Những mốc lịch sử thời Hùng Vương dựng nước

Các vua Hùng đã có công dựng nước“, câu nói của cụ Hồ bên đền Hùng là một đánh giá lịch sử chính xác. Nhưng lịch sử thời dựng nước của các vua Hùng tính từ lúc nào. 4000 năm lịch sử như cha ông ta từng lưu truyền? Hay 5000 năm ngang với Tam Hoàng Ngũ Đế Trung Hoa? Hay chỉ “vài ngàn năm” như hội thảo gần đây về thời Hùng Vương mới “kết luận”?…
Lịch sử dựng nước tính từ đâu phụ thuộc vào mốc tính, thế nào là “bắt đầu lịch sử”. Lịch sử hoàn toàn không phải bắt đầu từ khi có chữ viết vì không thiếu gì dân tộc cho tới tận ngày nay không hề có chữ viết riêng. Chả nhẽ họ cũng bị coi là không có “lịch sử”?
Lịch sử được tính bằng những mốc, những nấc thang phát triển của thể chế xã hội. Đối với người Việt, những nấc thang lịch sử ban đầu đích thực là do các vua Hùng đã gây dựng nên. Những cuốn ngọc phả Hùng Vương còn lưu truyền lại cho tới ngày nay cung cấp chính xác những mốc phát triển của xã hội Việt thời dựng nước.

Mốc lịch sử Việt thứ nhất: Thủ lĩnh cộng đồng
Mốc lịch sử đầu tiên của người Việt được đánh dấu bằng Đế Minh, cháu ba đời Viêm Đế Thần Nông. Ngọc phả đền Hùng Phú Thọ gọi ông là Thái tổ Đế Minh. Hàng loạt di tích ở Thanh Ba, Phù Ninh, Phú Thọ thờ vị Thái tổ Hùng Vương này.

Den Thai to
Đền Thái Tổ ở Trạm Thản, Phù Ninh, Phú Thọ.

Vị vua Hùng đầu tiên, đứng đầu 18 đời Hùng Vương là Đế Minh, được các nơi thờ dưới tên Đột Ngột Cao Sơn, hay tên đầy đủ như trong Ngọc phả đền Vân Luông là Thánh tổ Hùng Vương Nam Thiên thượng thánh Tiền hoàng đế khai quốc hồng đồ Đột Ngột Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương.
Từ “đột ngột” hiểu nôm na là “bất ngờ xuất hiện”, cũng nghĩa là trước đó chưa có ai, chỉ vị vua đầu tiên. Rõ ràng chỉ có Đế Minh mới thích hợp ở vị trí “tiền hoàng đế khai quốc” này.
Ngọc phả đền Vân Luông còn cho biết: Đế Minh chính thống vạn bang chư hầu thiên hạ. Đế Minh như thế là người đã khai thống toàn thiên hạ, ngang với thời “Hoàng Đế mở muôn nước“, tức là cách đây khoảng 5000 năm. Bắt đầu từ Đế Minh xã hội Việt đã có vua, có thủ lĩnh cộng đồng. Bước tiến lịch sử đầu tiên của người Việt phải tính từ Thái tổ Hùng Vương 5000 năm. Tên gọi cho thời kỳ này là kỷ Hồng Bàng.

IMG_0394.JPG
Hùng Vương miếu ở Đình Chu, Lập Thạch, Phú Thọ, nơi thờ Đột Ngột Cao Sơn.

Câu đối ở đền Hùng về mốc lịch sử đầu tiên này:
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà duy hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.

Dịch:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Mốc lịch sử Việt thứ hai: Chế độ thế tập
Sau Đế Minh, mặc dù đã có thủ lĩnh của cộng đồng thiên hạ vạn bang nhưng chế độ vẫn đang là truyền hiền. Cụ thể là chuyện 2 vị công chúa Ngọc Hoa và Tiên Dung được gả cho Sơn Tinh, dẫn đến vị hiền tế phò mã này được tiếp ngôi chính thống. Vế đối còn lưu ở đền Nhà Bà, Tiên Du, Phú Thọ nơi thờ 2 vị công chúa này ghi:
Quân do Bạch Hạc lai phò, Nam Việt vạn bang xưng nữ kiệt
Dịch:
Chúa đến giúp từ Bạch Hạc, Nam Việt muôn bang gọi gái tài.

Nha Ba
Vế đối đền Nhà Bà ở Tiên Du, Phù Ninh, Phú Thọ.

Những dấu vết khác của thời kỳ truyền hiền còn thấy ở Phú Thọ như lầu kén rể bên bến Việt Trì, hay tục rước chúa gái của 2 làng Vi Trẹo dưới chân núi Hùng.
Thời kỳ truyền hiền kết thúc bởi sự kiện Lạc Long Quân kế vị Kinh Dương Vương, đời đời cha truyền con nối, gọi là phụ đạo. Chế độ thế tập xuất hiện ở thời điểm này cách nay khoảng 4000 năm. Đây chính là mốc lịch sử trước đây thường được nhắc tới, gắn liền với tên tuổi của “cha” Lạc Long Quân. Tên gọi thời kỳ này là Xích Quỷ hoặc Việt Thường.

Tam quan
Nghi môn đền Đồng Bằng, Quỳnh Phụ, Thái Bình.

Câu đối ở đền Đồng Bằng, nơi thờ vua cha Bát Hải Động Đình (tức Lạc Long Quân):
Tứ thiên niên quốc tục thượng thần, Bát Hải long phi truyền dị tích
Thập bát hiệu Hùng triều xuất thế, Đào giang hổ lược chấn linh thanh.

Dịch:
Bốn nghìn năm nước gọi thượng thần, biển Bát rồng bay truyền tích lạ
Mười tám hiệu triều Hùng xuất thế, sông Đào hổ lược dậy danh thiêng.

Mốc lịch sử Việt thứ ba: Chế độ phong kiến
Thời kỳ bộ lạc thế tập, gọi vua là cha (“phụ”), kéo khá dài như chuyện nàng Âu Cơ mang nặng đẻ đau sinh ra bào ngọc trăm trứng… Phải đến khi xuất hiện Hùng Quốc Vương, người con trưởng đích trong trăm trai, với kỳ công hiệu triệu chư hầu, tiêu diệt nhà Ân Thương, thì xã hội Việt mới tiến lên một bước quan trọng.
Ngọc phả Hùng Vương kể: Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn… Bấy giờ Vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương.
Bắt đầu từ Hùng Quốc Vương bờ cõi đất đai trong thiên hạ được chia phân thành các chư hầu phiên dậu bình phong. Mỗi chư hầu có người chủ trì gọi là “phụ đạo” và chức chư hầu này được thế tập nối nhau. Vua xưng là thiên tử. Đặt ra lễ chễ trăm quan. Nhân dân được định tộc họ. Những vị tiên tổ có công lao được phong làm thần mà thờ phụng.

IMG_8547.JPG
Đình Hương Trầm, Việt Trì, nơi có sự tích thờ Lang Liêu.

Đây cũng là thời điểm đời Hùng thứ 6 với vị Lang Liêu, người có công hoàn tác Dịch học âm dương vuông tròn, khai mở lễ tiết (Tết). Truyện Bánh chưng bánh dày kể rõ, Lang Liêu nối ngôi đã phân chia cho các anh em làm phiên dậu bình phong…
Bản chất là xã hội Việt lúc này bước sang chế độ phong tước kiến địa hay chế độ phong kiến điển hình. Vua Hùng đứng đầu Bách Việt (là tổ của Bách Việt), vì mỗi “Việt” là một chư hầu trong thiên hạ họ Hùng. Thời điểm của mốc lịch sử này được ghi nhận sau khi Hùng Vương thứ 6 đánh thắng giặc Ân, tức vào quãng hơn 3000 năm trước. Tên gọi đất nước của Lang Liêu thì như đã rõ, là Văn Lang.

IMG_8595.JPG
Đình Bảo Đà, Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ.

Câu đối ở đình Bảo Đà tại Việt Trì:
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.

Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Mốc lịch sử Việt thứ tư: Quốc gia thống nhất
Mô hình Thiên tử – Chư hầu, vua Hùng – Bách Việt kéo dài qua các thời kỳ thịnh rồi suy, dẫn tới xung đột khốc liệt giữa các chư hầu. Để rồi nổi lên 1 chư hầu lớn thôn tính toàn bộ các chư hầu khác là Thục An Dương Vương như trong truyền thuyết Chín chúa tranh vua của người Tày. Vị vua đã thống nhất các nước chư hầu đến từ phía Tây – Thục này chính là nhà Tần. Truyền thuyết chép vua Hùng nhường ngôi cho Thục Phán.
Tuy nhiên, với sự tàn ác của Tần đế, truyền thuyết Việt không chấp nhận vai trò thống nhất thiên hạ của nhà Thục. Người được coi người khởi thủy nước Nam lại là Vũ Đế Triệu Đà. Xét kỹ thì với vai trò là bố của Trọng Thủy, Triệu Đà cũng chính là vua Tần, người đã diệt con cháu hậu duệ của Hùng Quốc Vương Lang Liêu.
Mặt khác, Triệu Đà thứ hai là Lưu Bang Hiếu Cao Tổ, người Tuấn kiệt đã lãnh đạo dân Việt kháng Tần thắng lợi, lập nên một triều đại Hảo Hán (Hiếu Hán), thống nhất. Chế độ quận huyện từ trung ương xuống địa phương được áp dụng trên toàn lãnh thổ. Xã hội Việt bước vào giai đoạn quốc gia thống nhất.
Thời điểm cho mốc thống nhất toàn lãnh thổ hay phong kiến tập quyền này rơi vào quãng năm 256 TCN (thời điểm Tần diệt Chu) hoặc 207 TCN (thời điểm Lưu Bang diệt Tần), tức là cách nay trên 2200 năm.
Câu đối ở điện Hưng Long, nơi thờ Triệu Vũ Đế tại Xuân Quan, Hưng Yên:
Nhất chỉ dĩ vô Tần, vạn lý khai tiên Mân Lạc tuyệt
Lưỡng lập hà nan Hán, ức niên xương thủy đế vương cơ.

Dịch:
Một lệnh dẹp không Tần, vạn dặm mở đầu dứt Mân Lạc
Hai ngôi sánh cùng Hán, nghìn năm gây nền vững đế vương.

Từ thời điểm này xã hội người Việt đã thống nhất chế độ, thống nhất lãnh thổ nên lịch sử Việt chấm dứt thời Hùng Vương dựng nước, bước sai thời kỳ con cháu “giữ lấy nước”. Hơn 3000 năm dựng nước đầy gian nan, từng bước, từng bước một cha ông đổ mồ hôi nước mắt mới có được những thành tựu to lớn để lại cho con cháu. Đọc lại ngọc phả Hùng Vương xin chớ quên câu Uống nước nhớ nguồn.

 

 

 

 

 

Ngọc phả Hùng Vương ở đình Vân Luông, Việt Trì, Phú Thọ

Bảo Đại năm thứ 13, ngày 10, tháng 3, xã Vân Lung thừa sao.

NAM VIỆT HÙNG VƯƠNG NGỌC PHẢ VĨNH TRUYỀN
Cháu chắt dòng dõi ức vạn năm hương lửa tôn sùng điển thờ

Kỷ Hồng Bàng

Xưa tại Đại quốc Trung Hoa, đô đóng ở thành Thiên Thọ Bắc, lăng phần mộ tổ trời táng ở núi Côn Lôn, cùng năm hồ, biển lớn, núi Nam hội chầu chính đường, ban đầu là từ cháu ba đời Viêm Đế dòng Thần Nông thị, từ Hy Hoàng tới đó, truyền ngôi quốc bảo chính thống Nam Bang, để lại cho con cháu đời sau vậy.

Đế Minh, thống trị vạn bang chư hầu thiên hạ

Tại vị 130 năm, thọ 173 tuổi, sinh ngày 15 tháng 11 năm Giáp Tí, mất ngày 1 tháng 1. Sinh Đế Nghi năm Giáp Ngọ là con trưởng, sinh Lộc Tục năm Nhâm Ngọ là con thứ, phong làm Kinh Dương Vương cai trị quận Giao Chỉ, Nam Man.

Sử ký Việt Nam

Thời thượng cổ là Giao Chỉ, đổi thành Xích Quỷ, cùng tên nước Xích Quỷ, nay tên là nước Đại Việt An Nam. Kinh Dương Vương nhận vị từ ngày 15 tháng 2 năm Nhâm Tuất, tuân mệnh đi tuần ở núi Ngũ Lĩnh, gọi là động Bạch Hổ Vân Nam.

  1. Kinh Dương Vương
    Chi Càn

Tên húy là Lộc Tục. Tại vị 250 năm, thọ 271 năm. Sinh ngày 4 tháng 1 năm Nhâm Ngọ. Sau hóa sinh về biển Động Đình, cùng với con gái Đế quân sinh ra con trưởng là Sùng Lãm, phong làm Lạc Long Quân Hiền Vương, năm Bính Thìn bắt đầu trị Nam Man.
6 cung phi của Dương Vương sinh 24 nam hoàng tử, 12 nữ cônng chúa, dòng dõi hoàng tôn 36 chi, sinh cháu chắt 592 người. Trị nước thiên hạ chư hầu đều phục, Bách Man, Tứ Di đều quy thuận, các phương tám hướng đều hưởng phúc thái bình, nước không có thuế cao, dân không dối trá.
Hùng Dương Vương Cao hoàng Thái tổ Đức tông Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương thánh tổ Nam thiên Đại bảo Đức tông Thánh vương.

  1. Hùng Hiền Vương
    Khảm chi

Tên húy là Sùng Lãm. Tại vị 269 năm, thọ 506 năm, sinh ngày 5 tháng 5 năm Bính Thìn. Sau ngày 9 tháng 1 hóa sinh về biển làm đế chủ Thủy Tiên Động Đình Long Quân. Hiền Vương lấy nàng Ẩu Cơ Âu Lạc, là con gái thứ của Đế Lai, ở tại núi Nghĩa Lĩnh, sinh một bào trăm trứng, nở ra điều lành trăm trai hoàng tử. Là thủy tổ của Bách Việt, nước Văn Lang, từ lúc sơ khai mở thánh tạo dựng cơ đồ.
9 cung phi sinh 118 hoàng tử, 19 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 137 chi, sinh cháu chắt 3599 người. Cai trị đất nước có khí trời báu vật tài thần, thiên hạ xưa nay không có, sinh trăm vương tử trị một nước trăm vùng chiếm giữ làm trăm họ.
Hùng Hiền Vương Cao hoàng Thái tổ Quốc tông Quang hưng Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Đại bảo Tiền hoàng đế Khai quốc Hồng đồ Nam triều Thượng thánh Tiền đại Đế vương Thánh vương.

  1. Hùng Quốc Vương
    Chi Cấn

Tên húy là Lân Lang. Tại vị 217 năm, thọ 767 năm, giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 năm Canh Ngọ, cùng sinh trăm vương năm Canh Ngọ. Sau trăm vương cùng hóa vào giờ Thìn ngày 12 tháng 3. Các vị cùng tụ họp tại điện, 50 vương theo cha, 50 vương theo mẹ. Tương hợp can Tí Ngọ. Quốc Vương là chủ của trăm vương, truyền 18 vua trị nước.
12 cung phi sinh 33 hoàng tử, 18 công chúa, sinh con trai cả là Nghĩa Vương tiếp ngôi cai quản cơ đồ. 51 chi, cháu chắt 900. Giữa ban ngày lên trời hóa sinh bất diệt vào giờ Ngọ ngày 5 tháng 5, lên đỉnh núi, ngự trên mây năm sắc, bay lên không, hóa thần, vạn năm phụng sự.
Hùng Quốc Vương Thượng thánh tông Nguyên triều hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Thánh tổ Hùng Vương Nam Thiên thượng thánh Tiền hoàng đế khai quốc hồng đồ Đột Ngật Cao Sơn cổ Việt Hùng thị nhất thập bát thế thánh vương.

  1. Hùng Nghĩa Vương
    Chi Chấn

Tên húy là Bảo Lang. Tại vị 300 năm, thọ 546 năm. Sinh giờ Mão ngày 6 tháng 1 năm Tân Mùi. Sau giờ Ngọ ngày 5 tháng 5 hóa là tiên, sinh bất diệt, thành Kim Tiên Thượng Giác, ở nơi cung ngọc, cai quản ba ngàn chúa tiên. Sinh con trưởng là Hy Vương tiếp ngôi truyền 8 vương trị vì.
14 cung phi của vua sinh 49 hoàng tử, 20 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 69 chi, cùng với cháu chắt 1591 người. Thời vua trị vì thiên hạ, thần dân trăm họ không chịu tô cao, không động đao binh, trọng sản xuất nông tang làm căn bản, bốn biển giàu có, thiên hạ vững mạnh. Mỗi suất người dân nộp 36 đồng tại điện.
Hùng Nghĩa Vương Thần tông Ân trạch Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Viễn Sơn Thánh vương Ân trạch Phổ huệ Thánh vương.

