Vua Hùng gặp tiên

Dịch đoạn Ngọc phả Hùng Vương cầu gặp tiên ở Tam Đảo, sau thời Phù Đổng Thiên Vương đánh giặc Ân:

Thái tử là Hùng Huy Vương nối ngôi kế thừa đại thống. Huy Vương từ khi kế vị cố gắng chuyên lo chính trị, theo thanh thế vang lừng về sau, cất cung khoá giáp, không phải dùng binh, chỉ lo an dưỡng muôn dân, sửa sang chính sự giáo hoá. Rồi đó lấy chuyện trước làm răn, không dám làm càn dâng lễ dối khiến cho Trời giận giáng tai ương, giặc ngoài biên xâm phạm, sáu đời thừa huởng thái bình bỗng trở thành thời loạn. Từ đó vua kính sùng đạo trời, kính việc quỷ thần. Phàm các nơi trên núi dưới biển ở đâu có thần thiêng đều sai trăm quan văn võ đến xây cất miếu điện, hoạ vẽ thánh tượng, thành tâm phụng thờ. Vua mới ngự ở điện Kính Thiên, cho xây cất đài dao điện ngọc, tô vẽ tường cung, trang hoàng miếu vũ, bố trí nghi vệ, nhất nhất trang nghiêm. Các đồ tế khí cũng đều cho vẽ rồng mây, ngày đêm đèn hương không ngớt. Hàng tháng cứ ngày sóc vọng Vua thường trai giới lên ngự chầu. Bên cạnh điện từ xưa có một ngôi chùa, nguyên là nơi khi xưa có các bảo vật của các bậc thánh đời trước, nơi tu luyện thân tâm, thuốc thiêng diệu dụng, được phép thành tiên, hoá sinh bất diệt, giữa ban ngày bay lên trời. Dấu tích bắt đầu tại chùa này, nơi được các bộ chúng thần giáng thế giúp đỡ, núi sông chung đúc linh thiêng lạ đẹp. Tinh thần trời đất, Tứ đại Thiên vương, Bát bộ Kim cương, Nhị thập bát tú cùng trăm thần tụ hội, truyền trông nom tinh núi, tinh nước, sông ngòi biển núi, trăm thú đến chầu, tất cả đều quy về một mối. Xưa gọi là chùa Từ Sơn Cảnh Thừa Long (nay là chùa Thiên Quang Hòa Thượng thiền tự).
Vua đến ngự ở đó, truyền cho trăm quan tả hữu tu sửa trong chùa, cả bốn vách chùa đều cho vẽ các ảnh tượng màu sắc huy hoàng, trồng thêm cây hoa, làm nên thành một nơi cảnh đẹp. Vua bèn truyền chiếu hịch cho dân các châu huyện phủ xã, nơi nào có tăng ni, đạo sĩ, các xứ hội đồng, chọn tuyển các bậc tăng lưu lục tuần, cấp phát áo mũ, tụ hội đạo chúng để thuyết pháp giảng giải chân kinh, khai mở nguồn đạo. Đầy cung hương hoa, bốn mùa thơm phức.
Vua lại sai quần thần mồng một và ngày rằm dâng lễ chay. Hai ban văn võ đứng chầu nghiêm trang. Vua kính cẩn đọc sớ tâu lên bề trên. Cửu Tiêu tuy cao, nhưng đèn hương bay thấu áng mây lành. Một tấm lòng thành cảm cách thông đến trời. Cầu tất ứng, ước nguyện đều được theo ý.
Một ngày tốt có hương trời, bỗng thấy một lão ông mình vàng mặt ngọc cưỡi mây bay đến. Vua lạy chào rồi mời lão ông vào trong chùa ở chính điện. Lão ông nói:
– Ta là thần miền Tây Vực, cư trú lâu ngày ở Biển Giác, chu du trên thuyền Bát Nhã, không nhiễm lòng trần, tẩy niềm tục Niết Bàn. Nay thấy nơi đây có lòng thành cảm cách, râm ran tiếng cầu kinh xướng kệ, cho nên ta cảm ứng mà đến đây. Vua mừng thầm: “Người có lòng thanh tịnh, ý trời sẽ thông”.
Trong chốc lát, cụ già lấy trong ống tay áo ra một chiếc móng rồng, một khối ngọc trời, đem trao cho vương. Liền đó một đám mây ngũ sắc hiện ra sáng loá cả núi rừng. Lão ông bay lên trời mà đi.
Vua mới biết đó là đức Phật thượng thiên giáng ngự, bèn sụp quỳ vọng bái. Ngày hôm ấy vua truyền cho trăm quan triều thần ăn ở chay tịnh rồi lập đàn cúng ở cung điện trong chùa. Triệu trăm quan đến hội ở núi Thượng Linh, khấn rằng:
– Ngày hôm nay tôi may mắn được gặp một vị lão ông tặng cho một vật lạ, không biết nên đem làm gì cho được quý báu? Chư vị thần linh nếu hay biết nguyện xin ứng chỉ giáo cho.
Vừa khấn xong bỗng thấy trên không rực sáng, rồi một đám mây lành sà xuống. Tứ đại Thiên vương hiện lên giữa đàn, hiện mình cao bảy thước, mày râu bạc trắng, đầu đội mũ hoa, sắc hình rực rỡ. Vua đón mời vào trong điện, sửa sang áo mũ lạy chào. Tứ đại Thiên vương nói với Vua:
– Thứ mà Lão ông đã tặng là của quý của Hoàng Thiên, một dùng chế ra chuôi kiếm, một dùng chế ra ấn phù ngọc quý, cần phải mài dũa cho thật sáng để làm vật quốc bảo. Nói xong Thiên vương lại bước lên mây mà đi.
Vua hướng về phía đầu núi mà vái vọng. Cũng nhân việc này vua cho đắp thánh tượng đặt ở trong chùa để phụng thờ. Rồi đó Vua ngự giá về cung, sai đem khối ngọc trời khắc thành quả ấn, đem chiếc móng rồng tạc thành chuôi kiếm. Trên ấn khắc chữ “Vương Linh ấn”, trên chuôi gươm khắc chữ “Thiên Linh kiếm”.
Từ đó xã tắc vô lo, triều đình yên tĩnh. Vua nghiệm ra một điều rằng lẽ trời rất mực huyền vi, đối với đạo trời vua dốc lòng ngày một thêm sùng chuộng. Một ngày kia tiết trời tạnh sáng, muôn cảnh đều tươi mới, quần hồng áo tía đầy thành, người và cảnh vật dịu yên trong ánh thiều quang. Triều đình có kỷ cương, đặt khoa cử chọn kẻ sĩ. Lấy đạo đức nhân từ làm chính. Cầu tìm những bậc thần từ tài giỏi. Nhiều kẻ sĩ tốt đẹp hội mây tại triều đình. Đông đúc các bậc hiền thần, đến nơi cử đế. Thật là thời thịnh, ngày hội văn minh.
Một hôm Vua bày tiệc ở Long Lầu. Quần thần dâng lời tâu:
– Chúng thần nghe nói núi Tam Đảo là nơi quần tiên thường hay đến tụ hội, tinh thành trong sạch, đến đó có thể gặp được tiên.
Vua vốn trọng việc quỷ thần, nên nghe vậy rất thích thú, liền truyền cho xa giá đi ngắm xem phong cảnh. Xe loan đến nơi, mừng thấy đồi vóc núi gấm, lâu đài lớp lớp toả sáng ngàn tầm, động biếc khe xanh, vạn dòng lặng tung bọt sóng. Cảnh vật tranh sắc, hoa cỏ đua thơm. Đầu ngọn núi nhỏ có ngôi chùa cổ tên là chùa Tây Thiên dựng trên khoảnh núi địa thế như con rồng trắng bay sà xuống. Vua bèn cho dựng đàn tràng, sửa dọn lễ chay, sai quần thần dâng tiến đứng chầu. Vua làm lễ bái yết, mở một tràng công đức ở trong chùa, sớm cầu tối nguyện trong bảy ngày bảy đêm, trai gái bốn phương kéo về dự hội đông như mây họp. Mọi người cùng vui thăm xem cảnh vật. Dẫu chim chóc chốn sơn lâm cũng được nghe kinh, tuy cá tôm dưới khe suối cũng vui nghe giảng kệ. Một lòng công đức, ban phúc. Vua lại đến bên khe Thạch Bàn để xem tiên cảnh. Bỗng thấy trên lầu điện nguy nga khói sương lấp lánh, bốn phía quần hội rồng mây, mông lung đài sen đất Phật hiện lên. Một bầu núi non, đúng là cảnh Bồng Lai thú vị. Vua bèn vào chùa Phù Nghi, lập đàn Vọng Tiên, khấn lời cầu nguyện Hoàng Thiên. Rồi Vua truyền gọi triều thần văn võ đến hội chầu, áo mũ nghiêm trang. Vua đọc văn khấn chúc:
– Nguyện Hoàng Thiên cho các vị thần tiên giáng xuống cho được có dịp hạnh ngộ, thoả lòng mong ước ba sinh.
Đọc chúc xong vua sụp xuống lạy tạ. Nhưng sau ba ngày vẫn không thấy bóng dáng của các vị tiên đến. Vua hồi hộp lo lắng, nhưng không biết phải làm thế nào. Vua bèn đến chỗ núi đầu rồng, lập đài Vọng Tiên mà lòng kiên trì cầu khấn. Đêm ấy vua chiêm bao thấy thần linh hiện lên bảo rằng:
“Tây Thiên chi thượng
Bất kiến hạ tướng.
Niệm Đông túc các,
Nhân cửu cư thượng khẩu vượng.”
Vua nhận được bài thơ thần bốn câu đó xong liền xa giá về cung. Về đến dưới núi thấy một mỹ nhân phong tư xinh đẹp, cốt cách thanh cao đang đứng bên điện Cẩm Miếu xem xa giá nhà vua. Vương thích nhan sắc cô gái ấy, muốn lấy làm vợ. Đến khi về cung, Vua hỏi:
– Nhà nàng ở đâu?
 Cô gái đáp:
– Thiếp là tiên nhân giáng sinh xuống trần ở Đông Lộ làm con của một gia đình trưởng lão. Thiếp đã mấy mùa hoa vịnh sử ngâm kinh, che châu giấu ngọc để đợi bậc anh hùng. Gần đây trộm nghe bệ hạ đại giá đến Tây Thiên, dựng đàn tràng muốn cầu tiên tử. Thiếp vì thế dẫu chẳng phải xa xôi cũng đến xem, may duyên trời tiền định cho thiếp được gặp quân vương, xin nguyện phụng hầu nơi màn trướng không phụ nguyện ước ba sinh.
Vua nghe lời kể của mỹ nhân, mới biết là thần tiên sai đưa tiên nữ đến cho mình. Thế là Vua sai quần thần sắm sửa sính lễ, rồi ngự xa giá đến nhà Trưởng ông ở Đông Lộ xin nạp sính lễ. Rồi đó Vua đón hôn trở về thành Phong Đô, lập tiên nương làm vương phi chính nhất. Chưa đầy năm Ngọc Tiêu mang thai, rồi sinh một con trai tư chất bẩm sinh thông minh, anh tài trác việt. Đến tuổi trưởng thành được vua cha lập làm Thái tử nối quốc thống, hiệu là Hùng Vĩ Vương. Về sau, Vua cùng hoàng phi học được tiên thuật, hưởng nước được 200 năm, Vua truyền cho con lên ngôi trị vì. Vua thọ sánh ngang tuế nguyệt Kiều Bành, hoá sinh bất diệt.
Ninh Vương nối vị, kế thừa ngôi báu các đời tiên vương. Lúc mới nắm quyền, các việc chính sự thi thố kể cũng khả quan. Vua thường lấy ấn kiếm đưa cho quần thần xem mà bảo:
– Trẫm có hai vật báu linh thiêng, lo gì không trị được thiên hạ?
Từ đó thần uy càng chấn động, thanh thế lên cao, những kẻ gian phu trong bốn phương thảy đều vỡ mật run tim. Trong nước thái hoà, biên cương vô sự, thiên hạ ngợi khen là bậc vua hiền. Hưởng nước được 100 năm thì băng.

Tiểu kết trong Ngọc phả Hùng Vương về thời dựng nước

Thien dia nhat nguyet

Dịch đoạn bàn về thời dựng nước trong Ngọc phả Hùng Vương.

Ngọc phả Hùng Bảo bàn rằng: Đất Việt từ Hồng Bàng Thị kế tiếp sau là cháu ba đời của Thần Nông, Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân, đều là đạo sáng vợ chồng, là gốc của phong hóa. Cai trị được là nhờ có đức giáo hóa cho nhân dân, rủ áo chắp tay. Bốn phương trăm họ đều thần thuộc. Vạn dân được cày ruộng soi giếng, ăn nên làm ra. Trời đất trăng sao đều tỏ, âm dương đều chính. Bốn mùa khí hậu an hòa. Thái tổ bởi phong tục tốt đó mà lệnh cho Hiền Vương kế tục Dương Vương cai trị phương Nam, lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ, tên là nàng Âu Lạc, sinh ra sự lành trăm trai, là khởi thủy của Bách Việt nước Nam, hưởng quốc qua các năm, có hơn trăm bậc đế vương, là sự trường tồn.
Khi đó nước giàu thọ, nhiều nam giới, mười tám lá ngọc, cơ đồ vững lập, trị hưởng quốc gia lâu dài, sách trời ước định. Thời kỳ này đầy đủ là hai ngàn sáu trăm hai mươi hai năm. Từ cổ tới nay chưa từng có. Ban đầu bày xếp ơn đức yên nhân dân, các nơi đều an vui, thiên hạ thái bình, chuyên nghề làm nông tang, không có binh đao. Bốn cõi núi bể sáng yên.

