Ngũ Lĩnh sơn

Vùng đất đầu tiên của nước Nam trong Thiên Nam ngữ lục như sau:

Cõi xa ngoài Ngũ Lĩnh Sơn
Hiệu Xích Quỷ quốc, tuyệt ngàn Bắc Sơn.

Dị bản chép:

Cõi xa chốn Ngũ Lĩnh Sơn
Nỗi ngoài Nam Hải, tuyệt ngàn Bắc phương.

Những câu này làm người ta hiểu vùng đất đầu tiên của người Việt ở tận núi Ngũ Lĩnh ở Hồ Nam Trung Quốc, phía Bắc. Nhưng những tên Xích Quỷ quốc và Nam Hải cho thấy không hẳn như vậy vì vùng Hồ Nam làm gì có Nam Hải và tên nước ở phương xích đạo như vậy.

Khi xem tiếp xuống phần Lộc Tục xưng Kinh Dương Vương và được Đế Minh phong làm vua Nam quốc thì vị trí của Ngũ Lĩnh Sơn càng phải xem xét lại:

Đế Minh bèn lập Đế Nghi
Làm vua Bắc quốc thay vì Thần Nông
Lộc Tục phong làm ngôi công
Mở mang quê ngoại, giữ dòng phiên bang
Hiệu xưng là Kinh Dương Vương
Đất vuông nghìn dặm, nước càng lâu xa
Mặc làm thiên tử vệ nghi
Lễ chầu thượng quốc, phẩm y chư hầu
Cõi bờ nam bắc phân nhau
Tây đông chí tự Ải Lào, Hải thanh
Nam thời suốt đến Chiêm Thành
Bắc qua Quế Lĩnh, chân thành Bắc Man
Kinh Dương đến Ngũ Lĩnh Sơn
Xưa lên ngôi báu, được yên lòng người.

Như vậy vùng Ngũ Lĩnh Sơn này nằm ở trong phạm vi lãnh thổ nước Nam của Kinh Dương Vương và ở phía Nam chứ không phải Bắc. Đặc biệt vị trí lãnh thổ nước Nam này được xác định:
– Phía Tây là Ải Lào. Thường ta hiểu Ai Lao là Lào ngày nay. Nay có thể thấy Ai tức là Ải, hay vùng đất. Ai Lao Di còn là tộc người ở Vân Nam, hay là đất Ba Thục trong ĐVSK. Ải Lào là vùng đất phía Tây của nước ta từ Vân Nam, Tây Bắc Việt và đất Lào giáp Thanh Nghệ ngày nay.
– Phía Đông là Hải Thanh. Rõ ràng Hải Thanh là biển Đông. Thanh là màu của phương Đông.
– Phía Nam đến Chiêm Thành, tương ứng với nước Hồ Tôn trong Đại Việt sử ký.
– Phía Bắc tới Quế Lĩnh, chắc là Quế Lâm, ở bắc Quảng Tây, giáp Quí Châu.
Thông tin về cương vực quốc gia này một lần nữa khẳng định những gì ghi trong Đại Việt sử ký cho nước Văn Lang: «đông giáp Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến Động Đình, nam giáp Hồ Tôn». Tuy nước Văn Lang như vậy có phần rộng hơn về phía Bắc.

Có thể thấy Ngũ Lĩnh Sơn của Kinh Dương Vương như vậy không phải là ở Hồ Nam mà chính là phần đất trung tâm của người Việt ở Bắc Việt, Quảng Tây. «Ngàn Bắc Sơn» hay «ngàn Bắc phương» của nước Xích Quỷ thực ra là ở phương Nam, chính là đất Nam Giao xưa. Tức là phương Nam Bắc có thể đã bị hoán chuyển, mới làm thông tin địa lý lịch sử trở nên lẫn lộn như vậy.