  1. Hùng Hi Vương
    Chi Tốn

Tên húy là Viên Lang. Tại vị 200 năm, thọ 599 năm. Sinh ngày 15 tháng 2 năm Đinh Mão, hưởng được tới ngày 20 tháng 5 thì mất. Sinh con trưởng là Diệp Vương, tiếp ngôi truyền 5 vua trị vì.
36 cung phi của Vương sinh 52 hoàng tử, 9 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 61 chi, sinh cháu chắt 1600 người. Thời Vương cại trị hưởng thái bình, dân không dối trá, thiên hạ vững mạnh, quân binh giữ yên. Theo như lệ trước. Mỗi suất đinh nộp 36 đồng.
Hùng Hi Vương Cao tông Trợ thắng Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Ất Sơn Thánh vương Trợ thắng Công bình Hoàng đế.

  1. Hùng Diệp Vương
    Chi Ly

Tên húy là Pháp Hải Lang. Tại vị 81 năm, thọ 580 năm. Sinh ngày 18 tháng 5 năm Mậu Tí. Hóa về trời ngày 7 tháng 1. Sinh con cả là Huy Vương.
48 cung phi của Diệp Vương sinh 32 hoàng tử, 19 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 52 chi, cháu chắt 699 người. Vương trị thiên hạ tuân theo phép trước, nộp 36 đồng tiền. Do Vương cầu trời dùng lễ dối, quần thần dèm pha, trời sinh giặc phương Bắc xâm lược.
Hùng Diệp Vương Bảo tông Minh vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Bách Việt thần linh Nam thiên Đại bảo Nhân viên Minh vương Thánh vương.

  1. Hùng Huy Vương
    Chi Khôn

Tên húy là Long Tiên Lang. Tại vị 200 năm, thọ 692 năm. Sinh ngày 10 tháng 10 năm Tân Dậu. Sau vào ngày 15 tháng 7 hóa sinh ở trung điện thành tiên bất tuyệt. Lấy nàng Ngọc Tiêu ở Đảo Sơn làm hoàng chính phi, sinh con trưởng là Ninh Vương, tiếp vị truyền 5 vua trị vì.
Huy Vương truyền 7 vua trị vì. 60 cung phi sinh 23 hoàng tử, 36 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 59 chi, sinh cháu chắt 750 người. Thời Vương trị vì, thiên hạ thái bình, chư hầu thành phục, nhân dân không có trộm cướp, giặc giã, không thu thuế cao, mỗi suất đinh dân nộp ngân khố 18 đồng.
Hùng Huy Vương Thái tông Nhân minh Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hiển đức Nhân minh Quang thiên Phổ hoá Thánh vương.

  1. Hùng Ninh Vương
    Chi Đoài

Tên húy là Thừa Vân Lang. Tại vị 100 năm, thọ 642 năm. Sinh ngày 15 tháng 7 năm Nhâm Thìn. Về trời ngày 11 tháng 10. Sinh con trưởng là Chiêu Vương, tiếp ngôi truyền 5 vua trị vì.
29 cung phi của Ninh Vương sinh 31 hoàng tử, 16 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 47 chi, sinh cháu chắt 579 người. Trị thiên hạ thái bình, dân đinh nộp mỗi suất 24 đồng tiền vào ngân khố.
Hùng Vĩ Chiêu Vương Hiển tông Duệ trí Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thánh văn Thần võ Duệ trí Chí đức Vương.

  1. Hùng Chiêu Vương
    Chi Giáp

Tên húy là Quốc Tiên Lang. Tại vị 80 năm, thọ 602 năm. Sinh ngày 12 tháng 8 năm Quý Tị. Về trời ngày 10 tháng 4. Uy Vương là con trưởng nối ngôi.
46 cung phi của Vương sinh 30 hoàng tử, 9 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 42 chi, sinh cháu chắt 559 người. Trị thiên hạ thái bình. Dân đinh theo vua trước nộp 36 đồng vào ngân khố.
Hùng Chiêu Vương Minh tông Thần công Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thích long Nghĩa Lĩnh Thần công Dũng lược Thánh vương.

  1. Hùng Uy Vương
    Chi Ất

Tên húy Hoằng Hải Lang. Tại vị 90 năm, thọ 512 năm. Sinh ngày 15 tháng 11 năm Giáp Ngọ. Về trời ngày 6 tháng 11. Sinh Trinh Vương là con trưởng nối ngôi, truyền 3 vua trị.
40 cung phi của Vương sinh 29 hoàng tử, 30 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 59 chi, sinh cháu chắt 434 người. Trị thiên hạ bốn biển, dân đinh theo lệ triều trước nộp khố 36 đồng tiền.
Hùng Uy Vương Hùng tông Xuân vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hùng đức Chiêu nhân Quang hiếu Xuân vương Thánh vương.

  1. Hùng Trinh Vương
    Chi Bính

Tên húy là Hưng Đức Lang. Tại vị 1 07 năm, thọ 5 14 năm. Sinh ngày 13 tháng 8 năm Canh Tuất. Về trời ngày 2 tháng 1. Sinh Võ Vương là con trưởng nối ngôi truyền 4 vua trị.
36 cung phi của Vương sinh 46 hoàng tử, 18 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 64 chi, sinh cháu chắt 409 người. Trị nước an bình, thần dân trăm họ không chịu thuế cao, không bị quân binh chiếm cứ. mỗi suất 9 đồng nộp khố.
Hùng Trinh Vương Đức vương Minh bảo Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hiển liệt Thánh trí Thai yết(?) Minh bảo thánh vương.

  1. Hùng Võ Vương
    Chi Đinh

Tên húy là Hiền Đức Lang. Tại vị 96 năm, thọ 496 năm. Sinh ngày 14 táng 4 năm Bính Thân. Về trời ngày 15 tháng 11. Sinh Việt Vương là con trưởng truyền 3 vua trị.
35 cung pho của Vương sinh 50 hoàng tử, 6 công chúa , dòng dõi hoàng tôn 56 chi, sinh cháu chắt 305 người. Trị nước thanh bình, trăm nhà đều phục. Mỗi suất đinh nộp khố 6 đồng tiền.
Hùng Võ Vương Thánh tông Thượng giác Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hoàng Đại giác Thần trí Thánh vương.

  1. Hùng Việt Vương
    Chi Mậu

Tên húy là Tuấn Lang. Tại vị 105 năm, thọ 502 năm. Sinh ngày 10 tháng 10 năm Kỷ Hợi, Về trời ngày 15 táng 11. Sinh Định Vương là con trưởng truyền 5 vua trị.
31 cung phi của Vương sinh 27 hoàng tử, 30 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 57 chi, sinh cháu chắt 541 người. Trị nước thái bình, dân không dối trá. Mỗi suất đinh nộp khố 100 đồng.
Hùng Việt Vương Huy tông Quang phúc Hoàng đế.
Mỹ tự truy phong
Hùng Vương Thiên tâm Quang phúc Vương tướng Linh ứng Thánh vương.

  1. Hùng Định Vương
    Chi Kỷ

Tên húy lầ Chân Nhân Lang. Tại vị 99 năm, thọ 386 năm. Sinh ngày 17 tháng 5 năm Bính Dần. Về trời ngày 25 tháng 10. Sinh Triều Vương là con trưởng truyền 3 vua trị.
18 cung phi của Vương sinh 18 hoàng tử, 22 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 40 chi, sinh cháu chắt 309 người. Trị nước thái bình, bốn phương yên tĩnh, dân đinh nộp thuế 1 bách tiền vào khố.
Hùng Định Vương Tông quốc Bảo hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Quốc bảo Tuyên đức Thần công Thượng trí Thánh vương.

  1. Hùng Triều Vương
    Chi Canh

Húy Cảnh Triều Lang. Tại vị 94 năm, thọ 286 năm. Sinh ngày 4 tháng 1 năm Quý Sửu. Sau về trời ngày 9 tháng 9. Sinh con trưởng là Tạo Vương tiếp ngôi truyền 3 vua trị.
60 cung phi của Triều Vương sinh 40 hoàng tử, 16 công chía, dòng dõi hoàng tôn 56 chi, sinh cháu chắt 396 người. Trị nước thiên hạ thái bình. Dân đinh mỗi suất nộp 18 đồng vào khố.
Hùng Triều Vương Nhân tông Quang đức Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Nhân chiêu Quang đức Thần trí Đại nguyên Thánh vương.

  1. Hùng Tạo Vương
    Chi Tân

Tên húy Đức Quân Lang. Tại vị 92 năm, thọ 273 năm. Sinh ngày 15 tháng 12 năm Kỷ Tị. Sinh con trưởng là Nghị Vương, truyền 3 vua trị.
26 cung phi của Tạo Vương sinh 30 hoàng tử, 7 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 37 chi, sinh cháu chắt 390 người. Trị nước thái bình, trăm họ thần dân giàu đủ, đinh mỗi suất 200 đồng tiền nộp khố.
Hùng Tạo Vương Nghị tông Thiên bảo Quang triều Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thánh tổ Nam Thiên Đại bảo Tiên triều Thánh vương.

  1. Hùng Nghị Vương
    Chi Nhâm

Tên húy là Bảo Quang Lang. Tại vị 160 năm, thọ 217 năm. Sinh ngày 15 tháng 8 năm Ất Dậu. Về trời ngày 11 tháng 8. Sinh con trai cả là Duệ Vương truyền 4 vua trị.
39 cung phi của Vương sinh 22 hoàng tử, 15 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 37 chi, sinh cháu chắt 291 người. Triị nước lâu dài tốt đẹp, dân đinh mỗi suất nộp 300, ruộng mỗi đầu thuế 10 đồng. 50 đinh lập 1 đội binh.
Hùng Nghị Vương Thụy tông Nam triều Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Hoàng bảo Thánh tổ Nhân hoằng Huệ đức Thánh vương.

  1. Hùng Duệ Vương
    Chi Quý

Tên húy là Huệ Đức Lang. Tại vị 115 năm, thọ 227 năm. Sinh ngày 3 tháng 3 năm Canh Thân. Sau vào ngày 5 tháng 5 hóa sinh cùng với con rể là Tản Viên Sơn, ban ngày lên trời, trên thượng điện thành tiên, sinh sinh bất tuyệt diệt, tung tích vạn cổ, là thánh vương thiên vương tối linh, kiêm đứng đầu thượng đẳng bách thần. Truyền 5 con trại cai trị. Đầu tiên truyền cho con trưởng là Kính Vương tiếp ngôi, trị được 3 năm thì mất. Sau truyền ngôi cho con thứ là Cảnh Nhiếp Lang, thống trị được 10 năm thì mất. Lại truyền cho cháu được 3 năm tại vị cũng mất. Vương truyền cho con rể Tản Viên giữ ngôi, theo mệnh vua cha mà ban lệnh chế, quyền định thiên hạ, trị vì được 10 năm. Cha con đồng tầm muốn thành tiên, giác ngộ phép thần thông, hưởng vạn năm thiên tiên bất diệt. Nên mới nhường ngôi cho Thục An Dương Vương, cũng là cháu chắt dòng dõi Hùng Vương, tông phái của hoàng đế trước đây, là cháu 19 đời của bộ chủ phụ đạo. Duệ Vương có 100 cung phi, đam mê tửu sắc, sinh 20 hoàng tử, 6 công chúa, dòng dõi hoàng tôn 26 chi, sinh cháu chắt 194 người. Đến lúc vận cáo chung họ Hùng, 10 nam 4 nữ đều mất, không có con nối dõi. Còn 2 nữ, một là Mị Châu Tiên Dung công chúa lấy Trử Đồng Tử, thành tiên bất diệt. Một là Mị Nương Ngọc Hoa công chúa, lấy Tản Viên Sơn Tinh, nhận ngôi là con rể, một vị vua tốt, trị nước được 10 năm thì nhường ngôi lại cho Thục An Dương Vương. Duệ Vương cùng Tản Viên Sơn cha còn cùng một ngày thành tiên, hóa sinh bất diệt, vạn thế xưa nay không từng có, là những bậc đại thánh minh quân của thiên hạ.
Từ đầu tính nước họ Hùng 18 đời truyền ấn phù quốc gia, 180 đại đế vương lên ngôi, nhất thống núi sông, xe sách trị nước, kiến dựng 120 thành điện.
Hùng Duệ Vương Thiên tông Minh vương Hoàng đế
Mỹ tự được truy phong
Hùng Vương Thần linh Hải đức Minh vương Nam triều Thánh vương.

Như vậy cộng các năm trị vì, 18 đời thánh vương di truyền, thánh tử thần tôn, triều đại đế vương, hưởng ngôi cộng là 2655 năm, thọ 8618 năm, sinh 986 chi hoàng tôn công chúa, sinh cháu chắt cộng là 14.370 người, trị ở nước Nam, đầu núi góc biển, vạn thế trường tồn, mãi mãi không ngừng.

THƯỢNG THẦN CUNG ĐIỆN
Viễn Sơn thánh vương (bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Hiển linh Thống thủy Điện an Hoằng tế Phổ hóa Minh túc Hậu ứng Quảng Huệ Uy hàm Diễn đức công Thánh vương (bài vị giữa)
Ất Sơn Thánh vương (bài vị phải)

TRUNG THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
Đột Ngật Cao Sơn Cổ Việt Hùng thị thập bát thế thánh vương (bài vị giữa)
(bài vị phải) 

HẠ THẦN CUNG ĐIỆN
(bài vị trái)
(bài vị giữa) Tên hiệu cũng giống như Trung Thần Cung
(bài vị phải) 

Ngày 15 tháng 1 năm Thiên Phúc thứ nhất. Thuộc thư ký Lê Đại Hành.

 

 

Vân Hương Tiên chủ thánh mẫu hành thuật tán văn

20190203_190706.jpgQuần tiên lục bàng cầu dật tích
Nữ trung tiên biến biến lưu phương
Phục giáng tuyết đảo huyền sương
Ly sơn lưu mạch dư hàng nhưỡng hoa.

Cao hoá đạo thừa nga ly tục
Hoa sơn đầu giá lộc thăng thiên
Du du nhất khứ nhi tiên
Kỷ hội tung tích lưu truyền tại nhân.

Cố vị hữu nhất thân kim cổ
Nữ nhi tiên nhi chủ nhi thần
Chỉ duyên hiếu thuận toàn chân
Cảm thiên chí đức động nhân chí thành.

Cố vạn thế tinh linh bất diệt
Dữ sơn hà nhật nguyệt vô biên
Lục kỳ tế duyệt di biên
Địa chung Thiên Bản sự truyền Vân Hương.

Duy tiên chủ Ngọc Hoàng chi tử
Thị quỳnh diên ngẫu truỵ ngọc bôi
Giáng sinh phụng mệnh khâm tai
Văn minh chi địa tài bồi chi gia.

Ngôi sơn hạ vân hoà thảo tĩnh
Hoà đao gia phúc khánh môn my
Hương phong thuỵ khí tiêu kỳ
Ngọc kim lệ chất ưng kỳ đĩnh sinh.

Thiên phú tính thông minh quả thất
Đàn nhi thi âm luật tinh thông
Ngâm thành xuân hạ thu đông
Thiên nhiên đại lã hoàng chung ca từ.

Quảng Hàn điện nhất chi đan quế
Nhất di tài thiên lý văn hương
Trần gia thư viện liên phương
Hoa di tín báo Đào lang duyên hài.

Nhất đế sở giáng lai tinh khách
Nhất thiên cung bất trích tiên nhân
Sắt cầm cộng khế túc nhân
Tam gia tình hảo lục thân hoan thừa.

Loại vĩnh tích tường trưng lân chỉ
Tam chu tinh song kỷ thái chiêm
Mộ xuân nhật trị trùng tam
Ngọc đình phản mệnh châu liêm không thuỳ.

Tuy linh sảng dĩ quy thiên thượng
Niệm thâm tình do hướng nhân gian
Hô ta hạc phát đà nhan
Cù lao vị báo thần hôn vị thù.

Canh hu ta cữu cô nhật dạ
Bão nhi tôn nan tả hoài tư
Hu ta lưỡng cá anh nhi
Vị chu tam tuế dĩ ly mẫu hoài.