Nguyên văn phiên âm:

Hùng Bảo án viết, Việt tự Hồng Bàng Thị kế Thần Nông chi hậu, tam thế tôn dã. Kinh Dương Vương thú Động Đình Quân nữ, minh phu phụ chi đạo, chính phong hoá chi nguyên, cư trị tắc dĩ đức hoá dân, thuỳ y củng thủ. Tứ phương bách tính, dĩ thần thuộc sự. Vạn dân tắc canh điền giám tỉnh, tuế tác nhập tức. Thiên địa nhật nguyệt tinh thần, âm dương dĩ chính. Tứ thần tiết hậu. Thái tổ chi thuần phong dư lệnh Hiền Vương kế Dương Vương chính trị Nam phương, thú Đế Lai chi nữ tính Âu Cơ danh Âu Lạc nương, đĩnh sinh bách nam chi tường, vi Nam quốc Bách Việt thuỷ. Hưởng quốc lịch niên, dư bách đại đế vương. Tối vi trường cửu.
Thì quốc phú thọ đa nam, thập bát diệp bảo đẳng, hồng đồ bảo đỉnh, vĩnh trị hưởng quốc, thiên thư định ước, mãn tải kỷ niên, nhị thiên lục bách nhị thập nhị niên, tự cổ dĩ lai, vị chi hữu dã, sơ thi đức huệ, anh? ư nhân dân, quần phương an nhạc, thiên hạ thái bình, chuyên sự nông tang chi nghiệp, vô hữu binh qua, tứ dã hải nhạc quang bình.

Đế Minh, Đế Nghi, Kinh Dương Vương

Dịch lại Ngọc phả Hùng Vương, đoạn đầu tiên về ba vị Đế Minh thái tổ, Đế Nghi đế bá, Kinh Dương Vương hoàng phụ.

Xưa kia từ thời Hoàng Đế, cháu ba đời của Viêm Đế là Đế Minh, sinh ra Đế Nghi, rồi đi tuần du phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh. Đế Minh gặp được con gái của Vụ Tiên nương, mà sinh ra Kinh Dương Vương, húy là Lộc Tục. Vua ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thọ hai trăm năm mưới bảy năm. Hóa tiên về biển cùng với con gái Động Đình Quân là Ngọc Dung.
Vua có dung mạo đoan chính, thông minh thánh trí, vượt trội hơn tầm của Đế Nghi. Đế Minh thấy có trí tuệ kỳ lạ, có ý lập kế tự, muốn truyền ngôi báu cai quản muôn nước. Nhưng Dương Vương cố nhường cho anh. Thế là Đế Minh lập Đế Nghi nối ngôi, cai trị phương Bắc, còn phong cho Kinh Dương Vương cai trị thiên hạ ở mặt Nam, xưa là quận Giao Chỉ. Kinh Dương Vương đổi thành động Xích Quỷ, tên là nước Xích.
Xưa Dương Vương vào ngày mồng năm tháng hai năm Nhâm Tuất, vâng lệnh đem quân lính dời đến núi Nam Miên, trấn giữ và cai trị đất nước. Trên đường Vua ngắm xem phong thủy, chọn nơi hình thế thắng địa, có đại cuộc chân long quý mạch, để lập đô ấp, trấn trị thiên hạ. Qua đất Hoan Châu (xưa là Hoan Châu, nay là Nghệ An) Vua ngắm xem hình thế, thấy được một vùng có quý cuộc phong cảnh tươi đẹp, như lâu đài muôn nhẫn, gọi là Hùng Bảo Thứu Lĩnh, tất cả có 199 núi, xưa gọi là Cựu Đô Ngàn Hống. Vùng đất này non biển đúc linh, núi sông khe hồ hội chầu, tụ họp ở cửa Hội Thống ven giáp biển, đường núi quanh co, đường sông uốn khúc, địa thế rồng cuộn hổ ngồi, bốn hướng cùng trông, bèn xây dựng đô thành cung điện lâu đài cửa ngọc, làm nơi cho bốn phương triều cống.
Bấy giờ khí xuân ấm áp, vô vàn cảnh sắc. Vua bản tính thích phong thuỷ bèn lên thuyền ngự tuần du ngoài biển, đi xem núi sông, trải xem hình đất, lạc ra ngoài biển. Bất giác thấy thuyền rồng đã thẳng đến xứ hồ Động Đình, núi xanh nước biếc. Vua sai dừng thuyền, đứng lên xem, chợt thấy một người con gái lưng eo xinh đẹp, dung nhan tuyệt sắc, từ dưới đáy nước đi đến. Thật là một cuộc hội ngộ hiếm có xưa nay. Vua bèn sai chèo thuyền đến gần. Vua nói:
– Tiên nữ đẹp quá, từ đâu đến đây?
Thiếu nữ đáp:
– Thiếp tên là Thần Long, chính là con gái Động Đình Quân, ở trong thâm cung cửa ngọc, từ lâu đợi bậc anh hùng, nay trời cho được gặp gỡ, nguyện được theo phụng hầu khăn túi.
Vua vui mừng đẹp ý, bèn dắt vào trong thuyền rồng. Vua cùng người con gái quay giá trở về thành đô, lập Thần Long làm chính cung.
Ngày sau Vua lại đi tuần thú, rong ruổi xem khắp các nơi sông núi, đến xứ Sơn Tây thấy một nơi địa hình trùng điệp, sông đẹp núi lạ. Vua bèn thân ngự giá lên núi, tìm mạch đất, nhận thấy khí mạch từ núi Côn Lôn xuất ra, theo từ động núi Ngũ Lĩnh Vân Nam của cả nước, tiếp gặp Ải Môn Ngưỡng Đức nước lớn, như hình chữ Bát. Xuyên núi thấu mạch dẫn tới Cao Bình, Lạng Sơn, Càn Hải chín châu. Các núi cao vút, bỗng nổi lên thành ba ngọn núi [Tam Đảo], rồng trắng giáng khí ở châu Thái Nguyên, chợ trời bàn đá [Thiên Thị Thạch Bàn], nước chảy khe trên, ngược núi ngược sông, mạch dẫn liên miên.
Đưa tới các châu Bảo Lạc, Bằng Du, Thu Vật, Lục Yên, đầu nguồn nước từ Hoàng Hà, Hán Giang, Lô Giang, Càn Thủy, mà chảy dẫn mạch giáng khí, gặp nước ròng mạch nhỏ Ải Môn, rồng dẫn đi xa, tới núi Nam Miên là đất Tuyên Quang, thế rõ từ núi Tụ Long, liền tới châu Thu Vật, biến ra toà Kim tinh cao muôn nhẫn.
Mạch đất chảy ở giữa chia trái phải. Sông Hán, sông Hoàng, sông Bảo hai bên dẫn mạch. Chảy tới Lâm Thao, Đoan Hùng, Hạ Hoa, Thanh Ba, Sơn Vi, Tây Lan, Phù Khang, đến chùa Long Hoa, thôn Việt Trì ở ngã ba sông Bạch Hạc. Núi lạ sông đẹp, ngọc tụ nước ngưng, chân đá giáp nước, trái phải cùng đổ về, là chính đường của vạn nhánh, hội tụ chính khí. Bên ngoài chia các huyện Nam Giang, Bắc Giang, Thiên Lịch Giang, Tô Lịch, Tam Dương. Bỗng dựng lập núi Tam Đảo. Cung bên trái là rồng xanh, nghìn núi vạn sông chảy ra ở Lập Thạch, Bạch Nê, Châu Diên. Núi xanh nước biếc, đất sáng như mở ngọc bội, các núi giúp chuyển, tới xứ Kinh Bắc các núi Chu, Sóc, Trà, Từ, Mộc Hoàn, Tích An, An Lão phục chầu. Dẫn đến xứ Hải Dương các núi Đông Triều, Hoa Phong, Yên Tử, thoát ra biển tám xã Đồ Sơn, là đầu rồng chầu án.
Bên phải đất từ Ba Thục, Hán Giang, Hoàng Giang, Thao Giang, núi dẫn sông theo, tới mười sáu châu Tuyên Quang, Hưng Hóa, châu Đà Bắc, Thanh Nguyên, Bạn Hà, Đà Hà, đến huyện Bất Bạt thì nổi lên núi Tản Viên. Cung bên phải là hổ trắng. Núi chầu vạn nhánh, nổi lên ở Mỹ Lương, Minh Nghĩa, Phúc Lộc, Viễn Sơn Thạch Thất, An Sơn, Tây Sơn, Sài Sơn, Tử Trầm, Hữu Bật đến xứ Sơn Nam Chương Đức, Đại Yên, núi Hương Tích sơn, núi Thạch Na, Nam Công, núi Vũ Phượng, núi Đội Điệp, núi Nghi Dương, chầu vào mà thoát, đến cửa biển Thần Phù ỏ núi Chính Đại thuộc Ái Châu, thoát đến Chích Trợ sơn, cửa Vạn Lý, làm đầu hổ chầu án. Lấy sông Bạch Hạc làm Nội minh đường. Lấy Ngã Ba Lãnh, Đại Giang, huyện Nam Giang làm Trung minh đường. Mặt nước như ấn ngọc trông phù vàng. Tiền Hải, Cổ Yếm, Tượng Sơn làm Ngoại minh đường. Nghìn non cúi phục, vạn thuỷ chầu nguồn, đều hướng về núi tổ Nghĩa Lĩnh.
Nhìn thấy tất cả hình thế ấy, Vua nhận ra thế cục của đất Bắc quý đẹp hơn đô thành cũ Hoan Châu, bèn lập điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Vua thường ngự giá đến đất bên nơi ngoại này, lập dựng đô thành Phong Châu, đặt quốc hiệu là Văn Lang. Rồi vua ngự giá về cựu đô ở Hoan Châu. Việc dựng đô thành của vua, trước bắt đầu ở núi Thứu Lĩnh, sau lại định đô ấp, vị trí của chính điện, thành trời ao vàng, ở núi Nghĩa Lĩnh, làm đô ấp của họ Việt Thường xưa tại đó.
Bấy giờ vua đi tuần thú trở về cung điện ở núi Nghĩa Lĩnh. Cung phi con gái đế quân là Thần Long cùng với Vua sống ở núi Kỷ Lĩnh, điềm rồng khí chính, thụy thánh có mang. Mang thai mười lăm tháng mười ngày. Đến kỳ mây rồng năm sắc giáng xuống chính điện. Vua sinh hạ Lạc Long quân, tên huý là Sùng Tục. Trước Long Quân có tỏ điềm rồng ứng tốt, ánh sáng đầy nhà, trong trướng tỏa hương thơm. Qua tuần sinh hạ Lạc Long Quân, tư chất phi thường, tự có khí tượng đế vương. Vua mới lập làm hoàng thái tử. Thái tử trưởng thành, tài năng hơn người, thông minh nhanh nhẹn, tài thần trí thánh, anh hùng hiểu biết. Năm tháng tăng thêm, Đế lệnh với triều đường trăm quan rằng: Ta thừa mệnh trời mà trị vạn dân, giữ yên cơ đồ, sắc lệnh cho Thái tử khâm sai cùng với trăm quan cử hành lễ đi tuần thú lãnh thổ, chính là để xem núi sông, những nơi biển non kỳ lạ. Vua khiến Thái tử điều trăm viên tướng mạnh, ba vạn binh tinh đi tuần thú nước nhà, xem xét bốn bể, địa thế núi sông.
Thái tử đi đến Nam Bang, thế đất theo núi sông dẫn mạch mà đến, lên núi tìm theo mạch rồng, tựu ở xứ Tuyên Quang, châu Thu Vật, Tụ Long, nhìn thấy mạch đất rồng chạy đến, Nghĩa Lĩnh đúc thiêng,  gặp qua thượng lưu sông Hoàng Hà, Nhị Hà, Đầu Giang, Hán Lô Giang, đầu nguồn một nhánh chảy ra, nuôi dưỡng che chở nước Nam, từ Tây rồng đến, từ châu Bảo Lạc núi Côn Lôn trên dưới hai bờ, cho đến cửa ải, nước lớn từ Ngũ Lĩnh, Thái tổ Côn Lôn của đất nước, đất tổ Linh Sơn Phong Thứu. Trăm vạn đầu núi dựa Đông Tây Nam Bắc, làm được như bầy con. Lấy Côn Lôn Ngũ Nhạc đại tổ quốc làm Thái tổ, cha mẹ, cùng vạn nước đầu núi góc biển, một mối quy đồng. Thái tử trí thánh thông minh, tài anh mưu lớn, là vị vua có chí trị, danh hiền Việt cổ.
Thái tử có tâm với các bậc tổ, quay về nước lớn thăm hỏi tổ là Đế Minh, bác là Đế Nghi. Thái tử là người có hiếu đễ lớn, trung tín khiêm nhường, có tam cương ngũ thường, là bậc có đức cả. Thái tổ mới đặt quốc thư phong cho Kinh Dương Vương là Thái Tổ Cao Hoàng Đế nước Nam, phong cho Lạc Long Quân là Hiền Vương nước Nam, cai trị Nam Bang. Vạn dân trong thiên hạ đều hân hoan, trăm họ yên vui. Đế tổ, Đế bá coi Thái tử như cốt nhục, xem như tinh túy đất trời, quý như châu ngọc vàng báu, vật quý cũng không bằng.
Đế tổ sắc phong tặng thêm cho Thái tử sách vàng, thẻ bài rồng, lụa ngọc, xe sách một mối, áo mũ chầu trời, áo bào cổn rồng, thắt lưng ngọc, giày vàng, cờ lọng quạt, ô vàng chiêng trống, xe loan giá rồng, voi ngựa tướng binh, lại ban cho đồ thần lụa vàng (vật quý lớn của trời Nam), ngọc châu mã não, quý lạ các vật, lại ban cho xe giá có chuông. Thái tử hồi giá khải hoàn về Nam Man, phụng giúp vua cha cai quản vạn dân.
Thời Thái tổ Đế Minh trong triều có vị Thiên sư biết thông trời đất người, xem thấy hết quỷ thần, chức vị ở Bắc triều là quan tướng, văn võ đều toàn. Nay theo lệnh Đế tổ sai Thiên sư giúp nước cho Thái tử cai quản Nam Bang, xem phong thủy, tìm đất lập nước định kinh đô, xây dựng thành trì, sửa sang chính điện, tạo nên cung thất, lãnh thổ đất đai, đặt tên sông núi, lập định ấp đô, địa đồ đất nước, sắp quan xếp tướng, đặt lệnh trấn các xứ, phủ, huyện, xã, châu, trang, động. Trên rừng dưới biển, nước có Thiên sư phụ giúp Vua cai trị bốn biển. Trăm họ nhân dân thiên hạ cùng hưởng phúc thái bình. Các chư hầu Bách Man đều xưng thần phụ thuộc.

 

Vua Hùng đánh giặc Ân

Dịch lại Ngọc phả Hùng vương, đoạn đánh giặc Ân, bắt đầu từ thời Hùng Quốc Vương, con trưởng của Lạc Long và Âu Cơ.