Hậu Nghệ

Thần thoại Trung Hoa về Hậu Nghệ:
Sau khi bắn mặt trời, mặt đất trở nên tối tăm, các loài ác thú, quỉ dữ được dịp xuất hiện, hại người. Vua Nghiêu sai Hậu Nghệ đi diệt trừ các quái thú như Khiết Du ở Nhược Thủy, Tạc Xỉ ở đầm Trù Hoa, Cửu Anh ở sông Hung Thủy, Đại Phong ở Thạch Khâu, Tu Xà hay Ba Xà ở hồ Động Đình. Tu Xà là một con mãng xà khổng lồ, gây ra sóng to, làm lật thuyền của người dân đánh cá, rồi ăn thịt những người đắm thuyền.
Hậu Nghệ cưỡi chiếc thuyền nhỏ đi trên mặt hồ Động Đình tìm con Ba Xà… Cuối cùng chàng chém nó thành mấy khúc…, xương nó chất thành núi Ba Khâu ở Hồ Nam…

Trong câu chuyện trên ta thấy:
– Hồ Động Đình (đầm Vân Mộng) ở tận Hồ Nam. Vậy làm sao thời Đế Nghiêu lại có thể đi đến được (từ Hoàng Hà vượt cả Trường Giang?)? Rõ ràng thời Nghiêu dân Hoa Hạ không hề ở vùng Hoàng Hà.
– Truyện Hậu Nghệ giết Ba Xà vô cùng giống chuyện Lạc Long Quân đánh Ngư tinh của Việt Nam. Lạc Long Quân theo sử Việt cũng là người Động Đình Hồ.
– Sau khi cơn hồng thủy chấm dứt vào thời Đại Vũ là thời kỳ khí hậu khô hơn, nước biển rút, mở ra những vùng đất mới và tất nhiên là những loài chim, thú, cá lớn được dịp phát triển mạnh. Người Hoa Hạ khi tiến ra khai phá những vùng đất mới này đã phải đấu tranh với những loài thú ở đây. Đó là ý nghĩa lịch sử của truyền thuyết Hậu Nghệ đánh yêu quái sau khi bắn mặt trời hay Lạc Long Quân đánh Mộc Tinh, Hồ Tinh, Ngư Tinh.
– Tên của con mãng xà là một chỉ dẫn về… vị trí của hồ Động Đình. Tu là Từ, dịch nghĩa của từ Thương, là tính chất của phương Đông trong Dịch lý. Ba là… tiếng Việt 100%, nghĩa là số 3, con số trấn phương Đông của Dịch Lý. Như vậy Tu Xà hay Ba Xà là con mãng xà ở… biển Đông.

Truyền thuyết Hoa còn có chuyện khi Đế Thuấn đi tuần, chết ở Thương Ngô, hai bà phi gieo mình xuống sông Tương chết theo. Linh hồn họ rong chơi ở vực sâu hồ Động Đình… Tất cả các địa danh Thương Ngô, sông Tương và hồ Động Đình đều cho thấy quê hương của người Hoa Hạ không hề ở Hoàng Hà.

Hồ Động Đình không phải chỉ có trong truyền thuyết Việt mà cả truyền thuyết Hoa. Việc gán hồ Động Đình vào đầm Vân Mộng cũng không thể giải thích nổi tại sao người Hoa Hạ ở Hoàng Hà lại có truyền thuyết với địa danh ở Hồ Nam. Chỉ có thể giải thích Hoa Hạ chính là người Việt xuất phát từ khu vực quanh Bắc Việt ngày nay.

Đất nước tôi

Tôi viết bài thơ đất nước tôi
Gian nan từ thủa mới ra đời
Ngọn gió Động Đình ru ta lớn
Trăng chiếu sông Đường nước đầy vơi.

Trăm trứng mẹ sinh dòng Bách Việt
Diệt quái cha rồng mở biển khơi
Lang Thang dân tiến chinh phương Bắc
Văn minh Âu Lạc mãi rạng ngời.

Trông vời con nước nước sông Đà
Hình bóng Tản Viên thấp thoáng xa
Hồng thủy cơn xưa còn chưa dứt
Mà nay lại nổi sóng yên ba.

Vó ngựa giặc thù xéo giang sơn
Cưỡi voi ra trận ắp căm hờn
Một trận quyết vì non cùng nước
Xả thân vương nữ mấy ai hơn.

Văn hiến là đâu? Sử là đâu?
Trắng đen sao đánh lẫn đổi mầu?
Ngoảnh mặt phương Nam nhìn quê mẹ
Đau thương hồn Việt đã bao lâu?

Bước lên Nghĩa Lĩnh chốn cửu trùng
Linh anh tiên tổ các vua Hùng
Cho con cho cháu tâm trí sáng
Tìm lại cha ông giống Lạc Hồng.