Báo hu ta nhi hài thân lão
Đồng tâm nhân cầm tháo ly loan
An năng tương bạn tiên đàn
Tôn thư tả mại hạ sơn trợ bần.

Hựu an đắc tịch thần lai vãng
Mã thị canh nhật thượng thân tiền
Kỷ hồi yến hội quần tiên
Hồng bào vũ thấp kim điền châu linh.

Chư tiên nữ liên tình vy tố
Phụng sắc phong công chủ giáng trần
Biệt lai thúc hốt lưỡng xuân
Đại tường thích chí từ thân lai phòng.

Liêm cao quải vãn phong phi phất
Hộ trưởng quynh tà nhật tịch liêu
Bích gian chu chức ngọc tiêu
Trần phong kính hạp hương tiêu bút đài.

Sơ đổ vật bồi hồi hạt ký
Hốt tư nhân đảo truỵ nan cấm
Ninh tri chủ dĩ lai lâm
Ngọc câu bão khởi loan âm tiến từ.

Vị đốt đốt nữ nhi tại thử
Nguyện mẫu thân vô sự tương tư
Tĩnh khán hỷ hỷ bi bi
Ngô nhi hà xứ hà thì đắc lai.

Tín tức hạ trúc mai nhất thất
Hàn huyên trung giao tất lưỡng tình
Thuỷ tướng tâm sự đề minh
Trần hoàn trích mãn đế đình triệu quy.

Niệm cúc dục mẫn tư vị báo
Cố kim tư ngôn cáo quy ninh
Tam hồn tuy tạm hồi sinh
Dĩ phi cửu phách nan đình thử gian.

Gia nương cộng tiên ban danh liệt
Nhật hạ hoàn kim khuyết tương phùng
Vạn thuyền bất tận hung hung
Hốt gian hạc dĩ đằng không hà thì.

Lương nhân hà biệt ly thử hậu
Thiết hài nhi tuỳ phụ thượng kinh
Cô trai nhật nhật thường quynh
Sầu đôi kinh tứ muộn sinh văn phòng.

Thu dạ tĩnh hàn song vũ chích
Cảnh như liêu lữ khách tàn hồn
Bão sồ ám phất mỗi ngân
Cảm hoài nhị tuyệt thất ngôn ngẫu thành.

Đê ngâm bất cảm thanh văn ngoại
Bão tất không toạ đối tàn lê
Hốt văn thanh khấu sài phi
Khai môn địch diện vãn y hân tình.

Ty nhân hạnh thử sinh đa phúc
Phối dao tư tử dục thân hoan
Na kham giáp trướng sương hàn
Thiên biên lạc nhạn vân gian phi hoàng.

Kim bất tưởng tha hương tái ngộ
Nguyện tương thung dĩ phó khát trần
Văn ngôn giải thuyết ân cần
Hồng trang ước đoản thanh vân lộ trường.

Huống thượng hữu cao đường trĩ tử
Phủ dục kiêm ngưỡng sự vị hà
Tam sinh ân ái do đa
Giai kỳ bất viễn tinh hà tái đông.

My án thượng thung dung thiện đạo
Dĩ tu tề trung hiếu vy cương
Kinh thành liệu hoả lưu quang
Thần chung báo thự hiểu trang trí từ.

Niệm đường thượng nghiêm từ thần tịch
Vọng lang quân lân bích phân quang
Thiên thần hàn úc bất thường
Tình liên bán tử nghĩa thường tam sinh.

Thuyết bất tận đinh ninh chúc phó
Hoảng hốt gian giá vụ đằng vân
Thung tư hiển thánh ẩn thần
Sơn phong phượng giá hải tân kình xa.

Hữu thì tác lão bà khai tứ
Hữu thì vy nữ tử xuy tiêu
Y thuỳ hý mạn ương chiêu
Y thuỳ thành kính đảo cầu tất linh.

Thì kim bạch gia đình phụng sự
Vãng lai trung lịch kỷ xuân thu
Sinh thành đại đức dĩ thù
Lương nhân tuỳ diệc chân du hữu kỳ.

Tất hạ lưỡng thượng di tiên chủng
Y gia huynh diệc cộng hữu thành
Trần duyên tiệm giác khinh khinh
Vân du tứ hải phóng tình phiêu nhiên.

Lịch lãm tận sơn xuyên danh thắng
Lượng sơn lai nhất tịnh phù đồ
Thập phân cảnh trí ưu du
Tùng thương tế nhật mai cù ngạo sương.

Hương hoả dĩ thê lương kỷ lịch
Cổ chung hoàn tịch mịch đa niên
Bà tâm phủ cảnh tam thiền
Tùng biên kỷ khúc khấu huyền độc ca.

Hốt môn ngoại khách hà nhân giả
Ủng tiết mao tuấn mã lai tiền
Biến văn tả cảnh sổ liên
Khách tài xướng khởi chủ liên đáp từ.

Văn ưng đối ninh tri kính phục
Khấu lai do tướng dục vấn tân
Khách phương phủ thủ liễm thân
Đài đầu hốt dĩ vọng trần vô do.

Già lam lý tứ chu phản phúc
Lâm kính gian nhất mộc đáo hoành
Tự đề mão khẩu phân minh
Mã băng dĩ tẩu bàng kình chu tiêu.

Nhân tự ý tam cầu áo nghĩa
Mão khẩu gia mộc thị thần phong
Mã băng hợp thể thị phùng
Dĩ tẩu thị cáo khởi công tu hoàn.

Khách nguyên thị Khắc Khoan Phùng tính
Bắc sứ nhân phụng mệnh đồ kinh
Tế tư thần ý đinh ninh
Chi viên xướng tạo sử trình vịnh lưu.

Tiên tích biến chu du đề vịnh
Đế vương cư phục hạnh Đông đô
Trường An thành ngoại danh khu
Đông tân ngoạn nguyệt Tây hồ thưởng liên.

Phồn hoa xứ vô duyên nan ngộ
Du thưởng nhân đắc lộ y thuỳ
Phùng công tứ mẫu ngôn quy
Khanh tào thăng nhậm lại ty yếm phiền.

Nhân đới lưỡng đa niên thi khế
Sấn huân phong tu hễ hồ Tây
Phong quang đáo xứ phẩm đề
Nang thu thắng thưởng tụ huề kỳ hương.

Bộ nhất bộ đốn vong trần luỹ
Hành phục hành tiệm chí tiên châu
Hoè âm thâm xứ tửu lâu
Hoa lan tráp trúc hoàng lưu nhưỡng bồ.

Hoành biển tả Tây hồ phong nguyệt
Thập tự liên đối yết lưỡng doanh
Sơ liêm quải hạ ngọc quynh
Hồng y nương tử ỷ bình xuy tiêu.

Khách thi lễ nguyện cầu hưu giả
Chủ trí từ nhất toạ hà phương
Thi thần tửu thánh nhất đường
Quan ngư tục vận hựu trường liên ngâm.

Đông bích thượng nghiên tầm đề thoại
Hoạch lâu tiền thính tiên cuồng ca
Linh tâm tuệ tính lương đa
Nhất thì khuất đại gia kinh hoàng.

Tây lĩnh dĩ tà dương ảnh xạ
Khách trình thừa nguyệt dạ quy lai
Đào nguyên tái phỏng hậu hồi
Mang mang hồ thuỷ lâu đài toàn phi.

Hoè thượng thính mãn chi thiền táo
Thụ gian lưu lưỡng đạo triện đề
Tĩnh quan thi cốt thanh kỳ
Cựu du đốn ngộ tích thì phùng tiên.

Phùng công du du nhiên tưởng khởi
Thuyết đương niên phụng sử đồ trung
Phương tri không sắc sắc không
Thần tiên phi ảo tao phùng hữu duyên.

Tiên chủ tự Trường An biệt hậu
Nghệ An thành phục đáo sóc hương
Thanh sơn bích thuỷ thảng dương
Tử hồng hoa tín sinh hoàng điểu thanh.

Thích hữu nhất đình đình giai sĩ
Nhật vãn thung sơn lý xuất thân
Nguyên lai khế khoát tiền nhân
Tình duyên vị liễu hạ trần tái sinh.

Thể mạo tỷ thuỷ thanh ngọc nhuận
Khâm hoài đồng nguyệt ấn thuỷ hàn
Niên hoa phủ cập dịchquan
Tài cao bát đẩu học đàn ngũ xa.

Bất hạnh tảo liệu nga lưu thế
Thất như huyền kháng lệ vị hài
Thử gian học quán trung lai
Ninh tri lộ nhập thiên đài hoát đầu.

Sắc giới cẩn nan hào tố chí
Kỳ phùng lâm bất ký tiền duyên
Tha thì trùng quá sơn biên
Đào gian thích kiến hồng tiên lưu đề.

Lãng tụng quá đê mê trù trướng
Thán dị tài bất nhượng cổ nhân
Đa tri hậu ý ân cần
Tả biên thứ vận hiệu tần liên thư.

Bút nhất trịch thân như mộng giới
Dục tương thung tranh nại mạt do
Lạc huy ám xúc quy đồ
Nhất phiên phong vũ tam thu tình hoài.

Thâm viện tĩnh tần hạc ngâm hưng
Tình thiên khai tái đính tiền trình
Thi tiên y cựu đan thanh
Ngọc nhân bất kiến vy tình lương nan.

Sinh độc toạ bàn hoàn bất tận
Ngâm tái ngâm thi vận thiêm tân
Thuỳ tri thanh khí tương thân
Kim thanh vị khuyết ngọc chân dĩ truyền.

Vân nham lý kim liên từ động
Thạch kỷ trung thương phượng chiêm từ
Tái sinh cựu ước bất khi
Thiên công tác chủ địa kỳ vy môi.

Tử gia vãng kính tai thủ chức
Khuê môn tu tứ đức kiêm toàn
Xướng thù nguyệt hạ hoa gian
Kê minh tối kính thư quan dương hoà.

Hùng mộng ưng thừa gia vọng uỷ
Long môn đăng thệ sĩ tâm thù
Công đường dạ trị thâm thu
Kim lôi đối chước hương lô tịch hàn.

Chủ hạ giác tiềm thoan lệ tấn
Sinh thất kinh vấn tấn tình đầu
Tần my hân tận tiêu háo
Ngọc bôi vãng sự bích đào tiền duyên.

Lai hoàn vãng tự thiên tố định
Hợp nhi ly phủ cảnh nan bài
Hứa đa khoản khúc bồi hồi
Gia đan thuỳ cộng nhi hài hà y.

Sinh kiến thuyết hư hy lưu luyến
Chủ tuỳ phương giải khuyến thung dung
Tam canh lậu chích đồng long
Đái nhi bái biệt thượng không phi tường.

Môn ngoại hoảng du dương tiên nhạc
Thiên trung do thác lạc hồng vân
Hàn lâm tự cách tiên trần
Tích sầu vạn hộc thương thần liên chương.

Thân tuy tại ngọc đường kim mã
Chí không tuỳ hạc giá loan xa
Bệnh hài tảo thoát hoạn ba
Đào lâm cựu xứ yên hà thê thân.

Thị hạ tử thành nhân kế nghiệp
Thiên thượng nhân vọng khiếp tâm khoan
Chủ tòng quy thị ngọc ban
Nam du nhạc bĩ thiên nhan phán truyền.

Thừa thanh vấn phủ tuyên đan khổn
Công án hoàn tư dĩnh vị vong
Duy kỳ trắc giáng vô thường
Đạo dao tự tại dĩ thường túc duyên.

Phụng Ngọc Đế bệ tiền duẫn chỉ
Đới tiên nương nhị vị đồng hành
Dao chiêm thuỷ tú sơn thanh
Thanh Hoa Phố Cát hiệp linh lâm trần.

Diệu pháp lực thánh thần hiển hiện
Hoạ dâm nhi phúc thiện bất si
Nhất phương thâu phúc khổng giai
Tuế thì ca vũ lâu đài nguy nga.

Hoặc hữu chỉ vy tà đạo giả
Thỉnh triều đình triệt hạ linh từ
Vương uy thuỳ cảm trì vy
Khởi tri tiên pháp tối kỳ tối linh.

Tự linh điện nhất kinh hoang phế
Thử phương dân dịch lệ lưu hành
Ngưỡng thừa giáng kỳ phân minh
Cựu từ bất khởi sinh linh vô tồn.

Văn thần mệnh hương thôn lôi động
Khấu đế hôn đại chúng đồng từ
Cửu trùng phủ sát dân y
Mã Hoàng phong sắc miếu từ trùng tân.

Nhưng hoài nhất phương dân phụng sự
Hữu sự cầu nhẫm trước anh linh
Bình Nhung mặc trợ thiên binh
Đại vương đăng trật miếu đình tăng tu.

Chí kim biến hoàn khu hương hoả
Tiên phủ giai phật toạ đồng tôn
Linh thanh bá mãn càn khôn
Bảo dân hộ quốc công tồn thiên thu.

Phàm tiên tích cựu du thử địa
Vưu hiển linh trước dị bội thường
Ích do hiếu thuận can trường
Kim cương bất hoại tang thương đẳng nhàn.

Tự bất tất kim đan chử bạch
Tự bất hối ngọc dịch thiêu hồng
Tự năng thượng hạ thiên cung
Tự năng Ngọc nữ Kim đồng vãng lai.

Năng biến hoá đan đài tử phủ
Năng đạo dao ngọc vũ quỳnh lâu
Năng linh vũ tán vân thu
Năng tuần hổ báo, năng khu long xà.

Năng hoạ sát dâm tà ác loại
Năng phúc sinh hiếu nghĩa thiện nhân
Năng linh si mị tiềm thân
Năng linh bát bộ quỷ thần kính khâm.

Năng tiêu tán trùng âm hắc khí
Năng khoát khai đại địa hôn cù
Thượng năng dực tán hoàng đồ
Hạ năng bảo hữu minh đô thanh bình.

Dực Chẩn hạ hà thanh hải yến
Ngôi sùng gian địa viễn thiên trưởng
Tán văn cẩn thuật nhất chương
Nguy nguy đại đức hoàng hoàng hữu lâm.

Chiêm thiên ngưỡng thánh vô nhậm!

Sự sinh thành Bách Việt qua Ngọc phả Hùng Vương

Bài viết trong Tọa đàm TÌM VỀ CỘI NGUỒN SỬ VIỆT do Trung tâm Minh triết và Trung tâm Lý học phương Đông tổ chức ngày 7/9/2019.

