – Lão Tử) đã cử thần Kim Quy giúp An Dương Vương trừ Bạch Kê Tinh ở núi Thất Diệu khi xây thành Cổ Loa. Câu đối ở nghi môn Miếu Bạch Kê ở Yên Phong, Bắc Ninh:
千秋鈥鈿前王澤
百越山河故國恩
Thiên thu hỏa điền tiền vương trạch
Bách Việt sơn hà cố quốc ân
.
Dịch:
Hỏa điền ngàn năm lộc vua trước
Núi sông Bách Việt ơn nước xưa.

Miếu Bạch Kê là nơi thờ tinh gà trắng trong truyền thuyết về An Dương Vương xây thành Cổ Loa. Miếu nằm trên núi Thất Diệu, tương truyền là nơi xưa kia An Dương Vương đã diệt Bạch Kê tinh ở đây.

Mieu Bach Ke

Nghi môn miếu Bạch Kê.

Câu đối trên nói chuyện Bạch Kê là chuyện của cả Bách Việt và Bạch Kê là “tiền vương” của An Dương Vương. “Tiền vương” hay vua đời trước của An Dương Vương, tức là Hùng Vương. Câu đối như thế nói Hùng Vương là vua chủ của Bách Việt.
Theo truyền thuyết thì Bạch Kê tinh là linh khí của các vua đời trước đã hiện lên ngăn cản An Dương Vương xây thành. Cũng trong truyền thuyết kể rằng An Dương Vương “liền sai đào núi Thất Diệu, lấy được nhiều nhạc khí cổ và xương cốt“.
Miếu Bạch Kê nằm ở thị trấn Sọ với sự tích trước đây ma quỷ thường ám hại người qua lại, nên để lại rất nhiều xương cốt và đầu lâu. Do đó nơi này có tên là Sọ. Sự tích này ứng với việc An Dương Vương đã đào được xương cốt của các vua đời trước tại núi Thất Diệu. Nói theo ngôn ngữ khảo cổ là đã khai quật được các mộ cổ ở núi này.

IMG_1631 (2)

Hoàn tiền có chữ Đông Chu tìm thấy ở vùng Cổ Loa.

Hai chữ Hỏa điền viết ở bộ Kim 金, chỉ đồ dùng bằng kim loại. Trong số các “hiện vật khảo cổ” đã tìm được ở Cổ Loa có những đồ tế khí bằng đồng từ thời Thương Chu và cả những đồng hoàn tiền (Điền 鈿 nghĩa là tiền) đúc nổi 2 chữ Đông Chu rõ ràng.
Chính vì năng lực trấn quỷ trừ tinh ở thành Cổ Loa mà Huyền Thiên đại thánh được đặt làm thần Trấn Bắc của kinh thành Thăng Long. Nhà Lý đã rước Huyền Thiên từ núi Sái (Thụy Lôi, Đông Anh) về lập đền thờ ở Thụy Khuê, trấn Bắc kinh thành Thăng Long là vậy.

Vị thần Trấn Tây là Linh Lang đại vương được thờ ở đền Thủ Lệ và đền Voi Phục ở cuối Thụy Khuê bên Hồ Tây. Vị thần này được truyền thuyết kể là hoàng tử nhà Lý có công đánh giặc Vĩnh Trinh. Nhưng thời Lý (dù là Tiền hay Hậu Lý) của nước ta không hề thấy sách sử ghi có hoàng tử nào như vậy và có loại giặc nào là giặc Vĩnh Trinh cả. Đây là một nhân thần hoàn toàn ở một thời điểm khác, sớm hơn nhiều so với nhà Lý sau này.
Cách đánh giặc của Linh Lang đại vương mới thật kỳ lạ. Ông dùng một lá cờ lớn, cưỡi voi bay ra trận là giặc tan. Đánh giặc bằng cờ thì chỉ có là đánh ma quỷ, dùng cờ như pháp bảo của một pháp sư để diệt.
Linh Lang đại vương chính xác là Ninh Lang, hay Chu Công, nghĩa là vị Công tước của phía Tây (Chu = Chiêu; Ninh là tính chất tĩnh, định của hướng Tây). Chu Công là người đã xây thành Đông Đô nên được chọn làm người bảo hộ cho kinh thành Thăng Long, rất hợp lý. Chu Công cũng là một trong tứ thánh của Dịch học, có những đóng góp vào việc hoàn thiện Dịch lý. Ông dẹp giặc (cuộc nổi loạn của hậu duệ nhà Ân) chủ yếu nhờ ân đức, chứ không phải võ lực. Do đó cũng có thể coi ông là một Pháp sư. Chí ít thì ông cũng đã là Thái sư dưới triều Chu Thành Vương.

Thu Le

Nghị môn ngoại đền Thủ Lệ – Tây Trấn từ.

Vị thần Trấn Đông là thần Long Đỗ thờ ở đền Bạch Mã trên phố Hàng Buồm. Vị thần này là ai mà lại được tôn làm thần trấn Đông của kinh thành?
Câu đối ở đền Bạch Mã:
南國上神四鎭升龍傳越史
東城顯聖壹威馬跡正光天
Nam quốc thượng thần, tứ trấn Thăng Long truyền Việt sử
Đông thành hiển thánh, nhất uy mã tích chính quang thiên.
Dịch
Thượng thần nước Nam, Thăng Long tứ trấn truyền sử Việt
Hiển thánh thành Đông, dấu ngựa một uy tại trời xanh.
Long Đỗ cũng là Long Độ vì chữ Đỗ là viết kiêng húy Trần Thủ Độ từ thời Trần. Long Độ đình hầu chính là Sĩ Nhiếp. Sĩ Vương là người đã gìn giữ thành Luy Lâu – Long Biên (Bắc Ninh) trong thời loạn lạc hàng chục năm, nên được lấy làm thần bảo hộ hướng Đông cho thành Thăng Long là hợp lý. Sĩ Vương là một tu sĩ đạo Bà Là Môn, liên quan đến việc hô mây gọi gió của Tứ pháp.
Sĩ Vương “khi ra vào thì đánh chuông khánh, uy nghi đủ hết; kèn sáo thổi vang, xe ngựa đầy đường, người Hồ đi sát bánh xe để đốt hương thường có đến mấy mươi người”. Hình ảnh này cho thấy Sĩ Nhiếp từng là một tu sĩ hay pháp sư, có người Hồ đi theo đốt hương phục vụ. Những truyện thần kỳ khác cũng được kể về Sĩ Nhiếp như truyện ông đã chết đi 3 ngày lại còn sống lại sau khi được Đổng Thừa cho uống thuốc tiên…

Bach Ma

Đền Bạch Mã.

Sang vị thần cuối cùng của Tứ trấn Thăng Long là thần Trấn Nam – Cao Sơn đại vương. Đền thờ chính của vị này là đình Kim Liên ở quận Đống Đa ngày nay. Nhận xét rằng các thần Tứ trấn kinh thành là các pháp sư, thầy cúng hay thầy địa lý, một lần nữa xác nhận rằng Cao Sơn đại vương ở Kim Liên là thầy phong thủy nổi tiếng Cao Biền thời Đường. Tài trấn yểm của Cao Vương thì chắc chẳng phải bàn.
Cao Vương là người đã xây thành Đại La nên được tôn thờ làm thần bảo hộ kinh thành Thăng Long hoàn toàn hợp đạo và hợp lý. Cao Vương là thần Trấn Nam vì thành tích chính của ông là dẹp giặc Nam Chiếu. Vùng phía Nam Hà Nội (Thường Tín), Ninh Bình (Phụng Hóa, Nho Quan), Thanh Hóa (Thọ Xuân), tới tận Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình đều có các đền thờ Cao Biền, thờ đúng tên Cao Biền hoặc dưới tên Cao Sơn Cao Các đại vương.

Khe Hoi

Nghi môn đình Khê Hồi (Thường Tín, Hà Nội), nơi thờ Cao Sơn đại vương.

Vài điều về thời dựng nước trong Lĩnh Nam chích quái

Những mẩu truyện trong Lĩnh Nam chích quái là những thông tin hết sức cô đọng về quá khứ của người Việt từ đầu thời kỳ dựng nước. Có nhiều chi tiết trong các chuyện này, đọc đi đọc lại mà không khỏi giật mình vì sự xác tín và thâm sâu của nó. Người Việt đã dùng truyền thuyết lưu lại lịch sử của mình một cách khéo léo nhưng cũng rất rõ ràng. Chỉ là chúng ta “có mắt không tròng” mới đọc mà không hiểu những nhắn gửi của tiền nhân để lại.
Ví dụ, Truyền đầm Dạ Trạch kể: Đồng Tử trở về giảng lại đạo Phật, Tiên Dung bèn giác ngộ, bỏ phố phường, chợ búa, cơ nghiệp, rồi cả hai đều tìm thầy học đạo. Trên đường viễn hành, trời tối mà chưa tới thôn xá, hai người tạm nghỉ ở giữa đường, cầm trượng che nón mà trú thân. Đến canh ba, thấy hiện ra thành quách, lầu ngọc, điện vàng, đền đài, dinh thực, phủ khố miếu xã, vàng bạc châu báu, giường chiếu chăn màn, tiên đồng ngọc nữ, tướng sĩ thị vệ, la liệt trước mắt. Sáng hôm sau ai trông thấy cũng kinh lạ, đem hương hoa, ngọc thực tới dâng mà xin làm bề tôi. Có văn võ bách quan chia quân túc vệ, lập thành nước riêng.
Truyện kể rất rõ ràng, Chử Đồng Tử sau khi lấy con gái vua đã lập thành một nước riêng, có văn võ bách quan, có quân đội, có thành quách… Tức là Chử Đồng Tử đã lập ra một triều đại riêng, tuy không phải chính thống theo lối thiện nhượng như Sơn Tinh (vì lấy con gái vua mà chưa được đồng ý). Đối chiếu với Hoa sử thì đây là chuyện của Hậu Nghệ, nhân lúc vua Hạ Thái Khang ham chơi săn bắn đã chặn đường về mà đoạt ngôi. Nhà Hạ bị gián đoạn tới Hạ Thiếu Khang mới lại trung hưng.