Hưng quốc

Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ nhà Lý nói về sự xuất hiện của Lý Công Uẩn: “Trước đây ở viện Cảm Tuyền chùa Ứng Thiên Tâm châu Cổ Pháp, có con chó đẻ con sắc trắng có đốm đen thành hai chữ “Thiên tử”. Kẻ thức giả nói đó là người sinh vào năm Tuất sẽ là Thiên tử. Đến đây vua sinh năm Giáp Tuất làm Thiên tử, quả nhiên ứng nghiệm”.
Ở Hà Nội còn từng có cả đền Cẩu Nhi thờ chú cho con này.

Sách Thiên Nam ngữ lục (thế kỷ 17) ngoài chuyện chú chó con có chữ Thiên tử trên còn nói đến truyền thuyết về cây gạo đầu làng Cổ Pháp bị sét đánh nứt đôi, bên trong có chữ đề:
Góc chùa cây cả trực trời
Lại có chữ bày Hưng Quốc chi niên.

Rồi Lý Khánh Văn nhân đó đoán:

Điềm này nghiệm đến sự trời
Nào ai tuổi Tuất ấy người làm vua
Lên đền một mối tay thu
Chữ Hưng Quốc ấy ắt là thiên nguyên.

Rồi khi Lý Công Uẩn lên ngôi:

Thùy y củng thủ cửu trùng
Cải nguyên Hưng Quốc đề phong trong ngoài
Hoa Lư hiểm địa hẹp hòi
Xa giá bèn dời về ở Thăng Long.

Như vậy sách Thiên Nam ngữ lục cho ta một thông tin rõ ràng: Hưng Quốc từng là tên nước ta thời kỳ đầu triều Lý, gắn liền với Lý Công Uẩn và việc dời đô ra Thăng Long.

Thiên Nam ngữ lục … ngoại kỷ

Thiên Nam ngữ lục là tập sử trường thiên ca ra đời vào cuối thế kỷ 17. TNNL bao gồm 8136 câu thơ lục bát, 31 bài thơ chữ Hán và 2 bài thơ Nôm. Đây là tác phẩm văn vần dài nhất trong kho tàng văn học viết bằng chữ Nôm còn lại cho tới ngày nay.
Sách vốn có tên gọi đầy đủ là “Thiên Nam ngữ lục ngoại kỷ”, diễn ca lịch sử Việt Nam từ Kinh Dương Vương đến đời Lê Trung Hưng. Người đời sau xét thấy chỉ có phần đầu chép lịch sử ngoại kỷ dựa vào dã sử, phần còn lại chép lịch sử bản kỷ nên lược bớt hai chữ “ngoại kỷ” trong tên sách. Tuy nhiên, chữ “ngoại kỷ” không chỉ có nghĩa là dã sử, mà còn có thể mang một nghĩa khác. Đó là nghĩa “ngoài chính sử”, tức là những sự kiện, những tư liệu được sử dụng trong tác phẩm có thể được viết không theo đúng như chính sử.
Tác giả của Thiên Nam ngữ lục là một người uyên bác, hiểu biết rất rõ về những bộ chính sử đã được biên soạn thời đó. Khi đó Đại Việt sử ký toàn thư vừa mới được hoàn thành, chỉ trước TNNL có vài chục năm. Lý do gì mà Thiên Nam ngữ lục không theo đúng quyển sử này mà còn cố ý đặt tên tác phẩm của mình là “ngoại kỷ”? Không chỉ là tác giả muốn “phóng tác” theo ý riêng, mà gần sự thật hơn có thể tác giả có những tư liệu khác và không đồng nhất quan điểm với nhiều sự kiện ghi trong chính sử.
Do được sáng tác vào cùng thời kỳ với Đại Việt sử ký toàn thư và lại có tư tưởng “phản biện”, “chỉnh lý” chính sử, thể hiện trong từ “ngoại kỷ” như trên, TNNL phải được coi là một nguồn tư liệu lịch sử có giá trị ngang với Đại Việt sử ký toàn thư.
Câu mở đầu của Thiên Nam ngữ lục:

Trải xem sự kỷ nước Nam
Kính vâng tay mới chép làm nôm na.