Thời đại Hùng Vương được biết tới trong các ngọc phả, thần tích và truyền thuyết nên việc nghiên cứu về thời kỳ dựng nước của vua Hùng không thể không khảo sát một cách đầy đủ các ghi chép này. Ngọc phả Hùng vương là bản văn được những người có tâm đủ tầm thu thập trong dân gian và biên tập lại để lưu truyền. Đây là trường hợp đặc biệt của Việt Nam sau cả ngàn năm mất nước tức thời kỳ đứt đoạn không liên thông với quá khứ, Ngọc phả là những thông tin cô đọng, khách quan nhất mà tổ tiên người Việt muốn truyền đạt lại cho thế hệ sau.
Với sự trân trọng yêu quý vô cùng quá khứ gian khó mà tiền nhân đã trải qua, trong thời văn minh hiện đại chỉ với chút thông tin lịch sử lưu truyền quý giá ngày nay có thể so chiếu với nhiều thành tựu trong những lĩnh vực khoa học liên quan mà hiệu chỉnh. Rồi đây chắc chắn có ngày con cháu sẽ có được bộ sử chân xác của nòi giống.
Bản Ngọc phả Hùng Vương có ký hiệu R.285 do GS. Ngô Đức Thọ nộp lưu tại Thư viện quốc gia có tựa đề: Đại Nam Hùng Vương Sơn thánh tổ tiền thái tổ Cao Hoàng đế ký truyn ngọc phổ cổ tích lưu lai. Dịch là: Tích xưa lưu lại của Ngọc phả chép truyền Tiền Thái tổ Cao Hoàng đế Hùng Vương Sơn Thánh tổ nước Đại Nam.
Đây là một bản sao của cuốn Ngọc phả được lưu ở đền Hùng, soạn bởi Hàn lâm viện trực học sĩ Nguyễn Cố vào năm Hồng Đức thứ nhất (1470). Ngay trang đầu tiên của Ngọc phả đã đề đôi câu đối tương truyền của chúa Trịnh viết:
Vấn lai dĩ sự tu vi sử
Tế nhận như đồ dục ngâm thi.
Dịch:
Hỏi chuyện đã qua nên đọc sử
Tinh tường như vẽ muốn ngâm thơ.
Ý của câu đối rất rõ, bản Ngọc phả này chính là “sử”, muốn biết về quá khứ người Việt thì phải đọc cuốn “sử” này, mọi chi tiết đều tinh tường cả.

van-lai.png

Ngọc phả Hùng vương kể, sau khi Lạc Long Quân (gọi là Hiền Vương) lấy nàng Âu Cơ đã sinh ra một bào ngọc, được đặt trên mâm vàng tại núi Thứu Lĩnh. Lúc bào thai nở thành một trăm người con trai có Tứ đại Thiên vương hóa gió mưa sấm chớp tới bảo hộ. Khi các hoàng tử lớn lên lại được Bát bộ Kim cương các thần tướng tới giúp, tặng cho các bảo vật. Trăm hoàng tử đều có thần tài thánh trí. Các quan triều đình lúc ấy cũng không ai có thể phân biệt được người anh minh quyết đoán hơn, khó đặt được danh thần tên xưng. Nhà vua bèn lập đàn cầu trời thì được ứng nghiệm, có một lão tiên ông giáng hạ ở bến sông Việt Trì.
Vua hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Lão ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốn đặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần âm dương, gọi tên các phép tiên…
Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai.
Nhờ cuốn Thiên thư (Sách trời) này mà Vua đã xác định được vị hoàng tử trưởng, lập làm thái tử. Còn lại 99 người anh em đều được đặt tên xưng danh là các vị Lang.
Xem tới đây ta mới hiểu ý nghĩa của “Thiên thư” – Sách trời trong cổ văn xưa. Sách trời phân định ở đây không phải là sách sử của Trung Quốc như vẫn nghĩ. Một đôi câu đối tại đền Hùng trên núi Nghĩa Lĩnh nói về Thiên thư và Bách Việt:
天書定分正統肇明都百粵山河知有祖
光岳協靈故宮成萃廟三江襟帶尚朝尊
Thiên thư định phận, chính thống triệu Minh đô, Bách Việt sơn hà tri hữu tổ
Quang nhạc hiệp linh, cố cung thành tụy miếu, Tam Giang khâm đái thượng triều tôn.
Dịch:
Sách trời định chốn, chính thống dựng Minh đô, núi sông Bách Việt biết có tổ
Núi tỏa linh thiêng, cung cũ lập miếu đền, một dải Tam Giang hướng về nguồn.

Theo Ngọc phả Hùng Vương, sau khi sắp đặt xong việc đặt tên cho các hoàng tử, Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Bắc, ba là Sơn Nam, bốn là Hải Dương, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Lạng Sơn Cao Bằng, mười ba là Quảng Đông Quảng Tây, mười bốn là núi Ngũ Lĩnh Vân Nam, mười lăm là Chiêm Thành, bộ chủ các xứ.
Nước 15 bộ, là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Trinh, Nhật Nam, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang.
Thông tin về cương vực quốc gia lúc này thật đặc biệt. Phạm vi quốc gia gồm 15 xứ, trong đó ngoài những khu vực ở miền Bắc (Sơn Tây, Sơn Bắc, Sơn Nam, Hải Dương, Hưng Hóa, Tuyên Quang, Cao Bằng Lạng Sơn) và Bắc Việt (Ái Châu, Hoan Châu, Bố Chính, Ô Châu) ngày nay, lại còn có các vùng phụ thuộc:

  • Quảng Đông Quảng Tây
  • Ngũ Lĩnh Vân Nam
  • Ai Lao
  • Chiêm Thành.

Như thế cương vực quốc gia lúc này đã bao trùm toàn cõi Đông Nam Á (Ai Lao, Chiêm Thành) và kể cả vùng phía Nam Trung Quốc (Vân Nam, Quảng Đông, Quảng Tây). Dễ nhận thấy cương vực trên cũng trùng khớp với phạm vi bắt gặp của trống đồng thời Đông Sơn. Trống đồng là bằng chứng rõ ràng về một quốc gia tập hợp nhiều khu vực, đều do Hùng Vương làm chủ.
Ngọc phả Hùng Vương kể tiếp:
Vua mới phân định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu quý, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc…
Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc. Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng. Các vương tử gọi là Quan Lang. Các vương nữ gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính.
Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng… Đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Đó là thuỷ tổ của Bách Việt.
Ngọc phả Hùng Vương cũng như Truyện họ Hồng Bàng trong Lĩnh Nam chích quái đều nói rõ, trăm người con trai Hùng Vương ấy là thủy tổ của trăm giống Việt – Bách Việt. Bách Việt theo đó chia làm 2 dòng. Một dòng 50 người con theo cha về biển làm Thủy Tinh. Một dòng 50 người con theo mẹ về núi là Sơn Tinh. Điều này rất quan trọng khi xét nền văn hóa khảo cổ thời kỳ này ta thấy có 2 dòng văn hóa song song. Một là văn hóa đồ đồng đỉnh vạc, với đặc trưng trang trí Rồng của vùng phía Đông Bắc. Hai là văn hóa trống đồng, với họa tiết Chim là chủ đạo, của khu vực Tây Nam.
Ngọc phả Hùng Vương kể tiếp:
Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn…
Bấy giờ Vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương.
[Nguyên văn: Truy ân tiền liệt thổ phân đệ, nãi lập các bộ, Sơn tinh Thủy tinh, định vi tộc, cải vi bách tính, xưng vi bách quan, hiệu phong bách thần, phân liệt sơn đầu hải giác, hùng cứ nhất phương]

nhat-nguyet-tinh-than.png
Tiếp theo:
50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù mà truyền dẫn. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ đất đai, xác định cương giới. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Người chủ gọi là Bô (bố), bố gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ theo phụ giúp, khi đó đều là những người tài giỏi. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Các họ tông của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời coi giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, giữ mãi phương Nam.
Đoạn Ngọc phả này cho những thông tin cực kỳ quan trọng về thiên hạ Bách Việt từ Hùng Quốc Vương:

  • Cương vực của Bách Việt được chia phân thành các cõi, là các vùng đất ”bình phong”, chư hầu phiên thuộc. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Các vùng đất này được giao cho các anh em của Hùng Vương, các họ tông của các công thần khai quốc. Vùng nhỏ hơn thì cho các quan lang, thổ tù cai quản. Áp dụng hình thức thế tập cha truyền con nối để cai trị qua các đời. Nói cách khác đây chính là lúc bắt đầu hình thức phong tước kiến địa hay khởi đầu chế độ phong kiến trong lịch sử nước ta.
  • Vua Hùng ”định làm các tộc, đổi làm trăm họ”. Như vậy, cùng với việc đặt tên cho trăm hoàng tử, việc xác lập các dòng tộc và đặt họ theo cha cũng bắt đầu từ lúc này. Người Việt có trăm họ cũng là từ đây.
  • Vua Hùng ”đặt ra chức vụ trăm quan”. Tức là chế độ triều đình, lễ chế nhà nước được thiết lập, với hệ thống quan lại đầy đủ.
  • Vua Hùng ”phong tên cho trăm thần”. Cùng với thể chế triều đình, chư hầu, thời kỳ này còn khởi lập tín ngưỡng chính thức, xác lập những người có công, có đức mà phong làm thần để thờ phụng.

Ngọc phả Hùng Vương là bộ sử tóm tắt về thời kỳ dựng nước của người Việt. Những thông tin tiền nhân người Việt ghi nhận rõ ràng trong sử và sách lưu truyền lại đã xác định: Vào khoảng giữa thời kỳ Hùng Vương, nước ta đã bước sang chế độ phong kiến với mô hình vua Hùng làm chủ cả thiên hạ trăm cõi núi sông cùng hàng trăm các chư hầu phụ thuộc làm phiên dậu bình phong. Chế độ thế tập cha truyền con nối được áp dụng ở chính quyền trung ương cũng như ở các xứ chư hầu. Triều đình được tổ chức quy củ, có lễ nhạc với hệ thống trăm quan hoàn chỉnh. Nhân dân được đặt tên trăm họ. Xã hội được xác lập về tư tưởng – tín ngưỡng bởi tục thờ cúng tổ tiên. Cũng từ đó mà thiên hạ thái bình thịnh vượng. Đất đai Bách Việt bao trùm Đông Nam Á và Hoa Nam.
Thay cho lời kết, xin đọc đôi câu đối ở đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì, Phú Thọ:
數千年王佐始終父子君臣開拯點
十五部天分草埜山河日月共長存
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.
Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

 

 

Bạch Mã – Long Đỗ – Sĩ Nhiếp

Thần Bạch Mã được xếp là vị thần trấn Đông của kinh thành Thăng Long. Sự tích về thần tóm tắt như sau: Xưa Cao Biền sang nước ta xây thành Đại La, thần hiện lên xem, Cao Biền cho là yêu quái nên dùng bùa trấn áp. Thần bèn hiển ứng phá tan bùa yểm. Biền sợ phải quay về Bắc. Sau này Lý Thái tổ dựng đô, thần lại hiển linh chúc mừng, được phong làm Thăng Long Thành hoàng Đại vương. Thời Trần ba lần hoả hoạn mà không cháy đến đền.
Câu đối ở đền Bạch Mã Hà Nội:
馬駕自天來扶李抑高靈蹟古
龍編傳地勝襟蘇帶珥正祠尊
Mã giá tự thiên lai, phù Lý ức Cao linh tích cổ
Long Biên truyền địa thắng, khâm Tô đái Nhĩ chính từ tôn.
Dịch:
Giá ngựa từ trời qua, ngăn Cao giúp Lý dấu thiêng cũ
Long Biên truyền đất tốt, dải Nhĩ vạt Tô tôn chính đền.

Den Bach Ma.jpg
Đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, Hà Nội.

Tuy nhiên, Bạch Mã là vị thần nào thì hiện không thấy ai giải đáp. Cũng do không xác định được Bạch Mã là ai mà xưa đã từng có lúc đền Bạch Mã ở Thăng Long bị nhận thành nơi thờ tướng Hán Phục Ba là Mã Viện. Sự việc này được Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập bác bỏ như sau:
Đến mùa thu năm Giáp Ngọ, vô tình tôi được kiểm tra sách vở cũ, đọc được Việt điện u linh tập, trong đó ghi chép việc thờ phúc thần ở Việt Nam, mà thần ở chợ phía Đông của Đông Đô là Quảng Lợi vương, xưa hiển linh ở thời Cao Biền nhà Đường và khoảng triều Lý Thái tông. Về sau cứ đến dịp lễ đón xuân, tế trâu cầu phúc, đều tế ở đó. Hỏi thăm người già, thì nói: “Thần trong lúc xây thành, có công giúp dân giúp nước, hiện rõ ràng là con ngựa trắng, anh linh rực rỡ, chẳng gì hơn được! Rồi đặt tượng Mã Nhiếp ở đó, cho nên nay nhiều cầm thú đi qua đền đều chết ngay tức thì. Vì vậy phong làm Bạch Mã Đại vương là như vậy.” Mà khách phương Bắc đi buôn bán ở phương Nam cho lời nói bậy là thực, vơ đất xây tường, tôn sùng và khen thưởng. Lại ngộ nhận hai chữ Bạch Mã, là tướng quân Mã Phục Ba người Đông Hán đi bình đất Giao Châu…
Đoạn sách trên cho thông tin rất quan trọng:
– Thần Bạch Mã có thể là một tướng thời Hán sang nước ta.
– Thần từng được gọi Mã Nhiếp.
Tướng thời Hán mang tên “Nhiếp” thì không phải là Mã Viện. Người làm chủ vùng Giao Châu thời Hán có tên này phải là Sĩ Nhiếp.
Về thần Tô Lịch, cũng là vị Đô thành hoàng của Thăng Long như thần Bạch Mã, các truyện trong Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái cho biết: thần họ Tô, tên Lịch, ở đất Long Đỗ, nhà không giàu có lắm, nổi tiếng là người có hiếu, thời Tấn từng được đề cử là người hiếu hạnh, vì thế mà lấy tên Tô Lịch làm tên làng.
Như thế khả năng vị thần này ở vào trước thời Tấn, tức là thời Tam Quốc, tại vùng đất Long Biên (Long Độ). Sĩ Nhiếp cũng chính là nhân vật ở thời kỳ này.
Theo các thư tịch cũ thì thần Bạch Mã còn có tên là thần Long Đỗ hay Long Độ. Sách Trấn Vũ quán lục cho thấy rằng “Long Độ” vốn là tên đất Long Biên vào cuối đời Hùng Vương. Còn Sĩ Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu, cũng được phong tước “Long Độ đình hầu” hay “Long Biên hầu”. Sĩ Nhiếp đóng trị sở ở đất Long Biên. Như vậy Long Độ chính là tên theo chức hầu tước của Sĩ Nhiếp, hay thần Long Đỗ Bạch Mã cũng chính là Sĩ Vương.

Long Do dinh hau.jpgDòng chữ “phong Long Độ đình hầu” trên tấm bia thời Lê Vĩnh Thịnh ở đền thờ Sĩ Nhiếp tại Tam Á.

Rất kỳ lạ là ở các đền thờ Sĩ Nhiếp tại Thuận Thành, còn lưu giữ tượng một con ngựa trắng, dùng trong đám rước kiệu thánh vào các ngày lễ hội. Một con ngựa cổ như vậy thấy ở đình Mễ Đậu (Gia Đông, Văn Lâm, Hưng Yên), là nơi thờ Sĩ Vương. Đây là dẫn chứng khác cho thấy thần Bạch Mã cũng là Sĩ Nhiếp.

IMG_8336.JPG
Ngựa trắng ở đình Mễ Đậu.

Ở thôn Khoan Tế, xã Đa Tốn của Gia Lâm còn có đền riêng thờ thần Bạch Mã. Theo truyện kể ở đây thì đền này mới là đền thờ gốc. Đền Bạch Mã ở Thăng Long được lấy chân nhang từ đây về lập đền mà thờ dưới triều Lý. Điều này cũng hợp lý vì Long Độ chỉ vùng Long Biên, thần Bạch Mã đầu tiên phải ở Long Biên chứ không phải ở trong thành Thăng Long Hà Nội.
Sĩ Nhiếp là người có công trong việc cai quản thành Long Biên – Luy Lâu trong một thời gian dài nên việc ông được phong thần trấn giữ Long Biên (thần Long Đỗ) và là Đô thành hoàng Thăng Long là hợp lý.
Câu đối ở đền Bạch Mã tại Khoan Tế:
駒蹄靈蹟傳江北
龍肚英聲振斗南
Câu đề linh tích truyền giang Bắc 
Long Đỗ anh thanh chấn đẩu Nam.
Dịch:
Sự thiêng vó ngựa truyền sông Bắc
Tiếng tốt rốn rồng động đẩu Nam.

IMG_8513.JPG
Gian tiền tế của đền Bạch Mã ở Khoan Tế.

Liên hệ xa hơn nữa, ở miền Nam Trung Bộ từ Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi,… vị Bạch Mã Thái giám là một vị thần được thờ rất phổ biến, là thành hoàng của nhiều làng xã. Tầm ảnh hưởng xa như vậy về phương Nam cũng đúng với Sĩ Nhiếp, vì Sĩ Nhiếp là con của Sĩ Tứ, vốn là thái thú quận Nhật Nam. Sĩ Nhiếp khi tiếp quản và thành lập Giao Châu đã gồm 7 quận, gồm cả quận Nhật Nam ở phương Nam.
Ảnh hưởng sâu sắc của Sĩ Nhiếp đến vùng đất phương Nam – Lâm Ấp còn được ghi lại bằng đôi câu đối trên cổng đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á (Thuận Thành, Bắc Ninh):
豈忠義功神心祁彼何辰此何辰安得六百載遺容能攝林邑
是事業文科舉昔治亦進乱亦進最矩四十年政策拯表交州
Khởi trung nghĩa công thần tâm kì, bỉ hà thì thử hà thì, an đắc lục bách tải di dung năng nhiếp Lâm Ấp. 
Thị sự nghiệp văn khoa cử tích, trị diệc tiến loạn diệc tiến, tối củ tứ thập niên chính sách chửng biểu Giao Châu.
Dịch:
Há tấm lòng công thần trung nghĩa lớn, đây thời nào đấy thời nào, yên ổn sáu trăm năm khoan dung ấy giúp quản Lâm Ấp.
Là thi cử văn khoa sự nghiệp xưa, trị cũng tiến loạn cũng tiến, quy củ bốn mươi thu chính sách kia cứu tỏ Giao Châu.

img_8197.jpgMặt trong nghi môn đền Sĩ Nhiếp ở Tam Á.