HVNP.png

Quốc Vương chưa tỏ sự lý của trời đất nên trong cung còn nhiều thuyết hoang đường, lấy đó làm cách cảm. Quần thần tấu thỉnh lên bệ hạ nên dùng một kế, chế lập ra một đàn tràng. Vua nghe theo lời tâu. Có một bà mo xưng có tài như thần. Vua sai bắt bà mo giam trong cung. Sau đó vua sai lập một đàn tế riêng, dùng các lễ dối, voi trắng không ngà, voi đen ba chân, ngựa đỏ năm chân để cầu đảo với Trời. Vua bảo triều thần:
– Trẫm dùng kế ấy để xem bà mo có biết giả trá hay không?
Hoàng Thiên tuy cao, nhưng nghe xong không bằng lòng, xem đến các đồ lễ trên đàn thì hoàn toàn không linh ứng. Hoàng Thiên bèn giáng tai ương để cảnh báo vua không có đức.
Vương mới nghiệm biết trời đất báo ứng ngay trước mắt. Đến năm Thân tháng Thân, thần khí âm dương rơi rụng. Mưa gió không điều hòa. Khí thời không chính. Đức của người làm vua không được thuần.
Vua mới cho sứ đưa bà mo đến bảo:
– Ngươi biết dò xét cơ trời. Nay trong nước có điềm chẳng lành. Ngươi có thể bay lên trời tìm hỏi xem lý do thế nào, về báo cho Trẫm biết.
Bà mo bèn làm phép, trong khoảng ba canh, tự nằm mộng đến trước cửa khuyết Ngọc Hoàng, quỳ tâu rằng:
– Tôi vâng mệnh quốc vương lên tâu thiên đình. Nay trần thế đang có biến. Xin cho biết nguyên do như thế nào?
Ngọc Hoàng phán rằng:
– Ngươi mau trở về báo cho Vua biết. Lưới trời lồng lộng, thưa mà không thể lọt. Trần hoàn lóc lóc, có cầu có nguyện tất được tòng tâm. Vua nay tự kiêu ngoa, truyền làm lễ vật giả dối. Đó là do trời báo phạt, không chỉ giáng bấy nhiêu tai ương mà thôi. Ba năm sau tất sẽ có nạn giặc lớn!
Nghe phán xong, bà mo liền tỉnh lại. Bà mo tâu lại mọi chuyện với vua. Vua nghe nói cả kinh, vẫn cho bà mo ở lại trong cung để xem lời nói của bà ta có nghiệm hay không. Vua lại sai triều quan dựng đàn chay cầu lớn ở giữa kinh đô, các lễ vật như voi ngựa, vàng bạc, ngọc quý, trân châu, mã não đều dùng đồ vật thật, đặt ở giữa cung, bày trí các lễ nghi. Vua thân đến tế, đọc rằng:
– Ngu si lầm lỗi, đem vật dối dâng lễ Hoàng Thiên. Sự hãy nhãn tiền, xét xem đủ thấy. Cúi xin Thượng đế chuyển hoạ làm lành, thay tai giáng phúc. Cúi ngước, cậy nhờ ơn đức Hồng quân!
Khấn xong, bỗng thấy mây gió cuồn cuộn, sắc trời mông lung, khói hương trên đàn bay lên, mây lành toả sắc. Vua bàng hoàng kinh sợ, khấu đầu lạy tạ rồi lên xe giá về cung điện. Vua lại sai bà mo lên trời tấu lên Thượng đế rằng: Vua nước Nam hiện đã biết phải lấy đức trị. Để thần dân trong thiên hạ được yên ổn, xin được miễn cho việc tai ương.
Thượng Đế phán rằng:
– Vua nước Nam đã hối lỗi, sẽ được ban phúc lại. Chỉ còn giặc giã, Thạch Linh thần tướng là tướng nước Bắc đã có lệnh sai xuống rồi. Nếu nhà vua có nhân luân, đại nghĩa cương thường, duy trì chính thể sáng tỏ thì vua sẽ gặp được điều lành.
Bà mo tỉnh mộng, tâu lên Vua rằng:
– Vua nay đã biết hối lỗi, đã được Trời xét soi. Tuy năm sau có giặc, nhưng trời cho nhân tài sinh ra để giúp nước. Vua không phải lo nghĩ nhiều!
Vua tin lời.
Thời Việp Vương, người giàu vật nhiều nên mới có sàm thần tấu lời, không tin bà mo, đùa lễ giả với trời. Thời này không có phong tục kính lễ. Vua Ân muốn xâm lăng đất nước. Vào năm Giáp Tí bỗng thấy biên giới phía Bắc có thư gửi cấp báo. Tướng giặc Ân là Thạch Linh thần tướng khởi binh từ phía Bắc tiến sang, giáo giáp kín trời, tinh kỳ rợp đất. Quả đúng như lời bà mo đã nói. Vua bèn thành tâm lập đàn trai giới, thắp hương cầu khấn. Các quan triều đến cầu niệm suốt trong ba ngày, trông mong lúc trời đất, tiền thánh tổ Long Quân âm phù cho tướng giúp yên. Được một tháng, trời ứng mưa to sấm gió nổi lên. Bỗng thấy một cụ già thân cao hơn 9 thước, mày râu bạc phơ ngồi ở ngoài đường, cười nói ca hát nhảy múa. Ai trông thấy cũng phải lấy làm lạ, cho là bậc kỳ nhân. Sứ giả vào tâu Vua. Vua đích thân ra đón, mời vào đàn tế, hỏi rằng:
– Nay quốc gia có việc, giặc tới xâm lăng, thắng thua chưa biết thế nào, xin lão ông cho chỉ giáo. Lão ông trầm ngâm hồi lâu rồi đáp:
– Ta từng đến khắp đáy bể cửa trời, biết tới sách thần phép ước trời đất. Sẽ thử vận mà bói một quẻ. Rồi nói với Vua:
– Ba năm sau, giặc xâm lăng nước này, sẽ có được người tới, giặc sẽ được dẹp!
Lão ông lại nói chuyện với Vua, chân tình giảng giải, rồi tặng cho Vua một cuốn sách thần. Nói xong cụ già vút lên không bay đi. Vua biết đó là Long Quân đã hiện ứng trợ giúp. Thế là vua sai sứ giả đi tìm khắp nơi trong nước.
Sứ giả đến làng Phù Đổng, huyện Tiên Du. Làng ấy có người nhà giàu tuổi đã 79. Trước nhà có mảnh vườn trồng các loại trà hoa. Bà lão cũng đã 59 tuổi. Sáng sớm ngày 6 tháng giêng năm Quý Hợi bà vào vườn hái hoa hái chè, thấy một dấu chân to lớn. Bà lấy làm lạ, bèn gọi chồng đến, quả nhiên thấy có dấu chân của thần nhân. Trưởng ông bảo vợ bước chân trái dẫm vào đó. Tự nhiên lúc đó khí trời của thần cảm ứng. Bà lão thấy cảm động trong người, mắt hoa, rồi mang thai. Đến ngày 8 tháng Tư năm Giáp Tí đầy tháng bà sinh một con trai. Con được đúng một tuổi thì Trưởng ông qua đời lúc 80 tuổi. Chỉ còn mẹ già sáu mươi bú mớm nuôi con. Lên ba tuổi đặt tên là Đổng Thiết, ăn uống lớn phổng, nhưng không biết nói cười. Ngày hôm ấy cậu bé đang nằm trong võng, mẹ cậu nghe sứ giả đi tìm người có đại tài dẹp loạn. Bà mẹ nói vui với sứ giả rằng:
– Lão sáu mươi tuổi mới sinh được một đứa con trai. Nay đã ba tuổi, chỉ biết ăn uống mà không biết đánh giặc để triều đình trọng thưởng quan tước mà trả ơn bú mớm cho mẹ.
Sứ giả đi qua. bỗng nhiên Đổng Thiệt ngồi dậy, mở miệng nói:
– Xin mẹ gọi sứ giả quay lại, con có việc cần nói. Mong mẹ đón lại sử giả về đây.
Thần vương nói với sứ giả rằng:
– Ta là Thiết Xung thần tướng đây! Trời sinh ra ta để giúp nước, dẹp loạn cứu dân. Ngươi về triều tâu với vua cho ta một con ngựa sắt cao 10 thước, một cây roi sắt dài 10 thước, một chiếc nón sắt rộng 3 thước, đưa mấy thứ ấy đến đây cho ta để đánh giặc Ân. Vua không phải lo gì nữa!
Sứ giả nghe lời nói của Đổng Thiết, trở về chính điện ở núi Nghĩa Lĩnh tâu Vua mọi việc. Vua triệu tập quần thần trăm quan để bàn. Triều đình liền can ngăn rằng:
– Triều đình hiện nay oai trời rộng lớn, tướng mạnh tướng nhiều. Dù giặc Ân xâm chiếm phương Nam, cũng đã có người can đảm đối đầu. Huống hồ đứa trẻ ba tuổi sao có thể đánh giặc được. Vả lại việc binh là việc quốc gia đại sự, liên quan đến an nguy của hoàng gia, chớ nên xem nhẹ. Xin bệ hạ thận trọng lựa chọn người có đại tài, cử làm đại tướng. Không nên chỉ nghe lời nói bên ngoài mà không thấy tận mắt vậy.
Vua nói:
– Trẫm theo mệnh trời, trị nước yêu dân, tin việc thần nhân trước đây đã báo ứng. Đích thực là Tiền thánh Đế quân đã hiển linh về báo để giúp nước. Trẫm tin như lời đó thật không phải là sai, không nên nghi ngờ.
Vua sai các tướng tìm các đồ sắt đủ 50 trăm cân, truyền cho trăm thợ rèn để rèn thành ngựa sắt cao mười tám thước, có đủ năm tạng, roi sắt dài mười thước, nón sắt rộng ba thước. Đến giờ Mão ngày 7 tháng Giêng năm Bính Dần Vua sai quan Tiết chế dẫn 10 vạn hùng binh đem ngựa sắt roi sắt nón sắt đến làng Phù Đổng. Đổng Thiết cười rằng:
Vua theo đúng hẹn,
Vận nước lâu bền.
Quân giặc phải tan,
Một ngày giúp nước,
Thiên cổ danh vang.
Rồi Đổng Thiết nói với mẹ và họ hàng thân thích rằng: “Tính con hay ăn, xin soạn cho các món trâu rượu, hoa quả”. Dân làng nghe thế nhà nhà đem trâu rượu đến. Chỉ trong chốc lát cậu bé đã ăn xong để lên đường đi lập công giúp nước, đền đáp công ơn của cha mẹ, làng xóm và ơn Vua.
Ngày hôm ấy mặt trời vừa đúng chính Ngọ, Đổng Thiết cười vang một tiếng, duỗi tay vươn vai, tiếng vang như sấm, ánh mắt loé sáng như chớp, thân mình cao hơn 18 thước. Vì chưa kịp may quần áo nên sai 10 vạn quân đi bẻ hoa lau đem về kết thành đồ mặc. Đổng Thiết lạy tạ mẹ rằng:
– Mẹ là bậc thánh trên trời. Con là Thần vương. Một ngày lập công to lớn, vạn năm hương lửa vô cùng!
Thần Vương nhảy lên ngựa sắt, cầm roi sắt, đội nón sắt, thét vang như sấm chớp, rằng:
– Ta là Thần tướng, vâng sắc chỉ xuống giúp nước!
Ngựa sắt nhảy mạnh, bay lên không mà phi, lập tức tới nơi Vua ngự. Thần vương cầm roi sắt chỉ huy tiên phong, lệnh khiến các quan hành quân tiếp ứng, chỉ phút chốc đã đến dưới chân núi Vũ Ninh huyện Yên Việt, đại chiến với Thạch Linh thần tướng bên núi. Quân Ân thua to tan chạy. Thạch Linh thần tướng bị bắt sống rồi chém đầu. Bọn giặc còn lại chưa diệt hết, nhưng roi sắt đã bị rơi mất. Thần vương bèn nhổ lấy các bụi tre gai vung lên quét sạch quân Ân.
Khi đến núi Sóc xã Vệ Linh huyện Kim Hoa, thần vương cởi bỏ bộ áo hoa lau, cưỡi ngựa bay lên không mà bay đi. Nay nơi ấy vẫn còn dấu chân ngựa in trên lèn đá.

Hùng Việp Vương nghĩ đến thần vương có công lớn giúp nước, nhưng chưa từng gặp mặt, không biết lấy gì báo đáp, bèn truy tôn thần là Phù Đổng thiên vương, cùng với Thánh mẫu dựng đền thờ trên nền nhà ở làng cũ, cấp 100 mẫu ruộng để đèn hương phụng thờ. Sau lại phong là Xung Thiên Thần Vương (ngày xưa thần Bắc Đẩu Tinh Quân giáng sinh làm Xung Thiên Thần Vương), lập miếu đường ngàn năm thiêng hưởng hương lửa, cơm thịt phụng sự.
Vua sau đó lại cho xây lại điện Cửu Trùng Tiêu trên núi Nghĩa Lĩnh làm Kính Thiên linh điện. Thời thường cầu đảo, vâng lĩnh ý trời. Từ đó trời biển thái bình. Nhà Ân trải 27 đời vua hơn 640 năm không dám đem quân sang đánh nước Nam. Vua hưởng nước 87 năm, thọ 100 tuổi.