Câu này cho thấy sách được viết theo lệnh của bề trên, có thể là của chúa Trịnh, viết về lịch sử nước Nam. Tức là đây là một tác phẩm chính thống về sử chứ không phải một sáng tác văn học đơn thuần.
Một khả năng khác là do tình trạng cầm quyền vua Lê nhưng chúa Trịnh nên chúa Trịnh không thể tự biên soạn quốc sử như thông thường. Do vậy chúa Trịnh đã cho diễn ca lịch sử, tuy gọi là “ngoại kỷ” nhưng thực ra đó là chính sử viết dưới góc độ của nhà chúa. Dù là dưới góc nhìn của vua Lê hay chúa Trịnh thì cũng không ảnh hưởng đến giá trị sử liệu của tác phẩm, nhất là đối với những thời kỳ đầu (trước thời Lê) của đất nước.
Do sử sách nước ta chép về thời kỳ đầu dựng nước còn lại quá ít nên một quyển “ngoại kỷ” như vậy thật vô cùng quí giá, cung cấp những sử liệu khác với độ tin cậy không kém gì chính sử. Những sự kiện khác biệt trong TNNL so với chính sử Việt chính là những điểm cần suy nghĩ làm sáng tỏ vì hoàn toàn có thể đó là sự thật lịch sử.

Đồng tiền Đại Hưng bình bảo

Bài này muốn bàn về cách đọc một đồng tiền cổ rất nổi tiếng ở Việt Nam vì được cho là đồng tiền đầu tiên của nước ta sau khi dành được độc lập vào thời Đinh.

Vấn đề ở chỗ cách đọc của đồng tiền này.
Mặc dù theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, niên hiệu của Đinh Tiên Hoàng có chữ Hán viết là “Thái Bình”, nhưng Bernard J. Perma (Catalogue of Annam coins  968- 1955, Vietnam, 1963), thật có lý khi đọc hiệu của đồng tiền là “Đại Bình Hưng Bảo”. Bởi sự thật, các đồng tiền do vua Đinh đúc, cả hiện vật lẫn ảnh chụp, chữ Hán viết là “Đại Bình” chứ không phải là “Thái Bình”. Trong sách Tiền Cổ Việt Nam, GS Đỗ Văn Ninh đưa ra hai cách giải thích hiện tượng trên như sau:

-Đồng tiền bị gỉ làm mất nết chấm dưới chữ “thái”. Cách giải thích này khó được chấp nhận, vì chưa thấy đồng tiền nào của vua Đinh viết chữ Hán là “thái bình”; nếu có, chắc nhầm lẫn với một loại tiền khác..


-Cách giải thích thứ hai, dễ hiểu và có sức thuyết phục hơn là: chữ “đại” còn có một âm đọc là “thái”
.”

Cả hai cách giải thích đều không ổn. Ngay cùng với thời đó ở Hoa Lư và Hoàng thành Thăng Long có loại gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, cho thấy chữ đầu tiên trong tên đồng tiền  đọc là “Đại” chứ không phải “Thái“. Tên của đồng tiền này đã đánh đố rất nhiều nhà nghiên cứu tới nay chưa có lời giải.

Một số nhà nghiên cứu khác đưa ra ý kiến đọc hiệu đồng tiền là “Đại Hưng Bình Bảo“. Tuy rằng thời Đông Tấn – Nguyên Đế (Tư Mã Duệ) có niên hiệu Đại Hưng (318-321), song thời ấy ở Trung Quốc đang còn sử dụng hệ thống tiền Ngũ Thù, chưa dùng chữ “bảo” để chỉ khái niệm tiền tệ, do đó tiền này không thể do triều Tấn đúc“.

Những người chơi tiền cổ đều biết tên tiền cổ có 2 cách đọc chéo và đọc xuôi. Nếu đọc xuôi theo chiều kim đồng hồ thì tên đồng tiên trên phải là “Đại Hưng bình bảo”. Vấn đề là trong lịch sử không biết chữ “Đại Hưng” này ở vào giai đoạn sau nhà Đường (sau đồng tiền đầu tiên dùng từ “bảo” là “Khai Nguyên thông bảo”) thuộc về ai?