Cần nói thêm rằng Sĩ Nhiếp là một tu sĩ Bà La Môn, là người khởi xướng hoặc ít nhất cũng là người cho phổ cập Bà La Môn giáo ở đất Việt qua truyện Khâu Đà La – Man Nương và Tứ pháp. Vì vậy, khi Sĩ Nhiếp mất, có thể dân gian đã hình tượng hóa ông bằng một vị thần của Bà La Môn. Vị thần phương Đông có hình tượng là con Ngựa trong Bà La Môn là thần Nhật Thiên, hay thần mặt trời, cưỡi con Hỏa mã. Có thể vì vậy Sĩ Nhiếp khi hiển hóa đã được hình tượng dưới hình ảnh Bạch Mã.

Vũ khí của Phù Đổng Thiên vương

Phù Đổng Thiên Vương khi ra trận đánh giặc Ân giúp nước đã dùng những loại thần binh lợi khí gì? Xin xem xét từng món bảo bối của Thần vương.

Ngựa sắt

Theo yêu cầu của Đổng Thiết, vua Hùng sai các tướng tìm các đồ sắt đủ 50 trăm cân, truyền cho trăm thợ rèn để rèn thành ngựa sắt cao mười tám thước, có đủ năm tạngThần Vương nhảy lên ngựa sắt, cầm roi sắt, đội nón sắt, thét vang như sấm chớp, rằng:
– Ta là Thần tướng, vâng sắc chỉ xuống giúp nước!
Ngựa sắt nhảy mạnh, bay lên không mà phi, lập tức tới nơi Vua ngự. Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh huyện Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi.
..
Còn trong tác phẩm Phong Thần diễn nghĩa kể, thừa tướng của nhà Chu là Lã Vọng Khương Tử Nha, người Đông Hải, đã phò giúp Chu Vũ Vương đánh Trụ diệt Ân. Khương Tử Nha cưỡi con kỳ thú là Tứ bất tướng. Con thú này sống từ thủa khai thiên lập địa đến nay. Hình dáng đầu kỳ lân, có sừng, đuôi hươu, vóc dáng như rồng. Có thơ rằng:
Ðầu lân đuôi trại vóc như rồng
Chân đạp hào quang thấu chín trùng
Bốn biển mười châu đi nhất khắc
Ba non năm núi đến như không.
So sánh ở đây thì thấy con Ngựa sắt của Thánh Dóng là con Tứ bất tướng của Lã Vọng.

IMG_8272.JPG
“Tứ bất tướng” trước cửa đền Thượng Sóc Sơn.

Roi sắt

Trước đây các bản dịch thần tích nói rằng Phù Đổng Thiên vương dùng cây gậy sắt. Nhưng đúng chữ gốc thì đây là “Thiết tiên”, tức là cây Roi sắt. Cây roi này dài mười thước.
Vũ khí tấn công của Khương thừa tướng là cây Roi đánh thần (Đả thần tiên), có thể đánh cho thần tiên hồn rời khỏi phách, mà bay lên đàn Phong Thần. Có thể thấy Roi đả thần và Thiết tiên của Phù Đổng là một.
Cùng với vũ khí này là tục chém tướng Ân trong lễ hội đền Sóc. Cũng như trong hội làng Phù Đổng, tướng Ân được thể hiện là các cô gái trẻ được trang điểm và được rước bằng kiệu. Hội Phù Đổng có bài hát Ải Lào:

Nhớ đời thứ sáu Hùng Vương
Ân sai hai tám tướng cường nữ Nhung
Xâm cương cậy thế khoe hùng
Kéo sang đóng chặt một vùng Vũ Ninh.

Ở Sóc Sơn sau khi làm động tác chém tướng các cô gái được cõng chạy về làng. Chém tướng cũng là một lễ tế trong ngày Khương Thái Công đăng đàn Phong Thần, đã chém 2 tướng Ân làm lễ là Phi Liêm và Ác Lai.

ss7.jpeg
Tướng Ân trong hội đền Sóc (Ảnh: internet).

Áo giáp

Ngọc phả Hùng Vương cho biết Đổng Thiết chỉ yêu cầu nhà vua rèn một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, một chiếc nón sắt rộng 3 thước. Còn không có áo giáp bằng sắt.
Ngày hôm ấy mặt trời vừa đúng chính Ngọ, Đổng Thiết cười vang một tiếng, duỗi tay vươn vai, tiếng vang như sấm, ánh mắt loé sáng như chớp, thân mình cao hơn 18 thước. Vì chưa kịp may quần áo nên sai 10 vạn quân đi bẻ hoa lau đem về kết thành đồ mặc.
Đồ mặc của Phù Đổng là một chiếc áo hoa lau, có hàng ngàn bông hoa.
Bọn giặc còn lại chưa diệt hết, nhưng roi sắt đã bị rơi mất. Thần vương bèn nhổ lấy các bụi tre gai vung lên quét sạch quân Ân. Khi đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa, thần vương cởi bỏ bộ áo hoa lau, cưỡi ngựa bay lên không mà bay đi
Khương Thái Công có vật hộ thân là Hạnh Hoàng Kỳ, hay lá cờ của hành màu Vàng (trong Ngũ hành). Lá cờ này khi phất lên thì hàng ngàn bông hoa sen bay ra, ngăn cản tất cả binh khí của quân giặc đánh đến.
Hạnh Hoàng Kỳ như vậy chính là bộ áo hoa lau (hoa tre) của Phù Đổng hay cành tre đằng ngà được Thánh Dóng nhổ lên quét sạch giặc Ân. Trong lễ hội Dóng ở Sóc Sơn hiện còn tục ban lộc hoa tre. Hoa tre được làm bằng những thanh tre dài, đầu được vót thành xơ và nhuộm màu. Sau lễ dâng hoa, tre được tung ra trước sân đền cho người dự hội lấy để cầu may. Đây là tái hiện lại hình ảnh Phù Đổng cởi bỏ bộ áo “hoa lau” trước khi bay về trời ở núi Sóc.

Le-hoi-giong-2018-Bo-cuop-hoa-tre-lo-loc-ban-dai-tra-1.jpgHoa tre trong hội đền Sóc (Ảnh: internet).

Thiên thư

Một vũ khí “tinh thần” (mưu lược) quan trọng của Khương Tử Nha được nói tới là cuốn Thiên thư (Sách trời). Trong chuyện của Phù Đổng Thiên vương bảo bối tương ứng là chiếc Nón sắt. Chữ Sắt trong chuyện Thánh Dóng không nên hiểu ra thành “thời kỳ đồ sắt” Sắt ở đây nên hiểu tương đương với từ “Thần”. Ngựa sắt là con ngựa thần Tứ bất tướng. Roi sắt là Roi đả thần. Còn Nón sắt hẳn là chỉ Thiên thư.
Trong Ngọc phả Hùng Vương còn có chỗ nói tới Thiên thư:
Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói. Vua bèn thành tâm lập đàn trai giới, thắp hương cầu khấn. Các quan triều đến cầu niệm suốt trong ba ngày, trông mong lúc trời đất, tiền thánh tổ Long Quân âm phù cho tướng giúp yên. Được một tháng, trời ứng mưa to sấm gió nổi lên. Bỗng thấy một cụ già thân cao hơn 9 thước, mày râu bạc phơ ngồi ở ngoài đường, cười nói ca hát nhảy múa. Ai trông thấy cũng phải lấy làm lạ, cho là bậc kỳ nhân. Sứ giả vào tâu Vua. Vua đích thân ra đón, mời vào đàn tế, hỏi rằng:
– Nay quốc gia có việc, giặc tới xâm lăng, thắng thua chưa biết thế nào, xin lão ông cho chỉ giáo. Lão ông trầm ngâm hồi lâu rồi đáp:
– Ta từng đến khắp đáy bể cửa trời, biết tới sách thần phép ước trời đất. Sẽ thử vận mà bói một quẻ. Rồi nói với Vua:
– Ba năm sau, giặc xâm lăng nước này, sẽ có được người tới, giặc sẽ được dẹp!
Lão ông lại nói chuyện với Vua, chân tình giảng giải, rồi tặng cho Vua một cuốn sách thần. Nói xong cụ già vút lên không bay đi.

DSC05703.JPG
Phù điêu thể hiện trăm trai của mẹ Âu Cơ tại chùa Hoa Long, bến Việt Trì.

Ngọc phả không kể cuốn Thần thư này được dùng làm gì trong cuộc chiến chống giặc Ân. Tuy nhiên, cuốn Thiên thư được dùng ở một đoạn khác, là đoạn Âu Cơ sinh thai ngọc trăm trứng:
Khi đó, có một cụ già tướng mạo trượng phu, râu tóc bạc phơ, dáng điệu tiên ông, đầu đội mũ trời gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi giày cỏ, tay cầm gậy tre, ra chơi ở bến sông Bạch Hạc Việt Trì, tại chùa Hoa Long. Ông già rửa chân bên sông, trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà.
Hôm ấy có quan trong triều là Tướng quân nguyên soái tiết chế trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu ở bên sông Việt Trì. Quan Nguyên suý trông thấy ông Tiên đang xem phong thủy, mặt hướng nhìn các sông Bạch Hạc Hoàng Hà Manh Hà, chân đạp lên tảng đá hình lưng rùa. Triều quan sai sứ giả nghênh đón tiên ông lên lầu hỏi chuyện với Nguyên soái. Quan đem hết sự thể bộc bạch chân tình, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về cung điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua.
Vua thân hành ra mời cụ già vào cung, dùng đại lễ, mở tiệc chúc mừng. Vua hỏi cụ già rằng:
– Tiên sinh từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện, nhờ cụ chỉ giáo cho.
Tiên ông ha hả cười vang. Vua vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Cụ ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốnđặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần  trời đất trăng sao, gọi tên các phép tiên.
Vua nói: Nước đã có thành tâm cầu đảo, đúng là cầu tất ứng.
Tiên ông nói: Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai. Xem tướng trăm trai thì Vua sẽ cử được người tài lập làm con trưởng, phân định thứ bậc anh em
Tiên ông lấy bút viết ra, đặt tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc mâm vàng.
Ông lão cầm gậy trúc đứng trên Bàn Thạch bên sông Nhị rõ ràng là ông Lã Vọng câu cá, được Chu Văn Vương cầu về giúp nước. Cuốn Thiên thư ở đây có tác dụng là: bói biết được tinh thần trời đất trăng sao, gọi tên các phép tiên. Cuốn Sách trời tức Hà thư, dùng để đoán định về tinh thần, phân định lãnh thổ, đặt tên các quốc gia chư hầu.

Bảng phong thần

Thiên thư phối hợp với chiếc Mâm vàng dùng để đặt tên cho trăm người con trai Bách Việt trong chuyện Âu Cơ (Cơ Xương Văn Vương trong Phong Thần diễn nghĩa cũng có 100 người con). Như vậy chiếc Mâm vàng chính là Bảng phong thần của Khương Tử Nha. Chiếc Mâm vàng này cũng đã dùng để bảo giữ thai ngọc của Âu Cơ:
Thiên sứ báo cho Hiền vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi chùa cổ ở núi Viễn Sơn, tức là chùa Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng ở ngọn Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa.
Mâm vàng ở đây dùng đặt đồ tế lễ các tướng lĩnh tử trận và đặt định trăm quan, trăm chư hầu là một dạng tế đàn. Hình ảnh thật của nó là các bàn đá hay các cự thạch lớn tìm thấy nhiều ở vùng Sóc Sơn. Tế đàn lớn cho phong thần của Phù Đổng chính là đỉnh núi đá Sóc – Vệ Linh, trước đây còn có mấy dấu chân ngựa, nước không bao giờ cạn.

Cu thach.jpg
Cự thạch ở Minh Trí, Sóc Sơn (Ảnh: Nguyễn Huân).

Có lẽ “Từ Sơn Thiên Quang Hòa Thượng“chính là Khương Thái Công, người đã tiến hành việc phong thần, tức là thiết lập chế độ lễ nhạc tín ngưỡng cho thiên hạ, và phong tước cho các công thần của nhà Chu sau cuộc chiến diệt Ân. Ngọc phả Hùng Vương viết, Lão tiên sau khi đặt tên cho trăm trai:
… Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui. Xếp đặt việc đặt tên đã xong, tự nhiên có một làn mây xanh bay đến trên không trung, Tiên ông biến hoá bay về Thượng giới.
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư…

IMG_5950.JPG
Tam quan chùa Thiên Quang ở Nghĩa Lĩnh.

Câu đối ở đền Thượng Sóc Sơn:
天上降神鉄馬鐵鞭朱粤動
水中顯聖金鎗金甲太原寒
Thiên thượng giáng thần, thiết mã thiết tiên Chu Việt động
Thủy trung hiển thánh, kim thương kim giáp Thái Nguyên hàn.
Dịch ý:
Thần giáng từ trời, Roi tiên Ngựa sắt rung Chu Việt
Nhân gian tỏ thánh, Giáp tre Mâm đá lạnh Thái Nguyên.
Khương Thái Công Lã Vọng, “từ trời thần giáng”, cưỡi ngựa sắt – Tứ Bất Tướng, dùng Roi sắt Đả Thần, làm kinh động miền đất Việt nhà Chu. Chiếc Mâm vàng – bàn đá dùng để phong thần, phong tước kiến địa. Áo giáp hoa tre – Hạnh Hoàng Kỳ làm vật hộ thân, làm cho quân giặc phương Bắc (Thái Nguyên) phải run sợ…
Truyền thuyết, tín ngưỡng và lễ tục của người Việt về cậu bé làng Phù Đổng – ông lão bên sông Nhị giúp Văn Lang Vũ Ninh đánh Trụ diệt Ân nay đã là di sản văn hóa phi vật thể thế giới. Câu chuyện lập quốc Văn Lang, tạo nên một thiên hạ thái bình thịnh trị của nhà Chu với hàng trăm chư hầu, tồn tại hàng trăm năm, không hề bị quên lãng trong tâm thức Việt.

Phong thần diễn Việt nghĩa

Phong Thần diễn nghĩa kể lại câu chuyện lập quốc của nhà Chu, từ lúc Trụ Vương suy đồi, Văn Vương cầu Khương Tử Nha, phò Vũ Vương hội chư hầu tiến đánh Triều Ca, dựng nên thiên hạ nhà Chu, phong hầu phong thần, đặt ra bách tính.
Trong  huyền sử Việt câu chuyện Phong Thần này được “diễn nghĩa” theo một góc nhìn khác, mà người Việt ai cũng thuộc nằm lòng, bởi đó là các truyền thuyết về thời Hùng Vương dựng nước Văn Lang, được kể chi tiết trong Ngọc phả Hùng Vương cùng các di tích hiện còn ở Việt Nam.