Lau dai Da Hoa

Cổng đền Đa Hòa (Khoái Châu, Hưng Yên) thờ Chử Đồng Tử với 4 chữ Cận thủy lâu đài.

Câu đối trên cổng đền Đa Hòa ở Khoái Châu về Chử Đồng Tử:
淳孝格天沙渚幔帷成異遇
至誠通聖瓊林杖笠契真傳
Thuận hiếu cách thiên, Sa Chử mạn duy thành dị ngộ
Chí thành thông thánh, Quỳnh Lâm trượng lạp khế chân truyền.
Dịch:
Hiếu thuận động tới trời, bãi Chử màn che thành kỳ ngộ
Thành chí thông tận thánh, Quỳnh Lâm gậy nón tiếp chân truyền.
Một câu chuyện khác cũng về thời kỳ vươn ra biển Đông của người Việt là Truyện dưa hấu. Truyện bắt đầu như sau: Về đời Hùng Vương có viên quan tên là Mai Tiêm vốn người ngoại quốc, khi lên 7, 8 tuổi, vua mua từ thương thuyền về làm nô bộc. Kíp tới khi lớn lên diện mao đoan chính, nhớ thuộc sự vật, vua ban tên cho là Mai Yến, hiệu là An Tiêm, lại ban cho một người thiếp. Tiêm sinh hạ được một trai một gái…
Mai An Tiêm như thế là một “người ngoại quốc”. “Ngoại quốc” thời Hùng Vương thì chỉ có thể là từ nước Hồ Tôn ở phía Nam. Truyện Mai An Tiêm từng được xác định cũng là sự tích thánh mẫu Thiên Y A Na của vùng miền Trung Việt. An Tiêm = Thiên Yên = Thiên Y A Na. Trong truyền tích Thiên Y A Na lấy hoàng tử Bắc Hải cũng sinh được một trai và một gái, đặt tên là Tri và Quí, rất khớp với Truyện dưa hấu kể rằng An Tiêm sinh được một trai một gái.
Biểu tượng của thánh mẫu Thiên Y A Na ở Khánh Hòa là loài chim Yến hay chim Tinh Vệ, tha đá ở núi Tây mà lấp biển biển Đông. Còn Mai An Tiêm vốn có tên là Mai Yến, là tên của loài chim này (loài chim đã mang hạt dưa tới cho An Tiêm?). Mai là hướng mặt trời lên (ban mai) hay hướng Đông, được biểu trưng bằng số 8 (Bát) trong Hà thư. Có lẽ Bát Hải đã bị chép nhầm thành ra Bắc Hải, chỉ vị hoàng tử chồng của Thiên Y An Na.
Truyện Đổng Thiên vương thì có đoạn kể Long Quân hiển hiện thành một cụ già tới gặp vua Hùng và nói: Ba năm nữa giặc Bắc sẽ sang, phải nghiêm chỉnh khí giới, tinh luyện sĩ binh mà giữ nước, lại phải đi tìm bậc kỳ tài trong thiên hạ, kẻ nào phá được giặc thì phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Nếu được người giỏi có thể dẹp được giặc vậy.
Lời nhắn nhủ của Long Quân rất kỳ lạ. Khi thắng được giặc thì các tướng có công sẽ được phân phong tước ấp, truyền hưởng lâu dài. Đây chính là nói tới việc bắt đầu của chế độ “phong kiến”, phân phong và kiến lập của các chư hầu nhà Chu. Thánh Dóng là vị tướng dẫn đầu quân đội của nhà Chu tiến đánh Ân Trụ Vương. Đối chiếu theo Hoa sử thì có thể Thánh Dóng tương ứng với là Khương Thái Công Lã Vọng. Phải chăng Vọng là biến âm của Dóng? Chuyện Văn Vương cầu hiền gặp được Lã Vọng cũng tương tự như việc vua Hùng cầu người tài đánh giặc Ân vậy. Sau khi thành đại nghiệp Lã Vọng được kiến phong đất ở nước Tề, gọi là Khương Thái Công. Câu nói của Long Quân trong truyện là bằng chứng về khởi điểm chế độ phong kiến, thiên tử – chư hầu của thời Hùng Vương (thời Chu) tại nước ta.
Chế độ phân phong này còn được nhắc đến trong một truyện khác của Lĩnh Nam chích quái. Truyện bánh chưng bánh dày có đoạn: Vua bèn truyền ngôi cho Liêu, anh em hai mươi mốt người đều được chia giữ các nơi phiên trấn, tụ tập bộ đảng mà thành phiên quốc. Về sau các tướng tranh giành nhau thường dùng mộc sách (hàng rào bằng gỗ) để phòng ngự…
Rõ ràng đây là chuyện phân phong và kiến lập các chư hầu. Lang Liêu hay Văn Lang là Chu Văn Vương, người đã tác Dịch, được truyền thuyết kể là làm ra bánh chưng bánh dày (bánh trăng bánh giời hay âm dương, tròn vuông). Nhà Chu đã phân phong cho các công thần và anh em trong dòng tộc cùng họ Cơ các vùng đất, sau thành các nước chư hầu. Các nước chư hầu tới thời Đông Chu thì nổi lên bá đạo, rồi vương đạo, tranh giành nhau qua các thời Xuân Thu Chiến Quốc, đúng như truyện kể trên. Thậm chí truyện còn dùng cả hình ảnh thực tế là cái hàng rào gỗ để ghi nhận sự tranh giành giữa các chư hầu, 21 người anh em của Lang Liêu…

Ho Phung Di

Núi Trâu Sơn nhìn từ hồ Phùng Dị (Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh).

Đặc biệt có một địa danh rất linh thiêng của nước Việt cổ, được nhiều truyện trong Lĩnh Nam chích quái nhắc tới, đó là núi Trâu Sơn ở Vũ Ninh, gần khu vực Lục Đầu giang. Đây là nơi Thánh Dóng đánh giặc Ân theo truyền thuyết. Vua Ân chết tại trận ở núi này và được lập đền miếu. Truyện Giếng Việt kể tới thời Tần Nhâm Hiêu làm quan ở Long Xuyên, có Thôi Vĩ là con của ngự sử đại phu nhà Tần (Thôi Lượng) sau khi chữa bệnh cho Nhâm Hiêu thì ngã xuống giếng tại núi Trâu Sơn. Thôi Vĩ gặp một con rắn trắng lớn, trên trán có chữ Vương Kinh Tử (dòng dõi của Kinh Vương hay Lạc Vương?). Rắn dẫn Thôi Vĩ gặp Ân hậu… Khi trở về có Dương quan đưa đường. Dương quan sau đó hóa thành con dê đá ở sau chùa Triệu Việt Vương.
Còn Truyện đầm Nhất Dạ cho biết: Quang Phục nghe tin Nam Đế mất, bèn tự lập làm Triệu Việt Vương, xây thành ở Trâu Sơn huyện Vũ Ninh.
Truyện Rùa vàng, bản A.2107 chép: Về sau nhà vua nhiều lần phá quân Tần Triệu Đà. Đà đóng quân ở Trâu Sơn cùng quân nhà vua đối lũy…
Theo tư liệu này thì Triệu Đà là quân Tần, hay Trọng Thủy là Tần chứ không phải Triệu. An Dương Vương mất nước vào tay nhà Tần chứ không phải Triệu Việt Vương sau này.
Như thế nếu theo các truyện này núi Trâu Sơn ít nhất có các di tích sau:
– Chiến trường Thánh Dóng đánh giặc Ân.
– Miếu Ân Vương.
– Giếng Việt.
– Nơi Triệu Đà (Tần) đóng quân khi đánh An Dương Vương.
– Thành của Triệu Việt Vương thời Tiền Lý Nam Đế.
– Chùa Triệu Việt Vương và con dê đá hóa hình của Dương quan.

Chua Huu Bang

Chùa Hữu Bằng (Ngọc Xá, Quế Võ, Bắc Ninh) ở chân núi Trâu Sơn.

Theo các tư liệu địa chí của Bắc Ninh thời Nguyễn thì những di tích này từng tồn tại ở đây. Núi Trâu Sơn ở Bắc Ninh nay là khu vực huyện Quế Võ với các cái tên xã rất “cổ tích” của miền Giếng Việt: Châu Cầu (Châu = Trâu, có chùa Cô Tiên – nơi Thôi Vĩ gặp tiên nữ Ma Cô?), đầm Thất Gian (nơi Thánh Dóng nhổ tre đánh giặc), Ngọc Xá (liên quan đến viên ngọc Long Tụy?), hồ Phùng Dị (nơi Thôi Vĩ gặp sự lạ, rơi xuống giếng?). Trâu Sơn như vậy là nơi giao thời của các triều đại: từ Thương sang Chu, Chu sang Tần, Tần sang Triệu.
Một câu đối ở chùa Hữu Bằng tại chân núi Trâu Sơn:
有憑灵寺傳自古
樓臺經始永千秋
Hữu Bằng linh tự truyền tự cổ
Lâu đài kinh thủy vĩnh thiên thu.
Quanh núi Trâu Sơn như thế là một khu vực rất đáng được tìm hiểu cặn kẽ cả về mặt sự tích dân gian cũng như khả năng phát hiện những di chỉ khảo cổ của thời kỳ trước Công nguyên.