…ngày nay tiền “Đại Bình Hưng Bảo” – theo ông XiongBaoKang (Tổng Giám đốc Viện nghiên cứu tiền tệ và Bảo tàng Tiền tệ Quảng Tây – Trung Quốc) – được tìm thấy ở Hoa Nam (Trung Quốc) là đất của Bách Việt rất nhiều…

Thật khó hiểu nếu đồng tiền trên là của nhà Đinh vì nhà Đinh rất ngắn ngủi chỉ có 12 năm, vào lúc phía Bắc nhà Tống đã thống nhất Hoa Nam. Làm thế nào mà đồng tiền của nhà Đinh lại được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam được?

Xin đưa ra một cách nhìn nhận khác về đồng tiền trên. Tên đồng tiền này phải đọc là “Đại Hưng bình bảo” chứ không phải “Thái Bình hưng bảo“. Đồng tiền này không phải của nhà Đinh mà là của Lưu Cung – Lưu Ẩn ở Lưỡng Quảng (Lưỡng Việt). Tên “Đại Hưng” là một bằng cớ rõ ràng về tên nước của Lưu Cung thời đó. Không phải Đại Hán mà là Đại Hưng, như tên Hưng Vương phủ của Quảng Châu. Việc đồng tiền này được tìm thấy rộng rãi ở Hoa Nam xác nhận điều này vì đây là vùng ảnh hưởng của nước Đại Việt/Đại Hưng thời đó.

Việc lấy tên nước đặt tên cho đồng tiền tuy ít gặp nhưng không phải không có. Người ta còn tìm thấy đồng tiền “Đại Việt thông bảo“. Đồng tiền này có cách viết chữ tương đồng với thời của đồng “Đại Hưng bình bảo“, nhưng lại bị nghị ngờ là tiền giả cho dù được phát hiện trong di tích Hoa Lư. Lý do được dẫn là thời đó chưa có quốc hiệu Đại Việt ở nước ta. Nhưng nếu nhìn rộng ra thì thấy ngay Đại Việt này là quốc hiệu của Lưu Cung. Gạch “Đại Việt quốc quân thành chuyên” ở Hoa Lư cũng khẳng định danh xưng Đại Việt đã có từ trước. Không như đồng “Đại Hưng bình bảo“, đồng “Đại Việt thông bảo” khá hiếm thấy. Điều này cũng dễ hiểu vì Lưu Cung chỉ sau 1 năm lập quốc đã đổi quốc hiệu từ Đại Việt sang Đại Hưng.

Chữ “bình” trong “bình bảo” có thể hiểu là bình dân, bình thường, “bình bảo” có nghĩa tương tự như “thông bảo” vậy. Trong bộ tiền cổ Việt Nam cũng có một vài đồng tiền mang tên “bình bảo” như đồng “Thiệu Phong bình bảo” đời Trần.

Còn vấn đề chữ “Đinh” ở mặt sau đồng tiền nghĩa là gì thì cần suy xét thêm. “Đinh” ở đây chưa chắc là họ của vua, mà có thể là một số đếm vì Đinh là số thuộc thập can. Có thể là chỉ năm đúc tiền, hoặc một loại số thứ tự nào đó. Nhiều đồng tiền cổ chữ ở mặt sau cũng không dễ hiểu, ví dụ có đồng tiền “Thuận Thiên đại bảo” được cho là đồng tiền của Lý Thái Tổ, với mặt sau có chữ “Nguyệt“. Tới nay chưa ai giải thích được chữ Nguyệt này nghĩa là gì.

Đồng tiền được cho là đồng tiền đầu tiên của Việt Nam lại là một bằng chứng về nước Đại Hưng của Lưu Cung. Đã là Đại Hưng thì không hề có nước Đại Hán ở Lưỡng Quảng và tức là trận thủy chiến với quân Nam Hán của Ngô Quyền không thể xảy ra trên sông Bạch Đằng…

Chữ Nguyệt ở mặt sau đồng Thuận Thiên đại bảo có thể là từ chỉ hướng Tây. Mặt trời là biểu tượng phương Đông. Mặt trăng là biểu tượng của phương Tây.
Như vậy rất có thể tương tự như chữ Đinh trên đồng Đại Hưng bình bảo, chữ Nguyệt cho biết đồng Thuận Thiên đại bảo là tiền đúc của đất Tĩnh Hải thời nhà Đinh – Lý.