 

Mẹ Âu Cơ sinh trăm trai

Dịch lại Ngọc phả Hùng Vương, đoạn mẹ Âu Cơ sinh trăm trai, Hùng Quốc Vương trị nước:

ngoc-pha-hung-vuong.jpg

Khi ấy có con gái của Đế Lai tên là Âu Cơ, là một thiếu nữ hiền đức, sống ở quê mẹ tại huyện Thanh Nguyên châu Đà Bắc của Giao Chỉ. Một hôm nàng Âu Cơ đi chơi ở châu Trường Sa, gặp khi vua đi tuần thú ở Đà Giang. Vua thấy Âu Cơ dung nhan xinh đẹp, tư chất kiều diễm, rất vừa ý, bèn lấy làm vợ, lập làm chính phi hoàng hậu. Thề rồi tới khi Kinh Dương Vương hai trăm năm bảy tuổi, ở ngôi hai trăm năm mươi năm, thì phong Lạc Long Quân lên nối ngôi chính thống ra ở tại núi Nghĩa Lĩnh, kinh thành đô ở núi Phong, triều đại quản lý việc nước nhà, lấy đức cai quản nhân dân.
Bấy giờ nàng Âu Cơ là chính phi, vào năm Nhâm Thân tháng Giêng ngày 4 có thai, điềm rồng đẹp ứng, mây lành năm sắc, hương trời đầy phòng. Trong 3 năm 3 tháng 10 ngày ở tại Ngũ Lĩnh. Trong cung điện hàng ngày thường có mây lành năm sắc, ánh rồng sáng lạn. Tới đầy tuần sinh nở, vào năm Canh Ngọ ngày 5 tháng 12 mặt trời chiếu đúng giờ Ngọ, cái thai trong bụng Âu Cơ chuyển động, mây rồng đầy nhà, ánh sáng loé lên. Trong trướng, hoàng phi sinh ra một bọc trăm trứng, trong như ngọc châu, hương lạ thơm nức. Sơ sinh ở núi Nghĩa Lĩnh, đất tổ Phong Thứu, dưới lọng ngọc đầu núi bên đầm sen.
Hiền Vương thấy hoàng phi sinh tú bào hết sức dị thường, là điều lạ của quốc gia trước nay trong thiên hạ. Vua bèn triệu hội đồng bách quan văn võ triều thần đến chầu ở chính điện. Giờ Ngọ hôm ấy ở giữa thành nội Kính Thiên ba tiếng thiêng vang lên rung trời chuyển đất, núi sông cây cỏ muôn vật đều kinh hoàng, mây lành ngũ sắc sáng bừng khắp ba ngàn thế giới. Muôn chim bay chầu trên các lâu đài điện các. Dưới núi làn nước tung sóng cuộn dâng. Trăm kình nghê muông thú, muôn vật cá tôm đội gió mưa về chầu. Vua thấy quốc gia có điềm lành kỳ lạ, bèn xuống chiếu cho bá quan văn võ sửa sang áo mũ trai giới tịnh khiết đến tề tựu ở điện Kính Thiên, đèn hương phụng hầu chầu lạy Hoàng thiên Thượng đế, Tứ phủ vạn linh.
Ngày hôm ấy vào giờ Thân bỗng thấy một áng mây xanh từ phía Tây bay đến hội ở sân Kính Long điện ngọc. Rồi bốn vị thiên tướng hiện ra rất kỳ lạ. Các vị tướng ấy cao hơn nửa trượng, đầu đội mũ hoa, mình mặc cẩm bào xanh, lưng thắt đai ngọc khăn rồng, chân đi hài sắt, nói cười đều loé hào quang lưỡi lửa, cùng cầm long đao, lệnh rằng: Ngọc Hoàng thượng đế xuống sắc cho Nam Miên, Hiền Vương quản nước, bọc rồng trăm trứng nở ra trăm trai trị nước. Trời lệnh sai các đại thần vương phù giúp bảo hộ. Vậy ban sắc này.
Hiền vương mới nhận long bài, truyền các quan văn võ ngước lên trời vái vọng, rồi dập đầu lạy tạ.
Thần vương nói: Bào ngọc trăm trứng, thần oai rạng thiêng, điềm rồng giáng sinh. Thiên sứ báo cho Hiền vương đặt bào ngọc lên chiếc mâm vàng đem đến ngôi chùa cổ ở núi Viễn Sơn, tức là chùa Từ Sơn Thiên Quang Hoà Thượng ở ngọn Thứu Lĩnh, đặt ở trong chùa, chọn quan trai giới chầu hầu, đèn hương không ngớt. Bào này sẽ sinh ra trăm trai thần tướng. Hiền Vương hãy thành tâm cầu trời, tới tháng Giêng bào sẽ nở. Nói xong Tứ đại thần vương lại làm gió mưa mây sấm, bay lên không biến hóa.
Hiền vương thành tâm cầu trời. Thế là vào ngày rằm tháng giêng, mây lành bay phủ khắp đất trời, núi sông rừng biển, nở ra trăm con trai. Trong khoảng một tháng các chàng trai không cần bú mớm mà lớn bật lên như người trưởng thành, tướng mạo phương phi, dáng hình kỳ tú, thân cao ba thước bảy tấc, cái thế anh hùng.
Hiền vương triệu phi tần sáu cung đến phát các tấm gấm lĩnh để khâu may 100 bộ áo mũ cấp cho các chàng trai. Một ngày ba lần làm các trò vui như du ngoạn hoa lá hồ sen, được một trăm ngày. Đầy trăm ngày vào ngày 20 tháng 7 cả trăm chàng trai đều cười vang, nói lớn:
Trời sinh bậc thánh
Trị nước sinh vua
Thanh bình bốn biển
Thiên hạ vững yên.
Thế là một trăm hoàng tử đều đến trước sân rồng. Hiền Vương đến ngự thấy các vị thần tướng nhà trời đầu đội mũ đồng, mình mặc áo bào giáp sắt, chân đi hia bạc, lưng thắt khăn rồng quá độ, tướng mạo sang quý sáng láng, mắt sáng như sao, miệng nhả hào quang hoả khí, tay cầm thần kiếm linh trượng, chày ngọc búa sắt, dàn hàng đứng hai bên tả hữu đối nhau. Bỗng không trung biến hoá, nhất thời mưa gió nổi lên, bay vây quanh núi Nghĩa Lĩnh, trên điện núi non mất hình, sông suối tràn dâng sóng vỗ, không ai biết được chuyện gì xẩy ra. Sau ba giờ bầu trời lại tạnh sáng. Đó là 8 vị tướng xưng là Bát bộ Kim Cương vâng sắc chỉ của Chư Phật Thượng Đế sai đến thăm nom 100 vị vương tử, nay đã trưởng thành các bậc thánh thần đôn hậu minh mẫn. Tám tướng phụng mệnh đưa các hoàng tử đến lạy mừng vua cha, trị bình trong nước. Trời ban cho Hiền vương một lệnh long bài, một quả bảo ngọc thần ấn, một cặp ngọc trắng, một thanh kiếm thần, một quyển Sách trời, một chiếc thước ngọc, đặt trên mâm vàng, tất cả đều đặt trong chính điện. Hiền Vương vâng mệnh vào điện đón nhận, coi đó là điềm lành lớn trời ứng ban để trị yên thiên hạ.
Hiền Vương thấy 100 con trai bỗng nhiên trở nên cao lớn, thân cao bảy thước ba tấc, tay cầm thần khí thiên bảo, chia hàng đứng hai bên phải trái, hầu triều lạy mừng vua cha. Hiền Vương nhận việc của Tám tướng tấu về, một trận mưa gió chấn động, sấm chớp sáng lòa, trên không biến hóa khải hoàn về Trời.
Cùng ngày Hiền Vương xuống chiếu rằng: Trời sinh trăm con thánh văn thần võ, hùng tài đại lược, giúp nước yên bình, thiên hạ ngước trông, thi nhân hoá đức, cha con vua tôi cùng vui.
Vua cho triệu bách quan đến lạy mừng, hai ban công đồng bàn việc đổi hiệu thay tên, trăm con trai trăm hiệu, xếp thứ tự. Trăm hoàng tử đều có tài lớn, tư chất hơn người, anh hùng chưa từng có, thần tài thánh trí. Các quan triều đình lúc ấy cũng không ai có thể phân biệt được người anh minh quyết đoán hơn, khó đặt được danh thần tên xưng.
Triều đình tâu lên Vua rằng:
– Nước có Thánh vương, sinh các hiền tướng, đều là những bậc trong triều không ai sánh bằng, vậy nên chúng thần không ai dám bàn định danh hiệu các hoàng tử. Kính thỉnh Vua cha tìm người tài để định danh hiệu cho các thần tướng.
Hiền vương phán rằng:
– Chính sự lớn của triều đình cần có người anh tài. Trẫm vâng mệnh Trời gây dựng cơ đồ lớn lao, mở nước trị dân, theo mệnh trời sinh được trăm con trai. Trẫm cùng trăm quan thành tâm thiết lập đàn chay, kính cẩn cầu khấn tâu lên Hoàng Thiên, đấng ngự hội tụ của vạn linh, để đặt định trăm danh hiệu.
Bấy giờ vua lên đàn tràng khấn lễ cầu đảo lớn vừa xong, tự nhiên có cảm ứng, có vị thần ở phương Tây tới, mây rồng ngũ sắc, núi sông sáng rạng. Khi đó, có một cụ già tướng mạo trượng phu, râu tóc bạc phơ, dáng điệu tiên ông, đầu đội mũ trời gấm lĩnh, mình mặc áo vải nhuộm nâu, chân đi giày cỏ, tay cầm gậy tre, ra chơi ở bến sông Bạch Hạc Việt Trì, tại chùa Hoa Long. Ông già rửa chân bên sông, trên tảng đá phẳng trên con sông gọi là sông Nhị Hà.
Hôm ấy có quan trong triều là Tướng quân nguyên soái tiết chế trấn thủ đô thành Phong Châu đang ngồi trên ngôi lầu ở bên sông Việt Trì. Quan Nguyên suý trông thấy ông Tiên đang xem phong thủy, mặt hướng nhìn các sông Bạch Hạc Hoàng Hà Manh Hà, chân đạp lên tảng đá hình lưng rùa. Triều quan sai sứ giả nghênh đón tiên ông lên lầu hỏi chuyện với Nguyên soái. Quan đem hết sự thể bộc bạch chân tình, mở tiệc khoản đãi rồi mời ông về cung điện trên núi Nghĩa Lĩnh. Triều quan vào tâu vua.
Vua thân hành ra mời cụ già vào cung, dùng đại lễ, mở tiệc chúc mừng. Vua hỏi cụ già rằng:
– Tiên sinh từ đâu đến ngao du phong cảnh ở đây? Nay trong nước có chuyện, nhờ cụ chỉ giáo cho.
Tiên ông ha hả cười vang. Vua vẫn đứng nói chuyện, hỏi Tiên ông:
– Nước sinh được trăm con trai, có trí tuệ cùng tài như nhau, cho nên khó đặt định danh hiệu thần xếp thứ tự luận anh em. Kính nhờ Tiên ông đặt tên, định thứ bậc giúp cho.
Cụ ông đáp:
– Ta sinh ở thời Hoàng Đế, theo học đạo Phật, ngao du nơi hải ngoại, xem hết trời đất, đi thăm thế giới, đến tận Nam Miên, thấy phong cảnh đẹp. Vua nay muốn đặt tên cho trăm con trai. Ta có một quyển sách thần có thể bói biết được tinh thần trời đất trăng sao, gọi tên các phép tiên.
Vua nói: Nước đã có thành tâm cầu đảo, đúng là cầu tất ứng.
Tiên ông nói: Lão thành tâm bốc một quẻ trong Thiên thư xem tới trời định thế nào. Trước là để xác lập vương tử, cùng với tên gọi cho trăm trai. Xem tướng trăm trai thì Vua sẽ cử được người tài lập làm con trưởng, phân định thứ bậc anh em
Tiên ông lấy bút viết ra, đặt tên cho các thần tướng, đặt lên chiếc mâm vàng. Để phân định thứ bậc anh em, trăm trai đến hội ở chính điện. Mọi người đồng thanh cần phải có một huynh trưởng đứng đầu. Một người được gọi tên được lập làm Thái tử nối ngôi vua. Còn 99 người khác lần lượt đến trước mâm vàng nhận danh hiệu được ban. Từ đó thứ bậc anh em phân định rõ ràng, ai nấy đều vui. Xếp đặt việc đặt tên đã xong, tự nhiên có một làn mây xanh bay đến trên không trung, Tiên ông biến hoá bay về Thượng giới.
Vua nói: Triều đình lòng kính cầu khẩn, trên đàn thành tâm được cảm ứng, thần đến từ phương Tây bày cách, mới biết lão Phật tiên ông hiển ứng giáng đàn giúp nước. Hôm nay lệnh các quan bái hạ. Trẫm lập một ngôi chùa tên là Từ Sơn Tuyên Quang Hoà Thượng Vạn Đức Thiền Sư. Ban bố cho trăm quan thường xuyên cầu khấn, cầu Phật ứng cho.
Trăm trai trăm tên. Con trưởng tên tục là Hùng Lân, sau đổi là Hùng Quốc Vương. Các con thứ có tên là Xích Lang, Quỳnh Lang, Mật Lang, Thái Lang, Vĩ Lang, Huân Lang, Yến Lang, Tiêu Lang, Tĩnh Lang, Tập Lang, Ngọ Lang, Cấp Lang, , Yêu Lang, Hộ Lang, Thục Lang, Khuyến Lang, Chiêm Lang, Vân Lang, Khương Lang, La Lang, Tuần Lang, Tán Lang, Đường Lang, Kiều Lang, Dũ Lang, Ác Lang, Hạn Lang, Khoán Lang, Trị Lang, Nhiễu Lang, Lý Lang, Trâm Lang, Tróc Lang, Sát Lang, Lãng Lang, Sái Lang, Chiểu Lang, Kiềm Lang, Trường Lang, Thuận Lang, Tẩm Lang, Siêm Lang, Triệu Lang, Ích Lang, những người trên theo cha về biển.
Hương Lang, Thiêm Lang, Thận Lang, Văn Lang, Vũ Lang, Linh Lang, Tịnh Lang, Dị Lang, Quản Lang, Cao Lang, Tế Lang, Mã Lang, Thiệu Lang, Khang Lang, Chỉnh Lang, Đào Lang, Nguyên Lang, Miên Lang, Xuyến Lang, Kỹ Lang, Thỏa Lang, Phái Lang, Tài Lang, Trừng Lang, Triệu Lang, Cố Lang, Lưu Lang, Lộ Lang, Quế Lang, Diêm Lang, Huyền Lang, Nhị Lang, Tào Lang, Nguyệt Lang, Sâm Lang, Thập Lang, Triều Lang, Quán Lang, Canh Lang, Thải Lang, Lôi Lang, Thấu Lang, Việt Lang, Vệ Lang, Mãn Lang, Long Lang, Tổ Lang, ? Lang, gồm những người theo mẹ lên núi.
Từ đó các hoàng tử đều đã có tên gọi, thành người chủ ở các phương, thông minh mẫn tiệp, trí dũng kiêm toàn, tài lạ đẹp đẽ, lòng hiếu mạnh mẽ, sức thần mắt rồng, thiên tư như mặt trời. Anh em đều có tài lớn, giúp nước ở chính triều đường, định vị thứ đứng đầu trăm quan.
Vua cha bèn dựng hầu lập bình phong, chia nước làm 15 bộ, xác định cương giới, các đầu núi góc biển, cử ra trăm quan trấn thủ, gìn giữ các phương. Một là Sơn Tây, hai là Sơn Bắc, ba là Sơn Nam, bốn là Hải Dương, năm là Ái Châu, sáu là Hoan Châu, bảy là Bố Chính, tám là Ô Châu, chín là Ai Lao, mười là Hưng Hóa, mười một là Tuyên Quang, mười hai là Lạng Sơn Cao Bằng, mười ba là Quảng Đông Quảng Tây, mười bốn là núi Ngũ Lĩnh Vân Nam, mười lăm là Chiêm Thành. Bộ chủ các xứ. Nước 15 bộ, là Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Trinh, Nhật Nam, Tân Hưng, Cửu Đức, Văn Lang.
Vua mới phân định các xứ, cai quản vạn dân. Khi đó lệnh cho anh em trăm trai có tài thần báu quý, cai quản rõ ràng các nơi. Trăm nơi núi sông một mối, xe sách quy mô chế độ đồng nhất, bốn biển một nhà, xưng thần phụ thuộc. Ơn hiếu nghĩa đức, sáng lòng nhân, trí tuệ, xuất thánh sinh hiền, không gian không ác, giúp đỡ mà trị, lấy đạo làm sáng, lấy giáo hóa làm đẹp. Vạn dân hân hoan, trăm họ ca hát, thiên hạ thái bình. Vua quân đổi đức, trị nước hưng thịnh, triều đình chuyên chính, dân theo cổ, lễ phục, tạo nhạc, mưa thuận gió hòa, nông tang lạc nghiệp. Nước có vua trưởng, là phúc của xã tắc. Dân coi triều đình là cha mẹ. Triều đình coi dân như con đỏ. Địa lợi nhân hòa, binh mạnh nước giàu, không động đao thương. Thiên hạ cùng hưởng niềm vui thái bình. Vua tôi cùng tốt, làm theo điều nghĩa, để tới vạn đời. Thế nước tăng thịnh, thật là to lớn, khó gì so bằng. Sau này có cung phi ở các bộ, sinh thêm hơn năm mươi người trai gái, tới lúc trưởng thành đều có tư chất tốt đẹp.
Sau đó Long Quân nhường ngôi, chọn con trưởng Thái tử tên Hùng Lân Lang, đổi thành Hùng Quốc Vương, nối ngôi thay triều, ra quản vạn dân, ngự chính ở cung kiền tại núi Nghĩa Lĩnh. Nay Hùng Vương xe sách thống nhất cai quản thiên hạ. Còn các người em vua 99 người. Khi đó Long Quân nói với Âu Cơ rằng:
– Ta là giống Rồng, nàng là giống Tiên, giống loài không hợp nhau, chung sống với nhau thực cũng khó. Vì thế ta phải lìa nhau thôi. Chia 50 con theo cha về biển, làm Thuỷ tinh. Chia 50 con theo mẹ về núi, làm Sơn tinh, làm hiển rạng cho các vương tử, trấn ngự khắp các vùng núi biển, đều là với danh nghĩa thần thuộc. Vua bèn đặt quan văn gọi là Lạc hầu, đặt tướng võ gọi là Lạc tướng. Các vương tử gọi là Quan Lang. Các vương nữ gọi là Mị Nương. Các quan hữu ti gọi là Bồ Chính.
Thời bấy giờ trên chính nhân luân, dưới hậu phong hoá, thi hành việc gì ai cũng được thích nghi. Vua vì thế được rũ áo khoanh tay, hoà mục trong chốn cửu trùng. Dân nhờ thế được đào giếng cấy ruộng, vui sống ở nơi thôn dã. Không một người dân nào bị xua đuổi không chốn sinh cư, không một vật nào không được yên bề nuôi dưỡng. Công thành trị định, vượt hơn các vua trước, dẫu là thời thái cổ cũng không bằng. Hưởng ngôi trị nước dài lâu. Đời đời cha truyền con nối, đều gọi là Hùng Vương. Đó là Thuỷ tổ của Bách Việt. Hiền vương ở ngôi ba trăm sáu mươi ba năm, sau về biển, hoá sinh bất diệt, làm Động Đình Đế quân.
Thái tử là Hùng Quốc vương đứng đầu trăm anh em tôn thừa nghiệp lớn, Quốc Vương sau khi nối ngôi chính thống, chuyên lo giáo hóa đạo đức, khuyến khích nông tang, khiến dân không lo nghèo thiếu, nước có tích luỹ của dư. Bốn biển yên bình, không ai gian xảo giả dối, phong tục hồn thuần chất phác. Xét xem xuyên suốt cho đến bấy giờ, vua là bậc có nhiều công hưng trị, càng sáng tỏ hơn các đời trước, được người đời tôn xưng là bậc hiền quân. Bấy giờ vua truy ơn các bậc thánh trước, bèn thực hiện việc chia đất phân cõi, lập các bộ Sơn tinh Thuỷ tinh, định làm các tộc, đổi làm trăm họ, đặt ra chức vụ trăm quan, phong tên cho trăm thần, phân chia đầu núi góc biển, hùng cứ mỗi phương. 50 tên tộc trấn ở các đầu núi, cửa khe non ngàn, cùng gọi là quan lang, phiên thần, thổ tù mà truyền dẫn. 50 tên tộc trấn ở các góc biển, vực suối cửa sông, các thần linh trên nước, tiện để bảo hộ dân sinh, giúp phù tông xã. Dựng hầu lập bình phong, chia nước thành 15 bộ đất đai, xác định cương giới. Tất cả đều có người trưởng phụ tá. Người chủ gọi là Bô (bố), bố gọi là Trá (cha), con trai gọi là Côn (con). Nam nữ theo phụ giúp, khi đó đều là những người tài giỏi. Hậu thế đổi thành quan lang, phiên thần, thổ tù phụ đạo. Các họ tông của các công thần khai quốc được cha truyền con nối, vạn đời coi giữ Nam Bang. Còn các nhánh tông phái của bộ chủ Hùng Vương đời đời trị nước, giữ mãi phương Nam.