Hồi 1. Trụ Vương – Đát Kỷ

Trụ Vương là vị vua cuối cùng của nhà Ân Thương. Vua Trụ coi khinh quỷ thần, chọc ghẹo cả Nữ Oa, ham mê tửu sắc, bị con hồ ly tinh Đát Kỷ mê hoặc, giết hại hiền thần, dẫn đến triều chính rối loạn. Mệnh của nhà Ân Thương từ Thành Thang coi như sắp hết.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Quốc Vương chưa tỏ sự lý của trời đất nên trong cung còn nhiều thuyết hoang đường, lấy đó làm cách cảm. Quần thần tấu thỉnh lên bệ hạ nên dùng một kế, chế lập ra một đàn tràng. Vua nghe theo lời tâu. Có một bà mo xưng có tài như thần. Vua sai bắt bà mo giam trong cung.
Sau đó vua sai lập một đàn tế riêng, dùng các lễ dối, voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Trời. Vua bảo triều thần:
– Trẫm dùng kế ấy để xem người bà mo có biết giả trá hay không?
Hoàng thiên tuy cao, nhưng nghe xong không bằng lòng, xem đến các đồ lễ trên đàn thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo vua không có đức.
Vương mới nghiệm biết trời đất báo ứng ngay trước mắt. Đến năm Thân tháng Thân, thần khí âm dương rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần.
Vua mới cho sứ đưa bà mo đến bảo:
– Ngươi biết dò xét cơ trời. Nay trong nước có điềm chẳng lành. Ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào, về báo cho Trẫm biết.
Bà mo bèn làm phép, trong khoảng ba canh, tự nằm mộng đến trước cửa khuyết Ngọc Hoàng, quỳ tâu rằng:
– Tôi vâng mệnh quốc vương lên tâu thiên đình. Nay trần thế đang có biến. Xin cho biết nguyên do như thế nào?
Ngọc Hoàng phán rằng:
– Ngươi mau trở về báo cho Vua biết. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần hoàn lóc lóc, có cầu có nguyện tất được tòng tâm. Vua nay tự kiêu ngoa, truyền làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau tất sẽ có nạn giặc lớn!
Có thể thấy Hùng Vương ở đây là Trụ Vương. Bà mo là con yêu Đát Kỷ. Đã bày đặt ra những chuyện lừa dối cả Hoàng Thiên.
Mâu thuẫn giữa hai dòng Thương và Chu còn được kể đến trong cuộc chia tay Lạc Long – Âu Cơ trong huyền sử Việt.
Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc.
Và trong đoạn kể về Hùng Vương cuối cùng:
Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn còn say khướt chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục…

Hồi 2. Phượng gáy non Kỳ

Cơ Xương Văn Vương là Tây Bá Hầu, là vị hầu tước đứng đầu miền Tây của nhà Ân, cũng gọi là xứ Tây Kỳ. Tương truyền khi Văn Vương sinh ra có điềm phượng hoàng bay đến đậu trên núi Kỳ Sơn mà gáy, báo hiệu sự ra đời của bậc thiên tử, khởi đầu một triều đại mới thay cho nhà Ân đã tận số.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Khi ấy có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, là một thiếu nữ hiền đức, sống ở quê mẹ tại huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc của Giao Chỉ. Một hôm nàng Âu Cơ đi chơi ở châu Trường Sa, gặp khi vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, tư chất kiều diễm, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm chính phi hoàng hậu. Thề rồi tới khi Kinh Dương Vương hai trăm năm bảy tuổi, ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thì phong Lạc Long Quân lên nối ngôi chính thống ra ở tại núi Nghĩa Lĩnh, kinh thành đô ở núi Phong, triều đại quản lý việc nước nhà, lấy đức cai quản nhân dân.
Mẹ Âu Cơ là dòng tiên, biểu tượng là chim phượng, là hình ảnh thể hiện trên mặt trống đồng, văn vật đặc trưng cho người Việt ở thời kỳ này. Âu Cơ lên núi lập nước Văn Lang, đô đóng Phong Châu, tức là Cơ Xương Văn Vương.

Hien Luong.jpg
Đền Hiền Lương ở Hạ Hòa, Phú Thọ, nơi Âu Cơ bay về trời (Ảnh: Nguyễn Huân).

Hồi 3. Văn Vương cầu hiền

Khởi đầu sự nghiệp Cơ Xương Văn Vương đã hết lòng chiêu mộ hiền tài. Văn Vương đã đích thân tìm đến Lã Vọng, là một ông lão ngoài 80 tuổi, ngồi câu cá trên Bàn Thạch ở sông Vị. Văn Vương đón Lã Vọng về lập làm tể tướng, tức Khương Tử Nha.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Hiền vương phán rằng:
– Chính sự lớn của triều đình cần có người anh tài. Trẫm vâng mệnh Trời gây dựng cơ đồ lớn lao, mở nước trị dân, theo mệnh trời sinh được trăm con trai. Trẫm cùng trăm quan thành tâm thiết lập đàn chay, kính cẩn cầu khấn tâu lên Hoàng Thiên, đấng ngự hội tụ của vạn linh, để đặt định trăm danh hiệu.
Bấy giờ vua lên đàn tràng khấn lễ cầu đảo lớn vừa xong, tự nhiên có cảm ứng, phương Tây có khí thần lại, mây rồng ngũ sắc, núi sông sáng rạng. Khi đó, có một cụ già tướng mạo trượng phu, râu tóc bạc phơ, dáng điệu tiên ông, đầu đội mũ trời gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi giày cỏ, tay cầm gậy tre, ra chơi ở bến sông Bạch Hạc Việt Trì, tại chùa Hoa Long. Ông già rửa chân bên sông, trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà. Hôm ấy có quan trong triều là Tướng quân nguyên soái tiết chế trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu ở bên sông Việt Trì. Quan Nguyên suý trông thấy ông tiên đang xem phong thủy, mặt hướng nhìn các sông Bạch Hạc, Hoàng Hà, Manh Hà, chân đạp lên tảng đá hình lưng rùa. Triều quan sai sứ giả nghênh đón tiên ông lên lầu hỏi chuyện với Nguyên soái. Quan đem hết sự thể bộc bạch chân tình, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về cung điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua. Vua thân hành ra mời cụ già vào cung, dùng đại lễ, mở tiệc chúc mừng. Vua hỏi cụ già rằng:

– Tiên sinh từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện, nhờ cụ chỉ giáo cho.
Tiên ông ha hả cười vang. Vua vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Cụ ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốnđặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần âm dương, gọi tên các phép tiên.
Vua nói: Nước đã có thành tâm cầu đảo, đúng là cầu tất ứng.
Tiên ông nói: Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai. Xem tướng trăm trai thì Vua sẽ cử được người tài lập làm con trưởng, phân định thứ bậc anh em. Tiên ông lấy bút viết ra, đặt tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc mâm vàng. Để phân định thứ bậc anh em, trăm trai đến hội ở chính điện. Mọi người đồng thanh cần phải có một huynh trưởng đứng đầu. Một người được gọi tên được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước mâm vàng nhận danh hiệu được ban. Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui.
Xếp đặt việc đặt tên đã xong, tự nhiên có một làn mây xanh bay đến trên không trung, Tiên ông biến hoá bay về Thượng giới.
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư. Ban bố cho trăm quan thường xuyên cầu khấn, cầu Phật ứng cho.
Ông lão cầm gậy trúc, đứng trên bàn đá bên sông Nhị, dùng Thiên thư (sách trời) để phân định thứ bậc họ Hùng, rõ ràng là chuyện của Lã Vọng câu cá ở Vị Thủy.

IMG_8494.JPG
Chùa Hoa Long ở ngã ba sông Việt Trì.

Hồi 4. Văn Thái sư đánh Tây Kỳ

Sau khi Cơ Xương đánh chiếm nước Sùng của Bắc Bá Hầu Sùng Hầu Hổ, Trụ Vương liên tiếp sai quân tiến đánh Tây Kỳ. Cầm đầu quân đội của Trụ Vương là Văn Thái sư, là một người tài giỏi, có nhiều phép thuật.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Thời Việp Vương, người giàu vật nhiều nên mới có sàm thần tấu lời, không tin bà mo, đùa lễ giả với trời. Thời này không có phong tục kính lễ. Vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói.
Tướng giặc Ân trong cách diễn nghĩa của người Việt là Thạch Linh thần tướng. Sau đó Phù Đổng Thiên Vương giáng xuất, đánh nhau với Thạch Linh thần tướng ở vùng Yên Việt.

Thach Linh
Đền thờ Thạch Linh thần tướng ở Hạ Lát, Tiên Sơn, Việt Yên, Bắc Giang (Ảnh: Nguyễn Huân).

Hồi 5. Vũ Vương khởi binh

Văn Vương mất, con là Vũ Vương nối nghiệp. Với sự giúp đỡ của Khương Tử Nha, Vũ Vương đã hiệu triệu 800 chư hầu, hẹn nhau hội quân ở Mạnh Tân, tiến đánh Trụ Vương.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Sứ giả đến làng Phù Đổng, huyện Tiên Du. Làng ấy có người nhà giàu tuổi đã 79. Trước nhà có mảnh vườn trồng các loại trà hoa. Bà lão cũng đã 59 tuổi. Sáng sớm ngày 6 tháng giêng năm Quý Hợi bà vào vườn hái hoa hái chè, thấy một dấu chân to lớn. Bà lấy làm lạ, bèn gọi chồng đến, quả nhiên thấy có dấu chân của thần nhân. Trưởng ông bảo vợ bước chân trái dẫm vào đó. Tự nhiên lúc đó khí trời của thần cảm ứng. Bà lão thấy cảm động trong người, mắt hoa, rồi mang thai. Đến ngày 8 tháng Tư năm Giáp Tí đầy tháng bà sinh một con trai. Con được đúng một tuổi thì Trưởng ông qua đời lúc 80 tuổi. Chỉ còn mẹ già sáu mươi bú mớm nuôi con. Lên ba tuổi đặt tên là Đổng Thiết, ăn uống lớn phổng, nhưng không biết nói cười. Ngày hôm ấy cậu bé đang nằm trong võng, mẹ cậu nghe sứ giả đi tìm người có đại tài dẹp loạn. Bà mẹ nói vui với sứ giả rằng:
– Lão sáu mươi tuổi mới sinh được một đứa con trai. Nay đã ba tuổi, chỉ biết ăn uống mà không biết đánh giặc để triều đình trọng thưởng quan tước mà trả ơn bú mớm cho mẹ.
Sứ giả đi qua. bỗng nhiên Đổng Thiệt ngồi dậy, mở miệng nói:
– Xin mẹ gọi sứ giả quay lại, con có việc cần nói. Mong mẹ đón lại sử giả về đây.
Thần vương nói với sứ giả rằng:
– Ta là Thiết Xung thần tướng đây! Trời sinh ra ta để giúp nước, dẹp loạn cứu dân. Ngươi về triều tâu với vua cho ta một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, một chiếc nón sắt rộng 3 thước, đưa mấy thứ ấy đến đây cho ta để đánh giặc Ân. Vua không phải lo gì nữa!
Sứ giả nghe lời nói của Đổng Thiết, trở về chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh tâu Vua mọi việc. Vua triệu tập quần thần trăm quan để bàn. Triều đình liền can ngăn rằng:
– Triều đình hiện nay oai trời rộng lớn, tướng mạnh tướng nhiều. Dù giặc Ân xâm chiếm phương Nam, cũng đã có người can đảm đối đầu. Huống hồ đứa trẻ ba tuổi sao có thể đánh giặc được. Vả lại việc binh là việc quốc gia đại sự, liên quan đến an nguy của hoàng gia, chớ nên xem nhẹ. Xin bệ hạ thận trọng lựa chọn người có đại tài, cử làm đại tướng. Không nên chỉ nghe lời nói bên ngoài mà không thấy tận mắt vậy.
Vua nói:
– Trẫm theo mệnh trời, trị nước yêu dân, tin việc thần nhân trước đây đã báo ứng. Đích thực là Tiền thánh Đế quân đã hiển linh về báo để giúp nước. Trẫm tin như lời đó thật không phải là sai, không nên nghi ngờ.
Vua sai các tướng tìm các đồ sắt đủ 50 trăm cân, truyền cho trăm thợ rèn để rèn thành ngựa sắt cao mười tám thước, có đủ năm tạng, roi sắt dài mười thước, nón sắt rộng ba thước. Đến giờ Mão ngày 7 tháng Giêng năm Bính Dần Vua sai quan Tiết chế dẫn 10 vạn hùng binh đem ngựa sắt roi sắt nón sắt đến làng Phù Đổng. Đổng Thiết cười rằng:
Vua theo đúng hẹn,
Vận nước lâu bền.
Quân giặc phải tan,
Một ngày giúp nước,
Thiên cổ danh vang.
Rồi Đổng Thiết nói với mẹ và họ hàng thân thích rằng: “Tính con hay ăn, xin soạn cho các món trâu rượu, hoa quả”. Dân làng nghe thế nhà nhà đem trâu rượu đến. Chỉ trong chốc lát cậu bé đã ăn xong để lên đường đi lập công giúp nước, đền đáp công ơn của cha mẹ, làng xóm và ơn Vua.
Ngày hôm ấy mặt trời vừa đúng chính Ngọ, Đổng Thiết cười vang một tiếng, duỗi tay vươn vai, tiếng vang như sấm, ánh mắt loé sáng như chớp, thân mình cao hơn 18 thước. Vì chưa kịp may quần áo nên sai 10 vạn quân đi bẻ hoa lau đem về kết thành đồ mặc. Đổng Thiết lạy tạ mẹ rằng:
– Mẹ là bậc thánh trên trời. Con là Thần vương. Một ngày lập công to lớn, vạn năm hương lửa vô cùng!
Thần Vương nhảy lên ngựa sắt, cầm roi sắt, đội nón sắt, thét vang như sấm chớp, rằng:
– Ta là Thần tướng, vâng sắc chỉ xuống giúp nước!
Phù Đổng Thiên vương ở đây cũng là Khương Tử Nha, người cầm đầu quân đội nhà Chu và các chư hầu, xông pha diệt Trụ.

Na Tra.jpg
Phù Đổng Thiên Vương và các thần tướng ở đền Thượng núi Sóc.

Hồi 6. Phá Ân diệt Trụ

Cuộc chiến giữa Trụ Vương và Vũ Vương diễn ra rất ác liệt. Phía quân Chu được nhiều thần linh đến trợ giúp. Sau nhiều trận đánh, quân nhà Chu đã chiếm được Triều Ca. Trụ Vương lên Lộc Đài phóng hỏa tự vẫn.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Ngựa sắt nhảy mạnh, bay lên không mà phi, lập tức tới nơi Vua ngự. Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh huyện Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi. Quân Ân thua to tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống rồi chém đầu. Bọn giặc còn lại chưa diệt hết, nhưng roi sắt đã bị rơi mất. Thần vương bèn nhổ lấy các bụi tre gai vung lên quét sạch quân Ân.

Tương truyền con ngựa đá của Thạch Linh thần tướng bị chém rơi đầu, nay còn dấu tích ở thôn Cựu Tự, núi Chu Sơn tại Quế Võ, Bắc Ninh, với hình một con rồng có cánh (Phi Liêm) bằng đá lớn.

Phi Liem
Tượng Phi Liêm bằng đá ở Chu Sơn.