Nhà Chu và bài thơ Thử ly trong Kinh Thi

Trong Kinh Thi phần Vương phong có bài Thử ly gồm 3 đoạn thơ, khác nhau ở 4 câu đầu và chung phần điệp khúc. Phiên âm Hán Việt của bài này như sau:
I. Bi thử ly ly
Bỉ tắc chi miêu
Hành mại mỹ mỹ
Trung tâm dao dao.
đoạn lặp:
Tri ngã giả
Vị ngã tâm ưu
Bất tri ngã giả 
Vị ngã hà cầu.
Du du thương thiên 
Thử hà nhân tai.
II. Bi thử ly ly
Bỉ tắc chi toại 
Hành mại mỹ mỹ 
Trung tâm như tuý.
“đoạn lặp”
III. Bi thử ly ly
Bỉ tắc chi thật 
Hành mại mỹ mỹ 
Trung tâm như ất (yết).
“đoạn lặp”
Giải thích về phần Vương phong Chu Hy đời Tống viết:
Vương là nói nhà Chu đóng đô về phía đông ở Lạc Ấp, trong vòng kinh kỳ của Vương Thành. Đất vuông 2600 dặm, theo sách Vũ Cống, nhắm khoảng núi Thái Hoạ và núi Ngoại Phương thuộc châu Dự, phía bắc được vùng Hà Dương, rồi lần xuống phía nam của châu Ký.
Lúc khởi đầu nhà Chu, Văn Vương ở đất Phong, Vũ Vương ở đất Hạo. Đến đời Thành Vương, Chu Công bắt đầu dựng Lạc Ấp làm chốn hội họp chư hầu lúc bấy giờ, vì cớ đất ấy ở ngay chính giữa, bốn phương đến đấy thì dặm đường xa đồng nhau. Từ đấy gọi đất Phong, Hạo là Tây Đô, còn Lạc Ấp là Đông Đô.
Đến khi U Vương sủng ái nàng Bao Tự, sanh ra Bá Phục, phế hoàng hậu nước Thân và thái tử Nghi Cữu. Nghi Cữu chạy sang nước Thân. Thân Hầu nổi giận, cùng với rợ Khuyển Nhung đánh Tông Chu, giết U Vương ở đất Hý.
Văn Hầu nước Tấn và Vũ Công nước Trịnh rước thái tử Nghi Cữu ở nước Thân và lập lên làm vua. Ấy là Bình Vương. Bình Vương dời về Đông Đô, tức Vương Thành. Từ đấy, nhà Chu lại hèn kém, không khác gì các nước chư hầu, cho nên thơ ca không được gọi là nhã, mà gọi là phong, nhưng vương hiệu chưa bị bỏ, cho nên không gọi là nhà Chu mà gọi là Vương.
Như vậy bài thơ Thử ly trên là bài ca dao của nước Chu khi nhà Chu đã dời về phía Đông tại Lạc Ấp. Thử là lúa nếp, còn Tắc là lúa tẻ (tễ). Bài thơ nói về một người đi qua ruộng lúa và suy tư…
Có điều, Đông Đô của nhà Chu ở chỗ nào mà lại nhiều ruộng lúa, cả nếp, cả tẻ đến vậy? Theo các sử gia Tàu ngày nay thì kinh đô Lạc Dương của nhà Chu ở tận Hà Nam Trung Quốc, chỗ đó là vùng ôn đới, thời trước Công nguyên làm gì có cây lúa nào mọc được đâu mà trồng với chả ngẫm nghĩ, suy tư. Rõ ràng đất Lạc của nhà Chu phải nằm ở vùng ấm ẩm hơn nhiều, nơi các loại lúa phát triển rất tốt.
Hiện quan niệm phổ biến cho rằng nhà Chu là một bộ tộc du mục ở Thiểm Tây, nổi lên diệt nhà Ân làm chủ thiên hạ Trung Hoa. Thế nhưng bài thơ Thử ly trên đã chỉ rõ, nhà Chu nằm ở khu vực cận nhiệt đới, canh tác nông nghiệp lúa nước, chứ chẳng du mục gì cả. Bản thân chữ Chu 周 là ghép của hai chữ Điền 田 và Khẩu 口. Điền 田 là ruộng lúa vuông vắn, chia ô rõ ràng. Nhà Chu là một dân tộc trồng lúa nước điển hình, hiển nhiên không hề xuất phát từ vùng rừng núi Thiểm Tây, vừa khô vừa lạnh, chỉ có cỏ cho ngựa ăn như người Tàu chú thích.

IMG_1631 (2)

Hoàn tiền Đông Chu 東周 và Tây Chu 西周 tìm thấy ở miền Bắc Việt Nam.

Bỉ thử ly ly hiện được dịch là “Kìa nếp đã chín đầu rủ ngọn”. Nhưng chữ Ly 離 không hề có nghĩa là rủ. Ly ly là tua tủa. Bỉ thử ly ly tức là Lúa nếp đang mọc lên tua tủa, sum xuê, rập rạp, tươi tốt. Lúa nếp là giống lúa có thân cao, thời gian sinh trưởng dài, nên từ đầu bài tới cuối bài vẫn mọc tua tủa, trong khi cây lúa tẻ từ cây mạ, ra bông rồi đã kết hạt.
Tâm tình của người qua đường (hành mại mỹ mỹ) thay đổi theo sự sinh trưởng phát triển của cây lúa tẻ. Khi cây mới mọc mạ (miêu) thì người thấy “dao dao”, tức là đang lo lắng. Khi cây trổ bông (toại) thì người như say (túy). Khi cây lúa kết hạt (thật) thì người thấy như nghẹn ngào (rất hứng khởi).
Đây đúng là thái độ của một người chủ ruộng, một nông dân trồng lúa, hàng ngày đi thăm đồng. Lúc mới gieo cấy thì lo lắng. Khi lúa trổ đòng thì vui mừng. Khi lúa nên thóc thì quá thích thú tới nghẹn ngào.
Đoạn điệp khúc:
Người biết ta thì nói ta đang ưu tư
Người không biết ta thì nói ta đang tìm kiếm
Hỡi trời xanh xa thẳm, đó là ai vậy?
Đoạn này đúng là “than trách” người đời không chịu hiểu mình, có thể có ý nuối tiếc quá khứ huy hoàng của nhà Chu, là triều đại đã ươm mầm văn hóa để xã hội Trung Hoa đơm hoa kết trái, nhưng lại bị lãng quên. Câu “Thử hà nhân tai” có thể hiểu là ý trách: người đời vốn là vậy (vốn dễ quên đi công lao của triều đại cũ).
Dịch lại bài thơ này:
I
Lúa nếp tua tủa

Lúa tẻ nảy mầm
Người đi chầm chậm
Trong lòng xiêu xiêu
“Người biết thì nói
Ta đang ưu tư
Người không lại bảo
Ta đang kiếm tìm
Hỡi trời xanh thẳm
Người đời vậy chăng?”
II
Lúa nếp tua tủa

Lúa tẻ trổ bông
Người đi chậm chậm
Trong lòng như say…
III
Lúa nếp tua tủa

Lúa tẻ hạt thành
Người đi chầm chậm
Trong lòng nghẹn ngào…

Những đồng tiền Đông Chu

Tiền lỗ tròn còn gọi là “hoàn tiền”, là loại tiền xuất hiện sớm ở Trung Hoa, được dùng vào cuối thời Chu. Ví dụ một số đồng hoàn tiền sau (là những hiện vật thu thập ở Việt Nam).

IMG_1423Có hai đồng hoàn tiền được thu thập từ khu vực Đông Anh (Hà Nội) có đúc nổi rất rõ hai chữ ĐÔNG CHU 東周 theo thể chữ triện ở mặt trước. IMG_1631 (2)

Mặt sau tiền nhẵn, không có chữ:

Dong Chu mat sau

Việc phát hiện những đồng hoàn tiền ở khu vực Đông Anh mang chữ Đông Chu thêm một lần nữa xác nhận khu vực miền Bắc Việt chính là phần đất Đông của nhà Chu, nơi có thành Đông Đô – Lạc Dương, hay là Đông Ngàn Cổ Loa ngày nay.
Sự kiện xây thành Cổ Loa thời Đông Chu đã từng được xác nhận trong đôi câu đối thờ Lão Tử tại đình làng Thổ Hà (Việt Yên, Bắc Giang). Lão Tử là người đã giúp vua Chu (Thục An Dương Vương) dời đô về Lạc Dương – Đông Đô tại Cổ Loa (xem bài Lão Tử hóa Việt kinh):
東周風雨是何辰別把清虚開道教
南越山河惟此地獨傳幻化作神僊
Đông Chu phong vũ thị hà thì, biệt bả thanh hư khai Đạo Giáo
Nam Việt sơn hà duy thử địa, độc truyền ảo hóa tác Thần Tiên.
Dịch:
Mưa gió Đông Chu đây một thời, riêng nắm chốn thanh hư, mở Đạo Giáo
Núi sông Nam Việt chỉ đất đó, một truyền phép màu nhiệm, tạo Thần Tiên.
Tiền cổ có chữ ĐÔNG CHU 東周 ở dạng đại triện còn từng được thấy ở Lào như trong đồng tiền hình xẻng sau.

Dao tien

Mặt sau đồng tiền này có chữ Vượng Cát 王吉:

Dao tien sau

Những đồng tiền có minh văn, ghi rõ ràng chữ ĐÔNG CHU 東周 tìm thấy ở Việt Nam và Lào là những bằng chứng khảo cổ trực tiếp cho nhận định thiên tử Chu của Trung Hoa có vùng đất Đông Chu là khu vực Bắc Việt ngày nay, đô thành đóng tại Cổ Loa. Vua Chu được truyền thuyết Việt chép là Thục An Dương Vương hay Vua Chủ ở Cổ Loa.
An DuongBản thân chữ AN DƯƠNG 安陽 cũng là chữ thường gặp trên các xẻng tiền cổ, khá phổ biến. An Dương này không phải là thành phố An Dương ở Hà Nam vì thành phố đó thời Tiên Tần có tên khác. Đây là tên gọi của phần đất phía Đông nhà Chu. An Dương là phía Đông yên bình, an lạc (Lạc Dương). Địa danh An Dương cũng từng tìm thấy trên những thẻ ngọc An Dương phát hiện ở Quảng Đông từ đầu thế kỷ 20.