Châu trưởng Đặng Thiện Quang và di tích đình làng Lý Đỏ

Cuốn sách CHÂU TRƯỞNG ĐẶNG THIỆN QUANG VÀ DI TÍCH ĐÌNH LÀNG LÝ ĐỎ của 2 tác giả Vũ Đình Toàn, Nguyễn Đức Tố Lưu, xuất bản bởi NXB Dân trí, tháng 7/2019. Tổng số 150 trang. Sách được biên soạn và hỗ trợ xuất bản bởi Nhóm nghiên cứu di sản văn hóa Đền miếu Việt.

dang-thien-quang-1.jpg

LỜI NGỎ
Trên miền đồng bằng Bắc Bộ, mỗi làng quê Việt đều mang những nét cổ kính, đậm đà, sâu lắng, gắn bó với mỗi người dân làng. Làng Việt đã trải qua hàng ngàn năm gió mưa, dông tố của lịch sử dựng và giữ nước đầy gian nan, nhưng hình bóng của nó vẫn còn lưu đậm trong tâm khảm con dân Việt cho tới ngày nay.
Làm nên văn hiến của làng xã trước hết là bởi các vị thành hoàng làng, những người đã có công lao to lớn không chỉ đối với quê hương mà còn đối với đất nước. Công đức, sự nghiệp của các vị được dân làng ghi sâu, khắc đậm và các vị đã trở thành điểm dựa tinh thần cho mỗi người dân làng, trở thành biểu tượng cao đẹp, hội tụ dân làng qua những lễ tục đầy chất nhân văn và thấm đẫm tinh thần uống nước nhớ nguồn của người Việt.
Thành hoàng, linh hồn của làng trước hết an ngự trong đình làng. Đình làng cùng với những công trình kiến trúc tín ngưỡng khác trong làng như đền, chùa, miếu, mạo hợp thành một tổng thế tâm linh, tín ngưỡng dân gian, rất riêng của làng quê Bắc Bộ.
Làng Lý Đỏ ở xã Tân Việt, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương là một ngôi làng cổ như vậy. Ngôi đình làng trải qua hàng trăm năm khắc nghiệt của chiến tranh, của thời cuộc, vẫn còn lưu giữ được nhiều kiến trúc và những minh văn cổ, nói về một truyền thống văn hóa, một vị nhân thần mang tầm vóc quốc gia: Châu trưởng Giao Châu Đặng Thiện Quang, vị Thái thú nước ta thời kỳ đầu Công nguyên.
Là con em trong làng, tác giả đã sưu tầm, tuyển chọn, biên dịch những tư liệu còn lưu giữ lại được ở quê hương Lý Đỏ. Khi tìm hiểu sâu hơn vào vị thành hoàng của làng, chúng tôi đã thấy đây là một vị tiền nhân danh tiếng trong lịch sử Việt Nam, được thờ phụng ở nhiều nơi. Để tiện đường so sánh, đối chiếu, chúng tôi đã sưu tầm các thần tích, văn bia, hoành phi câu đối từ những di tích thờ phụng này, tập hợp trình bày trong cuốn sách nhỏ mà các bạn đang có. Kết hợp các thông tin tư liệu từ những nguồn khác nhau, thu thập qua sử sách, qua di tích góp phần làm sáng tỏ rất nhiều điều trong thân thế và sự nghiệp của Châu trưởng Đặng Thiện Quang, khẳng định sự hợp lý của dân làng trong việc thờ phụng, tri ân tiền nhân có công có đức với làng xã, với đất nước.
Cuốn sách là tấm lòng của một người dân làng, một người dân Việt để tri ân cha ông trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Tác giả: Vũ Đình Toàn

dang-thien-quang-3.jpg

Vế đối trên cổng đền thờ Sĩ Nhiếp ở Tam Á, Thuận Thành, Bắc Ninh ghi nhận chính xác công nghiệp của các cư sĩ – thái thú Giao Châu Đặng Nhượng – Tích Quang.
汶陽幾辰遷為軍將為州牧為教育師儒恩信遍蒼梧七郡外
龍编何日事此城郭此人民此江河運會文采傳武寧一部中
Vấn Dương kỉ thời thiên, vi quân tướng, vi châu mục, vi giáo dục sư Nho, ân tín biến Thương Ngô thất quận ngoại
Long Biên hà nhật sự, thử thành quách, thử nhân dân, thử giang hà vận hội, văn thái truyền Vũ Ninh nhất bộ trung.
Dịch nghĩa:
Vấn Dương mấy lúc dời, là quân tướng, là châu mục, là giáo dục Nho gia, bảy quận ngoài Thương Ngô ơn nghĩa trải khắp
Long Biên sự ngày nọ, đây thành quách, đây nhân dân, đây non sông vận hội, toàn bộ trong Vũ Ninh văn đức còn truyền.
Căn cứ vào hành trạng, rõ ràng Đặng Thiện Quang, Đặng Nhượng – Tích Quang là một anh hùng trong lãnh vực văn hóa, đồng thời cũng là anh hùng chống ngoại xâm của Việt tộc, nên việc thờ kính của người đời sau là hoàn toàn xứng đáng.

Nguyễn Quang Nhật

logo-den-mieu-viet.jpg

Liên hệ đặt sách với tác giả:
Vũ Đình Toàn: vudinhtoan1982@gmail.com
Nguyễn Đức Tố Lưu:
 bachviet18@yahoo.com

MỤC LỤC
LÀNG VIỆT CỔ TRUYỀN VÙNG BẮC BỘ

Khái quát về làng Việt
Cổng làng
Đền chùa miếu mạo
Đình làng
Thành hoàng làng
Lễ hội làng

XỨ ĐÔNG – HẢI DƯƠNG VÀ TRẠI TRIỀN ĐỔ – THÔN LÝ ĐỎ

Xứ Đông, trấn Hải Đông, trấn Hải Dương
Phủ Bình Giang, huyện Đường An
Trại Triều Đổ – làng Lý Đỏ
Hương lệ xã Lý Đỏ

DI TÍCH ĐÌNH LÀNG LÝ ĐỎ

Lịch sử đình làng
Nghệ thuật kiến trúc và chạm khắc
Di sản Hán Nôm

TỤC THỜ CHÂU TRƯỞNG ĐẶNG THIỆN QUANG Ở LÀNG LÝ ĐỎ

Thân thế và sự nghiệp đức Đặng Thiện Quang
Sắc phong thành hoàng làng Lý Đỏ
Lễ hội làng Lý Đỏ

THÁI THÚ GIAO CHÂU TRONG QUỐC SỬ

Giao Châu thời Hán
Đại Việt sử ký toàn thư, Kỷ thuộc Tây Hán
Nhâm Diên truyện
Thăng Long cổ tích khảo

CHÂU TRƯỞNG GIAO CHÂU QUA CÁC THẦN TÍCH

Gia Lâm thần tích bi ký
Thần tích làng Nga My Thượng
Thần tích ba thôn Liên Bạt
Thần tích thôn Yên Mỹ, Dương Quang, Gia Lâm
Thần phả về thánh Tam Trinh

HOÀNH PHI, CÂU ĐỐI VỀ CHÂU TRƯỞNG GIAO CHÂU

Thôn Gia Lâm, Lệ Chi, Gia Lâm, Hà Nội
Đình Nga My Thượng, Thanh Mai, Thanh Oai, Hà Nội
Đình Áng Phao, Cao Dương, Thanh Oai, Hà Nội
Ba thôn Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Nội
Nghè Mai Động, Hoàng Mai, Hà Nội

KHẢO LUẬN VỀ CHÂU TRƯỞNG GIAO CHÂU ĐẶNG THIỆN QUANG

Nam Giao học tổ
Dẹp loạn Giao Châu
Bỏ mình vì nước
Châu trưởng Tam Trinh
Thay lời kết

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Thánh bất tử Từ Đạo Hạnh

Sách Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính kể về sự tích thánh Từ Đạo Hạnh như sau:
Từ Lộ tự Đạo Hạnh, người làng An Lãng huyện Vĩnh Thuận, làm thầy cúng ở chùa Tiên Phúc núi Phật Tích. Khi xưa thân phụ Từ Đạo Hạnh là Từ Vinh làm Tăng quan đô sát triều nhà Lý, thường vào chơi làng An Lãng, mới làm nhà ở đấy, lấy con gái họ Lăng, sinh ra Đạo Hạnh.
Đạo Hạnh lúc còn bé hay chơi vời, nhưng vẫn có chí, cùng với Phú Sĩ, Phan Ất, Lê Hoàn kết bạn, đêm thì cố công đọc sách, ngày thì đàn sáo đánh bạc làm vui…
Không bao lâu sau cha là Từ Vinh dùng tà thuật phản ông Diên thành hầu. Diên thành hầu nhờ thầy phù thủy là Đại Điên dùng phép đánh chết, quẳng xuống sông Tô Lịch…
Đạo Hạnh nghĩ lấy làm tức giận lắm muốn sang nước Ấn Độ học phép, nhưng đi qua núi Kim Sỉ, hiểm trở lắm mới trở về. Đạo Hạnh mới vào trong hang núi Phật Tích, kết thành hội Bạch Liên để học phép Ngũ giáo. Ngày nào cũng tụng kinh “Đại bi tâm” và niệm câu thần chú “Bà la ni”, cứ tung 18 vạn lần mới thôi.
Một hôm thấy thần báo mộng rằng:
– Đệ tử tức là Tứ trấn thiên vương đây, cảm công đức của thầy tụng kinh cho nên lại hầu, tùy thầy muốn sai khiến gì tôi xin vâng lệnh. Đạo Hạnh biết là đạo pháp của mình đã thành rồi…
Từ Đạo Hạnh sang phương Tây tìm đạo, nhưng mới đi được đến núi Kim Sỉ đã quay về. Vậy đạo pháp mà Từ Đạo Hạnh thành được là đạo pháp gì? Rõ ràng không phải là Phật pháp chính tông. Nhiều nhận định hiện nay cho rằng Từ Đạo Hạnh đã sang vùng Tam giác vàng ở giáp Vân Nam – Miến Điến và học theo Mật tông. Kinh Đà la ni mà ông trì tụng cũng là bộ kinh điển hình của Mật tông, như từng được khắc trên các cột kinh tìm thấy ở Hoa Lư (Ninh Bình) trong thời nhà Đinh.