Truyện Giếng Việt trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Giếng Việt ở núi Trâu Sơn, quận Vũ Ninh; đời Hùng Vương thứ ba, Ân Vương cử binh Nam xâm, đóng quân ở núi Trâu Sơn; Hùng Vương cầu Long quân giúp, Long quân bao tìm khắp thiên hạ, nếu được người kỳ tài thì dẹp được giặc; đến kỳ cầu được Đổng Thiên Vương cỡi ngựa sắt đi đánh, tướng sĩ nhà Ân đều tan vỡ. Ân Vương chết ở dưới núi, làm Địa Phủ Quân; dân lập đền thờ, bốn mùa cúng tế nhưng lâu năm suy dần bỏ thành chùa hoang.
Trụ Vương chết, được phong làm Vua của Địa phủ. Rất có thể tục cúng cô hồn tháng 7, khi Diêm vương mở Quỷ Môn Quan cho các cô hồn đi ăn đồ lễ, chính là bắt đầu từ cuộc chiến Chu – Thương này. Đây là ngày lễ tưởng niệm đến những người đã mất trong cuộc chiến, mà không được siêu thoát hay phong thần. Có lẽ chính tháng 7 là tháng mà Trụ Vương đã chết cháy ở Lộc Đài.
Đoạn khác trong Truyện giếng Việt:
… hòn ngọc Long Tụy, nói đó là ngọc châu, từ thuở Trời Đất mới khai tịch, đã có một cặp Trống Mái từ đời Hoàng Đế trải đến đời Ân truyền làm thế bảo; trong trận đánh Trâu Sơn, Ân Vương đeo nó mà chết.
Vua Ân dùng ngọc rồng, đối lập hình ảnh với Văn Vương phượng gáy Kỳ Sơn. Ân Thương và nhà Chu là hình tượng của 2 dòng Tiên – Rồng, Âu Cơ – Lạc Long của huyền sử Việt.
Một cách kể khác trong Ngọc phả Hùng Vương là sự kiện Âu Cơ sinh trăm trứng, có Tứ đại thiên vương, Bát bộ kim cương đến phù giúp. Quá trình “mang nặng đẻ đau” trăm người con trai này là cuộc chiến diệt Trụ, lập ra thiên hạ trăm chư hầu.
Bấy giờ nàng Âu Cơ là chính phi, vào năm Nhâm Thân tháng Giêng ngày 4 có thai, điềm rồng đẹp ứng, mây lành năm sắc, hương trời đầy phòng. Trong 3 năm 3 tháng 10 ngày ở tại Ngũ Lĩnh. Trong cung điện hàng ngày thường có mây lành năm sắc, ánh rồng sáng lạn. Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 12 mặt trời chiếu đúng giờ Ngọ, cái thai trong bụng Âu Cơ chuyển động, mây rồng đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc trăm trứng, trong như ngọc châu, hương lạ thơm nức. Sơ sinh ở núi Nghĩa Lĩnh, đất tổ Phong Thứu, dưới lọng ngọc đầu núi bên đầm sen.
Hiền Vương thấy hoàng phi sinh tú bào hết sức dị thường, là điều lạ của quốc gia trước nay trong thiên hạ. Vua bèn triệu hội đồng bách quan văn võ triều thần đến chầu ở chính điện. Giờ Ngọ hôm ấy ở giữa thành nội Kính Thiên ba tiếng thiêng vang lên rung trời chuyển đất, núi sông cây cỏ muôn vật đều kinh hoàng, mây lành ngũ sắc sáng bừng khắp ba ngàn thế giới. Muôn chim bay chầu trên các lâu đài điện các. Dưới núi làn nước tung sóng cuộn dâng. Trăm kình nghê muông thú, muôn vật cá tôm đội gió mưa về chầu. Vua thấy quốc gia có điềm lành kỳ lạ, bèn xuống chiếu cho bá quan văn võ sửa sang áo mũ trai giới tịnh khiết đến tề tựu ở điện Kính Thiên, đèn hương phụng hầu chầu lạy Hoàng thiên Thượng đế, Tứ phủ vạn linh.
Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân Kính Long điện ngọc. Rồi bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ. Các vị tướng ấy cao hơn nửa trượng, đầu đội mũ hoa, mình mặc cẩm bào xanh, lưng thắt đai ngọc khăn rồng, chân đi hài sắt, nói cười đều loé hào quang lưỡi lửa, cùng cầm long đao, lệnh rằng: Ngọc Hoàng thượng đế xuống sắc cho Nam Miên, Hiền Vương quản nước, bọc rồng trăm trứng nở ra trăm trai trị nước. Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ. Vậy ban sắc này.
Hiền vương mới nhận long bài, truyền các quan văn võ ngước lên trời vái vọng, rồi dập đầu lạy tạ.
Thần vương nói: Bào ngọc trăm trứng, thần oai rạng thiêng, điềm rồng giáng sinh. Thiên sứ báo cho Hiền vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi chùa cổ ở núi Viễn Sơn, tức là chùa Từ Sơn Thiên Quang Hoà Thượng ở ngọn Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng. Hiền Vương hãy thành tâm cầu trời, tới tháng Giêng bào sẽ nở. Nói xong Tứ đại thần vương lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.
Hiền vương thành tâm cầu trời. Thế là vào ngày rằm tháng giêng, mây lành bay phủ khắp đất trời, núi sông rừng biển, nở ra trăm con trai. Trong khoảng một tháng các chàng trai không cần bú mớm mà lớn bật lên như người trưởng thành, tướng mạo phương phi, dáng hình kỳ tú, thân cao ba thước bảy tấc, cái thế anh hùng.
Hiền vương triệu phi tần sáu cung đến phát các tấm gấm lĩnh để khâu may 100 bộ áo mũ cấp cho các chàng trai. Một ngày ba lần làm các trò vui như du ngoạn hoa lá hồ sen, được một trăm ngày. Đầy trăm ngày vào ngày 20 tháng 7 cả trăm chàng trai đều cười vang, nói lớn:
Trời sinh bậc thánh
Trị nước sinh vua
Thanh bình bốn biển
Thiên hạ vững yên.
Thế là một trăm hoàng tử đều đến trước sân rồng. Hiền Vương đến ngự thấy các vị thần tướng nhà trời đầu đội mũ đồng, mình mặc áo bào giáp sắt, chân đi hia bạc, lưng thắt khăn rồng quá độ, tướng mạo sang quý sáng láng, mắt sáng như sao, miệng nhả hào quang hoả khí, tay cầm thần kiếm linh trượng, chày ngọc búa sắt, dàn hàng đứng hai bên tả hữu đối nhau. Bỗng không trung biến hoá, nhất thời mưa gió nổi lên, bay vây quanh núi Nghĩa Lĩnh, trên điện núi non mất hình, sông suối tràn dâng sóng vỗ, không ai biết được chuyện gì xẩy ra. Sau ba giờ bầu trời lại tạnh sáng. Đó là 8 vị tướng xưng là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Chư Phật Thượng Đế sai đến thăm nom 100 vị vương tử, nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một cặp ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển Sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện. Hiền Vương vâng mệnh vào điện đón nhận, coi đó là điềm lành lớn trời ứng ban để trị yên thiên hạ.
Hiền Vương thấy 100 con trai bỗng nhiên trở nên cao lớn, thân cao bảy thước ba tấc, tay cầm thần khí thiên bảo, chia hàng đứng hai bên phải trái, hầu triều lạy mừng vua cha. Hiền Vương nhận việc của Tám tướng tấu về, một trận mưa gió chấn động, sấm chớp sáng lòa, trên không biến hóa khải hoàn về Trời.

IMG_5954
Chùa Thiên Quang ở Nghĩa Lĩnh, nơi thai giữ bào ngọc trăm trứng.

Hồi 7. Trảm tướng phong thần

Tiêu diệt Trụ Vương xong, Khương Tử Nha về Tây Kỳ, lập đàn Phong Thần, chém những tên gian thần của triều Ân để tế lễ, rồi phong cho các tướng lĩnh tử trận của cả hai bên thành các vị thần. Tín ngưỡng thờ thần của Trung Hoa bắt đầu trở nên chính thống từ đó.

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Khi đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa, thần vương cởi bỏ bộ áo hoa lau, cưỡi ngựa bay lên không mà bay đi. Nay nơi ấy vẫn còn dấu chân ngựa in trên lèn đá.
Núi Sóc Sơn chính là đỉnh Phong Thần của nhà Chu. Núi có tên Vệ Linh cũng hàm nghĩa này. Đây là nơi Khương Tử Nha đã đăng đàn trảm tướng phong thần, khởi đầu tín ngưỡng thờ thần cho cả thiên hạ Trung Hoa. Thôn Yên Tràng ở chân núi Vệ Linh còn có tục diễn cảnh chém 3 tướng Ân của Phù Đổng trước khi bay về trời.
Một cách kể khác về việc phong bách thần, đặt bách tính được kể trong đoạn:
Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù mà truyền dẫn. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ đất đai, xác định cương giới. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Người chủ gọi là Bô (bố), bố gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ theo phụ giúp, khi đó đều là những người tài giỏi. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Các họ tông của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời coi giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, giữ mãi phương Nam.

IMG_8279.JPGNhà bia bát giác đền Thượng ở Sóc Sơn.

Hồi 8. Phong hầu kiến địa

Chu Vũ Vương lên ngôi Thiên tử, đặt tên trăm họ, phong cho các anh em của mình, các vị khai quốc công thần các vùng đất đai phụ thuộc, phân chia chư hầu trấn giữ các nơi, sau thành các nước như Lỗ, Yên, Tề, Tấn, Tần, Ngô, Sở, …

Ngọc phả Hùng Vương kể:
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư. Ban bố cho trăm quan thường xuyên cầu khấn, cầu Phật ứng cho.
Trăm trai trăm tên. Con trưởng tên tục là Hùng Lân, sau đổi là Hùng Quốc Vương. Các con thứ có tên là Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Tĩnh Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, Yêu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tán Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hạn Lang, Khoán Lang, Trị Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Trâm Lang, Tróc Lang, Sát Lang, Lãng Lang, Sái Lang, Chiểu Lang, Kiềm Lang, Trường Lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Siêm Lang, Triệu Lang, Ích Lang, những người trên theo cha về biển.
Hương Lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Dị Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế Lang, Mã Lang, Thiệu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Miên Lang, Xuyến Lang, Kỹ Lang, Thỏa Lang, Phái Lang, Tài Lang, Trừng Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhị Lang, Tào Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Thập Lang, Triều Lang, Quán Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Tổ Lang, ? Lang, gồm những người theo mẹ lên núi.
Từ đó các hoàng tử đều đã có tên gọi, thành người chủ ở các phương, thông minh mẫn tiệp, trí dũng kiêm toàn, tài lạ đẹp đẽ, lòng hiếu mạnh mẽ, sức thần mắt rồng, thiên tư như mặt trời. Anh em đều có tài lớn, giúp nước ở chính triều đường, định vị thứ đứng đầu trăm quan.

DSC05695
Phù điêu những người con của Âu Cơ ở chùa Hoa Long.

Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Bắc, ba là Sơn Nam, bốn là Hải Dương, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Lạng Sơn Cao Bằng, mười ba là Quảng Đông Quảng Tây, mười bốn là núi Ngũ Lĩnh Vân Nam, mười lăm là Chiêm Thành. Bộ chủ các xứ. Nước 15 bộ, là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Trinh, Nhật Nam, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang.
Vua mới phân định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu quý, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc. Ơn hiếu nghĩa đức, sáng lòng nhân, trí tuệ, xuất thánh sinh hiền, không gian không ác, giúp đỡ mà trị, lấy đạo làm sáng, lấy giáo hóa làm đẹp. Vạn dân hân hoan, trăm họ ca hát, thiên hạ thái bình. Vua quân đổi đức, trị nước hưng thịnh, triều đình chuyên chính, dân theo cổ, lễ phục, tạo nhạc, mưa thuận gió hòa, nông tang lạc nghiệp. Nước có vua trưởng, là phúc của xã tắc. Dân coi triều đình là cha mẹ. Triều đình coi dân như con đỏ. Địa lợi nhân hòa, binh mạnh nước giàu, không động đao thương. Thiên hạ cùng hưởng niềm vui thái bình. Vua tôi cùng tốt, làm theo điều nghĩa, để tới vạn đời. Thế nước tăng thịnh, thật là to lớn, khó gì so bằng. Sau này có cung phi ở các bộ, sinh thêm hơn năm mươi người trai gái, tới lúc trưởng thành đều có tư chất tốt đẹp.
Sau đó Long Quân nhường ngôi, chọn con trưởng Thái tử tên Hùng Lân Lang, đổi thành Hùng Quốc Vương, nối ngôi thay triều, ra quản vạn dân, ngự chính ở cung kiền tại núi Nghĩa Lĩnh. Nay Hùng Vương xe sách thống nhất cai quản thiên hạ. Còn các người em vua 99 người…
Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng. Dân nhờ thế được đào giếng cấy ruộng, vui sống ở nơi thôn dã. Không một người dân nào bị xua đuổi không chốn sinh cư, không một vật nào không được yên bề nuôi dưỡng. Công thành trị định, vượt hơn các vua trước, dẫu là thời thái cổ cũng không bằng. Hưởng ngôi trị nước dài lâu. Đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Đó là Thuỷ tổ của Bách Việt.

Câu đối ở đình Bảo Đà ở Dữu Lâu, Việt Trì:
數千年王佐始終父子君臣開拯點
十五部天分草埜山河日月共長存
Sổ thiên niên vương tá thủy chung, phụ tử quân thần khai chửng điểm
Thập ngũ bộ thiên phân thảo dã, sơn hà nhật nguyệt cộng trường tồn.
Dịch:
Mấy ngàn năm phụ đế trước sau, cha con vua tôi mở nơi cứu giúp
Mười lăm bộ trời chia đồng nội, núi sông ngày tháng cùng nhau mãi còn.

Bao Da.jpg

 

Thục An Vương

Phần dịch Ngọc phả Hùng Vương của GS Ngô Đức Thọ về thời Thục Vương (đoạn cuối):

Hùng Nghị Vương thừa hưởng nhiều đời thiên hạ thái bình. Vua sinh ra đam mê tửu sắc, ham thích du chơi, không lo sửa sang võ bị. Vua nước Thục từ xa nghe tin Trung Quốc không mấy khi dùng đến việc võ nên muốn thống nhất dư đồ, nhưng sợ phương Nam có cây kiếm thần nên còn do dự chưa quyết.
Bấy giờ chúa phụ đạo bộ Ai Lao là người có hùng tài đại lược, cũng vốn là tông phái của Hùng Vương. Vua Thục biết thế bèn đem quân sang đánh bộ Ai Lao để đoạt chức chúa phụ đạo. Bộ Ai Lao không kháng cự được bèn sai sứ giả sang cầu cứu với Hùng Nghị Vương. Hùng Nghị Vương thân đem 10 vạn tinh binh tiến thẳng đến dưới thành Ai Lao để cứu viện. Thục Vương nghe tin bèn biên thư gửi cho Hùng Nghị Vương, nói: “Quân Thục từ phía Tây đến, chỉ muốn bộ chủ [Ai Lao] truyền lại cho ngôi báu, đâu dám giơ càng bọ ngựa mà chống với muôn cỗ xe của nhà vua”.
Hùng Nghị Vương thấy lời lẽ trong thư như thế bèn rút quân về. Thục vương bắt được bộ chủ phụ đạo [Ai Lao] đem về Thục, gả công chúa cho, rồi bắt nhường ngôi cho mình. Thục Vương sai sứ giả sang tạ ơn Hùng Nghị Vương, xin coi triều Nam là anh, triều Tây là em, cùng nhau giảng hoà định ước, hai nước quan hệ đi lại với nhau. Hùng Nghị Vương bằng lòng như thế. Từ đó triều Tây ngừng việc binh…