 

 

 

Long và Ly

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Kiều Thu Hoạch đã so sánh quan niệm về con Rồng và hình tượng Tứ linh trong văn hóa Việt Nam và Trung Quốc. Trong Tứ linh của người Việt 4 con vật thiêng được biết là Long, Ly, Quy, Phượng với loài Rồng (Long) đứng đầu. Nhưng sách Lễ ký của Khổng Tử, tài liệu sớm nhất nói về Tứ linh, lại cho một trật tự khác: Lân, Phụng, Quy, Long. Từ đó tác giả đi đến nhận định là người Trung Quốc không coi trọng con Rồng (xếp nó vào cuối cùng trong Tứ linh) mà đề cao con Lân…
Tại sao có sự khác biệt trong quan niệm về Tứ linh giữa Việt Nam và Trung Quốc? Các “linh vật” nghĩa là gì? Con Rồng – Long có mặt trong văn hóa phương Đông từ khi nào? Con Ly hay Lân là con gì? Những câu hỏi này thực sự chưa bao giờ được tìm hiểu một cách kỹ lưỡng, trong khi hình tượng Rồng và Kỳ Lân lại là hình ảnh thường gặp trong các vật phẩm kiến trúc, trang trí điêu khắc cổ của cả Việt Nam và Trung Quốc.
Trước hết cần xác định Tứ linh là 4 loài vật biểu trưng trong văn hóa phương Đông từ rất lâu. Tứ linh là 4 loài đứng đầu 4 giới sinh vật. Khái niệm này bắt nguồn từ học thuyết Ngũ hành. Bảng kê đầy đủ về Ngũ hành được thấy trong sách Lã Thị xuân thu của Lã Bất Vi đời Tần, có thể tóm tắt như sau (4 mùa hay Tứ thời dùng 4 hành hay 4 đức để biểu hiện):
– Mộc đức: mùa Xuân, phương Đông, màu Xanh. Động vật tiêu biểu là loài có vảy.
– Hỏa đức: mùa Hè, phương Nam, màu Đỏ. Động vật tiêu biểu là loài chim có lông vũ.
– Kim đức: mùa Thu , phương Tây, màu Trắng. Động vật tiêu biểu là loài thú có lông mao.
– Thủy đức: mùa Đông, phương Bắc, màu Đen. Động vật tiêu biểu là loài giáp giới.
Phương vị về các loài vật và màu sắc tương tự cũng thấy trong quan niệm: “Hành tiền chu điểu nhi hậu huyền vũ, Tả thanh long nhi hữu bạch hổ” (Lễ ký). Chu – Huyền – Thanh – Bạch là 4 màu Đỏ – Đen – Xanh – Trắng, giống như trong Lã Thị xuân thu. Điểu – Vũ – Long – Hổ tương ứng là 4 loài vật đại diện cho 4 giới có lông vũ – giáp giới – vảy – lông mao (vũ, giáp, lân, mao). Các vị trí Tiền – Hậu – Tả – Hữu tương đương với các hướng Nam – Bắc – Đông – Tây (khi đứng quay mặt về phương Nam).
Bộ tứ Chu tước – Huyền vũ – Thanh long – Bạch hổ được xác thực bằng hiện vật trên các gương đồng Bát quái của thời Chiến Quốc. Ở Việt Nam cũng có những chiếc gương như vậy đã được phát hiện, trong khu vực khảo cổ miền Trung.

guong-bat-quaiGương Bát quái thời Chiến quốc (ảnh Hồ Xuân Em).

Về con Rồng Thuyết văn giải tự của Hứa Thận từ thời đầu Công nguyên ghi: Long, lân trùng chi trưởng. Rồng đứng đầu loài có vẩy. Hình ảnh con rồng xuất hiện rất sớm trên các đồ đồng từ thời Ân Thương dưới dạng Quỳ long (rồng 1 chân). Thường cặp đôi với rồng thời kỳ này là hình con Phượng (quỳ phượng). Như trên, Rồng là con vật biểu trưng của hướng Đông, màu xanh. Xanh hay Thanh – Thang, cũng là Thương, là màu biểu tượng của nhà Thương. Rồng còn là “Long vương”, gắn liền với biển. Ở cả Trung Quốc và Việt Nam thì chỉ có hướng Đông mới có biển.

lien-rongChiếc liễn đồng thời Đông Chu trang trí toàn bằng hình rồng.

Nguyên mẫu của rồng hẳn là loài Rắn. Chỉ cần “vẽ rắn thêm chân” là ra con rồng. Rồng là hình tượng kết hợp giữa loài rắn và cá sấu, dùng biểu tượng cho phương Đông.
Rồng đứng đầu các loài có vảy, Phượng là vua các loài chim. Còn Lân là loài vật đứng đầu các loài có lông mao, theo ngôn ngữ ngày nay nghĩa là động vật có vú. Ví dụ, Chu Hy (thế kỷ 12) trong chú thích cho bài Lân chi chỉ của Kinh Thi đã viết về con Lân như sau:
Lân, loại thú mình giống con chương, đuôi bò, móng ngựa, thú đứng đầu trong các loài có lông… Chân con lân không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống… Con Lân có một sừng, đầu sừng có thịt, cho nên không thể húc cụng, ấy là nhân.
Bản thân chữ Lân 麟 trong dùng bộ Lộc 鹿, tức là một dạng như con hươu.
Mô tả của các thư tịch về con Lân rõ như vậy nhưng không hiểu sao ngày nay con Lân bị biến thành một con vật đầu rồng, mình ngựa, thân toàn vảy là vảy, chẳng thấy lông mao đâu. Con thần thú đứng đầu các loài lông mao mà mình lại mang toàn vẩy là thế nào? Rõ ràng đã có sự nhầm lẫn giữa Kỳ Lân và con Long mã. Kỳ Lân không thể nào là loài thú đầu rồng mình ngựa, thân toàn vảy được.
Sự lầm lẫn của Trung Quốc về con Lân xuất phát từ việc… ở Trung Quốc không hề có con Lân này. Mãi đến thời nhà Minh đoàn thuyền của Trịnh Hòa đi sang châu Phi mang về một con hươu cao cổ dâng vua Minh, cho rằng là con Lân… Đúng là “kỳ” Lân… Một loài linh vật đứng đầu Tứ linh Trung Hoa mà lại phải đi mượn ở tận châu Phi… Chả nhẽ Khổng Tử ngồi ở châu Phi để viết Lân kinh?
Kinh Xuân Thu do Khổng Tử soạn còn gọi là Lân kinh vì tương truyền Khổng Tử lúc sinh ra có Kỳ Lân xuất hiện nhả ngọc và khi soạn kinh đến đời Chu Kính Vương thì nước Lỗ săn được con Lân bị què chân trái phía trước. Khổng Tử thấy đó nghĩ đạo của mình đã cạn, liền dừng soạn kinh.
Vậy con Lân là con gì và vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh?
Xét bài Lân chi chỉ, một bài thơ trong chính phong của Kinh Thi. Đây là bài thơ ca ngợi dòng dõi Văn Vương nhà Chu:
Lân chi chỉ. Chân chân công tử. Hu ta lân hề.
Lân chí đính. Chân chân công tính. Hu ta lân hề.
Lân chi giác. Chân chân công tộc. Hu ta lân hề.
Dịch thơ (Tản Đà):
Chân con lân
Trán con lân
Sừng con lân
Công tử có nhân
Công tôn, công tộc có nhân.
Con lân chừ con lân!
Bài này nằm trong phần Chu Nam, tức là thơ phong dao của vùng đất phong của Chu Công. Chu Công là em trai của Chu Vũ Vương, người đã có công lớn trong việc diệt nhà Ân Thương, khởi lập nên vương triều Chu. Chu Công được phong ở nước Lỗ, chính là đất quê của Khổng Tử.
Bài thơ trên cho thấy rõ con Lân là biểu tượng của nhà Chu, là vương triều nối tiếp thời Ân Thương. Đây chính là lý do vì sao Khổng Tử xếp con Lân đứng đầu Tứ linh. Lân là hình ảnh của thiên tử Chu, của thời Chu. Con Rồng ở thời Chu được xếp dưới cùng cũng dễ hiểu vì Long là biểu tượng của nhà Ân Thương như đã nói ở trên. Nhà Chu diệt Ân thì hiển nhiên con Lân sẽ phải đứng đầu Tứ linh và con Rồng xếp xuống hàng cuối.
Con Lân tượng trưng cho nhà Chu vì là con thần thú của hướng Tây (xem Lã Thị xuân thu ở trên). Nhà Chu cũng là triều đại xuất phát từ hướng Tây. Chu = Châu = Chiêu, hướng buổi chiều hay phía Tây. Như thế con Lân ở hướng Tây, chỉ nhà Chu, đối lập với con Rồng ở hướng Đông, chỉ nhà Thương.
Tiếng Việt gọi Lân là con Ly. Chữ Kỳ Lân đọc phản thiết cho âm Ly. Như thế Kỳ Lân hay Ly chỉ là một. Đặc biệt, chữ mang âm Ly (酈) còn là tên khác của nước Lỗ. Đây là chỉ dẫn vì sao các sự tích của con Lân – Ly lại liên quan đến nước Lỗ.
Ly thực ra là tên quẻ Ly, trong Hậu thiên bát quái dùng để chỉ hướng Tây. Nước Lỗ của Chu Công được biểu trưng bởi con Ly thì phải là nằm ở phía Tây của Trung Hoa, vì con Ly – Lân không thể là phía Đông được. Định vị nước Lỗ lại nằm ở bán đảo Sơn Đông là hoàn toàn không phù hợp với thư tịch, cũng như thực tế không hề có loài vật nào phù hợp ở đó để gọi là Lân – Ly cả.
Loài vật đứng đầu các loài thú lông mao tuy có thể là con Hổ hay Voi. Nhưng với mô tả là loài vật dạng như con hươu, có 1 sừng, không ăn các con vật khác, hiếm khi xuất hiện (sống đơn lẻ) thì Lân phải là con… Tê giác. Loài Voi thường sống thành bầy đàn, khá dễ gặp thời cổ, không khớp với mô tả về con Lân. Loài Hổ thì không có sừng và là loài hung dữ, ăn thịt.
Con Tê giác còn được gọi là con Tây (bản thân chữ Tây 西 còn âm đọc là Tê), hoàn toàn khớp với phương vị của con Lân – Ly.
Cũng trong Kinh Thi phần Chu Nam có bài Quyển nhĩ nói tới một loại cốc đựng rượu hình con Tê:
Trắc bỉ cao cương
Ngã mã huyền hoàng
Ngã cô chước bỉ tự quang
Duy dĩ bất vĩnh thương.
Dịch:
Muốn lên trên sống núi cao
Ngựa em quá bệnh, thế nào lên đây?
Chén sừng tự rót vơi đầy
Khỏi đau thương mãi uống say, say vùi.
Bà hậu phi nhà Chu lên núi, nhớ chồng đi xa nên rót rượu vào “tự quang” uống mà say.
Tự quang 兕觥, còn đọc là Hủy quang, thực ra không phải là chén rượu bằng sừng con Tê. Đây là một loại đồ vật bằng đồng mô phỏng hình Tê giác, dùng để đựng rượu, từng phổ biến ở thời Tây Chu. Một chiếc Hủy quang như vậy cũng được thấy ở Lào (xem hình).