IMG_7594Cột kinh tràng Phật đỉnh tôn thắng Đà la ni tìm thấy ở Hoa Lư.

Khá đặc biệt là việc sau khi tụng 18 vạn lần kinh Đà la ni thì thấy xuất hiện Tứ trấn thiên vương, nhận theo sai khiến của Từ Đạo Hạnh. Tứ trấn thiên vương hay Tứ đại thiên vương là 4 vị thần của Bà La Môn, theo phục Đế Thích. Chi tiết này cho thấy, thực chất Từ Đạo Hạnh đã tu theo Bà La Môn hay Hindu giáo. Bản thân “mật tông” cũng là giáo phái chịu ảnh hưởng sâu sắc của đạo Bà La Môn.
Theo Thiền uyển tập anh thì Từ Đạo Hạnh đã tìm đến chùa Pháp Vân thỉnh giáo thiền sư Sùng Phạm và ngộ thêm đạo. Từ đó pháp lực mạnh thêm, duyên thiền càng chín, pháp thuật của sư đã có thể khiến cho rắn rết, muông thú chầu phục. Các phép lạ như đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gì không ứng nghiệm.
Ghi chép này cho thấy Từ Đạo Hạnh có khả năng “cầu mưa”. Cần biết là Tứ đại thiên vương cũng là Tứ pháp Vân Vũ Lôi Điện ở vùng Luy Lâu. Sự việc Từ Đạo Hạnh biết phép cầu mưa chứng tỏ thêm mối liên quan giữa đạo pháp của ông với Hindu giáo như trong chuyện Khâu Đà La làm phép cầu mưa ở Luy Lâu trước đây.
Theo Việt điện u linh, khi Từ Đạo Hạnh chuẩn bị viên tịch có nói với các đệ tử:
Ta chưa hết nhân duyên với đời, lại phải thác sinh làm vua ở nhân gian, khi nào chết lại về làm chủ “Tam thập tam thiên”.
Sau đó ngài đã đầu thai làm vua Lý Thần Tông. Chính từ sự thác sinh đầu thai này mà Từ Đạo Hạnh được tôn là một trong các vị thánh bất tử của trời Nam.
Đặc biệt nhất trong đoạn trên Từ Đạo Hạnh cho biết mình sẽ lại về “làm chủ Tam thập tam thiên“. Vị thần chủ của “Tam thập tam thiên”, cõi trời 33, là Vua trời Đế Thích trong đạo Bà La Môn. Từ Đạo Hạnh như vậy chính là hóa thân của Đế Thích.
Khả năng “bất tử” của Đế Thích cũng từng được biết trong câu chuyện “Hồn Trương Ba, xương da hàng thịt” khi mà Đế Thích đã triệu Tam phủ hoàn hồn cho kỳ thủ Trương Ba. Còn ở chùa Thầy, bên cạnh đó cũng có đền Tam phủ thờ ba vị vua Thiên phủ, Địa phủ và Thủy phủ. Từ Đạo Hạnh là hóa thân của Đế Thích nên được xếp vào bậc thần bất tử là hoàn toàn hợp lý.

IMG_2497Cầu Nhật Tiên bắc sang đền Tam phủ ở cạnh chùa Thầy.

Hai bên chùa Thầy còn có 2 cây cầu gọi là Nhật Tiên và Nguyệt Tiên. Đây là hình tượng khá giống với các nơi thờ Đế Thích, có 2 vị thần là Nhật Thiên và Nguyệt Thiên theo cùng, như ở đền Đế Thích tại Cầu Váu (Vĩnh Khúc, Văn Giang, Hưng Yên) hay đền Xá (Ân Thi, Hưng Yên).
Đoạn cuối truyện Từ Đạo Hạnh trong Nam Hải dị nhân kể:
Khi xưa Từ Đạo Hạnh mới vào chùa Thiên Phúc, thấy có một vết chân người ở trong hang đá. Đạo Hạnh lấy bàn chân in vào thì vừa bằng nhau, tục truyền hang ấy tức là chỗ Đạo Hạnh lột xác… Thây Đạo Hạnh đến mãi lúc nhà Minh sang cướp quân sĩ đốt mất, về sau dân đấy lại tô tượng để thờ như xưa.

IMG_3754Phiến đá trấn trạch tại chùa Thầy.

Dấu chân đá và nhục thân không tan cũng là những đặc điểm của “Mật tông” cũng như Hindu giáo. Nay trong chùa Thầy vẫn còn thờ một phiến đá tương truyền là của Từ Đạo Hạnh dùng để trấn trạch không cho nước dâng cuốn gỗ ở chùa hay không cho kẻ trộm dòm ngó đồ của chùa.
Trong chùa còn có một khám thờ lớn có tượng bên trong. Nguyên trước đây là thân người thật của Thánh, nhưng khi quân Minh sang xâm lược đã đốt mất, dân dùng mây tre, bện lại mà thành, đặt trong 1 khám thờ cầu kỳ to như cả gian nhà, có dây cơ có thể đứng lên ngồi xuống, sau đó Tổng Đốc Sơn Tây Cao Xuân Dục cho cắt dây rối đi để tỏ lòng kính trọng nhà Thánh.
Câu đối ở chùa Thầy:
弌杖顯神機卓錫圓成柴石峝
再生承帝統鴻圖葉繫李蓮花
Nhất trượng hiển thần cơ, trác tích viên thành Sài thạch động
Tái sinh thừa đế thống, hồng đồ diệp hệ Lý liên hoa.
Dịch:
Tỏ cơ thần một gậy, tích lớn đủ thành động đá Sài
Nối dòng đế tái sinh, đất mênh cành tiếp hoa sen Lý.

IMG_3763.JPGKhám thờ ở chùa Thầy, bên trong có tượng xá lợi Từ Đạo Hạnh. 

Việt điện u linh còn kể về lần đầu thai khác của thần dưới thời Lê, cũng là vua:
Trong thời Quang Thuận đời vua Lê Thánh Tông, Trường Lạc hoàng hậu sai Thái úy Trinh quốc công lên động chùa Thiên Phúc cầu tự. Khi làm lễ có một phiến đá ở ngoài động bay vào. Trinh quốc công mang về trình hoàng hậu. Ít bữa sau hoàng hậu mộng thấy rồng vàng vào bên sườn, rồi có mang, sinh ra vua Lê Hiến Tông. Nhân thế mới dựng am Hiển thụy ở chùa Thiên Phúc, có khắc bia để ghi.
Trong chuyện về Từ Đạo Hạnh còn có một số chi tiết về thời gian khá lạ. Từ Đạo Hạnh được biết sống vào thời Lý Nhân Tông. Tuy nhiên, như trích dẫn trên của Nam Hải dị nhân, ông lúc nhỏ lại chơi với Lê Hoàn. Các sách khác chép là đạo sĩ Lê Toàn Nghĩa. Có thể Toàn Nghĩa chỉ là từ phiên thiết của cái tên Hoàn.
Từ Đạo Hạnh từng đến học sư Sùng Phạm của chùa Pháp Vân. Thiền uyển tập anh cho biết về vị sư này:
Sư vân du khắp nơi trong nước Thiên Trúc rộng cầu hiểu biết. Chín năm sau sư trở về, gồm thông cả Giới và Định. Rồi sư đến chùa Pháp Vân giảng pháp. Học trò các nơi đến theo học rất đông. Vua Lê Đại Hành mấy lần thỉnh sư về kinh để hỏi han chuyền chỉ. Vua rất vừa ý, tiếp đãi long trọng.
Sư Sùng Phạm cùng thời với Từ Đạo Hạnh nhưng lại từng mấy lần được vua Lê Đại Hành mời vào kinh. Sau đó sư viên tịch dưới thời Lý Nhân Tông. Với các thông tin trên có thể thấy Lê Đại Hành chỉ có thể là triều đại ngay trước Lý Nhân Tông. Nói cách khác Lê Đại Hành chính là Lý Thái Tông. Chú ý là Lý Thái Tông cũng có hiệu là Đại Hành hoàng đế.
Từ câu chuyện của Từ Đạo Hạnh rút ra 2 kết luận quan trọng:
– Từ Đạo Hạnh tu theo Hindu giáo, là hóa thân của Vua trời Đế Thích.
– Triều đại của Lý Thái Tông cũng từng được gọi là Lê Đại Hành.

Thánh tổ Không Lộ, vị thần của dân gian

Không Lộ thiền sư là một trong Tứ bất tử nước ta. Ông được thờ ở nhiều nơi nhưng không chỉ như một nhà sư tu hành mà còn được tôn là bậc thánh tổ. Hiện tồn tại nhiều tranh luận về tên gọi (Không Lộ, Giác Hải, Minh Không, Thông Huyền), và xuất xứ (Đàm Xá, Giao Thủy, Hán Lý…) của vị thiền sư này, nhưng trong tâm thức dân gian ông là một vị thần quan trọng bảo hộ cho các nghề nghiệp sinh sống của người dân. Bài sau đi vào chi tiết giải thích vì sao thánh tổ Không Lộ lại được người dân tôn thờ như vậy.

Thần đánh cá
Dọc ven biển miền Bắc Việt Nam có nhiều nơi thờ Không Lộ như một vị thần bảo hộ cho nghề chài lưới. Điều này thể hiện ngay trong tục rước thuyền mông đồng trong lễ hội của chùa Keo ở Thái Bình và Hành Thiện.

Thuyen rong Thai Binh 2.jpg
Thuyền mông đồng chùa Keo Thái Bình.

Lĩnh Nam chích quáiTruyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thiền sư Dương Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang huyện Hải Thanh, mấy đời làm nghề câu cá…
Thiền sư Giác Hải cũng là người huyện Hải Thanh, tu tại chùa Diên Phúc trong quận nhà. Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền câu làm nhà, lênh đênh trên mặt nước.

Không Lộ và Giác Hải người Hải Thanh, ban đầu sống bằng nghề đánh cá, sau đi tu, trở thành một vị cao tăng đắc đạo, phép thần thông biến hóa vô cùng. Cụ thể hơn nữa, Không Lộ từng có công diệt “thủy quái” trên biển, giúp ngư dân đi biển được bình an.

Khong Lo Giac Hai
Tượng thần chài lưới ở đình Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh).

Câu đối ở thôn Trà Đông, Thiệu Trung, Thiệu Hóa, Thanh Hóa, nơi thờ Khổng Minh Không:
南天畱四噐北地嗔雙牛越史永傳法佛
海上斬神蜈殿前醫帝虎李朝褒贈世師
Nam thiên lưu tứ khí, Bắc địa sân song ngưu, Việt sử vĩnh truyền pháp Phật.
Hải thượng trảm thần ngô, điện tiền y đế hổ, Lý triều bao tặng thế sư
Dịch:
Trời Nam còn bốn đồ, đất Bắc chọc hai trâu, mãi truyền Việt sử phép nhà Phật
Trên biển chém thần rết, trước điện chữa đế hổ, khen tặng Lý triều thầy thế gian.

Câu đối này có nói tới sự tích Không Lộ chém thần rết trên biển. Ngày nay, ở khu vực Trực Ninh, nơi Không Lộ khởi nghiệp đánh cá, còn có địa danh “cồn Rết”, tương truyền là nơi Không Lộ đã chém thần Rết ở đây. Đây cũng là một chỉ dẫn về địa điểm Giao Thủy, nơi giao tiếp giữa sông và biển và là quê hương của Không Lộ thiền sư.

Thần giáng long
Câu đối ở đền thánh Nguyễn (Đàm Xá, Gia Viễn, Ninh Bình):
與十八子有因果乎卓然扵後扵前醫虎翊龍两朝偉績
是二社民所尸祝者辰或為分為合觀燈望井萬古祥光
Dữ thập bát tử hữu nhân quả hồ, trác nhiên ư hậu ư tiền, y hổ dực long lưỡng triều vĩ tích
Thị nhị xã dân sở thi chúc giả, thần hoặc vi phân vi hợp, quan đăng vọng tỉnh vạn cổ tường quang.
Dịch:
Cùng vua họ Lý nhân quả sao! vời vợi trước sau, chữa hổ giáng rồng, hai triều tích lớn
Ấy dân hai xã khấn tế vậy! khi lúc chia hợp, xem đèn trông giếng, vạn năm sáng lành.
Không Lộ thiền sư sau khi tu hành từ Tây phương về tương truyền có tài “hàng long phục hổ”. Tuy nhiên, trong các sự tích của Không Lộ thiền sư, không có sự tích nào nói đến việc “hàng long” cả.
Lĩnh Nam chích quáiTruyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thời Lý Nhân Tông, sư thường cùng sư Thông Huyền được triệu vào ngồi hầu trên ghế đá mát lạnh ở cung Liên Mộng. Bỗng một hôm có đôi tắc kè đang gáy, nhức tai điếc óc. Vua truyền Thông Huyền dùng phép để ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua cười bảo với Giác Hải rằng: “Hãy còn một con xin để nhường nhà sư”. Sư liền đọc thần chú, trong nháy mắt con còn lại cũng rơi xuống đất. Vua kinh lạ, làm thơ rằng:
Giác Hải lòng như biển

Thông Huyền đạo cũng huyền
Thần thông thêm biến hoá
Một Phật một thần tiên.
Sự tích Không Lộ “giáng long” là việc 2 vị thiền sư Thông Huyền và Giác Hải cùng làm phép hạ 2 con tắc kè, giúp chữa bệnh mất ngủ cho vua Lý Nhân Tông. Tắc kè là hình ảnh của rồng. Như vậy Không Lộ thiền sư là Thông Huyền hoặc Giác Hải trong sự tích này.