Cổ Loa thành

Tôi nghe kể chuyện Cổ Loa Thành
Âu Lạc, Phong Khê chép sử xanh
Tùng bách Chiêu lăng lưu tích cũ
Sơn hà Thục quốc rạng thanh danh
Trời Tây thiên tử oai linh trấn
Đông Hải thánh thần thác gửi hình
Dẫu mất nỏ thiêng, sông núi đó
Ngàn thu cây tỏa bóng yên lành.

Bụi mờ

Trời cao lộng mà không soi tỏ
Lúc triều Lê chép sử nước nhà
Lầm lẫn sử Việt, sử Hoa
Thời Hùng Vương xếp vào là ngoại biên.
Giặc Mãn Thanh tràn miền đất Bắc
Cơn hồng thủy Tứ khố toàn thư
Đốt kinh, cạo sử, thu đồ
Cội nguồn Hoa Việt phủ mờ bụi xanh.
Nay con cháu hùng anh dòng dõi
Hướng về nguồn tìm cõi cha ông
Vạn năm văn hiến hay không?
Lặng im hay kể trống đồng Việt Nam?

Tản mạn Cổ Loa

Nghimon

Nghi môn đền An Dương Vương ở Cổ Loa

Hai câu đối về Chiêu lăng nằm ở mặt trong của nghi môn đền thờ An Dương Vương ở Cổ Loa:

Chiêu lăng tùng bách kim hà xứ

Thục quốc sơn hà thượng cố cung

Vì sao đền An Dương Vương lại gọi là Chiêu lăng? Đền thờ này còn gọi là đền Vua Chủ. Thành Cổ Loa gọi là thành Chủ. Chiêu, Chủ có phải là Chu không?

Một chuyện lạ là An Dương Vương được biết là người “nước ngoài” đến thay thế triều Hùng. Nhưng trong văn hóa khảo cổ không hề có dấu tích nào về sự thay đổi này. Những hiện vật khảo cổ đào được quanh Cổ Loa, được gán vào thời đại An Dương Vương. Nhưng những trống đồng, tên đồng, cày đồng này rõ ràng là của văn hóa Đông Sơn thời Hùng Vương. Không có gì phân biệt. Ngoài Cổ Loa ra thì chẳng còn chỗ nào có hiện vật khảo cổ thời An Dương Vương cả.
An Dương Vương là một giai đoạn “lập quốc” quan trọng, một thời đại đánh thắng hàng vạn quân Tần ở thời thịnh nhất của nhà Tần, một huyền sử dài nhất trong các huyền sử đời Hùng. Thế mà lại chẳng để lại dấu tích gì rõ ràng. Chỉ có thể nói “chồi Âu Lạc mọc lên từ gốc Văn Lang”. Nói vậy thì đã cho An Dương Vương cũng chính là một vị Hùng Vương. Và như vậy thì An Dương Vương không chỉ tồn tại trong khoảng vài chục năm mà ít nhất phải ứng với một nền văn hóa khảo cổ lớn trên đồng bằng sông Hồng. Nền văn hóa đó không gì khác là văn hóa Đông Sơn với những đồ đồng như đã đào được ở Cổ Loa.

Ở am thờ Mỵ Châu có một bài thơ rất hay đề trên bảng gỗ:
Hoàng thành đoạn kính thảo ly ly
Vãng sự thương tâm bất khả ty
Tần Việt nhân duyên thành oán ngẫu
Sơn hà kiếp vận đáo nga my
Quyên đế cố quốc sương thiên mộ
Châu dựng hàn lưu bích hải chi
Thần nỗ điếu minh hà xứ khứ
Ngộ nhân đáo để thị kim qui.

Dịch (Đỗ Văn Hỷ):
Thành hoang khuất khúc xanh rì cỏ
Việc cũ đau lòng biết hỏi ai
Tần Việt nhân duyên thành cập oán
Non sông vận kiếp tới mày ngài
Quyên kêu nước cũ trời sương muộn
Trai nở dòng băng biển biếc hay
Mờ mịt nỏ thần đâu biệt mất
Rùa vàng lẫm lỡ tới ai đây.