huy-quangHủy quang thời Tây Chu ở Lào.

Loài Tê giác chỉ sinh sống ở vùng cận nhiệt đới và nhiệt đới. Không thể có con Tê giác nào lại sống được ở vùng giá tuyết như đất Sơn Đông. Nước Lỗ nơi có nhiều con Tê – con Ly ở phía Tây thì chỉ có thể là khu vực nước Lào ngày nay. Và khi nước Lỗ ở đất Lào thì trung tâm của thiên hạ Trung Hoa thời Chu chỉ có thể là vùng Bắc Việt – Vân Nam – Quảng Tây.
Con Tê đúng là con thần thú một sừng, hình dáng như con hươu, đứng đầu các loài có lông mao, biểu trưng cho hướng Tây. Nhà Chu (thời Chu) lấy con Lân làm biểu tượng, xếp lên hàng đầu của Tứ linh. Cặp đối lập Long – Ly thực chất là sự đối lập của 2 dòng tộc trong lịch sử Trung Hoa theo trục Đông – Tây, giữa nhà Thương và nhà Chu, giữa dân Hoa và Di. Trong truyền thuyết Việt đó là cặp Âu (Âu Cơ) – Lạc (Lạc Long Quân), Sơn Tinh – Thủy Tinh và Hùng – Thục. Hiện vật của thời kỳ này là 2 dòng đồ đồng hiện hữu tại Việt Nam và Trung Quốc. Một là dòng đồ đồng Đông Sơn (trống đồng nói chung, ở vùng Vân Nam, Quảng Tây và Bắc Việt). Một dòng thứ hai là đồ đồng “Hán” hay đồ đồng Thương Chu của phía Đông Bắc Trung Hoa. Trong dòng đồng khí Tây Nam (Đông Sơn) rất ít khi gặp hình tượng con rồng, mà chủ yếu là hình ảnh hươu nai, bò mộng, hổ. Trong khi hình ảnh rồng gặp ở hầu hết các đồ vật của dòng đồ đồng Thương Chu phía Đông.

ngoc-ky-lanKỳ Lân ngọc tại Căm pu chia.

Người Việt ngày nay quan niệm cha Lạc Long Quân là tổ, theo dòng Lạc Long đi về phía Đông nên đặt con rồng lên đầu Tứ linh. Tuy nhiên, lịch sử và truyền thuyết ghi chép rằng nước Văn Lang bắt đầu bằng dòng những người con lên núi theo mẹ Âu Cơ, đặc trưng bởi trống đồng. Mà lên núi thì làm gì có Rồng, nên lấy con Lân làm chủ đạo mới là đúng.
Với việc phục hồi nguyên mẫu của con Lân – Ly là loài Tê – Tây thì định vị Trung Nguyên của Trung Hoa thời Chu chắc chắn phải dời xa về phương Nam, nơi có loài vật này sinh sống. Con Tê như thế đúng là một “linh vật Việt”, thậm chí còn là linh vật đứng đầu trong Tứ linh. Việc đúc, khắc con Lân thành ra con Long mã vừa làm nghèo nàn đi hình ảnh Tứ linh (bị trùng lặp giữa Long và Long mã), vừa có phần bất kính với tổ tiên, chạy theo “đồ Tàu” mà quên đi loài vật đặc trưng vốn có của văn hóa Việt là con Tê. Đã đến lúc cần phát động phong trào thay Long mã bằng Tê, di dời mấy con “sư tử ngựa” Tàu ra khỏi Tứ linh Việt, trả lại sự linh thiêng của lịch sử và văn hóa Việt cho người Việt.

te-chuong-dinh

Hình Tê giác trên Chương đỉnh ở Huế.

Nước Tây Âu và tướng Trang Kiểu

Sử ký Tư Mã Thiên, Tây Nam Di liệt truyện kể:
Lúc trước vào thời Uy Vương nước Sở, sai tướng quân tên là Trang Kiểu đem quân dọc theo thượng nguồn sông, đánh lấy các vùng từ Ba, Kiềm Trung sang phía Tây. Trang Kiểu vốn là dòng dõi của Sở Trang Vương. Kiểu đến đầm Điền, đầm rộng ba trăm dặm, bên đầm là đất bằng màu mỡ rộng mấy ngàn dặm, bèn đem quân uy hiếp lấy gộp vào nước Sở. Muốn về báo tin, nhưng gặp lúc quân nước Tần đánh lấy các quận Ba, Kiềm Trung của nước Sở, đường bị nghẽn chẳng thông, do đó quay lại, làm vua của người nước Điền, đổi áo theo thói của người ở đấy để làm kẻ đứng đầu.
Sử ký Tư Mã Thiên, Bạch Khởi Vương Tiễn liệt truyện kể:
Bạch Khởi là người Mi, làm tướng cho Tần Chiêu Vương,… Bạch Khởi đánh Sở, phá Yên, được 5 thành. Cùng năm, đánh Sở, phá Dĩnh, đốt Di Lăng, tiến suốt đến Cánh Lăng. Sở Vương bỏ Dĩnh, chạy về phía Đông đến Trần. Tần lấy Dĩnh đặt làm Nam Quận. Bạch Khởi được phong là Vũ An Quân. Vũ An Quân lấy đất Sở định quận Vu, Kiềm Trung.
Dấu vết địa danh Kiềm Trung và Điền vẫn còn lại cho tới nay. Kiềm hay Kiềm Trung là Quý Châu, không có gì phải nghi ngờ vì tới nay Quý Châu còn gọi tắt là Kiềm và đây là địa danh Kiềm Trung đạo thời nhà Đường. Đất Điền cũng được xác định rõ ràng là vùng Vân Nam, nơi có văn hóa Điền và chiếc Điền vương chi ấn.
Tuy nhiên khi định vị 2 vùng đất này rõ như vậy thì thông tin trong Sử ký Tư Mã Thiên liên quan tới 2 vùng đất Kiềm và Điền trở nên vô cùng khó hiểu. Nước Sở vốn được định vị ban đầu ở Hồ Bắc và Hồ Nam. Vậy làm sao Sở lại có thể cử một tướng quân đánh xuống vùng Quý Châu, rồi sang tận Vân Nam? Còn nước Tần theo định vị ngày nay ở khu vực Thiểm Tây, sao lại có chuyện tướng Tần là Bạch Khởi đi đánh nước Sở lại vòng xuống chiếm vùng Kiềm Châu (Quý Châu) ở tận phương Nam? Hình như có “bàn tay vô hình” nào đó đã “lái” các tướng Tần và Sở xuống vùng phía Nam này… Sự thật chắc chắn không phải vậy. Chỉ có thể… các sử gia Tàu đã cố ý xác định sai vị trí của Tần và Sở nên mới ra nông nỗi vậy.
trang-kieuThứ nhất có thể thấy rõ, nước Tần có địa phận chính nằm ở vùng Tứ Xuyên chứ không phải Thiểm Tây. Có vậy thì tướng Bạch Khởi mới sang tiến chiếm vùng Quý Châu (Kiềm Trung). Vị trí Tứ Xuyên của Tần còn cho phép giải thích nhiều tư liệu khác liên quan sau này như chuyện Tần chiếm Việt, Tần Thủy Hoàng Đông du hay chuyện Triệu Đà – Lưu Bang khởi nghĩa kháng Tần…
Thứ hai, Trang Kiểu không phải tướng của nước Sở ở đất châu Kinh tại Hồ Nam Hồ Bắc mà phải là một nước khác, cũng gọi là Sở. Nước này là Lạc vì Lạc = Nác = Nước, còn Sở = Sủy = Thủy. Vì 2 từ này đồng nghĩa nên trong tư liệu cổ thư dễ nhầm lẫn. Lạc Sở mới là nước Sở được nói tới trong các câu “mênh mông bể Sở” hay “bể Sở sông Ngô”, vì nước Kinh Sở ở Hồ Nam Hồ Bắc vốn không hề có “bể”. Lạc là đất Lạc Việt, tức vùng Bắc Việt và Quảng Tây ngày nay. Nơi này trực tiếp có vùng bờ biển là vịnh Bắc Bộ hay biển Đông.
Thời Chiến Quốc đất Lạc là nơi nhà Chu đóng đô hay Lạc Ấp (Lạc Dương), tức Đông Đô của nhà Đông Chu. Trang Kiểu là “miêu duệ của Sở Trang Vương” thực ra nghĩa là dòng dõi của Chu Trang Vương. Chu Trang Vương là Cơ Đà, vị vua thứ ba của nhà Đông Chu, đóng đô ở đất Lạc.
Ở Việt Nam ngày nay còn di tích và di chỉ xác thực về vị Trang Vương này. Đó là chùa Hương ở trên dãy núi Hồng Lĩnh tại Hà Tĩnh. Ở đó có nền Trang Vương, tương truyền là nơi Trang Vương đến thăm con gái là Diệu Thiện tu tại Hương Tích… Câu thơ của Tồn trai Bùi Dương Lịch viết về chùa Hương:
Vân túc Trang Vương hà đại chỉ.
Dịch
Xe mây đâu chốn Trang Vương cũ…
Tác giả Văn nhân trong bài viết Điền quốc – Trang Kiểu đã chỉ ra rằng: Trang = Tlang = Lang, chỉ thủ lĩnh; Kiểu = Cảo = Cửu, là số 9 chỉ phía Tây. Trang Kiểu nghĩa là Lang Cửu hay thủ lĩnh phía Tây. Phía Tây hay Cảo – Kiểu là vùng đất của nhà Tây Chu, đóng đô ở đất Cảo.
Kiềm có nghĩa là màu đen, tương đương với từ Ô hay Âu. Kiềm như vậy là Âu. Quý Châu chính là đất Âu. Còn Vân Nam ở phía Tây Kiềm Trung nên gọi là đất Tây Âu.
Vùng đất Âu ở Vân Nam Quý Châu là vùng đất cũ của nhà Tây Chu. Đông Chu nằm trên đất Lạc, Tây Chu nằm trên đất Âu, hợp lại chính là nước Âu Lạc do An Dương Vương lập nên được kể đến trong truyền thuyết Việt. Triều đại An Dương Vương là vương triều Chu kéo dài bao gồm cả Tây và Đông Chu.
Trang Kiểu là tướng của nhà Đông Chu vào cuối thời Chiến Quốc, được cử đi trấn thủ chống Tần ở vùng Vân Nam và Quý Châu. Sau đó vùng Quý Châu (Kiềm Trung) bị tướng Tần là Bạch Khởi tấn công chiếm mất. Trang Kiểu chỉ còn lại vùng Vân Nam, lập nên quốc gia riêng là Điền quốc.
Như thế cuộc chiến Chu – Tần bắt đầu ngay từ lúc này, dưới thời Tần Chiêu Tương Vương. Truyền thuyết Việt chép là Triệu Đà khởi binh đánh An Dương Vương đến vùng Vũ Ninh thì bị chặn lại. Vũ Ninh tức là vùng đất của Ninh Vương Cơ Phát hay Chu Vũ Vương, người khởi đầu nhà Tây Chu. Vũ Ninh là đất Tây Chu, là vùng Vân Quý như đã nói ở trên.
Diễn biến tiếp theo thì như đã biết, Tần Chiêu Tương Vương cử hoàng thái tôn của mình là Doanh Tử Sở, truyền thuyết Việt gọi là Trọng Thủy, giả cầu hôn con gái vua Chu (= Châu) là Mỵ Châu. Sau đó Doanh Tử Sở đã dẫn quân Tần đánh Lạc Dương (Cổ Loa), đuổi vị vua cuối cùng là Chu Noãn Vương chạy xuống phía Nam đi ra biển mà mất. Nước Âu Lạc của nhà Chu (An Dương Vương) bị diệt vào năm 256 TCN dưới thời Tần Chiêu Tương Vương.
Vào lúc này Tần đã chiếm được đất Kiềm Trung (Quý Châu) và Lạc Việt (Bắc Việt và Quảng Tây). Vùng nước Âu Lạc cũ chỉ còn lại đất Điền hay Tây Âu do Trang Kiểu làm chủ là chưa bị Tần chiếm. Có thể sau đó tướng Đồ Thư của Tần đã tấn công đất Tây Âu vì sách Hoài Nam tử chép Tần phát binh “giết được quân trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống”. Dịch Hu Tống hay Dịch Hậu Tông, tức là dòng dõi của Dịch Vương, tức Chu Văn Vương (người đã viết Chu Dịch). Trang Kiểu là miêu duệ của Chu Trang Vương nên cũng chính là dòng dõi sau này của Chu Văn Vương.
Không rõ diễn biến tiếp theo ra sao đối với vùng đất Điền nhưng qua thời Hán, khi Lữ Hậu mất, lại xuất hiện nước Tây Âu. Đây là nước mà Triệu Đà đã “dùng uy lực uy hiếp nơi biên giới, đem đồ đạc của cải đút lót… để bắt họ lệ thuộc theo mình” (Nam Việt Úy Đà liệt truyện).
Lịch sử nước Văn Lang – Âu Lạc của người Việt như thế đang từng bước sáng tỏ tới từng chi tiết trong sử thuyết Hùng Việt.