Hanh Thien
Mảng chạm rồng ở chùa Keo Hành Thiện.

Thần chữa hổ
Sự tích chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông được chép là của Nguyễn Minh Không. Điều đáng chú ý, đây cũng là truyền thuyết về một vị đạo sĩ đã diệt thần Xương Cuồng, bởi vì thần Xương Cuồng là Mộc tinh, tức là chúa sơn lâm, cũng chính là ông ba mươi hay thần hổ.
Truyện Mộc tinh trong Lĩnh Nam chích quái:
Đất Phong Châu thời thượng cổ có một cây lớn gọi là cây chiên đàn cao hơn ngàn trượng cành lá xum xuê, không biết che rợp tới mấy ngàn rậm. Có chim hạc bay đến đậu nên đất chỗ đó gọi là đất Bạch Hạc. Cây trải qua hàng mấy ngàn năm khô héo mà biến thành yêu tinh, thường thay đổi hình dạng, rất dũng mãnh, có thể giết người hại vật….
Đến đời vua Đinh Tiên Hoàng có pháp sư Văn Du Tường vốn người phương bắc, đức hạnh thanh cao, đã từng đi qua nhiều nước, biết được tiếng các dân man, học được thuật làm nanh vàng và răng đồng, năm hơn 80 tuổi sang nước Nam ta. Tiên Hoàng lấy lễ thầy trò mà tiếp, pháp sư bèn dạy cho nghề tạp kỹ để làm trò vui cho thần Xương Cuồng xem mà giết y. Đoàn tạp kỹ này có Thượng Kỵ, Thượng Can, Thượng Hiểm, Thượng Đát, Thượng Toái, Thượng Câu… Khi thì cho bọn ca hát gõ trống khua chiêng, ca múa rầm rĩ. Lại giết súc vật mà tế. Thần Xương Cuồng tới, thấy thế bèn đến xem, pháp sư đọc mật chú rồi lấy kiếm mà chém. Thần Xương Cuồng cùng bộ hạ đều chết hết, không thể trở lại thành yêu nữa.
Nguyễn Minh Không – Không Lộ thiền sư là pháp sư Văn Du Tường diệt thần Xương Cuồng bằng cách bày ra các trò diễn để dụ thần Xương Cuồng tới mà giết đi. Các trò diễn này được lưu lại qua 6 “Thánh tượng” đầu gỗ trong trò diễn Ổi Lỗi tại các nơi thờ Không Lộ thiền sư tới nay. Thánh tượng thiết Thượng, là tên của 6 người trong đoàn tạp kỹ của pháp sư Văn Du Tường.

Roi dau go 2.jpg
Rối đầu gỗ ở chùa Keo Thái Bình (ảnh tư liệu thời Pháp).

Một di tích khác có liên quan đến sự tích Không Lộ diệt hổ là ở chùa Thượng, Đình Liêu, thôn Liêu, Ngọc Lương, Yên Thủy, Hòa Bình. Chùa nằm trên hang núi, phía trên làng Hổ. Tương truyền, khu vực này có nhiều hổ, nhưng nếu vào hang chùa này sẽ tránh được hổ. Chùa có sắc phong cho Giác Hải thiền sư và còn đôi câu đối:
武跡在山傳自古
虎頭建廟始於今
Vũ tích tại sơn truyền tự cổ
Hổ đầu kiến miếu thủy ư kim.
Dịch:
Dấu võ ở núi truyền từ cổ
Đầu hùm dựng miếu trước tới nay.
Cùng với việc chữa bệnh cho Lý Thần Tông hóa hổ, Không Lộ có thể còn được thờ phụng như một vị thầy thuộc tài giỏi, chữa trị được nhiều loại bệnh (nghề y dược).

Thần đúc đồng
Các làng nghề đúc đồng nằm ở Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Bình, Hà Nội và Thanh Hóa thờ thánh Không Lộ. Tất nhiên, nghề đúc đồng ở nước ta đã có từ thời Đông Sơn, trước Công nguyên. Việc các làng đúc đồng thờ thánh tổ Không Lộ mang tính chất là thờ thần bảo hộ cho nghề đúc hơn là tổ nghề. Việc này bắt nguồn từ việc Không Lộ thiền sư đi sang “Minh quốc”, gom đồng vào túi, cưỡi nón làm thuyền vượt biển mà về, dùng đồng đó đúc ra An Nam tứ đại khí: đỉnh tháp Báo Thiên, chuông chùa Phả Lại, vạc Phổ Minh và tượng Phật chùa Quỳnh Lâm.
Ngọc phả chùa làng Công Luận (Văn Giang, Hưng Yên) kể:
[Minh Không] tự nghĩ mình đến Tây Trúc, đi qua bốn mươi tám nước, chùa nào cũng đến thăm, chưa có chuông nào được năm thước, muốn đúc một quả chuông thật to để lưu danh đến vạn đời sau. Nhưng nước ta nhỏ, sao có thể khuyến khích nhiều người góp vàng, đồng để đúc chuông. Bèn may một chiếc túi, đựng được khoảng hai mươi đấu thóc, đến nước Tống khuyến đồng đúc chuông. Vua Thần Tông nhà Tống tự nghĩ túi này đựng được bao nhiêu đồng, mới cười, bảo: Quý tăng Nam Việt không hẹp hòi công sức đến nước trẫm khuyến đồng, cho phép vào kho đồng lấy theo ý muốn”. Minh Không bèn thu hết đồng trong kho vào túi mà chưa đầy, rồi vác trên vai đến trước mặt vua Thần Tông, bái tạ vua xin về nước. Vua Thần Tông thấy đồng trong kho đã hết, có ý hối tiếc, nhưng đã trót hứa, đành để Minh Không về nước.
Minh Không vác túi đồng về nước, phàm qua sông biển, hễ xuống thuyền đò, đều bị chìm lật, không thể chở được. Minh Không bèn hạ nón của mình thay cho thuyền, vác túi đồng ngồi trong nón, lấy hai tay làm mái chèo, trong chốc lát biển lớn cũng vượt qua. Mọi người nhìn thấy, ai cũng kinh hãi, cùng hô là Thần sư.
Minh Không mang túi đồng về chùa quê ngoại ở Phả Lại, lập một gác chuông chín tầng, cao một trăm thước, rộng ba mươi trượng, đúc một quả chuông, lòng rộng hai mươi thước. Thỉnh ba tiếng, con trâu vàng nước Tống nghe thấy, tự chạy đến thành Thăng Long nước Việt ta, hóa thành sông Kim Ngưu, cùng Tây Hồ, vốn là do đường chạy của trâu vàng tạo ra. Minh Không biết Tống Thần Tông đã mất đồng trong kho, lại mất trâu vàng, tất sẽ sinh lòng oán giận, sợ chuyển thành tội, bèn ném chuông này ở sông Lục Đầu. Từ đó, danh tiếng của Minh Không nổi khắp bốn phương xa gần, nhân dân lũ lượt kéo đến xin làm thần tử, đông đến năm trăm ấp.
Như thế, từ đây Không Lộ được tôn làm thánh tổ, hình thành một dòng phái nhiều “thần tử” đông đảo ở khắp nơi.

Ve xa.jpg
Tượng đồng Không Lộ thiền sư ở đền Vệ Xá (Đức Long, Quế Võ, Bắc Ninh).

Câu đối ở chùa Trung Kênh, Lương Tài, Bắc Ninh:
括盡一囊萬古聲傳北國
鑄成四噐千秋跡顯南邦
Quát tận nhất nang, vạn cổ thanh truyền Bắc quốc
Chú thành tứ khí thiên thu tích hiển Nam bang.
Dịch:
Thu hết một túi, vạn xưa tiếng truyền nước Bắc
Đúc thành bốn đồ, nghìn thu tích tỏ bang Nam.
Thực tế có lẽ thánh tổ Không Lộ chỉ đúc chuông Phả Lại. Còn những “đại khí” khác xem ra không cùng thời gian với thánh nên có đúc là do các học trò của ngài làm. Nhưng vì sự tích “hải lạp nang đồng” này mà Không Lộ thiền sư được tôn thành vị thần bảo hộ của nghề đúc đồng.

Ba vị Thánh tổ thời Lý

Không Lộ Lý triều quốc sư là một trong Tứ bất tử theo quan niệm dân gian của người Việt. Về thân thế và sự nghiệp của vị thiền sư này có rất nhiều truyền tích, kèm theo hàng chục các ngôi chùa lớn nhỏ và các đền, đình thờ Không Lộ ở khắp các miền duyên hải Bắc và Bắc Trung Bộ Việt đã làm cho vấn đề xác định xuất xứ và nhân thân của Không Lộ thiền sư trở nên rất khó khăn, là đề tài tranh luận của các nhà nghiên cứu văn hóa và tín ngưỡng trong nhiều năm qua, kể cả từ thời Nguyễn. Phổ biến nhất là vấn đề có 1 hay 2 vị Không Lộ thiền sư triều Lý. Bài viết này nêu lên thêm một nhận định, hy vọng góp phần nào vào việc tìm hiểu sự thực về thánh tổ Không Lộ.
Lĩnh Nam chích quái
, Truyện Dương Không Lộ và Nguyễn Giác Hải:
Thiền sư Dương Không Lộ ở chùa Nghiêm Quang huyện Hải Thanh, mấy đời làm nghề câu cá, sau bỏ nghề ấy mà đi tu, thường hay đọc kinh Đà La Ni. Thời Chương Thánh Gia Khánh cùng với bạn tu hành là Giác Hải ẩn dật ở chùa Hà Trạch, mặc áo vải, ăn rau, quên mình mà tu, không cầu bên ngoài, tâm thần tai mắt nhẹ nhàng sáng sủa, có thể bay lên không, đi trên mặt nước, phục được cọp, giáng được rồng, vô cùng kỳ lạ, người đời không sao lường biết được. Sau về quê xây chùa mà ở….
Thiền sư Giác Hải cũng là người huyện Hải Thanh, tu tại chùa Diên Phúc trong quận nhà. Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ thích câu cá, thường lấy thuyền câu làm nhà, lênh đênh trên mặt nước. Năm hai mươi lăm tuổi mới bỏ nghề ấy, cắt tóc đi tu. Lúc đầu cùng Thiền sư Không Lộ ở chùa Hà Trạch, sau mới tìm về ở Hải Thanh. Thời Lý Nhân Tông, sư thường cùng sư Thông Huyền được triệu vào ngồi hầu trên ghế đá mát lạnh ở cung Liên Mộng. Bỗng một hôm có đôi tắc kè đang gáy, nhức tai điếc óc. Vua truyền Thông Huyền dùng phép để ngăn nó lại, Huyền lặng nhẩm thần chú, một con rơi xuống trước. Vua cười bảo với Giác Hải rằng: “Hãy còn một con xin để nhường nhà sư”. Sư liền đọc thần chú, trong nháy mắt con còn lại cũng rơi xuống đất. Vua kinh lạ, làm thơ rằng:
Giác Hải lòng như biển

Thông Huyền đạo cũng huyền
Thần thông thêm biến hoá
Một Phật một thần tiên.
Sự kiện 2 vị cao tăng diệt tắc kè có nhiều người xem qua nghĩ chẳng có gì là phép thần thông cả, sao lại được vua Lý tán dương như thế?
Thực ra, gọi là tắc kè chỉ là một cách kể. Đúng ra đây là tài: “phục được cọp, giáng được rồng”, vì tắc kè chính là hình ảnh của rồng.
Qua chuyện trên ta thấy Thông Huyền và Giác Hải là 2 người khác nhau. Bản Thánh tổ bản hạnh ở chùa Keo ngoài (Đĩnh Lan) ở Hành Thiện (Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định) ghi: Thánh tổ Không Lộ đại pháp thiền sư sư giả, cựu danh Thông Huyền. Tức là: Vị sư Thánh tổ Không Lộ đại pháp thiền sư có tên cũ là Thông Huyền.
Sách Địa dư huyện Quỳnh Côi của tri huyện Ngô Vi Liễn, phần chép về xã La Vân, sự tích đức Không Lộ thuyền sư cũng nói, sau khi Từ Đạo Hạnh, Không Lộ và Giác Hải đi Tây phương trở về thì Không Lộ thuyền sư từ đấy phép Phật thông huyền, bay trên không, đi trên mặt nước, hàng long phục hổ, thiên kỳ vạn quái, không ai biết đâu mà lường… Đến đời vua Lý Nhân Tôn ngài cùng thiền sư Giác Hải đã diệt 2 con tắc kè và được vua có thơ tán tụng.
Như vậy Không Lộ thiền sư ở vùng Nam Định từng có tên là Thông Huyền, là người đã cùng thiền sư Giác Hải đã làm phép giáng rồng (diệt tắc kè) thời Lý Nhân Tông. Đây là nhận định quan trọng thứ nhất, xác nhận vị thánh tổ Không Lộ đầu tiên là Thông Huyền ở vùng Giao Thủy Nam Định.
Cũng trong bản Thánh tổ bản hạnh ở chùa Keo ngoài kể Không Lộ và Giác Hải cùng quê Hải Thanh, làm nghề đánh cá, kết nghĩa làm anh em. Sau đó hai người đi sang Tây phương tìm đạo, giữa đường gặp Từ Đạo Hạnh, lại kết nghĩa giao nhượng. Đạo Hạnh làm huynh trưởng, Không Lộ làm huynh thứ, Giác Hải làm đệ.
Như vậy rõ ràng  Không Lộ – Thông Huyền và Giác Hải là 2 nhân vật khác nhau, kết nghĩa huynh đệ. Tuy nhiên, bản Thánh tổ sự tích ở đền chùa La Vân (Quỳnh Phụ, Thái Bình) lại ghi: Nhất phong Không Lộ Giác Hải đại vương. Danh phong “Không Lộ Giác Hải” còn gặp ở khá nhiều nơi khác, chỉ 1 vị thần. Ví dụ như ở xã Quan Lạn (Vân Đồn, Quảng Ninh), còn giữ được 3 sắc phong cho “Không Lộ Giác Hải chi thần“. Trong đình có bức tượng một vị thần cầm mái chèo lướt trên sóng.