Thục Vương (là chúa Phụ đạo nước Ai Lao, cũng là tông phái Hùng Vương) từ xa nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho Tản Viên, bèn đem quân sang đánh Hùng Tuyền Vương để xâm chiếm nước Nam. Vua (Tuyền Vương) binh hùng tướng mạnh, Thục Vương mấy lần bị đánh bại. Vương bảo với Thục Vương: “Ta có sức thần, Thục Vương không sợ sao?”
Từ đó Tuyền Vương bỏ bễ không chăm sửa sang võ bị, chỉ đam mê tửu sắc làm vui. Đến khi quân Thục kéo đến tận nơi, vua vẫn còn say khướt chưa tỉnh. Quân lính trở giáo đầu hàng quân Thục. Hùng Vương bèn đắp thành ở Việt Thường, rộng nghìn trượng khoanh tròn như hình con ốc, gọi là Loa Thành. Mới đầu thành đắp đến đâu đổ đến đấy. Bỗng thấy một con rùa vàng trên sông từ phía đông bơi đến, xưng là Giang sứ. Hùng Vương lấy mâm vàng đặt rùa lên đấy rồi hỏi rùa vì cớ gì mà thành đắp cứ đổ mãi? Rùa vàng đáp:
– Đó là do quỷ hại. Phải trừ tinh khí của nó đi thì thành tự nhiên đắp xong.
Tuyền Vương đem rùa vàng đến một ngôi quán gần bên núi Thất Diệu giả làm khách đi đường vào ngủ trọ. Đêm ấy tinh quỷ ở bên ngoài gọi mở cửa. Rùa vàng hét to một tiếng, quỷ không vào được, đến khoảng gà gáy quỷ binh tan chạy cả. Rùa vàng bảo vua theo vết chân quỷ mà đuổi, đến núi Thất Diệu thì tinh khí của chúng bị thu nhốt hết. Tuyền Vương sai đào núi lên, thu đựoc một cỗ nhạc khí cổ và mấy bộ xương người. Vương sai đốt huỷ, đổ tro xuống sông, đến khi ấy yêu khí của ma quỷ mới trừ hết.
Từ đó việc đắp thành của Tuyền Vương không quá nửa tháng là xong. Rùa vàng từ tạ ra đi, rút một chiếc móng đưa cho Thục Vương mà dặn rằng:
– Quốc gia yên nguy có số trời, nhung người cũng phải có phòng bị. Nếu thấy giặc đến thì dùng móng thiêng này làm cái lẫy nỏ mà bắn thì vương không có gì phải lo!
Hùng Tuyền Vương bèn sai bề tôi là Cao Lỗ chế nỏ thần, lấy cái vuốt thiêng làm máy, đặt tên là “Linh hoa kim trảo thần nỗ”. Sau khi đã có nỏ thần, Hùng Tuyền Vương thu họp tàn quân, tuyển thêm dân binh, rồi sai người đưa thư cho Tản Viên, nói: “Thục Vương đem quân sang đánh, đã chiếm đô thành của ta, khanh mau đem quân đến cứu viện”
Tản Viên bèn dẫn binh mã thẳng đến Loa Thành, dàn quân đối trận với Thục Vương để khuếch trương thanh thế. Mấy hôm sau Tản Viên khuyên Hùng Tuyền Vương:
– Họ Hùng hưởng nước kể cũng đã lâu dài. Lòng trời ắt có hạn, khiến cho Thục Vương thừa cơ gây hấn xâm lấn nước ta. Vả lại Thục Vương vốn là bộ chủ Ai Lao, cũng là dòng phái của tiền Hoàng Đế. Nay quốc thế không được bình thường, cũng là chuyện do tiền định. Vua có yêu riêng gì một cõi đất phương nam mà cưỡng lại ý trời, làm hại sinh linh? Vả lại bệ hạ và thần đã có phép thần tiên, không gì hơn là quay về chốn Bồng Hồ, Lãng Uyển, tiêu dao ở làng quê bất lão, thanh nhàn nơi gác phượng lầu rồng, há phải nhiễm bẩn bụi trần, vàng ngọc châu báu cũng chẳng bằng mảy lông, ngọc nữ tiên đồng cũng chỉ mát mắt chốc lát. Trí lực như thế mới thật là cao!
Tuyền Vương cho là phải. Rồi Tuyền Vương sai đưa thư nhường nước cho Thục Vương. Thục Vương sai sứ đến tạ ơn. Tuyền Vương nhân đó tặng cho Thục vương chiếc nỏ thần, rồi trở về núi Nghĩa Lĩnh cùng với Tản Viên Sơn Tinh biến hoá vào cõi hoá sinh bất diệt.
Thục An Vương đã được nhường nước, tưởng nhớ ơn đức trời biển của Hùng Tuyền Vương bèn xa giá đến núi Nghĩa Lĩnh cho dựng Dao Đài để làm nơi quốc gia phụng thờ, dựng hai cột đá trong núi, chỉ tay lên trời thề rằng:
– Nguyện trời cao mây xám lồng lộng xét soi: nước Nam trường tồn trường tại. Ngôi miếu Hùng Vương nơi đây nếu vua sau kế trị mà bội ước nhạt thề thì sẽ bị rìu trăng búa gió trừng phạt, không phụ lời thề của tiền nhân.
Đọc lời khấn xong, Thục Vương lạy tạ rồi lên xe trở về kinh đô Phong Châu, cho triệu các dòng phái cành vàng lá ngọc của dòng họ Hùng ban cho danh hiệu Trung Nghĩa hương (làng Trung Nghĩa), cấp cho dân tạo lệ hưởng dụng lâu dài, cấp 500 mẫu ruộng ở gò Nghĩa Lĩnh thuộc bản thôn. Lại cấp cho các cánh ruộng ở nhiều địa phương để thu tô thuế: trên từ Tuyên Quang, Hưng Hoá, dưới đến các xã ở Việt Trì hàng năm nộp hoa lợi để dùng vào việc đèn hương phụng thờ 18 đời vua Hùng từ Thánh tổ Cao hoàng đế đến các vua kế đời truyền nối.
Thục An Vương kế nối trị nước được 50 năm thì xẩy ra việc nhà Tần lập các đạo quân gồm những dân phạm tội phải chạy trốn lưu vong, những người đi ở rể bị bán làm binh, sai Hiệu uý Đồ Thư làm tướng chỉ huy, sai Sử Lộc đào cừ chở lương thực, tiến sâu vào đất Lĩnh Nam, chiếm đất Lục Lương, đặt các quận Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận; lấy Nhâm Ngao làm Thái thú quận Nam Hải, Triệu Đà làm lệnh doãn huyện Long Xuyên (Nay ở đình Phân Thuỷ huyện Hưng Yên có miếu thờ). Câu đối ở miếu:
Niệm Nghĩa Lĩnh khai cương, cạnh nhĩ sổ lý thanh sơn, lưu cao trạch nhi thành đô hội.
Khai vật tế nhân, tưởng Việt thành thâu túc, t
huỳ sử nhất hoằng bích thuỷ, tiện vãn vận dĩ khải hồng đồ.
Rồi đó Nhâm Ngao, Triệu Đà thừa cơ gây hấn, đem quân sang xâm lược. Triệu Đà đóng quân ở núi Tiên Du Bắc Giang giao chiến với An Vương. An Vương lấy nỏ thần ra bắn. Triệu Đà thua trận bỏ chạy. Đà biêt Thục có nỏ thần, không thể đối địch đựơc, bèn cho con là Trọng Thuỷ vào làm lính hầu (túc vệ) trong cung An vương. Rồi Trọng Thuỷ cầu hôn vương nữ Mỵ Châu. Trọng Thuỷ dụ Mỵ Châu lấy trộm nỏ thần cho xem rồi tháo đổi cái lẫy khác. Sau đó Thuỷ về báo cho cha biết. Triệu Đà bèn phát binh đánh An Vương. An Vương không ngờ cái lẫy thiêng đã bị mất, khi ấy đang đánh cờ vây, cười nói: “Đà không sợ nỏ thần sao?”. Quân Triệu Đà vây áp đến nơi, An Vương lấy nỏ ra bắn, không hiệu nghiệm. An Vương bẻ nỏ vứt đi rồi lui chạy. Thế là cơ đồ họ Hùng mất.
Từ Triệu Vũ Đế (huý Đà) kế trị đến các triều Đinh Lê Lý Trần cho tới nay triều Lê ta đều chuẩn y việc phụng thờ ở cung miếu, chuẩn cho làng Trung Nghĩa thuộc bản xã theo đúng lệ cũ được hưởng tạo lệ, miễn trừ tô thuế binh dân cùng là các khoản sưu sai tạp dịch, giao cho dân bản xã phụng thờ cầu chúc cho mệnh mạch quốc gia trường tồn, lưu thơm muôn thủa.
Ô hô! Thịnh thay!

Năm Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ nhất (1470), mùa xuân, tháng Ba, ngày tốt.
Hàn lâm viện trực học sĩ NGUYỄN CỐ phụng soạn.

Sơn Tinh Thủy Tinh

Dịch đoạn Ngọc phả Hùng Vương đời thứ 18:

Truyền tới Hùng Chiêu Vương, ở ngôi tám mươi năm.
Hùng Trinh Vương, một trăm bảy mươi năm.
Hùng Võ Vương, chín mươi sáu năm.
Hùng Việt Vương, một trăm lẻ năm năm.
Hùng Định Vương, chín mươi chín năm.
Hùng Triều Vương, chính mươi hai năm.
Hùng Nghĩ Vương, hai trăm năm.
Trải qua 16 đời, đều xứng là thời Trị Bình. Truyền đến đời Hùng thứ mười bảy là Hùng Nghị Vương, một trăm sáu mươi năm. Vua lập thái tử là Hùng Tuyền vương, kế nối chính thống. Tuyền Vương có tư chất thánh triết, anh hùng dưới trời, trong sửa võ lược, ngoài giữ biên cương, dốc chí hưng thịnh trị bình, giữ yên Trung Quốc. Xa noi nền trị của các bậc tiền vương, kính sùng trời đất, kính trọng quỷ thần, trời ban phúc lành, mến giúp quốc sự. Vì thế Vua càng gia tăng sùng chuộng, kính tín thần nhân, truyền hịch cho thần dân thiên hạ sửa thêm đền miếu, nghi vệ trang nghiêm, ngày ngày đều dâng hương hoa tỏ lòng thành kính phụng thờ. Châu huyện nào có quan cai quản thì mỗi tháng đôi lần viên quan ấy phải đến làm lễ mật khấn bách thần cầu nguyện cho mệnh mạch quốc gia dài lâu. Vua đích thân lên núi Nghĩa Lĩnh xem lăng điện của các bậc tổ tông cùng linh điện các danh tướng tiết liệt, khai quốc công thần, thảy đều cho sửa sang tu bổ, tăng thêm tầng cao vươn như chọc trời, lâu đài bốn phía, ánh sáng cuốn đất, một bầu phong cảnh, dựng đàn bái lễ. Truyền cho văn võ triều thần sửa sang áo mũ năm màu, tùy theo phẩm tước xếp thứ tự, mỗi tuần nghiêm túc làm lễ độ pháp quy mô, cho việc triều đình được trung chính.
Khi đó Vua chưa có thái tử kế vị, nên đại giá đi thăm các cung tiên Tam Đảo, Tản Viên, xem khắp địa thế những nơi núi non lạ kỳ phong cảnh tươi đẹp, cho dựng các điện miếu, phụng khấn cầu con. Nhưng số thời đã hết, cơ đồ họ Hùng đã đến hồi kết thúc.
Vua không chiêm bao được điềm gấu lớn, sau sinh được con gái hai nàng, đều là những trang thục nữ phụ đức trinh hiền, phong tư tuấn nhã, so ra thì Tề Khương, Nga Nữ chỉ là hạng tầm thường, chất ngọc thân tiên hợp thành. Công chúa thứ nhất tên là Mị Xu [Châu] Tiên Dung. Công chúa thứ hai tên là Mị Nương Ngọc Hoa. Vua rất yêu quý. Công chúa Mị Xu được Vua gả cho Trử Công đồng tử (huyện Hương Yên, phủ Sơn Nam). Còn công chúa Mị Nương, Vua muốn cầu bậc anh kiệt, nên chưa định ngày lành. Vua cho lập hai ngồi lầu ở sông Việt Trì, trước cửa treo biết đề: 
Quán chơi trăng cầu hiền;
Lầu kén rể đãi hiền.
Vua cho công chúa thứ hai ở đó. Vua truyền hịch đi bốn phương, cần rể hiền quý để trao ngôi họ Hùng. Ai là tài tử văn nhân, hãy đến tụ hội ở thành Phong Đô, vua chọn kỳ tài, để gả công chúa. Do đó anh hùng hào kiệt bốn biển hăng hái háo hức đến tụ tập ở quốc đô. Vua ngự tuyển người tài trong thiên hạ, có nghìn kinh vạn sách, nhòm xét ở cung tường Khổng Mạnh, bốn khoá ba truyền, chẳng khiêm nhường thao lược của Tôn Ngô. Hiền tài trong thiên hạ đều có mặt cả ở trường thi. Nhưng phần nhiều được mặt này thì mất mặt kia, cùng lóc lóc trôi tuột cả, đều chưa phải là bậc toàn tài của đương thời. Duy có Sơn Tinh Tản Viên và Thuỷ Tinh Động Đình là hai bạn đồng học cùng thầy, có nhiều thuật pháp thông thiên, nhưng không đến kịp để dự thi cùng mọi người. Ngày mồng sáu tháng Giêng năm Giáp Tí, Sơn Tinh và Thủy Tinh hai thần mới biết nước đang cầu tìm rể hiền. Hai tướng giao ước trong ngày cấp tới kinh thành, dâng lời tâu lên Vua:
– Bọn thần thẹn nỗi kém tài, sống thừa trong vương quốc. Trộm nghe thánh thượng mở khoa thi kén rể hiền. Bọn thần đến muộn, nhưng muốn được thi tài mong gặp vận may không lọt ra ngoài hịch chiêu hiền của thánh thượng.
Vua cả mừng, bèn lên xe đến sông Bạch Hạc ngự thi tuyển cho hai người. Sơn Tinh đến ngồi ở đầu sông. Thủy Tinh trở về dưới đáy nước. Trong khoảnh khắc bỗng thấy mây mưa nổi lên giữa dòng, mặt sông gió tung bụi cuốn. Đáy biển vang tiếng động ầm ầm, trên không chớp loè loang loáng. Giao long, ngư kình từng đoàn theo sóng tung lên muôn vạn lớp, kình ngạc côn nghê điệp điệp nuốt muôn sóng ngàn sông. Một bầu trời đất, muôn trũng sóng cồn. Trong khoảng tranh tối tranh sáng, những ai trông thấy đều phải lạnh tim lạc phách. Sơn Tinh tay trái cầm quyển sách, tay phải cầm cây gậy, miệng niệm thần chú mà chỉ. Muôn quái nghìn kỳ, thảy đều do trượng đầu vung quét. Một biến một hoá, đều là diệu pháp thần cơ. Sơn Tinh mới biến hóa sách thần phép ước, nghìn kỳ vạn vật, trăm thú đến chầu. Một khoảnh giữa sông bỗng nổi lập đầu núi ngũ nhạc, cao hơn ngàn trượng. Núi mây năm sắc, Thứu Lĩnh rồng bay phượng múa, lân quỳ, voi trắng chín ngà chầu phục. Voi núi hổ mạnh theo về. Vạn thú nghìn chim tụ hội. Dù Thủy Tinh phép lạ cũng khó vượt Sơn Tinh. Sơn Tinh một biến một hóa, sách thần ước lớn, lấy gậy chỉ ra. Tự nhiên ngọn núi giữa sông biến mất, vạn vật hóa đi đều quay về vùng đất rừng núi Tản Viên.
Vua thấy hai hiền tài đều có phép thuật như nhau, không biết nên chọn gả công chúa cho người nào. Vua bèn lên xe trở về cung, sai sứ giả triệu hai người hiền đến bảo:
– Trẫm chỉ có một đứa con gái, như viên ngọc Lam Điền, ngày trước vua Thục cầu hôn không gả. Nay hai khanh đều là bậc anh hùng. Nghe nhạc Ngô thì Hán sầu thảm. Hán ca hát thì Tần khóc lóc. Chưa biết phải thẩm định thế nào cho tiện. Vậy ai đem sính lễ đến trước thì trẫm gả cho người ấy.
Thủy Tinh liền trở về cung điện ở Động Đình, lại còn phải tìm chọn lễ vật cho thật kỳ lạ. Sơn Tinh thì chỉ xuống lầu, cầm gậy chỉ lên trời, nhẩm khấn xin sính lễ. Một lát liền thấy voi trắng chín ngà cùng các đồ châu lạ vật dị, tất cả từ trên trời hiện xuống. Sơn Tinh thu lấy, vừa đúng giờ Tí đã đưa các đồ sính lễ đến trước lầu rồng. Vua bèn gọi công chúa đến gả cho Sơn Tinh. Sơn Tinh nghênh rước ngay về sơn động ở núi Tản Viên. Đến giờ Mão, Vua lại thấy Thuỷ Tinh cũng đem đủ lễ vật đến. Vua nói:
– Sơn Tinh đã đem lễ đến trước rồi! Việc cưới xin đã xong. Theo đúng lời hẹn ước, chớ nên hối tiếc.
Vua là người có đạo vợ chồng, giữ nguyên phong tục, làm vua lấy đức giáo hóa nhân dân, rủ áo chắp tay, được nghề canh cửi tằm tang lạc thịnh, có có phong cách để lại của thời thái cổ. Thời vua trị vì đất nước làm việc thi ân có nhân cho dân chúng. Biển vui sông xanh, hoàng gia yên sự, tám cõi đều chầu, dân không gian dối, đều tuần theo chính giáo, chế độ cai trị quy mô, đất đai thống nhất.
Vua lệnh cho các hiền thần xem trời đất âm dương, năm khí núi sông, quan sát tượng trời, lấy núi Nghĩa Lĩnh định quê hương, đặt là điện Nghĩa Động, nay là xã Nghĩa Cương. Trưởng tạo lệ là thôn Trung Nghĩa. Cấp cho ruộng trên từ Tuyên Quang, dưới tới Việt Trì, để phục vụ việc hương hỏa tế tự, cho quốc gia nối mạch dài lâu.
Từ khi Thuỷ Tinh đưa đồ sinh lễ không được, nên có ý bất bình, oán hận, bỏ về thuỷ cung. Từ đó tình bạn học cùng thầy trở thành oán cừu. Hàng năm tháng Sáu tháng Bảy, Thủy Tinh lại dẫn vạn thủy binh tiến thẳng đến núi Tản Viên, gây mưa to gió kớn, sấm chớp sáng lòe. Hai tướng giao chiến. Sơn Tinh mới tấu cáo về với vua cha. Hùng Tuyền Vương rất tức giận, liền sai Sơn Tinh thu thập trăm vạn cân sắt, truyền trăm thợ giỏi, luyện đúc khuôn thành lưới sắt. Dài hai trăm ba mươi sáu trượng. Rộng năm mươi trượng, chặn ngang ở bến Đoan Hương huyện Từ Liêm, ngăn cắt Thủy Tinh không thể qua lại.
Thủy Tinh phải mở riêng một đường thủy sông Tiểu Giang, trên từ thôn Cốc một nhánh nhỏ chảy tới sông Tích một dòng, từ Hát Môn huyện Phúc Lộc, dưới tới phủ Lị Nhân xứ Sơn Nam, thông ra tới cửa biển Thần Phù. Thời thường vẫn căm hận dẫn thủy binh đến giao chiến, xưa nay thường có.
Tuyền Vương hưởng nước khoảng một trăm năm mươi năm, rồi muốn nhường ngôi cho Sơn Tinh Tản Viên. Sơn Tinh cố từ không dám nhận. Tuyền Vương nói:
– Cơ đồ họ Hùng đã hết, con gái không kế tục được.
Tản Viên còn do dự chưa quyết thì vua Thục nghe tin Tuyền Vương nhường ngôi cho con rể quý Tản Viên. Thục Vương viện cớ… (bị thiếu).