Thấy bóng Cam đường nhớ Thiệu Công

Bài thơ Cam đường của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập:
Thấy bóng cam đường nhớ Thiệu Công
Ðất dư dời được bạn cùng thông.
Bút thơ đã chép hương còn bén
Ngâm ngợi nào ai chẳng động lòng.
Bài này nói đến cây “cam đường” và ông Thiệu Công, là sự tích trong cổ sử Trung Hoa. Trong Kinh Thi phần Thiệu Nam có bài Cam đường 甘棠 gồm 3 thiên:
蔽芾甘棠.勿翦勿伐.召伯所茇
Tế phế cam đường. Vật tiễn vật phạt. Thiệu Bá sở bạt.
蔽芾甘棠.勿翦勿敗.召伯所憩
Tế phế cam đường. Vật tiễn vật bại. Thiệu Bá sở khế.
蔽芾甘棠. 勿翦勿拜.召伯所說。
Tế phế cam đường. Vật tiễn vật bái. Thiệu Bá sở thuế.
Bài này thường được giải thích là làm theo thể phú, tức là tả cảnh trực tiếp, nói về quan Thiệu Bá nhà Chu đi công cán, ngồi dưới gốc cây Cam đường và xử kiện. Người dân sau nhớ ơn đức ấy mà bảo nhau không phá hoại cây Cam đường…
Tản Đà dịch:
Rườm rà cái cây cam đường
Ấy quan Thiệu bá xưa thường nghỉ ngơi
Chớ vin! Chớ bẻ! ai ơi,
Chớ ai cắt lá! Chớ ai đẵn cành.
Thiệu Bá là Cơ Thích, dòng dõi của Cơ Xương – Chu Văn Vương, có công trong việc cùng Cơ Phát – Chu Vũ Vương đánh Trụ diệt Ân, lập nên vương triều Chu. Cơ Thích được phong thực ấp ở đất Thiệu, nên gọi là Thiệu Công hay Thiệu Bá. Kinh Thi có phần Thiệu Nam là phong dao của vùng đất Thiệu này.
Thiệu Công Thích còn được phong đất ở nước Yên. Tuy nhiên, sau khi Vũ Vương mất, Thiệu Công Thích cùng với Chu Công Đán (Chu Công) đã ở lại kinh thành phò tá vua Chu còn nhỏ tuổi. Thiệu Công đảm nhận chức Thái bảo dưới thời Chu Thành Vương.
Xét bài Cam đường trong Kinh Thi nay thấy có nhiều vấn đề phải bàn thêm. Theo cách hiểu ngày nay Thiệu Bá ngồi dưới gốc Cam đường xử lý mấy vụ kiện cáo dân sự. Có sách không biết dựa vào đâu còn kể là xử vụ trai gái cãi nhau (?!). Là một khai quốc công thần của triều Chu, triều đại phong kiến đầu tiên trong lịch sử của thiên hạ Trung Hoa, ân đức của Thiệu Công mà lại chỉ ở chỗ xử mấy vụ án con con ở ngoài đường như thế này thì không ổn. Ý nghĩa thực sự của bài thơ này lớn hơn nhiều, ngầm chỉ một sự việc khác trong công nghiệp của Thiệu Công. Bài thơ không phải làm theo thể Phú, mà là thể Tỉ (so sánh, ẩn dụ).
Công đức chính đối với muôn dân của Thiệu Công được thấy qua bài Thiệu Cáo trong Kinh Thư. Thiệu Cáo là lời tâu với Chu Thành Vương của Thiệu Công. Nội dung các bài trong Kinh Thư nói chung đều khá khó hiểu. Tuy nhiên, nay trong liên hệ thiên Thiệu Cáo với bài Cam đường trong Thiệu Nam thì có thể sáng tỏ hơn ý của bài cáo này.
Thiệu Cáo chép: Duy tháng hai, rằm rồi qua sáu ngày. Ất vị Nhà vua sớm ra đi từ đất Chu, sang tới đất Phong. Quan Thái bảo (Thiệu Công) đi trước, Chu Công xem xét nơi ở, thong thả tới. Tháng ba, ngày Bính ngũ, đã có ánh trăng. Qua ba ngày là Mậu thân, quan Thái bảo sớm tới đất Lạc, bói chỗ ở. Khi bói đã được thì sửa sang. Qua ba ngày nữa, Canh tuất, quan Thái bảo bèn đem dân Ân đắp nền ở trên bãi sông Lạc. Qua năm ngày, Giáp dần, nền đã thành.
Phần này bắt đầu bằng việc kể vua Chu (Thành Vương) rời Cảo Kinh của Tây Chu đi sang vùng đất Phong, tức là vùng kinh đô cũ thời Chu Văn Vương. Thiệu Công đi trước dọn đường. Chu Công tháp tùng vua Chu. Sau đó đoàn đi tiếp sang đất Lạc. Ở đây Thiệu Công sai dân Ân đắp nền bên bãi sông Lạc.
Việc Thiệu Công sai dân Ân làm đường, làm nền đón vua Chu ở đất Lạc là có chủ ý nhất định. Dưới thời Chu Thành Vương, hậu duệ của nhà Ân là Vũ Canh cùng Tam Thúc làm phản. Chu Công và Thiệu Công đã cùng nhau dẫn quân đi dẹp phản loạn. Đám quý tộc nhà Ân bị bắt, đem về an trí tại Lạc Dương. Đây chính là đám “dân Ân” ở đất Lạc được nói đến trong thiên Thiệu Cáo.
Thiệu Cáo chép tiếp: Qua bảy ngày, Giáp tý, Chu Công bèn sớm ra dùng thư để ra lệnh cho dân Ân, các quan chủ công việc ở các nước trong Hầu, Điện, Nam phục. Sau khi đã ra lệnh cho dân Ân rồi, dân Ân đều tới làm. Quan Thái bảo bèn đem chúa các nước ra, lấy các lễ vật rồi lại vào đưa cho Chu Công mà rằng:
Xin chắp tay, dập đầu, dâng Nhà vua cùng ông. Ban lời truyền bảo dân Ân là ở ông, kẻ coi việc… Than ôi! Đấng Hoàng thiên Thượng đế thay đổi con đầu của ngài… Nay ngôi của nước Ân to tát là trao cho Nhà vua được chịu ngôi… Nay nhà Ân nhiều các bậc vua hiền triết ở trên Trời. Cho tới vua sau coi dân là sau, nên nay nào chức, nào ngôi phải mất hẳn.
Đoạn này Thiệu Công tâu, mào đầu là Trời đã thay đổi ngôi vua (thiên tử – con đầu của Trời) từ Ân sang cho nhà Chu. Nhà Ân trước kia cũng có nhiều bậc vua hiền được Trời phù hộ. Nhưng vua sau cùng (Trụ Vương) coi khinh dân nên dẫn đến mất chức, mất ngôi.
Tiếp: Trí xếp bỏ! Tai nạn còn đó! Kẻ làm chồng biết bế ẵm, dắt díu vợ con nó, để thảm thiết kêu Trời! Nó đi trốn, đi ra thì bị bắt! Trời cũng thương cho dân bốn phương. Lòng thương và ngôi báu của Ngài là dùng để khuyến khích. Nhà vua hãy mau mau trọng về đức!