Khong Lo Giac Hai.jpg
Tượng thần tại đình Quan Lạn.

Không Lộ Giác Hải được thờ như một vị thần bảo hộ cho ngư dân, tận Đà Nẵng vẫn có nơi thờ. Đình Nam Thọ (Thọ Quang, Sơn Trà, Đà Nẵng) có sắc phong cho “Khổng Lộ Giác Hải Đạt ma chi thần“.
Có thể thấy vị thần Giác Hải còn có tên được phong là Không Lộ hoặc được thờ cùng với tên Không Lộ như là 1 người. Vậy phải hiểu sao khi Không Lộ cũng là Thông Huyền như trên?
Bài minh trong khoa cúng Thỉnh Thánh tổ Không Lộ trong Tạp tiếu chư khoa có đoạn:
Ngưỡng khải thánh tổ minh
Phụ Lý thị Triều đình
Phụ cư Giao Thủy quán 
Mẫu tại Hán triền sinh
Biến hiện Không Lộ tính
Kết hữu Giác Hải tinh
Dự đồng Từ Đạo Hạnh
Ước vi tam đệ huynh…
Huấn đồng tử ca thanh
Triều đình sự bất minh
Dục dũ thiên tử bệnh
Tu đắc Không Lộ danh

Ở bài minh này nói tới “Không Lộ tính“, “Không Lộ danh“. Như vậy, vốn “Không Lộ” không phải là một tên riêng mà là từ chỉ một danh xưng cho người đắc đạo nào đó.
Khi hiểu như vậy sẽ giúp giải quyết vấn đề tên Không Lộ Giác Hải, nghĩa là vị thần Giác Hải còn được gọi bằng danh hiệu Không Lộ. Đây cũng là danh xưng của vị Thông Huyền trước đó.
Từ những điều trên, có thể nhận đình rằng và đầu thời Lý đã hình thành một dòng phái các thiền sư mang danh tính là Không Lộ. Người đầu tiên lập nên dòng phái tu này là Thông Huyền, người quê ở Giao Thủy, Hải Thanh. Người thứ hai được nhận danh hiệu này là Giác Hải quê Hải Thanh, là em kết nghĩa của Thông Huyền. Rất có thể vị Không Lộ được nói tới, với quê ở Hán Lý (Ninh Giang, Hải Dương) là vị Giác Hải này.
Truyện Từ Đạo Hạnh và Nguyễn Minh Không trong Lĩnh Nam chích quái kể:
Xưa ở làng Đàm Xá, huyện Đại Hoàng (còn có tên là Gia Viễn) đất Trường An có người tên là Nguyễn Chí Thành ở chùa Quốc Thanh, hiệu là Minh Không quốc sư, lúc ít tuổi đi du học, gặp Đạo Hạnh, học được đạo giáo, trải hơn mười năm. Đạo Hạnh thấy người tiết tháo bèn truyền tâm ấn, lại đặt tên cho. Kíp tới khi Đạo Hạnh sắp tạ thế bảo Minh Không rằng: “Xưa tôn sư của ta tu đã tròn quả phúc mà còn bị cái nạn đao thương quả báo, huống chi ở cái thuở mạt thế huyền vi này, há có thể tự giữ mình được sao? Ta nay sắp xuất thế, ở cái địa vị làm thầy người ta, bệnh trái kiếp sau quyết là khó tránh nổi. Ta với người có duyên, nên cứu giúp nhau”. Đạo Hạnh đã hóa, Minh Không trở về chùa cũ cày ruộng.
Nguyễn Minh Không sau đó đã chữa bệnh hóa hổ cho hậu kiếp của Từ Đạo Hạnh là vua Lý Thần Tông và được phong là Lý triều quốc sư.
Nguyễn Minh Không quê Đàm Xá (Ninh Bình) là lớp học trò của Từ Đạo Hạnh, nên cũng là hậu bối của Thông Huyền và Giác Hải. Tuy nhiên, Nguyễn Minh Không này cũng hay được gọi là Không Lộ thiền sư, rất nhầm lẫn với Dương Không Lộ. Từ những nhận xét trên có thể thấy Nguyễn Minh Không cũng là một vị thiền sư đạt được danh hiệu Không Lộ, nối tiếp dòng phái tu từ Thông Huyền và Giác Hải.
Một dẫn chứng khác là ở đền Phả Lại (Quế Võ, Bắc Ninh), thờ cùng lúc 2 vị là Dương Không Lộ và Nguyễn Minh Không. Tương truyền 2 vị này đã từng hưng công chùa này.

IMG_7660 (2).JPG
Bia Phả Lại tự bi

Như vậy, do Không Lộ là một danh hiệu, chỉ người đứng đầu dòng phái tu Không Lộ, nên ít nhất có tới 3 Không Lộ thiền sư:
1. Người sáng lập ra dòng phái này là Thông Huyền ở Giao Thủy. Vị Không Lộ thứ 1 này được biết với công trạng chém thần rết ở cửa biển Giao Thủy và được thờ như thần phù hộ nghề chài lưới.
2. Người kế nhiệm là Giác Hải, cũng từng mang danh là Không Lộ, quê gốc ở Hải Dương, là em kết nghĩa của Thông Huyền. Rất có thể Giác Hải là người đã học được nghề đúc đồng (khi đi phương Tây?) và là người khởi xướng việc đúc An Nam tứ đại khí. Vị Không Lộ tổ nghề đúc đồng là thiền sư Giác Hải.
3. Người thứ ba, là học trò/hậu bối của 2 vị trước, là Nguyễn Minh Không ở Đàm Xá (Gia Viễn, Ninh Bình). Nguyễn Minh Không có quan hệ mật thiết với vị tổ Thông Huyền, có thể là con hoặc học trò. Nguyễn Minh Không là một thầy thuốc danh tiếng, đã chữa bệnh hóa hổ cho vua Lý Thần Tông và được phong là Lý triều quốc sư.
Cũng vì lý do có tới 3 vị thánh tổ Không Lộ ở các thời gian khác nhau như vậy nên Không Lộ thiền sư được dân gian tôn là một trong các vị thần bất tử.

IMG_1730.JPG
Cổng đền thánh Nguyễn ở Gia Viễn, Ninh Bình.

Câu đối ở đền thánh Nguyễn (Đàm Xá, Gia Viễn, Ninh Bình):
與十八子有因果乎卓然扵後扵前醫虎翊龍两朝偉績
是二社民所尸祝者辰或為分為合觀燈望井萬古祥光
Dữ thập bát tử hữu nhân quả hồ, trác nhiên ư hậu ư tiền, y hổ dực long lưỡng triều vĩ tích
Thị nhị xã dân sở thi chúc giả, thần hoặc vi phân vi hợp, quan đăng vọng tỉnh vạn cổ tường quang.
Dịch:
Cùng vua họ Lý nhân quả sao! vời vợi trước sau, chữa hổ giáng rồng, hai triều tích lớn
Ấy dân hai xã khấn tế vậy! khi lúc chia hợp, xem đèn trông giếng, vạn năm sáng lành.

Thiên Tiên Thánh giáo

Cong
Trụ sở Thiên Tiên thánh giáo ở Huế.

Đạo Mẫu ở Huế được biết với tên Thiên Tiên Thánh giáo. Người theo đạo này thờ Tứ phủ, nhưng 4 phủ này không hoàn toàn giống Tứ phủ ở miền Bắc. Ngoài 2 phủ là Thủy phủ và Thượng ngàn là tương đồng, còn 2 phủ khác trong Thiên Tiên Thánh giáo đều là Thiên phủ, chia thành Thượng Thiên và Trung Thiên. Đứng đầu Tứ phủ ở Huế là các vị thánh mẫu:
– Cõi Thượng thiên có Thiên Y A Na Diễn Ngọc Phi Thánh mẫu
Cõi Thượng ngàn có Quản cai Sơn nhạc Cửu châu Lê Mại đại vương
Cõi Trung Thiên có Tây Cung Vương Mẫu bổn mạng Chúa tiên
Cõi Thủy phủ có Thủy phủ Long Cung Thánh mẫu.
Có thể thấy ở vị trí chính – Thượng thiên Thánh mẫu trong Tứ phủ Huế không phải là Thánh mẫu Liễu Hạnh mà lại là một vị Thánh mẫu của “người Chăm” – Thiên Y A Na. Trong khi bản thân đạo Mẫu Huế xuất phát từ hội Sơn Nam, là những người dân từ Nam Định di cư vào Huế từ thời tiền Nguyễn, mà Nam Định là quê hương của Mẫu Liễu. Việc này phải giải thích thế nào? Tại sao người Việt lại tôn thờ một nữ thần Chăm làm thiên chủ?
Thiên Y A Na được biết là bà Mẹ xứ sở Poh Nagar trong tín ngưỡng của người Chăm. Bà là thiên thần sinh ra từ thế giới của mây trời và bọt biển… 
Ngài là nữ thần Mẹ của vương quốc. Ngài tạo dưng nên vùng đất cho cây cối và rừng gỗ quý sinh sôi. Ngài gây ra giống lúa và dạy dân trồng lúa…
Bà Poh Nagar là nữ thần Uma, vợ của thần Shiva trong Hindu giáo. Là vợ của Vua Trời  (Shiva) nên bà Uma được tôn làm Thượng thiên Thánh mẫu, rất hợp lý.
Xét mặt khác, Thánh mẫu Liễu Hạnh được sắc phong là “Đế Thích Tiên đình“. Đế Thích Tiên có thể hiểu là vợ của Đế Thích hay Thiên Đế. Như vậy, bản thân mẫu Liễu là hóa thân của bà Uma ở miền Bắc Việt. Khi vào miền Trung, ngôi Thượng thiên chuyển cho Thiên Y A Na, cũng là vợ Đế Thích, tương đương với vị trí của Mẫu Liễu ở miền Bắc.
Đến đây ta có một phát hiện quan trọng. Thiên Tiên Thánh giáo ở Huế thờ nữ thần Hindu giáo là thần chủ Thượng thiên. Chữ “Thiên” trong tên của Thiên Tiên Thánh giáo chính là chỉ ngôi Thượng Thiên của nữ thần Uma. Suy rộng hơn, Thiên ở đây chỉ các vị thần của Hindu giáo, được gọi là các Chư Thiên, bao gồm cả Phật. Thiên Tiên Thánh giáo thờ Phật A Di Đà và Phật Bà Quan Âm cũng là với ý này.
Chữ Phật nhiều nơi được ghi bằng chữ Thiên với bộ Nhân. Phật là “Người Trời” hay Chư Thiên. Thiên trong Thiên Tiên Thánh giáo là chỉ chung cho Phật đạo – Hindu giáo.

Thien Tien ThanhCửu trùng đài và chính cung Thiên Y A Na ở trụ sơ Thiên Tiên Thánh giáo.

Ở vị trí Trung thiên là bà Tây Cung Vương Mẫu, được người miền Trung thờ là thần “bản mệnh” cho người phụ nữ. Các gia đình ở Thừa Thiên Huế thường thờ đặt ban bà trong nhà, gọi là Tran Bà, với hình ảnh của Cửu Thiên Huyền nữ. Tây Cung Vương Mẫu cũng là Cửu Thiên Huyền nữ, và cũng là Mẫu Cửu trùng trong Thiên phủ ở miền Bắc. Bà là bà Mẹ Trời, cai quản các thần tiên trong Đạo giáo.
Tây Cung Vương Mẫu không chỉ là bản mệnh cho gia đình, mà còn là “bản mệnh” thành hoàng cho cả kinh thành Huế, vì bà mang tên Thừa Thiên Hiệu Pháp Khai Hoàng Hậu Thổ Nguyên Quân. Rất có thể tên “Thừa Thiên Huế” là bắt nguồn từ danh hiệu này của Tây Cung Vương Mẫu.
Như thế, yếu tố thứ hai cấu thành Thiên Tiên Thánh giáo là yếu tố “Tiên”, tức là chỉ Đạo Lão, với thần chủ Tây Cung Vương Mẫu. Trong tín ngưỡng này còn mang nhiều hình tượng, thần tượng khác của Đạo Lão như bệ Cửu trùng, Ngọc hoàng Thượng đế, các bà Ngũ hành,… Thậm chí ngay cả vị Quan Thánh Đế Quân được thờ trong Thiên Tiên Thánh giáo cũng là một yếu tố từ Đạo Lão.
Yếu tố thứ ba trong Thiên Tiên Thánh giáo là chữ “Thánh”. Ở Việt Nam đạo thờ Thánh tức là đạo thờ tổ tiển, thờ phụng những người có công với đất nước, những vị thủ lĩnh quốc gia hiển hách. Cụ thể vua Đồng Khánh đã tự xếp mình là một vị Thánh, cùng với Lục vị tôn ông thành bộ Thất Thánh trong Thiên Tiên Thánh giáo. Ngoài ra những vị Thánh trong lịch sử của dân tộc cũng được tôn thờ ở đây như Sơn Tinh, Thủy Tinh, Trần Hưng Đạo…

IMG_0695Một góc của điện Hòn Chén.

Đạo thờ Thánh này cũng có thể coi là một dạng tín ngưỡng xuất phát từ Nho giáo, với triết lý tôn vinh các bậc Thánh hiền trong thiên hạ. Xét như vậy thì Thiên Tiên Thánh giáo thực chất là một tôn giáo gồm Tam giáo đồng nguyên:
– Thiên: đạo Phật và Ấn Độ giáo.
– Tiên: đạo Lão
– Thánh: đạo thờ tổ tiên, hay đạo Nho.
Tất cả hình thành một tổ hợp thần điện hỗn hợp nhưng lại rất có trật tự, có giáo lý, hợp thành một tôn giáo đầy đủ: Thiên Tiên Thánh giáo.
Hình thức “Tam giáo đồng nguyên” này ở miền Bắc cùng thời đó là phong trào của Hội thiện với các Thiện đàn, cùng với tục thờ thần và thực hành lên đồng, cầu cơ, giáng bút rất tương đồng.
Có thể nói Thiên Tiên Thánh giáo phát triển từ đạo mẫu Tứ phủ của miền Bắc, nhưng đã bổ sung thêm yếu tố tín ngưỡng của Ấn Độ (Phật và Hindu) trong thần điện, đề cao hơn các vị Thánh – những vị tiền liệt có công lao với đất nước.