Chỗ đáng chú ý ở đây là cụm từ Tần Việt. Nếu là dùng như thành ngữ thì hơi khó hiểu vì ít thấy ai dùng thành ngữ “Tần Việt” để chỉ duyên trai gái và thành ngữ này từ đâu ra (điển tích gì)? Người ta dùng “duyên Tấn Tần” vì Tấn và Tần nằm cạnh nhau. Tần và Việt thời Chiến Quốc thì quá xa, làm sao thành “nhân duyên” được?

Còn nếu Tần Việt là nghĩa đen thì rõ ràng chỉ Mỵ Châu là Việt, và Trọng Thủy là… Tần. Tần chứ không phải Triệu.

Tứ trụ triều đình của An Dương Vương thờ ở Cổ Loa:
1. Phương chính hầu Trần Tự Minh – Thái sư
2. Cao cảnh hầu Cao Lỗ – thái sư phụ quốc
3. Hữu thừa tướng Lý Ông Trọng
4. Trung tín hầu Vũ Bảo Trung

Nếu Cao Lỗ là Chu Công thì Trần Tự Minh có thể là … Quân Trần, vị toàn quyền kế nghiệp Chu Công cai quản Lạc Dương. Tục thờ Trần tử như đã thấy còn có ở chùa Hương Sơn và am Trang Vương ở Hà Tĩnh.

Bài thơ Khối tình con của Tản Đà:
Một đôi kẻ Việt người Tần
Nửa phần ân
ái nửa phần oán thương
Vuốt rùa chàng đổi móng
Lông ngỗng thiếp đưa
đường
Thề nguyền phu phụ
Lòng nhi nữ
Việc quân vương
Duyên nợ tình kia
dở dở dang
Nệm gấm vó câu
Trăm năm giọt lệ
Ngọc trai nước giếng
Nghìn
thu khói nhang.

Tôi nghĩ là thành ngữ “Kẻ Việt người Tần” chính là từ
chuyện Mỵ Châu – Trọng Thủy.

Theo PGS. TS Phạm Minh Huyền
(http://www.tin247.com/khong_the_phu_nhan_su_ton_tai_cua_trieu_dai_an_duong_vuong-8-21239730.html):

Trên trống đồng Cổ Loa, mặt trong cũng có khắc chữ Hán… Đặc biệt trên một trong những khuôn đúc mũi tên đồng, đã phát hiện được 2 chữ theo lối chữ Hán. Một chữ đã đọc được là chữ “Thần” với nghĩa là “thần dân”, còn một chữ không đọc được… Các chuyên gia Trung Quốc cho biết là 2 chữ này có niên đại sớm nhất là thời Chiến Quốc và muộn nhất
là thời Tây Hán
“.
Các chuyên gia Việt Nam thì cho rằng những chữ Hán trên trống đồng Cổ Loa là chữ… Tàu nên thường không đưa dẫn chứng này ra khi nói về trống đồng. Có lẽ cũng còn có những đồ đồng Đông Sơn khác có chữ Hán thời Chiến Quốc nhưng không được công bố. Nếu trống đồng đã là của Việt thì chữ trên đó rõ ràng cũng là chữ Việt. Điều này thật khó tin, nhưng càng khẳng định sử thuyết Hoa Hạ là Việt.

Đại Việt khai quốc

Lòng phản trắc nhận danh trung nghĩa
Tướng Chu Ôn phế Lý lập Lương
Suy vi triều chính trung ương
Thi nhau các trấn xưng vương lập quyền.
Từ Tứ Xuyên tới miền Giang Khẩu
Tiền, Hậu Thục, Ngô, Sở, Kinh Nam
Ngô Việt, Mân Việt hai đàng
Vân Nam – Đại Lý, Nam Đường – Giang Tô.
Trên Lưỡng Quảng mở cờ Đại Việt
Lý Công Uẩn chí khí phi thường
Tiếp nối vỹ lược Hưng Vương
Đánh Khúc Thừa Mỹ, thu đường Giao Châu.
Đất La Thành còn lưu dấu vết
Lúc rồng bay dựng nghiệp thiên đô
Thăng Long mãi một cơ đồ
Nghìn thu lồng lộng màu cờ nước Nam.
Thời Tam quốc họ Hùng ba nước
Việt, Lý, Tống chiến cuộc liên miên
Khi Nùng xưng đế Quảng Nguyên
Khi Việt tái chiếm châu Liêm, Ung Thành.