Đoạn tiếp này nói, sự việc đã vậy là đúng lẽ (việc Ân mất ngôi), nhưng tai nạn vẫn còn. Người dân Ân chồng dắt díu vợ con chạy nạn, nhưng lại bị bắt, kêu thảm thiết. Trời cũng thương. Lòng thương và ngôi báu đều là tặng vật của Trời. Nhà vua (vua Chu) hãy trọng đạo đức.
Vua Chu xưng là Thiên tử, ý là tiếp ngôi theo ý Trời. Thiệu Công lấy lẽ đó để nói Trời còn có lòng thương. Người đã nhận ngôi báu của Trời thì cũng phải có lòng thương, thương lấy cảnh khốn khổ của dân Ân.
Tiếp: Nhà vua trẻ trung nối ngôi thì xin chớ bỏ sót bậc già cả… Nhà vua dù còn nhỏ nhưng là con đầu của Trời! Sao cho có thể đem lòng thành cảm cả đến hạng dân nhỏ, ấy là phúc cho lúc này!
Chu Thành Vương tiếp ngôi lúc còn nhỏ, Chu Công phụ chính. Thiệu Công lấy lẽ Trời cố gắng xin nhà vua chớ bỏ đi đạo đức, noi gương tiền nhân, sao cho có thể cảm hóa được muôn dân, thì là phúc.
Ý của cả bài phát biểu của quan Thái bảo Thiệu Công rất rõ, là nài xin vua Chu và Chu Công xét ý Trời, noi gương các bậc minh quân xưa, thương xót dân chúng mà không trừng phạt đám dân Ân đã bị bắt về đất Lạc lúc này.
Đáp lại lời cầu xin này của Thiệu Công, Chu Công nói:
Nhà vua trước phải thu phục các kẻ coi việc của nhà Ân, cho gần gặn xen lẫn với các kẻ coi việc của nhà Chu ta. Giữ gìn tính nết mỗi ngày một tiến. Nhà vua phải trong việc làm, nơi nghỉ. Không thể không trọng về đức được…
Nhà vua hãy gắng tu đức đặng cầu Trời cho được ở ngôi lâu dài. Lại mong sao Nhà vua chớ vì bọn dân nhỏ đắm đuối về những sự trái phép mà cũng quả quyết việc giết chóc đặng xử trị chúng. Sao cho dân thuận theo, mới có công… Muốn Nhà vua nhờ bọn dân nhỏ mà được chịu mệnh lâu dài của Trời.
Đây là Chu Công trả lời thay cho vua Chu vì Chu Công là người phụ chính Chu Thành Vương đang còn nhỏ. Chu Công cũng là người đã cầm đầu quân đội đánh dẹp loạn Vũ Canh và bắt các tù binh Ân. Thiệu Công lấy lẽ Trời, lẽ người ra cầu xin nên Chu Công đã đồng ý, khuyên vua muốn ở ngôi lâu dài thì không nên giết chóc dân Ân, nhờ phúc đó thì ngôi vị mới bền.
Bài Thiệu Cáo là lời Thiệu Công cầu xin vua Chu không sát hại, phạt tội những người dân của nhà Ân đã bị bắt về đất Lạc. Đây là công đức to lớn của Thiệu Công cho muôn dân và cho nhà Chu. Đây mới là ý thực sự được nói đến trong bài Cam đường của Kinh Thi.

Do Dong Dong SonĐồ đồng Đông Sơn ở một bộ sưu tầm cá nhân ở Thanh Hóa.

Tế phế Cam đường nghĩa là cây Cam đường tỏa bóng. Cam đường tượng trưng cho ông Thiệu Bá. Bóng tỏa rộng là ân đức phủ tới muôn dân.
Vật tiễn vật phạt/bại/bái là Chớ bẻ, chớ uốn, chớ phạt… Nghĩa tỉ dụ ở đây nói đến việc Thiệu Công xin vua Chu không giết, không áp dụng hình phạt với đám dân Ân ở đất Lạc.
Thiệu Bá sở bạt/khế/thuế. Ba chữ cuối hiện đều dịch nghĩa là “nghỉ ngơi”. Nhưng nếu hiểu theo ý nghĩa mới thì cây Cam đường không phải chỉ là chỗ nghỉ ngơi của Thiệu Bá. 3 chữ này thuộc 3 bộ thủ khác nhau: bộ Thảo艹, bộ Tâm 心 và bộ Ngôn 言. Nghĩa bóng phải hiểu là Nơi ở, Tấm lòng và Lời nói của Thiệu Bá.
Dịch lại bài Cam đường trên lời thơ của Tản Đà:
Rộng che cái cây cam đường
Tấm lòng Thiệu Bá, chỗ thường thuyết chơi
Chớ vin! Chớ bẻ! ai ơi,
Chớ ai cắt lá! Chớ ai đẵn cành.
Cây Cam đường tán lá sum xuê có thể là loại cây Đa, rất dễ gặp ở Việt Nam. Vì thế mà Nguyễn Trãi mới ngắm “cây Cam đường, làm bạn cùng Thông” như trong bài thơ đã dẫn ở đầu bài viết này. Bài Cam đường trong Thiệu Nam tương đương ý với bài Chu lân chỉ trong Chu Nam. Con Lân biểu tượng cho văn đức của nhà Chu, không đạp lên cỏ tươi, không dẫm lên côn trùng còn sống… Còn cây Cam đường biểu tượng cho ân đức của Thiệu Bá che tỏa muôn dân, vị tha đối với dân phản loạn nhà Ân.
Đất phong Thiệu Nam của Thiệu Công không phải ở Kỳ Sơn bên sông Hoàng Hà, cũng không phải nước Yên ở Bắc Kinh tới giáp Triều Tiên. Ngay trong Thiệu Nam có bài Giang hữu tỉ 江有汜, có từ Giang 江chỉ sông, hoàn toàn không phải sông Trường Giang như hiện người Tàu đang giảng giải. Cả 2 vùng Kỳ Sơn và Bắc Kinh đều không hề có sông Trường Giang.
Giang hữu tỉ”, sông có nhánh trong Thiệu Nam là … sông Mã, sông Chu ở Thanh Hóa. Thanh Hóa có đất Thiệu Hóa, xưa là phủ Thiệu Thiên khá rộng, gồm cả một số xã của huyện Đông Sơn, Yên Định và thành phố Thanh Hóa nay. Thiệu Hóa là vùng đất phong hóa Thiệu Nam được nhắc đến trong Kinh Thi.
Là đại công thần khai quốc của triều Chu nên Thiệu Bá được phong ở nước Yên, phải là nước lớn nằm cạnh đất nhà Chu. Nước Yên là khu vực Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay. Kinh đô nước Yên có thể chính là đất Thiệu Hóa ở Thanh Hóa. Nơi đây cũng là nơi phát lộ chiếc trống đồng đầu tiên và lấy tên đặt cho nền văn hóa đồ đồng Đông Sơn rực rỡ. Truyền thống đúc đồng và các di vật khảo cổ thời kỳ này hiện vẫn còn được lưu giữ rất phong phú ở Thanh Hóa.
Liệu con cháu xứ Thanh ngày nay có mấy ai nhìn cây đa nhớ tới ân đức của Thiệu Công?

Cay SanhCây sanh tại nhà một nghệ nhân Đông Sơn, Thanh Hóa.

Bàn về hai chữ Giang, Hà và bài thơ Hán quảng trong Kinh Thi

Wikipedia tiếng Trung về danh từ Hà lưu 河流, tức Sông ngòi có đoạn, nội dung dịch đại ý như sau: Thời thượng cổ Trung Quốc, nghĩa của hai chữ Hà và Giang đều khác bây giờ. Hà chỉ Hoàng Hà, Giang chỉ Trường Giang, cổ nhân tạo ra hai chữ Giang và Hà từ bộ Thủy, thoạt kỳ thủy gọi Hoàng Hà là Hà thủy, Trường Giang là Giang thủy. Sau thời Nam Bắc triều do quan sát thấy Hà thủy có màu hơi vàng nên gọi là Hoàng Hà, còn Giang thủy do có chiều dài nhất nên gọi là Trường Giang, từ đó gọi sông ngòi phía Bắc là Hà, sông ngòi phía Nam là Giang.
Quan niệm rằng Hà là từ của phương Bắc chỉ sông, thậm chí cụ thể là sông Hoàng Hà trong cổ thư, còn Giang là từ của phương Nam, trong cổ thư chỉ sông Trường Giang khá phổ biến hiện nay. Nghe chừng quan điểm này có vẻ có lý… vì người Trung Quốc cổ sinh sống ở vùng giữa Hoàng Hà và Trường Giang…
Thế nhưng khi xem xét kỹ những trường hợp sử dụng hai từ Giang và Hà trong cổ thư thì quan niệm này hoàn toàn không đúng, thậm chí chỉ là ngụy giải, ngụy biện thiếu căn cứ. Nhiều trường hợp đã dẫn đến hiểu sai, hiểu ngược ý của cổ thư, nhất là trong Kinh Thi, do sự định vị định kiến của người Tàu rằng Hà là Hoàng Hà, Giang là Trường Giang.
Đã không ít người chứng minh rằng Giang 江 là từ có nguồn gốc ngôn ngữ Nam Á, còn dấu tích trong âm K’long chỉ sông ở Tây Nguyên. Bản thân phần tượng thanh trong chữ Giang là chữ Công 工 cho phép khẳng định âm cổ của Giang thực ra vốn là Sông. Phải nói thẳng “ngôn ngữ Nam Á” đây là tiếng Việt (chí ít cũng là Bách Việt), là đại tộc nắm giữ vùng từ sông Trường Giang đổ về phía Nam thời cổ đại. “Giang” như vậy là từ tiếng Việt, rõ không cần bàn.
Còn từ Hà cũng chẳng phải là “tiếng Tàu” gì. Đơn cử ngay trong Chu Nam, phần đầu tiên của Kinh Thi, đã bắt gặp cả 2 từ Giang và Hà.
Bài Quan thư, bài thơ đầu tiên của Kinh Thi có 2 câu mở đầu nói ngay đến từ Hà 河:
關關雎鳩, 在河之州
Quan quan thư cưu. Tại hà chi châu.
Nhưng cũng trong phần Chu Nam cùa Kinh Thi bài thứ 9 là Hán quảng thì lại có từ Giang 江:
江之永矣, 不可方思
Giang chi vĩnh hĩ. Bất khả phương ti.
Kinh Thi là tác phẩm được tập hợp san định bởi Khổng Tử, tức là thời nhà Chu, khoảng trong nửa đầu thiên niên kỷ 1 trước Công nguyên. Chu Nam là chính phong, là phong dao vùng thực ấp của Cơ Đán, tức Chu Công. Ấp phong này nằm trên phạm vi vùng đất khởi nghiệp của nhà Chu. Vậy nếu hiểu Giang là Trường Giang, Hà là Hoàng Hà như các học giả hiện đang chú giải Kinh Thi, thì một thực ấp như Chu Nam nằm ở chỗ nào mà có thể vừa có Hà lại vừa có Giang?
Còn nếu hiểu Chu Nam là nước phong của Chu Công, tức là nước Lỗ, hiện được xác định ở bán đảo Sơn Đông thì cũng không thể vừa có Hoàng Hà vừa có Trường Giang chảy qua.

P1260299 (2)Địa đồ các nước trong Quốc phong, Kinh Thi do Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu biên vẽ.

Kiểu diễn giải gán ghép với ý nguồn gốc của người Trung Quốc là ở giữa Hoàng Hà và Trường Giang là vô lý. Làm gì có tộc người nào mà mới sinh ra lại có thể ở cả trên 2 cái nôi, cách nhau xa cả ngàn cây số như vậy.
Giang và Hà trong Kinh Thi hoàn toàn không phải Hoàng Hà và Trường Giang. Đơn giản đây là 2 từ chỉ các con sông nói chung, được sử dụng trong cùng một thứ ngôn ngữ, của cùng một tộc người. Vì thế không thể kết luận đất Chu Nam hay Kinh Thi được sáng tác ở vùng giữa Hoàng Hà và Trường Giang.
Chính xác hơn, ý nghĩa gốc của 2 từ Giang Hà được kiến giải như sau. Giang tương đương với Giêng, là số 1. Số 1 trong Hà thư và tượng Nước (giang) là hành Thủy trong Ngũ hành để chỉ hướng lạnh (hướng Bắc nay).
Còn hay Hồ, tương đương với Hai, số 2, là những tượng số chỉ phương Xích đạo (hướng Nam nay). Ví dụ nước ở phía Nam nước Văn Lang được gọi là nước Hồ Tôn.
Cặp từ Giang – Hà tạo thành từ ghép “Giang hồ” với nghĩa Bắc – Nam, hay khắp nơi. Sông và Hồ rõ ràng là những từ tiếng Việt, chẳng phải tiếng “Tàu Nam” hay “Tàu Bắc” nào cả.
Còn có cặp Hà – Lạc có nghĩa là Bắc – Nam, Trên – Dưới, Trời – Đất. Lạc = Nác = Nước, cũng tương tự như Giang. Hà đồ (chính xác hơn là Hà thư) không phải là đồ hình tìm thấy ở sông Hà (Hoàng Hà), mà là Thiên thư, là sách trời. Còn Lạc thư (chính xác hơn là Lạc đồ) không phải cuốn sách thấy ở sông Lạc, mà nghĩa là Địa đồ, là bản vẽ mặt đất.
Với nhận định như vậy, việc đọc giải Kinh Thi cần có nhiều điều phải xem lại. Ví dụ bài Hán quảng (chương 1):
南有喬木
不可休息
漢有遊女
不可求思
漢之廣矣
不可泳思
江之永矣
不可方思
Nam hữu kiều mộc
Bất khả hưu tức
Hán hữu du nữ
Bất khả cầu ti
Hán chi quảng hĩ
Bất khả vịnh ti
Giang chi vĩnh hĩ
Bất khả phương ti.
Tương tự như những chữ Giang và Hà, chữ Hán 漢 ở đây hoàn toàn không phải sông Hán Thủy ở vùng Nam Thiểm Tây – Hồ Bắc Trung Quốc. Vùng này vốn là khu vực nước Tần và Sở. Làm sao có thể có chuyện đất Chu Nam của thiên tử Chu hay của Chu Công lại nằm ở vùng “Man Di” Tần Sở được?
Đối chiếu trong bài thơ thì chữ “Hán” được dùng đối lập hoặc đẳng lập với chữ “Nam”. Nam hữu kiều mộc (nghĩa là Bên Nam có cái cây cao) đối với: Hán hữu du nữ. Hán như vậy là từ chỉ phương hướng. Hán là hướng Bắc (nay), ví dụ như sao Hán là sao Bắc đẩu. Câu thơ Hán hữu du nữ có nghĩa là Bên Bắc có người con gái đang bơi lội. Phải dịch đúng nghĩa chính của từ “Du” là “đang bơi” thì mới liên quan đến nội dung của đoạn thơ tiếp theo.
Đoạn điệp khúc “Hán chi quảng hĩ. Bất khả vịnh ti. Giang chi vĩnh hĩ. Bất khả phương ti” cũng cần hiểu lại vì chẳng có sông Hán Thủy, Trường Giang nào ở đây cả. Giang có nghĩa là sông nói chung, còn Hán là chỉ phía Bắc, bờ Bắc của sông.
Chữ “Vịnh” 泳 với nghĩa thông thường là “Lặn”. Nghĩa này tỏ ra không phù hợp với bối cảnh bài thơ. “Lặn sang sông” để cầu cô gái? Sao thơ lại có ý thô tục vậy?
Ở đây chữ Vịnh phải hiểu với nghĩa rộng hơn, hay hiểu theo nghĩa bóng. Vì bờ Bắc ở xa (Hán chi quảng hĩ) nên việc đi qua (xuyên qua, lặn lội qua) là không thể (Bất khả vịnh ti). Bờ Bắc cũng là nơi cô gái đang bơi nên một cách bóng gió phương Hán và dòng sông đây chính là cô gái. “Lặn” qua nghĩa là vượt qua khó khăn, đi được vào lòng cô gái.
Tương tự trong 2 câu cuối. Chữ “Phương” 方 dịch là “đi bè” thì vô lý (bè trôi dọc sông, chứ sao lại sang ngang sông?), và bản thân từ này không hề có nghĩa nào là làm bè hay đi bè.
Chữ “Phương” 方 ở đây có thể hiểu: vì sông dài (Giang chi vĩnh hĩ) nên không thể đi song song (song phương, đi dọc) sông được. “Giang” ở đây cũng là tấm lòng của cô gái đang du bơi nên không đi cùng được, cũng giống như không cầu được vậy. Như thế bài thơ nêu sự đối lập Nam – Bắc (Nam – Hán) và rộng – dài (vịnh – phương), rất chỉnh và đúng ngữ cảnh.
Dịch lại bài thơ Hán quảng:
Bên bờ Nam cây cao chót vót
Bóng không nhiều chẳng mát nghỉ ngơi
Cô gái bên Bắc du bơi
Khó lòng quân tử trao lời cầu mong
Kìa bờ Bắc xa trông vời vợi
Biết làm sao vượt được ngang sông
Sông dài nước chảy không cùng
Sánh sông chẳng thể mãi lòng người ta.
Những bài thơ trong Kinh Thi là bằng chứng xác đáng rằng Hà không phải là Hoàng Hà và Giang không phải Trường Giang. Xuất phát điểm của thiên hạ Trung Hoa nhà Chu không nằm ở Hoàng Hà cũng như Trường Giang. Ngôn ngữ mà thiên hạ “Trung Hoa” từng dùng không phải tiếng Tàu, mà là tiếng Việt chính cống.